Giải mã những giấc mơ nghề nghiệp –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Cát Phượng (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Cát Phượng (##)
Trong cuộc sống. rất nhiều người đã biết dùng đến vật phẩm phong thủy “Kỳ lân biếu con” và ngọc sơn (núi cẩm thạch) với ý nguyện sớm sinh được quý tử, …
Trong cuộc sống. rất nhiều người đã biết dùng đến vật phẩm phong thủy “Kỳ lân biếu con” và ngọc sơn (núi cẩm thạch) với ý nguyện sớm có con cái cho gia đình thêm đông đúc, nhưng vẫn còn những mẹo phong thủy khác để sớm có tử tức được lưu truyền trong dân gian như sau:

1. Liên sinh quý tử
Với những người sốt ruột muốn có con ngay, hãy sử dụng miếng ngọc bội cổ mang tên “liên sinh quý tử”. Hình dạng của miếng ngọc bội này là 1 cậu bé ngồi trên lá sen hoặc tay cầm bông sen (loại này còn có tên là “trì hà đồng tử”) “liên” là hoa sen, lá sen nhưng lại đồng âm với chữ “liên” là liền ngay, nên tấm ngọc bội mang ý nghĩa cầu chúc có con sớm.
2. Miên miên qua điệt
“Qua” có nghĩa là quả dưa, “điệt” là dưa nhỏ. Hình ảnh giàn dưa leo trái to, trái nhỏ và trái nhỏ thì nhiều hàm ý là “con cháu đầy đàn”. Cho nên khắc hình tượng “con cháu đầy đàn” trên cẩm thạch, người đeo sẽ nhanh chóng sinh con, vẽ trên tranh thì treo trong phòng ngủ.
“Điệt” là hài âm cho “điệp” (bướm). Từ đó, hợp lại thành “qua điệp”. Hình ảnh phú quý đồng tử tay cầm bướm, chân đạp dưa là hàm ý con cháu đầy đàn, phú quý cát tường.
3. Bầu bí đầy đàn
Giàn bầu bí dây leo chằng chịt, quả to quả bé treo lủng lẳng là biểu tượng 1 gia đình sum họp, con đàn cháu đống.
Người ta khắc họa hình giàn bầu trĩu quả trên đá ngọc làm bùa cho những đôi vợ chồng hiếm con, nếu vẽ thành tranh thì treo trong nhà, với ý cầu chúc đẻ nhiều con.
4. Thạch lựu

Để có nhiều con, có thể sử dụng viên bạch ngọc tạc hình quả lựu. Hình quả lựu ở đây được bổ làm đôi, 1 nửa lộ ra rất nhiều hạt, mang ý nghĩa “lựu khai bách tử” (tức là lựu nở nhiều con). Việc mang tặng bức tranh “lựu khai bách tử” cho đôi vợ chồng mới cưới, được coi là lời cầu chúc tốt đẹp.
5. Cát khánh hữu dư
Treo tranh có hình 2 đứa trẻ tay cầm khánh, tay cầm cá. Khánh với ý nghĩa là “cát khánh” (điều vui mừng, tốt lành), cá biểu tượng là “hữu dư” (có dư).
6. Phú quý đồng tử
Là tranh 2 đứa trẻ khả ái tay cầm kim câu thiêm tài tiến bảo, sau lưng là cây phú quý đầy tiền vàng.
Tránh kê giường ở nơi mà dưới lòng đất có mạch nước ngầm để hạn chế những rụng động xấu.
Việc kê giường theo hướng Bắc – Nam giúp hạn chế tối đa những ảnh hưởng xấu do tác động của mạch nước ngầm – nơi lực từ rất mạnh, ảnh hướng đến giấc ngủ ngon của các thành viên trong gia đình bạn. 2. Kê giường cạnh hoặc đối diện nhà vệ sinh cũng không tốt theo phong thủy Một số vị trí không thích hợp để kê giường, như là cạnh bếp hoặc chiếu thẳng vào bếp; đối diện cửa sổ và cửa ra vào; đối diện hoặc cạnh nhà vệ sinh; quá gần với cầu dao điện;… Bên cạnh đó, những vật dụng không nên đặt cạnh giường bao gồm: gương, tủ kệ, đèn,…Bạn có thể xem chi tiết về các vị trí kê giường nên kiêng kỵ.
Vị trí kế giường có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng giấc ngủ, vì thế phong thủy phòng ngủ đang ngày càng được quan tâm.
3. Giường ngủ phải được đặt ở nơi yên tĩnh Giường ngủ phải được kê ở vị trí yên tĩnh nhất, kín đáo nhất, tránh những rung động xấu. Tuy nhiên, quan điểm của Yannick David là ngoài việc đảm bảo sự yên tĩnh cần thiết cho giấc ngủ thì vị trí kê giường còn phải quan sát được toàn bộ căn phòng.
Phòng ngủ cần an toàn và yên tĩnh nếu không người ngủ dễ thao thức, không yên.
4. Tránh kê giường nơi quá nhiều ánh sáng Liên quan đến việc kê giường theo hướng Bắc – Nam, ngoài việc tránh bị tác động xấu bởi các nguồn lực của tự nhiên, việc kê giường theo hướng này còn giúp tránh ánh nắng mặt trời.
Ánh sáng mặt trời rất tốt cho sức khỏe con người nhưng quá nhiều ánh sáng sẽ dễ phản tác dụng. Mặc dù ánh nắng mặt trời sẽ giúp giường ngủ thoáng đãng và sạch sẽ hơn nhưng nó cũng chính là “thủ phạm” phá vỡ giấc ngủ vì nó liên quan mật thiết đến sự tỉnh táo của não bộ. Chưa kể, các tia tử ngoại từ nguồn sáng này gây ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của con người. 5. Những sai lầm thường gặp khi kê giường và cách khắc phục Kê giường vào góc tường vốn là cách kê rất quen thuộc với đại đa số các gia đình Việt. Tuy nhiên, cách kê này được khuyến cáo là không nên bởi người nằm phía sát tường sẽ bị bí khí và gặp khó khăn trong đời sống vợ chồng. Giường ngủ tốt nhất nên đặt ở giữa phòng, đầu giường tựa vào tường.
Bộ đi của người hạ tiện có vẻ yếu đuối hay là bước đi khinh phù. Khinh phù là thiếu thần khí là mạng yểu, đi bước không dính ngón chơn là người tranh danh đoạt lợi bôn tẩu đó đây.
Tánh muốn gấp rút, mà bước không rõ ràng vững chải. Người bước đầu đi trước là gian xảo mưu mô, hay nghĩ ngợi suy tư nên đầu cúi tới trước, chân bước theo sau.
Khí cương thần mãnh là người bước đi mạnh bạo, cương nghị, đỉnh đạc, không kinh sợ hiểm nguy gì, nên bước tới mạnh mẽ.
Tướng người buôn bán suy tư lời lổ nặng chiếm trong lòng nên bước đi rất mau, mà làm như nặng nề lôi cái mình chẳng chịu đi theo. Người lưng dài mông tròn là tướng làm quan võ, nên bước đi nặng chắc.
Người đi khoan thai là người quí hiền. Sách nói “lập như tòng, tọa như thái sơn, hành bộ đoan chính” là đứng thì ngay thẳng như cội tòng, ngồi thì bệ vệ như núi thái sơn, bước đi đoan chính không nghiêng lắc, đó là hiền nhân quân tử và phú quí trường thọ đó.
Ngôn ngữ thinh âm
Lời và tiếng nói cũng ảnh hưởng với đời người. Thinh âm là hơi tiếng như chuông. nếu bể nứt thì rè, bẹp, đâu có phát xuất được âm thanh tốt đẹp.
Con người cũng vậy. Mau miệng nhạy lời thì hay nói lầm, chắc lời nói thì ít sai. Răng lộ hô hay đùa giỡn. Răng bằng thẳng nói ngay, môi mỏng miệng mỏng là hay nói mau, và nói ít thật.
Người răng thưa răng nhỏ cũng nói dối. Răng cửa lớn mà đều đặn thì lời nói không xảo trá độc ác. Lưỡi lớn miệng nhỏ nói chẳng xong câu. Môi không che kín miệng ưa nói nhiều chuyện đời lắm. Người miệng rộng lưỡi nhỏ mà dài nói lời mau như bẻ cây, như rang bắp.
Nói chuyện có gốc có ngọn là lưỡi phải dài. Nói chuyện không đầu không đuôi là người lưỡi ngắn. Lưỡi đỏ lời nói có đạo đức, lưỡi xanh người không nghĩa, lời nói không có nghĩa.
Tiếng trong thanh là giàu sang, tiếng u trệ là giàu mà keo kiệt.
Tiếng rổn rang tánh nóng lòng ngay. Tiếng bén nhọn như mũi dùi là khôn ngoan mà bạc ác. Tiếng như dùi đục là ngu đần hèn cộc. Tiếng như chuột rúc là hạ tiện. Tiếng như chuông ngân là uy nghiêm.
Tiếng như kêu thét là ngu và ác, tiếng như rên rỉ là bần yểu. Tiếng như thanh la bể phát âm khàn khàn là nóng nảy hung bạo, hay ghen. Tiếng như lửa reo là gian khổ bần yểu, bắt đắc kỳ tử, gái nói giọng trai, giọng khàn vịt đực là sát phu khắc tử, đa dâm.
(St).
Văn Khấn Tết Thanh minh (mồng 5/3 – 10/3 Âm lịch) được dùng vào Tiết Thanh Minh. Ông bà ta xưa chọn Tiết Thanh Minh là ngày cắt cỏ trên mộ và đắp đất lên mộ (tảo mộ). Vì ngày này thời tiết chuyển sang ấm dần, mưa nhiều hơn, cây cỏ tốt hơn trùm lên mộ, có thể làm mộ sụt lở nên cần phải cắt cỏ, đắp thêm đất lên mộ.
Nhân lúc đi Thanh Minh tảo mộ, để tưởng nhớ tổ tiên, người thân đã khuất, mọi người có thể dạo chơi ngắm cảnh cỏ cây tươi tốt, nên còn gọi là Đạp Thanh. Nguyễn Du có câu:
Thanh Minh trong tiết tháng ba
Lễ là tảo mộ, hội là Đạp Thanh
Lễ trong tiết Thanh Minh gồm có: hương đèn, trầu cau, tiền vàng, rượu thịt (chân giò, gà luộc hoặc một khoanh giò nạc độ vài lạng), hoa quả.
Khi đến nghĩa trang hay khu vực có để mộ phần của gia đình mình thì gia chủ đặt lễ vào chỗ thờ chung. Sau đó thắp đèn, nhang, vái ba vái vị Linh thần Thổ địa rồi khấn.
1. Văn khấn lễ âm phần Long Mạch, Sơn thần thổ phủ nơi mộ
Nam mô a di Đà Phật! (3 lần)
– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.
– Con kính lạy Hoàng thiên Hậu Thổ, chư vị Tôn thần.
– Con kính lạy các ngài Thần linh bản xứ cai quản trong khu vực này.
Hôm nay là ngày: ………………..
Tín chủ (chúng) con là:…………Nhân tiết Thanh minh (hoặc là nhân tiết thu, tiết đông, hoặc nhân ngày lành tháng tốt.. .) tín chủ con thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương kính dâng trước án, kính mời chư vị Tôn thần lai lâm chiếu giám.
Gia đình chúng con có ngôi mộ của…………………..
Táng tại xứ này, nay muốn sửa sang xây đắp (hoặc tảo mộ, bốc mộ…) vì vậy chúng con xin kính cáo các đấng Thần linh, Thổ công, Thổ phủ Long Mạch, Tiền Chu Tước, Hậu Huyền Vũ, Tả Thanh Long, Hữu Bạch Hổ và Chư vị Tôn thần cai quản trong khu vực này, chúng con kính mời các vị chư Thần về đây chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho vong linh được an nhàn yên ổn, siêu thoát. Cúi xin các vị phù hộ độ trì cho tín chủ chúng con toàn gia mạnh khỏe an bình, bốn mùa không tật ách, tám tiết hưởng thái bình.
Nam mô a di Đà Phật! (3 lần)
2. Lễ vong linh ngoài mộ
Nam mô a di Đà Phật! (3 lần)
– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương
– Con kính lạy Hương linh………(Hiển khảo, Hiển tỷ hoặc Tổ Khảo…)
Hôm nay là ngày. . ………….
Nhân tiết:……………………..
Tín chủ (chúng) con ……….
Ngụ tại:………………………
Chúng con và toàn thể gia đình con cháu, nhờ công ơn võng cực, nền đức cao dầy, gây dựng cơ nghiệp của………….. chạnh lòng nghĩ đến âm phần ở nơi hoang vắng, tín chủ con thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương kính dâng trước mộ, kính mời chân linh……. . lai lâm hiến hưởng.
Chúng con xin phép được sửa sang phần mộ, bồi xa, bồi thổ, cho được dầy bền, tu sửa minh đường hậu quỷ cho thêm vững chắc. Nhờ ơn Phật Thánh phù trì, đội đức trời che đất chở, cảm niệm Thần linh phù độ, khiến cho được chữ bình an, âm siêu dương thái. Con cháu chúng con xin vì chân linh . . ……..Phát nguyện tích đức tu nhân, làm duyên, làm phúc cúng dâng Tin Bảo, giúp đỡ cô nhi quả phụ, tế bần cứu nạn, hiếu thuận tông nhân để lấy phúc này hướng về Tiên Tổ.
Cúi xin linh thiêng chứng giám, thụ hưởng lễ vật, phù hộ độ trì con cháu, qua lại soi xét cửa nhà. Che tai cứu nạn, ban tài tiếp lộc, điều lành mang đến, điều dữ xua đi. Độ cho gia đạo hưng long, quế hờ tươi tốt, cháu con vinh hưởng lộc trời, già trẻ nhuần ơn Phật Thánh.
Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin chứng giám.
Sau khi khấn xong, đợi hết 2/3 tuần hương thì đi lễ tạ các nơi, hóa vàng, xin lộc và mọi người trở về nhà làm lễ gia thần và gia tiên ở nhà.
Về chuyện này, báo Le Monde số ra gần đây đặt câu hỏi “Vì sao người ta phải tặng quà ngày lễ Noel ?” và “Tập tục đó có từ bao giờ ?”
![]() |
| Tục lệ trao quà trong ngày lễ Giáng sinh chỉ mới xuất hiện vào thế kỷ 19. |
![]() |
| Trao cho nhau quà tặng đã trở thành một thời khắc quan trọng nhất trong tập tục lễ Giáng sinh. |
![]() |
| Gia đình Nữ hoàng Victoria. |
![]() |
| Bé gái nhận quà Noel với khuôn mặt sáng ngời rạng rỡ. |
Ngày nay, lựa chọn một căn hộ chung cư đang là nhu cầu tất yếu của phần đông các gia đình trẻ. Nhưng vấn đề thiết kế căn hộ chung cư phạm rất nhiều kiêng kỵ theo thuật phong thủy, cũng như môi trường sống, ví dụ như cửa nhà xung với cửa thang máy.
Từ góc nhìn của Phong Thủy, cửa thang máy đóng - mở giống như miệng hổ đang chờ mồi. Sát khí của "miệng hổ" tạo ra sẽ khiến mọi người dễ xảy ra bất hòa do các luồng không khí bị xao động, nuốt hết vận may, thậm chí gây ra tai nạn. Bên cạnh đó, năng lượng cũng bị phân tán và không thể tụ lại, điều này sẽ gây khó khăn trong việc tích lũy của cải.
Từ quan điểm khoa học, nó cũng có thể gây ra các vấn đề sức khỏe cho các thành viên gia đình vì số lượng lớn người hoặc vật nuôi sử dụng các thang máy mang theo vi khuẩn, vi trùng gây bệnh. Mỗi lần cửa thang máy mở ra, đóng vào - các luồng gió sẽ đẩy vi khuẩn ập vào ngôi nhà của bạn.
Làm thế nào để khắc phục tình trạng này?
- Đặt một bức tượng Quan Công bên trong ngôi nhà đối diện với cửa ra vào.
- Đặt một cặp chó đá để trung hòa sát khí. (Nếu bạn có khoảng trống lớn trước cửa).
- Bạn cũng có thể áp dụng phương pháp giản tiện hơn bằng cách đặt 5 đồng xu ngũ đế trên bậu cửa ra vào.
- Để hạn chế bớt các luồng khí ập vào nhà, đóng kín cửa ra vào khi không cần thiết; đồng thời sử dụng rèm treo, bình phong để che chắn.
Sofa và bàn trà là hai trong số những món nội thất phổ biến trong phòng khách của mỗi gia đình. Chúng không chỉ thu hút khách đến thăm nhà ngay từ cái nhìn đầu tiên mà còn là nơi bạn thường xuyên đón tiếp, chuyện trò cùng mọi người. Tuy quan trọng là vậy nhưng không phải chủ nhân nào cũng biết cách lựa chọn và bố trí chúng để vừa đẹp mắt vừa hòa hợp về phong thủy. Nếu bày trí khéo léo, bàn ghế phòng khách sẽ tăng cường khả năng tích tụ năng lượng tốt cho nhà ở.
Dưới đây là những lưu ý đối với bàn ghế phòng khách theo quan niệm phong thủy mà bạn không thể không biết.
Sofa và bàn trà là hai món nội thất phổ biến trong phòng khách.
Phong thủy trong lựa chọn và bố trí chúng đóng vai trò quan trọng để hút tài lộc và tránh vận xui cho gia chủ.
1. Phòng khách là “vượng vận” của mỗi gia đình, là nơi thu hút tài lộc và sự nghiệp cho gia chủ. Theo phong thủy, sofa là biểu tượng của gia chủ, bàn trà tượng trưng cho khách quý. Vì thế bàn trà luôn phải có hình khối kích thước nhỏ và chiều cao thấp hơn so với sofa. Nó mang ý nghĩa chủ nhà nồng hậu tiếp đón khách và khách tới chơi không lấn át gia chủ.
Bàn trà luôn phải có hình khối kích thước nhỏ và thấp hơn so với sofa.
2. Người ta cũng quan niệm sofa là biểu tượng của Sơn (núi), bàn trà bàn trà mang ý nghĩa Thủy (nước). Do đó, muốn núi và nước hòa hợp thì phải luôn kê chúng cùng với nhau, không tách rời một trong hai. “Núi” (sofa) phải được kê sát tường để tạo thế vững chãi và cao hơn “nước” (bàn trà). Sofa không có điểm tựa chẳng khác nào một ngọn núi giữa cánh đồng, không thể nào tụ khí.

Sofa phải được kê sát tường để tạo nên thế vững chãi.
3. Thông thường, khi bố trí nội thất phòng khách, bàn trà thường được kê ở chính giữa 2 chiếc ghế sofa, hoặc ở phía trước một sofa dáng dài, sofa hình chữ L,… Như trên đã đề cập, sơn thủy đi cùng nhau nên tuyệt đối không bày sofa mà không có bàn trà, hoặc bàn trà kê riêng ở một góc mà không kèm theo ghế.

Sofa và bàn trà là hai món nội thất phải đi liền với nhau.
4. Nếu bạn chọn mua sofa và bàn trà theo bộ thiết kế sẵn thì nên chọn những bộ gồm 6 hoặc 9 món, đây là những con số đẹp theo phong thủy. Không nên chọn những bộ tổng cộng 7 món hay có đến 3 - 4 sofa liền băng. Phòng khách dù rộng cỡ nào cũng chỉ đặt tối đa 2 sofa là đủ.
Nên chọn bộ sofa và bàn cà phê có tổng cộng 6 hoặc 9 món.
5. Thiết kế của sofa và bàn trà không nên quá thấp, mặc dù những ngôi nhà bị hạn chế về chiều cao vẫn thường chọn nội thất thấp sàn để tạo cảm giác thông thoáng. Một gợi ý dành cho bạn đó là mặt sofa cao ít nhất khoảng 40cm, lưng ghế ít nhất phải chạm được gáy người ngồi khi họ dựa lưng. Mặt bàn trà phải cao khoảng 45 cm so với mặt sàn. Như vậy mới tạo điều kiện phát triển nguồn năng lượng tốt của khu vực này.

Kích thước thiết kế của sofa và bàn trà không nên quá thấp.
6. Sofa phải đặt ở hướng tốt của gian phòng, hợp với tuổi gia chủ. Không nên đặt ngay dưới dầm nhà, xà ngang hay đối diện với cửa chính nhằm tránh phạm quan sát, ảnh hưởng tới sức khỏe và hao tốn tiền của. Kê sofa ngay dưới quạt trần hay đèn chùm cũng là điều tối kỵ, dễ gây hoa mắt chóng mặt mất tập trung.
Kê sofa ngay dưới quạt trần hay đèn cũng là tối kỵ trong phong thủy.
7. Đối với bàn trà, có khá nhiều chọn lựa cho hình dáng như hình chữ nhật, bình bầu dục, hình tròn nhưng tuyệt đối không dùng những bàn trà hình đa giác sắc nhọn. Nếu bàn trà bằng gỗ, nên chọn loại hình vuông, hình chữ nhật vì những hình khối này thuộc về hành mộc. Nếu bàn trà bằng kim loại, nên chọn hình dáng bàn tròn thuộc về hành kim.

Hình dáng và chất liệu của bàn trà cũng là yếu tố quan trọng khi chọn lựa.
8. Bàn trà bày phía trước ghế sofa nên có khoảng cách vừa đủ rộng, tránh kê sát sofa vì phạm vị gần như vậy sẽ gây chật chội bất tiện, tạo tâm lý không thoải mái. Nếu không gian phía trước ghế sofa không rộng rãi, có thể chuyển bàn trà sang bên cạnh, bàn trà ở 2 bên ghế tạo thế Thanh Long, Bạch Hổ ở 2 bên bảo vệ, người ngồi trên ghế cảm thấy bên trái phải đều rất vững chắc. Như thế vừa tận dụng tối đa không gian, vừa hợp với luật phong thủy.

Bàn trà bày phía trước ghế sofa nên có khoảng cách vừa đủ rộng.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Ngọc Sương (##)

1. Ngày Thiên Đức hoàng đạo
| Tháng |
Ngày trong tháng |
| Tháng Giêng và tháng Bảy Tháng Hai và tháng Tám Tháng Ba và tháng Chín Tháng Tư và tháng Mười Tháng Hăm và tháng Mười một Tháng Sáu và tháng Chạp |
Ngày Tị Ngày Mùi Ngày Dậu Ngày Hợi Ngày Sửu Ngày Mão |
2. Ngày Minh Đường hoàng đạo
| Tháng |
Ngày trong tháng |
| Tháng Giêng và tháng Bảy |
Ngày Tý |
| Tháng Hai và tháng Tám |
Ngày Mão |
| Tháng Ba và tháng Chín |
Ngày Tị |
| Tháng Tư và tháng Mười |
Ngày Mùi |
| Tháng Năm và tháng Mười một |
Ngày Dậu |
| Tháng Sáu và tháng Mười hai |
Ngày Hợi |
3. Ngày Thiên Giải
| Tháng |
Ngày trong tháng |
| Tháng Giêng và tháng Bảy Tháng Hai và tháng Tám Tháng Ba và tháng Chín Tháng Tư và tháng Mười Tháng Năm và tháng Mười một Tháng Sáu và tháng Chạp |
Ngày Ngọ Ngày Thân Ngày Tuất Ngày Tý Ngày Dẩn Ngày Thìn |
4. Ngày Nguyệt Đức (tốt như Thiên Đức)
| Tháng |
Ngày tốt |
Tháng |
Ngày tốt |
| Tháng Giêng |
Ngày Hợi |
Tháng Bảy |
Ngày Tị |
| Tháng Hai |
Ngày Tuất |
Tháng Tám |
Ngày Thìn |
| Tháng Ba |
Ngày Dậu |
Tháng Chín |
Ngày Mão |
| Tháng Tư |
Ngày Thân |
Tháng Mười |
Ngày Dần |
| Tháng Năm |
Ngày Mùi |
Tháng Mười một |
Ngày Sửu |
| Tháng Sáu |
Ngày Ngọ |
Tháng Chạp |
Ngày Tý |
5. Ngày Tam Hợp với tháng
| Tháng |
Ngày tốt |
Tháng |
Ngày tốt |
| Tháng Giêng (Tháng Dần) |
Ngày Ngọ |
Tháng Bảy (Tháng Thân) |
Ngày Tý |
| Tháng Hai (Tháng Mão) |
Ngày Mùi |
Tháng Tám (Tháng Dậu) |
Ngày Sửu |
| Tháng Ba (Thánq Thìn) |
Ngày Thân |
Tháng Chín (Tháng Tuất) |
Ngày Dần |
| Tháng Tư (Tháng Tị) |
Ngày Dậu |
Tháng Mười (Tháng Hợi) |
Ngày Mão |
| Tháng Năm (Tháng Ngọ) |
Ngày Tuất |
Tháng Mười một (Tháng Tý) |
Ngày Thìn |
| Tháng Sáu (Tháng Mùi) |
Ngày Hợi |
Tháng Chạp (Tháng Sửu) |
Ngày Tị |
* Ngày hợp với tháng là tốt, ví dụ tháng Giêng và tháng Dần cùng với ngày Ngọ trong tam hợp Dần – Ngọ – Tuất hóa Hỏa.
đặc trưng của họ được kể sau đây.
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
Trong một tập thể, chắc chắn sẽ có một số người vốn chẳng có tài cán gì nhưng vẫn thích khoe khoang, muốn thể hiện bản thân. Hầu như ai cũng ghét những người như vậy. Một mặt là do những người này cư xử không khéo, mặt khác là những người này thực chất chẳng có tài năng gì, khó làm được việc lớn. Khuôn mặt của mẫu người này thường có những đặc điểm rất nổi bật, rất dễ nhận diện.
"Nói chuyện lúc đầu nhanh, sau im lặng", tức là khi bắt đầu tranh luận với người khác thì cảm thấy bản thân rất có lý, rất tự tin, nên nói rất nhanh, thường muốn dùng khí thế đó để trấn áp người khác, nhưng do tư duy kém cỏi nên những ý kiến đó không được cân nhắc kỹ lưỡng, chỉ là những ý kiến hồ đồ nên càng nói càng không biết bản thân đang nói những gì, cuối cùng đành phải im lặng, không nói được tiếng nào nữa.

Có câu "hữu xạ tự nhiên hương", những người càng có năng lực thì càng ít thế liện bản thân. Cho nên, từ lời nói của một người, chúng ta có thể nhận ra được tính cách của người đó, từ đó xem xét xem có nên kết giao với họ không.
Đuôi mắt trễ xuống dưới tạo thành hình chữ "bát" (A) chứng tỏ người này không thành thật. Khuôn mặt này không chỉ thiếu hài hoà mà còn mang lại cảm giác bất an cho người khác. Xem tướng phụ nữ có khuôn mặt này thường rất ưa sĩ diện, thích che giấu ìhững điểm xấu của mình, tâng bốc bản thân thành người có địa vị để giành được sự tin tưởng của người khác.
EQ hay còn gọi là "chỉ số thông minh cảm xúc", tức là năng lực đánh giá, biểu đạt và điều tiết cảm xúc đông thời vận dụng những thông tin về cảm xúc để dẫn đến tư duy. Những người thành đạt như doanh nhân, chính trị gia thường có chỉ số EQ rất cao.
Những người phụ nữ có ngũ quan xương xẩu thì chỉ số EQ phần lớn không cao rất lý tính trong chuyện tình cảm, có tác phong mạnh mẽ. Mọi người đều không mấy thiện cảm với kiểu người này.
4. Tướng lông mày thưa thớt: bỏ cuộc giữa đường
Lông mày thưa thớt chia làm hai loại. Loại thứ nhất là lông mày rậm nhưng phần đuôi thưa; Loại thứ hai là lông mày rậm nhưng có màu vàng hoe, phần đuôi thưa thớt. Dưới đây sẽ trình bày về hai loại tướng lông mày đó:
- Những người có lông mày thuộc loại thứ nhất sống rất tình cảm, có chí khí, khí hào sảng, có tài năng và rất ngay thầng, tác phong đàng hoàng, kiên cường và mạnh mẽ, nhưng đáng tiếc là chỉ quyết tâm nhất thời chứ không kiên trì.
- Phụ nữ có lông mày như vậy thường vô tình vô nghĩa, tình cảm không ổn định. Hơn nữa, cơ thể, máu huyết không điều hoà.
Tướng miệng rộng khép không chặt chỉ những người khi nói chuyện hoặc ăn uống răng lộ ra bên ngoài, nước bọt bắn ra ngoài, tức là miệng thường không khép chặt.
Xem tướng người như vậy thì thích thể hiện bản thân, thích áp chế người khác, đặc biệt là ở nơi công cộng, thích làm ầm ĩ, rùm beng khắp nơi, hay có những hành động gây sự chú ý của người khác, nói năng phô trương, là chuyên gia nói khoác.
Phụ nữ có khuôn mặt như vậy thường là người ỷ mạnh hiếp yếu, nhỏ mọn, keo kiệt. Gặp chuyện nhỏ thường ra mặt huênh hoang, nhưng gặp chuyện hệ trọng lại thu mình rụt cổ, không dám nói nửa lời. cử chỉ, lời nói không được tự nhiên, không hề có chút phong độ nào.
Những bài tình ca về sự cô đơn đã nói lên tiếng lòng của những người sống độc thân. Thậm chí còn có người sống trong tâm trạng thất vọng trong thời gian dài, cảm thấy mình không thể nào tìm thấy một nửa còn lại. Nguyên nhân dẫn đến cuộc sống độc thân thì rất nhiểu, hoặc là duyên phận chưa tới, hoặc là do chính bản thân không muốn thay đổi. Trên thực tế có phải là như vậy không? Hãy đối chiếu với những khuôn mặt có tướng cô đơn dưới đây mới có thể đoán biết được.
Xem tướng người phụ nữ trên nhân trung nếp nhăn nằm ngang thì số mệnh không tốt nếu lại thêm đường nhân trung mờ nhạt thì người này dễ mắc bệnh về phụ khoa, hoặc đẻ khó. Tính tình của người này cũng không tốt, nóng nảy, làm việc không quyết đoán, nói chuyện không đầu không cuối, nên chuyện tình cảm không được thuận lợi, gần như không có duyên phận với đàn ông nên cuộc sống hôn nhân trong tương lai không hạnh phúc, người chồng phần lớn là vô trách nhiệm, nên không có lòng tin với con người, thậm chí còn có thể kiên trì chủ nghĩa độc thân.
Những người có vành tai lật ngược rất thích vận động, thích thể hiện bản thân. nhưng cũng rất khác người, thích biện luận, thường có ý kiến riêng, hiếu thắng; không giành phần hơn thì chưa chịu bỏ cuộc nên không được mọi người quý mến.
Nếu người đó là phụ nữ thì không tốt cho chuyện tình cảm, bởi họ quá cá tính quá bản lĩnh, quá bảo thủ, khư khư giữ ý kiến riêng mà lại lắm điều, nên nam giới không thích hẹn hò với những phụ nữ như vậy.
Nếu hai con mắt lồi hẳn ra bên ngoài chứng tỏ người này thần kinh có chút không bình thường, thích nói nhiều, nói dai, nói đi nói lại. Những người này làm việt thường không có đầu đuôi, quên trước quên sau, khiến người khác cảm thấy rất khó chịu, phiền hà.
Nét điển hình nhất của người Hy Lạp cổ là chiếc mũi. Mũi kiểu Hy Lạp là chiếc mũi thẳng tắp từ trán đến chóp mũi, sống mũi cao. Nhân tướng học gọi chiếc mũ của người Hy Lạp là mũi tê giác, người có tướng mũi như thế thường có tính cách hiếu chiến, háo thắng, là người theo đuổi chủ nghĩa hoàn mỹ. Những cô gái có chiếc mũi kiểu này thường khó chấp nhận những người chồng bình thường, có yêu cầu rất cao về sự lãng mạn và lịch thiệp, chắc chắn sẽ không tùy tiện và dễ dãi trong việt chọn chồng, chọn người yêu.
Lệ đường khô và lõm xuống chứng tỏ đây là người khô khan, không lãng mạn Ngay cả khi tiếp xúc với người khác giới cũng tỏ ra khô cứng, không gây được thiện cảm. Cho nên, sau này khi kết hôn cũng không được chồng yêu chiều, thường bị lạnh nhạt, phải sống trong tâm trạng buồn phiền.
Tình cảm vợ chồng có ảnh hưởng lớn đến hạnh phúc của người phụ nữ. Có những người phụ nữ luôn than rằng mình số khổ, lấy phải người chổng không tốt. Thực ra, số mệnh chính là tính cách, tư chất được bộc lộ ra bên ngoài qua những đặc trưng của tướng mạo. Những ngưòi mang tính cách ngang ngược hung dữ, hoặc hồ đổ xốc nổi thưởng gặp trắc trở trên đường tình duyên. Những phụ nữ thường xuyên bất mãn với chồng hãy quan sát bản thân xem mình có những đặc trưng tướng mạo như vậy hay không.
Những người phụ nữ có giọng trầm như nam giới thường không có vẻ dịu dàng nữ tính, không gây được thiện cảm với nam giới ngay từ ấn tượng đầu tiên, lại thêm những đặc trưng tính cách như nam tính, cứng cỏi, hiếu thắng, thích tranh cãi đến cùng, không biết thoả hiệp, nhượng bộ, không biết sử dụng những biện pháp trì hoãn để xử lý xung đột hoặc bất đồng ý kiến, mà thường dùng những lời lẽ sắc bén khó nghe để tấn công trực diện. Một đặc trưng tính cách khác nữa là rất cố chấp luôn cho mình là đúng, nếu không bị thuyết phục thì không bao giờ chịu thoả hiệp bởi vậy, khó duy trì được hạnh phúc gia đình.
Tuy nhiên, những người phụ nữ như vậy thường có khí khái của bậc đại trượng phu, nhiệt tình, rộng rãi, khoáng đạt, có bản lĩnh, là điển hình của hình mẫu "nữ siêu nhân". Những người phụ nữ như vậy thực ra rất tài giỏi, nhưng do tài giỏi nên tính cách thành mạnh mẽ, tạo áp lực cho người đàn ông, khiến họ cảm thấy tự ti, không dám làm gì sai sót, không thể tỏ rõ uy thế của người đàn ông nên đàn ông thường không muốn lấy những người phụ nữ như vậy làm vợ.
Thái dương là tiêu chí để đánh giá chuyện tình cảm của một người có thuận lợi hay không. Thái dương lõm xuống chứng tỏ đường tình duyên của người đó không thuận lợi. Chỉ những người có thái dương phẳng, nhẵn thì chuyện tình cảm mới tốt đẹp, hạnh phúc.
Nếu trên thái dương của người phụ nữ có nốt ruồi chứng tỏ người chồng đang ngoại tình, do đó sẽ bị chồng lạnh nhạt, bỏ rơi. Phụ nữ có nốt ruồi tại thái dương bên trái chứng tỏ người này có ham muốn tình dục cao, không chịu an phận, rất dễ ngoại tình. Nếu trên thái dương có vết sẹo hay mụn ruồi màu đen thì người này sau khi kết hôn sẽ có nhân tình, khó có thể chung thuỷ với chồng.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Trong nhà ở, việc bài trí phòng khách đóng vai trò rất quan trọng. Đây là không gian chính và không thể thiếu trong mỗi gia đình. Do vậy, bố trí phòng khách không chỉ cần đẹp mà còn phải hợp phong thủy để kích hoạt tài lộc, may mắn cho chủ nhà.
Việc trang trí cây xanh cho phòng khách không chỉ mang ý nghĩa phong thủy, tăng cao thẩm mỹ mà đa phần các loại cây, hoa đều có công dụng thanh lọc không khí, điều hòa khí hậu cho ngôi nhà. Nhiều loại còn có tác dụng chữa một số bệnh thông thường và xua đuổi được côn trùng có hại cho sức khỏe.
Đôi khi, chỉ là lựa chon và kết hợp hoa cây cảnh với các vật dụng trang trí không hợp lý sẽ tạo nên tác dụng ngược cho bản thân gia chủ và những người chung sống trong không gian ngôi nhà. Không phải tự xưng người xưa có câu: "Bắc trồng ngân hạnh, Nam trồng mai táo, Đông trồng đào liễu, Tây trồng cây du". Mỗi loại cây khác nhau đặt trong phòng khác sẽ kích hoạt may mắn, tài vận, công danh,...ở vị trí tương ứng.

- Phía Bắc: ngọc lan, táo, lê, mẫu đơn, ngân hạnh.
- Phía Nam: đào, mận, hoa hồng, hoa mai.
- Phía Đông: đào, liễu, ngọc lan, anh đào, đinh hương, hoa trà.
- Phía Tây: thiét mộc lan, sung.
Nhìn từ góc độ phong thủy, trồng loại cây như thế nào và trồng ở đâu là một điều vô cùng quan trọng, cần phải có hiểu biết về vấn đề này. Có những loại cây gia đình tuyệt đối nên tránh không trồng trong nhà.
- Cây bách bonsai: Cây bách bốn mùa xanh tốt vốn dĩ phải là loài cây rất may mắn. Thế nhưng loài cây này thường được trồng ở mộ, và vì thế chúng còn có tên gọi là cây nấm mộ. Chính vì lẽ đó nên người ta cho rằng đây là loại cây không tốt lành và cần kiêng trồng trong nhà.

- Cây đa bonsai: Gốc rễ cây đa thường to và thô nên trong phong thủy bị coi là mất cân bằng cho ngôi nhà. Đặc biệt, phòng khách thuộc thổ nên cần tránh loại cây này ảnh hưởng. Hơn thế nữa, cây đa cũng thường được trồng ở đền thờ miếu mạo nên không thích hợp trồng trong gia đình.
Bài viết của Phong Nguyên
Ai mới học tử vi cũng có một thắc mắc chung là tiểu hạn cứ 12 năm lại trùng với nhau nghĩa là trở lại cung cũ, như thế làm sao có thể tìm ra được những dị biệt giữa các tiểu hạn trùng nhau, đành rằng ai cũng biết là phải căn cứ vào gốc đại hạn và các sao lưu động cùng một vài yếu tố thay đổi từng năm, nhưng phải phối hợp cách nào để tìm ra được những yếu tố khác nhau mới là khó khăn, rắc rối. Vì vậy, trong bài hôm nay, tôi thử đưa ra một số nhận xét để giúp quý bạn có một khái niệm về việc luận đoán tiểu hạn mà theo tôi là phần khó khăn nhất, và trước đây tôi đã đề cập tới một cách khái quát rồi.
Gốc đại hạn
Yếu tố làm cho các tiểu hạn trung nhau thành ra khác biệt nhiều là do gốc đại hạn thay đổi, vì khi đoán tiểu hạn điều tiên quyết là phải xét đến đại hạn lúc đó được coi như là một cung Mệnh thứ hai di động có ảnh hưởng mạnh mẽ và rõ rệt cho tiểu hạn, nhưng ta vẫn không thể quên lãng cung Mệnh khi giải đoán. Để cho được linh động và bớt khô khan tôi tránh việc nêu ra các nguyên tắc và chỉ nêu ra dưới đây nhiều thí dụ điển hình:
- Nếu đại hạn có Liêm Tham hãm địa (tại Tỵ, Hợi) mà tiểu hạn có Địa không, Địa kiếp, Thiên không thì sự nghiệm hoạnh phát, nhất là khi được Địa không, Địa kiếp đắc địa (Dần, Thân, Tỵ, Hợi) chỉ vì Liêm Tham hãm địa rất cần gặp Không (chính trong cuốn Tử vi đẩu số Tân biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang cũng có nêu ra điểm này khi bàn đến bộ Sát Phá Liêm Tham hãm tại cung Quan lộc mà quý bạn vô tình không biết áp dụng cho cả đại tiểu hạn). Cũng trong trường hợp tiểu hạn trên, nếu gặp Đại hạn có Thiên Phủ hoặc Tử vi thì thực đáng buồn chỉ chờ ngày khuynh gia bại sản hoặc mất chức…nhất là khi có thêm Tuần, Triệt án ngữ (là yếu tố làm lợi thêm cho Liêm Tham hãm), vì Tử Phủ sợ nhất gặp Không Vong và Tuần, Triệt. Ngoài ra, ta vẫn phải xét đến Mệnh nữa, vì khi đại tiểu hạn tương hợp với nhau rồi nếu được thêm Mệnh hỗ trợ thêm mới đáng gọi là hanh thông thuận lợi, còn ngược lại vẫn giảm đi nhiều. Tỷ dụ như Mệnh có Vũ Sát tại Mão mà gặp được đại hạn Liêm Tham hãm và tiểu hạn Không Kiếp, Thiên không như trên thì còn gì hay bằng vì tất cả nhóm sao đó tương trợ lẫn nhau chặt chẽ. Còn trường hợp Mệnh có Thiên Phủ (tức là Mệnh ở Dậu) với đại tiểu hạn như trên thì chưa thể hanh thông được hoặc nếu có phát lên mạnh thì đương số cũng đau khổ, bực dọc trong tâm hồn vì nằm trong môi trường trái ngược với tư thế của mình, không khác gì một ông quan tòa mà phải đứng đầu một đảng cướp hoặc một nhóm buôn lậu quốc tế, như thế càng thành công càng thấy lương tâm cắn rứt, mặc dầu bề ngoài thật là thịnh vượng và có uy tín.
Khi Đại hạn có Nhật Nguyệt miếu vượng tại Mão và Hợi mà gặp tiểu hạn có Thiên Không, Thiên Hư và cung nhập hạn lại vô chính diệu thời tiền tài và công danh rất ngon lành, vì Nhật Nguyệt rất ưa cung vô chính diệu để rọi chiếu vào cho sáng sủa nhất là có thêm Thiên Không quét sạch mây mù và có Thiên Hư làm cho bầu trời thăm thẳm thực là đẹp biết bao! Ngay cả khi có Tuần, Triệt án ngữ cũng vẫn hanh thông vì Nhật Nguyệt khi chiếu gián tiếp (tức là ở đại hạn ảnh hưởng cho tiểu hạn) không hề sợ Tuần, Triệt mà có khi còn nhờ hai sao nầy làm tăng sự tốt đẹp cho cung vô chính diệu nhập tiểu hạn nữa. Ngoài ra, dù có thêm Không, Kiếp (bất luận miếu vượng hay hãm) nhập hạn cũng phát đạt như thường vì Không Kiếp không hại gì cho Nhật, Nguyệt. Nhưng với tiểu hạn như trên, nếu đại hạn gặp Thiên Phủ hội Song Lộc thì kết quả ngược hẳn lại, không lụn bại thì cũng không làm sao phát đạt nổi. Gặp trường hợp như thế nhiều người mới học tử vi hẳn phải thắc mắc không hiểu tại sao tiểu hạn trước mình phát mạnh mẽ mà tiểu hạn sau cũng vào cung đó lại xuống đến đất đen, nhất là cứ yên trí đại hạn có Thiên Phủ hội Song Lộc thì tiền để đâu cho hết…Bây giờ ta lại phải xét đến Mệnh xem có gì mâu thuẫn hoặc thuận lợi cho đại tiểu hạn hay không: nếu trường hợp đầu (tức là đại hạn Nhật Nguyệt và tiểu hạn Thiên không, Thiên Hưu và cung nhập hạn vô chính diệu) mà được cung Mệnh cũng vô chính diệu hoặc có Phá quân cư Thân) thì năm đó rất thuận lợi, vì Phá quân rơi vào hạn có những sao trên không có gì trái ngược, cũng ví như một người liều lĩnh, thủ đoạn dữ dằn gặp được môi trường làm ăn bất chính (như buôn lậu) thì dễ thành công rực rỡ. Nếu Mệnh có Cơ, Lương hoặc Tử, Phủ thì tuy hợp với Đại hạn Nhật, Nguyệt nhưng lại kỵ tiểu hạn Không Vong, Không Kiếp, Tuần, Triệt cho nên năm đó cũng khó thành công.
- Nếu đại hạn có Xương, Khúc, Khôi Việt, Quan Phúc, Hóa Khoa, mà tiểu hạn lại gặp Hỏa Linh, Không Kiếp, Tuần, Triệt, Hóa Kỵ, Kình, Đà là ta đã thấy ngay sự mâu thuẫn, trái ngược giữa hai nhóm sao đó vì một bên toàn là sao chủ về văn học, tư cách thông minh, một bên chủ về dữ dằn, phá hoại, ngăn trở, lao động về chân tay, như thế làm sao có thể hanh thông được. Riêng trường hợp này, rất cần phối hợp với Mệnh. Nếu Mệnh có Liêm Tham hãm địa hoặc có Vũ Sát hay Cơ Lương (nhưng 2 cặp sao sau không thuận lợi bằng Liêm Tham vì chúng rất sợ Tuần Triệt) thì năm đó không đáng ngại, cũng ví như người thợ máy tới lúc được bổ túc thêm phần kỹ thuật của mình (tỷ dụ như học thêm một khóa chuyên môn nào đó).
Còn trường hợp Mệnh có Thiên Tướng, Thiên Lương…thì tuy rất hợp với đại hạn đó nhưng tiểu hạn hoàn toàn bất lợi, nếu có đi thi tất rớt, có mưu cầu chức phận gì cũng bị cản trở. Do đó, nếu Mệnh và tiểu hạn tương hợp với nhau rồi phải có Đại hạn làm trung gian kết hợp mới tốt đẹp, cũng ví như người mai mối giữa hai họ nhà trai và nhà gái nếu thân thiết với cả hai bên thì người đó sẽ cố tác thành cho cặp trai gái, còn trường hợp không ưa một bên nào là thế nào cũng gây mâu thuẫn. Xem như vậy quý bạn thấy đoán tiểu hạn quả thực rất uyển chuyển vì phải kết hợp quá nhiều yếu tố.
Qua những thí dụ nêu trên, quý bạn hẳn đã có một khái niệm về sự khác biệt giữa các tiểu hạn trùng nhau (cùng một cung). Đây mới chỉ căn cứ vào gốc đại hạn chứ chưa xét tới những yếu tố thay đổi khác, mà tôi xin nêu ra dưới đây:
Các sao Lưu niên (hoặc Phi tinh)
Nếu muốn giải đoán tinh vi về tiểu hạn hơn, ta cần căn cứ vào các sao lưu niên mà một số nhà tử vi quen gọi là phi tinh là các sao không thể an sẵn trên lá số nhưng cứ mỗi năm ta cần ghi thêm bằng bút chì trên lá số nếu muốn đoán kỹ lưỡng thêm, để biết những điểm dị biệt giữa các tiểu hạn trùng nhau. Các phi tinh thông thường là Lộc tồn, Kình Đà, Thái tuế, Thiên Mã, Khốc Hư, Tang Hổ, Khôi Việt mà cách an có ghi trong nhiều sách tử vi nên tôi không nêu ra đây nữa. Nhiều nhà tử vi khi an Lưu Thái Tuế hoặc Lưu Lộc Tồn thường an luôn cả các sao khác thuộc chùm đó, nhưng theo tôi nghĩ thì chỉ cần xét đến các phi tinh nêu trên, cũng đủ vì những sao còn lại không giúp được nhiều cho việc giải đoán mà còn có khi làm ta phân vân không biết đi tới kết luận nào. Ngoài ra, trong các phi tinh kể trên, Lưu Thái Tuế cần được chú trong nhiều nhất vì nó luôn luôn tọa thủ tại cung của năm nhập hạn (tức là địa bàn, còn lưu tiểu hạn là thiên bàn).
Tôi lại cũng xin nêu ra nhiều thí dụ điển hình dưới đây chứ không thể nêu ra nguyên tắc giải đoán được:
- Khi đại hạn có Cự môn hãm địa hội Phục binh, Tuế phá, tiểu hạn lại có Cô Quả, Tang Hổ, Kình Đà, Hỏa Linh, Thái tuế mà Lưu Thái tuế lại gặp Thiên Hình, Hóa Kỵ, Kình hoặc Đà lưu niên (nhất là Kình hãm địa) thời ta có thể quyết đoán là đương số bị tù tội hoặc bị đánh đập khá nặng, nếu không cũng phải đau yếu nguy nạn. Nếu lưu Thái tuế không gặp Kình hoặc Đà, tức là Lưu Lộc tồn chạy sang cung khác, thì bao nhiêu sự nguy nan cũng chỉ còn một phút. Do đó quý bạn thấy mỗi 12 năm là Lộc tồn lưu niên lại thay đổi vị trí, kéo theo Kình Đà luôn chứ không thể nào cho rằng địa bàn nhập hạn luôn luôn giống nhau mỗi 12 năm.
- Nếu đại hạn có Hóa Khoa, Quang Quý (Sửu Mùi), tiểu hạn có Xương Khúc, Khôi Việt mà Lưu Thái Tuế lại gặp phi tinh Khôi Việt Hồng Hỉ thì thuận lợi nhất về công danh, đi thi chắc chắn phải đậu, nhất là khi thấy Mệnh có Thiên Lương, Thiên Tướng đắc địa hội Tả Hữu, Quyền Lộc nữa. Nhiều khi tiểu hạn hơi xấu mà Lưu Thái Tuế hội nhiều sao tốt đẹp vẫn được hanh thông, tuy vẫn có trở ngại lúc đầu, tỷ dụ như thi đậu kỳ nhì, hoặc buôn bán thua lỗ đầu năm nhưng giữa năm trở đi lại phát tài.
- Về phương diện Lưu Thiên Mã, nhiều nhà Tử vi cho rằng những người nào Mệnh, hoặc Thiên Di hay “Thân” cư tại Dần Thân Tỵ Hợi hay phải di chuyển, xuất dương, xuất xứ vì Thiên Mã cố định luôn luôn ở 4 cung đó và cả Thiên Mã lưu niên cũng vậy. Còn đối với những người khác, nhất là những người có cách làm việc cố định không bao giờ quý bạn nên đoán là họ sẽ thay đổi công việc mỗi khi gặp Lưu Thiên Mã vì cứ vài năm thế nào chẳng gặp trực tiếp hoặc gián tiếp Lưu Thiên Mã hoặc Thiên Mã cố định. Đối với những người này phải có thật nhiều yếu tố thay đổi mới có thể đoán được, tỷ dụ như đại hạn có Thiên Đồng, Thiên không rồi tiểu hạn có Mã cố định gặp Lưu Thiên Mã, mà lại phải chiếu về cung thuộc về mình, tức là Mệnh, Quan lộc, Tài bạch, Thiên Di, “Thân” chứ nếu chiếu về Phụ Mẫu, Tử tức thì cũng vẫn chưa thể quả quyết được. Ngoài ra, còn cần 2 đại hạn liền nhau thật khác nhau, để cho có sự thay đổi mạnh mẽ mỗi khi chuyển đại hạn.
Sau hết, ngoài các phi tinh kể trên, ta còn cần chú trọng đến Lưu Tuần, Triệt mà ít sách đề cập tới mặc dầu rất quan trọng (Cách an 2 sao lưu động này cũng như cách thông thường, tỷ dụ như năm nay Giáp Dần thì Tuần ở Tý Sửu và Triệt ở Thân Dậu). Thực thế, nhiều khi Lưu Tuần, Triệt còn ảnh hưởng mạnh mẽ hơn Tuần Triệt cố định, nếu luận đoán về tiểu hạn. Tỷ dụ như cung nhập hạn có Tử Phủ cư Thân hội nhiều sao tốt đẹp và hợp với đại hạn cũng như Mệnh nhưng vẫn không thấy hanh thông, đó cũng chỉ vì Lưu Tuần hoặc Lưu Triệt đã án ngữ làm mất gần hết cách tốt đẹp đó đi. Nhưng gặp trường hợp hạn quá xấu nếu may mắn được Lưu Tuần, Triệt án ngữ thời vẫn có thể chắc qua khỏi được. Như vậy quý bạn thấy mỗi tiểu hạn trùng nhau đã có khá nhiều yếu tố khác nhau.
Thời gian
Sau hết, ta cần phải lưu ý đến yếu tố thời gian tuy không có tính cách lý thuyết về tử vi, nhưng nhiều khi ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc giải đoán. Tỷ dụ như:
- Hai sao Tả Hữu thường thường chỉ ứng nghiệm trong thời đương số còn trẻ vì có trẻ mới hăng say hoạt động cho phù hợp với đặc tính của Tả Hữu, chứ khi đã lớn tuổi dù có muốn tích cực chăng nữa Tả Hữu cũng “già nua” rồi khó lòng giúp cho đương số được phong độ như trước. Về sao Đào Hồng cũng tương tự như vậy, nếu nằm trong những đại hạn ta còn thanh niên mới đúng môi trường chứ từ 60 tuổi trở đi 2 sao đó không những không giúp ích gì lại còn làm cho ta yếu đuối thêm và có khi đưa đến tận số. Còn sao Triệt thì từ năm 30 tuổi trở đi cũng bớt hẳn ảnh hưởng đi, nếu cung nhập hạn từ 30 năm trở về trước đang tốt trở thành xấu vì Triệt án ngữ thì từ 30 năm trở về sau phải đoán là tốt nếu gặp sao đó nữa.
- Về các hung tinh (như Kình Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp) nói chung thường hay hoạt động sớm nếu ở Đại hạn thì hay ứng vào mấy năm đầu và ở tiểu hạn ứng vào đầu năm, nhất là khi gặp chính tinh có ảnh hưởng sớm (tức là bắc đẩu tinh). Hoặc có khi trong đại hạn còn trẻ bị hung tinh này quấy phá nhưng đến đại hạn cách đó mấy chục năm sau cũng gặp hung tinh đó sự phá hoại lại quá nhẹ.
Qua các thí dụ trên, quý bạn hẳn nhận thấy việc đặt ra nguyên tắc hoặc hệ thống để giải đoán tiểu hạn rất khó thực hiện vì có quá nhiều yếu tố kết hợp không giống nhau và để kết luận tôi chỉ xin nhắc quý bạn là sự tốt xấu của tiểu hạn không phải hoàn toàn do đặc tính tốt xấu của các sao nhập hạn mà do sự tương hợp giữa tiểu hạn, đại hạn và Mệnh Thân.
KHHB số 74E2
![]() |
| ► Mời các bạn xem hướng nhà theo tuổi để không phạm phải đại kị |
Văn hóa Á Đông thấm nhuần qua hàng trăm, hàng nghìn năm khiến hầu hết các gia đình Việt luôn mặc định: Mộ phần gia tiên có yên ổn, con cháu mới mong khỏe mạnh, phát đạt.
Thời gian qua, chuyên mục Phong thủy Đông – Tây tiếp tục nhận được hàng trăm câu hỏi của quý độc giả, liên quan đến việc chọn đất, đặt mộ cho người thân đúng phong thủy. Hầu mong đáp ứng một phần thắc mắc đó, số báo này, chuyên mục đã tham vấn các chuyên gia phong thủy về những kiến thức tổng quan trong lĩnh vực rất được quan tâm này.
Đặt mộ đúng phong thủy rất quan trọng với người Việt (ảnh minh họa)
Tìm “long mạch” hạ huyệt ở đâu?
Trong đời sống tâm linh của người Việt, mồ mả gia tiên luôn là phạm trù hết sức linh thiêng. Văn hóa Á Đông thấm nhuần qua hàng trăm, hàng nghìn năm khiến hầu hết các gia đình Việt luôn mặc định: Mộ phần gia tiên có yên ổn, con cháu mới mong khỏe mạnh, phát đạt.
Hiện nay, khi kinh tế ngày càng phát triển, điều kiện vật chất dư dả hơn thì quan niệm này càng được coi trọng hơn. Với không ít gia đình quan tâm đến vấn đề phong thủy, chọn đất đặt mộ thậm chí được xem là một việc tối quan trọng. Nó không những ảnh hưởng tới sự siêu thoát, vong linh của người mất mà còn tác động không nhỏ tới cuộc sống của người ở lại. Do đó, khi tìm đất đặt mộ cho người thân, các gia đình đều phải cẩn thận chọn lựa, tìm thầy phong thủy để tránh phạm kỵ.
Theo chuyên gia phong thủy Nguyễn Quang Minh, “an táng phải dựa vào sinh khí”. Điều này có nghĩa là phải an táng người đã khuất vào mảnh đất có sinh khí. Mảnh đất tụ được sinh khí thì ấm, không thì sẽ lạnh. Nếu chọn được đất mà hội tụ tất cả các yếu tố của nơi đặt huyệt cát sẽ mang lại sự thịnh vượng, bình an cho gia đình.
Đầu tiên, cần phải lựa chọn mảnh đất “mạch núi có sinh khí lưu động”. Đất là hữu hình, sinh khí (long mạch) trong đất là vô hình. Dù thế, một thầy phong thủy giỏi thì khi nhìn vào hình thế của gò đất có thể nhận biết được đất có sinh khí hay không. Cổ nhân có câu: “Long mạch thật thì huyệt thật, long mạch giả thì huyệt giả”. Nếu nơi đó hơi lồi như mu con rùa, đầy đặn, cỏ cây tươi tốt thì nên chọn đặt mộ. Gia chủ và con cháu sẽ phú quý, phát đạt.
Tiếp đến, phải chú ý màu sắc đất. Sẽ rất tốt cho đặt mộ nếu đất ở dưới mịn, có màu ngũ sắc, màu hồng vàng, màu son đậm, hồng có vân. Đất này gọi là “Thái cực biên huân”. Sau đó, nơi đặt mộ phải có “Sa bao”. Sa bao tức là nơi đất đó được núi bao bọc. Núi bao bọc thì khí tụ, tụ được sinh khí, không làm tản sinh khí. Đất cao thì đồi núi ôm lấy mà không bị khuyết, như vậy là đất lành.
Đặc biệt, đất để an táng cần được “Thủy bọc”. Thủy ở đây là dòng nước, hồ ao, sông suối hoặc biển cả.Thủy là nguồn gốc tiền tài, là ngoại khí của sinh khí.Huyệt mộ nằm trên đồi được các dòng nước chảy dưới chân bao bao được xem là huyệt quý. Sinh thủy thì sẽ vượng. Kinh táng có câu: “Phép trong phong thủy, được thủy là thứ nhất, tàng phong là thứ hai”.
Những ngày, giờ đại kỵ hạ huyệt
Huyệt cát, huyệt hung còn do chọn giờ, ngày, tháng và năm hạ huyệt. Sách Tuyết Tâm Phú viết: “Tuy là huyệt cát vẫn kỵ táng hung”.Chính vì vậy, chọn giờ hạ huyệt vô cùng quan trọng. Căn cứ vào phép sinh khắc Ngũ hành để đặt hướng mộ, cần chọn giờ, ngày, tháng, năm phù hợp để tránh hung phùng cát:
– Tọa Đông (thuộc Mộc): mộ nhìn hướng Tây
Đại kỵ động thổ, hạ huyệt giờ, ngày, tháng, năm Tỵ, Dậu, Sửu (tam hợp Kim cục).
– Tọa Tây (thuộc Kim): mộ nhìn hướng Đông
Đại kỵ động thổ, hạ huyệt giờ, ngày, tháng, năm Hợi, Mão, Mùi (tam hợp Mộc cục).
– Tọa Nam (thuộc Hỏa): mộ nhìn hướng Bắc
Đại kỵ động thổ, hạ huyệt giờ, ngày, tháng, năm Thân, Tý, Thìn (tam hợp Thủy cục).
– Tọa Bắc (thuộc Thủy): mộ nhìn hướng Nam
Đại kỵ động thổ, hạ huyệt giờ, ngày, tháng, năm Dần, Ngọ, Tuất (tam hợp Hỏa cục).
Bất kể huyệt mộ đặt như thế nào chỉ cần chọn ngày Hoàng đạo thì gặp hung hóa cát. Các ngày có sao: Thái Tuế, Tuế Phá, Kiếp Sát, Diệt Sát, Tuế Sát, Ngũ Hoàng, Nguyệt Kiến, Nguyệt Phá, Nguyệt Yếm, Tứ Tuyệt, Tứ Ly thì tuyệt đối không được động thổ, an táng.
Gia đình khi chôn cất người thân nên thật chu đáo trong việc chọn ngày giờ. Tất cả phải được làm từ cái tâm của người con đạo hiếu. Có như thế, những việc làm đó mới mang được phước lành về cho gia đình, còn tổ tiên được mỉm cười nơi chín suối.
Ở các vùng nghĩa trang nơi quy tập nhiều mộ, thường bị tình trạng quá tải về diện tích, các mộ chen lấn nhau. Tránh huyệt bị các mộ xung quanh lấn chiếm, hoặc nằm án ngữ ngay trước phần mộ, hoặc đâm xuyên vào 2 bên cạnh mộ. Nếu chọn được huyệt phía trước rộng thoáng, lại nhìn ra ao hồ hay sông suối là đắc cách (tốt). Trường hợp đất đai quá hiếm không chọn được huyệt có phía trước thoáng rộng thì tối thiểu cũng phải có một khoảng đất trống nằm ngay phía trước huyệt mộ. Quan sát cẩn thận hệ thống đường đi xung quanh huyệt. Nếu huyệt có đường đi đâm thẳng vào giữa hoặc đâm xuyên sang hai bên thì gia chủ bị bại không thể dùng. Đường đi sát ngay phía sau huyệt cũng tối kỵ chủ tổn hại nhân đinh. Tốt nhất chọn huyệt nơi yên tĩnh xa cách với đường đi lối lại quanh khu vực mộ.
![]() |
![]() |
Đây là điển cố thứ Ba sáu trong quẻ Quan Thế Âm, mang tên Tương Tử Ngộ Tân (còn gọi là Hàn Tương Tử Gặp Lã Động Tân). Quẻ Quan Thế Âm Tương Tử Ngộ Tân có bắt nguồn như sau:
Hàn Tương Tử là một thư sinh phong lưu tuấn tú trong Bát tiên của Đạo giáo. Có thuyết cho rằng, Hàn Tương Tử là do con rồng vàng do vợ của vua Vũ là Nữ Anh sinh ra biến hóa thành. Đầu tiên, rồng vàng là một con trùng nhỏ, để tránh bị Nga Hoàng truy sát, đã trốn vào trong ống trúc rỗng ruột, sau đó rồng vàng tu luyện thành tiên trong động Hoàng Long ở núi Lao Sơn, hóa thành Hàn Tương Tử. Có một thuyết cho rằng, Hàn Tương Tử là cháu của nhà văn học nối tiếng đời Đường Hàn Dũ, các tác phẩm như “Thái Bình quảng ký” hay “Tiên truyện thập di” đều có nhắc đến ông. Thuyết này sở đĩ cho rằng Hàn Tương Tử là cháu của Hàn Dũ, bởi vì trong lịch sử Hàn Dũ đúng là có một người cháu tên là Hàn Tương Tử, từng làm quan đến chức Đại Lý thừa.
Truyền thuyết Hàn Tương Tử thành tiên xuất hiện sớm nhất trong tác phẩm “Dậu Dương tợp trở” của Đoạn Thành Thức đời Đường. Trong sách nói rằng, Hàn Dũ có một người cháu họ xa trẻ tuổi, họ Hàn tên Tương Tử, tự là Thanh Phu, tính tình phóng đãng không chịu bó buộc, không thích đọc sách, chỉ thích uống rượu. Tương truyền người này học đạo thành tiên, năm hai mươi mốt tuổi đến Lạc Dương thăm người nhà, rồi ham thích núi sông mà một đi không trở lại, nhiều năm bặt vô âm tín. Vào niên hiệu Nguyên Hòa đời Đường (805 – 820), lại đột nhiên quay về Trường An, quần áo cũ rách, hành vi khác thường. Hàn Dd cho anh ta vào thư viện học cùng với những thư sinh khác, nhưng khi thảo luận thì anh không nói một lời. Anh thích cùng với những người thấp hèn đánh bạc, uống say rồi ngủ trong chuồng ngựa, khi đã ngủ thì ngủ từ ba đến năm ngày. Điều đó khiến cho Hàn Dũ hết sức lo lắng, thường hay trách móc rồi khuyên bảo: “Mỗi người đều có một sở trường, đến như kẻ tiểu thương cũng có một chút sở trường, ngươi phá phách như vậy, thì sau này có thể làm được gì đây?” Hàn Tương nói: “Cháu cũng có một tài nghệ đấy, chỉ là chú không biết thôi!” Hàn Dũ hỏi: “Thế ngươi có thể làm gì?” Lúc này đang vào đầu mùa đông, thời tiết lạnh giá, cây cối lụi tàn. Hàn Tương Tử nói: “Hiện giờ có thể hạ lệnh cho mẫu đơn nở hoa, hoa nở có nhiều màu sắc”, rồi góp chậu đố đất, trong chốc lát mẫu đơn đua nở, khiến Hàn Dũ hết sức kỉnh ngạc.
Theo các tác phẩm “Hàn Tương Tử dẫn độ thăng tiên hội” và “Hàn thoái chi tuyết ủng Lam Quan ký” thời Nguyên, câu chuyện Hàn Tương Tử đắc đạo thành tiên đã mang sắc thái thần thoại rõ ràng:
Hàn Tương Tử vốn là một con hạc trắng ở phía trước chỗ ngồi của Đông Hoa Công và Tây Thành Công trong động Hoàng Lão ở phía tây núi Tân Long, thuộc cánh đồng Thương Ngô, vì thường nghe các vị thần tiên giảng đạo mà lĩnh hội được, chỉ vì bản thân là chim, cho nên không được lên cùng hàng với tiên. Sau đó, Lã Động Tân dạy cho Tương Tử (khi đang là chim) cách biến đối thành loài người trước, trút bỏ lông mao trên người. Con chim hạc trắng này liền đầu thai vào nhà họ Hàn ở huyện Mạnh, Hà Nam, sau khi sinh ra được đặt tên là Hàn Tương. Hàn Tương mất cha mẹ từ nhỏ, được người chú họ Hàn Dũ đem về nuôi dưỡng thành người, hy vọng anh ta có thể dốc lòng theo Nho học. Lã Động Tân đối tên là “Quan Vô Thượng” đi truyền đạo, giác ngộ Hàn Tương, khiến cho Hàn Tương nhanh chóng thành tiên, gọi là “Dao Hoa Đế Quân”, được xếp vào hàng ngũ thần tiên.
Trong dân gian còn có một thuyết khác: Tương truyền thừa tướng An Phủ đời Hán có một người con gái, tên là Linh Linh, tài mạo song toàn, đã hứa gả cho Hàn Tương. Nhưng hoàng đế nhà Hán lại muốn gả cô cho người cháu trong hoàng thất của mình, An Phủ kiên quyết không đồng ý. Hoàng đế nhà Hán rất tức giận, bãi quan Hàn Tương, bắt sung quân, Linh Linh buồn rầu mà chết, Hàn Tương đầu thai thành con chim hạc trắng. Hạc trắng được Lã Động Tân giáo hóa, lại đầu thai đến huyện Xương Lê, trở thành con trai của Hàn Hội, tên là Tương Tử. Hàn Tương Tử mất cha khi còn nhỏ, được người chú là Hàn Dũ nuôi dưỡng. Sau khi lớn lên lại được hai vị tiên Chung Ly Quyền và Lã Động Tân truyền cho thuật tu hành. Hàn Dũ nhất quyết phản đối việc Hàn Tương tu đạo, thường răn dạy anh ta. Hàn Tương vì thế mà xuất gia, ẩn cư tu đạo ờ núi Chung Nam, sau tu thành chính quả, được liệt vào hàng Bát tiên.
Quẻ Quan Thế Âm Tương Tử Ngộ Tân là quẻ thẻ Trung Bình trong quẻ thẻ quan âm, là quẻ số 36 !
Quẻ này là tượng con khỉ thoát khỏi giam cầm.
Những việc mong cầu trước khó sau dễ.
Thần sát có vai trò nhất định trong việc dự đoán cát - hung theo tứ trụ. Thần sát có cát thần và hung thần. Khi trong tổ hợp tứ trụ có sự kết hợp của các thần sát khác nhau thì tính chất cát - hung của mỗi thần sát có thể thay đổi. Đối với các thần sát thường dùng trong dự đoán tứ trụ, có thần sát dùng để đoán sự việc, có thần sát dùng để bàn về tính cách của con người hay nghề nghiệp...
Cách tra thần sát thường lấy địa chi làm căn cứ (ví dụ như Thiên Đức, Nguyệt Đức, Thiên Tướng, Thiên Mã), một số thần sát lại dựa vào thiên can làm căn cứ (ví dụ như Thiên Ất, Lộc Tồn).
|
| Chữ "Phúc" |
Một số thần sát thường dùng để dự đoán trong tứ trụ
1. Thiên Đức quý nhân
2. Nguyệt Đức quý nhân
3. Thiên Ất quý nhân
4. Lộc Tồn
5. Văn Xương
6. Hoa Cái
7. Thiên Tướng
8. Thiên Mã
9. Kim Dư
10. Thiên Y
11. Kình Dương
12. Đào Hoa
13. Kiếp Sát
14. Thiên La, Địa Võng.
(Theo Dự đoán theo tứ trụ)
Sở dĩ bài đầu tiên của tôi bàn về tướng mạo vì một lý do giản dị : Hồi tôi mới lập gia đình tôi có đi coi một thầy Tử vi ở Sài gòn. Khi đoán đến cung Thê của tôi, thầy đó tả hình dáng của vợ tôi đúng y như thầy ta thấy vợ tôi trước mặt (lẽ dĩ nhiên hôm đó tôi đi một mình). Vì vậy tôi lấy làm thích thú quá và từ đó hết sức lưu tâm vấn đề tướng mạo qua Tử vi. Bây giờ xin quý vị đọc qua những điều tôi ghi chú và chiêm nghiệm được. Đương nhiên những điều này rất sơ đẳng và không chính xác hoàn toàn được vì ai đã học Tử vi đều hiểu rằng khoa học này rất linh động và uyển chuyển.
Tử Vi cư Tý
Tôi cần nói một điểm chung với các bạn mới học Tử vi (vì những bạn đã khá đương nhiên phải biết) là theo cách bố cục của các chính tinh thì khi Tử Vi cư Tý bao giờ cũng độc thủ, nghĩa là không có chính tinh khác nào đồng cung, cho nên khi thấy Phá Quân, Tử Vi cư Tý chẳng hạn là hiểu ngay an sao sai, vì Tử Vi, Phá Quân chỉ đồng cung ở Sửu hoặc Mùi. Đối với các cung khác dưới đây cũng phải theo định lệ tương tự, bây giờ tôi xin nói đến tướng mạo.
Người nào có Tử Vi cư Tý người tầm thước, không mập, nước da không trắng và cũng không hồng hào mặc dù có câu : « Tử Vi mặt đỏ lưng dầy». Trừ phi có Thiên Khôi, Hồng, Đào, Xương, Khúc thì người đó mới cao lên hơn một chút và nước da khá trắng trẻo, nhưng vẫn khó hồng hào chứ chưa nói là đỏ được. Tử Vi ở cung Tý tuy không hãm địa (vì theo các sách thì không có trường hợp hãm địa với Tử Vi mà chỉ có bình hoà) nhưng Thổ cư Thuỷ thì không thể nào phát triển đúng khả năng, đặc tính. Còn như trường hợp mạng mình khắc Tử Vi (ví dụ mạng Thuỷ) thì tướng mạo khách hẳn vì lúc đó mình sẽ chịu ảnh hưởng của sao xung chiếu (là Tham Lang thuộc Thuỷ - Tôi không cho là Mộc như một vài sách có nêu ra) và sẽ hơi cao dù không có Khôi và trắng trẻo dù không có Hồng, Đào…
Tử Vi cư Sửu
Nói đến đây tôi chợt nhớ chưa nói với quý bạn là tôi không nêu miếu, vượng vì tôi nêu ra cả 12 cung để các bạn khỏi phải cân nhắc ngũ hành của sao với cung, tuy vậy khi nào thấy cần tôi cũng bàn sơ qua.
Tử Vi cư Sửu bao giờ cũng đồng cung với Phá Quân, nếu hợp với mạng (Thổ, Kim hoặc Hoả) thì tạm cho là ứng với lưng dầy nhưng mặt vẫn chưa thể hồng hào và vẫn thấp. Tuy vậy chưa thể mập nhiều vì Phá Quân thuộc Thuỷ đã làm hao mòn chất Thổ của Tử Vi mặc dù Tử Vi ở Sửu là Thổ cũng đã gặp môi trường thuận lợi để phát triển khả năng, đặc tính. Trường hợp gặp mạng Thuỷ hoặc Mộc thì Phá Quân sẽ ảnh hưởng mạnh tới mạng, nhất là có thêm Thiên Tướng xung chiếu (theo cách bố cục đương nhiên) cũng thuộc Thuỷ lại càng làm cho người đó có tầm vóc cao hơn nhiều, nhưng cũng không thể gọi là cao lắm được vì dù sao Phá Quân cũng vẫn phải « kiêng nể » Tử Vi một tí. Tuy nhiên nếu có thêm Thiên Khôi, Tướng, Ấn, Hoá Quyền thì Tử Vi hết có uy nữa và người đó có thể cao được.
Tử Vi cư Dần
Khi Tử Vi cư Dần bao giờ cũng có Thiên Phủ đồng cung. Đối với người mạng Thổ hay Hoả thì 2 sao Tử Phủ hoàn toàn ảnh hưởng tới tướng mạo, tức là người đó hơi thấp, người thanh tú vì tuy Tử Phủ đắc cách ở Dần, Thân nhưng vì cũng Dần thuộc Mộc nên vẫn có sự trở ngại cho Thổ, do đó không thể mập được, nhất là lại có Thất Sát ở cung Thân xung chiếu làm cho gầy ốm bớt đi. Nhưng dù sao cũng được dáng bộ chững chạc, quý phái, vẻ mặt phúc hậu, đầy đặn dù cho người không mập, nước da không trắng mấy trừ phi có Đào, Hồng, Quang, Phúc thì đỡ hơn. Đối với người mệnh Kim, tuy cũng chịu ảnh hưởng mạnh của Tử Phủ (vì Thổ sinh Kim) nhưng đồng thời hợp với Thất Sát khá nhiều cho nên lại càng không thể mập và trắng được. Riêng đối với người mạng Mộc thì lại phải tìm các trung tinh tại mạng xem sao nào hợp để giải đoán tướng mạo vì Tử Phủ thuộc Thổ không hợp với Mộc và chính sao Thất Sát cũng khắc với mạng Mộc (còn Liêm Tướng ở Ngọ và Vũ Khúc ở Tuất tam hợp chiếu không gây ảnh hướng gì về phương diện tướng mạo theo kinh nghiệm của riêng tôi). Trường hợp này thí dụ mạng có Địa Kiếp, Kiếp Sát, Đà la, Hoả Linh thì thực gầy đét như con cá mắm và mất hết phúc hậu, quý phái. Bởi vậy thấy Tử Phủ Dần, Thân đừng mừng vội.
Tử Vi cư Mão
Tử Vi cư Mão bao giờ cũng có Tham Lang đồng cung, riêng trong trường hợp này tôi nghiệm thấy có thể hoàn toàn dùng câu : « Tử Vi mặt đỏ lưng dầy » được miễn là hợp mạng và đừng có nhiều trung tinh và bàng tinh khác chế hoá đi nhiều. Tôi đã được xem lá số nhiều người có Tử Tham thì thấy hầu hết là lùn và mập, mặt lại đỏ như người uống rượu nhưng nếu khắc mệnh thì không đúng, vì người mạng Thuỷ hoặc Mộc chẳng hạn thì Tham Lang sẽ ảnh hưởng nhiều và bớt lùn đi và mặt lại không đỏ mấy. Sở dĩ không cao được nhiều mặc dù có Tham Lang vì cung Mão thuộc Mộc được Tham Lang nuôi dưỡng nên sao này yếu đi rồi không còn gây ảnh hưởng mạnh cho mạng Mộc hoặc Thuỷ nữa. Trong trường hợp Tử Vi cư Mão quý bạn không cần chú ý tới ảnh hưởng của cung xung chiếu vì cung này Vô chính diệu làm gì có chính tinh để gây ảnh hưởng. Và lại có mạng nào mà không hợp với cả 2 sao Tử Tham, thí dụ mạng Hoả tuy không hợp với Tham Lang nhưng lại hợp với Tử Vi … Ngoài ra, tôi còn nghiệm thấy dù có Khôi, Việt chăng nữa Tử Tham vẫn có ảnh hưởng mạnh mẽ vấn đề lùn, mập và dù có Đào, Hồng, Xương, Khúc vẫn bị mặt đỏ như thường, trừ phi sinh ban đêm có khi không ứng nghiệm.
Tử Vi cư Thìn
Bao giờ cũng có Thiên Tướng đồng cung, nói chung gặp Tử Tướng ở Thìn bao giờ cũng có chiều cao một chút dù gặp mạng nào, vì Tử Vi ở La Võng (Thìn, Tuất) bị câu thúc không phát huy được đặc tính của mình mặc dù Thiên Tướng cũng bị vướng víu vì lưới nhưng không đến nỗi « khổ sở » quá, cho nên Thiên Tướng chủ về cao gầy được ảnh hưởng nhiều hơn, nhất là được Phá Quân xung chiếu hỗ trợ thêm vì Phá Quân thuộc Thuỷ. Tuy vậy cũng nên lưu ý một điểm là nếu Tuần, Triệt án ngữ tại mạng thì Tử vi lẫn Thiên Tướng đều bị mất ảnh hưởng và lúc đó Phá Quân « làm chủ tình hình » và mình sẽ đoán tướng mạo theo Phá Quân cư Tuất, nghĩa là người cao và to con. Còn trường hợp gặp Thiên Hình (tượng trưng cho con dao) thì lưới trời được cắt đứt, lúc đó Tử vi có thể vùng vẫy được và người sẽ lùn bớt đi nếu mạng Thổ hoặc Kim. Còn vẻ mặt nói chung thì có vẻ kiêu kì, còn đẹp hay xấu tuỳ vào sao phụ.
Tử Vi cư Tị
Ở cung này có cách Tử Sát đồng cung, đối cung có Thiên Phủ. Trong trường hợp này, chưa bao giờ tôi thấy có người nào mập lùn và nước da trắng, dù cho ngũ hành hợp (như Thổ hoặc Kim), mặc dầu có người nói rằng Thất Sát là Kim cư cung Tị là Hoả bị khắc nên không có ảnh hưởng, nhưng Tử Vi là Thổ ở cung Hoả bị nung cháy rồi thì khối lượng đâu còn nở nang mà phải rút bớt đi, còn sao Thiên Phủ xung chiếu là Thổ bị cung Hợi là Thuỷ làm tan rã đất rồi còn gì mà ảnh hưởng mạnh. Vì vậy người nào Tử Sát ở cung Tị thường thường gầy (trừ phi có thêm trung tinh Quan, Phúc hoặc Hoá quyền thì còn đầy đặn một chút) và da ngăm ngăm, vẻ mặt nghiêm trang như quan toà. Phụ nữ không nên có cách này vì như thế bớt vẻ nữ nhi đi nhiều, nhưng nếu kén vợ thì quý, bận nên lựa chọn người Tử Sát (vì người đó vừa đoan trang, vừa khá giỏi vì « Tử Sát đông lâm Tị Hợi nhất triều phú quý song toàn » mặc dầu phải chịu vợ kém nhan sắc kiều diễm. Tuy vậy nếu có Long, Phượng, Tả, Hữu, Thai, Toạ, Quang, Quý hội chiếu thì trông cũng được lắm.
Tử Vi cư Ngọ
Cũng như ở Tý, Tử Vi không có chính tinh nào đồng cung ở Ngọ, nhưng về tướng mạo lại khác nhau vì Tử Vi cư Ngọ là đắc vị nhất, chưa bàn tới công danh tính tình. Người mạng Thổ, Kim thì trông bệ vệ, bảnh bảo nhất và cũng cao lớn để để cho xứng với Tử Phủ Vũ Tướng với Tử Vi cư Ngọ. Vẻ mặt nhất định là vừa uy nghi, vừa đẹp một cách quý phái nước da cũng không đen hoặc hồng mà lại trắng. Nếu là phụ nữ thì đúng là mệnh phụ rồi.[/blockquote] Nếu không may gặp người mạng Thuỷ hoặc Mộc, thì mất biết bao cách hay (đây tôi chỉ đề cập tới tướng mạo) vì lúc đó Tử Vi chẳng có tí gì ảnh hưởng tới mạng mà chính sao Tham Lang cư Tý xung chiếu chi phối hoàn toàn, mà Tham Lang cư Tý tuy đẹp đẽ, duyên dáng nhưng tham vọng, dâm đãng nên vẻ mặt, hình dáng kém quý phái, đoan trang đi nhiều. Tuy vậy, nếu may cung mạng có nhiều sao Kim thì đỡ lắm vì lúc đó Tử Vi sinh các sao Kim rồi các sao sinh mạng Thuỷ (mạng Mộc thì coi như hỏng) do đó lại ăn được sao Tử vi mặc dù vẫn không hoàn toàn. Ngoài ra, tuổi Giáp, Đinh, Kỷ cũng dễ được hình dánh như vậy vì khi đã được hưởng về công danh, sự nghiệp, không lẽ lại bị mất tướng mạo tốt đẹp hay sao.
Tử Vi cư Mùi
Bao giờ cũng có Phá Quân đồng cung và Thiên Tướng xung chiếu giống như cư Sửu. Vì cũng Mùi và Sửu đều thuộc Thổ cho nên quý bạn có thể tạm đoán trường hợp này như trường hợp Tử Vi cư Sửu. Tôi chưa nghiệm thấy được điều khác biệt, nếu quý bạn thấy khác, chẳng qua vì các sao phụ chi phối mà thôi.
Tử Vi cư Thân
Cũng như cư Dần, nghĩa là Tử Vi đồng cung với Thiên Phủ và có Thất Sát cư Dần xung chiếu. Tử Phủ cư Thân kém hơn Tử Phủ cư Dần vì hai sao thuộc Thổ sinh cung Kim (sinh xuất) nên kém ảnh hưởng trong khi cư Dần thuộc Mộc không hợp nhưng không mất khả năng vì Thổ khắc Mộc chỉ bị cản trở chút đỉnh (nhưng đó là nói về công danh). Do đó người mạng Thổ, Kim trong trường hợp cư Thân không có dáng quý phái và phúc hậu như cư Dần tuy hình dáng cao thấp vẫn giống nhau và nước da vẫn không trắng lắm, thường thường được hàm răng đều (kể cả hai trường hợp).
Tử Vi cư Dậu
Bao giờ cũng có Tham Lang đồng cung, cũng như trường hợp Tử Vi cư Mão. Nhưng có điều khác biệt là Tử Vi ở Dậu bị sinh xuất, trong khi Tham Lang thuộc Thuỷ được cung sinh nên Tham Lang có uy thế mạnh hơn. Do đó gặp người hợp với mạng Tử Vi cũng không được mập lắm và cũng không lùn lắm, mặt cũng bớt hồng hào mà trái lại phải cao hơn Tử Tham ở Mão vì Tham Lang có bản chất khá cao (trừ khi Tham Lang cư Tí Ngọ). Còn mạng Thuỷ hoặc Mộc thì đương nhiên hết ảnh hưởng của Tử vì và lúc đó người phải dong dỏng cao, thon, nước da trắng nhưng vẻ mặt đa tình, nhất là nếu có thêm Đào Hoa, Thiên Hỉ. Tôi không bao giờ ưa phụ nữ có Tử Tham (dù cư Mão hay Dậu) có Đào Hoa, Thiên Hỉ vì đương nhiên lẳng lơ, bất chính, lộ ra vẻ mặt.
Tử Vi cư Tuất
Đoán giống như cư Thìn vì hai cung đều thuộc thổ và vướng vào lưới trời (một bên là Thiên la, một bên là Địa võng). Rất có thể có sự khác biệt phần nào về tướng dạng, nhưng tôi chưa tìm ra được.
Tử Vi cư Hợi
Không thể nào đoán giống như cư Tỵ, vì cư Tỵ là được sinh nhập trong khi cư Hợi (Thuỷ) bị khắc chế, còn Thất Sát Kim lại sinh cung Hợi làm Thuỷ vượng thêm và khắc Tử Vi mạnh hơn. Do đó người nào có mạng Tử Sát cư Hợi cũng gầy và mặt hơi đen, u buồn hơn Tử Sát cư Tị, nhất là người mạng Thuỷ và Kim. Mạng Thổ và Hoả còn đỡ hơn. Và chính vợ tôi có Tử Sát (theo cung Thê của tôi) nên ông thầy nói trên đã đoán như vậy khiến tôi phục quá và nhớ mãi, nhất là vợ tôi mạng thuộc Thuỷ lại càng đúng nữa.
Tôi xin tạm ngưng bài tướng mạo tại đây và nếu được KHHB chiếu cố, tôi sẽ tiếp tục bàn tới các chính tinh khác theo phương thức trên đây. Đáng lẽ tôi phải bàn thêm trung tinh nữa, nhưng thế bài sẽ quá dài mà khuôn khổ giai phẩm không cho phép, mong quý bạn thông cảm. Do đó mỗi khi quý bạn muốn quyết đoán tướng mạo của ai, xin quý bạn hãy phối hợp thêm các sao phụ cho chính xác.
Theo vietbao1623
KHHB 73 D1 (Ngày 18/4/1973)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Việc chọn đá phong thủy theo tuổi hay dùng các vật phẩm phong thủy không theo đúng màu sắc ngũ hành sao cho hợp với cung mệnh người đeo, dẫn đến việc nó sẽ đem lại những điều không may mắn cho người sử dụng.
Và ngược lại, nếu đeo các trang sức hay vật phẩm phong thủy có màu sắc phù hợp với cung mệnh của người sử dụng, thì kết quả sẽ đem lại sức khỏe, hưng vượng, may mắn cho người đeo.
Nội dung
Từ xưa đến nay, thuyết Ngũ hành được xem là một trong những nền tảng chính yếu nhất để hình thành nên các quy tắc trong khoa học phong thủy. Muốn vận dụng những phương pháp phân tích trong phong thủy vào việc cải biến vận mệnh của con người, nhất thiết phải nắm được quy luật Ngũ hành. Hiểu đơn giản, theo thuyết Ngũ hành thì vạn vật trong trời đất nếu ứng với một trong năm hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa và Thổ. Con người cũng vậy, mỗi người sinh ra vào một năm cụ thể đều sẽ ứng với một hành tương ứng (ở người gọi là mạng hoặc mệnh).
Học thuyết Ngũ hành vận động dựa trên hai quy luật chính là Tương sinh và Tương khắc. Đây cũng chính là cơ sở để các chuyên gia phong thủy tìm ra cách thức cải biến vận mệnh cho con người: bên cạnh việc cải tạo chỗ ở, nơi làm việc theo đúng các quy tắc về phong thủy ứng với mỗi người, thì việc sử dụng các vật phẩm phong thủy có sắc màu phù hợp với mệnh của gia chủ cũng rất quan trọng. Dựa theo quy luật Tương sinh Tương khắc, các màu sắc phù hợp được tính là nhóm màu Tương sinh và Tương hợp, đây là hai nhóm màu sắc sẽ mang lại nhiều may mắn cho người sử dụng.
| Mệnh Kim | Mệnh Mộc | Mệnh Thủy | Mệnh Hỏa | Mệnh Thổ |
| 1932, 1992 tuổi Nhâm Thân 1955, 2015 tuổi Ất Mùi 1984, 1924 tuổi Giáp Tý 1933, 1993 tuổi Quý Dậu 1962, 2022 tuổi Nhâm Dần 1985, 1925 tuổi Ất Sửu 1940, 2000 tuổi Canh Thìn 1963, 2023 tuổi Quý Mão 1941, 2001 tuổi Tân Tỵ 1970, 2030 tuổi Canh Tuất 1954, 2014 tuổi Giáp Ngọ 1971, 2031 tuổi Tân Hợi |
1942, 2002 tuổi Nhâm Ngọ 1959, 2019 tuổi Kỷ Hợi 1988, 1928 tuổi Mậu Thìn 1943, 2003 tuổi Quý Mùi 1972, 2032 tuổi Nhâm Tý 1989, 1929 tuổi Kỷ Tỵ 1950, 2010 tuổi Canh Dần 1973, 2033 tuổi Quý Sửu 1951, 2011 tuổi Tân Mão 1980, 2040 tuổi Canh Thân 1958, 2018 tuổi Mậu Tuất 1981, 2041 tuổi Tân Dậu |
1936, 1996 tuổi Bính Tý 1953, 2013 tuổi Quý Tỵ 1982, 1922 tuổi Nhâm Tuất 1937, 1997 tuổi Đinh Sửu 1966, 2026 tuổi Bính Ngọ 1983, 1923 tuổi Quý Hợi 1944, 2004 tuổi Giáp Thân 1967, 2027 tuổi Đinh Mùi 1945, 2005 tuổi Ất Dậu 1974, 2034 tuổi Giáp Dần 1952, 2012 tuổi Nhâm Thìn 1975, 2035 tuổi Ất Mão |
1934, 1994 tuổi Giáp Tuất 1957, 2017 tuổi Đinh Dậu 1986, 1926 tuổi Bính Dần 1935, 1995 tuổi Ất Hợi 1964, 2024 tuổi Giáp Thìn 1987, 1927 tuổi Đinh Mão 1948, 2008 tuổi Mậu Tý 1965, 2025 tuổi Ất Tỵ 1949, 2009 tuổi Kỷ Sửu 1978, 2038 tuổi Mậu Ngọ 1956, 2016 tuổi Bính Thân 1979, 2039 tuổi Kỷ Mùi |
1938, 1998 tuổi Mậu Dần 1961, 2021 tuổi Tân Sửu 1990, 1930 tuổi Canh Ngọ 1939, 1999 tuổi Kỷ Mão 1968, 2028 tuổi Mậu Thân 1991, 1931 tuổi Tân Mùi 1946, 2006 tuổi Bính Tuất 1969, 2029 tuổi Kỷ Dậu 1947, 2007 tuổi Đinh Hợi 1976, 2036 tuổi Bính Thìn 1960, 2020 tuổi Canh Tý 1977, 2037 tuổi Đinh Tỵ |
Trong các hình thức vận dụng phong thủy theo tuổi, việc sử dụng trang sức phong thủy phù hợp với tuổi/ mệnh của mình là cách dễ áp dụng nhất mà hiệu quả vẫn rất cao. Cụ thể, bạn sẽ tránh được những tai ương bất ngờ, gặp nhiều may mắn hơn, công việc thuận lợi hơn, tiền tài đến nhiều hơn, sức khỏe ổn định, tình duyên khởi sắc. Đi ra ngoài giao thiệp được mọi người quan tâm quý mến hơn, tâm trí cũng bình tĩnh, tự tin hơn trước…Công dụng của việc vận dụng phong thủy theo tuổi

Chọn đá phong thủy theo tuổi tốt nhất là được tương sinh: Kim là do Thổ sinh ra. Đất sinh ra vàng bạc nên dùng các màu thuộc thổ như vàng sậm, nâu đất, gỗ hóa thạch như mắt hổ.
Tốt thứ nhì là được hòa hợp: Hợp với mệnh Kim là Kim. Đó là trắng (bạc kim), vàng tươi (vàng trang sức) và bạc.
Thứ ba mới đến sự chế khắc: Kim sẽ chế khắc được mộc. Chủ thể là người mệnh Kim sẽ chế khắc được viên đá mình đeo có các gam màu xanh lá cây, xanh da trời.
Không nên dùng đá có màu thuộc hành Hỏa như đá đỏ, hồng, cam, tím. Vì Hỏa khắc Kim nên khi đeo đá có màu tượng trưng cho lửa sẽ gây bất lợi cho chủ nhân.

Để người mệnh Mộc được khỏe mạnh, may mắn, tài lộc, phát đạt, thì việc chọn mua một viên đá phong thủy theo tuổi hợp mệnh theo màu sắc ngũ hành là điều rất quan trọng.
Người mệnh mộc nên đeo đá quý như sau:
Để được tương sinh trong tu vi: Thủy dưỡng mộc. Màu đá tốt nhất dành cho người mệnh mộc là màu nước, bao gồm: đen, màu xám, màu xanh nước biển, xanh lam.
Để được tương hợp: Lưỡng mộc thành lâm. Có nhiều cây là có rừng. Hòa hợp với người mệnh Mộc chính là màu Mộc, gồm: tất cả màu xanh, như xanh lá cây, xanh da trời…
Để chế khắc được viên đá: Người mệnh Mộc chế được Thổ gồm các màu vàng sậm, nâu đất, gỗ hóa thạch. Như vậy đeo viên đá có màu Thổ, người mệnh Mộc được an toàn và không phải lo lắng.
Tuyệt đối không nên dùng các loại đá màu của Kim như trắng và bạc. Vì dao chặt được cây gỗ cho nên khi đeo trang sức với viên đá màu tượng trưng cho Kim sẽ không tốt cho người đeo. Nên tránh đá màu trắng cho người mệnh Mộc.

Chọn đá phong thủy theo tuổi tốt nhất cho người mệnh Thủy là bạc và màu đá trắng. Vì các màu sắc trên theo quy định của ngũ hành là thuộc Kim, mà Kim sinh Thủy nên khi đeo bạc và đá màu trắng, người mệnh Thủy sẽ được tương sinh.
Tốt thứ nhì cho người mệnh Thủy là sự hòa hợp giữa người mệnh Thủy với màu sắc của viên đá. Họ nên dùng các màu đen, màu xám, màu xanh nước biển như saphiare, aquamarin, tactit…
Thứ ba, người mệnh Thủy khắc được Hỏa (Nước dập tắt được Lửa), tức là họ dùng được các màu mà họ chế ngự được như đỏ, hồng, cam, tím.
Tuyệt đối không nên dùng các loại đá phong thủy theo tuổi có màu đá vàng sậm, nâu đất, vì đó là màu thuộc hành Thổ. Chặn được nước lớn ở sông, ở biển tràn vào, người ta phải đắp đê điều bằng đất, đá, cát. Thổ sẽ chế ngự Thủy. Chính vì vậy, người mệnh Thủy không nên đeo đá có các màu thuộc Thổ, sẽ bất lợi cho họ.

Đá phong thủy theo tuổi loại nào cũng tỏa ra năng lượng tốt cho người dùng. Nhưng tốt cho người mệnh Hỏa nhất phải là đá có màu thuộc hành Mộc, tức là xanh lá cây, xanh da trời. Vì gỗ khi cháy sẽ thành ngọn lửa, nghĩa là Mộc sẽ sinh Hỏa. Chính vì vậy, đá có màu xanh lá cây, xanh da trời là màu đá lý tương số 1 mà người mệnh Hỏa nên dùng.
Cũng như các mệnh khác, người mệnh Hỏa sẽ tốt nếu dùng đá quý có màu tương hợp, tức là cùng hành Hỏa với các màu đặc trưng của Hỏa là đỏ, hồng, cam, tím.
Còn nếu thích dùng đá màu trắng cũng được, vì mệnh Hỏa chế khắc được màu của viên đá, tức là Hỏa khắc được Kim. Nung kim loại chảy ra thành nước – điều đó chỉ có lửa mới làm được.
Không nên dùng đá phong thủy theo tuổi có màu đen, màu xám, màu xanh nước biển. Vì đó là màu của nước (Thủy). Nếu dùng sẽ gặp xui, vì Thủy – Hỏa giao đấu, phần thua sẽ thuộc về Hỏa, bởi nước sẽ dập tắt lửa.

Khi mọi vật bị đốt cháy, sẽ thành tro, bụi, đất, cát. Vậy Hỏa sẽ sinh ra Thổ. Cho nên, người mệnh Thổ hãy dùng những viên da phong thuy theo tuoi có màu của Hỏa, sẽ được tương sinh. Đó là các màu: đỏ, hồng, cam, tím.
Có câu “lưỡng Thổ thành sơn”. Nếu họ dùng đá có màu vàng sậm, nâu đất, sẽ rất tốt cho họ, vì người và đá cùng mệnh có sự tương hợp với nhau.
Đất đá chế ngự được nước. Người mệnh Thổ chế ngự được viên đá có màu của hành Thủy là đen, xám, xanh nước biển.

![]() |
| Bánh trôi - loại bánh được làm trong ngày mùng 3 tháng 3 |
Theo truyền thuyết dân gian, tết Hàn Thực bắt nguồn từ việc tưởng nhớ Giới Tử Thôi vào thời Xuân Thu ở Trung Quốc. Chuyện kể rằng: Giới Tử Thôi là bầy tôi trung thành của vua Văn Công nhà Tấn từ lúc Văn Công còn phải long đong, lận đận bôn tẩu khắp mọi nơi, hết chạy sang nước Địch, lại chạy sang nước Vệ, nước Tề, nước Sở. Suốt 19 năm trời gian nan, nhưng khi thành nghiệp lớn, Tấn Văn Công lại quên công đầu của Giới Tử Thôi.
Tử Thôi không oán hận mà tủi thân bỏ về quê nhà, cõng mẹ vào núi Miên Sơn ở ẩn. Sau này, Văn Công nhớ ra cho người tìm kiếm Tử Thôi nhưng không thấy. Vua Tấn biết Tử Thôi ở Miên Sơn không chịu ra nên hạ lệnh đốt rừng để buộc ông phải ra. Nào ngờ Tử Thôi và mẹ cùng chịu chết cháy trong rừng.
Nhà vua hối hận cho lập miếu thờ. Hàng năm, đến ngày 3 tháng 3 là ngày chết cháy của 2 mẹ con Tử Thôi thì cấm dùng lửa nấu ăn, ngay cả việc làm cỗ cúng cũng phải làm từ hôm trước. Người Hoa thường làm bánh trôi, bánh chay để hôm sau ăn tránh việc nổi lửa để tưởng nhớ một vị trung thần.
Tiết Hàn Thực có nguồn gốc từ Trung Hoa nhưng đã được Việt hóa từ lâu đời. Vào ngày này, trên ban thờ gia tiên, trên mâm cỗ tại đền thờ hay một số chùa chiền nguời ta thường dâng cúng bánh trôi, bánh chay.
(Theo Nghi lễ thờ cúng của người Việt)
![]() |
| Ảnh minh họa |
Xem tử vi trọn đời tuổi Đinh Sửu nam mạng 1997 CUỘC SỐNG Mệnh: tuổi Đinh Sửu thuộc mạng Thủy. Cuộc sống: rất tốt đẹp, cuộc đời ít cực nhọc và ít bị lao tâm khổ trí. Tuy không thành công về sự nghiệp vĩ đại, nhưng công danh cũng có phúc phát triển mạnh mẽ. Đời sống: trung bình, không quá thiếu thốn và cũng không quá dư dả, không giàu sang, nhưng xác thể vẫn được sung sướng. Năm 30 tuổi có vài thành công về danh vọng cũng như về tài lộc và sẽ phát triển sự nghiệp vào tuổi 34.TÌNH DUYÊN
Xem boi tình duyên tuổi Đinh Sửu nam, quý anh đường tình duyên khó khăn, có nhiều việc buồn phiền và đổ vỡ, cuộc sống về tình duyên bao giờ cũng chịu sự hẹp hòi, thường hay mang nhiều thương đau trong cuộc lương duyên, sầu khổ cũng nhiều, đau thương cũng lắm. Nếu Đinh Sửu nam mạng sinh vào những tháng 8 và 12 Âm lịch, tình duyên lận đận, phải qua 3 lần đò.
Nếu sinh vào những tháng 1, 2, 3, 4, 5, 9 và 10 Âm lịch đường tình duyên lận đận, có thể phải qua 2 lần đò. Đối với Đinh Sửu sinh vào những tháng 6, 7 và tháng11 Âm lịch có cuộc sống tình duyên hạnh phúc, yên ấm và chung thủy.

| Ngày\Giờ |
Tý |
Sửu |
Dần |
Mão |
Thìn |
Tị |
Ngọ |
Mùi |
Thân |
Dậu |
Tuất |
Hợi |
| Hoàng Đạo |
Thân |
Tuất |
Tý |
Dẩn |
Thìn |
Ngọ |
Thân |
Tuất |
Tý |
Dần |
Thìn |
Ngọ |
| Hoàng Đạo |
Dậu |
Hợi |
Sửu |
Mão |
Tị |
Mùi |
Dậu |
Hợi |
Sửu |
Mão |
Tị |
Mùi |
| Hoàng Đạo |
Tý |
Dần |
Thìn |
Ngọ |
Thân |
Tuất |
Tý |
Dần |
Thìn |
Ngọ |
Thân |
Tuất |
| Hoàng Đạo |
Sửu |
Mão |
Tị |
Mùi |
Dậu |
Hợi |
Sửu |
Mão |
Tị |
Mùi |
Dậu |
Hợi |
| Hoàng Đạo |
Mão |
Tị |
Mùi |
Dậu |
Hợi |
Sửu |
Mão |
Tị |
Mùi |
Dậu |
Hợi |
Sửu |
| Hoàng Đạo |
Ngọ |
Thân |
Tuất |
Tý |
Dần |
Thìn |
Ngọ |
Thân |
Tuất |
Tý |
Dần |
Thìn |
| Hắc Đạo |
Tuất |
Tý |
Dần |
Thìn |
Ngọ |
Thân |
Tuất |
Tý |
Dần |
Thìn |
Ngọ |
Thân |
| Hắc Đạo |
Hợi |
Sửu |
Mão |
Tị |
Mùi |
Dậu |
Hợi |
Sửu |
Mão |
Tị |
Mùi |
Dậu |
| Hắc Đạo |
Dẩn |
Thìn |
Ngọ |
Thân |
Tuất |
Tý |
Dần |
Thìn |
Ngọ |
Thân |
Tuất |
Tý |
| Hắc Đạo |
Thìn |
Ngọ |
Thân |
Tuất |
Tý |
Dần |
Thìn |
Ngọ |
Thân |
Tuất |
Tý |
Dần |
| Hắc Đạo |
Tị |
Mùi |
Dậu |
Hợi |
Sửu |
Mão |
Tị |
Mùi |
Dậu |
Hợi |
Sửu |
Mão |
| Hắc Đạo |
Mùi |
Dậu |
Hợi |
Sửu |
Mão |
Tị |
Mùi |
Dậu |
Hợi |
Sửu |
Mão |
Tị |
* Cách tìm:
– Cột dọc ngày Tý có 6 giờ Hoàng Đạo và 6 giờ Hắc Đạo.
Có ba cách tính giờ Hoàng Đạo (giờ tốt) và giờ Hắc Đạo (giờ xấu), bạn đọc tuỳ ý lựa chọn cách tìm phù hợp.
Bàn tay của mỗi người đều có sự khác biệt, bàn tay có thể gọi là bộ phận cơ thể trời ban kết lại thành thiên thư có hàm nghĩa sâu xa, còn những đường vân trong lòng bàn tay chính là văn tự miêu tả của bộ thiên thư này.
Các đường chỉ tay không hoàn toàn thẳng như chiếc bút, có đường cong, có đường hình con rắn, có đường chia ra ở giữa đoạn, có đường bị đứt đoạn. Những đường chỉ tay khác nhau này đều có ý nghĩa tương ứng cụ thể

Đường chỉ tay phản ánh 4 phương diện
Hoàn cảnh thiên phú: Cho biết tình trạng gia đình khi ra đời. Cụ thể phải căn cứ vào các đường, ký hiệu để phân tích.
Công việc, cuộc sống: Chỉ những thông tin trên phương diện người thân giúp đỡ và sự hợp tác cùng đồng nghiệp.
Khí chất tinh thần: Phản ánh những thông tin về phương diện sức khỏe cơ thể. Cụ thế phải căn cứ vào các đường, ký hiệu riêng đế phân tích.
Phương diện vận mệnh: Phản ánh những thông tin của một người về vận thế tương lai. Cụ thể phải căn cứ vào các đường, ký hiệu để phân tích.
Đường chủ yếu và đường thứ yếu
Đường chủ yếu: Đường Sinh mệnh, đường Trí tuệ, đường Tình cảm, đường Vận mệnh, đường Tài vận. đường Hôn nhân.
Đường thứ yếu: Đường Kim tinh, đường Du lịch, đường Thăng chức, đường Trở ngại, đường Đồng tình, đường Tiểu nhân, đường cổ tay, đường Tình dục. Ngoài ra còn có các đường tổ hợp khác như ký hiệu chữ thập, hình sao, hình vân đảo, hình ô vuông, hình tam giác, hình lưới...
Đường chỉ tay dự đoán các trạng thái
Hình chạc: Đại diện cho độ tuổi chỉ định sẽ xảy ra chuyện ngoài ý muốn.
Đường đứt nét: Đại diện cho biến cố xảy ra.
Đường ngắn dài: Chỉ độ dài của đường chỉ tay, đại diện cho niên hạn hoặc độ tuổi.
Xa gần: Chỉ điểm đầu điểm cuối của đường và khoảng cách điểm đột biến.
Rộng hẹp: Chỉ độ to nhỏ của đường chỉ tay, đại diện cho mức độ tiến triển của sự việc.
Sáng tối: Chỉ màu sắc phản ánh trên các đường chỉ tay ở bàn tay, phần đa là phản ánh tình hình sức khỏe cơ thể.
Sâu nông: Chỉ mức độ nặng nhẹ của vết rạn nứt của các đường chỉ tay trên tay, đại diện cho vai trò lớn nhỏ của nó.
Trên duới: Chỉ vị trí trên dưới của đường chỉ tay, đại diện cho sự việc xảy ra
mỗi năm.
Khoảng cách phân hợp: Chỉ khoảng cách các đường, đại diện cho phạm vi mức độ xảy ra sự việc.
Tìm đường chỉ tay rõ nét nhất
Khi chúng ta xòe bàn tay ra đều thấy một đường hiển thị rõ nhất. Đường chi tay này có ánh hưởng rất lớn đối với mỗi người.
Đường rõ nhất là đường Tình cảm: Khả năng cảm nhận tốt, lãng mạn.
Đường rõ nhất là đường Vận mệnh: Biểu thị người này có vận thế là tốt
Đường rõ nhất là đường Sinh mệnh: Biểu thị người này tinh lực dồi dào, tuổi thọ cao
Đường rõ nhất là đường trí tuệ: Thường làm theo lý tính
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)