Tướng phụ nữ đam mê tình dục |
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)

Để xem tuổi vợ chồng hay bạn bè có xung khắc nhau không thường thì dựa vào 3 điểm chính sau :
1.Tuổi gồm có 12 tuổi Tý, Sửu, Dần, v.v….gọi là THẬP NHỊ CHI.
2. Mệnh gồm có 5 Mệnh :Kim, Hoả,Thuỷ, Mộc, Thổ gọi là NGŨ HÀNH.
3. Cung mỗi tuổi có 2 cung, gồm có cung chính và cung phụ. Cung chính gọi là cung sinh cung phụ gọi là cung phi.
Cùng tuổi thì nam nữ có cung sinh giống nhau nhưng cung phi khác nhau. Hai tuổi khắc nhau vẫn có thể ăn ở với nhau được nếu như cung và Mệnh hoà hợp nhau. Ngoài ra người ta còn dựa vào thiên can của chồng và tuổi của vợ để đoán thêm.
Thiên can: là 10 can gồm có Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ ,Canh, Tân, Nhâm, Quý.(Tính theo 12 Con Giáp)
– Bây giờ ta xét về tuổi trước
Lục Xung (Sáu cặp tuổi xung khắc nhau) :
Tý xung Ngọ
Sửu xung Mùi
DẦn xung Thân
Mão xung Dậu
Thìn xung Tuất
Tỵ xung Hợi
Lục Hợp (Sáu cặp tuổi hợp nhau) :
Tý Sửu hợp
Dần Hợi hợp
Mão Tuất hợp
Thìn Dậu hợp
Tỵ Thân hợp
Ngọ Mùi hợp
Tam Hợp (Cặp ba tuổi hợp nhau) :
Thân Tý Thìn
Dần Ngọ Tuất
Hợi Mão Mùi
Tỵ Dậu Sửu
Lục hại (Sáu cặp tuổi hại nhau):
Tý hại Mùi
Sửu hại Ngọ
Dần hại Tỵ
Mão hại Thìn
Thân hại Hợi
Dậu hại Tuất
Nếu tuổi bạn với ai đó không hợp nhau thì cũng đừng lo vì còn xét đến Mệnh của mỗi người (Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ) Bạn nhớ nguyên tắc này :
Tuổi chồng khắc vợ thì thuận (tốt); Vợ khắc chồng thì nghịch (xấu) Thí dụ vợ Mệnh Thuỷ lấy chồng Mệnh Hoả thì xấu, nhưng chồng Mệnh Thuỷ lấy vợ Mệnh Hoả thì tốt. Vì Thuỷ khắc Hoả, nhưng Hoả không khắc Thuỷ mà Hoả lại khắc Kim. Các bạn lưu ý nhé!
Ngũ hành tương sinh.(tốt)
Kim sinh Thuỷ; Thuỷ sinh Mộc; Mộc sinh Hoả; Hoả sinh Thổ; Thổ sinh Kim (tốt) Như vậy chồng Mệnh Thuỷ lấy vợ Mệnh Mộc thì tốt; vợ được nhờ vì Thuỷ sinh Mộc.
Vợ Mệnh Hoả lấy chồng Mệnh Thổ thì chồng được nhờ vì Hoả sinh Thổ
Ngũ hành tương khắc (xấu)
Kim khắc Mộc; Mộc khắc Thổ; Thổ khắc Thuỷ; Thuỷ khắc Hoả; Hoả khắc Kim (xấu) Thí dụ vợ Mệnh Kim lấy chồng Mệnh Mộc thì không tốt do Kim khắc Mộc nhưng chồng Mệnh Kim lấy vợ Mệnh Mộc thì tốt vì theo nguyên tắc ở trên là tuổi chồng khắc vợ thì tốt, vợ khắc chồng thì xấu.
Về cung thì mỗi tuổi có một cung khác nhau.
Sau đây tôi kê trước cho các bạn có tuổi Đinh Tỵ (1977) đến Đinh Mão (1987).
Nên nhớ cung phi của nam nữ khác nhau còn cung sinh thì giống nhau
Đinh Tỵ (1977) Mệnh Thổ_ cung sinh : khảm_ cung phi Khôn (nam), Khảm (nữ)
Mậu Ngọ (1978) Mệnh Hoả-cung sinh : chấn_ cung phi :tốn (nam),Khôn (nữ)
Kỷ Mùi (1979) Mệnh Hoả_ cung sinh : Tốn_ cung phi: chấn (nam), chấn (nữ)
Canh Thân (1980) Mệnh Mộc_ cung sinh: Khảm_ cung phi :Khôn (nam), Tốn (nữ)
Tân Dậu (1981) Mệnh Mộc _cung sinh : Càn_ cung phi : Khảm (nam), Cấn (nữ)
Nhâm Tuất (1982) Mệnh Thuỷ _cung sinh : Đoài_ cung phi : Ly (nam), Càn (nữ)
Quý Hợi (1983) Mệnh Thuỷ _cung sinh :Cấn_ cung phi : Cấn(nam), Đoài (nữ)
Giáp Tý (1984) Mệnh Kim_ Cung sinh :Chấn _ cung phi :Đoài (nam), Cấn (nữ)
Ất Sửu (1985) Mệnh Kim_ cung sinh : Tốn_ cung phi : Càn (nam), Ly (nữ)
Bính Dần (1986) Mệnh Hoả_cung sinh : Khảm_ cung phi :Khôn (nam), khảm (nữ)
Đinh Mẹo (1987) Mệnh Hoả_ cung sinh: Càn_ cung phi; Tốn (nam), Khôn (nữ)
Người ta có câu nói “Vợ chồng cùng tuổi ăn rồi nằm duỗi”. Về cung là phần rắc rối khó nhớ nhất nên mới đầu không quen ta ghi lại trên một tờ giấy để tiện tra cứu sau này. Lại phải nhớ những từ cổ này Sinh khí, Diên Niên (phước đức), Thiên y, Phục Vị (qui hồn)
Đó là nhóm từ nói về điều tốt Ngũ quỉ, Lục sát (du hồn), hoạ hại (tuyệt thể), tuyệt Mệnh Đó là nhóm từ nói về điều xấu. Sau đây là tám cung biến tốt xấu , không cần học thuộc mà khi nào xem thì ta đem ra tra cứu. Sẽ cho thí dụ để các bạn hiểu cách xem tuổi cụ thể Bây giờ nói về tám cung biến hoá Khi tôi viết tắt Càn-Càn thì hãy hiểu là người thuộc cung Càn lấy người thuộc cung Càn, hoặc tôi viết Cấn- chấn thì hãy hiểu là người có cung Cấn lấy người thuộc cung chấn v.v….
1. Càn-Đoài : sinh khí, tốt; Càn-chấn : ngủ quỉ, xấu; Càn-Khôn :diên niên, phước đức, tốt.; Càn-khảm; lục sát (du hồn), xấu; Càn-tốn: hoạ hại (tuyệt thể), xấu; Càn-Cấn: thiên y, tốt; Càn-ly: tuyệt Mệnh, xấu; Càn-Càn: phục vì (qui hồn), tốt.
2. Khảm-tốn: sinh khí, tốt. khảm-Cấn: ngủ quỷ, xấu. khảm-ly: diên niên (phước đức), tốt. khảm_Khôn: tuyệt Mệnh,xấu. khảm_khảm phục vì (qui hồn), tốt
3. Cấn-Khôn: sinh khí, tốt. Cấn-khảm: ngủ quỷ, xấu. Cấn-Đoài: diên niên (phước đức). Cấn-chấn: lục sát (du hồn), xấu. Cấn-ly: họa hại (tuyệt thể), xấu. Cấn-Càn: thiên y, tốt. Cấn -tốn: tuyệt Mệnh, xấu. Cấn-Cấn: phục vì (quy hồn), tốt.
4. Chấn-ly: sinh khí, tốt. chấn-Cấn: ngủ quỉ, xấu. chấn-tốn: diên niên (phước đức), tốt. chấn-Cấn: lục sát (du hồn), xấu. chấn-Khôn: họa hại (tuyệt thể), xấu. chấn-khảm: thiên y, tốt. chấn-Đoài: tuyệt Mệnh, xấu. chấn-chấn: phục vì (qui hồn), tốt.
5. Tốn-khảm: sinh khí, tốt. tốn-Khôn: ngũ quỉ, xấu. tốn-chấn: diên niên (phước đức). tốn-Đoài: lục sát (du hồn). tốn-Càn: hoạ hại (tuyệt thể), xấu. tốn-ly: thiên y, tốt. tốn-Cấn: tuyệt Mệnh, xấu. tốn-tốn: phục vì (qui hồn), tốt
6. Ly-chấn: sinh khí, tốt. ly-Đoài: ngũ quỉ, xấu. ly-khãm: diên niên (phước đức), tốt. ly-Khôn:lục sát (du hồn), xấu. ly-Cấn : hoạ hại (tuyệt thể),xấu. ly-tốn: Thiên y, tốt. ly-Càn: tuyệt Mệnh, xấu. ly-ly: phục vì (qui hồn), tốt.
7. Khôn-Cấn: sinh khí, tốt. Khôn-tốn: ngủ quỉ,xấu. Khôn-Càn: diên niên (phước đức), tốt. Khôn-ly: lục sát (du hồn), xấu. Khôn-chấn: hoạ hại (tuyệt thể), xấu. Khôn-Đoài: thiên y, tốt. Khôn-khảm: tuyệt Mệnh, xấu. Khôn-Khôn: phục vì (qui hồn), tốt.
8. Đoài-Càn: sinh khí, tốt. Đoài-ly: ngũ quỹ, xấu. Đoài-Cấn, diên niên (phước đức), tốt. Đoài-tốn; lục sát (du hồn), xấu. Đoài-khảm: hoạ hại (tuyệt thể), xấu. Đoài-Khôn: thiên y, tốt. Đoài-chấn: tuyệt Mệnh, xấu. Đoài-Đoài: phục vì (qui hồn), tốt.
Giờ âm lịch theo tháng âm lịch)
Tháng 2 và tháng 8: từ 3h 40 đến 5h 40 là giờ Dần.
Tháng 3 và tháng 7: từ 3h50 đến5h50 là giờ Dần
Tháng 4 và tháng 6: từ 4h đến 6h là giờ Dần
Tháng 5 : từ 4h10 đến 6h10 là giờ Dần
Tháng 10 và tháng chạp: Từ 3h20 đến 5h20 là giờ Dần
Tháng 11: từ 3h10 đến 5h10 là giờ Dần
Biết được giờ Dần ở đâu rồi thì các bạn tính lên là biết giờ khác.
Ví dụ vào tháng 7 âm lịch từ 3h50 đến 5h50 là giờ Dần thì giờ Mão phải là từ 5h50 đến 7h50. Cứ thế tính được giờ Thìn, Tỵ…..
Bây giờ tử vi số cho thí dụ cách xem như thế này. Thí dụ nữ tuổi Nhâm tuất (1982) lấy nam Mậu Ngọ (1978) thì tốt hay xấu.
Xem bảng cung Mệnh tử vi số ghi từ 1977 đến 2007 ở trên thì thấy.
Xét về tuổi
Hai tuổi này thuộc về nhóm Tam Hợp, như đã nói ở trên, nên xét về tuổi thì hợp nhau.
Xét về Mệnh:
Mậu ngọ có Mệnh Hoả, trong khi đó Nhâm Tuất này có Mệnh Thuỷ. Xem phần ngũ hành thì thấy Thuỷ khắc Hoả tức là tuổi vợ khắc tuổi chồng, vậy thì xấu không hợp.
Xét về cung:
Mậu Ngọ có cung Chấn là cung sinh (cung chính) còn Nhâm Tuất này có cung sinh là Đoài. Xem phần Tám cung biến thì thấy chấn-Đoài là bị tuyệt Mệnh, quá xấu không được Lại xét về cung phi để vớt vát xem có đỡ xấu không thì thấy Mậu Ngọ về nam thì cung phi là Tốn, Nhâm Tuất cung phi của nữ là Càn mà ở phần Tám cung biến thì tốn-Càn bị hoạ hại, tuyệt thể Như vậy trong 3 yếu tố chỉ có hợp về tuổi còn cung, và Mệnh thì quá xung khắc, quá xấu.
Kết luận có thể xẻ đàn tan nghé. Hai tuổi này còn có thể kiểm chứng lại bằng phép toán số của Cao Ly (Hàn Quốc, Triều Tiên ngày nay).
Tử vi số sẽ trình bày sau phần này, đây là một cách xem dựa vào thiên can và thập nhị chi của người Hàn Quốc xưa.
Sau đây tử vi số đưa 1 thí dụ khác lạc quan hơn thí dụ trước Bây giờ giả sử nữ Kỷ Mùi (1979) lấy nam tuổi Mậu Ngọ (1978) thì tốt hay xấu. Ta thấy: Mậu ngọ (1978) Mệnh Hoả, cung sinh Chấn, cung phi Tốn (nam) Kỷ Mùi (1979) Mệnh Hoả, cung sinh Tốn, cung phi Chấn (nữ)
a) Xét về tuổi hai tuổi hợp nhau vì cùng thuộc Lục Hợp, đã nói ở trên
b) Xét về Mệnh hai tuổi cùng Mệnh Hoả nên hợp nhau, khỏi bàn.
c) Xét về cung sinh thì xem tám cung biến ta thấy Chấn-tốn được diên niên (phước đức) như vậy là rất tốt Thật ra chỉ cần hai cái tốt thì chắc hai tuổi lấy nhau là tốt rồi không cần xem cái ba Tóm lại hai tuổi này lấy nhau rất tốt, đến đầu bạc răng long. Tại sao tử vi số quả quyết như vậy, bởi tử vi số còn dựa vào phép toán của Hàn Quốc nữa, sẽ nói sau sau đây là BÀI TOÁN CAO LY.
Xem cái này phải kết hợp thêm cung, Mệnh, tuổi.
*Nam GIÁP-KỶ lấy vợ tuổi
Tý Ngọ được tam Hiển Vinh
Sửu Mùi bị nhì Bần Tiện
Dần Thân được nhất Phú Quý
Mão Dậu được bị ngũ Ly Biệt
Thìn Tuất được tứ Đạt Đạo
Tỵ Hợi được tam Hiển Vinh
*Nam tuổi ẤT CANH lấy vợ tuổi
Tý Ngọ bị nhì Bần Tiện
Sửu Mùi được nhất Phú Quý
Dần Thân bị ngũ Ly Biệt
Mão Dậu được tứ Đạt Đạo
Thìn Tuất được tam Hiển Vinh
TỴ Hợi bị Nhì Bần Tiện
*Nam tuổi BÍNH TÂN lấy vợ tuổi
Tý Ngọ được nhất Phú Quý
Sửu Mùi bị ngũ Ly Biệt
Dần Thân được tứ Đạt Đạo
Mão Dậu được tam Hiển Vinh
Thìn Tuất bị nhì Bần Tiện
Tỵ Hợi được nhất Phú Quý
*Nam tuổi ĐINH NHÂM lấy vợ tuổi
Tý Ngọ bị ngũ Ly Biệt
Sửu Mùi được tứ Đạt Đạo
Dần Thân được tam Hiển Vinh
Mão Dậu bị nhì Bần Tiện
Thìn Tuất được nhất Phú Quý
Tỵ Hợi bị ngũ Ly Biệt
*Nam tuổi MẬU QUÝ lấy vợ tuổi
Tý Ngọ được tứ Đạt Đạo
Sửu Mùi được tam Hiển Vinh
Dần Thân bị nhì Bần Tiện
Mão Dậu được nhất Phú Quý
Thìn Tuất bị ngũ Ly Biệt
Tỵ Hợi được tứ Đạt Đạo
Ví dụ: Nam tuổi Giáp Dần lấy vợ tuổi Thìn hay Tuất thì được Đạt Đạo (gia đạo an vui) Bần Tiện là nghèo khổ, bần hàn. Đây là nghĩa tương đối có ý nói không khá được sau này ( có thể 15 hay 20 năm sau mới ứng). Bởi con nhà đại gia lấy con nhà đại gia thì dù có bị Bần Tiện cũng là đại gia, nhưng về sau thì kém lần không được như cũ).
Hóa giải sự bất an
|
| Căn hộ tốt cần "tàng phong tụ khí" |
Do diện tích hạn chế nên cửa vào các căn hộ chung cư ở cùng hành lang. Các cửa căn hộ thường đối diện nhau, có cửa lại nằm ở góc cuối, hẹp. Người sống trong căn hộ này dễ gặp rủi ro hoặc mắc các bệnh liên quan đến tỳ vị, khí huyết.
Cách hóa giải: Treo chuông gió bằng đồng ở cửa ra vào của căn hộ sẽ giúp khí luân chuyển tốt hơn. Căn hộ ở cuối hành lang thì nên treo cầu thủy tinh ngay gần cửa, giúp tán khí, tránh bị khí chiếu thẳng vào nhà.
Từ bên ngoài nhà thẳng với cửa vào căn hộ, có thể nhìn thấy toàn bộ gian phòng khách, thậm chí cả bếp và phòng ngủ. Theo phong thủy, điều này tối kỵ vì nó dễ gây hao tán về tài lộc và tâm lý bất an cho gia chủ.
|
| Đặt tượng kỳ lân hóa giải sát khí và mang lại may mắn |
Cách hóa giải: Dùng bình phong ở cửa hoặc thiết kế tủ trang trí có các ngăn trống để khí được lưu thông. Đối với gian bếp, bạn có thể sử dụng quầy bar che chắn. Trên tủ và quầy bar nên bày tượng kỳ lân hoặc tượng Thái Sơn trấn trạch quay ra cửa để hóa giải sát khí, đem lại bình an và may mắn.
Xử lý những ô cửa
Một bất cập khác nữa là cửa sổ hoặc cửa ra ban công của các căn hộ thường bị áp sát cửa của một căn hộ khác. Cũng có khi bị những góc nhọn, mái nhọn của nhà hàng xóm xung chiếu vào hoặc được mở ở hướng kỵ với mệnh gia chủ.
Cách hóa giải: Dùng rèm che các cửa sổ, cửa ban công. Trong trường hợp nhà thiếu ánh sáng mà không muốn dùng rèm, hãy treo phù ngũ phúc bằng đồng ngoài cửa. Vật này thuộc hành hành Kim có tác dụng hóa giải sát khí chiếu đến.
Do diện tích nhà hạn chế nên nhà vệ sinh cũng được thiết kế khép kín trong phòng ngủ. Theo thuật phong thủy, cửa nhà vệ sinh chiếu vào giường ngủ sẽ gây tổn hại sức khỏe gia chủ, đặc biệt là người mệnh Hỏa.
|
| Treo tiền cổ tạo không gian yên tĩnh |
Cách hóa giải: Treo 6 đồng tiền cổ tại các cửa phòng gần kề hoặc xung đối. Pháp khí này giúp căn nhà yên tĩnh, tránh bị xáo trộn. Nếu khoảng cách giữa các cửa phòng đủ lớn thì đặt cây xanh hoặc bình hoa tươi. Đối với nhà vệ sinh trong phòng ngủ, bạn nên dùng quả cầu thủy tinh treo ở cửa ra vào.
Gia tăng dương khí
Đối với các khu chung cư cũ, vấn đề tồn tại là hệ thống chiếu sáng hạn chế, diện tích sử dụng quá chật hẹp, phát sinh âm khí lớn. Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và tài lộc của gia chủ.
Cách hóa giải: Ngay trong phòng khách, bày quả cầu phong thủy bát mã. Vật khí này có công năng gia tăng dương khí, giúp cho khí trong nhà lưu thông tốt. Hàng ngày, bạn nên quay cầu này để kích hoạt khí.
(Theo Vietbao)
|

1. Móng chân thuộc “thường biến”. Nó thay đổi thường xuyên giống móng tay. Móng chân cũng có biểu tượng “duy biến” về hình móng: Còn “thường biến” có tính y biểu. Nghĩa
là về hình móng chân ít thay đổi. Nó chỉ thay đổi ít nhiều theo thời vận so với lúc mới sinh ra. Ô van, vuông, tròn…
2. “Thường biến” là do nghề nghiệp, do bệnh tật và thuốc uống lâu ngày làm tướng thay đổi sắc trạng.
Móng chân sẽ mỏng, dầy, cứng, sần sùi hay bóng láng… đều tuỳ thuộc “thường biến”.
Vì vậy khi xem móng tay thì móng chân cũng tương tự. Chú ý là nói móng tự nhiên chứ không phải móng tu sửa, nhuộm v.v…
Bé sinh vào mùa nào đặt tên theo tiết trời, thiên nhiên của mùa ấy là cách đặt tên vừa hay, ý nghĩa, lại hòa hợp theo phong thủy, đem lại may mắn, phát tài. Hãy thử tham khảo kiểu đặt tên con theo đúng mùa sinh và xem tên có phù hợp với con mình hay không?
Mùa xuân là mùa bắt đầu của một năm, mùa của cây cối đâm chồi nảy lộc, của muôn hoa khoe sắc thắm, mùa của những loài chim (đặc biệt là chim én) bay về làm tổ. Vì thế, có rất nhiều gợi ý thú vị cho những cái tên của bé yêu sinh vào mùa xuân:
Tên cho bé gái:
Mang ý nghĩa của mùa xuân: Minh Xuân (mùa xuân tươi sáng); Mỹ Xuân, Diễm Xuân (mùa xuân tươi đẹp); Thanh Xuân (tuổi trẻ tràn đầy sức sống); Hương Xuân (hương thơm của mùa xuân).
Các loài chim của mùa xuân: Hoàng Yến, Thanh Yến, Diệu Yến, Hồng Yến, Nhã Yến, Ngọc Yến, Bảo Yến, Phương Yến, Minh Yến, Xuân Yến, Kim Yến, Quỳnh Yến.
Các loài hoa của mùa xuân: Tú Mai, Thủy Tiên, Thanh Mai, Yến Thảo, Xuân Mai, Hải Đường, Nguyệt Mai, Cát Tường, Anh Đào, Tầm Xuân, Xuân Đào, Trà My, Thanh Đào, Anh Thảo.
Tên cho bé trai:
Mang ý nghĩa mùa xuân: Xuân Trường (mùa xuân trường tồn); Thanh Minh (tiết thanh minh của mùa xuân); Vĩnh Xuân (mùa xuân vĩnh cửu); Đông Phong (làn gió từ phương đông, gió mùa xuân); Đông Quân (vị thần của mặt trời, của mùa xuân).
Nhắc đến mùa hạ là nhắc đến sự rạo rực, sôi động và tràn đầy năng lượng từ ánh nắng mặt trời, từ những loài hoa nhiệt đới nhiều màu sặc sỡ và những cơn mưa mùa hạ tươi mát. Mùa hạ đem tới nhiều cảm hứng để đặt tên cho bé trai và bé gái:
Tên bé gái theo mùa hạ: Hạ Vy (mùa hạ nho nhỏ); Hạ Miên (giấc mơ mùa hạ); Diệp Hạ (lá cây mùa hạ); Lam Hạ (mùa hè xanh); An Hạ (mùa hè bình an); Thanh Hạ (mùa hè thanh bình); Hạ Vân (đám mây mùa hạ); Thùy Dương (án nắng rực rỡ); Thiên Thanh (bầu trời xanh)
Tên bé gá theo loài hoa mùa hạ: Đỗ Quyên, Hồng Liên, Mộc Miên, Diên Vỹ, Ngọc Phượng, Cát Phượng, Hướng Dương.
Tên bé trai theo mùa hạ: Hạ Vũ (mưa mùa hạ); Khởi Hạ (sự bắt đầu của mùa hạ); Quang Hạ (ánh nắng mùa hạ), Thái Dương (ánh mặt trời rực rỡ); Nam Phong (ngọn gió phía nam, gió mùa hạ)
Mùa thu đem đến cảm giác tươi sáng, nhẹ nhàng, lãng mạn. Đây là mùa có ngày Quốc khánh, ngày lễ vui và thiêng liêng của cả đất nước, mùa có trăng tròn đầy và viên mãn nhất:
Tên bé gái theo mùa thu: Hương Thu (hương thơm mùa thu); Diễm Thu (mùa thu đẹp); Hoài Thu (mùa thu thương nhớ); Minh Thu (mùa thu trong sáng); Bích Thu (mùa thu xanh)
Tên bé gái theo hiện tượng mùa thu: Thùy Vân (đám mây diêu bồng); Minh Nguyệt (ánh trăng sáng trong); Thu Nguyệt (ánh trăng mùa thu); Thu Thủy (làn nước mùa thu);
Tên bé gái theo loài hoa mùa thu: Thạch Thảo, Hoàng Cúc, Thanh Cúc, Hồng Cúc, Họa Mi, Vân Anh, Trúc Đào.
Tên bé trai theo mùa thu: Quốc Khánh (ngày vui của đất nước); Thanh Phong (ngọn gió mát màu thu); Vĩnh Thu (mùa thu dài bất tận)
Ấn tượng về mùa đông luôn là sự giá băng, lạnh lẽo. Vì thế, những cái tên liên quan đến các loài cây mạnh mẽ, chịu được sương gió bão tuyết cực kì thích hợp để đặt tên cho các bé trai. Những hiện tượng thiên nhiên lãng mạn như băng , tuyết cũng rất hợp để đặt tên cho bé gái:
Tên bé gái theo mùa đông: Đông Vy, Quỳnh Đông, Đông Nhi, Đông Phương
Tên bé gái theo hiện tượng mùa đông: Thanh Băng, Tuyết Nhi, Băng Di, Tuyết Ngọc, Tuyết Mai, Hải Băng, Ngọc Tuyết, Hàn Thư, Tuyết Vân, Hàn Nhi, Băng Tâm, Hàn Thanh, Khánh Băng, Minh Tuyết.
Tên bé trai theo mùa đông: Huỳnh Đông, Quang Đông, Hải Đông, Chí Đông, Giang Đông, Thụy Đông, Khả Đông.
Tên bé trai theo loài cây mùa đông: Hoàng Bách, Sơn Bách, Lâm Tùng, Thanh Tùng, Đức Tùng, Danh Tùng, Hoàng Thông, Huy Thông,
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Tuổi Mèo
Tháng 11, tài vận của người tuổi Mão tăng rõ rệt. Với tầm nhìn thực tế, thông suốt, họ sẽ vượt qua mọi khó khăn, thách thức. Sự nghiệp của người tuổi Mão trong tháng này cũng nhiều thăng tiến, tài chính rủng rỉnh. Về cuộc sống tình cảm, chuyện tình cảm của Mèo khá êm đềm, hòa thuận, đặc biệt là nửa cuối tháng 11.
![]() |
Tuổi Thân
Mỗi ngày trong tháng 11 qua đi, người tuổi Thân đều thấy mọi thứ của mình đều thuận lợi hơn ngày hôm qua. Tháng này, sự nghiệp của bạn có được sự giúp đỡ, hậu thuẫn đắc lực của bạn bè và đồng nghiệp. Cộng với nỗ lực không ngừng của bản thân, tình hình tải chính của bạn sẽ ổn định và không ngừng được cải thiện. Về tình cảm, bạn tỏa ra sức hấp dẫn khó cưỡng, khiến bất cứ đối tượng khác giới nào cũng phải ngước nhìn, muốn làm quen. Cuộc sống tình cảm của bạn nhìn chung ung dung tự tại, thuận theo tự nhiên, không bị gò bó áp đặt.
Tuổi Dần
Về sự nghiệp, năng lực của những người tuổi Dần cuối cùng cũng có đất dụng võ với nhiều cơ hội thể hiện giá trị bản thân. Vì tài lộc, bạn có nhiều nguồn thu ngoài mong đợi. Về tình cảm, vận đào hoa của người tuổi Dần nở rộ, có lợi trong việc xác định các mối quan hệ một cách dứt khoát, rõ ràng. Tổng thể, bạn có một tháng mới tốt lành.
Maruko (theo Meiguoshenpo)
Tướng Mạo Con Người Qua Ca Dao Dân Ca
Người xấu duyên lặn vào trong
Bao nhiêu người đẹp duyên bong ra ngoài.
Từ xa xưa, người Việt luôn luôn nhìn nhận về cơ thể mình như một ý thức, một nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống. Ca dao dân ca là nơi để họ giãi bày những nhận định, suy đoán về tính người qua hình dáng cơ thể sau nhiều thế hệ được đúc kết lại.
Tất nhiên, cách nhìn nhận ấy sẽ có đúng và có sai. Bởi đã nói là “đúc kết kinh nghiệm” thì không thể nào hoàn hảo được, dù những kinh nghiệm đó xuất phát từ thực tế cuộc sống đi nữa. Dưới góc nhìn của văn hoá dân gian, chúng tôi xin được điểm qua những kinh nghiệm ấy của người bình dân Việt Nam.

1. Nhìn người qua diện mạo, hình dung.
1.1. Qua “răng” và “tóc”.
Đầu tiên, điều người bình dân quan tâm nhất là hai bộ phận răng và tóc. Bởi lẽ, theo họ “cái răng, cái tóc là góc con người”!
So sánh với kinh nghiệm dân gian của những bà nội trợ khi chọn cá, diện mạo con người cũng được nhìn nhận, xét trong nội hàm câu ca, chúng tôi cho rằng đây dành cho người phụ nữ:
Cá tươi xem lấy đôi mang
Người khôn xem lấy đôi hàng tóc mai
Tương tự như vậy, có câu:
Tóc mai dài xuống mang tai
Là người khó tánh ít ai vừa lòng
Một tướng mạo khả ái danh cho khách má hồng:
Tóc thưa, dài, mướt, trắng da
Ở hàng lầu các, dung hòa phu nhân
Ngược lại, đây là hình ảnh lý tưởng:
Tóc đen, thưa, rộng mà dài
Vuông tròn sắc mặt là trai anh hùng
Nhìn tướng của cả hai: đàn ông lẫn đàn bà:
Đàn ông ít tóc: an nhàn
Đàn bà ít tóc: dở dang duyên tình
Tương tự, và ở chiều người lại, ca dao có câu:
Đàn bà nhiều tóc thì sang
Đàn ông nhiều tóc thì mang nặng đầu
Như vậy, có thể thấy rằng dân gian quan niệm đàn bà nhiều tóc là tốt tướng. Ngược lại, đàn ông ít tóc mới hay, trừ trường hợp:
Cái sọ trọc như không có tóc
Kém công danh lao lực về sau
Hàm răng cũng là nơi để người bình dân đánh giá chân dung con người. Những lời dành cho phái mạnh:
Trai mà có cặp răng nanh
Gan dạ, chịu đựng, khôn lanh đủ điều
Dành cho thiếu phụ:
Răng cao, miệng nhỏ: điêu ngoa
Răng thấp môi kín: thương cha nhớ chồng
Một câu khác cũng gần tương tự, nhưng có kết hợp với những yếu tố “da trắng” và “mặt sẫm”:
Răng thưa, da trắng: gái hay
Răng thưa, mặt sẫm: đổi thay chuyện tình
1.2. Mặt, trán, má, mày…
Trông mặt mà bắt hình dong, từ quan niệm ấy, nên trong kho tàng ca dao Việt Nam không ít lần người bình dân bày tỏ cách nhận diện con người qua mặt, mày:
Mặt dài tuy nhỏ: vui chơi
Tai to mặt ngắn: chịu lời đắng cay
Ở trán, một bộ phận nằm trên khuôn mặt cũng là nơi thể hiện tính cách, đối với phái nam, dân gian nhận xét:
– Đàn ông gân trán nổi cao
Tánh tình nóng nảy, dạt dào ái ân
– Trán cao có cái đầu vuông
Văn chương, khoa bảng có nhường ai đâu
Còn đây, là lời đúc kết dành cho phận gái:
Gò má mà chẳng cân phân
Cuộc đời cam chịu lắm phần lao đao
Đúng là “má hồng – bạc mệnh”!
Má hồng, trán bóng có duyên
Lương tâm dẫu tốt, đừng hòng tuổi cao
Cái nhìn dành cho cả hai đối tượng:
Đàn ông trán dựng có tài
Đàn bà trán dựng lâu đài soi gương
Môi, miệng cũng là nơi có thể đoán tính người:
Môi mỏng nói điều sai ngoa
Mai sau sinh nở con ra hoang đàng
Mồm mép cũng là những bộ phận không kém phần quan trọng để người ta trông vào:
Môi dày, miệng rộng cân phân
Nhơn trung sâu rộng, tánh chơn khoan hòa
Theo sách nhân tướng xưa, thì điểm giữa môi trên và đầu mũi được gọi là nhân trung
Một câu ca quen thuộc:
Đàn ông miệng rộng thì sang
Đàn bà miệng rộng tan hoang cửa nhà
Xét nội dung ngữ nghĩa, ta có hiểu cả về dáng hình của miệng rộng, lớn, cũng có thể xem xét ở nghĩa khái quát hơn nói miệng rộng tức là chỉ những người nhiều chuyện, lắm lời!
Nếu như câu ca trên dành cho phụ nữ, thì câu ca dưới đây không có chủ thể hiểu ở cả nữ lẫn nam đều có thể chấp nhận:
Hai môi không giữ kín răng
Là người yểu tướng, nói năng hỗn hào
Chân tướng những người khôn ngoan:
– Những người râu mép ngoảnh ra
Mép dày môi mỏng, ấy là tinh khôn
– Những người thành thật môi dày
Lại thêm ít nói lòng đầy nghĩa nhân
Cũng có khi phải kết hợp nhiều bộ phận từ dáng người đến tóc, môi,…
Người đen mà ốm lại cao
Tóc quăn, môi lớn, lao đao tháng ngày
Đến râu, lông cũng bộc lộ nhân cách.
Râu ria, lông ngực đôi bên
Chẳng phường phản bạn, cũng tên nịnh thần
Họ không ngần ngại kết luận:
Đàn ông mà kém bộ râu
Văn chương cũng dở, công hầu đừng mong
Nếu râu là bộ phận không thể thiếu cho bậc nam nhi, thì ngược lại nhũ hoa là bộ phận quan trọng không kém của người phụ nữ, bởi thiên chức của nó:
Đàn ông không râu bất nghì
Đàn bà không vú lấy gì nuôi con
Nơi cửa sổ của tâm hồn là đôi mắt, người bình dân cũng dành những nhận định xác đáng:
Người khôn con mắt đen sì
Người dại con mắt nửa chì nửa than
Một câu ca khác gần tương tự về nội dung như thế:
Người khôn con mắt dịu hiền
Người dại con mắt láo liên nhìn trời!
Câu ca dành để xem nam tướng:
Trán cao, mắt sáng phân minh
Là người học rộng, công danh tuyệt vời
Con mắt của kẻ vô nghì, ham mê tửu sắc:
Mắt tròn dưới mí láng sưng
Là tên tửu bác, không ngừng chơi đêm
Mũi cũng thể hiện được tính cách chủ nhân của nó:
Lỗ mũi mỏng, đầu cong, nhọn hoắc
Ắc lòng tham, hiểm độc gian phi
Tướng này đức đã suy vi
Nếu không tu thiện, hậu thì khó toan
Hay:
Lỗ mũi mà hỉnh ngửa lên
Bạc tiền chồng chất một bên chẳng còn
1.3. Ngoài những sắc diện đã giới thiệu, chúng ta còn thấy dân gian nhìn nhận ở các bộ phận khác trên cơ thể con người:
Một câu ca chỉ đơn thuần nói về hình thể:
Hàm rộng, miệng cọp: anh hùng
Hàm rắn, miệng chuột: bất trung vô nghì
Nhìn thân hình cũng có thể biết:
– Những người béo trục béo tròn
Ăn vụng như chớp đánh con cả ngày
– Ngồi khòm đầu gối quá tai
Là người cực khổ chẳng sai chút nào
Ở phụ nữ, dáng vẻ không thể chê vào đâu được:
Những người thắt đáy lưng ong
Vừa khéo chiều chồng, lại khéo nuôi con.
Bộ phận dưới của tai, theo dân gian cũng bộc lộ nhân cách:
Dái tai như hột châu thòng
Có thành, có quách, dày, hồng sắc tươi
Thiệt người phú quý thảnh thơi
Phong lưu tao nhã trên đời chẳng sai
Đến nốt ruồi cũng quyết định ít nhiều,…
Mụt ruồi màng tang cả làng ăn thép.
Mụt ruồi bên mép, ăn thép cả làng,
Ngón tay, bàn chân cũng là những bộ phận khác trong cơ thể của con người, góp phần hình thành tính cách. Những người có tướng mạo tốt:
– Ngón tay thon thỏn búp măng
Tánh tình khoan nhã, thơ văn đủ mùi
– Bàn tay đỏ ửng như son
Không người danh tướng cũng con học hành
– Thông minh, học giỏi, anh tài
Ngón (tay) nhỏ mà dài tựa đọt hành non
Những con người không ra gì, thể hiện ở tay, chân:
– Bàn tay ngang lại lắm lông
Là người nhục dục ắt không phải vừa
– Móng tay mỏng, nhọn: cơ cầu
Tâm tư hiểm độc, hay xâu của người
– Đàn bà chân thẳng ống đồng
Khó con mà lại sát chồng, nguy nan
Dân gian cảnh báo hãy tránh xa!
2. Đoán tính cách con người qua hành động đi đứng, ăn uống, tiếng nói, giọng cười.
Những người khôn ngoan bộc lộ qua lời nói:
Chim khôn kêu tiếng rảnh rang
Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe.
Bên cạnh đó, chân tướng của những người mà dân gian cho là “không ra gì” biểu hiện qua hành động đi đứng, chưa nói đã cười của họ:
Những cô chưa nói đã cười
Chưa đi đã chạy là người vô duyên
Một câu khác tương tự:
Vô duyên chưa nói đã cười
Chưa đi đã chạy là người vô duyên
Đến khi có chồng rồi, tính cách kia không sửa đổi, điều chỉnh thì chẳng những “vô duyên” mà tác hại còn nặng nề hơn:
Đàn bà chưa nói đã cười
Lương duyên vất vả, cuộc đời truân chuyên
To tiếng cũng là chân dung những phụ nữ không ra gì ở mai hậu:
Vai ngang, mặt lớn, tiếng to
Nhiều chồng mà lúc về già vẫn không
Cùng trong hành động đi, đứng, ta còn gặp hàng loạt câu ca khác:
– Ra đi chân bước nhẹ nhàng
Là người hiếu khách, rõ ràng yên vui
– Bước chân thình thịch, cúi đầu
Bôn ba đây đó, dãi dầu nắng mưa
Cùng một dáng đi, nhưng nam xấu, nữ tốt:
Tướng đi chân bước hai hàng
Nàng thì rộng lượng, còn chàng tiểu tâm
Kết hợp diện mạo, ăn nói, hành động:
Lưng dài vai mập ba gang,
Ăn nhai nửa miệng: khô khan chai lười
Dáng một “hiền nhân”:
Mắt ngước, chân bước nhẹ nhàng
Tướng đi khang nhã, rõ ràng hiền nhân
Nhút nhát bộc lộ sự thiệt thòi:
Chưa nói mà đã thẹn thò
Phải chịu thiệt thòi trong việc làm ăn
Hay nhẹ hơn, đây là những hành động chỉ những người luôn luôn sầu tư, ảo não:
Những người chép miệng thở dài
Chỉ là sầu khổ bằng ai bao giờ
Kết hợp cả diện mạo và lời nói, chân tướng của kẻ khôn ngoan:
Khao khao giọng thổ tiếng đồng,
Quăn quăn tóc trán là dòng khôn ngoan.
Giọng nói của người hiểm độc:
– Tiếng nói rít qua kẽ răng
Là người nham hiểm sánh bằng hổ lang
– Những người, lẩm bẩm một mình
Giàu sang chẳng được, lại sinh kém tài
Cũng có khi cùng một gam “giọng nói” nhưng nam thì tốt, mà nữ thì bị xã hội phê phán:
Giọng nói răm rắp tiếng dư
Trai thì can đảm, gái ư gan lỳ
Và “tiếng nói” để nhận diện phụ nữ:
Đàn bà lanh lãnh tiếng đồng
Một là sát chồng, hai là hại con
Hoặc những nam nhân mà mang nhiều “nữ tính”:
Trai mà nói giọng đàn bà
Tánh tình nhu nhược, còn là long đong
Ăn trông nồi, ngồi trông hướng, dân gian đã căn dặn hậu sinh như thế. Qua đó, có thể thấy rằng không chỉ trong “ăn nói” mà ngay trong hành động ăn uống cũng góp phần thể hiện tính cách.
Ăn uống khoan thai là người thanh cao
Ăn uống nhồm nhoàm là người thô tục
Một người có tài “mồm mép”!:
Trán cao, miệng rộng, mũi dài
Có khoa ăn nói, ít ai sánh bằng
3. Nhìn tướng người và thể hiện thái độ bằng những quan hệ ứng xử.
Từ tướng mạo, người bình dân đưa ra hướng ứng xử trong giao tiếp. Tuỳ theo đối tượng, khen chê, trọng khinh được đưa ra.
Đối với với người dịu dàng dễ thương mến:
Chẳng tham nhà ngói rung rinh
Tham vì một nỗi anh xinh miệng cười
Miệng cười em đáng mấy mươi
Chân đi đáng nén miệng cười đáng trăm
Những người con mắt lá răm
Lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền
Lối so sánh vừa khéo léo, tế nhị đã bộc lộ được tất cả những gì người nói muốn nói! Những người có “cao” tướng, ắt hẳn sẽ có hạnh phúc:
Đàn ông gối dụm, chân chàn
Chẳng cô gái đẹp cũng nàng nết na
Còn đây, nhưng người mà theo dân gian phải tránh xa:
– Chim sa, cá nhảy chớ nuôi
Những người lông bụng chớ chơi bạn cùng
– Mắt trắng, môi thâm, da thiết bì
Người nhiều lông bụng: vô nghì chớ thân
Hay:
Những người tai mỏng mà mềm
Là phường xấc láo, lại thêm gian tà
Dáng mạo cũng báo trước cho biết những người khó thuỷ chung:
– Mi nhỏ như sợi chỉ mành
Tình trong chưa thắm, ngoại tình đã giao
Tính cách không ra gì:
Những người béo trục béo tròn
Ăn vụng như chớp đánh con cả ngày
Những người mặt nạc đóm dầy
Mo nang trôi sấp, biết ngày nào khôn.
– Đàn bà vú lép, to hông
Đít teo bụng ỏng, cho không chẳng cầu
– Những người ti hí mắt lươn
Trai thì trộm cướp, gái buôn chồng người
– Những người mặt nặng như mo
Chân đi bậm bịch, có cho chẳng thèm
Những kẻ bảo thủ, không có ý cầu tiến:
Những người tai ngửa ra sau
Tướng hèn mà lại cứng đầu, chậm nghe
Trên diện mạo đôi lúc chỉ cần đảo vị trí, tính tình cũng quay ngược hẳn ở hai chiều khác nhau:
Mắt dài, mày ngắn: bất bình
Mày dài, mắt ngắn: đệ huynh vẹn toàn
Xem ánh mắt, dân gian không ngần ngại bày tỏ với những cô gái “vô duyên”:
– Con lợn mắt trắng thì nuôi
Những người mắt trắng đánh rồi đuổi đi
– Miệng rộng, môi mỏng, liếc ngang
Con gái như thế chẳng màng làm chi
Dành cho kẻ “sáng say, chiều xỉn”:
Lờ đờ như người say rượu
Mắt đỏ hoe, phải liệu mà chơi
Cũng có người mà ngay trong tướng mạo như đã báo trước những điều bất hạnh:
Kẻ nào trống giữa bàn chưn
Hổng không đụng đất thì đừng chơi xa
4. Những nhận con người qua công việc.
Ở một cấp độ khác, người bình dân thể hiện thái độ của mình qua việc nhìn nhận đánh giá về công việc thường nhật. Chúng tôi chỉ dừng lại ở thái độ mỉa mai, phê phán những hiện tượng lười biếng, dành cho những hạng người vô tích sự trong cuộc sống.
Dân gian cho rằng người phụ nữ chu đáo, đáng trọng là người biết tảo tần, đảm đang, có chồng phải “gánh giang san nhà chồng”, nên họ khẳng khái dành cho những kẻ “ngồi lê đôi mách”:
Đàn bà yếu chân mềm tay
Làm ăn chẳng được lại hay nỏ mồm
Họ quả quyết chắc chắn rằng:
Đàn bà không biết nuôi heo là đàn bà nhác
Đàn ông không biết buộc lạt là đàn ông hư
Và nặng lời chế giễu:
– Làm trai cho đáng thân trai
Khom lưng cố sức gánh hai hạt vừng
– Ăn no rồi lại nằm khoèo
Nghe giục trống chèo bế bụng đi xem
Chân dung của những con người vô dụng:
Chú tôi hay tửu hay tăm
Hay nước chè đặc hay nằm ngủ trưa
Ngày thì khấn những ngày mưa
Đêm thì ước những đêm thừa trống canh
Hay:
– Chồng người cưỡi ngựa bắn cung
Chồng em thì lấy dây thung bắn ruồi
– Chồng người đi ngược về xuôi
Chồng em ngồi bếp sờ đuôi con mèo, …
5. Kết luận.
Qua các cung bậc nhìn nhận đánh giá con người qua tướng mạo chúng ta thấy đời sống tinh thần của người bình dân hết sức đa dạng, phong phú.
Từ đó, mở rộng vấn đề chúng ta nhận thấy chức năng của thể loại ca dao – dân ca không chỉ dừng lại ở cấp độ nghi lễ hay trữ tình, nó còn phản ánh đầy đủ các biểu hiện, các khía cạnh trong đời sống tâm hồn người bình dân. Mảng ca dao tướng mạo – tính cách vừa là kinh nghiệm sống, kinh nghiệm ứng xử trong các mối quan hệ ở cánh đồng thửa ruộng, thôn quê tự ngày xưa ấy!
Đã nói là đoán và xem tướng mạo, như chúng tôi đã đề cập ngay trong phần đầu bài viết, nó có thể đúng, cũng có thể sai, song đúng hay sai gì thì những lời ca ấy vẫn tồn tại, vẫn có sức sống lâu bền, sống bằng cách của riêng nó. Tự trong lòng ca dao, dân gian cũng tự nhận định và đánh giá nội dung này:
Sông sâu sào vắn dễ dò
Đố ai lấy thước mà đo lòng người
Hay:
Vẻ cọp chẳng vẻ được xương
Hoạ chăng chỉ thấy mấy đường ngoài da
Xin mượn lời hát đối đáp sau đây để thay lời kết luận với hàm ý muốn nhắc lại những cách đánh giá, nhận định về tướng mạo không ít nội dung bị tư tưởng chủ quan của người trong cuộc quyết định!
– Má bánh bầu xem lâu muốn chửi
Mặt chữ điền tiền rưỡi muốn mua
– Má miếng bầu coi lâu càng thắm
Mặt chữ điền xấu lắm ai ơi!./.
Phong thủy truyền thông cho rằng, trong ngôi nhà thì trần nhà đươc coi là trời còn nền nhà là măt đất, vì vậy, khi trang trí trần nhà cần chú ý:

– Màu sắc của trần nhà phải thanh nhã, nhẹ nhàng, nên dùng gam màu nhạt như màu lam nhạt, xanh da trời, trắng sữa, xám nhạt, vàng nhạt… làm màu chủ đạo. Đối xứng với tấm trần là mặt nền nhà cần phải mang màu đậm hơn một chút.
– Với những trần nhà thấp do có xà ngang, bạn hãy trang trí xung quanh tấm trần thật đơn giản, còn phần giữa trang trí bằng một chùm đèn pha lê đủ loại đẹp mắt, tuyệt đôi không được gắn gương phản chiếu lên trần nhà.
– Những phòng khách không đủ ánh sáng tự nhiên, khắc phục bằng cách lắp bóng đèn huỳnh quang khuất quanh tấm trần, phần giữa trang trí bằng một chùm đèn pha lê, ban ngày, ánh sáng gần giống với ánh sáng tự nhiên của mặt trời phát ra từ bóng đèn huỳnh quang sẽ khiến phòng khách tươi sáng hơn. Buổi tối, gian phòng khách sẽ đẹp lung linh nhờ sự kết hợp của hai chùm ánh sáng.
Phòng ngủ và nhất là giường là một trong những yếu tố rất quan trọng trong phong thủy nhà ở. Đặc biệt, hướng giường ngủ có tác động tới sức khỏe, tinh thần và thậm chí vận may của những người ngủ trên giường. Vì thế, nếu giường đặt vị trí hợp phong thủy không chỉ mang lại giấc ngủ ngon mà còn mang lại năng lượng để hỗ trợ bạn nhiều mặt của cuộc sống như tình yêu, công việc, tài lộc, sức khỏe… Các hướng dẫn phong thủy phòng ngủ khá dễ để thực hiện, tuy nhiên hướng giường ngủ lại là vấn đề khiến nhiều người cảm thấy thách thức vì nó hoàn toàn phụ thuộc vào hướng phòng ngủ của bạn
![]() |
![]() |
1. Cổ tay nhiều đường vân chằng chịt Chủ nhân của tướng tay mà có nhiều đường vân chằng chịt ở phần cổ tay hợp lại với nhau như dây xích, thường rất coi trọng vấn đề vật chất, thích theo đuổi hư vinh. Người này tuy biết tính toán cẩn thận nhưng lại hay do dự, không quyết đoán vì thế thường xuyên rơi vào cảnh thu không đủ chi, phải bôn ba khắp nơi để làm việc kiếm sống, kiếm tiền miệt mài để bù vào lỗ hổng kinh tế do chính bản thân mình tạo ra.
2. Gò Kim tinh có vân hình lưới sâu và đậm
Gò Kim tinh nằm ở đốt xương thứ ba của ngón cái, nơi cơ thịt khá phát triển. Gò này là đại diện cho sự nhiệt tình với cuộc sống. Mức độ phát triển của nó trực tiếp phản ánh tinh lực và sức sống của một người. Nếu trên gò này có vân hình lưới sâu, đậm và rõ nét, cho thấy bất luận sự việc lớn nhhỏ nào người này đều phải tự tay mình làm. Một mặt vì họ không dễ dàng tin tưởng người khác, mặt khác không có ai nhiệt tình giúp đỡ. Đây là một trong những đặc điểm dễ nhận thấy của tướng tay vất vả, bôn ba đó đây để lập nghiệp. Người này luôn tự mình xử lý mọi việc nhưng do thiếu tính quy hoạch tổng thể sẽ khiến cho sự việc dường như không được tiến triển tốt, giống như đầu voi đuôi chuột, hiệu suất công việc thấp. Lúc nào cũng làm việc tất bật, vất vả nhưng đổi lại, không gặt hái được thành quả như ý muốn.
3. Đường chỉ tay Vận mệnh đứt đoạn Đường chỉ tay vận mệnh hay còn gọi là đường cuộc đời, đường số phận. Vị trí của đường vận mệnh: bắt đầu từ phần dưới cùng của lòng bàn tay (gần cổ tay) và di chuyển dần lên ngón tay giữa.
Đường vận mệnh chỉ những điều liên quan đến sự nghiệp, công việc, những tham vọng và định hướng trong cuộc sống. Đường này gián đoạn, không thẳng, đứt đoạn, hình dạng không theo quy tắc, cho thấy chủ nhân làm việc gì cũng đại khái qua loa, không có cách nào làm việc tới nơi tới chốn, luôn xảy ra tình trạng bỏ cuộc giữa chừng, vận thế cuộc đời cũng do đó mà bị những ảnh hưỏng nhất định.
4. Đầu ngón tay có rất nhiều đường vân thẳng
Đầu các ngón tay (trừ ngón tay cái) có nhiều đường vân thẳng, cho thấy chủ nhân phải lao tâm khổ tứ, làm việc cật lực nhưng thu lại ít thành quả. Bản thân người này nhìn nhận sự việc bằng con mắt rất nông cạn. Chỉ có thể nhìn thây lợi ích trước mắt, cả đời liều mạng theo đuổi, cuối đời cuộc sống khá vất vả, khó nhọc.
5. Đường Công danh nhiều nhưng có đường phân nhánh Trong lòng bàn tay, đường Công danh là một đường vân dài song song với đường chỉ tay Định mệnh, đường này xuất phát từ ngón áp út và có thể kéo dài xuống tận đáy lòng bàn tay.
Đường Công danh cho biết mức độ thành công trong sự nghiệp của mỗi người, biểu thị người đó gặt hái được những thành công gì cho sự nỗ lực, đóng góp của mình.
Nếu trên đường Công danh có rất nhiều đường phân nhánh nhỏ kéo dài ra, biểu thị chủ nhân người rất rộng rãi, ham học hỏi, chịu tiếp thu tri thức ở các lĩnh vực khác nhau. Nhược điểm của họ là thiếu tính nhẫn nại, hầu như là không kiên trì được đến cuối cùng, do đó họ khó mà đạt được kết quả thực sự, trải qua không ít lần thất bại mới có thể tiến tới thành công. Theo: Lichngaytot.com
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Ngọc Sương (##)
Nếu nguời nấu bếp bị hoảng hốt thì một chuỗi kích động phản ứng được hình thành. Thí dụ nếu ông chồng thình lình ôm chầm vợ mình trong khi bà đang xắt cà rốt hay đang nấu đồ ăn trên bếp thì bà có thể nổi cáu, điều này có thể ảnh huởng đến liên hệ của họ trong tối hôm đó và rồi lan tới văn phòng ngày hôm sau.
Bếp lò cũng tuợng trưng cho tình trạng tài chính khá giả trong gia đình. Người ta cần giữ bếp sạch và làm việc đều đặn, như thế tiền sẽ dễ vào nhà. Nếu bếp khó cháy công việc làm hay bị phá ngang với nhiều trỡ ngại. Gia đình có thịnh vựợng hay không cũng có ảnh hưởng đến số lượng bếp được nấu như ta dùng nhiều bếp thì thêm tiền kiếm ra.
Cách chữa: Đặt gương hay kim loại trắng trên tường bếp sau dãy lò và nếu cần ta còn viền thành lọ để tạo thêm không khí thỏai mái trong khi nấu ăn. Người nấu bếp sẽ không giật mình khi có người vào bếp nhờ nhìn phản chiếu sau dãy bếp lò. Số bếp lò dù có nhỏ mà dùng nhiều thì tiền kiếm được vẫn gia tăng. Nếu lò nấu nhìn vào một vách tuờng có cửa sổ thì dù cảnh trí có đẹp vẫn có ảnh hưởng nhất định đến người nấu, tốt hơn hết là đặt gương phản chiếu ra cửa bếp hay treo một chiếc khanh hay một qua 3 cầu thủy tinh giữa dãy bếp và cửa ra vào.
Đây là những biến cách khác về nhà bếp:
1. Vị trí này rất tốt. người nấu bếp dễ thấy người ra vào.
2. Vị trí lò này là tốt nhất, cách sắp xếp không bị gò bó.
3. Vị trí lò ở đây xấu cho nền tài chính và sự ổn định trong nhà.
Cách chữa: Treo gương chiếu bên trên lò nhìn ra cửa.
4. Lò bếp này đặt không gặp may.
Cách chữa: treo gương chiếu bên trên lò nhìn ra cửa.
5. Bếp lò này đặt thất cách và tù túng mà lại có thể làm hai cho nghề nghiệp của chủ nhà.
Cách chữa: Treo gương trên tường hình chữ L theo hình vẽ.
6. Cách sắp xếp này dở tệ.
Cách chữa: Đặt gương trên tường theo hình vẽ, cách đặt gương này cũng làm tăng gấp đôi số bếp lò.
Trang trí tường phòng khách phải lưu ý đến nhiều yếu tô” như: không gian, hướng ánh sáng, bối cảnh, sự phôi hợp bố trí vị trí và màu sắc các đồ vật…

Tường phòng khách có tác dụng tôn thêm các đồ
vật khác trong phòng. Do đó, không nên lạm dụng
trang trí quá nhiều, quá rườm rà mà nên đơn giản,
gọn gàng. Màu sắc tốt nhất là màu sáng. Đồng thời,
trên một mặt tường nên trang trí có trọng điểm, trọng
tâm, vừa thể hiên cá tính vừa thể hiên sở thích của / • •
gia chủ. Có thể làm đẹp bằng đồ trang trí, trang trí theo hình tròn hoặc có thể biến hoá đa dạng, phong phú trên mặt tường. Ngoài ra, có thể sử dụng những vật liệu đặc biệt để trang trí mặt tường chính, như chọn vật liệu rồi tạo theo nhiều kiểu dáng mới lạ. Nếu phòng khách lấy bộ sôfa làm trọng tâm, đôi diện ghế sôfa là kệ để tivi hoặc những đồ đạc khác thì có thể tiến hành trang trí ở bức tường đằng sau kệ tivi. Treo một bộ tranh hoặc treo một tấm phù điêu để thích hợp cho việc trang trí trên tường.
Bên cạnh đó có thể trang trí ở mặt tường phía sau ghế sôfa như lắp đèn treo tường hoặc treo những đồ trang trí khác. Cách trang trí này dựa theo sở thích của gia chủ.
Treo những bức thư pháp có nội dung cát lợi trên tường cũng là một phương án được nhiều người sử dụng. Trong phòng khách có những bức tranh này, theo phong thuỷ sẽ có tác dụng đề cao nhân khí, mang lại phú quý cho các thành viên trong gia đình. Thêm vào đó có thể xen vào hình hoa mẫu đơn tượng trưng cho vinh hoa phú quý, hình cá chép, hoa sen tượng trưng cho cả năm dư giả, hình tùng hạc thiên niên tượng trưng sự trường thọ, hình bách vân tượng trưng cho phú quý trường tồn.
Màu sắc trong phòng ngủ nên chọn tông màu hướng về sự hài hoà, yên tĩnh thì mới phát huy hết chức năng của phòng ngủ.
Đối với phòng ngủ có diện tích rộng thì rất dễ chọn lựa cách trang trí cho mặt tường như màu sắc, hình vẽ, sự kết hợp màu sắc nóng lạnh cho giấy dán tường, vách ngăn…
Đôi với phòng ngủ có diện tích hẹp thì sự lựa chọn sẽ ít đi, nên dùng những gam màu ấm, nhạt, hoa văn trang trí nhỏ thì thích hợp.
Đôi với những phòng ngủ có diện tích lớn, ít sinh khí thì nên làm thêm vách ngăn nhưng cũng không nên quá nhiều và cũng cần kết hợp với chất liệu của tường và nội thất trong phòng.
Đối với phòng ngủ có diện tích nhỏ thì nên treo những tranh có màu lạnh tạo cảm giác khoáng đạt. Tranh và khung tranh treo trên tường phải có màu sắc phù hợp với nội thất và màu tường. Khi chọn lựa chất liệu của đồ trang trí nên chú ý tới hiệu quả phôi hợp giữa chúng chứ không nên vì đồ đắt tiền mà chọn. Chỉ có sự hài hoà giữa các đồ nội thất mới tạo được vẻ đẹp hoàn mỹ cho phòng ngủ của bạn.
Chất liệu dùng làm tường phòng ngủ không nên dùng kính, kim loại, đá, cẩm thạch… mà nên dùng sơn tường, vừa tránh được sự phản xạ vừa tốt co sự thấm hút của tường. Màu sắc nên nhẹ nhàng, tạo cảm giác bình an, tốt cho nghỉ ngơi. Căn cứ vào thuyết ngũ hành, vị trí và màu sắc phòng ngủ có những đối ứng sau:
Đông, Đông Nam: xanh lục, xanh lam.
Nam: tím nhạt, vàng, đen.
Tây: hồng, trắng, trắng ngà, màu tro.
Bắc: xám, trắng ngà, hồng, đỏ.
Tây Bắc: màu tro, trắng, hồng, vàng, nâu, đen.
Đông Bắc: vàng nhạt, màu ghi.
Tây Nam: vàng, nâu.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Cát Phượng (##)
Tuỳ vào không gian nhà bếp, bàn ăn cũng sẽ có rất nhiều loại để các bà nội trợ tham khảo và áp dụng cho gia đình mình.
Bàn ăn theo phong thuỷ
Theo quan điểm của người Việt, bữa ăn là nơi đoàn tụ sum vầy giữa các thành viên trong gia đình, nơi mang ý nghĩa sâu sắc nhất của hai từ “tổ ấm” qua các bữa cơm chung. Bàn ăn truyền thống có hình tròn thể hiện sự đoàn tụ, hoặc hình chữ nhật, hình vuông. Ngày nay, do như cầu về thẩm mỹ, bàn ăn được thiết kế đa dạng hơn với hình oval, hình lục giác… Bàn ăn hình tam giác thường không được chọn.

Hoa tươi mang lại không khí vui vẻ trong các bữa ăn trong phong thuỷ.
Theo phong thuỷ, tối kỵ việc đặt bàn ăn và cửa chính trên cùng một đường thẳng vì bàn ăn không thích hợp trực xung với cửa chính. Ví dụ, chủ nhà thuộc về Đông tứ mệnh thì bàn ăn tránh đặt ở một trong bốn hướng: Tây, Tây Nam, Tây Bắc, Đông Bắc. Hay chủ nhà thuộc Tây tứ mệnh thì không đặt bàn ăn ở các hướng: Đông Nam, Đông, Nam và Bắc.
Bàn ăn cũng tránh đặt đối diện xà ngang trên đỉnh, vì như thế sẽ mang lại cảm giác có đao sắc trên đầu mình, đè nén, nặng nề và bất an trong người. Màu sắc của bàn ăn tốt nhất nên hợp với ngũ hành với chủ nhà sẽ tạo sự hưng thịnh trong gia đình.
Nhược điểm của phong cách bàn ăn theo phong thuỷ là chú trọng quá nhiều vào cách bố trí bàn ăn trong không gian chung. Việc tuân theo nguyên tắc phong thuỷ về cách sắp xếp bàn ghế, các vật dụng, vị trí ngồi của các thành viên trong gia đình nhằm hướng đến sự hoà hợp và tốt nhất cho gia chủ nhiều khi sẽ khó đảm bảo yếu tố thẩm mỹ hay phong cách, cá tính của bạn. Một khi đã chọn phong cách này, các bà nội trợ nên tham khảo qua ý kiến của các chuyên gia về phong thuỷ khi muốn thay đổi hay bày trí thêm trên bàn ăn hay chính trong không gian bếp để có lời khuyên thích hợp nhất.
Bàn ăn theo phong cách vintage
Phong cách vintage mang lại không gian lãng mạn cho bữa ăn hay các bữa tiệc quan trọng của gia đình. Phong cách này chú trọng nhiều đến sự sắp xếp và kết hợp khéo léo trong cách trình bày.

Một góc bàn ăn theo phong cách Vintage.
Phong cách bàn ăn này thường đi kèm với khăn ăn hoạ tiết hoặc ren, dĩa chén bằng sứ hoa văn đẹp mắt và hoa. Ưu điểm lớn nhất của phong cách này là không cần bộ đồ ăn đắt tiền hay khăn trải bàn sang trọng, điều quan trọng là sự chăm chút, tỉ mẫn khéo léo của người bày trí. Một cái nơ được thắt từ dây gai mộc mạc trên một cành hoa hoặc đơn giản hơn là một nhành cây cũng tạo nên nét đẹp tinh tế.
Phong cách này đòi hỏi bạn phải có sự nhạy cảm và óc thẩm mỹ trong việc kết hợp mới có thể tạo nên một bàn ăn đậm chất vintage, sao cho vừa phù hợp không gian, văn hoá và thói quen của mọi người tham gia bữa ăn.
Bàn ăn theo phong cách phương Tây
Bữa ăn theo phong cách phương Tây thường gồm 03 phần và đồ uống đi kèm, do đó bàn ăn phong cách này cũng đòi hỏi sự chuẩn bị chỉn chu cho bộ dụng cụ đồ ăn cá nhân tối thiểu. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc bạn sẽ chi khá nhiều cho các bộ chén dĩa, muỗng nĩa, ly uống thuỷ tinh và các vật dụng đi kèm khác dùng trong bữa ăn.

Một trong những cách trình bày bàn ăn phong cách phương Tây.
Điểm mạnh nhất của phong cách này là không gian sang trọng và hiện đại, phù hợp với các gia đình hay tổ chức tiệc tại gia hay các cuộc họp mặt gia đình quan trọng. Phong cách bàn ăn phương Tây mang đến cảm giác gần gũi và vui vẻ nhưng vẫn thể hiện được phong cách riêng của gia chủ.
Với bất kì phong cách bàn ăn nào, phong thuỷ hay vintage, truyền thống hay phương Tây thì bạn phải đảm bảo những yêu cầu tối thiểu cho bàn ăn như sau: Bàn ăn nên được dọn dẹp sạch sẽ, gọn gàng, tránh việc bày nhiều vật linh tinh hoặc không cần thiết. Không nên kết hợp quá nhiều phong cách cho bàn ăn cùng một lúc. Chỉ nên chọn phong cách thích hợp nhất cho từng thời điểm hay mục đích bữa ăn của gia đình và không gian bếp. Phù hợp nhất vẫn là tốt nhất! Đảm bảo yếu tố ánh sáng cho bữa ăn và không gian bằng ánh sáng tự nhiên hay ánh sáng từ đèn thả, đèn chùm. Bạn cũng có thể kết hợp giá để rượu, rèm hoạ tiết, giấy dán tường, hoa trang trí cho nhà bếp, bàn ăn hay các loại đèn thả vừa có giá trị trang trí vừa thể hiện phong cách trong chính gian bếp của mình.
Quan trọng nhất vẫn là việc lựa chọn và thiết kế không gian phù hợp với tổng thể tạo sự thoải mái và vui vẻ cho bữa ăn gia đình, nhằm mang lại tiếng cười và sự gắn kết giữa các thành viên để tạo nên một tổ ấm, nơi tất cả mọi người đều muốn trở về sau một ngày dài mệt mỏi, đồng thời cũng là nơi để các bạn, những người nội trợ trở thành nghệ sĩ trong mắt các thành viên trong gia đình. |
Mai Hương
(Ảnh: Internet)
chắn mất, có bốn cách cải thiện như sau:
– Cố gắng dẹp bỏ vật cản trước cửa hàng để mặt tiền hiện ra.

– Đối với mặt tiền chật hẹp không thể sửa chữa được thì nâng cao mặt tiền lên để cho khách hàng từ xa cũng có thể nhìn thấy cửa hàng.
– Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như báo đài, vô tuyến, biển quảng cáo để tuyên truyền, quảng cáo cố gắng làm cho khách hàng biết được địa chỉ cửa hàng, hàng hóa kinh doanh và đặc điểm dịch vụ của cửa hàng.
– Tích cực tham gia những hoạt động từ thiện để quảng bá danh tiếng của cửa hàng.
Năm 2004 quẻ Cấn bát vận bắt đầu chuyển động, quẻ Cấn tượng trưng cho núi cao. Bát vận chuyển động, núi cao cũng chuyển động, các cao nhân sống trong núi cũng thay đổi tâm lý, cùng xuống núi mưu cầu công danh. Điều này có nghĩa là ngũ thuật: sơn, y, mệnh, bặc, tướng của các sơn nhân nêu lên chắc chắn sẽ tung hoành thiên hạ trong năm bát vận (2004 – 2023).
![]() |
| A. Vai rộng |
| B. Vai trung bình |
| C. Vai hẹp |
Mộc Trà (theo Buzz)
Theo khái niệm âm dương, thì gió (phong) bao gồm 2 loại: gió từ đỉnh núi thổi xuống gọi là gió dương, gió từ khe núi thổi lên gọi là gió âm.
|
| (Ảnh chỉ mang tính chất minh họa) |
Ở vùng đồng bằng thì huyệt không sợ gió. Các loại gió thổi từ Đông sang Tây, từ Nam lên Bắc là gió ấm, gọi là gió dương thì không cần đề phòng. Các loại gió hướng Tây, hướng Bắc gọi là gió âm thường lạnh, vì vậy huyệt nên có Án Sơn - núi che phía trước, nếu không xương cốt trong mộ sẽ bị lạnh, gia chủ sẽ khuynh gia bại sản.
Theo sách Địa lý giảm giả lục: “Gió âm sẽ làm tản sinh khí. Vì vậy, nếu gió này thổi trực xạ (thổi thẳng) vào mộ là hung (xấu). Ở đồng bằng và vùng sông, biển mênh mông, an táng mộ không cần núi gò cao che chắn gió dương, vì gió này không kỵ, không có sát khí.”
Long khí không thông gió sẽ vượng, dương trạch (nhà ở) nên đóng cửa sổ vì nếu gió dữ thổi, cửa không đóng, khí lạnh tràn vào nhà sẽ hung. Nếu triều án sơn lõm khuyết bị gió thổi gọi là trực xạ.
Theo sách Địa lý 88 hướng chân quyết, có 8 loại địa hình xấu không vì không che được 8 loại gió hung dữ (bát phong):
1. Tiền phong: Minh đường (khoảng đất trước huyệt mộ) bị nghiêng lệch, Án Sơn (ngọn núi che chắn trước mộ) lõm khuyết, bị gió âm (gió Tây Bắc) trực xạ, không thể tụ khí chủ về sự bần hàn, con cháu phải chịu cuộc sống long đong, xa quê.
2. Hậu phong: Không có Phụ Mẫu Sơn (núi che chắn phía sau mộ), gió thổi lưng huyệt thì chủ về sự khốn cùng, đoản mệnh...
3. Tả phong: Gò Thanh Long thấp bé, không cản nổi gió tả phong thì gia chủ vong, nữ chủ nhân quả phụ.
4. Hữu phong: Gò Bạch Hổ thấp bé, không cản nổi gió hữu phong thì nữ gia chủ vong, dễ tuyệt tự.
5 - 6. Lưỡng mày phong: Gió thổi vào chỗ giao nhau dưới Chủ Sơn và gò Thanh Long hoặc gò Bạch Hổ bị lõm khuyết thì gia chủ vong, tự tuyệt.
7 - 8. Đuôi Long Hổ phong: Đuôi Long Hổ thấp, gió thổi qua chỗ đó gọi là đuôi Long Hổ phong, là đại hung. Chủ nhân dễ bị khuynh gia bại sản. Nếu gió từ hướng (Cấn) Đông Bắc thì rất dữ.
Tuy nhiên, nếu huyệt mộ được Sa và Thủy bao bọc tầng tầng, lớp lớp thì sẽ không lo 8 loại gió hung nói trên.
(Theo Bí ẩn thời vận)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Trúc Loan (##)
Khi mở đầu việc làm nhà, dựng cửa…, mọi người thường quan tâm tới phong thủy nhà. Từ xa xưa cho tới nay, cư dân Việt hiện đại vẫn gặp ít nhiều khó khăn ngay từ bước khởi đầu, nhất là việc xem hướng nhà.
Có 4 tiêu chí sau đây để đánh giá tốt xấu cho phương hướng nhà
Tốt xấu theo khí hậu
Hướng nam và lân cận nam (đông nam và tây nam) là những hướng tốt với địa lý, khí hậu Việt Nam. Những hướng này có gió mát và ánh sáng ổn định, không khí ấm áp. Trong khi đó, hướng tây, tây bắc thì nắng gắt và rất nóng vào buổi chiều. Hướng đông thì chói vào buổi sáng và chịu thêm gió lạnh tướng đông bắc lân cận. Do vậy, đa phần các ngôi nhà truyền thống của ông cha ta đều quay cửa chính về hướng lân cận nam, quay đầu hồi về hướng tây. Một công trình kiến trúc nếu không được hưởng khí hậu phù hợp thì tuổi thọ công trình sẽ giảm, tác động xấu đến người cư ngụ.
Tốt xấu theo hướng mệnh trạch
Căn cứ năm sinh (âm lịch), thì dịch học phương đông quy định mỗi người (nam và nữ) sẽ có mệnh cung tương ứng với tám hướng trong tự nhiên theo tám quẻ của bát quái, phân thành hai nhóm là nhóm đông tứ mệnh và tây tứ mệnh. Có thể tham khảo các cuốn sách về Dịch học và văn hóa truyền thống phương đông để dễ tìm ra cung mệnh của mỗi người. Cũng vì mỗi tuổi khác nhau nên dù có hai ngôi nhà giống hệt nhau ở cạnh nhau cũng có thể hợp với người này mà không hợp với người kia.

Tốt xấu theo phong vị
Hướng phong vị là hướng của một vùng, một vật hay người so với một điểm gốc nào đó. Ví dụ ở Tp HCM, quận 4 nằm về hướng nam so với chợ Bến Thành nhưng lại là hướng bắc so với khu Phú Mỹ Hưng. Xem hướng phương vị cũng như hướng mệnh trạch là để bố trí, xếp đặt các không gian vào vị trí thích hợp theo cát hung của mỗi người. Cũng chính từ điểm gốc, nơi chủ thể tọa và quay mặt nhìn về một hướng thì xung quanh vị trí ấy sẽ xác định được bên nào là trái, phải, đâu là trước, sau để từ đó đưa ra giải pháp thích ứng. Tốt nhất là phía trước nhà thoáng và phía sau có chỗ dựa lưng.
Tốt xấu theo hướng giao tiếp
Ngoài việc đối phó với môi trường thiên nhiên, con người cũng phải ứng xử với xã hội. Do đó, ngôi nhà phải quay mặt (hoặc cửa, lối vào) ra những vị trí thuận lợi cho việc đi lại, giao tiếp, buôn bán. “Nhất cận thị, nhị cận giang, ba cận lộ”. Có những ngôi nhà được hướng khí hậu, nhưng nằm trong ngõ quá nhỏ, ra vào khó khăn, hoặc nằm bên đường xa lộ cao tốc khó rẽ vào được thì hướng giao tiếp cũng xấu đi. Đi vào nội thất, ta thấy có người ngồi làm việc theo hướng mệnh trạch là hợp, nhưng nếu ngồi vậy mà lại thành quay lưng ra cửa, úp mặt vào tường, giao tiếp khó khăn thì cũng cần xem lại.
Tác giả: Hà Uyên
Đặc trưng của Dịch học Kinh Phòng là chiêm nghiệm, Kinh thị Dịch học mở đầu cho phái tượng số, là gốc của tượng số, gốc của thuật số. Bốn cống hiến lớn của Kinh Phòng là: Bát cung quái thuyết; Nạp Giáp thuyết; Quái khí thuyết; Âm dương ngũ hành thuyết. Do làm rõ được về tai dị nên được nhà Vua ban thưởng. Với đặc điểm học thuật chiêm nghiệm khí số cho xã hội thông qua tai dị trong thiên nhiên trên nền tảng “thiên nhân cảm ứng”.
Bát cung quái thuyết lấy cơ sở về thứ tự các quẻ Càn-Chấn-Khảm-Cấn-Khôn-Tốn-Ly-Đoài của “Thuyết quái”. Trong đó 4 quẻ Càn-Chấn-Khảm-Cấn là 4 cung Dương, còn 4 quẻ Khôn-Tốn-Ly-Đoài là 4 cung Âm.
Căn cứ vào sự phân vạch của quẻ, 8 quẻ thuần là quẻ “thống suất” gọi là quẻ mẹ, các hào của quẻ “thống suất” đều cố định không biến, 7 quẻ bị “thống suất” đều gọi là “kiến quái”, gọi là quẻ con, vì những hào của chúng đều có biến đổi. Kinh Phòng căn cứ vào Dịch nói: “tinh khí vi vật, du hồn vi biến”. Quy luật biến đổi là hào Dương biến đổi thành hào Âm, hào Âm biến đổi thành hào Dương.
Quẻ Đời 1 lấy hào 6 là hào bất biến.
Gọi là quẻ Đời 2, là từ 8 quẻ mẹ mà Dịch gọi là “Bát thuần”, do hào đầu tiên biến đổi mà thành.
Quẻ đời 3 là do sự niến đổi của 2 hào đầu của quẻ mẹ mà thành, hoặc là do từ quẻ Đời 1 biến đổi hào 2 mà thành.
Quẻ Đời 4 là do sự biến đổi của hào 1-2-3 của quẻ mẹ mà thành, hoặc là do từ quẻ Đời 2 biến đổi hào 3 mà thành.
Quẻ Đời 5 là do sự biến đổi của hào 1-2-3-4 từ quẻ mẹ mà thành, hoặc là do từ quẻ Đời 3 biến đổi hào 4 mà thành.
Quẻ Đời 6 là do sự biến đổi của các hào 1-2-3-4-5 từ quẻ mẹ mà thành, hoặc là do từ quẻ Đời 4 biến đổi hào 5 mà thành.
Quẻ Đời 7 được gọi là quẻ Du hồn, căn cứ từ quẻ Đời 6 mà biến đổi hào 4
Quẻ Đời 8 được gọi là quẻ Quy hồn, căn cứ từ quẻ Đời 7, biến đổi cả 3 hào hạ quái quẻ Du hồn mà thành.
Kinh Phòng căn cứ vào cấu tạo ngôi vị của quẻ 6 hào, lấy hào Sơ (hào 1) làm Khởi đầu (chung), lấy hào Trên (hào 6) làm Kết thúc (thủy), với nền tảng Càn Khôn làm đầu cuối của Âm Dương, nên hào 6 của quẻ “Bát thuần” không biến đổi.
Chữ “đời” ở đây là gọi là Thế là do hào biến đổi làm chủ của quẻ biến, gọi là hào “cư Thế”. Quẻ Đời 1-2 gọi là Địa dịch, quẻ Đời 3-4 gọi là Nhân dịch, quẻ Đời 5-6 gọi là Thiên dịch. Quẻ Du hồn và Quy hồn gọi là Quỷ dịch. Quẻ Đời 1 ở đây lấy hào bất biến làm chủ, tức là hào 6 của quẻ “bát thuần”.
Về phương diện ngôi vị hào, hào đầu gọi là Nguyên sĩ, hào 2 gọi là Đại phu, hào 3 gọi là Tam công, hào 4 gọi là Chư hầu, hào 5 gọi là Thiên tử, hào 6 gọi là Tông miếu, gọi như vậy với mục đích để phân rõ đẳng cấp tôn ti.
Gọi là Thế - Ứng, tức là chỉ sự tương ứng của 3 hào dưới với 3 hào trên trong mỗi cung, tức là hào đầu tương ứng với hào 4, hào 2 tương ứng với hào 5, hào 3 tương ứng với hào trên. Trong đó, hào làm chủ là hào “cư thế”, thì khi chiêm nghiệm, hào Ứng phải theo hào làm chủ, đó là hào Thế, hào Ứng (để phán đoán) là hào có quan hệ mật thiết với đối tượng chiêm nghiệm, ví như giữa vợ chồng, giữa anh em, vì giữa họ có tình cảm tương ứng với nhau. Định cát hung thì lấy hào cư Thế làm chủ.
THUYẾT NẠP GIÁP
Càn Khôn là gốc của Âm Dương, là đầu cuối của Âm Dương 64 quẻ cho nên lần lượt nạp Giáp Ất Nhâm Quý. Khi nạp Thiên can vào quẻ thì căn cứ theo số thứ tự Tiên thiên bát quái của quẻ phối với thứ tự của 10 Thiên can như sau: Càn 1 đứng đầu nạp Giáp mộc đứng đầu của Thiên can, Càn thuộc dương nạp Giáp cũng thuộc dương. Tiếp đến Đoài 2 phối với cặp Thiên can Bính-Đinh thuộc Hỏa, Đoài thuộc Âm nên phối với Đinh cũng thuộc Âm. Tiếp đến Ly 3 phối với cặp Thiên can Mậu-Kỷ thuộc Thổ, quẻ Ly thuộc Âm nên phối với can Kỷ thuộc âm. Tiếp đến Chấn 4 phối với cặp Thiên can Canh-Tân thuộc Kim, quẻ Chấn thuộc Dương nên phối với can Canh thuộc Dương. Càn Khôn đối ứng, trời đất định vị, Giáp dương nạp Càn dương, nên Ất âm nạp vào Khôn âm. Cấn Đoài đối ứng, núi đầm thông khí, Đoài âm nạp can Đinh âm, nên Cấn dương nạp can Bính dương. Khảm Ly đối ứng, Thủy Hỏa tương tề, Ly âm nạp Kỷ âm nên Khảm dương nạp Mậu dương. Chấn Tốn đối ứng, sấm gió cùng nhau, Chấn dương nạp can Canh dương, nên Tốn âm nạp can Tân âm. Còn lại cặp Nhâm Quý thuộc Thủy, nạp vào 2 quái phụ mẫu Càn Khôn, Nhâm dương nạp theo Càn dương, Quý âm nạp theo Khôn âm. Kinh Phòng căn cứ theo thứ tự Ngũ hành Mộc-Hỏa-Thổ-Kim-Thủy phối ứng với số Tiên thiên Ngũ hành 3-2-5-4-1, cặp số 3-2 thuộc Xuân-Hạ mà Dương trước Âm sau, cặp 4-1 thuộc Thu-Đông mà Dương sau Âm trước.
THUYẾT NẠP ĐỊA CHI
“Định cát hung chỉ lấy tượng của một hào”.
Kinh Phòng lần lượt cho 6 hào của 64 quẻ đối ứng với 12 địa chi, với quy luật phân theo Chi âm và Chi dương tương ứng với số chẵn lẻ rồi cho đối ứng với 384 hào. Chi dương đi thuận chiều vì dương chủ tiến, Chi âm đi ngược chiều vì Âm chủ lùi, vì 8 quẻ thì có 4 quẻ thuộc dương, 4 quẻ thuộc âm, mà 12 Chi lại có những 6 chi dương và 6 chi âm. Âm theo Ngọ, Dương theo Tý, Tý-Ngọ phân đường đi, Tý đi phía trái, Ngọ đi phía phải. Tháng 11 tháng 5 là tháng Tý Ngọ lần lượt phối hợp với hào Sơ và hào 4 quẻ Càn. Tháng 12 và tháng 6 là tháng Sửu Mùi lần lượt phối hợp với hào Sơ và hào 4 của quẻ Khôn, vì căn cứ theo “thuyết quái” nói Càn Khôn là quẻ Cha Mẹ. Thể của quẻ Dịch phải đủ 6 vạch mới thành, 6 vạch lại phân chia ngôi âm ngôi dương mới thành quẻ, mới phản ánh cụ thể mối quan hệ sinh khắc giữa Bố Mẹ và Con của 8 cung quái với vị trí 6 hào. Như quẻ Càn thuộc Kim là quẻ Bố Mẹ, hào Sơ thuộc Thủy, Kim sinh Thủy, mẹ sinh con, cho nên là cát, hào 4 thuộc Hỏa, Hỏa khắc Kim, con khắc mẹ là hung. Như vậy có nghĩa là tương sinh là thuận, tương khắc là hung, mẹ sinh con là đại cát, con khắc mẹ là đại hung. Kinh Phòng nói: Quỷ bát quái là hào “học”, tài là hào “chế”, trời đất là hào “nghĩa”, phúc đức là hào “bảo”, đồng khí là hào “chuyển”.
THUYẾT QUÁI KHÍ
Kinh Phòng lấy 64 quẻ 384 hào ứng với 1 năm, nói “ hào đầu trên, hào hai giữa, hào ba dưới, số của tháng 3 thành ra tháng 1. Hào đầu 3 ngày, hào hai 3 ngày, hào ba 3 ngày, tất cả là 9 ngày, còn dư ra một ngày gọi là ngày nhuận. Mười ngày của hào đầu là Thượng tuần, mười ngày của hào hai là Trung tuần, mười ngày của hào ba là Hạ tuần, 3 tuần là 30 tích tuần”.
“Thành tháng, tích tháng thành năm, 8 lần 8 là 64 quẻ, chia ra 64 quẻ phối với 384 hào thành 32 x 360 = 11520 thẻ. Khí dịch 24 tiết khí phối hợp với Ngũ hành, thì mọi việc từ đạo Trời, đến vận mệnh con người, đến Trăng, Sao, ta đều có thể thấy được mọi chuyện cát hung rõ ràng”.
Âm sinh dương tiêu, dương sing âm diệt, hai khí giao nhau, thì vạn vật mới sinh ra. Dương nhập vào âm, âm nhập vào dương, hai khí giao hỗ không ngừng, cho nên gọi thế là “sinh”. Dương trong âm, âm trong dương, hai khí âm dương hòa vào nhau mà thành “tượng”. Kinh Phòng căn cứ vào âm dương khí hóa, âm dương thăng giáng và âm dương tiêu trưởng chuyển hóa đưa ra nguyên lý quẻ ẩn - hiện, trong đó quẻ “hiện” là quẻ hướng ngoại, lộ mặt, còn quẻ “ẩn” thì hướng nội, tiềm ẩn. Nói chung, tượng quẻ dương phần nhiều là quẻ “hiện”, tượng quẻ âm phần nhiều là quẻ “ẩn”. Ví như quẻ Càn có tượng thuộc dương, phối Thiên thuộc Kim, nó với quẻ Khôn là một cặp đối ứng “ẩn - hiện”. Quẻ Khôn có tượng thuộc âm, phối hợp với Địa thuộc Thổ, khi phối với quẻ Càn là một cặp đối ứng “ẩn - hiện”. Nguyên lý “ẩn - hiện” trong tượng hào của quẻ vốn “ngụ hàm” với nhau, như hào Sáu đầu của quẻ Khôn nói “ lý sương kiên băng chí” thích là “ rồng đánh nhau ở cánh đồng, máu chúng chảy ra đen vàng”. Rồng tính dương là đặc tính của Càn dương, nói nên mối quan hệ “ẩn - hiện” của hai quẻ Càn – Khôn, cấu thành cặp quẻ đối ứng với nhau. Không những hai quẻ Càn Khôn đối ứng với nhau, mà giữa 64 quẻ cũng cấu thành từng cặp “ẩn - hiện” với nhau. Khi chiêm nghiệm theo “ẩn - hiện”, ta có thể từ hai mặt chính - phản, tăng lượng thông tin về chiêm nghiệm được nhiều hơn, đó là mối quan hệ giữa hai mặt chính - phản của âm – dương. Theo Kinh Phòng, sự biến hóa âm dương là nguyên nhân khiến cho các thiên thể trong vũ trụ vận động, âm dương thăng giáng là quy luật vận động của Vũ trụ, sự chuyển hóa âm dương tiêu trưởng phản ánh mối liên hệ nội bộ âm dương.
Kinh Phòng nhấn mạnh rất nhiều vào sự chiêm nghiệm, ông cho rằng mục đích của sự nghiên cứu Dịch quái là ở chỗ “định cát hung, rõ được mất”, do đó ông sáng tạo ra quẻ 8 cung, phát huy mối quan hệ ngang dọc, là cốt để “định dự cát hung”. Ông nói “ Nghĩa về cát hung, bắt đầu ở Ngũ hành, kết thúc ở Bát quái. Nghĩa lý về âm dương là sự phân định về Năm, Tháng. Một khi Năm, Tháng đã phân định thì sẽ đoán định được cát hung”. Phần lớn vật chất dương là “hư”, vật chất âm là “thực”, “hư” là bề ngoài của dương, “thực” là bên trong của âm, “hư” là bề gnoài của “thực”, “thực” là phần bên trong của “hư”.
Thuyết Quái khí là sự đối ứng giữa 64 quẻ và 34 tiết khí, bao gồm Tứ thời và 24 khí, thuyết này bắt nguồn thuyết quái khí của Mạnh Hỷ, bao gồm ba nội dung sau:
- Thuyết quái khí Tứ chính quái: lấy bốn quẻ Khảm - Chấn – Ly – Đoài làm tượng ứng với 24 tiết khí, mỗi quẻ có 6 hào ứng với 6 tiết khí. Trong đó, quẻ Khảm ứng với 6 tiết khí từ tiết Đồng chí đến tiết Kinh trập. Quẻ Chấn ứng với 6 tiết khí từ tiết Xuân phân đến tiết Mang chủng. Quẻ Ly ứng với 6 tiết khí từ tiết Hạ chí đến tiết Bạch lộ. Quẻ Đoài ứng với 6 tiết khí từ tiết Thu phân đến tiết Đại tuyết. Trong bốn quẻ này, 6 hào của mỗi quẻ, từ hào Đầu đến hào Trên, lại phân ra làm chủ 6 tiết, như hào Đầu quẻ Khảm, làm chủ việc của tiết Đông chí, hào 2 tiêt Tiểu hàn, hào 3 tiết Đại hàn, hào 4 tiết Lập xuân, hào 5 tiết Vũ thủy, hào Trên tiết Kinh trập.
- Thuyết Thập nhị bích quái (nguyệt quái): là thuyết 12 quẻ ứng với 12 tháng. Mỗi một quẻ ứng với 2 tiết khí, 12 quẻ ứng với 24 tiết khí.
Thờ cúng tổ tiên là một nét văn hóa tâm linh truyền thống của người Việt, hướng phòng và sắp xếp phòng là điều không dễ với kiến trúc nhà ở đô thị hiện nay.

Hầu như trong mỗi gia đình người Việt đều có bàn thờ tổ tiên, được đặt trong không gian của một phòng nào đó, hoặc trong một không gian riêng gọi là phòng thờ. Thờ cúng tổ tiên là một nét văn hóa tâm linh truyền thống của người Việt, thể hiện lòng thành kính, lòng tri ân tổ tiên, thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, giữ gìn gia đạo.
“Thà đui mà giữ đạo nha
Còn hơn có mắt ông cha không thờ”
(Nguyễn Đình Chiểu)
Duy trì nền tảng gia đình với tục lệ thờ cúng tổ tiên, cụ Phan Bội Châu có nói: “Tôi biết ít chữ, dạy lại cho con trẻ để sau này nó biết khấn tổ tiên”. Theo cụ Phan, nền tảng gia đình mà tinh thần là sự thờ cúng tổ tiên phải được duy trì, để như chất keo sơn gắn chặt các thành viên trong gia đình nhỏ với gia tộc lớn, từ đó kết thành tinh thần đoàn kết dân tộc.
Thờ cúng tổ tiên, ở một khía cạnh khác, xuất phát từ quan niệm cho rằng, chết chỉ là sự tiêu tan của thể xác, linh hồn vẫn còn và luôn ở bên con cháu, giúp đỡ, che chở con cháu. Do đó, những khi trong nhà có việc quan trọng như sinh con, làm nhà, cưới gả, đi xa, thi cử…, người Việt đều dâng hương, làm lễ cúng tổ tiên để báo cáo và cầu tổ tiên phù hộ.
Với các ý nghĩa nêu trên, bàn thờ luôn được đặt ở vị trí cao ráo, sạch sẽ, trang trọng nhất trong mỗi gia đình. Trong nhà ở gia đình truyền thống, phổ biến là “ba gian, hai chái”, bàn thờ được lập ở chính giữa gian giữa của ngôi nhà. Với những ngôi nhà có kiến trúc hiện đại ngày nay, nhất là nhà phố, hoặc căn hộ chung cư, các kiến trúc sư đều cân nhắc kỹ vị trí đặt bàn thờ, nhằm đảm bảo sự trang nghiêm, tôn kính, sự thuận tiện trong sinh hoạt gia đình, cũng như đảm bảo tính thẩm mỹ.
Đối với nhà một tầng hoặc căn hộ chung cư, nếu diện tích không cho phép xây phòng thờ riêng thì bàn thờ thường được bố trí trong phòng khách. Đối với nhà phố nhiều tầng, các kiến trúc sư thường thiết kế phòng thờ ở tầng trên cùng vì vị trí này kín đáo, tĩnh lặng, đảm bảo tính tôn nghiêm, thông thoáng, các không gian khác không bị ảnh hưởng bởi khói hương, đồng thời thuận tiện trong việc cúng ngoài trời và hóa vàng mã.
Tuy nhiên có ý kiến cho rằng, phòng thờ trên cao mang lại cảm giác xa cách, lạnh lẽo, thiếu ấm cúng, gắn bó. Vì thế, phòng thờ cũng có thể được thiết kế ở các tầng khác.
Theo khoa học phong thủy, phòng thờ/ bàn thờ trước tiên nên đặt tại các cung tốt của thuật định vị Cửu cung thần sát như: Âm quý nhân, Dương quý nhân, Thiên lộc, Thiên mã; thứ đến mới chọn các cung Diên thọ, Tài lộc, Tử tức trong 16 cung Huyền không trạch vận.
Bàn thờ thu nạp được sinh khí thì con cháu sẽ hưởng phúc, làm ăn phát đạt, mọi sự như ý. Tuy nhiên, xác định các vị trí này không đơn giản, nên phòng thờ/bàn thờ thường được bố trí ở vị trí tốt và hướng về hướng tốt theo mệnh quái chủ nhà, cụ thể là các cung và hướng Sinh khí, Thiên y, Diên niên, Phục vị. Vị trí đó ở tầng nào cũng được.
Nếu không chọn được cả vị trí và hướng thì nên ưu tiên chọn hướng tốt.
Quan trọng hơn, bàn thờ cần tránh rơi vào những trường hợp sau:
* Tầng trên là phòng vệ sinh hoặc giường ngủ hay tủ quần áo.
* Bàn thờ đặt áp tường bếp, nhà vệ sinh hoặc đối diện nhà vệ sinh (bàn thờ đòi hỏi phải hấp thụ được thanh khí, rất kỵ xú uế).
* Bàn thờ quá gần cửa sổ, cửa đi hoặc các nút giao thông trong nhà (khu vực bàn thờ thuộc tính âm, mang tính chất hướng nội, nên cần yên tĩnh).
* Bàn thờ đặt ở vị trí lấn chiếm khoảng không.
* Phía dưới hoặc đối diện bàn thờ là bể cá (Thủy – Hỏa xung khắc).
* Bàn thờ đặt trong phòng ngủ, phòng bếp hay phòng ăn.
* Bàn thờ bên dưới cầu thang, dưới xà nhà hoặc có vị trí khuất lấp, nhỏ bé, tối tăm, ẩm thấp.
* Bàn thờ bị ánh nắng mặt trời chiếu hoặc thắp đèn điện quá sáng ngay trên bàn thờ (tia bức xạ mặt trời và ánh sáng “thô” từ đèn điện không thích hợp với không khí trang nghiêm, thanh nhẹ).
Lưu ý: bàn thờ phải được kê lắp chắc chắn, có độ cao thích hợp, luôn sạch sẽ, bát hương luôn luôn tịnh (không bị rung hay xê dịch).
Trang trí nhà bằng tranh không chỉ làm cho không gian thêm vui tươi, rực rỡ mà còn có tác dụng phong thủy tăng cường vận thế, hỗ trợ gia vận. Treo tranh phong thủy hợp mệnh sẽ giúp ích rất nhiều cho bạn trong công việc và tình yêu.
![]() |
![]() |
Mũi được gọi là Tung nhạc, nằm ỏ vị trí trung tâm của khuôn mặt, là trụ chống trời cao sừng sững, nối với Thiên đình. Xem tướng mũi biết được tín nghĩa và quan lộc.
Sách xem bói Quy giám nói: “Mũi dùng để phân biệt mùi vị, là nơi Thổ nạp tích tụ khí tức”. Do đó, người có tướng mũi đẹp chủ có thanh danh, người có tướng mũi không đẹp thì ngược lại. Bộ vị của mũi không đẹp chủ về người vừa ngốc nghếch vừa vụng về. Sống mùi mỏng vát mà lại lõm xuống, phần đa chủ về người gặp nhiều bệnh tật, tai họa. Lỗ mũi nhỏ mà lại ngắn, chuẩn đầu thấp mà cong, chủ về người tính cách keo kiệt, bủn xỉn. Lỗ mũi to vừa ngón tay chủ vừa đoản mệnh vừa bần tiện. Mũi nhỏ mà hếch, bần tiện. Mũi cao hướng lên trên, chủ làm chức quan to được hưởng vinh hoa phú quý. Sống mũi cong gấp khúc, khuyết lõm, chủ không có chí hướng mà lại độc ác.
Sống mũi cao mà đột nhiên bị lõm xuông, chủ người về già vẫn cô độc một mình. Chuẩn đầu có vết như bị nứt chủ về ngưòi khắc hại vợ và con cái. Mũi giống như túi mật có thể làm quan . Mũi như cái ống bị cắt cũng chủ về người có thể được làm quan. Mũi nhỏ hẹp lại cao, một đời không anh em thân thích. Mũi lệch về bên trái chủ khắc hại cha, mũi lệch vể bên phải khắc hại mẹ. Mũi giống như mũi con ba ba, chủ bần tiện mà dâm đãng. Người có tướng mũi hổ, tính tình mạnh mẽ, nếu theo nghiệp binh đao sẽ khó toàn mạng. Tương truyền Tử Lộ có tướng cách như vậy. Mũi dài thì thông minh, mũi ngắn thì không có trí tuệ. Đầu mũi có hình dáng giông như con tằm, người như vậy sẽ được phú quý, danh tiếng.
Trong sách xem bói Linh đài bí quyết viết: “Chuẩn đầu là chủ của mũi, gọi là Tung nhạc, ứng với giữa khuôn mặt”. Ngoài ra còn có tên gọi là Thẩm biện quan, nằm ở Thổ tinh. Mũi thuộc Kim, chỉ có Chuẩn đầu là thuộc Thổ, trên Chuẩn đầu có hai phần ba khớp thuộc Kim, gọi là Thổ căn Kim miêu (gốc Thổ, mầm Kim). Trên Chuẩn đầu có Thọ thượng, phía dưới gần Nhân trung, thông với 2 bộ vị Lan đài và Đình úy. Mũ quản cung tín nghĩa, quan lộc, học nghệ. Người có mũi thẳng như đèn pin cho thấy là người tín nghĩa. Người có mũi thấp và nhỏ là tướng của người ngưòi nhút nhát, người có mũi nhọn và mỏng là tướng xấu. Chuẩn đầu tròn trịa báo hiệu là người cao quý. Mũi như mỏ chim ưng là tướng của người gian xảo, độc ác. Trên mũi có vết rạn nứt là tướng đoản thọ. Trên mũi có vết rạn, vết chàm là tướng người thiếu nhân nghĩa. Người có lỗ mũi hếch lên nếu không phải là người dâm đãng thì cũng là kẻ bần hàn. Mũi giống như túi mật là tướng người giàu có.
Chuẩn đầu và hai bên cánh mũi đều to mà vuông, cho thấy là ngưòi thông minh, thành đạt. Trên mũi có nốt ruồi màu tía đen, báo hiệu trong cuộc sông phải tự lập không có người giúp đỡ. Người có mũi hếch lên, báo hiệu sẽ bỏ mạng nơi phương xa. Chuẩn đầu cao, hai bên cánh mũi nhỏ, không tương xứng với nhau là tướng của người chỉ có một con trai. Lông mũi mọc dài ra ngoài lỗ mũi là ngưòi thích đặt điều thị phi. Mũi thấp lại nhỏ là tướng của người không giữ chữ tín. Đột nhiên mũi biến sắc đen chủ sinh bệnh nguy nan. Nếu trên mũi có vết lõm hoặc vết sẹo là tướng đoản mệnh. Người có Chuẩn đầu tròn mà hai bên cánh mũi vuông là người có số được nhờ con, cuộc đời hưng vượng.
Lan đài bên trái là Tiên thương, Đình úy bên phải là Tiên khố, đây là cung quản lý việc thu thập và tích lũy của con người. Tiên thương, Tiên khố đẹp là tướng người có danh tiếng lẫy lừng; Tiên thương, Tiên khố rõ ràng là tướng của người giàu có. Tiên thương, Tiên khố lõm, báo hiệu là người thiếu thôn về tiền bạc. Tiên thương, Tiên khố mỏng mà nhỏ là tướng của kẻ bất tài. Người có Lan đài, Đình úy vuông, không bị tổn thương là tướng của người làm việc công bằng không thiên vị. ở tuổi trung niên hay chảy nước mũi, cuối đời vạn sự không theo ý muốn.
Trong sách xem bói Ngọc quản chiếu thần cục viết: “Mũi tượng trưng cho Trung nhạc, là thế hiện của khuôn mặt, do vậy tướng mũi phải cao không được nhọn nhỏ”. Người có mũi sáng nhuận là người có tướng cát, người có mũi không sáng là người bần hàn, yểu mệnh. Người có mũi lệch, không thẳng là người luôn bị vướng vào chuyện tranh chấp chôn quan trường.

Trong Nguyệt Ba động trung ký viết: “Mũi là Trung nhạc, phải đầy đặn mà nhô cao, Sơn căn không được gãy, Chuẩn đầu phải tròn. Niên thượng, Thọ thượng phải đầy đặn, nối liền vối Lưỡng quyền, nhô cao, thẳng mà nhô lên có cốt pháp, đó là tướng cách thượng đẳng”. Lỗ mũi không tròn, sống mũi cao mỏng như lưỡi dao, thế của Lưỡng quyển không thể tiếp nối được, đó là tướng cô lập, nguy hiểm, không có anh em, là tướng xấu. Sống mũi thẳng, đối xứng với các bộ vị khác, tính cách của ngưòi này trung hậu, nếu sông mũi lệch, các bộ vị không tương xứng thì cho thấy tướng dâm tà.
Trong sách xem bói Ngọc quản chiếu thần cục viết: “Mũi tương thông với phổi. Phổi hư thì thông mũi, phối thực thì mũi tắc, từ đó cho thấy thực hư của phổi”. 2 bộ vị Niên thượng, Thọ thượng đều nằm trên sống mũi, có thế hiển thị độ dài ngắn của tuổi thọ. Mũi đầy đặn nhô lên mà bóng, không hiển quý cũng trường thọ. Mũi có màu xám đen và sống mũi mỏng không sống cảnh khó khăn cũng là vận đoản mệnh. Mũi có xương mũi nhô lên là tướng trường thọ. Mũi to cứng mà có xương là tướng trường thọ. Mũi nhỏ yếu, bần tiện yểu mệnh. Chuẩn đầu to đầy đặn, chủ vô hại. Chuẩn đầu nhọn nhỏ, tính tinh giảo hoạt.
Lỗ mũi hếch lên mà lộ, cô độc, khắc khổ mà đoản mệnh. Mũi nhọn như mỏ chim ưng có thế khắc hại người khác. Chuẩn đầu không có thịt, nghèo khó vô cùng. Mũi nhỏ mà có vân chủ không có con cái. Người có mũi có vân, cả đời khắc khổ, khốn đôn. Bùi Hành Kiệm đã nói: Chuẩn đầu màu đỏ, đổ mồ hôi cả đời bận rộn, không làm nên việc. Ngoài ra còn nói: Chỉ cần ăn uống là mũi đổ mồ hôi, không phải là kẻ phàm phu tục tử cũng là mệnh bần khổ.
Trong Tam tài ca có viết: “Mũi tượng trưng Trung nhạc, là trung tâm của toàn bộ khuôn mặt, phải cao, to, đầy đặn, không nên nhỏ hẹp. Mũi sáng nhuận, chủ cát tường. Mũi xám đen, bần cùng, yểu mệnh. Sống mũi lệch không thẳng, chủ kiện tụng quan sai”.
Sống mũi cao nối liền với trán thuộc tướng quý. Màu sắc quý nhất phải sáng bóng, ôn hòa nhuận trạch. Lỗ mũi bé, người có tướng mũi này thường có tính bủn xin, bỉ ổi. Người có Chuẩn đầu thấp, lõm thường cả đời không có con cái, là tướng cô độc. Cũng chính là nói người có Chuẩn đầu thấp mà hai bên cánh mũi lại không rõ ràng là tướng hiếm muộn đường con cái. Người có lỗ mủi hếch lên là tướng của kẻ bần cùng, không đủ cơm ăn áo mặc. Lỗ mũi hếch lên thì gia cảnh nghèo khó, tiền tài eo hẹp. Chuẩn đầu đầy đặn như hình túi mật là tướng làm quan được hưởng nhiều bổng lộc. Người có mũi dựng như thanh kiếm, dưới có tam châu, cũng là tướng phú quý.
Trong Ngọc quản chiếu thần cục có viết: “Người có mũi như hình túi mật tất sẽ quý, nếu thấy sống mũi nối liền vói trán thì sẽ được hưởng nhiều bổng lộc. Nếu mũi có sắc xanh đen là điềm báo cuộc đời gặp nhiều bất trắc, hoạn nạn”.
Nếu có sắc vàng sáng bóng là tướng người phúc lộc đầy nhà. Người có sống mũi lõm xuống là tướng của người cả đời khó được tiến cử. Sống mũi được gọi là thiên trụ thì phải thẳng, nếu có vết lõm tất sẽ bị ngăn trở, không thể phát triển lên được. Người có sống mũi gãy báo hiệu khó sống qua tuổi 30. Người có mũi to mà chậm chạp là tướng làm nghề buôn bán, cả đời bôn ba lưu lạc. Bộ vị Kim quỹ thu lại, Lan đài hiện rõ ràng, Đình úy sáng, Sơn căn thẳng, báo hiệu người này giàu có, tài lộc dồi dào, cả đời là thương nhân. Mũi nhỏ mà hẹp là tướng của kẻ nô bộc.
Trong Vệ thanh truyền cũng viết: “Chàng là tên gọi chung của tỳ thiếp. Bộc là người chuyên làm việc phục vụ người khác. Phàm thì người nào mũi nhỏ mà hẹp thì sớm đã phải ròi xa cha mẹ, phận là nô bộc”.
Trong sách xem tướng cũng viết: Người có sống mũi gãy cho thấy từ nhỏ đã bị bệnh tật, chịu nhiều khổ cực, làm nô bộc. Còn trong sách xem bói Ngọc quản chiếu thần cục lại viết: Người có sống mũi nhọn nhỏ là tướng của kẻ tiện nhân, mũi hếch thì gia cảnh nghèo khó. Ngoài ra còn sợ mũi cong như mỏ chim ưng thì là người gian kế xảo trá. Người có khí sắc mũi quý là mũi phải có sắc vàng sáng óng như màu của con tằm già.
Theo sách xem bói tướng thuật viết: Khi con tằm bước vào giai đoạn trưởng thành thì từ bộ vị cổ tằm sẽ sáng lên. Sau đó sẽ tự tách vỏ bỏ lớp kén bên ngoài. Người có tướng phát đạt thì trước tiên Chuẩn đầu phải sáng, sau đó mới tới các bộ vị khác. Cho nên ở người thành đạt ta có thể dễ dàng nhận thấy khí sắc, giống như màu vàng sáng óng của con tằm già. Đó chính là đặc trưng của tưóng mũi quý. Người ngu độn thì mũi ngắn, lõm xuống.
Trong sách tướng thuật cho biết: Muốn biết được tướng mạo bần tiện thì chỉ cần xem tướng mũi ngắn, không có sống mũi, răng vổ, nhô ra ngoài. Người có tướng mũi đẹp thích hợp làm quan, người có mũi bị tổn thương phòng vướng vào nạn lao tù. Một người thành đạt có mũi đẹp sẽ được hưởng rất nhiều bổng lộc. Nếu mũi lộ không có thê thì bình sinh khắc khổ, thậm chí còn gặp cảnh lao tù. Bộ vị Niên thượng, Thọ thượng bị lõm xuống báo hiệu bản thân không hưng vượng mà còn là điềm báo khó toàn mạng.
Chuẩn đầu cao, đầy đặn là tướng người trung thực, trọng tín nghĩa. Chuẩn đầu là tiêu chuẩn của khuôn mặt. Chuẩn đầu thẳng, chủ quản học đường tín nghĩa. Người có đường vân Pháp lệnh sâu là người nghiêm túc. Pháp lệnh là nếp nhăn hai bên trái, phải của cánh mũi. Nếu nếp nhăn này sâu, dài là tướng người đôn hậu, trang trọng, nghiêm túc, có thế trường thọ. Nếu Pháp lệnh cong tròn thì người đó có số giàu có. Ngưòi có Pháp lệnh nhọn là tướng bần hàn. Người có Pháp lệnh dài là tướng trường thọ, người có Pháp lệnh ngắn là tướng đoản mệnh. Người mũi nhọn mà mỏng, báo hiệu cả đời bệnh tật. Người có cánh mũi trái nhỏ, thu lại bản tính bủn xỉn, keo kiệt. Chuẩn đầu nhỏ mà sống mũi cong, người này không thế kết thân.
Lan đài, Đình úy là cung Phúc đức. Nếu hai bên cánh mũi đầy đặn, sáng, biểu hiện là người có giàu có, nhiều tích lũy, có thế cai quản hàng trăm người. Lỗ mũi hếch, khuyết là tướng của kẻ trong nhà luôn thiếu thốn về lương thực. Trong sách xem bói tướng thuật cũng viết: Người có lỗ mũi hếch lên là tướng không tích lũy được tiền của, đường Pháp lệnh khuyết, có xương nổi lên cho thấy ăn uống thiếu thốn. Xương mũi nhô cao, không nên kết giao. Người có xương ngang mũi nhô cao thì không nên thân cận khi kết giao bạn bè với họ. Xương ngang mũi nhô cao chính là Niên thượng, Thọ thượng có xương nhô lên. Mũi nhiều vân hỗn loạn, không thể trở thành hạn bè thân thích. Người có nếp nhăn trên mũi đan xen hỗn loạn là tướng gian xảo, dối trá, quan hệ cha con cũng không dễ gì hòa thuận. Nếp nhăn trên mũi chằng chịt tức là từ Chuẩn đầu đến Niên thượng có nhiều nếp nhản thẳng giao cắt với nếp nhăn ngang.
(theo Tử vi số mệnh)
- Nhật sáng Xương Khúc: lịch duyệt bác học.
- Nhật sáng Hóa Kỵ: làm tốt thêm.
- Nhật Cự ở Dần: giàu sang vinh hiển ba đời.
- Nhật (hay Nguyệt) Tam Hóa, Tả Hữu, Hồng, Khôi: lập được kỳ công trong thời loạn.
- Nhật, Tứ Linh (không bị sát tinh): hiển hách trong thời bình.
b) NHỮNG BỘ SAO XẤU
- Nhật hãm Sát tinh: trai trộm cướp, gái giang hồ, suốt đời lao khổ, bôn ba, nay đây mai đó.
- Nhật Riêu Đà Kỵ (tam ám): bất hiển công danh.
- Nhật hãm gặp Tam không: phú quí nhưng không bền.
c) THÁI DƯƠNG VÀ THÁI ÂM
Nhật Nguyệt bao giờ cũng liên hệ nhau mật thiết vì thường ở vị trí phối chiếu hoặc đồng cung ở Sửu Mùi.
Hai sao này tượng trưng cho hai ảnh hưởng (của cha, của mẹ), hai tình thương (cha, mẹ), hai nhân vật (cha mẹ hoặc chồng vợ), hai giòng họ (nội, ngoại).
Tính cách tốt xấu của sao trong hàm số của cung Phụ Mẫu. Phu Thê và Mệnh Thân Phúc sẽ giúp luận đoán về ảnh hưởng, tình thương của những nhân vật do hai sao đó tượng trưng, bổ túc luận đoán về cung Phụ Mẫu hay Phu Thê của lá số.

– Nằm mơ thâ”y người mặc áo mới: mắc bệnh.
– Nằm mơ thấy người cởi quần áo: cãi nhau.
– Nằm mơ thây người mặc áo xanh: quan gọi.
– Nằm mơ thấy người mặc áo đỏ: có chuyện kiện tụng.
– Nằm mơ thấy người mặc nữ phục: rất dữ.
– Nằm mơ thấy người mặc y phục rách: vợ có bệnh.
– Nằm mơ thấy người đội khăn rách: rất dữ.
– Nằm mơ thấy người lạ mang khăn lửng che đầu: tử vong.
– Nằm mơ thấy vải: có chuyện cãi nhau
i thì đó là một điều đen đủi. Bát quái chia các phương hướng nói chung thành tám hướng Chấn, Tốn, Khảm, Li, Càn, Đoài, Cấn, Khôn. Trong đó, Chấn, Tốn, Khảm, Li được coi là bổn quẻ Đông; còn lại Càn, Đoài, Cấn, Khôn là bổn quẻ Tây. Quẻ Chấn đại diện cho hướng Đông, quẻ Tốn đại diện cho hướng Đông Nam, quẻ Khảm đại diện cho hướng Bắc, quẻ Li đại diện cho hướng Nam, quẻ Càn đại diện cho hướng Tây Bắc, quẻ Đoài đại diện cho hướng Tây, quẻ Cấn đại diện cho hướng Đông Bắc, quẻ Khôn đại diện cho hướng Tây Nam. Một ngôi nhà (bao gồm cả các công ty hay những toà nhà lớn) nếu nằm ở hướng chính Đông nhìn về hướng chính Tây sẽ có quẻ mệnh là Chấn, nếu nằm ở hướng Đông Nam nhìn về hưống Tây Bắc thì quẻ mệnh là Tốn, nếu nằm ở hướng chính Bắc nhìn về hướng chính Nam thì quẻ mệnh là Khảm, nằm hướng chính Nam nhìn về hướng chính Bắc có quẻ là Li, nằm ở hướng Tây Bắc nhìn về hướng Đông Nam có quẻ mệnh là Càn, nằm hướng chính Tây nhìn về hướng chính Đông thì quẻ mệnh là Đoài, nằm hướng Đông Bắc nhìn về hướng Tây Nam có quẻ mệnh gọi là Cấn, nằm hưống Tây Nam và nhìn về hướng Đông Bắc thì có quẻ mệnh là Khôn.

Trong số các quẻ mệnh trên, ngôi nhà nào có quẻ mệnh là một trong các quẻ Chấn, Tôn, Khảm, Li sẽ thuộc nhóm nhà nằm ở các hướng Đông. Còn ngôi nhà nào có quẻ mệnh là một trong bốn quẻ Càn, Đoài, Cấn, Khôn sẽ thuộc nhóm nhà nằm ỏ các hướng Tây.
Nếu một người tự bỏ vốn để kinh doanh độc lập thì cần phải lấy năm sinh của chính người đó để xem số tướng. Nếu là các công ty chung vốn làm ăn thì nên xem số bằng năm sinh của người đứng đầu công ty (như chủ tịch hội đồng quản trị). Nhưng nếu người chịu trách nhiệm lón nhất của công ty trên thực tế chỉ có vai trò đứng tên chứ không tham gia trực tiếp vào điều hành hoạt động kinh doanh của công ty thì phải xem bằng năm sinh của người chịu trách nhiệm điều hành thực tế lớn nhất (như tổng giám đốc). Để xác định xem quẻ mệnh của một công trình kiến trúc có phù hợp với số mệnh con ngưòi sống và làm việc trong đó hay không, cần lưu ý một số điểm sau:
– Hướng của cổng hoặc cửa chính của công trình kiến trúc gọi là “hướng”, hướng ngược lại của nó gọi là “tọa”. Phong thủy học coi “tọa” là cơ sở. Chẳng hạn một ngôi nhà quẻ Đoài và “tọa Tây hướng Đông” (tức nằm ở hướng Tây nhưng nhìn về hướng Đông) đồng nghĩa với cửa chính của nó nằm ở hưóng Đông nhưng từ trong cửa nhìn ra sẽ là hướng Đông.
– Khi đo đạc để xác định vị trí và phương hướng, phải đặt la bàn (hoặc kim chỉ nam) ở vị trí trung tâm của công trình kiến trúc. Khi kim la bàn dừng hẳn lại, nếu đầu mũi kim chỉ về hướng nào thì đó chính là hướng chính Bắc. Từ hướng chính Bắc, sẽ xác định được góc độ của các hướng còn lại. Trước tiên nên phác thảo một sơ đồ vẽ hình ngôi nhà. Sau khi đã xác định chính xác vị trí cửa chính, phòng bếp, phòng khách theo một tỉ lệ nhất định, hãy sử dụng la bàn để đối chiếu. Thông qua cây kim la bàn, chúng ta có thể xác định được cửa chính thích hợp nằm ở hưóng Đông hay hướng Đông Bắc, hay hướng Bắc của cả ngôi nhà, cũng có thể biết được vị trí chính xác để xây phòng bếp vị trí ngồi của người phụ trách cao nhất của ngôi nhà.
– Sau khi đã xác định được sơ đồ và vị trí thích hợp, có thể kiểm tra đối chiếu với sơ đồ số mệnh của người phụ trách cao nhất để biết được các vị trí ấy có phù hợp với số mệnh của người này hay không.
– Khi thiết kế xây dựng công ty, phải coi việc xác định vị trí của cửa chính, văn phòng hay phòng vệ sinh, phòng bếp và vị trí lắp đặt các thiết bị quan trọng… là công việc trọng tâm. Đối với các văn phòng làm việc thì trọng tâm cần lưu ý là cửa chính, phòng vệ sinh, phòng bếp, phòng tiếp khách hoặc phòng làm việc…
– Trong các công ty hay nhà xưởng, cửa chính và phòng làm việc nhất thiết phải nằm ở hướng cát (hướng may mắn). Trong khi đó, phòng bếp, phòng vệ sinh và khu vực chứa rác nên nằm ở hướng hung (hướng dữ). Còn ở các văn phòng thì cửa chính, phòng tiếp khách vị trí ngồi của người phụ trách và vị trí các chủ quản quan trọng nên được bố trí ở hướng cát, bếp và phòng vệ sinh nên nằm ở hướng hung.
– Nếu cửa chính mở tại hướng Bắc, vị trí ngồi của ngưòi phụ trách ở hướng Nam, phòng tiếp khách nằm ở hướng Đông, phòng bếp hướng Tây Bắc, phòng vệ sinh hướng Tây mà người có quẻ mệnh thuộc một trong bốn quẻ Đông là Chấn, Tốn, Khảm, Li thì sự phối hợp đó sẽ đem lại may mắn. Ngược lại, nêu quẻ mệnh của người đó nắm trong bốn quẻ Tây là Càn, Đoài, Cấn, Khôn thì đó là một điềm dữ.