Mơ thấy xạ thủ bắn tên: Tình yêu và hôn nhân tốt đẹp –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Độ hấp thụ ánh sáng của phòng ngủ rất cao, vì thế cửa sổ là kiến trúc không thể thiếu trong phòng ngủ. Hằng ngày, mở cửa sổ vào buổi sớm, ánh sáng bên ngoài sẽ tràn ngập trong phòng và mang lại cảm giác ấm áp. Đồng thời, mỗi lần mở cửa sổ sẽ có lợi cho sự lưu thông không khí trong phòng, thúc đẩy sự chuyển hóa của hai khí âm dương và hình thành khí trường có lợi cho con người. Như thế, cửa sổ càng lớn sẽ càng tốt? Đương nhiên không phải như vậy, theo Phong thủy học, cửa sổ chính là cửa khí nối liền không gian trong ngoài. Nó vừa thúc đẩy sự lưu thông không khí trong phòng nhưng cũng là cầu nối dẫn luồng sát khí từ ngoài vào trong. Đây chính là nguyên nhân vì sao chúng ta thường hay phải đóng cửa sổ. Ngoài ra, đầu giường cũng không nên kê gần cửa sổ, nếu không sát khí ngoài cửa sổ dễ ảnh hưởng bất lợi đến không gian nghỉ ngơi và giấc ngủ.

Hiện nay, rất nhiều gia đình khi thiết kế phòng ngủ, vì muốn tạo nên không gian lãng mạn nên thường thiết kế cửa sổ trời trên trần phòng ngủ. Kiến trúc này không hợp với quan niệm phong thủy. Phòng ngủ là nơi để nghỉ ngơi, mọi sự chi phối của ngoại cảnh đều ảnh hưởng đến giấc ngủ. Thê nên, nếu thiết kê cửa sổ trời ở trần phòng ngủ, ánh sáng lớn ở ngoài phòng sẽ tràn vào, ảnh hưỏng đến sức khỏe cũng như tinh thần của chủ nhân. Cho nên, trần phòng ngủ không thích hợp để thiết kế cửa sổ trời.
Cửa phòng ngủ không nên đối diện phòng bếp, điều này cũng giống như vấn đề phòng ngủ không nên đặt đối diện cửa lớn như đã trình bày ở trên. Bởi khí trường của phòng ngủ và cửa chính không giống nhau, khí trường của phòng ngủ và phòng bếp cũng không giống nhau. Phòng bếp là nơi tập trung nhiều khí nóng và mùi dầu mỡ. Nếu cửa phòng ngủ đặt đối diện phòng bếp thì những khí nóng và mùi dầu mỡ sẽ lan sang phòng ngủ, do đó, chúng sẽ phá vỡ khí trường cát lành của phòng ngủ. Hơn nữa, nếu chúng ta sống trong một không gian toàn mùi dầu mỡ thì tài vận khó có thể hưng vượng được. Vì thế, nếu đặt phòng bếp đối diện với phòng ngủ sẽ gây ảnh hưởng đến sức khỏe lại gây tác động bất lợi đến vận thế toàn gia. Vì thế, nếu trong nhà có cách cục như thế, tốt nhất bạn nên tìm biện pháp hóa giải như dựng bức bình phong chắn giữa 2 phòng. Cách này có thể ngăn chặn sự hỗn loạn của 2 dòng khí trường trong nhà.
Phòng vệ sinh là nơi có nhiều uế khí nhất trong nhà. Từ góc độ Phong thủy học, âm khí của nhà vệ sinh rất nặng, uế khí được sinh ra nhiều. Phòng ngủ đối diện phòng vệ sinh dễ khiến chủ nhân sinh ốm đau, bệnh tật. Vì thế, khi tiến hành thiết kê nhà cần tránh để xuất hiện cách cục trên. Nếu nhà ở đã có cách cục như vậy, bạn nên đặt 3 chậu cây cảnh trồng trên đất ẩm để hóa giải sát khí.
Như đã nói, giày dép nên đặt trong tủ giày ở gần cửa ra vào. Nhưng trong cuộc sống hiện đại mọi người lại thường không chú ý đến điều này, đôi khi chỉ vì thuận tiện mà có người đi cả giày dép vào phòng ngủ.Chúng ta hằng ngày đều đi giày dép ra ngoài cả ngày, sau đó đi về nhà. Ở đôi giày dép mà chúng ta đi hỗn tạp rất nhiều khí của Ngũ hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Nếu đi đôi giày dép đó vào phòng ngủ nghĩa là chúng ta gián tiếp mang những tạp khí đó vào phòng. Điều này sẽ ảnh hưởng xấu đến vận thế của cả nhà.
Rất nhiều người thích nuôi cá, thực ra trong nhà có một bể cá là vượng tài là một điều tốt lành. Nhưng không phải ai cũng hiểu hết những nguyên lý nuôi cá theo phong thủy. Phòng ngủ là nơi để nghỉ ngơi, đặt bể cá sẽ khiến độ ẩm trong phòng tăng cao, không khí dễ bị ô nhiễm, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe cả nhà. Hơn nữa, nếu đặt bể cá ở đầu giường ngủ sẽ ảnh hưởng đến tài vận của gia chủ, đặt bể cá ở cuối giường ngủ sẽ ảnh hưởng đến sự nghiệp của gia chủ. Cho nên, theo Phong thủy học, chúng ta không nên đặt bể cá trong phòng ngủ.
Giường là vật dụng quan trọng trong nhà. Ngoài việc phải đặt giường ngủ ở vị trí thích hợp nhất, chúng ta cũng cần phải chú ý đến những chi tiết nhỏ nhất liên quan đến giường ngủ. Ví như, để tránh tạp khí lẩn khuất dưới gầm giường, khi bố trí vị trí đặt giường, bạn nên đặt mặt giường cách nền nhà khoảng 50cm.Ngoài ra cần chú ý, phải giữ cho gầm giường luôn sạch sẽ. Có người thường biến không gian này thành nơi chứa đồ, bất cứ vật gì cũng để dưới gầm giường. Hơn nữa mọi người lại thường rất ít khi quét dọn dưới gầm giường, cho nên gầm giường ngày càng bừa bộn hơn. Thiết nghĩ, hằng ngày chúng ta đều ngủ ở trên giường nhưng dưới gầm giường lại bừa bộn như vậy, cũng giông như hàng ngày chúng ta đều nằm trong nhà kho. Như vây sao có thể có lợi cho sức khỏe? Từ góc độ Phong thủy học, việc chất đống quá nhiều vật dưới gầm giường sẽ khiến không khí khó lưu thông. Hơn nữa, gầm giường lại không được quét dọn sạch sẽ, chẳng khác nào việc không gian đã nhỏ mà lại bị ô nhiễm, tự nhiên sẽ hình thành dòng khí trường xấu mà ảnh hưởng đến tài vận của gia chủ.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Ngọc Sương (##)
Xem tuổi Đinh Mão hợp làm ăn với tuổi nào, bạn muốn biết người sinh năm 1987 hợp làm ăn với tuổi nào? Vào đầu năm 2017 thì nên chọn những người tuổi nào để kết hợp làm ăn, giúp cho công việc được hanh thông, mọi việc thuận lợi, công việc làm ăn phát đạt.

Tuổi Đinh Mão, sinh năm 1987 năm con mèo, cung mệnh Càn, mạng cốt tinh Hỏa.
Tính tình người tuổi Đinh Mão: Tính tình khôn khéo, trung thực. Trời phú cho đức tính hào hoa, lịch thiệp, có khoa ngoại giao giỏi, và được quý nhân phù trợ giúp thăng tiến khác. Song đó cũng là điểm cốt yếu để kẻ khác lợi dụng, gây phiền nhiễu. Thẳng thắn, bộc trực không chịu nhờ vả, không thích nhờ vả người khác.
Nghề thích hợp với người tuổi Đinh Mão: Thiên hướng về binh nghiệp, luật pháp, sẽ phát huy hết sở trường.
Tuổi Đinh Mão nên chọn kết hợp làm ăn với những người có mệnh Mộc ( Mậu Thìn, Kỷ Tỵ, Mậu Tuất, Kỷ Hợi, Nhâm Tý, Quý Sửu, Canh Thân, Tân Dậu) thì làm ăn phát đạt.
Nếu người sinh năm 1987 kết hợp làm ăn với những người mệnh Hỏa gồm các tuổi Mậu Ngọ, Kỷ Mùi, Giáp Thìn, Ất Tỵ, Bính Dần, Đinh Mão, Giáp Tuất, Ất Hợi thì hai bên đều dựa vào nhau, có lợi cùng chịu, có họa cùng chia.
Người tuổi Đinh Mão hợp làm ăn với tuổi Nhâm Thân, Quý Dận, Ất Sửu, Giáp Tý, Nhâm Dần, Quý Mão, Canh Tuất, Tân Hợi ( thuộc mệnh Kim) thì người tuổi Đinh Mão sẽ có điều kiện để phát triển.
Với những người mệnh Thổ ( Bình Thìn, Đinh Tỵ, Mậu Thân, Kỷ Dậu, Canh Tý, Tân Sửu, Canh Ngọ, Tân Mùi) thì người tuổi Đinh Mùi khi kết hợp làm ăn phải là cấp dưới hoặc trợ lí cho người mệnh Thổ thì công việc mới thuận buồm xuôi gió.
Không nên kết hợp làm ăn với các tuổi Giáp Dần, Ất Mão, Nhâm Tuất, Quý Hợi, Bính Ngọ, Đinh Mùi, Bính Tý, Đinh Sửu thuộc mệnh Thủy thì công việc làm ăn phần nhiều bị thua thiệt, tốt nhất là nên tránh thì hơn.
Màu hợp với tuổi Đinh Mão: Đỏ, hồng, tím, xanh lục
Hướng đặt bàn làm việc hợp với tuổi Đinh Mão: Phương vị tài thần cho nam giới là đặt bàn làm việc nhìn hướng chính Đông, nữ giới đặt bàn làm việc nhìn hướng chính Tây.
Xem thêm những bài viết hữu ích khác tại: Xem tử vi
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Cát Phượng (##)
Tìm hiểu về Ý nghĩa của Thạch Lựu Mộc (Gỗ Cây Lựu)
Sách Bác Vật Vựng Biên viết: “Canh Thân Tân Dậu, Thân là tháng bảy, Dậu là tháng tám, thời gian này mộc suy yếu cơ hồ tuyệt diệt chỉ có cây lựu kết trái cho nên gọi bằng Thạch Lựu Mộc.
Kim khắc Mộc, Kim như đao búa, thạch lựu mộc cứng cáp, đao búa không thể đốn ngã. Canh Thân Tân Dậu cả chi can đều thuộc kim thế mà nạp âm thành mộc, lấy cái lẽ tương khắc chống chọi mà thủ tượng vậy. Hình mộc mà chất đá nên gọi thạch lựu. Mệnh mang những sao trung kiên là một trung thành ánh ánh, là một người bạn khả dĩ tin cậy.
Mệnh mang những sao gan dạ nên con người can trường dám làm dám chịu. Mệnh hiện những sao thiếu trí tuệ thành ra con người ngoan cố khó mà cảm hóa.
Canh Thân Tân Dậu, mộc hoàn toàn bị kim chế ngự nên ít có khả năng bén nhạy với biến động. Người Thạch Lựu Mộc vào nghiên cứu là hợp cách vì ít thay đổi chí hướng.
Theo Can chi thông luận:
Thân đại biểu cho tháng 7 (âm), Dậu đại biểu cho tháng 8. Khi này cây cối đã bắt đầu tàn lụi, chỉ có cây thạch lựu là kết trái mà gọi Canh Thân Tân Dậu là gỗ cây lựu. Thứ cây này vào mùa thu kết trái cho nên tính mộc cứng rắn, với thủy mộc thổ kim qua lại có thể hòa hợp thành tốt. Duy chỉ có nước biển lớn (đại hải thủy) thế thủy ào ạt gặp nó sẽ bần cùng bệnh tật. Có thể gặp lửa trên trời (thiên thượng hỏa), lửa sấm sét (bích lôi hỏa), lửa trong lò (lư trung hỏa) cũng tốt, nhưng hỏa ấy sẽ dự báo điềm xấu. Gỗ thạch lựu thường bao hàm mệnh quý như sinh tháng 5 (tháng Ngọ) mà ngày trụ họăc giờ trụ lại có mang một hỏa thì gọi là "thạch lựu phun lửa". Gặp cây gỗ dương liễu (dương liễu mộc) gọi là "hoa hồng liễu xanh"
Tuổi Tý
Tháng 3 dự báo là tháng có khá nhiều thử thách và cơ hội dành cho những người sinh nhằm tuổi Tý. Một số vấn đề nơi công sở sẽ khiến bạn phải tập trung cao độ để giải quyết, sau chuyện này bạn sẽ rút ra được bài học to lớn cho bản thân và không phạm phải những sai lầm đáng tiếc ảnh hưởng đến sự nghiệp sau này. Bạn cũng tìm ra nhiều cơ hội hợp tác kinh doanh và làm ăn lâu dài, những đối tác này sẽ trở thành những người bạn tâm giao của bạn đấy, hãy cùng nhau làm việc thật tốt bạn nhé. Tình hình tài chính của bạn khá ổn, bạn không cần quá lao tâm khổ tứ nhưng vẫn luôn dư dả để chi tiêu và mua sắm.
Chuyện tình cảm của bạn sẽ vô cùng khởi sắc trong tháng này, bạn sẽ nhận được sự lãng mạn đầy bất ngờ mà người ấy dày công chuẩn bị cho bạn, quá tuyệt vời phải không nào. Tháng 3 là tháng bạn vô cùng sung sức và khoẻ mạnh để làm mọi điều mình muốn.
Màu may mắn: Màu cam
Hướng may mắn: Hướng Đông Nam
Tuổi Sửu
Đối với những bạn tuổi Sửu thì tháng 3 này là tháng có khá nhiều dấu ấn quan trọng trong cuộc đời của bạn. Bạn sẽ gặt hái được những thành quả to lớn trong công việc nhờ những đóng góp và nỗ lực không mệt mỏi của mình trong suốt thời gian qua. Bạn đã làm việc rất chăm chỉ và đây là lúc để bạn tận hưởng những trái ngọt đấy. Công việc thuận lợi mang đến cho bạn một nguồn tài chính dồi dào và phong phú. Các khoản thu nhập sẽ liên tục lấp đầy hầu bao cho bạn trong suốt cả tháng, tạo điều kiện cho bạn thoả sức chi tiêu cho bản thân cũng như gia đình.
Bạn sẽ vô cùng yêu đời trong tháng 3 này nhờ những điều ngọt ngào, cử chỉ quan tâm đầy yêu thương mà bạn và người ấy dành cho nhau. Chỉ cần ở bên cạnh nhau là đã đủ hạnh phúc và bình yên lắm rồi. Bạn hãy duy trì chế độ ăn uống và nghỉ ngơi điều độ để luôn có một sức khoẻ thật tốt như trong tháng này nhé.
Màu may mắn: Màu đỏ
Hướng may mắn: Hướng Bắc
Tuổi Dần
Tháng này là tháng vô cùng may mắn và thuận lợi đối với những bạn cầm tinh con hổ. Bạn sẽ gặp được rất nhiều quý nhân trên đường đời, bất kể là trong công việc hay trong cuộc sống bạn đều nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình nên rất dễ thành công và gặt hái được những thành tựu đáng kể. Sự nghiệp của bạn thăng hạng vượt bậc và tạo tiền đề vững chắc cho con đường công danh sau này. Túi tiền của bạn luôn rủng rỉnh trong suốt thời gian này, nhiều khả năng bạn sẽ sắm cho mình được phương tiện đi lại mới hoặc ngôi nhà mơ ước từ lâu nữa cơ đấy.
Chuyện tình yêu của tuổi Dần ngập tràn màu hồng với thật nhiều cung bậc cảm xúc đáng yêu và trân trọng mà bạn và đối phương trao tặng cho nhau từng phút giây. Tuổi Dần cũng sẽ không cần phải bận tâm điều gì về sức khoẻ trong suốt tháng 3 này.
Màu may mắn: Màu xanh da trời
Hướng may mắn: Hướng Tây
Tuổi Mão
Tuổi Mão sẽ có một tháng có khá nhiều biến động ở phía trước. Một số thay đổi nho nhỏ về vị trí làm việc sẽ gây ra những xáo trộn nhất định, tuy nhiên bạn cũng sẽ nhanh chóng lấy lại thăng bằng và xử lý tốt mọi chuyện. Đây cũng là cơ hội để bạn khám phá ra những thế mạnh tiềm ẩn của bản thân và có cơ sở để có sự chuyển hướng tích cực trong tương lai gần. Đầu tháng bạn sẽ lâm vào tình cảnh khá túng thiếu khi phải chi tiêu khá nhiều cho những món đồ cố định trong gia đình, tuy nhiên đến giữa tháng thì mọi thứ trở nên sáng sủa hơn và bạn không phải lo lắng quá nhiều về tiền bạc nữa.
Chuyện tình yêu giản dị nhưng quá đỗi bình yên sẽ là nguồn động lực to lớn giúp bạn quên đi những mệt mỏi của cuộc sống mưu sinh và cùng phấn đấu cho một tương lai tươi sáng hơn. Về sức khoẻ, tuổi Mão cần chú ý đề phòng các bệnh liên quan đến đường tiêu hoá vào thời điểm giữa và cuối tháng này nhé.
Màu may mắn: Màu xanh lục
Hướng may mắn: Hướng Nam
Tuổi Thìn
Những bạn cầm tinh con rồng cần thận trọng trong mọi hành động ở tháng đầy bất ổn này. Bạn hãy giữ thái độ trung lập và khiêm nhường, bên cạnh đó cũng tránh tham gia vào các cuộc bàn luận vô thưởng vô phạt để tránh vướng vào những thị phi không đáng có nơi công sở. Bạn cũng không nên đầu tư hay hùn vốn làm ăn với ai trong thời gian này để tránh tổn thất về tiền bạc. Đây là thời điểm không thực sự thuận lợi nên tuổi Thìn hãy kiên nhẫn để vượt qua thời gian này nhé.
Chuyện tình cảm của bạn cũng không có nhiều khởi sắc, hãy dành tặng cho một nửa của mình những món quà nhỏ xinh, sự ân cần chăm sóc để hâm nóng tình cảm bạn nhé. Sức khoẻ của tuổi Thìn khá bình ổn trong suốt tháng 3 này.
Màu may mắn: Màu tím
Hướng may mắn: Hướng Đông
Tuổi Tỵ
Tháng này là tháng đại phát tài đối với những bạn sinh nhằm tuổi rắn. Sự nhanh nhạy, tinh tường và óc phán đoán chính xác sẽ mang lại cho bạn khá nhiều thuận lợi trong sự nghiệp. Các hợp đồng béo bở mà bạn mang về cho công ty sẽ khiến bạn và đồng nghiệp bận rộn suốt những tháng sắp tới và hứa hẹn thu được những thành công đáng nể trong ngành. Tình hình tài chính của bạn khá rực rỡ nhờ những quyết định đầu tư nhanh gọn và táo bạo, hãy chuẩn bị sức khoẻ thật tốt để đếm tiền trong tháng này bạn nhé, thu nhập của bạn sẽ tăng lên đáng kể đấy.
Tình cảm của tuổi Tỵ đạt được những bước tiến đáng kể, bạn sẽ ngày càng cảm thấy không thể sống thiếu đối phương và cần sớm lên kế hoạch chi tiết cho việc về một nhà. Tháng này bạn luôn tràn đầy năng lượng để chinh phục mọi thử thách mà cuộc đời dành cho mình đấy.
Màu may mắn: Màu hồng
Hướng may mắn: Hướng Tây Bắc
Tuổi Ngọ
Tuổi Ngọ sẽ có một tháng nhiều điều bất ngờ chờ đợi ở phía trước đấy. Ở thời điểm giữa tháng công việc của bạn sẽ có đôi chút trục trặc do sự hiểu lầm nào đó mang lại, bạn chỉ cần sáng suốt và tỉnh táo một chút là sẽ giải quyết được ngay thôi. Tình hình tài chính của tuổi Ngọ sẽ có khá nhiều thay đổi tích cực trong thời gian này. Bạn sẽ làm đầy thêm túi tiền của mình nhờ những những khoản thu nhập từ cho, tặng hoặc bốc thăm trúng thưởng đấy, quá tuyệt đúng không? Bên cạnh đó các cơ hội kiếm tiền luôn có ở quanh bạn, chỉ cần để tâm và bỏ thời gian nghiên cứu tìm hiểu thì bạn sẽ có bộn tiền trong tương lai gần đấy.
Chuyện tình yêu đầy thi vị và ngọt ngào của bạn là điều mà bao người ao ước đấy, hãy trân trọng đối phương nhiều hơn bạn nhé. Tháng này sức khoẻ của bạn khá tốt nên không cần lo lắng điều gì.
Màu may mắn: Màu nâu
Hướng may mắn: Hướng Đông Nam
Tuổi Mùi
Tháng này là tháng may mắn nhất cả năm đối với những bạn cầm tinh con dê. Công việc của bạn lên như diều gặp gió với hàng loạt những tin vui như thăng chức, tăng lương và được giao cho những dự án trọng điểm nữa, đây chính là sự đền đáp xứng đáng cho nỗ lực của bạn bấy lâu nay đấy. Bên cạnh đường công danh thuận lợi thì bạn còn kiếm được bộn tiền trong tháng này nữa, bạn làm gì cũng vô cùng thuận lợi và suôn sẻ nên tiền cứ lũ lượt đổ vào túi bạn thôi.
Chuyện tình yêu đẹp như mơ cũng sẽ khiến bạn vui vẻ suốt cả tháng, sự dịu dàng, ấm áp mà đối phương dành cho bạn sẽ khiến bạn luôn lâng lâng hạnh phúc. Tuổi Mùi sẽ vô cùng sung sức trong thời gian này, bạn hãy nhớ duy trì thói quen tập luyện thể thao hợp lý để tăng cường sức khoẻ nhé.
Màu may mắn: Màu trắng
Hướng may mắn: Hướng Tây
Tuổi Thân
Tuổi Thân sẽ có một tháng khá nhiều thử thách ở phía trước. Công việc của bạn không có tiến triển nào đáng kể, mọi thứ vẫn dậm chân tại chỗ, bạn cần chủ động và sáng tạo nhiều hơn để thúc đẩy sự nghiệp của bản thân nhé. Có khá nhiều cơ hội làm ăn gõ cửa nhà bạn, tuy nhiên bạn cần thận trọng trước khi đưa ra quyết định để tránh thua lỗ nhé.
Chuyện tình yêu của tuổi Thân sẽ phải đối mặt với giai đoạn khá khó khăn, khoảng cách về địa lý sẽ khiến hai bạn ngày càng xa nhau và thiếu đi sự quan tâm, chăm sóc, hãy tranh thủ thời gian để thể hiện tình cảm với người ấy nhé. Tháng này sức khoẻ của bạn khá ổn, tuy nhiên bạn cũng nên tránh rượu bia và các chất kích thích gây ảnh hưởng đến sức khoẻ.
Màu may mắn: Màu trắng
Hướng may mắn: Hướng Đông
Tuổi Dậu
Tháng 3 hứa hẹn sẽ là tháng khá bình yên đối với những bạn cầm tinh con gà. Sự nghiệp của bạn duy trì bình ổn và tiến triển theo hướng tích cực. Công việc làm ăn của bạn cũng có nhiều thuận lợi và mang lại cho bạn nguồn tài chính khá dồi dào nên bạn không cần phải bận tâm lo lắng.
Chuyện tình yêu của bạn cũng khá ngọt ngào và an yên, bạn sẽ cảm nhận được tình yêu vô bờ bến mà người ấy dành cho mình, hãy đáp lại tình cảm ấy bằng cách nhiệt thành nhất có thể bạn nhé. Tháng này tuổi Dậu có sức khoẻ khá tốt để có thể làm mọi điều mình muốn.
Màu may mắn: Màu vàng
Hướng may mắn: Hướng Tây
Tuổi Tuất
Những bạn sinh nhằm tuổi Tuất sẽ gặt hái được khá nhiều thành công trong tháng 3 này. Đường công danh của bạn trở nên vô cùng thênh thang và rộng mở. Bạn sẽ nhận được sự tin tưởng và đánh giá cao từ cấp trên và đồng nghiệp, nhờ đó vị thế của bạn sẽ được nâng lên đáng kể. Tình hình tài chính mang gam màu tươi sáng là điểm nhấn nổi bật nhất trong bức tranh toàn cảnh về vận thế của bạn trong tháng này. Bạn sẽ kiếm được khá nhiều tiền để trang trải cho cuộc sống cũng như để dành được khoản tiền tiết kiệm kha khá nữa đấy.
Bạn và một nửa của mình sẽ ngày càng cảm thấy yêu thương và gắn bó trong thời gian này, hãy cố gắng duy trì và thúc tiến hơn nữa để có một "happy ending" trong tương lai gần bạn nhé. Tuổi Tuất khá sung sức và dồi dào sức khoẻ trong suốt cả tháng này nữa đấy, tháng này là tháng dành cho bạn mà.
Màu may mắn: Màu đen
Hướng may mắn: Hướng Đông Bắc
Tuổi Hợi
Bỏ lại tháng 2 đầy bận rộn sau lưng thì tháng 3 này chính là thời gian để tuổi Hợi nghỉ ngơi và nạp thêm năng lượng cho bản thân. Các kế hoạch, mục tiêu bạn đặt ra đều tiến triển khá tốt nên bạn không phải bận tâm quá nhiều. Sự quan tâm của đồng nghiệp và cấp trên cũng là động lực mạnh mẽ để bạn thực hiện thêm nhiều dự án tâm huyết nữa. Tình hình tài chính vô cùng khả quan với ví tiền lúc nào cũng rủng rỉnh sẽ mang lại cho bạn niềm vui bất tận trong suốt cả tháng.
Đường tình duyên rực rỡ là chi tiết sáng giá khiến cho cuộc sống của bạn trở nên vô cùng hoàn hảo và viên mãn trong thời gian này. Tháng này bạn sẽ luôn sống trong niềm hạnh phúc trào dâng và nụ cười luôn nở trên môi. Sức khoẻ của bạn khá ổn và không có vấn đề nào đáng lo ngại.
Màu may mắn: Màu đỏ
Hướng may mắn: Hướng Tây
Bài viết gom nhặt các bài viết của tác giả Hà Uyên về dịch số, quẻ dịch, mai hoa trên các diễn đàn lý số
Vinhl, Thứ tư, 20/05/2009 | 01:35, hỏi:
Xin Chào các bạn,
Gần đây VinhL cùng với một người bạn nghiên cứu và bàn luận về quẻ Mai Hoa của Năm Tháng Ngày Giờ, qua nhiều khảo nghiệm thì khám phá ra quẻ Mai Hoa Năm Tháng Ngày Giờ chỉ sử dụng được 192 quẻ trùng một hào động.
VinhL xin giải thích như sau:
Quẻ Mai Hoa của Năm Tháng Ngày Giờ:
Dùng tổng số của Niên Chi, Tháng Âm Lịch, Ngày Âm Lịch, chia cho 8, lấy số dư làm Thượng Quái
Dùng tổng số của Niên Chi, Tháng Âm Lịch, Ngày Âm Lịch, Giờ (12 Chi), chia cho 8, lấy số dư làm Hạ Quái
Dùng tổng số lấy được khi tìm Hạ Quái chia cho 6, lấy số dư làm Hào Động.
Quẻ Mai Hoa dùng 64 trùng quái, mỗi quái có 6 hào, như vậy mỗi trùng quái có 6 quẻ một hào động. Như vậy toàn bộ có 64 x 6 = 384 quẻ một hào động.
Trong các phương pháp lấy quẻ Mai Hoa, ngoài trừ phương pháp dùng Năm Tháng Ngày Giờ, thì các phương pháp khác đều có thể lấy được bất cứ quẻ nào trong 386 quẻ một hào động.
Tại sao phương pháp dùng Năm Tháng Ngày Giờ của Mai Hoa chỉ có thể lấy được 192 quẻ một hào động mà không phải 384 quẻ?
Xin dẫn chứng như sau:
Thượng Quái = (Năm + Tháng + Ngày) – 8t, t=0,1,2,....
Hạ Quái = (Năm + Tháng + Ngày + Giờ) – 8h, h=0,1,2,...
Hào Động = (Năm + Tháng + Ngày + Giờ) – 6d, d=0,1,2,...
Từ sự tương quan giữa Hạ Quái và Hào Động ta có
Hạ Quái + 8h = Hào Động + 6d
tức là
(Hạ Quái – Hào Động) = 2 x (3d – 4h)
Vì vậy ta có
(Hạ Quái – Hào Động) / 2 = 3d – 4h
Theo công thức trên (Hạ Quái – Hào Động) / 2 phải là một số nguyên, tức (Hạ Quái – Hào Động) phải là một số chẳn. Như vậy muốn có được (Hạ Quái – Hào Động) là số chẳn thì Hạ Quái và Hào Động đều phải cùng là số chẳn hoặc số lẻ.
Từ đó ta có: Hạ Quái là số lẻ thì Hào Động là số lẻ, Hạ Quái là số chẳn thì Hào Động là số chẳn.
Nay xin liệt kê tất cả các quẻ có thể xảy ra khi dùng Năm Tháng Ngày Giờ để lấy quẻ Mai Hoa (một hào động).
Hạ Quái............ Hào Động....................... Tổng số quẻ
Càn 1................ 1, 3, 5.............................. 8 x 3 = 24 quẻ Hạ Càn
Đoài 2............... 2, 4, 6.............................. 8 x 3 = 24 quẻ Hạ Đoài
Ly 3.................. 1, 3, 5.............................. 8 x 3 = 24 quẻ Hạ Ly
Chấn 4.............. 2, 4, 6.............................. 8 x 3 = 24 quẻ Hạ Chấn
Tốn 5................ 1, 3, 5.............................. 8 x 3 = 24 quẻ Hạ Tốn
Khảm 6............. 2, 4, 6.............................. 8 x 3 = 24 quẻ Hạ Khảm
Cấn 7................ 1, 3, 5.............................. 8 x 3 = 24 quẻ Hạ Cấn
Khôn 8.............. 2, 4, 6.............................. 8 x 3 = 24 quẻ Hạ Khôn
24 x 8 = 192 quẻ một hào động.
Như thế phương pháp lấy quẻ Mai Hoa bằng Năm Tháng Ngày Giờ không phải đã thiếu đi một nửa bộ của dịch 384 quẻ một hào động không?
Kết quả trên cho thấy dùng Năm Tháng Ngày Giờ để lấy quẻ Mai Hoa thì các bạn sẻ không bao giờ lấy được quẻ Thiên Phong Cấu động hào 4, vì Hạ Quái Tốn là số 5, thì chỉ có thể động hào 1, 3, va 5 thôi.
Thiển nghỉ theo phương pháp của ông Thiệu Khang Tiết thì ta thấy Thượng Quái không thay đổi trong 1 ngày, Hạ Quái và Hào Động thì thay đổi từng giờ, mà mỗi giờ thì Hào Động lệ thuộc vào Hạ Quái và chỉ có thể động 1 hào trong 3, thay vì 6.
Để có thể sử dụng toàn bộ 384 quẻ một hào động thì phương pháp lấy hào động không nên lệ thuộc vào Hạ Quái. Có thể chỉ lấy giờ để tính hào động hoặc lấy tổng số (Ngày + Giờ) để tìm hào động.
Thân
Vâng, xin chào VinhL
Phương pháp phân tích, chứng minh và giải quyết vấn đề của anh VinhL, thông qua ví dụ diễn giải, đã làm sáng tỏ một cách minh triết vấn đề, mà không phải ai, khi đọc sách ứng dụng nó, nhìn nhận được ra. Cảm ơn anh.
Hà Uyên chỉ thắc mắc, đối với "Hoàng cực kinh thế" và "Mai hoa dịch số", cùng một tác giả, có lẽ Thiệu Ung xây dựng một hệ thống tính toán chặt chẽ hơn. Đây có phải do lỗi Nhà xuất bản không in, hay vì một lý do nào đấy không? Vậy mà cuốn sách vẫn được phát hành.
Hà Uyên cùng trao đổi với anh VinhL, ở góc độ này, Hà Uyên đang thống kê để tìm quy luật:
- Năm-Tháng-Ngày-Giờ, xác định được "thứ tự số" theo Tiên thiên, ví dụ Ngoại quái được "thứ tự số" là 3, Nội quái được "thứ tự số" là 7, ta được quẻ Hỏa Sơn Lữ.
- Khi theo Hậu thiên, thì số 3 Ngoại quái gồm những quẻ:3, 13, 23, 33, 43, 54, 63. Số 7 Nội quái gồm những quẻ: 7, 17, 27, 37, 47, 57
- Trên nguyên lý: Dịch luôn luôn biến đổi không ngừng - Vậy thì sau quẻ Hoả Sơn Lữ, sẽ tiếp diễn đến quẻ nào? Và khi nào thì xác định được "đầu" và "cuối" (có chung có thuỷ), có đầu có cuối?
- Khi chúng ta sử dụng hệ thống Thiên can để xác định thời điểm Khởi đầu - Kết thúc, Hà Uyên vẫn đang còn lúng túng về vấn đề này, Ví dụ:
+ BÍNH TÂN HỢP: năm 1916 - 1917 là năm Bính - Đinh, cho chúng ta biết điểm khởi đầu là "Tụ", đến năm 1991 là năm Tân, cho chúng ta biết điểm kết thúc là "Tán". Thực tiễn cho chúng ta thấy Liên bang Xô viết "tụ" lại thành một khối thống nhất năm 1916 - 1917, và đến năm 1991 thì "tán". Ở đây chúng ta chỉ xét về những tinh hoa của quá khứ đã để lại cho chúng ta, mà không bàn về Chính trị. Đây là nguyên lý âm - dương, tụ tán, ẩn hiện, đến đi, chính phản,...
+ Điểm xuất phát của phương pháp, Hà Uyên vẫn từ thứ tự số Tiên thiên, nhưng khi tính thì theo Hậu thiên.
Xin cảm ơn VinhL
...
VinhL, Thứ năm, 21/05/2009 | 12:01 hỏi:
Thưa Bác Hà Uyên,
VinhL đọc thấy Sư Phụ Thiên Sứ gọi Bác là Anh, thế thì VinhL phải thành thật xin lỗi là đã xưng hô với Bác là Bạn. Theo các bài viết của Bác thì Bác đã đọc qua Hoàng Cực Kinh Thế rồi, như thế thì chắc củng biết là sau quẻ Hoả Sơn Lư thì đến quẻ Lôi Sơn Tiểu Quá theo như vòng tròn 64 quái của ông Thiệu Khang Tiết. Theo Hoàng Cực Kinh Thế thì bắt đầu là quẻ Phục, đến quẻ Bác, thì trở Phục, vì một vòng tròn thì đâu có kết thúc.
Nếu Bác lập một bảng trùng quái theo Ngoại quái Nội quái, sự vận hành của các quái trong bảng này sẻ hình thành một vòng Thái Cực Càn Đoài Ly Chấn nghịch hành Tốn Khảm Cấn Khôn thuận hành.
Theo cách lấy quẻ trong Hoàng Cực Kinh Thế:
(Để phân biệt Phút Giây theo Hoàng Cực Kinh Thế, VinhL xin gọi Phút là Phân, và Giây là Miễu theo Hán Việt)
1 Nguyên = 12 Hội = 129600 năm
1 Hội = 30 Vận = 10800 năm
1 Vận = 12 Thế = 360 năm
1 Thế = 30 Phân = 30 năm
1 Năm = 12 Tháng = 129600 Phân
1 Tháng = 30 Ngày = 10800 Phân
1 Ngày = 12 Giờ = 360 Phân
1 Giờ = 30 Phân
1 Giờ = 12 Miễu
Theo quyển “Nguyên Lý Chọn Ngày Theo Lịch Can Chi” của Tiến Sỉ Hoàng Tuấn thì Hội Ngọ bắt đầu vào năm 2198 Trước Công Nguyên.
Năm 1916 có
2198 + 1916 = 4114
4114 / 360 = 11 dư 136 năm tức hiện đã ở Vận thứ 12 của Hội Ngọ
136 / 30 = 4 dư 16 năm tức hiện ở vào Thế 5 của Vận 12, Hội Ngọ
1916 đang ở Hội Ngọ, Vận 12, Thế 5, năm thứ 16
Theo Hoàng Cực Kinh Thế thì 64 quẻ trùng không dùng 4 quẻ tứ Chính Càn Khôn Khãm Ly, còn lại 60 quẻ chia cho 12 Hội, mỗi Hội được 5 quẻ. Hội Tý có 5 quẻ Địa Lôi Phục, Sơn Lôi Di, Thủy Lôi Truân, Phong Lôi Ích, Chấn Vi Lôi, vvv... Hội Ngọ có 5 quẻ Thiên Phong Cấu, Trạch Phong Đại Quá, Hỏa Phong Đỉnh, Lôi Phong Hằng, Tốn Vi Phong.
Mồi Hội có 5 quẻ, mỗi quẻ có 6 hào, 5x6 = 30 Vận.
1916 ở vào Vận thứ 12 Hội Ngọ tức quẻ Trạch Phong Đại Quá Động Hào Lục biến thành quẻ Cấu.
1 Vận có 12 Thế, mồi quẻ có 6 hào, tứ 2 Thế biến 1 hào. Thế 5 biến hào tam của quẻ Cấu tức là quẻ Thiên Thủy Tụng. 1 Thế có 30 năm, 2 Thế tức 60 năm, quẻ Thiên Thủy Tụng có 6 hào vậy 10 năm động một hào.
Năm thư 16 động hào 2 của quẻ Thiên Thủy Tụng tức được quẻ Thiên Địa Bỉ.
Tóm Lại 1916 có
Vận 12 Hội Ngọ: Quẻ Trạch Phong Đại Quá biến Cấu
Thế 5: Cấu biến Thiên Thủy Tụng
Năm thứ 16: Tụng biến Bỉ
Thưa Bác Hạ Uyên đó là diễn quái theo sự hiểu biết của VinhL khi nghiên cứu Hoàng Cực Kinh Thế.
VinhL thì củng ít khi sử dụng kiến thức của mình để chiêm đoán thế sự, về mặt này rất là kém, phải nhờ Bác chỉ dạy thêm.
Nếu Bác muốn nghiên cứu sâu vào sự ứng dụng của Hoàng Cực Kinh Thế kết hợp với Tử Vi, thì Bác phải nghiên cứu đến Thiết Bản Thần Số rồi. Hiện nay VinhL củng đang tìm tòi sưu tầm sách về môn này đây.
Theo truyền thuyết, ông Thiệu Khang Tiết biết con gái mình sẻ không tài ba như mình nên lập ra Thiết Bản Thần Số để đường cùng thì có thể dùng nó để sinh sống. Vì vậy mà củng có thuyết là bí mật của Thiết Bản Thần Số chỉ truyền cho phái nử (Không biết truyền thuyết này có đúng không). Hiện nay trên thị trường mỗi môn phái mồi cách tính, không biết đâu là giả đâu là thật. Ngoài Thiết Bản Thần Số lại còn Hà Lạc Lý Số củng do ông Thiệu Khang Tiết kết hợp Bát Tự Hà Lạc với phương pháp của Thiết Bản Thần Số mà lấy các câu quyết đoán.
Nếu có chỗ nào sơ sót xin Bác cứ thẳng thắng mà chỉ giáo nhé.
Kính
Hà Uyên xin chào các Anh Chị trên diễn đàn
Hà Uyên chào VinhL
Sự đàm luận cùng bầu bạn tâm giao, bằng những ngôn ngữ hiểu nhau, có phần hơi kiêu kỳ, nó được coi như một hoạt động tinh thần tế nhị. Sự thanh đàm này, chỉ có được giữa bạn bè có cùng một nhận thức. Chữ "nhận thức" ở đây, Hà Uyên chỉ muốn nói về góc độ, khi chúng ta đọc sách Dịch Kinh, tìm hiểu về Dịch học và khi ứng dụng những kiến thức của Dịch học, vào cuộc sống thực tiễn vậy.
Thực học càng được, thì Tính càng mất đi.!
Chúng ta có thể, nên thống nhất với nhau, rằng: chúng ta đã trải qua giai đoạn "Đồng thanh tương ứng", mà hiện tại, chúng ta đang ở giai đoạn "Đồng khí tương cầu", có nghĩa là, chúng ta đang chạy maratong 42 km, không phải là đang chạy 100 mét.
Người nước lớn công nhận tên được ban là "Khang Tiết" tại đời vua Nguyên Hựu, hiện tại chúng ta đang thừa nhận tìm hiểu hệ thống học thuyết, nên gọi chính danh là: Thiệu Ung.
Chúng ta bắt đầu từ: QUY LUẬT THỜI GIAN
- Toàn thể loài người đang sử dụng thời gian: một ngày có 24 giờ, một giờ có 60 phút, một phút có 60 giây. Chúng ta tạm gọi là Dương lịch.
- Thiệu Ung khi xây dựng kết cấu cho hệ thống tính toán của mình, đã lấy "đơn vị ngày" làm đơn vị cơ sở cốt lõi, với phương pháp theo "tư duy số". Tại sao phải lưa chọn như vậy?
Khi chọn "năm" làm đơn vị để tính, thì sẽ vướng phải lịch "tiết khí", cứ 19 năm thì có 7 năm, phải tồn tại một "tháng nhuận", mâu thuẫn với nguyên tắc của "số 7", đó là 12 +7 = 19, sẽ là 19 x 360 = 3420, khi lấy đơn vị tính là "một Nguyên = một năm", thì 129600 là số không chia hết.
Khi chọn "tháng" làm đơn vị tính, thì sẽ mâu thuẫn với Nguyên lý Ngũ hành, về "Kỳ hạn biến hoá" (thời gian tới hạn) của vật chất làm đơn vị tính để tính, khi định cát - hung.
Thiệu Ung xây dựng hệ thống "tư duy số" cho cá nhân mình, Ông lấy đơn vị là "ngày" có 12 giờ, một Giờ có 30 vận, một Vận có 12 thế, một Thế có 30 Giây. Chúng ta tạm gọi là Ngày âm lịch, có nghĩa là:
- Một ngày có 129600 giây, tương đương với một Giờ có 10800 giây
- Một Giờ có 30 vận, thì một giờ có 180 phút, có nghĩa là: một Vận là 6 phút, và như vậy thì: một Thế có 30 giây
Như vậy mối quan hệ của một ngày Dương lịch là 86400 giây, so với ngày Âm lịch 129600 giây, sẽ tồn dư 129600 - 86400 = 43200 giây, tương đương với 72 phút, tương dương với 4 giờ âm lịch.
Đến đây, có thể Thiệu Ung đành phải dùng Lý học, mà không dùng "tư duy số". Tại sao lại như vậy? Vì một ngày, theo giờ phương Đông có 12 Giờ, chi phí cho thời gian bảo tồn năng lượng và tái hồi sức sống, thì loài người, chúng ta phải ngủ mất 4 Giờ, chỉ còn lại 8 giờ là thức. Do vậy, trong "Hoàng cực Kinh thế" ông đã viết: "bỏ một lấy hai, bỏ ba chọn bảy,..." (Hoàng cực kinh thế - tập 2). Có nghĩa là, trong tính toán, chia làm 3 phần, thì bỏ một phần lấy hai phần, tức là bỏ 4 lấy 8 để dụng.
Về công thức tính, chúng ta sẽ trao đổi từng phần. Theo Hà Uyên, với công thức tính toán của Thiệu Ung, thì loài người đang ở vào Tháng Bảy, ngày 12 âm lịch, giờ Mão.
Hà Uyên xin cảm ơn VinhL đã quan tâm.
....
VinhL, Thứ sáu, 22/05/2009 | 13:57
Chào Bác Hà Uyên,
Nghiên cứu lại các bài viết về 12 biến của Bác, và vấn đề tại sao Kinh Phòng khi quy nạp quẻ theo Ngũ Hành, không cho biến đến hào 6, thì VinhL suy luận là chổ quan trọng không phải là 2 quẻ động hào 6 mà là sự thiếu sót của phương pháp biến hào tiệm tiến. Nếu lấy 8 quẻ bát thuần theo phương pháp biến hào tiệm tiến thì sẻ không bao giờ biến ra được 8 quẻ Du Hồn và 8 quẻ Quy Hồn, cho nên khi biến đến hào năm thì phải quay lại biến hào 4 và kế đến là biến 3 hào dưới. Theo phương pháp biến hào tiệm tiến 6 biến sau củng chính là 6 biến đầu của quẻ đối hào, cho nên có sự lập lại. Vì vậy theo phương pháp biến hào tiệm tiến thì 8 quẻ Bát Thuần chỉ biến ra được 48 quẻ thiếu đi 16 quẻ Du Hồn và Quy Hồn.
Nếu tám quẻ thuần biến quẻ theo thứ tự quẻ đơn của Tiên Thiên Bát Quái thì sẻ biến ra đủ 64 quẻ, có lẻ vì vậy mà ông Thiệu Khang Tiết dùng phương pháp biến quẻ Tiên Thiên làm gốc, và kết hợp với cách biến hào tiệm tiến. 12 Hội thì dùng quẻ biến theo Tiên Thiên, Vận Thế thì biến theo tiệm tiến.
Về năm tháng ngày theo Nguyên Hội Vận Thế của 1916 thì theo Bác là Tháng 7 Ngày 12 Giờ Mão. Theo VinhL tính thì Hội Ngọ, Vận 12, Thế 5, Phân 16, tức là Tháng 7 Ngày 12, giờ Thìn, 16 Phút, như vậy có sai biệt 1 giờ, mong Bác giải thích cách tính của Bác để VinhL biết được chổ sai. Thành thật cám ơn.
Vài lời suy luận nếu có gì sai Bác cứ thẳng thắng chỉ điểm.
Kính
Vâng VinhL đã để lại cho Hà Uyên một nội hàm (cảm giác bên trong) thực sự phấn chấn. Sau hơn 2000 năm, người Việt nam, khi nói theo đơn vị hành chính, dân tôc Lạc Việt, khi nói theo tiến trình logic của Lịch sử, đã và đang tìm về côi nguồn của mình. Chúng ta đã đánh giá đúng về Kinh Phòng, khi ông dùng hào 1 quẻ Thuần Càn: "vật dụng", phối hợp với Ngũ hành nạp hào quẻ Dịch, thì 8 quẻ "Bát thuần", Kinh Phòng gọi là quẻ Bố - Mẹ, không tồn tại quẻ "Quỷ dịch": Du hồn và Quy hồn. Đây là một "chìa khoá" rất quan trọng đối với các môn học thuật Phương Đông. Cảm ơn, cảm ơn VinhL nhiều. Đến tại thời điểm này, theo những gì Hà Uyên được biết, Thiệu Vĩ Hoa hay những diễn đàn chính thức, chưa có những công bố về: công thức tính toán trên của Kinh Phòng. Do vậy, khi Bốc Dịch theo phương pháp của Kinh Phòng, gặp phải quẻ Quỷ Dịch, chất lượng thông tin thường gặp phải những vấn đề nghiêm trọng. Chúng ta sẽ bàn lại chủ đề này sau. Một hào của một quẻ Dịch bất kỳ, luôn luôn trải qua 12 giai đoạn tiệm tiến, theo Hà Uyên, đây là Nguyên lý cơ bản của Dịch học. Tại sao? Trải dài với thời gian hơn 5000 năm, không một ai thay đổi Quái danh, Quái tượng, ngôn ngữ của Hào từ. Một hào tiệm tiến trải qua 12 quá trình (12 quẻ dịch), nhưng ngôn ngữ của Hào 1, luôn luôn thông khí với toàn bộ các hào 1 của 11 quẻ còn lại. Đây là một "chìa khoá" cũng rất quan trọng, khi đưa ra lời giải cho những môn học thuật cao. Ví du: quẻ Sơn Lôi Di hài 1: - Hào 1 quẻ Sơn Lôi Di: "Hào Chín Đầu, người bỏ phần tốt đẹp như rùa thiêng của mình, mà nhìn ta tới trễ mép cầu ăn, có hung hiểm." - Hào 1 quẻ Sơn Trạch Tổn: "Hào Chín Đầu, hoàn thành sự nuôi dưỡng, liền mau chóng đi lên giúp người ở ngôi cao, tất không có cữu hại, nên trông trước giảm bớt tính cương cứng của bản thân" -....... Như vậy, quẻ Di có hình tượng tượng trưng là: "nuôi dưỡng", thì hào 1 quẻ Tổn tiếp lời: "hoàn thành sự nuôi dưỡng,...". Khi chúng ta thống kê toàn bộ 64 quẻ, hay 4608 sự chuyển hoá, ta sẽ thấy rất nhiều điều thú vị, đặc biệt là phương pháp tư duy "tượng số" đối với những môn học thuật cao (Tam minh). Tại một thời điểm thuộc quá khứ, khi Anh Hoàng Tuấn làm Trưởng đoàn, vào miền Nam nghiên cứu môn bấm huyệt của bà Huỳnh thị Lịch tại quận Phú Nhuận, phương pháp bấm có tên gọi: "Thập Thủ Đạo", thì Hà Uyên có trao đổi với anh Hoàng Tuấn: Hội Ngọ được tính bắt đầu từ năm 2198 Tr.CN là căn cứ vào đâu?, anh Hoàng Tuấn có trả lời rằng: lấy theo quyển: Địa Lý Ngũ quyết và quyển Địa lý mật truyền cáo tập. Về việc này, chúng ta sẽ trao đổi sau. Cảm ơn VinhL đã quan tâm.
...
VinhL, Thứ sáu, 22/05/2009 | 23:46 hỏi:
Chào Bác Hà Uyên,
Thấy Bác phấn chấn, VinhL củng phấn chấn theo. VinhL rất vui mừng có người để chia sẻ và bàn luận những khám phá trong khi nghiên cứu Dịch.
Thấy Bác nói đến học thuật cao (Tam Minh), có phải là Tam Thức theo như các sách Hán đề cập không?
Như Thái Ất, Kỳ Môn và Lục Nhâm. Thú thật VinhL củng có nghiên cứu sơ qua 3 môn này. Nếu Bác thích thú bàn thảo về 3 môn này thì VinhL củng rất vui mừng hồi ứng.
Trong các bài viết của Bác về sự thông khí, không thấy đề cập về Lục Khí (Ngũ Vận Lục Khí).
Theo sự suy luận của VinhL, nguồn gốc của các hào thế ứng trong kinh Dịch củng chính là dựa vào Lục Khí.
Tại sao hào sơ lại ứng tam, hào nhị ứng ngũ, vv..... mà không phải là sơ ứng lục hay ứng các hào khác.
Khi nạp chi cho các hào, quẻ Càn nạp Tý Dần Thìn, Ngọ Thân Tuất, Tý đối Ngo, Dần đối Thân, Thìn đối Tuất.
Theo Khách Khí của thuyết Ngũ Vận Lục Khí, các năm Tý Ngọ thì khí Dương Minh tại tuyền ứng với khí Thiếu Âm tại thiên. Năm Dần Thân, thì khí Quyết Âm tại tuyền ứng với Thiếu Dương tại Thiên., vv....
Lục Khí, Tam Âm ứng với Tam Dương, Sơ với Tam ứng nhau, Nhị với Tứ ứng nhau, và Tam với Lục ứng nhau.
Trong các sách về Dịch và Lý Số, không hiểu tại sao không có sách nào bàn đến Ngũ Vận Lục Khí, trong khi đó nó là lý thuyết vô cùng quan trọng trong môn Y học Đông Phương. Có phải bí mật của sự tương quan của Ngũ Vận Lục Khí trong Dịch và các môn lý số đã bị thất truyền??? Chỉ có môn Thái Ất là có đề cập và sự ứng dụng tới thuyết này.
Có gì thiếu sót, sai lầm mong Bác chỉ điểm.
Kính
Chào VinhL Trên diễn đàn này, chúng ta đã dùng Đạo "hối minh", thì "minh" ấy càng được sáng tỏ. VinhL và Hà Uyên khởi đầu giao lưu từ ngày 10/5/2009, bắt đầu từ Mai Hoa Dịch số, đến ngày 22/5/2009, thì VinhL đã Thấy được Bốc Dịch, do học thuyết của Kinh Phòng xây dựng nên, mà ngày hôm nay người Phương Đông đang ứng dụng nó một cách phổ biến, những căn nguyên mà VinhL đã tìm hiểu ra, sự không đồng bộ trong hệ thống tính toán của Kinh Phòng, sự thiếu chặt chẽ trong học thuyết mang tính ngiêm trọng, nó ảnh hưởng tới tính chính xác và độ tin cậy của thông tin rất nhiều. Cho phép Hà Uyên nghĩ thế này: kể từ ngày 10/5/09, cộng thêm với 196 ngày nữa, VinhL sẽ ở vào một tư thế mới. Dương khí có xu hướng đang tiệm tiến chuyển dịch vào bên trong con người của VinhL "nén chặt". Khi Dương khí co rút vào càng nhiều, càng lớn, càng mạnh, thì sự giãn nở ra càng lớn. Giới hạn giữa sự hiểu biết và không hiểu biết, là chu vi phát triển ngày càng lan rộng. Hà Uyên tin như vậy. Cũng như Hà Uyên đã trao đổi với Liêm Trinh, người thứ 5 giao lưu với Hà Uyên là anh Thiên Sứ. Vì rằng, VinhL đã quyết định đúng, khi nói Thiệu Ung dùng phương pháp biến quẻ Tiên thiên làm gốc. Có điều này, Hà Uyên cũng nghiêm túc muốn trao đổi với VinhL. Khi tiến tới một giới hạn cho phép, thì chúng ta phải đối mặt với sự hiểm nguy. Người nước lớn không bao giờ muốn dân tộc chúng ta có người tài giỏi cả đâu. Đặc biệt là những môn học thuật này. Lịch sử đã cho chúng ta biết như vậy. Đến tận ngày hôm nay, sự hiểm nguy còn lan rộng hơn. Vấn đề này hết sức nhậy cảm và tế nhị.! Thiệu Ung khi xây dựng hệ thống kết cấu cho học thuyết của mình, không thể để "thời gian" trôi tuột đi được. Do vậy, Hà Uyên đã trao đổi với VinhL giữa học thuyết tính toán của Thiệu Ung, so sánh với thời gian thực, đã ẩn giấu một "chìa khoá". Từ xưa đến nay, dù chúng ta có dùng "100 khắc", hay gọi là "miễu", thì thời gian vẫn không thay đổi. Một ngày gồm 86400 giây là đơn vị tính cơ sở, khi thêm đơn vị tính cơ sở của Thiệu Ung là 4320 (43200), thì chúng ta hiểu: tai sao Thiệu Ung dùng 129600 làm đơn vị để tính. Từ ngày 10/3/2008 khai trương diễn đàn Lyhocdongphuong, cho tới ngày hôm nay 23/5/2009, số ngày đã trải qua là 439 ngày. Chúng ta đang ở Hạ nguyên, vậy thì từ Giáp Tý sau đông chí Thượng nguyên, đến ngày hôm nay là bao nhiêu ngày? Thiệu Ung có nghĩ như vậy Không? Tại sao chúng ta lại lệ thuộc vào sự quy định khởi đầu của Hội Ngọ, vào những năm TR.CN như vậy?
....
"Trong các bài viết của Bác về sự thông khí, không thấy đề cập về Lục Khí (Ngũ Vận Lục Khí).
Theo sự suy luận của VinhL, nguồn gốc của các hào thế ứng trong kinh Dịch củng chính là dựa vào Lục Khí.
Tại sao hào sơ lại ứng tam, hào nhị ứng ngũ, vv..... mà không phải là sơ ứng lục hay ứng các hào khác."
Đất chựu Trời thì chấp thuận 5 vận (chế)
Trời chựu Đất thì chấp thuận 6 khí (tiết)
Đối ngoại thì có 4 phương, cùng với Trung tâm mà sinh ra "khí" - "động"
Đối nội thì có bởi 8 cực. Khi tĩnh thì hướng tâm, xu hướng phát triển theo "vỹ". Khi động thì ly tâm, xu hướng phát triển theo "kinh".
Cửu cung: khi số Trung tâm là số "chẵn", thì số ở 4 góc là số "lẻ". Số nhập Trung cung là số "lẻ", thì số của 4 góc là số "chẵn". Sao Thuỷ chuyển 4 độ thì trái đất chuyển 1 độ.
Năm 1999: Chính của Dương minh thuộc về kỷ của Mão - Dậu: Dương minh - Thiếu giác - Thiếu âm thanh nhiệt, thắng phục đồng, giống, chính, thương. Đinh Mão tuế hội - Đinh Dậu vận ấy là thanh nhiệt. Thiếu giác sơ chinh, thiếu cung, thái dương, thiếu vũ cuối.Chính của Dương minh chỉ năm Dương minh táo kim Tư thiên.
Kỷ Mão - 1999: vận Thổ bất cập, Khí Tư thiên là Dương minh táo kim, khí tại tuyền là Thiếu âm quân hoả. Tố vấn di biên - Thiên luật pháp: Kỷ Mão: sao Lâu, hành Kim ở phương Tây, trộm cướp Thái quá, giao thông bế tắc. Sao Kim - Hoả có ảnh hưởng nhiều tới trái đất.
Ngày 3/10/1999, Làng văn hoá các dân tộc Viết nam động thổ tại Đồng Mô - Sơn tây. Bản tính Dự báo Thời tiết năm 1999 đã được gửi từ đầu năm, ghi rõ: ngày 3/10/1999 là ngày Giông tố. Chủ khí Dương minh táo kim, gió Tây và Tây Bắc hanh khô (21/9 - 21/11). Khách khí Quyết âm phong mộc, xuân lệnh nghịch lại lưu hành. Khí gió thiên thắng. Khí hậu lạnh không lạnh được. Thực tiễn ngày 3/10/1999 đã xẩy ra giông tố.
Đây là một đóng góp mang tính thực tiễn mà Hà Uyên đã làm. Chỉ tiếc rằng, tại thời điểm đó lãnh đạo vẫn chọn ngày 3/10 làm ngày động thổ với số vốn đầu tư 70 triệu us.
...
VinhL,.. hỏi:
Chào Bác Hà Uyên,
Khi nghiên cứu Hoàng Cực Kinh Thế, thì có hai số mà được lập đi lập lại đó chính là số 12 và 30. Toàn bộ Nguyên Hội Vận Thế Niên Nguyệt Nhật Thì Phân Miễu (Giờ Phút Giây) điều dùng 12 và 30 xen kẻ lẫn nhau.
Nguyên = 12 Hội
1 Hội = 30 Vận
1 Vận = 12 Thế
1 Thế = 30 Niên
1 Niên = 12 Nguyệt
1 Nguyệt = 30 Nhật
1 Nhật = 12 Giờ
1 Giờ = 30 Phút
1 Phút = 12 Giây.
Phút và Giây đây không phải là đơn vị Phút và Giây chúng ta đang dùng hiện tại mà là đơn vị thời gian do ông Thiệu Ung phân chia theo phương pháp 12, và 30 xen kẻ.
Trong Hoàng Cực Kinh Thế có đề cặp đến Niên (Tuế) Nguyên, Nguyệt Hội, Nhật (Tinh) Vận, Thìn (Thời) Thế. Từ đó ta thấy Nguyên Hội Vận Thế Niên, Niên Nguyệt Nhật Thời Phân, tương quan với nhau vì tính ra thì đều là 12x30x12x30 = 129600. Khi coi Nhật là Nguyên, thì Bác phải chia Giờ ra thành Vận, Thế rồi đến Giây tức là Nhật, Thời, Vận, Thế, Giây, thì đơn vị Phút đã không còn tuân theo luật 12, 30 của Hoàng Cực Kinh Thế nữa.
Theo VinhL nghĩ, đễ khỏi vướng phải “tháng nhuận”, cho nên ông Thiệu Ung đã dùng Nguyệt theo Tiết Khí, tức một tháng là 2 tiết khí, tháng Tý bắt đầu ở tiết Đông Chí. Một năm lúc nào củng có 24 tiết khí, vì tiết khí căn cứ vào vòng hoàng đạo 360 độ (Sun Longtitude), mồi tiết khí là 15 độ. Luật nhuận được dùng khi tính tháng theo chu kỳ mặt trăng. Mùng 1 âm lịch thì lúc nào củng phải đúng vào ngày trăng mới (New Moon), nên có năm lại có tới 13 lần trăng mới nên phải đặt nhuận.
Cũng vì vậy khi ông Thiệu Ung đề cặp đến Tuế (Niên), 1 Niên = 12 Nguyệt x 30 Nhật = 360 Ngày, ở đây có thể hiểu là 360 độ của vòng hoàng đạo. 1 độ là 1 ngày. Như vậy muốn chính xác 100% thì chúng ta phải dùng đến công thức của Thiên Văn Học để tính ra các đơn vị Nguyệt, Nhật, Thời, vv...
VinhL có đọc qua phần Thiên Môn Địa Hộ của Bác, theo như vậy, trong Kỳ Môn Quý Nhân Đăng Thiên Môn tức là khi sao Bắc Đẩu (Khôi hay Âm Quý tức Tứ Mộ Khu Toàn Cơ Quyền, củng là Tham Cự Lộc Văn, Việt hay Dương Qúy tức Tam Quang Tiêu Dao Du củng là Liêm Vũ Phá ) ở vào khu vực Khuê Bích.
Nhân đây nhắc đến Kỳ Môn, không biết Bác có ý kiến gì về sự khác biệt giữa các môn Bát Trạch, Huyền Không Phi Tinh, Phép Tôn trong Thái Ất, và Kỳ Môn Độn Giáp. Ngoại trừ Bát Trạch, thì 3 môn kia đều bày bố Bắc Đẩu Thất Tinh theo phương pháp khác nhau.
Huyền Không thì cho sao phi vào cung trung, Kỳ Môn thì theo tiết khí và Lục Nghi mà bày bố, Thái Ất Phép Tôn không chú trọng đến tiết khí. Trong 3 môn thì chỉ có Kỳ Môn Độn Giáp là coi trọng việc Siêu Thần Tiếp Khí để lập Cục. Theo như sách của ông Thẩm Trúc Nhưng, thì nhờ mượn đọc được tác phẩm “Âm Dương Nhị Trạch Lục Nghiệm” của Trương Trọng Sơn thêm vào nhiều năm nghiên cứu mà biết được phương pháp sao nhập trung cung. So sánh giữa 2 phương pháp bày bố cửu tinh, thì VinhL thấy sao nhập trung cung thiếu sự hợp lý với các hiện tượng thiên văn. Phương pháp của Kỳ Môn thì có vẽ hợp lý hơn. Có khi nào ông Thẩm Trúc Nhưng thấy sao vào cung giữa mà cứ nghỉ đó là phương pháp, mà thật ra cửu tinh phải bày bố theo Kỳ Môn Độn Giáp lấy Cục của tiết khí mà khởi Lục Giáp theo đường lường thiên xích (Tiên Thiên Bát Quái Nạp Số Thái Huyền) mà an bày 9 sao. Không biết nếu dùng cách an sao của Kỳ Môn áp dụng vào Huyền Không có thích hợp hơn không?. Theo VinhL biết trong quyển La Kinh Thấu Giải có nói đến phương pháp ứng dụng Kỳ Môn và trùng quái để tìm 24 ngôi châu bảo thấu địa long.
Vài lời lạm bàn nếu có sai sót mong Bác chỉ điểm.
Kính
Hà Uyên chào VinhL Tại thời gian của Thiệu Ung, lịch Đại diễn vẫn đang được sử dụng. Năm 721 (CN) Tăng Nhất Hành phung chiếu, sáng tác Lịch mới được gọi là lịch Đại diễn. Thực chất sáng tác của lịch Đại diễn này, là bê y nguyên thuyết Quái khí của Mạnh Hỷ vào lịch pháp của Tăng Nhất Hành. Hà Uyên nghĩ Thiệu Ung vẫn phải sử dụng hệ thống lịch Đại diễn này. Ví dụ: Tháng Dần - hội thứ ba, hào 6 - 3 trở về trước quẻ Phong, cùng với quẻ Ký tế, Gia nhân chủ khí Vũ thuỷ. Hào 9 -4 quẻ Phong trở về sau, cùng với quẻ Cách, và quẻ Đồng nhân chủ khi Kinh trập. Do vậy, số 129600 sẽ không chia hết cho 2520. VinhL tham khảo thêm
..
THUYẾT QUÁI KHÍ CỦA TĂNG NHẤT HÀNH VỚI LỊCH ĐẠI DIỄN
Năm Khai Nguyên thứ 9 triều Đường (721 CN), Tăng Nhất Hành phụng chiếu, sáng tác Lịch mới. Nhất hành dựa vào thuật suy diễn các con số để diễn giải Lịch mới. Năm Khai Nguyên thứ 17 (729CN), Lịch mới đã được ban hành, được gọi là Lịch Đại diễn. Song, số liệu Thiên văn và phương pháp giải thích của Nhất Hành còn thiếu độ chính xác. Tại thời điểm đó, đã được kiểm tra lại, thì Lịch Đại diễn đạt độ chính xác 70% - 80%.
Ảnh hưởng từ Dịch - Hệ từ, ông nói: “Trời bắt đầu từ 1, Đất bắt đầu từ 2. Hợp hai số đầu này lại thì thành “cương – nhu”. Số cuối của Trời là 9, số cuối của Đất là 10, hợp hai số cuối lại để ghi số dư. Số giữa của Trời là 5, số giữa của đất là 6, hợp hai số giữa này để thông luật Lịch”. Hệ từ: “Trời số 5, Đất số 5, năm vị trí đều thành, và các vị trí có sự hoà hợp khác nhau, nên mới có biến hoá của Quỷ thần”. Từ đây, ông đã suy ra phép thông 3040 trong Lịch pháp đại diễn.
3040 là nhật pháp, phương pháp tính ngày, tương tương trong Lịch chia 4 cổ, và 81 trong Lịch Thái sơ. Song, trong lịch Đại diễn, tất cả ngày, tháng, và chu kỳ vận động của 5 hành tinh lớn, đều được biểu thì bằng phân số, có mẫu số chung là 3040. Ví như 3040 = 19 x 160, trong đó 19 là biểu thị 19 năm tăng thêm 7 tháng nhuận, được gọi là “Chương pháp”, các nhà làm Lịch gọi là “thông pháp” (nghĩa như chương pháp cũ).
Theo Tăng Nhất Hành, 19 của chương pháp cũ, là sự phối hợp hai số cuối (9&10) của Trời - Đất để tính. Ông cho rằng: “Phu số tượng vi vu tam, tứ, nhi chương vu thất, bát”. Nghĩa là nói: 3 và 4 là “vi”, còn 7 và 8 là “chương”.
Ông lại nói: “Tự ngũ dĩ giáng, vi ngũ hành sinh số, tự lục dĩ vãng, vi ngũ tài thành sinh số”. Sinh số là 1, 2, 3, 4, 5, thành số là 6, 7, 8, 9, 10. Tổng của sinh số là 15, tổng của thành số là 40. Khi 15 x 40 = 40 x 15 = 600. Tổng thành số nhân với tổng sinh số gọi là “tích thiên trung”, đều có tích là 600.
Tích của Thiên trung và Địa trung, nghìn có 200 (tức là 1200). Gấp 4 thành hệ số hào là 300. Đem 10 vi nhân với 2 chương, thì có tích là 3000. Đem 5 tài nhân với 8 tượng, thì được 2 vi, hoặc được tích là 40. Tích của chương nhân vi, là mẫu số của khí số. đây chính là nguồn gốc của 3040.
Nhất Hành còn sáng tạo thuận Hô - Hấp kết hợp với lịch Đại diễn, đây chính là tìm cách tiếp cận quái khí, đem 64 quẻ đối chiếu với 72 hậu, đồng thời đưa Ngũ hành vào cuộc.
Dịch vốn là “Khí”, về sau mới rõ Dịch còn nói về con người và sự vật. Chứng tỏ thuyết Quái khí của Nhất Hành là bê y nguyên thuyết Quái khí của Mạnh Hỷ.
Đầu tiên là lịch Chính Quang thời Bắc Nguỵ. Phương pháp của nó là, trước tiên suy ra 4 quẻ chính, tức là cầu ngày Đông chí là ngày quẻ Khảm vào cuộc, ngày Xuân phân là ngày quẻ Chấn tham gia, ngày Hạ chí là ngày quẻ Ly hành sự, ngày Thu phân là ngày quẻ Đoài hành sự. Sau đó, thông qua ngày Đông chí, hoặc ngày quẻ Khảm vào cuộc, để cầu quẻ Trung phu. Từ đây, tiếp tục cầu các quẻ khác.
Suy diễn 72 hậu, ví như ngày Đông chí bắt đầu nhập vào Hậu, mỗi một tiết khí tương ứng với 3 đốt hậu. Song, trng thuật hô hấp và lịch Đại diễn áp dụng, trước tiên lập một số liệu cơ bản, tức là: chuỗi 5 của thiên trung (thiên số 1, 3, 5, 7, 9), chuỗi 6 của địa trung (địa số 2, 4, 6, 8, 10), chuỗi của 3 chinh hối, (quẻ xấu). Cầu 72 hậu: “các nhân trung, tiết mệnh chi, đắc sơ hậu”. Ý nói là, căn cứ vào Trung khí và Tiết khí định được tên gọi của 3 hậu. Trước tiên từ Trung khí được: Sơ hậu, thêm chuỗi (5 ngày) của thiên trung được Thứ hậu, tiếp tục thêm, thì được Mạt hậu. “Nhân trung khí mệnh chi, đắc công quái dụng sự”, tức là quẻ Công quái bắt nguồn từ Trung khí. Luỹ tiến (tăng dần theo cấp số cộng) của địa trung, thì được quẻ tiếp theo.. Giả sử đem chuỗi 3 của “trinh hối”, cộng với quẻ Hầu, thì được đầu của 12 tiết, là quái thể ngoài vào cuộc (tức là thể trên của quẻ hầu)
...
Hà Uyên chào VinhL.
Tất cả các môn học thuật mà chúng ta đã và đang quan tâm, đều phải thông qua đơn vị "thời gian", đó là Lịch pháp. Đặt vào bối cảnh Lịch sử của các môn học thuật này khi ra đời, được truyền bá và ảnh hưởng rông rãi trong dân gian, thì vấn đề Lịch pháp, theo Hà Uyên, chiếm 50% giá trị thông tin, còn mức độ tính toán học thuật là phần còn lại cộng với kinh nghiệm bản thân của mỗi người.
Trước triều Hán, lịch pháp được dùng là “Cổ tứ phân lịch” (lịch chia bốn). Đến đời Hán, gọi là “Tứ phân lịch”. Cơ sở của lịch đời Hán là căn cứ vào sự giãn cách thời gian của mặt Trời hai lần liên tục, thông qua thời điểm Đông chí. Mãi sau này mới chọn thời điểm giãn cách hai lần liên tục của mặt Trời thông qua điểm Lập Xuân. Tức là trái Đất quay xung quanh mặt Trời một vòng, lấy điểm Lập Xuân làm mốc khởi, để tính lịch.
Như vậy, từ ngày Đông chí tới trước quẻ Khôn đợi lệnh, khi tới ngày Đông chí, một dương được sinh ra thành quẻ Phục đối ứng với tháng 11 Thiên chính Tý, tháng 12 Địa chính Sửu là quẻ Lâm, tháng Giêng Nhân chính Dần là quẻ Thái. Đối với Lịch pháp hiện nay chúng ta đang sử dụng, thì lại lấy điểm Lập xuân để khởi Lịch pháp. Hà Uyên cũng tự hình thành cho mình một loại Lịch pháp quái khí riêng, để trong quá trình tính toán áp dụng, thấy tính thực tiễn thông tin khác rất nhiều so với khi chúng ta sử dụng Lịch hiện hành.
Có thể Hà Uyên đánh giá chưa hết, nhưng rõ ràng, Kinh Phòng và Thiệu Ung đều phải sử dụng lịch Thái sơ làm kết cấu khung khi xây dựng học thuyết cho mình.
Hà Uyên chỉ muốn đặt chúng ta vào bối cảnh cách đây hàng ngàn năm, thì sự định hướng trong tư duy sẽ có những thay đổi nhất định. Vấn đề ở chỗ là đi tìm mức độ chính xác của thông tin, khi chúng ta sử dụng các môn học thuật liên thông với quy luật thời gian Lịch pháp. Công thức tính toán thì căn cứ vào Lịch pháp Quái khí, khi xác lập thông tin ngày hôm nay thì lại căn cứ theo Lịch pháp hiện hành.
VinhL tham khảo thêm.
...
VinhL đã viết
"Thưa Bác Hạ Uyên đó là diễn quái theo sự hiểu biết của VinhL khi nghiên cứu Hoàng Cực Kinh Thế."
Hà Uyên kiến thức sư phạm không có, từ trước cho tới nay, bằng sự yêu thích mang tính cá nhân của mình, vậy thôi. Sự yêu thích khởi đầu của Hà Uyên bắt đầu như sau:
---------------------------------------------------------------
G. Tý - Â.Sửu - B.Dần - Đ.Mão - M.Thìn
1 -------2 ----3 ----- 4 ------ 5 ------ ==> Sinh
---------------------------------------------------------------
KTị - C.Ngọ - T.Mùi - N.Thân - Q.Dậu
6 ---- 7 ----- 8 ---- 9 ----- 10 ------ ==> Thành
---------------------------------------------------------------
G.Tuất - A.Hợi - B.Tý - Đ.Sửu - M.Dần
11 ------ 12 ---- 13 --- 14 ---- 15 ------ ==> Sinh
----------------------------------------------------------------
K.Mão - C.Thìn - T.Tị - N.Ngọ - Q.Mùi
16 ----- 17 ----- 18 ----- 19 ----- 20 ==> Thành
----------------------------------------------------------------
G.Thân - A.Dậu - B.Tuất - Đ.Hợi - M.Tý
21 ----- 22 ------ 23 ------ 24 ----- 25 ----- ==> Sinh
----------------------------------------------------------------
K.Sửu - C.Dần - T.Mao - N.Thìn - Q.Tị
26 ----- 27 ----- 28 ---- 29 ----- 30 ------- ==> Thành
------------------------------------------------------------------
G.Ngọ - A.Mùi - B.Thân - Đ.Dậu - M.Tuất
31 ------ 32 ------ 33 ----- 34 ------ 35 -------- ==> Sinh
------------------------------------------------------------------
K.Hợi - C.Tý - T.Sửu - N.Dần - Q.Mão
36 ----- 37 ----- 38 ----- 39 ----- 40 -------- ==> Thành
-------------------------------------------------------------------
G.Thìn - A.Tị - B.Ngọ - Đ.Mùi - M.Thân
41 ---- 42 ---- 43 ----44 ----- 45 ------ ==> Sinh
--------------------------------------------------------------------
K.Dậu - C.Tuất - T.Hợi - N.Tý - Q.Sửu
46 ----- 47 ----48 ----- 49 ----- 50 ------- ==> Thành
--------------------------------------------------------------------
G.Dần - A.Mão - B.Thìn - Đ.Tị - M.Ngọ
51 ---- 52 ----- 53 ---- 54 ----- 55 ------ ==> Sinh
--------------------------------------------------------------------
K.Mùi - C.Thân - T.Dậu - N.Tuất - Q.Hợi
56 ------ 57 ---- 58 ----- 59 ---- 60 ----- = => Thành
Giáp - Kỷ phối ứng cặp số đồng đẳng 1 - 6, Ất - Canh phối ứng với cặp số đồng đẳng 2 - 7, Bính - Tân phối ứng với 3 - 8. Đinh - Nhâm phối ứng với 4 - 9, Mậu Quý phối ứng với 5 - 10
Khi ta coi 60 là một đơn vị tính, thì 60 - 3 = 57 là hệ số can chi Canh Thân, là mốc thời gian để tính trước CN và sau CN. Nhất âm nhất dương = 60 + 60 = 120 - 3 = 117. Trước Công nguyên thì trứ đi 117, sau Công nguyên thì cộng thêm với 117, thì thời gian tính sẽ chia hết cho 360 (117 hay 110 là số tính tương thông với Thái ất)
(8 x 60) - 3 = 477 - 177 = 360 ==> 129600/360 = 360
(14 x 60) - 3 = 837 - 117 = 720 ==> 129600/720 = 180
(20 x 60) - 3 = 1197 - 117 = 1080 ==> 129600/1080 = 120
(26 x 60) - 3 = 1557 - 117 = 1440 ==> 129600/1440 = 90
(32 x 60) - 3 = 1917 - 117 = 1800 ==> 129600/1800 = 72
(38 x 60) - 3 = 2277 - 117 = 2160 ==> 129600/2160 = 60
(44 x 60) - 3 = 2637 - 117 = 2520 ==> 129600/2520 = 51 dư 1080.
+ Bính Tân 3 - 8 hợp: Liên Bang Xô viết "tụ" năm 1916 can "Bính-, năm 1991 can Tân -thì "tán," đến năm Bính Dần 1984 lại xẩy ra sự cố nhà máy điện nguyên tử,....
VinhL tham khảo thêm
...
VinhL,.., hỏi:
Chào Bác Hà Uyên,
Thành thật cám ơn Bác đã cung cấp nhiều thông tin về Lịch Pháp cổ. Sách về Lịch Pháp cổ thì VinhL không có nên về vấn đề này thì mù tịt. Với kiến thức uyên bác về Lịch Pháp, không biết Bác có ý kiền gì về phương pháp Siêu Thần Tiếp Khí của Kỳ Môn trong việc tính nhuận?
Thưa Bác hai con số 57 và 117 này đúng là có liên quan đến con số 10153917 của Thái Ất.
10153917 / 60 dư 57, 10153917 / 360 dư 117. Con số 10153917 này có thể dùng để tính ra Can Chi của tứ trụ năm tháng ngày giờ bằng dương lịch không cần phải dùng đến âm lịch.
Sẳn đây Bác đề cập đến cái Hợp của Thiên Can, VinhL có một nghi vấn mong Bác có thể giải thíc cho.
Thiên Can có 10, chia 2 thì được 5 cặp, 1 với 6, 2 với 7, 3 với 8, 4 với 9, 5 với 10. Mỗi cặp đều có ngũ hành tương khắc nhưng không gọi là Xung, mà tại sao lại gọi là Hợp?
Địa Chi có 12, chia 2 thì được 6 cặp, 1 với 7, 2 với 8, 3 với 9, 4 với 10, 5 với 11, 6 với 12 tức Tý Ngọ, Sửu Mùi, vv... ngũ hành của mỗi cặp củng đều là tuơng khắc nhưng lại không được gọi là Hợp, mà tại sao lại gọi là Xung?
Thành Thật Cám Ơn Bác.
Kính
Hà Uyên chào VinhL VinhL có thể tham khảo sách: DI SẢN HAN NÔM VIỆT NAM - Thư mục đề yếu - Bổ di 1 - 2 - 3 - Quyển thượng, hạ. Tìm phần "Cổ chỉ". Chuyên đề về Mai hoa chúng ta có thể tạm dừng ở đây được không VinhL? Cảm ơn VinhL đã dành thời gian và quan tâm. Hà Uyên.
Minh An, on Oct 17 2009, 10:12 PM, said:
Cháu nghĩ nó là 1 mẹo hỗ trợ trong việc xác định thời gian ứng nghiệm.Cháu còn thiếu kinh nghiệm nên mong các bậc tiền bối kiểm nghiệm.
Không biến dịch thì không sinh ra cái mới, vậy thì tại sao lại tính 2 lần 1 quẻ không động?
Chào Minh An.
Một quẻ Dịch luôn có 7 hào. Hào thứ Bảy luôn ẩn, mà không được nhắc tới, được gọi là Thần tàng, hay là Quy viêm, hay được gọi là Quy tàng. Tại sao lại được cấu tạo như vậy?
Từ hào Một cho tới hào Sáu, luôn có một hào động, được gọi là hào Chủ, đồng thời với hào Bảy, là hào Quy tàng, cũng luôn luôn động. Như vậy, một quẻ Dịch sẽ có 2 động 5 tĩnh. Kinh Dịch gọi mối quan hệ này là "Hàm tam vi nhất" (5 - 2 = 3 Một Tĩnh ba Động, một chân Tĩnh, chân còn lại và hai tay Động => đạp một đội chín, đạp một đội ba,...,). Đây là nguyên lý: một tĩnh thì có ba động, hai Tĩnh thì có sáu Động, ba Tĩnh thì có chín Động,..., => bỏ một dùng ba (360 thì chỉ dùng 270) => bỏ hai dùng sáu (bố mẹ thân lùi mà sáu con tiến, hai lùi sáu tiến) => bỏ ba dùng chín (12 địa chi thì dùng 9, chỉ dùng từ Trường Sinh tới Mộ, bỏ không dùng Tuyệt, Thai, Dưỡng)
Trong 5 hào tĩnh này, dùng để phản ánh mối quan hệ với 2 hào động. Trong hai hào động này, thì một hào là Quy tàng (Thần tàng), còn một Hào động là hào làm Chủ. Hai Động một Tĩnh, Âm một Dương hai, một tối hai sáng, là để tìm hiểu về xu hướng phát triển của vạn vật trong thế giới Tự nhiên của Người xưa.
Chào Anh Chị Em
Chủ đề: "Cùng nhau học Dịch", được gợi mở khi anh Dichnhan đặt vấn đề: "Người đời học Dịch". Cũng mong Anh Chị em nhìn từ nhiều góc độ với sách Kinh Dịch, chúng ta cùng bình giải và bình luận khi học Dịch.
- Anh Dichnhan viết:
Hiện tại tôi đang soạn 2 tập tài liệu Kinh Dịch Tự Điển và Giải Mã Hào Từ nên mất rất nhiều thời gian suy nghĩ cho chúng. Nhưng may sao nhờ có chương V của Tâm Pháp nên đã bớt đi được phần nào khó khăn, giống như có chiếc la bàn chỉ hướng vậy.
Tôi vừa mới giải lại hào 1 quẻ Quải, mời Bác cùng nghiệm xét:
Sơ Cửu: “Nhanh chóng một cách xằng bậy thì sớm dừng lại, đi chẳng hơn được, gây nên lỗi.”
- Hà Uyên viết:
Quá trình nhận thức cá nhân, thường tôi phân: giải Dịch theo trường phái - hoặc giải Dịch theo "thuyết". Có nghĩa rằng, giải Dịch theo "thuyết", thường tự xây dựng một học thuyết riêng, mang tính độc lập. Đối với giải Dịch theo trường phái, thường lấy căn cứ theo Âm Dương chọn nghĩa, tam tài chọn tượng.
Hướng tư duy cá nhân tôi, đang thăm dò hướng tới kết cấu khung, trong tổng thể 384 hào, để khảo chứng tìm về nguyên nghĩa của ý nghĩa hào từ, trên nguyên tắc: phải mang tính liên tục, tính hệ thống lôgíc của hào từ, sau đó mới xét tới không gian Quái danh, sau tiếp mới xét tới thời điểm Quái vị.
Cụ thể:
1. Kinh viết: "Quải, Sơ Cửu, tráng vu tiền chỉ, vãng bất thắng vi cữu"
- Dịch: Hào Chín Đầu, mạnh ở ngón chân trước, mạo hiểm tiến lên phía trước tất không thể thủ thắng, ngược lại sẽ dẫn tới cưu hại.
2. Anh Dichnhan giải Dịch: “Nhanh chóng một cách xằng bậy thì sớm dừng lại, đi chẳng hơn được, gây nên lỗi.”
Tôi bình giải theo kết cấu khung:
1. Tính liên tục hào từ: tìm nguyên nhân: trước hào Sơ quẻ Quải, là hào Sơ quẻ Hàm
- Hàm, Sơ Lục, hàm kỳ mẫu.
- Dịch: Hào Sáu Đầu, giao cảm ở ngón chân cái.
2. Tính hệ thống: tìm xu hướng từ quẻ "đối" và quẻ "đảo", sau đó mới giải thích được tại sao lại " tráng vu tiền chỉ".
Mong anh chị em cùng tham gia bình giải khi học Dịch
Hà Uyên.
...
Khi giải Dịch theo trường phái tam tài Thiên - Địa - Nhân, trong chu kỳ 1864 - 2043, thì đối với "tài" của Thiên, chúng ta đang ngồi Hào 6 quẻ Sơn Thiên Đại súc, lời hào 6 quẻ Đại súc viết:
Hà thiên chi cù, hanh.
Tượng quẻ Sơn Thiên Đại súc

Hỏi rằng:
- Trước hào 6 quẻ Sơn Thiên Đại súc, là hào thứ mấy và thuộc quẻ nào đây?
- Sau hào 6 quẻ Sơn Thiên Đại súc, là hào thứ mấy và thuộc quẻ nào?
Dịch im lặng, không trả lời.
- Phải chăng, "sau" hào 6 quẻ Đại súc, là hào 1 quẻ Địa Phong Thăng. Rồi tiếp đến hào 2 quẻ Địa Sơn Khiêm.

- Phải chăng, "trước" hào 6 quẻ Sơn Thiên Đại súc, là hào 5 quẻ Thủy Thiên Nhu. Lại trước hào 5 quẻ Nhu, là hào 4 quẻ Lôi Thiên Đại tráng.

Dịch vẫn im lặng.
Vấn đề này, khi chú giải về "Kinh", thật là mông lung về tính liên tục của Hào từ. Vì đã gọi là "Kinh", thì phải là một hệ thống lôgíc chặt chẽ và hoàn chỉnh.
Có thể đây vẫn là một khoảng trống, mà Dịch Kinh chưa đề cập tới. Hay, cũng có thể đã hình thành một hệ thống phương pháp luận về: tính liên tục của hào từ, mà ta chưa biết tới. Hoặc cũng là sự tồn nghi của cá nhân tôi, con người lại đòi hỏi về "tri thiên" thật mơ hồ.
Vậy thì câu: "sổ vãng giả thuận, tri lai giả nghịch" chúng ta nên hiểu như thế nào đây.
...
VinhL, on May 27 2010, 12:08 PM, said:
Kính Bác Hà Uyên,
Thấy bác hỏi về tính liên tục của các hào, và quái, trong đầu lại nghỉ đến âm thanh.
Các lần sóng trong âm thanh và trị số của Hào là giống nhau, sau bác không tìm câu trả lời trong âm thanh. Âm thanh vút cao rồi chìm xuống, ngân nga chuyển qua các sóng, thật tự nhiên, dịch tự nhiên củng thế.
Một ý kiến thoáng qua trong đầu, nếu không hợp lý mong bác bỏ qua nhé.
Kính
Thân mến, chào VinhL
Cảm ơn VinhL đặt vấn đề, đưa ra một hướng kiến giải, tôi sẽ dành thời gian tìm hiểu sâu thêm về góc độ: "Các tần sóng âm thanh và trị số hào giống nhau".
Tôi đặt vấn đề về tính thống nhất và tuần tự liên tục của hào từ. Nguyên nhân nào đã quyết định "chí" hướng chỉ đạo "phương" hướng, mà buộc Người và vạn vật tất phải "vãng - lai", trong nguyên nghĩa của Hào từ (?). Điều gì lấy làm căn cứ, để dựa vào của Hào từ (?).
VinhL có thể gợi mở, đặt vấn đề từ nhiều góc độ, để cùng anh chị em tham gia kiến giải từng bước, tôi cũng hiểu rằng, cái trừu tượng thường gợi mở cho chúng ta một phương hướng nào đó, rồi dần hướng tới quy luật chung của sự vật.
Hà Uyên.
..
dichnhan07, on May 31 2010, 05:40 PM, said:
Tôi nghĩ những câu hỏi của Bác không quan trọng bằng việc là câu trả lời sẽ giúp giải quyết vấn đề gì? Có thể cách nghiên cứu đặt vấn đề của tôi không giống mọi người, có gì bác bỏ qua cho.
Chào anh Dichnhan
Cảm ơn anh có ý kiến về cách diễn ngữ của bài viết, tôi sẽ rút kinh nghiệm.
Tôi cũng đang nghĩ về bộ khung dàn bài, nên bắt đầu học Dịch từ đâu: nói về "Kinh" thì là những quy luật thường hằng bất biến, không thay đổi. Còn đối với "Dịch": thì sự ảnh hưởng của yếu tố Lịch sử, từ quá trình hình thành sách Dịch, các học phái chú giải, kết hợp với Học thuyết Tam Huyền của Hình nhi thượng, hoặc Học thuyết Tam giáo,...v.v...
- Ví như, chú giải về quẻ Càn, thì sách: Liệt Tử Dịch chú (NXB Thượng Hải cổ tịch - 1986), có viết:
"Thiên hữu thời, Địa hữu lợi", làm căn cứ cho điều kiện tự nhiên khách quan đối với: "Nhân hữu hòa".
Nhưng sách Dịch Vỹ chú về Dịch viết: "Bẩm sinh thụ số, ký hữu chế chi giả hĩ, diệc hữu tri chi giả hỹ, tri mệnh kỳ như nhữ hà" (Bẩm sinh thụ số, thì đã chế định rồi, cũng đã biết, biết mệnh để làm gì).
- Lại như, trong sách Chu Dịch, khi chúng ta đọc và nghiên cứu, cũng thấy sự ảnh hưởng của Nho giáo độc tôn, mà "Dịch truyện" đã định rõ rằng:
"Hình nhi thượng giả, đạo dã".
Vậy mà, đối với tôn chỉ của Đạo giáo, khẳng định đề xuất, tại "Hệ từ" viết:
"Nhất âm nhất dương chi vị đạo".
Như vậy, giữa "Dịch truyện" và "Hệ từ", ta thấy rất rõ sự ảnh hưởng bản chất "Học thuyết", của hai trường phái vào sách Dịch đã rất sâu rộng, mang theo ẩn nghĩa đặc trưng của từng Học thuyết, từng trường phái.
Mong được anh Dịchnhan luôn quan tâm, gợi mở, định hướng khi chúng ta cùng nhau học Dịch.
Hà Uyên.
...
Thi Quy là cơ sở để Dịch Kinh dựa vào mà hình thành nên sự "chu lưu". Chúng ta khảo sát về con số 49 trong sách Dịch, khi ta đã biết được 1 = 13, tiếp theo là tìm hiểu tại sao lại biết được:
1 = 49
Có nghĩa rằng: Giáp Tý = Nhâm Tý
Sự khởi nguồn nguyên nhân hình thành về TUẦN KHÔNG - Số "trùng lưu", hay là số "trùng hư".
...
Tìm hiểu mối quan hệ giữa Hệ thống 60 Can Chi với Dịch Kinh. Đây là phần kiến thức ít thấy sách vở bàn tới. Trọng tâm tìm hiểu là trường phái Tam huyền đời nhà Hán.
Nhà Đại Dịch học Trịnh Huyền đã công bố về "HÀO THẦN ĐỒ", chúng ta bắt đầu khảo chứng từ bảng LỤC THẬP TỨ QUÁI DANH sau:
乾宫八卦属金
Càn cung bát quái thuộc kim 乾为天
Càn Vi Thiên 天风姤
Thiên Phong Cấu 天山遁
Thiên Sơn Độn 天地否
Thiên Địa Bỉ 风地观
Phong Địa Quán 山地剥
Sơn Địa Bác 火地晋
Hỏa Địa Tấn 火天大有
Hỏa Thiên Dại Hữu
坎宫八卦属水
Khảm cung bát quái thuộc thủy 坎为水
Khảm Vi Thủy 水泽节
Thủy Trạch Tiết 水雷屯
Thủy Lôi Truân 水火既济
Thủy Hỏa Ký Tế 泽火革
Trạch Hỏa Cách 雷火丰
Lôi Hỏa Phong 地火明夷
Địa Hỏa Minh Di 地水师
Địa Thủy Sư
艮宫八卦属土
Cấn cung bát quái thuộc thổ 艮为山
Cấn Vi Sơn 山火贲
Sơn Hỏa Bí 山天大畜
Sơn Thiên Đại Súc 山泽损
Sơn Trạch Tổn 火泽睽 Hỏa Trạch Khuê 天 泽履
Thiên Trạch Lý 风泽中孚
Phong Trạch Trung Phu 风山渐
Phong Sơn Tiệm
震 宫八卦属木
Chấn cung bát quái thuộc mộc 震为雷
Chấn Vi Lôi 雷地豫
Lôi Địa Dự 雷 水解
Lôi Thủy Giải 雷风恒
Lôi Phong Hằng 地风升
Địa Phong Thăng 水风井
Thủy Phong Tỉnh 泽风大过
Trạch Phong Đại Quá 泽雷随
Trạch Lôi Tùy
巽宫八卦属木
Tốn cung bát quái thuộc mộc 巽为风
Tốn Vi Phong 风天小畜
Phong Thiên Tiểu Súc 风火家人
Phong Hỏa Gia Nhân 风雷益
Phong Lôi Ích 天雷无妄
Thiên Lôi Vô Vọng 火雷噬嗑
Hỏa Lôi Phệ Hạp 山雷颐
Sơn Lôi Di 山 风蛊
Sơn Phong Cổ
离宫八卦属火
Ly cung bát quái thuộc hỏa 离为火
Ly Vi Hỏa 火 山旅
Hỏa Sơn Lữ 火风鼎
Hỏa Phong Đỉnh 火水未济
Hỏa Thủy vị Tế 山水蒙
Sơn Thủy Mông 风水涣
Phong Thủy Hoán 天水讼
Thiên Thủy Tụng 天火同人
Thiên Hỏa Đồng Nhân
坤宫八卦属土
Khôn cung bát quái thuộc thổ 坤为地
Khôn Vi Địa 地雷复
Địa Lôi Phục 地泽临
Địa Trạch Lâm 地天泰
Địa Thiên Thái 雷天大壮
Lôi Thiên Đại Tráng 泽天夬
Trạch Thiên Quải 水天需
Thủy Thiên Nhu 水地比
Thủy Địa Tỉ
兑宫八卦属金
Đoái cung bát quái thuộc kim 兑为泽
Đoài Vi Trạch 泽水困
Trạch Thủy Khốn 泽地萃
Trạch Địa Tụy 泽山咸
Trạch Sơn Hàm 水山蹇
Thủy Sơn Kiển 地山谦
Địa Sơn Khiêm 雷山小过
Lôi Sơn Tiểu Quá 雷泽归妹
Lôi Trạch Quy Muội
Từ bảng LỤC THẬP TỨ QUÁI DANH, chúng ta lần lượt xắp xếp Can Chi theo hệ thống, khởi đầu từ Giáp Tý, để xác định HÀO THẦN phối hợp với 60 Can Chi:
1. Giáp Tý – hào 1
2. Ất Sửu – hào 4
3. Bính Dần – hào 6
4. Đinh Mão – hào 2
5. Mậu Thìn – hào 2
6. Kỷ Tị - hào 6
7. Canh Ngọ - hào 4
8. Tân Mùi – hào 4
9. Nhâm Thân – hào 5
10. Quý Dậu – hào 6
11. Giáp Tuất – hào 6
12. Ất Hợi – hào 5
13. Bính Tý – hào 5
14. Đinh Sửu – hào 3
15. Mậu Dần – hào 1
16. Kỷ Mão – hào 1
17. Canh Thìn – hào 3
18. Tân Tị - hào 5
19. Nhâm Ngọ - hào 4
20. Quý Mùi – hào 1
21. Giáp Thân – hào 5
22. Ất Dậu – hào 6
23. Bính Tuất – hào 4
24. Đinh Hợi – hào 4
25. Mậu Tý – hào 6
26. Kỷ Sửu – hào 2
27. Canh Dần – hào 2
28. Tân Mão – hào 6
29. Nhâm Thìn – hào 3
30. Quý Tị - hào 2
31. Giáp Ngọ - hào 4
32. Ất Mùi – hào 1
33. Bính Thân – hào 3
34. Đinh Dậu – hào 5
35. Mậu Tuất – hào 5
36. Kỷ Hợi – hào 3
37. Canh Tý – hào 1
38. Tân Sửu – hào 1
39. Nhâm Dần – hào 2
40. Quý Mão – hào 3
41. Giáp Thìn – hào 3
42. Ất Tị - hào 2
43. Bính Ngọ - hào
44. Đinh Mùi – hào 6
45. Mậu Thân – hào 4
46. Kỷ Dậu – hào 4
47. Canh Tuất – hào 6
48. Tân Hợi – hào 2
49. Nhâm Tý – hào 1
50. Quý Sửu – hào 4
51. Giáp Dần – hào 2
52. Ất Mão – hào 3
53. Bính Thìn – hào 1
54. Đinh Tị - hào 1
55. Mậu Ngọ - hào 3
56. Kỷ Mùi – hào 5
57. Canh Thân – hào 5
58. Tân Dậu – hào 3
59. Nhâm Tuất – hào 6
60. Quý Hợi – hào 5
Hoa Giáp Phối Hào
1. Can Giáp: Càn - Cấu - Độn – Bĩ – Quan – Bác - Tấn - Đại hữu
- Giáp Tý hào 1
- Giáp Tuất hào 6
- Giáp Thân hào 5
- Giáp Ngọ hào 4
- Giáp Thìn hào 3
- Giáp Dần hào 2
2. Can Ất: Khôn - Phục – Lâm – Thái - Đại tráng - Quải – Nhu - Tỷ
- Ất Sửu hào 4
- Ất Hợi hào 5
- Ất Dậu hào 6
- Ất Mùi hào 1
- Ất Tị hào 2
- Ất Mão hào 3
3. Can Bính: Cấn – Bí - Đại súc - Tổn – Khuê – Lý – Trung phu - Tiệm
- Bính Dần hào 6
- Bính Tý hào 5
- Bính Tuất hào 4
- Bính Thân hào 3
- Bính Ngọ hào 2
- Bính thìn hào 1
4. Can Đinh: Đoài - Khốn - Tụy – Hàm - Kiển – Khiêm - Tiểu quá – Q.Muội
- Đinh Mão hào 2
- Đinh Sửu hào 3
- Đinh Hợi hào 4
- Đinh Dậu hào 5
- Đinh Mùi hào 6
- Đinh Tị hào 1
5. Can Mậu: Khảm - Tiết – Truân – Ký tế - Cách – Phong – M.di
- Mậu Thìn hào 2
- Mậu Dần hào 1
- Mậu Tý hào 6
- Mậu Tuất hào 5
- Mậu Thân hào 4
- Mậu Ngọ hào 3
6. Can Kỷ: Ly - Lữ - Đỉnh - Vị tế - Mông – Hoán - Tụng - Đồng nhân.
- Kỷ Tị hào 6
- Kỷ Mão hào 1
- Kỷ Sửu hào 2
- Kỷ Hợi hào 3
- Kỷ Dậu hào 4
- Kỷ Mùi hào 5
7. Can Canh: Chấn - Dự - Giải - Hằng – Thăng - Tỉnh - Đại quá – Tùy
- Canh Ngọ hào 4
- Canh Thìn hào 3
- Canh Dần hào 2
- Canh Tý hào 1
- Canh Tuất hào 6
- Canh Thân hào 5
8. Can Tân: Tốn - Tiểu súc – Gia nhân – Ích – Vô vọng - Phệ hạp - Di - Cổ
- Tân Mùi hào 4
- Tân Tị hào 5
- Tân Mão hào 6
- Tân Sửu hào 1
- Tân Hợi hào 2
- Tân Dậu hào 3
9. Can Nhâm: Càn - Cấu - Độn – Bĩ – Quan – Bác - Tấn - Đại hữu
- Nhâm Thân hào 5
- Nhâm Ngọ hào 4
- Nhâm Thìn hào 3
- Nhâm Dần hào 2
- Nhâm Tý hào 1
- Nhâm Tuất hào 6
10. Can Quý: Khôn - Phục – Lâm – Thái - Đại tráng - Quải – Nhu - Tỷ.
- Quý Dậu hào 6
- Quý Mùi hào 1
- Quý Tị hào 2
- Quý Mão hào 3
- Quý Sửu hào 4
- Quý Hợi hào 5
VÒNG 8
....................ĐỒNG NHÂN
...........CỔ.........................TỶ
...TUỲ...............+...............QUY MUỘI
..........TIỆM.....................ĐẠI HỮU
......................MINH DI
VÒNG 8
1. Giáp Tý - Hỏa Thiên Đại hữu, hào 1 (1 ~ 49)
- “Sơ Cửu, vô giao hại, phỉ cữu ; gian tắc vô cữu”.
- “Chín Đầu, chưa đi lại giao du thì chưa mắc họa, tự nhiên thì không có cữu hại, nhưng tất phải nhớ là cần cẩn thận như lúc gặp gian nan, như vậy thì mới không gặp cữu hại”.
- Tượng “Đại hữu Sơ Cửu, vô giao hại dã” – Chín Đầu nếu không giao du đi lại với ai, thì cũng không mắc phải họa hại. Thân tuy ở cuộc “đại hữu”, nếu giữ cho sự ăn ở của mình được yên ổn, không lạm “giao” với vật, thì có thể vô hại.
2. Ất Sửu - Thủy Địa Tỷ, hào 4 (2 ~ 50)
- “Lục Tứ, ngoại tỷ chi, trinh cát”.
- “Sáu Bốn, ở ngoài thân mật với đáng quân chủ, giữ vững chính bền thì được tốt lành”.
3. Bính Dần – Phong Sơn Tiệm, hào 6
- “Thượng Cửu, hồng tiệm vu lục, kỳ vũ khả dụng vi nghi, cát”.
- “Chín Trên, chim đại nhạn bay từ từ lên núi cao, lông vũ của nó có thể làm đồ trang sức đẹp tinh khiết, tốt lành”.
4. Đinh Mão – Lôi Trạch Quy muội, hào 2
- “Cửu Nhị, diểu năng thị, lợi u nhân chi trinh”.
- “Chín Hai, chột mà cố gắng nhìn được, lợi về giữ vững chính bền của bậc u tĩnh điềm đạm”.
5. Mậu Thìn - Địa Thủy Sư, hào 2
- “Cửu Nhị, tại sư, trung cát, vô cựu ; vương tam tính mệnh”.
- “Chín Hai, thống xuất quân đội, giữ đúng mức không thiên lệch sẽ được tốt lành, tất không bị cữu hại, nhà vua nhiều (ba) lần ban thưởng, giao cho trọng trách”.
6. Kỷ Tị - Thiên Hỏa Đồng nhân, hào 6
- “Thượng Cửu, đồng nhân vu giao, vô hối”.
- “Chín Trên, hòa đồng với mọi người ở nơi giao ngoại xa xôi, chưa có được kẻ chí đồng cũng không hối hận”.
7. Canh Ngọ - Trạch Lôi Tùy, hào 4
- “Cửu Tứ, tùy hữu hoạch, trinh hung ; hữu phu tại đạo, dĩ minh, hà cữu!”.
- “Chín Bốn, được người theo, thu hoạch được nhiều, giữ vững chính bền để phòng hung hiểm ; chỉ cần giữ lòng thành tín, hợp chính đạo, sáng suốt trong sự lập thân, như vậy thì làm sao có cữu hại được”.
8. Tân Mùi – Sơn Phong Cổ, hào 4
- “Lục Tứ, dụ phụ chi cổ, vãng kiến lận”.
- Sáu Bốn, dùng dằng không trị sự tệ loạn của cha, nếu cứ như vậy mãi thì tất sẽ hối tiếc”.
9. Nhâm Thân - Hỏa Thiên Đại hữu, hào 5 (9 ~ 21)
- “Lục Ngũ, quyết phu giao như, uy như, cát”.
- “Sáu Năm, lấy đức thành tín để giao tiếp với người trên kẻ dưới, biết tỏ rõ uy nghiêm, tốt lành”.
10. Quý Dậu - Thủy Địa Tỷ, hào 6 (10 ~ 22)
- “Thượng Lục, tỷ chi vô thủ, hung”.
- “Sáu Trên, thân mật gần gũi với người mà lại không tiên phong dẫn đầu, có hung hiểm”.
11. Giáp Tuất - Hỏa Thiên Đại hữu, hào 6 (11 ~ 59)
- “Thượng Cửu, tự nhiên hựu chi, cát vô bất lợi”.
- “Chín Trên, sự giúp đỡ từ trên trời rơi xuống, tốt lành, không có gì là không lợi”.
12. Ất Hợi - Thủy địa Tỷ, hào 5 (12 ~ 60)
- “Cửu Ngũ, hiển tỷ ; vương dụng tam khu, thất tiền cầm, ấp nhân bất giới, cát”.
- “Chín Năm, thân mật gần gũi một cách vô tư ; khi đấng quân vương đi săn thì bổ vậy ba mặt, lưới chỉ giăng một mặt, mặc cho các cầm thú ở phía trước đi thoát, các kẻ thuộc hạ là người trong ấp cũng chẳng phòng vệ hộ, tốt lành”.
13. Bính Tý – Phong Sơn Tiệm, hào 5
- “Cửu Ngũ, hồng tiệm vu lăng, phụ tam tuế bất dựng ; chung mạc chi thắng, cát”.
- “Chín Năm, chim đại nhạn bay từ từ lên gò cao, (giống như chồng đi xa), vợ ba năm không có mang ; (nhưng vợ chồng tất sẽ được xum họp) kẻ khác cuối cùng không thể xâm phạm ngăn trở mà thủ thắng, tốt lành”.
14. Đinh Sửu – Lôi Trạch Quy muội, hào 3
- “Lục Tam, quy muội dĩ tu, phản quy dĩ đệ”.
- “Sáu Ba, người con gái sau khi lấy chồng mỏi cổ mong được thành vợ cả, nên quay về đợi thời, làm vợ lẽ”.
15. Mậu Dần - Địa Thủy Sư, hào 1
- “Sơ Lục, sư xuất dĩ luật, phủ tang hung”.
- “Sáu Đầu, quân đội khi xuất quân thì phải dùng quân luật, hiệu lệnh để ước thúc, quân kỷ không khéo tất có hung hiểm”.
16. Kỷ Mão – Thiên Hỏa Đồng nhân, hào 1
- “Sơ Cửu, đồng nhân vu môn, vô cữu”.
- “Chín Đầu, vừa ra khỏi cửa mà đã có thể hòa đồng ngay với người, tất vô cữu hại”.
17. Canh Thìn - Trạch Lôi Tùy, hào 3
- “Lục Tam, hệ trượng phu, thất tiểu tử ; tùy hữu cầu đắc, lợi cư trinh”.
- “Sáu Ba, quấn quýt với đấng trượng phu dương cứng, mất kẻ tiểu tử ở dưới, theo với người mà ta đã cầu tất được, lợi nếu như ở yên, giữ vững chính bền”.
18. Tân Tị - Sơn Phong Cổ, hào 5
- “Lục Ngũ, cán phụ chi cổ, dụng dự”.
- “Sáu Năm, vì uốn nắn sự tệ loạn của cha mà được tiếng khen”.
19. Nhâm Ngọ - Hỏa Thiên Đại hữu, hào 4 (19 ~ 31)
- “Cửu Tứ, phỉ kỳ bàng, vô cữu”.
- “Chín Bốn, đừng để tỏ ra sự quá giầu có thì không cữu hại”.
20. Quý Mùi - Thủy Địa Tỷ, hào 1 (20 ~ 32)
- “Sơ Lục, hữu phu tỷ chi, vô cữu ; hữu phu doanh phẫu, chung lai hữu tha, cát”.
- “Sáu Đầu, trong lòng thành tín, thân mật gần gũi với bậc quân chủ thì không gặp cữu hại ; sự thành tín của bậc quân chủ như riệu ngon đựng đầy hũ, cuối cùng khiến cho kẻ ở xa đều đến quy phục mà hưởng sự vỗ về ở tận các miền khác, tốt lành”.
21. Giáp Thân - Hỏa Thiên Đại hữu, hào 5 (21 ~ 9)
- “Lục Ngũ, quyết phu giao như, uy như, cát”.
- “Sáu Năm, lấy đức thành tín để giao tiếp với người trên kẻ dưới, biết tỏ rõ uy nghiêm, tốt lành”.
22. Ất Dậu - Thủy Địa Tỷ, hào 6 (22 ~ 10)
- “Thượng Lục, tỷ chi vô thủ, hung”.
- “Sáu Trên, thân mật gần gũi với người mà lại không tiên phong dẫn đầu, có hung hiểm”.
23. Bính Tuất – Phong Sơn Tiệm, hào 4
- “Lục Tứ, hồng tiệm vu mộc, hoặc đắc kỳ dốc, vô cữu”.
- “Sáu Bốn, chim đại nhạn bay từ từ lên cây cao, may mà tìm được cành bằng đậu thoải mái, không bị cữu hại”.
24. Đinh Hợi – Lôi Trạch Quy muội, hào 4
- “Cửu Tứ, quy muội khiên kỳ, trì quy hữu thời”
- “Chín Bốn, người con gái đi lấy chồng bị lỡ thì con gái, dềnh dàng chưa lấy chồng, yên đợi thời cơ”.
25. Mậu Tý - Địa Thủy Sư, hào 6
- “Thượng Lục, đại quân hữu mệnh, khai quốc thừa gia, tiểu nhân vật dụng”.
- “Sáu Trên, thiên tử ban phát mệnh lệnh, phong thưởng cho các công thần, là chư hầu, là đại phu ; còn kẻ tiểu nhân thì không thể trọng dụng”.
26. Kỷ Sửu – Thiên Hỏa Đồng nhân, hào 2
- “Lục Nhị, đồng nhân vu tông, lận”.
- “Sáu Hai, hòa đồng với mọi người trong họ, có sự đáng tiếc”.
27. Canh Dần - Trạch Lôi Tùy, hào 2
- “Lục Nhị, hệ tiểu tử, thất trượng phu”.
- “Sáu Hai, quấn quýt theo kẻ tiểu tử, mất đấng trượng phu dương cứng”.
28. Tân Mão – Sơn Phong Cổ, hào 6
- “Thượng Cửu, bất sự vương hầu, cao thượng kỳ sự”
- “Chín Trên, không làm sự nghiệp của bậc vương hầu, đề cao hành vi ung dung tự tại của mình”.
29. Nhâm Thìn - Hỏa Thiên Đại hữu, hào 3 (29 ~ 41)
- “Cửu Tam, công dụng hưởng vu thiên tử, tiểu nhân phất khắc”.
- “Chín Ba, bậc vương công dâng lễ cho thiên tử để tỏ lòng tôn kính, kẻ tiểu nhân không thể đảm đương được việc lớn như vậy”.
30. Quý Tị - Thủy Địa Tỷ, hào 2 (30 ~ 42)
- “Lục Nhị, tỷ chi tự nội, trinh cát”
- “Sáu Hai, từ bên trong thân mật gần gũi với đấng quân chủ, giữ vững chính bền sẽ được tốt lành”.
31. Giáp Ngọ - Hỏa Thiên Đại hữu, hào 4 (31 ~ 19)
- “Cửu Tứ, phỉ kỳ bàng, vô cữu”.
- “Chín Bốn, đừng để tỏ ra sự quá giầu có thì không cữu hại”.
32. Ất Mùi - Thủy Địa Tỷ, hào 1 (32 ~ 20)
- “Sơ Lục, hữu phu tỷ chi, vô cữu ; hữu phu doanh phẫu, chung lai hữu tha, cát”.
- “Sáu Đầu, trong lòng thành tín, thân mật gần gũi với bậc quân chủ thì không gặp cữu hại ; sự thành tín của bậc quân chủ như riệu ngon đựng đầy hũ, cuối cùng khiến cho kẻ ở xa đều đến quy phục mà hưởng sự vỗ về ở tận các miền khác, tốt lành”.
33. Bính Thân – Phong Sơn Tiệm, hào 3
- “Cửu Tam, hồng tiệm vu lục, phu chinh bất phục, phụ dựng bất dục, hung ; lợi ngư khấu”.
- “Chín Ba, chin đại nhạn bay từ từ đến ngọn núi nhỏ, giống như người chồng đi xa, một đi không trở về, người vợ không giữ được trinh chính, có mang để con không nuôi, có hung hiểm ; (nếu có thể giữ chính, dụng cương, thì) lợi về sự chống trả giặc mạnh.
34. Đinh Dậu – Lôi Trạch Quy muội, hào 5
- “Lục Ngũ, Đế Ất quy muội, kỳ quân chi duệ, bất như kỳ đệ chi duệ lương ; nguyệt cơ vọng, cát”.
- “Sáu Năm, Đế Ất cho em gái về nhà chồng, y phục của người vợ chính không đẹp bằng y phục của cô vợ lẽ ; (đức hạnh rất cao, ví như) trăng đến ngày sắp tròn mà chưa đầy, tốt lành.
35. Mậu Tuất - Địa Thủy Sư, hào 5
- “Lục Ngũ, điền hữu cầm, lợi chấp ngôn, vô cữu ; trưởng tử suất sư, đệ tử dư thi, trinh hung”.
- “Sáu Năm, trong ruộng có cầm thú, lợi về sự vậy bắt, tất không có gì cữu hại ; ủy nghiệm cho bậc trưởng giả cương chính, thì có thể thống suất quân đội, còn ủy nhiệm cho bọn người trẻ tuổi không có đức thì tất phải trở xác, đại bại mà về, giữ vững chính bền để phòng hung hiểm”.
36. Kỷ Hợi – Thiên Hỏa Đồng nhân, hào 3
- “Cửu Tam, phục nhung vu mãng, thăng kỳ cao lăng, tam tuế bất hưng”
- “Chín Ba, phục binh giữa nơi rừng rậm, thỉnh thoảng lên gò cao trông ngóng, qua ba năm cũng không dám dấy binh giao chiến”.
37. Canh Tý - Trạch Lôi Tùy, hào 1
- “Sơ Cửu, quan hữu du, trinh cát ; xuất môn giao hữu công”.
- “Chín Đầu, có quan niệm tư tưởng giữ vững chính bền, thì sẽ được tốt lành ; ra cửa kết bạn với người, tất sẽ thành công”.
38. Tân Sửu – Sơn Phong Cổ, hào 1
- “Sơ Lục, cán phụ chi cổ, hữu tử khảo, vô cữu, lệ chung cát”.
- “Sáu Đầu, uốn nắn sự tệ loạn của cha, người con có thể nối được nghiệp tổ tiên, tất không có cữu hại, tuy có thể nguy hiểm nhưng cuối cùng tất được tốt lành”.
39. Nhâm Dần - Hỏa Thiên Đại hữu, hào 2 (39 ~ 51)
- “Cửu Nhị, đại xa dĩ tái, hữu du vãng, vô cữu”.
- “Chín Hai, dùng xe lớn chở của cải, đi chỗ nào cũng được, tất không cữu hại”.
40. Quý Mão - Thủy Địa Tỷ, hào 3 (40 ~ 52)
- “Lục Tam, tỷ chi phỉ nhân”.
- “Sáu Ba, thân mật gần gũi với người có hành vi không đứng đắn”.
41. Giáp Thìn - Hỏa Thiên Đại hữu, hào 3 (41 ~ 29)
- “Cửu Tam, công dụng hưởng vu thiên tử, tiểu nhân phất khắc”.
- “Chín Ba, bậc vương công dâng lễ cho thiên tử để tỏ lòng tôn kính, kẻ tiểu nhân không thể đảm đương được việc lớn như vậy”.
42. Ất Tị - Thủy Địa Tỷ, hào 2 (42 ~ 30)
- “Lục Nhị, tỷ chi tự nội, trinh cát”
- “Sáu Hai, từ bên trong thân mật gần gũi với đấng quân chủ, giữ vững chính bền sẽ được tốt lành”.
43. Bính Ngọ - Phong Sơn Tiệm, hào 2
- “Lục Nhị, hồng tiệm vu bàn, ẩm thực hãn hãn, cát”.
- “Sáu Hai, chim đại nhạn bay từ từ đến bên phiến đá lớn, ăn uống thảnh thơi vui vẻ, tốt lành”.
44. Đinh Mùi – Lôi Trạch Quy muội, hào 6
- “Thượng Lục, nữ thừa khuông, vô thực ; sỹ khuê dương, vô huyết, vô du lợi”.
- “Sáu Trên, người con gái tay xách giỏ tre, không có gì ở trong ; người con trai cầm dao giết dê, không thấy máu: (vợ chồng làm lễ không thành), không có gì lợi”.
45. Mậu Thân - Địa Thủy Sư, hào 4
- “Lục Tứ, sư tả thứ, vô cữu”.
- “Sáu Bốn, quân lui về, tạm giữ thế thủ thì tránh được cữu hại”.
46. Kỷ Dậu – Thiên Hỏa Đồng nhân, hào 4
- “Cửu Tứ, thừa kỳ dung, phất khắc công, cát”.
- “Chín Bốn, cưỡi lên tường thành rồi lại lui không dám tiến công, tốt lành”.
47. Canh Tuất - Trạch Lôi Tùy, hào 6
- “Thượng Lục, câu hệ chi, nãi tùng, duy chi ; vương dụng hưởng vu tây sơn”.
- “Sáu Trên, bắt giam, cưỡng bức phải theo, theo mà ràng chặt lấy ; đấng quân vương xuất quân thảo nghịch đặt tế lễ ở non tây”.
48. Tân Hợi - Sơn Phong Cổ, hào 2
- “Cửu Nhị, cán mẫu chi cổ, bất khả trinh”.
- “Chín Hai, uốn nắn sự tệ loạn của mẹ, khi tình thế khó tiến hành thì không thể gượng làm được, mà phải giữ vững chính bền để đợi thời”.
49. Nhâm Tý - Hỏa Thiên Đại hữu, hào 1 (49 ~ 1)
- “Sơ Cửu, vô giao hại, phỉ cữu ; gian tắc vô cữu”.
- “Chín Đầu, chưa đi lại giao du thì chưa mắc họa, tự nhiên thì không có cữu hại, nhưng tất phải nhớ là cần cẩn thận như lúc gặp gian nan, như vậy thì mới không gặp cữu hại”.
50. Quý Sửu - Thủy Địa Tỷ, hào 4 (50 ~ 2)
- “Lục Tứ, ngoại tỷ chi, trinh cát”.
- “Sáu Bốn, ở ngoài thân mật gần gũi với đấng quân chủ, giữ vững chính bền thì được sự tốt lành”.
51. Giáp Dần – Hỏa Thiên Đại hữu, hào 2 (51 ~ 39)
- “Cửu Nhị, đại xa dĩ tái, hữu du vãng, vô cữu”.
- “Chín Hai, dùng xe lớn chở của cải, đi chỗ nào cũng được, tất không cữu hại”.
52. Ất Mão - Thủy Địa Tỷ, hào 3 (52 ~ 40)
- “Lục Tam, tỷ chi phỉ nhân”.
- “Sáu Ba, thân mật gần gũi với người có hành vi không đứng đắn”.
53. Bính Thìn – Phong Sơn Tiệm, hào 1
- “Sơ Lục, hồng tiệm vu can ; tiểu tử lệ, hữu ngôn, vô cữu”.
- “Sáu Đầu, chim nhạn bay dần đến bên bờ nước (không được an toàn) ; giống như trẻ nhỏ gặp lúc nguy hiểm, bị trách mắng, nhưng nếu có thể tiến dần không vội thì tránh được cữu hại”.
54. Đinh Tị - Lôi Trạch Quy muội, hào 1
- “Sơ Cửu, quy muội dĩ đệ, phả năng lý, chinh cát”.
- “Chín Đầu, người con gái về nhà chồng làm vợ lẽ, chân thọt mà cố gắng đi được, tiến lên thì được tốt lành”.
55. Mậu Ngọ - Địa Thủy Sư, hào 3
- “Lục Tam, sư hoặc dư thi, hung”
- “Sáu Ba, quân chốc chốc phải chở xác về, có hung hiểm”.
56. Kỷ Mùi – Thiên Hỏa Đồng nhân, hào 5
- “Cửu Ngũ, đồng nhân, tiên hào đào, nhi hậu tiếu, đại sư khắc tương ngộ”.
- “Chín Năm, hòa đồng với người, trước thì khóc lóc kêu rên, sau thì vui mừng cười reo, đánh lớn rồi báo tiệp, chí đồng rồi tương ngộ hội hợp”.
57. Canh Thân - Trạch Lôi Tùy, hào 5
- “Cửu Ngũ, phu vu gia, cát”.
- “Chín Năm, tỏ rõ lòng thành tín với kẻ thiện, tốt lành”.
58. Tân Dậu – Sơn Phong Cổ, hào 3
- “Cửu Tam, cán phụ chi cổ, tiểu hữu hối, vô đại cữu”.
- “Chín Ba, uốn nắn điều tệ loạn của cha, hơi có hối hận, nhưng không có cữu hại lớn”.
59. Nhâm Tuất - Hỏa Thiên Đại hữu, hào 6 (59 ~ 11)
- “Thượng Cửu, tự nhiên hựu chi, cát vô bất lợi”.
- “Chín Trên, sự giúp đỡ từ trên trời rơi xuống, tốt lành, không có gì là không lợi”.
60. Quý Hợi - Thủy Địa Tỷ, hào 5 (60 ~ 12)
- “Cửu Ngũ, hiển tỷ ; vương dụng tam khu, thất tiền cầm, ấp nhân bất giới, cát”.
- “Chín Năm, thân mật gần gũi một cách vô tư ; khi đấng quân vương đi săn thì bổ vậy ba mặt, lưới chỉ giăng một mặt, mặc cho các cầm thú ở phía trước đi thoát, các kẻ thuộc hạ là người trong ấp cũng chẳng phòng vệ hộ, tốt lành”.
Vòng 8, với sự khởi đầu là ngày Giáp Tý, cho chúng ta nhận thức được một hàm nghĩa rất rõ ràng: "nếu không giao du đi lại với ai, thì cũng không mắc phải họa hại".
Đạo lý hay thật!!!
...
VÒNG 7
..........................Nam
..........................TỤNG
...........DI............................NHU
...ĐẠI QUÁ...............+...............TIỂU QUÁ
........TRUNG PHU.....................TẤN
...........................MINH DI
.............................Bắc
VÒNG 6
...........................HOÁN
........PHỆ HẠP.........................QUẢI
...TỈNH.....................+.................KHIÊM
..........LÝ...................................BÁC
...........................PHONG
VÒNG 5
.............................MÔNG
......VÔ VỌNG.......................ĐẠI TRÁNG
...THĂNG.....................+...................KIỂN
........KHUÊ...................................QUAN
...........................CÁCH
VÒNG 4
...........................VỊ TẾ
........ÍCH.............................THÁI
...HẰNG.....................+...............HÀM
..........TỔN...................................BĨ
...........................KÝ TẾ
VÒNG 3
...........................ĐỈNH
........GIA NHÂN.........................LÂM
...GIẢI.....................+.................TỤY
........ĐẠI SÚC......................ĐỘN
..........................TRUÂN
VÒNG 2
...........................LỮ
........TIỂU SÚC.........................PHỤC
...DỰ.....................+....................KHỐN
..........BÍ..................................CẤU
...........................TIẾT
VÒNG 1
...........................LY
........TỐN.............................KHÔN
...CHẤN.....................+..............ĐOÀI
.........CẤN.............................CÀN
...........................KHẢM
Khảo sát ngày Giáp Tý phối hợp với Hào từ quẻ Dịch, thông qua 8 vòng
Giáp Tý
1. Ngày Giáp Tý vòng 1: Càn hào 1
- “Sơ Cửu, tiềm long vật dụng”.
- “Hào Chín Đầu, rồng lớn ẩn mình dưới nước, tạm thời chưa thi thố được tài năng”.
2. Ngày Giáp Tý vòng 2: Cấu hào 1
- “Sơ Lục, hệ vu kim nê, trinh cát ; hữu du vãng, kiến hung, luy thỉ phu trịch trục.”
- “Sáu Đầu, chặn ngay nó lại bằng cái “phanh” nhạy, cứng chắc, giữ vững chính bền thì được tốt lành ; nếu vội đi lên thì tất nhiên sẽ có hung hiểm, giống như lợn cái nhảy nhót lung tung không thể ở yên.”
3. Ngày Giáp Tý vòng 3: Độn hào 1
- “Sơ lục, độn vỹ ; lệ, vật dụng hữu du vãng”
- “Hào Sáu Đầu, trốn tránh không kịp mà lại rơi vào phần đuôi, có nguy hiểm, không nên có sự đi”.
4. Ngày Giáp Tý vòng 4: Bĩ hào 1
- “Sơ Lục, bạt mao nhự, dĩ kỳ vựng ; trinh cát, hanh”.
- “Sáu Đầu, nhổ cỏ mao, cả đám rễ cùng theo lên, thế là cùng loại thì tụ tập nhau mà ra ; giữ vững chính bền thì được tốt lành, hanh thông”.
5. Ngày Giáp Tý vòng 5: Quán hào 1
- “Sơ Lục, đồng quán, tiểu nhân vô cữu, quân tử lận.”
- “Sáu Đầu, như trẻ nhỏ ngẩng trông cảnh vật, tiểu nhân không nguy hại gì, quân tử tất có hối tiếc.”
6. Ngày Giáp Tý vòng 6: Bác hào 1
- “Sơ Lục, bác sàng dĩ túc, miệt ; trinh hung.”
- “Sáu Đầu, làm sập giường trước tiên phải đẽo từ chân, chân giường tất sẽ gãy gục, giữ vững chính bền để phòng hung hiểm.”
7. Ngày Giáp Tý vòng 7: Tấn hào 1
- “Sơ Lục, tấn như tồi như, trinh cát ; võng phu, dụ vô cữu.”
- “Sáu Đầu, sự tiến thịnh khởi đầu đã bị ghìm lui chắn lại, giữ chính thì được tốt lành ; hãy tạm ung dung đợi thời thì không gặp cữu hại”.
8. Ngày Giáp Tý vòng 8: Đại hữu hào 1
- “Sơ Cửu, vô giao hại, phỉ cữu ; gian tắc vô cữu”.
- “Chín Đầu, chưa đi lại giao du thì chưa mắc họa, tự nhiên thì không có cữu hại, nhưng tất phải nhớ là cần cẩn thận như lúc gặp gian nan, như vậy thì mới không gặp cữu hại”.
Xét thấy ngày Giáp Tý thông qua 8 vòng mà sao lời Hào từ lại nói "vật dụng" khởi đầu ở Vòng 1, mà tới cùng là Vòng 8 nói "chưa đi lại giao du thì chưa mắc hoạ", lạ thật!!!.
Vậy thì, có sự liên hệ tới Độn Giáp chăng?
...
Bài số #13, chúng ta đã có ví dụ về VÒNG 8, hệ thống 60 can chi phối hợp với Hào từ của 8 quẻ thuộc Vòng 8.
Nhận xét thấy:
- Mỗi quẻ Dịch có 6 hào, ta ví dụ mỗi một Hào trong quẻ Dịch tương đương với đơn vị tính là một ngày. Như vậy, một vòng Dịch Can Chi sẽ tương đương với 60 ngày. Thuận tự hết 8 vòng, thì số ngày là: 60 x 8 = 480 ngày tương đương với 480 hào từ.
- Khi người xưa quy định sự phối hợp Thiên can với quẻ Dịch, thì can Giáp - Nhâm phối với quẻ Càn, can Ất - Quý phối với quẻ Khôn. Từ nguyên nhân này, đã nảy sinh ra số "Trùng lưu" (Lão Tử gọi là Trùng hư), cụ thể như sau:
- Số 1 ~ số 49 ==> Giáp Tý <=> Nhâm Tý
- số 2 ~ số 50 ==> Ất Sửu <=> Quý Sửu
- số 9 ~ số 21 ==> Nhâm Thân <==> Giáp Thân
- số 10 ~ số 22 ==> Quý Dậu <==> Ất Dậu
- số 11 ~ số 59 ==> Giáp Tuất <==> Nhâm Tuất
- số 12 ~ số 60 ==> Ất Hợi <==> Quý Hợi
- số 19 ~ số 31 ==> Nhâm Ngọ <==> Giáp Ngọ
- số 20 ~ số 32 ==> Quý Mùi <==> Ất Mùi
- số 21 ~ số 9 ==> Giáp Thân <==> Nhâm Thân
- số 22 ~ số 10 ==> Ất Dậu >==> Quý Dậu
- số 29 ~ số 41 ==> Nhâm Thìn <==> Giáp Thìn
- số 30 ~ số 42 ==> Quý Tị <==> Ất Tị
- số 31 ~ số 19 ==> Giáp Ngọ <==> Nhâm Ngọ
- số 32 ~ số 20 ==> Ất Mùi <==> Quý Mùi
- số 39 ~ số 51 ==> Nhâm Dần <==> Giáp Dần
- số 40 ~ số 52 ==> Quý Mão <==> Ất Mão
- số 41 ~ số 29 ==> Giáp Thìn <==> Nhâm Thìn
- số 42 ~ số 30 ==> Ất Tị <==> Quý Tị
- số 49 ~ số 1 ==> Nhâm Tý <==> Giáp Tý
- số 50 ~ số 2 ==> Quý Sửu <==> Ất Sửu
- số 51 ~ số 39 ==> Giáp Dần <==> Nhâm Dần
- số 52 ~ số 40 ==> Ất Mão <==> Quý Mão
- số 59 ~ số 11 ==> Nhâm tuất <==> Giáp Tuất
- số 60 ~ số 12 ==> Quý Hợi <==> Ất hợi
Như vậy, trong 24 ngày được gọi là "trùng lưu" này, thì số ngày thực tính mang thông tin, chỉ còn 12 ngày, vậy nên số "thông tin" thực có sẽ là 60 - 12 = 48, tương đương với một vòng Dịch Can Chi - Khi trải qua 8 vòng thì số "thông tin" là 48 x 8 = 384, tương đương với số hào của 64 quẻ Dịch.
Ta có thể đưa ra một kết luận rằng: trong quá trình thực tính, thì tổng số hào của Kinh Dịch là 480 hào, được phân làm 8 vòng, mỗi một vòng là 60 hào tương đương với 60 can chi, trong mỗi một vòng thì số "trùng lưu" sẽ là 12.
Từ đây, chúng ta nhận thức được tại sao LẠC VIỆT ĐỘN TOÁN chỉ dùng đơn vị số quẻ là 48. Nhưng bên trong số 48 này, vẫn ẩn tàng số "trùng hư", để thuận theo số chu kỳ của thời gian là 60.
480 HÀO LÀ SỐ THỰC CỦA KINH DỊCH.
...
Hệ thống 60 can chi, khi phối ứng với 384 Hào từ quẻ Dịch sẽ thuận tự trải qua 8 vòng, nhận thấy một vòng 60 ngày sẽ có 12 ngày mang "thông tin" trùng nhau, được trường phái "Tam huyền" (Tiêu Diên Thọ, Kinh Phòng, Dương Hùng) gọi là số "Trùng lưu". Ta xét tỷ lệ: 1 / 4, có nghĩa rằng: 48 ngày mang "thông tin" tỷ lệ với 12 ngày mang "thông tịn" trùng lưu (thông qua một mà biết bốn - Khổng Tử). Tỷ lệ này, được ứng dụng một cách nghiêm mật, rải khắp trong các môn thuật toán Đông Phương học.
Phép bói Cỏ thi mà sách Dịch có bàn tới, sử dụng số 49 cọng cỏ thi. Con số "49" này, xét thấy tương đương với số "1". Chúng ta đã phối ứng "Thời gian" với Hào từ Kinh Dịch, thấy rằng một "thông tin" ẩn tàng trong "can chi", ví như trong ngày Giáp Tý, thì sau 49 ngày, tới ngày Nhâm Tý thì "thông tin" quay trở lại (phản bản hoàn nguyên - quy luật Phản Tổ).
Ta đang bàn về học thuyết thuyết "Bản thể", đã nhận thấy sự khởi nguồn khi người xưa định "Tuần không", khi chúng ta tìm hiểu về học thuyết thuyết "Sinh - Thành", thì sẽ nhận thức rõ thêm tại sao người xưa quy định như vậy.
...
Một Ví dụ mà Tôi thường ứng dụng và trải nghiệm:
Can Chi ngày sinh của Tôi là ngày Ất Mùi, nếu tính theo số TỬ BÌNH hay LỤC NHÂM, thì hiện tại Tôi đang ở trong VÒNG 6.
Trước tiên, Tôi tìm hiểu ý nghĩa cấu tạo của VÒNG 6 cho ta biết về những "Sự" gì?
VÒNG 6
...........................HOÁN
........PHỆ HẠP.........................QUẢI
...TỈNH.....................+.................KHIÊM
..........LÝ...................................BÁC
...........................PHONG
- Hướng Nam, đó là sự lìa tan - Phong Thuỷ Hoán
- Hướng Bắc, đó là sự thịnh lớn - Lôi Hoả Phong
- Hướng Đông, đó là "Mạch nước ngấm không cùng" - Thuỷ Phong Tỉnh
- Hướng Tây, đó là sự khiêm tốn - Địa Sơn Khiêm
- Hướng Tây - Bắc, đang là sự bong ra từng mảng - Sơn Địa Bác
- Hướng Tây - Nam, đang có sự quyết đoán - Trạch Thiên Quải
- Hướng Đông - Nam, đang có sự cắn để hợp lại - Trạch Thiên Quải
- Hướng Đông - Bắc, đang có nhắc nhở về "sự thận trọng trong đi lại" - Thiên Trạch Lý.
Một người bạn có lời mời Tôi đi miền Nam, từ VÒNG 6 xét thấy, phía Nam đang có sự lìa tan, ứng hợp vào tháng nào đây? Chắc là tháng Nhâm Ngọ vậy. Tôi thành thật cảm ơn bạn mình, và trả lời không thể đi được.
Hướng Tây Nam đang có sự quyết đoán, lại có lưu "Lộc Tồn", tôi chiêm đoán rằng: cơ quan mà tôi đã làm việc, đang cân nhắc tiền thưởng cho một số cán bộ lão thành.
Khi tính theo số ĐỘN GIÁP thì can ngày sinh Ất Mùi của Tôi cho tôi biết những thông tin gì đây?
.........................................Tân gia Mậu
..................Kỷ gia Canh................................Đinh gia Nhâm (Đinh gia Giáp)
....Mậu / Tân...............................+.......................Ất / Bính
...................Nhâm / Đinh................................Bính / Quý
.............................................Canh / Kỷ
Như vậy, Can ngày sinh của Tôi đang nhắc nhở tôi, cho tôi biết thông tin rằng: tôi cần phải có sự khiêm tốn (Địa Sơn Khiêm) trong những ngày tới.
Không biết số Thái ất của Tôi còn nói cho tôi biết thêm những thông tin gì đây.!
...
Khảo sát vòng 2
...........................LỮ
.....TIỂU SÚC.........................PHỤC
...DỰ.....................+....................KHỐN
..........BÍ..................................CẤU
...........................TIẾT
Nhận xét thấy
- Hướng Tây -Nam cung Khôn 2, mang quẻ Địa Lôi Phục phối hợp với hướng Đông, cung Chấn 3 mang quẻ Lôi Địa Dự, hướng Tây - Nam thì: Địa ở bên ngoài mà Lôi ở bên trong ; Địa ở trên mà Lôi ở dưới ; Địa ở ngọn mà Lôi ở gốc,...v.v... Đối với hướng Đông thì vị trí Nội quái và Ngoại quái được thay đổi cho nhau (không phải là đảo - ngược quái): Lôi lại ở bên ngoài còn Địa lại ở bên trong => Lôi Địa <==> Địa Lôi (Tây Nam <==> Đông). Tương tự:
- Hướng Tây - Bắc cung Càn 6, mang quẻ Thiên Phong Cấu phối hợp với hướng Đông - Nam cung Tốn 4, mang quẻ Phong Thiên Tiểu súc => Thiên Phong <==> Phong Thiên (Đông Nam <==> Tây Bắc)
- Hướng Đông - Bắc quẻ Cấn 8, mang quẻ Sơn Hoả Bí phối hợp với hướng Nam cung Ly 9 mang quẻ Hoả Sơn Lữ => Sơn Hỏa <==> Hỏa Sơn (Đông Bắc <==> Nam)
- Hướng Bắc cung Khảm 1, mang quẻ Thuỷ Trạch Tiết phối hợp với hướng Tây cung Đoài mang quẻ Trạch Thuỷ Khốn => Thuỷ Trạch <==> Trạch Thuỷ (Bắc <==> Tây)
Nội ngoại, trong ngoài, trên dưới, trước sau, gốc ngọn, nhân quả...v.v... đều thay đổi vị trí cho nhau. Khi sự thay đổi vị trí quái như vậy, thì chúng ta nhận thức được gì đây? Phải chăng, cái "bên ngoài" của hướng Tây phản ảnh thông tin cái "bên trong" của hướng Đông - Bắc, cũng như cái "bên trong" của hướng Tây Bắc phản ánh thông tin về cái "bên ngoài" của hướng Đông Nam,...v.v...
VÒNG 3
...........................ĐỈNH
........GIA NHÂN.........................LÂM
...GIẢI.....................+.................TỤY
........ĐẠI SÚC......................ĐỘN
..........................TRUÂN
NHẬN XÉT:
- Cung Càn 6 với cung Cấn 8: trong ngoài, trên dưới, nội ngoại, thay đổi vị trí cho nhau: Thiên Sơn <=> Sơn Thiên, hướng Tây Bắc <=> Đông Bắc.
- Cung Khảm 1 với cung Chấn 3: trên dưới thay đổi vị trí cho nhau: Thuỷ Lôi <=> Lôi Thuỷ
- Cung Khôn 2 với cung Đoài 7: trên dưới thay đổi vị trí: Địa Trạch <=> Trạch Địa
- Cung Tốn 4 với cung Ly 9: Phong Hỏa <=> Hoả Phong.
VÒNG 4
...........................VỊ TẾ
........ÍCH.............................THÁI
...HẰNG.....................+...............HÀM
..........TỔN...................................BĨ
...........................KÝ TẾ
- Cung Càn 6 với cung số Khôn 2: Thiên Địa <=> Địa Thiên => Giáp Nhâm = Ất Quý >> hướng Tây Bắc và hướng Tây Nam
- Cung Đoài 7 với cung Cấn 8: Bính <=> Đinh
- Cung Khảm 1 với cung Ly 9: Mậu <=> Kỷ
- Cung Chấn 3 với cung Tốn 4: Canh <=> Tân
VÒNG 5
.............................MÔNG
......VÔ VỌNG.......................ĐẠI TRÁNG
...THĂNG.....................+...................KIỂN
........KHUÊ...................................QUAN
...........................CÁCH
- Cung Cấn 8 với cung Khảm 1: Bính <=> Mậu
- Cung Tốn 4 với cung Khôn 2: Tân <=> Ất (Quý)
- Cung Chấn 3 với cung Càn 6: Canh <=> Giáp (Nhâm)
- Cung Ly 9 với cung Đoài 7: Kỷ <=> Đinh
VÒNG 6
...........................HOÁN
........PHỆ HẠP.........................QUẢI
...TỈNH.....................+.................KHIÊM
..........LÝ...................................BÁC
...........................PHONG
- Tây Bắc cung Càn 6 phối ứng với Tây cung Đoài 7: Đinh <=> Nhâm (Giáp)
- Đông Bắc cung Cán 8 phối ứng với Tây Nam cung Khôn 2: Bính <=> Quý (Ất)
- Hướng Bắc cung Khảm 1 phối ứng với hướng Đông Nam cung Tốn 4: Mậu <=> Tân
- Hướng Đông cung Chấn 3 phối ứng với hướng Nam cung Ly 9: Canh <=> Kỷ.
VÒNG 7
..........................Nam
..........................TỤNG
...........DI............................NHU
...ĐẠI QUÁ...............+...............TIỂU QUÁ
........TRUNG PHU.....................TẤN
...........................MINH DI
.............................Bắc
- Cặp [ 9 <=> 2 ] => Ly <=> Khôn (Nam ~ Tây Nam)
- Cặp [ 7 <=> 4 ] => Đoài <=> Tốn (Tây ~ Đông Nam), (Đinh ~ Tân)
- Cặp [ 6 <=> 1 ] => Càn <=> Khảm (Tây Bắc ~ Bắc)
- Cặp [ 8 <=> 3 ] => Cấn <=> Chấn (Đông Bắc ~ Đông)
VÒNG 8
....................ĐỒNG NHÂN
...........CỔ.........................TỶ
...TUỲ...............+...............QUY MUỘI
..........TIỆM.....................ĐẠI HỮU
......................MINH DI
- Cặp 6 ~ 9 => Hỏa Thiên ~ Thiên Hỏa
- Cặp 3 ~ 7 => Trạch Lôi ~ Lôi Trạch
- Cặp 1 ~ 2 => Địa Thủy ~ Thủy Địa
- Cặp 8 ~ 4 => Phong Sơn ~ Sơn Phong
Chúng ta đã xong được một bước. Tiếp theo, ta cần phải biết được, trong 32 cặp phối hợp này, cặp nào là cặp có sự "dao động" mạnh nhất. Hệ số "dao động" này, giúp được gì cho chúng ta khi ứng dụng vào thực tiễn?
Có người, gặp hệ số "dao động" thấp mà vẫn bị họa tai, có người lại gặp hệ số "dao động" cao mà họ vẫn có khả năng vượt qua (!).
Ta tiếp tục khai phá những điều mà người xưa cho là "nghiêm mật".
...
Điều mà người xưa cho là "nghiêm mật", chính là "cái mà phải dựa vào đang dần mất đi sự ổn định".
Phàm là 10 tuổi thích chạy, 20 tuổi thích đi nhanh, 30 tuổi thích đi bộ, 40 tuổi thích sự ngồi, 50 tuổi thích sự nghỉ, 60 tuổi thích sự nằm.
Dịch - Sơn Địa Bác, tượng hào 2 nói: "Bác sàng dĩ biện, vị hữu dữ dã", có nghĩa rằng: "Đã đến lúc muốn nằm nghỉ, thì giường nằm từ cứng mạnh đang chuyển thành hư yếu".
Phải dừng lại, vì người ta không thể quên nguồn cội của mình. Thường ngày cần phải củng cố cái "gốc" để phòng sự "bác". Khi "thời gian" tích lại ngày một lớn, có nghĩa rằng tuổi ngày một tăng lên, thì "vật chất" ngày càng mất dần đi.
Cái mà ta phải dựa vào đó vậy!
...
Chúng ta tiếp tục khảo sát xem người xưa đã tổ hợp như thế nào (?), từ 48 cặp can chi mang thông tin này, làm sao có thể quy tụ về còn 12 cặp can chi, mà người xưa gọi là 12 "thần". Như vậy, sẽ hình thành 4 chu kỳ của 12 "thần".
...
Năm Canh Dần - 2010, do vậy ta bắt đầu khảo sát từ LỤC CANH
Canh Dần
1. Chu kỳ 1 - Canh Dần - Thuần Chấn, hào 2
- “Lục Nhị, chấn lai lệ; ức táng bối, tê vu cửu lăng, vật trục, thất nhật đắc.”
- “Sáu Hai, sấm sét ập tới, có nguy hiểm; mất nhiều tiền, nên lánh xa và trèo lên đỉnh đồi cao, không cần truy tìm, quá không đầy bảy ngày thì tiền mất lại tìm thấy.”
- Tượng “chấn lai lệ, thặng cương dã” – ý nói tượng hào Sáu Hai cưỡi trên hào dương cứng mà nguy.
2. Chu kỳ 2 - Canh Dần – Lôi Địa Dự, hào 2
- “Lục Nhị, giới vu thạch, bất chung nhật, trinh cát.”
- “Sáu Hai, chí vững như đá, không đợi đến hết ngày (mà biết được rằng sự vui phải có mức độ), giữ vững chính bền thì được tốt lành.”
- Tượng “Bất chung nhật trinh cát, dĩ trung chính dã” – "Không đợi ngày mà biết", vì Sáu Hai đã trung, lại chính.
3. Chu kỳ 3 - Canh Dần – Lôi Thủy Giải, hào 2
- “Cửu Nhị, điền hoạch tam hồ, đắc hoàng thỉ ; trinh cát.”
- “Chín Hai, đi săn bắt được ba con cáo, được mũi tên mầu vàng (tượng trưng cho đức trung thực) ; giữ vững chính bền thì được tốt lành.”
- Tượng “Cửu Nhị trinh cát, đắc trung đạo dã” – "Chín Hai giữ vững chính bền thì được tốt lành", nói lên được đạo ở giữa không lệch.
4. Chu kỳ 4 - Canh Dần – Lôi Phong Hằng, hào 2
- “Cửu Nhị, hối vong.”
- “Chín Hai, hối hận tiêu hết.”
- Tượng viết: “Cửu Nhị hối vong, năng cửu trung dã” – "Chín Hai hối hận tiêu hết", nói lên Chín Hai có thể giữ đạo lâu dài không thiên lệch.
5. Chu kỳ 5 - Canh Dần - Địa Phong Thăng, hào 2
- “Cửu Nhị, phu nãi lợi dụng Thược, vô cữu.”
- “Chín Hai, chỉ cần lòng giữ thành tín thì dù làm lễ “tế Thược” đơn sơ, cũng lợi về sự dâng tiến lên thần linh, không đến nỗi tội lỗi.”
- Tượng “Cửu Nhị chi phu, hữu hỷ dã.” - Đức đẹp thành tín của Chín Hai tất sẽ đem lại sự vui mừng, phúc khánh.
6. Chu kỳ 6 - Canh Dần - Thủy Phong Tỉnh, hào 2
- “Cửu Nhị, tỉnh cốc xạ phụ, ủng tệ lậu.”
- “Chín Hai, rốn giếng bị uổng dùng để bắn mấy con cá nhỏ, lúc này gầu bị thủng không có gì để múc lên.”
- Tượng “Tỉnh cốc xạ phụ, vô dữ dã.” - "Rốn giếng bị uổng dùng", nói lên Chín Hai không có ứng với trên. (Mỹ, Nga, Trung quốc)
7. Chu kỳ 7 - Canh Dần - Trạch Phong Đại quá, hào 1
- “Sơ Lục, tạ dụng bạch mao, vô cữu.”
- “Sáu Đầu, dùng cỏ tranh trắng lót (vật biếu người trên), tránh bị cữu hại.”
- Tượng “Tạ dụng bạch mao, nhu tại hạ dã.” - "Lấy cỏ tranh trắng lót vật biếu người trên", nói ý hào Sáu Đầu mềm thuận ở ngôi dưới, hành vi kính cẩn thận trọng.
8. Chu kỳ 8 - Canh Dần - Trạch Lôi Tùy, hào 2
- “Lục Nhị, hệ tiểu tử, thất trượng phu.”
- “Sáu Hai, quấn quýt theo kẻ tiểu tử, mất đấng trượng phu dương cứng.”
- Tượng “Hệ tiểu tử, phất khiêm dữ dã” - "Quấn quýt với kẻ tiểu tử", nói lên Sáu Hai không thể cùng một lúc thân hiếu với nhiều nơi.
...
Khảo sát từ LỤC CANH Dịch - Hệ từ thượng - Chương 9 - Tiết 1 viết: "Thiên nhất địa nhị. Thiên tam địa tứ. Thiên ngũ địa lục. Thiên thất địa bát. Thiên cửu địa thập." Như vậy trong hệ chu kỳ số đếm 10, thì can Canh ở vị trí thứ 7. Dịch - Hệ từ thượng - Chương 9 - Tiết 5 viết: "Nhị thiên chi sách, vạn hữu nhất thiên ngũ bách nhị thập, đương vạn vật chi số dã" (Số trong hai thiên của Kinh Dịch là 11520, tương đương với số chỉ vạn vật." Dịch viết: số 11.520 là số tương đương chỉ vạn vật (!), như một di ngôn "mật khẩu" được mật truyền trong Kinh, ta nhận thức như thế nào về lời di ngôn này? Từng bước tiếp cận, khởi đầu từ lời Dịch viết: " Vạn vật xuất hồ Chấn ". Sử dụng 3 chu kỳ: đó là chu kỳ 10, chu kỳ 12, và chu kỳ 14 làm phương tiện nhận thức về Thiên đạo (đường vận hành trời). Chu kỳ 10 được gọi là chu kỳ Thiên can, gồm thứ tự số đếm: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Chu kỳ 12 được gọi là chu kỳ Địa chi, gồm thứ tự số đếm: Tí, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Chu kỳ 10 và 12 cho chúng ta một hệ chu kỳ số đếm 60, khởi nguyên từ Giáp phối ứng với Tí, kết thúc khi Quý phối ứng với Hợi, thường gọi là một Giáp Tí. Khi tổ hợp phối ứng với chu kỳ 14, có nghĩa là khởi nguyên đồng thời cả ba chu kỳ, thì ta được một hệ chu kỳ số đếm 420, thường được gọi là một Đại Giáp Tí (7 x 60). Một Đại Giáp Tí là một chu kỳ gồm 420 năm (ngày).
...
Khảo sát một số sách chú giảng về Dịch nói: số chỉ vạn vật tương đương với số 11520 (!)
1. Sách " Chu Dịch Đại truyện " - Nhà XB KHOA HỌC XÃ HỘI - 2006 - Lê Anh Minh dịch - chú (tr 94):
- "Thiên" = Kinh dịch có hai thiên ; thượng thiên (tức thượng kinh) có 30 quẻ ; hạ thiên (tức hạ kinh) có 34 quẻ.
- 64 quẻ cả thảy 192 hào dương và 192 hào âm. Khi bói:
- Lập được hào Dương, số que kẹp kẽ tay là 13, còn lại là 36 que. Vậy 36 x 192 = 6912.
- Lập được hào Âm, số que kẹp kẽ tay là 25, số que còn lại là 24. Vậy 24 x 192 = 4608
- Kết quả: 6912 + 4608 = 11520
- Khi nói "vạn vật", thì "vạn" là mười ngàn (nhưng đó là nói tổng quát).
- Số 11520 tương đương với con số chỉ vạn vật.
2. Sách: KINH DỊCH - ĐẠO CỦA NGƯỜI QUÂN TỬ - Nguyễn Hiến Lê - Trang 462 - CHƯƠNG IX - Tiết 5 viết:
- " Nhị thiên chi sách vạn hữu nhất thiên ngũ bách nhị thập, đương vạn vật chi số dã "
- Dịch: " Số thẻ của hai thiên (tức thiên thượng và thiên hạ trong Kinh dịch, tức số thẻ của 64 quẻ trùng - vì thiên thượng gồm 30 quẻ, thiên hạ gồm 34 quẻ) là 11.520, hợp với số của vạn vật ".
- Chu Hi giảng: Hai thiên trong Kinh dịch gồm tất cả 192 hào dương và 192 hào âm. Như tiết trên đã nói, số của quẻ Càn là 216, vậy số của mỗi hào quẻ Càn, tức mỗi hào dương là 216 / 6 = 36. Số của quẻ Khôn là 144, vậy số của mỗi hào quẻ Khôn, tức mỗi hào âm là 144 / 6 = 24.
- Tổng số 192 hào dương là 36 x 192 = 6.912 ; Tổng số 192 hào âm là 24 x 192 = 4.608 Cộng cả dương lẫn âm được 6.192 + 4.608 = 11.520
- Số 11.520 hợp với số của vạn vật là nghĩa làm sao? Chúng tôi không hiểu. Có lẽ người Trung Hoa thời đó cho rằng trong vũ trụ thời đó có khoảng một vạn mốt loài chăng?
3. Nguồn sách: Thư viện Đại học Cambridge University Library
http://www.lib.cam.a...lu/fb70306.html
TRUNG HOA ĐẠO THÁNH [ 中华 道 藏 ]
Chúng ta có bốn con số, được quy định như sau: cặp số 7 - 8 được quy định đại diện cho "tĩnh", cặp số 9 -6 được đại diện cho "động".
Trong cặp số 7 - 8 đại diện cho cho "Tĩnh", thì số "8" là số đại diện cho Dương "Tĩnh", còn số "7" là số đại diện cho Âm "Tĩnh".
Các bước thực hiện:
- Quẻ Càn: hào một trị số là 8, hào hai trị số là 8 x 2 = 16, hào ba trị số là 16 x 2 = 32. Tổng trị số ba hào quẻ Càn là 8 + 16 + 32 = 56
- Quẻ Khôn: hào một trị số là 7, hào hai trị số là 7 x 2 = 14, hào ba trị số là 14 x 2 = 28. Tổng trị số ba hào quẻ Khôn là 7 + 14 + 28 = 49
- Quẻ Chấn: hào một trị số là 8, hào hai trị số là 7 x 2 = 14, hào ba trị số là 14 x 2 = 28. Tổng trị số ba hào quẻ Chấn là 8 + 14 + 28 = 50
- Quẻ Khảm: hào một có trị số là 7, hào hai trị số là 8 x 2 = 16, hào ba trị số là 14 x 2 = 28. Tổng trị số ba hào quẻ Khảm là 7 + 16 + 28 = 51
- Quẻ Đoài: hào một trị số là 8, hào hai trị số là 8 x 2 = 16, hào ba trị số là 14 x 2 = 28. Tổng trị số ba hào quẻ Đoài là 8 + 16 + 28 = 52
- Quẻ Cấn: hào một trị số là 7, hào hai trị số là 7 x 2 = 14, hào ba trị số là 16 x 2 = 32. Tổng trị số ba hào quẻ Cấn là 7 + 14 + 32 = 53.
- Quẻ Ly: hào một 8, hào hai là 7 x 2 = 14, hào ba là 16 x 2 = 32. Tông trị số ba hào quẻ Ly là 8 + 14 + 32 = 54
- Quẻ Tốn: hào một là 7, hào hai là 16, hào ba là 32. Tổng trị số ba hào quẻ Tốn là 7 + 16 + 32 = 55
Bát quái tương đương với trị số quẻ được xếp như sau:
..49.....50.......51......52.....53....54....55....56.
Khôn...Chấn...Khảm...Đoài...Cấn...Ly...Tốn...Càn.
Từ đây, chúng ta thấy mối liên hệ của thuật toán "Cỏ thi", tại sao lại dùng có 49 cây Cỏ thi để thực hiện 18 lần chia, mỗi lần 3 biến thì được một hào, 18 lần thì được 6 hào của một quẻ Dịch. Từ Âm tới Dương, từ "Không" tới "Có", từ tối tới sáng, từ đêm tới ngày,..., Cũng từ đây, có thể số 50 được coi là "Đế xuất hồ Chấn"
Bây giờ, chúng ta xếp các trị số của quẻ theo mô hình được gọi là Tiên thiên như sau:
....................56....................
...........52................55..........
...54...............+.................51..
..........50.................53............
.....................49....................
Khi chúng ta đọc thứ tự số từ "không" tới "có", từ Âm tới Dương, lần lượt tăng thêm một đơn vị, bắt đầu từ số 49, thì chúng ta thấy đường đi hình chữ số 8 thật là vui mắt.
Tổng trị số của Càn-Đoài-Ly-Chấn, đều có hào một là hào dương là: 56 + 52 + 52 + 50 = 212
Tổng trị số của Tốn-Khảm-Cấn-Khôn, đều có hào một là hào âm là: 55 + 51 + 53 + 49 = 208
Như vậy, trị số của Dương và Âm có khác biệt 4 đơn vị. Không hiểu tại sao người xưa lại gọi 4 là chìa khóa của âm dương khi sinh Ngũ hành?
Nhìn vào đồ hình sắp xếp các trị số của quẻ, ta thấy những cặp số đứng liền nhau mà khác biệt 4 đơn vị gồm có: Càn và Đoài, Khôn và Cấn, Chấn và Ly, Tốn và Khảm. Có thể từ đây, mà người xưa đặt ra điều lệ: cặp Khôn-Cấn và cặp Càn-Đoài là Tây tứ trạch. Còn cặp Tốn-Khảm và Chấn-Ly là Đông tứ trạch (?) Những cặp này đều có trị số cách nhau 4 đơn vị
Tiếp tục khảo sát, tổng trị số của 8 quái là: 212 + 208 = 420. Thật lạ, như vậy Tổng trị số của tám quẻ khi "Tĩnh" lại bằng với Tổng Trị số tám quẻ Khi "Động", đều bằng 420. (?)
Lại tiếp tục khảo sát:
..49.....50.......51......52......53....54....55....56......... (khi dùng cặp số 7 - 8)
Khôn...Chấn...Khảm...Đoài...Cấn...Ly...Tốn...Càn.
..63.....60.......57......54......51.....48....45....42..........(Khi dùng cặp số 6 - 9)
Nhận thấy, từ Khôn tới Đoài số thứ tự là 4 khi "Tĩnh", thì khi "Động" có trị số cách nhau là 42 + 9 = 51. Tiếp tục từ Đoài tới Tốn, thì thứ tự khi "tĩnh" cũng cách nhau là 4, mà khi "động" cũng có trị số cách nhau là 9, cụ thể là 51 + 9 = 60.
Từ "Tĩnh" chuyển sang "động", từ Âm tới Dương, từ "Không" tới "có", thông qua 9 con số Cửu cung, chúng ta từng bước tìm hiểu về những con số của Dịch 7 - 8 - 9 - 6.
...
Có thể, những con số là sợi dây nối liền Bốc Dịch với Khoa học.
...
Chúng ta khảo sát lại với cặp số 9 - 6, được coi là cặp số đại diện cho "động"
....................CÀN.........................KHÔN..........
Hào ba.......18 x 2 = 36...............12 x 2 = 24......
Hào hai...... 9 x 2 = 18.................6 x 2 = 12.....
Hào một...............= 9..........................= 6......
- Quẻ Chấn:
hào một dương 9,
hào hai âm 6 x 2 = 12,
hào ba âm 12 x 2 = 24.
Tổng trị số ba hào quẻ Chấn là 9 + 12 + 24 = 45 (Hàm tam vi nhất)
- Quẻ Khảm:
hào một âm 6,
hào hai dương 9 x 2 = 18,
hào ba âm 12 x 2 = 24.
Tổng trị số ba hào quẻ Khảm là: 6 + 18 + 24 = 48
- Quẻ Cấn:
hào một âm trị số là 6,
hào hai âm 6 x 2 = 12,
hào ba dương 18 x 2 = 36.
Tổng 3 hào: 6 + 12 + 36 = 54.
- Quẻ Tốn:
hào một âm trị số là 6,
hào hai dương trị số là 9 x 2 = 18,
hào ba dương trị số là 18 x 2 = 36.
Tổng trị số ba hào quẻ Tốn là: 6 + 18 + 36 = 60
- Quẻ Ly:
hào một dương trị số là 9,
hào hai âm 6 x 2 = 12,
hào ba dương trị số là 18 x 2 = 36.
Tổng trị số ba hào quẻ Ly là: 9 + 12 + 36 = 57.
- Quẻ Đoài:
hào một dương trị số là 9,
hào hai dương trị số là 9 x 2 = 18,
hào ba âm trị số là 6 x 2 x 2 = 12.
Tổng trị số ba hào quẻ Đoài là: 9 + 18 + 24 = 51.
Tổng trị số 3 hào của Càn là: 9 + 18 + 36 = 63.
Tổng trị số 3 hào của Khôn: 6 + 12 + 24 = 42.
.42.......45.........48.........51......54........57.......60.........63...
Khôn....Chấn......Khảm.....Đoài....Cấn......Ly.......Tốn.......Càn..
.49.......50.........51.........52.......53.......54........55........56...
Tổng trị số tám quái khi tĩnh: 420 (cặp số 7 - 8)
Tổng trị số tám quái khi động: 420 (cặp số 6 - 9)
Âm Dương sinh Ngũ hành, có thể thông qua chìa khóa của Ngũ hành là số 4, và những con số từ 1 => 9, chúng ta nhận thức được không? Người xưa đã thực hiện tính toán như thế nào để quy tám quái về Ngũ hành?
Tại sao Càn Đoài thuộc Kim, Chấn Tốn thuộc Mộc, Ly thuộc Hỏa, Khảm thuộc Thủy, Cấn Khôn thuộc Thổ???.
Người xưa nói: phương Đông sinh Mộc, vậy phương Tây có sinh Mộc không?
...
Trước khi tìm hiểu về Âm Dương sinh Ngũ hành như thế nào? Có lẽ, chúng ta khảo sát trước về những con số Âm Dương khi sinh.
Một thuận tự dãy số, khi quan hệ với trị số của quẻ Khôn là 49 như sau:
..1......2......3......4......5......6......7......8......9..
.49....48.....47....46.....45....44.....43....42....41..
.40....39.....38....37.....36....35.....34....33....32..
.31....30.....29....28.....27....26.....25....24....23..
.22....21.....20....19.....19....17.....16....15....14
.13....12.....11....10......9......8......7......6......5
..4......3......2......1......0..............................
.................................9......8......7......6.....???
Thông qua năm lần hàng ngang, trị số giảm dần của Khôn, thì hàng dọc cho chúng ta thấy những cặp số: 1 -4, 2 - 3, 3 -2, rồi lại 1 - 4, thì trị số của quẻ Khôn từ 49 => 1 ở vị trí có số thứ tự là 4.
Tiếp tục một thuận tự dãy số, khi quan hệ với trị số của quẻ Càn là 56 như sau:
...1......2......3......4......5......6......7......8......9..
..56.....55....54....53.....52....51.....50....49....48..
....................................................................
....................................................................
....................................................................
....................................................................
..11.....10.....9......8......7......6......5.....4.......3..
...2.......1.....0................................................
Trị số của Càn là 56, nếu theo thứ tự là một, thì từ hàng dọc, trị số của Càn được khởi đầu lại là 2, là số "Chẵn", là số "Ngẫu". Vậy thì tại sao Dịch lại nói: Dương lẻ Âm chẵn, Dương cơ âm ngẫu?
...
Khảo sát Lịch sử về chiêm bốc, thì "cỏ thi" đã thay thế cho "mai rùa". Trên thực tế, ngoài ghi chép của Khổng Tử ra, không có phương pháp bói "cỏ thi" nào khác, được ghi chép lại. Tới tận đời Đường, thời gian có tới hơn hai ngàn năm. Một cuộc cách mạng đã làm thay đổi thời gian Bốc quẻ, khi thay thế Ba đồng tiền để tiến hành lắc quẻ. Theo thời gian, Bốc dịch lại sản sinh ra một cuộc cách mạng trọng đại nữa, cho tới khi xuất hiện Thiệu Ung. Ông cho rằng: "Thần sinh Số, Số sinh Tượng, Tượng sinh Khí". Được gọi là Khang Tiết Thần số. Thời Tam quốc, Vương Bật, một người thanh niên đề xướng tư tưởng trị dịch: "đắc ý quên tượng". Thì Dịch học đã chuyển từ Chiêm Bốc sang Triết học. Trường phái Nghĩa - Lý đã thay thế Dịch Số thời nhà Hán. Cho tới ngày hôm nay, Bốc Dịch cần Khoa học, hiện đang là thời mà Khoa học không cần Chiêm Bốc.
Chào Anh Chị Em trên diễn đàn.
Khi tìm hiểu những phương pháp để lập quẻ Dịch, trong MAI HOA DỊCH SỐ của ngài Thiệu Ung, có phương pháp CHIẾT TỰ SỐ. Theo sách "Bí bản trắc tự toàn thư", ngài Tự Thạch đã nổi danh thiên hạ về khoa Chiết tự. Chữ Quốc ngữ VN có thể xây dựng nên phương pháp Chiết tự này. Tham khảo từ Nguồn: Dichminh.co.cc, được xây dựng Chiết tự số như sau:
A: 3 nét ; Ă: 4 nét ; Â: 5 nét
B: 3 nét
C: 1 nét
D: 2 nét ; Đ: 3 nét
E: 4 nét ; Ê: 6 nét
G: 2 nét ;
H: 3 nét
I: 1 nét
K: 3 nét
L: 2 nét
M: 4 nét
N: 2 nét
O: 2 nét
Ô: 4 nét
Ơ: 3 nét
P: 2 nét
Q: 3 nét
R: 3 nét
S: 1 nét
T: 2 nét
U: 1 nét
Ư: 2 nét
V: 2 nét
X: 2 nét
Y: 3 nét
Sắc(/): 1 nét
Huyền (\): 1 nét
Hỏi (?): 2 nét
Ngã (~): 1 nét
Nặng (.): 1 nét
Một ví dụ về khoa Chiết tự số tương ứng với chữ Quốc ngữ: Câu thành văn như sau:
Trèo lên ngọn cây, thấy mình cao quá,
Mọi người ở dưới thấp, nên tự chán.
Cụ thể:
- "Trèo lên ngọn cây": tổ hợp Chiết tự số làm Ngoại quái
- "thấy mình cao quá": tổ hợp Chiết tự số làm Nội quái
Thực hiện:
- Chữ "Trèo": T = 2, r = 3, e = 4, 0 = 2, dấu "huyền" = 1
=> 2 + 3 + 4 + 2 + 1 = 12
- Chữ "lên": l = 2, ê = 6, n = 2
=> 2 + 6 + 2 = 10
- Chữ "ngọn": n = 2, g = 2, 0 = 2, n = 2, dấu "nặng" = 1
=> 2 + 2 + 2 + 2 + 1 = 9
- Chữ "cây": c = 1, â = 5, y = 3
=> 1 + 5 + 3 = 9
Tổ hợp câu "Trèo lên ngọn cây" = 12 + 10 + 9 + 9 = 40
40 / 8 = 5 => được quái Khôn.
- Chữ "thấy": t = 2, h = 3, â = 5, y = 3, dấu "sắc" = 1
=> 2 + 3 + 5 + 3 + 1 = 17.
- Chữ "mình": m = 4, i = 1, n = 2, h = 3, dấu "huyền" = 1
=> 4 + 1 + 2 + 3 + 1 = 11
- Chữ "cao": c = 1, a = 3, 0 = 2
=> 1 + 3 + 2 = 6
- Chữ "quá": q = 3, u = 1, a = 3, dấu "sắc" = 1
=> 3 + 1 + 3 + 1 = 8
Tổ hợp câu: "thấy mình cao quá" = 17 + 11 + 6 + 8 = 42
42 / 8 = 5 dư 2 => được quái Đoài
Câu: "Trèo lên ngọn cây, thấy mình cao quá" được quẻ ĐỊA TRẠCH LÂM.
Tiếp tục với vế đối là câu: "mọi người ở dưới thấp, nên tự chán", lại phân câu này thành 02 quái:
- Chữ "mọi": m = 4, 0 = 2, i = 1, dấu "nặng" = 1
=> 4 + 2 + 1 + 1 = 8
- Chữ "người": n = 2, g = 2, ư = 2, ơ = 3, i = 1, dấu "huyền' = 1
=> 2 + 2 + 2 + 3 + 1 + 1 = 11
- Chữ "ở": ơ = 3, dấu "hỏi" = 2
=> 3 + 2 = 5
- Chữ "dưới": d = 2, ư = 2, ơ = 3, i = 1, dấu "sắc" = 1
=> 2 + 2 + 3 + 1 + 1 = 9
- Chữ "thấp": t = 2, h = 3, â = 5, p = 2, dấu "sắc" = 1
=> 2 + 3 + 5 + 2 + 1 = 16
Tổ hợp câu: "mọi người ở dưới thấp" = 8 + 11 + 5 + 9 + 16 = 59
59 / 8 = 7 dư 3 => được quái Ly
- Chữ "nên": n = 2, ê = 6, n = 2
=> 2 + 6 + 2 = 10
- Chữ "tự": t = 2, ư = 2, dấu "nặng" = 1
=> 2 + 2 + 1 = 5
- Chữ "chán": c = 1, h = 3, a = 3, n = 2, dấu "sắc" = 1
=> 1 + 3 + 3 + 2 + 1 = 10
Tổ hợp câu: "nên tự chán" = 10 + 5 + 10 = 25
25 / 8 = 3 dư 1 => được quái Càn
Câu "mọi người ở dưới thấp, nên tự chán" được quẻ HOẢ THIÊN ĐẠI HỮU.
- Tượng hai quẻ Lâm thừa Đại hữu: theo Bốc Dịch, động hào 3, 4, 6

- Theo Dịch Lâm được quẻ Lâm chi Đại hữu.
Chúng ta tham khảo thêm một phương thức lập quẻ Dịch.
Hà Uyên.
...
dichnhan07, on May 17 2010, 03:04 PM, said:
Tôi có một thắc mắc đó là tại sao không phải là an quẻ từ dưới lên mà lại an từ trên xuống, trong khi đó tên gọi lại là Lâm (dưới)-Đại Hữu (trên). Tôi thử biến lại thành Tụy (dưới)-Đồng Nhân (trên), bác thử xét xem liệu quẻ nào hợp hoàn cảnh hơn.
Kính Bác.
Anh Dichnhan
Khi ngài Tiêu Diên Thọ xây dựng kết cấu cho học thuyết của mình, Ông lấy Can Chi "ngày" làm "Bản" (gốc). Do vậy, ngài Tiêu mới lấy "Trực nhật" để minh chứng cho "Tiêu Lâm".
Hôm nay, là ngày Đinh Mão, là Can Chi ứng cho ngày "Âm", nên tôi trải nghiệm theo nguyên tắc mà ngài Tiêu Diên Thọ đã đặt ra.
Anh tham khảo thêm.
Hà Uyên.
...
Chào Thiên đồng
Cảm ơn Bạn rất nhiều từ những ý kiến mà Bạn đặt vấn đề. Tôi đang trải nghiệm, cùng luận giải thêm với Thiên Đồng sau.
Gần đây, về cá nhân, tôi đang thử nghiệm, nhưng không nói ra, về: Họ và Tên của sự Hợp khí, với điều kiện là: Âm dương đã hợp hóa => đã "sinh". Ví dụ như tên của Dương: Trần văn A, tên của Âm là Nguyễn thị B => tôi phân: Trần Văn làm Ngoại quái, còn tên là chữ A, thì đặt làm Nội quái. Đối ứng với Âm, thì Nguyễn Thị tổ hợp làm Ngoại quái, còn tên chữ là B, thì tổ hợp làm Nội quái. Tôi thử nghiệm xét thấy, có nhiều điều rất lạ khi thông tin được bộc lộ ra, từ hai quẻ Đối ứng.
Chia sẻ cùng Thiên Đồng và Anh Chị Em.
Hà Uyên.
SƠN LÔI DI – 72 CỤC
Di: Trinh cát ; quan di, tự cầu khẩu thực.
Dịch: “Quẻ Di tượng trương cho sự nuôi dưỡng: giữ vững chính bền thì được tốt lành. Xem xét hiện tượng nuôi dưỡng sự vật, cần biết dùng chính đạo trong việc từ tìm thức ăn nuôi mình.”
Chú thích: chứ “di” cổ văn mà nhìn ngang thì giống như cái mép, là tên gọi “cái mép”, tượng trưng trong mồm ngậm thức ăn, dưới Chấn động trên Cấn ngưng chỉ, có tượng như đang nhai thức ăn, nhai vật, khi động khi ngừng. Trời đất tạo hóa nuôi nấng muôn vật, mỗi vật được một cách nuôi riêng thì đó cũng là chính đạo mà thôi. Xem cách nuôi của người và cách họ tự tìm thức ăn cho mình, thì sự thiên ác lành giữ có thể thấy được.
Thoán viết: Di, trinh cát, dưỡng chính tắc cát dã. Quan di, quan kỳ sở dưỡng dã ; tự cầu khẩu thực, quan kỳ tự dưỡng dã. Thiên địa dưỡng vạn vật, thánh nhân dưỡng hiền dĩ cập vạn dân: di chi thời đại hỹ tai.
Dịch: “Thoán truyện nói: Nuôi dưỡng, giữ vững chính bền thì được tốt lành. Quan sát hiện tượng nuôi dưỡng sự vật, là quan sát điều kiện khách quan để có được sự nuôi dưỡng ; nên biết dùng chính đạo trong việc tự tìm thức ăn nuôi mình, tức quan sát để biết được về phương pháp chủ quan tự nuôi mình đúng đắn nhất. Trời đất nuôi dưỡng vạn vật, thánh nhân nuôi dưỡng người hiền cho tới muôn dân ; công hiệu của thời “di dưỡng” lớn vậy thay!”
Chú thích: Người quân tử cắt (miếng thịt) không ngay ngắn không ăn, huống chi là miếng ăn phi nghĩa. Bởi vậy cho nên kẻ được nuôi dưỡng phải là kẻ hiền minh, từ nuôi mình tất phải hợp lễ, đó là nghĩa “dưỡng chính” vậy. Về sự sinh và sự dưỡng của muôn vật, thì “thời” là lớn.
Tượng viết: Sơn hạ hữu Lôi, di ; quân tử dĩ thận ngôn ngữ, tiết ẩm thực.
Dịch: “Tượng truyện nói: Dưới núi vang động tiếng sấm của quẻ Chấn (dưới động trên ngưng, như miệng nhai thức ăn), tượng trưng cho sự “nuôi dưỡng”, người do vậy thận trọng nói năng để dưỡng đức, tiết chế sự ăn uống để nuôi mình.”
Chú thích: noi theo đạo “dưỡng chính” của quẻ Di, dưỡng đức và dưỡng thân rất quan trọng đối với thời “nuôi dưỡng”. Họa theo miệng mà ra, hoạn theo miệng mà vào, cho nên đối với sự nuôi dưỡng, thì phải “thận trong” và “tiết chế” vậy.
HÀO 9.1
1- Sơn Lôi Di 9.1:
- “Xả nhĩ linh quy, quan ngã đóa di, hung.”
- Dịch: “Hào Chín Đầu, người bỏ phần tốt đẹp như rùa thiêng của mình mà nhìn ta tới trễ mép cầu ăn, có hung hiểm,”
- Tượng: Hào Chín Đầu không đáng được tôn trọng. Chưa đủ nói lên sự sang giầu quý phái.
2- Sơn Trạch Tổn hào 1:
- “Sơ Cửu, dĩ sự xuyền vãng, vô cữu ; chước tổn chi.”
- Dịch: Hào Chín Đầu, hoàn thành việc tự tu dưỡng, liền mau chóng đi lên giúp người ở ngôi cao, tất không có cữu hại, nên châm chước giảm bớt chất cứng của bản thân.”
- Tượng: Hào Chín Đầu tâm chí hợp nhất với bậc tôn trưởng.
3- Sơn Thiên Đại súc hào 1:
- “Sơ Cửu, hữu lệ, lợi dĩ.”
- Dịch: “Hào Chín Đầu, có nguy hiểm, lợi về sự tạm dừng không tiến.”
- Tượng: Hào Chín Đầu không thể cứ dấn thân vào tai biến, hoạn nạn mà đi. Không gặp tai ương.
4- Hỏa Thiên Đại hữu: hào 1
- “Cửu Tứ, vô giao hại, phỉ cữu ; gian tắc vô cữu.”
- Dịch: “Hào Chín Đầu, chưa đi lại giao du thì chưa mắc họa, tự nhiên thì không có cữu hại, nhưng tất phải nhớ là cần cẩn thận như lúc gặp gian nan, như vậy thì mới không gặp tội tỗi.”
- Tượng: Hào Chín Đầu nếu không giao du đi lại với ai thì cũng không mắc phải họa hại.
5- Thuần Càn hào 1:
- “Cửu Ngũ, Tiềm long, vật dụng.”
- Dịch: “Hào Chín đầu, rồng lớn ẩn mình dưới nước, tạm thời chưa thi thố được tài năng.”
6- Trạch Thiên Quải hào 1:
- “Sơ Cửu, tráng vu tiền chỉ, vãng bất thắng vi cữu.”
- Dịch: “Hào Chín Đầu, mạnh ở ngón chân trước, mạo hiểm tiến lên phía trước tất không thể thủ thắng, ngược lại sẽ dẫn đến cữu hại.”
- Tượng: Hào Chín Đầu không thể thủ thắng mà vội tiến lên, là mời gọi sự họa hại đến.
7- Trạch Phong Đại quá hào 1:
- “Sơ Lục, tạ dụng bạch mao, vô cữu.”
- Dịch: “Hào Sáu Đầu, dùng cỏ tranh trắng lót (vật biếu người trên), tránh bị cữu hại.”
- Tượng: Hào Sáu Đầu mềm thuận ở ngôi dưới, hành vi kính cẩn thận trọng.
8- Trạch Sơn Hàm hào 1:
- “Sơ Lục, Hàm kỳ mẫu.”
- Dịch: “Hào Sáu Đầu, giao cảm ở ngón chân cái.”
- Tượng: Hào Sáu Đầu chí hướng phát triển ra phía ngoài.”
9 Trạch Địa Tụy hào 1:
- “Sơ Lục, hữu phu bất chung, nãi loạn nãi tụy, nhược hào, nhất ác vi tiếu: vật tuất, vãng vô cữu.”
- Dịch: “Hào Sáu Đầu, nếu không giữ được đến cùng sự thành tín trong lòng, tất sẽ làm loạn mà tụ họp bừa bãi với mọi người ; nếu chuyện tình mà kêu gọi người ở trên, thì có thể chỉ một cái bắt tay với người bạn dương cứng là lại vui cười được ngay ; Không phải lo nghĩ, đi lên tất không gặp cữu hại.”
- Tượng: Hào Sáu Đầu tâm chí có sự mê loạn.
10- Thủy Địa Tỷ hào 1:
- “Sơ Lục, hữu phu tỷ chi, vô vữu ; hữu phu doanh phẫu, chung lai hữu tha, cát.”
- Dịch: “Hào Sáu Đầu, trong lòng thành tín, thân mật gần gũi với bậc quân chủ thì không gặp cữu hại ; sự thành tín của bậc quân chủ như riệu ngon đựng đầy hũ, cuối cùng khiến cho kẻ ở xa đều đến quy phục, mà hưởng được sự vỗ về ở tận các miền khác, tốt lành.”
- Tượng: Hào Sáu Đầu nói hào Chín Năm ứng rộng tới các nơi khác, tất sẽ được tốt lành.
11- Thuần Khôn hào 1:
- “Sơ Lục, lý sương, kiên băng chí.”
- Dịch: “ Hào Sáu Đầu, dẫm lên sương mỏng là sẽ đón đợi băng dày.”
- Tượng: Hào Sáu Đầu nói lên khí âm đã bắt đầu ngưng tụ, theo như quy luật thì băng dày sẽ đến.
12- Sơn Địa Bác hào 1:
- “Sơ Lục, bác sàng dỹ túc, miệt ; trinh hung.”
- Dịch: “Hào Sáu Đầu, làm sập giường trước tiên phải đẽo từ chân, chân giường tất sẽ gãy gục, giữ vững chính bền để phòng hung hiểm.”
- Tượng: Hào Sáu Đầu trước tiên bị làm ruỗng mọt phần nền móng phía dưới.
13- Sơn Lôi Di 9.1
HÀO 6.3
1- Sơn Lôi Di 6.3:
- Lục Tam, phất di ; trinh hung, thập niên vật dụng, vô du lợi.”
- Dịch: “Hào Sáu Ba, trái với lẽ thường “nuôi dưỡng” ; giữ vững chính bền để phòng hung hiểm, mười năm dài lâu không được thi thố tài dụng, nếu thi thố tất sẽ không được lợi gì.”
- Tượng: Hào Sáu Ba đại nghịch bất đạo với chính đạo nuôi dưỡng.
2- Hỏa Lôi Phệ hạp 9.4:
- “Lục Tam, phệ tích nhục, ngộ độc ; tiểu nhân lận, vô cữu.”
- Dịch: “ Hào Sáu Ba, gia hình không thuận lợi, như cắn phải thịt khô rắn cứng, lại ngộ độc ; nhưng như vậy bất quá chỉ hơi tiếc, chứ không đến nỗi cữu hại”
- Tượng: Hào Sáu Ba cư vị không thỏa đáng, đến nỗi bị kẻ thụ hình sinh oán.
3- Thiên Lôi Vô vọng 9.5:
- “ Lục Tam, vô vọng chi tai: hoặc hệ chi ngưu, hành nhân chi đắc, ấp nhân chi tai.”
- Dịch: “Hào Sáu Ba, không làm càn mà bị tai ương: ví như có người buộc một con trâu, người đi đường dắt về làm của mình, người trong ấp bị nghi oan là bắt trộm.”
- Tượng: Hào Sáu Ba vận số đến lúc bị tai bay vạ gió, bị đổ tội oan.
4- Trạch Lôi Tùy 6.6:
- “Lục Tam, hệ trượng phu, thất tiểu tử ; tùy hữu cầu đắc, lợi cư trinh.”
- Dịch: “Hào Sáu Ba, quấn quýt với đấng trượng phu dương cứng, mất kẻ tiểu tử ở dưới, theo với người mà ta đã cầu tất được, lợi nếu như ở yên, giữ vững chính bền.”
- Tượng: Hào Sáu Ba là bỏ kẻ tiểu tử ở dưới.
5- Trạch Địa Tụy 6.1:
- “Lục Tam, tụy như ta như, vô du lợi ; vãng vô cữu, tiểu lận.”
- Dịch: “Hào Sáu Ba, (muốn) tụ hội (mà) không người, nên luôn miệng ca thán, không được lợi gì ; đi lên sẽ không có cữu hại, nhưng có sự tiếc nhỏ.”
- Tượng: Sáu Ba lòng muốn hướng lên trên thuận theo dương cứng.
6- Trạch Thủy Khốn 9.2:
- “Lục Tam, khốn vu thạch, cứ vu tật lê ; nhập vu kỳ cung, bất kiến kỳ thê, hung.”
- Dịch: “khốn ở dưới đá lớn (đá rắn khó vào), dừa vào cây tật lê (nhiều gai khó dẫm) ; dù có chạy về nhà cũng không thấy vợ, có hung hiểm.”
- Tượng: Sáu Ba lấy chất âm mềm cưỡi lên kẻ cương cường. “Về nhà không thấy vợ” đây là hiện tượng chẳng lành.
7- Trạch Phong Đại quá 9.3:
- “Cửu Tam, đống náo, hung.”
- Dịch: “hào Chín Ba, cột ỏe, hung.”
- Tượng: Chín Ba không thể thêm gì để phụ giúp.
8- Thủy Phong Tỉnh 6.4:
- “Cửu Tam, tỉnh tiết bất thực, vị ngã tâm trắc ; khả dụng cấp, vương minh tịnh thụ kỳ phúc.”
- Dịch: “Hào Chín Ba, giếng nước được nạo vét sạch sẽ mà không được múc nấu ăn, khiến ta động lòng trắc ẩn, nên mau mau múc lấy nước giếng trong này, được vị vua sáng suốt thì vua tôi sẽ chung hưởng phúc trạch.”
- Tượng: Chín Ba có hành vi chưa được hiểu, thật khiến cho người ta động lòng chắc ẩn, “nhà vua sáng suốt” là để cho vua tôi cùng hưởng phúc trạch.
9- Địa Phong Thăng 6.5:
- “Cửu Tam, thăng hư ấp.”
- Dịch: “Hào Chín Ba, lên cao dễ dàng như vào thẳng nơi thành ấp không người.”
- Tượng: Chín Ba thượng thăng sẽ không có điều gì phải nghi ngờ suy nghĩ.
10- Sơn Phong Cổ 9.6:
- “Cửu Tam, cán phụ chi cổ, tiểu hữu hối, vô đại cữu.”
- Dịch: “Hào Chín Ba, uốn nắn điều tệ loạn của cha, hơi có hối hận, nhưng không có cữu hại lớn.”
- Tượng: Chín Ba mạo hiểm đưa ra lời can gián, cuối cùng không thể có cữu hại
11- Sơn Thiên Đại súc 9.1:
- “Cửu Tam, lương mã trục, lợi gian trinh, nhật nhàn cư về, lợi hữu du vãng.”
- Dịch: “Hào Chín Ba, ngựa tốt hay rong ruổi, lợi về nhớ kỹ sự gian nan, giữ vững chính bền ; không ngừng rèn luyện kỹ năng phòng vệ của ngựa xe, lợi về có sự đi.”
- Tượng: Chín Ba hợp chí với hào Chín Trên.
12- Sơn Hỏa Bí 6.2:
- “Cửu Tam, bí như, nhu như, vĩnh trinh cát.”
- Dịch: “Hào Chín Ba, văn sức được đẹp đẽ đến nhường ấy, nhiều lần ban huệ trạch cho người, giữ vững chính bền được lâu dài sẽ được sự tốt lành.”
- Tượng: Chín Ba có thể làm được như vậy thì không bao giờ bị kẻ khác lấn nhờn.
13- Sơn Lôi Di 6.3
HÀO 6.4
1- Sơn Lôi Di 6.4:
- “Lục Tứ, điên di, cát ; hổ thị đam đam, kỳ dục trục trục, vô cữu.”
- Dịch: “Hào Sáu Bốn, đảo điên mà cầu dưới nuôi dưỡng (rồi lại dùng sự nuôi dưỡng đó nuôi lại mọi người), tốt lành ; như mắt hổ nhìn đăm đăm, gấp gáp cầu xin tiếp liền không dứt, tất không có cữu hại.”
- Tượng: Sáu Bốn ở ngôi trên mà có thể tỏa rọi ánh sáng của đức đẹp xuống dưới. Lòng đầy thèm muốn. Điềm cát, đã thực hiện xong công việc.
2- Phong Lôi Ích hào 4:
- “Lục Tứ, trung hàng cáo công tòng, lợi dụng vi y thiên quốc.”
- Dịch: “Hào Sáu Bốn, giữ điều trung, thận trọng sự hành, cung kính thăm hỏi bậc vương công tất sẽ được lời nghe, kế theo, lợi về sự dựa vào bậc quân thượng trong việc dời đô, ích dân.”
- Tượng: Sáu Bốn lấy sự tăng ích tâm chí thiên hạ để khuyên gián vương công
3- Thủy Lôi Truân hào 4:
- “Lục Tứ, thừa mã ban như, cầu hôn cấu ; vãng cát, vô bất lợi.”
- Dịch: “Hào Sáu Bốn, cưỡi ngựa dập dừu tới, muốn cầu hôn ; đi lên tất sẽ tốt lành, không gì là không lợi.”
- Tượng: Sáu Bốn muốn cầu hôn ở phía dưới mà tiến lên, như vậy là kẻ sáng suốt hiểu biết.
4- Thủy Địa Tỷ hào 4:
- “Lục Tứ, ngoại tỷ chi, trinh cát.”
- Dịch: “Hào Sáu Bốn, ở ngoài thân mật, gần gũi với đấng quân chủ, giữ vững chính bền thì được sự tốt lành.”
- Tượng: Sáu Bốn thuận theo bậc tôn thượng.
5- Thuần Khảm hào 4:
- “Lục Tứ, tôn tửu, quỹ nhị, dụng phẫu, nạp ước tự dũ, chung vô cữu.”
6- Thủy Phong Tỉnh hào 4:
- “Lục Tứ, tỉnh trụ, vô cữu.”
- Dịch: “Hào Sáu Bốn, giếng nước đang được xây lại, tất không cữu hại.”
- Tượng: Sáu Bốn chỉ có thể sửa giếng (không thể nóng vội mà nuôi người.
7- Trạch Phong Đại quá 9.4:
- “Cửu Tứ, đống long, cát ; hữu tha, lận.”
- Dịch: “Hào Chín Bốn, cột vươn thẳng như trước, tốt lành ; nếu ứng viện với dưới, tất sinh thẹn tiếc.”
- Tượng: Chín Bốn không thể cho cột lại ỏe xuống nữa.
8- Lôi Phong Hằng hào 4
- Lục Tứ, điền vô cầm.”
- Dịch: “Hào Sáu Bốn, đi săn không được cầm thú.”
- Tượng: Sáu Bốn ở lâu không đúng chỗ của mình, săn bắn làm sao mà bắt được cầm thú?
9- Hỏa Phong Đỉnh hào 4:
- “Cửu Tứ, đỉnh chiết túc, phúc công tốc, kỳ hình ốc, hung.”
- Dịch: “Hào Chín Bốn, vạc khó lòng chựu nổi sức nặng, chân vạc gãy, cao lương mỹ vị của vương công bị đổ hết, thân vạc ướt át bẩn thửu, có hung hiểm.”
- Tượng: Chín Bốn làm sao còn tín nhiệm được nữa. Chân đỉnh bị cắt, tức là lật đổ chế độ cũ, nên tin như thế nào cho phải?
10- Hỏa Thiên Đại hữu hào 4:
- “Cửu Tứ, phỉ kỳ bàng, vô cữu.”
- Dịch: “Hào Chín Bốn, đừng để tỏ ra quá sự giầu có thì không bị họa hại.”
11- Thuần Ly hào 4:
- “Cửu Tứ, đột như kỳ lai như, phần như, tử như, khí như.”
- Dịch: “Hào Chín Bốn, giống như ngọn lửa mạnh đang thiêu đốt, nhưng chỉ trong phút chốc sẽ bị tiêu tán diệt vong, bị vứt bỏ sạch trơn.”
- Tượng: hư thế của Chín Bốn sẽ làm cho nó không còn nơi phụ bám, chứa chấp. Vật đột nhiên đến, không có chỗ dung thân.
12- Hỏa Lôi Phệ hạp hào 4:
- “Cửu Tứ, phệ can tỷ, đắc kim thỉ ; lợi gian trinh, cát.”
- Dịch: “Hào Chín Bốn, gia hình không thuận lợi như cắn miếng thịt có xương khô, nhưng có khí phách cương trực như mũi tên đồng, lợi về trong gian nan giữ vững được chính bền, tốt lành.”
- Tượng: đạo trị ngục của Chín Bốn chưa phát huy được sáng lớn, không sáng sủa gì.
13- Sơn Lôi Di hào 4
HÀO 6.5
1- Sơn Lôi Di 6.5
- “Lục Ngũ, phất kinh, cư trinh cát, bất khả thiệp đại xuyên.”
- Dịch: “Hào Sáu Năm (ví như bậc “quân vương” dựa vào sự kẻ trên nuôi nình để nuôi thiên hạ), trái với lẽ thường, ở yên giữ vững chính bền thìđược tốt lành, không thể vượt qua sông cả sóng lớn.”
- Tượng: Sáu Năm nên thuận theo và dựa vào người hiền lương dương cứng Chín Trên. Thuận tình đi theo cấp trên, là điềm lành do “cư trinh”.
2- Địa Lôi Phục hào 5:
- “Lục Ngũ, đôn phục, vô hối.”
- Dịch: “Hào Sáu Năm, đôn hậu, dốc lòng thành trở lại, không có gì phải hối hận.”
- Tượng: Sáu Năm ở ngôi giữa không lệch, tự mình suy xét để thành được đạo phục thiện.
3- Thuần Khôn hào 5:
- “Lục Ngũ, hoàng thường, nguyên cát.”
- Dịch: “Hào Sáu Năm, xiêm váy mầu vàng, hết sức tốt lành.”
- Tượng: Sáu Năm lấy đức ôn hòa nhã nhặn để giữ đạo “trung”. “Hoàng thường”, văn hóa là trung tâm.
4- Địa Thủy Sư hào 5:
- “Lục Ngũ, điền hữu cầm, lợi chấp ngôn, vô cữu, trưởng tử xuất sư, đệ tử dư thi, trinh hung.”
- Dịch: “Hào Sáu Năm, trong ruộng có cầm thú, lợi về sự vây bắt, tất không có gì cữu hại ; ủy nhiệm cho bậc trưởng giả cương chính thì có thể thống xuất quân đội, còn ủy nhiệm cho bọ tuổi trẻ không có đức thì tất phải trở xác, đại bại mà về, giữ vững chính bền để phòng hung hiểm.”
- Tượng: “trưởng tử xuất sư”, hoạt động của trung tâm ; “đệ tử dư thi”, là kết quẻ của việc sử dụng người không đích đáng. Lệnh ban ra không thỏa đáng.
5- Địa Phong Thăng hào 5:
- “Lục Ngũ, trinh cát, thăng giai.”
- Dịch: “Hào Sáu Năm, giữ vững chính bền thì được tốt lành, giống như cứ từng bậc một mà lên cao.”
- Tượng: hết sức toại nguyện với tâm chí lên cao, ý chí thật lớn lao.
6- Lôi Phong Hằng hào 5:
- “Lục Ngũ, hằng kỳ đức, trinh ; phụ nhân cát, phu tử hung.”
- Dịch: “Hào Sáu Năm, muốn thường giữ phẩm đức mềm đẹp, nên giữ vững chính bền ; đàn bà thì được tốt lành, đàn ông tất có hung hiểm.”
- Tượng: cần suốt đời thuận tòng một bề theo một chồng ; đàn ông phải điều hành mọi việc sao cho thích hợp, nếu mềm thuận như đàn bà tất có hung hiểm. Chồng ở rể, theo vợ là hung.
7- Trạch Phong Đại quá hào 5:
- “Cửu Ngũ, khô dương sinh hoa, lão phụ đắc kỳ sỹ phu ; vô cữu vô dự.”
- Dịch: “Hào Chín Năm, cây dương khô ra hoa mới, bà già lọm khọm lấy được người chồng khỏe mạnh, không bị cữu hại, cũng không được khen.”
- Tượng: “dương khô ra hoa” như vậy thì sức sống làm sao lâu bền được. “bà già lọm khọm”, tình trạng như vậy thật đáng xấu hổ.
8- Thiên Phong Cấu hào 5:
- “Cửu Ngũ, dĩ khởi bao qua, hàm chương, hữu vẫn tự nhiên.”
- Dịch: “Hào Chín Năm, lấy cành lá cây khởi bao bọc che trở cây dưa hấu ở dưới ; trong lòng ngậm sự sáng đẹp, tất nhiên có sự ngộ hợp lý tưởng từ trên trời xuống.”
- Tượng: tâm chí Chín Năm không đi ngược mệnh trời. Hàm nghĩa 9.5 nói về hiện tượng lạ “thiên thạch từ trời rơi xuống.”
9- Thuần Càn hào 5:
- “Cửu ngũ, phi long tại thiên, lợi hiện đại nhân.”
- Dịch: “Hào Chín Năm, rồng lớn bay cao trên trời, lợi về sự xuất hiện đại nhân.”
10- Thiên Hỏa Đồng nhân hào 5:
- “Cửu Ngũ, đồng nhân, tiên hào đào, nhi hậu tiếu, đại sư khắc tương ngộ.”
- Dịch: “Hào Chín Năm, hòa đồng với người, trước thì khóc lóc kêu rên, sau thì vui mừng cười reo, đánh lớn rồi báo tiệp, chí đồng rồi tương ngộ hội hợp.”
- Tượng: “trước thì khóc lóc kêu rên”, do Chín Năm trung chính, chân thành thẳng thắn. “Phải đến khi đại quân xuất chiến mới tương ngộ hội hợp cùng kẻ chí đồng”, là do Chín Năm cùng với kẻ địch giao chiến và đã chiến thắng.
11- Thiên Lôi Vô vọng hào 5:
- “Cửu Ngũ, vô vọng chi tật, vật dược hữu hỷ.”
- Dịch: “Hào Chín Năm, không càn bậy mà bị bệnh nhẹ, không cần phải uống thuốc mà vui vì khỏi bệnh.”
- Tượng: Chín Năm không dùng thử linh tinh, không thể thử thuốc.
12- Phong Lôi Ích hào 5:
- “Cửu Ngũ, hữu phu huệ tâm, vật vấn nguyên cát: Hữu phu huệ ngã đức.”
- Dịch: “Hào Chín Năm, có lòng chân thành, tín thực ban ơn cho thiên hạ, không cong nghi ngờ gì là hết sức tốt đẹp: Người trong thiên hạ tất sẽ chân thành tín thực cảm ân huệ và nghĩ tới sự báo đáp ân đức của ta.”
- Tượng: “tín thực ban ơn cho thiên hạ”, nói lên sự hết sức tốt lành là điều không cần phải hỏi. “báo đáp ân đức của ta”, nói lên hào Chín Năm được lớn chí tổn thượng ích hạ. Cái đạt được lớn nhất là ý chí.
13- Sơn Lôi Di hào 5
HÀO 9.6
1- Sơn Lôi Di hào 6
- “Thượng Cửu, do di ; lệ cát, lợi thiệp đại xuyên.”
- Dịch: “Hào Chín Trên, thiên hạ nhờ nó mà được nuôi dưỡng, biết nguy mà thận trọng thì được tốt lành, lợi về vượt qua sông cả sóng lớn.”
- Tượng: Chín Trên có phúc khánh lớn.
2- Sơn Địa Bác hào 6:
- “Thượng Cửu, thạc quẻ bất thực, quân tử đắc dư, tiểu nhân bác lư.”
- Dịch: “Hào Chín Trên, quẻ lớn chưa bị hái xuống ăn, người quân tử hái được nó thì có thể ruổi xe đi cứu đời, kẻ tiểu nhân hái được tất sẽ đi đến chỗ phá vạn nhà.”
- Tượng: “quân tử đắc dư”, nói lên ý trăm họ do vậy được bề trên che trở. “tiểu nhân bác lư”, nói lên kẻ tiểu nhân cuối cùng không thể tin dùng được. Cuối cùng nhà nát không thể dùng được nữa.
3- Sơn Thủy Mông hào 6:
- “Thượng Cửu, kích mông, bất lợi vi khấu, lợi ngự khấu.”
- Dịch: “Hào Chín Trên, làm mạnh để mở mang sự ngu tối, không lợi về dùng cách thức quá dữ dằn, cách này chỉ nên ngừa giặc mạnh.”
- Tượng: Chín Trên có thể khiến cho ý chí trên dưới hài hòa, ứng thuận.
4- Sơn Phong Cổ hào 6:
- “Thượng Cửu, bất sự vương hầu, cao thượng kỳ sự.”
- Dịch: “Hào Chín Trên, không làm sự nghiệp của bậc vương hầu, đề cao hành vi ung dung tự tại của mình.”
- Tượng: ý chí của Chín Trên đáng để noi theo. Không việc gì là không đến tay vương hầu.
5- Hỏa Phong Đỉnh hào 6:
- “Thượng Cửu, đỉnh ngọc huyễn, đại cát, vô bất lợi.”
- Dịch: “Hào Chín Trên, vạc có đòn bằng ngọc, hết sức tốt lành, không gì không lợi.”
- Tượng: Chín Trên dương cứng có thể điều tiết bằng âm mềm. Cương nhu hòa hợp.
6- Thiên Phong Cấu hào 6:
- “Thượng Cửu, cấu kỳ giác, lận, vô cữu.”
- Dịch: “Hào Chín Trên, gặp nơi trống vắng, lòng có hối tiếc, nhưng không gặp cưu hại.”
- Tượng: ở nơi cao cùng cực nên dẫn tới sự hối tiếc là tương ngộ mà không người. Nghèo hèn sinh ra tiếc của (từ giầu có tụt dốc xuống thành nghèo khổ).
7- Trạch Phong Đại quá hào 6:
- “Thương Lục, quá thiệp diệt đỉnh ; hung, vô cữu.”
- Dịch: “Hào Sáu Trên, lội nước quá sâu đến nỗi ngập cả đầu ; có hung hiểm, nhưng không có lỗi gì.”
- Tượng: cứu đời mà mất mạng, không thể coi là có lỗi. qua sông hỏng thuyền.
8- Trạch Thiên Quải hào 6:
- “Thượng Lục, vô hào, chung hữu hung.”
- Dịch: “Hào Sáu Trên, không phải gào khóc, cuối cùng khó tránh sự hung hiểm.
- Tượng: Với tình thế ở cao bên trên cuối cùng không thể lâu dài.
9- Trạch Hỏa Cách hào 6:
- “Thương Lục, quân tử báo biến, tiểu nhân cách diện, chinh hung, cư trinh cát.”
- Dịch: “Hào Sáu Trên, người quân tử như được con báo đốm giúp đã làm nên sự biến cách, kẻ tiểu nhân đua nhau làm thay đổi khuynh hướng thời trước, lúc này nếu cứ tiếp tục tiến mạnh không thôi, tất có hung hiểm, ở yên giữ vững chính bền thì được tốt lành.”
- Tượng: “quân tử báo biến”, ngôn ngữ hoa mỹ bay bổng. “Đánh dấu vào mặt tiểu nhân”, thuận tòng sự niến cách của nhà vua.
10- Trạch Lôi Tùy hào 6:
- “Thương Lục, câu hệ chi, nãi tùng, duy chi; vương dụng hưởng vu tây sơn.”
- Dịch: “Hào Sáu Trên, bắt giam, cưỡng bức phải theo, theo mà rằng chặt lấy ; đấng quân vương xuất quân thảo nghịch đặt tế lễ ở non tây.”
- Tượng: ở ngôi trên cùng, đạo theo cùng tận, “trên” nghèo khổ.
11- Thủy Lôi Truân hào 6:
- “Thương Lục, thừa mã ban như, khấp huyết liên như.”
- Dịch: “Hào Sáu Trên, người cưỡi ngựa muốn cầu hôn phối (nhưng lại không có sự cảm ứng) nên thương tâm khóc đến nỗi máu mắt chảy đầm đìa.”
- Tượng: làm sao mà có thể trường cửu như vậy được.
12- Địa Lôi Phục hào 6:
- “Thượng Lục, mê phục, hung, hữu tai sảnh. Dụng hành sư, chung hữu đại bại, dĩ kỳ quốc, quân hung, chí vu thập niên bất khắc chinh.”
- Dịch: “Hào Sáu Trên, mê lạc nhầm bước không biết đường trở lại, có hung hiểm, có tai ương họa hoạn. Nếu như dùng vào việc đem binh giao chiến thì cuối cùng sẽ thảm bại ; dùng vào việc trị nước, điều hành chính sự, tất làm cho nước loạn, vua gặp hung hiểm, cho đến nhiều năm sau cũng không thể chấn hưng phát triển.”
- Tượng: Sáu Trên đi ngược với con đường của đạo quân chủ dương cứng. Ngược với đạo lý của vua.
13- Sơn Lôi Di hào 6
...
Chào VanTrungHac
- Theo Hà Uyên, 1 hào chỉ có 5 quá trình tiệm tiến chuyển hoá, Hà Uyên cũng đã trao đổi với Liêm Trinh. Khi chúng ta trao đổi với nhau, thì Hà Uyên phân tích 12 quá trình là để hiểu thêm về những nguyên lý của Kinh Dịch.
- Hai người cùng Năm-Tháng-Ngày-Giờ đến hỏi vận mệnh, thì Hà Uyên chưa có câu trả lời với VanTrungHac.
- Quẻ ứng tức thì,...Hà Uyên rất ít, thiếu kinh nghiêm.
Hà Uyên có thể cùng thảo luận với VanTrungHac về chủ đề: tại sao một cung, lại quy định 7 quẻ phải theo Ngũ hành của quẻ Bát Thuần, vì phần này Hà Uyên vẫn có nhiều chỗ lúng túng.
TIÊN THIÊN NỘI TĨNH NGOẠI ĐỘNG
Vị trí thứ nhất là Thuần Càn, số là 99, trong và ngoài đều là số “thành”, nội tĩnh ngoại tĩnh
Vị trí thứ 2 là Trạch Thiên Quải, số là 49, trong là số “thành”, ngoài là số “sinh”, do quẻ Càn hào 6 biến. Ngoại động nội tĩnh.
Vị trí thứ 3 là Hỏa Thiên Đại hữu, số là 39, ngoài “sinh” trong “thành”, ngoaì do quẻ Càn hào 5 biến.
Vị trí thứ 4 là Lôi Thiên Đại tráng, số là 89, cả trong và ngoài đều là số “thành”, ngoài do quẻ Khôn hào 4 biến.
Vị trí thứ 5 là Phong Thiên Tiểu súc, số là 29, nội tĩnh ngoại động, ngoại động do quẻ Càn hào 4 biến.
Vị trí thứ 6 là Thủy Thiên Nhu, số là 79, nội và ngoại đều là số “thành”, ngoại do quẻ Khôn hào 5 biến.
Vị trí thứ 7 là Sơn Thiên Đại súc, số là 69, nội và ngoại đều là số “thành", ngoại do quẻ Khôn hào 6 biến.
Vị trí thứ 8 là Địa Thiên Thái, số là 19, nội “thành” ngoại “sinh”.
Vị trí thứ 9 là Thiên Trạch Lý, số là 94.
Vị trí thứ 10 là Thuần Đoài, số là 44.
Vị trí thứ 11 là Hỏa Trạch Khuê, số là 34.
Vị trí thứ 12 là Lôi Trạch Quy muội, số là 84 Vị trí thứ 13 là Phong Trạch Trung phu, số là 24.
Vị trí thứ 14 là Thủy Trạch Tiết, số là 74.
Vị trí thứ 15 là Sơn Trạch Tổn, số là 64 Vị trí thứ 16 là Địa Trạch Lâm, số là 14.
Vị trí thứ 17 là Thiên Hỏa Đồng nhân, số là 93.
Vị trí thứ 18 là Trạch Hỏa Cách, số là 43.
Vị trí thứ 19 là Thuần Ly (10 + 9), số là 33.
Vị trí thứ 20 là Lôi Hỏa Phong, số là 83.
Vị trí thứ 21 là Phong Hỏa Gia nhân, số là 23.
Vị trí thứ 22 là Thủy Hỏa Ký tế, số là 73.
Vị trí thứ 23 là Sơn Hỏa Bí, số là 63.
Vị trí thứ 24 là Địa Hỏa Minh di số là 13.
Vị trí thứ 25 là Thiên Lôi Vô vọng, số 98 Vị trí thứ 26 là Trạch Lôi Tùy, số là 48.
Vị trí thứ 27 là Hỏa Lôi Phệ hạp, số là 38.
Vị trí thứ 28 là Thuần Chấn, số là 88.
Vị trí thứ 29 là Phong Lôi Ích, số là 28 Vị trí thứ 30 là Thủy Lôi Truân, số là 78.
Vị trí thứ 31 là Sơn Lôi Di, số là 68.
Vị trí thứ 32 là Địa Lôi Phục, số là 18.
Vị trí thứ 33 là Thiên Phong Cấu, số là 92.
Vị trí thứ 34 là Trạch Phong Đại quá, số là 42.
Vị trí thứ 35 là Hỏa Phong Đỉnh, số 32.
Vị trí thứ 36 là Lôi Phong Hằng, số là 82.
Vị trí thứ 37 là Thuần Tốn, số là 22.
Vị trí thứ 38 là Thủy Phong Tỉnh, số là 72.
Vị trí thứ 39 là Sơn Phong Cổ, số là 62.
Vị trí thứ 40 là Địa Phong Thăng, số là 12.
Vị trí thứ 41 là Thiên Thủy Tụng, số là 97.
Vị trí thứ 42 là Trạch Thủy Khốn, số là 47.
Vị trí thứ 43 là Hỏa Thủy Vị tế, số là 37.
Vị trí thứ 44 là Lôi Thủy Giải, số là 82 Vị trí thứ 45 là Phong Thủy Hoán, số là 27.
Vị trí thứ 46 là Thuần Khảm, số là 77.
Vị trí thứ 47 là Sơn Thủy Mông, số là 67.
Vị trí thứ 48 là Địa Thủy Sư, số là 17.
Vị trí thứ 49 là Thiên Sơn Độn, số là 96.
Vị trí thứ 50 là Trạch Sơn Hàm, số là 46.
Vị trí thứ 51 là Hỏa Sơn Lữ, số là 36.
Vị trí thứ 52 là Lôi Sơn Tiểu quá, số là 86.
Vị trí thứ 53 là Phong Sơn Tiệm, số là 26.
Vị trí thứ 54 là Thủy Sơn Kiển, số là 76.
Vị trí thứ 55 là Thuần Cấn, số là 66.
Vị trí thứ 56 là Địa Sơn Khiêm, số là 16 Vị trí thứ 57 là Thiên Địa Bĩ, số là 91.
Vị trí thứ 58 là Trạch Địa Tụy, số là 41.
Vị trí thứ 59 là Hỏa Địa Tấn, số là 31.
Vị trí thứ 60 là Lôi Địa Dự, số là 81.
Vị trí thứ 61 là Phong Địa Quan, số là 21.
Vị trí thứ 62 là Thủy Địa Tỷ, số là 71.
Vị trí thứ 63 là Sơn Địa Bác, số là 61.
Vị trí thứ 64 là Thuần Khôn, số là 11.
HẬU THIÊN NỘI ĐỘNG NGOẠI TĨNH
1- Càn ngoại:
- Vị trí thứ nhất là Thuần Càn, số thực dụng là 99
- Vị trí thứ 9 (1 +8) là Thiên Trạch Lý, số là 94.
- Vị trí thứ 17 (9 + 8) là Thiên Hỏa Đồng nhân, số là 93.
- Vị trí thứ 25 (17 +8) là Thiên Lôi Vô vọng, sô là 98
- Vị trí thứ 33 (25 +8) là Thiên Phong Cấu, số là 92.
- Vị trí thứ 41 (33 +8) là Thiên Thủy Tụng, số là 97.
- Vị trí thứ 49 (41 + 8) là Thiên Sơn Độn, số là 96.
- Vị trí thứ 57 (49 + 8) là Thiên Địa Bĩ (bế tắc), số là 91 2- Đoài ngoại:
- Vị trí thứ 2 là Trạch Thiên Quải, số là 49,(58 + 8 = 66 – 64 = 2)
- Vị trí thứ 10 là Thuần Đoài (vui vẻ), số là 44
- Vị trí thứ 18 là Trạch Hỏa Cách (cải cách), số là 43.
- Vị trí thứ 26 là Trạch Lôi Tùy (theo), số là 48.
- Vị trí thứ 34 là Trạch Phong Đại quá (quá lớn), số là 42.
- Vị trí thứ 42 là Trạch Thủy Khốn, số là 47.
- Vị trí thứ 50 là Trạch Sơn Hàm (trai gái cảm nhau), số là 46.
- Vị trí thứ 58 là Trạch Địa Tụy (nhóm họp), số là 41. 3- Ly ngoại:
- Vị trí thứ 3 là Hỏa Thiên Đại hữu, số là 39, (59 + 8 = 67 – 64 = 3)
- Vị trí thứ 11 là Hỏa Trạch Khuê (chia lìa), số là 34.
- Vị trí thứ 19 là Thuần Ly, số là 33.
- Vị trí thứ 27 là Hỏa Lôi Phệ hạp (cắn để hợp), số là 38.
- Vị trí thứ 35 là Hỏa Phong Đỉnh, số 32.
- Vị trí thứ 43 là Hỏa Thủy Vị tế, số là 37.
- Vị trí thứ 51 là Hỏa Sơn Lữ (bỏ nhà đi tha hương), số là 36.
- Vị trí thứ 59 là Hỏa Địa Tấn (tiến lên), số là 31. 4- Chấn ngoại:
- Vị trí thứ 4 là Lôi Thiên Đại tráng, số là 89,(60 + 8 = 68 – 64 = 4)
- Vị trí thứ 12 là Lôi Trạch Quy muội (em gái về nhà chồng), số là 84.
- Vị trí thứ 20 là Lôi Hỏa Phong (thịnh, lớn) số là 83.
- Vị trí thứ 28 là Thuần Chấn, số là 88.
- Vị trí thứ 36 là Lôi Phong Hằng (lâu dài), số là 82
- Vị trí thứ 44 là Lôi Thủy Giải, số là 87.
- Vị trí thứ 52 là Lôi Sơn Tiểu quá (quá chút ít), số là 86.
- Vị trí thứ 60 là Lôi Địa Dự (vui sướng), số là 81. 5- Tốn ngoại:
- Vị trí thứ 5 là Phong Thiên Tiểu súc, số là 29 (61 + 8 = 69 – 64 = 5)
- Vị trí thứ 13 là Phong Trạch Trung phu (có đức tin trong lòng), số là 24.
- Vị trí thứ 21 là Phong Hỏa Gia nhân, số là 23.
- Vị trí thứ 29 là Phong Lôi Ích (tăng lên), số là 28. -
- Vị trí thứ 37 là Thuần Tốn, số là 22.
- Vị trí thứ 45 là Phong Thủy Hoán (chia lìa, tan tác), số là 27.
- Vị trí thứ 53 là Phong Sơn Tiệm (tiến dần), số là 26.
- Vị trí thứ 61 là Phong Địa Quan (xem xét), số là 21. 6- Khảm ngoại:
- Vị trí thứ 6 là Thủy Thiên Nhu (chờ đợi), số là 79 (62 + 8 = 70 – 64 = 6)
- Vị trí thứ 14 là Thủy Trạch Tiết (tiết chế lại), số là 74.
- Vị trí thứ 22 là Thủy Hỏa Ký tế, số là 73, nạp Mậu Thìn, hành 9 vận.
- Vị trí thứ 30 là Thủy Lôi Truân (đầy và khó khăn), số là 78.
- Vị trí thứ 38 là Thủy Phong Tỉnh, số là 72.
- Vị trí thứ 46 là Thuần Khảm, số là 77.
- Vị trí thứ 54 là Thủy Sơn Kiển, số là 76.
- Vị trí thứ 62 là Thủy Địa Tỷ, số là 71. 7- Cấn ngoại:
- Vị trí thứ 7 là Sơn Thiên Đại súc, số là 69 (63 + 8 = 71 – 64 = 7)
- Vị trí thứ 15 là Sơn Trạch Tổn, số là 64.
- Vị trí thứ 23 là Sơn Hỏa Bí (rực rỡ, sáng sủa), số là 63.
- Vị trí thứ 31 là Sơn Lôi Di (nuôi nấng), số là 68
- Vị trí thứ 39 là Sơn Phong Cổ, (đổ nát, công việc), số là 62.
- Vị trí thứ 47 là Sơn Thủy Mông (non yếu, mù mờ), số là 67.
- Vị trí thứ 55 là Thuần Cấn, số là 66 (46), Cấn nạp Bính Dần, hành 1 vận.
- Vị trí thứ 63 là Sơn Địa Bác (tiêu mòn, bóc lột), số là 61 8- Khôn ngoại:
- Vị trí thứ 8 là Địa Thiên Thái (hanh thông), số là 19.
- Vị trí thứ 16 là Địa Trạch Lâm (lớn tới), số là 14.
- Vị trí thứ 24 là Địa Hỏa Minh di số là 13.
- Vị trí thứ 32 là Địa Lôi Phục (trở lại), số là 18.
- Vị trí thứ 40 là Địa Phong Thăng, số là 12.
- Vị trí thứ 48 là Địa Thủy Sư (đám đông), số là 17.
- Vị trí thứ 56 là Địa Sơn Khiêm (nhún nhường), số là 16.
- Vị trí thứ 64 là Thuần Khôn, số là 11.
...
Thiệu Ung viết: "Càn 1, Đoài 2, Ly 3, Chấn 4, Tốn 5, Khảm 6, Cấn 7, Khôn 8". Theo Tiên thiên, thì quẻ Thuần Càn ở vị trí thứ 1, cộng thêm với 9 thì tới quẻ Thuần Đoài có số thứ tự là 1 + 9 = 10. Cộng thêm với 9 thì được quẻ Thuần Ly có số thứ tự là 10 + 9 = 19. Tiếp tục cộng thêm với 9 thì được quẻ Thuần Chấn có số thứ tự là 19 + 9 = 28. Cộng thêm với 9 thì được quẻ Thuần Tốn có số thứ tự là 28 + 9 = 37. Tiếp tục công thêm với 9 thì được quẻ Tập Khảm có số thứ tự là 37 + 9 = 46. Cộng thêm với 9 thì được quẻ Thuần Cấn có số thứ tự là 46 + 9 = 55. Tiếp tục cộng thêm với 9 thì được quẻ Thuần Khôn có số thứ tự là 55 + 9 = 64. Theo Hậu thiên, quẻ Thuần càn gồm: 1, 9, 17, 25, 33, 41, 49, 57 (1, 9, 7, 5, 3, 1, 9, 7). Từ số thứ tự cuối của quẻ Càn 57 + 9 = 66 ta trừ đi 64 quẻ 66 - 64 = 2. Nên quẻ thuần Đoài mang số thứ tự khởi đầu là 2. Thiệu Ung nói: Càn 1, Đoài 2. Theo Hậu thiên, quẻ Đoài gồm các số: 2, 10, 18, 26, 34, 42, 50, 58 (2, 0, 8, 6, 4, 2, 0, 8). Từ số thứ tự cuối của quẻ Đoài cộng thêm với 9, tức là 58 + 9 = 67 - 64 = 3. Do vậy 3 là số thứ tự đầu tiên của quẻ Ly. Nên nói Ly 3. Tiếp tục như vậy, nên Thiệu Ung viết: Càn 1, Đoài 2, Ly 3, Chấn 4, Tốn 5, Khảm 6, Cấn 7, Khôn 8. Thiên Trạch Hỏa Lôi, Phong Thủy Sơn Địa - 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8.
...
Từ hai sườn dốc - từ đó sinh ra các đối lập tạo nghĩa. Âm Dương, tự nhiên luôn tồn tại "thái quá" và "bất cập", đối lập tạo nghĩa của Âm Dương cũng theo quy luật của tự nhiên, Âm thái quá và bất cập, cũng như Dương thái quá và bất cập, hình thành bốn trạng thái: Thái âm, Thiếu dương, Thái Dương, Thiếu âm. Trong tự nhiên, đặc thù mang tính khái quát cao đó là "nước", luôn luôn giữ được sự "thăng bằng". Trời 1 ở Bắc, Đất 2 ở Nam, Trời 3 ở Đông, Đất 4 ở Tây, Trời 5 ở Trung tâm, Đất 6 ở Bắc.
...
ỨNG DỤNG TIÊN THIÊN - HẬU THIÊN
Can Chi Năm-Tháng-Ngày-Giờ nạp quẻ Dịch
Ví dụ: Năm Kỷ Sửu 2009, tháng Kỷ Tị, ngày Canh Tý, giờ Mậu Tuất.
- Năm Kỷ Sửu, nạp quẻ Hỏa thủy Vị tế, có số thứ tự là 43, có số thực dụng là 37.
- Tháng Kỷ Tị, nạp quẻ Thủy Lôi Truân, có số thứ tự là 30, có số thực dụng là 78
- Ngày Canh Tý, nạp quẻ Lôi Phong Hằng, có số thứ tự là 36, có số thực dụng là 82.
- Giờ Canh Tuất, nạp quẻ Phong Hỏa Gia nhân, có số thứ tự là 21, có số thực dụng là 23.
+ Thiên Can: Kỷ - Kỷ - Canh - Canh nạp số thực dụng là 3-7-8-2, đã hội đủ TAM QUÝ: Sinh khí - Thiên y - Diên niên (Tham Cự Vũ)
+ Địa chi: Sửu - Tị - Tý - Tuất nạp số thực dụng là 7 -8- 2- 3, cũng hội đủ Sinh khí - Diên niên - Thiên y (Tham-Cự-Vũ)
...
Ý NGHĨA CỦA SỰ KẾT HỢP
CẶP SÔ KÊT HƠP
16, 27, 38, 49 là sao Tham lang, thần là Sinh khí (hào 3 biến)
12, 34, 67, 89 là sao Liêm trinh, thần là Ngũ quỷ (hào 2 – 3 biến)
19, 28, 37, 46 là sao Vũ khúc, thần là Diên niên (3 hào đều biến)
13, 24, 68, 79 là sao Văn khúc, thần là Lục sát (hào 1 – 3 biến)
18, 29, 36, 47 là sao Lộc tồn, thần là Họa hại (hào 1 biến)
14, 23, 69, 78 là sao Cự môn, thần là Thiên y (hào 1 – 2 biến)
17, 26, 39, 48 là sao Phá quân, thần là Tuyệt mệnh (hào 2 biến)
1- Sinh khí – Tham lang: phát sinh sự quan hệ về vật chất hay tinh thần, như có tiền, có tiền để trả nợ,… hay gặp gỡ đồng nghiệp, bạn cũ, chiêu đãi, …Sức khỏe tốt, sinh tài thêm đinh. Là những điều kiện sinh sôi, nảy nở, tiến hành thuận lợi, cây côi tươi tốt, chăn nuôi phát triển,…
2- Ngũ quỷ - Liêm trinh: là 5 thứ tà khí quấy rối sự sống, quấy rối quan hệ con người với con người, thường gây ra sự bực mình, rắc rối (do bị tai nan, mất mát, kiện thưa, cãi vã, vạ miệng,…), đi họp đi công tác, công việc bận rộn. Hay bị tai nạn nếu gặp thêm Ngũ hoàng (số 5)
3- Diên niên – Vũ khúc: là chủ về sự bền vững dài lâu, sức khỏa vững vàng, trường thọ, sự may mắn trong các mối quan hệ tình cảm gia đình và xã hội có tính bất ngờ (như trúng số, hay bị tai nạn mà người thì không bị sao,…) {chỉ Chấn và Tốn kết hợp mới được trường thọ bách niên}
4- Lục sát – Văn khúc: là sự thiệt hại những gì thuộc phạm vi chủ thể có trách nhiệm chăm sóc: như con cái, gia súc, cây trái,…là sự cản trở, công việc trái với ý định ban đầu, quan hệ bị xấu đi do tác động của bên ngoài. Tâm trạng thường bất an, công việc khó có kết quả (va chạm xe cộ).
5- Họa hại - Lộc tồn: là sự thiệt hại, hao tán tài vật thuộc quyền chủ thể quản lý sử dụng. Thiệt hại về vật chất hay tinh thần (trả tiền, mất tiền, đồ đạc đang sử dụng tự nhiên bị hư hỏng, cãi vã về đồ đạc, thị phi điều tiếng,…), phải đi xa, tổn tài, dễ mắc bệnh tật.
6- Thiên y - Cự môn: là sự giải thoát những vướng mắc trong đời sống mọi mặt. Người xưa cho rằng Thiên y như là một lực âm phù đã theo sát để cứu nguy. Giả thoát khỏi sự bế tắc. Đúng lúc gay go nhất, bí nhất, nan nguy nhất thì lại có cơ hội để vượt được qua như vật chất hay tinh thần. Có lợi cho sức khỏe, ít bệnh hay nếu có bệnh thì mau khỏi. Tâm lý ổn định, đạo đức lành mạnh.
7- Tuyệt mệnh – Phá quân: sức khỏe suy giảm, sự nghiệp trở ngại, tai nan, tình cảm hay các mối quan hệ bị xấu đi, bị người trở mặt, gặp sự chia lìa, gặp khách không mời mà đến,…, nhưng những việc lớn trong đời lại thường đến vào thời điểm này, tùy theo mệnh cục của mỗi người mà gặp hung hay cát.
8- Phục vị: là khí chất sinh học theo tự nhiên, mọi việc diễn tiến bình thường, nếu gặp tốt thì sẽ tốt, nếu gặp xấu thì sẽ xấu, căn cứ phụ thuộc vào các mối quan hệ và tại thời gian, thời điểm ảnh hưởng vào lúc đó. Ví như ngày là Phục vị, mà gặp tháng hay năm là Thiên y, thì sẽ thuộc về Thiên y, còn nếu gặp năm, tháng hay giờ là Ngũ quỷ, thì sẽ là Ngũ quỷ. Tuổi Khôn Cấn hay có sự va chạm nhất về xe cộ.
...
Đất và Trời giao nhau thì thái bình (Địa Thiên Thái), Sấm (lôi) và Gió (phong) giao nhau thì lâu dài (Lôi Phong Hằng), Thủy và Hỏa giao nhau thì vượt qua (Thủy Hỏa Ký tế), Đầm (trạch) và Núi (sơn) giao nhau thì trai gái cảm nhau (Trạch Sơn Hàm). Cứ một âm một dương gọi là Đạo, là con đường của sự điều chỉnh.
Dương sinh ở Đông mà thịnh ở Nam ; Âm sinh ở Tây mà thịnh ở Bắc ; trong Dương có Âm, trong Âm có Dương, rồi Lưỡng nghi, rồi Tứ tượng, rồi Bát quái, đều là tự nhiên mà có.
Hà đồ giải thích sự sinh thành của Ngũ hành: “Thiên 1 sinh Thủy, địa 6 đã thành ; Địa 2 sinh Hỏa, Thiên 7 đã thành ; Thiên 3 sinh Mộc, Địa 8 đã thành ; Địa 4 sinh Kim, Thiên 9 đã thành ; Thiên 5 sinh Thổ, Địa 10 đã thành”.
Lạc thư: “Dọc ngang đều là 15, mà 7, 8, 9, 6 lặp lại là giảm đi. Hư 5 chia 10, mà 1 hàm 9, 2 hàm 8, 3 hàm 7, 4 hàm 6, như vậy tham ngũ tổng hợp. Đan xen không thích hợp thì không gặp số hợp của nó.
Vạn vật sinh – thành đều có số và môi trường tồn tại, sinh - tử tồn vong, đủ số thì sinh, số tăng thì trưởng, số giảm thì suy, số hết thì mất. Thịnh suy được mất tất cả đều ở số.
Thiên thời, tức là sắp xếp sử dụng thời gian Năm – Tháng – Ngày - Giờ
...
Thiệu Ung viết: “Cái gọi là cung vị Mậu là ở hai ngôi sao Khuê (Tuất) và sao Bích (Hợi). Cung vị Kỷ là ở hai sao Giác (Thìn) sao Chẩn (Tị).
Khuê Bích là thời tiết giữa Lập thu đến Lập đông. Giác Chẩn là giữa Lập xuân đến Lập hạ, vì vậy là cửa ngọc của Trời Đất.”
Ngày dài thì thời tiết ấm áp, vạn vật phát sinh, đều bắt đầu từ cung vị sao Khuê sao Bích (Tuất - Hợi). Ngày ngắn thì thời tiết giá lạnh, vạn vật thu tàng, đều bắt đầu từ cung vị sao Giác, sao Chẩn (Thìn - Tị), vì vậy mà nói rằng: tiết Xuân phân thì chủ “mở”, tiết Thu phân thì chủ “đóng”.
Từ sao Khuê – Bích đi về phương Nam, mặt Trời là đạo Dương, vì vậy gọi là Thiên môn. Từ sao Giác - Chẩn đi về phương Bắc, mặt Trời là đạo Âm, vì vậy gọi là Địa hộ.
Từ cung vị sao Khuê, sao Bích, và can Mậu thì bắt đầu ngày dần dài ra, khí Dương thịnh dần, giống như là mở cửa Trời. Đến cung vị sao Giác, sao Chẩn, can Kỷ thì ngày dần ngắn lại, khí Âm thịnh dần, khí Dương thu bế, giống như mở cửa Đất. Cho nên gọi là Thiên môn Địa hộ.
Thuyết Thiên môn Địa hộ trình bày: “do Âm xuất Dương, do Dương nhập Âm”, thể hiện quy luật thịnh suy, chuyển hoá, tiêu trưởng Âm Dương bốn mùa. Trùng âm tất dương, trùng dương tất âm. Nguyên lý này cùng ý nghĩa với “dương trưởng thì âm tiêu”, “âm tiêu thì dương trưởng”.
Cái máy của tạo hoá không thể không có sinh, cũng không thể không có chế ước. Không có sinh thì không có sự phát triển, không có chế ước thì sự phát triển cao lên mà có hại. Do vậy, trong sinh phải có chế ước, trong chế ước phải có sinh. Nếu giữa Âm Dương mất chế ước, thì sẽ phát sinh thiên thắng (mất cân đối), thậm chí quyết ly máy tạo hoá không thể nào duy trì được.
Nguyên nhân cái gì gây ra sự mất chế ước giữa Âm Dương?
Quá trình sinh mệnh của con người từ khi sinh ra, lớn lên, khoẻ mạnh, già yếu và chết, cũng là giai đoạn chuyển hoá tiêu trưởng của Âm Dương, từ Dương bắt đầu sinh, Dương thịnh dần, Dương thịnh vượng, đến Âm bắt đầu sinh, Âm thịnh dần, Âm cực thịnh.
Nguyên lý Thái cực sinh ra Âm Dương, Âm Dương hoá hợp sinh ra Ngũ hành, Ngũ hành hàm chứa vạn vật. Khí hoá vận hành, Âm Dương thăng giáng: “Thuỷ là chí âm, cho nên ở dưới ứng với vị trí cực âm. Hoả là chí dương, nên ở trên, ứng với vị trí thịnh dương. Mộc chủ thăng phát, nên ở trên, ứng với vị trí phương Đông. Kim chủ thu giáng, nên ở bên phải, ứng với phương Tây. Thổ là mẹ của số thành, nên ở giữa.
Địa khí thăng lên, Thiên khí giáng xuống, là khí của Trời Đất tác dụng hỗ tương. Sau khi thăng rồi giáng xuống, đó là tác dụng của Trời. Sau khi giáng rồi thăng, đó là tác dụng của Đất. Thiên khí giáng xuống, khí rót về mặt đất. Địa khí thăng lên, khí bay bốc ở khung trời. Cho nên, trên dưới giao nhau và hô ứng với nhau, thăng giáng lấy làm nhân quả lẫn nhau, mà phát sinh biến hoá.
Kỳ số
Nhất Lục cư hạ, Nhị Thất cư thượng, Tam Bát cư tả, Tứ Cửu cư hữu, Ngũ Thập cư trung. Phục hy tắc chi, dĩ họa Bát quái.
Số sinh từ 1 đến 5, tượng trưng sự phát sinh của vạn vật. Số thành từ 6 đến 10, tiêu biểu cho sự hình thành của sự vật. Thổ là nơi vạn vật bắt đầu sinh ra. Thổ là gốc của số sinh, cho nên số sinh và số thành đều là “5”.
Số dương của Hà đồ sinh ở “1”, cực ở “9”. Số âm sinh ở “2”, cực ở “8”. Lấy “9” làm cực của số dương, là bắt đầu của số âm.
...
Mô hình “từ trong ra” là mô hình mở, đi ngược chiều kim đồng hồ, từ phải sang trái, từ trên xuống dưới. Khác với chiều vặn đi vào, đi thuận chiều kim đồng hồ, từ trái sang phải, là mô hình đóng.
Khi xét việc đã qua phải theo trật tự thuận, đi theo các con số lớn dần, (tức là chiều từ âm đến dương). Còn khi xét việc sắp tới thì phải theo trật tự nghịch của các con số, đi theo các con số nhỏ dần.(tức là chiều từ dương sang âm)
Theo nguyên tắc cơ chế tâm truyền, mọi thông tin đều phải từ giữa phát ra, đây là thời điểm xẩy ra sự việc. Nếu lấy thời điểm này mà xét, thì việc trở về quá khứ của sự việc, là trở về những quẻ đã sinh, tức là những quẻ ta đã biết trước. Như vậy phải là những quẻ ở miền dương, tức là từ Chấn-4 đến Ly-5, đến Đoài-6, rồi đến Càn-7. Đi từ Chấn đến Càn là miền Dương, là đi theo chiều thuận của các con số 4-5-6-7 là chiều các con số lớn dần.
Khi muốn xét tương lai của sự việc đang xẩy ra thì phải theo hướng các quẻ chưa sinh, tức là những quẻ chưa biết. Như vậy phải là những quẻ ở miền âm, tức là từ Tốn-3 đến Khảm-2, rồi đến Cấn-1, và đến Khôn-0, tức là đi theo chiều ngược của các con số (chiều các con số nhỏ dần 3-2-1-0), như người kể ngược bốn mùa vậy!
Càn-7, Đoài-6, Ly-5, Chấn-4, Tốn-3, Khảm-2, Cấn-1, Khôn-0.
<-- <-- <-- <-- --> - - -> - - -> - - ->
Khi ta cho rằng Chấn-Tốn là thời điểm hiện tại của sự việc thì, muốn biết tương lai phải đi theo chiều nghịch của các con số, tức là chiều các con số giảm dần cùng với các quẻ tương ứng của chúng. Cũng có thể tìm hiểu quá khứ của sự việc để đoán biết tương lai thông qua các quẻ đối xứng, là các quẻ biến dịch hay “quẻ đối” phản của chúng, vì quy luật sinh-thành của các con số là đối xứng từng cặp một, các con số đều có hai miền đối xứng: quá khứ và tương lai so với thời điểm xẩy ra. Tìm hiểu quá khứ để biết được tương lai, đây chính là chìa khóa của Dịch.
Mặt trời mọc từ Đông sang Tây, là quy luật của tạo hóa, là từ tối đến sáng, là từ âm đến dương, từ “không” đến “có”; giai đoạn này được gọi là “ quẻ đã sinh”, đây là trật tự thuận. Ngũ hành thuận bắt đầu từ: Thổ - Thủy - Mộc - Hỏa – Kim. Giai đoạn quẻ chưa sinh bắt đầu bằng trật tự từ Tây sang Đông, từ sáng đến tối, ngũ hành ngược lại là: Kim-Hỏa-Mộc-Thủy-Thổ. Nên nói Càn 1, Đoài 2, Ly 3, Chấn 4, Tốn 5, Khảm 6, Cấn 7, Khôn 8 thì đều được các quẻ chưa sinh, như người kể ngược thứ tự bốn mùa vậy. Đây là thứ tự của quẻ chưa sinh.
Quy luật của tự nhiên tiến từ “không” đến “có”, cái “không” thuộc âm, cái “có” thuộc dương. Âm Dương cũng là trạng thái “đóng - mở” của tạo hóa. Tạo hóa tiến từ trạng thái “đóng” sang trạng thái “mở”, từ không đến có, từ thế giới vô hình sang thế giới hữu hình. Cái “có” đầu tiên thuộc về Dương, nó tương ứng với số 1, là số lẻ, số cơ.
Vạn vật hiện hữu quanh ta thì muôn hình vạn trạng theo từng chủng loại, theo từng loài. Tất cả, đều xuất phát từ sự “sinh-thành” và vị trí ban đầu của các con số trong không gian, cũng như quy luật biến hóa theo “tượng âm dương” của chúng.
Biến Dịch là vòng tuần hoàn lớn của Tạo hóa, Càn Khôn đóng vai trò mở đầu và kết thúc những quá trình lâu dài. Đối với đời người cũng như vạn loại sinh giới, sự biến dịch từ Càn tới Khôn, đồng nghĩa với sự kết thúc chu trình sống này, để chuyển sang một chu trình sống khác. Sự biến dịch từ Âm sang Dương hay từ Dương sang Âm, là sự biến đổi về bản thể các tượng số, luôn luôm tiệm tiến trải qua 10 giai đoạn.
Trải qua mấy ngàn năm, hệ Bát Quái được sắp đi xếp lại nhiều lần, trong đó lần sắp xếp của Chu Văn Vương phản ánh một sự biến đổi nhất định về chất. Bát Quái sắp xếp theo cách được coi là của Chu Văn Vương này gọi là “Hậu Thiên Bát Quái”. Đây là hình Bát Quái phổ biến nhất cho đến ngày nay.
Bài báo này nói riêng về một số điều tìm hiểu thêm về trật tự trong “Hậu Thiên Bát Quái”.
Trong sách Kinh Dịch, Nguyễn Hiến Lê cho biết hai tên “Tiên Thiên Bát Quái” và “Hậu Thiên Bát Quái” không thấy dấu hiệu xuất hiện trong Kinh Dịch, chắc là do người đời sau đặt ra, có thể là từ đời Hán. Nhưng, những “người đời sau này” căn cứ vào đâu để đặt ra hai cái tên đối chọi nhau như vậy. Hình như ngay tên gọi đó đã xác nhận một sự phân biệt rạch ròi, một bước biến đổi về chất. Nguyễn Hiến Lê cũng đưa ra một số lời giải thích, nhưng rồi chính ông lại bác bỏ cả, và thú thật là “không hiểu nổi”, và “Kinh Dịch có nhiều điều khó hiểu”... “ta phải chấp nhận vậy thôi”.
Trong một công trình hết sức nghiêm túc và rất có triển vọng, mới đây ông Nguyễn Hoàng Phương đã dùng lý thuyết dập mờ để nghiên cứu phân tích một số thuyết dự báo Trung Quốc cổ, trong đó có Bát Quái. Về Bát Quái, ông đã đưa ra một hệ phương trình có hai hệ nghiệm, và ông gán cho một hệ nghiệm là của “Tiên Thiên”, còn hệ nghiệm kia là của “Hậu Thiên” thì chưa có lời giải thích. Nhưng vì sao cái này là "Tiên Thiên", cái kia là "Hậu Thiên" thì chưa có lời giải thích. Và từ những hệ nghiệm đó tìm ngược trở lại các đặc thù của “Tiên Thiên” và “Hậu Thiên” thì chưa thấy nói đến, ngay đến cách làm việc này cũng còn bỏ ngỏ. Cho nên, chưa thể từ các hệ nghiệm đó mà nhận biết sự phân biệt về chất giữa “Tiên Thiên” và “Hậu Thiên”, thậm chí cũng chưa nêu bật được sự khác nhau về hình thức giữa hai cách sắp xếp này.
“Tiên Thiên” và “Hậu Thiên” khác nhau trước hết ở cách sắp xếp thứ tự, và đặc biệt ở nội hàm, tượng ở “Hậu Thiên” được mở rộng thêm nhiều. Mỗi cách sắp xếp là theo một tiêu chí riêng nào đó, và chính cái tiêu chí sắp xếp đó sẽ bộc lộ tư tưởng, ý đồ của sự sắp xếp. Như bài báo trước đã trình bày, “Tiên Thiên” được sắp xếp theo hệ thống cấu trúc. Cứ theo ngôn từ mà xét, từ điển Hán ngữ hiện đại cho biết “Tiên Thiên” là để chỉ “người và động vật khi còn là bào thai”. Vậy “Tiên Thiên Bát Quái” là Bát Quái thời kỳ phôi thai, còn là một “cấu trúc tự thân”, thậm chí chưa phải là một sự vật cụ thể, có sức sống. “Kinh dịch” Khi chỉ mới có Bát Quái, chưa có lời văn, thì ý nghĩa “dịch” dù có hàm súc mấy đi nữa cũng chứa đựng một nội hàm rất mờ. Khi Văn Vương viết lời văn đầu tiên cho “Kinh Dịch”, có thể ông còn được học truyền khẩu cái nội hàm mờ đó, và đã chế biến nó theo cách của ông.
Văn Vương đã sắp xếp lại Bát Quái theo những tiêu chí nào đó phù hợp với những lời giải thích “dự báo học” mà ông gán cho các quẻ. “Kinh Dịch” hình thành và ra đời dưới dạng hoàn chỉnh, cả về biểu tượng và lời văn. Bát Quái được sắp xếp lại này gọi là “Hậu Thiên Bát Quái”, tức là Bát Quái thời kỳ đã thực sự ra đời và hoạt động như “người và động vật sau khi rời khỏi thân thể mẹ và có một đời sống độc lập” (Từ điển Hán ngữ hiện đại). Vấn đề của chúng ta là dò tìm lại các tiêu chí mà ngày xưa các cụ đã dùng để sắp xếp lại thành “Bát Quái Hậu Thiên”. Gần như không có khả năng tìm được đúng các tiêu chí đã được sử dụng, chẳng qua chỉ là một cách minh họa lời phán đoán về các tiêu chí có thể đã được dùng.
Bát Quái thường được đưa ra cùng với các sơ đồ “Hà Đồ” và “Lạc Thư”, hai hình tượng được coi là hình tượng gốc gợi lên ý tưởng và biến dịch cho Bát Quái. Thực ra, mối liên quan giữa: “Hà Đồ” và “Lạc Thư” với Bát Quái tỏ ra khá mỏng manh, có tỉnh hình thức. Có thể nghĩ rằng người xưa có hứng thú đặc biệt với các “ma phương”, vĩ “Hà Đồ” và “Lạc Thư” đều thuộc loại “ma phương” theo nghĩa nào đó. “Lạc Thư” rõ ràng là một “ma phương” cấp 3 theo nghĩa tương tự như ngày nay (tổng theo dòng ngang, cột dọc và đường chéo đều bằng 15). Còn “Hà Đồ” lại là một ma phương loại khác, theo đường xoắn (tham khảo “Chu Dịch Thập Nhật Đàm”, Trung Văn, Nhà xuất bản Thượng Hải, 1946).

Trong Hà Đồ và Lạc Thư, số 5 đứng giữa không ứng với quẻ nào, nên thứ tự sắp xếp các quẻ của Văn Vương có thể mã hóa thành.
![]()
Trật tự Quẻ: Càn Khảm Cấn Chấn Tốn Ly Khôn Đoài
Mã xuôi..........1..... 2...... 3.... 4...... 6.. 7... 8...... 9..
Mã ngược...... 9..... 8...... 7.... 6...... 4...3... 2...... 1
Có thể thấy ngay rằng dù mã xuôi hay mã ngược, cách sắp xếp theo thứ tự này của Văn Vương cũng không phù hợp với trật tự các con số trong Lạc Thư hay Hà Đồ.
Ngược lại, có thể mã theo trật tự Tiên Thiên rồi theo các con số của Lạc Thư hay Hà Đồ mà đổi thành trật tự Hậu Thiên chăng?
Bảng mã sẽ là:
![]()
Trật tự Quẻ Càn Đoài Ly Chấn Tốn Khảm Cấn Khôn
Mã xuôi........ 1..... 2... 3.... 4.....6.... 7..... 8...... 9...
Mã ngược..... 9..... 8... 7.... 6..... 4.... 3..... 2...... 1...
Với Hà Đồ, ta cũng vẫn không thể làm cho cách sắp xếp phù hợp được. Còn với Lạc Thư, mặc dù bằng các phép chuyển vị (đổi dòng thành cột). đổi hàng, đổi cột ta có thể có 8 ma phương khác nhau, nhưng vẫn không thấy được sự phù hợp cần thiết. Vậy là với giả thiết dựa vào sự gợi ý của Lạc Thư hay Hà Đồ, ta đều chưa tìm ra được một hình ảnh có thể minh hoạ cách sắp xếp của Văn Vương. Có thể còn có những khóa mã khác nữa mà người viết bài này không biết đến. Mong rằng nó vẫn còn là một gợi ý có ích.
Tiêu chí sắp xếp thứ hai có thể nghĩ đến là tiêu chí “giá trị”. Do bói toán có nhu cầu xác định trình độ “Cát - Hung” nên mỗi quẻ có thể được gán một “giá trị” biểu thị phần cát, phần hung, và có thể có phần phi cát, phi hung. Có thể coi giá trị của một quẻ là tổng hợp (theo một nghĩa nào đó) của các giá trị của các hào tạo nên nó. Ta có thể lấy giá trị ban đầu của các hào là bằng nhau vào bằng 0,5. Và, vì theo lý thuyết Trung Quốc cổ đại, trong âm có dương và trong dương có âm, nên phép hợp ở đây có thể dùng phép cộng xác suất biến cố không độc lập (giá trị được coi như xác suất), tức là phép hợp phi bài trung (hợp (a,
= a + b - ab). Cáo hào âm và dương ban đầu có giá trị 0,5 như nhau, nhưng khi trở thành thành phần một quẻ thì giá trị của nó thay đổi tuỳ theo vị trí và vai trò trong quẻ. Vị trí và vai trò này được thể hiện bằng những hệ số làm thay đổi giá trị của hào. Trong mỗi quẻ có ba hào, mà sự phân chia hệ số thay đổi phải tùy thuộc vào tính chất của hào mà thay đổi. Theo Nguyễn Hiến Lê, giá trị của hào có thể thay đổi theo các điều kiện sau đây:
- Đắc trung: hào chiếm vị trí giữa của quẻ.
- Đắc chính: hào dương chiếm vị trí lẻ, hào âm chiếm vị trí chẵn.
Có thể xét thêm hai điều kiện phụ:
- Hợp chủ: hào dương trong quẻ dương, hào âm trong quẻ âm.
- Có thế: hào ở trên được coi là thế phát triển cao hơn hào ở dưới.
Tôi đã chọn các hệ số sau đây để tính giá trị các quẻ:
- Trung: đắc trung = 0,6; không đắc trung: 0,2.
- Chính: đắc chính = 0,5; không đắc chính: 0,25.
- Chủ: hợp chủ = 0,4; không hợp chủ: 0,3
- Thế: hào trên tăng giá trị 1,5 so với hào dưới.
Với các hệ số này, tôi đã tính giá quẻ theo hai cách:
- Cách thứ nhất: kết hợp phép hợp xác suất với phép tính thông thường (với các yếu tố không phụ thuộc).
- Cách thứ hai: dùng phép hợp xác suất phổ biến và đã thu được kết quả như sau:
![]()
Quẻ.... Càn........ Đoài........ Ly.... Chấn...... Tổn..... Khảm... Cấn...... Khôn...
Giá tích 0.12267 -0.11725 -0.12164 0.12149 -0.12556 0.12457 0.12227 -0.11950
Giá hợp 0.99963 -0.25264 -099219 0.91971 -0.99546 0.95432 0.94987 - 0.25529
Xếp riêng các quẻ âm và dương và theo thứ tự trị tuyệt đối của “giá trị” giảm dần, ta sẽ được:
![]()
............Quẻ dương...................................... Quẻ âm.............................
Càn (giá tích: 0.12667; giá hợp: 0.99963.. Tốn giá tích: - 0.12556; giá hợp: - 094546
Khảm (GT:0.12457; GH: 0.95432)............. Ly (GT: - 0.12164;GH: - 0.99219)
Cấn (Giá Thành 0.12227; GH:0.94987)....... Khôn (GT: - 0.11950; GH: - 0,25529)
Chấn (GT:0.12149; GH:0.91971)............... Đoài (GT: - 0.11726; GH: - 0.25264)
Trong kết quả tính trên đây, riêng quẻ Đoài đã được điều chỉnh bằng một hệ số bộ phẩn bổ sung).
Thứ tự sắp xếp trên đây phù hợp với cách sắp xếp “Hậu Thiên Bát Quái” của Văn Vương. Như vậy, lời phán đoán trong số báo trước nói “thứ tự sắp xếp các quẻ... được làm lại theo nhu cầu bói toán”... đã được minh họa bằng cách tính giá trị các quẻ, có thể coi như “biểu thị hàm lượng cát - hung” chứa đựng trong quẻ đó. Chưa ai tìm được tư liệu đáng tin cậy nào có thể chứng minh được rằng Văn Vương đã sắp xếp lại Bát Quái theo tiêu chí gì và như thế nào. Cách suy nghĩ và tính toán như trên nhiều lắm cũng chỉ đáng coi là một ví dụ minh hoạ một cách tiếp cận vấn đề nan giải này.
Việc dùng tập mờ có giá để minh hoạ “Hậu Thiên Bát Quái” trên đây mới chỉ được thực hiện với 8 quẻ đơn, 24 hào. Tôi chưa dám đi vào 64 quẻ trùng, với 368 hào, một việc vượt quá xa khả năng rất hạn chế của mình. Xin nêu cách làm như một lời gợi ý thô thiển./.
Đỗ Nguyên Đương - Tạp chí Hán Nôm
...
Một danh xưng khi bàn về Dịch, đó là phép xem Hồng phạm, dùng hai chữ "trinh, hối". Trong đó "trinh" tức là tĩnh, còn "hối" tức là động.
Nội dung chính của sánh căn cứ theo hai nghĩa “biến dịch” và “không biến dịch” làm chuẩn mực để làm sáng tỏ lẽ động và tĩnh của nhân sự. Cho nên, sách có nói, số cơ ngẫu là 7, 8 vậy, giao trùng là 6, 9 vậy. Quẻ vạch theo số 7, 8 là “không biến dịch”, hào vạch theo số 6, 9 là "biến dịch" vậy. Quẻ tuy “không biến dịch”, mà bên trong có “biến dịch”, thì có nghĩa là "hối ". Hào tuy “biến dịch”, mà trong lại có cái "không biến dịch”, thì gọi là “trinh”.
Cho nên, nếu thấy tĩnh cát mà động hung thì chớ có dùng. Khi thấy động cát mà tĩnh hung thì chớ có xử. Thấy động tĩnh đều tốt thì mọi việc đều tốt. Thấy động tĩnh đều hung, thì trong vòng trời đất không thể trốn đầu cho thoát được. Đó là nghĩa lý thâm sâu vi tế mà Thánh nhân làm Dịch vậy.
...
Hàm nghĩa cơ bản của “thần” là chỉ sự biến hoá. Sự biến hoá của “thần” được khởi nguồn từ Dịch truyện - Hệ từ thượng: “Không suy đoán dược âm dương được gọi là thần”. Ý nghĩa của sự biến hoá, không những biểu thị “không lường được” biến hoá của âm dương, mà còn chứng tỏ sự biến hoá của vạn vật cũng rất diệu kỳ. Thần, chính là sự biểu hiện biến hoá tới những chi tiết nhỏ nhất của vạn vật, đạt tới đỉnh tối cao của tinh thần. Đây chính là: “cùng thần tri hoá, đức chi thịnh dã” (thần biến hoá đến tận cùng, để đạt được đức tối đa). Số chẵn, số lẻ và hào tượng cương nhu, sự biến hoá kỳ diệu của nó rất khó đoán định, cũng gọi là “thần”. Khi hào tượng biến hoá, trước tiên cũng khó xác định được: hào nào là hào Lão âm (6), hào nào là hào Lão dương (9), mà gốc nguồn cũng bởi âm dương rất khó đoán định. Tính chất biến hoá khôn lường của âm dương, Kinh Dịch gọi là “đạo”, còn Hệ từ” gọi là “thần”. Nên có câu “người biết đạo của biến hoá, thì hiểu được hành vi của thần”. Trời Đất vận hành, vạn vật động – tĩnh, đều là tự tạo - tự chuyển dịch - tự hoá, để thích nghi với môi trường của tự nhiên; Nó không phụ thuộc vào sự điều khiển chủ quan của ý chí con người, mà cùng chựu sự tác động qua lại, chi phối bởi tính chất của tự nhiên. Nguyên nhân của sự biến hóa khôn lường này, cũng được gọi là “thần”.
...
Thiên nhiên, cơ chế của tạo hoá luôn thấy ở "sinh," đồng thời cũng luôn thấy ở "chế ước". Không có "sinh" thì không có sự phát triển, không có "chế ước" thì sự phát triển thái quá mất đi tính quy luật của tự nhiên mà có hại. Do vậy, trong sinh phải có chế ước, trong chế ước phải có sinh. Nếu giữa Âm Dương mất chế ước, thì sẽ phát sinh thiên thắng (mất cân đối), thậm chí quyết ly máy tạo hoá không thể nào duy trì được. Nguyên nhân cái gì gây ra sự mất chế ước giữa Âm Dương? Giai đoạn chuyển hoá tiêu trưởng của Âm Dương. Từ Dương bắt đầu sinh do Âm xuất Dương, Dương thịnh dần, Dương thịnh vượng; rồi đến Âm bắt đầu sinh do Dương nhập Âm, Âm thịnh dần, Âm cực thịnh. Địa khí thăng lên, Thiên khí giáng xuống, là khí của Trời Đất tác dụng hỗ tương. Sau khi thăng rồi giáng xuống, đó là tác dụng của Trời. Sau khi giáng rồi thăng, đó là tác dụng của Đất. Thiên khí giáng xuống, khí rót về mặt đất. Địa khí thăng lên, khí bay bốc ở khung trời. Cho nên, trên dưới giao nhau và hô ứng với nhau, thăng giáng lấy làm nhân quả lẫn nhau, mà phát sinh "biến" và "hoá".
...
Âm Dương có nguồn gốc từ động tĩnh. Thịnh suy có nghĩa là đắp đổi lẫn nhau, nuôi nhau, cái này nương tựa vào cái kia mà biến thông, nhờ biến thông nên phối hợp với Bốn mùa. Âm thắng Dương thì Tĩnh, Âm thịnh thì nhu. Dương thắng Âm thì Động, Dương thịnh thì cương. Động đúng quy luật thì việc gì cũng thắng, động sai quy luật thì việc gì cũng hỏng. Động gây họa phúc, động tạo ra hưng thịnh hay diệt vong cũng là ý nghĩa ấy. Tại Thiên thì Dương động mà Âm tĩnh, Âm sinh ở trên. Tại Địa thì Dương tĩnh mà Âm động, Dương sinh ở dưới. Thăng giáng gây nên sự biến hóa. Thăng chủ sinh, giáng chủ tiêu. Do vậy, vạn vật đều phản sinh.
...
HÒA
Vạn vật luôn luôn sống động theo những hòa điệu nhịp nhàng. Heraclitus, nhà triết học cổ Hy Lạp, cho rằng tính năng động tuần hoàn của những cặp siêu lực đối nghịch là nguyên nhân của sự sống động của vũ trụ
Triết học Đông phương cũng có niềm tin tương tự. Triết học Trung Hoa cho rằng vạn vật luôn luôn biến hóa năng động nhịp nhàng giữa hai thái cực âm dương. Triết học Phật giáo thì có đạo trung dung biểu hiện qua Bát Chánh Đạo.
Khái niệm về một vũ trụ hài hòa và sống động cũng được biểu hiện trong những triết học cận đại. Saint-Simon nhìn những lịch sử văn minh nhân loại như những xen kẻ giữa những thời kỳ “hữu cơ” và những thời kỳ “khủng hoảng”. Herbert Spencer nhìn vũ trụ như đang biến đổi theo những thời kỳ thăng trầm hợp tan. Hegel thấy lịch sử nhân loại phát triển theo hình xoắn ốc từ hợp nhất đến phân hóa rồi trở lại hợp nhất ở một mức độ cao hơn. Toynbee thấy được những thăng trầm tuần hoàn của các nền văn minh nhân loại. Sorokin thấy được sự thăng trầm tuần hoàn của những nền triết học duy vật và duy linh.
Đạo, là quá trình biến đổi liên tục của vũ trụ, trong đó vạn vật biến đổi hài hòa trật tự giữa hai thái cực âm dương. Khi dương thịnh, sự biến hóa sẽ có khuynh hướng về âm. Tương tự, khi âm thịnh, sự biến hóa sẽ có khuynh hướng về dương. Âm dương điều hòa chính là Đạo. Những thái cực âm và dương không phải là hai thái cực riêng rẻ độc lập. Trái lại, chúng là hai giới hạn của một thể thống nhất. Quá trình biến đổi của mỗi hiện tượng hay sự vật là những dao động không ngừng giữa hai thái cực đó. Quá trình của một hiện tượng hay sự vật kể cả chúng ta, dù nam giới hay nữ giới, đều có cả âm tính lẫn dương tính. Dịu dàng, trực cảm, tổng hợp, hợp tác, bảo tồn là những âm tính. Hung hăng, thuần lý, phân tích, cạnh tranh, khai thác là những dương tính. Âm tính và dương tính liên hệ mật thiết với hai loại tâm thức tương ứng trong mỗi chúng ta. Chúng bổ sung lẫn nhau, phản ảnh những tầm nhìn, lời nói, hành động của chúng ta.
Xã hội đương thời của chúng ta dường như đang ở vào thời kỳ dương thịnh, một xã hội dựa trên phát triển khoa học kỹ thuật để cạnh tranh khai thác tài nguyên thiên nhiên, làm ô nhiễm và gây hại môi trường sống. Phương pháp phân tích dường như vẫn được tận dụng so với phương pháp tổng hợp. Điều này làm xã hội mất đi sự hài hòa âm dương, do đó trì trệ sự phát triển trong nhiều lĩnh vực như giáo dục, y học, kinh tế, chính trị, quân sự, v.v.
Sự nhấn mạnh vào triết học Descartes phân chia ranh giới giữa tri thức và vật chất đã dẫn đến quan điểm trong đó vũ trụ được xem như một hệ thống cơ khí với những vật thể được xem như những bộ phận riêng rẻ. “Cái tôi” của mỗi người được dựng nên như để tượng trưng cho phần hồn của mình với đầy đủ đầu óc phán đoán suy luận. Phần xác được xem như thứ yếu. Dần dần con người quên đi cái bản chất thực sự của suy tư là, không những xuất phát từ toàn bộ con người chúng ta mà còn từ môi trường chung quanh chúng ta nữa. Từ đó, chúng ta xem cơ thể chúng ta như những chiếc máy cơ khí, và xem thiên nhiên quanh chúng ta như độc lập với chúng ta, cần được chế ngự và khai thác triệt để.
Chúng ta tin rằng tính chất cục bộ có thể hoàn toàn xác định tính chất của toàn bộ. Do đó, chúng ta xem nhẹ mối tương quan mật thiết giữa những cơ cấu xã hội như giáo dục, văn hóa, y tế, kinh tế, chính trị, quân sự. Chúng ta xem trọng phẩm lượng và xem nhẹ phẩm chất. Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học cũng tương tự, các nhà nghiên cứu dường như xem những ngành chuyên môn khác không dính dáng gì đến ngành mình đang nghiên cứu. Môn hình học vị tướng chẳng hạn, trước đây được xem như một sản phẩm thuần túy của trí tuệ, độc lập với các ngành nghiên cứu khoa học. Bây giờ họ đã thấy tầm quan trọng của hình học vị tướng được áp dụng hữu hiệu trong nhiều ngành khoa học.
Thời xưa, thiên nhiên và nhất là địa cầu được xem như một người mẹ hiền hòa nuôi dưỡng chăm sóc sự sống trên địa cầu. Cổ Hy Lạp có nữ thần Gaia tượng trưng cho mẹ địa cầu. Vào thời cận đại, dương thịnh âm suy, thiên nhiên và mẹ địa cầu bị thống trị. Nam giới chiếm ưu thế. Capra cho rằng quan điểm này được Do Thái giáo và Ky Tô giáo ủng hộ, và do đó Thượng Đế được nhân cách hóa thành một nam giới, thống trị thiên nhiên bằng những định luật nhiệm mầu với những suy lý và quyền lực tối cao. Những định luật khoa học tự nhiên được xem như phản ảnh của những định luật nhiệm mầu đó của Thượng Đế. Ngày nay, thời dương thịnh đó dường như đã đạt đến mức tối đa và đã bắt đầu suy thoái. Nhiều người không còn tin rằng Thượng Đế là một nam giới đầy phép nhiệm mầu nữa. Kaku cho rằng sở dĩ khoa học và tôn giáo khó thông cảm nhau bởi vì khoa học tin vào một “thượng đế của trật tự” trong lúc tôn giáo tin vào một “thượng đế của phép lạ”.
Dường như văn minh nhân loại đã chuyển mình hướng về sự điều hòa âm dương. Đã đến lúc phân tích cần được phối hợp với tổng hợp, cạnh tranh phối hợp với hợp tác, thuần lý phối hợp với trực cảm, khoa học phối hợp với tôn giáo, nam tính phối hợp với nữ tính, văn hóa phối hợp với sinh hóa, v.v.
Tâm Đàn.
...
Lời của Đại tượng truyện 64 quẻ Dịch luôn hướng tới HÒA.
Tâm cảm.
...
Tự nhiên vốn tĩnh, đó là gốc của Đạo. Tĩnh sinh ra động, thế rồi Động sinh ra Trời Đất, mà sinh ra muôn loài. Vạn vật đoạt Khí của Trời Đất, con Người đoạt chất của vạn vật, vạn vật đoạt Khí lực của con người. Đây có phải cái lý tương sinh, tương dưỡng, tương thành của Tam tài: Trời Đất Người. (?) Có thể, Đạo Tam tài là kết cấu tạo nên một quái Dịch, có cấu tạo ba Hào. (!) Tâm sự.
...
DỊCH HỌC HỌ HÙNG VIẾT:
Tam Tòa hay Tam Tài
Tòa trong tiếng Việt có nghĩa là đơn nguyên, Thiên Chúa tam ‘tòa’ tức Thiên chúa ba ‘ngôi’. Tòa nhà tức một khối nhà. Chu Dịch viết rất giản đơn: Dịch có thái cực, thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái … có người gọi đó là Dịch, thực ra đó chỉ là phương pháp luận Dịch lý chứ không phải là Dịch học.
1 sinh 2, 2 sinh 4, 4 sinh 8 chính là định luật sóng đôi mà ta đã nói tới. Ngoài sự diễn biến theo qui luật trên Dịch học còn có một loại hình diễn biến khác.
1 → 3 → 5 → 9
thái cực → tam tài → ngũ hành → cửu trù
1 cục →3 tòa → 5 hình → 9 chỗ
Ở lưỡng ngôi ta có 2 thành phần hợp tác với nhau để sinh thành. Con người đầu đội trời, chân đạp đất như vậy con người đứng giữa, ở trung tâm đúng nghĩa chữ nhân; do mối tương quan tay ba.
Xã hội < = > Con người < = > Tự nhiên.
Một bên là tương quan: người – xã hội; bên kia là tương quan: người – tự nhiên thông qua trung tâm là con người, 2 mối tương quan này trở thành ràng buộc của nhau, chế độ xã hội phải phù hợp với mối quan hệ người – tự nhiên. Tức trình độ khoa học và công cụ kỹ thuật. Tam tài có tính mẫu mực là Thiên Nhân Địa, vẫn được dùng để tôn cao địa vị con người ngang với trời đất. Thiên là những yếu tố vô hình, địa là những yếu tố hữu hình cụ thể. Năng lượng, ánh sáng đến từ vũ trụ hợp với các nguyên liệu từ đất tạo thành cây cỏ thực vật, đến khi có sự tham gia của bàn tay khối óc con người thành ra sự kết hợp tay ba: Thiên – Nhân – Địa và nền nông nghiệp ra đời từ sự kết hợp đó. Sự ra đời của kỹ thuật trồng trọt được Dịch học đánh giá rất cao trong hào Nhị quẻ Kiền: “hiện long tại điền lợi kiến đại nhân” nếu dịch là “rồng hiện trên mặt ruộng kiến (gặp) đại nhân thì có lợi” chỉ đúng về mặt chữ còn đối với Dịch học thì coi như vô nghĩa. ý nghĩa câu trên theo kiến giải Dịch học là: “con người trở nên người lớn tức vượt qua thời người nguyên thủy khi bắt đầu biết trồng trọt, lúc chấm dứt sự phụ thuộc hoàn toàn vào giới tự nhiên cũng là lúc xuất hiện thần tính (được ví như con rồng) khiến con người vượt trên mọi sinh vật, sánh ngang cùng trời đất. Cặp từ Thiên và Địa không nhất thiết phải là trời và đất như ở trên ta đã nói đến: trời chỉ các yếu tố vô hình, đất là những gì cụ thể, có thể nắm bắt được. Thí dụ: trong công thức nổi tiếng về binh pháp: ‘thiên thời – địa lợi – nhân hòa’, thì thiên đâu có nghĩa là trời mà là thời cơ lịch sử, địa là điều kiện vật chất đang thủ giữ, còn nhân là lòng người, lòng quân và lòng dân, yếu tố quan trọng nhất. Trong Tam tòa thì Tòa Nhân luôn luôn là quan trọng nhất, có một thế giới gọi là khách quan vận động một cách mù lòa, vô hướng, vô nghĩa; tất cả những giá trị xuất phát từ thế giới ý thức, vũ trụ trở nên có “giá trị” từ khi nó được phản ánh bằng thông tin vào não con người và được chính con người ban cho phần giá trị để trở thành 1 phần của thế giới đã được định hướng.
Ở Âm mà vô Âm, Âm do đó được sinh ra. Ở Dương mà vô Dương, Dương do đó mà hình thành. Khi nói "nhất Âm nhất Dương", tuy là hai Khí, xong thường lấy cái nhất làm Đạo ở hư vô để sử lý. Theo thuộc tính riêng của vạn vật, khi ta làm một chiếc bàn gỗ, đứng ở quan điểm gỗ là "phá", nhưng đứng ở quan điểm cái bàn là "thành". Như vậy, "phá" và "thành" cũng là tương đối ở trong tình trạng biến đổi không ngừng, như Dịch đã bàn đến.
Nhất Tĩnh - Tam Động - Ngũ ứng - Cửu thông.
Hà Uyên mới tham gia vào diễn đàn này, với những bầy tỏ của Liêm Trinh, trong quá trình nghiên cứu vì sự yêu thích cá nhân của mình, Hà Uyên xin được chia sẻ cùng Liêm Trinh.
Chắc Liêm Trinh cũng hiểu cấu tạo của quẻ Dịch có 6 hào, khi một hào (hay nhiều) động, thì đều phải trải qua 10 quá trình. Ví dụ: quẻ Trạch Sơn Hàm động hào 2:
- Ta coi quẻ Trạch Sơn Hàm là số 1, theo thứ tự đến số 2 là quẻ Quan hào 3, đến số 3 là quẻ Tỷ hào 4, đến số 4 là quẻ Khôn hào 5, đến số 5 là quẻ Bác hào 6, đến số 6 là quẻ Di hào 1, đến số 7 là quẻ Tổn hào 2, đến số 8 là quẻ Đại súc hào 3, đến số 9 là quẻ Đại hữu hào 4, đến số 10 là quẻ Càn hào 5, đến số 11 là quẻ Quải hào 6, và cuối cùng đến số 12 là quẻ Đại quá hào 1.
- Như vậy, khi độn được 1 quẻ như ví dụ trên, quá khứ đã để lại cho chúng ta: hào âm biến thành hào dương, hào dương biến thành hào âm, gieo quẻ được quẻ Hàm hào 2 được quẻ Đại quá.
- Khi ta coi quẻ Hàm là "đầu", thì quẻ Đại quá là "cuối", nhưng thực chất bên trong đã phải trải qua 10 quá trình (10 quẻ)
- Trong 10 quá trình phải trải qua này, có 2 quẻ động đến hào 6, đó là quẻ Bác theo thứ tự là số 5 và quẻ Quải theo thứ tự là 11. Vấn đề ở đây, tại sao Kinh Phòng khi quy nạp quẻ theo Ngũ hành, thì không cho biến động đến hào 6?
- Khi từ quẻ cuối cùng có số thứ tự là 12, là quẻ Đại quá, ta tiếp tục cho động hào 2 thì lại trở về quẻ ban đầu là Trạch Sơn Hàm hào 2. (1 = 13)
Như vậy, theo Liêm Trinh, thông tin được bộc lộ từ quẻ Dịch, chúng ta sẽ chon lựa điểm dừng ở đâu?
Mỗi một hào quẻ Dịch luôn chuyển hóa 12 lần, một quẻ có 6 hào, vậy một quẻ Dịch có 72 sự chuyển hoá. Do vậy 64 quẻ Kinh Dịch sẽ có 4608 sự chuyển hoá.
Mong được chia sẻ cùng Liêm Trinh, có thể chưa được sự đồng cảm, cũng mong sao Liêm Trinh góp ý thêm.
...
Cùng được bộc lộ thêm với Liêm Trinh, khi Hà Uyên có nói: 1 = 13 Tulokho có 52 quân bài (bỏ 2 fan), khi chia làm 4 thì được 4 phần, mỗi phần có 13 con bài, nếu ta coi f - q - k - a có trị số bằng 1 (f = q = k = A = 1). Chia 52 quân bài làm 2 phần bằng nhau (52/2=26). Lấy 1 phần có 26 quân bài, rút 1 quân bài xem. Xem xong, trộn đều 52 quân, thì ta vẫn tìm được con bài mà ta đã rút ra xem. Người Ấn độ nói: muốn học lập trình ở đất nước họ, thì phải hiểu văn hóa dân tộc của họ. Hà Uyên thấy có mối liên hệ giữa Kinh Dịch và 52 quân bài. Liêm Trinh có nghĩ như vậy không?
..
Vâng, chào Liêm Trinh.
Để thống nhất được với nhau về phương pháp tính toán, Hà Uyên xin được trình bầy theo quan điểm của mình, mong rằng các anh chị, cùng Liêm Trinh chia sẻ:
- Khi bốc Dịch được một quẻ, ta coi là số 1, thì quẻ số 7 luôn luôn là quẻ "đối phản".
Theo ví dụ mà Hà Uyên đã trình bầy, bốc Dịch được quẻ Trạch Sơn Hàm hào 2, thì quẻ thứ 7 là quẻ Sơn Trạch Tổn, cũng động hào 2 (Thất sát)
- Sự thông "khí" của hào động
Vẫn theo ví dụ trên, quẻ Hàm thuộc cung Đoài - Kim, động hào 2 là hào Quan quỷ - Ngọ, theo thứ tự của 12 quẻ, sẽ có quá trình tiệm tiến thông tin như sau:
1- Trạch Sơn Hàm hào 2 là Quan quỷ Ngọ.
2- Trạch Địa Tụy hào 2 là Quan quỷ Tị.
3- Thủy Địa Tỷ hào 2 là Quan quỷ Tị (Phụ mẫu)
4- Thuần Khôn hào 2 là Quan quỷ Tị (Phụ mẫu)
5- Sơn Địa Bác hào 2 là Quan quỷ Tị
6- Sơn Lôi Di hào 2 là Thê tài Dần (Huynh đệ)
7- Sơn Trạch Tổn hào 2 là Thê tài Mão (Huynh đệ)
8- Sơn Thiên Đại súc 2 là Thê tài Dần (Quan quỷ)
9- Hỏa Thiên Đại hữu hào 2 là Thê tài Dần
10- Thuần Càn hào 2 là Thê tài Dần
11- Trạch Thiên Quải hào 2 là Thê tài Dần
12- Trạch Phong Đại quá hào 2 là Tử tôn Hợi (Phụ mẫu)
Theo như quá khứ đã cho chúng ta biết, Quan quỷ động hóa Tử tôn, nhưng quẻ thứ 7 lại cho chúng ta thông tin về Thê tài. Thông qua quá trình trải nghiệm với nhiều môi trưỡng và lĩnh vực khác nhau, Hà Uyên cũng nhận thức được một số quy luật, xin được trình bầy sau.
- Sự thông "khí" của quẻ Dịch
Vẫn theo ví dụ trên, quẻ Trạch Sơn Hàm (không xét thuộc cung Đoài - Kim), động hào 2 là hào Quan quỷ - Ngọ
1- Trạch Sơn Hàm hào 2 là Quan quỷ Ngọ
2- Trạch Địa Tụy hào 3 là Huynh đệ Dậu
3- Thủy Địa Tỷ hào 4 là Tử tôn Thân
4- Thuần Khôn hào 5 là Thê tài Hợi
5- Sơn Địa Bác hào 6 là Thê tài Dần
6- Sơn Lôi Di hào 1 là Phụ mẫu Tý
7- Sơn Trạch Tổn hào 2 là Thê tài Dần
8- Sơn Thiên Đại súc hào 3 là Huynh đệ Thìn
9- Hỏa Thiên Đại Hữu hào 4 là Huynh đệ Dậu
10- Thuần Càn hào 5 là Huynh đệ Thân
11-Trạch Thiên Quải hào 6 là Huynh đệ Mùi
12- Trạch Phong Đại quá hào 1 là Thê tài Sửu
Khi ta lấy quẻ thứ 7 là quẻ Sơn Trạch Tổn làm "Trung Tâm", từ vị trí thứ 7 ta tiệm tiến thuận 7-8-9-10-11-12 và tiệm tiến nghịch 7-6-5-4-3-2-1, ta sẽ có 2 phương pháp để suy luận thông tin.
Hà Uyên xin phép sẽ cùng luận bàn sau.
...
Hà Uyên xin được trình bầy tiếp:
- Khi bốc được quẻ Dịch, ta coi là số 1 tương ứng với cung Tý, thì quẻ số 7 sẽ tương ứng với cung Ngọ. Tại thời điểm khi bốc quẻ, đồng thời ta bấm số Tử vi, sau đó ta an 12 quẻ theo thứ tự. Thì nẩy sinh rất nhiều điều kỳ lạ về thông tin. Liêm Trinh thử nghiệm cùng nhé.
- Kinh Phòng khi nạp Ngũ hành vào quẻ không cho "khí" Dịch phát triển đến hào 6. Hà Uyên sẽ trình bầy quan điểm ở một chuyên đề khác nhé.
...
- Sự thông "khí" của hào động
Vẫn theo ví dụ trên, quẻ Hàm thuộc cung Đoài - Kim, động hào 2 là hào Quan quỷ - Ngọ, theo thứ tự của 12 quẻ, sẽ có quá trình tiệm tiến thông tin như sau:
1- Trạch Sơn Hàm hào 2 là Quan quỷ Ngọ.
2- Trạch Địa Tụy hào 2 là Quan quỷ Tị.
3- Thủy Địa Tỷ hào 2 là Quan quỷ Tị (Phụ mẫu)
4- Thuần Khôn hào 2 là Quan quỷ Tị (Phụ mẫu)
5- Sơn Địa Bác hào 2 là Quan quỷ Tị
6- Sơn Lôi Di hào 2 là Thê tài Dần (Huynh đệ)
7- Sơn Trạch Tổn hào 2 là Thê tài Mão (Huynh đệ)
8- Sơn Thiên Đại súc 2 là Thê tài Dần (Quan quỷ)
9- Hỏa Thiên Đại hữu hào 2 là Thê tài Dần
10- Thuần Càn hào 2 là Thê tài Dần
11- Trạch Thiên Quải hào 2 là Thê tài Dần
12- Trạch Phong Đại quá hào 2 là Tử tôn Hợi (Phụ mẫu)
13- Trạch Sơn Hàm hào 2 là Quan quỷ
..
Hà Uyên tản mạn thêm. Khi bốc được quẻ Dịch, ta coi là số 1 tương ứng với cung Tý, thì quẻ số 7 sẽ tương ứng với cung Ngọ. Tại thời điểm khi bốc quẻ, đồng thời ta bấm số Tử vi, sau đó ta an 12 quẻ theo thứ tự 12 cung từ Tý, Sửu,..., đến cung Hợi. Như chúng ta đã biết, tổng số tối đa của môn Tử vi chỉ có 512640 bảng là số. Khi áp dụng mối quan hệ thông tin giữa Tử vi và Bốc Dịch, thì thống kê được: 512 640 x 4 608 = 2 052 245 120 So sánh với 6 tỷ người, mức độ tin cậy cần phải thống kê thêm.
...
Xin chào các Anh các Chị trên diễn đàn. Hà Uyên chào VIETHA. Quá trình nghiên cứu những gì Người xưa để lại, với sự đam mê tìm hiểu của mình mang tính cá nhân, Hà Uyên trong mục đích, không mang tính chuyên nghiệp. VIETHA có viết: "nguyên tắc trong gieo quẻ Dịch là: Tâm không động không được gieo, nếu gieo quẻ thì không chính xác". Xét về Ngôn ngữ học, tại thời điểm quyển sách được viết ra cho tới ngày hôm nay, đã để lại những "quy định" cho mỗi một người khi đọc, tiến tới thử nghiệm, rồi trải nghiệm, đều có những đắng cay riêng. Xét về mặt "thời gian", từ Tiêu Diên Thọ, Kinh Phòng, Trần Đoàn, Thiệu Ung cho tới Thiệu Vĩ Hoa, cũng chỉ có mấy con người để lại những kiến thức mà chính chúng ta đang quan tâm. Hà Uyên cũng có tìm hiểu về: thế nào là "Tâm không động"? Hà Uyên đọc, trong đó có quyển HUỲNH ĐÌNH KINH dịch từ nguyên tác tiếng Đức, cũng thấy rất nhiều vấn đề cần phải bàn về "TÂM" động và không động. Hà Uyên thấy rất lạ, một Người đàn ông quốc tịch Đức ở Thế kỷ 16, sau khi nghiên cứu về Thiệu Ung, lại thấy đồng cảm và đồng thuận về HỆ NHỊ PHÂN. Và ngày hôm nay, chính chúng ta đang được hưởng những lợi ích hết sức to lớn. Vấn đề VIETHA quan tâm là một khoảng trời rộng lớn, Hà Uyên xin phép được chia sẻ khi chúng ta cùng đồng thời có một sở thích.
...
Chào Liêm Trinh Cảm ơn Liêm Trinh đã dành thời gian cho Hà Uyên. Khi giao lưu trên diễn đàn này, Hà Uyên không hề có ý gì về "mưu lược". Hà Uyên chỉ bộc lộ quan điểm của mình: tại sao Trần Đoàn lại cấu tạo 12 cung trong môn TỬ VI, tại sao THÁI ẤT lại có cấu tạo 16 cung? Hà Uyên đã nhận thức được KINH DỊCH là gốc nguồn của các môn học thuật: 1 = 13. Tại sao Trần Đoàn trong môn TỬ VI, vòng Tứ hóa: LỘC-QUYỀN-KHOA-KỴ lại căn cứ vào Can của Năm để an sao.? Năm nay 2009 - Kỷ Sửu, Hóa kỵ an theo GIỜ, như vậy vào giờ Thân chiều nay, Hà Uyên gặp Hóa Kỵ rồi.
...
dichnhan07, on May 5 2009, 05:34 PM, said:
Bàn về Mai Hoa Dịch Số, trong lòng có thắc mắc nghi vấn điều gì đó đã có thể coi là Tâm động, giả sử có người cho rằng Tâm mình vẫn chưa thật động, chẳng lẽ lại phải đi cầu cho Tâm động thật mạnh hay sao?. Lập quẻ xong, nếu chỉ căn cứ vào quẻ đó thì e rằng phiến diện chủ quan nên cần thêm các phương pháp hỗ trợ đảm bảo, đó là Tam Yếu và Thập Ứng. Mai Hoa Dịch Số chỉ nói tới các sự việc bất thường, xem việc gần mà biết việc xa. Luận sự việc không nhiều được như lục hào hay các môn khác nhưng để trắc nghiệm một điều nghi vấn thì rất tiện lợi. Nói không luận được nhiều đó là nói về phương pháp lấy quẻ chủ động chứ không phải theo như các quẻ ví dụ trong sách Mai Hoa Dịch Số, phương pháp khác nhau do lý dùng khác nhau, điều này cần phải phân biệt rõ.
Vâng, xin chào dichnhan07.
Thú thực, Hà Uyên hầu như rất ít khi BỐC DỊCH, mà đã dành thời gian rất nhiều để tự trả lời với chính mình rằng: Tại sao (?) "Quá khứ - Hiện tại - Tương lai", khi nào thì hội tụ thành 1, có nghĩa là:
Quá khứ + Hiện tại + Tương lai = 1
Có thể, chỉ có như vậy, thì các môn Học thuận mà Quá khứ đã để lại cho chúng ta một sân chơi, mà không biết bao nhiêu Thế hệ, đều có rất nhiều Người đã dành THỜI GIAN về chủ đề này.
Khi đã và đang có số " 1 ", loài Người lại luôn luôn hướng về số " 0 "
Cảm ơn dichnhan07.
...
Liêm Trinh viết "Tôi gieo một que đơn thấy Hà uyên suất hiện ở diễn đàn vào vào đoài cung". Theo phương pháp tư duy của Thiệu Ung, thì Hà Uyên có thể tính như sau: Số người đã đăng ký tham gia diễn đàn LYHOCDONGPHUONG, tới lượt Hà Uyên là 3717. Hà Uyên lấy 3717 chia cho 64, số dư còn lại là 5. Số của Năm-Tháng-Ngày-Giờ mà Hà Uyên đăng ký tham gia lam Tổng chia cho 6 tìm hào động. - Theo Tiên thiên thì 5 là số thứ tự của quẻ Phong Thiên Tiểu súc. - Theo Hậu thiên, thì số 5 bao gồm những quẻ: theo thứ tự như sau: Tiểu súc - Tổn - Vô vọng - Đỉnh - Hoán - Thuần Cấn. Liêm Trinh thấy Hà Uyên theo phương pháp này có được không?
...
Dear Liêm Trinh. Một tâm sự! Trước khi Hà Uyên giao lưu với Liêm Trinh trên diễn đàn, số người đã đọc bài viết của Liêm Trinh là (ví dụ là:...), sau khi Hà Uyên giao lưu với Liêm Trinh, thì số người đã đã đọc bài viết này, tại thời điểm này là (ví dụ:... lượt đọc). Đây là một chủ đề mà Hà Uyên đang rất quan tâm, sẽ dành phần nhiều giời gian để tìm hiểu về chủ đề này. Trước khi TA sinh ra, đã tồn tại bao nhiêu Người? Sau khi TA sinh ra, sẽ tiếp tục tồn tại thêm bao nhiêu NGƯƠI nữa? Trước khi ÂM gặp DƯƠNG, hoặc trước khi DƯƠNG gặp ÂM, sau khi ÂM gặp DƯƠNG hay sau khi DƯƠNG gặp ÂM, điều gì sẽ đến với chúng ta? Mong Liêm Trinh đừng hiểu sai ý nghĩa của sự giao lưu giữa hai chúng ta, Hà Uyên chỉ lấy "số lượt người đã đọc" (làm Hình - Tượng) mà làm một ví dụ thôi.
...
Xin chào các anh chị trên diễn đàn. Hà Uyên chào VanTrungHac. Khi Hà Uyên giao lưu với Liêm Trinh trên diễn đàn, Liêm Trinh có nói: "...thống nhất về phương pháp tính..." Quá khứ mà "Cổ nhân" đã để lại cho mỗi người yêu thích về những môn học thuật này, đối với Hà Uyên còn nhiều trăn trở, Hà Uyên chưa dành nhiều thời gian về luận quẻ Dịch. Trước tiên mong VanTrungHac thật sự thông cảm. Hà Uyên đang tập trung vào tìm hiểu về: Nguyên lý cấu tạo các môn Học thuật mà Quá khứ đã để lại cho chúng ta. Tính chính xác? Độ tin cậy? Tại sao lại "quy định" như vậy?. Hà Uyên.
...
Chào Liêm Trinh Khi Liêm Trinh nói: "Làm thế nào để BỐC DỊCH chính xác hơn" Hà Uyên xin kể lại: Những người đi trước đã hướng dẫn cho Hà Uyên: tư duy về "tượng quẻ trước". Sau đó mới tư duy về "Lục thân". Ví dụ: khi Bốc Dịch được quẻ Trạch Sơn Hàm hào 2 được quẻ Trạch Phong Đại quá - Tư duy theo tượng quẻ Kinh Dịch: quẻ Hàm tượng trưng cho sự giao cảm. Quẻ Đại quá tượng trưng cho sự quá mức - Tư duy theo tượng quẻ Kinh Phòng, Bốc phệ chính tông, Tăng san bốc dịch: quẻ Hàm có tượng "Manh nha xuất thổ", rồi đến quẻ Đại quá có tượng: "Dạ mộng kim ngân" Cũng phải mất đến 8 tháng hay một năm sau, Hà Uyên mới thuộc được tượng của 64 quẻ, và cảm nhận được một phần nào đó về ý nghĩa của "tượng quẻ". Mặc dù tại thời điểm đó, Hà uyên trong lòng vẫn thích xác định được hào động, tìm lục thân, an Thế - Ứng, tìm dụng thần,... Bước thứ hai là: đi sâu vào phân tích 8 quẻ "bát thuần", khi Kinh Phòng đưa Ngũ hành vào nạp cho hào quẻ Dịch. Đây là bước quan trọng, mối quan hệ "mẹ - con"? từ quẻ Mẹ với 7 quẻ con? Hình thành một phương pháp tư duy cho mỗi người, thì các nước phát triển đã làm rất có hiểu quả. Phương Tây hình thành một phương pháp sư phạm chuẩn mực cho loài người. Từ cá nhân Hà Uyên, một chia sẻ kinh nghiệm, một người Hà Uyên giao lưu đầu tiên trên diễn đàn (số "1")
...
Hà Uyên trao đổi tiếp tục Mỗi chúng ta, không ai có thể làm đảo lộn được trật tự của thời gian. Từ đây, chắc rằng cũng rất ít người làm thay đổi được quá trình nhận thức của mỗi một cá nhân. Ví như, Hà Uyên không thể tự cho mình dùng kiến thức của học sinh lớp 4, mà chưa qua quá trình nhận thức của lớp 1, lớp 2. Cũng ví như, Hà Uyên và Liêm Trinh giao lưu trên diễn đàn lyhocdongphuong, được gọi là "số 1", thì đến vị trí thứ 5, Hà Uyên giao lưu với anh Thiên Sứ, số "5" được coi như vị trí "Trung tâm" của Hà - Lạc. Giả thiết như Hà Uyên có "mưu lược" như Liêm Trinh đã nói, từ cái "ngẫu nhiên" để biến thành cái "tất nhiên", thì đương nhiên đến người thứ năm Hà Uyên giao lưu, là anh Thiên Sứ. Vị trí của Trung tâm. Một đặc trưng cơ bản của BỐC DỊCH, là "dụng thần" lại do đối tượng Khách quan quy định, trên nền giao lưu của Hoàng đế Nội kinh: Hoàng đế hỏi - Kỳ Bá trả lời. Làm thế nào để bốc dịch được chính xác?, Ai là Hoàng đế, ai là kỳ bá? Ai là Âm, ai là dương? Giả thiết là Liêm Trinh chủ động giao lưu với Hà Uyên, như vậy Liêm Trinh là Dương mà Hà Uyên là Âm, nhưng thực tiễn thì Hà Uyên chủ động chào Liêm Trinh, như vậy thì Hà Uyên là âm chủ động gặp dương. Vậy thì, chưa thể dùng một mình hào động làm nguyên nhân "gốc" để xác định thông tin.
...
Tại sao lại như vậy? Khi Hoàng đế hỏi, có nghĩa rằng Hoàng đế động, tại sao lại coi là Hoàng đế động? Vì Hoàng đế có thắc mắc ở trong lòng mà chưa hiểu, như vậy là bên trong của Hoàng đế động, có thể coi như "Nội quái động" mà "Ngoại qoái tĩnh", cũng có nghĩa Hoàng đế là Dương gặp Âm vậy. Như vậy, ta có thể nói Dương động - Âm tĩnh được không?
...
Khi Hà Uyên chọn thông số ban đầu để tính, là căn cứ theo phương pháp tư duy của Thiệu Ung, lấy "số thứ tự" của Hà Uyên khi tham gia vào diễn đàn là 3717, chia cho 64 quẻ, được số 5. Lấy Năm-Tháng-Ngày-Giờ khi Hà Uyên đăng khí tham gia làm Tổng chia cho 6 tìm hào động.
- Đối với Hà Uyên, thì số 5 theo Tiên thiên là quẻ Phong Thiên Tiểu súc.
- Với diễn đàn này, thì số 5 được hiểu như thế nào đối với Hà Uyên? Vì sự giao lưu là: Liêm Trinh --> VIETHA --> dichnhan07 --> VanTrungHac --> Thiên Sứ (thực ra còn Như Thông nhưng vì Hà Uyên chưa giao lưu). Số 5 đối với Hà Uyên là anh Thiên Sứ.
Theo Nguyên lý vị trí: Vị trí trung tâm 5 - 10, thì Hà Uyên chọn giải pháp ứng xử theo "Đại cục", có nghĩa là, từ "Trung tâm", Hà Uyên tôn trọng nguyên tắc: Tìm về cội nguồn.
...
Chào Liêm Trinh
Thực tình, Hà Uyên chủ động chọn cách viết, khi chúng ta trao đổi trên diễn đàn, không phải là vì viết nhiều.
Hà Uyên trở lại với chủ đề: Có cách nào để bốc dịch chính xác hơn? Trên tinh thần: Tìm về cội nguồn.
Cội nguồn của Bốc Dịch, có thể bắt đầu từ Kinh phòng. Ông nói:"Dương thắng âm là tráng, tráng cực tắc phản ở âm".
Trong 64 quẻ của Kinh Dịch, thì có 3 quẻ nói về số 7, quan trọng hơn cả là quẻ Địa Lôi Phục. Tại sao lại nói đến số 7?
Quy luật của tự nhiên đã để lại cho người phương Đông thích ứng theo thời gian: cứ 19 năm thì có 7 năm có tháng nhuận.! Thời gian vẫn cứ tiếp tục trôi, khi chúng ta phải chấp nhận: tháng nhuận = "0", trong quá trình tính tháng nhuận cho chu kỳ 19 năm. (19 - 7 = 12, hoặc 7 + 12 = 19).
Kinh Phòng đưa ra thuyết Ngũ hành nạp vào Hào của quẻ Dịch, cũng vẫn trên nguyên lý của Kinh Dịch: số 7
Ví dụ: quẻ Thuần Càn, là quẻ Cha - Mẹ, khí Dịch bắt đầu từ hào 1
1- Thuần Càn hào 1
2- Thiên Hoả Đồng nhân hào 2
3- Thiên Lôi Vô vọng hào 3
4- Phong Lôi Ích hào 4
5- Sơn Lôi Di hào 5
6- Địa Lôi Phục hào 6
7- Thuần Khôn hào 1
Từ quẻ Thuần Càn hào 1, đến quẻ thứ 7 là quẻ Thuần Khôn, thì hào 1 là hào Dương quẻ Càn mới biến thành hào 1 là hào Âm quẻ Khôn. Tiếp tục từ quẻ Thuần Khôn khí Dịch lại bắt đầu từ hào 1:
7- Thuần Khôn hào 1
8- Địa Thuỷ Sư hào 2
9- Địa Phong Thăng hào 3
10- Lôi Phong Hằng hào 4
11- Trạch Phong Đại quá hào 5
12- Thiên Phong Cấu hào 6
13- Thuần Càn hào 1
Quẻ Thuần Càn khí Dịch bắt đầu từ hào 1, thì đến quẻ thứ 7 hào 1 dương biến thành âm, và đến quẻ thứ 12, thì "thể" của quẻ Thuần Càn trở lại ban đầu, duy nhất chỉ có hào 1 biến đổi dương thành âm. Ta có thể viết như sau:
1 -> 2 -> 3 -> 4-> 5 -> 6 -> 7 -> 8 -> 9 -> 10 -> 11 -> 12 -> 13
Như vậy: 1 = 13
Khi ta chấp nhận quẻ số 7 là quẻ "Trung tâm". Từ quẻ số 2 đến quẻ số 6 bao gồm "5" quẻ có 30 hào, tương đồng với 30 ngày từ Giáp Tý -> Giáp Thân. Từ quẻ số 8 đến quẻ số 12 cũng bao gồm "5" quẻ có 30 hào, tương đồng với 30 ngày từ Giáp Ngọ -> Giáp Dần. Mối quan hệ Lục thập hoa giáp với 60 hào này như thế nào? Vấn đề Giáp Tý bắt đầu khởi từ đâu?
Hà Uyên đang ở hào 3 quẻ Thuần Càn, khi cộng thêm với 7 thì ở hào 4 quẻ Thuần Khôn: "Thắt chặt miệng túi".
...
Liêm Trinh nói: "Đây là vấn đề hóc búa nhất và cũng cần giải quyết nhất vì nó liên quan đến đông y học cứu người. Liêm trinh đã mất không ít thời gian tìm cơ sở khoa học cho vấn đề này mà chưa tìm ra. Trong ứng dụng thực tiễn trên hệ tính toán Liêm trinh thấy hình như hệ này không nhất quán."
Như vậy, chúng ta cùng bắt tay nhau, tiến thêm một bước nữa xem xét lại từ đầu: những cống hiến của Kinh Phòng, để trả lời cho câu hỏi: có cách nào để bốc dịch được chính xác hơn?
Việc này, Liêm Trinh chủ động mở chủ đề mới, Theo Hà Uyên, chủ đề nên tập trung vào thế hệ đi trước chúng ta "một đời", tức là theo cách nói của Kinh Phòng, là quẻ Bố - Mẹ --> Càn - Khôn
...
Hà Uyên xin chào các anh chị trên diễn đàn Chào VinhL
Trước khi chúng ta trao đổi học thuật, chúng ta xem lại bối cảnh Lịch sử giai đoạn khi xuất hiện Thiệu Ung. Bắt đầu từ Khổng Tử, Ông nói: "Đồng Đồ nhi thù quy" (nghĩa cùng một dòng mẹ mà chia làm hai dòng con vậy). Tại thời điểm này, hình thành hai trường phái: phái tượng số và phái nghĩa lý. Phái Tượng số có quan hệ mật thiết với khoa học tự nhiên, còn phái Nghĩa lý lại có mối quan hệ chặt chẽ với khoa học xã hội. Trong Lịch sử, hai trường phái này, là một "thể" thống nhất của cặp mâu thuẫn. Trong Kinh Dịch có viết: "Quan vật thủ tượng" (xem vật lấy tượng). Trong Dịch truyện có viết: "Quan tượng thủ nghĩa" (xem tượng lấy nghĩa). Chiêm phệ chỉ là một bộ phận của phái Tượng số, nhưng "chiêm phệ" có vai trò quan trọng trong việc ứng dụng và lưu truyền, nó có ý nghĩa truyền bá rộng và sâu cho Kinh Dịch. Thiệu Khang Tiết là người đại diện tiêu biểu cho phái Tượng số, phương pháp "tư duy số " của Thiệu Ung, hình thành một hệ thống, mà nền tảng từ Kinh Dịch, là một đóng góp hết sức to lớn. Như chúng ta đã biết, một người đàn ông quốc tịch Đức thế kỷ 16, Ông không bàn về "tâm" động hay tĩnh, mà Ông đã đồng cảm và đồng thuận với Thiệu Ung về HỆ NHỊ PHÂN. "Số" có hai nghĩa lớn: nghĩa thứ nhất là "âm dương số", ví như số lẻ gọi là dương, số chẵn gọi là âm. Nghĩa thứ hai là "hào số", lấy thứ tự của các "hào", để nói lên mối quan hệ về ngôi vị giữa các sự vật. Đặc trưng là lấy "số" 9 làm số dương, số 6 làm số âm. Do vậy, "tượng" và "số" là nội dung cơ bản của Dịch học, đã được Thiệu Ung phát huy, phát triển lên một tầm cao mới. Đối với quy luật của "thời gian", người Phương Đông xây dựng hệ thống Can - Chi, ngày âm lịch dựa vào chu kỳ của Mặt Trăng, mà hệ quả của hệ thống này là: tháng "nhuận" = "0". Theo Hà Uyên, thì Thiệu Ung đã nghiên cứu rất sâu ở lĩnh vực này, tìm ra những quy luật sai số về "thời gian" giữa mặt Trời với mặt Trăng. Cụ thể là, cứ 19 năm, thì có 7 năm có tháng "nhuận" = "0". Điều này có ý nghĩa rất lớn khi Thiệu Ung xây dựng học thuyết cho mình. Ví dụ: một hào luôn luôn trải qua 12 quá trình (12 quẻ), còn hệ thống Can - Chi, theo Thiệu Ung: 60 x 60 x 60 x 60 = 12 960 000 là một đơn vị tính. Khi Quá khứ + Hiện tại + Tương lai = 1, thì buộc người Phương Đông phải chấp nhận "tháng nhuận", với quy luật của số "7". Thiệu Ung đã căn cứ vào đây, lấy số "7" làm vị trí "trung tâm", làm phương pháp cho tư duy của mình, khi ông tự ngôn. Do vậy, khi VinhL hỏi: Năm-Tháng-Ngày-Giờ để lấy quẻ Mai hoa, sử dụng bao nhiêu quẻ khi một hào động. Theo Hà Uyên thì có 7 quẻ, nhưng thực chất chỉ có 5 quẻ. Tại sao lại như vậy? Có lẽ, Hà Uyên phải dùng "tượng" của Dịch để trả lời: theo Nguyên lý vị trí của "trung tâm", với con số "nhị - ngũ" (2 - 5), nhiệt độ trung bình của con người là 37 độ, khi tiến thêm 5 (37 + 5 = 42), hoặc khi lùi đi 2 (37 - 2 = 35), đây là giới hạn cho sự tồn tại của con người, Hà Uyên qua quá trình trải nghiệm, thấy có tính thực tiễn, nên trao đổi với VinhL như vậy, VinhL có thể kiểm nghiệm thêm. Tại sao Càn 9 Khôn 1? Khi tư duy theo phương pháp của Thiệu Ung, Ông là người đưa ra khái niệm Tiên thiên - Hậu thiện thông qua Động - Tĩnh của âm dương chuyển hoá. Ví dụ, theo Tiên thiên, ta gọi Càn là vị trí số 1 thì cộng thêm với 9 là tới số thứ tự của Thuần Đoài. Như vậy, số "10" là một giới hạn cho sự chuyển hóa từ Càn đến Đoài. Nên Thiệu Ung lấy Tứ tượng xắp xếp như sau: - Thái dương tương ứng với cặp số 4 - 9, trong đó: Càn - 1, Đoài - 4 - Thiếu âm tương ứng với cặp số 3 - 8, trong đó: Ly - 3, Chấn - 8 - Thái âm tương ứng với cặp số 1 - 6, trong đó: Khôn - 1, Cấn - 6 - Thiếu Dương tương ứng với cặp số 2 -7, trong đó Tốn - 2, Khảm - 7 Đây là sự đối đãi giữa những con số, khi xây dựng học thuyết cho Ông. Những trao đổi trên, mang tính cá nhân, mong rằng đây là một sự tham khảo vậy.
...
Hà Uyên đính chính lại: - Thái dương tương ứng với căp số 4 - 9: trong đó Càn - 9, Đoài - 4
(Nguồn: Sưu tầm)
![]() |
Tứ Tượng là bốn đặc trưng chỉ âm dương tiêu trưởng trong Kinh Dịch, Tức là Thái Dương, Thiếu Dương, Thái Âm và Thiếu Âm. Trong dương trạch phong thủy, nghĩa là mở rộng của Tứ Tượng chỉ tứ phương, tức đông, tây, nam, bắc.
Tứ Tượng Tề Đoàn: là chỉ dương trạch có đầy đủ: tả thanh long, Hữu bạch hổ, tiền Thu Tước, hậu Huyền Vũ.
Tứ tượng là bốn thánh thú trong các chòm sao Trung Hoa cổ đại:
Thanh Long thuộc phương Đông
Bạch Hổ thuộc phương Tây
Chu Tước thuộc phương Nam
Huyền Vũ thuộc phương Bắc
Mỗi thánh thú cai quản một phương và tượng trưng cho một mùa, chúng có những đặc điểm và nguồn gốc riêng. Chúng được miêu tả đầy sinh động trong thần thoại và trí tưởng tượng của người Trung Hoa, và cả trong Manga và Anime của Nhật.
Tứ tượng được đặt cho những cái tên loài người tương ứng khi Đạo giáo trở nên phổ biến. Thanh Long có tên là Mạnh Chương (孟章), Chu Tước là Lăng Quang (陵光), Bạch Hổ là Giám Binh (監兵), và Huyền Vũ là Chấp Minh (執明).
Hành: ThủyLoại: Ác tinhĐặc Tính: Thâm trầm, xảo quyệt, ganh ghét, trở ngại, đố kỵ, thị phiTên gọi tắt thường gặp: Kỵ
Phụ tinh. Một trong 4 sao của bộ Tứ Hóa là Hóa Khoa, Hóa Quyền, Hóa Lộc, Hóa Kỵ.
Vị Trí Ở Các Cung
Lối cửa chính phải mở ra chỗ rộng nhất của phòng hay đại sảnh. Đại sảnh là nơi mở ra cho khí và ấn tuợng đầu tiên của người nhà là một điều vô cùng quan trọng trong thuật phong thủy, nơi này cần sáng sủa, khoan khoái, ấm cúng và thân mật. Như thế khí của người cư ngụ được hưng phấn và điều hòa.
Đây là một số vấn đề và chữa những cấu trục lệc lạc của ngôi nhà:
Cách cửa mở ra nghịch chiều sẽ kềm chặt khí và vận may của người cư ngụ.
Cách chữa: đổi cửa ra vào theo chiều thuận, treo gương trên tường để tạo không gian rông thêm hoặc đặt đèn hay chuông tự động reo khi có người mở cửa.
Nếu môt người về nhà hàng ngày mà cứ được “bức vách” dàn chào làm dội khí đều đề thì bảo đảm là sẽ vất vả cuộc đời
Cách chữa: treo gương trên vách tường theo hình vẽ giúp khí chuyển vào khỏang không gian dội khí.
Một lối vào hẹp và tối cũng cản sự vận khí và cản trở may mắn của người cư ngụ. nếu ngõ vào là một hành lang hẹp sẽ khiến sức khỏe yếu kém về đường hô hấp và khó sinh nở cho phụ nữ. về tâm lý, một lối đi hẹp, đè mờ gây ra sự thất vọng, dẩn đến việc cáu kỉnh và tâm rang u buồn.
Cách chữa: Đặt một ngọn đèn sán trên trần và mộ tấm gương trên vách cận cửa để tạo chiều sâu.
Cửa sau nhà cũng quan trọng, nó tượng trưng cho các dịp may đến một cách gián tiếp – Nhà ở hay cửa hàng sẽ gặp may mắn hơn khi có cửa sau mở ra một lối đi rộng rãi vì là biểu tượng cơ may sẽ lớn hơn trong sự phát triển tài chính thay vì là một vách tường ngăn chặn.
Trong khuôn viên của tất cả các nhà hầu hết đều trồng một đến một vài loại cây vừa đem lại sự phong phú vừa là nguồn cung cấp oxy cho hoạt động sống của con người.
Tuy nhiên, các bạn có biết, đứng dưới góc độ phong thủy, không phải loại cây nào cũng có tác dụng đem lại nguồn sinh khí tốt cho căn nhà của bạn. Trong số đó có một số loại cây còn đem âm khí, điềm gở gây ảnh hưởng tới sức khỏe và cuộc sống của những người trong gia đình. Vì thế, khi lựa chọn cây trồng trong nhà cần tránh những loại cây đem nhiều xui xẻo này.
Cây hòe
Cây hòe là một loại cây thường được nhiều gia đình trồng để lấy hoa, xao lên và nấu nước uống. Bên cạnh đó, hoa hòe còn là một trong những vị thuốc bắc hiếm có.
Tuy nhiên, theo phong thủy, cây hoa hòe không nên trồng ở sau nhà, nếu trồng cây này sau nhà nó có thể khiến đường công danh của gia chủ gặp trục trặc, bị vùi dập.
Nếu bạn vẫn muốn trồng loại cây này, tốt nhất chỉ nên trồng trước nhà, lúc này thậm chí nó còn có thể mang lại may mắn đáng kể.
Cây liễu
Từ lâu nay cây liễu vẫn là một loại cây mà nhiều nhà tránh trồng. Từ “liễu” khi đọc lên gần giống giọng điệu của từ “lưu”, nghĩa là đổ đi, chảy đi. Trồng cây liễu trong nhà, tiền bạc tài sản của gia chủ cẩn thận bị "trôi hết đi".
Ngoài ra, cây liễu còn được coi là loại cây mang nhiều âm khí nặng, dễ dụ tà khí, ma quỷ đến nhà.
Cây xương rồng
Cây xương rồng có sức sống rất tốt, nó có thể sống trong mọi điều kiện. Tuy nhiên, trong phong thủy cây xương rồng là biểu tượng của điềm xui, chỉ nên trồng trong nhà mới có đám ma, đám cháy để giúp xua đuổi tà khí.
Cây bách
Nếu để ý bạn sẽ thấy cây bách thường được trồng ở gần những phần mộ của người đã chết vì nó mang nhiều âm khí, xui xẻo. Vì thế, đừng dại mà mang cây này về trồng trong khuôn viên nhà ở vì nó sẽ đem lại điều xui xẻo cho người sống.
Cây dâu
Người xưa thường trồng cây dâu để trừ tà ma. Muốn thịnh vượng, gia đình gặp nhiều may mắn thì tuyệt đối không nên trồng cây dâu trước cổng nhà.
![]() |
![]() |
![]() |
| ► Tra cứu: Tử vi năm 2016 theo cung, mệnh bản thân chuẩn xác |
Đền Quán Thánh nằm tại ngã tư đường Thanh Niên và đường Quán Thánh, Hà Nội, trên đất phường Quán Thánh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, phía Nam Hồ Tây và gần cửa Bắc Thành Hà Nội. Đền Quán Thánh là một trong Tứ Trấn Thăng Long xưa, là một trong những ngôi đền nổi tiếng tại Hà Nội.
Đền Quán Thánh có tên chữ là Trấn Vũ Quán. Đền có từ đời Lý Thái Tổ (1010 – 1028), thờ Huyền Thiên Trấn Vũ, là một trong bốn vị thần được lập đền thờ để trấn giữ bốn cửa ngõ thành Thăng Long khi xưa (Thăng Long tứ trấn). Bốn ngôi đền đó là: Đền Bạch Mã (trấn giữ phía Đông kinh thành); Đền Voi Phục (trấn giữ phía Tây kinh thành); Đền Kim Liên (trấn giữ phía Nam kinh thành); Đền Quán Thánh (trấn giữ phía Bắc kinh thành). Đền Quán Thánh nằm bên cạnh Hồ Tây, cùng với chùa Kim Liên và chùa Trấn Quốc tạo nên sự hài hoà trong kiến trúc cảnh quan và trong văn hoá tín ngưỡng đối với cả khu vực phía Tây Bắc của Hà Nội.
Đền Trấn Vũ được xây dựng vào đầu thời nhà Lý. Từng trải qua nhiều đợt trùng tu vào các năm 1618, 1677, 1768, 1836, 1843, 1893,1941 (các lần trùng tu này được ghi lại trên văn bia). Đợt trùng tu năm Đinh Tỵ niên hiệu Vĩnh Trị thứ 2 tức đời vua Lê Hy Tông. Trịnh Tạc ủy cho con là Trịnh Căn chủ trì việc xuất của kho để di tạo Trấn Vũ Quán và pho tượng Thánh Trấn Vũ. Nghệ nhân trực tiếp chỉ huy đúc tượng Thánh Huyền thiên Trấn Vũ là Vũ Công Chấn. Ông cho đúc tượng Huyền thiên Trấn Vũ bằng đồnghun, thay cho pho tượng bằng gỗ trước đó. Năm Cảnh Thịnh 2 (1794) đời vua Quang Toản, viên Đô đốc Tây Sơn là Lê Văn Ngữ cho đúc chiếc khánh đồng lớn.
Vua Minh Mạng nhà Nguyễn khi ra tuần thú Bắc Thành cho đổi tên đền thành Chân Vũ quán. Ba chữ Hán này được tạc trên nóc cổng tam quan. Tuy nhiên, trên bức hoành trong Bái đường vẫn ghi là Trấn Vũ quán. Năm 1842, vua Thiệu Trị đến thăm đền và ban tiền đúc vòng vàng đeo cho tượng Trấn Vũ. Đền được công nhận di tích lịch sử-văn hóa cấp quốc gia đợt đầu năm 1962.
Cả hai cách viết và gọi là Trấn Vũ quán và Đền Quán Thánh đều được người xưa chấp nhận. Quán là Đạo Quán và là nơi thờ tự của Đạo Giáo, cũng như chùa là của Phật Giáo. Thánh Trấn Vũ là một hình tượng kết hợp nhân vật thần thoại Việt Nam (ông Thánh đã giúp An Dương Vương trừ ma trong khi xây dựng thành Cổ Loa) và nhân vật thần thoại Trung Quốc Chân Võ Tinh quân (vị Thánh coi giữ phương Bắc).
Tương truyền đền có từ đời Lý Thái Tổ (1010-1028). Nhưng theo Vũ Tam Lang trong cuốn Kiến trúc cổ Việt Nam, thì đền được khởi dựng năm 1102(có lẽ là năm 1012 thì đúng hơn).
Đền được di dời về phía Nam hồ Tây trong đợt mở rộng Hoàng thành Thăng Long năm 1474 của vua Lê Thánh Tông, nhưng diện mạo được tu sửa vào năm 1836-1838 đời vua Minh Mạng. Các bộ phận kiến trúc đền sau khi trùng tu bao gồm tam quan, sân, ba lớp nhà tiền tế, trung tế, hậu cung. Các mảng chạm khắc trên gỗ có giá trị nghệ thuật cao. Bố cục không gian thoáng và hài hòa. Hồ Tây phía trước mặt tiền tạo nên bầu không khí mát mẻ quanh năm.
Ngôi chính điện (bái đường) nơi đặt tượng Trấn Vũ có 4 lớp mái (4 hàng hiên). Chính giữa là bức hoành phi đề “Trấn Vũ Quán”. Hai tường hồi có khắc các bài thơ ca ngợi ngôi đền và pho tượng Trấn Vũ của các tác giả thời nhà Nguyễn như Nguyễn Thượng Hiền, Vũ Phạm Hàm… Nhà Tiền tế có khám thờ và án thư cùng tượng thờ nghệ nhân đúc tượng Trấn Vũ, ông Trùm Trọng.
Điểm độc đáo của đền Trấn Vũ là pho tượng thần Huyền Thiên Trấn Vũ được đúc bằng đồng đen vào năm Vĩnh Trị thứ 2 (1677), đời Lê Hy Tông. Tượng cao 3,96m, chu vi 8m, nặng 4 tấn tọa trên tảng đá cẩm thạch cao 1,2m. Tượng có khuôn mặt vuông chữ điền nghiêm nghị nhưng bình thản, hiền hậu với đôi mắt nhìn thẳng, râu dài, tóc xoã không đội mũ, mặc áo đạo sĩ ngồi trên bục đá với hai bàn chân để trần. Bàn tay trái của tượng đưa lên ngang ngực bắt ấn thuyết pháp, bàn tay phải úp lên đốc kiếm, kiếm chống trên lưng rùa nằm giữa hai bàn chân, quanh lưỡi kiếm có con rắn quấn từ dưới lên trên. Rùa, rắn và kiếm là biểu trưng của Huyền Thiên Trấn Vũ.
Theo sử sách ở đền thì Huyền Thiên Trấn Vũ là thần trấn quản phương Bắc đã nhiều lần giúp nước Việt đánh đuổi ngoại xâm. Lần thứ nhất vào đời Hùng Vương thứ 6 đánh giặc từ vùng biển tràn vào, lần thứ hai vào đời Hùng Vương thứ 7 đánh giặc Thạch Linh… Trong bản ghi chép còn có chi tiết Huyền Thiên Trấn Vũ giúp dân thành Thăng Long trừ tà ma và yêu quái, giúp An Dương Vương trừ tinh gà trắng xây thành Cổ Loa, diệt Hồ ly tinh trên sông Hồng đời Lý Thánh Tông…
Pho tượng Huyền Thiên Trấn Vũ là một công trình nghệ thuật độc đáo, đánh dấu kỹ thuật đúc đồng và tài nghệ của các nghệ nhân Việt Nam cách đây 3 thế kỷ.
Không chỉ là một công trình có giá trị về mặt lịch sử và kiến trúc, đền Quán Thánh còn là nơi sinh hoạt tín ngưỡng văn hóa nổi tiếng của người dân Hà Nội xưa và nay. Đền Quán Thánh tổ chức chính hội vào ngày 3/3 âm lịch, du khách phương xa nên đến du lịch Hà Nội vào những ngày Tết để được tham gia lễ hội Đền Quán Thánh. Trải qua gần một thiên niên kỷ nhưng ngôi đền Quán Thánh vẫn còn giữ gìn nguyên vẹn những giá trị văn hóa lịch sử cho con cháu mai sau. Song hành cùng lịch sử, ngôi đền được in dấu bởi nét thời gian tạo nên một vẻ đẹp rất riêng, vẻ đẹp của một Hà Nội những ngày tháng cũ.
1. Vị trí xây nhà
- Tránh mua hoặc xây nhà ở những nơi sườn dốc nghiêng hơn 45o.

Nhà ở sườn dốc không chỉ bất tiện về mặt thiết kế mà còn không tốt trong phong thủy cơ bản
- Tránh nhà ở gần các nhà máy điện, các trạm biến áp. Những nguồn năng lượng ở nơi này có thể tạo ra sự hỗn loạn năng lượng của nhà bạn. Nếu không có sự lựa chọn nào khác thì nên đặt gương bát quái ở ngoài cửa nhà để phản xạ lại các năng lượng xấu đang cố gắng xâm nhập.
- Một ngôi nhà ở cạnh hoặc đối diện nghĩa trang luôn luôn chịu nhiều năng lượng "tử khí". Dùng gương bát quái cũng giúp giảm bớt nhưng tốt nhất là nên tránh sống gần một nghĩa địa.
- Năng lượng từ các bãi rác rất khó để khống chế ảnh hưởng xấu đến phong thủy nhà bạn.
2. Đường phố xung quanh
- Tránh một ngôi nhà trên phố chạy quanh tạo thành một cái thòng lọng.

- Tránh nhà ở ngã ba - nơi sẽ tạo thành "mũi tên độc" chiếu tướng.

Vị trí nhà ở khu vực chữ T hoặc chữ Y đều không tốt cho phong thủy
- Số nhà cần phải dễ nhìn và rõ ràng.
- Chỗ đỗ xe nên ở luôn mặt trước. Tránh việc chạy xe dọc theo cạnh nhà và vòng lại vào sân sau hoặc sang hướng khác. Trong phong thủy thì điều này sẽ khiến các cơ hội tốt vuột khỏi tầm tay.
3. Nội thất nhà cửa
Cửa vào: Đây là nơi năng lượng vào nhà, do đó cần được áp dụng các biện pháp phong thủy cơ bản để thu hút nhiều tiền tài, may mắn và cơ hội.

- Dọn sạch tất cả các chướng ngại vật như cây úa, cây chết, đồ đạc thừa,v.v.
- Thắp sáng lối vào, thay thế ngay khi các bóng đèn bị cháy.
- Tỉa tót và dọn dẹp vườn trước nhà thường xuyên.
- Thay cửa ra vào đã hỏng, hoặc vít chặt lại tay nắm, tra dầu bản lề cót két.
- Sửa chữa hoặc thay rèm cửa rách nát
- Cửa trước không đối diện với cửa sau nếu không năng lượng sẽ vào cửa trước, ra cửa sau mà không đọng lại chút nào trong ngôi nhà của bạn.
Cầu thang

Cầu thang xoắn ốc gây ra các nguồn năng lượng hỗn loạn
- Không đặt cầu thang thẳng trực tiếp từ cửa vào.
- Không xây cầu thang hẹp và dốc
- Không sử dụng cầu thang xoắn ốc - năng lượng ở loại cầu thang này rất nhanh và hỗn loạn.
Nhà bếp

Không bao giờ đặt phòng bếp đối diện cửa ra vào
- Không đặt bếp đối diện với cửa trước
- Không đặt bếp phải đối mặt với phòng ngủ
- Không được đặt bếp, lò vi sóng, lò nướng ở phía Tây Bắc của phòng ăn
- Giữ lò nướng, lò vi sóng, tủ đông, tủ lạnh luôn sạch sẽ và hoạt động trơn tru.
- Rửa bát đĩa hàng ngày, không để chồng chất lên nhau ở bồn rửa.
- Vứt bỏ hết các thực phẩm hư hỏng.
Phòng tắm: Đây là nơi chứa nước - tượng trưng cho tiền tài nên rất cần chú ý phong thủy cơ bản để không "xả" trôi hết tài lộc.

Luôn nhớ đóng nắp bồn cầu để không xả trôi tiền bạc
- Đóng nắp bồn cầu trước khi xối nước và khi không sử dụng
- Luôn đóng cửa phòng tắm.
- Một tấm thảm chùi chân màu xanh, đỏ, hoặc đen ở trước cửa nhà vệ sinh sẽ giúp giữ tài vận.
- Đặt một tấm gương bên trong cánh cửa phòng tắm sẽ giúp giải trừ các năng lượng xấu.
Phòng ngủ

Giường ngủ cỡ lớn nên dùng ga trải giường đỏ để tránh rạn nứt trong hôn nhân
- Không đặt giường đối diện cửa ra vào.
- Không đặt giường ở phía trước cửa sổ.
- Không nằm ngủ bên dưới các thanh dầm.
- Dùng khăn trải giường màu hồng hoặc màu đỏ cho các giường có kích thước lớn hơn giường đôi để tránh các vấn đề hôn nhân.
- Đặt một quả cầu pha lê ở trong phòng để làm chệch hướng các năng lượng tiêu cực.
Cửa sổ
Cửa sổ: Năng lượng đi vào và rời khỏi nhà của bạn thông qua cửa ra vào và cửa sổ.

- Thay thế các kính cửa sổ bị hỏng.
- Chắc chắn rằng tất cả các cửa sổ mở ra đóng vào dễ dàng.
- Sửa chữa các chốt cửa bị hỏng.
- Tránh đặt các đồ nội thất chặn cửa sổ.
Theo Eva.vn
Người nghiên cứu thuật số chúng ta cần phải nắm giữ một số kiến thức, phương diện dự đoán, nhưng dự đoán và phong thủy là hai hệ thống khái niệm không giống nhau.

Dự đoán (bao gồm lục sát và ký môn) là một khái niệm thời gian, không gian định điểm, là sự việc đặc thù (cái gọi là “vô sự bất chiêm” chính là đạo lý này), thông qua lắc quẻ và phương pháp khởi cục thời gian không gian mà phán đoán ra động hướng hung cát của sự việc, có tính linh động nhất định và tính phán đoán chính xác thông tin đối với thời gian không gian. Nhưng nó chỉ là phán đoán mà không có sự lợi dụng vá bố cục đối với môi trường. Mà phong thủy học lại là thời gian không gian, địa vận, nhân vận (cũng chính là “thiên địa nhân”), ba điều đó tổng hợp nên bộ môn khoa học dẫn dắt quy hoạch bố cục, nó nặng về quy hoạch và dẫn dắt (khí, phong) mà không phải là dự đoán.
Cái gọi là phong thủy ở trên phán đoán hiện tượng cát hung cũng là đứng ở sự phối hợp ba trong một của toàn bộ môi trường: thiên, địa, nhân. Căn cứ vào sự phán đoán hợp lý của bố cục quy hoạch có ảnh hưởng đến con người, cho nên về căn bản chính là có sự khác biệt định vị lớn.
Chúng ta ngày nay không còn thắc mắc về Tứ trụ có ảnh hưởng đến cuộc sống cá nhân con người như thế nào. Khi đứng trước căn nhà, việc đầu tiên chúng ta phải kiếm tra Tứ trụ của mình có phù hợp với phong thủy của căn nhà hay không. Phối hợp giữa Tứ Trụ và Phong thuỷ là quan điểm của học phái Mệnh lý phong thủy. Học phái này căn cứ vào Bát tự tứ trụ để định đoán cát hung và lựa chọn cách cục phong thủy phù hợp với người cần xem. Nhưng thực ra đây là một quan điểm sai lầm, kết hợp vô căn cứ. Bởi trên quan điểm ứng dụng cá thể vào toàn cục là một cách nhìn phiến diện. Đối tượng nghiên cứu của Phong thủy là hiện tượng tự nhiên, như núi sông, triền gò…. vì thế, không thể sử dụng thông tin cá nhân để định đoán Phong thuỷ khách quan. Nếu có, chúng ta chỉ có thể lựa xem người này có phù hợp với thế cục này không thôi, chứ không thể áp dụng thông tin cá nhân và vào thế cục.
Bát tự tứ trụ là thông tin tiên thiên của mỗi cá nhân khi sinh ra, nó chịu ảnh hưởng của thời gian, không gian tiên thiên. Nếu muốn có sự tác động dễ điều chỉnh thì phương pháp duy nhất là tác động vào hậu thiên, đó là môi trường sống như nhà cửa, quan cánh… Người xưa đã vận dụng những hệ thống lý thuyết vào thực tế và chỉ ra rằng. Thiên – Địa – Nhân là ba yếu tố không thể tách rời, nhưng bản thân chúng lại có những lý thuyết tồn tại tách hạch.
Phong thủy chính là nghiên cứu về “Địa”, là một hộ môn nghiên cứu có hệ thống lý thuyết và đối tượng rõ ràng, việc ứng dụng với cuộc sống là lựa thế đất có phong thủy đẹp dể thỏa mãn nhu cầu mục đích con người.
Còn Bát Tự tứ trụ là thông tin nghiên cứu dự báo về số mệnh của con người. Chúng ta chỉ có thể tìm thế đất tốt, phù hợp với con người, chứ không thể sứ dụng thông tin cá nhân để thay đổi phong thuỷ.
Tuổi vợ chồng kỵ nhau, xung khắc xưa nay vẫn là vấn đề muôn thuở. Theo đó thì trong hôn nhân người xưa thường chọn lấy những người hợp tuổi thì cuộc sống vẫn thuận lợi hơn là lấy tuổi xung. Hai tuổi mà hợp nhau thì làm ăn dễ dàng hơn.
Tuy nhiên, nếu 2 người thật sự thương yêu nhau nhưng tuổi lại xung khắc, nếu lấy nhau thì sẽ phải chịu cảnh cô quả suốt đời, hoặc giả làm ăn lụi bại, con cái hiểm muộn thì sao? Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn phần nào Hóa giải xung khắc tuổi vợ chồng.

Thực tế đã chứng minh, trong gia đình tuổi vợ chồng chỉ là một yếu tố mà thôi, còn phụ thuộc sinh con tuổi gì? Chính đứa con có tác động quyết định hạnh phúc gia đình trong đời sống. Tuổi vợ chồng chỉ là một yếu tố. Đứa con có hợp với mẹ về mạng, địa chi và hợp với bố về thiên can thì vẫn giàu và hạnh phúc được. Và đứa con út ( đứa cuối cùng) mới quyết định vận mệnh của gia đình!
Có nhiều trường hợp, gái cao số 2,3 đời chồng thì sao ? Các cụ ngày xưa thì hay có tục rước dâu 2,3 lần. Chọn ngày chọn giờ đẹp để tiến hành rước dâu. Thực ra đây cũng là 1 cách để hóa giải tâm lý. Khi đón cô dâu về, làm lễ trước bàn thờ tổ tiên. Cô dâu sẽ ở lại nhà chồng đúng nghĩa vụ của một người con dâu, đến ngày hôm sau có thể tự tiện bỏ về mà không xin phép bố mẹ chồng hay bất cứ ai. Coi như 1 lần bỏ chồng. Đến ngày khác nhà chú rể lại tiếp tục làm đám cưới đến xin dâu và làm các thủ tục như cưới hỏi bình thường. ( Lần cưới cuối cùng có thể chọn ngày đẹp, giờ đẹp để tiến hành).
Thế còn tình huống tuổi vợ chồng kỵ nhau, lấy nhau thì một người phải bỏ mạng, người kia sống cô đơn suốt đời thì sao? Tình huống này không phải là không có, nhiều đôi chưa lấy nhau mà bố mẹ chú rể đã ngăn cấm kịch liệt chỉ vì “tướng nó sát chồng” hay thầy bảo không được. Trong trường hợp này, hai vợ chồng vẫn tiến hành thủ tục pháp lý bình thường, tức là ra Phường đăng ký kết hôn theo pháp luật đàng hoàng, tổ chức hôn lễ linh đình, rồi về chung sống với nhau. Nhưng đặc biệt, phải bỏ qua bước xin dâu và thông báo với tổ tiên 2 bên là đã kết hôn. Có nghĩa là trên mặt pháp lý hai người vẫn là vợ chồng, nhưng không được ông bà tổ tiên hay thần linh chứng giám cho là vợ chồng. Điều này cũng ảnh hưởng một số cái như là trong cúng tế người vợ không được có tên trong họ, không được các cụ dưới âm công nhận là con dâu.
Đối với các trường hợp còn lại như là khắc mệnh, xung thiên can, địa chỉ, cung phi, mù sinh dẫn đến Trai gái, không chung thủy, khắc khẩu, hay cãi nhau, … thì lại dùng đến phong thủy để giảm trừ các yếu tố xung đột. Do giới hạn nên bài viết chỉ đề cập cách hóa giải Xung khắc phần địa chi trong bộ Tứ hành xung
1. Hóa giải xung đột giữa Tý và Ngọ
Tý và Ngọ bị coi là 1 trong những cặp đối chọi nhất trong tử vi Trung Quốc. Nếu giờ sinh và ngũ hành của cặp này không tương hợp, họ không nên kết hợp với nhau. Tinh thần tự do của Ngọ va chạm quá mạnh với tính cách gia trưởng và sở thích... màu mè của Tý. Hơn nữa, Ngọ thiếu động lực và tham vọng để lôi cuốn Tý.
Tính bốc đồng của Ngọ chỉ hấp dẫn được Tý lúc đầu, nhưng khi tình cảm đã phai nhạt dần thì nó lại trở thành nguyên nhân của sự bất đồng. Thái độ của họ là đấu tranh với nhau, ngũ hành của họ là Thủy và Hỏa nên sẽ xung đột dữ dội. Do cả 2 đều thuộc dương nên không ai chịu nhượng bộ.
Để giảm bớt những hệ quả xấu từ sự tương khắc này, bạn cần kiểm tra những tác động của ngũ hành lên quan hệ giữa Tý và Ngọ.
Hành tố của người tuổi Tý là Thủy, của người tuổi Ngọ là Hỏa. Theo vòng tương tác ngũ hành thì Thủy khắc Hỏa. Vì thế Tý có xu hướng thống trị Ngọ. Nhưng vì Ngọ có tinh thần tự do và tính độc lập rất cao nên bất cứ sự kiểm soát nào của Tý cũng đều gặp phải sự kháng cự và tranh cãi dữ dội ở Ngọ.
Biện pháp hóa giải
Để hóa giải sự xung khắc tính khí này, hãy tìm những khu vực trong nhà tương ứng với 2 tuổi này rồi tăng cường những khu vực đó bằng hành tố tương sinh.
Khu vực của Tý ở hướng Bắc, Ngọ ở hướng Nam. Đặt chuông gió (hành Kim) ở khu vực của Tý và 1 chậu cây cảnh (hành Mộc) ở khu vực của Ngọ. Việc tăng cường vận may của cả 2 cần đi kèm với quá trình làm dịu tính xung khắc.
Một giải pháp khác là người tuổi Tý nên tăng cường vận may bằng cách mặc trang phục màu trắng hoặc đeo trang sức mang biểu tượng phong thủy, tốt nhất là nhẫn có hình Song Hỷ. Người tuổi Ngọ nên mặc trang phục màu đỏ hoặc xanh lá cây.
2. Hóa giải xung đột giữa Sửu và Mùi
Hay hờn giận và dễ bực bội là điều dễ thấy từ mối quan hệ giữa người tuổi Sửu và tuổi Mùi. Tính khí của 2 người hoàn toàn không giống nhau.
Sửu là người thẳng thắn, không lãng phí thì giờ vào chuyện tình cảm. Trong khi đó, Mùi lại thiên về tình cảm. Họ dễ cho nhau là sai lầm và đi không đúng hướng. Cả 2 đều có tham vọng và động lực phấn đấu cao, nhưng do tính khí khác nhau nên họ khó có thể đồng hành cùng nhau.
Thường thì người tuổi Sửu thích sử dụng tư duy logic của mình và muốn tự mình phán đoán. Trong khi đó, Mùi thích được tư vấn và lắng nghe ý kiến người khác. Tính bướng bỉnh của cả 2 ngăn trở quan hệ giữa họ, bởi vậy mối quan hệ này thiên về tính chất đối đầu.
Sửu và Mùi đều thuộc hành Thổ, vì vậy khi họ kết hợp sẽ tạo ra quá nhiều năng lượng Thổ, đồng thời sẽ nảy sinh những bất lợi ở nhiều hướng khác nhau.
Biện pháp hóa giải
Trong hôn nhân, 2 tuổi này thật khó kết hợp với nhau. Tuy nhiên, nếu họ quyết tâm đi đến hôn nhân, hoặc đã lấy nhau, phong thủy vẫn có những giải pháp giúp cả 2 giảm bớt xung đột trong cuộc sống.
Chẳng hạn, khi 1 người tuổi Sửu mệnh Thủy và 1 người tuổi Mùi mệnh Thổ kết hôn với nhau, giữa họ sẽ nảy sinh rất nhiều năng lượng Thổ. Bạn có thể làm tiêu hao bớt năng lượng này bằng cách treo chuông gió bằng kim loại ở trong nhà, đặc biệt ở 2 khu vực tương ứng với Sửu và Mùi.
3. Hóa giải xung đột giữa Dần và Thân
Tuổi Dần và Thân đều thuộc dương, khi kết đôi, cuộc sống của họ sẽ trải qua nhiều phiêu lưu, cùng với năng lượng dồi dào và cảm xúc mãnh liệt. Tình yêu giữa họ đầy đam mê và trắc trở với nhiều lần chia tay rồi lại tái hợp.
Có thể nói, đây là mối quan hệ yêu thương và bất hòa, trong đó bất hòa sẽ chiếm ưu thế chừng nào họ còn sống chung. Họ liên tục kết hợp mưu mẹo và thách thức - không ai nhượng bộ ai. Cả 2 đều nghĩ cho riêng mình, cương quyết và bất đồng. Với bản tính không tương hợp, rất có thể sự kết hợp này sẽ tan vỡ trong thù nghịch. Cả 2 đều là kẻ thất bại đáng thương trong quan hệ của họ. Xung đột khiến họ trở nên suy sụp. Trong trường hợp quan hệ này còn tiến triển, đó là vì họ hiểu được cá tính mạnh mẽ và tính hướng ngoại của nhau.
Dần thuộc hành Mộc, Thân thuộc hành Kim. Kim kiểm soát Mộc. Trường hợp này, Thân đóng vai trò thống trị trong mối quan hệ. Tính nóng nảy, hung dữ của Dần không phù hợp với tài khéo léo và mưu trí của Thân. Quan hệ của họ vì vậy sẽ không tránh khỏi những bất đồng.
Việc kết hợp giữa người tuổi Dần - mệnh Mộc và người tuổi Thân - mệnh Thổ được cho là tốt đẹp hơn vì họ có được sự hỗ trợ của các hành tố. Người tuổi Dần được lợi từ sức mạnh cung cấp bởi hành Mộc, trong khi người tuổi Thân được cung cấp thêm năng lượng bởi hành Thổ, Thổ sinh Kim. Sự tương hợp về ngũ hành đưa lại cho sự kết hợp này 1 cơ may thành công, góp phần mang lại sức mạnh và nghị lực cho cả 2.
Biện pháp hóa giải: Đối với những cặp Dần - Thân mang các hành tố khác, có thể giảm bớt tính xung khắc bằng cách để đèn chiếu sáng ở hướng của Dần (Đông Đông Bắc) và hướng của Thân (Tây Tây Nam). Điều này sẽ cải thiện được phần nào mối quan hệ của họ.
4. Hóa giải xung đột giữa Mão và Dậu
Về mặt tính cách, sự ngay thẳng, bộc trực của Mão dễ làm cho Dậu bực bội. Trong khi đó, sự kiêu căng, tự phụ của Dậu khiến Mão phải nổi nóng. Mão nhún nhường trong khi Dậu tự mãn, cho rằng mình biết tất cả. Những xung đột này khiến quan hệ của 2 người không thể tiến xa được.
Xét theo vòng tử vi, Dậu và Mão ở vào vị trí xung khắc, con giáp này bị ảnh hưởng bởi âm tính từ những mũi tên độc của con giáp kia. Do đó, cả 2 sẽ phô bày tất cả những điều xấu nhất của nhau. Tính dè dặt cố hữu của Mão trở thành thái độ thờ ơ, khinh miệt. Trong khi đó, sự khoe khoang, kiêu căng của Dậu ngày càng trở nên khó chịu, đáng ghét.
Nếu 2 người này không sống với nhau, hoặc không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau thì họ có thể là bạn tốt. Nhưng khi đã kết hôn, họ rất dễ bất hòa và coi thường nhau. Tệ hại hơn, cuộc sống hôn nhân giữa Mão và Dậu có thể chỉ còn là quan hệ tầm thường.
Dậu thuộc hành Kim, Mão thuộc hành Mộc. Kim và Mộc tương khắc. Trong mối quan hệ này, Dậu đóng vai trò kiểm soát và điều khiển Mão, hay ít ra cũng cố gắng để được như thế. Vấn đề là Mão có chấp nhận vị trí lãnh đạo của Dậu hay không. Căn cứ vào vòng tử vi thì điều này khó có thể xảy ra. Là con giáp âm, Dậu không khẳng định được vai trò và uy tín của mình trong việc thống trị Mão - cũng thuộc âm.
Biện pháp hóa giải
Để cải thiện mối quan hệ này, cả 2 cần phải được tăng cường năng lượng 1 cách đúng đắn dựa vào đặc điểm của ngũ hành. Cụ thể là, người tuổi Dậu nên đeo đồ trang sức bằng vàng, người tuổi Mão nên sử dụng nhiều màu xanh lá cây. Ngoài ra, cả nam và nữ đều sẽ gặp may mắn khi đeo ngọc.
5. Hóa giải xung đột giữa Thìn và Tuất
Người tuổi Thìn và tuổi Tuất vốn không hợp nhau. Cả 2 đều không thấy được sự hấp dẫn của nhau. Thìn mãnh liệt và bốc đồng, không hợp với bản tính thích chê bai, giễu cợt của Tuất. Những cuộc đối thoại giữa họ dễ dẫn đến bực bội và nổi nóng.
Theo vòng tử vi, Thìn và Tuất là 2 con giáp trực tiếp đối đầu với mũi tên độc của nhau, vì vậy chúng xung khắc nhau. Tuất coi thường tư tưởng và ý kiến của Thìn. Và tất nhiên, Thìn không thể nào bằng lòng trước sự bất hợp tác của Tuất. Sự kết hợp này là điển hình cho xung đột về tính cách. Giữa 2 người ít có sự cảm thông, những giận dữ, bất hòa dễ làm cho cả 2 bị tổn thương.
Thìn và Tuất đều thuộc dương, sự vượt trội về năng lượng dương làm nổi bật sự bất hòa giữa họ. Đồng thời, bản chất hung hăng của 2 người ngày càng lộ rõ. Nếu giờ sinh không làm dịu bớt tâm tính của họ, rất có thể họ sẽ phải chia tay.
Theo tử vi, hôn nhân giữa người tuổi Thìn - mệnh Hỏa và người tuổi Tuất - mệnh Kim, sẽ không được hạnh phúc. Bên cạnh đó, quan hệ giữa người tuổi Thìn - mệnh Mộc và người tuổi Tuất mệnh Kim, cũng mang lại điều không may cho cả 2. Tuổi Thìn bị suy yếu, tuổi Tuất bị tiêu hao. Nói chung, tuổi Thìn và tuổi Tuất không nên kết hợp với nhau.
Biện pháp hóa giải
Đối với trường hợp đã lấy nhau, giải pháp để giảm bớt xung đột là đặt 1 bình nước ở hướng la bàn tương ứng với con giáp Thìn - hướng Đông Đông Nam.
Ngoài ra, cũng có thể đặt biểu tượng thuộc hành Thủy ở gần cổng, với ý nghĩa nước sẽ chứa hết sự giận dữ và bất hạnh của 2 người.
6. Hóa giải xung đột giữa Tỵ và Hợi
Tỵ và Hợi được coi là 1 trong những sự kết hợp xấu nhất của vòng tử vi, hầu như không có sự tương hợp giữa 2 tuổi này. Tỵ và Hợi không bao giờ có cùng quan điểm. Họ bất đồng ý kiến trên nhiều phương diện. Bất cứ việc gì người này làm cho người kia đều không được trân trọng, mà đó chỉ là sự lãng phí về thời gian, công sức và tiền bạc. Vì vậy, những dự tính của họ dù có tốt đẹp đến đâu cũng không thể bảo vệ mối quan hệ này khỏi sự xung đột, bất hạnh. Họ liên tục hiểu lầm động cơ và dự tính của nhau, cuối cùng cả 2 sẽ từ bỏ mọi cố gắng đến với nhau.
Giữa 2 tuổi này không có sự cảm thông, chia sẻ. Thường thì Hợi rất ân cần, tử tế, nhưng tất cả những điều tốt đẹp này đều trở nên tầm thường và vô nghĩa đối với Tỵ vốn kiêu căng, ngạo mạn. Ngược lại, những dự tính tốt đẹp của Tỵ dành cho Hợi cũng đều bị Hợi xem là khoe khoang, tự phụ, không rõ ràng, thiếu dứt khoát. Cả 2 chỉ nhìn thấy những khuyết điểm của nhau.
Điều này còn được minh chứng thêm bởi sự xung khắc của ngũ hành. Nếu chỉ xét riêng ngũ hành của địa chi, Tỵ thuộc hành Hỏa, Hợi thuộc hành Thủy. Thủy khắc Hỏa. Trong mối quan hệ này, sự mềm dẻo, nhân nhượng chỉ là vẻ bề ngoài che giấu những bất đồng, giận dữ bên trong.
Những người tuổi Tỵ (mệnh Hỏa) và người tuổi Hợi (mệnh Kim) được khuyên là không nên kết hôn với nhau. Những hành tố của họ có thể mang lại vận may nhưng không thể đưa đến hạnh phúc cho nhau. Cả 2 đều không thể hiểu được nhau.
Giải pháp hóa giải
Nếu đã kết hôn, cách tốt nhất giúp cặp đôi Tỵ - Hợi giảm bớt xung đột là tăng cường hành tố tương ứng với mỗi tuổi. Hãy trồng cây ở hướng Nam (hoặc hướng Nam Đông Nam) để tăng cường năng lượng cho người tuổi Tỵ. Trong khi đó, người tuổi Hợi sẽ được hưởng nhiều lợi ích bằng cách dùng đèn chiếu sáng ở hướng Bắc Tây Bắc.
Tràng sinh (Thủy)
***
1. Ý nghĩa tướng mạo:
2. Ý nghĩa tính tình, phúc thọ:
3. Ý nghĩa của tràng sinh và một số sao khác:
- Tràng Sinh, Tử, Phủ: người bao dung, quảng đại, dễ tha thứ, không câu chấp. Nếu có quan chức lớn thì ân đức rộng.
- Tràng Sinh, Thiên Mã: được vận hội may về nhiều mặt; công danh tiến đạt, tài lộc gia tăng, công việc thành tựu. Nếu đồng cung thì càng đẹp. Tuy nhiên, riêng ở Hợi, vốn bất lợi cho Mã nên vất vả, trắc trở, không lợi về danh, tài, quan.
- Tràng Sinh, Đế Vượng: mập mạp, phong túc
4. Ý nghĩa của tràng sinh ở các cung:
Chỉ trừ phi ở cung Tật gặp nhiều sao xấu thì bệnh tật nhiều và lâu khỏi, ở các cung khác, Tràng Sinh đem lại phúc thọ, tài lộc.
Tại Bào thì anh em đông, sung túc. Tại Tử thì đông con. Tại Tài thì dồi dào tiền bạc. Tại Phúc thì thọ. Tại Hạn thì gặp vận may. Tùy ý nghĩa sao đi kèm, Tràng Sinh làm tăng thêm cái hay của cát tinh hoặc cái dở của sao xấu.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thiên Nga (##)
Những lời chúc ngủ ngon cho người yêu lãng mạn nhất. Hãy gửi đến cho người yêu của mình những lời chúc ngủ ngon dưới đây. Một tin nhắn chúc ngủ ngon ngọt ngào, lãng mạn chắc chắn sẽ là một niềm vui nhỏ mà ý nghĩa đối với người ấy.
Ngốc ơi! Nếu tình yêu là lực hấp dẫn, thì em là trái đất, còn nếu xinh đẹp là tội ác, thì có lẽ em đáng bị kết án tử hình… Anh yêu em nhiều lắm ngốc à! Hãy bên anh và cùng sát cánh với anh nha ngốc.
———
Đêm nay trời lạnh quá em nhỉ! Không biết chiếc gối sưởi của em có còn ấm không? Dù thế nào anh cũng biết rằng nó sẽ không ấm bằng tình yêu anh dành cho em đâu. Yêu và nhớ em nhiều lắm. Ngủ ngon em iu! Chụt…
———
Khi màn đêm dần buông xuống, anh cầu nguyện ánh trăng huyền diệu sẽ che chở cho em, ngọn gió thơm hãy thổi đi những ưu phiền và những ngôi sao sáng lấp lánh dẫn đường cho em đến những giấc mơ ngọt ngào. Ngon giấc nhé em yêu!
Ngủ thôi gấu của anh ơi ! Anh chúc em gấu ngủ ngon, nửa đêm gặp ác mộng, hehe! Trong ác mộng em là một ác nhân đang hành hạ một tội nhân là anh đây! ^^
Châu Âu ngủ, Châu Á cũng đang ngủ, Châu Mỹ đang tối dần, chỉ có đôi mắt đẹp nhất trên thế giới này đang đọc tin nhắn của anh. Chúc tình yêu của anh ngủ thật ngon và mơ về anh em nhé!
Em yêu ah, đến giờ đi ngủ rồi đó. Nhớ là đừng có thức khuya xem phim nhé phải giữ gìn sức khỏe mai còn đi học chứ! Ngoan anh mới yêu.hj. Chúc bé ngoan của anh ngủ thật ngon na!
Tớ có nhờ 1 vài thiên thần đến canh giấc ngủ cho ấy. nhưng bọn họ đều từ chối hết, ấy biết sao ko? Họ nói thiên thần ko thể canh cho thiên thần được vì vậy ấy hãy cố ngủ thật ngon nha. Chúc ấy ngủ ngon.
Nằm trên giường và nhìn đồng hồ, anh biết rằng đã đến giờ đi ngủ. Nhưng anh vẫn phân vân không biết hôm nay em thế nào?? Mong rằng mọi chuyện đều ổn. Chúc em có những giấc mơ ngọt ngào và ngon giấc.
Ngày hôm nay anh đã chúc em ngủ ngon chưa nhỉ, có lẽ vì nụ cười của em mà anh đã quên tất cả rồi chăng, em hãy giữ mãi nụ cười đó và ngủ thật ngon nha ! hihi
Trên thiên đường có 10 thiên thần: 5 thiên thần đang chơi đùa, 4 thiên thần đang nói chuyện và 1 thiên thần đang đọc tin nhắn này… Chúc ngủ ngon thiên thần!^^
Anh ơi ngủ đi! Chị vịt ngốc của anh đã ngủ rất ngon rồi. Chị ấy thương anh lắm đó! Kí tên: điện thoại
Ạnh có thể làm giúp em một việc được ko? Việc đầu tiên: tối nay hãy ngủ thật ngon. Việc thứ 2: sáng mai thức dậy với nụ cười trên môi vì em luôn muốn anh vui vẻ, tràn đầy hạnh phúc. Việc thứ 3: Yêu em và chỉ có mình em :X. Ngủ ngon ông xã à!
Nếu vẫn còn buồn trong lòng, anh hãy gọi đến số 09……. Đó chính là số tổng đài 1080 của riêng anh đấy. Chúc anh yêu ngủ ngon!
Một miếng đá cho trái dâu thêm ngọt, một sợi dây cho quả bóng bay cao, một que diêm cho cây nến sáng tỏ. Và tin nhắn này để thấy nụ cười anh! Hj. Chúc tình yêu của em ngủ ngon nhé!
Alo. Anh đã ngủ chưa thế? Em nằm mãi mà ứ ngủ được, chẳng biết là do đêm lạnh quá hay là nỗi nhớ anh dâng trào. Chưa ngủ thì nhắn tin lại cho em nhé còn không thì chúc anh iu ngủ ngon na. Iu và nhớ anh nhìu! Chụt…
Ck ngủ ngon nhá..
đừng có mơ tới đứa nào khác:…
Vk iêu Ck nhiều lắm.
Chúc anh ngủ ngon và mơ những giấc mơ đẹp nhất… và 1 ngày mới sẽ đến với anh trong niềm vui và hạnh phúc . Yêu anh nhất trên đời ^^
Chàng ngốc của em à! Anh có biết trên thế giới đang có 4,7 triệu người đang ngủ, 2,3 triệu người đang yêu, 4,1 triệu người đang ăn. Nhưng chỉ có duy nhất 1 người đang đọc tin nhắn của em. Chúc chàng hoàng tử của lòng em ngủ ngon na!
Chắc ấy đang ngủ ngon lắm nhỉ. Người ta không ngủ được. Nhớ đằng ấy quá. Mong tới sáng để được gặp ấy quá. Hix. Miss U. Ngu ngon nhé đằng ấy!
Ngủ ngon anh yêu nhé. Ngày mới sẽ đến với anh với thật nhiều niềm vui cùng nụ hôn của em kèm trong đó…
Thật ngọt ngào phải không nào? Bạn hãy lưu bài viết lại để mỗi ngày dành tặng cho người ấy một niềm vui và lãng mạn khác nhau nhé. Chúc hai bạn luôn hạnh phúc bên nhau!
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
![]() |
| Ảnh minh họa |
Căn phòng bếp chật hẹp của gia đình nếu được sắp xếp, bố trí hợp lý sẽ trở thành một không gian gọn gàng và tiện dụng chỉ với một vài những bí quyết nhỏ. Hãy tham khảo và vận dụng những cách sắp xếp phòng bếp đơn giản này để làm mới cho căn bếp của gia đình.
Sắp xếp các đồ đạc trong phòng bếp một cách khoa học
Dán nhãn các lọ đựng gia vị là một việc làm nhỏ nhưng lại mang đến hiệu quả cao. Cách này giúp cho việc nấu ăn của bạn nhanh hơn, bạn không phải giở từng lọ để kiểm tra xem đúng loại gia vị mình cần hay chưa. Ngoài ra, để giúp cho các vị khách của gia đình đến nhà không bị nhầm lẫn các lọ gia vị khi họ xắn tay vào bếp nấu nướng.

Cách sắp xếp phòng bếp gọn gàng là dán nhãn cho từng loại gia vị
Thìa và đũa là những loại vật dụng quan trọng khi dùng bữa và nấu nướng, tuy nhiên chúng có thể làm nhà bếp của bạn thêm bừa bộn hơn. Nhét tất cả chúng vào cùng một chiếc rổ không phải là cách hay. Hãy sắp xếp chúng theo kích thước và công dụng để dễ tìm kiếm.
Đối với dao, cần tập thói quen rửa sạch chúng sau mỗi lần sử dụng, còn nếu không có thời gian để rửa, hãy ngâm chúng vào nước để tránh bay mùi và bám bẩn. Thêm vào đó, sau mỗi lần sử dụng, cần treo dao lên để đảm bảo an toàn.

Sắp xếp nồi và chảo gọn gàng theo thiết kế riêng để tiện lưu trữ
Nồi, chảo là những vật dụng có thể chiếm nhiều diện tích trong bếp nhà. Vì thế, các gia đình cần sắp xếp chúng gọn gàng ngăn nắp. Nên thiết kế riêng cho mình những ngăn để nồi, chảo để tiện cho việc lưu trữ và lấy ra sử dụng.
Cải thiện ánh sáng
Một căn bếp tràn ngập ánh sáng sẽ khiến các thành viên trong gia đình cảm thấy thoải mái hơn là một căn bếp tăm tối. Không nên bố trí phòng bếp ở những nơi kín gió trong nhà, phòng bếp rất cần có cửa sổ, vừa cung cấp được nhiều ánh sáng, vừa có thể lưu thông không khí, mùi thức ăn trong bếp tránh bị ngột ngạt.
Thêm đồ trang trí
Chú ý trang trí thêm cho gian bếp cũng giúp căn phòng bếp của gia đình thêm bắt mắt. Có rất nhiều cách để giúp nhà bếp thêm đẹp như thay khăn trải bàn mới, thêm một bình hoa đặt giữa bàn ăn, gắn thêm một chiếc đồng hồ treo tường hay sơn lại tủ bếp…
Trang trí thêm cây xanh là cách sắp xếp phòng bếp khoa học
Tận dụng những góc thích hợp để làm thêm giá để đồ
Với những góc trong nhà, mọi người có thể lắp thêm các giá gỗ để đồ chắc chắn để để nhiều bát đĩa và lọ thủy tinh một cách an toàn và tiện dụng. Ngoài ra, có thể lắp thêm tủ di động giấu dưới gầm bếp. Nếu căn bếp hiện tại còn chỗ trống dưới gầm, một chiếc tủ di động sẽ là giải pháp hợp lý.
Trang Mạc (T/h)
1. Theo phong thủy, gương treo trong nhà quá lớn sẽ dễ gây tà, đặc biệt, nếu vợ chồng bạn thường xuyên soi gương thì càng dễ hao tài vận của cả 2 vợ chồng. Vì thường xuyên soi gương, hai vợ chồng bạn sẽ có thói quen mua sắm thường xuyên những đồ vật có giá trị trưng diện, chi tiêu của gia đình vì thế sẽ vượt quá thu nhập, lâu dần sẽ làm cho kinh tế của bạn càng khó khăn đi.

2. Khung cửa bị cong vênh hoặc nứt cũng sẽ ảnh hưởng đến phong thủy tài vận. Thần tài sẽ không thể đến cửa, công việc làm ăn của hai bạn sẽ gặp khó khăn nếu bạn không nhanh chóng sửa chữa khung cửa bị hỏng.

3. Có một số người do tiếc của nên vẫn giữ lại bếp nấu hoặc nồi cơm bị vỡ để dùng. Nhưng đứng về góc độ phong thủy thì việc này sẽ gây tổn hại cho bạn, bếp nấu hỏng hóc, thần tài cũng sẽ rời xa ngôi nhà của bạn.

4. Có nhiều gia đình vì muốn tiết kiệm không gian nên sẽ kê giường vào vị trí 3 mặt sát tường. Cảm giác gò bó khi nằm trên cái giường kiểu này khiến người ngủ như bị cầm tù. Trong phong thủy, giường ngủ đại diện cho vị trí tối của tài vị, nếu tài vị bị gò bó thì đương nhiên tài vận không thể đến với vợ chồng bạn rồi.

5. Có một số gia đình vì thẩm mỹ nên trang trí trực tiếp gạch men trong phòng ngủ trong khi loại gạch này thường chỉ dùng trong nhà vệ sinh hoặc phòng bếp. Các nhà phong thủy cho biết, cách trang trí này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến bạn. Bạch men rất dễ bong rơi, việc tài vận của bạn sẽ tiêu tán theo đó.

6. Nhiều người thích xây nhà trên mặt ao, hồ vì kiểu thiết kế này sẽ rất đẹp, lại thơ mộng nhưng nếu theo phong thủy, nếu nhà ở vào nơi có nước chảy qua sẽ khiến tài vận tiêu tán theo dòng nước.

Trong thiết kế nhà ở, cửa sổ trong nhà đối nhau được cho là cách cụ không hợp phong thủy. Các nhà phong thủy cho rằng, kiểu bố cục có cửa sổ đối nhau, hoặc cửa ra vào đối với cửa sổ sẽ phá hỏng tài vận trong nhà.
Kiểu bố trí cửa làm tiêu tan tài khí trong nhà
Bố trí cửa sổ hoặc cửa ra vào như trên sẽ làm cho luồng khí dẫn vào phòng tiêu tán rất nhanh, như vậy sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của gia chủ và sẽ làm hỏng việc tụ tài khí cho ngôi nhà.
Tiền sảnh ngôi nhà không nên quá trống trải
Tiền sảnh ngôi nhà quá rộng rãi, trống trải tuy giúp nhà thông thoáng mặt tiền nhưng lại không đảm bảo yếu tố tàng phong tụ khí vốn rất quan trọng trong phong thủy. Khi đó, luồng khí trong nhà lưu thông quá nhanh không lưu lại được sẽ dễ làm lọt hết tài khí, gia chủ không giữ được tiền tài, đặc biết rất dễ sinh họa sát thương, huyết quang.
Nhà bị kẹt giữa các tòa nhà cao tầng cũng không tốt
Nếu hai bên cạnh nhà bạn có biệt thự hay tòa cao ốc, gần đấy đang có công trình đang động thổ hay thi công thì đều ảnh hưởng xấu đến tài khí của gia chủ.
Nhà vệ sinh cần đặt đúng góc "hung" của ngôi nhà
Nhà vệ sinh là nơi ô nhiễm nhất, dễ làm hỏng khí tài trong nhà. Đặc biệt, nếu như bạn chẳng may đặt vào vị trí như quan vị, tài vị, hợp tinh vị thì không những không có lợi cho tình cảm vợ chồng mà tài vận của các thành viên trong gia đình của tiêu tán.
Khung cửa cần được sửa chữa kịp thời không để cong, vênh
Khung cửa là trụ cột của 4 mặt cửa, cánh cửa là tự thân của cửa, nếu trên khung cửa hay cánh cửa trong nhà bị cong vênh, rạn nứt thì đồng nghĩa với việc tài vận không vào được nhà mà cùng thần (thần nghèo) sẽ gõ cửa.
Cửa sổ chính mở ra hướng đối diện với đường hay là dòng sông
cũng sẽ không tốt với tài vận của gia chủ.
Cửa sổ chính trong nhà không nển mở ra phía đối diện dòng sông hoặc con đường, vì dòng xe cộ trên đường hay dòng nước trên con sông mà hướng thẳng vào cửa sổ nhà bạn thì sẽ bị phạm “xung tâm thủy”, không những không tốt cho tài vận mà còn ảnh hưởng xấu đến sức khỏe.
(Theo Kienthuc.net)
Sao Mộ chỉ sự đần độn, chậm tối, u mê. Chủ sự nghiệp quả.
Cung mệnh có sao Mộ tọa thủ là người đần độn, nếu có sao Hao thì chết. Sao Mộ cư Sửu, Mùi phùng Thái, Tọa: văn mộ, võ lược kiêm toàn. Mộ, Không giáp Mệnh (Mộ lạc hoang sơ): Rất xấu. Mộ, Đào, Cái: hoang dâm, dâm dục.
Cung tử tức có sao Mộ: khắc với con cái.
Cung tài bạch có sao Mộ, Long, Phượng: gia tộc giàu sang. Mộ, Hóa, Lộc: tiền của đến tận tay.
Cung phúc đức có sao Mộ: sống thọ.
Cung Tật Ách có sao Mộ tọa thủ gặp Kình, Hình, Triệt: bị sét đánh. Mộ gặp Cái, Hay Mộ Diêu là người hay Thủ Dâm.
Hạn thấy Mộ, Hổ, Phục, Hình, Phù, Bệnh, Hao, Kiếp: tất phải chết. Mộ gặp Thái Dương: Cha bị bệnh tật. Mộ gặp Tả, Phù: Thời vượng phát.