Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

9 đường chỉ tay cả đời may mắn, sung sướng

Nếu trên bàn tay bạn xuất hiện chỉ tay hình chữ thập, chỉ tay hình ngôi sao hay chỉ tay hình cá, vậy xin chúc mừng bạn - Cuộc đời bạn sẽ gặp nhiều may mắn, hạnh phúc.
9 đường chỉ tay cả đời may mắn, sung sướng

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bạn sở hữu đường chỉ tay nào trong số những đường chỉ tay dưới đây?

9-duong-chi-tay-ca-doi-may-man-sung-suong 9-duong-chi-tay-ca-doi-may-man-sung-suong-1 9-duong-chi-tay-ca-doi-may-man-sung-suong-2
Chỉ tay lãnh đạo Chỉ tay hài hước Chỉ tay trí tuệ
9-duong-chi-tay-ca-doi-may-man-sung-suong-3 9-duong-chi-tay-ca-doi-may-man-sung-suong-4 9-duong-chi-tay-ca-doi-may-man-sung-suong-5
Chỉ tay cưng chiều Chỉ tay hy vọng Chỉ tay chữ thập
9-duong-chi-tay-ca-doi-may-man-sung-suong-6 9-duong-chi-tay-ca-doi-may-man-sung-suong-7 9-duong-chi-tay-ca-doi-may-man-sung-suong-8
Chỉ tay hình cá Chỉ tay ngôi sao Chỉ tay vòng xoắn gia đình

Maruko (theo Meiguoshenpo)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 9 đường chỉ tay cả đời may mắn, sung sướng

Đặc điểm khuôn mặt hay được tiền 'từ trên trời rơi xuống'

Kiểm tra bạn được mấy đặc điểm trong 4 yếu tố dưới đây để biết mệnh có hay nhặt được tiền không nhé!
Đặc điểm khuôn mặt hay được tiền

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1. Trán hơi nghiêng về một bên

Chủ nhân của chiếc trán nghiêng về một phía này, đặc biệt nghiêng về phía bên vai trái, năm nay sẽ gặp nhiều may mắn về chuyện tiền bạc, tài vận ít ai sánh bằng, thậm chí có thể phát tài chỉ trong một đêm. Đường học hành thi cử, công danh sự nghiệp của người này năm 2015 cũng rất thuận lợi. Ngoài ra, chủ nhân của kiểu trán hẹp nhưng sáng sủa cũng luôn được Thần May mắn phù hộ, có thể phát tài bất cứ lúc nào.

dac-diem-khuon-mat-hay-duoc-tien-tu-tren-troi-roi-xuong

2. Cằm dài

Cằm đại diện cho phúc lộc. Người có cằm tròn đầy thì nhiều phúc khí và ngược lại. Đặc biệt, chiếc cằm càng dài thì bạn càng có cơ hội trúng thưởng, trúng vé số… càng cao. Việc họ bỗng dưng nhặt được của hay được ai đó cho tiền là điều hết sức bình thường, không có gì phải ngạc nhiên.

Thông thường, người cằm dài rất chịu thương chịu khó, nỗ lực hết mình cho mục tiêu đã đề ra nên “thu hoạch” cũng nhiều gấp bội lần so với người khác. 

3. Ấn đường hồng hào, sáng sủa

Vị trí ấn đường chính là khu vực giữa hai đầu lông mày. Nó liên quan đến cung Mệnh, cho biết tài lộc, công danh sự nghiệp. Người có Ấn đường hồng hào, màu sắc sáng sủa thường dễ dàng phát tài, cuộc sống giàu sang, nhiều tiền của. 

Đặc biệt, vào thời điểm lập xuân mà Ấn đường bỗng hồng đậm, có sắc tím và vùng da quanh đó nhẵn bóng thì khả năng phát tài bất ngờ rất cao.

4. Cánh mũi hẹp nhưng nhiều thịt

Muốn xem tài vận của người nào đó ít hay nhiều, trước tiên nên nhìn chiếc mũi. Bởi mũi là cung Tài Bạch, nắm giữ tiền của. Người có mũi đầy đặn thì tài phúc đều vẹn toàn. Ngược lại, nếu mũi nhỏ, trơ xương thì ít tiền của và lại kém may mắn về tài chính. 

Người có cánh mũi hẹp nhưng nhiều thịt rất vượng về mặt phụ tài (tiền của kiếm được ngoài công việc chính). Đồng thời, họ có thể giàu lên một cách nhanh chóng khi gặp thời gặp thế.

Mr.Bull (Theo Meiguoshenpo)

dac-diem-khuon-mat-hay-duoc-tien-tu-tren-troi-roi-xuong-1 Đoán tuổi giàu có qua nét mặt

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đặc điểm khuôn mặt hay được tiền 'từ trên trời rơi xuống'

Một số ghi chép về phi hóa ngôi chính tinh trong Đăng Hạ Thuật

Bài viết trình bày kỹ thuật phi hóa ngôi chính tinh rất độc đáo của phái Nhất Diệp Tri Thu gửi tới những người có duyên.
Một số ghi chép về phi hóa ngôi chính tinh trong Đăng Hạ Thuật

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Chủ đề là: Một số ghi chép về phi hóa ngôi chính tinh trong Đăng Hạ Thuật:

1. Phi hóa từ cung có sao Tử Vi

Cung có sao Tử Vi phi Hóa khoa nhập cung Quan Lộc, làm việc thuận lợi theo ý người, khá có nhân duyên.

Cung có Tử Vi phi Hóa khoa nhập cung Nô bộc, hòa thuận theo cấp dưới, có thể làm việc và chan hòa với cấp dưới.

Cung có Tử Vi phi Hóa khoa nhập cung Tử tức, tình nghĩa cha con sâu đậm, gia đình hòa thuận.

Cung có Tử Vi phi Hóa khoa nhập cung Tài bạch, không coi trọng tiền bạc.

Cung có Tử Vi phi Hóa khoa nhập cung Phu thê, vợ chồng chung thủy son sắc.

2. Phi hóa từ cung có sao Thái Dương

Mệnh nữ xem Thái Dương, nếu ở can cung nào mà phi Hóa lộc nhập cung Phu Thê thì có thể được chồng rất mực yêu thương, có thể cùng chồng dựng lên cơ nghiệp.

Mệnh nam có sao Thái Dương phi Hóa lộc nhập cung Phu Thê thì chủ về vợ nên làm những ngành nghề dành cho phụ nữ để kiếm tiền.

3. Phi hóa từ cung có sao Thái Âm

Cung có Thái Âm mà phi Hóa khoa nhập cung Tử Tức thì hay thích cho con cái tiền, hay nói cách khác là rất mực cưng chiều con cái.

Nam Mệnh thì kỵ Thái Âm phi Hóa kỵ nhập cung Phu Thê hoặc Điền trạch, có thể không có vợ.

Cung có Thái Âm phi Hóa lộc nhập cung Quan Lộc thì sẽ kiếm được tiền.

Cung có Thái Âm phi Hóa kỵ nhập cung Mệnh thì một đời lận đận: một đời khó khăn lận đận, khó có thể làm được việc gì.

4. Phi hóa từ cung có sao Phá Quân

Thiên can cung tọa ở Phá Quân phi Hóa kỵ nhập cung Mệnh, Tật ách, Tử Tức, Điền trạch. Nếu có mệnh đó, nên học thật giỏi một ngành kỹ thuật, tìm công việc chính đáng, an phận giữ mình, nếu không về sau sẽ hối hận không kịp. Nên nhớ một khi đã sa chân lỡ bước thì dù có quay đầu lại cũng đã muộn.

5. Phi hóa từ cung có sao Vũ Khúc

Thiên can cung tọa ở Vũ Khúc phi Hóa kỵ nhập cung Điền trạch thì phạm đào hoa: giữa nam và nữ có quan hệ không chính đáng, như quan hệ giữa người đã kết hôn; hoặc là quan hệ yêu đương giữa người đã kết hôn và người chưa kết hôn, hay nói cách khác, phàm là người có quan hệ tình cảm bên ngoài với chồng vợ thì đều gọi là "đào hoa".

6. Phi hóa từ cung có sao Lộc Tồn

Thiên can cung tọa ở Lộc Tồn phi Hóa kỵ nhập cung Mệnh thì một đời lận đận: một đời khó khăn lận đận, khó có thể làm được việc gì.

(Ghi chép từ cuốn Đăng Hạ Thuật của Phan Tử Ngư)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Một số ghi chép về phi hóa ngôi chính tinh trong Đăng Hạ Thuật

Người tuổi Dậu và tuổi Hợi có hợp nhau?

Người tuổi Dậu là người ghét cay ghét đắng sự bừa bãi. Trong con mắt của họ, Hợi là mẫu người chỉ thích hưởng thụ. Trong khi đó, Hợi lại là con giáp khá dễ
Người tuổi Dậu và tuổi Hợi có hợp nhau?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

tính, ít để ý tới những điều trên, chỉ thích sự xa xỉ, thừa thãi. Bởi vậy, khi kết đôi thì Dậu sẽ là người phải chịu trách nhiệm chính trong việc thu dọn mọi thứ. Đồng thời, là người giữ chúng nằm trong trật tự để duy trì mối quan hệ hài hòa.

 
Nếu Dậu và Hợi yêu nhau, mâu thuẫn giữa 2 con giáp này có xảy ra hay không phụ thuộc vào chính cách ứng xử và thiện ý của Hợi. Khi họ bên nhau, chuyện cãi vã có thể xảy ra như cơm bữa. Hợi thích sự tiện nghi, thoải mái như thưởng thức món ăn ngon, thích thú với “chuyện ấy” và ngủ trên chiếc giường thật êm… Ngược lại, Dậu thích những điều thực tế, thích hoàn hảo và không chịu được sự lười biếng. Do đó, dù Hợi rất chăm chỉ nhưng trong con mắt của Dậu điều đó vẫn chưa đủ. Để giữ được mối quan hệ tốt đẹp giữa 2 con giáp này cần đến sự hy sinh trong tình yêu. Về điều này, ưu điểm của Dậu là rất trung thành khi yêu, còn Hợi thì thường rộng lượng và yêu hết mình.

Khi là đối tác kinh doanh, Dậu và Hợi thường thành công khi biết phát huy thế mạnh của mình trong các mối quan hệ. Trong phân công lao động, người tuổi Dậu thích hợp đảm nhiệm các công việc tỉ mỉ hoặc liên quan đến tài chính. Hợi vốn chăm chỉ và định hướng tốt, rất phù hợp với việc tiến hành các kế hoạch mà Dậu đã lập. Bên cạnh đó, Hợi sẽ đảm nhiệm cả những nhiệm vụ liên quan đến khách hàng bởi trong lĩnh vực này, Hợi có khả năng làm tốt hơn Dậu.

(Theo Zing)

 


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Người tuổi Dậu và tuổi Hợi có hợp nhau?

Giản Hạ Thủy - Ý nghĩa như dòng nước lạch suối

Tìm hiểu về nạp âm Giản Hạ Thủy, được hiểu như dòng nước lạch suối, không rõ nguồn gốc và cũng không có hướng nhất định để chảy đi, lòng lạch lòng suối lúc nông lúc sâu.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Giản Hạ Thủy - Ý nghĩa như dòng nước lạch suối

Giản Hạ Thủy - Ý nghĩa như dòng nước lạch suối

Khái niệm Về Giản Hạ Thủy

Bác Vật Vựng Biên ghi rằng: Thủy của Bính Tí, Đinh Sửu thì vượng ở Tí, suy ở Sửu. Vượng rồi Suy ngay tất nhiên không thể thành sông ngòi, cho nên gọi bằng Giàn Hạ Thủy.

Giản Hạ Thủy là dòng nước lạch suối, không rõ nguồn gốc và cũng không có hướng nhất định để chảy đi, lòng lạch lòng suối lúc nông lúc sâu.

Cổ nhân có câu: "Dục tấn dục thoái sơn khê thủy, Dục phản dục phúc tiểu nhân tâm" Nghĩa là lúc tiến lúc lui như nước lạch, lúc phản phúc lúc lật như lòng tiểu nhân.

Số ai có Phục Binh hay Phá Quân Địa Kiếp hoặc Tử Phá hoặc Linh Hỏa hãm địa mà thêm nạp âm Giản Hạ Thủy nữa thì cái lòng phản phúc lật lọng càng ghê gớm. Đứng ngôi chủ như vậy bộ hạ hãy lo giữ đầu, đứng vai thần tử mà như vậy kẻ đứng chủ chỉ việc chờ ngày bị phản.

Tâm chất thâm hiểm, tình ý nhỏ nhen nhưng rất thực tế và sắc bén. Trường hợp số bình thường ắt nhu nhược bất quyết mà thêm Giản Hạ Thủy nạp âm nữa thì hoàn toàn vô tích sự, lúng túng, hoảng loạn trước công việc.

Giữa Bính Tí và Đinh Sửu thì Bính Tí nguy hiểm hơn Đinh Sửu thổ khắc thủy khiến cho nhuệ khí bị tước giảm.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Giản Hạ Thủy - Ý nghĩa như dòng nước lạch suối

Những lưu ý phong thủy ảnh hưởng tới tài vận

Tại sao cố gắng đủ cách mà nghèo vẫn hoàn nghèo? Ấy là vì bạn chưa chú ý tới một số lưu ý phong thủy ảnh hưởng tới tài vận.
Những lưu ý phong thủy ảnh hưởng tới tài vận

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tại sao đi làm chăm chỉ mà lương chẳng đủ tiêu? Tại sao cố gắng đủ cách mà nghèo vẫn hoàn nghèo? Ấy là vì bạn chưa chú ý tới phong thủy nhà ở, cùng nhắc nhở một số lưu ý phong thủy ảnh hưởng tới tài vận dưới đây nhé.

Nhung luu y phong thuy anh huong toi tai van
 

1. Phong thủy nhà ở có lợi cho tài vận

  Lưu ý phong thủy ảnh hưởng tới tài vận đầu tiên là ở phía Đông Nam hoặc Tây Nam nhà ở có dòng sông, hồ nước hoặc ao lớn, bể bơi đều rất có lợi cho tài lộc, tài vận luôn chuyển biến theo chiều hướng tích cực, đặc biệt là với người làm ăn kinh doanh.    Trong phong thủy, sơn quản nhân đinh thủy quản tài, có thể thông qua nguyên tắc này mà xây dựng hồ nước ở những vị trí đẹp, có tác dụng cải thiện tài vận. Hoặc trong phòng khách bày bể cá cũng có thể vượng tài, thúc tài vận. Nếu điều kiện gia đình không cho phép nuôi cá thì trồng thực vật thủy sinh hoặc bố trí guồng quay nước, hòn non bộ có suối nhỏ cũng rất tốt lành.  

2. Cách cải thiện phong thủy nhà ở hút tài vận

  Một, thông qua phương vị để thúc đầy tài vận   Những người sinh ngày thiên can là Giáp, Ất thì tài vị ở tứ ngung (Đông Nam, Tây Bắc, Tây Nam, Đông Bắc).   Những người sinh ngày thiên can là Bính, Đinh thì tài vị ở phương Tây.   Những người sinh ngày thiên can là Mậu, Kỷ thì tài vị ở chính Bắc.   Những người sinh ngày thiên can là Canh, Tân thì tài vị ở chính Đông.   Những người sinh ngày thiên can là Nhâm, Quý thì tài vị ở chính Nam.   Ở tài vị hãy bố trí những vật phẩm phong thủy chiêu tài tấn lộc để thu hút vận khí, tăng cường thu nhập cho người trong nhà.   Hai, thông qua bố cục nhà ở để thúc đẩy tài vận   Nhà ở nhất định phải đón được ánh nắng tự nhiên, mang tới khí lành cát tường, vừa có lợi cho sức khỏe lại tốt cho tài lộc. Vì thế mà cửa sổ, cửa chính trong nhà không nên treo rèm quá dày, không nên đóng cửa cả ngày, sẽ ngăn trở dương khí tiến vào bên trong.
Luu y phong thuy anh huong toi tai van
 
Lưu ý phong thủy ảnh hưởng tới tài vận là không khí nhất định phải lưu thông. Trong phong thủy học, khí lưu thông đại diện cho tài vận chuyển động, khí lưu chuyển thì tài vận hanh thông nên nhà phải có cửa chính cửa sổ vừa phải, đón khí vào tiễn khí ra nhịp nhàng sao cho đông ấm hè mát là tốt nhất.    Phòng ngủ nên lớn không nên nhỏ vì điều này ảnh hưởng tới sự tích tụ sinh khí. Phòng ốc sâu cạn sẽ trực tiếp ảnh hưởng tới vấn đề năng lượng dầy mỏng và khí tụ khí tán. Nhà mà bố trí các phòng có diện tích hợp lý (từ 15 tới 20m2), không quá nhỏ hẹp thì dễ tụ khí, không dễ tán khí, khí lưu thông ổn định, rất có lợi với tài vận.  Xem thêm bài viết Phòng khách bày vật phẩm phong thủy chiêu tài, cả nhà tha hồ hưởng lộc

3. Phong thủy nhà ở bất lợi tài vận

  Phòng có nhiều cửa bất lợi cho tụ tài, dễ khiến tài lộc trôi đi mất. Nhà có diện tích lớn mà nhiều cửa thì không hẳn là xấu nhưng nếu cửa trước cửa sau đối diện nhau, cửa hông cửa ngách va chạm nhau, cửa chính cửa phòng trùng xung nhau thì sẽ tạo thành sát khí.    Biện pháp tốt nhất là khi thiết kế nhà cần thận trọng sao cho các thế cửa không đối nhau. Nếu không may phạm phải lỗi phong thủy thoái tài này thì hãy đóng một trong hai cửa đối lập, chỉ sử dụng một cửa để giảm bớt hung hiểm.   Nhà khuyết góc là lỗi phong thủy ảnh hưởng tài vận nghiêm trọng, bất kể là ở nhà của mình hay ở nhà thuê đều không nên chọn thế nhà này. Nhà thiếu góc biểu hiện tài vận thiếu hụt, thậm chí không có tài vị, không thể tàng phong tụ khí, tạo thành rủi ro, tài vận tổn hại không ngừng. Ngoài ra nhà thiếu góc còn bất lợi với tình yêu hôn nhân, người trong nhà thường xuyên lục đục.    Cửa phòng ngủ đối diện cửa chính vừa không hợp phong thủy lại không tốt cho việc nghỉ ngơi, an dưỡng của chủ nhân. Tài vận thất thoát, làm ra bao nhiêu tiêu phá bấy nhiêu, thường có người ngoài nhòm ngó gây thị phi. Cần dùng bình phong, cây xanh chắn giữa để hóa giải lỗi lầm.
loi phong thuy anh huong tai van
 
Cửa chính đối diện ban công, khi từ ngoài vào chưa có nơi lưu lại đã đi ra, giống như mũi tên xuyên tim, chẳng những không tàng phong tụ khí, thiếu hụt tài vận mà còn mang tới những rủi ro nghiêm trọng đối với sức khỏe của người trong nhà. Thế nhà này cần dùng bình phong hoặc xâu tiền Ngũ Đế, Lục Đế hóa giải.
Sai lầm phong thủy nhà ở xua đuổi tài lộc Cách siêu dễ thu hút thịnh vượng bằng tiền xu phong thủy Muốn hóa sát, trừ tà, vượng tài - tìm đến tiền Ngũ Đế
Trần Hồng

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những lưu ý phong thủy ảnh hưởng tới tài vận

Chọn bảo bối cát tường mang lại phú quý giàu sang

Nếu ai đó có kỳ vọng trở thành người giàu sang, phú quý, ngoài nỗ lực của bản thân còn có thể dùng đến phong thủy.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1.  Treo tranh hoa mẫu đơn trong nhà

Hoa mẫu đơn không nên trồng gần nhà, nhưng tranh hoa mẫu đơn thì nên treo trong nhà hay công sở để “chiêu” giàu sang phú quý. Người Trung Hoa xưa gọi hoa mẫu đơn là “quốc sắc thiên hương”, do vậy mẫu đơn là biểu tượng của phú quý, việc treo tranh hoa mẫu đơn cũng từ ý nghĩa này mà ra.

 chon bao boi cat tuong mang lai phu quy giau sang - 1

2. Treo tranh có hình tượng cò trắng

Trong âm Hán, con cò là lộ, đồng âm với con đường. Chính vì vậy, tranh vẽ một con cò trắng đậu trên lá sen là Nhất lộ liên khoa, nghĩa là thành đạt trên đường khoa cử. Còn vẽ hai con cò trắng đậu trên hoa sen là Lộ lộ thanh liêm, một hình ảnh cao sang thuần khiết. Do vậy, nhà nào muốn cầu khoa cử thành đạt thường treo tranh cò trắng đỗ trên hoa hay lá sen.

 chon bao boi cat tuong mang lai phu quy giau sang - 2

3.  Treo tranh hay chữ Cát tường như ý 

Người xưa thường hay treo bức tranh vẽ viên ngọc như ý và một chữ Cát, nghĩa là luôn gặp điều lành khi hành động một việc chính đáng nào đó (cát tường như ý). Có người muốn “tăng” sự cát tường lên gấp bội còn treo ngọc như ý trong nhà.

 chon bao boi cat tuong mang lai phu quy giau sang - 3

4.  Treo tranh sơn thủy

Tranh sơn thủy là loại tranh vẽ cảnh núi non, sông suối, trên bầu trời có khi điểm vài đôi chim hạc (hay cò) cùng cây cỏ (thường là tùng hoặc bách). Cảnh tranh thiên về buổi sáng dương khí thịnh (nên tránh treo tranh vẽ cảnh chiều hay hoàng hôn, đẹp thì có đẹp song đó là đang đến sự “tàn”).

 chon bao boi cat tuong mang lai phu quy giau sang - 4

Phong thủy học cho rằng, treo tranh phong thủy như vậy sẽ mang lại sự khỏe mạnh cho gia chủ, con cháu ngoan giỏi, tài vận thăng tiến.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chọn bảo bối cát tường mang lại phú quý giàu sang

Xem tử vi cho người sinh ngày Ất Dậu

Tử vi người sinh ngày Ất Dậu thấy tài vận không tốt, nên dựa vào năng lực bản thân để nuôi gia đình. Đồng thời, đường tình duyên lận đận, hay
Xem tử vi cho người sinh ngày Ất Dậu

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tử vi trọn đời người sinh ngày Ất Dậu thấy tài vận không tốt, nên dựa vào năng lực bản thân để nuôi gia đình. Đồng thời, đường tình duyên lận đận, hay đau khổ vì tình.

Xem tu vi cho nguoi sinh ngay At Dau hinh anh
 

Sinh ngày Ất Dậu có Thiên nguyên tọa Thiên Sát Tàng Sát, tạo nên tính cách trọng chữ tín. Nếu gặp Tân Kim Thất Sát thì mưu kế đa đoan. Mệnh chủ nên hợp tác với người sinh ngày Canh Thìn.
  Trụ ngày Ất Dậu tự lập, tuy nhiên dễ xúc động, nghi ngờ người khác. Khi làm việc, mệnh chủ thường thể hiện quyền lực, huênh hoang, thiếu sự khiêm tốn, dễ ghi thù, bụng dạ hẹp hòi. Điều này gây trở ngại đến sự phát triển trong sự nghiệp và vận mệnh của họ.
Bí quyết vàng giúp bạn bơ đi mà sống
Trong cuộc sống, có rất nhiều kẻ chuyên đi châm chọc, nói xấu sau lưng người khác, phải làm gì với chúng đây? Câu trả lời là: Bơ chúng nó đi!
Người sinh ngày Ất Dậu cả cuộc đời tài đến tài đi, tài vận không tốt, dựa vào sự cần cù lao động để nuôi sống gia đình. Từ trung vận trở đi, trụ ngày Ất Dậu cần phòng tránh lo buồn vì thiếu tiền tài, tích cực làm việc tích đức.   Xem tử vi người sinh ngày Ất Dậu thấy đường tình duyên khúc khuỷu, đau khổ vì tình. Nữ mệnh bản tính lẳng lơ, lấy chồng như không, phải tự thân kiếm tiền nuôi gia đình, con cái khó làm việc lớn. Nam mệnh  cần phòng tránh phòng tránh việc ly dị. 
Xem tu vi cho nguoi sinh ngay At Dau hinh anh 2
 

Bát tự trụ ngày Ất Dậu
thích hợp kết hôn với người sinh ngày: Giáp Ngọ, Giáp Thìn, Giáp Dần, Ất Tỵ, Ất Mùi, Ất Mão, Bính Dần, Bính Tuất, Bính Thìn, Bính Ngọ, Đinh Sửu, Đinh Mùi, Đinh Tỵ, Đinh Mão, Mậu Thân, Mậu Ngọ, Mậu Tuất, Mậu Thìn, Kỷ Tỵ, Kỷ Mùi, Kỷ Sửu, Kỷ Dậu, Canh Tý, Canh Thân, Canh Dần, Tân Hợi, Tân Mão, Nhâm Dần, Nhâm Thân, Nhâm Ngọ, Nhâm Tý, Quý Dậu, Quý Hợi, Quý Dậu, Quý Tỵ.

Chi Nguyễn

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tử vi cho người sinh ngày Ất Dậu

Chùa Hương - Ngôi chùa linh thiêng cầu bình an

Tới lễ hội chùa Hương, chúng ta như lạc vào cõi Tiên khi ngồi thuyền trên dòng suối Yến uốn lượn mềm mại. Chùa Hương là ngôi chùa linh thiêng theo tâm linh,
Chùa Hương - Ngôi chùa linh thiêng cầu bình an

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Trong những ngày đầu năm mới, hàng triệu người dân khắp tứ phương lại nô nức hành trình linh thiêng về miền đất Phật, nơi Đức Quán Thế Âm Bồ Tát ứng hiện tu hành. Trong suốt những ngày hội là sự thành kính, hoan hỷ của các bậc cao niên, sự nồng nhiệt của tuổi trẻ cùng du khách trong và ngoài nước khắp nơi tụ về.

  Tới thăm Chùa Hương, chúng ta như lạc vào cõi Tiên khi ngồi thuyền trên dòng suối Yến uốn lượn mềm mại, vãng cảnh non xanh núi biếc. Tới đâu cũng thấy các dấu tích lịch sử vẫn còn in trên các triền núi, các hang động, lẫn cả vào thiên nhiên đầy thơ mộng, huyền diệu. Người và cảnh hòa quyện vào nhau càng tạo nên nét riêng rất thơ của Hương Sơn. 
 
   

 

1. Chùa Hương là một quần thể di tích tâm linh.
 

Chùa Hương hay còn gọi là Hương Sơn thuộc xã Hương Sơn, huyện Mỹ Ðức, Hà Nội không chỉ là danh lam thắng cảnh nổi tiếng mà còn là quần thể kiến trúc văn hóa tâm linh cổ kính của người Việt Nam. 
 
Chùa Hương gắn liền với biết bao huyền thoại, truyền thuyết linh thiêng. Nơi đây là một quần thể văn hóa Phật giáo, tập hợp nhiều hang động, chùa chiền, đình đền… Nơi thờ Phật, thờ thánh thần, thờ mẫu, thờ tín ngưỡng nông nghiệp. 
 
Trước đây, các bậc Thiền sư đã về đây dựng thảo am, mở chùa – động thờ Phật để truyền bá đạo Phật. Ngày nay, chùa Hương đã trở thành một Sơn môn lớn quy tụ một hệ thống 18 các đền chùa hang động nằm ở 4 thôn: Yến Vỹ, Hội Xá, Đục Khê, Phú Yên. Các chùa động ở đây phần lớn được xây dựng vào thế kỷ XV, XVIII, XIX với địa thế đẹp khi dựa lưng vào sườn núi hoặc nằm dưới thung lũng.     Lễ Chùa Hương luôn gắn liền với lễ hội truyền thống Quán Thế Âm Bồ Tát, là lễ hội văn hóa dân gian mang đậm nét văn hóa tâm linh của người Việt. Hàng năm, Lễ hội được tổ chức vào ngày 18 – 19 tháng Hai âm lịch. Đêm 18 rạng sáng 19 là đêm quan trọng nhất, linh thiêng nhất và cũng đông vui nhất ở Động Hương Tích. 
 
Ðức Quán Thế Âm Bồ Tát có thể hóa hiện nhiều ứng hóa thân, là hiện thân của lòng từ bi – đoạn trừ khổ đau, đem lại an lạc cho chúng sinh. Sự hiện thị của nàng công chúa Ba – Phật Bà Chùa Hương đã nhắc nhở mọi người lấy tâm đức, hiếu nghĩa làm trọng, lấy sự hy sinh quên mình đem lại hạnh phúc, an lạc cho mọi người.       
 

2. Sự kết hợp tín ngưỡng và vẻ đẹp thiên nhiên hùng vĩ.
 

Chùa Hương đã gắn liền với tín ngưỡng dân gian thờ Bà Chúa Ba: Theo truyền thuyết vào thế kỷ đầu tiên, chính nơi đây công chúa Diệu Thiện, tục gọi là Chúa Ba là ứng thân của Bồ Tát Quán Thế Âm đã vào đây tu hành 9 năm, sau đó đắc đạo thành Phật đi cứu độ chúng sinh.   Chùa Hương mang đậm màu sắc tín ngưỡng dân gian — đạo Phật với nền văn hóa nông nghiệp (ao bèo, con trâu, đàn lợn, nong tằm, né kén…) và phảng phất cả văn hóa phồn thực (bầu sữa mẹ, núi Cô, núi Cậu…). Du khách đến chùa Hương để mong cầu những điều tốt lành như cầu của, cầu con, cầu bình an...
 
 
 

Theo các nhà nghiên cứu dãy núi đá vôi Hương Sơn đã có từ cách đây khoảng hơn 200 triệu năm. Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy ở hang Sũng Sàm, Hang Luôn (thuộc quần thể thắng cảnh Hương Sơn) những chứng tích của người xưa cách ngày nay trên một vạn năm.
  Thêm vào đó, những khu rừng nguyên sinh với những thảm động, thực vật phong phú và quý hiếm, tạo nên môi trường sinh thái độc đáo, đa dạng sinh học. Chùa Hương càng nên thơ với những dòng suối quanh co, uốn lượn, bồng bềnh như mái tóc người thiếu nữ. 
 
Trong bức tranh đẹp đẽ ấy, con người đóng vai trò là nhân tố chủ đạo. Họ có mặt ở đây từ rất sớm và chính sức sáng tạo lao động của họ đã làm cho thiên nhiên vùng Hương Sơn trở nên trường cửu. 

HaTra

Đầu năm trẩy hội chùa Hương, hành trình về cõi Phật Chùa Hương - Thú Hương Sơn ao ước bấy lâu nay...

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chùa Hương - Ngôi chùa linh thiêng cầu bình an

6 điềm lành báo hiệu năm mới may mắn, tốt lành

Người Việt có câu: “Có thờ có thiêng có kiêng có lành”. Nếu năm mới gặp những điềm lành báo hiệu may mắn thì hy vọng cả năm sẽ tốt lành, ngược lại sẽ xui xẻo
6 điềm lành báo hiệu năm mới may mắn, tốt lành

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Người Việt có câu: “Có thờ có thiêng có kiêng có lành”. Vì thế, trong những ngày Tết, người Việt đặc biệt cẩn trọng trong mọi việc. Nếu năm mới gặp những điều báo hiệu may mắn thì hy vọng cả năm sẽ tốt lành, ngược lại sẽ xui xẻo không ít.

 
6 diem lanh bao hieu nam moi may man, tot lanh hinh anh
Ngày Tết, nếu thấy hoa mai nở thêm nhiều và đầy đặn thì đó là một điềm may
6 điềm lành báo hiệu năm mới may mắn:   Cây quất tứ quý   Nhiều người quan niệm nếu ngày Tết nhìn thấy cây quất của gia đình có đủ Tứ quý: Quả xanh, quả chín, hoa, lộc thì cả năm sẽ gặp nhiều may mắn, phúc lộc.   Hoa đào nở kép   Từ sau đêm Giao thừa cho tới sáng mùng Một Tết, nếu hoa đào nở kép, hoa thắm, có ba lớp trên đài như hình dáng bông hồng thì sẽ có nhiều phúc lộc cho gia đình.   Hoa mai nở 6 cánh   Có câu "Hoa khai phú quý". Ngày Tết, nếu thấy hoa mai nở thêm nhiều và đầy đặn thì đó là một điềm may. Nếu có một vài bông hoa nở 6 cánh nữa thì trong năm càng gặp nhiều may mắn và an lành.   Nhặt được đồ   Đầu năm nhặt được tiền (của rơi) là báo hiệu điềm may mắn. Tuy nhiên, nếu là đồ vật có giá trị hoặc số tiền lớn thì nên tìm cách trả lại cho chủ nhân của nó. Bởi, sẽ không có gì tốt hơn là đầu năm làm điều phúc đức cho người và giúp tâm hồn luôn thanh thản.   Mặc quần áo trái   Nghe có vẻ buồn cười nhưng đây là dấu hiệu báo một năm mới may mắn và tốt lành. Tuy nhiên, điều này sẽ không đúng nếu như bạn cố tình mặc trái quần áo.   Chó chạy vào nhà   Tục ngữ có câu: “Mèo vào nhà thì khó, chó vào nhà thì sang”. Theo dân gian, khi chó chạy vào nhà sau Giao thừa hoặc sáng mùng Một, đặc biệt là chó lạ, thì gia đình sẽ gặp nhiều may mắn.
Lễ chùa mà phạm phải 7 điều thì công quả mất hết
Người Việt có thói quen đi lễ chùa để cầu may mắn, phước lành cho bản thân và gia đình. Tuy nhiên, có những điều kiêng kị khi đi lễ chùa mọi người thường mắc
Sưu tầm


Xem thêm Clip Mẹo trang trí mâm ngũ quả ngày Tết đẹp mà tiết kiệm
 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 6 điềm lành báo hiệu năm mới may mắn, tốt lành

Tính cách người tuổi Sửu nhóm máu B: thông minh, sáng tạo

Người tuổi Sửu nhóm máu B thông minh, cá tính và tài năng. Song tính cách người tuổi Sửu nhóm này hơi nhút nhát nên khó khăn trong công việc và tình cảm
Tính cách người tuổi Sửu nhóm máu B: thông minh, sáng tạo

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Người tuổi Sửu nhóm máu B rất thông minh, có cá tính nhưng tính cách hơi nhút nhát, rụt rè. Họ chăm chỉ, tài năng nhưng không giỏi thể hiện nên để lỡ nhiều cơ hội kiếm tiền. Tuy nhiên đến tuổi trung niên, đường tài lộc sẽ vô cùng rộng mở.

 

Tính cách đặc trưng người tuổi Sửu nhóm máu B

  Những người thuộc nhóm này đều rất có cá tính, suy nghĩ độc đáo, đôi khi khiến người khác khó có thể nắm bắt được, họ cũng không dễ dàng biểu lộ suy nghĩ thực sự cho người khác. Tính cách người tuổi Sửu nhóm máu này thường hướng nội, nhút nhát, không biết thể hiện cảm xúc của bản thân, nội tâm trong sáng, thuần khiết và cực kì nhạy cảm, khá tự ti, thường tự thu mình trong tập thể. 


Tinh cach nguoi tuoi Suu nhom mau B thong minh, sang tao hinh anh
 
 
Tuy vậy, trong sự nghiệp họ lại là những người rất có chính kiến, luôn cần cù học hỏi, nỗ lực làm việc, thường đến tuổi trung niên thì sẽ đạt được mục tiêu mong muốn. Họ rất mực trung thành với bạn bè, luôn giữ mối quan hệ lâu dài dù không thường xuyên gặp gỡ. 
 
Lòng tự trọng của nhóm này rất cao, thường che giấu cảm xúc, song trong lòng lại khát khao có được tình yêu chân thành. Nên dũng cảm bộc bạch tình cảm thì mới có được tình yêu như ý, nếu không đây sẽ là nỗi hối tiếc lớn nhất cuộc đời. Trong tình yêu, người tuổi Sửu nhóm máu B nên chọn đối tượng có tính cách sôi nổi lạc quan, phóng khoáng hài hước. Đặc biệt nên tránh kết hôn với người có tính cách nhút nhát, tự ti giống mình.
 

Ưu điểm người tuổi Sửu nhóm máu B

  Những người này có đầu óc linh hoạt, hay tư duy, thường có những suy nghĩ độc đáo, sáng tạo. Có điều, do tính cách người tuổi Sửu nhóm này khá hướng nội, lại nhút nhát nên dù có rất nhiều ý kiến mới lạ song cũng không dám thể hiện ra mà chỉ biết giấu kín trong lòng. Người này bề ngoài rất bình thường, không có gì xuất sắc, nhưng kì thực là một nhân tài ẩn dật. Một khi tài hoa phát tiết ra ngoài thì chắc chắn sẽ khiến cho mọi người kinh ngạc và ngưỡng mộ. Họ khá cố chấp, song lại rất chân thành, chu đáo với bạn bè, nhờ đó giành được tình cảm của mọi người và có tình bạn tốt đẹp, lâu dài. 


Tinh cach nguoi tuoi Suu nhom mau B thong minh, sang tao hinh anh 2
 
 
Cá tính bướng bỉnh cũng được thể hiện rõ ràng trong công việc. Người thuộc nhóm này có thái độ làm việc nghiêm túc, chăm chỉ cần cù, luôn coi công việc là sự nghiệp phấn đấu suốt cả cuộc đời, có trách nhiệm, không dễ dàng từ bỏ trước khó khăn, cũng không hay thay đổi công việc mình đang theo đuổi. Cũng chính nhờ thái độ nghiêm túc như vậy nên người tuổi Sửu nhóm B này luôn hoàn thành công việc xuất sắc và đạt được kết quả như mong đợi.
 
Trong chuyện tình duyên, do bản tính nhút nhát, không hay chủ động tiếp xúc với mọi người nên người này thường hay lặng lẽ trốn trong đám đông. Tuy nhiên, điều này lại tạo nên hình tượng bí ẩn trong mắt mọi người, thu hút sự chú ý của người khác giới, khiến họ nảy sinh hứng thú và đam mê khám phá.
 

Nhược điểm người tuổi Sửu nhóm máu B

  Cá tính là con dao 2 lưỡi, phát huy ưu điểm quá độ cũng sẽ biến thành nhược điểm. Tính nhút nhát, hướng nội chính là biểu hiện của việc thiếu tự tin. Do tính cách người tuổi Sửu nhóm máu này như vậy nên hay tự cô lập bản thân, tạo cảm giác lạnh lùng, khó gần, thậm chí có thể khiến người khác lầm tưởng họ kiêu ngạo, quan hệ xã hội cũng vì thế mà không được tốt đẹp cho lắm.
 
Trong công viêc, dù có năng lực nhưng lại không biết thể hiện ra ngoài nên khó khiến người khác thấy được tài năng của mình, không được cấp trên trọng dụng. Ngoài ra, họ không giỏi ăn nói, ưa sáng tạo, cảm xúc lại không ổn định, dễ dàng thay đổi, vì thế đôi lúc sẽ thấy cuộc đời nhàm chán, luôn muốn tìm kiếm sự thay đổi.


Tinh cach nguoi tuoi Suu nhom mau B thong minh, sang tao hinh anh 3
 
 
Về phương diện tình cảm, người tuổi này luôn mong muốn có được tình yêu, song lại không dám lộ mình để theo đuổi tình yêu. Mặc dù gặp được người như ý nhưng cũng chỉ biết đứng ngắm nhìn từ xa, do đó bỏ lỡ nhiều mối cơ duyên tốt đẹp. 
 

Tài lộc người tuổi Sửu nhóm máu B

  Những người này thường xuyên gặp cơ hội về tài lộc nhưng do nhiều nguyên nhân mà không được như ý, làm thì nhiều mà kết quả nhận được chẳng đáng là bao. Tuy nhiên, do tính tình trầm ổn, chăm chỉ cần cù nên họ không dễ dàng nản lòng mà luôn tự động viên bản thân cố gắng nhiều hơn nữa.
 
Có phần giống với những người tuổi Sửu khác, người thuộc nhóm máu này thời thanh niên không gặp nhiều thuận lợi trong công việc, cơ hội kiếm tiền cũng không có nhiều. Tuy nhiên, hãy giữ vững tinh thần làm việc nghiêm túc, tiếp tục cố gắng thì trời sẽ chẳng phụ lòng người. Đến tuổi trung niên, trải qua nửa đời rèn giũa, tài lộc sẽ ùn ùn kéo đến gõ cửa nhà, bổng lộc thênh thang tràn hoạn lộ.
 

Tình yêu hôn nhân người tuổi Sửu nhóm máu B

 

Tình yêu

  Người tuổi Sửu nhóm máu B luôn khao khát có được một tình yêu đẹp. Song những người này lại có lòng tự tôn quá cao, bề ngoài luôn tỏ ra bất cần, không quan tâm đến ai nhưng trong lòng luôn mong muốn tìm được người thấu hiểu được mình. Họ không giỏi ăn nói nên cũng không biết nói những lời yêu đương nồng thắm, tính cách hay xấu hổ nên càng ít khi có những cử chỉ, hành động ngọt ngào lãng mạn. Tính cách người tuổi Sửu như vậy nên khó thu hút sự chú ý của người khác giới, họ cũng thường hay tỏ thái độ lạnh lùng, khiến những người theo đuổi nhụt chí nản lòng, bỏ lỡ nhiều cơ hội tìm được một nửa cho mình.  Chính vì thế, những người thuộc nhóm này nên cởi mở, thoải mái bộc lộ suy nghĩ bản thân mình nhiều hơn nữa để được mọi người xung quanh thấu hiểu và giành được cảm tình của nhiều người. Có như vậy thì ước mơ về một tình yêu đẹp mới sớm trở thành hiện thực, đừng bỏ lỡ những cơ hội tốt, để người thương vụt khỏi tay mình rồi hối hận suốt đời.
 
Mâu thuẫn giằng xe giữa việc luôn khao khát được yêu thương với việc không biết cách thể hiện tình cảm thường được thể hiện rõ ràng nhất trong tính cách của người tuổi Sửu thuộc nhóm máu B. Họ mãi luẩn quẩn trong vòng quay mâu thuẫn ấy mà không sao tìm được lối ra. Chỉ khi gặp được người hiểu cho cá tính của họ, lại có tấm lòng khoan dung và trái tim nhân ái thì mâu thuẫn đó của họ mới được hóa giải. Khi đó, họ sẽ thay đổi được thái độ lạnh lùng thường nhật và trở thành một người vui tươi, cởi mở hơn. Bên những người yêu quý mình, người thuộc nhóm này sẽ bộc lộ những ưu điểm về tính cách dịu dàng, bao dung, song trước mặt người tình, họ sẽ không để lộ nét tính cách cố chấp, ngang ngạnh của mình. Họ thường mất nhiều thời gian để quen biết, tìm hiểu trước khi xác lập mối quan hệ, nhưng rất chung thủy với đối tượng mà mình đã chọn.


Tinh cach nguoi tuoi Suu nhom mau B thong minh, sang tao hinh anh 4
 
 

Hôn nhân

  Tính cách như vậy nên người tuổi Sửu nhóm máu B nên chọn bạn đời là người cởi mở, phóng khoáng, lạc quan và hài hước. Khi ấy, cuộc sống sau hôn nhân của họ sẽ luôn tươi mới và tràn ngập niềm vui, một người sâu sắc và một người cởi mở sẽ bù đắp cho nhau, ít gây nhàm chán. Đặc biệt, nên tránh kết hôn với những người có tính nhút nhát, khép kín như họ, nếu không cuộc sống gia đình sẽ rất trầm lặng, thiếu sức sống, khó có thể tồn tại lâu dài. Nếu lựa chọn chính xác, hôn nhân người tuổi Sửu nhóm này sẽ hạnh phúc bền lâu.
 
Sau khi kết hôn, những người thuộc nhóm này sẽ thể hiện sự chu đáo và giàu trách nhiệm với gia đình. Đàn ông dù công việc có bận rộn đến đâu thì bên cạnh việc phấn đấu cho sự nghiệp, họ cũng không bao giờ quên chăm lo cho vợ con. Còn phụ nữ tuổi này sẽ trở nên hiền thục và đầy quyến rũ. Cuộc sống hôn nhân hạnh phúc khiến họ trở nên vui tươi hơn, cũng biết cách tạo không khí vui vẻ cho gia đình, biết tạo mối quan hệ thân mật với gia đình và bạn bè chồng.
 
Vì tính cách khá khép kín nên người nhóm này cũng ít khi biểu lộ ham muốn trong tình dục, thậm chí đôi lúc còn tỏ vẻ chán ghét, khinh thường. Người tuổi này rất chung tình, khi đã xác lập quan hệ thường không bao giờ chủ động đề nghị chia tay. Song họ không chấp nhận sự phản bội nên nếu bạn đời có dấu hiệu ngoại tình, họ sẽ không tha thứ và dứt khoát chia tay.
 

Lời khuyên dành cho người tuổi Sửu nhóm máu B

  Nên nhìn vào mặt tốt của bản thân để thêm phần tự tin, thể hiện cho người khác thấy điểm mạnh của mình, đừng quá tự ti, sống khép mình. Hãy thử chủ động nói chuyện làm quen với mọi người, thân thiện, hòa đồng, mở rộng mối quan hệ xã hội, giúp cho cuộc sống đỡ nhàm chán và công việc thêm phần trôi chảy. Cần học cách thể hiện bản thân, mạnh dạn phát biểu ý kiến, chia sẻ những ý tưởng của mình, nếu không cấp trên và đồng nghiệp khó lòng biết được khả năng của bạn. Khi tiếp xúc với người khác giới, cố gắng tỏ thái độ tự nhiên, cởi mở, nhất là với người mình có cảm tình thì càng phải chủ động nói chuyện, có vậy mới tăng khả năng được người khác chú ý, tìm cho mình người bạn đời lý tưởng.
Hy Vũ
Tuổi Sửu hợp với tuổi nào trong tình yêu hôn nhân? Người tuổi Tý nhóm máu AB: Hài hước, chủ động nhưng lại rất bảo thủ 12 con giáp mua nhà năm nào được tuổi, hướng nhà nào phát tài phát lộc?
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tính cách người tuổi Sửu nhóm máu B: thông minh, sáng tạo

Cưới chạy tang là gì? Những kiêng kỵ trong đám cưới chạy tang

Đám cưới chạy tang là một tình huống không mong muốn nhưng cũng không phải là hiếm gặp. Tìm hiểu những phong tục tập quán liên quan đến cưới chạy tang sẽ giúp các cặp đôi có sự chuẩn bị tốt hơn khi rơi vào hoàn cảnh này.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đám cưới đã được dự tính và lên kế hoạch trước ít nhất là sáu tháng trở lên. Tuy nhiên, gần đến ngày cưới thì gia đình cô dâu hoặc gia đình chú rể lại có người thân đau ốm nặng. Hoặc khi đám cưới đã được chuẩn bị gần xong thì cũng là lúc có người thân vừa qua đời, hoặc đang trong tình trạng nguy kịch, hầu hết các gia đình chọn hình thức cưới chạy tang. Cưới chạy tang thực chất là hình thức cưới tránh tang, tức là tổ chức hoàn tất đám cưới trước khi phát tang.

Sở dĩ có chuyện cưới chạy tang là do có phong tuc tap quan để tang 3 năm khi người mất là ông, bà, cha, mẹ hoặc một khoảng thời gian nhất định đối với những người thân trong gia đình. Trong suốt thời gian này, giađình không được tổ chức lễ cưới, ít hội họp, tiệc tùng để tỏ lòng thương tiếc đối với người đã khuất. Vì vậy, để tránh lỡ làng hôn sự đã được dày công chuẩn bị, các đám cưới được nhanh chóng tiến hành. Lúc này gia đình hai bên sẽ phải nhanh chóng chuẩn bị hôn lễ cho cô dâu chú rể trước ngày đã ấn định để tránh “ưu-hỷ trùng phùng”.

Cô dâu, chú rể khi chuẩn bị cưới chạy tang

Trường hợp cưới chạy tang khó khăn nhất là khi hai gia đình ở xa. Việc phát tang không thể đình lại quá lâu, nên không kịp thời gian tổ chức lễ cưới chu đáo ở cả hai nhà. Điều này cũng ít nhiều khiến cặp đôi, nhất là cô dâu có tâm lý tủi thân. Hôn lễ là chuyện cả đời người chỉ có một lần, mà lại không thể tổ chức long trọng như ý muốn. Hơn nữa, áp lực về thời gian khi tất cả đều chuẩn bị gấp gáp, những cảm xúc buồn vui đan xen lẫn lộn, khi nhân lực trong gia đình không thể tập trung để hỗ trợ vì còn vướng bận chuyện tổ chức tang lễ… cũng tạo ra gánh nặng tâm lý đối với cô dâu và chú rể.

Trong trường hợp này, việc ra một kế hoạch rõ ràng, tập trung thực hiện và nếu có thể, liên hệ với những bạn bè thân thiết nhất để được hỗ trợ là điều cô dâu chú rể nên thực hiện. Không nên quá căng thẳng hay áp lực vì những sơ suất gặp phải trong đám cưới, vì cuộc sống lâu dài sau khi kết hôn mới là điều quan trọng mà bạn cần hướng đến.

Cưới chạy tang vẫn phải đảm bảo các nghi lễ trong phong tục cưới hỏi Việt Nam.


Cưới chạy tang là gì? Những kiêng kỵ trong đám cưới chạy tang

Trong phong tục cưới hỏi Việt Nam, đám cưới không chỉ là ngày vui của đôi trai gái, mà còn là hỷ sự, là ngày vui chung được cả đại gia đình đón đợi. Tuy nhiên cuộc sống thường xảy ra rất nhiều những tình huống không thể lường trước được. Một trong những tình huống không mong muốn trong thời gian chuẩn bị cho đám cưới là việc gia đình hai bên có người đột ngột qua đời hoặc vì lý do đau yếu khó qua khỏi. Nhưng vì đám cưới đã được chuẩn bị không thể dời lại, hay vì cặp trai gái và gia đình cũng không muốn để hết mãn tang mới cử hành hôn lễ. Lúc này hai gia đình sẽ gấp rút chuẩn bị mọi thứ cho đám cưới. Cưới chạy tang thường tổ chức đơn giản, gọn lẹ, tránh cầu kỳ phô trương, có thể bỏ bớt các lễ nghi nhưng về cơ bản vẫn phải giữ đúng trong phong tục cưới hỏi Việt Nam.

Cưới chạy tang thường tổ chức đơn giản, gọn lẹ, tránh cầu kỳ phô trương

Tránh “ưu - hỷ trùng phùng”

Đám cưới đã được dự tính và lên kế hoạch trước ít nhất là sáu tháng trở lên. Tuy nhiên, gần đến ngày cưới thì gia đình cô dâu hoặc gia đình chú rể lại có người thân đau ốm nặng, được dự xác định là sắp qua đời. Lúc này gia đình hai bên sẽ phải nhanh chóng chuẩn bị hôn lễ cho cô dâu chú rể trước ngày đã ấn định để tránh “ưu-hỷ trùng phùng”. Bởi trong phong tục cưới hỏi Việt Nam, nếu nhà có tang, nhất là đám tang của những người ruột thịt thì cô dâu chú rể phải hoãn đám cưới từ một đến ba năm.

Nếu nhà có tang, thì cô dâu chú rể phải hoãn đám cưới từ một đến ba năm

Tổ chức đám cưới khi nhà vừa có đám tang người thân ruột thịt

Nếu nhà có đám tang của người thân như ông bà, cha mẹ, anh em ruột thịt vừa qua đời, nhưng vì rất nhiều lý do không thể hoãn lại đám cưới. Ví như việc hai bạn đã thu xếp công việc và có những kế hoạch sau đám cưới không thể dời lại, hai bạn đã lỡ “ăn cơm trước kẻng”, hay trong một vài năm tới sẽ không có ngày hợp tuổi để hai bạn tổ chức hôn lễ… Vậy làm thế nào để tổ chức một đám cưới có tính chất chạy tang nhưng vẫn phải đảm bảo đúng theo phong tục cưới hỏi Việt Nam?.

Nghi thức cưới bên gia đình có tang sẽ đơn giản bớt các thủ tục nghi lễ và cũng tránh cầu kỳ, rầm rộ

Nếu gia đình nhà gái có đám tang thì mọi nghi lễ ăn hỏi sẽ được tổ chức đơn giản và chỉ đãi tiệc vào ngày cưới, khách khứa cũng sẽ bị giới hạn. Bố mẹ cô dâu và những người có tang sẽ không đưa cô dâu sang nhà chồng trong ngày rước dâu mà nhờ tới những người đại diện. Ngược lại, nếu nhà trai có đám hiếu thì số lượng đoàn rước sang nhà gái cũng bị rút gọn. Những nghi lễ cơ bản vẫn phải được tiến hành đúng các nghi lễ theo phong tục cưới hỏi Việt Nam. Tuy nhiên nếu gia đình bên nào có người mới qua đời thì nghi thức cưới bên gia đình đó sẽ đơn giản bớt các thủ tục nghi lễ và cũng tránh cầu kỳ, rầm rộ.

Tổ chức đám cưới khi nhà vừa có đám tang của những người họ hàng xa

Lúc trước “cưới chạy tang” thường dùng để chỉ những đám cưới “chạy” trước khi nhà có đám hiếu, thì giờ đây nó dùng để chỉ cả những đám cưới khi gia đình có đám hiếu mới diễn ra. Tuy việc tổ chức đám cưới khi gia đình vừa có đám hiếu của một người họ hàng xa đã có phần bớt khắt khe hơn. Đám cưới vẫn sẽ tiến hành phong tục cưới hỏi Việt Nam theo đúng dự tính ban đầu. Nhưng trong đám cưới nên hạn chế mời những người có quan hệ gần với người vừa qua đời tham dự hôn lễ. Sau đám cưới, đôi vợ chồng mới nên đến thăm hỏi gia đình nhà có tang và tỏ lòng thành kính với người mới qua đời.

Sau đám cưới, vợ chồng mới nên đến thăm hỏi gia đình nhà có tang và tỏ lòng thành kính với người mới qua đời

Tổ chức đám cưới khi nhà hàng xóm có đám hiếu

Bạn muốn tổ chức một đám cưới thật rầm rộ, hoành tráng để kỷ niệm ngày vui đáng nhớ nhất trong đời. Nhưng không may ngày cưới của bạn lại là ngày nhà hàng xóm có đám hiếu. Đây là điều mà tất cả mọi người đều không mong muốn. Trong trường hợp này, bạn vẫn có thể tiến hành hôn sự theo đúng phong tục cưới hỏi Việt Nam, nhưng hãy hạn chế tối đa sự phô trương trong đám cưới. Không bật nhạc, loa đài ầm ĩ, tránh tình trạng kẻ khóc người cười sẽ gây khó xử cho cả gia đình hai bên và các quan khách đến dự lễ cưới hay phúng viếng đám tang.

Một số kiêng kỵ trong đám cưới chạy tang

Tổ chức lễ cưới khi gia đình còn tang cần hạn chế về quy mô và giới hạn số lượng khách mời. Khi mở tiệc đãi khách, gia đình chỉ mời những người đặc biệt thân thiết. Khi tổ chức lễ thành hôn trên hội trường, bố mẹ của một trong hai nhân vật chính của nhà có tang sẽ không được lên trên sân khấu hay phát biểu trong lễ cưới như kịch bản thường thấy. Vì đại diện của một bên gia đình không thể xuất hiện nên để cân đối, bên đại diện còn lại cũng không lên sân khấu mà chỉ có cô dâu chú rể thực hiện nghi lễ kết hôn trong sự chứng kiến của người thân, bạn bè. Tuy nhiên, hiện nay, suy nghĩ kiêng kỵ cũng dần thoáng hơn và việc tổ chức đám cưới khi nhà đang có tang cũng vì thế mà không khắt khe như cũ. Với cô dâu chú rể gặp đám tang là người ruột thịt, cách giải quyết có thể vẫn giữ nguyên lịch trình tổ chức cưới, nhưng cũng phải làm nhanh gọn. Khi mở tiệc đãi khách tại khách sạn không được mời khách tới dự đám cưới rộng rãi, chỉ mời những người đặc biệt thân thiết. Khi tổ chức lễ thành hôn trên hội trường, bố mẹ của một trong hai nhân vật chính của nhà có tang sẽ không được lên trên sân khấu hay phát biểu trong lễ cưới như kịch bản thường thấy.Vì đại diện của một bên gia đình không thể xuất hiện để cân đối, bên đại diện còn lại cũng không lên sân khấu mà chỉ có cô dâu chú rể thực hiện nghi lễ kết hôn trong sự chứng kiến của người thân, bạn bè.

Nếu đôi uyên ương không có quan hệ ruột thịt với người quá cố, trong lễ cưới của họ, những người thân ruột thịt với người mới mất sẽ tránh tới tham dự.

Về phong tục đám cưới chạy tang hiện đại

Hiện nay, suy nghĩ kiêng kỵ cũng dần thoáng hơn và việc tổ chức đám cưới khi nhà đang có tang cũng vì thế mà không khắt khe như cũ. Với cô dâu chú rể gặp đám tang là người ruột thịt, cách giải quyết có thể vẫn giữ nguyên lịch trình tổ chức cưới, nhưng cũng phải làm nhanh gọn.
Nếu đôi uyên ương có cha hoặc mẹ mới mất, nên tùy thuộc vào sự bàn bạc, sắp xếp của hai gia đình mà hoãn đám cưới hay xem lại kế hoạch cưới, thực hiện sao cho ổn thỏa nhất.

Trong trường hợp đám tang là người họ hàng trong nhà thì việc tổ chức cưới sẽ không quá khắt khe như với đám tang của người thân ruột thịt. Vẫn sẽ là những người có liên quan tới người mới mất không được góp mặt trong đám cưới. Và sau khi nghi thức cưới kết thúc, cô dâu chú rể nên mang khay đồ lễ đến tỏ lòng thành kính với người mới mất. Cũng là để thông báo cho những thành viên của gia đình về việc cưới xin vì họ không thể góp mặt trong ngày vui của đôi uyên ương.

Với cách xử lý khéo léo thì dù trong gia đình có việc không hay, đám cưới của cô dâu chú rể vẫn sẽ diễn ra suôn sẻ tuy không được như những gì họ từng kỳ vọng.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cưới chạy tang là gì? Những kiêng kỵ trong đám cưới chạy tang

Làm đẹp cho ao hồ trong vườn

Bất kỳ vật trang trí nước nào như ao hồ, đài phun nước... đặt trong vườn đều phải cân xứng với kích thước của ngôi nhà. Hồ nước quá lớn mang ý nghĩa kìm hãm và
Làm đẹp cho ao hồ trong vườn

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Kích cỡ, hình dáng

Bất kỳ vật trang trí nước nào như ao hồ, đài phun nước... đặt trong vườn đều phải cân xứng với kích thước của ngôi nhà. Hồ nước quá lớn mang ý nghĩa kìm hãm và "nhấn chìm" con đường phát triển sự nghiệp của gia chủ. Đài phun nước có tỉ lệ lớn hơn hẳn so với không gian xung quanh dễ tạo cho người sống ở nơi đó cảm giác mệt mỏi, trống trải.

 
Lý tưởng nhất là những hình không thẳng cạnh và nên mô phỏng theo tự nhiên. Hình dạng ao hồ càng bất thường thì thảo mộc và sinh vật hoang dã sẽ càng dễ dàng sinh sôi nảy nở. Ao hồ hình tròn thường có khuynh hướng dẫn khí đi quá nhanh, còn hình vuông sẽ sinh ra các “mũi tên độc”. Tuy nhiên, có thể biến thành hình dạng tự nhiên hơn bằng cách khéo trồng cây men quanh bờ hồ.
Bài trí nước

Nếu nước chảy nhẹ nhàng về phía nhà bạn được đánh giá là tốt. Nó tượng trưng cho của cải, tài lộc vào. Nước chảy róc rách từ hướng Đông sang hướng hợp với mệnh chủ nhà cũng là điều tốt. (Ví dụ từ năm 2004 - 2023, hướng tốt là hướng Tây Nam).

Nước chảy nhẹ nhàng về phía nhà được coi là tốt

Kỵ nước chảy từ vị trí cao hơn so với nhà ở vì dễ gây ngập lụt, gặp nhiều tai ương.

Bài trí đá

Để cân bằng tính âm của các ao hồ tĩnh lặng có thể bổ sung nguồn năng lượng dương từ đá. Sự kết hợp này tạo hình thế "sơn thủy hữu tình". Nó còn có thể tượng trưng cho hình thế Huyền Vũ, Thanh Long, Bạch Hổ, với Chu Tước là ao hồ phía trước.

 
Sử dụng đá bài trí trong ao hồ cần phải tuân thủ các nguyên tắc sau:

-  Số đá dùng đến phải là số lẻ.
-  Chôn sâu đá xuống đất ít nhất 1/3 chiều dài thân đá.
-  Đặt đá theo đúng chiều dựng đứng của đá (căn cứ theo vân đá).
-  Đặt hòn đá dẹt, phẳng bên cạnh hòn đá dựng đứng với mặt lõm úp xuống dưới.
-  Dùng "chân" của hòn đá đầu tiên làm chuẩn và xếp các viên đá sau đó thẳng hàng với chuẩn này.
- Không đặt đá có cạnh tròn trịa bên cạnh hòn đá bị mẻ cạnh.
-  Chọn mặt đá chịu được điều kiện khắc nghiệt của thời tiết để hướng về phía trước.
-  Áp dụng lý thuyết âm dương để quân bình trong việc sắp đặt.

(Theo Batdongsan)

 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Làm đẹp cho ao hồ trong vườn

Phong thủy nhà đất –

Khái niệm cơ bản của Phong Thủy là: “Khí nương theo gió thì tản mạn, gặp nước giới hạn thì dừng, người xưa làm cho tụ mà không cho tán, làm cho lưu thông mà có chỗ dừng, cho nên gọi là Phong Thủy”. Ở đây chỉ đề cập đến cửa căn nhà của bạn. Xem phong

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Khái niệm cơ bản của Phong Thủy là: “Khí nương theo gió thì tản mạn, gặp nước giới hạn thì dừng, người xưa làm cho tụ mà không cho tán, làm cho lưu thông mà có chỗ dừng, cho nên gọi là Phong Thủy”. Ở đây chỉ đề cập đến cửa căn nhà của bạn.

phong_thuy_nha_vuon_7

Xem phong thủy, nói cho cùng là xem tác dụng tốt xấu của “khí” đối với vị trí không gian nhất định.Trong hai tầng này, “phong” và “thủy” là môi giới liên kết “khí” với địa hình, là cách luận đoán từ hình tượng cụ thể chuyển hóa thành các tác động trừu tượng. Trong quá trình chọn lựa, đối tượng được phán đoán cụ thể là địa hình, giải thích và bình phẩm chất lượng sử dụng địa hình là khái niệm phong thủy.

Đồng thời như đã nói ở trên, người ta dùng “phong” và “thủy” thì lại lấy địa hình để diễn tả trạng thái tác động của nó, cho nên trong thuyết phong thủy, hai quá trình này cùng tồn tại. Tình huống như vậy khiến cho nhiều người cảm thấy thuyết phong thủy vừa rất huyền bí, vừa rất phức tạp.

Theo phong thủy nhà ở: Cửa trong phong thủy còn gọi là “huyền quan”. Về vấn đề này mỗi phái đều có cách lý giải riêng, nhưng nói chung họ đều công nhận cửa là quan trọng nhất. Đi đôi với cửa chính (huyền quan) còn có một thuật ngữ gọi là ‘Thủ huyền quan (trấn giữ cửa). “Thủ huyền quan” là phía sau cửa khoảng 1,5 mét cho đến 2 mét đặt một tấm bình phong, giống như một đơn vị trấn thủ cửa chính. Công dụng của bình phong là để thay đổi hướng đi của dòng khí, không cho khí xung chiếu trực tiếp vào.

Dùng bình phong để hóa giải luồng khí.

Bình phong dùng để thủ huyền quan có thể dùng bất cứ vật liệu hoặc hình dáng gì, và không cần lớn, chỉ cần cải biến hướng đi của dòng khí là được. Người ta cũng có thể dùng tấm gương làm bình phong, dùng để thủ huyền quan đồng thời vừa dùng để trang trí nội thất. Hoặc dùng một cái bàn tròn để hóa giải dòng khí xung chiếu trực tiếp vào. Đó là các biện pháp nhằm tạo luồng khí hòa hoãn để sinh tài trong phong thủy nhà ở .

Cửa không được đối nhau

Các cửa nên tránh đối nhau trực tiếp. Bên trong nhà thường có một số phòng và cửa của nó, các cửa này cần phải tránh đối nhau trực tiếp, vì một khi các cửa thông nhau sẽ làm ảnh hưởng phong thủy bên trong nhà. Lúc ấy dòng khí sẽ thịnh một nơi và yếu đi nơi khác, khó đạt tới sự hài hòa. Do đó nếu như phong thủy của một phòng không được tốt sẽ ảnh hưởng sang phòng khác.

Các nhà phong thủy cho rằng nếu phạm vào trường hợp này thì người trong nhà hay cãi vã, xung đột. Nếu không thể sửa đổi lại cách bố trí cửa trong nhà được, người ta có thể đặt bình phong hoặc treo rèm cửa để cải thiện phong thủy nhà ở.

Cửa phòng không được xuyên suốt từ trước nhà ra sau.

Trường hợp trong hình là phạm vào cuộc “Môn xung sát” rất có hại cho chủ nhân, hình thành hiện tượng mà các nhà phong thủy gọi là “Xuyên đường phong” (gió xuyên qua các phòng). Trong trường hợp này dòng khí sẽ quá mạnh làm ảnh hưởng đến sự ổn định của khí tường, có thể gây tổn thương đến sức khỏe người ở trong nhà.

Cửa lớn không được đối nhau với cửa sổ

Cửa lớn là nơi để người ta ra vào, và cũng là nơi dòng khí vào nhà, nếu cửa lớn được đặt ở hướng tốt, một khi cát khí vào nhà sẽ theo cửa sổ mà đi mất, không tụ được. Cửa lớn không nên đối thẳng với bậc thang. Trong phong thuy nha o cửa lớn không được đối thẳng với bậc thang hay đường hành lang

Cửa của hai nhà không được đối nhau

Ngay cả trường hợp cửa của hai nhà khác nhau cũng không được đối nhau. Các nhà phong thủy cho rằng có thể làm những cách sau để hóa giải như dùng bình phong che chắn phía trong cửa, đặt cặp tượng hình kỳ lân ở cửa bị xung chiếu, hoặc cặp tượng nhỏ hình con rùa bằng đồng cũng được (tượng này có thể hóa giải những loại vật phong thủy xấu khác xung chiếu vào cửa), tạo thành một hành lang để làm hòa hoãn dòng khí…

Cửa không được đối với cạnh góc phòng

Như trong hình bên, người đứng trong phòng nhìn ra ngoài phòng thấy cạnh góc của phòng đối diện xung chiếu thẳng vào phòng, đây cũng là điều cấm kỵ.

Cửa phòng không được đối thẳng với xà nhà

Dù là nhà gỗ, nhà xây hay đúc bê tông đều phải chú ý không thiết kế xà nhà đâm thẳng vào cửa chính.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phong thủy nhà đất –

Bàn chân của tỉ phú có điều gì khác biệt? - Nhân tướng - Xem Tử Vi

Bàn chân của tỉ phú có điều gì khác biệt?, Nhân tướng, Xem Tử Vi, xem bói, xem tử vi Bàn chân của tỉ phú có điều gì khác biệt?, tu vi Bàn chân của tỉ phú có điều gì khác biệt?, tu vi Nhân tướng

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bàn chân của tỉ phú có điều gì khác biệt?

Những người nhiều tiền của thường có tướng bàn chân khác biệt so với người bình thường. Dưới đây là những sự khác biệt đó.

1. Ngón chân thứ hai dài hơn ngón chân cái

Ban chan cua ti phu co dieu gi khac biet hinh anh
 

Trong nhân tướng học gọi đây là kiểu tướng chân Hy Lạp. Từ xa xưa, các vị vua chúa cổ đại hay những người nắm giữa vị trí cao trong xã hội đa phần đều có kiểu chân với ngón chân thứ hai nổi trội, dài hơn tất cả những ngón chân khác. Chủ nhân của tướng chân này là người quyết đoán, có khả năng lãnh đạo tốt, tinh thần trách nhiệm cao, kể cả trong công việc và cuộc sống.

Hơn thế, người này tính tình sôi nổi, lúc nào cũng căng tràn sức sống nên dỡ trở thành trung tâm của mọi sự chú ý. Nhờ những mối quan hệ hài hòa, họ dễ dàng đạt được thành công hơn so với người khác.

2. Ngón chân cái, ngón thứ hai và ba bằng nhau

Độ dài ba ngón chân cái, thứ hai và thứ ba bằng nhau được gọi là kiểu chân La Mã. Người có tướng chân này tính tình hài hòa, hướng ngoại, dễ được mọi người yêu mến. Ngoài ra, người này có tính cách độc lập, tự tin vào bản thân, ghét phải phụ thuộc vào người khác nên lúc nào cũng cố gắng để tìm kiếm con đường phát triển của riêng mình.

Bên cạnh đó, người này còn có số khởi nghiệp sớm, ban đầu gặp không ít khó khăn, trở ngại nhưng cuối cùng thành công rực rỡ, hưởng cuộc sống vinh hoa phú quý.

Ban chan cua ti phu co dieu gi khac biet hinh anh
 

3. Ngón chân cái dài nhất

Kiểu chân này còn được gọi là chân Ai Cập. 5 ngón của bàn chân hình thành một cái dốc với đỉnh dốc là ngón chân cái.

Chủ nhân kiểu chân này có cá tính mạnh mẽ, tự tin vào bản thân nhưng đôi khi thái quá trở thành kiêu căng, ngạo mạn. Tuy nhiên, khi đã quyết tâm làm việc gì họ sẽ nỗ lực tới cùng. Do đó, đây cũng là một trong tướng chân của người giàu có, không phải lo lắng nhiều về vật chất.

4. Đặc điểm móng chân

Những người có móng chân hình tròn, trơn bóng, sắc hồng hào thường có số giàu sang phú quý. Đặc biệt nếu là nữ giới thì có mệnh làm phu nhân, không những được hưởng tiền bạc từ chồng mà còn có kẻ hầu người hạ để sai khiến. Nếu cộng thêm đặc điểm móng chân cụp xuống dưới càng chứng tỏ người này giàu sang, có thể trở thành tỉ phú.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bàn chân của tỉ phú có điều gì khác biệt? - Nhân tướng - Xem Tử Vi

Đinh Hợi mệnh gì –

Người sinh 2007, Đinh Hợi, có Ngũ hành năm sinh là Ốc Thượng Thổ, nhưng Mệnh Cung của Nam và Nữ khác nhau: 1. Nam Cung KHÔN, hành THỔ, hướng Tây Nam, quái số 2, sao Nhị Hắc, Tây tứ mệnh (Đông bắc, Tây, Tây Bắc, Tây Nam). Đeo đá màu Đỏ, Hồng, Tím để đ
Đinh Hợi mệnh gì –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đinh Hợi mệnh gì –

Cải thiện công danh bằng phong thủy

Dù bạn là ca sĩ, nhà giáo hay doanh nhân,... thì việc trở nên thành đạt và nổi tiếng là một điều không hề đơn giản. Cải thiện phong thủy hướng Nam là một cách giúp bạn đạt được công danh trong xã hội và được mọi người công nhận.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Công danh không chỉ dành cho người nổi tiếng, các ngôi sao, mà còn áp dụng cho tất cả mọi người bởi ai cũng muốn tìm cho mình một chỗ đứng trong xã hội. Các chuyên gia phong thủy đưa ra lời khuyên: Cần chú ý đến khu vực hướng Nam của căn nhà để đạt được mong muốn này.

Chủ trọng hướng Nam của ngôi nhà để đạt được công danh

Các chuyên gia phong thủy cho rằng, hướng nam ảnh hưởng đến việc bạn được mọi người công nhận và chú ý cho một tài năng hay kỹ năng đặc biệt. Khi hướng nam của nhà bạn được bày biện theo đúng phong thủy cũng là lúc công việc của bạn được sếp khen ngợi, bạn bè công nhận và nhiều người để ý.

 
Bài trí hướng Nam đúng phong thủy sẽ giúp bạn được nhiều người chú ý

Màu đỏ phong thủy giúp hỗ trợ công danh

Theo phong thủy, màu đỏ là màu của lửa và đại diện cho danh tiếng. Màu đỏ là một màu giúp thu hút sự chú ý. Do vậy, khi bạn cần gia tăng địa vị xã hôi thì đầu tiên bạn cần phải gia tăng các đồ trang trí màu đỏ trong căn nhà của mình. Cụ thể:

- Dùng sơn màu đỏ cho khu vực phía Nam của ngôi nhà (trừ phòng tắm và phòng ngủ);

- Sơn bức tường hướng nam của phòng khách bằng màu đỏ;

 
Màu đỏ giúp thu hút sự chú ý

- Phòng ngủ ở hướng Nam của ngôi nhà cần được bổ sung thêm đệm gối màu đỏ

- Khu vực hướng Nam của ngôi nhà cần được bày nến và đèn màu đỏ.

 

Sử dụng ánh sáng để tăng công danh theo phong thủy

Theo phong thủy, ánh sáng cung cấp năng lượng dương hưng thịnh cho ngôi nhà. Khi xung quanh bạn tràn đầy năng lượng nhiệt huyết, tích cự thì các cơ hội tốt đẹp sẽ đến với bạn.

- Để tăng cường nưng lượng phong thủy không gian cho góc phía Nam, bạn nên thêm đền chiếu sáng khu vực này;

 

- Để gia tăng địa vị xã hội, hãy thêm ánh sáng phía trước của ngôi nhà;

- Nên đặt một ngọn đèn góc phía trên bàn làm việc;

- Trang trí cây trong nhà với những chiếc đèn nhấp nháy.

Sử dụng lửa để tăng danh tiếng

Để tăng năng lượng dương - lửa, không gian ngoài trời là một lựa chọn hoàn hảo. Hãy kê thêm bàn nướng thịt BBQ, đồ gỗ và ánh sáng ở góc phía Nam của khu vườn nhà bạn.

Ngoài ra, bạn có thể đặt một vài chậu cây hoa màu đỏ ở góc này vì cây và hoa cũng giúp ích rất nhiều trong việc tạo dựng danh tiếng của bạn.

 

Lưu ý những thứ không nên bài trí ở hướng Nam ngôi nhà

- Không nên để xuất hiện nước ở góc hướng Nam của căn nhà;

- Không nên sử dụng màu xanh hoặc màu đen cho những căn phòng ở góc này;

- Không để quá nhiều đồ vật kim loại ở hướng Nam hoặc sử dụng màu ánh kim như vàng, bạc,... ở hướng này.

(Theo Eva)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cải thiện công danh bằng phong thủy

Có nên treo đồng hồ ở phòng khách hay không? –

Phong thủy hiện đại cho rằng, tiếng gõ nhịp điệu đều và đung đưa nhịp nhàng của con lắc đồng hồ có thể làm tăng thêm khí năng trong gia đình. Tiếng tích tắc đều đều của đồng hồ đem lại cảm giác quy luật và tiết tấu cho cuộc sống gia đình. Bởi vậy, tr

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

ong phòng khách có treo chiếc đồng hồ báo giờ là hết sức cần thiết, tcít nhất là đồng hồ quả lắc kiểu đứng hoặc treo tường.

201101151515_4

Cách treo đồng hồ cũng cần thận trọng, nếu treo sai vị trí cũng không tốt. Mặt đồng hồ không quay vào trong nhà mà nên quay ra cửa hoặc ra ban công. Vì khi trong nhà vắng người, không khí tĩnh lặng, quả lắc đồng hồ đung đưa làm lay động vận khí trong nhà, khiến trong phòng vẫn tràn đầy sức sống. Treo đồng hồ cạnh cửa là tốt nhất.

Trong nhà chỉ nên đặt một đồng hồ đổ chuông báo giờ, không nên đặt nhiều, vì đánh chuông báo thức đồng loạt là không hay. Chuông báo thức dùng chuông điện tử là tốt và tiếng chuông nên êm tai.

Không nên treo đồng hồ hướng vào những thứ có hình dáng giông đồng hồ hoặc gần giông với bát quái, nếu không sẽ gây hiệu ứng ức chế cho chủ nhà.

Màu sắc đồng hồ nên chọn màu hồng, tím, vàng chanh làm chính, hình dáng chọn hình bát quái (8 cạnh) là tốt nhất, bởi phương vị này thuộc Hỏa. Nếu đồng hồ đặt ở phương Thanh Long thì lấy màu lục, màu thanh thiên là chính, hình vuông là tốt, vì ở phương vị này thuộc Mộc.

Đồng hồ nên đặt hoặc treo ở các phương Chu Tước (tức phương Nam) trong nhà, vì phương Chu Tước là tiền phương, mà tiền phương vốn thuộc Đông. Ngoài ra có thể treo đồng hồ ở phương Thanh Long (phương Đông) và phương Đông Nam, bởi phương Thanh Long là cát phương.

Phong thủy truyền thống cho rằng không nên treo đồng hồ theo phương Bạch Hổ (tức phương Tây), vì phương Bạch Hổ là phương hung (dĩ), đặc biệt là không nên treo phía bên phải nhà, nhưng vẫn có thể đặt hoặc treo ở phía Tây Bắc nhà, màu đồng hồ nên là màu trắng, màu kim (vàng) làm chính, có hình tròn là tốt, vì phương vị này thuộc mệnh Kim.

Cũng như vậy, không nên treo đồng hồ ở phương Huyền Vũ (tức phương Bắc), vì phương Huyền Vũ là hậu phương (sân sau) thích hợp với tĩnh, không thích hợp với động.

Không nên treo đồng hồ ngay phía trên sôfa, nếu không người ngồi phía dưới luôn cảm thấy tâm thần bất an.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Có nên treo đồng hồ ở phòng khách hay không? –

Bí quyết đoán mệnh của Vương Đình Chi

Một bài viết trình bày bí quyết đoán mệnh của Vương Đình Chi rất hay! Vương Đình Chi là một bậc thầy tử vi!
Bí quyết đoán mệnh của Vương Đình Chi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Vương Đình Chi phái Trung Châu có phong cách đoán mệnh khá đặc biệt, thường căn cứ vào tinh thần của mệnh tạo (cung Phúc đức), đạo "xu cát tị hung", và nhấn mạnh sự quan trọng của nỗ lực Hậu thiên, để đưa ra lời giải.

Đẩu Số có thể luận đoán xu hướng vận thế Tiên thiên (Thiên vận) của một người, nhưng quyết định những tao ngộ thực tế trong cuộc đời một con người, còn có "Địa vận" và "Nhân vận".

"Địa vận" có quan hệ đến bối cảnh xã hội, điều này cá nhân không kiểm soát được.

Nhưng, "Nhân vận" thì không phải là như vậy. Mỗi cá nhân đều chịu ảnh hưởng từ Cha Mẹ, Thầy, bạn bè,.v.v... lúc lâm sự, sẽ có những phản ứng khác nhau. Đạo "xu Cát tị Hung" (theo cát tránh hung) thực ra chỉ là kiểm soát phản ứng và quyết định của bản thân, để tìm kết quả có lợi hơn cho mình. Vì vậy hành động của con người thuộc Hậu thiên, thường có thể thay đổi vận thế Tiên thiên. Đây chính là Tinh hoa của Tử vi tinh quyết mà Vương Đình Chi được bí truyền.

Cho nên, người nghiên cứu phải tìm hiểu rõ tính chất "hợp Cục nhập Cách" này của Tử Vi Đẩu Số, lúc luận đoán nhất thiết không được chú trọng hoàn toàn vào những hiển thị vận thế Tiên thiên, mà bỏ qua bối cảnh xã hội (Địa vận) và chủ chương hành động của con người (Nhân vận) thuộc Hậu thiên.

Có một người từng viết thư hỏi Vương Đình Chi rằng, nếu nói mệnh vận có thể dựa vào hành động của con người thuộc Hậu thiên để thay đổi, thế có thể chứng minh mệnh vận đã từng thay đổi không? Ví dụ như, dùng Tử Vi Đẩu Số luận đoán, thấy một người năm nào đó bị họa lao ngục, bèn khuyên người này đừng làm việc gì trái pháp luật. Kết quả người này đã bình an vượt qua, nhưng làm sao chứng minh được, nếu anh ta không nghe lời khuyên, thì nhất định sẽ gặp họa lao ngục?

Vấn đề này đúng là rất thâm sâu, nhất là đối với người không biết Tử Vi Đẩu Số, rất dễ nảy sinh nghi vấn này. Vương Đình Chi đã kể một ví dụ thực tế để chứng minh phép "theo cát tránh hung" là sự thực như sau:

Năm 1984, Vương Đình Chi luận đoán cho một thư ký ngân hàng, phát hiện cô ta vào năm 1996 gặp phải một nhóm sao chủ về bệnh ung thư tử cung, bèn khuyên cô ta đi kiểm tra, kết quả trải qua 3 lần xét nghiệm, mới phát hiện có tế bào ung thư ở giai đoạn đầu, lập tức phẫu thuật cắt bỏ. Vương Đình Chi nghĩ, nếu cô ta không làm phẫu thuật vào năm 1985, thì năm 1986 chắc chắn bệnh sẽ phát, nhưng hiện giờ cô ta đã vượt qua được sự hung hiểm của căn bệnh hiểm nghèo. Có lẽ đây chính là ý nghĩa đích thực của việc nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số.

Nếu như nhất định muốn truy cứu câu hỏi nói trên, liên quan tới ví dụ thực tế chứng minh việc tránh được vận xấu như phạm pháp, phá tài, đương nhiên sẽ khó giống như trường hợp tránh bệnh tật, nhưng đương sự cũng không phải là không còn cách nào để tránh.

KỸ THUẬT LUẬN ĐOÁN THIÊN BÀN

1- Lấy bối cảnh văn hóa xã hội làm nên tảng

Bối cảnh văn hóa xã hội ảnh hưởng đến "cách" luận đoán, đó là điều rất quan trọng cần phải lưu ý khi dùng Đẩu Số để đoán mệnh.

Vương Đình Chi nói: "Nữ mệnh có Thất Sát tọa thủ cung mệnh của Lưu niên, nếu như cung Tử tức của nguyên cục gặp lục sát tinh: Hỏa tinh, Linh tinh, Kình dương, Đà la, Địa không, Địa kiếp, mà các sao của Lưu niên lại không tốt, chủ về sinh đẻ có nguy cơ". Nhưng luận đoán này đã khiến cho Vương Đình Chi bị hố, ông xem mệnh bàn của người phụ nữ này, hỏi bà ta năm ngoái có sinh con không? Lúc sinh con có bị phiền phức nhiều không? Người phụ nữ trả lời: "Vâng, năm ngoái có sinh con, nhưng sinh đẻ thuận lợi", Vương Đình Chi nhíu mày, người phụ nữ nói thêm: "Có điều tôi dùng phương pháp gây tê toàn thân để sinh con". Thực sự, Ông không biết có phương pháp gây tê toàn thân để sinh con. Chiếu theo lý, "gây tê toàn thân" cũng là có vấn đề rồi, nhưng lúc sinh con người phụ nữ không cảm thấy đau khổ và đau đớn, nên không cho rằng có phiền phức mà thôi.

Sinh con không ưa gặp Phá Quân, chủ về sinh con khó dưỡng. Đây cũng là thuyết của cổ nhân, nhưng Vương Đình Chi cũng bị hớ, đứa con của người phụ nữ này, lúc mới sinh ra được các Bác sỹ dùng kỹ thuật hiện đại chữa trị khiếm khuyết bẩm sinh về Tim cho đứa bé, nhưng người ta không cho đó là tai nạn, cũng không cho rằng đứa bé khó nuôi.

Do đó có thể biết, Tử Vi Đẩu Số chỉ có thể luận đoán xu hướng của một vận mệnh, Hậu thiên có thể thay đổi tính chất của xu hướng này. Nhất là ngày nay khoa học tiến bộ, vốn có thể xoay chuyển vận thế Tiên thiên, những xu hướng mà cổ nhân đã lập thành định luận.

Có thể cử một số ví dụ để chứng minh Tử Vi Đẩu Số không phải là "túc mệnh luận", tức chẳng thể luận đoán ra chuyện "không thể thay đổi được". Bởi vì khuynh hướng Tiên thiên tuyệt đối có thể dùng việc làm Hậu thiên của con người để bổ cứu (như mệnh bàn vừa kể trên, y học hiện đại có thể cứu sống một đứa bé, khiến cho luận đoán "sinh con khó dưỡng" không còn chính xác). Cổ nhân căn cứ bối cảnh xã hội cổ đại để đưa ra luận đoán, rất nhiều trường hợp không còn phù hợp với xã hội hiện đại.

Cổ nhân nói: "Tham lang Liêm trinh đồng cung, nam mệnh phần nhiều phóng đãng, nữ mệnh phần nhiều đa dâm", nếu cứ y như sách mà nói thẳng, ngày nay như vậy là quá cứng nhắc. Vương Đình Chi kể: ông có quen biết một nhà thiết kế quảng cáo có địa vị khá, cung mệnh là hai sao "Tham lang Liêm trinh" tọa thủ, nếu nói phóng đãng, tính chất cũng chính xác, bởi vì người này "có máu" nghệ thuật, đã từng phiêu bạt khắp nơi, nhưng sự nghiệp lại thành tựu.

Cho nên đặc tính của một đời người tuyệt đối không thể dùng hai chữ "phóng đãng" để khái quát. Đây là do xã hội cổ đại khác với xã hội ngày nay. Thời cổ, những người thích phiêu bạt giang hồ, dù có tài năng cũng khó phát huy, bởi vì xã hội ngày xưa bảo thủ, không ai dám làm "lãng tử", lại không có nghề nghiệp nào tạo cơ hội cho người ta phát huy tài năng nghệ thuật. Nhưng xã hội ngày nay đã khác, có nghề thiết kế quảng cáo để phát triển, đo đó biến thành không phải là "phóng đãng".

Năm xưa, Vương Đình Chi học Đẩu Số với thầy là Huệ Lão, Huệ Lão đã chỉ điểm cho Vương Đình Chi một điều rất hay, ông nói: "Theo kinh nghiệp luận đoán của thầy trong những năm gần đây, nữ mệnh có Phá Quân hóa Lộc ở cung mệnh, dường như đều có khuynh hướng giải phẫu thẩm mỹ". Đương nhiên thời cổ đại không có giải phẫu thẩm mỹ, vì vậy Huệ Lão chỉ nói nhẹ nhàng một câu, mà đã gợi mở rất lớn cho Vương Đình Chi. Sau nhiều năm nghiên cứu vô số mệnh bàn, ông cũng phát hiện ra một số tính chất mới của các tinh hệ.

Năm xưa, Huệ lão rất tán dương hai vị Đẩu Số gia, một vị là Lục Bân Triệu, từng mở lớp dạy Đẩu Số, trước tác Tử Vi Đẩu Số giảng nghĩa, có tặng cho Huệ lão một bộ, Vương Đình Chi lúc đó có chép lại. Một vị khác là Bắc phái cao thủ Trương Khai Quyền, với bộ Tử Vi Đẩu Số nghiên cứu, tác phẩm của tiên sinh vào thập niên 50 của thế kỷ trước đã có tác dụng mở đường. Phương pháp đoán mệnh của hai vị danh gia đương nhiên đều có sắc thái đặc biệt, họ không giữ bí mật mà công khai sở học, là tài liệu tốt để nghiên cứu Đẩu Số.

Những điều Huệ lão truyền lại cho Vương Đình Chi, có nhiều chỗ khác với Lục Bân Triệu và Trương Khai Quyền. Như Thái âm ở cung Tai Ách, Lục tiên sinh cho rằng chủ về bệnh tiêu chảy kiết lị; còn Huệ lão thì cho rằng chủ về táo bón, hoàn toàn tương phản. Huệ lão từng bảo Vương Đình Chi sưu tập tư liệu để nghiên cứu thêm xem sao.

Do đó có thể thấy, phong cách của bậc danh sư là không khiến cho đệ tử phải sùng bái điều mình bí truyền, như vậy mới khiến cho Tử Vi Đẩu Số phát triển theo hoàn cảnh xã hội.

2- Quan sát toàn diện 12 cung

Kỹ thuật luận đoán thực ra rất đơn giản, trước tiên phải vượt ra khỏi khái niệm "tam phương tứ chính", sau đó phải lưu ý phản ứng giữa các tinh hệ với nhau, tinh hệ A gặp phải tinh hệ B sẽ xảy ra một số tình hình đặc thù nào đó, đây là căn cứ dùng để luận đoán.

Thông thường khi đối mặt với một tinh bàn, người mới học hay mắc một bệnh, đó là xem trọng việc luận đoán "tam phương tứ chính" của cung mệnh, cung Thiên Di, cung Tài bạch, cung Quan lộc một cách thái quá, mà không quan sát tinh bàn một cách tổng hợp. Bởi vì con người ngày nay phần lớn đều có tâm lý chú trọng vấn đề tiền tài và sự nghiệp, xem đó là ưu tiên hàng đầu.

Phương pháp luận đoán như vậy rất dễ rời vào luận đoán vụn vặt. Vương Đình Chi cho bết kinh nghiệm rằng, cần phải tuần tự theo các bước sau đây để quan sát tinh bàn, mới có thể lý giải mệnh vận của mệnh bàn một cách toàn diện.

3- Các bước luận đoán mệnh bàn

Học Tử Vi Đẩu Số, thực ra chỉ cần nắm vững 3 điều:

3.1- Phương pháp an sao
3.2- Tính chất cơ bản của tinh hệ
3.3- Căn cứ vào tinh bàn như thế nào để đoán vận trình.

Tiết này sẽ bàn về điểm sau cùng, mục đích để tạo hứng thú cho người mới học luận đoán, bởi vì rất nhiều người sau khi đọc rất nhiều sách Đẩu Số vẫn không luận đoán được tinh bàn.

3.1- Trước tiên xem cung Phụ Mẫu, rồi xem cung Điền trạch

Từ cung Phụ Mẫu và cung Điền Trạch, có thể luận đoán xuất thân của đương số, và mức độ được hưởng sự che trở của cha mẹ. Như vậy, đến khi quan sát cung mệnh, mới có thể quyết định đương số thích nghi với vận thế sáng lập sự nghiệp "tay trắng làm nên", hay là thích nghi với vận thế giữ gìn, bảo thủ cái đã có.

Điểm này rất trọng yếu, bởi vì, giả dụ một người có cung Phụ Mẫu và cung Điền trạch đều tốt, nhưng khi trong vận bàn lại hiện rõ vận trình "tay trắng làm nên", điều này chứng minh gia đình của đương số rất có thể xảy ra một lần suy sụp. Ngược lại cung Phụ mẫu và cung Điền trạch đều xấu, liên tiếp hai ba vận trình đều có tính bảo thủ, không có sự đột phá, thì rất khó luận đoán đương số có cơ hội tốt để xoay chuyển hoàn cảnh.

3.2- Đồng thời quan sát cung Mệnh và cung Phúc đức

Thông thường sao hiển thị ở "tam phương tứ chính" của cung Mệnh, là vận trình khá thực chất, như hưởng thụ vật chất, tài phú nhiều ít, sự nghiệp thuận lợi hay trở ngại. Còn sự hiển thị ở "tam phương tứ chính" của cung Phúc đức là hưởng thụ về hoạt động tinh thần và tư tưởng của một người.

Nếu tính chất của hai cung vị đều tốt, người này đương nhiên chẳng có gì bất lợi, hơn nữa còn có thể luận nhất định đương số có một gia đình tốt. Trái lại, nếu cung Mệnh tốt, còn cung Phúc đức lại khá tệ, như vậy cần phải chú ý hôn nhân của đương số có thể không như ý, hay có khả năng đương số chỉ dựa vào may mắn mà giầu có, nên sự hưởng thụ tinh thần của đương số chẳng cao thượng, hoặc cảnh ngộ của đương số tuy khá tốt, nhưng bị bệnh tật đeo đẳng.

3.3- Căn cứ vào sự quan sát hai hạng mục trên để tìm ra cung nào có điểm đặc biệt đáng chú ý

Nếu nghi ngờ đương số hôn nhân bất lợi, thì cần phải kiểm tra cung Phu Thê, nghi ngờ đương số mắc bệnh mãn tính khó khỏi thì cần phải kiểm tra cung Tai Ách, nhất định phải tìm ra một số tinh hệ từ tinh bàn, đủ để giải thích tính chất phối hợp của cung Mệnh và cung Phúc đức, sau đó mới có thể đưa ra luận đoán.

Xin đưa ra một ví dụ thực tế:

- Nữ mệnh, cung mệnh Thiên cơ Thái âm, trong đó Thiên cơ hóa Khoa, Thái âm hóa Lộc tại cung Thân
- Hội Thiên đồng hóa Quyền ở cung Tài bạch tại Thìn, là "Hóa Lộc Hóa Khoa Hóa Quyền hội", trong Đẩu Số là một kết cấu tốt.
- Cung Phúc có Cự môn hóa Kị, hội hợp với Phu thê gặp Hồng Loan, Hàm trì, đối cung lại gặp Thiên diêu (tức cung Tài)
- Kết cấu tinh hệ này, biểu thị khả năng do sinh hoạt hôn nhân gây nên sự đau khổ tinh thần, vì vậy cần phải kiểm tra tổ hợp tinh hệ ở cung Phu Thê.
- Thái dương Lộc tồn tọa thủ cung Phu ở Ngọ, chồng chẳng nghèo, nhưng hội Cự môn hóa Kị ở cung Phúc tại Tuất, xấu nhất còn hội hợp Thiên lương, Thiên hình, thêm sao Hỏa tinh ở đối cung (tức cung Quan ở Tý), tổ hợp tinh hệ này biểu thị không có duyên vợ chồng
- Nhưng không có duyên vợ chồng có mấy loại tính chất. Ví dụ như Phu và Thê không cùng chí hướng, gặp nhau ít mà xa nhau nhiều, chồng có tình nhân bên ngoài, chồng mắc nhiều bệnh,.v.v... Muốn quyết định thuộc loại tính chất nào, chỉ xem 12 cung của mệnh bàn, thì không có cách nào giải quyết được, mà càn phải xem Đại vận và Lưu niên.

3.4- Căn cứ tình hình của các cung để luận đoán vận hạn

Xem xét vận thế của Đại hạn và Lưu niên, thường thường có thể bổ sung cho luận đoán, và có cái nhìn tinh bàn một cách tổng hợp. Như trong ví dụ trên, chỉ cần xem xét mỗi một Đại hạn của cung Phu Thê, là có thể đưa ra luận đoán chuẩn xác.

Đại hạn Canh Tuất từ 25 - 34 tuổi, cung Tuất biến thành cung Mệnh của Đại hạn, cho nên cung Mậu Thân (vốn là cung mệnh của nguyên cục, tức thiên bàn) biến thành cung Phu Thê của Đại hạn.

Sao Lộc tồn của Đại hạn bay vào cung Phu Thê (tức lưu Lộc, bởi vì Lộc tồn của Đại hạn Canh Tuất ở cung Thân), nhưng đồng thời cũng có lưu Kình và lưu Đà của Đại vận giáp cung (gọi tắt là vận Kình vận Đà).

Cung Phu thê của nguyên cục có hiện tượng giáp Kình giáp Đà, thấy khéo trùng hợp, nhưng khéo trùng hợp như vậy tất phải có lý lẽ của nó. Vả lại, cung Phu thê của Đại vận còn hội hợp Thiên đồng hóa Kị, do đó có thể khẳng định, trong Đại hạn này vợ chồng tất có vấn đề.

Xem xét tiếp, thì phát hiện vào năm Quý Hợi 1983, cung Phu thê của Lưu niên có vấn đề lớn. Cung Phu thê của Lưu niên ở cung Dậu, "Tử vi Tham lang" tọa thủ, nhưng Tham lang hóa Kị vào năm Quý, đồng thời có lưu Kình của Đại hạn đồng cung. Sát diệu hội hợp Đà la của cung Tị, lưu Kình của cung Sửu, cho tới các sao Vũ khúc, Phá quân, Liêm trinh, Thất sát. Kết cấu tinh hệ kiểu này, có tính chất là "không có niềm vui gia đình", xấu nhất tức là "lưu Kình của Lưu niên" xung động "lưu Kình của Đại hạn", đồng thời xung khởi Hóa Kị của tinh hệ "Tử vi Tham lang".

Do đó luận đoán sơ bộ là: sinh hoạt vợ chồng của người này hoàn toàn không hòa hợp. Sau khi hỏi thăm thì biết năm Quý Hợi kết hôn, sau khi kết hôn một tháng thì phát hiện người chồng bị mắc chứng rối loạn khả năng tính dục.

Kiểm tra cung Tai Ách của người chồng, thì thấy "Thiên cơ Thái âm" tọa thủ, có Linh tinh Đà la đồng cung, hội hợp Thiên lương và Xăn xương hóa Kị, đồng thời "tam phương tứ chính" lại có các sao Hàm trì, Hồng loan, Đại hao, còn có thêm Âm sát. Tổ hợp tinh hệ dạng này, theo kinh nghiệm từ Vương Đình Chi, là thuộc chứng quá túng dục mà dẫn đến âm phận hư tổn. Có thể luận đoán, thời kỳ trước hôn nhân, người chồng này đã rất trác táng. Vì vậy, Vương Đình Chi đề nghị người chồng gặp một vị lương y trứ danh để chữa trị, dưỡng âm bồi nguyên khí. Kết quả đầu năm Ất Sửu 1985, đôi vợ chồng nọ tìm đến Vương Đình Chi để cám ơn đã cữu vãn cuộc hôn nhân sắp đổ vỡ của họ.

3.5- Kỹ thuật quan sát tình hình Cát Hung của các cung

Dựa vào các bước quan sát đã thuật ở trên, thông qua một ví dụ thực tế, tin rằng bạn đọc đã có cái nhìn sơ lược về phép tắc luận đoán tinh bàn, nhưng còn cần phải thành thục một số kỹ thuật.

Dưới đây, tôi xin trình bầy các kỹ thuật quan sát để bạn đọc tham khảo

- Mượn sao an cung

Khi một cung vị không có chính diệu, cần phải mượn sao của đối cung nhập vào bản cung, gọi là "mượn sao an cung". Về điểm này, thông thường các sách Đẩu Số chỉ đề cập sơ qua, nhưng có hai then chốt mà lâu nay không có ai bàn tới.

Khi "mượn sao an cung", ắt cần phải mượn toàn bộ tinh hệ của đối cung để đưa vào bản cung (vô chính diệu), mà không chỉ đưa chính diệu để an cung mà thôi, đây là then chốt thứ nhất.

Ví dụ tinh bàn của một Nam mệnh: cung Phu Thê ở Thìn, vì vô chính diệu có Tả phụ Đà la đồng độ, nên phải mượn tinh hệ của đối cung, đó là cung Quan có Cơ Lương, Hỏa tinh, Hữu bật đồng độ tại cung Tuất, sau khi "mượn sao an cung", kết cấu của cung Phu Thê biến thành Thiên lương, Thiên cơ hóa Kị, Hỏa tinh, Đà la, Tả phụ, Hữu bật.

Nhưng điểm này có quan hệ không lớn, bởi vì tính chất tinh hệ của đối cung vốn đã đủ gây ảnh hưởng đến bản cung. Tức dù không "mượn sao an cung", tính chất tinh hệ của bản cung và đối cung hợp chiếu, đại khái cũng giống tính chất sau khi "mượn sao an cung". Nhưng có một then chốt khác, đó là khiến toàn bộ cung Phu Thê phát sinh biến hóa.

Khi tìm "tam phương tứ chính" của một cung vị, nếu cung vị nào đó không có chính diệu tọa thủ, thì cung vị này vẫn phải "mượn sao an cung", sau đó mới hội hợp với bản cung. Đây là then chốt thứ hai. Nhiều người sau khi đọc rất nhiều sách Đẩu Số, vẫn không cách nào luận chuẩn xác, là do không biết then chốt này.

Vẫn từ ví dụ trên, cung Phu thê ở cung Thìn, hội hợp với hai cung Thân - Tý, lại xung hợp với đối cung (Tuất), cấu tạo thành "tam phương tứ chính". Hai cung Thân Tuất đều có chính diệu, không xảy ra vấn đề gì. Nhưng cung Tý chỉ có một sao Văn Khúc, không thuộc nhóm chính diệu, do đó cần phải nhìn đến đối cung của cung Tý là cung Ngọ để "mượn sao an cung", mượn Thiên đồng, Thái âm, Linh tinh, Kình dương.

Tới đây, toàn bộ tinh hệ của cung Phu Thê biến thành cách: "tứ sát kèm sát", tức là Hỏa tinh, Linh tinh, Kình dương, Đà la, lại có thêm tổ hợp chính diệu Thiên cơ (hóa Kị), Thiên lương, Thiên đồng Thái âm, Thái dương (hóa Khoa), Cự môn. Có thể luận đoán sinh hoạt hôn nhân không được tốt đẹp, tuy không nhất định là phải ly hôn, nhưng có khả năng dị mộng đồng sàng. Thái dương hóa Khoa còn có thêm Cự môn, chủ về vợ chồng giữ gìn thể diện, cho nên dù có oán trách chồng, nhất định cũng không nói lời chia tay.

Từ ví dụ trên có thể thấy, "mượn sao an cung" là một đại pháp môn trong phép luận đoán Đẩu Số. Nhất là hai then chốt kể trên, điều mà xưa nay cổ nhân xem là "bí pháp", không dễ gì truyền ra ngoài.

Các sao của Thiên bàn và Nhân bàn ảnh hưởng lẫn nhau

Cần chú ý, tính chất của một nhóm tinh hệ, thường thường có thể bị tính chất của một nhóm tinh hệ khác phá hoại, đây gọi là "tinh diệu hỗ hiệp".

Về điểm này có thể đơn cử một ví dụ thực tế để chứng minh:

Nữ sinh trung học, sinh năm Giáp Tý 1994 tham dự cuộc thi Trung học, mệnh tại Tý có tinh hệ "Thiên phủ Vũ khúc", Linh tinh, Hàm trì, Đại hao đồng độ tọa thủ, hiện đang ở Đại vận Quý Mão.

Chiếu theo Lưu niên của năm Giáp Tý, cung mệnh ở Tý có "Thiên Phủ Vũ khúc", hơn nữa còn có Vũ khúc hóa Khoa năm Giáp, ở hai cung Thân và Ngọ, hội hợp Tả phụ, Hữu bật, Văn xương, Văn khúc, lại có thêm Lộc tồn của cung Ngọ trùng điệp với lưu Lộc của Đại vận ở bản cung. Đây là cách Lộc tinh và Văn tinh hội hợp, tạo thành cách là "Lộc Văn củng mệnh". Theo phép luận đoán thông thường, cuộc thi năm nay sẽ không thất bại.

Ở đây cần chú ý "cung Mệnh của lưu niên" (cung Tý), có hai tạp diệu Hàm Trì và Đại Hao, chúng cùng đồng độ ở một cung, sức mạnh khá lớn, chủ về tình cảm nam nữ mang lại tình cảm không tốt.

Lúc này, cần phải kiểm tra "cung Phúc đức của lưu niên" của cô gái này (tức nguyên tắc đồng thời xem xét cung Mệnh và cung Phúc đức). Cung này ở cung Dần có Tham Lang độc tọa, nhưng đang ở Đại hạn can Quý nên Tham lang hóa Kị; đối nhau với Liêm trinh, cũng đối nhau xa xa với Hồng loan (cung Thân).

Lại thấy cung Dần hội hợp với các sao phụ tá ở hai cung Thân và Ngọ, là Tả phụ, Hữu bật, Văn xương, Văn khúc, có thể nói là "đào hoa" tụ về cung Phúc đức.

Trong tình hình này, Vương Đình Chi luận đoán, cô nữ sinh này tuy thành tích học tập không tệ, nhưng đáng tiếc là năm đó đã rơi vào tình huống yêu đương, vì vậy ảnh hưởng đến thành tích thi cử. Cô nữ sinh này cũng vì thi cử thất bại nên mới tìm đến Vương Đình Chi.

Thông qua thí dụ này có thể biết, chỉ vì "cung mệnh của lưu niên" xuất hiện các tạp diệu Hàm trì, Đại hao, khiến cho tính chất của tinh hệ "Lộc Văn củng mệnh" phát sinh biến hóa. Đây là một ví dụ tốt về nguyên tắc: "các sao ảnh hưởng lẫn nhau".

"Sao đôi" xuất hiện thì sức mạnh tăng thêm

Khi luận đoán Đẩu Số, một nguyên tắc quan trọng mà ít người biết, đó là "Kiến tinh tầm ngẫu". Đây là kỹ thuật luận đoán bí truyền của phái Trung Châu, mà Vương Đình Chi được truyền thừa.

Gọi là "Kiến tinh tầm ngẫu" (gặp sao thì tìm đôi), bởi vì trong Đẩu Số có nhiều cặp "sao đôi", khi gặp một mình thì sức mạnh hữu hạn, nhưng khi xuất hiện thành đôi, thì sức mạnh được tăng cường. Về điều này, thực ra cổ nhân cũng đã tiết lộ đôi chút.

Ví dụ cổ nhân đưa ra nguyên tắc: "phùng Phủ khán Tướng" (gặp Thiên phủ thì phải xem Thiên tướng), "phùng Tướng khán Phủ" (gặp Thiên tướng thì phải xem Thiên phủ), bởi vì Thiên Phủ và Thiên Tướng là cặp "sao đôi". Nhưng cổ nhân thích giữ "bí mật", cho nên thường thường chỉ nói sơ qua mà thôi.

Liệt kê một số cặp "sao đôi" để tham khảo:

+ Chính diệu:
- Thiên phủ và Thiên tướng
- Thái Dương và Thái Âm
- Thiên Đồng và Thiên Lương
- Liêm Trinh và Tham Lang

+ Phụ diệu:
- Tử Phụ và Hữu Bật
- Thiên Khôi và Thiên Việt

+ Tá diệu:
- Văn Xương và Văn Khúc
- Lộc Tôn và Thiên Mã

+ Tạp diệu:
- Hồng Loan và Thiên Hỷ
- Hàm trì và Đạo hao
- Long Trì và Phượng Các
- Ân Quang và Thiên Quý
- Tam Thai và Bát Tọa
- Cô Thần và Quả Tú
- Thiên Khốc và Thiên Hư
- Thiên Phúc và Thiên Thọ
- Đài Phụ và Phong Cáo.

Nhưng, như thế nào mới gọi là "sao đôi" xuất hiện? Sức mạnh lớn nhỏ của nó có thể dựa vào nguyên tắc dưới đây để định.

- Loại tình huống có sức mạnh nhất là "sao đôi đồng cung". Ví dụ như tình huống "Thái dương Thái âm" đồng cung tại Sửu, cùng thủ một cung, kết cấu tinh hệ kiểu này có sức mạnh tuyệt đối không thể xem thường.

- Kế đến, loại tình huống có sức mạnh khá nặng là "sao đôi chiếu nhau", ví dụ ở hai cung Thìn và Tuất, thì Thái dương và Thái âm chiếu vào nhau, sự phát huy sức mạnh lẫn nhau của chúng cũng không thể xem thường.

- Tiếp đến nữa là tình huống hội hợp "Song phi hồ điệp thức", tức là "sao đôi" chia ra ở hai bên "hợp cung", ví dụ lấy cung Ngọ làm bản cung, đi nghịch cách 3 cung đến cung Dần gặp Thiên Khốc, đi thuận cách 3 cung đến cung Tuất gặp Thiên Hư, là cặp "sao đôi" Khốc Hư lấy tư cách "song phi hồ điệp" hội hợp với cung Ngọ (là bản cung), đối với cung Ngọ phải chịu sức ảnh hưởng cũng nặng. Nhưng đối với hai cung Dần Tuất mà nói, sự hội hợp của Thiên khốc và Thiên hư so với cung Ngọ thì không có gì quan trọng, bởi vì chúng không thuộc loại hội hợp "Song phi hồ điệp thức".

- Cuối cùng là hội hợp "Thiên tà thức" (kiểu đối lệch). Ví dụ lấy cung Tý làm "bản cung", tương hội với Văn khúc ở cung Thân, và Văn xương ở đối cung (cung Ngọ), đối với cung Tý là "bản cung" mà nói, hai cung vị Thân và Ngọ có vị trí đối nhau không chuẩn, do đó hình thức xuất hiện "sao đôi" kiểu này có sức mạnh hơi kém.

Tóm lại, sức mạnh của các tình huống xuất hiện "sao đôi" theo thứ tự giảm dần như sau:

Đồng cung => Đối nhau.=> Tam hợp hội chiếu => Một ở tam hợp một ở đối cung hội chiếu => Các sao tương hội ở tam hợp cung (như Thiên khốc và Thiên hư ở hai cung Dần và Tuất).

Như đã nói, nguyên tắc vừa thuật được người xưa xem là "bí truyền". Cho nên dựa theo sách cổ để học Đẩu Số, thường thường sẽ biết được sự hội hợp một số sao có tác dụng rất mạnh, nhưng có lúc lại thấy sự hội hợp của chúng không hiển thị tác dụng mạnh như vậy. Đây là vì không biết các hình thức hội hợp vừa kể trên để tính toán sức mạnh hơn kém của chúng.

"Tá cung an sao", "Tinh diệu hỗ thiệp", "Kiến tinh tầm ngẫu", là Vương Đình Chi được sư phụ bí truyền, đây là ba kỹ thuật trọng yếu, dùng để luận đoán tinh bàn của phái Trung Châu. Tiền bối của phái Trung Châu là Lục Bân Triệu khi soạn bộ Tử Vi Đẩu Số giảng nghĩa cũng không chịu tiết lộ những bí truyền này.

KỸ THUẬT LUẬN ĐOÁN ĐỊA BÀN

Địa bàn tổng cộng có 14 chính diệu. Về cách an, toàn bộ giống như Thiên bàn, trong đó thì phép an sao Tử Vi có khác.

Tử vi của "Thiên bàn" là lấy thiên can của Năm sinh và ngũ hành Dần thủ, để tìm Nạp âm của cung mệnh, rồi lấy Nạp âm ngũ hành để tra Cục số, thì xác định được cung vị của Tử Vi.

Tử Vi của "Địa bàn" cũng vậy, ta lấy thiên can của Năm sinh, và ngũ hành Dần thủ, nhưng không phải để tìm ngũ hành nạp âm của cung Mệnh, mà là tìm ngũ hành Nạp âm của cung Thân. Do đó "Địa bàn" lấy cung Thân làm chủ. Sau đó tra được nạp âm của cung Thân, chiếu theo phương pháp của "Thiên bàn", căn cứ ngũ hành Cục số, để tìm cung vị Tử vi.

Sau khi đã biết "Địa bàn", ta rất dễ xem xét được căn nguyên của thiên tính và bản chất Tiên thiên của mệnh tạo. Nhờ vậy, ta sẽ hiểu tại sao rất nhiều người có địa vị cao quý trong xã hội, nhưng họ lại có những hành vi nhỏ mọn rất là hạ lưu. Đây là vì các sao của cung mệnh tại "Địa bàn" rất tốt, nhưng các sao của cung mệnh ở "Thiên bàn" tiên thiên lại không cao quý cho lắm.

Trái lại, có rất nhiều người nghèo nàn, hoặc không được hưởng một sự giáo dục tốt, nhưng họ lại có tư tưởng rất thanh cao, và hành vi rất đáng khâm phục. Đây là do các sao ở cung mệnh ở "Thiên bàn" phần nhiều là sao xấu, nhưng ở "Địa bàn" lại có nhiều sao rất tốt cung hội chiếu.

Các sao của "Địa bàn" cũng vậy, cần phải chú ý xem chúng nhập miếu hay lạc hãm, sinh vương hay tử mộ, để phân biệt sự cao thấp của chúng.

Xin đơn cử ví dụ, người sinh giờ Tị, ngày 17 tháng 5, năm Quý Sửu, Vương Đình chi tôi chú giải như sau: (sách Tử Vi Đẩu Số giảng nghĩa bổ chú )

Lục tiên sinh chủ trương dùng "Địa bàn" để tìm "căn nguyên tiên thiên". Đây là điểm rất đáng chú ý, không phải là phát biểu của một người hiểu biết nửa vời. Nhưng dùng "Địa bàn" để tính "giao thế thời" thì Lục tiên sinh hoàn toàn không có nhắc đến.

Theo Vương Đình Chi, thì mỗi giờ sinh của một người có thể chia thành "tam bàn" Thiên - Địa - Nhân. Điều này, cần phải căn cứ vào Tổ đức để phân biệt, chứ không nhất định giới hạn trong "giao thế thời".

Liên quan đến phương pháp an sao ở "Địa bàn" và "Nhân bàn", điều mà xưa nay vẫn được coi là "bí truyền", thực ra rất là đơn giản.

Trước tiên, cứ theo phương pháp an sao của mệnh bàn, mệnh bàn này tức là "Thiên bàn", rồi lấy cung Thân của "Thiên bàn" đổi thành cung mệnh, dùng can chi của cung Thân để định Cục và Ngũ hành, an Tử vi và Thiên phủ, như vậy là được thêm một bàn khác, gọi là "Địa bàn".

Nếu không dùng cung Thân, thì lấy cung Phúc Đức của "Thiên bàn" đổi thành cung mệnh, rồi dùng can chi của cung Phúc Đức để định cục ngũ hành, sau đó an Tử vi và Thiên phủ, như vậy là được thêm một mệnh bàn khác nữa, gọi là "Nhân bàn", nói một cách chính xác thì đây là "nhân bàn của địa bàn".

Nếu cung Mệnh và cung Thân đồng cung, thì "Thiên bàn" và "Địa bàn" hoàn toàn giống nhau. Nếu cung Thân và cung Phúc đức đồng cung, thì "địa bàn" và "nhân bàn của địa bàn" hoàn toàn giống nhau.

Chú ý phân biệt, "Thiên bàn" - "Địa bàn" - "Nhân bàn", chỉ có cung Mệnh là khác cung độ, trong đó 14 chính diệu được bài bố khác nhau, còn các sao khác ở các cung viên đều không thay đổi.

KỸ THUẬT LUẬN ĐOÁN NHÂN BÀN

1- Cung phi động và tác dụng giao thoa của lưu diệu

Nguyên cứu Tử Vi Đẩu Số, nếu chỉ quan sát các sao ở 12 cung "Thiên bàn", thì chỉ có thể luận đoán cách cục cơ bản của mệnh tạo (tức khuynh hương Tiên thiên). Nhưng người có cách cục tốt, chưa chắc Năm hạn nào cũng tốt ; người có cách cục xấu, chưa chắc Năm hạn nào cung xấu. Do đó cần phải mang tinh bàn "phi động" ra để nghiên cứu tỷ mỉ, xem vận thế của Mệnh tạo trong mỗi một Năm hạn. Đây mới là chỗ tinh hoa của Đẩu Số. (Thuyết "phi động" người đầu tiên nói đến là Quan Vân Chủ Nhân trong Tử Vi Đẩu Số tuyên vi).

Đẩu số giống với khoa Tử Bình, cứ 10 năm được coi là một Đại hạn. Đại hạn khởi đầu từ cung mệnh, dương nam âm nữ đi thuận, âm nam dương nữ đi ngược, đếm đến cung vị nào thì đó là cung Mệnh đại hạn 10 năm. Rồi cũng khởi đầu từ cung mệnh của Đại hạn đếm theo chiều nghịch (của chiều kim đồng hồ), bày lần lượt 11 cung còn lại, mà không cần chú ý đến tên gọi gốc của "Thiên bàn".

Giả thiết mệnh tạo là Dương nam, thuộc mộc tam cục, Mệnh lập tại Dần, xét Đại hạn Mậu Thìn 23 - 32 tuổi, cung mệnh của Đại hạn ở cung Mậu Thìn, tức là cung Phúc đức của Thiên bàn tại Thìn, thế là từ cung Mậu Thìn, bầy bố theo chiều nghịch

- Cung Đinh Mão là cung Huynh đệ của Đại hạn
- Cung Bính Dần là cung Phu thê của Đại hạn
- Cung Ất Sửu là cung Tử Tức của Đại hạn
...v.v...
- Cho đến cung Kỷ Tị là cung Phụ Mẫu của Đại hạn

Tới đây, có thể căn cứ vào tổ hợp sao của các cung, tham khảo những điều đã luận thuật ở chương trước để luận đoán, thì có thể biết mệnh tạo trong đại hạn 23 - 32 tuổi sẽ gặp các tình huống cát hung thế nào.

Tinh bàn gốc đã bài bố chỉ là "Thiên bàn", hoặc Địa bàn cố định bất động, lúc muốn luận đoán 12 cung của Đại hạn, còn phải thêm vào các "Lưu diệu" thuộc đại hạn đó. Lưu diệu được dùng trong phái Trung Châu có mấy loại như dưới đây:

1)- Lưu diệu dựa vào thiên can của cung mệnh (đại hạn) để an: lưu Hóa Lộc, lưu Hóa Quyền, lưu Hóa Khoa, lưu Hóa Kị, lưu Lộc (lộc tồn), lưu Dương (kình dương), lưu Đà (đà la), lưu Khôi (thiên khôi), lưu Việt (thiên việt), lưu Xương (xăn xương), lưu Khúc (văn khúc)

2)- Lưu diệu dựa vào địa chi của cung mệnh (đại hạn) để an: lưu Mã (thiên mã)

Theo ví dụ trên:
- Cung mệnh của Đại hạn từ 23 - 32 tuổi là ở cung Mậu Thìn, cho nên can Mậu là can của cung mệnh Đại hạn
- Vì vậy trong Đại hạn này, căn cứ vào can Mậu, thì lưu hóa Lộc là Tham Lang, lưu hóa Quyền là Thái Âm, lưu hóa Khoa là Thái Dương (??? kiểm), lưu hóa Kị là Thiên Cơ, lưu Lộc ở cung Tị, lưu Dương ở cung Ngọ, lưu Đà ở cung Thìn.
- Lại vì Thìn là chi của cung mệnh Đại hạn, cho nên lưu Mã ở cung Dần.

Người mới nghiên cứu Đẩu Số, tốt nhất nên điền các "lưu diệu" vào một tinh bàn mới (Nhân bàn), còn đối với người đã thuộc phương pháp an sao, thì các lưu diệu ở đâu chỉ nhìn một cái thì biết liền, không cần điền vào tinh bàn. Nhất là lúc luận đoán "Lưu niên", "Lưu nguyệt", "Lưu nhật", giả dụ như điền hết các Lưu diệu vào thì cả tinh bàn chi chít toàn sao, sẽ làm rối mắt, đồng thời sẽ làm ảnh hưởng đế sự suy nghĩ tính toán. Do đó thuộc lòng phương pháp an sao là rất quan trọng. Nếu không thì nên lập nhiều tinh bàn - tức là nhân bàn của từng thứ loại.

Khi luận đoán Lưu niên - Lưu nguyệt - Lưu nhật, thì có một nguyên tắc cần phải biết như sau:

1) Phàm có các Lưu diệu thì lấy Lưu diệu làm chủ, các sao ở mệnh bàn gốc (thiên bàn) không xung thì không sinh ra tác dụng (xin nhắc lại là nếu không xung thì không sinh ra tác dụng). Ví dụ như, tinh bàn gốc có Lộc tồn ở cung Tị, lưu Lộc ở cung Thân, cả hai chẳng ở phương vị tam phương tứ chính. Hay như Kinh dương gốc ở cung Ngọ, lưu Dương ở cung Dậu, còn Đà là gốc ở cung Thìn, lưu Đà ở cung Mùi, cung không có quan hệ hội hợp với các sao ở tam phương tứ chính. Cho nên khi luận đoán, Kình dương, Đà la, Lộc tồn của tinh bàn gốc tuy có ảnh hưởng đối với 12 cung của Đại hạn, nhưng tác dụng không lớn. Trái lại, lưu Lộc, lưu Dương, lưu Đà sẽ có tác dụng khá lớn.

2)- Nếu các sao ở trong tin bàn gốc, xung hội với "Lưu diệu" ở tam phương tứ chính, thì sác mạnh tăng thêm, hai bên sẽ phát huy tác dụng. Ví dụ như Lộc tồn nguyên cục ở tại cung Tị, lưu Lộc ở cung Hợi, nguyên cục "Lộc" và "Lưu Lộc" hai bên đối xứng. Hoặc như Kình dương ở cung Ngọ mà lưu Dương ở cung Tí, Đà la ở cung Thìn mà lưu Đà ở cung Tuất, như vậy nguyên cục và Lưu hai bên cũng đối xứng, làm cho tổ hợp các sao mạnh thêm nhiều. Do đó khi luận đoán 12 cung của Đại hạn, toàn bộ 6 sao trong đó 3 sao của nguyên cục và 3 sao "lưu" đều có tác dụng.

3)- Các sao xung động với "lưu diệu" thì lấy trường hợp đồng cung là mạnh nhất ; trường hợp tương xung ở đối cung là kế đó ; trường hợp hội chiếu ở cung tam hợp là cuối cùng.

4)- Khi luận đoán Đại hạn, cần lưu ý quan hệ xung hội của tinh bàn gốc với "lưu diệu" của Đại hạn.

Lúc luận đoán Lưu niên, cần lưu ý quan hệ xung hội giữa lưu diệu của Đại hạn với lưu diệu của lưu niên. Các sao tương đồng ở tinh bàn gốc có ảnh hưởng rất nhỏ, trừ trường hợp có hai "lưu diệu" đồng thời xung động, nếu không, về căn bản không cần lưu ý. Theo như ví dụ trên, lúc luận đoán Lưu niên, Lộc Tồn của tinh bàn gốc ở cung Tị, không có Lộc Tồn của Đại hạn ở tam phương tứ chính hội chiếu, cũng không có Lộc Tồn của Lưu niên hội chiếu. Nên khi luận đoán Lưu niên, có thể không cần lưu ý gì thêm.

Nhưng Kình dương, Đà là, Lộc tồn của đại hạn thì có Kình dương, Đà la, Lộc tồn của lưu niên ở đối cung của chúng xung đột, sức mạnh của hai bên mạnh thêm. Do đó khi luận đoán Lưu niên, chỉ cần xem xét Kình dương, Đà la, Lộc tồn của Đại hạn và Lưu niên.

Như tình huống ví dụ đã nói trên, Lộc tồn gốc tại cung Tị, Lộc tồn của đại hạn ở cung Tý, Lộc tồn của Lưu niên ở cung Hợi, theo đó Lộc tồn gốc tuy không hội chiếu với Lộc tồn của đại hạn ở cung Tý, nhưng xung hội với Lộc tồn của Lưu niên ở cung Hợi, do đó vẫn có thể phát sinh sức mạnh.

Có điều, giả dụ Lộc tồn của Đại hạn ở cung Dậu, như vậy lại tương hội với Lộc tồn gốc tại cung Tị, thì sao Lộc Tồn này, do đồng thời có lưu Lộc của Đại hạn ở Dậu và lưu Lộc của Lưu niên ở Hợi, tam phương hiệp trợ, nên sức mạnh của nó tuyệt đối không được xem thường.

Lúc luận đoán Lưu nguyệt, chỉ xem trọng lưu diệu của Lưu nguyệt và lưu diệu của Lưu niên. Chỉ khi nào lưu diệu của Đại hạn cũng ở trong tình huống bị xung động mới có sức mạnh, các sao tương đồng trong tinh bàn gốc (Thiên bàn), sức ảnh hưởng rất nhỏ, có thể không cần lưu ý gì thêm.

Lúc luận đoán Lưu nhật, sức mạnh lần lượt giảm thêm, thông thường lưu diệu của Đại hạn, và các sao tương đồng của tinh bàn gốc có thể không cần lưu ý gì thêm.

Các nguyên tắc kể trên rất quan trọng, khi luận đoán Đại hạn, Lưu niên, Lưu nguyệt, Lưu nhật, không được xem thường. Nếu không sẽ rối mắt, mà không cách nào luận đoán. Nhất là khi luận đoán Lưu nhật, trong tinh bàn đầy dẫy lưu diệu, hơn nữa, nhất định tình trạng Cát Hung sẽ lẫn lộn, nếu không biết nguyên tắc cái nào lấy cái nào bỏ, thì sẽ không biết định tính chất Cát Hung của các sao hội hợp như thế nào.

2)- Quy tắc quan sát các sao của Đại hạn và Lưu niên

Sau khi biết rõ các nguyên tắc thuật ở trên, và đã tìm hiểu về "tinh bàn phi động", cho tới cách nhập thêm lưu diệu, tốt nhất ta nên bắt đầu từ Đại hạn và lưu niên, để nghiên cứu phương pháp luận đoán.

Để tiện cho việc thuyết minh, tốt nhất tôi xin đơn cử một ví dụ thực tế:

Mệnh bàn của một phụ nữ, âm nữ, kim tứ cục, mệnh chủ Văn khúc, Thân chủ Thiên đồng, mệnh lập tại cung Ất Mùi vô chính diệu gặp Tuần Không.

Điều đáng chú ý là cung Phu ở Tị có Thiên cơ, Hữu bật, Thiên mã đồng độ, hội tinh hệ Thiên đồng, Cự môn hóa Lộc ở cung Tân Sửu (Di), Thái âm ở cung Kỷ Hợi, cung Đinh Dậu vô chính diệu (Phúc), vì vậy mượn Thiên lương, và Thái dương hóa Quyền ở cung Tân Mão để "nhập cung an sao" cho cung Đinh Dậu. Các sao có tổ hợp dạng này thoạt nhìn thấy rất tốt, Hóa Lộc, Hóa Quyền và Lộc tồn cùng chiếu, có vẻ như có thể lấy được người chồng giầu sang.

Nhưng Thiên cơ ở cung Phu vốn có tính chất hiếu động, trôi nổi, thêm vào đó còn có Thiên mã đồng độ, tính chất hiếu động trôi nổi càng tăng. Cung Phu không ưa Tả phụ Hữu bật, nhưng hai sao này lại đồng độ và hội hợp cung Phu. Ngoài ra, Thái dương và Thiên lương, Thiên đồng và Cự môn đều chẳng phải là tổ hợp sao có lợi cho cung Phu, cho nên cung Phu trong mệnh bàn có thể nói là cát - hung lẫn lộn. Cát hay Hung thì ảnh hưởng của Đại vận là tất lớn.

Lúc vào Đại hạn Bính Thân từ 14 - 23 tuổi, cung Phu ở cung Giáp Ngọ, thấy Tử vi xung chiếu Tham lang ở Tý, gặp thêm các sao đào hoa Hồng loan, Thiên hỷ, Hàm trì, Thiên diêu, nhưng đáng tiếc lại hội chiếu Văn xương hóa Kị ở cung Mậu Tuất, sao Kị này lại xung khởi Liêm trinh hóa Kị của Đại hạn ở đồng cung ; sao Văn xương là sao lễ nhạc, Liêm trinh là sao chủ về tình cảm, cùng lúc đều Hóa Kị, cho nên trong đại hạn này, tìm không được người bạn đời ký tưởng là điều có thể thấy trước. Huống hồ Kình dương và Linh tinh ở cung Mậu Tuất lại xung khởi lưu Dương của đại hạn cung Giáp Ngọ, cho nên ắt sẽ có sóng gió, trắc trở về tình cảm.

Đến đại hạn Đinh Dậu từ 24 - 33 tuổi, cung Phu của đại hạn ở cung Ất Mùi, vô chính diệu, mượn Thiên đồng và Cự môn ở đối cung để "nhập cung an sao" cho cung Mùi. Trong đại hạn Đinh Dậu thì Cự môn hóa Kị, cùng với sao Hóa Lộc của nguyên cục tổ hợp thành tinh hệ "Kị xung Lộc", đồng thời có Thái âm hóa Lộc ở cung Kỷ Hợi, Thái dương hóa Quyền ở cung Tân Mão hội chiếu. "Âm Dương Lộc Quyền" hội hợp, vì vậy đây là vận trình kết hôn, nhưng có lưu Dương của đại hạn ở cung Ất Mùi và Cự môn hóa Kị cùng thủ cung Phu của đại hạn, nên đã ngầm phục nguy cơ; thêm vào đó "Thái dương Thiên lương" có Thiên nguyệt đồng độ, là tinh hệ chủ về bệnh mãn tính thuộc hệ thần kinh, mà cung Kỷ Hợi lại có Địa kiếp, do đó cuộc tình duyên này thực tình không dám khen ngợi, tâng bốc.

Năm Mậu Ngọ 1978, cung Mệnh của lưu niên và cung Phu của lưu niên cùng hội hợp Tham lang hóa Lộc ở cung Canh Tý, lại thêm các sao "đào hoa" đồng độ, vì vậy chủ về "thành hôn mà không có nghi lễ chính thức". Tốt nhất ta xem tình huống cung Phu của lưu niên (cung Nhâm Thìn) có lưu Đà đồng độ, xung hội với Đà là của mệnh bàn, cũng chẳng thể khen.

Cho nên sau khi kết hôn năm Kỷ Mùi 1979, vào năm Quý Hợi 1983 cung Phu của lưu niên mượn tổ hợp "thái dương Thiên lương" và Thiên nguyệt ở cung Tân Mão, để "nhập cung an sao" cho cung Đinh Dậu, bị Kình dương của lưu niên ở cung Tân Sửu hội chiếu, dẫn động lưu Đà của đại hạn ở cung Quý Tị, thế là tình cảm vợ chồng đổ vỡ, nguyên nhân là do chồng sử dụng ma túy (bệnh mãn tính thuộc hệ thần kinh).

Lại xem cung Phúc (Kỷ Hợi) của đại hạn Đinh Dậu, bị lưu Dương và lưu Đà của đại hạn hội chiếu, ở tinh bàn gốc lại có Địa không, Địa kiếp (Kỷ Hợi), thêm vào đó lại xung chiếu Thiên cơ, Thiên mã, Hữu bật từ cung Quý Tị, cho tới mượn phép "an sao nhập cung" của cung Tân Sửu là tinh hệ "Thiên đồng Cự môn" cho cung Ất Mùi, và "Thái dương Thiên lương", đều là nhóm sao chủ về điều tiếng thị phi.

Còn trùng hợp một điều nữa là, cung mệnh của đại hạn Đinh Dậu cũng hội hợp với tinh hệ đồng dạng, đây chính là tượng trưng cho tinh thần của mệnh tạo ở trong tình huống rất bối rối khó xử.

Năm Giáp Tý 1984, "Vũ khúc Thiên tướng" ở cung Phúc (Canh Dần) bị Thái dương hóa Kị ở cung Tân Mão và Kình dương của lưu niên, cùng với Cự môn hóa Kị ở cung Tân Sửu và Đà la của lưu niên giáp cung. Đây là tổ hợp tam trùng "Hình Kị giáp ấn", "song Kị giáp", "Dương Đà giáp", mà còn là cách xấu "Linh Xương Đà Vũ". Vì vậy năm đó đã từng có ý không còn muốn sống, nhưng may mắn được Lộc tồn của đại hạn ở cung Giáp Ngọ, nên không chết.

Từ phân tích ở trên, thiết nghĩ bạn đọc đã có cái nhìn nhật định về phương pháp luận đoán các sao của mệnh bàn.

Bây giờ ta xem thêm một ví dụ khác, đồng thời nghiên cứu vài quy tắc về cách quan sát các sao.

Nữ mệnh, âm nữ, Mệnh chủ Tham lang, Thân chủ Hỏa linh, mệnh nguyên cục ở cung Giáp Tý có Tham lang tọa thủ. Trong mệnh bàn, cung vị xấu nhất là cung Đinh Tị (tức cung Nô), cung vị này có Kình dương và Đà la giáp cung, trong cung có Thiên cơ hóa Kị tọa thủ, cấu tạo thành cách xấu "Kình Đà giáp Kị", mà Thiên cơ lại có Hỏa tinh đồng độ, cũng đồng dạng bị Kình Đà giáp cung, tính cứng rắn hình khắc, cũng vì vậy mà mạnh thêm. Mở mệnh bàn ra, trước tiên nên tìm ra cung vị xấu nhất hoặc tốt nhất, là quy tắc 1 của phép quan sát các sao.

Có 3 cung vị bị cung Đinh Tị gây ảnh hưởng, đó là Tân Dậu, Quý Hợi, Ất Sửu, trong đó có cung Tân Dậu là xấu nhất, bởi vì nó đồng thời tương hội với Linh tinh của cung Ất Sửu, tức là bị 2 sao Hỏa tinh và Linh tinh cùng chiếu xạ theo kiểu "song phi hồ điệp"

Cung Tân Dậu là cung mệnh của đại hạn từ 34 - 43 tuổi (Tử nữ). Sau khi tìm ra cung vị xấu nhất hoặc tốt nhất, tiếp đến phải tìm ra "tam phương ức hiếp" mà nó bị ảnh hưởng, tức là vì bị chúng ảnh hưởng mà biến thành cung xấu hay biến thành cung tốt, đây là quy tắc 2 của phép quan sát các sao.

Do cung mệnh của đại hạn có khuyết điểm, vì vậy cần  tiếp tục tìm ra cung vị nào xấu hơn trong đại hạn. Ta có thể lưu ý cung Bính Thìn (quan lộc), trong cung nguyên cục có Thất sát và Đà la tọa thủ ; lúc vào đại hạn Tân Dậu thì Đà là của nguyên cục tương xung với lưu Đà của đại hạn của cung Canh Thân (Tài bạch), do đó tính cứng rắn hình khắc được phát động, hơn nữa còn đối diện với lưu Dương của đại hạn ở cung Nhâm Tuất, tính cứng rắn hình khắc càng mạnh thêm. Cung Bính Thìn là cung Tai Ách của đại hạn Tân Dậu, cho nên ta cần lưu ý xem trong hạn có vận xấu gì về phương diện cung Tai Ách hay không.

Sau khi tìm ra vận hạn tốt xấu, ta lại tìm cung vị tốt xấu của vận hạn này, để quyết định vận hạn này tốt thế nào, xấu thế nào, là quy tắc 3 của phép quan sát các sao.

Đến đây, ta quay trở lại cung Đinh Tị (cung Nô) của nguyên cục được xem là xấu nhất, cung vị này là cung mệnh của lưu niên Nhâm Tuất, có "Liêm trinh Thiên phủ" và Thiên hình đồng độ, lại có lưu Dương của đại hạn và lưu Đà của lưu niên bay vào. Hai lưu diệu này chia ra cùng hội chiếu với Kình dương và Đà la của mệnh bàn gốc, sức mạnh hai bên mạnh thêm. Càng xấu hơn là, vào năm Nhâm Tuất có Vũ khúc hóa Kị ở cung Giáp Dần đến hội chiếu; toàn bộ tinh hệ ở cung mệnh của lưu niên biểu thị có tổn thương thuộc kim. Sau khi tìm ra cung vị xấu nhất của đại hạn, tiếp theo là tìm lưu niên xấu, là quy tắc 4 của phép quan sát các sao.

Rồi ta lại truy tìm tiếp, xem năm Quý Hợi kế tiếp ở cung Tai Ách, là năm bị Văn xương lưu Hóa Kị của cung Kỷ Mùi, và Thiên cơ hóa Kị của cung Đinh Tị hội chiếu. Cung Mậu Ngọ là cung Tai Ách của lưu niên, có Tử vi và Kình dương đồng độ, Kình dương này bị Kình dương của đại hạn xung động, hội hợp với "Liêm trinh Thiên phủ" và Thiên hình của cung Nhâm Tuất, còn bị Tham lang hóa Kị của lưu niên tương xung, thêm vào đó còn có Thiên Hư và Thiên Khốc đồng độ, lại hội Địa kiếp của cung Giáp Dần. Cho nên có thể luận đoán, mệnh tạo vào năm Quý Hợi phải bị phẫu thuật. Sau khi tìm ra sự kiện, tiếp tục truy xét của năm kế tiếp, là quy tắc 5 của phép quan sát các sao

Sau đây ta tiếp tục phân tích một tinh bàn của nam mệnh làm ví dụ. Dương nam, Thủy nhị cục, Mệnh chủ Tham lang, Thân chủ Hỏa tinh.

Mệnh bàn nguyên cục:

- Cung mệnh lập tại cung Quý Hợi, có Thiên cơ (Hóa Kị) Hỏa tinh, Thiên tài, Thiên nguyệt, Lâm quan tọa thủ.
- Phụ mẫu lập tại cung Giáp Tý, có Tử vi ngộ Tiệt không, Vượng
- Phúc đức lập tại cung Ất Sửu, có Văn xương, Văn khúc, Thiên khôi, Thiên không, Tiệt không, Suy
- Điền trạch lập tại cung Giáp Dần, có Phá quân, Thiên mã, Địa không, Cô thần, Nguyệt giải, Thiên vu, Âm sát, Bệnh
- Sự nghiệp lập tại cung Ất Mão, vô chính diệu, có Thiên quan, Thiên phúc, Hồng loan, Thiên hình, Tử.
- Giao hữu lập tại cung Bính Thìn, có Thiên phủ, Liêm trinh, Đà la, Hữu bật, Hoa cái, Mộ.
- Thiên di lập tại cung Đinh Tị, có Thái âm, Lộc tồn, Thiên thọ, Kiếp sát, Phá toái, Nguyệt đức, Tuyệt
- Tật Ách lập tại cung Mậu Ngọ, có sao Tham lang (Hóa Lộc) Kình dương, Bát tọa, Tuần không, Thiên khốc, Thiên hư, Thai
- Tài bạch lập tại cung Kỷ Mùi, có Thiên đồng, Cự môn, Linh tinh, Thiên việt, Tam thai, Long đức, Dưỡng
- Tử tức lập tại cung Canh Thân, có Vũ khúc, Thiên tướng, Địa kiếp, Tam thai, Phỉ liêm, Trường sinh
- Phu thê lập tại cung Tân Dậu, có Thái dương, (Khoa) Thiên lương, Thiên hỉ, Hàm trì, Thiên đức, Mộc dục.
- Huynh đệ lập tại cung Nhâm Tuất, có Thất sát, Tả phụ, Phượng các, Ân quang, Thiên quý, Quả tú, Giải thần, Quan đới.

Mệnh bàn này, điều khiến ta chú ý nhất là cung Mệnh có Thiên cơ hóa Kị đồng độ với Hỏa tinh, nhưng cung Di (Đinh Tị) lại là Thái âm hóa Quyền đồng độ với Lộc tồn, vì vậy có thể luận đoán, mệnh tạo lợi về tiền tài nếu rời xa quê hương.

Nhưng Thái âm lạc hãm, hội Thái dương hóa Khoa ở cung Dậu cũng rơi vào nhược địa, thêm vào đó còn bị tinh hệ "Thái dương Thiên lương" ở Dậu và Thiên cơ ở Hợi xung chiếu, cung Sửu hội hợp lại vô chính diệu, phải mượn "Thiên đồng Cự môn", Linh tinh, Thiên việt của cung Mùi để "an sao nhập cung" cho cung Sửu. Vì vậy có thể luận đoán mệnh tạo ở nơi xa, tuy có thể phát tài, nhưng điều tiếng thị phi, thậm chí phạm pháp.

Vận trình sáng sủa nhất là từ 32 đến 41 tuổi vào đại hạn Giáp Dần, cung Di của đại hạn này là cung Canh Thân có Vũ khúc hóa Khoa, cung mệnh của đại hạn này là cung Giáp Dần có Thiên mã có lưu Lộc tồn của đại hạn, thành cách "Lộc Mã giao trì", lưu Lộc còn xung động Tham lang hóa Lộc của cung Ngọ, vì vậy trong đại hạn này mệnh tạo có thể phát tài ở nơi xa.

Nhưng cũng trong đại hạn này, cung Phụ mẫu của đại hạn (cung Ất Mão) vô chính diệu, phải mượn thái dương hóa Kị (vốn là hóa Khoa) và Thiên lương để theo phép "an sao nhập cung" cho cung Phụ mẫu, dẫn đến tình hình có lưu Dương và Thiên hình đồng độ, cho nên không những chủ về cha mất trong hạn này, hơn nữa, lưu niên đến hai cung Mão và Dậu còn sợ rằng sẽ có sự cố phạm pháp.

Năm Canh Thân 1980 cung mệnh của lưu niên này có Vũ khúc (đại hạn thì hóa Khoa, lưu niên thì hóa Quyền), có Thiên tướng và Lộc tồn của lưu niên đồng độ, thêm vào đó, cung Di của lưu niên lại có Thiên Mã của lưu niên bay vào, thành cách lưỡng trùng "Lộc Mã giao trì", vì vậy chủ về năm đó thu hoạch rất khá.

Nhưng năm kế tiếp, cung mệnh lưu niên tới cung Tân Dậu có Thái dương (đại hạn thì Hóa Kị) và Thiên lương, hội hợp Văn khúc (lưu niên thì Hóa Khoa) và Văn Xương (lưu niên thì Hóa Kị) của cung Sửu, lại hội hợp với Thiên đồng và Cự môn (lưu niên thì Hóa Lộc) mượn của cung Mùi để an sao, còn hội hợp với Thái âm hóa Quyền và Lộc tồn của tinh bàn gốc. Ta nên chú ý cung Dậu, có lưu Dương lưu Đà của đại hạn cùng chiếu, thêm vào đó còn có Thiên hình từ cung Mão và Kiếp sát từ cung Tị đến hội. Cho nên năm đó (1981), tuy có Lộc tồn của lưu niên xung khởi Lộc tồn của tinh bàn gốc, nhưng vẫn chủ về có dính dáng đến pháp luật, kiện tụng và phá tài.

Đến năm Ất Sửu, cung mệnh lưu niên là cung Sửu vô chính diệu, mượn "Thiên đồng Cự môn" và Linh tinh, Thiên việt của đối cung để nhập cung, lại có Đà la của đại hạn đồng độ, rồi lại hội hợp với Thái âm lạc hãm (lưu niên thì Hóa Kị) và Thái dương (đại hạn thì Hóa Kị), vì vậy mà bị cuốn vào vòng thị phi, bất hòa, tranh chấp.

Tương lai đến năm Đinh Mão, cung mệnh lưu niên là cung Mão, vẫn là cung vô chính diệu, lại mượn Thái dương hóa Kị từ cung Dậu là đối cung, để "an sao nhập cung" cho cung Mão, lại hội hợp với Cự môn (lưu niên thì Hóa Lộc) và Thiên cơ hóa Kị, mà còn kèm theo Đà la của lưu niên, nguyên cục lại có Hỏa tinh, Linh tinh cùng chiếu, lại gặp thêm các sao hung Thiên hình, Đại hao, Thiên nguyệt, nên cẩn thận, nếu không e rằng sẽ vì phạm pháp mà phá tài lớn.

Ghi chú về phép định Tiểu hạn

Tiểu hạn là chủ về Cát - Hung của một năm. Do phái Trung Châu không dùng Tiểu hạn, mà chỉ dùng Lưu niên để luận đoán, nên Tôi không trình bày phép định Tiểu hạn trong chương này.

3)- Cách luận đoán Lưu nguyệt

Dùng Đẩu Số để luận đoán Lộc Mệnh, không nên thường xuyên luận đoán cát - hung của lưu Nguyệt, bởi vì quá tỉ mỉ, bất kể cát hay hung cũng đều sẽ ảnh hưởng đến tâm trạng của mệnh tạo. Nhưng cũng có một số tình huống, thí dụ như năm đó dễ xảy ra tai nạn giao thông, thì tốt nhất là luận đoán lưu Nguyệt để trợ giúp thêm, xem vào tháng nào có hung hiểm để cố tránh đi xa bằng xe cộ. Bởi vì trên thực tế khó mà hoàn toàn không đi xa trong vòng một năm, cho nên luận đoán lưu Nguyệt để bổ trợ.

Đơn cử một ví dụ:
Mệnh tạo bị tai nạn giao thông, vì vậy mà gãy xương, Vương Đình Chi tôi căn cứ vào mệnh bàn để truy tìm điềm báo của sự cố: Âm nữ, Thủy nhị cục, Mệnh chủ Cự môn, Thân chủ Thiên cơ. Mệnh lập tại cung Ngọ, có Cự môn (hóa Kị), Lộc tồn tọa thủ.

Vào tháng 5 năm Ất Mão 1975, cung mệnh của đại hạn ở cung Mậu Thân, có "Thiên đồng Thiên lương" đồng độ, có Địa không và Địa kiếp đối củng, hội hợp Thiên cơ, Hỏa tinh ở cung Nhâm Tý (vốn là hóa Khoa, đại vận thì hóa Kị), với Thái âm (hóa Lộc) Thiên hình đồng độ ở cung Giáp Thìn.

Cung Di của lưu niên ở Giáp Dần vô chính diệu, mượn sao của cung Mậu Thân để "an sao nhập cung", biến thành Địa không và Địa kiếp đồng cung (cung Dần) hội hợp với Cự môn hóa Kị (còn gọi là "Kình Đà giáp Kị"), còn hội hợp với Thái dương lạc hãm ở cung Canh Tuất.

Kết cấu của tinh hệ đã hiển thị điềm hung hiểm trong đại hạn này, vì vậy cần phải tìm năm nào xảy ra.

Mệnh tạo vào năm Tân Hợi 1971 và năm Quý Sửu 1973 đều đã từng lái xe đi xa, nhưng chưa bị thương gì (bạn đọc thử luận đoán xem tại sao). Nhưng đến năm Ất Mão 1975, cung mệnh của lưu niên ở cung Ất Mão, trùng hợp với tình hình Kình dương của lưu niên và Đà la của lưu niên giáp cung (tuy chẳng phải "giáp Kị", nhưng do Thiên phủ ở cung Mão không hóa Kị, nên cũng thuộc tính chất không cát tường), hội cung Hợi vô tính diệu, nên mượn "Liêm trinh Tham lang" của cung Tị để an sao, hai sao lại bị lưu Dương và lưu Đà của đại hạn giáp cung. Ngoài ra, ở đối cung là cung Dậu có "Vũ khúc Thất sát", cung Mùi là Thiên tướng của "Hình Kị giáp ấn".

Điều xấu nhất là, cung Tai Ách của lưu Niên bay đến cung Tuất có Thái dương lạc hãm ở đây, tương chiếu Thái âm (vốn gốc hóa Lộc, lưu Niên thì hóa Kị), Đà la của đại hạn, Kình dương của lưu Niên và Thiên hình; hội hợp với "Thiên đồng Thiên lương", Đà la của lưu niên ở cung Dần, và hội hợp với Cự môn hóa Kị (Hóa Kị này xung khởi Thiên cơ hóa Kị của đại hạn) và lưu Dương của đại hạn ở cung Ngọ. Các sao sát - kị đều nặng, nên năm đó chủ về có tai nạn.

Sau đó mới xem đến lưu Nguyệt.

Năm Mão, Đẩu Quân tại cung Hợi, tức tháng Giêng khởi từ cung Hợi, đến tháng Năm thì cung mệnh của lưu Nguyệt đến cung Mão, tức là trùng với cung mệnh của lưu Niên. Tính phép độn can, năm Ất Mão khởi Mậu Dần (tháng Giêng), tháng Năm thì can chi của cung mệnh là Nhâm Ngọ, vì vậy cung Di có Vũ khúc Hóa Kị (cung Dậu), cung mệnh của lưu Nguyệt lại có Kình Đà của lưu Niên giáp cung, hơn nữa Kình Đà của lưu Nguyệt còn xung khởi Đà la Kình dương của lưu Niên, xung khởi Đà la Kình dương của đại hạn, toàn bộ đồng loạt bắn vào cung Tai Ách của lưu Nguyệt ở cung Tuất. Cung Tuất còn bị Đà la của lưu Nguyệt đối nhau với Thiên hình ở cung Thìn, còn bị Thái âm hóa Kị từ cung Thìn vây chiếu. Do đó luận đoán vào tháng 5 mà xuất hành sẽ có hung hiểm.

Vũ khúc hóa Kị và Thất sát đồng độ ở cung Di (Dậu) đã hiển thị tính chất bị thương tổn thuộc Kim.

Từ ví dụ này có thể biết, muốn luận đoán lưu Nguyệt, cần phải bắt đầu tìm từ đại hạn, sau đó tìm lưu Niên, tiếp sau đó rồi tìm lưu Nguyệt, thì mới có ý nghĩa ứng dụng thực tế. Bởi vì, mục đích luận đoán lưu Nguyệt chỉ là trợ giúp trong việc "xu cát tị hung". Nếu cứ tìm loạn xạ một tháng để luận đoán, do không có mục đích nên quá mông lung, sẽ dễ lạc vào mê cung.

Thêm một ví dụ về Cách luận đoán lưu nguyệt

Bé gái sinh năm Nhâm Tuất 1982, dương nữ, Thổ ngũ cục, Mệnh chủ Lộc tồn, Thân chủ Văn xương.

- Mệnh lập tại cung Kỷ Dậu, có Vũ khúc (khóa Kị), Thất sát

- Năm kế tiếp mắc bệnh không thuyên giảm, cha mẹ của bé gái mời Vương Đình Chi luận đoán. Vương Đình Chi cho rằng: có thể đường hô hấp có khối u, khuyên nên mời bác sỹ chuyên khoa kiểm tra thật kỹ lưỡng. Cha mẹ liền mang bé gái nhập viện kiểm tra, đã chứng thực là khí quản có khối u, may mà chưa ác hóa, có hy vọng trị khỏi.

- Cung Tai Ách mệnh bàn này là Thái âm tọa thủ tại cung Giáp Thìn, nhưng có tứ sát Linh tinh, Kình dương ở Điền trạch cư Tý tam phương ức hiếp, mắc bệnh là điều không còn nghi ngờ, vấn đề là mắc bệnh gì. Thái âm vốn chủ về bệnh âm phần hao tổn, nhưng cung Tai Ách của mệnh bàn nhiều lúc chẳng hiện thị bệnh tật khi còn bé, trái lại, có thể thấy ở cung mệnh.

- Một tuổi chưa vào hạn cung Dậu trong tinh bàn, lưu Niên Nhâm Tuất Vũ khúc hóa Kị ở tiểu hạn một tuổi (tức cung mệnh của thiên bàn), cho nên luận đoán là đường hô hấp có khối u.

- Hạn 2 tuổi của bé gái ở cung Tài bạch tại cung Ất Tị, là năm Quý Hợi, gặp Kình Đà của lưu Niên của tam phương hội chiếu tiểu hạn tại cung Ất Tị, trong cung Tị lại có Tham lang hóa thành sao Kị, còn hội hợp với tạp diệu Thiên hình ở Sửu, Kiếp sát, Đại hao, chủ về mắc bệnh có tính chất hao tổn. Trong thực tế, năm đó bé gái tiếp nhận xạ trị, thể chất đương nhiên bị hao tổn.

- Hạn 3 tuổi ở cung Tai ách tại Thìn, lưu Niên là năm Giáp Tý, trong hạn Thái âm tọa thủ mà có Thái dương hóa Kị tại Tuất vậy chiếu, còn có tứ sát tinh cùng chiếu, bệnh tình rất nguy hiểm, sau may mắn có thể vượt qua là nhờ sức của Thiên lương và Hoa cái hội chiếu. Hơn nữa, Kình Đà của thiên bàn chưa bị Kình Đà của lưu Niên xung khởi, sức ảnh hưởng chưa mạnh mà thôi.

- Đến hạn 4 tuổi dần dần khởi sắc, được Thiên thọ vây chiếu nên không có tai biến gì. Mệnh này rất khó xác định có yểu mạng hay không, bởi vì có liên quan đến Tổ đức, cha mẹ của bé gái đều đôn hậu hiền hành, nên đại hạn lúc 3 tuổi đã an nhiên vượt qua, có thể nói là sự may mắn trời ban

Phụ lục: phương pháp tính tiểu hạn cho trẻ con

Cách tính tuổi để khởi Đại hạn là căn cứ vào ngũ hành cục số, tối thiểu là thủy nhị cục hai tuổi mới vào vận, tối đa là hỏa lục cục phải sáu tuổi mới vào vận. Vì vậy từ lúc sinh ra cho tới khi vào vận có một khoảng trống, phải lấy phương pháp tính tiểu hạn cho trẻ con để bổ xung.

Tính hạn của trẻ con tổng cộng có 6 cung, nhưng khi ứng dụng thì căn cứ vào tuổi khởi đại hạn để làm chuẩn, ví dụ 3 tuổi khởi vận thì chỉ đi 3 cung. Các cung tính hạn từ khi sinh ra cho tới khi vào đại hạn như sau:

- Một tuổi ở cung Mệnh
- Hai tuổi ở cung Tài bạch
- Ba tuổi ở cung Tật ách
- Bốn tuổi ở cung Phu thê
- Năm tuổi ở cung Phúc đức
- Sáu tuổi ở cung Sự nghiệp (quan lộc)

Khi xem tính hạn cho trẻ con, chỉ xem "tam phương tứ chính" của bản cung, không bày bố thêm 11 cung còn lại. Nói cách khác, chỉ luận đoán cung Mệnh (tức bản cung), không luận đoán kèm lục thân và hoàn cảnh xung quanh. Đây là chỗ giới hạn của phương pháp tính hạn cho trẻ con.

4)- Cách luận đoán lưu nhật

Vương Đình Chi không chủ trương luận đoán lưu Nhật, bởi vì "nước trong quá thì không có cá, người xét nét quá thì không có bạn", không nên mang vận trình ra luận đoán quá chi li. Nhưng trong một số tình hình cá biệt, thì luận đoán lưu Nhật có lúc lại cần thiết. Ví dụ trường hợp luận đoán "tử kỳ" cho một người bệnh sắp chết, để gia đình chuẩn bị hậu sự, hoặc là Tháng có thể xảy ra tai nạn giao thông, mà có chuyện cần thiết nhất định phải đi, bất đắc dĩ không còn cách nào, buộc phải chọn Ngày để đi.

Luận đoán lưu Nhật là khởi ngày mồng 1 từ cung mệnh của lưu Nguyệt, ngày muốn luận đoán rơi vào cung vị nào đó, thì cung đó là cung mệnh của lưu Nhật, sau đó tham chiếu vạn niên lịch để tìm "can chi" ngày muốn luận đoán, thông qua can chi này để tính lưu diệu của lưu Nhật.

Ví dụ như tháng 4 cung mệnh (của lưu nguyệt) ở Tuất, tức là khởi ngày mồng 1 ở cung Tuất, đi thuận, nếu muốn tìm cung mệnh của lưu nhật ngày mồng 4, thì đếm thuận đến cung Sửu là được. Tra vạn liên lịch, tháng 4, năm Ất Sửu, can chi của ngày mồng 4 là ngày Nhâm Tuất, do đó lấy can chi "Nhâm Tuất" để tìm lưu diệu, như Thiên lương hóa Lộc, Tử vi hóa Quyền, Thiên phủ hóa Khoa, Vũ khúc hóa Kị, Lộc tồn ở cung Hợi, Mã nhật ở cung Thân,.v.v...

Nếu có tháng Nhuận, thì lấy nửa tháng đầu tính thuộc tháng trước, nửa tháng cuối tính thuộc tháng sau. Lưu nhật thì vẫn luân chuyển theo chiều thuận. Năm Giáp Tý đó Nhuận tháng Mười, từ ngày mồng 1 đến ngày 15 của tháng 10 nhuận là thuộc tháng Mười, từ ngày 16 đến ngày 29 của tháng 10 nhuận là thuộc tháng 11.

Ví dụ như lưu Nguyệt tháng 10 ở cung Dậu, tức cung này khởi ngày mồng 1 đếm thuận đến ngày 13 và ngày 25 thì trở về cung Dậu, đến cung Dần là ngày 30, vẫn đếm tiếp theo chiều thuận đến ngày mồng 1 của tháng 10 nhuận, tức là cung Mão làm cung mệnh của ngày mồng 1 tháng 10 nhuận. Muốn an lưu diệu thì phải tra vạn niên lịch để biết ngày mồng 1 là ngày Tân Dậu, vì vậy lấy can Tân để tra lưu diệu.

Còn ngày 16 của tháng 10 nhuận, thì khởi từ cung mệnh của tháng 11, tức là cung Tuất, đi theo chiều thuận. Lưu nguyệt dùng can chi của tháng 11, tức tháng Bính Tý, đối với lưu nhật đương nhiên vẫn dùng can chi của ngày đó.

Đơn cử một nhật bàn làm thí dụ:

- Dương nữ, mộc tam cục, Mệnh chủ Vũ khúc, Thân chủ thiên tướng.
- Mệnh lập tại cung Mậu Tuất, có Liêm trinh (hóa Kị) Thiên phủ
- Phụ mẫu tại cung Kỷ Hợi, có Thái âm, Thiên khôi, Thiên hỉ
- Phúc đức tại cung Canh Tý, có Tham lang, Văn khúc
- Điền trạch tại cung Tân Sửu, có Thiên đồng (hóa Lộc), Cự môn, Thiên hình, Phá toái.
- Sự nghiệp tại cung Canh Dần, có Vũ khúc, Thiên tướng, Đài phụ, Long trì
- Giao hữu tại cung Tân Mão, có Thái dương, Thiên lương, Địa không
- Thiên di tại cung Nhâm Thìn, có Thất sát, Đà la, Thiên hư
- Tật ách tại cung Quý Tị, có Thiên ơ, Lộc tồn, Đại hao, Thiên vu, Thiên diêu, Hồng loan
- Tài bạch tại cung Giáp Ngọ, có Tử vi, Hữu bật, Linh tinh, Kình dương
- Tử tức tại Ất Mùi, có Thiên nguyệt, Địa kiếp
- Phu thê tại cung Bính Thân, có Phá quân, Tả phụ, Thiên mã, Thiên khốc
- Huynh đệ tại cung Đinh Dậu, có Hỏa tinh, Thiên việt.

Đương số đang ở trong đại hạn Ất Mùi, cung Mùi vô chính diệu, mượn các sao của cung Sửu để an. Thế là biến thành Thiên hình và Thiên nguyệt đồng độ, có Địa kiếp và Địa không tương hội.

Thiên đồng và Cự môn chủ về bệnh liên quan đến thần kinh cột sống. Cho nên trong đại hạn này, mệnh tạo có thể mắc bệnh này, mà còn là mãn tính. Bởi vì Thiên hình và Thiên nguyệt là điềm bệnh tật triền miên, kéo dài khiến cho người bệnh giống như bị tra tấn. Có Thái dương và Thiên lương hội hợp, làm mạnh thêm tính chất này.

Tra lưu niên, đến năm Nhâm Tuất, cung mệnh của lưu niên ở Tuất, có Liêm trinh hóa Kị hội Vũ khúc (lưu niên thì hóa Kị) ở Dần, Đà là của lưu niên bay vào cung Tuất, xung động Đà la và lưu Dương của đại hạn ở cung Thìn, còn xung động cả lưu Đà của đại hạn. Lại còn gặp Kình dương của lưu niên ở cung Tý và lưu Đà của đại hạn ở cung Dần, lại xung khởi Kình dương Linh tinh ở cung Ngọ đến hội, cho nên có thể đoán định năm đó ắt sẽ có tai ách.

Tính chất của Tai ách là gì? Do Vũ khúc hóa Kị xung khởi Liêm trinh hóa Kị, thông thường đều chủ về tai nạn chảy máu, có điều, năm đó cung Thiên di (Nhâm Thìn) là Thất sát tọa thủ, nên không phải tai ách chảy máu ở nơi khác.

Có nhiều loại tai ách chảy máu, nữ mệnh có thể là đường sinh dục, trụy thai, cũng có thể là vết thương có mủ, đương nhiên cũng có thể là bị thương do kim loại. Thế là phải truy tìm đến cung Tai ách của lưu niên.

Cung Tai ách của lưu niên ở cung Quý Tị, có Thiên cơ tọa thủ, bị hai sao Kình dương Đà la đều xung động giáp cung, và Thái âm hóa Kị ở Hợi xung chiếu, chủ về tổn thương, Thái âm và Thiên cơ tương hội, chủ về bệnh liên quan đến hệ thần kinh, còn tương hội với tinh hệ "Thiên đồng Cự môn" và Thiên hình ở cung Sửu, lại hội hợp với "Thái dương Thiên lương" mượn ở cung Mão nhập cung Dậu, tam phương ứng hiếp, dó đó có thể đoán định là bị thương bát ngờ gây ảnh hưởng đến thần kinh cột sống.

Tra đến lưu nguyệt, năm Nhâm Tuất tháng Giêng khởi Nhâm Dần, mà Đẩu quân năm Tuất cũng trùng hợp ở cung Dần, cho nên lấy cung Dần làm cung mệnh của lưu Nguyệt.

Tháng Nhâm Dần thì Vũ khúc lại hóa Kị, trùng điệp với lưu niên hóa Kị, sức mạnh rất lớn, lại tương hội với lưu niên Đà, nguyệt Đà của cung Tuất, còn tương hội với Kình dương và Linh tinh ở cung Ngọ (tam phương tứ chính của hai sao này bị vận Đà, niên Đà, nguyệt Đà, niên Dương, nguyệt Dương xung khởi, nên, tuy là Kình dương và Linh tinh của nguyên cục, nhưng vẫn có tác dụng [ví lưu nguyệt của cung mệnh), vì vậy có thể đoán vận trình của tháng này không được tốt.

Tra lưu nhật đến ngày mồng 5 là ngày Nhâm Tý, cung mệnh của lưu Nhật ở cung Ngọ, vì can của ngày là Nhâm, nên Vũ khúc của cung Dần lại hóa Kị lần nữa, thành Vũ khúc ba lần hóa Kị, xung động Liêm trinh hóa Kị ở cung Tuất. Ở tam phương tứ chính tổng cộng gặp 8 sát tinh Kình dương Đà la và Linh tinh, cực kỳ nghiêm trọng.

Thêm vào đó, cung Tai ách của lưu nhật, là cung Sửu có "Thiên đồng Cự môn" và Thiên hình, còn bị lưu nhật hóa Kị và lưu nhật Kình dương giáp cung. Vì vậy ngày hôm đó (ngày 5 tháng Giêng, năm Nhâm Tuất 1982) khó tránh tai nạn giao thông, chảy máu, gãy xương, sau trị khỏi vẫn còn bị tổn thương thần kinh cột sống, phải vật lý trị liệu.

Người phụ nữ này sau khi bị tổn thương, ảnh hưởng đến sinh hoạt tính dục, chồng vì vậy mà thay đổi, đến năm 1985 Ất Sửu có nguy cơ phải ly hôn. Bạn đọc thử xem xét cung Phu của bà ta từ lưu niên Nhâm Tuất xem sao.

5)- Cách luận đoán lưu thời

Tử Vi Đẩu Số tuy có phương pháp luận đoán "lưu thời", nhưng khi luận đoán lưu thời, sẽ rơi vào tình trạng chi ly thái quá, nên phái Trung Châu ít dùng đến.

Phép tính lưu thời là khởi cung mệnh của giờ Tý ở cung Tý, khởi cung mệnh của giờ Sửu ở cung Sửu,.v.v... đến khởi cung mệnh của giờ Hợi ở cung Hợi. Nhưng can chi thì dùng ngũ Thử độn như sau:

- Ngày Giáp Kỷ khởi giờ Giáp Tý
- Ngày Ất Canh khởi giờ Bính Tý
- Ngày Bính Tân khởi giờ Mậu Tý
- Ngày Đinh Nhâm khởi giờ Canh Tý
- Ngày Mậu Quý khởi giờ Nhân Tý

Như đối với ví dụ trên, ngày Nhâm Tý khởi giờ Canh Tý, đến giờ Ngọ độn can là Bính, cung mệnh của lưu thời ở Ngọ, có Liêm trinh hóa Kị, còn có Kình dương bay vào cung mệnh, cho nên tai nạn giao thông xảy ra vào lúc 12 giờ 20 phút, là thuộc giờ Ngọ.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bí quyết đoán mệnh của Vương Đình Chi

Thảo luận về Kì Môn Độn Giáp

Kỳ môn Độn giáp là một môn học dựa trên nguyên lý lập trận đồ ma trận có tính Logic rất cao.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Thảo luận về Kì Môn Độn Giáp

Thảo luận về Kì Môn Độn Giáp

Trong các môn học thuộc lĩnh vực Dịch học Trung Hoa, từ cổ chí kim người ta dành cho Kỳ Môn Độn Giáp một vị trí quan trọng. Các soạn giả cuốn Tứ Khố Toàn Thư đời Thanh viết: “ trong các phương kế, Kỳ Môn Độn Giáp là hay nhất”.   Một số học giả của trường Đại học Phúc Đán Thượng Hải trong cuốn Tri thức bách khoa Văn hóa thần bí Trung Quốc xuất bản năm 1994 cũng viết: “ Kỳ Môn Độn Giáp hoàn toàn có thể xứng danh với vị trí cao nhất trong học thuật truyền thống Trung Hoa” ( học thuật truyền thống chỉ khái niệm Phương Thuật. “ Phương” gồm các môn nghiên cứu về Thiên văn, địa lý, ngũ hành, lịch pháp, tướng số. “Thuật” gồm các môn nghiên cứu về y học, thuốc thang, luyện đơn. Từ xưa Kỳ Môn Độn Giáp được xem là môn học Đế vương, nội hàm bao gồm lí luận Chu dịch, Thiên văn học, Âm nhạc, Lịch pháp, thuyết Âm dương ngũ hành v.v.

 

Các khảo sát của nhiều học giả cho thấy, từ đời nhà Tần Kỳ môn được gọi là Âm phù; thời Hán, Ngụy gọi là Lục Giáp;   đời Tấn, Tùy, Đường, Tống gọi là Độn Giáp; đến đời Minh, Thanh gọi là Kỳ Môn Độn Giáp. Kỳ môn độn giáp được gọi là Kỳ môn hoặc Độn giáp. Kỳ môn có nhiều trường phái: Niên gia, Nguyệt gia, Nhật gia, Thời gia với độ phức tạp ngày càng cao. Thời gia kỳ môn được chia làm hai trường phái là Kỳ môn pháp thuật và Kỳ môn lý số.

 

Kỳ môn pháp thuật chủ dùng bùa chú, tu luyện mà thành. Nội dung và phương pháp của nó mang nặng màu sắc tín ngưỡng và nghi thức tôn giáo, nhấn mạnh và đề cao khả năng siêu thực của con người.

 

Kỳ môn lý số lại được chia làm hai nhánh: Kỳ môn phi bàn và Kỳ môn chuyển bàn với cách lập trận đồ Kỳ môn khác nhau. Trong học phần Kỳ môn Độn giáp, Phong thủy Lưu gia giới thiệu nội dung của phần Kỳ môn Phi bàn theo nhánh lý số của trường phái Thời gia.

 

Kỳ môn Độn giáp là một môn học dựa trên nguyên lý lập trận đồ ma trận có tính Logic rất cao. Các thành phần   trong mỗi một cung quan hệ với nhau rất mật thiết, biểu thị cho xu hướng phát triển của sự vật mà ta đang xét tới các mối quan hệ giữa các thành phần của cung này với cung khác là mối quan hệ chi phối, hạn chế, hóa giải lẫn nhau, biểu thị sự liên đới, ảnh hưởng, tác động qua lại của các sự vật trong bức tranh tổng thể.

 

Trong bức tranh tổng thể đó, các yếu tố phản ánh bản thân sự việc hoặc sự việc trong chuỗi liên kết là tập hợp các thông tin như: Thiên thời là yếu tố mang tính quyết định, nhấn mạnh về thời gian, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế, chính trị và yếu tố văn hóa. Yếu tố thiên thời, giúp ta biết được tiến hành một công việc vào lúc nào là hợp lí nhất. Địa lợi là không gian, địa lý, khu vực v.v. cho ta biết được thực hiện một kế hoạch ở nơi nào là lý tưởng nhất. Nhân hòa là mối quan hệ giữa các thành viên với nhau từ trong gia đình đến ngoài xã hội. Thần trợ là những thông tin, tính hiệu trừu tượng mà chúng ta không quan sát được như trường vũ trụ, yếu tố may mắn v.v. thông qua đó ta biết được công việc mà chúng ta đang quan tâm có “ quý nhân phù trợ” hay không. Cấu trúc là yếu tố biểu thị xu hướng của sự việc mà nhờ đó chúng ta có thể tiên tri được sự việc đó diễn tiến như thế nào.

 

Trong lịch sử hình thành và phát triển của Kỳ môn Độn giáp, ngoài những ứng dụng trong lĩnh vực quân sự, các ứng dụng trong lĩnh vực khác cũng rất phong phú và đa dạng, các ví dụ mà người xưa để lại cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Học kỳ môn nhằm để dự báo, hoạch định kế hoạch phát triển cá nhân và đưa ra hướng giải quyết các vấn đề trong cuộc sống con người ta hay gặp phải.

Ví dụ: ốm đau bệnh tật, hôn nhân gia đình, học tập thi cử, công ăn việc làm, kinh doanh, đầu tư, kiện cáo, môi trường địa lý, công danh sự nghiệp, hoạch định và đánh giá chiến lược phát triển kinh doanh của cá nhân, công ty. Có thể nói rằng biết được Kỳ môn tức là biết được những gì mình muốn biết.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Thảo luận về Kì Môn Độn Giáp

Suy nghĩ không thông nhưng đường đi là vô hạn

Chỉ có sự hiểu biết những gì xảy ra một cách sâu sắc và thông suốt, mới có thể sáng tạo nên cái mới, biến rất nhiều điều không thể thành có thể trong đời
Suy nghĩ không thông nhưng đường đi là vô hạn

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

“1+1=1” bạn có tin không?! Trên đời này chỉ có những người suy nghĩ không thông, chứ không có con đường đi không thông.

Nếu như nói: 1+1=1; 1+2=1; 3+4=1; 5+7=1; 6+18=1
Phản ứng đầu tiên của đại não có thể sẽ là: Không thể nào. Xin hãy đọc tiếp.

Nếu như thêm đơn vị danh xưng thích hợp bên trong những chữ số này, kết quả của nó có thể kiến lập được rồi!

1 nửa quả táo + 1 nửa quả táo = 1 quả táo

1 tháng + 2 tháng = 1 mùa

3 ngày + 4 ngày = 1 tuần

5 tháng + 7 tháng = 1 năm

6 giờ + 18 giờ = 1 ngày

Bây giờ xem ra, tư tưởng của bạn bỗng được đả thông mà cải biến có phải không?

Trên con đường của cuộc đời, lựa chọn lớn hơn so với nỗ lực, bố cục quyết định kết cục, tâm thái quyết định tất cả!

Có lẽ thay đổi tư duy một cái, bạn có thể nhìn thấy được nhiều hơn, tất cả đều sẽ không giống nhau!

1 + 1 = 1; 1 + 2 = 1; 3 + 4 = 1; 5 + 7 = 1; 6 +18 = 1

Khi nhìn thấy những phép toán này, mọi người thường quen dùng kiến thức toán học mình biết để suy luận, theo đó chúng thật sự không thể xảy ra.

Giải đáp của tác giả tin chắc rằng mọi người có thể đã hiểu được, chỉ cần thêm một đơn vị vào phía sau mỗi con số, thế thì câu hỏi và đáp án như vậy trở thành vô cùng hợp lý.

Đọc nhiều giúp tri thức của chúng ta phong phú hơn, nhưng sau khi học tập mà không thông, những kiến thức học được vốn sẽ trợ giúp chúng ta tìm được đáp án, lại biến thành lực cản cản trở chúng ta suy nghĩ tìm ra đáp án.

Chỉ có hiểu được biến thông, mới có thể sáng tạo nên cái mới, biến rất nhiều điều không thể thành có thể. Rất hợp lý phải không nào! Lúc vừa bắt đầu chính tôi cũng rất khó tin

Tư tưởng thay đổi một cái thì khác biệt thật to lớn! Cũng giống như cuộc đời của người ta vậy……


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Suy nghĩ không thông nhưng đường đi là vô hạn

Bảng xem giờ tốt

Thời xưa, cũng như ngày tốt, việc chọn giờ tốt (giờ hoàng đạo) rất được coi trọng.
Bảng xem giờ tốt

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bảng dưới đây cho biết về giờ tốt của từng ngày theo lịch can chi.

Ngày Giờ Tý Giờ Sửu Giờ Dần Giờ Mão Giờ Thìn Giờ Tỵ Giờ Ngọ Giờ Mùi Giờ Thân Giờ Dậu Giờ Tuất Giờ Hợi
Dần, Thân tốt tốt xấu xấu tốt tốt xấu tốt xấu xấu tốt xấu
Mão, Dậu tốt xấu tốt tốt xấu xấu tốt tốt xấu tốt xấu xấu
Thìn, Tuất xấu xấu tốt xấu tốt tốt xấu xấu tốt tốt xấu tốt
Tỵ, Hợi xấu tốt xấu xấu tốt xấu tốt tốt xấu xấu tốt tốt
Tý, Ngọ tốt tốt xấu tốt xấu xấu tốt xấu tốt tốt xấu xấu
Sửu, Mùi xấu xấu tốt tốt xấu tốt xấu xấu tốt xấu tốt tốt

Theo Bàn về lịch vạn niên


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bảng xem giờ tốt

Ai mới là Thục Hán đệ nhất quân sư, tài vượt Khổng Minh?

Pháp Chính được đánh giá là có thể "sánh với 'thiên tài' Quách Gia của Tào Ngụy". Nhiều ý kiến cho rằng, ông mới là "đệ nhất quân sư" của Lưu Bị, địa vị quan trọng hơn Khổng Minh.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Pháp Chính (176 - 220), tự Hiếu Trực, người huyện Mi, Thiểm Tây ngày nay, là một trong những mưu sĩ hàng đầu của thế lực quân phiệt Lưu Bị thời Tam Quốc.

Ban đầu, Pháp Chính là thủ hạ của Lưu Chương - quân phiệt Tây Xuyên. Sau này, khi Lưu Bị vào đất Thục, Pháp Chính về làm mưu thần cho Bị, được bị rất tín nhiệm và kính trọng.

Bỏ Lưu Chương, theo Lưu Bị

Những năm đầu thời Kiến An, thiên hạ đói nghèo, Pháp Chính cùng đồng hương Mạnh Đạt cùng vào Thục, đầu quân cho Lưu Chương.

Tuy nhiên, Chương không phải người biết trọng dụng nhân tài, cho nên rất lâu sau Pháp Chính mới "leo" lên được chức Huyện lệnh Tân Đô, sau đó được phong làm Quân nghị hiệu úy.

Pháp Chính có tài mà không gặp thời, lại thường xuyên bị người Thục ghẻ lạnh vì là "kẻ ngoại lai". Ông vì điều này mà thường tỏ ra buồn khổ.

Quan Biệt giá Ích Châu Trương Tùng là bằng hữu của Pháp Chính, cũng cảm thấy Lưu Chương không phải nhân vật có thể thành đại sự. Trương cũng chung tâm trạng với Pháp Chính.

Năm Kiến An 13 (208), Trương Tùng đi sứ Tào Tháo, trở về khuyên Lưu Chương đoạn tuyệt với Tào mà quay sang giao hảo với Lưu Bị.

Cùng năm đó, liên minh Lưu Bị - Tôn Quyền đại thắng Tào Ngụy tại Xích Bích, thế lực cùng thanh danh Lưu Bị vang dội, khiến Lưu Chương rất tin tưởng cử ngay Trương Tùng đi sứ sang gặp Lưu Bị.

Trương Tùng nhân cơ hội này tiến cử Pháp Chính cho Bị. Ban đầu Chính còn thoái thác, nhưng rồi cũng phải "bất đắc dĩ" tới diện kiến Lưu Bị.

Lưu Bị gặp được Pháp Chính thì "dùng ân đức thu nạp", khiến Pháp Chính cảm thấy Bị xứng đáng là minh chủ "hùng tài đại lược", có thể theo phò tá.

Pháp Chính trở về Ích Châu, âm thầm mưu tính cùng Trương Tùng, quyết định "ngầm" tôn Lưu Bị làm chủ.

pháp chính là một tài năng quân sự hiếm có

Pháp Chính là một tài năng quân sự hiếm có

Năm Kiến An 16 (211), Lưu Chương nghe tin Tào Tháo chuẩn bị chinh phạt Trương Lỗ, Chương vô cùng lo sợ Tào "nuốt" xong Hán Trung sẽ nhòm ngó ích Châu.

Trong lúc này, Trương Tùng khuyên Lưu Chương "đón" Lưu Bị vào Thục, để Bị thảo phạt Trương Lỗ, chiếm Hán Trung.

Pháp Chính nhận lệnh làm sứ giả sang "mời" Lưu Bị đưa quân vào Thục. Đây cũng là thời điểm Pháp Chính "chính thức" phản lại Lưu Chương, hiến kế cho Bị.

"Các hạ (Lưu Bị) là anh tài cái thế, Lưu Chương vô năng không thể làm minh chủ.

Nay Trương Tùng làm nội ứng, giúp đoạt Ích Châu.

Dùng Ích Châu trù phú làm căn cơ, lấy địa thế hiểm trở làm chỗ dựa mà thành đại nghiệp, dễ như trở bàn tay".

Chính sách "Long trung đối" của Gia Cát Lượng nhận định rằng, Lưu Bị muốn đoạt thiên hạ thì buộc phải chiếm được Kinh Châu và Ích Châu.

Bọn Pháp Chính, Trương Tùng "trở mũi giáo với Lưu Chương" chính là cơ hội trời ban. Lưu Bị lập tức chớp lấy thời cơ, thống lĩnh đại quân vào Thục.

Năm Kiến An 17 (212), Lưu Bị vờ bằng lòng với Lưu Chương thảo phạt Trương Lỗ, dẫn quân tiến vào Gia Manh (tên địa danh).

Sự việc bại lộ khiến Trương Tùng bị giết, Lưu Bị hoàn toàn "trở mặt" với Lưu Chương, xua quân tấn công Thành Đô.

Quan Tòng sự Trịnh Độ hiến kế Lưu Chương dùng kế cố thủ "khiến quân Lưu Bị không đánh mà tan". Bị vô cùng lo lắng.

Tuy nhiên, Pháp Chính nêu ra nhận định, Lưu Chương mặc dù bất tài, nhưng cũng là quan Châu mục yêu dân, cho nên sẽ không sử dụng kế sách phương hại đến dân chúng.

Quả nhiên, Lưu Chương nói - "Ta nghe nói đánh địch để an dân, chưa nghe nói dùng dân để chống địch", và bác bỏ phương án của Trịnh Độ.

pháp chính được lưu bị vô cùng ưu ái

Pháp Chính được Lưu Bị vô cùng ưu ái

Trọng thần của Lưu Bị

Sau khi Lưu Chương đầu hàng, Lưu Bị độc chiếm Ích Châu, nhờ có Pháp Chính bày mưu hiến kế mà nhanh chóng tạo được quan hệ tốt với giới phú hào địa phương.

Pháp Chính được Bị phong làm Thái thú Thục quân - Dương Vũ tướng quân.

Bị lại lệnh Pháp Chính cùng 4 Gia Cát Lượng, Lưu Ba, Lý Nghiêm, Y Tịch chế định ra "Thục khoa" - bộ pháp luật cai trị Ích Châu, thay đổi tình trạng lỏng lẻo dưới thời Lưu Chương.

Giai đoạn này, Pháp Chính vừa kiểm soát đại quyền hành chính Thục quận - thủ phủ Ích Châu, vừa là đại thần "cốt lõi" bên cạnh Lưu Bị.

Tính cách Pháp Chính ân oán phân minh. Sau khi nắm giữ quyền lớn đã không quên báo đáp những người giúp đỡ mình, song cũng không bỏ qua tư thù với những người có mâu thuẫn trong quá khứ.

Đây cũng là điểm khiến sử gia Trần Thọ - tác giả "Tam Quốc Chí" - đánh giá ông là "phẩm đức không vẹn toàn".

Có người tố cáo với Khổng Minh, hy vọng ông có thể vạch tội Pháp Chính với Lưu Bị, không để Chính "tác oai tác quái".

Nhưng bản thân Gia Cát Lượng hiểu rõ, Lưu Bị được Tây Xuyên là công lớn của Pháp Chính. Chính được Bị tin tưởng tuyệt đối, cho nên Lượng cũng không tiện nói nhiều.

Đoạt Hán Trung - Tào Tháo cảm thán

Năm Kiến An 22 (217), Tào Tháo sau khi dễ dàng hàng phục Trương Lỗ, không tiếp tục xua quân đánh Ích Châu, mà chỉ để lại Hạ Hầu Uyên, Trương Hạp cố thủ Hán Trung.

Pháp Chính lập tức hiến kế lên Lưu Bị, nêu rõ nhận định Tào Ngụy chắc chắn có vấn đề nội bộ, và chỉ ra ý nghĩa của việc đoạt Hán Trung - "Thượng, có thể thảo phạt 'quốc tặc' (chỉ Tào Tháo), tôn vinh Hán thất, chiếm lấy 2 châu Ung - Lương, mở rộng quốc thổ.

Hạ, đoạt được địa bàn 'cốt lõi', phục vụ chiến lược lâu dài".

Lưu Bị rất tán đồng quan điểm của Pháp Chính, bèn dẫn quân đánh Hán Trung.

Năm Kiến An 24 (219), Lưu Bị dẫn quân hạ trại ở Định Quân sơn, đối đầu với tướng Ngụy Hạ Hầu Uyên.

Khi ấy, Hạ Hầu Uyên trấn thủ cứ điểm phía Nam là Tẩu Mã cốc, Trương Hạp trấn thủ cứ điểm phía Đông là Quảng Thạch.

Pháp Chính dùng kế "dương Đông kích Tây", để Lưu Bị lĩnh hơn 10.000 tinh binh phân thành 10 đội, luân phiên tấn công Quảng Thạch trong đêm.

Trương Hạp đối kháng với Lưu Bị, dù không để mất cứ điểm nhưng cũng khó chống cự với đòn "xa luân chiến" của Bị. Hạp cầu viện Hạ Hầu Uyên.

Hạ Hầu Uyên buộc phải chia một nửa lực lượng chi viện cho Trương Hạp, trong khi bản thân tiếp tục cố thủ tuyến nam.

Binh lực của Uyên vừa giảm, Thục quân lập tức tập kích Tẩu Mã cốc, phóng hỏa thiêu Lộc Giác - công sự phòng vệ của Ngụy.

Hạ Hầu Uyên bất đắc dĩ phải lĩnh 400 quân ra cứu hỏa, tu bổ công sự.

Thời điểm này, Pháp Chính "ngắm chuẩn" cơ hội, đề xuất Lưu Bị tổng lực tấn công Uyên.

Lưu Bị lập tức lệnh Hoàng Trung đột kích từ hậu phương. Hạ Hầu Uyên trở tay không kịp, chết dưới tay lão tướng Hoàng Trung.

kế trảm diệu tài (hạ hầu uyên) là một trong những chiến tích có công lao của pháp chính

"Kế trảm Diệu Tài (Hạ Hầu Uyên)" là một trong những chiến tích có công lao của Pháp Chính

Thất bại của Hạ Hầu Uyên khiến Tào Ngụy để mất thế chủ động trong chiến dịch Hán Trung vào tay Lưu Bị.

Không lâu sau, Tào Tháo đích thân Tây chinh, nghe tin Pháp Chính là người hiến kế cho Lưu Bị, cảm khái nói - "Ta đã biết Huyền Đức không có khả năng thực hiện việc này, tất phải có người bày mưu hắn".

Chiến sự sau đó, mặc dù binh lực của Tào chiếm ưu thế, nhưng Lưu Bị luôn chọn phương án an toàn, không giao chiến với quân Tào.

Về sau, Tào Tháo bất đắc dĩ phải lui quân, để cho Lưu Bị "thoải mái" chiếm cứ Hán Trung.

Năm Kiến An thứ 24 (219, Hán Hiến Đế), Lưu Bị tự lập làm Hán Trung Vương, phong Pháp Chính làm Thượng thư lệnh, kiêm Hộ quân tướng quân.

Lấy được Hán Trung là một trong những chiến thắng trọng yếu của Thục Hán, giúp Thục hình thành cục diện "tam phân thiên hạ" với Ngô - Ngụy về sau.

Pháp Chính là một tài năng quân sự bẩm sinh, được Lưu Bị vô cùng ưu ái.

Trong một chiến dịch đối đầu với Tào Ngụy, tình thế quân Thục bất lợi, vốn dĩ phải lui quân, song Lưu Bị tức giận kiên quyết không nghe.

Lúc này, Pháp Chính lao ra chặn trước loạn tiễn, khiến Lưu Bị phải hốt hoảng can ngăn - "Hiếu Trực tránh tên".

Pháp Chính đáp lại - "Minh công cũng mạo hiểm trước mưa tên, huống chi hạ thần?".

Lời Pháp Chính khiến Lưu Bị đành phải nghe lời ông mà rút quân, đủ thấy Bị trọng vọng Pháp Chính tới mức nào.

khổng minh đã phải cảm thán - nếu pháp chính còn, trận di lăng đã không thua.

Khổng Minh đã phải cảm thán - "Nếu Pháp Chính còn, trận Di Lăng đã không thua".

Qua đời

Năm 220, Pháp Chính qua đời, thọ 45 tuổi. Cái chết của ông khiến Lưu Bị vô cùng thương cảm, than khóc nhiều ngày.

Sau khi mất, Pháp Chính được Lưu Bị phong làm Dực Hầu, là vị đại thần duy nhất được truy phong thụy hiệu dưới thời Lưu Bị.

Pháp Chính lớn hơn Khổng Minh 4 tuổi, mặc dù tính cách cũng như đời sống cá nhân 2 ông có nhiều khác biệt, nhưng có điểm chung là cả 2 đều "lấy việc công làm trọng".

"Tiên chủ truyền nói: Gia Cát Lượng là trọng thần, Pháp Chính là mưu chủ".

Gia Cát Lượng chưởng quản nội vụ, hậu cần, còn Pháp Chính làm quân sư theo quân đội chinh phạt.

Sau này, vụ lùm xùm Quan Vũ - Tôn Quyền khiến liên minh Ngô - Thục trở mặt thành thù, Lưu Bị quyết Đông chinh phạt Ngô, bất chấp quần thần can gián.

Năm Chương Vũ thứ 2 (222), quân Thục Hán thảm bại ở trận Di Lăng, Bị lui về thành Bạch Đế, 2 năm sau thì mất.

Gia Cát Lượng đau khổ cảm thán - "Nếu Pháp Hiếu Trực còn, ắt có thể can gián Chủ thượng.

Cho dù Đông chinh, cũng không thể thất bại".

Trên thực tế, Gia Cát Khổng Minh cũng rất khâm phục tài năng hiếm có trên lĩnh vực quân sự của Pháp Chính.

Giai đoạn chiến tranh trước khi Lưu Bị qua đời, nhóm Pháp Chính, Bàng Thống được đánh giá cao hơn Gia Cát Lượng, một phần cũng do bọn họ xuất hiện nhiều hơn trên lĩnh vực quân sự, trong khi Gia Cát Lượng quản lý hậu phương.

Sử gia Trần Thọ khen ngợi năng lực quân sự của Pháp Chính là "có thể sánh với 'thiên tài' Quách Gia của Tào Ngụy".

theo Trí Thức Trẻ


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Ai mới là Thục Hán đệ nhất quân sư, tài vượt Khổng Minh?

Điều gì quyết định đến vận may của một con người?

Vận may đến từ đâu? Có người cho rằng nó chỉ là thứ ngẫu nhiên trong cuộc sống. Tuy nhiên, thái độ sống có thể ảnh hưởng rất lớn tới vận may của chính bạn
Điều gì quyết định đến vận may của một con người?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Vận may của con người đến từ đâu? Nhiều người cho rằng nó chẳng qua chỉ là thứ “hên xui” ngẫu nhiên trong cuộc sống này. Tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia, tư tưởng và thái độ sống của bạn có thể ảnh hưởng rất lớn tới vận may của chính mình.

Vận may không phải như một loại cơ bắp mà chúng ta có thể điều khiển ngay tức thời, nhưng bạn có thể tăng khả năng gặp những điều tốt lành trong cuộc sống qua 1 số lời khuyên sau.

1. Từ cơ thể khỏe mạnh

Sức khỏe chính là một phúc lành. Một cơ thể khỏe mạnh mới có sức giúp bạn đạt được thành công.

Muốn có một cơ thể khỏe mạnh, ngoài việc chú ý đến ăn uống và thể dục, chúng ta còn cần một lối sống lành mạnh, bên cạnh đó việc giữ cho tinh thần thoải mái cũng đóng vai trò rất quan trọng. Nếu thể chất và tinh thần cùng khỏe mạnh, công việc, cuộc sống cũng theo đó trở nên thuận lợi, những điều tươi sáng, tốt đẹp, an khang và vui vẻ cũng theo nhau tới.

2. Từ thói quen nhìn mọi việc một cách lạc quan

Con người vốn bản tính nhân hậu lương thiện. Tấm lòng bao dung độ lượng sẽ khiến cho mọi người cảm nhận được bạn là người quan trọng, cả thế giới như tràn ngập ánh sáng, càng nhiều người tốt càng có nhiều phúc báo. Xã hội ổn định, lòng người ấm áp, nếu chúng ta nhận được càng nhiều sự giúp đỡ thì con đường đi của chúng ta cũng trở nên rộng rãi dễ dàng hơn.

3. Từ những quan niệm tốt

Quan niệm sẽ mang đến quyết định, quyết định lại ảnh hưởng đến hành vi, hành vi sẽ tạo nên kết quả. Con người sống tại thế gian này, sáng tạo điều kiện để sinh tồn, có bản lĩnh sinh tồn nỗ lực học tập, vì bản thân mà sống, vậy sống sao cho ra sống. Khi có điều kiện thì giúp đỡ mọi người.

4. Từ tính cách tốt

Một tính cách không tốt sẽ phá vỡ mối quan hệ giữa người với người, ảnh hưởng đến sức khỏe, sự giận dữ còn làm vấy bẩn con người. Những người có tính cách cực xấu, thì thần hộ mệnh sẽ không bảo hộ. Vì thế, chúng ta cần kiềm chế cơn nóng giận, tránh gây tổn thương nguyên khí, biết giải tỏa để bản thân không “phát hỏa”. Gặp bất kể việc gì cũng nên bình tĩnh suy xét rồi hành động, giảm thiểu việc đi đường vòng, giúp tăng cơ hội thành công.

5. Từ biểu hiện tốt

Dân gian thường có câu: ra khỏi nhà thì xem thời tiết, khi vào nhà thì xem sắc mặt, khi bạn buồn phiền, cáu giận, buồn khổ, một khuôn mặt khó coi như vậy là điều không ai muốn thấy. Tướng do tâm sinh, chỉ khi bạn tôn trọng người khác và luôn tươi cười thì may mắn sẽ đến với bạn.

6. Từ những lời nói dễ nghe

Một lời tốt đẹp ấm ba mùa đông, nửa lời ác ý lạnh buốt sáu tháng. Lấy thiện đãi người, vui vẻ hoà nhã, hòa thuận phát tài, vận tốt thường tại. Kính người sẽ được người kính lại, nếu luôn oán hận sẽ không cách nào giải quyết được vấn đề. Những lời nói ác ý sẽ càng gây thương tổn người khác. Bệnh tật vốn từ miệng mà vào, và họa cũng do miệng mà ra.

7. Từ những hành vi tốt

Quan điểm nhân sinh đúng đắn sẽ giúp người ta có được hành vi đúng đắn. Tự kiểm điểm hành vi của bản thân mình, khiến cho bản thân có được cơ hội được yêu thương, biết cách trân trọng phúc và tạo phúc, làm nhiều việc tốt, biết cách cho đi thì mới nhận lại được nhiều.

8. Từ những mối quan hệ tốt:

Con người trong xã hội giữa sự tương tác tìm kiếm sự sinh tồn, phát triển, cho dù đó là nhu cầu học tập, cầu chức, cầu thăng tiến, mong muốn thông đạt mọi việc hay làm việc nhà, việc chính trị, tài chính, kế hoạch thành công, không phải không cần sự giúp đỡ ủng hộ của các loại quan hệ, hướng dẫn, trợ giúp. Những mối quan hệ tốt là dựa vào sự bồi dưỡng đức, coi trọng tình cảm chân thành. Mối quan hệ mật thiết giữa người với người quan trọng hơn hết thảy việc kinh doanh riêng của cá nhân.

Đời người giống như một cái máy để chứa đựng:

Đựng nhiều niềm vui, phiền não sẽ ít đi;
Đựng nhiều cảm ân, đau khổ sẽ vơi đi;
Đựng nhiều cảm thông, mâu thuẫn giảm bớt;
Đựng nhiều việc lớn, những việc vụn vặt sẽ ít đi;
Đựng nhiều ánh sáng mặt trời, bóng đen sẽ ít đi;
Đựng nhiều cao kiến, thiên kiến giảm thiểu;
Đựng nhiều thiện mỹ, ưu phiền sẽ ít đi;
Tình hữu hảo nhiều, thù hận sẽ giảm!


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Điều gì quyết định đến vận may của một con người?

Những kiêng kỵ trong thiết kế phòng lớn cho cửa hàng –

Lưng hướng Đông Nam, hướng về phía Tây Bắc Kiến trúc lưng hướng Đông Nam, hướng về phía Tây Bắc thuộc Tốn, ngũ hành thuộc Mộc, mùa đông gió Đông Bắc về sẽ tràn vào, không thuận lợi. Thiết kế cho phòng lớn độ rộng hẹp phải thích hợp. Lưng phía Tây, mặ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Lưng hướng Đông Nam, hướng về phía Tây Bắc

Kiến trúc lưng hướng Đông Nam, hướng về phía Tây Bắc thuộc Tốn, ngũ hành thuộc Mộc, mùa đông gió Đông Bắc về sẽ tràn vào, không thuận lợi. Thiết kế cho phòng lớn độ rộng hẹp phải thích hợp.

Lưng phía Tây, mặt phía Đông

Kiến trúc lưng phía Tây, mặt phía Đông thuộc Đoài, ngũ hành thuộc Kim, hệ âm Kim. Nếu chủ cửa hàng là phụ nữ, thì phòng lớn quá sáng sủa, buôn bán thuận lợi. Nếu người phụ trách là nam giới thì sẽ hại dương khí trong phòng, ảnh hưởng đến sức khỏe, tài vận.

Lưng phía Đông Bắc, mặt hướng Tây Nam

phong-lon-cua-hang

Kiến trúc lưng phía Tây Bắc, mặt hướng Đông Nam thuộc Cấn, ngũ hành thuộc Thổ. Tính chất của Thổ có phần rộng rãi sinh sôi vạn vật. Vì thế khi bố trí căn phòng phải tạo cảm giác to lớn rộng rãi, trồng cây xung quanh. Ngược lại, nếu bố trí căn nhà chật chội, bí bách sẽ gây cho khách hàng cảm giác không muốn ở lại lâu, từ đó buôn bán dần dần yếu kém.

Lưng phía Bắc, mặt hướng Nam

Kiến trúc này thuộc Khảm, ngũ hành thuộc Thủy. Tính chất của Thủy có lọi cho độ trầm, sâu, nuôi dưỡnng vận khí và lưu gió tụ khí. Vì thế bố trí căn phòng nên tạo cảm giác thân trầm không lộ liễu. Ngược lại, nếu nước nông lộ đáy, mùa đông đến gió bắc tràn vào làm cho khí tụ tản mát, có nghĩa khách hàng không muốn ở lại.

Lưng phía Đông, mặt hướng Tây

Kiến trúc này thuộc Chấn, ngũ hành thuộc Mộc. Tính chất của Mộc là sâu sắc, vững chãi, đàng hoàng. Vì thế khi bố trí căn phòng lớn phải lấy vững chãi, đoàng hoàng làm nền, tạo cảm giác cao lớn, có chiều sâu. Ngược lại, nếu rộng mà nông, có nghĩa dương khí không đủ, âm khí thịnh sẽ không có lợi cho kinh doanh.

Lưng phía Tây Nam, mặt hướng Đông Bắc

Kiến trúc này thuộc Khôn, ngũ hành thuộc Thổ. Nó giống như căn phòng lưng Đông Bắc mặt hướng Tây Nam. Cấu trúc của căn phòng phải rộng, trồng cây tạo cảm giác to lớn. Ngược lại, nếu quá chột chội sẽ có hiện tượng kinh doanh giảm, sự nghiệp tiêu tan.

Lưng Tây Bắc, mặt hướng Đông Nam

Kiến trúc này thuộc Càn, ngũ hành thuộc Kim. Tính chất của Kim có lợi cho sáng sủa, kỵ nơi tăm tối không đủ ánh sáng. Vì thế khi thiết kế phòng lớn phải sử dụng nhiều đèn chiếu sáng khắp nơi rực rỡ, tạo cảm giác sang trọng, hào hoa.

Lưng phía Nam, mặt hướng Bắc

Kiến trúc này thuộc Li, ngũ hành thuộc Hòa. Thiết kế phòng lớn phải áp dụng hệ thống màu sắc trầm, tạo cảm giáo mạnh mẽ mà trang nghiêm. Nếu màu sắc nhạt, lửa không phát huy, chủ nhà dễ phạm quan tư hoặc gặp hỏa hoạn.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những kiêng kỵ trong thiết kế phòng lớn cho cửa hàng –

Đoán tính cách của các chàng trai qua ngón chân

Những đặc điểm của ngón chân cũng có thể tiết lộ nhiều điều về tính tình của các chàng trai đấy!
Đoán tính cách của các chàng trai qua ngón chân

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1. Ngón chân cái

Nếu ngón chân cái của anh ấy dài hơn nhiều so với những ngón chân khác, đó thực sự là một người thông minh, suy nghĩ sáng tạo. Anh ấy có khả năng xoay sở, ứng phó tốt trong nhiều tình huống và sự sáng tạo thường xuyên giúp anh đạt được những kết quả tốt. Bạn sẽ không bao giờ nhìn thấy anh ấy tỏ ra bối rối trước bất kỳ câu hỏi nào. Tuy nhiên, khả năng tập trung của những chàng trai này lại thường không cao.  

Nếu anh ấy sở hữu ngón chân cái nhỏ, đây là một chàng trai khá tham công tiếc việc và thường đạt được nhiều thành công trong công việc. Khả năng làm việc của anh ấy thường rất được cấp trên tín nhiệm, nhưng đó cũng chính là lý do khiến anh không có nhiều thời gian dành cho những mối quan hệ tình cảm. Tuy vậy, anh ấy vẫn luôn là người có sức hút và rất biết cách sử dụng sự thu hút của bản thân để thuyết phục những người khác nghe theo ý kiến của mình.

2. Ngón chân thứ hai

Ngón chân thứ hai càng dài thì chàng trai của bạn càng có phẩm chất và năng khiếu lãnh đạo. Nhờ có sự năng động và tháo vát, anh ấy sẽ dễ dàng hiện thực hóa những ước mơ của bản thân và thường theo những lối đi độc đáo, không giống những thế hệ đã đi trước.

Ngón chân thứ hai nhỏ và ngắn thường của những chàng trai điềm tĩnh, biết kiên nhẫn chờ tới thời cơ. Anh ấy sẽ không bao giờ háo thắng thể hiện bản thân mình, luôn biết cách nhẫn nhịn những lúc cần thiết để rồi sau này vươn lên bùng nổ. Có thể vẻ ngoài của chàng hơi khù khờ, vô hại nhưng rất có thể anh ấy “tẩm ngẩm tầm ngầm mà đấm chết voi” đấy!

feet-1-4274-1404539487.jpg

3. Ngón chân giữa

Theo nhân trắc học Trung Quốc, hình dáng của ngón chân giữa chính là tượng trưng cho sự bền bỉ và sức mạnh ý chí. Nếu chàng trai của bạn sở hữu ngón chân giữa tương đối dài, thì rất có thể anh ấy là người vô cùng năng động và tháo vát, đặc biệt là trong công việc. Bên cạnh đó, anh ấy còn là một người cầu toàn, có đầu óc kinh doanh và có thể đạt được số tiền rất lớn với quyết tâm và năng lượng của bản thân. Nhược điểm lớn của những chàng trai này là vì quá đam mê công việc mà quên đi niềm vui riêng của bản thân cũng như tình yêu và gia đình. 

Nếu ngón chân giữa ngắn, đây lại là một chàng trai không hề tham cạnh tranh, sân si mà thích tận hưởng những thú vui trong cuộc sống hơn. Anh ấy yêu thích thư giãn và không bao giờ làm nhặng xị lên về bất cứ vấn đề gì. Những người khác có thể nghĩ rằng anh ấy hơi lười biếng, nhưng anh ấy sẽ chẳng bận tâm đâu bởi anh ấy luôn tâm niệm rằng “Cuộc sống này quá ngắn để có thể tận hưởng hết được nó”.

4. Ngón chân áp út

Ngón chân thứ tư cho thấy cách suy nghĩ và quan niệm của các chàng trai về gia đình. Ngón chân áp út càng dài và càng thẳng chứng tỏ gia đình đóng một vai trò hết sức quan trọng với cuộc sống của anh ấy. 

Ngón chân này càng cong thì càng có nhiều khúc mắc và những chuyện không vui trong mối quan hệ của anh ấy đối với gia đình. Bên cạnh đó, chàng trai có ngón chân áp út cong thường có một tâm hồn nhẹ nhàng và rất dễ bị tổn thương về cả tinh thần và sức khỏe.

Nếu anh ấy có ngón chân thứ tư ngắn, có lẽ gia đình không phải mối quan tâm và ưu tiên hàng đầu của chàng trai này.

5. Ngón chân út

Ngón chân út càng nhỏ thì tính cách chàng trai của bạn càng trẻ trung và trẻ con. Thực sự, anh ấy không phải là người có trách nhiệm, hay bị thu hút bởi những thứ mới mẻ, cả thèm chóng chán. Dù vậy, anh ấy rất cởi mở, hài hước và luôn khiến mọi người cười vui ở bất cứ nơi đâu mình xuất hiện.

Và nếu anh ấy có thể ngọ nguậy ngón chân út một cách đơn lẻ và dễ dàng mà không làm ảnh hưởng quá nhiều tới ngón chân áp út, thì đây thực sự là một chàng trai bốc đồng, ưa mạo hiểm và thích được tán tỉnh. Còn nếu ngược lại, thì anh ấy sở hữu khả năng dự đoán chính xác và lòng trung thành đáng trân trọng. Bạn có thể chìm đắm trong tình yêu với một chàng trai có thể ngọ nguậy dễ dàng ngón chân út nhưng có khả năng bạn sẽ phải chìm đắm trong đau khổ nếu kết hôn với một người như vậy.

Fon Fon

chan1-1397327387-1397327408-5226-1404539

Bàn chân 'tự thú' về con người bạn

Một khám phá thú vị về tính cách qua hình dáng, kích thước bàn chân.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đoán tính cách của các chàng trai qua ngón chân

Những dấu hiệu từ bàn chân nói lên cuộc sống an nhàn phú quý

Chân được xem là trái tim thứ hai của cơ thể, bên cạnh tầm quan trọng với sức khỏe, đôi chân còn có thể tiết lộ đường tài vận của bạn có khấm khá, cuộc sống của bạn có an nhàn không.
Những dấu hiệu từ bàn chân nói lên cuộc sống an nhàn phú quý

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1. Lòng bàn chân nhỏ nhưng dày

Các ngón chân tuy khá nhỏ nhưng nhìn tổng thể hai bàn chân đều đầy đặn. Trong nhân tướng học, đây được gọi là “chân quý nhân”. Trong công việc lẫn cuộc sống, bạn luôn có cơ may gặp được quý nhân giúp đỡ, khiến cho mọi chuyện đều như ý, dễ dàng vượt qua khó khăn, cả đời không lo ăn mặc, tài vận cực kỳ thịnh vượng.

2. Dưới bàn chân có nốt ruồi đen

Đây là “chân ngao du” - có nhiều cơ hội đi khắp nơi. Nếu nốt ruồi càng lớn và càng đen thì càng tốt, vì nó đại diện cho mỹ vị và sự giàu có. Người có dấu hiệu này dưới bàn chân không những tài vận phong phú mà còn là một chuyên gia ẩm thực, rất có phúc lộc trong chuyện ăn uống, cuộc sống an nhàn, no đủ.

nhung-dau-hieu-tu-ban-chan-noi-len-cuoc-song-an-nhan-phu-quy

3. Gót chân có đường nét rõ ràng

Người có hai gót chân cân đối với đường nét rõ rệt không những tài vận của bản thân thịnh vượng mà cuộc đời của con cháu cũng khấm khá. Trong công việc, bạn dễ nhận được sự hỗ trợ từ người thân và bạn bè, càng trưởng thành càng giàu có, gia đình an khang, hạnh phúc.

4. Dưới chân có vân xoắn ốc hoặc hình gợn sóng

Nếu có những đường vân xoắn ốc hay gợn sóng dưới lòng bàn chân, bạn sẽ có thành tựu lớn trong đường công danh sự nghiệp. Nền kinh tế nhờ vào danh tiếng mà ngày càng phất lên và vững chắc. Đây là kiểu bàn chân của người được cả danh và tiếng.

5. Tâm bàn chân lõm vào sâu

Trong nhân tướng học, bàn chân này tượng trưng cho người đại phú đại quý, hoàn cảnh gia đình khá giả, tài vận của bản thân cũng thịnh vượng, luôn được người khác ngưỡng mộ và xem trọng.

Khang Ninh (theo Meiguoshenpo)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những dấu hiệu từ bàn chân nói lên cuộc sống an nhàn phú quý
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd