Người có mệnh Tam Bích Lộc Tồn tinh thích hợp làm nghề gì? –
a ngựa…

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thanh Vân (##)
a ngựa…

Đây là điển cố thứ Bốn bảy trong quẻ Quan Thế Âm, mang tên Lương Hạo Đăng Khoa (còn gọi là Lương Hạo Thi Đỗ). Quẻ Quan Thế Âm Lương Hạo Đăng Khoa có bắt nguồn như sau:
Đọc Tam tự kinh, ta thấy có câu: “Như Lương Hạo, bát thập nhị, đối đại đình, khôi đa sĩ” (Như Lương Hạo, tám mươi hai, đối sân đình, đứng hàng đầu), có nghĩa là Lương Hạo tám mươi hai tuổi thi đỗ Trạng nguyên, nhưng thực ra đó chỉ là truyền thuyết không đúng sự thực. Khi quân Liêu tấn công nhà Tống, Lương Hạo từng dâng thư lên triều đình hiến kế sách, trong “Tuần trai nhàn lãm” do Trần Chính Man người đời Tống viết có nói rằng: “Lương Hạo tám mươi hai tuổi thi đỗ Trạng nguyên.” Cho nên người đời sau đã vẽ Lương Hạo thành một người râu tóc bạc trắng, nhưng thực ra, đó chỉ là sự ngoa truyền trong truyền thuyết.
Lương Hạo (963 -1004) là người Tu Thành, tỉnh Sơn Đông đời Tống, tự là Thái Tố. Trong truyền thuyết dân gian, Lương Hạo xuất thân trong gia đình quan chức, lúc còn nhỏ đã từng lập lời thề: Không thi đỗ Trạng nguyên sẽ không chịu thôi. Nhưng do thời vận không tốt, nên thi nhiều lần vẫn không đỗ Trạng nguyên, bị mọi người chê cười. Nhưng Lương Hạo không hề bận tâm, ông luôn tự chữa thẹn với mình rằng: “Thi một lần là gần thêm vị trí Trạng nguyên một bước!” Tương truyền ông bắt đầu ứng thí từ năm Thiên Phúc thứ 3 nhà Hậu Tấn (năm 938), trải qua các triều đại Hậu Hán, Hậu Chu, đến tận năm Ung Hy thứ 2 đời Tống Thái Tông (năm 985) mới thi đỗ Trạng nguyên. Vì thế, ông từng viết một bài thơ tự cười mình rằng:
Thiên Phúc nhị niên lai ứng thí, Ung Hy nhị niên thủy thành danh.
Nhiêu tha bạch phát đầu trung mãn, Thả hỷ thanh vân túc hạ sinh.
Quan bảng cánh vô bằng sài bối, Đáo gia duy hữu tử tôn nghênh.
Dỡ tri thiếu niên đăng khoa hảo, Chẩm nại long đầu thuộc lão thành.
Nghĩa là: Năm Thiên Phúc thứ 2 bắt đầu đi thi, đến năm Ung Hy thứ 2 mới đỗ đạt. Trên đầu tóc đều đã bạc trắng, nhưng vui vì đường mây đã mờ dưới chân. Xem bảng chẳng thấy bạn cùng lứa, về nhà chỉ thấy con cháu đón mừng. Cũng biết rằng đỗ đạt khi còn trẻ là tốt, nhưng biết làm sao khi ngôi đầu bảng lại thuộc về ông già.
Theo ghi chép trong chính sử, lần đầu tiên Lương Hạo đi thi Tiến sĩ đã không thi đỗ, ông ở lại kinh thành Biện Lương, từng có kiến nghị với Tống Thái Tông rằng, tuyển chọn người tài không thể chỉ dựa vào thơ phú, mà phải chú trọng đến thực tài trị quốc trị dân, nhưng kiến nghị của ông không được tiếp thu. Năm Ung Hy thứ 2, ông lại tiếp tục vào kinh thành dự thi, vượt qua kỳ thi Điện của Thái Tông, thi đỗ Trạng nguyên, được nhận chức “Đại danh phủ quan sát thôi quan”, năm ấy ông hai mươi ba tuổi.
Sách sử còn nói rằng, Lương Hạo “tướng mạo đẹp đẽ, thân thể cường tráng ít bệnh tật, gia đình hòa mục, giỏi giao thiệp với các quân sĩ, trọng danh dự uy tín”, ông từng đảm nhiệm các chức vụ như Học sĩ viện Hàn Lâm, Tri phủ phủ Khai Phong, kinh đô nhà Tống. Trong thời gian đó, từng cùng với Dương Lệ, Chu Đài Phù, Lý Nhược Chuyết quản lý các vấn đề khoa cử. Lại cùng với những người trong nhóm Tiền Nhược Thủy soạn ra “Thái Tố thực lục” vầ “Khởi cư chú”. Lương Hạo là một viên quan có tài, mỗi lần lên triều dâng tấu, thì lời lẽ sáng suốt, đối đáp trôi chảy, lại có tầm nhìn xa trông rộng, được Chân Tông trọng dụng và người đương thời khen ngợi. Năm Cảnh Đức thứ nhất (năm 1004), Lương Hạo bị bệnh nan y và mất khi đang làm Tri phủ phủ Khai Phong, năm đó ông bốn mươi hai tuổi. Các trước tác của ông được tập hợp thành mười lăm quyển.
Lương Hạo có ba người con trai, người con trai cả là Lương cổ, sinh vào ngày Lương Hạo thi đỗ Trạng nguyên, sau đó Lương cố cũng thi đỗ Trạng nguyên, vì thế hai cha con họ được gọi là “phụ tử Trạng nguyên”. Nhưng Lương cố cũng giống như cha mình, không sống thọ, đến năm ba mươi ba tuổi thì mất. Cha con Lương Hạo, Lương cố cùng là Trạng nguyên, điều này ít gặp trong chế độ khoa cử của Trung Quốc cố đại. Hơn nữa, họ đều làm quan thanh liêm chính trực, có tác phẩm để đời. Từ đời Tống, đời Kim trở đi, người ta đã lập bảng “phụ tử Trạng nguyên” cho cha con họ, tấm bảng được làm bằng gỗ, quy mô khá nhỏ. Năm Khang Hy thứ 58 đời Thanh (năm 1719), quan Thái thú ở Duyên Châu là Kim Nhất Phượng phụng chỉ trùng tu, đối thành tấm bảng bằng đá, đề lên câu đối: Thị phụ thị tử, đồng tác trạng đầu thiên tải thiểu; Vi khanh vi tướng, lưu truyền lịch đại nhất môn đa (Cha ấy con ấy, cùng đỗ Trạng nguyên là điều nghìn năm hiếm thấy; Làm khanh, làm tướng, lưu truyền muôn đời lại ở cùng trong một nhà đông đảo).
Xem bói Quẻ Quan Thế Âm Lương Hạo Đăng Khoa là quẻ thẻ Thượng Cát trong quẻ thẻ quan âm, là quẻ số 47 !
Quẻ này là tượng gấm lại thêu hoa.
Những việc mong cầu đều được tốt đẹp,
Với những đặc trưng tính cách riêng, 3 cặp đôi con giáp sau đây sẽ càng trở nên yêu thương mặn nồng hơn sau những cuộc tranh cãi.
Nam tuổi Hợi và nữ tuổi Dậu
Hai con người này ở bên nhau thì chủ yếu tính cách của họ sẽ quyết định mức độ lâu bền của mối quan hệ. Hai tính cách có xu hướng bổ sung cho nhau khiến họ dù gặp nhiều khác biệt dẫn đến bất hòa nhưng sau mỗi cuộc chiến tranh, hai người lại cảm thấy thấu hiểu và “bổ khuyết” cho nhau hơn. Chàng trai tuổi Hợi khá yếu thế hơn cô nàng tuổi Dậu, nhưng cũng vì vậy chàng dễ dàng thay đổi bản thân để hòa hợp với đối phương. Trong những cuộc tranh cãi, chàng thường là người lắng nghe, nhún nhường và bao dung. Trong khi nàng tuổi Dậu tuy ngoài mặt hơi “bá đạo” và thẳng thắn nhưng nàng biết đối phương thật sự yêu thương chân thành nên dù có cãi nhau, nàng cũng không bao giờ nói tiếng chia tay.
![]() |
Nam tuổi Thìn và nữ tuổi Mão
Chàng trai tuổi Thìn thông thường có chút chủ nghĩa đại nam nhi, trong khi cô nàng tuổi Mão hơi yếu đuối và sẵn sàng thỏa hiệp, nàng biết vì mối quan hệ mà bao dung đối phương dù bất đồng quan điểm. Cả hai ở bên nhau thường hay xét nét lẫn nhau, có thể vì một chút chuyện vặt mà xảy ra chiến tranh. Tuy nhiên đối với cả hai, những trận cãi vã cũng giống như một cách giao lưu tình cảm để sau đó thấu hiểu và gắn bó hơn.
Nam tuổi Thân và nữ tuổi Tý
Cả hai đều thuộc kiểu người khá hiện thực nên dễ thống nhất trong tư tưởng và quan niệm sống. Nguyên nhân cãi nhau thường chỉ là những chuyện nhỏ nhặt do quá “bới lông tìm vết”. Mặc dù bất hòa nhưng sau khi đã giải quyết ổn thỏa, mỗi người đều đủ bình tĩnh để tự phản tỉnh mình và biết đứng ở lập trường của đối phương để suy nghĩ. Cả hai đều biết chủ động làm hòa và vun đắp tình cảm nhiều hơn sau đó.
Khang Ninh (theo Meiguoshenpo)
SAO THÁI DƯƠNG
Tính chất công việc
Người có sao Thái dương tọa thủ cung Quan lộc phần lớn có một vài hiện tượng như sau:
Tính chất của sao là điểm xuất phát để luận đoán sự nghiệp. Mặt trời mọc ở phía Đông lặn ở phía Tây, ngày mọc, đêm lặn. Sao Thái dương tọa thủ cung quan lộc có thể làm việc 24 giờ hoặc thay ca, cũng có tể làm việc trong môi trường lớn có tính chất như ngành vận chuyển
Môi trường làm việc
Nghiên cứu người có Thái dương tọa cung Quan lộc thường có các biểu hiện như sau:
SAO CỰ MÔN
Tính chất công việc
Sao Cự môn tọa thủ cung Quan lộc đa số có các biểu hiện như sau về nghề nghiệp
Môi trường làm việc
Người có sao Cự môn tọa thủ cung Quan lộc có đặc điểm như sau về môi trường làm việc:
![]() |
| Ảnh minh họa |
Giải mã giấc mơ chứa đầy sự rủi ro
Giải mã giấc mơ ngủ kép
Nếu nguời nấu bếp bị hoảng hốt thì một chuỗi kích động phản ứng được hình thành. Thí dụ nếu ông chồng thình lình ôm chầm vợ mình trong khi bà đang xắt cà rốt hay đang nấu đồ ăn trên bếp thì bà có thể nổi cáu, điều này có thể ảnh huởng đến liên hệ của họ trong tối hôm đó và rồi lan tới văn phòng ngày hôm sau.
Bếp lò cũng tuợng trưng cho tình trạng tài chính khá giả trong gia đình. Người ta cần giữ bếp sạch và làm việc đều đặn, như thế tiền sẽ dễ vào nhà. Nếu bếp khó cháy công việc làm hay bị phá ngang với nhiều trỡ ngại. Gia đình có thịnh vựợng hay không cũng có ảnh hưởng đến số lượng bếp được nấu như ta dùng nhiều bếp thì thêm tiền kiếm ra.
Cách chữa: Đặt gương hay kim loại trắng trên tường bếp sau dãy lò và nếu cần ta còn viền thành lọ để tạo thêm không khí thỏai mái trong khi nấu ăn. Người nấu bếp sẽ không giật mình khi có người vào bếp nhờ nhìn phản chiếu sau dãy bếp lò. Số bếp lò dù có nhỏ mà dùng nhiều thì tiền kiếm được vẫn gia tăng. Nếu lò nấu nhìn vào một vách tuờng có cửa sổ thì dù cảnh trí có đẹp vẫn có ảnh hưởng nhất định đến người nấu, tốt hơn hết là đặt gương phản chiếu ra cửa bếp hay treo một chiếc khanh hay một qua 3 cầu thủy tinh giữa dãy bếp và cửa ra vào.
Đây là những biến cách khác về nhà bếp:
1. Vị trí này rất tốt. người nấu bếp dễ thấy người ra vào.
2. Vị trí lò này là tốt nhất, cách sắp xếp không bị gò bó.
3. Vị trí lò ở đây xấu cho nền tài chính và sự ổn định trong nhà.
Cách chữa: Treo gương chiếu bên trên lò nhìn ra cửa.
4. Lò bếp này đặt không gặp may.
Cách chữa: treo gương chiếu bên trên lò nhìn ra cửa.
5. Bếp lò này đặt thất cách và tù túng mà lại có thể làm hai cho nghề nghiệp của chủ nhà.
Cách chữa: Treo gương trên tường hình chữ L theo hình vẽ.
6. Cách sắp xếp này dở tệ.
Cách chữa: Đặt gương trên tường theo hình vẽ, cách đặt gương này cũng làm tăng gấp đôi số bếp lò.
Quạt trần là vật dụng rất quen thuộc trong các gia đình, nhưng bạn đã biết theo phong thủy thì tuyệt đối không được lắp quạt trần trong nhà ở 4 vị trí nào kẻo vừa hại sức khỏe, vừa hại túi tiền hay chưa? Hãy cùng Lịch ngày tốt khám phá bí mật này nhé. Trong mùa hè nóng nực, có lẽ có hai vật dụng dường như đã trở thành thứ không thể thiếu trong các gia đình, đó là quạt và điều hòa. Nhiều nhà chọn cách lắp quạt trần ở những phòng lớn và diễn ra hoạt động chung của cả gia đình như phòng khách, phòng ăn hay thậm chí là cả phòng ngủ nữa. Quạt trần là loại quạt có khả năng tạo gió tốt với hơi mát lan tỏa đến từng góc trong căn phòng, khiến cho cuộc sống của chúng ta tiện lợi hơn rất nhiều. Tuy nhiên, trước khi lắp quạt trần trong nhà, bạn hãy đọc bài viết này để biết được những lưu ý về phong thủy đối với quạt trong gia đình nhé. Hãy cùng Lịch ngày tốt tìm hiểu những điều cấm kị khi lắp quạt trần trong nhà ở.
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
Trong những chương tiết phía trên của cuốn sách này, chúng ta đã biết, bát tự của nam giới lấy chính tài ta khắc hoặc thiên tài là vợ, nhưng chồng trong bát tứ của vợ, lại phải triệt để ngược lại, lấy quan (chính quan) sát (thiên quan) khắc ta là chồng. Cũng vậy, khi xem cho con cái, nam mệnh lấy thiên quan (thất sát) khắc ta là con trai, Chính quan là nữ, còn nữ mệnh thì lấy thực thần ta sinh là con trai, thương quan là con gái.
Do trong xã hội phong kiến, đàn bà mọi việc đều phải dựa vào chồng “chồng lợi thì vợ cũng lợi, chồng khổ thì vợ cũng khổ”, cho nên mệnh cho nữ xấu hay tốt, trước hết phải xem vị trí quan sát của chồng thịnh hay suy để định sang hèn. Tiếp đến phải xem sao của con, vì rằng nuôi con để dựa lúc về già, bởi vì người đàn bà bản thân không có thu nhập, do đó cuối đời vinh hay nhục, toàn dựa vào sao của con xấu hay tốt.
Trong tình hình chung, quan, sát, tài đắc địa, có lợi cho chồng, thực thần đắc địa, có lợi cho con. Chồng có lợi thì xuất thân giàu sang, cả đời hưởng phúc. Con có lợi thì cuối đời được nuôi dưỡng tốt. Do thực thần có thể sinh tài, lại có thể sinh quan. Ví dụ có người chồng can ngày bát tự Ất Mộc sinh ra là Đinh Hoả, sau đó lại do thực thần Đinh Hoả sinh Thổ, Mộc có thể khắc Thổ, cho nên Thổ là tài của Ất Mộc. Tiếp đó lại do Thổ sinh Kim, Kim là quan khắc Ất Mộc. Vì duyên cớ ấy cho nên nữ mệnh phần lớn lấy thực thần, tài, quan làm dụng thần của bát tự. Nếu như quan, sát, tài, thực trong bát tự sinh ra không đắc địa, lại không sinh vượng hoặc là khuyết hàm, khi hành vận lại không bổ sung được, thê thì suôt đời khốn khổ, chẳng nói làm gì.
Lễ giáo phong kiến lại tôn sùng phụ nữ trinh tiết, trưóc sau như một, cho nên trong bát tự nếu thấy quan thì không được sát, nếu thấy sát thì không được thấy quan, chỉ có một ngôi là tốt, nếu một khi trong bát tự có hai quan tinh, chỉ có một ngôi là tốt, nếu một khi trong bát tự có hai quan tinh, chỉ cần không có sát lẫn vào trong đó, hoặc trong tứ trụ thuần là sát, không có quan tinh lẫn vào, thì đều có thể gọi là con gái nhà lành.
Trong Tam mệnh thông hội của Dục Ngô Sơn nhân đòi Minh soạn, có nói rất kỹ về bát pháp, bát cách của nữ mệnh, xin dẫn giải như sau;
I. Bát pháp
1. Thuần: gọi là thuần có nghĩa là thuần nhất. Ví như quan tinh thuần nhất, sát tinh thuần nhất, có tài (tài có thể sinh quan) có ấn (ấn thụ hộ thân), lại không gặp hình xung như vậy là thuần. Chúng ta hãy xem bát tự của một nữ mệnh dưới đây.
Năm Quý Tỵ Tháng Mậu Ngọ
Ngày Tân Dậu Giờ Bính Thân
Tân Dậu trong bát tự là bản thân, mà Dậu với Tân mà nói, do ư chính ở lộc địa của lâm quan, cho nên bản thân sinh vượng. Ngưòi xưa nói: vượng không theo hoá theo Lý thì thiên can hợp cục, Bính Tân cần phải hoá Thuỷ, bây giờ bản thân duyên lộc, cũng phải hoá mà không hoá. Ở đây sao chồng Tân Kim là chính quan Bính Hoả khắc ta, liên hệ với mệnh này sinh vào tháng Mậu Ngọ đúng vào thời hoà vượng của tháng 5 nông lịch, cho nên sao chồng kiện vượng. Lại liên hệ với can năm Quý Thuỷ, rất khéo hình thành mỗi quan hệ chính quan vói Bính Hoả sao chồng. Trong dụng thần, chính quan là một cát tinh, cho nên rất có lợi cho chồng. Nếu lại liên hệ với can tháng Mậu Thổ lại là cát thần thực thần của sao chồng Bính Hoả, và Bính Hoả cũng Mậu Thổ cùng quy lộc (Lâm quan) đên địa chi Tỵ của trụ năm, có thể nói là khó có được.
Sau khi xem sao chồng lại đến sao con. Tân Kim sinh Nhâm Thuỷ là con, mà thân trong cung con ở chi giờ lại khéo hàm chứa Nhâm Thuỷ mà mối quan hệ của Nhâm Thuỷ với Thân trong 12 cung lại đúng ở vào đất trưòng sinh vạn vật hướng sinh. Hơn nữa thiên can Quý Mậu hợp hoà, Bính Tân hợp Thuỷ, Thuỷ Hoả có tượng ky tế, địa chi Tỵ, Ngọ, Dậu, Thân, Canh Kim trong kỷ, Canh Kim trong than, Tan Kim trong Dậu đều là tài khcí của Bính Hoả sao chồng và Đinh Hoả trong chi tháng Ngọ, cho nên tự nhiên lấy chồng được làm quan mà ăn lộc trời, thuộc về mệnh chồng vinh con sang.
2. Hoà: gọi là Hoà có nghĩa là điềm tĩnh. Ví như trong bát tự bản thân nhu nhược, chỉ có một ngôi sao chồng khắc ta mà tứ chi lại không có thần công phá xung kích, nó liễm được khí trung hoà nên “Hoà” vậy. Chúng ta hãy xem bát tự của một nữ mệnh.
Năm Nhâm Thìn Tháng Tân Hợi
Ngày Kỷ Mão Giờ Kỷ Tỵ
Thiên can Kỷ Thổ của trụ ngày trong mệnh là bản thân, Giáp Mộc trong trụ thang hội là sao chồng. Hợi đối với Giáp Mộc mà nói, ở chỗ đất trường sinh vạn vật hưởng vinh. Những điều nói trên gọi là chồng được quan tinh, con đường trường sinh, cho nên chồng vượng, con lợi, còn như Ất Mộc trong chi ngày Mão, tuy là thất sát của bản thân Kỷ Thổ nhưng có Canh Kim trong chi giờ tỵ chế ước, cho nên “lấy sát lưu quan”, là quý tượng trong nữ mệnh.
3. Thanh: gọi la “thanh” có nghĩa là thanh khiết. Trong nữ mệnh, hoặc chỉ có một quan, hoặc chỉ có một sao chồng đắc thời, trong trụ có tài có quan, có ấn trợ thân, không có khí hỗn đục, mới có thể đắc thanh quý. Lấy một ví dụ nữ mệnh như thế này:
Năm Kỷ Mùi Tháng Nhâm Thân
Ngày Ất Mùi Giờ Giáp Thân
Trụ ngày bản thân Ất Mộc, lấy chi ngày chi giờ trong đó thân chinh Canh Kim làm sao của chồng. Thân với Canh mà nói, ở vào lộc địa của lâm quan, cho nên sao chồng đắc thời mà Ất Mộc lấy thực thần Đinh Hoả ta sinh làm sao con, mà trong chi ngày Mùi bản thân lại hàm chứa Đinh Hoả, mà Mùi với Đinh mà nói lại cũng ở vào Vượng địa của lâm quan, cho nên sao con đắc địa. Ất Mộc lấy Nhâm Thuỷ làm chính ấn, mà trị tháng Nhâm Thuỷ lại toạ ở Trung Kim, nguồn thuỷ không thiếu, hơn nữa kỷ Thổ trong chi ngày Mùi lại là thiên
tài do Ất Mộc đưa đến. Như vậy tài vượng sinh quan, tứ trụ lại không có hình xung phá hại.
Thơ rằng:
Tài cung ấn thụ tam ban vật
Nữ mệnh phùng chi tất vượng phu
Cho nên người đàn bà có mệnh là phu nhân, được hai nước phong chức.
4. Quý : gọi là “Quý” là danh hiệu tôn vinh. Trong mệnh có quan tinh và được tài khí trợ sinh, trong tứ chi lại không có hình cung phá bại, đó gọi là nghiêu vũ trong nữ mệnh quý vậy. Sách nói: mệnh mà nhân không sát (thiên quan), quý được làm phu nhân. Lại nói: “nữ mệnh vô sát phùng nhị đức, khả nhị quốc chi phong”. Gọi là Nhị Đức, không chỉ riêng Thiên Đức, Nguyệt Đức, với nữ mệnh mà nói, tài cũng là Đức, quan cũng là Đức nếu lại có ấn thụ, thực thần, như vậy càng thêm tôn quý. Nêu một nữ mệnh dưới đây.
Năm Ất Dậu Tháng Bính Tuất
Ngày Quý Mão Giờ Quý Tỵ
Thiên can trụ ngày Tân Kim, không chỉ lấy can năm Ất Mộc ta khắc làm thiên tài, trước tiên được một đức và lấy Bính Hoả của Canh Kim khắc ta trong can tháng làm quan nhân, mà quan nhân này lại toạ ở một khố tàng vạn vật và Tỵ trong chỉ giờ lại kéo tháng đến làm lộc địa của lâm quan, cho nên lại được thêm một đức. Ngoài hai đức ra, can giờ Quý Thuỷ quý là quan của Bính Hoả chồng. Bản thân Tâm Kim sinh ra Quý Thuỷ là con, mà Thuỷ của con lại toạ ở Tỵ lâm quan, có thể nói “phu lộc đồng vị” hơn nữa can giờ Quý lai gặp chi ngày Mão, được gọi là Thiên Ất quý nhân. Như vậy vừa là quý nhân, lại là tài quan song mỹ, cho nên chồng và con đều phát, cả hai được phong.
5. Trọc: gọi là “trọc” tức là đục mà không trong. Bát tự nữ mệnh nếu xuất hiện ngũ hành mất vị trí, Thuỷ Thổ làm tổn thương nhau, bản thân rất nguy hiểm, ngôi sao đại biểu cho chồng không hiện ra, mà thiên quan lại rối tạp, trong tứ chi lại không có Tài, Quan, An, Thực, những người này phân lớn là kỹ nữ, tỳ thiếp, dâm đãng, ở đây xin nêu lên một nữ mệnh như thế này.
Năm Ất Hợi Tháng Ất Hợi
Ngày Quý Sửu Giờ Kỷ Mùi
Bản thân Quỷ Thuỷ sinh vào tháng 10 tháng Hợi, quá nhiều Thuỷ. Quý Thuỷ lấy Mậu Thổ làm chính quan xem ở chính quan không hiện rõ mà dẫn can giờ Kỷ Thổ làm Thiên phu nhưng mà trong chi ngày Sửu và chi giờ Mùi Kỷ Thổ đều có thiên phu ở hỗn tạp với nhau, hơn nữa trong trụ ngày không có tài, Ất Mộc vốn là thực thần của Quý Thuỷ nhưng Ất Mộc sinh ở can tháng rất khoẻ, Kỷ Thổ bị khắc, như vậy ngũ hành mất vị trí, khó tránh khỏi ma quỷ đến người, trước trong sau đục, không thể hưởng phúc.
6. Lạm: gọi là “lạm” có nghĩa là tham lam, tức là nói trong thiên can tứ trụ có nhiều phu tinh (sao chồng) trong địa chi lại ngầm có tài vượng đái sát. Như vậy khó tránh khỏi tửu sắc vô độ, tư túi đắc tài. Gặp phải mệnh này, nếu không khắc phu tái giá thì thân làm nô tì, vì rằng thái quá hoặc bất cập sẽ đi theo hướng phản diện. Ví dụ mệnh như thế này:
Năm Canh Dần Tháng Bính Tuất
Ngày Canh Thân Giờ Đinh Hợi
Bản thân Canh Kim sinh vào tháng thu, chi ngày lại gặp lâm quan lộc địa, bản thân tự vượng. Trong đó trụ tháng nặng hơn trụ giờ, đáng lẽ Bính Hoả là chồng nhưng chi năm Dần và chi tháng hội thành Hoả cục, ở can giờ lại thấu xuất Đinh Hoả, không tránh khỏi rất yêu Hỏa. Lại như bản thân Canh trong Kim lại ngầm khắc vói chi năm chi tháng Dần Hợi Mộc là tài mà Nhâm Thuỷ trong Hợi lại là cát thần thực thần của Canh Kim, thực thần có thể sinh tài. Vì vậy tuy nói người đàn bà này lớn lên xinh đẹp có phúc, nhưng lại không thiếu lạm dâm mà đắc tài.
7. Xướng: gọi là “xướng” tức là xướng ca vô loài Trong bát tự nếu xuất hiện thân vượng phu tuyệt, quan suy thực thịnh, hoặc trong tứ trụ không thấy quan sát, hoặc có mà bị coi là hung thần thương quan, thương tận, hoặc quan sát hỗn tạp mà thực thần thịnh vượng, những người này nếu không là mệnh kỹ nữ, cũng là ni cô tì thiếp, khắc phu dâm bổn, chỉ ở một mình. Xem mệnh như thê này:
Năm Đinh Hợi Tháng Canh Tuất
Ngày Mậu Thìn Giờ Canh Thân
Can ngày bản thân Mậu Thổ, lẽ ra là phu tinh (sao chồng) khắc ta Giáp Mộc trong chi năm Hợi, nhưng do Mộc này ở vào tháng 9 tháng tuất của mình thu, trong vượng tướng hưu tù tử, ở vào tử thất thời nguyên khí, giờ đây lại gặp can tháng Canh Kim giám lâm, cho nên rõ ràng là khắc tuyệt, lại xem Canh Kim trong chi giờ Thân, lẽ ra thuộc về thực thần của Mậu Thổ, nhưng Thân với Canh mà nói lại là lộc định của lâm quan, cho nên thực thần có lực, hơn nữa Mậu Thìn vốn thuộc sao khôi cương, có lợi cho đàn ông, không lợi cho đàn bà, giờ đây khôi cương chiếu lâm, lại có thể sinh thực, nêu lại kết hợp với Canh Kim của can tháng can giờ thì không tránh khỏi thực thần vượng quá mức. Tuy nói Ất Mộc trong Thìn cũng là sao chồng khắc ta nhưng toạ ở bên dưới Mậu Thổ, không thể thấu xuất, nên không thể lấy để dùng. Ngoài ra Nhâm Thuỷ trong chi năm Hợi, Quý Thuỷ trong chi ngày Thìn, Nhâm Thuỷ trong chi giờ Thân đều là tài của bản thân Mậu Thổ, Mậu Thìn vốn thuộc khôi ải, bản thân cường vượng, bây giờ phu tinh khắc ta đã tử tuyệt mà xung quanh lại đầy những thực thần sinh ta, cho nên gọi là Thân vượng phùng sinh, tham thực tham tài, là một ca nữ xinh đẹp không có chồng.
8. Dâm: gọi là dâm là dâm ô quá mức. Bát tự của loại người này, bản thân tuy nhiên đắc địa nhưng phu tinh (sao chồng) thái quá, tối sáng giao nhau, người mà can ngày thân vượng, trong tứ trụ đều là quan sát thì đúng như vậy. Phu tinh xuất hiện ỏ thiên can gọi là minh, xuất hiện ở địa chi gọi là ám. Ví dụ 1 Đinh 3 Nhâm, hoặc Đinh Hoả đồng thời gặp phải thiên can Nhâm Thuỷ, Quý Thuỷ trong địa chi thìn, Quý Thuỷ trong địa chi Thìn, Quý Thuỷ trong Tý đều là những điền hình về tứ trụ thái quá hoặc minh ám giao nhau. Loại đàn bà đối với đàn ông quả là không thể dung nạp được, nêu một ví dụ:
Năm Mậu Thìn Tháng Nhâm thìn
Ngày Nhâm Tuất Giờ Quý Hợi
Nhâm Tuất trong mệnh và Quý Hợi, một trụ ở vào lộc địa của lâm quan, một trụ ở vào trạng thái đế vượng vạn vật trưởng thành, có thể gọi là bản thân đắc địa. Nhưng ở phu tinh, minh có trụ năm Mậu Thể là chính phu, ám có 3 Mậu Thổ (gồm 2 Thìn một Mậu) thành ám phu của Mậu Thổ, như vậy phu tinh giao tập, dâm hết chỗ nói
II. Bát cách
1. An tỉnh giữ phận: gọi là an tỉnh giữ phận tức là mệnh nữ phụ tinh trong bát tự có khí, can ngày tự vượng. Tài thực được đất, không có hình xung. Hãy xem một mệnh này.
Năm Quý Tỵ Tháng quan Canh Thân
Ngày Ất Mão Lộc Giờ Đinh Hợi
Canh ngày bản thân Ất Mộc, toạ ở chi ngày Mão là lộc địa lâm quan của Ất Mộc mà chi giờ Hợi cũng chi ngày Mão lại phùng hợp cục, cho nên can ngày tự vượng. Lại xem phu tinh, At Mộc lấy Canh Kim khắc ta làm chính quan hay ở chỗ, chi tháng thân ở nơi phu tinh toạ lại thuộc lộc địa lâm quan của Canh Kim mà chi năm Tỵ lại là đất trường sinh của Canh Kim, hơn nữa Nhâm Thuỷ trong chi giờ Hợi là thực thần thiên trù của Canh Kim, nên gọi (chồng) ăn thiên lộc, quan tinh mỹ vượng. Như vậy bản thân, quan tinh đều hưởng vượng khí, hai bên không xâm lấn nhau, tứ trụ lại không có thất sát lẫn vào, vì thế có thể thấy đó là mệnh của một phu nhân an tĩnh giữa phần, hoà nhã lịch thiệp.
2. Phúc thọ đểu đủ: đây là một loại cách cục thân toạ đất vượng, thông với ngụyên khí, can chi phò nhau, tổ hợp hữu tinh, mà Tài Quan Ân thụ đều đắc vị, không làm thóat tài hoại Ân, Thương quan, quả là cách cục thuần tuý. Nếu thân vượng mà vận hành vào đất tài, thực, cũng thuộc mệnh phúc thọ đều đủ. Nêu một ví dụ về nữ mệnh này:
Năm Bính Ngọ Tháng Canh Tý
Ngày Tân Dậu Giờ Quý Tỵ
Can ngày Tân toạ đất Dậu, chuyên lộc tự vượng. Tân Kim lấy Bính Hoả làm quan, mà quan tinh quy lộc ở chi giờ Tỵ, phu tinh đắc địa. Tân Kim lấy Quý Thuỷ là con, can giờ thực thần Quý Thuỷ quy lộc ở can tháng Tý Thuỷ, cho nên tử tinh (sao con) cũng đắc địa. Hơn nữa can chi phò nhau, không làm hại nhau, lại sinh vào Quý thuỷ tháng 11 dương lệch, trở thành tượng Kim Bạch Thuỷ thanh. Như vậy mệnh chủ xinh đẹp đoan chính, phu vượng tử quý, cho nên có thể đoán là một mệnh phúc thọ đều đủ.
3. Vượng phu thương tử: xem nữ mệnh ở vượng phu thương tử, mấu chốt là phải xem trụ ngày, vì rằng giờ là đất quy súc lại. Cách xem: hai sao ca con, dần quy về giờ, phu tinh sinh vượng, tử tinh suy bại vậy lấy một nữ mệnh là ví dụ:
Năm Bính Tuất Tháng Bính Thân
Ngày Đinh Tỵ Giờ Tân Hợi
Ngày sinh Đinh Hoả, toạ ở đế vượng Tỵ, bản thân đắc địa. Đinh Hoả lấy Nhâm Thuỷ chế ta trong chi tháng thân làm quan tinh mà chi giờ Hợi là lộc địa lâm quan của quan tinh Nhâm Thuỷ, chi tháng Thân Kim lại là đất trường sinh của Nhâm Thuỷ. Hơn nữa tháng 7 Kim vượng , Canh Kim trong thân và Tân Kim can giờ cùng với hai thiên can Bính Hoả của can giờ, can tháng là ấn thụ, tài thần của Nhâm Thuỷ quan tinh, cho nên đoán biết ông chồng thông minh phú quý. Đinh Hoả lấy thực thần kỷ Thổ làm chỗ dựa cho con cái bản thân, bây giờ trong trụ kia thấy Kỷ Thổ, cho nên lấy quyền đem Mậu Thổ tàng trong chi là tử tinh. Nhưng đem Mậu Thổ tàng trong chi Quý dẫn về cung chi giờ Hợi, Giáp Mộc trong Hợi là thất sát khắc phạt Mậu Thổ, thế đem Mậu Thổ đặt vào tuyệt địa. Vì rằng tử tinh bị khắc, cho nên trong mệnh khó có con, hoặc có thì cũng khó nuôi.
4. Vượng tử thương phu: về mệnh vượng tử thương phu, có thể từ trụ tháng, trụ giờ mà đoán biết. Quan tinh có khí đắc thời, chồng có thể thanh quư phát phúc; nếu không đắc nguyệt khí, ở trụ giờ lại không có vượng khí, thế thì chồng có thể vì mất khí mất thời mà nguy đến tính mệnh. Lại như tử tinh quy dẫn về giờ, nếu gặp đất trường sinh, lâm quan, đế vượng mà không hình khắc, chứng tỏ tử tinh đắc địa mà sinh vượng, phần lớn có thể làm nên. Xin nêu một ví dụ.
Năm Kỷ Mão Tháng Giáp Tuất
Ngày Ất Mão Giờ Mậu Dần
Bản thân Ất Mộc, lấy Canh Kim làm chính quan. Sinh vào tháng Tuất, Canh Kim phùng Tuất, ở vào đất suy của nguyên khí, lúc dẫn quy về giờ, chi giờ Dần lại là đất trường sinh của Bính Hoả, mà Thìn Tuát hội cục, đều thuộc Hoả, nên đoán tử tinh hưởng vượng.
5. Thương phu khắc tử: nữ mệnh này, quan tinh và tử tinh mất tháng mất giờ, lại bị khắc tiết, cho nên không đẹp. Xem một nữ mệnh.
Năm Bính Tý Tháng quan Canh Tý
Ngày Ất Hợi Giờ Bính Tý
Bản thân Ất Mộc, lấy Canh Kim làm quan tinh. Bây giờ tháng Tý Kim hàn Thuỷ Lạnh, thực là Tử địa của Canh Kim
khí, trong tứ trụ không có Thổ đến sinh Kim. Cho nên đức ông chồng không lâu bền. Ất Mộc lấy Bính Hoả làm con, dẫn đến Tý cung ở giờ, thuộc về Thuỷ Hoả xung kích, là đất thuỷ vượng Hoả diệt, tuy nhiên năm đến can giờ đều có hai Bính Hoả, làm thế nào chịu nổi Thuỷ ở địa chi tứ trụ tuôn ra, cho nên con cái khó lòng tránh khỏi nguy nan.
6. Thiếu niên chết yểu: sách đoán mệnh cho rằng trong nữ mệnh vốn có quan tinh bị thương, hành vận lại thông đến đất quan, hoặc vô quan kiến thương, hành vận lại lâm đất quan và thân nhược quan sát quá nặng, sát nặng khắc thân, như thế nếu không chết thì cũng dâm ồ làm tràn. Ngoài ra nếu mang theo nhận không bị chế, hành vận lại phù hợp ở đất nhận, cũng không phải điềm lành.
Ví dụ:
Năm Đinh Mão Tháng Quý Sửu
Ngày Canh Thìn Giờ Bính Tý
Bản thân Canh Kim, Đinh Hoả là quan, bây giờ địa chi Tý Thìn và Quý Thuỷ trong Sửu củng là thương quan của quan tỉnh bị khắc chế nên bị hại vì chết đuối.
Lại như:
Năm Ất Dậu Tháng Mậu Tý
Ngày Bính Dần Giờ Kỷ Hợi
Ngày sinh Bính Hoả toạ chi Dần là đất trường sinh của Bính Hoả, đáng tiếc sinh vào tháng Tý giờ Hợi, quan sát quá nặng, giống như vượng Hoả gieo vào Thuỷ Thịnh, cho nên lo lắng sẽ chết khi sinh đẻ Lại xem một bát tự
Năm Nhâm Tý Tháng Quý Mão
Ngày Giáp Tuất Giờ Đinh Mão
Bản thân Giáp Mộc, cho tháng Mão là Dương nhận, trụ Đinh Mão lại thương quan, Dương nhận, đồng thời địa chi Tý Mão dụng hình, Mão Tuất tương hợp, phu tinh. Tài tinh trong trụ yếu sức, vì vậy ngày Kỷ Mão, tháng Ất Sửu năm Quý Dậu phạm gian dâm mà chết.
7. Chính thiền tự xử: tam mệnh thông hội cũng rất thích thú về cách nói chính thiên tự xử. Sách nói: chính thiên tự xử là gì? là vợ chồng tương hợp, lại gặp Tỷ kiên phân tranh. Nếu một ngôi phù tinh có hai ngôi thể tinh tương hợp, gọi là tranh hợp. Nếu bản thân tự vượng, thân kia lại suy, tứ trụ không xung thì ta chính mà là thiên, nếu thân kia vượng mà ta suy, tứ trụ xung ta thì thân kia vượng mà ta thiên, nêu thân ta vượng hửu khí thì phu theo ta là chính, ta thân suy mà có ngôi vượng khác thì theo ngôi khác, ta ngược lại là thiên. Bảo rằng thân kia vượng, tranh đoạt chồng ta, ta đành phải là thiên, hoặc tự vượng thái quá, trụ không có phu tinh, cũng là thiên, hoặc quan sát hỗn tạp, hoặc thương quan quá nặng, cùng là thiên, càng dâm ô. Hãy xem:
Năm Nhâm Tý Tháng Bính Ngọ
Ngày Tân Dậu Giờ Tân Mão
Bản thân Tân Kim, lấy can tháng Bính là quan tinh. Nhưng Bính lại hợp với can giờ Tân, thì lấy đây là mệnh hai đàn bà tranh một chồng, hay ở bản thân toạ tại lộc địa lâm quan chi Dậu, thân vượng có lực, mà can giờ Tân Kim lại toạ ở tuyệt địa Mão, suy nhược không chịu nổi công kích. Vì vậy kết quả tranh giành ta làm chính thê, còn kẻ kia làm thiếp. Lại như:
Năm Quý Mùi Tháng Nhâm Tuất
Ngày Quý Tỵ Giờ Nhâm Tý
Bản thân Quý Thuỷ, Mậu Thổ là quan. Đáng tiếc Nhâm Tý dựa Thân Thuỷ vượng. Quý Thuỷ Thuỷ nhược, do nhược không thắng vượng, cho nên kê kia thắng ta suy, đành phải làm thứ phòng. Nhưng trụ giờ Nhâm Thuỷ nặng mà tràn trề, toạ chi Tý dưới Nhâm gặp chi năm Mùi, kèm theo đào hoa cho nên kê kia tuy là chính thất (vợ cả) nhưng lại khó tự xử.
8. Chiêu giá bất định: sao lại gọi ,là chiêu giá bất định? Nghĩa là: trong nguyệt lệnh có phu tinh thấu can, tương hợp với kỷ, bản thân Tỵ tòng phục, phu tinh lại là nguyên khí, giờ dần phu tinh, hoặc sát tinh lại thích hưởng vượng địa đê khắc bản thân kỷ, lại tòng phục thiên phu, nên gọi là chiêu giá bất định (gả cưới không khẳng định) nếu phu tinh không vượng, hoặc bị khắc chế, hẳn gã chồng chậm, hoặc lấy chồng không minh bạch, hoặc chồng chẳng giúp được gì, hoặc có ngoại tình. Lại như:
Năm Quý Dậu Tháng Giáp Tý
Ngày Kỷ Mùi Giờ Ất Hợi
Bản thân Kỷ Thổ, Giáp Mộc là quan, sinh vào tháng Tý mất thời không vượng. Nhưng chi giờ phùng hợi, hợi là đất trường sinh của Giáp Mộc, quan tinh đương vượng, nhưng can giờ Ất Mộc lại chế bản thân là sát, can ngày toạ Mùi, lại là đất thương khố (kho tàng) của ất Mộc, dẫn đến sát tinh cũng vượng. Như vậỵ, mệnh chủ ở vào trạng thái gả cho Giáp mà biến Ất, gả cho Ất mà biến Giáp, do dự không quyết nên gọi là “chiêu giá bất định”. Bát pháp, bát canh mà sách cổ nói ở trên, ý thức phong kiến nặng nề, mà còn có những lời nói chủ để mua vui, cho nên hy vọng độc giả có con mắt phê phán trong khi nghiên cứu phân tích.
9. Được phong nhất phẩm
Năm tài Đinh Tỵ tài quan ấn
Tháng quan Mậu Thân quan ấn kiếp
Giờ Thực ất mão thực
ơ mệnh này, quan tinh thực thần toạ lộc, ấn thụ đương lệnh phùng sinh, tài sinh quan vượng, không thương ấn thụ, ấn thụ đương lệnh, đủ để phù thân, thực thần đắc địa, nhất khí tương sinh, nhìn xem toàn cục ngũ hành dừng đều, an tường thuần thuý, biết là phu vinh tử quý, là phu nhân nhất phẩm hai đời.
10. Phu quý tử quý
Năm quan Kỷ Tỵ tài sát ấn
Tháng kiếp Quý Dậu ấn
Ngày Nhâm Thìn
Giờ thực Giáp Thìn thương sát kiếp
Thu thuỷ thông nguồn, ấn tinh thừa lệnh, quan sát tuy vượng, chê hoá hợp nghi, hay là giờ can thấu xuất Giáp Mộc, chết sát Thổ thú, một khí thuần tuý, cho nên nhân phẩm đoan trang, giỏi thi thử. Kết hợp hành vận không Hoả, cơ quan không trợ giúp, ấn không bị thương, nên có phu tinh hiển quý, con nối dõi giỏi giang, được vinh hạnh phong hàm nhị phẩm.
11. Nữ trung tài tử
Năm Canh Thìn Tháng Nhâm Ngọ
Ngày Ất Hợi Giờ Quý Mùi
Ất Mộc sinh vào tháng Ngọ, Hoả thế mạnh mà can năm Canh quan nhu nhược, tốt ở chỗ can tháng Nhâm Thuỷ, can giờ Quý Thuỷ thông căn chế Hoả, chi năm Thìn Thổ tiết Hoả sinh Kim, hơn nữa chi tháng Ngọ Hoả sinh chi năm Thìn Thổ, chi năm Thìn Thổ sinh can năm Canh Kim, can năm Canh Kim sinh can tháng Nhâm Thuỷ, Can tháng Nhâm Thuỷ sinh can ngày Ất Mộc, như vậy tiếp tục tương sinh, khiến Hoả trong trụ không mãnh liệt Thổ không táo, Thuỷ không cạn, Mộc không Thổ, cho nên thuần tuý trung hoà, là nữ trung tài tử.
12. Dĩ ân vĩ phu
Ví dụ
Năm Bính Dần Tháng Tân Mão
Ngày Quý Dậu Giờ Mậu Ngọ
Can ngày Quý Thuỷ sinh vào tháng Mão là tháng tiết khí, trong trụ tài quan đều vượng, can ngày nhu nhược, cho nên lấy Ấn tinh phù ta làm phù tinh. Nhìn thấy khắp toàn cục, phù tinh thanh mà đắc nguyệt nên hành vận đến sửu vận, mấy năm liền cung Kim tiết Hoả, sinh liền hai con, về sau vận hành đến Mậu Tý, vì Tý Thuỷ xùng đẫy Đinh Hoả trong chi giờ Ngọ khiến Dậu Kim không bị thương, chồng có tin mừng thi cử đỗ đạt. Nhưng một khi giao vào Đinh Hợi, tài tinh ngược đãi, nên buông tay mà chết. Phân tích mệnh này, bệnh ở tài khí quá vượng, lấy Bính Hoả can năm hợp với Tân Kim can tháng, lấy Đinh Hoả can giờ khắc phá chi ngày Dậu Kim, hơn nữa Dần, Mão dương quyền sinh Hoả, cho nên hành vận một khi đi vào Đinh Hợi, Hợi với chi năm Dần hợp hoá Mộc, giúp dựng lên vượng thần mà Đinh Hoả lại khắc Tân Kim nên không có lộc.
13. Dĩ tài vi tử
Ví dụ:
Năm Bính Thìn Tháng Quý Tỵ
Ngày Đinh Sửu Giờ Giáp Thìn
Đinh Hoả sinh vào tháng Tỵ, Quý Thuỷ phu tinh thanh thấu, Giáp Mộc ấn thụ đẹp đứng một mình, cho nên phẩm cách đoan trang, trinh khiết. Tiếc là Bính Hoả ở can năm chi tháng quá vượng, sinh trợ thiên quan, để bị phá vỡ. Nhưng may lớn trong không may là chi tháng Tỵ cùng chi ngày Sửu hợp thành Kim cục, tài t́nh đắc dụng. Người xưa có câu nói: “Thân vượng tài vi tử, thể suy ấn tác nhi” cho nên lấy tài làm con, dạy con thành danh, về sau do hai con đều quý, được phong tam phẩm.
14. Hình phu nan thủ
Ví dụ:
Năm Đinh Mùi Tháng Ất Tỵ
Ngày Giáp Ngọ Giờ Đinh Mão
Bản thân Giáp Mộc, sinh vào tháng Tỵ, chi thuộc nam phương, can thấu lưỡng Đinh, tương như hoà thế mãnh liệt, khiến cho Giáp Mộc tiết khí thái quá. Trong cục lại không ấn thụ sinh thân. Cho nên chỉ có thể lấy chi giờ Mão Mộc làm dụng thần. Kết hợp đại vận, lúc trẻ nhập Hoả địa. Cho nên chồng chết sớm. Do người này thông minh xinh đẹp, mà lại nông nổi khác thường, về sau một khi vận đến Mậu Thân, tranh chiến cùng Mộc Hoả, nên không thư tiết được.
15. Phu tử tự vằn
Ví dụ:
Năm Mậu Tuất Tháng Kỷ Mùi
Ngày Bính Thìn Giờ Mậu Tuất
Khắp cục thương quan, ngũ hành khuyết Mộc, ấn tinh không thấy, cách thành thuận cục. Người này thông minh xinh đẹp tiếc tứ trụ Kim Thuỷ ít quá, Thổ của thương quan quá khô và dày, mà phu tinh Tân Kim lại mộ ở Tuất, cho nên dâm loạn cực kỳ, chồng gặp hung tai mà chết, về sau theo người khác, không được 2-3 năm lại khắc, chờ đến Ất Mão Mộc vận, phạm vượng của Thổ, tự vẫn mà chết.
16. Khi phu dâm tiện
Ví dụ
Năm Mậu Ngọ Tháng Ất Sửu
Ngày Mậu Tuất Giờ Bính Thìn
Can ngày Mậu Thổ, sinh vào tháng Sửu Kim tàng Thổ vượng, khiến cho can tháng quan tinh Ất Mộc không thể dựa vào gốc, nếu lấy Ất Mộc thông vối chi giờ Thìn khố. Thì Ất Mộc trong Thìn lại gặp Tân Kim trong Mậu khắc phạt, hơn nữa chi năm, chi ngày, can giờ ấn thụ sinh thân, cho nên bản thân cường vượng, đủ để dối gian, đặt phu quân ra bên ngoài. Kết hợp ở tuổi trung niên hành nhập tây phương Kim vận, biết đó là loại đàn bà dâm tiện.
17. Thuỷ tính dương hoa
Ví dụ
Năm Đinh Mùi Tháng Quý Sửu
Ngày Cánh Tý Giờ Đinh Hợi
Hàn Kim hỉ Hoả, đáng tiếc địa chi Hợi Tý Sửu hội thành Thuỷ cục, can tháng Quý Thuỷ khắc can năm Đinh Hoả, Quý Thuỷ trong chi tháng Sửu xung diệt dư khí Đinh Hoả trong Mùi, mà can giờ Đinh Hoả lại do hư thoát vô căn nên không đủ để dùng, hơn nữa ngũ hành tứ trụ thiếu Mộc, cho nên Mùi đủ sức làm sống lại Đinh Hoả mà quản chế Canh Kim. Do vậy, ngày sinh Canh Kim tự hành sự một mình, không đếm xỉa bị Đinh Hoả quản thúc thuộc loại đàn bà thuỷ tính dương hoa.
18. Hợp đa dâm lạm
Ví dụ
Năm Đinh Sửu Tháng Nhâm Tý
Ngày Tân Tỵ Giờ Bính Thân
Mệnh này, can tháng Nhâm Thuỷ hợp với can năm Đinh sát, can giờ Bính Hỏa đắc lộc ở Tỵ cho nên thân gia đình dòng dõi, đẹp mà khéo, người ta đều gọi bà là “Thái Dương Phi”. Xem cả cuộc đời bà khi 4-5 tuổi xinh đẹp khác thường, cho đến 13-14 tuổi đẹp như người trong tranh, năm 18 tuổi kết vợ chồng với một thư sinh, anh chàng này bình thưòng chăm chỉ học hành nhưng sau khi kết hôn yêu đương đắm đuôi, một năm sau bỏ học, mà cuối cùng mắc bệnh lao mà chết. Sau khi chồng chết, người đàn bà này càng tự do phóng khoáng, cuối cùng thân bại danh liệt, không nơi nương tựa mà đi đến bước đường cùng tự vẫn. Phân tích nữ mệnh này, trong mệnh cục này thiên can địa chi hợp lại quá nhiều, cho nên Nhậm Thiết Tiêu nói: trong thập can của chồng, duy Bính Tân hợp dùng quan hoá thương quan, gọi là tham hợp vong Quan và Tỵ Thân hợp cũng hoá Thương quan, Đinh Nhâm hợp thì ngầm hoá tài tinh, ý là đem Bính Nhâm Hoả đặt ra ngoài muôn đứng về bên cạnh Đinh Nhâm, huống hồ can chi đều hợp, nên không phải là ý trung nhân. Nhà mệnh lý học cận đại, Viên Thụ Sách là người nổi tiếng đã soạn ra cuốn mệnh lý tham nguyên. Trong quyển 7 bộ sách có ghi hai nữ mệnh mà ông đã đoán, có thể dùng để nghiên cứu nhằm phê phán.
19. Đoán cho bà X
Năm Ất Hợi Tháng Bính Tuất
Ngày Mậu Ngọ Giờ Nhâm Tuất
An mệnh Ất Mậu
5 Đinh Hợi 15 Mậu Tý
25 Kỷ Sửu 35 Canh Dần
45 Tân Mão 55 Nhâm Thìn
65 Quý Tỵ 75 Giáp Ngọ
Ngày sinh Mậu Thổ, lấy can năm Ất Mộc làm phù tinh, lây chi Tuất Canh Kim là Tử tinh. Đang vào mùa thu, Mộc rụng Kim tàng nên phu tinh không vượng, tử tinh không nhiều, nhưng được mệnh cung Ât Dậu trợ giúp cho hai tinh cha con, vẫn làm cho bố con cùng thịnh, huống hồ can giờ Nhâm Thuỷ lại sinh ra Ất Mộc sao? Nếu mệnh mà phu tinh phối với Thuỷ Mộc tương đối nhiều thì nhuần hoà, 3-4 con nối dõi, chỉ hiềm dương nhận hội hợp, không tránh được lao tâm vất vả. Trước 30 tuổi, bực dọc không yên. 10 năm gần đây, hỉ khí đầy nhà, con cái vây quanh. 41 tuổi giao Dần vận, tam hợp hóa Hoả, không thể không táo Thổ, huyết bệnh ở phế gan, cần phải đề phòng, về sau ngoài 44 tuổi Mậu Ngọ, 47 tuổi Tân Dậu bị tổn thương ra, đến 60 tuổi đều mạnh khoẻ như ý, thọ ngoài lục thập hoa giáp.
20. Đoán cho người đàn bà đẹp
Năm Đinh Sửu Tháng Tỵ Dậu
Ngày Mậu Tý Giờ Bính Thìn
An mệnh Giáp Thìn
9 Canh Tuất 19 Tân Hợi
29 Nhâm Tý 39 Quý Sửu
49 Giáp Dần 59 Ất Mão
69 Bính Thìn 79 Đinh Tỵ
Mậu Thổ lấy chi Thìn Ất Mộc làm phù tinh, lấy Tân Kim của Dậu làm tử tinh, giờ Mộc ở mộ địa mà đắc mệnh quan Giáp Thìn trợ giúp, Kim được hợp với năm sửu, tựa như phu vinh tử thịnh vây, nào biết Giáp ở mệnh cùng cũng Kỷ của can tháng hoá Thổ, Tỵ mất tác dụng của Mộc, Sửu Dậu hợp Kim, là kẻ thù của Mộc, không thể coi là con được. Vì vậy chồng khó thọ đến già, con khó thành đạt, trước 23 tuổi còn được, 24 tuổi được đại vận Tân Kim, lưu niên Canh Kim cùng đến đánh phá Giáp Ất, làm Mộc khô mục, chồng bị chết, con không ngăn mà đến. May là ngày sinh Thổ dày, thắng được Thuỷ vận, con người vững như vàng đá, chịu mọi phong sương. Đức hạnh được truyền tụng trong làng xóm, danh nêu trong ấp, đáng trọng đáng kính, thọ ngoài sáu mươi.
Khi xem nữ mệnh thì khác với nam, kẻ phú quý một đời quan tụ, kể thuần tuý tứ trụ hưu tù, nếu đục tràn ngũ hành xung vượng, kẻ mỵ dâm quan sát đan nhau, không quan đa hợp đó là bất lương. Các trụ sát nhiều, không là khắc chế. Ấn thụ nhiều thì già không con, thương quan vượng còn trẻ mất chồng, tứ trụ không thấy phu tinh, không là trinh khiết, ngũ hành nhiều gặp Tý chiếu (chỉ thực thần nhiều) khó tránh hoang dâm, thực thần một ngôi phùng sinh vượng, bảo con đến bái thánh minh, quan sát không tạp gặp ấn phù, lấy chồng sẽ gặp hội thanh vân. Giữ phòng lạnh mà trinh khiết, Kim Trư Mộc hổ (chỉ ngày Tân Hợi, Giáp Dần) tương phùng (hai ngày này tuy khắc phu mà thủ chính), nhà không ngủ một mình, Thổ hầu Hoả Xà (chỉ ngày Mậu Thân, Đinh Tỵ) gặp nhau (hai ngày này khắc phu bất chính). Tài vượng sinh quan, phù thực vô thương mà phu vinh tử quý, quan thực lộc vượng nhất ấn hữu trợ mà sau được sủng ái. Thương quan lặp lại không tài ấn, nhà bại hình phu, quan sát trùng phùng gặp tam hợp, hoang dâm vô sỉ. Hợp nhiều, quan nặng là người tham dâm hiếu sắc. Quan tạp khí suy, thê thiếp ham dục tội chồng. Thân vượng quan hung, không ni cô thì là con hát tôi đòi, thực thần biến đức, trước nghèo hèn mà sau vinh hoa, ngoài ra, lúc xem đoán mệnh còn có một cách nói khắc phu nhảm khí. Dầu tiên, phàm nữ mệnh, ngày sinh ở quan, quỷ, tử, mộ, tuyệt, chủ khắc phu, ví như nữ mệnh sinh ngày Bính Tuất, Canh Tý, tra thiên Ngũ hành Vượng, Tưóng, Hưu, Tù, Tử và 12 cung nói ở trên, Bính gặp Tuất ở trạng thái đúng vào chỗ cuối của đời người mà quy mộ, mà Canh gặp Tý lại ở vào trạng thái đúng vào lúc vạn vật chết, vì vậy đều có thể tìm chồng. Nhưng cũng có người cho rằng, nữ mệnh sinh ngày Tân Mão, tuy phùng tuyệt địa, thì lại đẹp nhiều xấu ít, như vậy khó lòng mà nói khái quát được.
Hơn nữa, nữ mệnh, năm sinh ngày sinh cùng một ngôi thì khắc phu. Năm sinh ngày sinh đái lục Giáp, gọi là đái Giáp, chủ khắc phu, ngày và tháng cùng đái Giáp cũng vậy. Lấy ví dụ nói, nếu nữ mệnh sinh vào năm Giáp Ngọ lại gặp ngày sinh cũng là Giáp Ngọ, thế thì không thể không khắc phu. Dĩ nhiên, đây đều là cách nói không có căn cứ, không đứng vững được, không cần tin.
Điều thú vị là, trong sách đoán mệnh còn có nhiêu ca quyết đoán phụ nữ mang thai, sinh con trai hoặc sinh con gái trong tam mệnh thông hội ghi.
Bảy bảy bốn chín hỏi cô ngày nào có
Trừ năm sinh của mẹ, lẻ là nam chẵn là nữ
Chẵn là nam không bình thường
Thọ mệnh chẳng lâu dài.
Căn cứ bài ca quyết này, lấy 49 làm cơ số, nếu tuổi mẹ là 31 (theo tuổi mụ), tháng mang thai theo âm lịch là tháng giêng, thế thì lúc tính 49+1 (tháng giêng) bằng 50-31 bằng 19, 19 thuộc số lẻ, cho nên con trai. Nếu tính ra số lẻ sinh con trai, số chẵn sinh con gái, nhưng kết quả sinh ra, số lẻ sinh con gái, số chẵn sinh con trai, như vậy trái ngược, thọ mệnh không dài mà chết yểu. Nhưng có điều làm người ta nghi hoặc không hiểu được là, có sách lại đem tuổi mẹ cộng với 19 thế thì ngược hẳn với cách tính mang thai của tam mệnh thông hội.
Nguồn: Quang Tuệ
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Đoan Trang(##)
Đền Mẫu Hưng Yên, nơi linh thiêng cho du khách cầu cúng đầu năm – Đền Mẫu còn có tên gọi khác là Đền Mẫu Hoa Dương linh từ hay đền Mậu Dương. Đây là một trong những danh lam thắng cảnh đẹp nhất của Phố Hiến (Hưng Yên). Bên phải đền là hồ Bán Nguyệt, phía trước là sông Hồng, Bến Đá – nơi thuyền cập bến buôn bán tại Phố Hiến xưa. Năm 1990, Đền Mẫu đã được Bộ Văn hoá-Thông tin công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật.
Đền Mẫu thờ Dương Quý Phi (nhà Tống – Trung Quốc), được người đời tán xưng là Dương Thiên Hậu, Mẫu Nghi Thiên Hạ. Vào thế kỷ XIII khi quân Nguyên xâm lược nhà Tống, vua và hoàng tộc xuống thuyền chạy về phương Nam. Vì không chịu khuất phục trước sự truy bức của quân Nguyên, vua Tống và một số người trong hoàng cung nhảy xuống biển tự vẫn.
Thi thể của Dương Quý Phi trôi dạt về vùng cửa sông Phố Hiến, được nhân dân chôn cất chu đáo. Người nội thị của triều đình Bắc quốc là quan thái giám họ Du trong cơn loạn lạc tới Phố Hiến, được nhân dân địa phương giúp đỡ đã tập hợp những người Hoa lánh nạn hưng công xây dựng đền thờ, lập làng Hoa Dương. Khi thái giám mất, dân làng tôn làm thành hoàng làng, ngôi mộ được giữ gìn trong khuôn viên của đình Hiến.
Theo sử sách ghi chép, Đền Mẫu xây dựng vào thời Trần Nhân Tông, niên hiệu Thiệu Bảo nguyên niên (1279). Trải qua các triều đại, đền đều được trùng tu. Năm Thành Thái thứ 8 (1896), đền Mẫu được trùng tu lớn có quy mô như ngày nay.
Đền gồm có: tam quan, thiên hương, tiền tế, trung từ, hậu cung. Tam quan của đền được xây dựng theo kiến trúc kiểu chồng diêm hai tầng tám mái, cửa xây vòm cuốn, có một cửa chính và hai cửa phụ. Trên vòm cuốn có bức đại tự ghi kiểu chữ triện: “Dương Thiên Hậu – Tống Triều” và bức chữ Hán: “Thiên Hạ mẫu nghi”. Tòa tiền tế, trung từ có nhiều bức chạm khắc đề tài tứ linh, tứ quý.
Hậu cung có tượng Dương Quý Phi cùng hai người hầu là Kim Thị và Liễu Thị, niên đại thế kỷ 17-18. Tượng Quý Phi được tạo tác sống động, nét mặt trang nghiêm, đôn hậu. Dưới ban thờ có dấu tích một cái giếng nhỏ. Tương truyền giếng vốn là “rốn biển”, khi biển lùi xa để lại dấu tích cùng với hồ Bán Nguyệt cho nên nước giếng luôn đầy vơi theo nước hồ.
Trong đền lưu giữ nhiều di vật quý như kiệu võng, long đình, long sàng, long kỷ có niên đại thế kỷ 18-19 và 15 đạo sắc phong từ triều Lê đến Nguyễn, cùng nhiều bức hoành phi, câu đối, đại tự ca ngợi tấm gương trung trinh tiết liệt của Dương Quý Phi.
Giữa sân đền có cây cổ thụ. Cây có tuổi gần bảy trăm năm. Cây này được kết hợp bởi ba cây Đa, Bàng, và Sanh quấn quýt lấy nhau: cây Đa chính giữa, cây Bàng mé Nam, và cây Sanh mé Tây. Cây Đa có 2 rễ phụ chân kiềng bao trùm cả sân đền. Thân chính cây Đa đã mục ruỗng, và đã từng bị cháy, vẫn còn dấu tích than đen trên gỗ. Người có thể chui trong lòng thân cây Đa mà ra cành Đa cao 2 mét bên trên. Đây là một trong những cây cổ thụ độc đáo nhất Bắc Bộ.
Lễ hội đền Mẫu diễn ra từ ngày 10 đến 15 tháng 3 âm lịch. Trong ngày hội, sân đền tổ chức thi đấu cờ, quân cờ là nam thanh nữ tú. Tổ chức thi đấu tổ tôm điếm, chọi gà; buổi tối hát chầu văn.
Đền Mẫu đang là điểm du lịch văn hoá tâm linh, không chỉ của người dân Hưng Yên, mà còn thu hút đông đảo du khách thập phương đến hành hương chiêm bái cầu phúc, cầu lộc, cầu tài… Không chỉ vào chính hội, mà vào những ngày rằm, mồng 1 âm lịch hằng tháng lượng người đến thắp hương lễ bái và thzm quan cũng rất đông. Tuy là thờ một quý phi người nước ngoài nhưng đây lại là một công trình kiến trúc thuần Việt, rất đáng để tham quan, chiêm ngưỡng…
Men theo con đường rợp bóng cây cuối khu biệt thự Tây Hồ ở thủ đô Hà Nội, giữa bát ngát hương sen và cảnh đất trời hòa quyện trong ánh nắng chiều tà, doi đảo nhỏ được người xưa ví là “bãi đất cá vàng” nhô ra giữa mặt nước lung linh, đúng là cái thế “đầu rồng, thân rồng, rùa cõng” khiến khách vãn cảnh cảm thấy âm dương đối đãi, tâm hồn mình thư thái lạ.
Vượt qua cổng Phủ Tây Hồ sừng sững bên cây đa cổ, con đường vào phủ uốn lượn theo mép hồ lơ thơ liễu rủ lại đưa bước chân du khách tới hai cây vối lớn hiếm thấy và một cây si cổ thụ ngay trước cửa Động Sơn Trang, vươn những chùm rễ đại ra mặt nước cho chim chóc đua nhau về làm tổ.

Cảnh đẹp nên thơ ấy là một trong những lý do khiến Phủ Tây Hồ luôn thu hút khách thập phương đến bằng đường bộ cũng như bằng đò trên hồ Tây. Truyền thuyết về công trình văn hóa tín ngưỡng được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia này cũng là điều khiến không ít du khách trầm trồ tán thưởng.
Sự tích vị Thánh Mẫu thờ trong Phủ Tây Hồ được người dân tổng Thượng, huyện Phụng Thiên xưa (nay là vùng Yên Phụ, Nghi Tàm, Tây Hồ, Quảng Bá, Xuân La, Vạn Dâu) kể lại rằng: Quỳnh Hoa là con gái Ngọc Hoàng thượng đế ở Đệ nhị Thiên Cung, do đánh rơi chén ngọc dâng rượu chúc thọ đã phải xuống trần gian đầu thai làm Giáng Tiên - con gái thường dân Lê Thái Công ở An Thái - Vân Cát - Vụ Bản - Nam Định vào năm 1557. Lớn lên, có nhan sắc tuyệt trần, lại giỏi thi thơ, song lấy chồng và sinh con - một trai, một gái - thì Giáng Tiên chớp mắt thăng thiên đình. Nàng giáng trần lần thứ nhất để gặp lại người thân, có hai nữ thần Quế Nương, Thị Nương hậu vệ; lần hai hiển linh để cứu nhân độ thế, trừng phạt kẻ bất lương trêu ghẹo người này, lại gia ơn cho kẻ khác và du ngoạn khắp chốn danh lam, giáng bút đề thơ.
Có truyền thuyết kể rằng chính tại mảnh đất Phủ Tây Hồ ngày nay, Quỳnh Hoa đã tái ngộ xướng họa thơ văn cùng Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan (lần thứ nhất đàm đạo tại xứ Lạng) trong vai cô chủ quán tửu lâu Tây Hồ phong nguyệt, ít ngày sau Trạng Bùng quay lại đã thấy biến mất cả người lẫn quán, chỉ còn hồ nước mênh mông. Quỳnh Hoa đã được dân chúng lập phủ thờ, đặt tên là Bà Chúa Liễu Hạnh, được xem là một trong bốn vị “tứ bất tử”, là tấm gương về sự tự mình tạo lấy hạnh phúc.
Bà Chúa Liễu Hạnh theo quan niệm dân gian đã trở thành một mẫu quyền năng vô lượng và phân thân, hóa thân thành các thần linh cai quản muôn mặt của vũ trụ: Mẫu Cửu Thiên Huyền Nữ cai quản trên trời, Mẫu Thượng Ngàn cai quản núi rừng, Mẫu Thủy (hay Mẫu Thoải) cai quản trên sông biển, thể hiện sự ngưỡng mộ chân thành, coi trọng vai trò của người mẹ.
Phủ Tây Hồ bao gồm cổng làm kiểu tam quan, kiến trúc chính 3 nếp (Tam tòa thánh mẫu); phương đình, tiền tế, hậu cung; Điện Sơn Trang, khu nhà khách, lầu Cô, lầu Cậu. Di tích Phủ Tây Hồ hiện còn lưu giữ được khối di vật khá phong phú mang giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật thuộc thế kỷ XIX, XX như bộ tượng tròn gần 300 pho, hoành phi, câu đối…Đặc sắc nhất là bức đại tự ghi: “Thiên tiên trắc giáng” (Tiên trời xuất hiện) và bức hoành phi ở cửa cung đề: “Mẫu nghi thiên hạ” (làm mẹ của cả thiên hạ).

Độc đáo nhất ở Phủ thờ là ba pho tượng nữ thần đặt song hành: Mẫu Thượng Ngàn là vị mặc áo xanh lá cây tượng trưng cho rừng, nơi con người xưa sinh sống bằng các loại củ; Mẫu Thoải (thủy) là vị mặc áo trắng, tượng trưng cho nước; Mẫu Địa là vị mặc áo vàng, tượng trưng cho đất. Ba vị mẫu này hợp thành Tam phủ, giải thích quá trình tiến hóa của cư dân Việt, từ rừng núi, sông suối xuống đồng bằng định cư trồng lúa nước. Cũng theo quan niệm Tam phủ thì, cai quản thiên phủ có thiên quan ban phúc lộc cho con người, cai quản địa phủ có địa quán xá bỏ tội lỗi cho con người, cai quản thủy phủ có thủy quan cởi bỏ mọi chướng ngại, khó khăn cho con người. Với sức mạnh huyền bí ban phúc, xá tội và giải ách, tín ngưỡng Tam phủ rất hấp dẫn mọi người.
Vào dịp tết đến xuân về, du khách thường đổ về đây rất đông, vì cùng với việc lễ cầu may, họ còn thưởng ngoạn cảnh đẹp Tây Hồ, nhớ về “áo mây xe gió” của bà chúa Liễu Hạnh. Được coi là nơi linh thiêng nên phủ Tây Hồ được nhiều người đến cúng lễ và cầu phúc, cầu lộc, nhất là vào ngày 3 tháng ba và ngày 13 tháng tám âm lịch.
Tuổi Tý
Trong tháng đầu năm này , tình cảm của tuổi Tý đã không còn những đau khổ như trước đây nữa. Hai bên cơ bản đã có thể tìm ra điểm tương đồng của đối phương, có vấn đề xảy ra thì đều có thể trực tiếp nói chuyện, giải quyết luôn được.
Mặc dù mối quan hệ thân thiết này có lúc thì rất nồng nhiệt, lúc thì lạnh nhạt nhưng cả hai cũng không thấy thất vọng. Những bạn còn độc thân thì tháng này vẫn cứ nên để tâm tư vào công việc là tốt nhất.
Tình yêu 12 con giáp trong tháng 1 2016 Tuổi Sửu
Trong năm 2016 tuổi Sửu đang có suy nghĩ cho cuộc sống hôn nhân gia đình, nhất là thời điểm đang vào “mùa cưới” như hiện tại. Do công việc khá bận rộn nên tuổi Sửu có nguyện vọng tìm một nửa còn lại để chăm sóc cho mình.
Hôn nhân sẽ khiến tuổi Sửu thấy yên tâm hơn, nhưng những bạn còn đang độc thân thì lại không được thuận lợi như vậy.
Lòng can đảm có thừa nhưng nhiều vấn đề không phải cứ cố gẳng thì có thể giải quyết được, điều chỉnh lại tiêu chuẩn mà mình đặt ra là điều quan trọng nhất lúc này nhé.
Tuổi Dần
Bước vào thời điểm khai xuân này, sự theo đuổi của tuổi Dần với đối phương khá mãnh liệt, họ sẽ tận dụng mọi chiêu thức xã giao để tiếp cận đối phương. Nhưng ngược lại điều này lại khiến đối phương cảm thấy tuổi Dần quá vội vàng, kết quả sẽ không được như mong đợi.
Kiến nghị tuổi Dần nên “thả lỏng” để đối phương có cơ hội lựa chọn. Đồng thời tuổi Dần đã có gia đình thì tháng này là tháng có tư tưởng vui chơi khá lớn, nhưng bất luận thế nào thì cũng không nên về nhà quá muộn nhé!
Tuổi Mão
Tình cảm tháng này của tuổi Mão có chút trục trặc do bản thân không có đủ can đảm để đối mặt với những vấn đề mà từ trước đến nay chưa hề gặp phải. Ví như tình cảm với người cùng giới, tình cảm với đồng nghiệp, tình yêu kiểu chị – em… tất cả đều làm tuổi Mão cảm thấy khó chấp nhận. Có thể cần thêm thời gian để trải nghiệm và hiểu hơn về các mối quan hệ đó.
Những bạn đã có gia đình thì nhất định không nên tạo áp lực cho đối phương, biết được bí mật của đối phương cũng nên giữ im lặng mới mong duy trì được tình cảm.
Tuổi Thìn
Cơ hội “thoát khỏi kiếp độc thân” của tuổi Thìn tháng này khá lớn, và cũng rất có hi vọng cho một mối tình đẹp. Dám dũng cảm nếm trải những cung bậc, loại tình cảm khác nhau thì cho dù là bị tổn thương thì tuổi Thìn cũng không cảm thấy quá đau khổ.
Những bạn đã có gia đình thì phải đối mặt với việc làm sao để hài hòa với mọi người trong nhà chồng hay nhà vợ, hay những thị phi, đàm tiếu của xã hội. Bạn nên nhớ đây là giai đoạn ảnh hưởng nhiều đến tình cảm của hai bên đấy. Và cũng cần chú ý đến cả mối quan hệ ruột thịt, mẹ chồng – nàng dâu nữa nhé.
Tình yêu 12 còn giáp trong tháng 1 Tuổi Tỵ
Tron g tháng này trải nghiệm tình yêu của tuổi Tỵ khác hẳn so với tháng trước, có thể bạn sẽ lại yêu người mà bạn nghĩ chắc-chắn-không-bao-giờ-yêu. Bạn cũng có rất nhiều cơ hội để “dọn dẹp” tất cả mớ hỗn độn trong đời sống tình cảm của mình để có cái nhìn trong sáng và mới mẻ hơn về mọi thứ tình cảm xung quanh. Tuổi Tỵ cũng hiểu rõ hơn, sâu hơn về những gì mà mình thực sự muốn theo đuổi.
Với những bạn đã có gia đình thì tháng này hãy dành cho nhau một chuyến du lịch để hưởng thụ cảm giác hạnh phúc của tình yêu đã đơm hoa kết trái nhé.
Tuổi Ngọ
Tư tưởng đi du lịch của tuổi Ngọ trong tháng đầu năm không tồi chút nào, hãy chịu khó ra ngoài đi dạo biết đâu bạn lại gặp được mối lương duyên đấy. Những bạn đã có gia đình thì những ham muốn dục vọng có phần nhiều hơn, nhất là những bạn nam tuổi Ngọ thì càng không nên đến những nơi đèn hoa mờ ảo.
Đến cuối tháng, bạn phát hiện ra người mà bạn yêu thương nhất lại mang đến cho bạn sự đau thương, mà điều này lại do chính sự cưng chiều của bạn tạo nên. Tuổi Ngọ hãy nhân cơ hội này mà thức tỉnh lại bản thân nhé.
Tuổi Mùi
Vận thế tình cảm tháng này của tuổi Mùi khá tốt, con mắt càng ngày càng tinh tường hơn và bạn có thể chọn được nửa kia phù hợp với mình. Nhưng cũng không nên tạo cho bản thân quá nhiều áp lực, chỉ cần chăm sóc cho bản thân tốt thì ắt tự nhiên thu hút được người khác giới thôi.
Tuổi Mùi đã có gia đình thì sự thân mật giữa vợ chồng có thể ít đi, vì vậy có thời gian hãy chủ động mang đến cho đối phương những điều lãng mạn để hâm nóng tình cảm nhé.
Tuổi Thân
Tháng này tình cảm của người tuổi Thân gặp phải khá nhiều vấn đề, chủ yếu là do đôi bên chưa có lòng tin nhiều với đối phương. Cứ nghi đông nghi tây nên không khí hai bên khá ngột ngặt, căng thẳng.
Những bạn còn độc thân thì tháng này dũng khí, cam đảm trong chuyện tình cảm lại chưa đủ, có vẻ như vẫn còn chút tự ti. Kiến nghị bạn nên điều chỉnh suy nghĩ một chút nhưng cũng không cần bộc lộ tình cảm quá sớm. Việc điều chỉnh bản thân mới là điều quan trọng đầu tiên.
Tuổi Dậu
Tình cảm tháng này của tuổi Dậu không được như ý nguyện, có thể trong quá trình theo đuổi đối phương bạn gặp phải chút rào cản. Nói chung tuổi Dậu rất hay mất bình tĩnh khi đối diện với người mà mình đang để ý.
Những bạn đã có gia đình thì tình cảm không có thay đổi nhiều, đôi khi bạn quá muốn thúc đẩy mối quan hệ thân thiết hơn với đối phương nhưng lại khiến họ cảm thấy không thích thú. Bình thường không cần nói quá nhiều từ hoa mỹ hay những lời nói có cánh, cứ quan tâm thật lòng là đủ rồi.
Tuổi Tuất đã hiểu được khá nhiều vấn đề về tình cảm, không quá gò bó đối phương, bạn cũng biết được rằng lý tưởng của bản thân thì phải tự mình thực hiện. Hai bên khá hòa hợp với nhau.
Nửa tháng về sau tuổi Tuất khá nhạy cảm trong chuyện tình cảm, rất dễ lay động, bất an, thậm chí là bạn còn có thể ghen tỵ với cả những người chắng thể mang ra so bì với bạn nữa kìa. Bạn cần ai đó cổ vũ, lấy lại tinh thấn, có khi những lời khuyên của bạn bè sẽ có lợi hơn với bạn.
Tuổi Hợi
Tháng này là tháng có rất nhiều chuyện đáng mừng trong phương diện tình cảm với người tuổi Hợi. Những bạn đã có gia đình, tin có thai sẽ khiến bạn vui mừng khôn xiết, hoặc điều bất ngờ đến khi bạn chưa kịp chuẩn bị tâm lý đón nhận.Tuổi Hợi còn độc thân thì cũng không cần quá nóng vội, năng đi dạo hoặc du lịch nhiều hơn, biết đâu còn tìm được ý trung nhân nữa đấy.
Bạn đã tìm ra những điểm đáng lưu ý về tình yêu của mình trong tháng 1 này rồi chứ.
Chúc cho 12 con giáp luôn có một tình yêu thuận lợi.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thanh Vân (##)
“Tri nhân tri diện bất tri tâm”, nội tâm của một người quả thực là rất khó để biết. Nên nếu gặp 3 chòm sao mặt thì trẻ trung mà tính tình thì lão luyện dưới đây cũng đừng ngạc nhiên nhé.
![]() |
3 chòm sao nam dễ dàng yêu lại người cũ![]() |
| Tên sao | Đẩu phận | Âm dương - ngũ hành | Chủ | Bị khảo |
| Thiên mã | Trung thiên đẩu (cát tinh) | Dương hỏa | Dịch mã, di động, cai quan lộc | Mệnh mã và nguyệt mã |
Thuộc tính âm dương ngũ hành của sao Thiên Mã là dương hỏa, là cát tinh trong chòm sao Trung Thiên Đẩu, hóa khí là dịch mã, là sao chưởng quản lộc, chủ về di động. Trong mười hai cung của mệnh bàn, sao Thiên Mã chỉ ở bốn cung Dần, Thân, Tỵ, Hợi, vì vậy bốn cung này được gọi là "tứ mã chi địa" (đất của sao Thiên Mã). Cũng bởi vì bốn cung này chính là cung vị của sao Trường Sinh trong mười hai sao Trưởng Sinh cục ngũ hành, nên bốn cung Dần, Thân, Tỵ, Hợi, còn được gọi là "tứ sinh chi địa" (đất của bốn sao Trường Sinh). Do bản thân sao Thiên Mã hóa khí là dịch mã, chủ về di động, nên đây là sao bẩm sinh giàu sức sống và rất hiếu động, lại ở vào bốn cung Trường Sinh vốn giàu có lại tăng thêm sức sống mạnh mẽ, vì vậy trợ giúp chó tính cơ động về danh lợi bên ngoài.
Thiên Mã là sao mang tính động thái, có câu "động thì cát lợi, tĩnh thì vô công", do đó sao Thiên Mã càng vất vả bôn ba, thì thu hoạch càng lớn, đại biểu cho tiền tài do vất vả làm ra. Nếu gặp lục cát tinh Lộc Tồn, Tử Vi, Thiên Phủ, Thái Dương, Thái Âm, Vũ Khúc cùng với hai sao Thất Sát và Tham Lang miếu vượng, phần nào có thể khiến sao Thiên Mã phát huy được sỡ trường, nếu không ngừng bôn tẩu sẽ phát đạt tại quê người mà áo ấm về quê, chỉ có điều khá vất vả và lao lực.
Sao Thiên Mã thích nhất là tọa cung phu thê, nam mệnh sẽ được vợ trợ giúp. Nếu đồng cung hoặc bị hội chiếu với tài tinh sao Lộc Tồn, thì nhờ vợ mà trở nên giàu có. Nữ mệnh thì có thể nhờ chồng sáng quý, bản thân cũng có vận giúp chồng.
![]() |
![]() |
| (Ảnh chí mang tính chất minh họa) |
Nữ giới tuổi Sửu thường khá cẩn trọng, nhẫn nại. Khi đã yêu ai, họ sẽ yêu bằng cả tấm lòng. Tuy nhiên, họ lại thiếu sự dịu dàng, duyên dáng. Nếu ý thức được điều này, họ sẽ trở thành mẫu nguời phụ nữ tuyệt vời.
(Theo 12 con giáp về tình yêu và hôn nhân)
![]() |
| 12 con giáp |
Hác tiên sinh tại mậu thìn năm xuân vì hắn đoạn đích, nguyên nói vi: "Ngươi đi năm đích hài tử năm nay sinh, năm nay ngươi hài tử sinh không được, năm nay ngươi thêm gặp hoài thai năm." Mệnh chủ hỏi, "Ngươi xem ta năm nay dưỡng xe thế nào?" Hác tiên sinh đáp: "Ngươi ngàn vạn lần đừng dưỡng xe, nếu không ngươi trừ tiền buôn bán không dưới, đến năm nay để ngươi muốn đánh lưỡng trận quan tòa sinh một bụng rồi khí." Tất cả đích đoạn ngữ không thể xui xẻo, toàn bộ ứng nghiệm.
Ước chừng tới gần 20 phong thư tìm kiếm đáp án, không có một hoàn toàn trả lời đích, đến gần đáp án đích không nhiều lắm, có thể thấy được đương kim mệnh học giới đích xoay ngang. Xem này mệnh sinh hài tử đích huyền bí, yếu điểm chính là bắt được đinh Hỏa thần vi con gái, mà không nên ấn mệnh thư trung nói đích lấy thất sát làm hài tử. Bởi vì thực thần vi con gái, thêm lâm con gái cung. Đinh mão năm mang thai, con gái tinh đinh hỏa gặp hợp, thê tinh tuất thổ gặp hợp, tỏ vẻ thê hoài thai, nhưng hợp đinh hỏa nhâm thủy rất suy, đến mậu thìn năm mậu khắc nhâm, nhâm không thể hợp đinh, chủ lưu sản. Mà mậu thìn năm thêm mang thai vốn là thìn tuất xung chi cố, thê tinh tuất vi đinh hỏa mộ, gặp lưu niên xung khai mộ, tỏ vẻ thê mang thai.
Như có một càn tạo:
Ất canh đinh quý
Dậu thìn mùi mão
Mùi vi tài chi nguyên thần lâm thê vị, có thể làm thê xem, mùi trung chi mộc hãy nhìn làm thê tử hoài đích hài tử, gặp không vong, tức chém làm: "Ngươi có một hài tử không chờ sinh ra tại thê bụng trung sẽ chết rồi." Quả ứng. Mậu tuất chi mệnh tại mậu thìn năm phá tài rất rõ ràng, nguyên nhân bát tự thủy mộc vi hỉ thần, thổ này kỵ thần, lưu niên đại vận thấy vượng thổ, định phá tài. Đánh lưỡng trận quan tòa là bởi vì làm một thìn xung lưỡng tuất, tuất vi kỵ thần trung ngậm thất sát chủ quan tòa, nguyên nhân thất sát không rõ thấu khắc thân, cố không vi hình sự tình quan tòa, đều là dân sự tình tranh cãi. Đều là trở mình nợ cũ quan tòa, bởi vì tuất vi mộ khố, vi ẩn dấu, đến thìn năm dẫn động, cũng ẩn dấu không được rồi. Trong đó một người quan tòa vốn cùng hắn không quan hệ, là hắn cố dùng đích tài xế nợ nhân gia đích sổ sách, tài xế mở ra hắn đích xe vừa lúc đi địa bàn của người ta, nhân gia đem xe cấp khấu rồi, nên tài xế trả nợ, mở ra rồi quan tòa. Ấn vi xe, khắc ấn người vi tài xế, đại vận nhâm tuất chi tuất vi tài xế. Lưu niên đầu tiên cùng đại vận phát sinh tác dụng, sau đó tái tác dụng vu bát tự, cho nên người thứ nhất quan tòa đó là tài xế đích quan tòa, ấn tinh nhập tuổi mộ khấu xe chi tượng.
Thứ hai kỳ, luận địa chi lục xung
Địa chi lục xung tại bát tự trung đích cách dùng phi thường phức tạp, bát tự trung xung, đại vận cùng bát tự xung, thái tuế xung cách dùng đều không giống nhau. Cụ thể nói có bảy thứ xung pháp và sử dụng: xung hung, xung vượng, xung động, xung khai, xung xuất, xung khứ, xung phá.
Hà vị xung hung? Bát tự trung đích kỵ thần tại đại vận trung xuất hiện nhảy vào mệnh trung hoặc đại vận đích kỵ thần tại chảy trung thông căn được vượng nhảy vào mệnh trung. Xung hung chi tuế vận nên phát sinh tương ứng đích hung sự tình.
Như 《 Tích Thiên Tủy 》 như nhau:
Bính giáp bính quý
Dần ngọ ngọ tị
Này tạo tòng cường, mộc hỏa vi dụng thần, hành hợi vận kỵ thần quý thủy thông căn, gia nghiệp phá tẫn mà chết. Nguyên thư trung nói kích vượng liệt hỏa đích đạo lý vốn là không xác thực đích, nguyên nhân hỏa vi hỉ thần, xung vượng hỉ thần ứng đáng rất tốt, như thế nào hội vong? Đây là bát tự trung kỵ thần thủy tại đại vận trung xuất hiện nhảy vào mệnh cục chủ hung. Thêm như Nhạc Phi:
Quý ất giáp kỷ
Mùi mão tử tị
Hành tân hợi vận tân dậu lưu niên bị hại. Trước kia đích rất nhiều giải thích cũng không đối với, kể cả ta trước kia đích giải thích. Vương Hổ Ứng sư phụ cho rằng này mệnh tòng cường, lấy thủy mộc vi dụng thần, ta hỏi tòng cường cách hành tới tân dậu lưu niên xung vượng mão mộc hỉ thần ứng càng cát, này hà hội đại hung? Sau lại nghiên cứu mới biết này nguyên nhân đại vận thấy tân quan kỵ thần không có chế hóa, hành kỵ thần vận sợ nhất kỵ thần đắc căn, tân dậu lưu niên là nên vận hung đích ứng kỳ, tức hung thần xuất hiện đích lưu niên ứng kỳ. Nếu hắn không được tân hợi vận mà đi nhâm tử vận, gặp lưu niên tân dậu vị chi xung vượng, chủ cát.
Hà vị xung vượng? Thái tuế xung bát tự trung cực vượng chi thần, như vượng hỏa trung kiêu nhược thủy, kích ngoài vượng tính chất. Xung vượng hỉ thần cát, xung vượng kỵ thần hung. Đại vận xung bát tự cực vượng chi thần không vi xung vượng, cát hung ứng xem tình huống: bát tự trung vốn có hung thần không có chế hóa, tại đại vận trung đắc căn chủ đại hung; bát tự trung vốn có hung thần được chế hóa, hung thần tại đại vận trung xuất hiện, chủ khứ hung thần đích ứng kỳ, chủ cát.
Xung vượng như nhau: càn tạo:
Đinh bính mậu đinh
Mùi ngọ ngọ tị
Bát tự tòng cường, hỉ thấy mộc hỏa thổ, kim thủy không nên. Bát tự không có kim thủy kỵ thần, mệnh cách giác tinh khiết. Hành quý mão vận, ất hợi, bính tử lưu niên vị xung vượng dụng thần hỏa, chủ cát không chủ hung. Mặc dù ngôn quý thủy vi kỵ, gặp mậu quý hợp khứ, không thể vi hung. Này tạo cha mẹ song toàn, gia đình hoàn mỹ. Vì tỉ kiên trùng trùng nhất định khắc phụ đích đơn giản đoạn ngữ là sai lầm đích.
Hà vị xung động? Thái tuế xung bát tự trung đích vượng thần vi động, xung vận trung chi vượng thần cũng vi động. Chuyên chỉ bát tự, đại vận trung bị vây yên trạng thái đích mỗ một chữ bị xung mà phát động, ảnh hưởng mệnh cục hoặc phát sinh đáng chữ viện tượng trưng chuyện tình. Như vậy đích ví dụ hết sức thường thấy, đệ tử có thể chính mình nhóm vài lệ mà nói minh, xem như vốn kỳ đích bài tập.
Hà vị xung khai ? Chuyên chỉ hai loại tình hình, tướng hợp đích hai chữ gặp thái tuế xung ngoài mỗ một chữ vị xung khai; bát tự đại vận đích mộ khố bị thái tuế đến xung vị xung khai. Như phối ngẫu tinh hoặc phối ngẫu cung gặp hợp, thường thường vốn là xung ngoài hợp đích lưu niên vi hôn kỳ. Dụng thần tại mộ trung, thường thường vốn là xung mộ chi năm bắt đầu chuyển ngoặt.
Đại để những dự triệu biết trước các việc cát hung đã nẩy mầm ngay ở nơi tâm khi dấy khởi động niệm và phát xuất ra ngoài tứ chi, như người có cử chỉ hành động nhân hậu đạo đức thường được phúc, trái lại người có hành vi khắc bạc chỉ tham đồ cho riêng mình thường gặp họa. Người trần con mắt phàm nhãn quang bị che lấp nên không thấy được mà cho rằng họa phúc chưa nhất định hình thành thì không thể suy đoán trước được.
Một người có lòng chí cực thành thật là tương hợp với lòng trời, nên chỉ cần quan sát xem họ làm những điều thiện hay bất thiện thì đủ biết trước được là họ sẽ gặp phúc hay họa tới.
II– Nền tảng của việc sửa lỗi
1. Lòng xấu hổ
Ngày nay, muốn được phúc mà tránh xa các tai họa, chưa vội bàn tới việc làm lành, trước hãy nên cần sửa lỗi đã. Người muốn sửa lỗi, điều thứ nhất cần phải biết tri sỉ, biết tự hổ thẹn. Nên biết rằng các bậc thánh hiền xưa cũng là người như ta mà sao có thể nêu gương sáng hàng trăm đời, ta sao lại chịu thân tàn hủ bại. Đó là tự mình đắm say ngũ dục lục trần, nhiễm phải nhiều thói xấu, làm nhiều điều bất nghĩa mà cho là người đời không hay, không biết nên cao ngạo, ngang nhiên chẳng chút hổ thẹn, ngày một ngày càng sa đọa vào vòng cầm thú mà chẳng tự biết.
Ở đời chẳng có điều gì lớn hơn là biết tự sỉ, biết tự hổ thẹn. Thầy Mạnh Tử nói: Lòng biết hổ thẹn ở nơi con người là một điều lớn lao vậy, có được tâm sỉ ắt thành thánh hiền, không có tâm sỉ ắt chỉ là cầm thú, súc sanh mà thôi. Đó là chỗ căn bản quan hệ của việc sửa lỗi.
2.Lòng úy kính
Điều thứ hai là cần phải phát lòng úy kính, e dè sợ sệt. Thiên địa quỷ thần khó mà có thể khi dễ, lỗi của chúng ta tuy ẩn nhẹm, kín đáo người đời không biết mà thiên địa quỷ thần đều có thể soi xét thấu rõ, nặng ắt sẽ giáng trăm điều tai ương, nhẹ ắt sẽ giảm phúc được hưởng. Chúng ta há chẳng đáng nên sợ hay sao!
Không những chỉ có vậy, ở những nơi thanh nhàn vắng vẻ chỉ riêng có độc một thân một mình cũng đều là bị quỷ thần giám sát, che đậy thật khéo mà thần minh cũng đã sớm thấu rõ đến tận gan phổi của mình, vậy nên khó mà có thể tự lừa dối lấy mình mãi mãi được; một khi bị người đời phát hiện sự dối trá che đậy giấu nhẹm của mình thì lúc đó thân phận mình chẳng đáng giá lấy một đồng xu. Vậy há không nên e dè úy kính hay sao!
Không những chỉ như vậy, khi hãy còn một hơi thở, các tội ác đều có thể sám hối cải sửa. Người xưa một đời làm ác, lúc gần lìa đất xa trời, phát một niệm thiện, thành tâm hối lỗi, bèn được an lành từ giã cõi đời, nên nói là chỉ một niệm dũng mãnh thật chí thành đủ để tẩy sạch được trăm năm tội ác, cũng tỷ như một hang cốc tối tăm hàng ngàn năm bỗng có một ngọn đèn chiếu rọi tới thì ngàn năm tăm tối đó đều bị tiêu trừ, cho nên không cần biết là tội đã phạm từ lâu nay, hay mới phạm gần đây, chỉ có phát tâm cải sửa mới là điều quý.
Bất quá cõi trần là vô thường không nhất định, thân huyết nhục dễ bị hủy hoại , nếu cứ cho là làm lỗi có thể sửa được mà chẳng chịu sửa ngay, một khi hơi tàn thở hắt ra rồi lúc đó mới muốn sửa thì chẳng còn kịp nữa. Ở dương thế mang lấy tội danh từ trăm năm, ngàn năm trước, tuy có con hiếu cháu hiền cũng không vì mình mà rửa sạch được; ở cõi âm thì bị quả báo sa địa ngục hàng trăm ngàn kiếp, dù cho có thánh hiền, có Phật, Bồ Tát cũng không cứu giúp, dẫn độ được. Vậy há chẳng e dè sợ sệt hay sao!
3. Lòng dũng mãnh
Thứ ba, phải phát tâm dũng. Nhiều người không chịu sửa lỗi, đa số là vì phóng túng biết lỗi đấy mà bỏ đấy nên bị thoái hậu, thụt đầu lùi lại không đường tiến. Chúng ta cần phải phấn khởi, dũng mãnh dụng công cải sửa ngay lấy mình không chờ đợi, không trù trừ hoài nghi nữa.
Lỗi nhỏ ví như cái gai đâm vào thịt phải mau chóng rút bỏ ra. Lỗi lớn tựa như rắn độc cắn vào ngón tay, cần phải quyết tâm chặt bỏ ngay không chút ngần ngừ do dự. Người mà nhất quyết sửa lỗi lầm để tự canh tân thật rất hữu ích cũng như gặp được quẻ phong lôi trong Kinh Dịch, một quẻ đại cát vậy.
Có đầy đủ ba tâm, tâm tri sỉ, tâm úy kính, và tâm dũng mãnh, ắt lỗi lầm đều cải sửa được ngay cũng như băng tuyết mùa xuân gặp mặt trời, vậy há lo gì mà tội lỗi chẳng tiêu tan.
III – Phương pháp sửa lỗi
1.Theo sự tướng
Tuy nhiên tội lỗi của người ta có thể theo sự tướng mà cải sửa, hoặc theo lý hay theo tâm. Cách dụng công không giống nhau thì hiệu quả cũng không tương đồng. Như hôm trước phạm lỗi sát sinh, hôm sau giữ giới không sát sinh nữa, như hôm trước nóng giận mắng chửi, hôm nay giữ giới không nóng giận nữa. Những sự việc như thế gọi là theo sự thực xảy ra mà cải sửa vậy.
Ngày nay phạm lỗi, ngày mai cố sửa, cứ theo sự việc xảy ra ở bên ngoài mà miễn cưỡng kiềm chế lấy mình để khỏi phạm nữa, thực là trăm phần khó vì chung cục bệnh căn vẫn tồn tại, bởi nay ở bên đông hết tội, mai tội lại nẩy sinh ra ở bên tây, cứu cánh không phải là đường lối hợp đạo lý, không trừ sạch được hết tội lỗi.
2.Theo lý cải sửa
Người khéo sửa lỗi mình thì khi còn chưa phạm cấm giới, trước hết hãy nên biết rành rẽ đạo lý đã; như tội lỗi ở chỗ sát sinh thì nên tự nghĩ rằng thượng đế hiếu sinh, chúng vật đều luyến ái mạng sống, giết chúng để nuôi dưỡng thân mình thì sao ta có thể đang tâm; vả lại khi giết chúng, nào là chặt cắt, mổ xẻ cho vào chảo, vào nồi nấu nướng, chúng phải chịu bao nhiêu nỗi thống khổ đau đớn thấu nhập cốt tủy. Chúng ta sát hại chúng để nuôi dưỡng mình, để có la liệt những thứ cao lương mỹ vị miếng ngon vật quý, nhưng khi nuốt trôi khỏi cổ rồi thì giống như không, chẳng có gì nữa. Mà dùng rau đậu, canh dưa cũng đủ no đầy bụng, hà tất phải sát hại mạng sống của chúng vật mang lấy tội sát sinh làm tổn phúc của mình nữa.
Hơn nữa, những vật thuộc loại có huyết khí đều có linh tính, tri giác, mà đã có linh tính tri giác thì chúng cũng đồng một thể, cũng giống y như chúng ta; vả lại chúng ta chưa tự tu được đến mức độ đạo đức thực cao làm cho chúng thân cận ta, tôn trọng ta, há lại hàng ngày sát hại sinh mạnh chúng vật để chúng mãi mãi thù oán, cừu hận chúng ta. Nghĩ như vậy thì đối với miếng ăn thực cũng đau lòng mà khó nuốt trôi.
Như hôm trước nổi sân cáu giận, ắt nên nghĩ rằng con người không phải thánh nhân, còn có nhiều khuyết điểm lỗi lầm, theo đạo lý mà nói, thực tình đáng nên thương hại; nếu họ phạm nỗi sai quấy là do tự họ không hiểu đạo lý chẳng can dự gì đến ta, bản tâm vốn thanh tịnh không chấp trước thì hà tất phải nổi sân.
Lại nữa nên nghĩ rằng trong thiên hạ chắc không ai lại tự nhận mình là thánh hiền, hào kiệt chẳng có chỗ nào sai trái, và cũng không có cái học nào dạy ta oán ghét người, vì người có học vấn, trí thức không oán trời trách người, mình làm chưa đến nơi đến chốn, việc chưa thành tựu đều do tự mình chưa dày công tu phúc, tu đức nên chưa được cảm thông. Chúng ta nên tự phản tỉnh, tự xét lại mình, nếu có những điều phỉ báng, phê bình điều kia tiếng nọ thì nên coi đó là những lời chỉ dạy để mình rèn luyện mài dũa tâm trí, tu tập cho đạt được thành quả, nên hoan hỷ nhận, hà tất phải phát sân phát hận.
Nếu nghe những lời phỉ báng mà nổi giận tranh cãi với người, dù có muốn dùng hết sức biện bác thì trong cơn nóng giận ắt những lời biện luận chẳng được rõ ràng minh bạch, giống như con tằm về mùa xuân kéo kén tự ràng buộc lấy mình, tự làm khổ mình. Sự nóng giận chẳng những vô ích mà còn có hại nữa.
Ngoài việc sân nộ ra, tất cả những lỗi phạm khác cũng đều cứ y theo đạo lý mà xử sự như vậy. Một khi đạo lý đã sáng tỏ, lỗi phạm sẽ tự đình chỉ.
3.Theo tâm địa
Thế nào gọi là theo tâm mà sửa lỗi? Lỗi lầm có thiên hình vạn trạng, chỉ do ở nơi tâm mà tạo ra. Tâm chúng ta chẳng động niệm thì lỗi sao có thể nảy sinh. Người học sửa lỗi lầm như háo danh, háo sắc, tham tài, tham lợi, hoặc hay phát sân nộ…, có quá nhiều tội lỗi bất tất phải phân biệt từng loại một để mà sửa trị, chỉ cần một lòng một dạ thành tâm nghĩ điều lành, làm điều thiện, khi đã có chính niệm phát hiện thì tà niệm tự nhiên bị ô nhiễm rồi bị tiêu diệt. Ví như mặt trời xuất hiện ở trên không thì yêu ma, quỷ quái phải tìm đường lẩn trốn chẳng dám ló dạng. Đây là chỗ chân truyền tinh vi vậy. Tội lỗi do tâm tạo ra thì lại do tâm cải sửa, cũng như chặt một cây độc thụ ắt phải chặt ngay từ gốc rễ, há lại đi cắt từng cành, ngắt một chiếc lá một hay sao!
Nói chung thì có thể theo sự tướng, theo lý và theo tâm để tu sửa tội lỗi, nhưng phương pháp theo tâm là tốt hơn cả; tâm đã tu, đã được sửa trị thì sẽ trở thành thanh tịnh, nên mỗi khi một ý niệm ác dấy động ở nơi tâm thì tự mình liền thấy biết ngay, mà đã thấy biết tức đã tỉnh ngộ không còn mê muội thì ác niệm tội lỗi sẽ tiêu tan thành không.
Theo tâm để cải sửa là phương pháp tối thượng, nhưng giả sử chẳng theo được thì nên hiểu rằng luân thường đạo lý không cho phép chúng ta tạo tội hay làm ác; nếu chẳng làm được nữa thì nên tùy sự, tùy việc mà giữ giới cấm, cố gắng đừng phạm tội. Khi gặp sự việc dùng phương pháp trên hạ công kiêm với phương pháp hạ chẳng phải là điều thất sách; nhưng chỉ chấp phương pháp hạ mà bỏ lãng phương pháp thượng tức là vụng về vậy.
4.Hiệu nghiệm của việc sửa lỗi
Bất quá khi phát nguyện cải sửa lỗi, ở dương thế cần có bạn tốt thường nhắc nhở để tỉnh mình, ở cõi âm cần quỷ thần chứng minh tấm lòng thành của mình nhất tâm, nhất ý cầu sám hối, ngày đêm chẳng biếng nhác buông thả, như vậy trải qua một hai tuần thất, cho đến một tháng, hai, ba tháng, ắt hẳn có ứng nghiệm.
Hoặc thấy tâm thần điềm nhiên, khoan khoái, hoặc thấy trí huệ bỗng được khai mở, hoặc gặp những trường hợp rối ren phiền toái hốt nhiên xử sự giải quyết được rành rọt thông suốt, hoặc gặp kẻ cừu thù mà hồi tâm chuyển ý vui vẻ không còn oán hận nữa, hoặc mộng thấy thở ra những vật ô uế, hắc ám; hoặc mộng được các bậc thánh hiền xưa kia tiếp đón dẫn dắt, hoặc mộng thấy bay bổng lên cảnh giới hư không, hoặc mộng thấy tràng phan bảo cái, thấy những sự việc hi hữu ít có như trên, đó đều là cảnh tượng của lỗi tiêu tội diệt vậy. Nhưng đừng thấy thế mà tự kiêu tự đại là mình đã đạt tới trình độ cao để vội ngưng nghỉ làm đứt đoạn mất con đường tiến triển.
Xưa quan đại phu Cừ Bá Ngọc, người nước Vệ vào thời đại Xuân Thu, lúc hãy còn trẻ mới 20 tuổi mà đã giác ngộ rằng lỗi lầm cần phải sửa, như lỗi ngày hôm qua thì ngày hôm nay xét lại để gắng sửa cho hết. Tới năm 21 lại hiểu biết được lỗi lầm cải sửa năm trước chưa được hoàn toàn dứt bỏ hết; kịp tới năm 22 tuổi xét nghĩ lại năm 21 tuổi thì tựa như còn mơ mơ hồ hồ về những điều lầm lỗi chưa được tu sửa. Cứ năm này kiểm thảo lại năm trước, theo đó mà dần dần tiếp tục sửa đổi, đến năm 50 tuổi mà còn hay biết được lỗi của năm 49. Cái học tu sửa lỗi lầm của người xưa dụng công như vậy đó.
Bọn chúng ta đều là những kẻ phàm phu tục tử, tội ác tích tụ quá nhiều tựa như lông nhím bao bọc toàn thân nó; nếu có hồi tưởng lại những sự việc đã làm thì thường chẳng thấy có chỗ nào lầm lỗi cả, đó là vì tâm tình thô thiển, mắt bị che phủ kín tìm chẳng ra lỗi để tu sửa.
Người mà tội ác quá sâu nặng sẽ thấy chứng nghiệm ngay; hoặc là tâm tư bế tắc bất định, tinh thần hôn trầm mệt mỏi, mọi việc xảy ra chỉ trong chớp mắt liền quên không nhớ nữa, hoặc chẳng có sự gì cả mà phiền não lo lắng; hoặc gặp người chính nhân quân tử thì thường ngượng ngùng e thẹn mất tinh thần; hoặc nghe những lời luận bàn chính đáng hợp đạo lý mà chẳng hoan hỷ vui vẻ ưu nghe; hoặc làm ơn lại bị oán, hoặc ban đêm thường mộng thấy nhiều sự điên đảo, điên đảo cho đến nỗi mất trí sinh ra vọng ngôn, loạn ngữ không được bình thường; đó đều là những hình trạng của nghiệp chướng phát hiện vậy. Nếu thấy có những hiện tượng như trên thì phải tức khắc phấn khởi tinh thần dứt bỏ lỗi lầm cũ để mưu việc tự tu sửa canh tân, mong rằng đừng nên tự mình lại lừa dối mình.
Sau thất bại năm 2008 trước đương kim Tổng thống Mỹ Barack Obama trong cuộc đua trở thành ứng viên tranh cử tổng thống của Đảng Dân Chủ, cựu Đệ nhất Phu nhân Mỹ Hillary Clinton sẽ một lần nữa trở lại cuộc đua vào năm 2016. Nếu lần tranh cử này giành thắng lợi thì bà sẽ trở thành nữ Tổng thống đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ. Liên tiếp các dự đoán kết quả bầu cử tổng thống Mỹ được đưa ra dựa trên phong độ của các ứng viên trên từng chặng đua. Giờ, hãy thử dựa trên lá số tử vi của Hillary Clinton xem liệu bà có thể trở thành người phụ nữ quyền lực nhất nước Mỹ trong năm 2016 này không nhé!
Bà Hillary năm nay 67 tuổi, bát tự là năm Đinh Hợi, tháng Canh Tuất, ngày Mậu Dần. Đại vận sắp xếp theo thứ tự: 35 tuổi Giáp Dần, 45 tuổi Ất Mão, 55 tuổi Bính Thìn, 65 tuổi Đinh Tỵ, 75 tuổi Mậu Ngọ. Mậu Dần là ngày Thất Sát, người sinh vào ngày này có khát vọng đề cao bản thân, không thích bị người khác chi phối, phủ định hay lãnh đạo. Đáng tiếc, bà Hillary đã hơi nóng vội, bát tự của bản thân vốn không kém nhưng thời cơ đại vận không tốt nên tương lai không gặp nhiều trợ giúp trong sự nghiệp. Nếu trúng cử Tổng thống Mỹ thì cũng không hứa hẹn sẽ đưa đất nước cờ hoa phát triển thịnh đạt như đã tuyên bố.
![]() |
![]() |
| Cằm ngắn là người hướng nội, trọng tình cảm |
![]() |
| Nữ giới cằm dài thường chính trực và kiên trì |
![]() |
| Người có tướng hai cằm sống cuộc đời giàu sang phú quý |
![]() |
| Tướng người này giàu ý chí và gặp nhiều may mắn |
![]() |
| Đây là người giàu tình cảm, hay giúp đỡ mọi người xung quanh |
![]() |
| Người này thích theo đuổi và chinh phục sự thỏa mãn về tinh thần, tư tưởng |
![]() |
| Người này mạnh mẽ, chân thành và giỏi giang |
![]() |
| Phụ nữ có tướng cằm này thường cẩn thận, khiêm nhường |
![]() |
![]() |
Cuộc sống đôi khi thật giản đơn chứ không phải là điều gì cao siêu hết. Bởi đơn giản chính là trí huệ, sống đơn giản sẽ mang đến niềm vui, hạnh phúc mà người ta không ngờ tới… Để đạt được điều đó trước tiên bạn phải biết cách học làm người ….
Một người đi tìm việc làm, trên hành lang đến phòng phỏng vấn thuận tay nhặt mấy tờ giấy rác dưới đất và bỏ vào thùng. Vị phụ trách phỏng vấn vô tình nhìn thấy, bèn quyết định nhận anh vào làm việc.
Hóa ra để được tưởng thưởng thật là giản đơn, chỉ cần tập rèn luyện những thói quen tốt.
Cậu bé nọ học việc trong một tiệm sửa xe đạp. Một ngày, có người khách đem đến một chiếc xe đạp hư. Cậu không những sửa lại cho thật tốt, mà còn lau chùi cho chiếc xe cho sạch đẹp.
Những người học việc khác cười nhạo cậu bé dại dột, đã chẳng được thêm chút tiền công nào lại còn tốn sức.
Hai ngày sau, người khách trở lại, thấy chiếc xe đạp vừa tốt vừa đẹp như mới mua, liền đưa cậu bé về hãng của ông ta để làm việc với mức lương cao.
Hóa ra để thành đạt trong đời thật giản đơn, chỉ cần được làm điều mình thích, vất vả một chút cũng chẳng sao.
Một em bé nói với mẹ: “Mẹ ơi, hôm nay mẹ rất đẹp!”
Bà mẹ hỏi: “Ơ, sao con lại khen mẹ như thế?”
Em bé trả lời: “Bởi vì hôm nay mẹ… không nổi giận!”.
Hóa ra muốn có một vẻ đẹp khả ái cũng thật đơn giản, chỉ cần không nổi giận là được.
Có ông chủ bắt con trai làm việc vất vả ngoài đồng.
Bạn bè nói với ông ta: “Ông không cần phải bắt con trai khó nhọc như thế, giống cây này tự nhiên cũng phát triển.” Ông chủ nói: “Tôi dạy dỗ con cái chứ đâu phải tôi chăm cây công nghiệp”.
Hóa ra răn dạy con cái rất đơn giản, cứ để tụi nó chịu khổ chút xíu.
Một huấn luyện viên quần vợt nói với học sinh: “Làm thế nào tìm được quả bóng rơi vào đám cỏ?
Một người nói: “Bắt đầu tìm từ trung tâm đám cỏ”.
Người khác nói: “Bắt đầu tìm từ nơi chỗ trũng nhất”.
Kẻ khác lại nói: “Bắt đầu tìm từ điểm cao nhất”.
Đáp án huấn luyện viên đưa ra là: “Làm từng bước, từ đám cỏ đầu này đến đầu kia”.
Hóa ra phương pháp để tìm thành công thật đơn giản, cứ tuần tự, đừng nhảy vọt từ số 1 đến số 10.
Một cửa hàng đèn thường sáng trưng, có người hỏi: “Tiệm của anh dùng loại đèn nào vậy, dùng rất bền”.
Chủ cửa hàng nói: “Đèn bị hư hoài đấy chứ, chẳng qua là chúng tôi thay ngay khi nó bị hư thôi”.
Hóa ra để duy trì ánh sáng thật đơn giản, chỉ cần dám thay đổi là được.
Con nhái ở bên ruộng nói với con nhái ở bên vệ đường: “Anh ở đây quá nguy hiểm, dọn qua chỗ tôi mà ở”.
Con nhái ở bên đường trả lời: “Tôi quen rồi, dọn nhà làm chi cho vất vả”.
Mấy ngày sau nhái ở bên ruộng đi thăm nhái bên đường, nó đã bị xe cán chết, xác nằm bẹp dí.
Hóa ra để được an toàn thật đơn giản, chỉ cần tránh xa lười biếng.
Có một con gà nhỏ đang tìm cách phá vỏ trứng để chui ra, nó chần chừ e ngại thò đầu ra ngoài ngó nghiêng xem xét sự đời. Đúng lúc đó, 1 con rùa đi ngang qua, gánh trên mình chiếc mai nặng nề.
Thấy thế, con gà nhỏ quyết định rời bỏ cái vỏ trứng ngay lập tức.
Hóa ra muốn thoát ly gánh nặng cũng thật giản đơn, dẹp bỏ cố chấp thành kiến là được.
Có mấy em bé rất muốn làm thiên thần; Thượng Đế cho mỗi em một chân đèn và dặn trong lúc chờ Ngài trở lại, hãy giữ cho mấy cái chân đèn luôn sáng bóng.
Một ngày, hai ngày, rồi 1 tuần trôi qua, không thấy Thượng Đế quay trở lại. Tất cả các bé đều bỏ cuộc.
Chỉ có một em bé vẫn lau chùi chân đèn sáng bóng dù cho Thượng Đế không đến. Mọi người đều chê em dại.
Kết quả, chỉ có em được trở thành thiên thần.
Hóa ra để làm thiên thần thật giản đơn, chỉ cần có tấm lòng thật thà tận tụy.
Chàng thanh niên đến xin làm môn đệ một vị thần.
Đúng lúc ấy, 1 con nghé chui lên từ vũng lầy, toàn thân lấm đầy bùn dơ bẩn.
Vị thần nói với chàng thanh niên: “Con tắm rửa cho nó dùm ta”.
Chàng kinh ngạc: “Con đi học chứ đâu đi chăn trâu?”.
Vị thần nói: “Con không chăm chỉ vâng lời, thì làm môn đệ của ta thế nào được.”
Hóa ra biến thành thần thật giản đơn, chỉ cần một lòng thành thật phục vụ.
| ► Lịch ngày tốt gửi tới độc giả công cụ xem tử vi trọn đời theo ngày tháng năm sinh |
![]() |
![]() |
![]() |
Con giáp cẩn thận đào hoa quá thành ra bị “đào mỏ” trong tháng 7
Phụ nữ hiện đại không cần đàn ông cuộc sống vẫn rực rỡ huy hoàng, đó là suy nghĩ của không ít cô gái ngày nay. Vậy bạn có biết trong 12 con giáp, ai là người có khả năng ấy không, cùng theo dõi nhé. Thời buổi ngày nay, phụ nữ càng ngày càng độc lập hơn, được ăn học đàng hoàng, có công ăn việc làm tử tế. Chẳng thế mà giờ phụ nữ hiện đại không còn coi việc tìm một người đàn ông tốt kết hôn là cách duy nhất để có thể đổi đời. Địa vị trong xã hội ngày càng cao, phụ nữ có thể tự mình làm tốt rất nhiều việc. Thậm chí, nhiều cô gái giờ còn lựa chọn việc sống một mình, không cần dựa dẫm vào bất cứ người đàn ông nào. Bạn có biết xem bói tử vi thì những nàng giáp nào là người mạnh mẽ đến vậy không? Cùng Lịch ngày tốt khám phá xem trong 12 con giáp, ai là người không cần đàn ông mà vẫn có cuộc sống thoải mái, hạnh phúc nhé.
![]() |
![]() |
![]() |
| ► Tham khảo thêm những thông tin về: Phong thủy nhà ở và các Vật phẩm phong thủy chuẩn xác nhất |
![]() |
Quy tắc bói bài:
1. Nhắm mắt, giữ trạng thái tĩnh trong 30 giây.
2. Tự hỏi thầm bản thân “Mẫu người như thế nào sẽ mang lại hạnh phúc cho mình?”.
3. Chọn một lá bài theo trực giác và xem đáp án.
Lựa chọn 1: Queen of Wands
![]() |
Lựa chọn 2: The Fool
![]() |
Lựa chọn 3: The World
![]() |
Xem bói kết quả:
Lựa chọn 1: Queen of Wands – Người coi trọng gia đình
Bốc được lá bài này cho thấy bạn thuộc nhóm những người cực kỳ tham vọng, cho dù là nam hay nữ. Với bạn, danh vọng mới là đích đến hoàn hảo để trải nghiệm niềm vui trong cuộc sống. Đôi lúc vì quá mải miết theo đuổi thành công mà bạn quên đi mình còn gia đình và những người thân. Do vậy, người yêu sẽ là yếu tố dung hòa và gợi nhắc bạn về sự tồn tại của các mối quan hệ.
Người coi trọng gia đình, chăm lo cho bạn từng bữa ăn, buổi hẹn hò hay lo những đêm bạn làm việc mất ngủ. Đó là lựa chọn tuyệt vời để bạn gửi gắm. Hơn nữa, “gấu” còn là người sống chậm, sẽ mang lại cảm giác bình yên trong cuộc sống nhiều sóng gió của bạn.
Lựa chọn 2: The Fool – Người rộng lượng, dễ chia sẻ
Tính khí của bạn được cho là “không bao giờ lớn” vì thích được cưng chiều, chỉ muốn dựa dẫm vào bờ vai nào đó hoặc có người để trút mọi nỗi niềm. Hơn nữa, bạn còn hay để ý tới những chuyện nhỏ nhặt và suy nghĩ rất nhiều về sự thay đổi trong cảm xúc của cả hai. Sự nhạy cảm thái quá của bạn đôi lúc khiến chiến tranh lạnh giữa hai người xảy ra một cách khó kiểm soát.
Với tất cả những ưu và nhược điểm trên, một nửa mang lại hạnh phúc cho bạn cần hội tụ sự rộng lượng, biết lắng nghe và không chấp vặt. Đối phương chỉ coi những lần giận hờn vu vơ của bạn là chuyện nhỏ, thậm chí lấy đó là “gia vị” không thể thiếu trong tình yêu. Hai bạn cùng rất hợp nhau về sở thích ăn uống, lê la quán xá.
Lựa chọn 3: The World – Người cầu toàn
Bạn chiêm nghiệm cuộc sống là những trải nghiệm thám hiểm cái mới mẻ, thậm chí là tạo ra xu hướng có sức ảnh hưởng tới số đông. Do vậy bạn chẳng ngại ngần đưa ra những quyết định mang tính mạo hiểm cao và sẵn sàng chấp nhận hậu quả sẽ đánh mất tất cả. Tưởng chừng tính cách ấy chỉ ảnh hưởng tới sự nghiệp, công việc, nhưng bạn còn thử thách cả tình yêu.
Trái ngược với con người sôi nổi, có phần nổi loạn như bạn, “gấu” cần sự điềm tĩnh và an toàn để bù đắp. Những lúc bạn quá nông nổi, người ấy sẽ xuất hiện đúng lúc để đưa ra lời khuyên hữu ích. Nói cách khác, với bạn, người yêu không chỉ là “gấu”, mà còn là tri kỉ.