Tướng người đàn ông chung thủy –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Cô Thần, Quả Tú hay Đẩu Quân: chỉ sự lẻ loi, xế bóng, cô đơn, kén chọn, có tác dụng ngăn trở việc lập gia đình. Càng hội tụ nhiều, sự ngăn trở càng mạnh, trừ phi gặp nhiều sao tình duyên bù chế.
Thái Tuế, Quan Phù, Quan Phủ: Thái Tuế đối nghĩa với Đào, Hồng vì vậy làm cản trở sự kết duyên. Quan Phù và Quan Phủ chỉ sự phản bội, sự phụ rẫy trong tình yêu.
Phục Binh: chỉ sự cản trở, thường là bắt nguồn từ cha mẹ mỗi bên không tán thành duyên số cho đôi trẻ. Mặt khác, sao này còn chỉ sự phá hoại, rình rập, bắt ghen, bêu xấu.
Địa Không, Địa Kiếp hãm địa: chỉ sự xui xẻo về mọi phương diện. Không Kiếp hãm làm cho việc cưới hỏi bất thành, trai gái phải đau khổ vì mối tình bất toại, đôi khi đưa đến hậu quả tai hại cho tính mạng.
Phá Quân hãm địa: không bao giờ có lợi cho hôn nhân và cho hạnh phúc lứa đôi. Hạn rơi vào, việc lập gia đình sẽ bị tan vỡ.
Tuần, Triệt: phá vỡ, làm chậm trễ, làm khó khăn cho hôn nhân. Nếu cả hai đồng cung ở hạn đó thì sự bế tắc quan trọng. Trong trường hợp đơn thủ mà gặp sao xấu tại cung hạn, sự khó khăn, trắc trở xảy ra trong buổi đầu: hôn nhân sẽ đến chậm.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Mỹ Ngân (##)
Bạn xòe tay ra và so sánh ngón út của hai bàn tay. Nếu chúng dài bằng nhau, nhiều khả năng bạn là người cân đối về hình thể và thường may mắn trong việc tìm bạn đời. Nếu hai ngón út chênh nhau, bạn dễ gặp rắc rối khi tìm nửa thứ hai của mình.

Tiếp chiều dài ngón đeo nhẫn và ngón trỏ của bạn. Ở đa số phụ nữ, hai ngón này dài gần bằng nhau, trong khi nam giới thường có ngón đeo nhẫn dài hơn một chút. Ngón đeo nhẫn càng dài bao nhiêu thì khả năng bạn là người tính tình nóng nảy, có thiên hướng về thể thao và dễ rơi vào trầm uất lớn bấy nhiêu. Đó là kết luận của các nhà khoa học.
Tỷ lệ chiều dài các ngón tay và sự khác biệt giới tính
Các nghiên cứu về chiều dài ngón tay được khởi động vào cuối những năm 1990 bởi John Manning, chuyên gia nghiên cứu tại Đại học Lancashire (Anh). Ông bị hút hồn bởi một phát hiện: Tỷ lệ chiều dài các ngón tay là một trong số rất ít những khác biệt giữa nam và nữ xuất hiện từ thời kỳ bào thai nhưng không bị thảy đổi ở tuổi dậy thì. Tỷ lệ này vẫn duy trì suốt cuộc đời mỗi người.
Manning giải thích: “Có rất nhiều sự khác biệt về giới ở người, nhưng phần lớn những dấu hiệu này sẽ trở nên rõ nét hơn khi trẻ tới tuổi dậy thì. Chỉ riêng tỷ lệ chiều dài các ngón tay lại không thay đổi”.
Theo ông, không thể biết chính xác bao nhiêu phần trăm nam giới hoặc phụ nữ có hai ngón đeo nhẫn và ngón trỏ dài bằng nhau.
Trong một điều tra năm 1999 trên 102 người của cả hai giới, Manning nhận thấy rằng, đàn ông với ngón đeo nhẫn dài hơn thường đạt số điểm cao hơn trong các bài trắc nghiệm phát hiện triệu chứng trầm uất, nghĩa là nguy cơ bị trầm uất cao hơn. Điều này không đúng ở phụ nữ.
Tuy nhiên, Manning cũng nhận xét, sự cân đối mang lại cả điều lành và điều dữ. Trong một điều tra thực hiện trên những người đàn ông đã bị cơn đau tim, ông thấy ở người có ngón đeo nhẫn dài hơn, cơn đau tim thường xuất hiện muộn hơn so với người có ngón trỏ và ngón đeo nhẫn dài bằng nhau.
•Ngón đeo nhẫn dài – chơi thể thao giỏi
Theo ông Manning, trong số rất nhiều công trình gần đây, kết quả nhất quán hơn cả vẫn thuộc về những nghiên cứu tìm mối liên hệ giữa tỷ lệ chiều dài các ngón tay và thiên hướng thể thao.
Nghiên cứu mới được công bố của Đại học Hoàng gia ở London (Anh) cho hay, trong số 607 cặp song sinh nữ, tuổi từ 27 tới 79, người có ngón đeo nhẫn dài hơn ngón trỏ hay chơi thể thao hơn và thường tham gia thi đấu ở các cấp cao hơn, nhất là ở những môn cần chạy nhiều như bóng đá. Những nghiên cứu trước đó cũng cho thấy mô hình này ở nam giới. Ngoài ra, còn có 6 công trình kết luận phụ nữ có ngón đeo nhẫn dài thường chạy giỏi.
•Ngón đeo nhẫn dài – tính tình nóng nảy
Tại bang Ohio (Mỹ), các nhà khoa học đã tìm thấy mối liên hệ giữa tỷ lệ chiều dài các ngón tay và tính tình nóng nảy thông qua việc theo dõi 100 sinh viên nam và nữ. Người ta xem các sinh viên dập điện thoại mạnh tới mức nào khi nhận được những lời bình luận thô tục trong một cú phôn mà họ tưởng là lời mời đóng góp từ thiện. Kết quả cho thấy, sinh viên hay dập máy thường là những người có ngón đeo nhẫn dài hơn hoặc có sự mất cân đối trong chiều dài ngón tay, kích thước bàn tay, bàn chân, đường kính cổ tay, vòng mắt cá chân, kích thước tai.
•Chiều dài ngón đeo nhẫn và xu hướng tình dục
Tại San Francisco (Mỹ), các nhà khoa học đã đo chiều dài ngón tay của hơn 700 nam và nữ, rồi yêu cầu họ trả lời về lựa chọn tình dục của mình. Kết quả cho thấy, phụ nữ đồng tính thường có ngón đeo nhẫn dài hơn ngón trỏ. Điều này không đúng với những người đồng tính nam. Công trình được đăng trên tạp chí Nature năm 2000.
![]() |
| Bạn mơ thấy đàn ông có mái tóc vàng hoe là điềm may mắn đấy nhé |
iệu những căn nhà có một đơn nguyên số 01 từ tầng 1 lên đến tầng 32 đều có phong thuỷ giống hệt nhau không? Tất nhiên là không thể, tuy nhiên tình huống gặp phải của những người sống trong căn nhà đó là gần như tương đồng. Ví dụ, căn nhà số 01 ở tầng 1 phạm thanh sát thì phần lớn các căn số 1 của tầng 2 đến tầng 32 có khả năng cũng gánh chịu tiếng ồn làm nhiễu loạn. Đây là do ảnh hưởng của Phi Tinh gây nên.
Nhưng có điểm cần chú ý, không phải tất cả các căn nhà trên đều cho rằng đó là sự nhiễu loạn. Điều nàv là vì từ trường ảnh hưởng đến “nhân” (con người). Bản thân con người cũng có từ trường, khi sống trong một căn nhà thì từ trường của căn nhà đó chịu sự ảnh hưởng của con người nên cũng thay đổi. Hơn nữa, nếu dùng la bàn để tính toán tỉ mỉ thì bạn sẽ phát hiện ra những căn nhà trên có nhiều điểm khác biệt rất nhỏ. Độ cao thấp của căn nhà không giống nhau, hướng cũng khác (dù không rõ rệt) đều khiến kim la bàn thay đổi. Từ đó, hướng của căn nhà cũng thay đổi. Chúng ta có thể nói rằng dù sống trong căn nhà cùng vị trí nhưng cát hung lại khác nhau rõ rệt. Cũng giống như những người sinh đôi hoặc sinh ba có khuôn mặt, dáng vẻ giống nhau nhưng tính cách và thói quen sinh hoạt lại không hoàn toàn như nhau.

Nếu người ngũ hành cần Kim sống trong căn nhà luôn có xe cộ đi lại, tiếng ồn, còi xe nhiễu loạn thì anh ta cảm thấy rất thoải mái, không khó chịu chút nào. Nguyên nhân là do tiếng còi xe ngũ hành thuộc Kim. Ngược lại, nếu một người ngũ hành kỵ Kim sống trong căn nhà đó thì tiếng còi xe sẽ tạo thành một loại thanh sát, không những làm tinh thần của anh ta căng thẳng, không tập trung mà còn ảnh hưởng đến sự nghiệp và sức khoẻ của anh ta.
Từ những ví dụ trên ta có thể thấy, thực ra con người là nhân tố của phong thuỷ. Con người khiến cho từ trường tạo ra phản ứng khác nhau, từ đó làm thay đổi phong thuỷ của căn nhà. Bản thân toạ hướng của căn nhà không thể thay đổi, nhưng khi có con người dọn đến sinh sống thì nó dần dần phát sinh biến hoá. Cho nên khi dùng la bàn tìm được vị trí của căn nhà xong, nhân tố con người không thể thiếu để tham khảo. Chúng tôi cũng nhắc các bạn một điều: Trong tất cả các nhân tố khiến từ trường thay đổi thì sức mạnh lớn nhất là của động vật.
Trong cơ thể động vật phát ra một loại khí và từ trường vô cùng mãnh liệt khiến kim của la bàn chuyển động liên tục. Chính vì điểm này mà cách giải tượng của la bàn được phân thành hai tầng lớp: Một là vị trí đó đúng là của Trái Đất. Hai là vị trí đó đã được con người cải tạo. Điều đó chứng tỏ rằng phong thuỷ là từ trường được điều giải ngũ hành âm dương sau khi con người xuất hiện. Vậy làm thế nào bảo vệ trạng thái phong thuỷ tốt của căn nhà? Điều này rất cần tới bố cục phong thuỷ. Những căn nhà bình thường đều chịu sự ảnh hưởng của từ trường con người và Phi Tinh mỗi năm, mỗi tháng, mỗi ngày, mỗi giờ. Từ đó vận khí của căn nhà cũng thay đổi theo. Bố cục phong thuỷ có thể khiến từ trường của căn nhà duy trì trạng thái nào đó rất nhiều năm mà không sản sinh ra biến động nào lớn.
Giỗ tổ Hùng Vương từ lâu đã trở thành ngày lễ trọng đại của dân tộc, in đậm trong tâm linh của mỗi người dân đất Việt. Dù ở phương trời nào, người Việt Nam đều nhớ ngày giỗ tổ, đều hướng về vùng đất xã Hy Cương - Lâm Thao - Phú Thọ. Nơi đây chính là điểm hội tụ văn hóa tâm linh của dân tộc Việt. Từ ngàn đời nay, đền Hùng là nơi tưởng nhớ, tôn vinh công lao các vua Hùng, là biểu tượng của khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam.
|
| Lễ hội đền Hùng |
Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ tổ mồng mười tháng ba
Lễ hội đền Hùng có đặc thù là phần lễ nặng hơn phần hội. Tâm tưởng người về dự hội là hướng về tổ tiên, cội nguồn với sự tôn kính và lòng biết ơn sâu sắc.
41 làng xã thuộc tỉnh Vĩnh Phú (nay là Phú Thọ) tham gia rước kiệu có bày lễ vật, đi kèm có phường bát âm tấu nhạc, cờ quạt, bát bửu, lọng che cùng chiêng trống. Những làng ở xa thường phải rước 2-3 ngày mới tới.
Xưa kia, việc cúng tổ cử hành vào ngày 12 tháng 3 (âm lịch) hàng năm. Thường khi con cháu ở xa về làm giỗ trước 1 ngày, vào ngày 11 tháng 3 (âm lịch)... Đến thời nhà Nguyễn định lệ 5 năm mở hội lớn 1 lần (vào các năm thứ 5 và 10 của các thập kỷ), có quan triều đình về cúng tế cùng quan hàng tỉnh và người chủ tế địa phương cúng vào ngày 10 tháng 3 (âm lịch). Do đó ngày giỗ tổ sau này mới là ngày 10 tháng 3 (âm lịch) hàng năm.
Những năm hội chính thì phần lễ gồm phần tế lễ của triều đình sau đó là phần lễ của dân. Có 41 làng được rước kiệu từ đình làng mình tới đền Hùng. Đó là những cuộc hành lễ thể hiện tính tâm linh và nhân văn sâu sắc. Các kiệu đều sơn son thếp vàng, chạm trổ tinh vi, được rước đi trong không khí vừa trang nghiêm vừa vui vẻ với sự tham gia của các thành phần chức sắc và dân chúng trong tiếng chiêng, trống, nhạc bát âm rộn rã một vùng.
Phần hội gồm các trò chơi dân gian như đánh vật, đu tiên, ném còn, cờ người, bắn cung nỏ... và đặc biệt là các đêm hát xoan, hát ghẹo - 2 làn điệu dân ca độc đáo của vùng đất này.
Mấy nghìn năm trông coi và gìn giữ, đánh giặc và dựng xây, đền Hùng đã trở thành biểu tượng của tinh thần dân tộc, là cội nguồn của sức mạnh, niềm tin, chói sáng của một nền văn hóa.
Lịch sử như một dòng chảy liên tục. Trải mấy nghìn năm, trước bao biến động thăng trầm, trong tâm thức của cả dân tộc, đền Hùng vẫn là nơi của bốn phương tụ hội, nơi con cháu phụng thờ công đức tổ tiên.
(Theo Vietbao)
Đây là phần 2 trong loạt bài Thuật phong thủy xưa và nay, nêu tiếp những vấn đề về vị trí, hướng và không gian của nhà ở trong quan điểm của thuyết Phong thủy.
Nhà tránh ở ngã ba đường cái mà có lối xộc thẳng đâm vào mặt tiền. Nhà không làm nơi ngõ cụt, thường những nơi này hay có luồng gió quẩn, đưa bụi bẩn vào nhà. Không chọn vị trí nhà gần đền chùa, miếu mạo... Phong thủy có thể giải thích theo quan điểm của mình những điều cần tránh vừa nêu.

Chẳng hạn nhà làm nơi cửa núi, cửa thung lũng thì gió độc vào nhà, gia đình li tán. Nhà làm trên nền giếng cũ thì gia chủ ốm đau. Nhà làm trong ngõ cụt gia chủ đơn côi. Nhà làm gần đền miếu gia chủ tâmthần bất định. Hàng ngày con người cần lao động để tồn tại mà luôn luôn tiếp xúc với không khí thần thánh, sao mà ổn định tâm lí được. Nhà làm mà phía sau có núi cao chủ nhà cuồng chữ...
Kích thước của ngôi nhà, của các bộ phận nhà cửa theo phong thủy cũng có quy tắc khá chặt chẽ. Để đo chiều dài, người xưa sử dụng "bộ" thay cho "thước" (xích). Chín thước là hai bộ. Mỗi thước xấp xỉ 40cm ngày nay. Số lượng 'bộ" định cho từng bộ phận nhà hoặc toàn nhà cũng có phép tắc. Một "bộ" gọi là kiến, hai "bộ" là mãn, bốn "bộ" là bình, năm "bộ" là định, sáu "bộ" là chấp, bảy "bộ" là phá, tám "bộ" là nguy, chín "bộ" là thành, mười "bộ" là thu, mười một "bộ" là khai, mười hai "bộ" là bế. Đến "bộ" thứ mười ba thì lặp lại chu kỳ trên.
Kiến là kích thước cơ bản, trừ là bỏ bớt, mãn là đầy đủ, bình là vừa phải, định là không có thay đổi, chấp là nên nắm lấy, phá là tan vỡ, nguy là không ổn định, thành là đạt được điều hay, thu là nhận lấy, khai là mở mới, bế là dừng là tắc. Theo như thế mà chọn lấy điều mong muốn khi định kích thước nhà và các bộ phận nhà. Kích thước lại được luận đoán theo lành dữ rất khiên cưỡng. Chẳng hạn như kiến là nguyên cát (gốc của điều lành), trừ là sáng sủa, mãn là thiên hình, bình là quyền thiệt (uốn lưỡi), định là kim quỹ (thước vàng), chấp là thiên đức, phá là xung sát, nguy là ngọc đường, thành là tam hợp, thu là tặc kiếp (cướp giật), khai là sinh khí, bế là tai họa.
Nên chọn kích thước theo kiến, mãn, bình, thu. Kích thước chấp nhận được là trừ, nguy, định, chấp. Thành, khai dùng tốt. Hết sức tránh các kích thước trong bộ bế, phá. Chiều rộng nhà không chọn mãn, bình, thu, bế. Chiều dài nhà lấy theo trừ, định, chấp, khai. Số "bộ" của nhà hợp với quy tắc trừ, định, chấp, nguy, khai, kiến thì ở trong nhà ấy sớm sinh quý tử. Nhà có số "bộ" hợp với quy tắc trừ, định, nguy, khai, chấp, kiến thì người trong nhà mau thăng quan tiến chức.
Thuật phong thủy hết sức coi trọng sự mở cửa của nhà. Cửa, cổng, đón đưa môn khí mà như lí khí luận thì môn khí cùng với địa khí là hai tiêu chí quan trọng nhất của ngôi nhà. Cửa có thể tiếp nhiên khí nếu hướng lên trên, hướng xuống dưới thì tiếp địa khí, đón lành, tránh dữ. Để quyết định cửa của ngôi nhà, cần cân nhắc phương vị của cửa, xem cửa nên mở ra không gian nào. Chiều cao, bề rộng của cửa, vật đối diện với cửa đều hết sức quan trọng.
Cửa nhìn ra không gian thoáng đãng, để có thể khi ngước lên ngắm trăng nhìn mây, coi ngang tầm mắt thì ngắm cây, nhìn hoa, đẹp biết mấy. Sự cần thiết trong nhà cũng có những quy tắc theo phong thủy. Nơi đặt bài vị thờ cúng tránh đối diện với phương Thái Tuế. Đặt bài vị vào các năm Tí, Sửu, Dần, Hợi kiêng quay mặt hướng Bắc. Đặt bài vị vào các năm Mão, Thìn phải kiêng quay mặt về hướng Đông, Các năm Ngọ, Mùi, kiêng quay mặt hướng Nam. Các năm Thân, Dậu, Tuất kiêng quay mặt hướng Tây. Như thế, theo phong thủy, mỗi năm phải đặt lại bài vị một lần. Xưa nay, nhiều nhà chỉ đặt hướng bài vị một lần đâu đó phải họ làm ăn sa sút.
Còn tổ chức không gian trong kiến trúc mặt bằng cần theo những quy định cũng khá chặt chẽ như cần đảm bảo các quy tắc đối xứng, ngay ngắn, rộng hẹp. Cây cối trong kiến trúc sân vườn của khuôn viên nhà ở cũng cần cẩn thận. Trồng cây dâu trước nhà là điều kiêng kị vì điều đó đồng nghĩa với tang môn thần. Đó chẳng qua vì tiếng Tàu, tang là dâu, đồng âm với tang là nhà có đám nên kiêng mà thôi. Sau nhà lại không nên trồng cây hòe mà phải trồng ở nơi đón khách. Đó là vì muốn trình ra cái chí tam công nguyện ước.
Truyện xưa kể Vương Dụ thời Tống trồng ba cây hòe ở sân trước và nói: "Hậu thế của ta sẽ có người làm đến tam công (tư mã, tư đồ, tư không) thật là thỏa chí của ta". Sau đó nhà này có người làm đến chức tam công thật.
Phong thủy bắt đầu phát sinh từ Tiên Tần bên Tầu, dai dẳng kéo dài, đến bây giờ còn nhiều người bị ảnh hưởng.Thuật phong thủy, trên thì xem thiên văn, dưới xét địa lý. Lí thuyết cơ bản từ học thuyết thái cực, âm dương, ngũ hành, tinh tượng cực kì bí hiểm. Thày phong thủy thêu dệt chuyện li kỳ, gán ghép nhiều sự kiện lịch sử, thổi phồng sự trùng hợp ngẫu nhiên tô cho phong thủy màu sắc kì ảo, làm cho dân chúng cảm thấy thần bí.
Hãy hỏi có vua chúa nào xây cung, đặt mộ mà không mời thày phong thủy tham mưu chính cho mình. Nhưng có đời vua chúa nào tồn tại vĩnh hằng ?! Khi thuận thời, nhà xây cho thuê khen được thày đặt đất, coi hướng làm nhà. Khi ế ẩm khách thuê như mấy năm gần đây, gia chủ ai nỡ trách tại thày phong thủy. Thiết kế kiến trúc giải quyết tốt công năng, kết cấu bền vững, đường dáng hài hòa, gia chủ phấn khởi làm nên ăn ra. Đó là cái phong thủy tốt nhất cho người sắp làm nhà vậy !
![]() |
| Đường màu đỏ là đường Tình cảm |
Xòe bàn tay đoán ngay ra tài vận| ► Bói tình yêu để biết nhân duyên của bạn và một nửa của mình |
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Yến Nhi (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thanh Vân (##)

Trước khi mua, gia chủ hãy cân nhắc tới chất liệu của tượng Phúc Lộc Thọ
Tượng Phúc Lộc Thọ hiện nay được làm từ rất nhiều chất liệu như ngọc thạch, gốm sứ, đồng nguyên chất, mạ vàng, ngọc thạch... Gia chủ có thể chọn mua bất kì loại nào phù hợp với điều kiện khả năng tài chính của mình. Nhưng tượng Phúc Lộc Thọ làm từ đồng nguyên chất được xem là linh nghiệm nhất do đồng không qua gia công nhiều.
Tượng Phúc Tinh: đặt ở giữa
Tượng Thọ Tinh: đặt bên phải
Tượng Lộc Tinh: đặt bên trái
Tất nhiên tượng Thần tiên nên đặt tại vị trí may mắn để thờ cúng. Kỵ đặt tượng Thần Phật ở vị trí hung, kỵ với tuổi của chủ nhà, sẽ tốn của, hao tài và dính vào nhiều chuyện thị phi.
Bài trí tượng Phúc Lộc Thọ tại một trong hai vị trí bên cạnh cửa chính. Thần tiên sẽ ra khỏi nhà nếu bạn đặt đối diện cửa chính.

Mặt tượng hướng vào trong nghĩa là đem tiền tài vào trong nhà
Khi bài trí tượng, mặt tượng chỉ có thể hướng vào trong phòng, không được hướng ra ngoài. Mặt tượng hướng vào trong nghĩa là đem tiền tài tới cho các thành viên trong gia đình, nếu như hướng ra ngoài nghĩa là tiễn tiền tài ra ngoài.
Đèn chong và lư hương thờ cúng Thần Tài nên làm bằng đồng. Nên dùng một số đồ ngọt, hoa tươi để cúng thần tiên là được.
Vì Tam tinh Phúc Lộc Thọ là thần tiên trên trời nên cần đặt ở vị trí cao hơn đầu người, nếu không có thể mạo phạm tới thần linh.
Gia chủ nên dùng tượng đã được chính thức Khai quang (nghi thức bỏ lớp vải đỏ trên mặt tượng ra để bắt đầu thờ cúng) nếu như muốn Tam tinh phù hộ. Nên chọn ngày đẹp để làm lễ Khai quang. Nếu không, nó không khác gì một món đồ trang trí cả.
(Theo Khám phá)
Kiến thức phong thủy. Tết phải có đào để trị bách quỷ, quất là biểu tượng sức khỏe, bình an, trường thọ và may mắn trong tình duyên. Đừng ham quất nhiều quả
Theo chuyên gia phong thủy, người chơi đào quất dịp Tết nên tìm hiểu thông tin trước khi chọn mua cây cảnh về nhà.
Đừng ham quất nhiều quả
Cây quất cảnh tốt tươi về lá, lộc là điều may mắn cho cả năm. Chính vì thế, người chơi quất luôn quan tâm đến bộ lá, lộc của cây hơn là dáng và quả.
Cây quất trong quan niệm dân gian còn là biểu tượng sức khỏe, bình an, trường thọ và sự may mắn trong tình duyên. Những người kinh doanh thường hay đặt hai chậu quất lớn có nhiều trái chín trước cửa nhà với mong muốn mang lại sự phát đạt, tiền tài dồi dào trong năm tới.

Theo các nhà vườn, thông thường một cây quất đẹp phải có gốc to, thân ngắn chẻ làm nhiều nhánh nhỏ thể hiện sự sum vầy của nhiều thế hệ gia đình. Dáng quất hoặc tròn hoặc hình tháp hoặc có các chẽ ngang tạo thế. Cây phải đủ “tứ quý” gồm quả vàng, quả xanh, nụ hoa trắng thơm ngát, lá chồi xanh non.
Nếu mua quất tại vườn nhà, nên đặt mua cây có dáng thông. Nên chọn cây quất cân đối, không phía nào của cây bị lép, đặc biệt là nếu muốn trưng bày ở một khoảng không rộng, mọi người ngắm được từ nhiều phía.
Nếu chỉ đặt cây ở góc nhà hay góc tiền sảnh thì cây hơi khuyết một chút cũng không sao. Nên chọn cây có độ sai quả vừa phải, vì khi cây quá sai, quả sẽ nhỏ.
“Trên cây quất có cả quả xanh, quả ương thì rất tốt, bởi nó tựa như các thế hệ trong một gia đình đề huề, hạnh phúc”
Theo chuyên gia phong thủy, quất thuộc mộc nên mộc vượng sinh hỏa, lá nhọn và dáng ngọn cây nhọn đều thuộc hỏa. Có thể nói loại cây này hội đủ ngũ hành và ngũ hành đều vượng, biểu lộ ra ngoài nên mới có thể kết đủ bốn mùa hoa trái.
Màu sắc, đặc tính của cây và màu sơn tường, hướng của phòng đều là những yếu tố quyết định đến việc đặt cây trong nhà. Việc phân loại thảo mộc theo ngũ hành chủ yếu căn cứ vào màu sắc. Những cây thuộc hành Thủy phần lớn có màu xanh lá thẫm như tùng, bách, quất… Cây thuộc hành Hỏa có sắc đỏ như thạch lựu, đào, hồng thiết. Nhiều khách vào dịp Tết bỏ nhiều công sức lựa chọn tùng là vì vậy, nhất là những người có nhà mới, tân gia.
Tết phải có đào để trị bách quỷ
Cây đào trong phong thủy được xem là tinh hoa của Ngũ hành. Đào có thể trị bách quỷ, xua đuổi tà ma nên khi đón năm mới ta thường thấy các gia đình hay trồng đào trước cửa nhà. Hoa đào còn là biểu tượng cho sự đổi mới và sức sinh sôi phát triển mạnh mẽ.
Theo những người sành đào, gốc, thân đào thế càng to, khỏe sần sùi, già bao nhiêu thì càng làm tôn lên vẻ đẹp cho thế đào bấy nhiêu. Các thế dân gian được nhiều khách lựa chọn là thế quần tụ. Nghĩa là, một tán lên cao biểu tượng cho cha mẹ và các tán phụ xung quanh biểu tượng cho con cháu sum vầy được tạo bởi các cành thấp, nhỏ; thế trực đổ là cây đào có 1 nhánh đâm thẳng lên và một nhánh đổ xuống; thế ngũ phúc là 4 chạc dưới và 1 chạc trên, cầu kỳ với các thế long giáng là những cây có hình con rồng sà xuống mặt đất, thế thường gặp là thế phu thê có hai cành một cặp quấn quýt lấy nhau.
Với loại đào cành, đây là loại khá thông dụng vì ngày Tết, các gia đình thường mua về cắm trong lọ độc bình, trưng trên ban thờ. Dù cành to hay nhỏ, điều quan trọng nhất là tán đào phải tròn, các nhánh phân bố đều.

Không nên chọn cành đào có dăm to, nên tìm mua loại cành có dăm nhỏ, bởi đào dăm nhỏ thường có nhiều nụ và mập mạp, khi hoa nở, cánh dày rất đẹp.
Theo các nhà vườn Tứ Liên (Tây Hồ, Hà Nội), sau khi mua, nên đốt gốc trước khi cắm vào lọ và nhớ nước cắm đào phải sạch. Nên cho vào lọ nước vài viên thuốc B1, một chút kali để có dinh dưỡng nuôi hoa.
Với việc chọn đào cây, cũng nên mua cây có dăm nhỏ và ngắn, các nhánh chính xuất phát từ một điểm trên thân, như vậy cây sẽ cân đối.
Việc hướng bình đào theo con giáp cũng được các chuyên gia phong thủy đánh giá là khá quan trọng đối với tiền tài, địa vị, sức khỏe của gia đình đó trong một năm.
Theo chuyên gia Bùi Hà (Hoàng Hoa Thám, Hà Nội), nếu là năm Tý, Thìn, Thân nên đặt bình đào theo hướng Tây; nếu là năm Ngọ, Tuất, Dần nên đặt bình đào theo hướng Đông; nếu là năm Dậu, Sửu, Tỵ nên đặt bình đào theo hướng Nam; nếu là năm Mão, Mùi, Hợi, nên đặt bình đào theo hướng Bắc.
Màu sắc của bình cắm đào cũng nên theo phong thủy. Nếu đặt bình về hướng Bắc nên chọn màu xanh da trời, màu đen; nếu đặt bình về hướng Đông Nam hay Đông nên chọn bình màu xanh ngọc, xanh lá cây; nếu đặt bình phía Nam nên chọn bình màu đỏ hoặc tím; nếu đặt bình hướng Tây, Tây Bắc nên chọn bình màu vàng hoặc trắng; Và hướng Tây Nam hoặc Đông Bắc nên sử dụng bình màu vàng nâu.
Xuất xứ của lệ “Nạp cheo” là tục “Lan nhai” tức là tục chăng dây ở dọc đường hoặc ở cổng làng. Đầu tiên thì người ta tổ chức đón mừng hôn lễ, chúc tụng, có nơi còn đốt pháo mừng.
Để đáp lễ, đoàn đưa dâu cũng đưa trầu cau ra mời, đưa quà, đưa tiền biếu tặng. Dần đần có những người làm ăn bất chính, lợi dụng cơ hội cũng chăng dây, vòi tiền, sách nhiễu, trở thành tục lệ xấu. Vì thói xấu lan dần, gây nhiều cản trở, triều đình phải ra lệnh bãi bỏ. Thay thế vào đó, cho phép làng xã được thu tiền cheo.
Khi đã cung cấp tiền nạp cheo cho làng, tức là đám cưới được làng công nhận có giấy biên nhận. Ngày xưa, chưa có thủ tục đăng ký kết hôn, thì tờ nạp cheo coi như tờ hôn thú. Nạp cheo so với chăng dây là tiến bộ. Khoản tiền cheo này nhiều địa phương dùng vào việc công ích như đào giếng, đắp đường, lát gạch, xây cổng làng…Nhưng nhiều nơi chỉ cung đốn cho lý hương chè chén. Đã hơn nửa thế kỷ, lệ này bị bãi bỏ. Thanh niên ngày nay chỉ còn thấy bóng dáng của tiền nạp cheo qua ca dao, tục ngữ.
“Nuôi lợn thì phải vớt bèo
Lấy vợ thì phải nộp cheo cho làng”.
“Cưới vợ không cheo như tiền gieo xuống suối”.
“Ông xã đánh trống thình thình
Quan viên mũ áo ra đình ăn cheo”.
“Lấy chồng anh sẽ giúp cho
Giúp em…
Giúp em quan tám tiền cheo
Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau”.
Năm mới 2016 của bạn như thế nào? Hãy xem ngay TỬ VI 2016 mới nhất nhé!
Theo quan niệm của người Á Đông, việc xông đất vào ngày mùng một Tết cũng như ngày mở cửa hàng, khai trương, xuất hành đầu năm mới có ảnh hưởng rất lớn đến hạnh phúc, công danh, tài lộc của gia chủ trong cả năm. Vì vậy, từ xưa đến nay, việc chọn ngày giờ, chọn tuổi xông đất, mở hàng luôn rất được coi trọng. Để tri ân khách hàng đã tin tưởng và đồng hành cùng Nhà Xuân trong suốt một năm qua, nhân dịp xuân mới Bính Thân 2016 đang đến gần, lịch vạn niên 365 chúng tôi xin gửi đến quý khách hàng những thông tin ai ai cũng quan tâm và mong đợi mỗi khi Tết đến xuân về.
Ngày mùng 1: Rất tốt. Nên xuất hành, đi lễ chùa, hội họp, khai bút. Giờ tốt: Thìn, Tỵ, Mùi, Tuất. Huớng tốt: Cầu duyên đi về Tây Bắc, Cầu tài đi về phương Tây Nam.
Tuổi kỵ: Giáp, Kỷ, Mậu, Dần.
Ngày mùng 2: Tốt. Có lợi cho xuất hành, mở hàng xuất kho, đi lễ chùa, hội họp. Giờ tốt: Mão, Ngọ, Mùi, Dậu. Huớng tốt: Cầu duyên và cầu tài đều đi về hướng Tây Nam.
Tuổi kỵ: Giáp, Ất, Mậu, Kỷ, Mão, Dậu.
Mùng 3: Rất Xấu. Nên đi lễ chùa, không nên khai trương hoặc làm việc đại sự, nên đi thăm hỏi họ hàng gần, hội họp, vui chơi. Giờ tốt: Thìn, Tỵ, Thân, Hợi. Hướng tốt: Cầu duyên đi về hướng Nam, cầu tài đi về hướng Tây.
Tuổi kỵ: Bính, Tân, Canh, Thìn, Mùi.
Mùng 4: Xấu. Nên đi thăm hỏi họ hàng gần, lễ chùa, hội họp vui chơi. Giờ tốt: Thìn, Ngọ, Mùi, Tuất, Hợi. Hướng tốt: Cầu duyên đi về Đông Nam, cầu tài đi về chính Tây Bắc.
Tuổi kỵ: Bính, Đinh, Canh, Tân, Hợi, Tỵ.
Mùng 5: Xấu, Hạn chế làm những việc đại sự. Nên làm phúc, đi chơi, lễ chùa. Có thể thăm hỏi họ hàng, làng xóm… Giờ tốt: Mão, Ngọ, Thân, Dậu. Cầu duyên đi về Đông Bắc, cầu tài đi về Đông Nam.
Tuổi kỵ: Mậu, Quý, Nhâm, Mão, Ngọ.
>>> Năm mới 2016 AI xông đất nhà bạn? Sẽ mang lại nhiều may mắn tài lộc?
Xem ngay XEM TUỔI XÔNG ĐẤT 2016 mới nhất>>>
Mùng 6: Rất tốt. Nên khai trương, xuất hành, mở kho, đi lễ chùa, hội họp, thăm hỏi họ hàng. Giờ tốt: Sửu, Mão, Mùi, Thân. Hướng tốt: Cầu duyên đi về chính Nam, Cầu tài đi về chính Tây.
Tuổi kỵ: Bính, Mão, Ngọ, Tân, Canh.
Mùng 7: Rất xấu. Không nên làm việc lớn, nên đi lễ chùa, thăm hỏi làng xóm, họ hàng gần nhà. Giờ tốt: Mão, Tỵ, Thân, Tuất, Hợi. Hướng tốt: Cầu duyên đi về Đông Nam, cầu tài ñi về phương Tây Bắc.
Tuổi kỵ: Bính, Đinh, Sửu, Mùi, Canh, Tân.
Mùng 8: Bình thường. Nên đi thăm hỏi họ hàng, hội họp vui chơi. Giờ tốt: Sửu, Thìn, Mùi, Tuất. Hướng tốt: Cầu duyên đi về ðông Bắc, cầu tài ñi về phương Đông Nam.
Tuổi kỵ: Mậu, Thân, Tỵ, Quý, Nhâm.
Mùng 9: Xấu. Nên đi thăm hỏi họ hàng gần, lễ chùa, hội họp vui chơi,… Giờ tốt: Mão, Mùi, Hợi. Hướng tốt: Cầu duyên đi về phương Tây Bắc, cầu tài đi về phương Đông Nam.
Tuổi kỵ: Mậu, Kỷ, Dậu, Tý,Nhâm, Quý.
Mùng 10: Rất tốt. Nên xuất hành, khai trương cửa hàng, cưới hỏi, đi thăm hỏi họ hàng, lễ chùa, hội họp vui chơi,… Giờ tốt: Tỵ, Thân, Dậu, Hợi. Hướng tốt: Cầu duyên đi về phương Tây Nam, cầu tài đi về chính Đông.
Tuổi kỵ: Canh, Thìn, Tuất, Giáp, Ất.
>> Đã có VẬN HẠN 2016 mới nhất. Hãy xem ngay, trong năm 2016 vận mệnh bạn như thế nào nhé! >>
| ► Tra cứu Lịch âm dương, Lịch vạn niên nhanh chóng và chuẩn xác nhất tại Lichngaytot.com |
![]() |
n ngập niềm vui và hạnh phúc.

Đặc biệt, chọn màu sắc phù hợp với phương của hướng cửa sẽ mang lại nhiều lợi ích và cát lành cho ngôi nhà thân thương của bạn. Sau đây là những màu sắc phù hợp với hướng cửa:
– Cửa sổ hướng chính Đông, Đông Nam: Màu vàng.
– Cửa sổ hướng chính Nam: Màu trắng, bạc.
– Cửa sổ hướng Tây Nam, Đông Bắc: Màu đen, xanh lam.
– Cửa sổ hướng chính Tây, Tây Bắc: Màu xanh lục, xanh da trờiệ
– Cửa sổ hướng chính Bắc: Màu đỏ, hồng.
Màu sắc của cổng nhà tốt nhất phải phù hợp với màu sắc ngũ hành của chủ nhà, như vậy cổng nhà sẽ hoàn mỹ hơn.
– Chủ nhà mệnh Kim, cổng sơn màu: trắng, vàng, bạc, nâu.
– Chủ nhà mệnh Mộc, cổng sơn màu: xanh, xanh lục, đen, xanh lam.
– Chủ nhà mệnh Thuỷ, cổng sơn màu: đen, xanh lam, trắng, vàng kim, bạc.
– Chủ nhà mệnh Hoả, cổng sơn màu: đỏ, vàng cam, tím, xanh, xanh lục.
– Chủ nhà mệnh Thổ, cổng sơn màu: vàng, nâu, đỏ, vàng cam, tím.
Ngoài ra, cần phải kết hợp với phương hướng của bát quái để tìm ra điểm tương sinh. Dưới đây là màu sắc may mắn của 8 hướng cổng
– Cổng hướng Đông (cung Chấn)ế Hướng Đông thuộc mệnh Mộc. Thuỷ có tác dụng tương sinh còn Mộc có tác dụng hỗ trợ.
Màu của cổng:
Chủ nhà mênh Môc nên chon màu xanh, xanh lục
Chủ nhà mệnh Thuỷ nên chọn màu đen, xanh lam
– Cổng hướng Đông Nam (cung Tốn)ẻ Hướng Đông Nam cũng thuộc mệnh Mộc. Thuỷ có tác dụng tương sinh còn Mộc có tác dụng hỗ trợ.
Màu sắc của cổng:
Chủ nhà mệnh Mộc nên chọn màu xanh, xanh lục
Chủ nhà mệnh Thuỷ nên chọn màu đen, xanh lam
– Cổng hướng Nam (cung Ly). Hướng Nam thuộc mệnh Hoả. Mộc có tác dụng tương sinh còn Hoả có tác dụng tương trợ.
Màu của cổng:
– Chủ nhà mệnh Mộc nên chọn màu xanh, xanh lục
– Chủ nhà mệnh Hoả nên chọn màu đỏ, tím, vàng, cam.
– Cổng hướng Tây Nam (cung Khôn). Hướng Tây Nam thuộc mệnh Thổ. Hoả có tác dụng tương sinh còn Thổ có tác dụng tương trợ.
Màu sắc của cổng:
Chủ nhà mệnh Hoả nên chọn màu đỏ, tím, vàng cam
Chủ nhà mệnh Thổ nên chọn màu vàng, màu cà phê
– Cổng hướng Tây (cung Đoài). Hướng Tây thuộc mệnh Kim. Thố có tác dụng tương sinh còn Kim có tác dụng tương trợ.
Màu sắc của cổng:
Chủ nhà mệnh Thổ nên chọn màu vàng, màu cà phê.
Chủ nhà mệnh Kim nên chọn màu vàng kim, màu trắng
– Cổng hướng Tây Bắc (cung Càn). Hướng Tây Bắc thuộc mệnh Kim. Thổ có tác dụng tương sinh còn Kim có tác dụng tương trợ.
Màu sắc của cổng:
Chủ nhà mệnh Thố nên chọn màu vàng, cà phê
Chủ nhà mệnh Kim nên chọn màu vàng kim, trắng
– Cổng phía Bắc (cung Khảm). Phía Bắc thuộc mệnh Thuỷ. Kim có tác dụng tương sinh còn Thuỷ có tác dụng tương trợ.
Màu của cổng:
Chủ nhà mệnh Kim nên chọn màu vàng kim, màu trắng.
Chủ nhà mệnh Thuỷ nên chọn màu đen, màu xanh lam
– Cổng hướng Đông Bắc (cung Cấn). Hướng Đông Bắc thuộc mệnh Thổ. Hoả có tác dụng tương sinh còn Thổ có tác dụng tương trợ
Màu của cổng:
Chủ nhà mệnh Hoả thì nên chọn màu đỏ, tím, vàng cam.
Chủ nhà mệnh Thổ nên chọn màu vàng, cà phêẻ
Bên cạnh đó, không nên dùng các màu sắc sau cho 8 hướng của cổng (cửa):
– Cổng hướng Đông không nên có màu: vàng kim, trắng, đỏ tím, vàng cam.
– Cổng hướng Đông Nam không nên có màu vàng kim, trắng, đỏ, tím, vàng cam.
– Cổng hướng Nam không nên có màu đen, xanh lam, vàng, màu đất, màu cà phê.
– Cổng hướng Tây Nam không nên có màu xanh, xanh lục, vàng kim hay màu trắng.
– Cổng hướng Tây không nên có màu đỏ, tím, vàng cam, đen hay xanh lam.
– Cổng hướng Tây Bắc không nên có màu đỏ, tím, vàng cam, đen, xanh lam.
– Cổng phía Bắc không nên có màu xanh, xanh lục, vàng, màu đất, màu cà phê.
– Cổng hướng Đông Bắc không nên có màu xanh, xanh lục, vàng kim, trắng.
| ► Lịch ngày tốt gửi đến bạn đọc công cụ bói tình yêu theo ngày tháng năm sinh chuẩn xác |
![]() |
Cải biến số mệnh từ khổ sang sướng với sức mạnh của Phật
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Tây Bắc là ví trí tồi tệ nhất đối với nhà bếp vì có thể gây ra những thiệt hại nghiêm trọng cho người đàn ông sống trong nhà hoặc người trụ cột của gia đình.
Theo phong thủy, phòng bếp đóng vai trò rất quan trọng đối với ngôi nhà, nhất là vị trí đặt bếp nấu. Bởi vì, bếp là một thiết bị giúp chúng ta chế biến ra đồ ăn, nuôi dưỡng tất cả mọi người trong gia đình.
Tuy nhiên, về mặt bản chất, phòng bếp được cho rằng kìm hãm sự may mắn. Điều này có nghĩa, ngay cả khi bạn có những may mắn trong căn phòng này, hoặc không thì bản thân phòng bếp sẽ “bóp nghẹt” sự may mắn theo một cách rất tự nhiên.
Thêm vào đó, dựa theo con số bát quái của bạn mà phòng bếp nằm trên một hướng tốt thì việc chuẩn bị và thưởng thức đồ ăn ở đây đặc biệt có lợi. Ngược lại, khi phòng bếp nằm ở hướng xấu, bạn sẽ cần áp dụng một số giải pháp phong thủy để làm vị trí phòng bếp tốt đẹp lên.

Dưới đây là một vài yếu tố cơ bản dành cho phong thủy phòng bếp:
– Tránh bố trí phòng ngủ nằm trên phòng bếp. Nếu điều này không thể thực hiện thì phải đảm bảo vị trí kê giường ngủ không trùng với vị trí của bếp nấu. Tương tự như vậy, cố gắng không bố trí phòng ngủ, hoặc kê giường ngủ ở vị trí đối diện với bức tường đặt bếp nấu trong phòng bếp.
– Phòng bếp lý tưởng nên được bố trí ở phía sau ngôi nhà. Tránh thiết kế bếp ở phía trước và chính giữa ngôi nhà.
– Không nên sơn phòng bếp bằng màu đỏ. Bởi vì, bếp là nơi chứa lửa, do đó, không nên gia tăng năng lượng của lửa bằng cách sơn đỏ căn phòng.

– Tây Bắc, Tây Nam và trung tâm là ba vị trí có hại đối với phòng bếp. Nếu phòng bếp của bạn nằm ở những hướng này, hãy treo một chiếc chuông gió năm thành để xua tan một số nguồn năng lượng xấu. Ví trí tồi tệ nhất đối với nhà bếp chính là hướng Tây Bắc, đặc biệt, nếu bạn sử dụng các loại khí để đun nấu. Loại bỏ tất cả nến khỏi vị trí này và cố gắng chuyển sang dùng bếp điện.
Ngoài ra, bạn có thể thêm vào một tính năng nước thật lớn, chẳng hạn như một bể cá để làm giảm một phần năng lượng dư thừa của lửa.
– Theo phong thủy, có một vài điều cần tuyệt đối tránh và với phòng bếp đó là không được sử dụng lửa ở hướng Tây Bắc của ngôi nhà. Điều này có thể gây ra những thiệt hại nghiêm trọng hoặc các vấn đề rắc rối cho người đàn ông sống trong nhà hoặc người trụ cột của gia đình.
Nếu bạn là người độc thân, điều này dẫn đến tình trạng khó thu hút được một mối quan hệ phù hợp hoặc thường xuyên cãi cọ, bất đồng với người đang hẹn hò.
Giải pháp duy nhất trong trường hợp này là đặt một bình nước thật lớn trong phòng bếp, kích thước tối thiểu là 45×60 cen-ti-mét. Tuy nhiên, nó có thể khá cồng kềnh và gây cản trở nếu phòng bếp của bạn không được rộng rãi. Thay vào đó, bạn có thể thử đặt một bể cá hoặc bình lọc nước càng gần bếp nấu càng tốt để làm giảm năng lượng của lửa tại đây.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Trích từ phần "Tử vi vấn đáp" của tác giả Cam Vũ, cuối bản điện tử cuốn Tử Vi Chỉ Nam tác giả Song An - Đỗ Văn Lưu
Dưới đây là một số các kinh nghiệm Tử Vi được góp nhặt từ các bậc tiền bối, được trình bày dưới hình thức Tử Vi vấn đáp.
1. Tôi thấy sách nói: Kình Dương Tý Ngọ, Mão, Dậu phi yểu triết tắc nhi hình thương hoặc Kình Dương cư Ngọ là mã đầu đời kiếm trấn ngư biên cương nhưng rồi cũng chết bất đắc kỳ tử, mà nay lại thấy có người phát công danh lại trường thọ, không chết ở hạn ấy nghĩa là sao? Trường hợp lá số Dương Nam Bính Dần tháng 12 giờ Hợi ngày 05?
Trong mọi trường hợp phải để ý đến ngũ hành và cát tinh phù trợ, ở trường hợp này người ấy phát công danh to ở đại hạn cung Ngọ mà bản mệnh vững vàng vì hạn đến tam hợp Thái Tuế, có Long Phương Cái Hổ, mệnh Hỏa có Liêm Trinh Hỏa đồng hành nhập hạn mà Mệnh Thân lại có tam hóa. Ðại hạn của Tử Phủ Vũ Tướng thì hỏi sao mà không phú quý, hành của mệnh và hành sao nhập hạn khắc KÌNH DƯƠNG hành Kim. Thiên Phủ ở Dần chiếu lên giải tính hung ác của Kình Ðà.
2. Thế nào là Vượng Tướng Hưu Tù Tuyệt?
Vượng, Tướng, Hưu, Tù, Tuyệt là 5 yếu tố thuộc về sinh trưởng thu tàn của ngũ hành.
Nguyên tắc: Khi ta xét đến 1 hành, nếu có nguyên nhân nào làm cho hành ấy Vượng, hành được sinh là Tướng, hành sinh ra hành chánh là Hưu, hành khắc hành chánh là Tù và hành bị khắc là Tuyệt, tóm lại bảng tóm tắt sau:
Thí dụ: năm nay là Tân Dậu thuộc hành Mộc, thời Mộc Vượng, Hỏa Tướng, Thủy Hưu, Kim Tù, Thổ Tuyệt có lợi cho những ai hành Hỏa, Mộc, bất lợi cho 3 hành Thủy, Thổ, Kim.
Hay chi tiết hơn người ta xét đến khí của 4 mùa, mùa Xuân thuộc Mộc thời mộc vượng, mùa Hạ thuộc Hỏa thì hỏa vượng, mùa Thu thuộc Kim thì kim vượng, mùa Đông thuộc Thủy thì thủy vượng và giao mùa thuộc Thổ thì Thổ vượng. Năm yếu tố này được áp dụng trong Bốc Dịch và Y Học nhiều.
3. Sách xưa nói “sinh phùng bại đại phát đã hư hoa là sao”?
Ý muốn nói rằng Cung Mệnh, hay Thân cư ở nơi bại địa thì cuộc đời sẽ long đong vất vả, nếu có gặp được hạn tốt thì cũng chỉ phát như bông hoa bị vùi dập giông tố mà thôi. Khi mệnh lâm bại địa cần phải có cát tinh đắc địa hội chiếu hay Tuần Triệt án ngữ, nếu Ðại hạn lâm vào bại địa thì cũng một thời khốn khó. Căn cứ vào bảng dưới đây:
Bản mệnh Cung: mệnh, thân, hay cung hạn

Thí dụ: lá số Cụ Phạm Văn Toán (trang 33 sách Tử Vi Chỉ Nam của cụ Song An Đỗ Văn Lưu), tuổi Giáp Thìn là hỏa mệnh, cung mệnh là cung Dần là vượng địa, nên cuộc đời tuy có gặp khó khăn (tuần án ngữ) nhưng vẫn vượt qua được cả để tiến đến thành công.
4. Khi xem số Tử Vi làm thế nào để biết được người ấy bị lừa hay đi lừa người khác?
Tính chất cố hữu của Không, Kiếp là thị kỷ phi nhân (chỉ biết mình mà chẳng nghĩ tới người), tính điêu ngoa gian giảo tham lam của một số chính tim hãm địa như Tham Lang, Cự Môn, Vũ Khúc nếu đứng chung với thế Thiên Không đắc Tả Hữu thì thật là mẫu người bán dối của người bồ tát, của mình lạt buộc. Nếu đứng chung với thế Thái Tuế là người lầm lạc, nên có tài mà bị đời lãng quên, nếu đứng chung với thế Tang Điếu, hay Trực phù - Thiếu âm - Long đức thì là người hay bị người khác qua mặt, lừa gạt, nếu ở hạn cũng luận như vậy.
5. Có người nói Mã ở Hợi là CÙNG ÐỒ MÃ, lại có sách xưa nói mã ở Hợi là Ô TRUY mã. Như vậy có mâu thuẫn không? Thế nào gọi là cùng đồ mã?
Gọi Thiên Mã ở Hợi là Ô Truy Mã là đúng, vì mã đó là Thủy Mã, rất tốt với người mệnh Thủy, đa tài mẫn cán, tháo vát và nghị lực rất mạnh. Còn gọi Mã ở Hợi là Cùng Đồ Mã thì cũng không sai, chỉ đúng 1 phần thôi. Chỉ khi nào có sao Tuyệt đồng cung với Thiên Mã ở Hợi, chỉ sự ngựa tuyệt lộ cùng đường chạy nên gọi là Cùng Đồ Mã, vì lấy cái lý sao Tuyệt là sao cuối của bộ Trường Sinh, Tuyệt lại hành Thổ khắc Mã Thủy.
6. Thế nào gọi là cách tuyệt sứ phùng sinh?
Khi Cung Mệnh an tại cung tuyệt địa, nhưng lại có chính tinh đắc địa cho hành của bản mệnh ví như người đang hấp hối lại được thần dược cứu sống.
7. Tại sao gọi là HẠN TAM TAI?
Hạn tam tai là hạn của 3 năm liên tiếp đến với mỗi tuổi, không phải cứ đến năm tam tai là có tai họa nhưng hễ cứ đến những năm tam tai thì sẽ gặp nhiều vất vả khó khăn xảy ra, nếu các yếu tố trong lá số thật tốt thì cũng làm giảm bớt, gây khó khăn bực mình, nếu trong hạn của lá số xấu thì sẽ bị xấu thêm, khó mà tránh được tai ương họa hại.
8. Khi lấy số Tử Vi nếu gặp tháng nhuận thì tính thế nào?
Có người tính từ 15 tháng sau coi như tháng trước và 16 tháng sau (tháng nhuận) được coi như tháng sau, nhưng do bởi lý: nếu đã nhuận (giống nhau) tức là thời điểm không đổi thì 2 tháng nhuận đều tính giống nhau.
Thí dụ: sinh ngày 20 tháng 5 nhuận, ta vẫn cứ tính như ngày 20 tháng 5 thường mà thôi.
9. Người muốn giỏi về Tử Vi cần phải làm sao?
Muốn đoánTử Vi giỏi cần phải có 4 điều kiện sau:
10. Thế nào gọi là hạn Trúc La?
Hạn Trúc La là hạn SÁT PHÁ LIÊM THAM ở cung Mão, cung Mão thuộc hành Mộc quẻ Chấn, là tượng cho sấm sét, nên còn gọi là Mộc áp lôi kinh, nếu có các sao Kình, Hư, Tuế, Khách nữa thì chết, số Hạng Võ sinh năm Ðinh Mão, tháng 8 ngày 12 giờ Mão có cách này.
13. Ảnh hưởng của Tuần, Triệt là như thế nào?
Khi đoán số Tử Vi, đến cung nào có Tuần, Triệt trấn đóng, án ngữ bản cung thì nên thận trọng vì tính chất phức tạp của Tuần, Triệt.
Do tính chất hoàn không nên Tuần không, Triệt không hợp với Thiên không, Ðịa không gọi là Tứ không sẽ làm mất hết hiệu lực của các tính đẩu nằm trong phạm vi của nó, nhưng không có nghĩa là ngược lại, nghĩa là Tuần Triệt chỉ có tính chất làm mất cái tốt hoặc tiêu tan sự hung ác của ác sát tinh chứ không thể biến tốt thành xấu hay biến xấu thành tốt được.
Vị trí đắc địa của Tuần Triệt là ở cung Kim và cung Hỏa, khi “Triệt đáo Kim cung, Tuần lâm Hỏa địa” hai hành Kim khi va chạm sẽ gây nên tiếng vang, hai hành Hỏa hợp lại sẽ bùng to lớn mãnh liệt, nên người mệnh vô chính diệu, có bản mệnh đồng hành với Triệt, Tuần mệnh cư ở Ngọ hay Dậu (thế cung Ngọ là ly chính Hỏa, cung Dậu là đoài chính Kim) thì được nổi tiếng lẫy lừng và phú quý.
Về đặc tính của Tuần, Triệt trên lá số, sách xưa có các câu phú:
Tuần, Triệt cũng có chỗ đắc dụng khi nằm đúng vị trí thì lại thật là cần thiết vô cùng. Khi Mệnh ở cung Bại Ðịa hay Tuyệt Ðịa, thì Tuần Triệt ở đây lại phù trì cho các sao hãm địa lại trở nên vượng, bản mệnh từ mong manh lại trở nên vững vàng.
Trường hợp này đặc biệt hơn còn kỳ dư các cung khác, Tuần Triệt được ví như bộ thắng của chiếc xe vậy.
Về ảnh hưởng của Tuần, Triệt cụ Việt Viêm Tử có phổ biến định lý:
Nhưng theo thiển nghĩ và kinh nghiệm áp dụng thì thấy rằng đối với Dương nam, Âm nữ là ở những tuổi thuận lý âm dương thì ảnh hưởng theo chiều thuận cho nên định lý Dương hành tam thất phải được dùng cho Dương nam Âm nữ.
Thí dụ: người Dương nam canh Dần, có Tuần Triệt cư Ngọ Mùi, nếu khởi theo chiều thuận thì đến cung Ngọ sẽ gặp Tuần, Triệt đương đầu, và ở cung Mùi thì Tuần, Triệt nằm sau lưng nên chỉ vuốt đuôi mà thôi. Ðối với tuổi Âm nam Dương Nữ, là ở những tuổi nghịch lý Âm Dương, nên chịu ảnh hưởng theo chiều nghịch cho nên định lý Âm qui nhị bát phải được áp dụng cho Âm nam Dương nữ.
Thí dụ: người Dương nữ canh Dần, Tuần Triệt cư Ngọ Mùi, nhưng vì là Dương Nữ cho nên ảnh hưởng theo chiều nghịch ( kim đồng hồ) vậy ở cung Mùi lại gặp Tuần Triệt đương đầu, mà với cung ngọ thì Tuần, Triệt lại chỉ là vuốt đuôi mà thôi.
Nghĩa là sao Triệt ảnh hưởng mạnh vào tuổi chưa lập thân (30 năm đầu)
Sao Tuần ảnh hưởng mạnh vào tuổi từ khi lập thân cho đến hết cuộc đời. Sở dĩ các cụ xưa dùng chữ tam thập niên tiền và tam thập niên hậu vì các cụ quan niệm là tuổi lập thân từ 30 trở ra, và cho đến 60 là hết vì nhân sinh thất thập cổ lai hi, đời người trung bình chỉ 60 thôi còn từ 70 trở ra là ngoại lệ.
14. Tại sao Triệt lại chỉ ảnh hưởng vào tiền vận 30 năm đầu, còn Tuần lại ảnh hưởng suốt cuộc đời?
Triệt Lộ Không Vọng được tính căn cứ vào Hang Thiên Can của năm sinh. Trở lại nguồn gốc vạn vật theo Hà Ðồ Lạc Thủ của Kinh Dịch, thì từ thuở hư không tức Thái Cực sinh trời rồi mới tới đất (Thiên nhất sinh thủy, Ðịa lục thành chi…) cho nên hàng can chính là cái cội rể của con người. Xét theo cuộc đời, thời gian thì hàng can phải là phần trước, có nửa đời trước thì mới có nửa đời sau, cái sau sinh ra bởi cái trước.
Tuần Trung Không Vong được tính theo can chi của năm sinh năm trong giáp nào tức là gồm cả thiên can và địa chi, thuộc giáp nào trong lục thập hoa giáp (Hội), mà can chi là 2 yếu tố căn bản để tạo nên tuổi của con người, nên Tuần sẽ ảnh hưởng suốt cuộc đời của con người.
15. Người có Tuần hay Triệt tại Mệnh, Thân thì sao?
16. Thế nào được gọi là lá số vô chính diệu?
Một lá số được gọi là vô chính diệu khi cung mệnh không có chính tinh chiếm đóng. Hoặc có chính tinh nhưng không được hưởng, nghĩa là chính tinh thủy mệnh không sinh hay đồng hành với bản mệnh.
Thí dụ: người tuổi Canh Tý là thổ mệnh, mệnh cư ở Hợi, có thiên đồng thủ mệnh, như thế là khắc với chính tinh, nên không hưởng mà không hưởng thì được coi như vô chính diệu.
Khi gặp lá số không có chính tinh thì phải lấy sao đồng hành với bản mệnh ở thế tam hợp cung mệnh phải khắc thắng được hành tam hợp của xung chiếu.
Thí dụ: mệnh cư ở cung Thân vô chính diệu, vậy phải tìm chính tinh đồng hành ở 2 cung tam hợp là Tỵ và Thìn, và lấy được ở cung Dần chiếu sang vì Thân, Tý, Thìn là Thủy khắc Dần, Ngọ, Tuất là hỏa cung trong trường hợp này nếu mệnh ở cung dần thì dùng được 2 cung tam hợp là Ngọ và Tuất. Còn các sao ở cung thân thì không hưởng được, trái lại còn nguy hại nữa là khác nếu có nhiều sao xấu.
17. Lá số vô chính hiệu thế nào thì tốt?
Gồm các trường hợp sau:
Nhưng bất cứ trường hợp nào thì ngừơi có lá số vô chính diệu vẫn là người thông minh, khôn ngoan và có đặc tính, trước một vấn đề cần giải quyết dứt khoát thì thường hay đắn đo, do dự.
18. Khi đoán hạn phải để ý đến yếu tố nào?
Khi giải đoán đến đại hạn hay tiểu hạn thì phải lưu ý đến những điểm sau:
Nếu được mệnh mà không đựơc can, hay ngược lại thì cũng lôi thôi. Thí dụ: tuổi Bính Dần đến hạn gặp Hỏa, Linh thì không việc gì Bính thuộc hỏa mà Bính Dần cũng thuộc Hỏa.
Ba hành trên nếu gặp sao Kỵ khắc nhập hạn, sẽ gặp tai nạn, thương tổn lôi thôi.
19. Muốn xem nguyệt hạn thì phải làm sao?
Khi đoán đến nguyệt hạn tức là đoán đến chi tiết phải để ý đến nguyên tắc sau:
Cách cuộc của mệnh thân chi phối dài hạn (gia tăng hay xung phá, cách cuộc của đại hạn chi phối tiểu hạn, cách cuộc của tiểu hạn chi phối nguyệt hạn.
Ðặc biệt phải lưu ý đến can chi ngũ hành của nguyệt hạn, phối hợp với can chi và ngũ hành của bản mệnh và các sao cùng cung nhập hàm ra sao mà linh động chế hóa.
Có nhiều cách tính nguyệt hạn nhưng cách thông dụng nhất là khởi từ cung tiểu hạn là tháng 1 tính thuận đến tháng sinh rồi từ đó là giờ tý tính nghịch đến giờ sinh dừng lại cung nào thì đó là tháng 1 cứ thế theo chiều thuận mỗi cung 1 tháng cho đến tháng 12.
Cách tính can chi của tháng như sau:
Nghĩa là: Năm thuộc can giáp hay can kỷ, thí dụ như năm kỷ mùi hay giáp thân thì tháng giêng là tháng bính dần, rồi đến tháng 2 là tháng đinh mão….cứ thế mà thuận đến tháng 12:
Nghĩa là bất cứ năm nào tháng giêng cũng là tháng dần, còn hàng can thì thay đổi theo hàng can của năm. Rồi cứ thế theo can chi mà luận xuống. Thí dụ năm nay là năm Tân Dậu. Vậy tháng 1 là tháng canh dần rồi tháng 2 là tân mão, tháng 3 là nhâm thìn tháng 4 là quí Tỵ, tháng 5 là giáp ngọ, tháng 6 là Ất Mão, tháng 7 là Bính Thân, tháng 8 là Ðinh Dậu, tháng 9 là Mậu Tuất, tháng 10 là Kỷ Hợi, tháng 11 là canh tý, tháng 12 là Tân Sửu.
Thí dụ: trong lá số Hoàng Ðế – trang 197 sách Tử Vi Chỉ Nam của Song An Đỗ Văn Lưu - năm 25 tuổi là năm Giáp Ngọ.
Bây giờ muốn tìm nguyệt hạn tháng 3 năm giáp ngọ xem ở cung nào.
Vậy lưu nguyệt hạn tháng 3 là tháng mậu thìn ở cung thân.
Khi giải đoán thì xem can chi nguyệt hạn có xung phá với can chi bản mệnh không? Ngũ hành của nguyệt hạn lại khắc hay sinh cho ngũ hành bản mệnh? Rồi xem đến các sao trong cung nguyệt hạn có hợp bộ, phò tá cho tiểu hạn không? Hay bị xung phá, thí dụ: tiểu hạn có Lộc tồn, đến nguyệt hạn gặp Phá Quân, Ðại Hao, hay Không Kiếp là bị phá vậy, cứ căn bản mà chế hóa cho tinh tường thì ra được đáp số.
Khi đoán tiểu hạn hàng năm, làm thế nào để biết sự việc sẽ xảy ra cho chính đường số hay cho các đối tượng liên hệ như cha mẹ, anh em, vợ con….?
Xin được nhắc lại khi đoán hạn phải lưu ý:
21. Sao Thiên Mã có những tính chất gì?
Hành của thiên mã sẽ tùy theo cung, thiên mã ở cung nào sẽ mang hành ở cung đó. Thí dụ Mã ở thân là kim mã.
Dù ở bất cứ vị trí nào nếu thiên mã đồng hành hay sinh hành bản mệnh cũng rất tốt đa tài mẫn cán. Các cách tốt đẹp của thiên mã gồm có:
Thiên Mã rất kỵ gặp các sao sau:
Nếu gặp chỉ gây ngăn trở công việc, nếu bản mệnh không vững thì thường tốn, tai nạn thương tật tay chân.
Riêng trường hợp thiên mã chỉ gặp 1 sao tuần, thì bên cạnh sau cái rủi sẽ có cái may, vì tuần chỉ như cái cầu ngăn cản để cho thiên mã phục rồi nhảy sang cung khác chứ không bị trảm như Triệt, Kình, Hình, Ðà. Mã còn là phương tiện di chuyển, mà cho phù hợp với lẽ biến dịch thì ngày nay chính là chiếc xe ta đang đi vậy. Như thế hành của bản mệnh và của thiên mã hay chiếc xe cũng nói lên ý nghĩa sau:
22. Muốn biết tổng quát đặc tính một người qua chính tinh thì căn cứ vào đâu?
23. Muốn xem số phái nữ khi nào bị tai nạn về "trinh tiết" khi căn cứ thế nào?
24. Những sao nào không có lợi cho việc hôn nhân?
Khi tọa thư hoặc hội chiếu vào cung phu thê thì các sao ngăn trở làm cho gia đạo bất hòa gồm có:
Ngoài ra còn phải kể đến các sao như Thất Sát, Phá Quân, Cô Thần, Quả Tú, Tuần Triệt, nhất là cung thế có thiên mã gặp tuần, triệt là số vợ bỏ.
Tuần Triệt ngộ mã
Hành thê vi vợ bỏ
Chồng đào tỵ tha hương.
25. Tại sao có lá số Mã ngộ Khốc khách mà lại nghèo, công danh thất bại?
Mã là Ngựa, Khốc Khách là tiếng nhạc ngựa đeo, khi ngựa chạy thì nhạc rung mà phát ra tiếng, như ng ngựa có no thì mới chạy được ví như xe của ta ngày nay phải có nhiên liệu cho xe ta phải cótiền, một chiếc xe hết xăng, mà trong túi ta lại không có lấy 1 xu, thì chiếc xe lúc ấy trở thành vô dụng.
Bởi vậy muốn được hưởng Mã ngộ khốc khách cho đúng cách thì tam hợp với khốc khách Mã phải có Lộc tồn, tùy theo ở mệnh hay ở hạn, mã sẽ được hưởng lâu dài hay ngắn hạn.
Mã Khốc Khách mà không có Lộc Tồn là tiếng rên của ngựa chết đói.
26. Muốn biết về hình thương bệnh tật của 1 người thì căn cứ vào yếu tố nào?
Thí dụ: một người ở cung ách có kình dương ngộ Riêu Y, Cô Quả, Ðào Hồng, Kình Dương chủ bộ phận sinh dục, Cô Quả chỉ một mình, Đào Riêu chỉ sự dâm dục, như thế là người ấy sẽ mắc tật dâm dục kín. Nếu cung mệnh không có những sao cứu giải như Nguyệt Đức, sao lý trí mạnh như Thiên Hình, Thái Tuế - thông thường theo kinh nghiệm thì:
27. Tại sao hầu hết các sách và kinh nghiệm cho thấy hạn Ðào Hồng Hỉ khi đắc tài danh có tình duyên, lợi cho thi cử mà khi người già hạn gặp đào hồng thì lại nguy đến tính mạng?
Nhớ lại cách xếp đặt của các tinh đẩu: Ðào hoa luôn luôn cứ ở tứ chính tức là 4 cung Tý, Ngọ, Mão, Dậu và phối hợp với Thiên Không, Lưu hà, Kiếp Sát, gọi là Thiên Hà Địa Sát.
Thí dụ: người tuổi canh Tý thì Ðào Hoa ở Dậu Thiên Không ở Sửu, Kiếp Sát ở Tỵ, một Kiếp Sát cũng đủ làm mưa làm gió; ở một số tuổi lại gặp cả Lưu Hà. Người còn trẻ thì các sao còn vượng với bản thân, Đào Hồng chính là trợ tinh cho các sao tốt nên công thành danh toại. Nhưng người già, sức tàn lực kém, ví như bông hoa đào tàn úa lung lay trước gió, thần lưỡi hái là kiếp sát chỉ ra tay nhẹ cũng đủ hồn qui tiên cảnh.
Lấy trường hợp điển hình:
a. Số cụ Phan Thanh Giản sinh năm Bính Thìn (1796) chết năm Ất Mão 1967. Lưu hạn năm Mão ở cung Dậu có Đào Hoa ở chính cung có Thiên Không, Kiếp Sát ở Tỵ.
b. Lá số Ngọc Hân công chúa sinh năm canh Dần 1770 chết năm 1803 ở cung Mùi có Đào Hoa, Thiên Không ở mão, Kiếp Sát ở hợi.
28. Tại sao ở trên đời thấy có nhiều cảnh, con người lại phải chết đang lúc công danh, tiền bạc, tình duyên lên, danh tiếng lẫy lừng?
Trong phú Tử Vi có câu: Hung tinh đắc địa phát dã như lôi. Cát tinh nhập miếu trầm trầm sự nghiệp.
Bản tính của các cát tinh cư nơi miếu địa đều chủ phúc lộc nhưng sự nghiệp cứ từng bước phát dần dần, còn tính chất của các hung, Sát Phá Liêm Tham và bộ lục sát Kình, Đà, Hỏa, Linh Không Kiếp, nếu đắc địa sẽ phát rất nhanh, những tính chất của hung tinh, là bạo phát cho nên thực tế, hầu hết giới nhà binh nhưng người được thăng cấp quá nhanh, các cấp chỉ huy quá trẻ đều được lên bàn thờ sớm.
29. Theo như kinh nghiệm cụ Thiên Lương cho biết, người nào đến hạn Thái Tuế thì nếu đang tai nạn cũng được khởi đều được công thành danh toại. Nhất là ở những người có mệnh ở thế tam hợp Thái Tuế, đáo đại hạn cũng vào cung tam hợp Thái Tuế, thì cũng có danh ở đời nhưng tôi, thấy có người đang ở hạn Thái Tuế mà lại chết là sao?
Có người đáo vận tam hợp tuổi (tam hợp Thái Tuế ) mà vẫn chết vì gặp quá nhiều sao hung ác, lại khắc hành bản mệnh nên phải chết.
Nhưng theo quy luật người ấy chưa hưởng hết hạn Thái Tuế mà đã phải chết nên dường như sự bù trừ vô hình đã dành cho họ được lưu danh với hậu thế, hầu hết cái chết của những người đang ở vào thời kỳ đại hạn nằm trong tam hợp tuổi đều có cái chết đặc biệt mà người đương thời và thời sau đều biết đến nhớ tiếc.
Thí dụ:
Một số phần nội dung bài viết đã được lập trình vào trong Hệ Thống Giải Đoán Lá Số Tử vi Xem Tướng. Bạn đọc có thể truy cập vào: ## để lấy lá số (lưu ý nhập ngày tháng năm và giờ sinh là âm lịch) sau đó căn cứu vào lời gợi ý giải đoán để tự tìm hiểu bản thân và tìm ra một cách ứng xử phù hợp với cuộc đời.
Xem tướng mạo có thể đoán được cát hung
Trong Ma y tướng pháp có nói: Sự tốt xấu trong vận mệnh con người quyết định đến điềm tốt xấu của xương cốt, sự lành dữ qua các năm cũng có thể đoán định được thông qua khí sắc của các bộ vị.

Trong Phong giám có chỉ ra: Nếu trong vận mệnh của một người gặp phải hạn nào đó, lại gặp phải điềm thất bại, như thế người đó nhất định khó bảo toàn được tính mạng. Nhưng nếu qua các năm các bộ vị vẫn tốt, vận số của người đó sẽ được chuyển xấu thành tốt.
Trong Bí quyết có chỉ ra rằng: Điềm tốt xấu trong vận mệnh của con người có thể thông qua hình tướng của người đó thể hiện ra ngoài, nhưng điểm quyết định đầu tiên đó là sự tốt xấu của các bộ vị qua các năm, tiếp đến là đến vận hạn của từng năm. Từ trong đó có thể phân biệt được ra ngọc đẹp, cần phải quan sát sự mờ tối trong nhãn thần.
Tâm thiện sẽ được phúc lộc chẳng ưu lo Điềm tốt xấu của hình tướng do sự xấu tốt trong tâm quyết định, hiểu được đạo lý đơn giản đó tức là hiểu được tướng thuật một cách chân chính nhất.
Trần Đồ Nam chỉ ra rằng: Tâm địa tốt mà hình tướng xấu thì hình tướng theo tâm địa tốt mà biến thành hình tướng tốt; ngược lại, hình tướng tốt mà tâm địa xấu, hình tướng cũng theo tâm xấu xa mà chuyển biến thành xấu.
Thần cơ chỉ ra rằng: Sự xấu tốt trong tâm địa và sự tốt xấu trong hình tướng tương đương nhau, nhưng cái trước quan trọng hơn. Sự tốt xấu trong hình tướng phụ thuộc vào điềm tốt xấu trong tâm, cũng chính là nói, sự tốt xấu trong hình tướng theo sự tốt xấu trong tâm mà có sự biến đổi tương ứng.
Trong Bí quyết chép:
Dựa vào hình tướng của Bùi Độ, người vốn có số mệnh phải chịu cảnh nghèo đói bần cùng dẫn đến mất mạng, nhưng vì nhặt được ngọc quý trả lại cho người đã mất nên thay đổi được vận mệnh vốn đã xấu của mình mà trở thành người có công danh hiển hách.
Dựa vào hình tướng của Tống Giao, người này vốn cả đời sẽ chẳng thế nào trở thành được trạng nguyên, nhưng vì đã giúp đỡ đàn kiến qua sông nên thay đổi được số mệnh ban đầu của mình mà cuối cùng thi đỗ trạng nguyên.
Do vậy có thể thấy, con người chỉ cần có tấm lòng lương thiện, nhất định sẽ cảm động được trời cao mà dần dần được hưởng phúc đến cuối đời. Tâm địa tốt xấu có ảnh hưởng đến sự tốt xấu trong vận mệnh đời người.
| ► Tra cứu: Lịch âm và Lịch vạn niên 2017 chuẩn xác tại Lichngaytot.com |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
Treo tranh con giáp trong nhà thế nào mới đúng?
Bố cục của căn nhà toạ Giáp hướng Canh: Cửa chính của căn nhà nằm ở hướng Nam, phạm phải Nhị Hắc, Ngũ Hoàng sát. Đây là bố cục phá đinh tổn tài. Cố gắng chuyển nhà là cách tốt nhất. Nếu không có điều kiện thì có thể dùng cách sau để tạm thời hoá giải.

Tài vận: Bếp tại hướng Đông là vị trí của thần Tài, vị trí của chậu rửa đối diện với tài vận tương đối có lợi. Nên dùng nhiều chậu rửa để tăng cường tài vận gia nhân. Ngoài ra, hướng Đông Nam của tiểu thái cực và đại thái cực là cát tinh tài vị. Đặt những vật phong thuỷ khai vận chiêu tài như chậu cây cảnh, đồng tiền ngũ đế, rùa đầu rồng ở vị trí này có tác dụng tăng cường tài vận.
Sức khoẻ nhân đinh: Hướng Đông của bếp là vị trí của Đinh thần, thường xuyên nấu nướng tại vị trí này có thể tăng cường gia nhân sức khoẻ vận.
g căn nhà.

Dưới đây là một vài hướng dẫn giúp bạn lựa chọn được chiếc chuông gió phù hợp với căn nhà của mình:
1. Chất liệu:
Luôn nhớ rằng chất liệu của chuông gió nên phù hợp với các yếu tố phong thuỷ tại vị trí đặt nó. Lấy ví dụ, bạn có thể đặt chuông gió làm bằng kim loại ở hướng Tây, Tây Bắc và hướng Bắc, trong khi chuông gió làm từ tre/gỗ có thể đặt ở hướng Đông, Đông Nam và Hướng Nam (Theo bát quái).
Thỉnh thoảng bạn vẫn bắt gặp những loại chuông gió được làm từ sứ, đất sét nung…khi ấy, chất liệu tạo nên chuông gió sẽ đại diện cho yếu tố thổ, do đó, nên được đặt ở vị trí trung tâm, Tây Nam, Đông Bắc, Đông và Đông Nam của ngôi nhà.

2. Biểu tượng:Có rất nhiều loại chuông gió mang trên mình những biểu tượng truyền thống. Một chiếc chuông gió làm bằng đất sét với hai trái tim rõ ràng là lựa chọn tuyệt vời cho hướng Tây Nam, Cung Tình Duyên, nên được đặt trong phòng nhà hoặc sân vườn. Trong khi đó, chiếc chuông gió với hình ảnh đức Phật sẽ phát huy tác dụng với những nguồn năng lượng phong thuỷ ở hướng Đông Bắc/ Cung học thức.
3. Số lượng:Khi sử dụng chuông gió như một pháp khí trong nhà, cần chú ý tới số lượng của mỗi thanh chuông trên chuông gió. 6 và 8 là hai con số phổ biến nhất trong số lượng thanh chuông, khiến chuông gió có khả năng tăng cường năng lượng cho ngôi nhà. Ngoài ra, số 5 được coi là lý tưởng nhất cho việc đẩy lùi những khí xấu, đối với những loại sao chiếu mạng hàng năm.
![]() |
| ► Xem bói tình yêu để biết nhân duyên của hai người |