Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

Sự tích Đức Quan Thế Âm Bồ Tát

Quán Âm Bồ Tát hay còn được gọi bằng những danh hiệu như: Quan Âm Phật, Quan Âm Như Lai, Quan Thế Âm, Quan Âm Nam Hải, Phổ Đà Phật Tổ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Quán Thế Âm Bồ Tát là danh hiệu của một vị Phật đáng lẽ đã chứng quả Phật, nhưng còn nguyện lẫn lộn ở cõi ta bà để cứu độ chúng sinh. Người ta cũng gọi Ngài là Quan Âm Phật, Quan Âm Bồ Tát, Quan Âm Như Lai, Quan Thế Âm, Quan Âm Nam Hải, Phổ Đà Phật Tổ, v.v...

 Quyền pháp năng lực của Ngài cao siêu.

 Quyển kinh nói về Ngài, mà hiện nay phái Bắc Tôn (Trung Hoa, Cao Ly, Nhật Bổn, Việt Nam) còn truyền tụng là quyển “Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Quan Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm”. Theo lời kinh Phổ Môn bất cứ là hạng nào trong chúng sanh, bất cứ là ở vào tình cảnh nào, lúc nào, hễ cầu đến Ngài, niệm danh hiệu Ngài thì đặng cứu ngay. Ngài dùng huyền diệu cứu vớt chúng sanh không biết muôn ức nào mà kể. 

Nếu cầu Ngài với danh hiệu thuộc về một phân thân nào của Ngài thì Ngài xuất hiện y theo phân thân ấy để cứu độ. Kinh Phổ môn có biên rành 12 điều đại nguyện của Ngài.

 Theo kinh truyện để lại, Ngài phân thân giáng trần 33 kiếp, khi thì mượn xác nam nhi, khi thì làm thiếu nữ, khi thì ở vào cảnh quyền quý cao sang, khi thì vào hàng bần cùng cơ khổ, khi thì sanh làm đạo sĩ, khi thì làm tỳ khưu, v.v...

 Hiện nay đời còn truyền tụng hai kiếp giáng trần làm phụ nhơn của Ngài là: kiếp thứ mười làm bà Thị Kính, kiếp chót làm bà Diệu Thiện. Sau khi thoát kiếp chót này Ngài được chứng quả Phật Tổ tại Phổ Đà Sơn (Nam Hải).

Truyện 1: Quan Âm Thị Kính

Trước kia Đức Quan Âm Bồ Tát tu đã đặng tám kiếp rồi. Qua tới kiếp thứ chín Ngài phân thân nam nhi đi tu chứng bực tỳ khưu. Khi kiếp thứ chín của Ngài gần mãn thì Đức Thích Ca giáng xuống thử lòng. Đấng Thế Tôn hiện ra một người con gái tới lần khân ép nài vị tỳ khưu kia kết duyên với mình. Vị này mới thốt rằng: “Có chăng họa may là kiếp sau, chớ kiếp này vì lời thề nguyện tu trì thì không thể nào đặng”. Vì lời hứa ấy mà sau khi mãn kiếp thứ chín rồi vị tỳ khưu kia phải giáng trần đầu thai làm thiếu nữ, suốt đời phải chịu trăm điều cay đắng về vấn đề tình duyên để thử lòng Ngài coi ra sao.

 Vâng lệnh của Đức Phật Tổ chơn linh vị Bồ Tát kia bèn giáng trần đầu thai làm con gái nhà họ Sùng là Sùng Ông, một nhà giàu có ở xứ Cao Ly lại là nhà từ tâm chưởng đức. Hai ông bà tuổi đã cao mà không con nên đi cầu tự và sanh ra nàng Thị Kính, dung nghi đẹp đẽ, tướng mạo đoan trang. Hai ông bà mừng được chút gái để có người hôm sớm trong lúc tuổi già. Khi nàng đã đúng tuần cập kê thì gần đó có chàng Thiện Sĩ, con nhà quyền quý trâm anh cậy mai đến nói. Vợ chồng Sùng Ông thấy phải đôi vừa lứa bèn chịu gả con gái mình.

 Đến ngày nạp thái vu quy nàng Thị Kính buồn tủi muôn phần! Buồn là vì thấy mình là con một, một khi đã xuất giá rồi thì bề nhà sau trước quạnh hiu, lấy ai mà thần tỉnh mộ khang thế cho mình! Tủi là lỡ sanh làm con gái thì đúng tuổi phải xuất giá tòng phu rủi may phải chịu và ơn sanh thành không sao trả đặng! Cha mẹ nghe nàng than thở làm vậy bèn kiếm lời khuyên giải và nói rằng: "Cha mẹ sanh con là gái, thì khôn lớn có nơi có chốn làm đẹp mặt nở mày mẹ cha đó là đủ rồi". Con chẳng nên lo điều chi khác nữa! Vả lại nhà bên chồng con cũng gần đây thì sự thăm viếng cũng thuận tiện. Nghe vậy nàng mới an lòng chiều ý muốn của cha mẹ. Từ khi về nhà chồng, nàng giữ một mực tôn kính, phụng sự nhà chồng, trong êm ngoài ấm, ai nấy đều khen.

 Một ngày kia nàng đương ngồi may, chàng Thiện Sĩ sau khi đọc sách mỏi mệt mới ra gần chổ nàng may mà nằm nghỉ, luôn dịp ngủ quên. Từ khi về nhà chồng đến giờ nàng chưa có dịp nhìn chàng cho chính đính. Nay có cơ hội đưa đến nàng, nhơn lúc chàng ngon giấc mà nhìn kỹ mặt đức lang quân. Chợt thấy dưới cầm chàng có mọc một sợi râu và biết coi tướng ít nhiều, nàng thấy quả là sợi râu bất lợi! Nhơn cầm sẵn cái kéo trong tay nàng mới đưa kéo ra cắt lấy. Đương lúc ấy, chàng Thiện Sĩ giựt mình thức dậy, thấy vợ cầm kéo đưa ngay cổ mình, vụt la hoảng lên rằng: “Vợ tôi muốn giết tôi.” Trong nhà vỡ lở, cha mẹ gia tướng chạy đến gạn hỏi. Nàng tình thật cứ nói ngay, không ngờ cha mẹ chồng quá ư nghiêm khắc bắt tội nàng có ngoại tình và mưu giết chồng. Nhơn cớ ấy cha mẹ chồng buộc chàng Thiện Sĩ làm tờ để vợ và mời vợ chồng Sùng Ông đến lãnh con về. Vợ chồng Sùng Ông hơ hãi tới nơi mới tường tự sự. Hai ông bà kêu con ra hỏi, rầy la than trách một hồi rồi lãnh con về.

 Lúc ấy Thiện Sĩ lòng như dao cắt, tưởng là việc đáng bỏ qua không dè đến nỗi rẽ thúy chia loan thì chàng ăn năn vô ngần, châu rơi lã chã. Khi nàng Thị Kính lạy từ công cô và chàng ra về, vì sợ uy cha mẹ chàng chẳng dám hở môi nói bào chữa nàng một lời nào.

 Về nhà, nàng Thị Kính buồn bã muôn phần. Một là buồn cho số phận long đong, tình duyên trắc trở; hai là buồn cho cha mẹ phải mang điều phiền não trong lòng.

 Vì nàng là một người đàn bà chân chính may rủi một chồng mà thôi, nàng khăng khăng không chịu “ôm cầm thuyền ai”. Nàng than rằng nếu có anh em đông thì nàng cũng đành nhắm mắt cho rồi để khỏi mang tiếng nhơ. Nhưng vì nàng là con một, nàng không nỡ hủy mình, sợ e thất hiếu, mà ở như vậy thật rất khổ tâm cho nên nàng quyết chí xuất gia, noi gương Phật Tổ, tu hành cho đắc đạo rồi trở về độ lại mẹ cha.

 Một hôm, nàng lén cải trang nam tử, rồi bỏ nhà trốn đi. Hay tin cha mẹ nghi nàng vì buồn tình xưa mà sanh nhẹ dạ theo người và sai người đi kiếm cùng nơi mà không gặp.

 Từ khi nàng lìa gia đình ra đi thì nàng có ý tìm một cảnh chùa để gởi thân. Đến ngôi chùa được chọn nàng gặp giờ sư cụ đang thuyết pháp. Nàng trộm xem tướng mạo thì thấy rõ đó là một bậc chơn tu, đạo pháp khá lớn. Nàng bèn xin thọ pháp quy y. Sư cụ ban đầu rất nghi ngờ nàng, bèn ngọn hỏi ngành tra vì sợ e trang thiếu niên kia sau này bán đồ nhi phế mà đắc tội với Phật Trời. Nàng thì một mực nói mình là một thư sanh, con nhà quyền quý, lòng chán công danh nên vào nương nhờ cửa Phật để gột rửa lòng phàm.

quan thế âm bồ tát

 Thấy chí quả quyết của vị thiếu niên, sư ông mới vui nhận cho làm đệ tử và ban pháp danh là Kính Tâm.

 Vì sãi Kính Tâm là nữ trá hình cho nên dung mạo khôi ngô kiều mị, làm cho hàng tín nữ trầm trồ, nhất là nàng Thị Mầu, con của một vị phú ông trưởng giả vùng ấy. Mượn cớ ra vô trong chùa, nàng Thị Mầu lắm khi đưa tình trêu ghẹo sãi Kính Tâm, nhưng nàng vẫn trơ trơ như không hay không biết. Thất vọng, Thị Mầu mới quay lại tư tình với đứa ở của nàng. Khi thai đã gần già, khí sắc nàng đổi, làng xã thấy thế mới đòi phú ông và nàng ra hỏi.

 Chịu đòn không kham, Thị Mầu túng phải cung xưng. Trong khẩu cung Thị Mầu quả quyết rằng mình có tư tình với sãi Kính Tâm nên mới ra cớ đỗi và xin làng rộng lượng cho sãi Kính Tâm hoàn tục kết duyên với mình.

 Trống mõ inh ỏi, cửa thiền xưa nay êm lặng phút chốc trở nên huyên náo, sóng dậy ba đào. Người nhà làng đến chùa đòi sư ông và sãi Kính Tâm ra nghe dạy việc.

 Thầy trò cùng dắt nhau đi. Đến nơi mới hay tự sự! Tá hỏa tâm thần, thầy hỏi trò có sao nói thiệt. Trò một mực kêu oan chớ không nói điều chi thêm nữa. Hương đảng đông đủ tra hỏi sãi nhỏ đủ điều, khi dọa, khi khuyên nhủ rằng: Nếu nói thật thì làng cũng chứng cho để lập gia thất. Kẻ thì mai mỉa: Sãi kia tu có trót đời không? Rốt cuộc vì không chịu xưng tội tình và một mực kêu oan cho nên sãi Kính Tâm phải bị đem ra tra tấn.

 Đứng trước cảnh thịt nát máu rơi và thấy trò bất tỉnh, sư ông mới động mối từ tâm đứng ra xin bảo lãnh cho trò để sau này về nhà khuyên nhủ dạy răn.

 Thấy thế hương đảng cũng niệm tình ưng thuận cho sư tiểu cùng về. Đến chùa, Sư ông dạy tiểu ra ở ngoài tam quan để tránh tiếng không tốt cho chùa.

 Thời gian qua, Thị Mầu đến ngày mãn nguyệt khai hoa, hạ sanh đặng một mụn con trai. Nàng bèn bồng hài nhi đến cửa tam quan bỏ đó rồi về, nói rằng: “Con của ngươi, đem trả cho ngươi.” Sãi Kính Tâm đương tụng kinh nghe đứa nhỏ bị bỏ dưới đất giãy giụa khóc la, động mối từ tâm người bèn ra ẵm đứa bé vào, mướn vú nuôi bên tự. Mẹ vò nuôi con nhện lắt lẻo qua ngày.

 Hết thời trì kinh thì sãi Kính Tâm lại phải giữ gìn bồng bế đứa trẻ. Nghe vậy, sư cụ mới vời sãi Kính Tâm vào mà trách rằng: “Trước kia con nói rằng con bị hàm oan, mà nay như thế thì chính thầy đây cũng phải nghi ngờ nữa là ai?”

 Sãi Kính Tâm bèn bạch rằng: “Bạch sư phụ, khi xưa sư phụ có dạy đệ tử  rằng cứu đặng một người, phước đức hà sa. Đệ tử vâng lời thầy mới cứu mạng đứa trẻ này, chớ kỳ trung con không có ý chi hết.”

 Tuy vậy sãi Kính Tâm cũng không đặng phép vô ra trong chùa để tránh tiếng cho chùa.

 Đứa trẻ khi đặng hai, ba tuổi đã có vẻ thông minh và giống sãi Kính Tâm như hệt. Khi hài nhi đúng ba tuổi thì sãi Kính Tâm đến ngày phải theo Phật. Biết trước giờ phân ly, sãi Kính Tâm mới viết hai bức thơ gởi lại, một kính gởi cho sư cụ, còn một bức thì gởi cho cha mẹ ruột. Khi sãi Kính Tâm tắt hơi thì đứa nhỏ y như lời cha dặn đem bức thơ vào dâng cho sư cụ.

 Xem thơ xong, sư ông rất ngậm ngùi, bèn phái vài vị ni cô ra coi tẩm liệm. Khám xét xong thì mới hay sãi Kính Tâm là nhi nữ trá hình.

 Tin ấy truyền ra hương lân nhóm lại đòi cha con Thị Mầu đến buộc tội cáo gian và phạt phải chịu tổn phí về các cuộc tống táng và làm ma chay cho sãi Kính Tâm. Bằng chứng sờ sờ phú ông phải chịu, Thị Mầu xấu hổ muôn phần bèn quyên sinh để trốn khổ nhục.

Đến ngày an táng sãi Kính Tâm thì thiên hạ đồng thấy Phật hiện trên mây rước hồn sãi Kính Tâm là nàng Thị Kính. Hai vợ chồng Sùng Ông và Thiện Sĩ đặng thơ và hay tin đau đớn này đồng có đến dự. Sau cuộc tống táng vợ xưa Thiện Sĩ ăn năn lỗi trước bèn phát nguyện tu hành.

 Tục truyền rằng Thiện Sĩ sau đắc quả thành con chim ngậm xâu chuỗi bồ đề, đậu một bên Đức Phật Quan Âm, Đức Phật Quan Âm cũng độ luôn con của Thị Mầu đắc quả hầu gần bên Ngài.

Ngày nay, người xứ ta và người Tàu khi họa tượng Phật Quan Âm thì thường họa một bà đội mũ ni xanh hoặc đen, ngồi trên tòa sen hoặc thạch bàn, bên tay mặt có một con chim mỏ ngậm xâu chuỗi bồ đề, dưới có đứa trẻ bận khôi giáp chắp tay hầu. Ấy là con của Thị Mầu.

Truyện 2: Quan Âm Nam Hải

 Theo sự khảo cứu của nhà bác học Hòa Lan tên là De Groot thì trong kiếp chót của Đức Phật Quan Âm, Ngài hạ phàm làm một vị công chúa Ấn Độ, con vua Linh Ưu, niên hiệu Diệu Trang.

 Vào năm 2587 trước Chúa giáng sanh thuộc vào thời đại kim thiên (ciel d’or) bên Ấn Độ bên phương Tây có một tiểu quốc kêu là Hưng Lâm. Nhà vua trị vì nước ấy tên Linh Ưu (Spirituel Excellent) lấy niên hiệu là Diệu Trang (Miao Tchoang). Tứ vi xứ Hưng Lâm là như vầy: Phía Tây giáp ranh Thiên Trúc Quốc (Inde), Phía Bắc giáp ranh Xiêm La, phía Đông giáp ranh Phật Chai Quốc (Sumatra), phía Nam giáp ranh Thiên Chơn Quốc (Tiên Tchan). Trong nước Hưng Lâm cảnh tượng thái hòa là nhờ có vua hiền, tôi giỏi, bá tánh chuyên lo cày cấy, nông trang.

 Chánh thê của nhà vua là bà hoàng hậu Bửu Đức. Từ ngày nhà vua tức vị đến nay đã 40 năm rồi mà bà hoàng hậu chưa hạ sanh đặng vị hoàng tử nào. Thấy thế bà lấy làm buồn và xin nhà vua đi cùng bà lên núi Huê Sơn cầu tự. Núi Huê Sơn ở về hướng Tây. Trên núi ấy có một vị thần rất linh thiêng. Ai cầu chi thì đặng nấy. Vua nghe theo, một ngày kia quân gia rần rộ, xa giá nhắm Huê Sơn trực chỉ. Cầu tự xong về triều thì một ít lâu bà có thai và đến ngày sanh đặng một vị công chúa đặt tên là Diệu Thanh (Miao Tsing). Cách một ít lâu hoàng hậu lại hạ sanh một nàng công chúa tên là Diệu Âm (Miao Yin) và sau rốt sanh ra nàng công chúa Diệu Thiện (Miao Chen). Vị công chúa thứ ba này ngày sau tu hành đắc đạo lấy hiệu là Quan Âm (Quan Yin).

 Vì nhà vua không có con trai nên vua nhứt định truyền ngai vàng lại cho một trong ba vị phò mã (rể vua). Hai công chúa đầu là Diệu Thanh và Diệu Âm thì nhà vua đã đính hôn cho hai vị quan to thinh danh nhứt trong triều. Trái lại nàng công chúa thứ ba là Diệu Thiện thì cương quyết không chịu lấy chồng và nhứt định phế trần đi tu để thành chánh quả. Nghe con quyết định như thế nhà vua nổi cơn thịnh nộ và buộc nàng Diệu Thiện phải tuân lịnh xuất giá. Thấy thế nàng mới xin vua cha nếu ý định nhà vua như vậy thì ít nữa xin cho nàng kết hôn với một thầy thuốc và thưa rằng: “Ý con là muốn cứu chữa hàng quan lại bất tài và ngu xuẩn, những tai nạn do sự nắng lửa mưa dầu, tuyết giá mà ra, những tính xấu xa ích kỷ về nhục dục, các tật nguyền, bịnh hoạn do sự già nua cằn cỗi mà ra, sự phân chia giai cấp, sự khinh rẻ kẻ nghèo và sự tư lợi”.

Nàng lại nói to lên rằng: “Chỉ có Đức Phật là được chứng quả bồ đề, minh tâm kiến tánh”. Nghe vậy nhà Vua lại càng tức giận thêm bèn hạ lệnh lột hết áo quần của công chúa và nhốt nàng vào huê viên để bị đói lạnh mà chết. Công chúa không sờn lòng. Trái lại nàng cảm ơn vua cha đã phạt nàng như thế và chỉ vui tươi mà chịu khổ hình. Các bà mệnh phụ được lệnh ra khuyến dụ nàng hồi tâm tuân ý thánh chỉ. Nàng khư khư một mực và nhứt định vào chùa Bạch Tước ẩn tu, nhập thất tham thiền. Chùa Bạch Tước thuộc quận Long Thọ (Loung Chou), tỉnh Nhữ Châu (Ju Tcheou). Hay tin ấy nhà vua không cấm cản chi, đinh ninh rằng ra nơi ấy một ít lâu công chúa chịu không nổi với những nỗi khổ cực, sẽ chán nản mà về triều.

 Nơi Bạch Tước Tự có mật lệnh của nhà vua phải buộc nàng làm những công việc đê tiện, hèn hạ và mệt nhọc nhứt. Nàng vẫn cúi đầu vâng chịu, không một tiếng than, là vì khi nàng làm phận sự có những hùm beo, chim chóc và thần thánh giúp sức. Biết được thế cho nên bà sư cụ chùa Bạch Tước mới cụ sớ về triều tâu vua mọi sự. Vua cha bèn nghĩ ra một chước cốt làm nàng kinh khủng bỏ chùa mà về đền. Một bữa kia quân lính đến bao vây và phóng lửa thiêu chùa bốn mặt. Sư cụ và tất cả ni cô kinh tâm tán đởm chạy ngược chạy xuôi tầm phương tẩu thoát. Tiếng kêu trời kêu đất inh ỏi! Nàng Diệu Thiện điềm tĩnh như thường. Nàng chỉ lâm râm cầu Đức Phật mà nàng nguyện theo gương và xin Ngài đến cứu nàng. Nàng bèn rút trâm cài đầu đâm vào họng và phun máu tươi lên không trung, tức thì mây kéo mịt mù, thiên hôn địa ám, mưa xuống như cầm chĩnh mà đổ. Bị đám mưa to các ngọn lửa đỏ ngất trời kia lần lần êm dịu rồi tắt. Thấy vậy quân chạy về phi báo. Nhà vua liền hạ lệnh bắt nàng và đưa về đền. 

 Khi điệu nàng về tới, nhà vua dạy mở yến tiệc ca xang, bày một cuộc lễ hội thật lớn cốt để đem nàng trở lại quãng đời phong lưu khoái lạc. Nhưng các cuộc bài trí ấy cũng không hiệu quả gì và cho đến những điều hăm dọa ghép nàng vào tử hình cũng không thấm vào đâu. Cùng thế nhà vua mới hạ lệnh trảm quyết nàng và dạy ba quân điệu nàng khỏi đền mới hành hình. Thần hoàng bổn cảnh liền tâu sự ấy lên cho Ngọc Đế rõ. Đức Ngọc Đế hạ lệnh cho thần hoàng bổn cảnh giữ gìn hồn nàng đừng cho nhập địa phủ. Giờ hành hình đến, giám sát vừa giơ gươm lên thì gươm gãy làm hai. Giám sát bỏ gươm rút giáo toan đâm thì giáo lại tét làm hai. Giám sát chỉ còn một nước là xử giảo nàng (thắt cổ). Đến giờ hành hình thì có một trận cuồng phong thổi tới, làm cho trời đất tối tăm mà chung quanh mình nàng thì hào quang hiện ra sáng rỡ. Thần bổn cảnh liền hóa ra một con hổ, từ trong rừng xanh nhảy ra và cõng thây nàng chạy thẳng vô núi. Những kẻ đi xem hoảng chạy tứ tung. Quan quân và giám sát ảo não muôn phần, lật đật về triều tâu vua mọi sự. Nhà vua không nao núng và lại cho rằng cọp tha thây là một sự trừng phạt nặng nề, gán thêm vào sự trừng phạt của nhà vua để phạt nàng về tội bất hiếu và tội bất tuân lệnh vua cha.

 Nhờ huyền diệu ấy mà nàng DIệu Thiện tuy chết nhưng xác vẫn còn nguyên. Lúc ấy nàng mơ màng như thấy một giấc chiêm bao, cơ hồ như nàng đã lướt gió tung mây... Khi tỉnh lại nàng lấy làm lạ mà thấy mình ở vào một thế giới không nhật nguyệt, tinh tú, không núi non, không người, không loài vật.

 Bỗng chốc nàng thấy hiện ra trước mắt một vị thanh niên mặc áo màu xanh dương, hào quang chói rạng. Vị ấy đến trước mặt nàng, tay cầm một tờ giấy dài và nói rằng: Mình vưng lệnh Diêm Chúa (Yama) mời nàng xuống viếng Diêm Cung để thấy rõ ràng cảnh khốn khổ và những hình phạt mà kẻ có tội phải chịu sau khi chết.

quan âm bồ tát

 Nơi Diêm Cung mỗi khi nàng đi đến đâu nhờ sức thần thông và đức từ bi thuyết kinh của nàng các hồn bị giam cầm đều đặng cứu rỗi và thoát khỏi ngục môn hầu tái kiếp trở lại trần gian. Thập Điện Minh Vương cũng ao ước đặng nghe nàng thuyết pháp. Chiều ý Mười Vua, nhưng nàng xin rằng sau cuộc ấy các hồn tội nhân đều đặng phóng thích. Sau khi khoản ấy đã đặng các vua ưng thuận thì nàng mới dùng hết phép thần thông của nàng mà thuyết pháp. Trong nháy mắt chốn U Minh biến thành lạc cảnh và các âm hồn đều đặng trở lại cõi trần. Thấy mười cõi U đồ đã trống trơn, Thập Điện Minh Vương mới lật đật phán rằng: “Mười điện chúng ta không quyền giam cầm vong hồn nàng Diệu Thiện”. Và tức khắc dạy đưa nàng trở lại dương gian.

 Khi tỉnh dậy nàng Diệu Thiện lấy làm bối rối chưa biết phải đi phương nào. Lúc ấy Đức Phật Thế Tôn hiện ra trên mây dạy nàng phải ra ở núi Phổ Đà, giữa Nam Hải thuộc cù lao Hương Đảo để tu thêm. Muốn đến đó phải trải qua ba ngàn dặm đường. Bởi thế, Đức Phật Thế Tôn mới ban cho nàng một trái bàn đào vườn Tây Vương Mẫu để nàng đỡ đói khát trong một năm và nhơn có đặng trường sanh. Nàng sắm sửa thượng trình. Thấy nàng sức yếu mà đường lại xa Đức Trường Canh Thái Bạch mới truyền cho thần bổn cảnh hóa ra con hổ, cõng đưa nàng ra nơi ấy. Thần bổn cảnh tuân y và trong giây phút nàng đã đến Phổ Đà Sơn.

 Khi nàng tu đặng chín năm thì có một vị Phật Tiếp Dẫn đến cho các vị thần trấn Phổ Đà Sơn hay rằng nàng Diệu Thiện tu hành đạo pháp hiện nay cực kỳ cao siêu mà từ trước đến giờ chưa vị nào đạt được. Nàng đã đứng trên tất cả chư vị Bồ Tát và cai quản các đấng ấy. Hôm nay, ngày 19 tháng 02 chúng ta phải yêu cầu vị ấy nhận một địa vị cao thượng hơn để cứu rỗi và ban hạnh phúc cho quần sanh. Sơn thần Phổ Đà Sơn bèn triệu tập tất cả các thần tiên, thánh phật vùng ấy đến chầu và xưng tụng công đức của vị Bồ Tát mới vừa chứng quả và từ nay người thường gọi là Quan Âm Như Lai, Quan Âm Nam Hải, Phật Tổ Phổ Đà Sơn. Tân Bồ Tát ngự trên tòa sen và tiếp kiến các đấng thiêng liêng đến bái kiến và khánh chúc. Lúc ấy chư thánh tiên mới định lựa một vị đồng tử để hầu Ngài. May đâu lúc ấy có một vị trẻ tuổi xưng là Hoàn Thiện Tài (Hoan Chen Tsai) nghĩa là người chỉ có đọc kinh mà đặng đức lành phép lạ. Thiện Tài đồng tử thú nhận rằng vì mồ côi cha mẹ chàng mới phát nguyện tu hành quy y Phật pháp nhưng chưa chứng quả. Nay nghe tin Nam Hải Phổ Đà Sơn có Bồ Tát ngự nên quyết chí vượt qua mấy muôn dặm đến đây để hầu Ngài và xin làm đệ tử. Trước khi ưng chuẩn lời nguyện ấy, Đức Bồ Tát muốn thử tâm chí coi ra sao, Ngài bèn truyền cho sơn thần, thổ địa hóa làm ăn cướp đến vây đánh Phổ Đà Sơn. Riêng về phần Ngài thì Ngài giả dạng sợ sệt, kêu la cầu cứu và giả té xuống hố sâu. Thấy vậy Thiện Tài đồng tử chạy theo cứu thầy và nhảy luôn xuống hố. Vì quyền năng pháp lực chưa đặng cao cho nên đồng tử phải thiệt mạng. Bồ Tát liền dùng thần thông cứu tử. Khi đồng tử tỉnh dậy thì thấy một cái xác bên mình, Bồ Tát cho biết đó là xác phàm của đồng tử và hiện nay đồng tử đã bỏ xác phàm và nhập vào cõi thánh. Từ đó Thiện Tài đồng tử một lòng phụng sự Bồ Tát trong sự cứu độ chúng sanh.

 Sau lại Đức Bồ Tát có thâu làm đệ tử nữ vị cháu gái của vua Nam Hải Long Vương tên là Long Nữ. Việc đã xảy ra như vầy. Ngày kia đệ tam thái tử con vua Long Vương hóa làm con cá, dạo chơi trên mặt biển, chẳng may vướng phải lưới của ông chài. Ông chài bắt cá ấy đem bán ngoài chợ. Ngự trên liên đài Bồ Tát biết rõ việc ấy, bèn sai Thiện Tài Đồng tử giả dạng thường nhơn đến mua cá ấy đem ra biển phía Nam thả. Nam Hải Long Vương nhớ ơn cứu tử con mình mới định dưng cho Bồ Tát một cục ngọc ban đêm chiếu sáng để giúp Ngài đọc sách không cần đèn, và dạy Long Nữ là con gái của đệ tam thái tử phải bổn thân đem ngọc đến dưng. Đến nơi dưng ngọc xong, Long Nữ rất cảm phục huyền năng và đức độ của Bồ Tát và cầu xin Ngài cho theo hầu Ngài cùng quy thuận Phật pháp. Bồ Tát ưng cho. Từ ấy Long Nữ đặng thâu làm đệ tử hiệp cùng với đồng tử Thiện Tài mà phụng sự Ngài.

 Từ khi Diệu Trang Vương dùng chước độc mà hại nàng Diệu Thiện thì nhà vua phải một chứng bệnh hết sức khổ sở.

 Thân thể nhà vua phải thúi tha đầy ung thư ghẻ chốc làm cho nhà vua nhức nhối đau đớn vô hồi. Đức Bồ Tát phóng đại quang minh biết rõ mọi sự. Nhà Vua lúc ấy hạ lệnh đăng bảng cầu danh y, Bồ Tát bèn giả dạng một nhà sư già đến xin chữa bịnh.

 Khi đến trước mặt vua thì nhà sư bèn tâu phải kiếm cho đặng đôi mắt và một đôi cánh tay của thân nhân nhà vua mới trị đặng bịnh, nhưng mà phải ra núi Phổ Đà mới kiếm đặng hai món ấy. Vua liền phái hai vị quan cấp tốc đến Phổ Đà Sơn để tìm hai món vừa nói. Thấy vậy hai vị phò mã rất bất bình và âm mưu định giết nhà sư và sau đó thí vua mà soán ngôi.

 Bồ Tát rõ sự việc ấy và đã sai Thiện Tài đồng tử giả làm tên thị vệ hầu bên cạnh vua. Khi một tên quân của hai vị phò mã dưng cho vua một chén thuốc độc nói dối là của nhà sư dạy đem cho vua ngự thì tên thị vệ kia tiếp bưng chén ấy và sẵn tay làm đổ ngay xuống đất. Đang lúc ấy một người lẻn vào phòng nhà sư để thích khách. Bồ Tát bèn dùng thần thông làm cho tên ấy tê liệt không còn hoạt động nữa và bị bắt trói. Cơ mưu bại lộ, hai vị phò mã vì sợ bị khổ hình nên đã uống độc dược tự tử. Hai vị công chúa phải tội liên can đều bị biếm vào lãnh cung đời đời cấm cố. Hai nàng mới ăn năn, noi gương em mình là Diệu Thiện lo tu hành. Khi hai nàng đã tấn hóa nhiều về con đường tu niệm thì Bồ Tát và Thiện Tài đồng tử hóa ra hai thớt tượng bạch mà đưa hai vị công chúa đến cảnh Phật Đài để tránh xa mùi tục lụy.

 Từ ngày hai vị sứ giả phụng mệnh nhà vua, tuôn mây lướt sóng trải biết bao khổ cực mới đến Phổ Đà Sơn, Thiện Tài đồng tử phụng lịnh Bồ Tát hiện ra tiếp rước. Hai sứ giả trình bày mọi sự rồi được đến yết kiến Bồ Tát. Bồ Tát Diệu Thiện ngồi trên liên đài bèn trao cho hai vị sứ giả con mắt bên tả và cánh tay bên tả của mình. Việc xong sứ giả cáo tạ rồi hồi trào, và dưng lên cho vua và hoàng hậu hai món đã kiếm đặng. Hoàng hậu nhìn lên cánh tay tả thấy có nốt ruồi và sau khi nghe sứ giả tả dung mạo người đã cho nhà vua hai vật ấy thì quả quyết đó là con mình và đau đớn không ngần.

 Nhà sư bèn trộn hai món ấy với ít vị thảo dược rồi đem tất cả đắp lên nửa thân bên trái của nhà vua thì nhà vua tức khắc khỏi đau phía bên mặt. Thấy thế nhà sư bèn tâu vua xin sứ giả ra Phổ Đà Sơn tìm cho đặng con mắt phía tay mặt và cánh tay mặt. Sứ giả vâng lệnh ra đi, không bao lâu đem về dưng đủ hai món. Nhà sư cũng làm y như trước thì nửa thân bên phải của nhà vua khỏi ngay. Từ ấy vua Diệu Trang hoàn toàn lành bịnh. Trong triều, ngoài quận ai ai cũng đồng biết rằng nhờ con chí hiếu là Diệu Thiện mà nhà vua mới khỏi bệnh ngặt nghèo.

 Sau khi khỏi chết vua cùng hoàng hậu cám ơn cứu tử, định ra Phổ Đà Sơn một chuyến để tạ ơn. Xa giá đăng trình gặp không biết bao là nguy nan, nhưng đều nhờ Bồ Tát dùng phép thần thông mà cứu khỏi.

 Đến nơi vua cùng hoàng hậu thấy Bồ Tát tọa thoàn trên liên đài mất cả hai mắt và hai tay. Nhìn biết là con mình nhà vua ăn năn xúc động vô cùng bèn quỳ xuống cầu nguyện cho con đặng sống và đặng huờn y hai con mắt và hai tay. Khẩn nguyện xong thì nhà vua và hoàng hậu thấy con mình hiện trước mắt, tay mắt đủ, hình dạng mạnh khỏe như xưa.

 Thấy phép thần thông vô biên của Bồ Tát, vua cùng hoàng hậu nhất định lìa nơi điện ngọc đền vàng, lánh mình trần tục tìm đàng thiên thai.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sự tích Đức Quan Thế Âm Bồ Tát

Quý Dậu mệnh gì –

Người sinh 1993, Quý Dậu, có Ngũ hành năm sinh là Kiếm Phong Kim, nhưng Mệnh Cung của Nam và Nữ khác nhau: 1. Nam Cung ĐOÀI, hành KIM, hướng Tây, quái số 7, sao Thất Xích, Tây tứ mệnh (Hướng nhà tốt: Tây Bắc, Đông bắc, Tây Nam, Tây). Đeo đá màu Vàng,
Quý Dậu mệnh gì –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Quý Dậu mệnh gì –

Cách xếp trụ Giờ

Trụgiờ là can chi âm lịch biểu thị giờ sinh của người đó. Cách tính trụ giờ cũnglấy theo 60 giáp tí. Nó khác với cách tra tháng theo năm ở chỗ: thiên can giápkỷ, ất canh, bính tân, nhâm đinh, mậu quý là lấy can ngày chứ không lấy theocan năm để định. Địa chi thì lấy giờ tí làm khởi đầu chứ không phải là dần. Cụthể hơn xin xem bảng lấy giờ theo ngày.
Cách xếp trụ Giờ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Trong mục trên đã nói việc tính giờ của mỗi ngày là lấy giờ tí tức 23 giờ làm ranh giới. Mỗi giờ trong âm lịch gồm hai tiếng đồng hồ, nên một ngày chỉ có 12 giờ. Đại thể như sau:

Giờ tí                           :           23 giờ – trước 1 giờ;

Giờ sửu                       :           1 giờ – trước 3 giờ;

Giờ dần                       :           3 giờ – trước 5 giờ;

Giờ mão                      :           5 giờ – trước 7 giờ;

Giờ thìn                       :           7 giờ – trước 9 giờ;

Giờ tị                           :           9 giờ – trước 11 giờ;

Giờ ngọ                       :           11 giờ – trước 13 giờ;

Giờ mùi                       :           13 giờ – trước 15 giờ;

Giờ thân                      :           15 giờ – trước 17 giờ;

Giờ dậu                       :           17 giờ – trước 19 giờ;

Giờ tuất                       :           19 giờ – trước 21 giờ;

Giờ hợi                        :           21 giờ – trước 23 giờ;

 

Phương pháp tra bảng lấy giờ theo ngày, kết hợp với giờ đồng hồ sẽ tìm ra can chi của giờ. Cách tra là: mỗi lần gặp can ngày sinh là ngày giáp, ngày kỉ, nếu sinh từ 23 giờ đến 1 giờ thì đó là giờ tí, can chi giờ  là giờ tí. Ta có bài ca truyền miệng như sau:

Giáp, Kỷ còn thêm giáp; ất canh bính làm đầu.

Bính, tân tính từ mậu; đinh nhâm tính từ canh.

Mậu quí tính từ nhâm tí.

Ví dụ muốn tính ngày kỉ sửu can chi giờ mão là gì, ta cứ căn cứ câu “ Giáp, kỷ còn thêm giáp” thì có thể biết được ngày kỉ, giờ tí là giáp tí. Khi tính dùng ngón tay cái của bàn tay trái đặt lên ngôi tí, đọc là giáp tí, thuận đếm đến sửu  là ất sửu, dần là bính dần, mão là bính mão. Đinh mão chính là can chi giờ của ngày kỷ sửu.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cách xếp trụ Giờ

Tuổi Sửu và tuổi Thân có hợp nhau không? –

Sở thích của tuổi Thân là tìm sự thoải mái cho bản thân mình. Bởi vậy, đôi khi người tuổi Sửu khó có thể chịu nổi được tính ham vui của tuổi Thân.. Tuổi Trâu và tuổi Khỉ có nhiều điểm khác biệt. Tuy nhiên, họ có thể trở thành bạn thân nếu cả hai đều
Tuổi Sửu và tuổi Thân có hợp nhau không? –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tuổi Sửu và tuổi Thân có hợp nhau không? –

Tướng mặt quý hiển đàn ông và phụ nữ

Tướng đàn ông quý hiển là Nhãn quan dài nhập đến bộ vị Thiên thương. Lông mày thanh tú, mắt dài, chóp mũi tròn và nhẵn, bộ vị Niên thượng và Thọ thượng cùng nổi lên, 2 lông mày quá tai lại vươn thẳng.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Môi đỏ như ngậm chu sa, miệng vuông và ngay ngắn, bộ vị Thừa tương hướng về Địa giác, khí sắc thể hiện tại thần quang. Lưng đầy đặn và nổi lên như mặc áo giáp, mày thanh mắt tú, trán vuông thẳng. Người có tướng như vậy tất được làm quan cao, danh tiếng vang dội bốn phương.

Lại nói rằng: Lông mày giống như Hoa cái, mắt giống như ánh sao, Hoa cái cao mà mắt lại sáng, thế đất hướng về trời thì thời trẻ nhiều thành tựu, có thể được làm quan.

2.Tướng mặt của người đàn ông giàu có

Xem bói tướng mặt đàn ông giàu có thì mũi sẽ thẳng và miệng rộng, vai lưng đầy đặn chủ giàu sang. Người gầy khí sắc tươi nhuận, người béo thanh cao thoát tục, tinh thần ẩn tàng mà không lộ, mũi thẳng miệng rộng, vai lưng đầy đặn to lớn. Người gầy vai lưng cao đầy đặn, người béo nhưng có hình thế cân đối tương xứng, cử chỉ thận trọng, vững vàng.

- Tướng đàn ông trước vất vả sau sang giàu: Trán hẹp, thời gian đầu trì trệ, về sau được phát đạt. Người có trán hẹp và nhỏ thì lúc trẻ rất khó khăn, thần thanh mà sắc bền. Người có trán rộng thì cuối cùng cũng được thành công, người có 2 gò má đầy đặn thì tất được bổng lộc cao.

- Tướng đàn ông trước giàu sau nghèo: Trán rộng, lúc trẻ được vinh hoa, trung niên gặp tai họa. Người có trán rộng thì lúc trẻ dễ dàng được hưởng vinh hoa, thần tuy thanh nhưng khí lại không ổn định. Sống mũi cao thẳng nhưng xương mặt không nổi lên, thân thế mỏng manh mà âm thanh lại phù phiếm. Lòng bàn tay to dày nhưng gân xanh lại lộ ra, rốn sâu nhưng 2 tai không cân đối. Lưng tuy dày nhưng ngực mỏng không có lông. Thời trẻ tuy được ưu việt nhưng đến tuổi trung niên lại gặp tai họa. Cho dù hiện tại có được giàu có thì cuối cùng cũng rất dễ tiêu tan.

xem-tuong-dan-ong-thanh-cong-va-hanh-phuc.jpg

3.Tướng mặt đàn ông và tuổi thọ

- Tướng đàn ông được trường thọ: Cốt cách cương nghị, biết tu tâm dưỡng tính có thể trường thọ

Tai cao thẳng lại dài, mắt thanh mày tú, miệng như hình vuông. Bộ vị Ngạch giác phân rõ nhật nguyệt, mắt không lộ thần quang. Sống mũi thẳng, chóp mũi tròn, má vuông, đường vân Pháp lệnh dài. Đầu tròn mà hình thành ngọc chẩm, cằm phụ trự cho phần bên dưới môi. Cổ trâu lại có mắt cò, đầu vai đầy đặn nổi lên, lại có lỗ mũi ẩn tàng. Cốt cách cương nghị thì có thế được thượng thọ, nếu lại biết tu tâm dưỡng tính thì có thể được trường thọ vô cương.

- Tướng đàn ông yểu mệnh: Lông mày ngắn lại nồi nhau, chủ đoản mệnh

Hai bên lông mày ngắn, đầu lông mày nối liền nhau, môi mỏng, trán nhọn. Sống mũi thấp lại có xương ngang, đầu nhỏ mà vai lại hẹp. Nhãn quang lộ ra ngoài là tướng yểu thọ, hình thế mỏng bạc càng không thể được thọ cao. Trán không ngay ngắn, cằm nhỏ hẹp, vành tai ngược hướng về phía trước, sắc mặt trắng xanh mà lại có sắc lửa, giọng nói khàn thường tuổi thọ cũng không được dài lâu. Người ánh mắt mông lung vô định, đến 30 tuổi tất gặp họa đe dọa tính mạng.

4. Đàn ông có Tam đinh cân xứng là tướng quý hiển

Người có Thượng đình dài là tướng đại cát đại lợi. Trung đình dài thì có thể được tiếp cận với vua chúa. Người có Hạ đình dài thì đều là mệnh tầm thường, phải tha hương kiếm sống, khí vận không tốt.

Lại nói rằng: Tam đình trên thân tương xứng mà trên dưới cũng đều cân đối là mệnh phú quý. Phía trên dài phía dưới ngắn, lưng vững chãi như 3 ngọn núi sẽ có được chức vị công khanh. Phía trên ngắn mà phía dưới dài, eo lại mỏng thì suốt đời không ngừng bôn ba là mệnh nghèo khổ, vất vả.

5. Tướng mặt của người đàn ông cô độc, hình khắc người thân

Xem bói tướng mặt của người đàn ông cô độc sẽ có các đặc điểm sau đây:

  • Tướng đàn ông khắc con cháu: Tóc thô, lông mày rậm, xương yếu, vai rủ
  • 2 mắt lồi, môi ngậm chặt, mũi nhỏ và nhọn.
  • Tóc thô, lông mày rậm, xương yếu, vai rủ.
  • Tư thế đứng không ổn định, khi đi đường thường cúi đầu, trông như sẽ bị gió thổi đi.
  • Bộ vị Tam dương thấp và nhỏ thì khó giữ được vợ.
  • Khí sắc không tốt đại đa số là phá tài, âm thanh như giọng nữ thì không có tài sản, ruộng đất. Người thân khó có thể hòa hợp với người này.

- Tướng người đàn ông không có anh em: Vành tai lật ngược, 2 má nhọn. Vành tai lật ngược sẽ phá bại gia môn, 2 má nhọn sẽ không có anh em. Cho dù có 2 – 3 ngưòi anh em thì tình cảm cũng lạnh nhạt.

- Tướng đàn ông cô độc không vợ: Thần khí bất an, khóe mắt không có thịt. Nguyên nhân khiến cho cuộc sống của người cô độc có thể là do khí không điều hòa. Hơn nữa bộ vị Ngư vỹ lại khô mà không có thịt, người này lập gia đình muộn.

6.Tướng mặt phụ nữ hiền hậu

Nhân trung, Ấn đường là mệnh hậu phi, nhưng nếu không thực sự rõ nét thì tướng phụ nữ này cũng có thể làm phu nhân của quan phủ.

  • Đầu tròn cổ ngắn chủ giàu có.
  • Trán bằng phẳng mà vuông vức, chủ phú quý.

tuong-phu-nu-quy-hien.jpg

Tướng phụ nữ nhân hậu, đài các:

  • My thanh mắt tú tà người đàn bà hiền thục.
  • Mắt đẹp mà trong trẻo là tướng phụ nữ quý các.
  • Sống mũi thẳng là tướng cao quý mà trường thọ.
  • Lông mày chia hình chữ “bát” (A.), tính tình hài hòa, giàu phúc khí;
  • Miệng nhỏ nhắn có viền có góc là mệnh phu nhân đài các;
  • Lưỡi như hoa sen, chủ  người phụ nữ hiền thục;
  • Môi như châu sa là mệnh phu nhân quý phái;
  • Răng như thạch lựu là tướng phụ nữ quý các;
  • Nhân trung sâu mà thẳng chủ phụ nữ nhiều con;
  • Dưới mắt nhẵn mịn chủ mẹ hợp với con cái;
  • Tướng đàn bàn tai đỏ mà tròn là phú quý;
  • Viền tai phân rõ, hiền thục giàu có;
  • Tai trái dày, dễ sinh con trai đầu lòng;
  • Tai phải dày, dễ sinh con gái đầu lòng;
  • Môi nhiều vân, người đàn bà nhiều con;
  • Có 2 cằm, chủ phú hào;
  • Tóc xanh đen, nhỏ sợi là tướng quý, bàn tay hồng nhuận chủ là phu nhân có thể được nhiều đất đai
  •  Xương cốt nhỏ nhắn mà da thịt bóng nhuận là người phụ nữ quý;
  • Tính tình dịu dàng, tiếng nói nhu hòa, có thể có phúc lại trường thọ;
  • Thần thái điềm tĩnh mà khí sắc an hòa, có thể giữ gìn trinh tiết;
  • Khi cười nhắm mắt, tính cách vui vẻ;
  • Dáng đi chậm rãi là người con gái hiền thục, dịu dàng;
  • Bàn tay và lòng bàn chân có nốt ruồi đen, hiển quý lại có thể là người vợ trợ giúp cho chồng;
  • Dưới nách, giữa 2 vú có lông xoáy có thể sinh quý tử.

7. Tướng mặt của người phụ nữ phú quý

  • Sống mũi thẳng như túi mật treo, miệng vuông.
  • Lông mày thưa, 2 mắt thanh tú, răng trắng như tuyết, 2 má vuông thẳng.
  • Thần thái ôn hòa, khí sắc vui vẻ.
  • Trán vuông hiện rõ nhật nguyệt, cơ thịt trắng nõn, tỏa hương.
  • Ngồi vững như núi, thần thái nghiêm trang, đoan chính.
  • Người nữ có tướng như vậy luôn được phú quý, ngay cả con cháu cũng không phải là mệnh tầm thường.

8. Tướng mặt của người phụ nữ bần tiện

  • Trán hẹp nhỏ mà lông mày lại dựng đứng, miệng méo lệch.
  • Nét mặt khinh bạc mà thân thể cứng nhắc, đơn bạc, không có thế uy nghiêm.
  • Vành tai nhỏ, tai rủ mà không to, tóc xoăn, sông mũi lại ngắn thấp.
  • Tướng mặt như sắp khóc sẽ phải tái giá, mặt kỳ dị sẽ hiếm muộn đường con cái.
  • Khóe mắt có khí sắc không sáng thường là người có tính đố kỵ, gian tà. Không chỉ bản thân hiện tại bần khôn mà về già còn phải sống cảnh cô quả, lạnh lẽo.

9. Thần mắt của phụ nữ quý ở ôn hòa

Phụ nữ có thần mắt giữ được sự ấm áp và dịu dàng cho thấy tướng tôn quý. Mắt của đàn ông phải có thần thái, mắt của phụ nữ phải ấm áp và hiển dịu. Ánh mắt không nên chậm rãi, tròng đen mắt không nên lồi lên, thần mắt không nên mơ hồ hay hốt hoảng, đó chính là tướng người phụ nữ lương thiện.

Phụ nữ có mắt tròn trịa lồi lên, không thanh tú, thuộc tướng hạ tiện. Phụ nữ chỉ có mắt dài là tướng quý, nếu là tròn nhỏ, cao lồi, thô tục không thanh tú cho thấy người này là mệnh hạ tiện khinh bạc. Phụ nữ có mắt như mắt khỉ, ánh mắt dâm đãng thường là người có tính phong lưu đa tình.

Phụ nữ mặt mỏng mắt đỏ thường không giữ trinh tiết. Nếu mắt mỏng mà đỏ, cho thấy có tư thái không nho nhã. Mặt phụ nữ có nét đào hoa thì trên mắt hiện lên sắc đỏ.

Phụ nữ có mắt trong veo chủ tính cách giữ lễ tiết. Người phụ nữ có đôi mắt trong veo như nước mùa thu thường là bậc trinh liệt.

Phụ nữ đuôi lông mày có xuất hiện sắc trắng tất sẽ hiềm khích với chồng. Phụ nữ có đuôi lông mày màu trắng là tướng ghét bỏ chồng. Xung quanh tròng đen mắt xuất hiện màu trắng, người phụ nữ như vậy nói chuyện không ngay thẳng, thật thà.
Mắt như hình tam giác chủ dễ nổi nóng. Đó là đặc điểm chính của tướng khắc chồng.

Phụ nữ có mắt nhiều tròng trắng mà kiểu mắt lại là hình tam giác là phạm vào hình khắc. Tứ bạch là chỉ lộ tròng trắng. Đới sát nghĩa là tia máu xiên qua mắt. Phụ nữ có mắt lộ tròng trắng mang sát sẽ hại con khắc chồng.

(Nguồn sưu tầm)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tướng mặt quý hiển đàn ông và phụ nữ

Khi 12 chòm sao gặp ma, bản chất hiện nguyên hình

Khi 12 chòm sao gặp ma là chủ đề khá thú vị mà chắc hẳn cung hoàng đạo nào cũng tò mò muốn biết phản ứng của mình ra sao.
Khi 12 chòm sao gặp ma, bản chất hiện nguyên hình

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đây cũng là tình huống tạo ra nhiều bất ngờ để các bạn bộc lộ tính cách thật của mình.  

Mục lục (Click vào đây để tới nội dung muốn xem nhanh nhất)

  1. Khi Bạch Dương gặp ma
  2. Khi Kim Ngưu gặp ma
  3. Khi Song Tử gặp ma
  4. Khi Cự Giải gặp ma
  5. Khi Sư Tử gặp ma
  6. Khi Xử Nữ gặp ma
  7. Khi Thiên Bình gặp ma
  8. Khi Bọ Cạp gặp ma
  9. Khi Nhân Mã gặp ma
  10. Khi Ma Kết gặp ma
  11. Khi Bảo Bình gặp ma
  12. Khi Song Ngư gặp ma

 

 

1. Khi Bạch Dương gặp ma

 

Khi 12 chòm sao gặp ma, bạn có biết phản ứng của Bạch Dương thế nào không? Với tính cách thường ngày, nhiều người sẽ tưởng Bạch Dương nhà ta là người can đảm lắm. Miệng luôn tỏ mạnh mẽ thậm chí còn hùng hổ hô hào đi dọa ma mọi người hay đầu têu những trò bắt ma.

Nhưng thực ra, nếu có ma thật hiện nguyên hình, chòm sao này sẽ là người bỏ chạy đầu tiên. Bạch Dương có biết Những điều nên tránh để không bao giờ gặp ma.

 

Khi 12 chom sao gap ma, ban chat hien nguyen hinh hinh anh 2
 

 
 

2. Khi Kim Ngưu gặp ma

 

Kim Ngưu sống khá thực tế, thực dụng và vốn chỉ tin vào những vấn đề mang tính khoa học, nghiên cứu. Nhưng nếu bị dọa ma bất ngờ, Kim Ngưu có thể mất bình tĩnh và phản ứng đầu tiên là hét toáng lên theo phản xạ và cũng để đuổi con ma đi xa.

 

3. Khi Song Tử gặp ma

 

Là một trong 12 cung hoàng đạo khi gặp ma rất thích thú, luôn tìm tòi ma hình thành ra sao. Vì vậy khi chạm mặt con ma, Song Tử chắc chắn sẽ ngắm nghía "độc" vật này từ đầu đến chân, thâm chí đưa nó về nhà để nghiên cứu thêm và khoe khoang với mọi người.

 

4. Khi Cự Giải gặp ma

 

Nếu bị dọa ma bất ngờ chắc chắn Cự Giải yếu đuối sẽ lăn đùng ra ngất. Nhưng nếu may mắn gặp một con ma hiền lành thần thiện, có khi Cự Giải lại nhẹ nhàng và hành động đúng như bản chất luôn biết quan tâm, chăm sóc cho mọi người, đối với một con ma cũng không phải ngoại lệ. Có thể bạn chưa biết Trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam có những loại "MA" nào?

 

Khi 12 chom sao gap ma, ban chat hien nguyen hinh hinh anh 2
 

 

5. Khi Sư Tử gặp ma

 

12 chòm sao làm gì khi gặp ma, cụ thể là Sư Tử? Những người thuộc cung Sư Tử thường rất dũng cảm, đây là tố chất bẩm sinh mà hiếm cung hoàng đạo nào khác có thể sở hữu. Nếu bị dọa bất ngờ rất có thể Sư Tử sẽ la hét, gào rú theo phản xạ. Nhưng ngay cả trong trạng thái ấy, Sư Tử cũng rất sẵn sàng chiến đấu với con ma bằng cách quờ quạng chân tay, còn hơn là chịu nhục trước sinh vật này.

 

6. Khi Xử Nữ gặp ma

 

Miệng thì lúc nào cũng xem ma mãnh là mấy trò nhảm nhí, nhưng nếu gặp thần thì hồn bay phách lạc chính là từ miêu tả đúng nhất phản ứng của Xử Nữ. Vốn là người nhút nhát, việc gặp ma đối với họ còn khủng khiếp hơn cả ngày tận thế. Nhưng không giống như các chòm sao khác bỏ của chạy lấy người, Xử Nữ sẽ cẩn thận ôm theo hết tư trang rồi mới thoát thân. Có thể bạn chưa biết: Sự thật về MA QUỶ.

 

7. Khi Thiên Bình gặp ma

 

Thiên Bình vốn ít lo lắng, thoải mái, vô tư, nhưng khi gặp ma thì chắc chắn cũng sẽ cứng đơ người bất động, nhắm tịt mắt mặc cho con ma muốn làm gì thì làm, chỉ mong được tha mạng mà thôi.

 

Khi 12 chom sao gap ma, ban chat hien nguyen hinh hinh anh 2
 

 
 

8. Khi Bọ Cạp gặp ma

 

Bọ Cạp thường ngày vốn thích tìm hiểu mấy trò bí ẩn, huyền ảo về tâm linh nên với họ ma quỷ không phải chuyện qua bất ngờ. Giả sử có bị bất ngờ thì họ cũng sẽ đụng chân đụng tay vì thấy bực mình khi bị hết hồn mà thôi.

 

9. Khi Nhân Mã gặp ma

 

Nếu gặp ma bất ngờ có thể Nhân Mã sẽ hơi shock và giật mình lúc ban đầu. Tuy nhiên với bản tình tò mò và ham vui vốn có, Nhân Mã sẽ định thần lại và coi đây là cơ hội được chơi đùa hiếm hoi, có khi còn cùng con ma đi dọa dẫm người khác.

 

Khi 12 chom sao gap ma, ban chat hien nguyen hinh hinh anh 2
 

 
 

10. Khi Ma Kết gặp ma

 

Phản ứng của 12 chòm sao khi gặp ma như thế nào, nhất là Ma Kết? Cung hoàng đạo này vốn là những người thông minh, bình tĩnh, thản nhiên. Nên khi gặp ma, họ cũng trơ mặt ra không biểu hiện. Mặc dù sợ đến mức mềm chân tay nhưng vẫn cố tỏ ra lạnh lùng, không quan tâm để khiến con ma nản chí mà bỏ đi.

Thông minh là vậy nhưng Ma Kết đã biết cách phân biệt Vong hồn, ma quỷ, yêu tinh và Thần Phật khác nhau như thế nào hay chưa?

 

11. Khi Bảo Bình gặp ma

 

Bảo Bình là con người của những tính cách độc đáo với cái đầu lạnh và trái tim thép, có khi chính con ma lại phải chạy thật nhanh nếu không muốn trở thành đối tượng bị Bảo Bình dọa lại bởi những gì chòm sao này đang tính toán.

 

Khi 12 chom sao gap ma, ban chat hien nguyen hinh hinh anh 2
 

 
 

12. Khi Song Ngư gặp ma

 

Song Ngư là đối tượng không con ma nào dù thật hay giả muốn dọa dẫm. Bởi Song Ngư trước tình huống bất ngờ và đau tim này có lẽ sẽ khóc không ngừng nghỉ đến mức con ma chẳng biết xử lý thế nào, nên dọa tiếp hay không.

 

Trên đây là những phát hiện vui vui dựa trên tính cách của của các chòm sao trong tình huống khi 12 cung hoàng đạo gặp ma. Dù bạn thấy đúng hay không thì cũng nên đọc kỹ và cẩn thận nếu định thử áp dụng dọa ma bạn bè nhé!

 

Hoài An

  Muốn hạnh phúc, hãy chọn người yêu như 4 chòm sao nam chung tình 3 chòm sao đáng ghét, dễ bị bỏ ngoài mọi cuộc chơi Có thể bạn chưa biết về những chòm sao thuộc nhóm Đất
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Khi 12 chòm sao gặp ma, bản chất hiện nguyên hình

Tướng người thọ yểu –

Thọ, YểuTướng người trường thọ phải hội đủ tối thiểu bảy điều kiện sau đây : – Lông mày phối hợp thích nghi với râu và tóc, càng về già càng dài lại là dấu hiệu tốt. Tuy nhiên, dưới 30 tuổi mà lông mày đột nhiên dài ra một cách bất thường lại là chứn
Tướng người thọ yểu –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tướng người thọ yểu –

Ngày, giờ tốt xuất hành đón tài lộc năm Bính Thân

Theo quan niệm của người phương Đông nói chung và người Việt nói riêng, nếu chọn hướng và ngày giờ xuất hành đầu năm tốt sẽ mang lại nhiều may mắn và tài lộc cho gia chủ.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tuy nhiên, thay vì xem hướng xuất hành đầu năm, bản thân mỗi người cần có những ý nghĩ thiện lành, biết quan tâm và chia sẻ với người khác, làm những công việc phước đức, bớt đi những giận hờn, giữ tâm thanh thản mới là “hướng tốt” cho một năm mới an vui.

 ngay, gio tot xuat hanh don tai loc nam binh than - 1

Cầu tài lộc đi hướng Tây Nam, cầu niềm vui, may mắn đi hướng Tây Bắc

Theo TS.KTS Phạm Việt Anh (Viện Nghiên cứu ứng dụng và tiềm năng con người), phong thủy có 8 hướng: Hướng Nam mang hành Hỏa, hướng Bắc hành Thủy, hướng Đông hành Mộc, hướng Tây hành Kim, hướng Đông Nam hành Mộc, hướng Tây Nam hành Thổ, hướng Đông Bắc hành Thổ, hướng Tây Bắc hành Kim và có “sinh khắc chế hóa”. Nếu xuất phát từ nhà, đi theo hướng tương sinh (được hướng sinh ra cho mệnh chủ là vượng) thì năm đó mọi chuyện sẽ vượng, tốt và cũng chỉ nên lấy hướng vượng sinh ra cho ta hoặc ta sinh ra cho cung. Tuyệt đối không lấy hướng khắc với ngũ hành của ta.

TS.KTS Phạm Việt Anh cho rằng, người xưa vẫn quan niệm ngày mùng 1 Tết là ngày đại cát. Các gia đình thường xem ngày, giờ và hướng xuất hành vào ngày mùng 1 Tết để cầu tài lộc, may mắn cả năm. Hướng xuất hành thường có hai hướng là hướng Tài Thần và Hỷ Thần. Hướng Tài Thần là tài lộc, còn hướng Hỷ Thần là may mắn và niềm vui. Thông thường, người Việt hay thích hướng Hỷ thần với mong muốn một năm gặp nhiều may mắn và niềm vui.

Ngày mùng 1 Tết năm nay là ngày Canh Thân, thuộc Mộc, sao Tất nên xuất hành theo hướng Tây Bắc sẽ gặp Hỷ Thần, còn xuất hành theo hướng Tây Nam sẽ gặp Tài Thần. Các gia chủ cũng cần lưu ý, năm mới được tính từ sau lúc 00h ngày mùng 1 và hướng xuất hành được tính từ nơi bạn ở so với hướng nơi bạn muốn đến. Điểm mà người xuất hành sẽ đến có thể là chùa, nhà thờ, nhà người thân, bạn bè hoặc thậm chí là đi trực cơ quan… Theo vậy, muốn cầu tài, cầu lộc cho năm mới, từ sau Giao thừa đến hết ngày mùng 1 Tết, ra khỏi nhà lần đầu tiên đi về hướng Tây Nam sau đó đi đâu mới đi tiếp. Cầu may mắn, hỷ sự thì ra khỏi nhà lần đầu trong ngày mùng 1 Tết thì đi về hướng Tây Bắc trước rồi sau đó mới đi tiếp.

Cùng với việc chọn ngày giờ, phương hướng phù hợp để xuất hành, theo nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải (Viện nghiên cứu ứng dụng và tiềm năng con người), người Việt cũng có quan niệm rằng mùng 5 là ngày nguyệt kỵ không thích hợp cho xuất hành nên mới có câu: “Mồng năm, mười bốn, hăm ba. Đi chơi cũng thiệt nữa là đi buôn”.

Nhiều người thắc mắc nhà sát đường, hướng lại ngược với hướng xuất hành phải đi thế nào?. Về điều này, theo các chuyên gia phong thủy, hướng đi từ nhà ra rẽ phải với quan niệm mọi việc theo chiều thuận. Với những nhà chỉ có thể rẽ trái mới ra khỏi ngõ ngách thì cứ đi ra đường lớn hơn khi nào rẽ phải được thì rẽ luôn. Song việc rẽ trái hay rẽ phải không quan trọng mà chỉ là suy luận theo quan điểm tay trái tay phải.

Ngày, giờ tốt khai trương, xuất hành năm Bính Thân

TS.KTS Phạm Việt Anh cho biết, năm 2016 nhìn chung không nhiều ngày tốt để khai trương như năm trước bởi trong những ngày này không hội tụ được nhiều các sao tốt lành mà lại có nhiều sao xấu. Năm nay có ngày mùng 6 và mùng 9 là tương đối đẹp.

Mỗi ngày đều có nhiều sao Tốt (Cát tinh) và sao Xấu (Hung tinh). Các sao Đại cát (rất tốt cho mọi việc) như Thiên đức, Nguyệt đức, Thiên ân, Nguyệt ân. Có những sao Đại hung rất xấu cho mọi việc như Kiếp sát, Trùng tang, Thiên cương. Cũng có những sao xấu tùy mọi việc như Cô thần, Quả tú, Nguyệt hư, Không phòng, Xích khẩu... xấu cho hôn thú, cưới hỏi, đám hỏi nói chung cần tránh. Hoặc ngày có Thiên hỏa, Nguyệt phá, Địa phá... xấu cho khởi công xây dựng, động thổ, sửa chữa nhà cửa nói chung cần tránh.

Với mỗi gia chủ và công ty văn phòng, cửa hàng thường có một hướng khác nhau và một lịch khai xuân khác nhau. Để cặn kẽ, nhiều người cũng tính hướng, ngày giờ xuất hành cho hợp tùy từng tuổi.

Theo các nhà phong thủy và nhà nghiên cứu, các hướng, ngày giờ xuất hành tốt năm nay đưa ra như sau:

- Mùng 1: Nên xuất hành, đi lễ chùa, hội họp. Giờ tốt: Tý, Sửu (1h- 3h), Thìn (7h – 9h), Tỵ (9 – 11h), Mùi (13 – 15h), Tuất (19 – 21h). Hướng tốt: Cầu hỷ thần đi về Tây Bắc, cầu tài lộc đi về phương Tây Nam. Kỵ hướng Đông Nam.

Năm nay giờ Tý rất đẹp, nếu muốn cầu tài lộc thì ngay giao thừa nên đi cầu may cầu lộc hoặc đi lễ chùa luôn. Lưu ý là cần phải nhờ người tuổi đẹp năm nay xông đất xong rồi mới đi xuất hành cầu lộc, tránh trường hợp gia chủ không được tuổi tự xông nhà.

- Mùng 2: Tốt. Có lợi cho xuất hành, mở hàng xuất kho, đi lễ chùa, hội họp. Giờ tốt: Sửu, Dần, Mão, Ngọ, Thân. Cầu duyên và cầu tài đều đi về hướng Tây Nam.

- Mùng 3: Rất Xấu. Nên đi lễ chùa, không nên khai trương hoặc làm việc đại sự, nên đi thăm hỏi họ hàng gần, hội họp, vui chơi. Giờ tốt: Thìn, Tỵ, Thân. Hướng tốt: Cầu duyên đi về hướng Nam, cầu tài đi về hướng Tây.

- Mùng 4: Rất Xấu. Nên đi thăm hỏi họ hàng gần, lễ chùa, hội họp vui chơi. Giờ tốt: Thìn, Ngọ, Mùi, Tuất, Hợi. Hướng tốt: Cầu duyên đi về Đông Nam, cầu tài đi về chính Tây Bắc.

- Mùng 6: Tốt. Nên xuất hành, mở kho, đi lễ chùa, hội họp, thăm hỏi họ hàng. Giờ tốt: Mão, Tỵ, Thân, Tuất, Hợi. Hướng tốt: Cầu duyên đi về hướng Tây Bắc. Cầu tài đi về phương Đông Nam.

- Mùng 7: Xấu. Nên đi thăm hỏi họ hàng, lễ chùa, làm từ thiện. Giờ tốt: Thìn, Tỵ, Mùi, Tuất. Hướng tốt: Cầu duyên đi về phương Tây Nam, cầu tài đi về hướng chính Đông.

- Mùng 8: Bình thường. Nên đi thăm hỏi họ hàng, hội họp vui chơi , lễ chùa. Giờ tốt: Mão, Ngọ, Mùi, Dậu. Hướng tốt: Cầu duyên đi về chính Nam, cầu tài đi về chính Đông.

- Mùng 9: Bình thường. Nên đi thăm hỏi họ hàng gần, lễ chùa, hội họp vui chơi,… Giờ tốt: Mão, Tỵ, Dậu, Hợi. Hướng tốt: Cầu duyên đi về phương Đông Nam, cầu tài đi về phương chính Bắc.

Tuy nhiên để các công ty, văn phòng, cửa hàng làm ăn có thuận lợi hay không hề do cách chọn hướng, ngày khai trương quyết định mà do cái tâm, cái tầm, cái tài của người quản lý, cộng thêm bối cảnh kinh tế xã hội và sự nỗ lực, trí tuệ tập thể của những con người trong cơ quan đó.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Ngày, giờ tốt xuất hành đón tài lộc năm Bính Thân

Phong thủy bàn thờ ông Táo chuẩn nhất - Phong thủy bàn thờ - Xem Tử Vi

Phong thủy bàn thờ ông Táo chuẩn nhất, Phong thủy bàn thờ, Xem Tử Vi, xem bói, xem tử vi Phong thủy bàn thờ ông Táo chuẩn nhất, tu vi Phong thủy bàn thờ ông Táo chuẩn nhất, tu vi Phong thủy bàn thờ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Phong thủy bàn thờ ông Táo chuẩn nhất

Xem bói thấy xét theo truyền thống văn hóa dân gian thì xem phong thủy bàn thờ ông Táo đặt trong bếp có thể bên cạnh hoặc bên trên bếp, thể hiện tín ngưỡng của dân gian thờ vị thần cai quản chuyện bếp núc trong mỗi gia đình, với mong muốn giữ cho bếp lửa luôn ấm, nhà cửa êm đẹp, gia đạo thuận hòa, sung túc.

Vấn đề thờ cúng ông bà tổ tiên, thần linh là vấn đề thuộc tín ngưỡng dân gian, không phải là vấn đề của tôn giáo cũng như khoa học phong thủy. Tín ngưỡng dân gian có tính vùng miền nên có dân tộc thờ thần tài có dân tộc không thờ, có vùng thờ ông Công ông Táo nhưng có vùng thì không. Thực chất, không thờ cúng cũng không ảnh hưởng gì tới gia chủ. Người châu Âu không có ông thần tài trong nhà và cũng chẳng có bàn thờ ông Táo nhưng không vì thế mà họ kém giàu hơn người châu Á.

Phong thủy bàn thờ ông Táo

Phong thủy bàn thờ ông Táo

Việc chăm chút cho phong thủy của nhà bếp có nhiều nhà quan tâm để ý nhưng có nhiều nhà thì không chú ý gì đến mấy nhất là vị trí trang thờ của ông Táo Thần.

 

Vì vậy, việc đặt bàn thờ ông Táo thông thường theo dân gian đặt luôn trong khu bếp, hướng có thể xoay cùng hướng với bếp nấu. Nhưng, nếu nhà nào không có ban thờ Táo quân riêng thì phải thắp hương ở ban thờ thần linh hoặc gia tiên chứ không nên cúng lễ ở bếp vì từ xưa đến nay, bàn thờ luôn được coi là ăng ten để giao tiếp giữa hai thế giới âm dương, giữa người trần thế và thần linh.

Nếu trường hợp trang thờ của ông Táo Thần quay mặt đối diện với toilet thì nên chuyển sang một hướng khác cho thích hợp. Vì trang thờ không thể đối diện với toilet được, bất kì trang thờ hoặc bàn thờ nào cũng vậy, và dù có thiết kế nhà bếp ở đâu hướng của bàn thờ ông Táo cũng nên trùng với hướng của bếp hoặc song song và không quá xa bếp nấu, không nằm trên bồn rửa bởi vì Thủy khắc Hỏa.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phong thủy bàn thờ ông Táo chuẩn nhất - Phong thủy bàn thờ - Xem Tử Vi

Những chàng trai đáng tin cậy nhất để kết thân –

Nếu đang kết thân với những anh chàng tuổi Thìn, Sửu, Hợi, Mùi, Ngọ thì bạn có thể yên tâm tuyệt đối, bởi họ rất đang tin cậy. Tại sao nói như vậy, chúng ta cùng đọc bài viết sau để biết những chàng trai nào đáng tin cậy? và tự chọn chàng trai đáng t

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nếu đang kết thân với những anh chàng tuổi Thìn, Sửu, Hợi, Mùi, Ngọ thì bạn có thể yên tâm tuyệt đối, bởi họ rất đang tin cậy. Tại sao nói như vậy, chúng ta cùng đọc bài viết sau để biết những chàng trai nào đáng tin cậy? và tự chọn chàng trai đáng tin cậy cho mình nhé!

Nội dung

  • 1 Những chàng trai đáng tin cậy
    • 1.1 Thứ 1: Chàng trai tuổi Thìn
    • 1.2 Thứ 2: Chàng trai tuổi Sửu
    • 1.3 Thứ 3: Chàng trai tuổi Hợi
    • 1.4 Thứ 4: Chàng trai tuổi Mùi

Những chàng trai đáng tin cậy

thin-3567-1407836778

Thứ 1: Chàng trai tuổi Thìn

Những anh chàng cầm tinh con Rồng có tinh thần trách nhiệm cao với bất kỳ chuyện gì do họ khởi xướng. Không những vậy, họ còn sở hữu tài vận sáng lạn, tính cách ôn hòa, điềm tĩnh, làm việc gì cũng quang minh lỗi lạc nên được nhiều người tin tưởng và giao phó trọng trách lớn.

Trong tình yêu, người tuổi Thìn chân thành và chu đáo nên dành được tình cảm nồng thắm và sự tin tưởng tuyệt đối của đối phương. Sau khi kết hôn, họ sẽ mang lại cuộc sống hạnh phúc mỹ mãn cho người mình yêu thương.

Thứ 2: Chàng trai tuổi Sửu

suu-7684-1407836778

Bất luận là bạn bè hay người yêu, những chàng trai tuổi Sửu luôn đối đãi nhiệt tình và chân thành. Chính điều này là điểm có sức hút lớn và dành được sự tin tưởng từ phía mọi người của những chàng trai tuổi Sửu.

Về phương diện tình cảm, một khi đã yêu, những anh chàng tuổi Sửu vô cùng chung tình, trước sau như một. Đặc biệt, sau khi kết hôn, gia đình sẽ là mối quan tâm hàng đầu và là tất cả đối với họ.

Thứ 3: Chàng trai tuổi Hợi

hoi-8824-1407836779

Gia đình hạnh phúc sẽ là mục tiêu phấn đấu lâu dài và xuyên suốt cuộc đời của người tuổi Hợi. Họ không ngừng nỗ lực để có được cuộc sống vật chất đầy đủ, đảm bảo cho cuộc sống hôn nhân được hạnh phúc lâu bền.

Tuy nhiên, đôi khi vì quá bận rộn với mục tiêu lớn đã đề ra, những anh chàng tuổi Hợi quên việc tạo lãng mạn trong tình yêu. Nếu yêu người tuổi Hợi thực lòng, bạn sẽ thông cảm và thấu hiểu điều đó, thậm chí càng dành sự tin tưởng cho họ nhiều hơn.

Thứ 4: Chàng trai tuổi Mùi

mui-6486-1407836780

Đặc điểm nổi bật mà ai cũng thấy được ở những chàng trai tuổi Mùi là tốt tính và biết quan tâm tới cảm xúc của mọi người. Bất kể với bạn bè hay người yêu, những anh chàng tuổi Mùi đều rất vô tư và nhiệt tình.

Dù có xảy ra mâu thuẫn, người tuổi Mùi sẽ tự vấn bản thân trước khi đưa ra bất cứ lời trách móc nào đối với người khác. Người tin cậy như họ rất đáng để các bạn nữ nương tựa suốt cuộc đời.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những chàng trai đáng tin cậy nhất để kết thân –

Phong thủy nhà ở cho mẹ bầu

Nhà có người mang bầu là một niềm vui đối với cả gia đình. Trong quãng thời gian mang bầu, môi trường ở ảnh hưởng rất lớn tới bà mẹ và thai nhi. Vậy thì, cần chú ý phong thủy gì khi nhà có bà bầu?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nên: Làm vượng phía chính Đông, tập trung nạp khí

 phong thuy nha o cho me bau

Người nhà mang thai là niềm vui với cả gia đình, do vậy đừng để phong thủy ảnh hưởng tới sự phát triển của bà mẹ và thai nhi.

Khí trường của ngôi nhà ảnh hưởng rất lớn tới bà mẹ và thai nhi. Do vậy, trọng điểm phong thủy là nạp khí, hơn nữa phải là nạp dương khí và vượng khí mới tốt. Căn phòng mà bà bầu ở cần giữ cho không khí thông thoáng, thường xuyên mở cửa sổ để trao đổi khí, không nên do mùa hè nóng nực là ở lì trong căn phòng máy lạnh.

Ngoài ra, căn phòng cũng không nên âm u, tối tăm. Cần có đủ ánh sáng đèn điện và ánh sáng mặt trời, để dương khí có thể tích tụ, xua đuổi âm khí.

Khí trường mạnh có lợi cho việc sinh con “mẹ tròn con vuông”, nên phía Đông cần dùng nhiều màu xanh, như thảm màu xanh lá cây, các vật trang trí màu xanh lá…. Các vật này sẽ làm vượng khí, khiến đứa trẻ sinh ra thông minh và khỏe mạnh.

Tránh: Xây dựng, cải tạo, chuyển nhà.

Đối với bà bầu và thai nhi, việc duy trì sự ổn định của khí trường là điều quan trọng nhất. Trong thời gian phụ nữ mang thai, trong nhà không nên động thổ, xây dựng, cải tạo phòng, cũng không nên thay đổi phòng ở hoặc dời giường.

 phong thuy nha o cho me bau

Tránh thay đổi môi trường sống khi nhà có bà bầu.

Thông thường, nếu ở một môi trường có thể thụ thai, thì sẽ không có vấn đề gì lắm về phong thủy, cho nên không nên thay đổi để tránh rước rắc rối vào người.

Trong thời gian phụ nữ mang thai cũng không thích hợp di dời, do thai nhi quen với môi trường cũ. Nếu di dời, từ trường, thanh trường của ngôi nhà mới có điều khác biệt với nơi cũ. Nếu thai nhi không thể thích ứng được, sẽ làm cản trở sự phát triển của trẻ nhỏ.

Phòng ngủ cho bà bầu ngủ nghỉ cũng là một nơi cần chú ý. Cần luôn giữ cho cuối giường được sạch sẽ và gọn gàng. Nếu cuối giường còn không gian, chỉ nên bày quần áo và chăn gối sạch, không được đặt quần áo cũ rách, đồ lặt vặt hay các đồ kì lạ, đặc biệt là hộp công cụ, đồ chơi hay các dụng cụ kim khí. Nếu muốn bỏ các vật này đi, chọn ngày lành và ngày bà bầu ra ngoài để bỏ, tránh ảnh hưởng không tốt tới thai nhi.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phong thủy nhà ở cho mẹ bầu

Nằm mơ thấy mất xe máy là điềm gì? –

Bị mất xe hay mất những vật giá trị khác là một việc khá đáng tiếc và không ai mong muốn. Tuy nhiên, khi ngủ bạn lại thấy chiếc xe yêu quý của mình bị trộm lấy mất. Điều này khiến bạn vô cùng hoang mang và không biết là điềm báo gì. Bài viết này sẽ g
Nằm mơ thấy mất xe máy là điềm gì? –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nằm mơ thấy mất xe máy là điềm gì? –

Treo tranh ảnh trong phòng ngủ theo phong thủy

Trong phòng ngủ, tranh ảnh phản ánh sở thích, cá tính và mong muốn của chủ nhân căn phòng nhưng vẫn phải tuân theo các nguyên tắc phong thủy.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Những điều cần tránh khi treo tranh ảnh trong phòng trẻ em
 

tranh phong thủy
Trong phòng trẻ em, tránh treo các con vật ác và nhân vật dữ tợn

Khi treo tranh trong phòng trẻ em, cần lưu ý những điểm sau đây:

- Tránh treo nhân vật dữ tợn và con vật ác.

- Không treo những bức ảnh có nước, đại dương, sông hồ.

- Tránh những bức tranh về chủ đề tôn giáo như các nhân vật tôn giáo hoặc cây thánh giá.

- Trong phòng ngủ của trẻ, mây là hình ảnh rất phổ biến. Nếu treo hình ảnh mây trên trần nhà thì hãy bảo đảm đầu trẻ không bị mây bao phủ. Nguyên nhân là do hình ảnh đó có thể tạo ra sự khó khăn cho chúng. Đối với phòng người lớn cũng phải lưu ý điều này.

Treo tranh ảnh trong phòng ngủ của người lớn và điều cần tránh

- Tránh các bức tranh về những vật thể đơn lẻ có hàm ý đơn độc.

- Tránh các bức tranh về các nhân vật tôn giáo, các vị thần, thiên đàng...

- Tránh tranh ảnh về cây cối và hoa lá, trừ khi trong gia đình có người bị ốm. Cây cối hay tranh về hoa, cây sẽ khiến cặp đôi thường xuyên tranh cãi.

- Trong phòng ngủ, không treo ảnh trẻ con. Bạn đã có thời kỳ là trẻ nhỏ rồi. Hiện tại, bạn cần dành không gian cho mình và người ấy.

Lưu ý khi tranh treo đầu giường

- Tránh treo tranh ảnh trừu tượng. Khi treo tranh loại này giống như là có một ai đó đang cưỡi trên đầu bạn, nghĩa là tinh thần sa sút và tài vận cũng dễ bị kẻ không tốt lấy đi hết.

- Tránh treo tranh ảnh sơn thủy. Những ngọn núi rất nặng nề sẽ gây ra áp lực lớn về tinh thần cho người nằm trên giường làm họ không thể ngủ ngon. Còn nước thì lại hình thành nên "thủy lâm đầu sát", mang đến vận rủi ro và bệnh tật cho chủ nhà.

- Tránh treo tranh về những loại thú dữ, chim muông bởi chúng sẽ khiến bạn luôn cảm thấy sợ sệt, lo lắng, ảnh hưởng đến chất lượng giấc ngủ. Thêm nữa, điều đó cũng có thể mang đến cảm giác thú dữ, chim muông đang ngoạm, mổ đầu người. Từ đó sẽ xuất hiện những triệu chứng như mất ngủ, đau đầu, tinh thần mệt mỏi gây ảnh hưởng không tốt đến tài vận, sức khỏe của bạn.

- Trong phòng ngủ, chỉ nên treo một bức tranh. Nếu treo nhiều tranh ảnh sẽ ảnh hưởng đến tâm tư của ở trong phòng.

- Đầu giường, tránh treo ảnh chân dung của người thân bởi như vậy sẽ làm gia tăng áp lực cho chủ nhân khi làm bất kể việc gì.

Cách treo tranh ảnh hợp lý trong phòng người lớn
 

phong thủy phòng ngủ
Trong phòng ngủ của vợ chồng, hãy treo tranh ảnh có đôi có cặp nhằm tạo sự gắn kết

- Hãy treo những tranh ảnh có đôi có cặp nhằm tạo sự gắn kết trong phòng ngủ của vợ chồng.

- Khi ở một mình, hãy treo những tranh ảnh về nửa kia của bạn.

- Hãy treo các bức tranh về tình yêu như tình cảm hoặc vợ chồng.

- Nhằm tạo cơ hội cho chính mình, ở bức tường đối diện với giường, bạn hãy treo tranh về một cánh đồng rộng mở làm  cuộc sống của bạn sẽ rộng mở hơn và mọi trở ngại sẽ được gỡ bỏ.

Cách treo tranh ảnh hợp lý trong phòng trẻ em

- Nên treo tranh bố mẹ trong phòng trẻ em để chúng biết cách kính trọng và đối xử hơn với cha mẹ.

- Nên treo các bức tranh có hình ảnh hạnh phúc, tươi sáng.

- Treo những hình ảnh có nội dung về học tập như quả địa cầu, sách những bức ảnh nhộn nhịp vui tươi hoặc các kinh nghiệm học tập…

- Nên chọn hình ảnh các con vật mang hàm nghĩa tích cực như ngựa (rất tốt cho phòng ngủ bé trai). Ngựa mang ý nghĩa hạnh phúc và không sợ hãi. Rùa cũng là một con vật có ích và các con vật thân thuộc, gần gủi với bé. Trong phòng ngủ của trẻ, mây là hình ảnh rất phổ biến. Nếu treo tranh ảnh mây trên trần nhà thì hãy bảo đảm phía đầu trẻ không bị mây bao phủ. Bởi vì, hình ảnh này có thể gây ra khó khăn cho chúng. Phòng người lớn cũng nên bố trí như vậy.

(Theo phunutoday)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Treo tranh ảnh trong phòng ngủ theo phong thủy

Chùa Bà Ngô - Hà Nội

Chùa Bà Ngô là một ngôi chùa cổ có niên đại từ thời vua Lý Nhân Tông, có tên chữ là Ngọc Hồ tự tức Chùa Ngọc Hồ, hiện nay tọa lạc số 128 phố Nguyễn Khuyến
Chùa Bà Ngô - Hà Nội

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Chùa Bà Ngô là một ngôi chùa cổ có niên đại từ thời vua Lý Nhân Tông, có tên chữ là Ngọc Hồ tự tức Chùa Ngọc Hồ, hiện nay tọa lạc số 128 phố Nguyễn Khuyến, đường Văn Miếu, Hà Nội.

Qua gần 900 năm lịch sử, Chùa Bà Ngô lưu giữ được nhiều văn bia, câu đối và một khối lượng di vật rất lớn ở nhiều thể loại như long ngai, bài vị, các tế khí… Chùa là một kiến trúc tôn giáo đẹp, độc đáo gắn liền với nhiều sự tích và nhân vật trong tiến trình phát triển của lịch sử Thăng Long – Hà Nội.

Lịch sử: Theo cuốn Thăng Long cổ tích khảo thì chùa được xây dựng vào thời vua Lý Thần Tông (1127 – 1128). Cũng theo sách này, vào thời Lê, có một người con gái đẹp lấy chồng là một nhà buôn người Hoa giàu có, bà đã bỏ tiền ra xây dựng lại ngôi chùa này to đẹp hơn chùa cũ, do đó mới có tên Bà Ngô (Ngô Khách). Chùa được sửa chữa và làm mới qua nhiều năm như 1863, 1864, 1865…

Vào năm Ất Hợi (đời vua Bảo Đại, tức 1934), chùa được sửa chữa lớn nên đã có câu đối (tạm dịch): “Không nhớ tháng Bà Ngô sửa chữa, Chỉ biết năm Bảo Đại khánh thành”.
Sự tích kể rằng: có một lần Lê Thánh Tông thăm chùa, thấy trên gác chuông có bóng người đẹp ngâm 2 câu thơ:

“Ở đây mến cảnh mến thầy
Tuy vui đạo Phật chưa khuây lòng người.”

Cũng có thuyết nói rằng nhà vua thấy một thiếu nữ xinh tươi cầm một cành mẫu đơn ngâm mấy câu như sau:

“Bà Ngô Phong cảnh xinh thay
Đố ai cắt mối sầu này cho xong
Bao giờ về tới ngự cung
Thì ta sẽ dải tấm lòng cho hay.”

Vua bèn gặp hỏi chuyện và muốn cùng nàng xướng họa. Nàng nhường vua làm trước, lấy đề bằng 2 câu thơ nàng vừa ngâm. Vua làm bài thơ Đường Luật 8 câu trong đó có 2 câu:

“Chày kình mấy khắc tan niềm tục
Hồn bướm năm canh lẩn sự đời.”

Nàng xin phép sửa lại là:

“Gió xuân đưa kệ tan niềm tục
Hồn bướm mơ tiên lẩn sự đời.”

Vua rất phục, mời nàng lên kiệu về cung, nhưng đến cửa Đại Hưng thì nàng biến mất. Vua cho là tiên giáng trần, dựng lầu Vọng Tiên ở đó để tưởng nhớ. Lầu Vọng Tiên bị dỡ khi phá thành Thăng Long xây lại và được chuyển về số 120B phố Hàng Bông thành đền Vọng Tiên.

Một đêm nhà vua nằm mơ thấy Tiên hiện tới tự tình và nói ở nơi kinh thành lâu nay thường xảy ra tai dịch là bởi có con Thạch tinh ở dưới cái ao ngay trước quán , đã hóa ra một con gà bay đi tác quái khắp Kinh thành, phải kịp trừ ngay mới khỏi sinh tra hậu họa lớn.

Khi tỉnh dậy, nhà vua cho đào ngay ở giữa ao trước quán sâu tới 3 thước, đất đỏ như máu, thấy một một hòn đá, bèn đập vỡ tan, vứt ra ngoài sông rồi lấp phẳng ao đi. Từ đó kinh thành rất yên ổn.

Kiến trúc: Tam quan của Chùa Bà Ngô là gác chuông 2 tầng, 8 mái với 8 góc đao cong. Một quả chuông đồng đúc năm Canh Dần Thành Thái thứ 2 (1887) được treo ở giữa tam quan có dòng chữ Ngọc Hồ tự chung. Phật điện gồm tiền đường và hậu cung làm theo kiểu chữ Đinh. Hiên trong tiền đường dạng vòm cuốn mở rộng bằng một vì vỏ cua, là một kiểu kiến trúc ít có ở miền Bắc mà chỉ thấy ở Hội An, Huế với 2 đầu làm theo kiểu nhà kèn. Hậu cung 4 gian có nhiều của võng. Nhà Tổ, ngoài 2 ban thờ các sư tổ Bồ Đề đạt ma, các sư tổ của chùa đã viên tịch, còn có bàn thờ đức Văn Xương.

Điện Mẫu thờ các Mẫu, Ngọc Hoàng và vua Lê Thánh Tông ngồi trong ngai rồng. Hai bên thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo cùng hai gia tướng Yết Kiêu và Dã Tượng. Tượng trong chùa hiện có 35 pho được sắp xếp dọc Phật điện. Ngoài những pho như Tam thế, A di Đà tam tôn, Quan Âm thiên thủ thiên nhãn, Ngọc hoàng Thượng đế, Nam Tào, Bắc Đẩu, còn có 10 vị Diêm Vương và tượng Bà Ngô trang phục gần như tượng Mẫu. Tượng Tổ mang nhiều nét chân dung của sư nữ…

Đặc biệt, trước hai bên cổng chính của chùa là một câu đối chữ Nôm, điều rất hiếm gặp tại các chùa ở Hà Nội.

Chùa Bà Ngô được công nhận là di tích lịch sử – văn hóa năm 1993.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chùa Bà Ngô - Hà Nội

24 sơn hướng trong phong thủy –

24 Sơn, 8 Hướng trên la bàn Hậu thiên Bát quái của Văn Vương được chia làm 8 hướng đều nhau, với mỗi hướng đi liền với một số của Cửu tinh: hướng BẮC (số 1), ĐÔNG BẮC (số 8), ĐÔNG (số 3), ĐÔNG NAM (số 4), NAM (số 9), TÂY NAM (số 2), TÂY (số 7) , TÂY

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

24 Sơn, 8 Hướng trên la bàn

Hậu thiên Bát quái của Văn Vương được chia làm 8 hướng đều nhau, với mỗi hướng đi liền với một số của Cửu tinh: hướng BẮC (số 1), ĐÔNG BẮC (số 8), ĐÔNG (số 3), ĐÔNG NAM (số 4), NAM (số 9), TÂY NAM (số 2), TÂY (số 7) , TÂY BẮC (số 6). Riêng số 5 vì nằm ở chính giữa (trung cung) nên không có phương hướng. Đem áp đặt Hậu thiên Bát quái lên la bàn gồm 360 độ, thì mỗi hướng (hay mỗi số) sẽ chiếm 45 độ trên la bàn.

Vào thời kỳ phôi phai của học thuật Phong thủy (thời nhà Chu), việc phân chia la bàn thành 8 hướng như vậy đã được kể là quá tinh vi và chính xác. Nhưng sau này, khi bộ môn Phong thủy đã có những bước tiến vượt bậc dưới thời Đường – Tống, khoảng cách 45 độ được xem là quá lớn và sai lệch qúa nhiều. Để cho chính xác hơn, người ta lại chia mỗi hướng ra thành 3 sơn đều nhau, mỗi sơn chiếm 15 độ. Như vậy trên la bàn lúc này đã xuất hiện 24 sơn. Người ta lại dùng 12 Địa Chi, 8 Thiên Can (đúng ra là 10, nhưng 2 Can Mậu-Kỷ được quy về trung cung cho Ngũ Hoàng nên chỉ còn 8 Can) và 4 quẻ Càn – Khôn – Cấn – Tốn mà đặt tên cho 24 sơn như sau:

– Hướng BẮC (số 1): Gồm 3 sơn NHÂM–TÝ-QUÝ
– Hướng ĐÔNG BẮC (số 8): 3 sơn SỬU–CẤN–DẦN
– Hướng ĐÔNG (số 3): 3 sơn GIÁP–MÃO–ẤT
– Hướng ĐÔNG NAM (số 4) 3 sơn THÌN–TỐN–TỴ
– Hướng NAM (số 9): 3 sơn BÍNH–NGỌ–ĐINH
– Hướng TÂY NAM (số 2): 3 sơn MÙI–KHÔN–THÂN
– Hướng TÂY (số 7): 3 sơn CANH–DẬU–TÂN
– Hướng TÂY BẮC (số 6): 3 sơn TUẤT–CÀN–HỢI

Tất cả 24 sơn trên la bàn đều được xếp theo thứ tự từ trái sang phải theo chiều kim đồng hồ. Chẳng hạn như hướng BẮC có 3 sơn là NHÂM-TÝ-QUÝ, sơn NHÂM chiếm 15 độ phía bên trái, sơn TÝ chiếm 15 độ nơi chính giữa hướng BẮC, còn sơn QUÝ thì chiếm 15 độ phía bên phải. Tất cả các sơn khác cũng đều theo thứ tự như thế.

Mỗi sơn được xác định với số độ chính giữa như: sơn NHÂM tại 345 độ; TÝ 360 độ hay 0 độ; QUÝ 15 độ; SỬU 30 độ; CẤN 45 độ; DẦN 60 độ; GIÁP 75 độ; MÃO 90 độ; ẤT 105 độ; THÌN 120 độ; TỐN 135 đô; TỴ 150 độ; BÍNH 165 độ; NGỌ 180 độ; ĐINH 195 độ; MÙI 210 độ; KHÔN 225 độ; THÂN 240 độ; CANH 255 độ; DẬU 270 độ; TÂN 285 độ; TUẤT 300 độ; CÀN 315 độ; HỢI 330 độ;

Phần trên là tọa độ chính giữa của 24 sơn. Từ tọa độ đó người ta có thể tìm ra phạm vi của mỗi sơn chiếm đóng trên la bàn, bằng cách đi ngược sang bên trái, cũng như sang bên phải của tọa độ trung tâm, mỗi bên là 7 độ 5 (vì phạm vi mỗi sơn chỉ có 15 độ). Chẳng hạn như hướng MÙI có tọa độ trung tâm là 210 độ. Nếu đi ngược sang bên trái 7 độ 5 (tức là trừ đi 7 độ 5) thì được 202 độ 5. Sau đó từ tọa độ trung tâm là 210 độ lại đi thuận qua phải 7 độ 5 (tức là cộng thêm 7 độ 5) thì được 217 độ 5. Như vậy phạm vi sơn MÙI sẽ bắt đầu từ 202 độ 5 và chấm dứt tại 217 độ 5 trên la bàn.

La kinh 24 son do so vietnam

Tọa độ của 24 hướng trên la bàn

Chính Hướng và Kiêm Hướng

Một vấn đề làm cho người mới học Phong thủy khá bối rối là thế nào là Chính Hướng và kiêm Hướng? Thật ra, điều này cũng không khó khăn gì cả, vì khi đo hướng nhà (hay hướng mộ) mà nếu thấy hướng nhà (hay hướng mộ đó) nằm tại tọa độ trung tâm của 1 sơn (bất kể là sơn nào) thì đều được coi là Chính Hướng. Còn nếu không đúng với tọa độ tâm điểm của 1 sơn thì được coi là Kiêm Hướng. Kiêm hướng lại chia ra là kiêm bên phải hoặc kiêm bên trái, rồi kiêm nhiều hay kiêm ít. Nếu kiêm bên phải hoặc kiêm bên trái thì hướng nhà không được xem là thuần khí nữa, vì đã lấn sang phạm vi của sơn bên cạnh (điều này sẽ nói rõ hơn trong phần Tam nguyên long). Nói kiêm phải hay kiêm trái là lấy tọa độ tâm điểm của mỗi sơn làm trung tâm mà tính. Chẳng hạn như sơn MÙI có tọa độ trung tâm là 210 độ. Nếu bây giờ 1 căn nhà có hướng là 215 độ thì nhà đó thuộc hướng MÙI (vì sơn MÙI bắt đầu từ khoảng 202 độ 5 và chấm dứt tại 217 độ 5), nhưng kiêm bên phải 5 độ. Nhưng trong thuật ngữ Phong thủy thì người ta lại không nói kiêm phải hoặc trái, mà lại dùng tên của những hướng được kiêm để gọi nhập chung với hướng của ngôi nhà đó. Như trong trường hợp này là nhà hướng MÙI kiêm phải 5 độ, nhưng vì hướng bên phải của hướng MÙI là hướng KHÔN, nên người ta sẽ nói nhà này “hướng MÙI kiêm KHÔN 5 độ” tức là kiêm sang bên phải 5 độ mà thôi.

Riêng với vấn đề kiêm nhiều hay ít thì 1 hướng nếu chỉ lệch sang bên phải hoặc bên trái khoảng 3 độ so với tọa độ tâm điểm của hướng đó thì được coi là kiêm ít, và vẫn còn giữa được thuần khí của hướng. Còn nếu lệch quá 3 độ so với trung tâm của 1 hướng thì được coi là lệch nhiều, nên khí lúc đó không thuần và coi như bị nhận nhiều tạp khí. Những trường hợp này cần được dùng Thế quái (hay số thế, sẽ nói trong 1 dịp khác) để hy vọng đem được vượng khí tới hướng hầu biến hung thành cát mà thôi.

Tam nguyên long

Sau khi đã biết được 24 sơn (hay hướng) thì còn phải biết chúng thuộc về Nguyên nào, và là dương hay âm, để có thể xoay chuyển phi tinh Thuận hay Nghịch khi lập trạch vận. Nguyên này không phải là “Nguyên” chỉ thời gian như đã nói trong “Tam Nguyên Cửu Vận”, mà là chỉ địa khí của long mạch, hay phương hướng của trái đất mà thôi.

snhng

Tam nguyên long bao gồm: Địa nguyên long, Thiên nguyên long, và Nhân nguyên long. Mỗi Nguyên bao gồm 8 sơn (hay 8 hướng), trong đó có 4 sơn dương và 4 sơn âm như sau:

– THIÊN NGUYÊN LONG: bao gồm 8 sơn :
* 4 sơn dương: CÀN, KHÔN, CẤN, TỐN.
* 4 sơn âm: TÝ, NGỌ, MÃO, DẬU.

– ĐỊA NGUYÊN LONG: bao gồm 8 sơn:
* 4 sơn dương: GIÁP, CANH, NHÂM, BÍNH.
* 4 sơn âm: THÌN, TUẤT, SỬU, MÙI.

– NHÂN NGUYÊN LONG: bao gồm 8 sơn:
* 4 sơn dương: DẦN, THÂN, TỴ, HỢI.
* 4 sơn âm: ẤT, TÂN, ĐINH, QUÝ.

Với sự phân định âm hay dương của mỗi hướng như trên, người ta có thể biết được lúc nào phi tinh sẽ đi thuận hoặc đi nghịch khi xoay chuyển chúng theo vòng LƯỢNG THIÊN XÍCH. (điều này sẽ được nói rõ trong phần lập tinh bàn cho trạch vận ở 1 mục khác).

Ngoài ra, nếu nhìn kỹ vào sự phân chia của Tam nguyên Long ta sẽ thấy trong mỗi hướng của Bát quái được chia thành 3 sơn, và bao gồm đủ ba Nguyên: Địa, Thiên và Nhân, theo chiều kim đồng hồ. Thí dụ như hướng BẮC được chia thành 3 sơn là NHÂM-TÝ-QUÝ, với NHÂM thuộc Địa nguyên long, TÝ thuộc Thiên nguyên long, và QUÝ thuộc Nhân nguyên long. Các hướng còn lại cũng đều như thế, nghĩa là Thiên nguyên long ở chính giữa, Địa nguyên long nằm bên phía tay trái, còn Nhân nguyên long thì nằm bên phía tay phải. Từ đó người ta mới phân biệt ra Thiên nguyên long là quẻ Phụ mẫu, Địa nguyên long là Nghịch tử (vì nằm bên tay trái của Thiên nguyên long tức là nghịch chiều xoay chuyển của vạn vật), còn Nhân nguyên long là Thuận tử. Trong 3 nguyên Địa-Thiên-Nhân thì Thiên và Nhân là có thể kiêm được với nhau (vì là giữa phụ mẫu và thuận tử). Còn Địa nguyên long là nghịch tử chỉ có thể đứng 1 mình, không thể kiêm phụ mẫu hay thuận tử. Nếu Địa kiêm Thiên tức là âm dương lẫn lộn (hay âm dương sai thố). Nếu Địa kiêm Nhân thì sẽ bị xuất quái.

– Thí dụ: Nhà hướng MÙI 205 độ. Vì hướng MÙI bắt đầu từ 202 độ 5, nên nhà hướng 205 độ cũng vẫn nằm trong hướng MÙI, nhưng kiêm sang phía bên trái 5 độ, tức là kiêm hướng ẤT 5 độ. Vì hướng MÙI là thuộc Địa nguyên long (tức Nghịch tử), chỉ có thể lấy chính hướng (210 độ) chứ không thể kiêm, cho nên trường hợp này là bị phạm xuất quái, chủ tai họa, bần tiện. Ngược lại, nếu 1 căn nhà có hướng là 185 độ, tức là hướng NGỌ kiêm ĐINH 5 độ. Vì NGỌ là quẻ Phụ mẫu, kiêm sang bên phải tức là kiêm Thuận tử nên nhà như thế vẫn tốt chứ không xấu. Đây là 1 trong những yếu tố căn bản và quan trọng của Huyền không Học, cần phải biết và phân biệt rõ ràng. Có như vậy mới biết được tuy 2 nhà cùng 1 trạch vận, nhưng nhà thì làm ăn khá, mọi người sang trọng, có khí phách, còn nhà thì bình thường, con người cũng chỉ nhỏ mọn, tầm thường mà thôi. Cho nên sự quý, tiện của 1 căn nhà phần lớn là do có biết chọn đúng hướng hoặc biết kiêm hướng hay không mà ra. Những điều này sẽ được nói rõ hơn trong phần Lập hướng và Kiêm hướng.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 24 sơn hướng trong phong thủy –

Quẻ Quan Âm Vũ Cát Ngộ Sư

Đây là điển cố thứ Mười hai trong quẻ Quan Âm, mang tên Vũ Cát Ngộ Sư (còn gọi là Vũ Cát Gặp Thầy) Quẻ Quan Âm Vũ Cát Ngộ Sư có bắt nguồn như sau:
Quẻ Quan Âm Vũ Cát Ngộ Sư

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đây là điển cố thứ Mười hai  trong quẻ Quan Âm, mang tên Vũ Cát Ngộ Sư (còn gọi là Vũ Cát Gặp Thầy). Quẻ Quan Âm Vũ Cát Ngộ Sư có bắt nguồn như sau:

Khương Tử Nha (1128 tr. CN -1015 tr CN) trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, giỏi về quân sự và đạo trị quốc, từng giữ địa vị cao vào thời vua Trụ nhà Thương, nhưng vì không được tín nhiệm nên từ chức, ông ở ẩn ở đất Bàn Khê bên bờ sông Vị Thủy thuộc tỉnh Thiểm Tây, thường buông câu ở ven Bàn Khê. Người thường câu cá đều dùng lưỡi câu cong, phía trên móc mồi câu cá, sau đó để lưỡi câu chìm xuống nước, dụ cá cắn câu. Nhưng Khương Tử Nha lại dùng lưỡi câu thẳng, đã không có mồi câu, cũng không đế lưỡi câu chìm xuống nước, mà để cách mặt nước ba thước.

Một hôm, người tiều phu Vũ Cát chặt củi đến bên suối, thấy Khương Tử Nha dùng lưỡi câu thẳng không mắc mồi thả lơ lửng trên mặt nước đế câu cá, bèn cười ha hả mà nói rằng: “Lão tiên sinh, ông câu cá như vậy, đến một trăm năm cũng chằng được con cá nào!” Khương Tử Nha nhấc nhấc chiếc cần câu mà nói: “Nói thật với ngươi, ta đâu có câu cá, mà là câu vương hầu!”
Khương Thái Công chợt ngẩng lên nhìn Vũ Cát, phát hiện người này có tướng sắp chết, bèn nói rằng: “Hôm nay ngươi vào thành chắc chắn sẽ đánh chết người, dẫn đến họa mất mạng”. Vũ Cát nghe vậy rất tức giận, đùng đùng nhấc gánh củi lên bỏ đi.

Khi đến kinh thành, Vũ Cát vừa đi được mấy bước, một bó củi thò ra khỏi một đầu đòn gánh, Vũ Cát vừa xoay đòn, không ngờ đòn gánh đập trúng đầu Vương Tướng khiến người này chết liền, Vũ Cát sợ hãi không biết làm thế nào. Tây Bá Hầu Cơ Xương (1152 – 1056, tức là Chu Văn Vương sau này) biết chuyện, bèn nói: “Vũ Cát đã đánh chết Vương Tướng, theo lý đáng phải đối mạng”. Bèn lập tức đến cửa nam vạch đất làm nhà giam, dựng cây làm quan coi ngục, đem Vũ Cát đến giam cầm ở đó. Vũ Cát nói với Tây Bá Hầu rằng, trong nhà còn có mẹ già cần phải chăm sóc, thỉnh cầu đợi đến sau mùa thu khi mẹ già qua đời, sẽ đến chấp hành tội chết. Tây Bá Hầu đồng ý.

Vũ Cát về đến nhà, khóc lóc kể lại với mẹ. Người mẹ bèn bảo Vũ Cát hãy nhanh chóng đi tìm Khương Tử Nha, chỉ có như vậy mới có hy vọng được sống. Vũ Cát nghe lời, vội vàng đến Bàn Khê, thấy Khương Thái Công vẫn đang câu cá ở đó, bèn thuật lại ngọn nguồn sự việc, khẩn cầu ông ra tay cứu giúp. Khương Thái Công thấy anh ta thành khẩn, bèn nhận Vũ Cát làm học trò, lại truyền cho binh pháp tác chiến. Lại sai anh ta đào một cái hầm, niệm chú để hóa giải tai họa chết người của mình.

Đã đến cuối thu, tức là thời gian chấp hành tội chết của Vũ Cát, nhưng không thấy Vũ Cát đến. Tây Bá Hầu nghĩ rằng, cái chết của Vương Tướng có thể là do tròi định, cho rằng Vũ Cát đã sợ tội mà tự sát, cho nên không tiếp tục truy cứu. Một hôm, Tây Bá Hầu bất ngờ gặp Vũ Cát, thấy anh ta vẫn còn sống thì rất tức giận. Vũ Cát vội vàng thưa rằng, có một người câu cá bằng lưỡi câu thẳng đã cứu mình.

Cách thức câu cá đặc biệt của Khương Tử Nha khiến cho Tây Bá Hầu Cơ Xương lấy làm kỳ lạ, bèn sai một người lính đi mời Khương Tử Nha đến để hỏi chuyện. Nhưng Khương Tử Nha không hề chú ý đến người lính đó, chỉ tập trung vào việc câu cá, và nói rằng: “Câu cá, câu cá, cá chẳng cắn câu, tôm lại đến quấy rầy!” Cơ Xương nghe người lính về bẩm báo lại, bèn cử một viên quan đi mời. Nhưng Khương Tử Nha vẫn không thèm nhìn đến, vừa buông câu vừa nói: “Câu cá, câu cá, cá lớn chẳng cắn câu, cá nhỏ lại quấy nhiễu!” Cơ Xương lúc này mới cảm thấy ông lão câu cá này chắc hẳn là bậc hiền tài, bèn ăn chay ba ngày, tắm gội sạch sẽ, thay y phục mới, mang lễ vật long trọng đến Bàn Khê mời Khương Tử Nha. Khương Tử Nha thấy Cơ Xương thành tâm thành ý đến thỉnh cầu, bèn nhận lời giúp đỡ Cơ Xương.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Quẻ Quan Âm Vũ Cát Ngộ Sư

Những điều cần biết khi xét đoán tứ trụ

Trong lý thuyết triết học Phương Đông, khái niệm Âm Dương và Ngũ hành là hai khái niệm cơ bản nhất để hình thành nên học thuyết. Nếu như Ngũ hành là khái niệm biểu hiện khả năng biến đổi, tương tác chế hóa của sự vật hiện tượng thì khái niệm Âm Dương biểu hiện tính trạng đối lập và thống nhất của sự vật.
Những điều cần biết khi xét đoán tứ trụ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Vạn vật được sinh ra do âm dương giao hòa, vạn vật cũng biến dịch đắp đổi nhau như sáng tối, thịnh suy, cứng mềm, nóng lạnh, động tịnh, tốt xấu, sướng khổ, sống chết … Sự đắp đổi nhau theo nguyên tắc trong âm có dương và trong dương có âm. Không thể có một vật độc dương hoặc độc âm. Vật được gọi là dương vì dương thịnh âm suy và Vật được gọi là âm vì âm thịnh dương suy.

 I- Âm dương luận.

1/ “Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật”.
– Đạo là gì, là Thiên lý, là nguyên lý vận động của tự nhiên.
– Nhất là gì, là Thái cực là thể duy nhất của Đạo.
– Nhị là gì, là nhất âm nhất dương.
– Tam là gì, là sự giao hòa âm dương theo nguyên lý vận động của Đạo, nhờ sự giao hòa âm dương mà vạn vật sinh ra.

 2/Âm Dương biến dịch.
– Âm dương biến dịch theo đâu, âm dương biến dịch theo lý biến dịch của Thiên lý (của trời đất) nghĩa là Dịch Lý.
– Lý biến dịch của Thiên lý theo nguyên lý nào, theo nguyên lý phản phục như sáng tối, mưa nắng, nóng lạnh…
– Vạn vật được sinh ra do âm dương giao hòa, vạn vật cũng biến dịch đắp đổi nhau như sáng tối, thịnh suy, cứng mềm, nóng lạnh, động tịnh, tốt xấu, sướng khổ, sống chết…Sự đắp đổi nhau theo nguyên tắc trong âm có dương và trong dương có âm. Không thể có một vật độc dương hoặc độc âm. Vật được gọi là dương vì dương thịnh âm suy và Vật được gọi là âm vì âm thịnh dương suy.
– Vì vậy “ Vạn vật phụ âm nhi bão dương, xung khí dĩ vi hòa”

II- Ngũ hành luận.

1/ Ngũ hành tương Sinh
Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ

 2/ Ngũ hành tương Khắc
Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa

 3/ Ngũ hành tương Lưỡng (giống nhau)
Kim gặp Kim, Thủy gặp Thủy, Mộc gặp Mộc, Hỏa gặp Hỏa, Thổ gặp Thổ.

 4/ Âm dương Ngũ hành tức là Ngũ hành Âm và Ngũ hành Dương (mỗi hành đều có âm và dương)
a/ Ngũ hành Dương gặp Ngũ hành Dương và Âm gặp Âm gọi là Thiên, nghĩa là thiên lệch hay còn gọi toàn Dương, toàn Âm – sự vật biểu hiện hủy diệt .
b/ Ngũ hành Âm gặp Ngũ hành Dương hay ngược lại gọi Chính, nghĩa là Âm Dương tương phối “nhất âm nhất dương chi vị đạo” – vạn vật biểu hiện hòa bình và sinh sôi nẩy nở.

 III/ Chế hóa Ngũ hành

Để chế hóa được Ngũ hành thì dựa vào Ngũ hành Bất cập hay Ngũ hành Thái quá. Xin lược chép lại trong sách của cụ Hải Thượng Lãn Ông (Thánh y nước Việt):

1/Ngũ hành Thái quá. 
a. Mộc – Khuếch tán khí ôn hòa quá sớm làm cho vạn vận sớm phát dục.
b. Hỏa – Khuếch tán khí cường liệt, làm cho vạn vật đốt cháy chẳng yên.
c. Thổ – Có khí nồng hậu rắn chắc trở lại làm cho vạn vật không thể thành hình.
d. Kim – Có khí cứng cỏi làm cho vạn vật ngay thẳng.
e. Thủy – Có khí đầy tràn, làm cho vạn vật phiêu lưu không thể về chỗ thái quá là làm mất sức bình thường.

 2/ Ngũ hành Bất cập. 
a. Mộc – Không có khí ôn hòa, làm cho vạn vật rũ rượi không phấn chấn.
b. Hỏa – Ít khí ấm áp làm cho vạn vật ảm đạm không sáng.
c. Thổ – Không có khí sinh hóa, làm cho vạn vật yếu đuối không có sức.
d. Kim – Không có khí cứng cỏi, làm cho vật mềm giãn không có sức đàn hồi.
e. Thủy – Không có khí phong tàng làm cho vạn vật khô queo.

 3/ Ngũ hành Bình khí. 
a. Mộc – Nó phân bố ra khí ôn hòa, làm cho vạn vật tươi tốt.
b. Hỏa – Sáng chói mà có cái khí thịnh trưởng, làm cho vạn vật dồi dào.
c. Thổ – Đầy đủ khí sinh hóa vạn vật, làm cho vạn vật được đầy đủ hình thể.
d. Kim – Phát ra khí yên tĩnh hòa bình, làm cho vạn vật kết quả.
e. Thủy – Có khí tĩnh mịch hòa thuận, làm cho vạn vật bế tàng.

 4/ Sinh khắc nghi kỵ

Sinh:
a. Thổ sinh kim, thổ nhiều thì kim bị vùi – kim nhiều thì thổ yếu.
b. Hỏa sinh thổ, hỏa nhiều thì thổ tiêu rụi – thổ nhiều thì hỏa tối.
c. Mộc sinh hỏa, mộc nhiều thì hỏa không cháy – hỏa nhiều thì mộc cháy.
d. Thủy sinh mộc, thủy nhiều thì mộc trôi – mộc nhiều thì thủy cạn.
e. Kim sinh thủy, kim nhiều thì thủy tràn – thủy nhiều kim chìm.

Khắc:
a. Kim khắc mộc, mộc nhiều kim cùn – kim nhiều mộc gãy.
b. Mộc khắc thổ, thổ nhiều mộc gãy – mộc nhiều thổ nghiêng đổ.
c. Thổ khắc thủy, thủy nhiều thổ trôi – thổ nhiều thì thủy ứ.
d. Thủy khắc hỏa, hỏa nhiều thủy cháy – thủy nhiều hỏa diệt.
e. Hỏa khắc kim, kim nhiều hỏa ngưng – hỏa nhiều kim tiêu.

 IV- Thiên lý hay nguyên lý vận động của tự nhiên 

1/ Lý giao hòa và mâu thuẫn
Vạn vật sinh ra do âm dương giao hòa. Trong mỗi sự vật, cặp âm dương này lại phát sinh mâu thuẫn. Trong sự giao hòa có sự mâu thuẫn và mâu thuẫn đem đến sự giao hòa, không riêng một vật nào mà vạn vật, toàn thể giới tự nhiên đều có liên hệ giao hòa với nhau. Mâu thuẫn dễ nhận ra nhất là mâu thuẫn trong quan hệ giữa người với người và mâu thuẫn trong nội tâm mỗi người. Chính vì vậy phải giải quyết được hai thái cực ngược nhau, mới tránh được tiêu diệt nhau, và luôn điều chỉnh cho hòa nhau mới hòa bình.

 2/ Lý phản phục tuần hoàn.
Âm dương hoà đồng biến dịch sinh hóa nên sự vật cũng sinh hóa theo lẽ phản phục tuần hoàn. Trái đất quay xung quanh mặt trời, sinh ra bốn mùa tám tiết là biểu hiện sinh động của luật phản phục tuần hoàn. Đời người vinh nhục, được thua, còn mất, sinh tử cũng là biến dịch theo luật phản phục tuần hoàn của trời đất.

 V- Âm Dương Ngũ hành của Can Chi và phương vị. 

1/ Âm dương ngũ hành của 10 Can
Giáp Ất mộc, Bính Đinh hỏa, Mậu Kỷ thổ, Canh Tân kim, Nhâm Quý thủy
– Giáp Ất Mộc Đông phương, phân lưỡng nghi: Giáp dương, Ất âm.
– Bính Đinh Hỏa Nam phương, phân lưỡng nghi: Bính Dương, Đinh âm.
– Mậu Kỷ thổ Trung ương, phân lưỡng nghi: Mậu dương, Kỷ âm.
– Canh Tân kim Tây phương, phân lưỡng nghi: Canh dương, Tân âm.
– Nhâm Quý thủy Bắc phương, phân lưỡng nghi: Nhâm dương, Quý âm.

 Bốn mùa:

– Mùa xuân sinh khí bắt đầu động lên, cây cỏ đâm chồi nẩy lộc, ngôi vị Đông phương, ngày là Giáp Ất.
– Mùa hạ sinh khí tiếp thu hỏa khí vạn vật sịnh trưởng biến hóa nhờ hỏa, ngôi vị Nam phương, ngày là Bính Đinh.
– Mùa thu vạn vật đổi thay hình dạng, vẻ buồn bã âm thầm lặng lẽ, ngôi vị Tây phương, ngày là Canh Tân.
– Mùa đông vạn vật ẩn náu, có vẻ như khiêm nhường như nước chảy nhũn nhặn, như là mai phục, thực là đứng đầu ngũ hành, ngôi vị Bắc phương, ngày là Nhâm Quý.
– Thổ ở trung ương, nơi xuất tinh khí ra để nuôi dưỡng vạn vật và thu khí về làm cho vạn vật vẻ như bị tiêu diệt. Ngôi vị ở trong, ý như thông suốt mọi việc. Ngày là Mậu Kỷ.

 2/ Âm dương ngũ hành của 12 chi 
Dần Mão mộc, Tỵ Ngọ hỏa, Thân Dậu kim, Hợi Tý thủy, Thìn Tuất Sửu Mùi thổ.
– Dần Mão mộc Đông phương, phân lưỡng nghi: Dần dương, Mão âm.
– Tỵ Ngọ hỏa Nam phương, phân lưởng nghi: Tỵ âm, Ngọ dương.
– Thân Dậu kim Tây phương, phân lưỡng nghi: Thân dương, Dậu âm.
– Hợi Tý thủy Bắc phương, phân lưỡng nghi: Hợi âm, Tý dương.
– Thìn Tuất Sửu Mùi thổ cuối 4 mùa, phân lưỡng nghi: Thìn (đông) Tuất (tây) dương, Sửu (bắc) Mùi (nam)âm.

Bạch hổ thông nghĩa nói:
– Thiếu dương hiện ra ở Dần, thịnh tại Mão, suy ở Thìn.
– Thái dương hiện ra ở Tỵ, thịnh tại Ngọ, suy ở Mùi.
– Thiếu âm hiện ra ở Thân, thịnh tại Dậu, suy ở Tuất.
– Thái âm hiện ra ở Hợi, thịnh tại Tý, suy ở Sửu.

 3/ Can chi sinh khắc: Bảo – Nghĩa – Chế – Chuyên – Phạt nhật.

“Độn Giáp kinh” nói rằng: Ngày Bảo là can sinh chi – Ngày Nghĩa là chi sinh can. Ngày Chế là can khắc chi, ngày này lợi hành quân. Ngày Phạt chi khắc can, ngày này kỵ đánh dẹp, chinh phạt, xuất quân, cướp đất. Ngày Chuyên can chi ngũ hành tương đồng, ngày này kỵ xuất quân.”

“Tào Chấn Khuê nói rằng: Can sinh chi đó là được thiên thời. Chi sinh can được địa lợi đấy. Can khắc chi được nhân hòa, ta có thể chế kẻ khác được. Vì thế can là trời, là ta; chi là đất là kẻ khác. Ngày Phạt, kẻ kia khắc ta. Can là tôn (quí), là ta chi là kẻ kia, ấy là ti phạt vào tôn, kẻ khác khắc ta đó là nghịch vậy. Nay can chi đồng loại, kẻ khác với ta cùng đức, thế hai bên tương địch, bất phân thắng phụ (bại) vì vậy kỵ xuất quân.”

 4/ Ngũ hành 4 mùa và tàng ẩn trong con người.

“Muôn vật đều có thủy có chung. Mỗi một năm có ba ngươn Thượng-ngươn, Trung-ngươn và Hạ-ngươn rồi trở lại Thượng-ngươn nữa. Mỗi tháng có 3 tuần. Thượng-tuần, Trung-tuần và Hạ-tuần. Mỗi tuần có 10 ngày. Mỗi ngày chia làm 12 giờ, Khởi đầu giờ Tý đến giờ Hợi là cùng, rồi khởi đầu lại Tý nữa. Ấy là luật tuần hoàn của vũ-trụ.”

“Mùa Xuân thuộc Mộc. Mộc là cây dùng làm biểu hiện cho tất cả sự vật sinh-tồn của hóa công. Những sinh vật, động vật, sở dĩ có sự sống nối liền nhau không ngừng là nhờ đức của hành Mộc. Cho nên cổ-nhân mới đặt Mộc là đức nguyên và để khí đầu cho mỗi mùa trong vạn vật của trời đất, làm cho đức lớn của trời đất được thêm nẩy nở ; do đó đức Khổng sau này cũng lấy đây làm ngũ-thường (Thiên địa chi đại đức viết sanh), cho nên đức lớn của con người là lòng Nhân.”

“Mùa Hạ Hỏa vượng, bởi Mộc sanh Hỏa mà Hỏa là lửa. Lửa đây là lử Thiên, lửa trời soi tỏ vũ-trụ. Lửa người là sức mạnh của tâm linh bồng bột, hay làm cho con người thường đi quá trớn, nên cổ-nhân mới lấy chữ Lễ để buộc ràng do Lễ tiếp theo Lễ-nhân.”

“Hoả là mặt trời soi khắp nơi để bồi dưỡng muôn loài và duy-trì cuộc sinh-tồn của vũ-trụ, không có lửa đầm ấm thì cỏ cây muôn loài không phát triển được.”

“Mùa Thu Kim vượng. Kim tượng-trưng cho nguồn lợi ích vô biên của tạo-hóa; mùa Thu cũng là bắt đầu có Bát-quái và quẻ Càn. Càn là Kim mà Kim tức là vàng bạc kim khí. Bởi cớ ấy đức hành Kim là Lợi, vì đó mà con người muốn kìm hãm vào lòng ích kỷ dục-lợi cầu-danh thì phải biến trong chữ Nghĩa mà Nghĩa nối liền theo Lễ-Nhân.”

“Mùa Đông thuộc Thủy, Kim sanh Thủy mà Thủy là nước ; nước giữa tạo-vật là nước thiêng-liêng, còn nước trong lòng người là dòng nước ý-thức ; ngọn nước thiêng-liêng, dòng nước ý-thức, lý-trí, nên đức của nước là Trinh. Vậy con người cần phải liêm-khiết trong sạch. Mỗi một năm thì con người thêm một tuổi, đầy đủ kinh nghiệm biết rộng, hiểu xa, nhờ đó mà đức của nước là Trí, nên kêu là đức Trí.”

“Nhưng Trí mà xảo-quyệt tàn ác ích-kỷ hại nhân là bẩm sinh con người vào hành Thổ. Vì Thổ là vật-chất (hậu-thiên) nên có sinh, có tử. Bởi vì Trí (đúng là Thổ đứng giữa bốn hành, có lẽ nhầm) đứng giữa bốn hành và bốn hướng.”

“Nếu muốn cho bốn đức tính Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí được hoàn hảo và đầy đủ con người cần thêm một đức tính cuối cùng là Tín.”

“Có Tín có nghĩa mới đẹp lòng thiên hạ và có Trí mới toàn thiện và phụ vào Nhân mới toàn-mỹ.”

“Cho nên tạo-hóa sinh ra mỗi một hành hợp với hai hành và khắc hai hành. Có xung có khắc, cộng hai sinh hai khắc cùng với một chủ vị ở giữa là năm (ngũ hành).”

“Thủy hợi với Kim và Mộc nhưng khắc với Thổ và Hỏa. Nước chui xuống đất đó là khắc nhập. Nước làm tắt lửa đó là khắc xuất.”

“Đến lượt Kim thì hợp với Thổ và thủy nhưng lại khắc với Mộc và Hỏa.”

“Kim khí chém đứt cây, cưa đứt gỗ đó là khắc nhập. Kim khi bị lửa đốt cháy chảy ra đó là khắc xuất.”

“Luật khắc cũng như luật sinh có khắc xuất thì cũng có khắc nhập.”

“Nước với lửa là hai thể đối lập, nhưng nước và lửa tuân theo một định luật. Tuy bề ngoài khắc nhau nhưng bề trong vẫn tiếp ứng nhau. Lửa và nước nếu không giao hợp với nhau là quẻ Vị-tế, tức là nước ở dưới lửa ở trên thì không khắc. Bằng cho Ký-tế nước ở trên lửa ở dưới thì nước sẽ làm lửa tắt thế là khắc nhau. Người ta muốn cho nước với lửa không khắc thì mượn trung gian hành Thổ mà ngăn cách nhau nghĩa là : Nói về hữu vi thì phải lấy nồi đất đựng nước mà nấu thì nước sôi lửa không tắt.”

 

VI/ Nguyên lý An vòng Tràng sinh theo Cổ nhân.

1. Tràng sinh an tại tứ sinh (không phân âm dương): Dần, Thân, Tỵ, Hợi.
– Mộc Tràng sinh ở Hợi, Vượng ở Mão, Mộ tại Mùi.
– Hỏa Tràng sinh ở Dần, Vượng ở Ngọ, Mộ ở Tuất.
– Kim Tràng sinh ở Tỵ, Vượng ở Dậu, Mộ ở Sửu.
– Thủy Tràng sinh ở Thân, Vượng ở Tý, Mộ ở Thìn.
– Thổ Tràng sinh ở Thân, Vượng ở Tý, Mộ ở Thìn.

 2. Thiên Can Sinh Vượng Tử – Nguyên lý Dương tử Âm sinh và ngược lại Âm tử thì Dương sinh.
Thập Thiên can phân âm dương:
Can dương: Giáp Bính Mậu Canh Nhâm.
Can dương: Ất Đinh Kỷ Tân Quý.

a) Can dương Giáp Bính Mậu Canh Nhâm chuyển thuận chiều.
– Giáp Mộc Sinh tại Hợi, Vượng ở Mão, Tử ở Ngọ.
– Bính Hỏa Sinh tại Dần, Vượng ở Ngọ, Tử ở Dậu.
– Mậu Thổ Sinh tại Dần, Vượng ở Ngọ, Tử ở Dậu.
– Canh Kim Sinh tại Ty, Vượng ở Dậu, Tử ở Tý.
– Nhâm Thủy Sinh tại Thân, Vượng ở Tý, Tử ở Mão.

b) Can âm Ất Đinh Kỷ Tân Quý chuyển nghịch chiều.
– Ất Mộc sinh tại Ngọ, Vượng ở Dần, Tử tại Hợi.
– Đinh Hỏa sinh tại Dậu, Vượng ở Tỵ, Tử ở Dần.
– Kỷ Thổ sinh tại Dậu, Vượng ở Tỵ, Tử ở Dần.
– Tân Kim sinh tại Tý, Vượng ở Thân, Tử ở Tỵ.
– Quí Thủy sinh tại Mão, Vượng ở Hợi, Tử ở Thân.

c) Thuyết này luận về Thổ không phân âm dương.
Thổ tràng sinh tại Ngọ, Vượng ở tứ quý, Khắc ở Dần mão, bị tiết khí ở Thân Dậu, Tài ở Hợi Tý. Vì Thổ là mẹ vạn vật nên Thổ không có Tử, nếu Thổ tử thì tất cả đều chết, lý này thuận với tự nhiên.

 VII/ Ngũ hành Hóa, Lục Hợp và Tam Hợp – Lục xung và Lục Hại.

1/ Ngũ Hành Hợp Hóa
Giáp với Kỷ hợp hóa Thổ, Ất với Canh hợp hóa Kim, Bính với Tân hợp hóa Thủy, Đinh với Nhâm hợp hóa Mộc, Mậu với Quý hợp hóa Hỏa.
Thứ tự 10 Can phối ghép số Hà Đồ thì:
1 là Giáp, 6 là Kỷ nên Giáp hợp Kỷ
2 là Ất, 7 là Canh nên Ất hợp Canh.
3 là Bính, 8 là Tân nên Bính hợp Tân.
4 là Đinh, 9 là Nhâm nên Đinh hợp Nhâm.
5 là Mậu, 10 là Quý nên Mậu hợp Quý.

Con số lấy 6 vị làm hợp.

 2/ Lục Hợp Ngũ Hành
Theo Hiệp Kỷ Biện Phương Thư nói: Ngũ tinh gia lại lấy Dần hợp Hợi thuộc Mộc, Mão hợp Tuất thuộc Hỏa, Thìn hợp Dậu thuộc Kim, Tí hợp Sửu vì ở dưới nên thuộc Thổ, Ngọ hợp Mùi lại ở bên trên nên Ngọ là Thái Dương còn Mùi thuộc Thái Âm.

 

3/Tam Hợp Ngũ Hành.
Thân Tí Thìn hợp Thủy cục, Hợi Mão Mùi hợp Mộc cục, Dần Ngọ Tuất hợp Hỏa cục, Tỵ Dậu Sửu hợp Kim cục gốc từ Sinh Vượng Mộ vòng Tràng sanh mà ra.

 

4/ Ngũ Hành Lục Xung (sát)
Can và Chi thứ tự 7 vị xung nhau. Từ Giáp đến Canh là 7, từ Tí đến Ngọ cũng là 7 nên lấy 7 vị làm xung. Quẻ Càn và Quẻ Khôn hào 7 là cực khí âm dương, số cùng của Trời Đất.

 5/ Lục Hại.
Lục Hại sinh ra từ Lục Hợp nghĩa là không hòa thuận.
Tý hợp với Sửu mà Mùi lại xung Sửu, nên Tý Mùi Hại nhau.
Sửu hợp với Tí mà Ngọ lại xung Tí, nên Sửu Ngọ hại nhau.

Dần hợp với Hợi mà Tỵ lại xung Hợi, nên Dần Tỵ Hại nhau.
Mão hợp Tuất mà Thìn lại xung Tuất, nên Mão Thìn hại nhau.

Thìn hợp với Dậu mà Mão lại xung Dậu, nên Mão Thìn hại nhau
Tỵ hợp với Thân mà Dần lại xung Thân, nên Tỵ Dần hại nhau.

Ngọ hợp với Mùi mà Sửu lại xung Mùi, nên Ngọ Sửu hại nhau.
Mùi hợp với Ngọ mà Tí lại xung Ngọ, nên Mùi Tí hại nhau.

Thân hợp với Tỵ mà Hợi lại xung Tỵ, nên Thân Hợi hại nhau.
Dậu hợp với Thìn mà Tuất lại xung Thìn, nên Dậu Tuất hại nhau.

Tuất hợp với Mão mà Dậu lại xung Mão, nên Tuất Dậu hại nhau.
Hợi hợp với Dần mà Thân lại xung Dần, nên Thân Dần hại nhau.

 VIII/ Ngũ Hành biến tướng (Dịch Mã)

Dần Ngọ Tuất Dịch-mã ở Thân
Thân Tý Thìn Dịch-mã ở Dần
Tị Dậu Sửu Dịch-mã ở Hợi
Hợi Mão Mùi Dịch-mã ở Tị

Hiệp Kỷ Biện Phương nói: Dịch-mã là số cùng, mà cùng thì phải biến:

1/ Số của Dần Ngọ Tuất Hỏa cục, gặp Thân hóa tướng biến, vì Hỏa sinh ở Mộc mà Mộc lại tuyệt ở Thân, Thân lại là nơi Thủy sinh nên Hỏa biến tướng.

2/ Số của Thân Tý Thìn Thủy cục, gặp Dần hóa tướng biến, vì Thủy sinh ở Kim mà Kim lại tuyệt ở Dần, Dần lại là nơi Hỏa sinh, nên Thủy biến tướng.

3/ Số của Tị Dậu Sửu Kim cục, gặp Hợi hóa tướng biến, vì Kim sinh ở Hỏa Thổ mà Hỏa Thổ tuyệt ở Hợi, Hợi lại là nơi Mộc sinh để sinh Hỏa, ấy là Kim biến mà không cùng.

4/ Số của Hợi Mão Mùi Mộc cục, gặp Tị hóa tướng biến, vì Mộc sinh ở Thủy, mà Thủy tuyệt ở Tị, Tị lại là nơi Kim sinh, nên Mộc biến tướng.

Ý nghĩa của Dịch-mã là tuyệt sứ mà phùng sinh.

BỐN MÙA NGŨ HÀNH VƯỢNG TƯỚNG

Mùa Xuân (72 ngày) hành : Mộc vượng; Hỏa tướng; Thủy hưu; Kim tù; Thổ tử.
Mùa Hạ (72 ngày) hành : Hỏa vượng; Thổ tướng; Mộc hưu, Thủy tù; Kim tử.
Mùa Thu (72 ngày) hành : Kim vượng; Thủy tướng; Thổ hưu; Hỏa tù; Mộc tử.
Mùa Đông (72 ngày)hành : Thủy vượng; Mộc tướng; Kim hưu, Thổ tù; Hỏa tử.
Tứ quý (18 ngày cuối tháng thìn, tuất, sửu, mùi cộng lại 72 ngày) : Thổ vượng; Kim tướng; Hoả hưu; Mộc tù; Thủy tử.

Hành đương lệnh là vượng, ví dụ là Ta đương vượng chính ngôi (ngã); Cha mẹ sinh ra Ta thì Hưu; Con của Ta sinh ra là Tướng; Kẻ khắc Ta phải bị Tù (nhốt lại), ấy là nhờ con Ta là Tướng đi bắt mà nhốt lại; và tất nhiên người bị Ta khắc sẽ Tử.

Xét về hành, mùa Xuân hành Mộc nghĩa là Mộc vượng. Hay còn gọi mùa xuân hành Mộc, không có nghĩa chỉ riêng có hành Mộc mà có đủ thêm 4 hành kia. Nếu coi một mùa là một thể thống nhất, thì có đủ ngũ hành không thể chia cắt, tùy theo mùa đương lệnh mà hành chính danh chính vị.

Cũng lý ấy suy ra,ví dụ người nạp âm mệnh Mộc thì Mộc chính danh chính vị làm chủ, nghĩa là Mộc vượng; Hỏa tướng; Thủy hưu; Kim tù; Thổ tử trong mệnh ấy.

(Theo Pháp Vân – Phòng sách tư liệu
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những điều cần biết khi xét đoán tứ trụ

Tính cách người tuổi Tý nhóm máu A: Tâm hồn thanh cao

Tính cách người tuổi Tý nhóm máu A sống biết trên biết dưới, trong công việc luôn lấy đại cục làm trọng. Họ sở hữu tâm hồn thanh cao.
Tính cách người tuổi Tý nhóm máu A: Tâm hồn thanh cao

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

- Người tuổi Tý nhóm máu A sống biết trên biết dưới, trong công việc luôn lấy đại cục làm trọng. Họ sở hữu tâm hồn thanh cao, nội tâm hàm súc và vô cùng coi trọng hạnh phúc. 

 

Ưu điểm nổi trội của người tuổi Tý nhóm máu A

  Tính cách người tuổi Tý nhóm máu A sống biết trên biết dưới, trong công việc luôn lấy đại cục làm trọng, vì lợi ích chung của công ty, của mọi người. Họ làm việc chăm chỉ và có tinh thần trách nhiệm, sẵn sàng kết hợp cùng người khác để thúc đẩy hiệu quả công việc cao hơn bởi vậy, bất kể họ làm việc trong môi trường nào cũng đều được đồng nghiệp quý mến, lãnh đạo ưu ái.

Ngoài khả năng ứng xử, giao tiếp khéo léo thì năng lực làm việc của người tuổi Tý nhóm máu A cũng rất tốt, tài trí hơn người, nhanh nhẹn linh hoạt, làm việc đâu ra đấy, gọn gàng và nhanh chóng, không dây dưa lằng nhằng, chuyện nào ra chuyện ấy, việc ngày hôm nay không để tới ngày mai. 
  Những người tuổi Tý nhóm máu A yêu thích thơ văn, yêu cái đẹp, yêu lao động, thích sự trong sáng thuần khiết nên tâm hồn thanh cao, họ biết cách cân bằng công việc và gia đình đảm bảo cho cuộc sống luôn hài hòa.   
Tinh cach nguoi tuoi Ty nhom mau A Tam hon thanh cao hinh anh
 
Bất kể là phương diện nào thì người tuổi Tý nhóm máu A cũng quan tâm tới từng chi tiết nhỏ, bởi vậy họ dễ dàng nhận ra những thay đổi dù là nhỏ nhất của người đối diện, về cả hình thức lẫn tinh thần, họ có thể thông cảm sự đau khổ, thấu hiểu nỗi lòng và không ngại chia sẻ, cùng người khác vượt qua khó khăn. Không ai có thể phủ định lòng tốt của người tuổi Tý nhóm máu A, họ luôn biết cách hóa chiến tranh thành tơ lụa.  Dù mưu tính sâu xa nhưng nội tâm hàm súc, họ lấy niềm vui và hạnh phúc để làm phương châm sống, mục tiêu của của đời.   Nói như vậy không có nghĩa là người tuổi Tý nhóm máu A đa sầu đa cảm, dễ bị người khác lợi dụng tình cảm. Trên phương diện này, họ rất tỉnh táo và lý trí, họ có khả năng quan sát cũng như phân tích tâm lý rất tốt, sau đó mới đưa ra quyết định. Một khi đã yêu, những người này rất toàn tâm toàn ý với đối phương, luôn tìm mọi cách để khiến đối phương vui vẻ, bất kể nguyên nhân do đâu cũng đều nhận lỗi về mình, luôn tôn trọng và đặt hạnh phúc gia đình lên mức cao nhất.   Nữ mệnh nhóm máu A tính tình hiền dịu, tâm địa thiện lương, sở hữu một nụ cười tỏa nắng khiến đối phương không thể không ngưỡng mộ, là mẫu phụ nữ mà mọi đàn ông luôn khao khát. Sau khi kết hôn, những người phụ nữ này là hình tượng mẹ hiền vợ đảm điển hình, chăm sóc chồng con chu đáo, tôn kính cha mẹ, sắp xếp công việc gia đình đâu ra đấy.    Nam mệnh nhóm máu A thì rất biết quan tâm người khác, thái độ ôn hòa, cũng là mẫu đàn ông của gia đình mà nhiều phụ nữ ao ước. Sau khi kết hôn, họ luôn nhận thiệt thòi về mình, sẵn sàng hi sinh mọi lợi ích bản thân để gìn giữ hạnh phúc, gia đình hòa thuận, tu chí làm ăn để mang lại cuộc sống tốt nhất cho vợ con. Nếu có gì bức xúc, ngoài miệng thì mắng vợ nhưng trong lòng họ không hề muốn như vậy, gia đình luôn thuận hòa, hạnh phúc dài lâu.
 
Tinh cach nguoi tuoi Ty nhom mau A Tam hon thanh cao hinh anh 2
 

Khuyết điểm cần khắc phục của người tuổi Tý nhóm máu A

 

Người tuổi Tý nhóm máu A hành động thường do dự, thiếu quyết đoán nên thường bỏ lỡ nhiều cơ hội tốt. Khi thời cơ đến, mọi thứ hài hòa nhưng lúc này họ lại thường có thái độ ba phải, thế nào cũng được, không kiên định với ý kiến của mình, kết quả về sau thường hay hối hận. Hơn nữa, vì thường xuyên nghĩ cho người khác nên trong lòng lúc nào cũng có muộn phiền, lâu dần tích tụ tạo thành áp lực tinh thần, đôi khi mắc phải các bệnh liên quan hệ thần kinh.

Lời khuyên dành cho những người tuổi Tý nhóm máu A

  Vào những lúc tâm tình không tốt, không muốn chia sẻ với người khác thì tạm thời không nên suy nghĩ nhiều, tạm gác lại những muộn phiền ấy và tìm niềm vui bằng những hoạt động khác như nghe nhạc, đọc sách, đi mua sắp, vui chơi cùng bạn bè…

Những người này thiếu hụt sự sáng tạo, nếu như họ có tinh thần học hỏi thêm thì sẽ tốt hơn nhiều, dù không hẳn sẽ tạo nên bước đột phá nhưng chắc chắn sẽ tốt hơn hiện tại. Chăm chỉ tích lũy kiến thức là cách rèn luyện năng lực tốt nhất, nhân cách cũng được nâng lên tầm cao mới.
Phương Thùy

Tuổi Tý nhóm máu O: Lanh lợi, phóng khoáng, hậu vận phú quý
Trong công việc, người tuổi Tý nhóm máu O rất có tinh thần trách nhiệm, chăm chỉ làm việc, dốc tâm dốc sức làm việc nên thường được cấp trên tin tưởng và giao


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tính cách người tuổi Tý nhóm máu A: Tâm hồn thanh cao

hoa cảnh trong nhà hợp phong thủy

Lý luận của phong thủy đối với việc xanh hóa là “làng quê có cây cối, như người có y phục, quá mỏng thì sợ lạnh, quá dày thì nóng nực, dựa trên nền tảng đó,
hoa cảnh trong nhà hợp phong thủy

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Lý luận của  phong thủy đối với việc xanh hóa là “làng quê có cây cối, như người có y phục, quá mỏng thì sợ lạnh, quá dày thì nóng nực, dựa trên nền tảng đó, âm dương phải trung hòa”.

Phòng khách

Phòng khách cần phải kỹ lưỡng hơn một chút, có thể lựa chọn các loại như trúc phú quý, cây  lan đuôi hổ, xương rồng, cây thủy tùng, sen bảy lá, cây cọ, cây phát tài, cây lan quân tử, cây lan cầu, hoa lan, hoa anh thảo, tắc, cây dương xỉ, cây huyết dụ …, các hoa này là “vật may mắn” trong  phong thủy học, hàm ý như ý cát tường, tụ tài phát phúc.

 hoa canh trong nha hop phong thuy hinh anh
Cây phát tài

Phòng ngủ

Phòng ngủ cần tràn đầy không khí yên tĩnh, khoan thai và ấm áp, có thể chọn xương rồng, cây lê gai, điếu lan, hoa hồng, uất kim hương, cây hoa huệ, hoa bách hợp, liên chân ngựa (mã đế liên) …, để tạo không khí hòa thuận, nhẹ nhàng thích hợp cho việc nghỉ ngơi.

Phòng đọc sách

Phòng đọc sách cần phải tràn ngập hơi hướm của sách, hoa cảnh cần phải đặt ở vị trí văn xương của chủ nhân, có thể sử dụng hoa sơn trúc, cây văn trúc, trúc phú quý, dây thường xuân … Các hoa này có thể làm cho tư duy trở nên linh hoạt, rất có  lợi cho việc học tập. Trên bàn học có thể đặt chậu diệp thảo, xương bồ … , có tác dụng ninh thần thông khiếu, ngăn chặn ngủ gật.

 hoa canh trong nha hop phong thuy hinh anh 2
Cây trúc phú quý





Phòng ăn

Phòng ăn cần phải sạch sẽ, thống nhất, bạn có thể sử dụng hoa hồng vàng, hoa cẩm chướng vàng, hoa lài vàng … để gây thèm ăn, tăng thêm khẩu vị nhằm vảo vệ sức khỏe của cơ thể.

Ban công

Bạn nên chọn các loại hoa cảnh thích hợp với điều kiện của ánh nắng mặt trời như: hoa nhài, hoa cúc, cây hà lan, hoa hải đường, hoa lạc tiên, cây lan văn trúc, cây thạch trúc, hoa hải đường, hoa hướng dương, cây mễ lan, hoa quế, hoa giải lan (lan cua) … Khi xếp đặt các loại hoa phải đem dương tính đặt gần ánh nắng mặt trời, âm tính đặt ở sau nó; mỗi loại đều phải có chỗ riêng.

Cổng chính

Cổng chính nếu đối diện với cầu thang thì có thể đem hoa huệ tây, cây móc, cây co … đặt ở nơi tương xung để hóa giải sát khí. Nếu đối diện cửa sổ ban công có sát khí thì có thể sử dụng xương rồng, hoa hồng, cây ngọc kỳ lân hoặc trồng chậu bầu để hóa giải sát khí.

Tóm lại, bố cục xanh hóa trong nhà không thỏa đáng, tuyển chọn loại hoa cảnh không đúng đều ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và sự nghiệp của người ở trong nhà. Hoa cảnh có thể trị bệnh, điều tâm dưỡng tính, đem may mắn đến cho con người, cũng có thể hại người, giết người, cho nên khi chúng ta bố trí hoa cảnh trong nhà nhất định phải suy nghĩ kỹ lưỡng.

Theo Sách Hoa cảnh ứng dụng trong phong thủy
 
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: hoa cảnh trong nhà hợp phong thủy

Ốc Thượng Thổ - Ý nghĩa đất trên nóc nhà (mái ngói)

Tìm hiểu về nạp âm Ốc Thượng Thổ. Thành Đầu Thổ (đất bờ thành), Bích Thượng Thổ (đất trên tường) và Ốc Thượng Thổ đều sợ Mộc

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Ốc Thượng Thổ - Ý nghĩa đất trên nóc nhà (mái ngói)

Ốc Thượng Thổ - Ý nghĩa đất trên nóc nhà (mái ngói)

Sách Bác Vật Vựng Biên ghi: Bính Tuất Đinh Hợi. Bính Đinh thuộc Hỏa. Tuất Hợi là của trời (Thiên môn). Hỏa ở trên cao dĩ nhiên đất không sinh dưới thấp nên gọi bằng Ốc Thượng Thổ.

Ốc Thượng Thổ là ngói lợp mái nhà để che sương, tuyết mưa. Muốn thành ngói, Thổ phải trộn với nước lại đưa vào lò lửa luyện nung. Người mang nạp âm Ốc Thượng Thổ dù số hay cũng phải trải thiên ma bách triết để thoát thai hoán cốt mới thành công. Nếu đi con đường dễ thì cái thành công chỉ là thứ thành công chóng tàn dễ vỡ như hòn ngói chưa nung chín gặp mưa nhanh chóng nát ra.

Bính Tuất, Tuất thuộc Thổ chính vị sức chiến đấu dẻo dai cứng cỏi hơn. Đinh Hợi vì Hợi thuộc Thủy Thổ khắc Thủy sức đề kháng không khỏe bằng Bính Tuất.

Thành Đầu Thổ (đất bờ thành), Bích Thượng Thổ (đất trên tường) và Ốc Thượng Thổ (đất nóc nhà) đều sợ Mộc, nhất là Tang Đố Mộc, Thạch Lựu Mộc, như thân tự chôn xuống mộ. 3 hành Thổ này tuy không sợ Bình Địa Mộc, Đại Lâm Mộc, Tùng Bá Mộc nhưng không bền vững vì hình kỵ.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Ốc Thượng Thổ - Ý nghĩa đất trên nóc nhà (mái ngói)

Cách đặt tượng Quan Công phong thủy

Theo quan niệm của phong thủy Trung Quốc, có 2 vị thánh được tôn kinh là Văn Thánh (Khổng Tử) và Võ Thánh (Quan Công). Hai vị này biểu trưng cho quan niệm văn võ luôn song hành để phục vụ các triều đại phong kiến. Từ thời Tống (962-1279), Quan Công được thần thành hóa và trở thành vị thần của tín ngưỡng dân gian Trung Quốc, được thờ cúng ở mọi nơi. Tín ngưỡng Quan Công là một trong những loại tín ngưỡng khá quan trọng, biểu hiện được giá trị văn hóa tinh thần của người Trung Quốc. Tín ngưỡng Quan Công còn có mặt ở hầu hết các quốc gia Đông Nam Á, ở Đài Loan, Úc, Mỹ,…Bởi vì ở các nơi đó có nhiều người Hoa sinh sống. Ngoài tên gọi Quan Công, dân gian Trung Quốc còn gọi ông là Quan Đế, Quan Thánh Đế Quân, Quan Lão Gia,….
Cách đặt tượng Quan Công phong thủy

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tín ngưỡng thờ Quan Công vốn là tín ngưỡng ngoại nhập chứ không phải tín ngưỡng bản địa của người Việt ở Nam bộ nói riêng và Việt Nam nói chung. Tín ngưỡng này của người Hoa được người Việt tiếp nhận và trở thành một trong những vị thần gắn liền với đời sống văn hoá tinh thần của họ trên mảnh đất Nam bộ. Đặc biệt, không chỉ có người Hoa mà người Việt còn thỉnh Quan Công vào thơ ở trong nhà trên một “trang” thờ ở nơi cao trong nhà cùng với các thần, phật khác như: Cửu Thiên Huyền Nữ, Bà Chúa Ngọc, Quan Am, Thích Ca,… Quan Công trở thành vị thần độ mạng cho nam giới trong gia đình người Việt.
Thường người Nam Bộ sẽ thờ Quan Công hoặc sử dụng các vat pham phong thuy hình Quan Công để hóa giải vận hạn.

- Những hướng nhà bị xấu với tuổi của gia chủ như Hoạt hại, Lục sát, ngũ quỷ, tuyệt mệnh thì nên dùng tượng Quan Công trấn giữ ở cửa. Hướng nhà bị sao xấu chiếu tới cũng dùng tượng Quan Công để chế hoá. Đặc biệt là dùng trong các trường hợp căn nhà, căn phòng nhiều âm khí dễ sinh tai hoạ và bệnh tật cho gia chủ. Tượng Quan Công phải làm bằng đồng hoặc vàng, thuộc Kim khí mới có tác dụng chống lại tà khí, sau khi khai quang, điểm nhãn sẽ có năng lực rất mạnh chống lại tà khí (phát sinh ra tai hoạ), đặc biệt dùng trấn áp sao Ngũ Hoàng, Nhị Hắc, Hoạ Hại, Tuyệt Mệnh, Ngũ Quỷ ..vốn là các hung tinh gây hoạ chủ yếu.

- Vị trí nên bày tượng Quan Công là trong phòng khách ở chính giữa hướng ra cửa hoặc ở các vị trí bị Sát tinh chiếu đến như Hoạt hại, Lục sát, ngũ quỷ, tuyệt mệnh …Cũng có thể dùng để tăng cường sức khoẻ, công danh ở nơi có các cát tinh như Sinh khí, Diên Niên, thiên y, phục vị.. chiếu đến.

- Không nên đặt tượng Quan Công ở trong phòng ngủ, phòng bếp hay nhà vệ sinh, những nơi không trang nghiêm, tĩnh tại phạm bất kính.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cách đặt tượng Quan Công phong thủy

Xem bói tình yêu: Nhân duyên sinh khắc qua 30 cặp mệnh nạp âm

Có nhiều cách để xem bói tình yêu, chọn tuổi hợp mệnh nam nữ, chọn tuổi kết hôn..., dưới đây là cách xem nhân duyên sinh khắc qua 30 cặp mệnh nạp âm.
Xem bói tình yêu: Nhân duyên sinh khắc qua 30 cặp mệnh nạp âm

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Có nhiều cách để xem bói tình yêu, chọn tuổi hợp mệnh nam nữ, chọn tuổi kết hôn..., dưới đây là cách xem nhân duyên sinh khắc qua 30 cặp mệnh nạp âm trong lục thập hoa giáp.

 

Mục lục (Click vào đây để tới nội dung muốn xem nhanh nhất)

  1. Bói tình yêu: Người Giáp Ngọ, Ất Mùi – Sa Trung Kim
  2. Bói tình yêu: Người Bính Thân, Đinh Dậu – Sơn Hạ Hỏa
  3. Bói tình yêu: Người Mậu Tuất, Kỷ Hợi – Bình Địa Mộc
  4. Bói tình yêu: Người Canh Tý, Tân Sửu – Bích Thượng Thổ
  5. Bói tình yêu: Người Nhâm Dần, Quý Mão – Kim Bạch Kim
  6. Bói tình yêu: Người Giáp Thìn, Ất Tị – Phú Đăng Hỏa
  7. Bói tình yêu: Người Bính Ngọ, Đinh Mùi – Thiên Hà Thủy
  8. Bói tình yêu: Người Mậu Thân, Kỷ Dậu – Đại Trạch Thổ
  9. Bói tình yêu: Người Canh Tuất, Tân Hợi – Thoa Xuyến Kim
  10. Bói tình yêu: Người Nhâm Tý, Quý Sửu – Tang Đố Mộc
  11. Bói tình yêu: Người Giáp Dần, Ất Mão – Đại Khê Thủy
  12. Bói tình yêu: Người Bính Thìn, Đinh Tị - Sa Trung Thổ
  13. Bói tình yêu: Người Mậu Ngọ, Kỷ Mùi – Thiên Thượng Hỏa
  14. Bói tình yêu: Người Canh Thân, Tân Dậu – Thạch Lựu Mộc
  15. Bói tình yêu: Người Nhâm Tuất, Quý Hợi – Đại Hải Thủy

 

 

 

16. Bói tình yêu: Người Giáp Ngọ, Ất Mùi – Sa Trung Kim

 

Tại sao 2 tuổi này gọi là Sa Trung Kim (vàng trong cát): vì Ngọ là Đế vượng của Hỏa, khi Hỏa vượng thì Kim suy. Mùi là nơi Hỏa suy trong vòng trường sinh, Hỏa suy thì Kim trưởng thành nhưng Kim nhỏ giọt, ít ỏi chưa thể khởi vượng nên gọi là vàng trong cát.
 

Sa Trung Kim mới được hình thành, chưa thể dùng được nên cần có Hỏa để tôi luyện. Có thể dùng Sơn Đầu Hỏa, Phúc Đăng Hỏa, Sơn Hạ Hỏa để luyện Kim.

 

Sa Trung Kim cần có Thủy tĩnh, nên sợ gặp Trường Lưu Thủy, Đại Hải Thủy vì nó sẽ bị đem cát vùi đi. Cho nên cần phối hợp với Giản Hạ Thủy, Tuyền Trung Thủy, Thiên Hà Thủy mới tốt. Mệnh này sợ gặp Lộ Bàng Thổ vì sẽ làm Kim bị chôn vùi. Lưu ý, mệnh này không kị Hỏa mà nhờ Hỏa mới rèn giũa thành báu vật.


Để biết hai tuổi có hợp mệnh kết hôn hay không, bạn có thể tham khảo mục tra cứu Bói tình yêu - Xem bói tình duyên qua ngày tháng năm sinh của hai người. 
 

Xem boi tinh yeu qua luc thap hoa giap tuong khac1
 

 
 

17. Bói tình yêu: Người Bính Thân, Đinh Dậu – Sơn Hạ Hỏa

 

Gọi là Sơn Hạ Hỏa (lửa dưới núi) vì Thân Kim là cửa nở xuống dưới đất, Dậu là nơi về của thái dương. Hỏa lâm Bệnh ở Thân, Tử ở Dậu, như ánh dương khuất núi, gọi là lửa dưới núi.

 

Mặt trời đã xuống núi thì tự nhiên gặp Thổ gặp Mộc là tốt. Mệnh này không thích hợp với Tích Lịch Hỏa, Thiên Thượng Hỏa và Phúc Đăng Hỏa. Mệnh này không kỵ Thủy, nếu gặp Thủy suốt đời gần bậc đế vương.

 

18. Bói tình yêu: Người Mậu Tuất, Kỷ Hợi – Bình Địa Mộc

 

Vì sao gọi 2 tuổi này là Bình Địa Mộc (cây đồng bằng): vì nghĩa của Mậu là đồng bằng, Hợi là nơi sinh ra Mộc. Cây sinh ra ở đồng bằng không thể thành quần thể lớn mà chỉ là những đám nhỏ, cho nên gọi là cây đồng bằng.

 

Mệnh này sợ Kim, thích Thủy, Thổ và Mộc. Theo các nhà Dịch học xưa, người mệnh Mộc bị người mệnh Kim khắc, nhưng người Bình Địa Mộc gặp người mệnh Kim mới cao đặng, tức bị đẵn chặt mới chế biến thành vật quý.

 

19. Bói tình yêu: Người Canh Tý, Tân Sửu – Bích Thượng Thổ

 

Sở dĩ gọi là Bích Thượng Thổ (đất trên tường) vì Sửu là chính vị của Thổ, nhưng Tý là nơi Thủy vượng. Thổ gặp Thủy vượng tràn lan mà biến thành bùn, cho nên chỉ có thể đắp đập xây thành, nên gọi là đất trên tường.

 

Đất trên tường dùng để xây dựng, làm nhà, đầu tiên phải dựng cột, xà nên gặp Mộc sẽ tốt, gặp Hỏa thì xấu, gặp Thủy cũng được, nhưng không phải là Đại Hải Thủy. Mệnh này thích Kim Bạch Kim.


Xem thêm: Tổng hợp ý nghĩa các nạp âm của ngũ hành Thổ 
 

20. Bói tình yêu: Người Nhâm Dần, Quý Mão – Kim Bạch Kim

 

Gọi là Kim Bạch Kim (vàng pha bạc) vì Dần Mão là nơi Mộc vượng, Mộc vượng khiến Kim suy. Trong vòng trường sinh, Kim lại Tuyệt ở Dần, Thai ở Mão, nên tính Kim ở đây mềm yếu, không có lực nên gọi là vàng pha bạc hay kim loại màu.

 

Kim Bạch Kim gặp Bích Thượng Thổ, Thành Đầu Thổ mới có cơ hội phát triển. Mệnh này kỵ người mệnh Hỏa.

 

Xem boi tinh yeu qua luc thap hoa giap tuong khac2
 

 
 

21. Bói tình yêu: Người Giáp Thìn, Ất Tị – Phú Đăng Hỏa

 

Tại sao gọi 2 tuổi này là Phú Đăng Hỏa (lửa ngọn đèn) vì Thìn đã là trời sáng, Tị sắp đến buổi trưa. Khi mặt trời tỏa sáng, không phải đốt đèn chiếu sáng, cho nên coi ánh sáng mặt trời lúc  này như ngọn lửa đèn.

 

Lửa ngọn đèn là chiếu sáng ban đêm, nó không tách rời gỗ (Mộc) và dầu (Thủy), nên mệnh này gặp Mộc và Thủy đều tốt. Nó chỉ kỵ Hỏa mặt trời, hỏa sấm sét. Nếu gặp Tuyền Trung Thủy hay Kiếm Phong Kim sẽ thành quý.

 

Mệnh này sợ gặp Thổ trong ngũ hành, trừ Ốc Thượng Thổ. Người mệnh này kỵ gặp người mệnh Thủy.

 

22. Bói tình yêu: Người Bính Ngọ, Đinh Mùi – Thiên Hà Thủy

 

Gọi là Thiên Hà Thủy tức nước trên trời là vì Bính Đinh thuộc Hỏa, Ngọ là nơi Hỏa vượng, ấy vậy mà sinh ra Thủy, Thủy từ Hỏa xuất thì chỉ có từ trên trời xuống. Nguyên khí lên cao, khí thế sung túc hóa thành mây mù rơi xuống thành mưa, thúc đẩy sự sinh trưởng của vạn vật.

 

Nước trên trời vốn ở cao, nên Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ dưới đất không thể khắc chế được nó. Duy chỉ có Bích Thượng Thổ là tương xung Thiên Hà Thủy.

 

23. Bói tình yêu: Người Mậu Thân, Kỷ Dậu – Đại Trạch Thổ

 

Nguyên nhân gọi 2 tuổi này là Đại Trạch Thổ là vì Thân thuộc Khôn là đất. Dậu thuộc Đoài là đầm nước (trạch). Chữ dịch có một nửa chữ trạch, thật ra phải gọi bằng trạch thổ.

 

Mệnh này thích Tuyền Trung Thủy, Giản Hạ Thủy, Trường Lưu Thủy. Đồng thời Đại Trạch Thổ hợp với Kim Bạch Kim, Thoa Xuyến Kim. Người mệnh này gặp Mộc thì cuộc đời đặng thanh cao. Nhưng kỵ Đại Hải Thủy, Sơn Đầu Hỏa, Phú Đăng Hỏa.

 

24. Bói tình yêu: Người Canh Tuất, Tân Hợi – Thoa Xuyến Kim

 

Vì sao lại gọi 2 tuổi này là Thoa Xuyến Kim (vàng trang sức): vì theo vòng trường sinh, Kim Suy ở Tuất, Bệnh tại Hợi. Kim đã suy lại bệnh nên nhuyễn nhược, dùng để làm đồ trang sức.

 

Thoa Xuyến Kim sợ gặp Hỏa, thích gặp Thủy như Tuyền Trung Thủy, Giản Hạ Thủy, Trường Lưu Thủy, song lại kỵ gặp Đại Hải Thủy. Mệnh này cũng hợp với Sa Trung Thổ, vì Thổ sinh Kim.


Có thể bạn quan tâm: Tổng hợp ý nghĩa các nạp âm của ngũ hành Kim 
 

25. Bói tình yêu: Người Nhâm Tý, Quý Sửu – Tang Đố Mộc

 

Sở dĩ gọi 2 tuổi này là Tang Đố Mộc (gỗ cây dâu) vì  Tý thuộc Thủy (sinh Mộc), Sửu thuộc Thổ (sinh Kim). Thủy vừa sinh Mộc, Kim đã phạt Mộc như hình tượng của cây dâu vừa trổ lá non đã bị hái xuống mà nuôi tằm.

 

Gỗ cây dâu Sa Trung Thổ, Lộ Bàng Thổ, Đại Dịch Thổ thì rất tốt. Nếu gặp Tràng Lưu Thủy, Giản Hạ Thủy cũng giúp nó tươi tốt. Gặp Tùng Bách Mộc là mạnh yếu giúp đỡ lẫn nhau. Nếu gặp chính bản mệnh thì gọi là “Dâu liễu thành rừng”, là cảnh an cư lạc nghiệp.

 

Gặp Đại Lâm Mộc thì tốt, ví như nhánh sông nhỏ gặp nhánh sông lớn. Chỉ có gặp Thạch Lựu Mộc, Bình Địa Mộc mới bị tàn phá, chèn ép. Thêm nữa, Tang Đố Mộc kỵ người mệnh Kim.

 

Xem boi tinh yeu
 

 
 

26. Bói tình yêu: Người Giáp Dần, Ất Mão – Đại Khê Thủy

 

Trong tử vi, gọi là Đại Khê Thủy (nước suối lớn) vì Dần Mão thuộc phương Đông, Dần là nơi gió Đông vượng. Mão ở chính Đông, nếu hướng chảy chính Đông thì vô cùng thuận lợi, hội tụ thành dòng chảy ra sông mà thành suối lớn. Nước suối lớn cần chảy về biển liên tục không dứt.

 

Do đó, Đại Khê Thủy nên gặp Kim để được sinh. Nếu gặp các loại Thổ khắc hoặc phải sinh Mộc đều không hay, chỉ gặp Tang Đố Mộc là được. Người mệnh này nếu gặp người mệnh Thổ thì suốt đời không được ấm no.

 

27. Bói tình yêu: Người Bính Thìn, Đinh Tị - Sa Trung Thổ

 

Nguyên nhân gọi 2 tuổi này là Sa Trung Thổ (cát trong đất hoặc đất bãi cát): vì Thìn khố Tị tuyệt, Thiên can Bính Đinh đều thuộc Hỏa. Thổ vào tuyệt địa, đến chổ ẩn tàng (khố) lại được Hỏa sinh như được làm mới tất cả, giống như tro khi đốt bay lên trên trời rồi rơi xuống thành Thổ, nên mới gọi là cát trong đất.

 

Sa Trung Thổ gặp Thủy gặp Kim là quý, gặp Thiên Thượng Hỏa là thích. Nó cũng thích gặp Tang Đố Mộc và Dương Liễu Mộc, vì 2 loại cây này có cát mới tốt. Ngoài ra các loại Mộc và Hỏa khác đều không tốt.

 

28. Bói tình yêu: Người Mậu Ngọ, Kỷ Mùi – Thiên Thượng Hỏa

 

Lý do gọi 2 tuổi này là Thiên Thượng Hỏa (lửa trên trời) bởi vì Ngọ là nơi Hỏa Vượng, Mùi Kỷ đều là Mộc, mà Mộc lại sinh Hỏa, làm cho Hỏa càng vượng. Hỏa mạnh bốc lên trên trời nên gọi là lửa trên trời.

 

Thiên Thượng Hỏa thích Phú Đăng Hỏa, còn các loại Hỏa khác đều tương khắc. Nó thích gặp Thổ, nếu có Kim, Mộc sẽ hình thành một mệnh rất quý.

 

29. Bói tình yêu: Người Canh Thân, Tân Dậu – Thạch Lựu Mộc

 

Vì sao lại gọi 2 tuổi trên là Thạch Lựu Mộc (gỗ cây lựu): vì Thân là tháng 7, Dậu là tháng 8. Khi cây cối bắt đầu lụi tàn chỉ có cây thạch lựu là còn kết quả, nên gọi Canh Thân, Tân Dậu là Thạch Lựu Mộc.

 

Cây thạch lựu vào mùa Thu kết trái, tính Mộc cứng rắn, với Thủy, Mộc qua lại có thể hòa hợp thành tốt. Duy chỉ có Đại Hải Thủy là không tốt. Theo các nhà Dịch học xưa, người mệnh này gặp mệnh Kim thì kỵ nhưng nếu Kim yếu sẽ không sao.

 

30. Bói tình yêu: Người Nhâm Tuất, Quý Hợi – Đại Hải Thủy

 

Nguyên nhân gọi Nhâm Tuất, Quý Hợi là Đại Hải Thủy (nước biển lớn) vì Thủy đều đã trưởng thành ở Tuất và Hợi (Quan Đới ở Tuất, Lâm Quan ở Hợi), do đó có thế lực hùng hậu. Hợi cũng là Thủy, tượng trưng sông nhỏ đổ ra biển lớn nên gọi là nước biển lớn.

 

Nước biển lớn mênh mông vô tận, có thể dung hòa được Đại Khê Thủy, Giản Hạ Thủy, Thiên Thượng Thủy, Trường Lưu Hải… Mệnh này thích Thiên Thượng Hỏa, vì mặt trời mọc ở biển Đông; thích Hải Trung Kim; thích Tang Đố Mộc, Thạch Lựu Mộc; thích Đại Trạch Thổ, Lộ Bàng Thổ.

 

Ghi chú: Đây chỉ là một trong những gợi ý về chọn tuổi kết hôn, còn nhiều cách khác, bạn đọc nên tham khảo, tìm hiểu nhiều nguồn để có sự lựa chọn tốt nhất.

 

Lichngaytot.com

6 sai lầm ai cũng mắc phải khi xem tuổi kết hôn
Trước khi kết hôn, xem tuổi hay còn gọi là xem bát tự hợp hôn là thủ tục không thể thiếu. Nhưng có những sai lầm khi xem tuổi kết hôn mà rất nhiều người mắc

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem bói tình yêu: Nhân duyên sinh khắc qua 30 cặp mệnh nạp âm

Tiến hành phân loại các trung tâm mua bán như thế nào? (Phần 1) –

Từ khái niệm về thương phố (trung tâm mua bán) có thể thấy, phạm vi của nó là rộng lớn. không tiến hành phân loại có hiệu quả đối với nó thì không có cách nào đi sâu tiến hành nghiên cứu tương quan, càng không thể phân tích đối với đầu tư cửa hàng cử

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

a hiệu một cách chuyên nghiệp. Ở đây tiến hành phân loại đối với thương phố cũng phần nào giúp người đọc lý giải và sau đó tiến hành tham khảo việc đầu tư cửa hàng cửa hiệu.

a00bcab56c-1-trung-tam-thuong-mai-3-

Hình thức của thương phố đa dạng, trong các khu thương nghiệp, khu nhà ở, trung tâm mua bán lớn… Khắp nơi đâu cũng thấy thương phố – thương nghiệp thiết kế thực thi chính là do các cửa hàng cửa hiệu lớn nhỏ tổ hợp thành. Cho dù dều là cửa hàng nhưng rất hiển nhiên, các thương phố của các địa phương không giống nhau, loại hình không giống nhau, môi trường thương nghiệp, đặc điểm kinh doanh, đặc điểm đầu tư của chúng thể hiện không giống nhau. Ở đây nhất thiết phải tiến hành phân loại thương phố để giúp cho người đọc hiểu được cá tính hoá của cửa hàng cửa hiệu để sau đó dễ dàng tiến hành nghiên cứu chúng.

Tiến hành phân loại dựa vào việc mở rộng hình thức.

1. Thương phố trong phố thương mại

Phố thương mại chỉ lấy hình thức mặt phẳng theo hình thức của phố, bố trí hình thức đất đai sở hữu phòng thương nghiệp đơn tầng hoặc đa tầng, mặt cửa hàng men theo hai mặt phố và mặt bên trong của lầu thương nghiệp đều thuộc cửa hàng cửa hiệu phố thương mại ở Trung Quốc. Phố thương mại ở Trung Quốc qua 10 năm đã phát triển khá tốt, trong đó bao gồm kiến tài, linh kiện ôtô, phố phục trang, phố bar, phố thẩm mỹ viện… Một số các thương phẩm trên là nội dung kinh doanh sớm có trên phố thương mại, đa số trước mắt đều thu được các thành quả. Đương nhiên cũng không ít phố thương mại trộn lẫn các phương thức kinh doanh, tên phố thương mại chỉ thể hiện đặc điểm đặc trưng, những loại phố này thu được thành công không nhiều.

Quan hệ mật thiết với sự phát triển phố thương mại chính là các cửa hàng cửa hiệu phố thương mại, tình hình kinh doanh của các cửa hàng cửa hiệu trên phố thương mại hoàn toàn dựa vào tình hình kinh doanh tổng thể của phố thương mại: Phố thương mại kinh doanh tốt, người đầu tư đa số thu được lợi nhuận cao; phố thương mại kinh doanh không tốt thì tự nhiên các nhà đầu tư, các chủ hộ kinh doanh đều đứng trước các tổn thất.

2. Loại thị trường thương phố

Ở đây, chúng ta nói đến “thị trường” là chỉ các tòa nhà thương nghiệp dùng một loại nào đó hoặc tổng hợp các loại bán buôn, bán lẻ, kinh doanh sản phẩm, có một số là kiến trúc đơn tầng còn đa số là kiến trúc đa tầng. Vị trí thương phố bên trong các thị trường loại này chính là loại thị trường các của hàng cửa hiệu mà chúng ta muốn nói đến ở đây, bời hầu hết các nơi trên toàn quốc đều có lượng lớn thị trường chuyên nghiệp bán buôn và bán lẻ các sẩn phẩm kinh doanh nào đó. Ví dụ: thị trường sách vở thị trường điện tử, thị trường điện khí gia dụng…

3. Cửa hàng buôn bán trong khu vực

Phố buôn bán khu vực chỉ vị trí cửa hàng cửa hiệu phục vụ khu nhà ở, khu chung cư sinh hoạt, đối tượng kinh doanh chủ yếu là cư dân quanh vùng.

Hình thức biểu hiện của thương phố này chủ yếu là các lầu thương nghiệp từ 1 đến 3 tầng hoặc cửa hàng cửa hiệu có kiến trúc tầng đáy, một số mặt ngoài cửa hiệu có thể trực tiếp mở cửa kinh doanh bên ngoài nhưng đa số thuộc hình thức vị trí cửa hàng cửa hiệu.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tiến hành phân loại các trung tâm mua bán như thế nào? (Phần 1) –

Đạo thầy trò

Quan hệ thầy trò nói riêng về mặt phong tục cũng cần có một tập sách rêng. Để trả lời cho những câu hỏi về đạo thầy trò, chúng tôi thiết nghĩ mấy dòng sơ lược thì chưa thể nào nói cho hết được.
Đạo thầy trò

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Dân tộc ta vốn tôn sư trọng đạo, dưới chính thể nào cũng vậy. Vai trò thầy giáo luôn luôn tiêu biểu cho tầng lớp trí thức, tiên tiến được toàn thể xã hội công nhận. Nghề giáo vốn là nghề cao quí nhất. Nền giáo dục thời phong kiến cũng như thời dân chủ đều thống nhất một phương châm "tiên học lễ hậu học văn" "nhà trường gắn liền với gia đình và xã hội"... Nhân tài phục vụ xã hội, điều hành bộ máy Nhà nước đều được "ông thầy", tức là khuôn mẫu, đào tạo nên, "không thầy đố mày làm nên". Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức đều thống nhất dựa vào chế độ thi cử, có học vị, cấp bậc rõ ràng.   

Vì tất cả những lẽ trên, có người đặt vấn đề: Vậy đặt thầy cao hơn cha có quá đáng không?

Cha mẹ sinh ra, nuôi dưỡng mình, thầy giáo là người truyền thụ kiến thức cho mình. Sở dĩ hiển đạt, thi thô được tài năng với đời đều nhờ thầy. Ngày xưa, từ nhỏ đến khi đi thi đậu cử nhân, tiên sĩ thường cũng chỉ học một thầy cùng lắm là vài ba thầy, chứ không như ngày nay mỗi năm một lớp rồi mỗi môn một thầy. Ngày xưa có nhiều trường hợp thầy trò cùng lều chóng đi thi nhưng học tài thi phận , trò đậu thầy hỏng. Có những ông thầy đào tạo được nhiều ông Nghè, ông Cống nhưng bản thân ông thầỳ lại chẳng đậu đạt gì, chẳng nhận quan tước gì, có người thi đậu cũng không ra làm quan mà chỉ tiếp tục dạy học. Có những thầy giáo đạo cao đức trọng được môn sinh nể trọng hơn cha. Thầy Chu Văn An là người thầy tiêu biểu nhất được liệt thờ ở Văn Miếu.

Ngày xưa, thầy đồ dạy đỗ được một số học sinh đậu đạt cử nhân, tiến sĩ thì tự nhiên vai vế trong xã hội được nâng lên rõ rệt, quan tỉnh quan huyện cũng phải kính nể, chẳng những đối với thầy giáo mà cả gia đình thầy. Quang Trung ba lần mời Nguyễn Thiếp (La Sơn Phu Tử) ra làm quân sư, chính là để thu phục nhân sĩ Bắc Hà, vì Nguyễn Thiếp là thầy giáo của nhiều triều thần Lê Trịnh đương thời.

Ngành giáo dục tuy có chế độ thi hương, thi hội, thi đình rất nghiêm rất chặt, song rất ít giáo chức rất ít trường công, ở cấp huyện , cấp phủ chỉ có một vài huấn đạo giáo thụ ăn lương nhà nước, hầu hết là các lớp tư thục. Một nhà khá giả trong vùng nuôi thầy cho con ăn học , xóm làng chung quanh gửi ôn đến thụ giáo không phải nộp học phí, chỉ đến ngày mồng 5 tháng 5 ngày Tết... cha mẹ học trò mới đưa lễ tết đến tết thầy tuỳ tâm. Giàu có thì thúng gạo nếp, bộ quần áo...Nghèo thì một cơi trầu một be rượu cũng xong.

Môn sinh của một thầy thường tổ chức nhau lại gọi là Hội đồng môn, có trưởng tràng, giám tràng và một số cán tràng giúp việc trưởng tràng. Con thầy mặc dầu ít tuổi hơn cũng được gọi là thế huynh. Thầy nào có tiếng dạy giỏi, dạy nghiêm thì được nhiều sĩ tử đến theo học , Hội đồng môn vận động các gia đình môn sinh đóng góp tiền của tạo ruộng, tạo trâu bò rồi phân công cày cấy, đến mùa màng gặt tự gánh về gia đình nhà thầy để gia đình thầy chi dụng. Khi thầy mất lại dùng rụông đó lo tang ma cho thầy, cho vợ thầy và giỗ tết tế tự về sau.

Học trò để tang thầy cũng ba năm như tang cha mẹ, nhưng không mặc tang phục, gọi là tâm tang tức là để tang trong lòng.

Cụ Thượng Niên về lễ tang vợ thầy :

    Nguyễn Khắc Niên (1889-1954) người Sơn Hoà, Hương Sơn, Hà Tĩnh đậu Đệ nhị giáp Tiến sĩ (tức Hoàng Giáp) khoa Đinh Mùi 1907 làm Thượng thư bộ Cải lương hương chính triều  Bảo Đại. Nguyễn Khắc Niên là học trò cụ Nguyễn Duy Dư người Sơn Tiến, một người nổi tiếng hay chữ ở huyện  Hương Sơn, đã được hội Tư văn hàng huyện tôn xưng là "Hương Sơn tứ hổ". Nguyễn Khăc Niên thụ giáo cụ Dư ở cách nhà mình trên 4 km. Đến kỳ thi Hương hai thầy trò cùng lều chõng đi thi, học trò đậu cử nhân, được vào Huế thi Hội đậu luôn Hoàng giáp, thầy chỉ đậu Tú tài. Theo chế độ thi cử thời trước: Cử nhân mới được dự thi Hội, còn  Tú tài thì phải 3 khoa Tú tài mới được thi. Ba năm mới có một khoa, thầy Tú chưa kịp chờ để thi lại khoa sau thì đã từ trần- 1909. Hơn 30 năm sau, bà Tú Dư mất, lúc đó Nguyễn Khăc Niên đã lên đến chức Thượng thu trong triều. Nghe tin vợ thầy học cũ mất, ông đánh xe từ Huế về Hà Tĩnh để phúng viếng. Nhà cách sông và đường quốc lộ, Tri huyện tiếp điện đã lệnh cho Tổng lý địa phương đem kiệu và võng lọng ra tận bờ sông đón rước cụ thượng về quê lễ vợ thầy. Nhà ông bà Tú trên đỉnh đồi Sơn Trại, người trai tráng leo lên cũng cảm thấy mệt, hơn nữa sỏi đá lởm chởm. Nhưng để tỏ lòng cung kính nhớ ơn thầy, cụ thương Niên đã xuống cáng, đi chân đất có hai người lính hầu dìu hai bên, lên tận nhà thầy gần đỉnh đồi . Tất nhiên cụ Thượng thư đã đi chân đất thì từ tuần phủ tri huyện đến tổng lý cũng phải tháo hia hài cắp nách mà leo lên. Người con trưởng cụ Tú và một số gia nân khăn áo chỉnh tề đã xếp hàng đứng ở cổng. Mặc dầu chỉ là dân thường ít hơn một vài tuổi, nhưng con trai cụ Tú cũng được Cụ Thượng Niên vái chào rất cung kính (vì được coi là thế huynh).

Học trò cũ mà thầy lại mất từ lâu, nay về lễ tang vợ thầy, đây là chuyện thực mắt thấy tai nghe, kể lại dẫu có lỗi thời, nhưng cũng hy vọng các bạn đọc chắt lọc được trong phong tục xưa chút hương vị ngọt ngào chăng ?


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đạo thầy trò

Nghi lễ gia tiên trong cưới hỏi hai miền

Nghi lễ gia tiên là một nghi lễ quan trọng khong thể thiếu trong cưới hỏi của người Việt. Nghi lễ thể hiện sự tôn kính với tổ tiên bên nhà trai và nhà gái
Nghi lễ gia tiên trong cưới hỏi hai miền

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nghi lễ gia tiên là một nghi lễ quan trọng khong thể thiếu trong cưới hỏi của người Việt. Nghi lễ gia tiên thể hiện sự tôn kính với tổ tiên và nhằm báo cáo với tổ tiên ở nhà trai và nhà gái trong lễ ăn hỏi và lễ thành hôn.

Cưới hỏi là công việc rất quan trọng là công việc đại sự của cả một đời người do vậy khi chuẩn bị cưới cô dâu nên tham khảo các nghi lễ cưới cũng như phong tục cưới hỏi ở mỗi vùng miền để rổ chức một tiệc cưới và lễ ăn hỏi phù hợp và tiết kiệm nhất.

## mang đến cho bạn trẻ một vài kiến thức bổ ích trong phong tục cưới hỏi của người Việt đó là nghi lễ gia tiên trong cưới hỏi hai miền.

Tùy thep phong tục cưới hỏi và tập quán ở từng vùng miền mà nghi lễ gia tiên trong lễ ăn hỏi và lễ cưới được tiến hành khác nhau. Bên cạnh những điểm khác nhau thì nghi lễ gia tiên ở hai miền vẫn có sự giống nhau thể hiện điểm chung của dân tộc Việt.

Nghi lễ gia tiên trong cưới hỏi ở miền Bắc:

Lễ gia tiên ở đám cưới miền Bắc bắt buộc phải thực hiện ở cả ngày ăn hỏi và đám cưới, đồng thời, phải thực hiện ở cả nhà trai và nhà gái. Về cách thức, cô dâu chú rể sẽ cùng cha mẹ thắp hương trên bàn thờ gia đình, coi như tưởng nhớ, báo cáo với gia tiên.

Để chuẩn bị cho lễ ăn hỏi và lễ cưới của con thì gia đình cha mẹ hai bên phải dọn dẹp bàn thờ sạch sẽ và tươm tất. Phải chuẩn bị đầy đủ những sính lễ cần thiết: một cỗ xôi gà, một mâm ngũ quả, 3 quả cau và ba lá trầu, rượu, trà.

Nghi lễ gia tiên trong ngày lễ ăn hỏi sẽ được tiến hành như sau:

  • Sau khi gia đình nhà trai được các mâm quả đến để xin cưới thì bên nhà gái sẽ lấy một phần sính lễ đó đặt lên bàn thờ của họ nhà gái và thông báo cho tổ tiên nhà gái
  • Thông báo hôm nay là ngày lành tháng tốt hai nhà trai và gái tổ chức lễ ăn hỏi cho hai con và có lễ vật xin dâng lên bàn thờ tổ tiên
  • Mong tổ tiên chứng giám và phù hộ cho hai con trăm năm hạnh phúc và chính thức thông báo cho bề trên được biết từ nay nhà gái sẽ có thêm một chàng rể mới

Nghi lễ gia tiên trong cưới hỏi ở miền Nam:

Với phong tục tập quán của người miền Nam thì việc trang trí bàn thờ gia tiên rất được chú trọng và vấn đề thẩm mỹ được đặt lên cao.

  • Thường các gia đình sẽ lập một bàn thờ giả ngay tại phòng khách rộng rãi nhất để đảm bảo được sự trang trọng.
  • Bàn thờ gia tiên sẽ được treo phông đỏ, treo chữ hỷ và câu đối, cặp lư đồng đã được đánh bóng kỹ trước đó, cặp mâm quả hình long phụng kết tỉ mỉ, bình hoa lớn.
  • Trên bàn thờ cũng có thể để ảnh tổ tiên, ông bà hoặc có thể bỏ trống, bày sẵn mâm ngũ quả, gà luộc hoặc cầu kỳ hơn, có thể đặt mâm trái cây hình long phụng để bàn thờ thêm đẹp mắt.
nghi lễ gia tiên
Trên bàn thờ cũng có thể để ảnh tổ tiên, ông bà hoặc có thể bỏ trống

Với lễ gia tiên ở miền nam thì không thể thiếu cặp đèn cầy màu đỏ để đạt lên bàn thờ. Cặp đèn cầy màu đỏ có khắc hình long phụng thể hiện cho tình yêu của cô dâu chú rể mãi mãi bền chặt.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nghi lễ gia tiên trong cưới hỏi hai miền

Nhập trạch cần những gì?

Khi dọn nhà đến nhà mới, nếu bạn là một người đã có gia đình thì người vợ trong gia đình nên cầm 1 cái gương tròn đem vào nhà trước. Tiếp theo là người chồng bưng bát nhan(nồi hương) bàn thờ tổ tiên vào trong nhà, rồi mới lần lượt sau đó đem bếp lửa, chăn, nệm gạo…v.v vào nhà. Nếu nhà không có đàn ông thì người mẹ mới bưng bát nhang tổ tiên vào nhà. Sau đó các con đêm các đồ khác vào sau.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nên dọn dẹp chuyển hết đồ đạc vào bên trong nhà rồi mới tiền hành dọn cúng sau.

Và một điều cần lưu ý khi vào nhà mới thì mọi người ai cũng phải cầm một thứ gì đó trên tay, không được đi tay không vào nhà. Tuổi dần thì nghiêm cấm phụ dọn nhà kể cả phụ nữ có thai cũng không được.Trong giờ tốt, gia chủ tự tay cầm tiền bạc nữ trang, tài sản quý giá cất vào tủ.

Và nếu bạn đi đám nhà mới hay còn gọi là Tân gia, bạn nên mua theo một số vật dụng trong gia đình đến tặng bạn bè, những thứ vật dụng như soong nồi, chén bát, nó có ý nghĩa mang lại sự sung túc cho gia đình gia chủ.

văn khấn nhập trạch văn phòng văn khấn nhập trạch nhà thuê thủ tục nhập trạch webtretho thủ tục nhập trạch về nhà mới thủ tục nhập trạch vào nhà mới thủ tục nhập trạch văn phòng thủ tục nhập trạch như thế nào thủ tục nhập trạch nhà thuê thủ tục nhập trạch nhà chung cư thủ tục nhập trạch nhà nhập trạch văn phòng mới nhập trạch văn phòng nhập trạch thủ tục nhập trạch nhà thuê nhập trạch cần những gì nhập trạch cần chuẩn bị những gì lễ nhập trạch văn phòng lễ nhập trạch nhà thuê lễ nhập trạch cho nhà thuê lễ nhập trạch cần những gì làm lễ nhập trạch cần những gì cúng nhập trạch nhà thuê cúng nhập trạch cần những gì cách cúng nhập trạch nhà thuê bài khấn nhập trạch văn phòng bài khấn nhập trạch nhà thuê bài cúng nhập trạch nhà thuê

CÁC LỄ VẬT CÚNG NHÀ MỚI

Khi cúng động thổ, quý vị hãy chuẩn bị các lễ vật sau : ngũ quả ( là 5 loại trái cây ), bông tươi, nhang đèn,1 bộ tam sên ( 1 miếng thịt luộc, 1 con tôm luộc, 1 trứng vịt luộc ), xôi thịt, 3 miếng trầu cau ( đã têm ), giấy vàng bạc, 1 dĩa muối gạo, 3 hũ nhỏ đựng muối-gạo-nước.
Sau khi cúng xong, đốt giấy vàng bạc và rải muối gạo hãy động thổ. Riêng 3 hũ muối-gạo-nước thì cất lại thật kỹ. Sau này khi nhập trạch thì đem để nơi Bếp, nơi thờ cúng Táo Quân.
Nhớ mỗi kỳ đổ mái -đổ thêm tầng đều phải sắm lễ cúng vái.

VĂN KHẤN GIA TIÊN KHI NHẬP TRẠCH

NAM-MÔ A-DI-ĐÀ PHẬT !

LIỆT TỢ LIỆT TâNG…(ghi họ tộc chỗ này) GIA TẠI THƯỢNG

CỬU HUYỀN THẤT TỢ NỘI NGOẠI…..GIA TIÊN LINH.

Hôm nay là ngày……tháng……năm……
Gia đình chúng con dọn đến đây là……………………..(ghi địa chỉ)

Hôm nay chúng con thiết lập hương án, sắm sanh phẩm vật, trước linh vị kính trình các Cụ tổ Tiên nội ngoại 2 bên : nhờ hồng phúc Tổ Tiên, nhờ Âm Đức cha mẹ, chúng con đã tạo được ngôi gia. Nay hoàn tất thi công, chúng con chọn được ngày lành tháng tốt để di cư nhập trạch, kính rước chư Hương linh Tiên Tổ về đây để chúng con sớm hôm hương khói tỏ lòng hiếu kính. Cúi xin, ông Bà Tổ tiên nội ngoại 2 bên thương xót con cháu, chứng giám lòng thành giáng lâm linh án thụ hưởng lễ vật. Độ cho chúng con phước lộc song tu, gia đạo hưng long, xuất nhập bình an, lộc tài thạnh vượng.
Cúi mong Anh linh Tiên Tổ chứng giám, thọ cảm ân sâu. 

Kính cáo.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nhập trạch cần những gì?

Những nguyên tắc cần biết khi trang trí nội thất

Trang trí nội thất là khâu quan trọng làm cho tổ ấm của bạn hoàn thiện hơn. Mời bạn tiếp tục tham khảo những lưu ý sau đây để tránh mắc lỗi khi trang trí nội thất.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Chọn đồ không ăn nhập gì với nhau

Một trong những sai lầm lớn nhất mà mọi người hay mắc phải trong trang trí nội thất là không hiểu về tầm quan trọng của kích thước và tỉ lệ. Những vật dụng để trong phòng như bàn, ghế hay tủ nên có kích cỡ tương đồng với nhau. Nếu bạn chọn chiếc bàn to quá khổ so với ghế ngồi hay các thứ quá nhỏ so với không gian căn phòng thì sẽ khiến mọi thứ mất cân bằng.

Mất tiền để dùng giấy dán tường kín hết phòng

Mọi người thường nghĩ họ cần phải dùng giấy dán hết tường của căn phòng, nhưng thực tế, điều đó không những gây lãng phí mà còn khiến không gian căn phòng trở nên chật hẹp hơn vì những họa tiết của giấy dán tường. Tốt nhất bạn chỉ nên chọn nơi để dùng giấy dán tường sao cho nó trở thành điểm nhấn của căn phòng mà không gian trong đó vẫn tạo cảm giác thông thoáng.

Không để ý xem cảnh quan ngoài trời như thế nào

Một điều quan trọng nữa là cần phải trang trí căn phòng sao cho phù hợp với môi trường bên ngoài. Ví dụ, nếu nhà bạn ở vùng khí hậu nóng quanh năm thì đừng ngại ngần bỏ bớt một số đồ đạc không cần thiết để căn phòng thoáng mát hơn, hay nếu ngoài trời lạnh giá, hãy dùng tông màu nóng để mang lại cảm giác ấm áp cho ngôi nhà.

Cố gắng để mọi thứ "đồng bộ" với nhau

Đây cũng là một lỗi cơ bản khi mọi người suy nghĩ quá nhiều về việc chọn cái gì để "đồng bộ" với những đồ mình đã có sẵn. Hãy coi việc trang trí cho ngôi nhà giống như việc bạn lựa chọn bộ quần áo cho mình vậy. Tất cả cũng cần phải có sự kết hợp từ nhiều chất liệu, màu sắc khác nhau để tạo được điểm nhấn cho ngôi nhà. Làm vậy bạn cũng sẽ dễ dàng thay đổi phong cách hơn là khi diện cả "nguyên cây" đồng bộ.

Dùng những đồ đạc đã lỗi thời

Một ngôi nhà đẹp cần phải có nội thất hợp theo xu hướng. Nhưng không vì thế mà bạn phải thay tất cả đồ đạc trong nhà mỗi khi nghĩ đến chuyện trang hoàng lại. Chỉ cần thay chiếc chạn bếp hay tủ phòng khách cũng khiến căn phòng trở nên mới mẻ hơn rồi.

(Theo Đẹp Plus)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những nguyên tắc cần biết khi trang trí nội thất
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd