Mơ thấy đồng hồ đeo tay và đồng hồ báo thức: Sắp xếp thời gian không hợp lý –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Thông thường, bộ máy tiêu hóa do 5 sao chỉ định: Thiên Đồng, Đại Hao, Tiểu Hao, Thiên Riêu, Hỷ Thần. Chỉ riêng Thiên Riêu chỉ ruột và Hỷ Thần chỉ Hậu Môn, ba sao còn lại không chỉ đích danh bộ phận nào trong bộ máy tiêu hóa. Theo nguyên tắc, hễ sao chỉ bộ máy tiêu hóa mà đi chung với sát tinh, hình tinh, hao bại tinh, ám tinh thì tất bị bệnh.
Địa Không, Địa Kiếp: đây là hai sao chỉ bệnh nặng nói chung, trong đó có bệnh về bộ máy tiêu hóa nếu đi chung với một trong 5 sao chỉ bộ máy tiêu hóa. Vì Không Kiếp chỉ ung nhọt, chốc lở nên bộ máy tiêu hóa có thể bị rách, chảy máu. Về cường độ, vì Không Kiếp là sát tinh hạng nặng cho nên bệnh sẽ nặng, nhất là khi hãm địa. Vốn là sao Hỏa, nên bệnh bột phát bất ngờ.
Thiên Hình, Kiếp Sát: một trong hai sao này chỉ về mổ xẻ. Bộ máy tiêu hóa có thể bị giải phẫu. Bệnh sẽ tương đối nặng, nhất là khi gặp cả hai sao.
Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh: bốn sao này chỉ bệnh nhưng không rõ tính chất và cường độ nhưng chắc chắn không nặng bằng Không Kiếp.
Đại Hao, Tiểu Hao: Đúng ra, Song Hao chỉ bệnh đau bụng, tiêu chảy. ở Mệnh hay Tật, Song Hao chỉ tạng của người hay đi tiêu chảy, tái đi tái lại, hầu như kinh niên. Cũng có thể là bệnh ăn không tiêu, kém ăn, trúng thực, thượng thổ hạ tả.
Hóa Kỵ: chỉ trục trặc nhỏ trong bộ máy tiêu hóa, do sự dùng thuốc quá liều, hay ăn trúng phải chất có hại cho tiêu hóa (Hóa Kỵ là hóa chất).
Thiên Khốc, Thiên Hư: chỉ sự lục đục, hao hoại ngấm ngầm của bộ máy, không hẳn là bệnh nhưng gây khó chịu như ăn không tiêu, trục trặc không rõ căn nguyên. Một nguyên do khả hữu là vì bộ răng không tốt, nhai thức ăn không kỹ. Đây cũng là một bệnh kinh niên.
Ngoài ra, những bộ sao dưới đây liên quan đến bệnh tiêu hóa nói chung:
- Thái Âm hãm địa
- Vũ Khúc, Thất Sát
- Thiên Đồng, Hóa Kỵ
- Thiên Trù, Đại, Tiểu Hao
bệnh do ăn uống quá độ hoặc ăn món lạ bị ngộ độc. Đây là bệnh của người ăn nhiều cao lương mỹ vị, trà dư tửu hậu, thường thấy trong giới ngoại giao, bợm nhậu.
Riêu, Đà, Kỵ: đau bao tử, đau ruột
Không, Kiếp, Bệnh, Cơ: bệnh mật
Không, Kiếp, Hỷ Thần: bệnh trĩ
Tham, Đà: bệnh do ăn uống quá độ, bội thực
Bệnh Phù: hay đau dạ dày, đầy hơi, kiết lỵ hoặc thiếu dinh dưỡng sinh ra phù thũng.
Địa Không, Địa Kiếp: chỉ bệnh đau phổi dưới nhiều hình thái và cường độ khác nhau từ ho, suyễn, yếu phổi, kém khí cho đến lao, ung thư phổi, sưng phổi.
Tang, Hổ, Khốc, Hư: ho lao
Thái Âm hãm địa: đau phổi
Thiên Cơ, Khốc, Hư: phong đờm, ho ra máu
Thiên Khốc: phổi yếu, hay ho vặt
Hình, Bệnh hay Tử: có thể bị lao hay kinh phong
Ngoài ra, những sát tinh, hình tinh, hao bại tinh, kỵ tinh ứng dụng vào bộ máy hô hấp sẽ mô tả thêm rõ hơn hình thái hoặc cường độ của bệnh. Ví dụ, gặp Thiên Hình Kiếp sát thì bệnh hô hấp có thể phải mổ, bị Song Hao thì bệnh phổi hay tái phát nhiều lần gần như trầm kha; gặp Hóa Kỵ thì sinh thêm bệnh tiêu hóa vì dùng quá nhiều thuốc trị phổi; gặp Lưu Hà thì có thể là phổi có nước ...
Hai sao Tang Môn và Bạch Hổ chỉ máu.
Lâm Quan, Hỏa hay Linh: bệnh chảy máu cam, xuất huyết, đứt mạch máu
Bạch Hổ: máu xấu, nhất là đối với phụ nữ.
Tang Môn, Bạch Hổ: bệnh khí huyết, bệnh thiếu máu, căng mạch máu, yếu tim, đau tim.
Đào Hoa, Hồng Loan: yếu tim
Lưu Hà: bệnh máu loãng, hay ra máu khi bị thương, bệnh hoại huyết
Thiên Riêu hay Thiên Hư: bệnh suy thận, dương hư
Tham, Riêu - Đào, Hồng, Không, Kiếp - Riêu, Cái: chỉ bệnh phong tình
Đào, Hồng, Kỵ, Mộc - Đào, Hình, Thai, Mộc: chỉ bệnh "phạm phòng".
Thai, Không, Kiếp: chỉ bệnh đau tử cung, lệch hay sa tử cung
Cự, Kình, Hỏa - Tham ở Tý, Ngọ (có thể đi kèm với Đà La): bệnh do tửu sắc, sinh dục quá độ.
Nếu đi chung với Không Kiếp thường là nặng và có máu mủ; với Thiên Hình, Kiếp Sát có thể bị mổ xẻ ...
Những sao bệnh về tai,mũi, họng: Long Trì chỉ mũi, Phượng Các chỉ tai,Phá Toái chỉ cuống họng.
Phượng, Kình, Đà: bệnh ở tai, cứng tai, lãng tai, sớm lãng tai, điếc.
Trì, Khốc, Hư: bệnh lở mũi, có Thiên Hình là có mổ, có Hỏa Tinh Linh Tinh là có đốt.
Lâm Quan, Địa Kiếp: bệnh yết hầu, thịt dư ở cổ họng.
Phá Toái, Hình hay Hư, Khốc: đau cuống họng, tiếng khàn rè
Riêu: đau răng, hư răng, sớm rụng răng.
Những bệnh của sản phụ:
Đào, Hồng, Kình, Kỵ, Mộc: bệnh tiểu sản, hậu sản
Không, Kiếp, Mộc hay Kỵ, Mộc: bệnh sản thai, đau dạ con, khó đẻ
Nguyệt hãm hay Nguyệt, Kỵ hay Nhật, Kỵ, Hư: âm hư, kinh nguyệt không đều, dương hư, có bệnh về bộ phận sản dục ảnh hưởng đến sự thụ thai, sinh đẻ.
Lưu Hà hay Tang, Hổ: khi sinh đẻ hay bị băng huyết vì máu loãng.
Những bệnh ngoài da:
Vũ, Cơ: Bệnh ngoài da hay tê thấp.
Tướng ở Mão, Dậu: da mặt vàng, có bệnh thuộc khí huyết hoặc ngoài da.
Cơ, Nguyệt: hay có mụn nhọt
Không, Kiếp, Cơ: mụn nhọt, lở chốc có máu mủ
Phá: máu nóng lúc nhỏ tuổi sinh nhọt
Liêm, Phá: chân tay có tỳ vết
Kình, Cái, Không, Kiếp: phát ban, lên đậu
Hỏa, Linh, Mộc: phỏng nước, phỏng lửa
Liêm hãm, Hình, Kỵ: máu nóng sinh nhọt
Cự Môn hãm: môi thâm
Tham Xương: lang ben, da loang lổ
Những sao có ý nghĩa bệnh về mắt:
Nhật, Nguyệt chỉ cặp mắt. Nhật là mắt trái. Nguyệt là mắt phải. Đi với sát, hình, hao, bại tinh, mắt bị bệnh từ nặng đến nhẹ.
Nhật, Kình, Kỵ ở Hợi, Tý: bị đau mắt có thể mù
Nguyệt, Riêu, Hình, Kỵ: cũng đồng nghĩa
Đà, Riêu, Kỵ: mắt kém
Phá, Vũ: hay đau mắt
Những sao có ý nghĩa bệnh về thần kinh:
Thái Dương, Thái Âm sáng sủa thường là chỉ dấu của bệnh thần kinh, biểu lộ dưới nhiều hình thái như mất ngủ, căng thẳng tinh thần, tăng huyết áp, lo âu quá đáng.
Nhật, Cự: ngây ngô, hơi khùng, suy luận không bình thường. Nhật càng sáng, bệnh càng nặng.
Nhật, Không, Kiếp - Phá, Hỏa, Linh - Nhật và nhiều sao hỏa ở cung Hỏa - Phá, Kình, Đà, Hình, Kỵ: khùng và điên.
Ngoài ra, Mệnh nào có Tang Hổ Khốc Hư Cô Quả Đẩu Quân thường u buồn, ủy mị, dồn ép.
Những sao có ý nghĩa bệnh ở chân tay, gân cốt:
Về cơ thể, chân tay do Thiên Mã chỉ danh. Về bệnh lý, Kình, Đà cũng có nghĩa bệnh tật liên quan đến tứ chi.
Mã, Đà: có tật ở chân tay
Mã, Hình: có thương tích ở chân tay
Mã, Tuần, Triệt: trật xương, gãy chân tay
Hình, Đà: chân tay bị yếu gân
Vũ, Riêu: tê thấp hoặc phù chân tay
Những bệnh lạ:
Cơ, Hỏa, Linh: bệnh ma làm, quỷ ám
Riêu, Hỏa, Linh: bị ma quỷ phá phách, quấy nhiễu
Sát, Hao, Mộc, Kỵ: ung thư
Bệnh Phù, Hình, Kỵ: hủi
Những tật:
Vượng, Kình, Đà hay Hình: lưng có tật: lưng gù, sái chiều nghiêng về phía phải hay trái.
Mã, Đà hay Tuần Triệt: có tật ở chân tay: què, chân dài chân ngắn, tay cán xẻng, tay lọi, chân hay tay to nhỏ không đều, có thể cụt một chân hay một tay, hoặc mất bàn chân, bàn tay.
Việt, Đại Tiểu Hao: so vai, xệ vai, vai cao, vai thấp. Khôi, Việt gặp Hình cũng có nghĩa này.
Tướng, Hình: có tật ở trên đầu: đầu méo, đầu to hay thật nhỏ, đầu xói hết tóc ...
Phục, Hình: nói ngọng
Tuế, Đà, Riêu, Cái: nói lắp
Vũ, Riêu, Việt, Toái: câm
Sát, Kình, Đà, Linh, Hỏa: gù lưng
Cự, Hỏa hay Linh: miệng méo
Kỵ, Riêu: sứt môi
Phượng, Kiếp, Kình: điếc
Trì, Kình: mũi sống trâu, mũi lệch
Nhật, Nguyệt gặp Riêu, Đà hay Kỵ: mắt có tật: cận thị, viễn thị, loạn thị. Nếu gặp cả ba thì tật nặng có thể lòa, quáng gà.
Vũ, Tướng: có ám tật, tật kín
Cự, Nhật: hình dáng dị kỳ
Tồn, Không, Kiếp: có ám tật mới sống lâu.
Giấc mơ có khi là sự tái hiện những sự kiện trong ngày nhưng nhiều khi là dấu hiệu báo trước cho một điều gì đó.

Bí ẩn về giấc mộng và giải mộng đã là chủ đề được quan tâm từ nhiều thế kỷ nay và thu hút các nhà nghiên cứu từ Đông sang Tây. Triết gia người Phổ – Friedrich Wilhelm Nietzsche cho rằng giấc mơ là sự bổ sung cho những niềm vui và mỹ cảm mà ban ngày con người không làm được. Còn nhà tâm lý học nổi tiếng Sigmund Freud đưa ra nhiều bằng chứng chứng minh ý nghĩa của giấc mơ là nhằm đáp ứng nguyện vọng của bản thân và là khởi nguồn để lý giải vô thức.
Vậy giấc mơ báo hiệu điều gì? Nó thể hiện sự mong muốn của bản thân hay có tính dự báo như thế nào nhé.
Mơ hẹn hò
Đây là giấc mơ báo hiệu sự phát triển về mặt tình cảm nói chung nhưng ý nghĩa cụ thể ra sao thì lại tùy thuộc ở những chi tiết khác trong bối cảnh giấc mơ.
Trước hết là địa điểm của giấc mơ. Nếu hẹn hò ở bờ biển hay trên núi thì đối phương đã dần có tình cảm sâu đậm với bạn, tình cảm của các bạn sẽ ngày một tốt hơn. Nếu ở rạp chiếu phim hoặc xem phim thì tình yêu đơn phương của bạn sẽ có kết quả. Còn đia điểm cuộc hẹn ở công viên hoặc khu vui chơi giải trí, đó là điềm báo sẽ có người tiếp cận bạn, vận đào hoa của bạn đang rất tốt.
Bên cạnh đó, một số địa điểm lại chủ về sự thay đổi tiêu cực. Ví dụ mơ thấy tới nhà ăn hoặc quán cà phê cho thấy trong lòng bạn dường như đang có sự thay đổi lớn. Nếu cuộc hẹn nhau ở bảo tàng mỹ thuật hoặc viện bảo tàng nào đó cho thấy bạn có thể quen được đối tượng khác ngoài người mà hiện tại bạn đang yêu. Mơ thấy xem boihẹn hò với tình nhân thì đó là điềm báo nhắc nhở bạn không nên có tư tưởng hai lòng trong chuyện tình cảm
Mơ thấy hôn
Hôn là một phương thức thể hiện tình cảm nên mơ thấy hôn nhau cho thấy bạn mong muốn đối phương hiểu được tâm tình của bạn. Vì vậy nếu mơ thấy hôn người đồng tính cũng không có gì lạ.
Mơ thấy hôn người yêu cũ cho thấy trong lòng bạn vẫn còn rất yêu người đó, rất muốn nối lại mối duyên với họ hoặc có thể ngầm báo hiệu bạn không hài lòng về người yêu hiện tại, muốn có cảm giác khác lạ từ đối tượng mới này.
Trong mơ thấy hôn người yêu là điềm báo vô cùng tốt. Nó cho thấy tình yêu của các bạn sẽ có kết cục có hậu. Các bạn sẽ nhanh chóng tiến vào lễ đường tổ chức hôn lễ. Nhưng nếu người đã có gia đình rồi mà mơ thấy hôn vợ con, hoặc được họ hôn là báo hiệu trong cuộc sống bạn dành quá ít tình yêu và sự quan tâm đến họ. Bạn cần phải suy nghĩ về những người quanh mình, quan tâm đến họ nhiều hơn nữa
Mơ thấy hôn người không quen biết lại là một điềm báo cho thấy bạn có thể rơi vào bẫy của kẻ địch. Bởi vậy nếu có giấc mơ này bạn nên cẩn thận, suy xét chu đáo để tránh rắc rối. Nhưng nếu mơ thấy hôn người nước ngoài thể hiện rằng người nằm mơ rất tự tin về mình và có khả năng khắc phục được mọi khó khăn trong cuộc sống.
Mơ thấy đám cưới
Việc hôn nhân là đại sự của đời người, bạn sẽ từ cuộc sống độc thân bắt đầu cuộc sống gia đình với bao trách nhiệm cho nên việc hôn nhân là tượng trưng cho trách nhiệm và sứ mệnh.
Mơ thấy mình sắp kết hôn là điềm báo tiến trình sự nghiệp của bạn sẽ rất tốt, mọi sự hanh thông thuận lợi.
Phụ nữ chưa kết hôn mà mơ thấy đám cưới của mình với một người đàn ông khác thì đó là điềm báo hôn sự của họ sẽ vì sự ra đi đột ngột của người thân mà phải hoãn lại.
Một giấc mơ kỳ cục nhưng không phải là không xảy ra là giấc mơ kết hôn với một quý bà. Nếu gặp giấc mơ này thì đó là dấu hiệu báo tin bạn sẽ được di sản của bà con họ hàng.
Người độc thân nói chung cả nam lẫn nữ mà mơ thấy kết hôn, đó là dấu hiệu báo rằng thu nhập của họ sẽ giảm sút.
Mơ thấy tham gia hôn lễ của một người quen tức là sắp có chuyện thị phi, cần lưu tâm chú ý. Trong khi đó mơ thấy tham gia hôn lễ một người lạ thì lại mang ý nghĩa về sức khỏe nhiều hơn. Nó báo hiệu bạn đang có vấn đề về sức khỏe.
Người đã kết hôn mà mơ thấy đám cưới của bạn đời mình thì có nghĩa là trong lòng người nằm mơ đã có ý nghĩ chia tay hoặc không hài lòng với cuộc hôn nhân hiện tại.
Mơ thấy mặc lễ phục hôn lễ tức là người nằm mơ đang nỗ lực liên kết nguyện vọng chủ quan và khách quan với nhau. Mặt khác, nếu mơ thấy mình làm chủ hôn thì đó lại là dấu hiệu cho thấy bạn sẽ được tán thưởng trong công việc và có thể được đề bạt.
Nếu trong mơ thấy mình và người bạn từ thuở nhỏ kết hôn có nghĩa là bạn đang tìm kiếm một người bạn đời có tình cảm tương tự như người bạn thuở nhỏ của mình.
![]() |
| Ảnh minh họa |
Tiến hành công việc giặt giũ, lau rửa bồn tắm…chia nhỏ việc cần làm sẽ giúp các bà nội trợ dễ thở hơn. Những sự thay đổi nho nhỏ trong thói quen dọn dẹp hàng ngày dưới đây sẽ khiến căn nhà luôn thơm tho và sạch sẽ chỉ với chút ít thời gian cũng như công sức của chị em.
Dọn giường ngủ ngăn nắp mỗi sáng

Chỉ với một vài phút gấp chăn màn, xếp lại gối và chỉnh ga đệm cho thẳng mỗi sáng sẽ khiến cho những phòng ngủ dù nhỏ và hẹp nhất cũng trở nên gọn gàng rất nhiều.
Kiểm tra tủ lạnh trước khi đổ rác

Mở tủ lạnh và dọn tất cả các loại rau vàng úa, các đồ dư thừa đôi khi đã bị hỏng. Như vậy bạn sẽ tính toán được việc nên sử dụng các loại thực phẩm nào sớm trước khi chúng bị hỏng hay ẩm mốc để tránh lãng phí. Hãy thêm bước đơn giản này trước khi bạn đổ rác mỗi ngày.
Tẩy rửa bếp liên tục

Đôi khi bạn nghĩ nước tẩy rửa mua về chỉ để dọn nhà vệ sinh, phòng tắm. Tuy nhiên, những dụng cụ tẩy rửa và các loại nước tẩy này nên được thường xuyên sử dụng để lau chùi và dọn bếp, đặc biệt nếu bạn sử dụng kệ bếp bóng , tủ inox hay bồn rửa rau củ trong bếp. hãy thử phun chút ít nước tẩy rửa lên bề mặt , 10 phút sau quay lại lau chùi bạn sẽ thấy mọi thứ sạch bóng đến bất ngờ.
Dọn phòng tắm mỗi tuần 1 lần

Dọn dẹp phòng tắm luôn là nhiệm vụ đầu tiên chị em nghĩ tới khi dọn nhà. Tuy nhiên lau dọn thường xuyên sẽ khiến việc này trở nên nhẹ nhàng, dễ dàng và nhanh chóng hơn. Chỉ mất chưa tới 30 phút : lau bồn tắm, bồn rửa mặt, nền và tường đá hoa, bồn vệ sinh, dọn nhanh những cánh cửa kính và cuối cùng là chiếc gương. Tất cả sẽ luôn sạch sẽ thơm tho.
Làm sạch bồn rửa mặt mỗi tối

Sau khi vệ sinh cá nhân mỗi tối, đừng tiếc một vài phút xả nước trên bồn rửa mặt, dùng miếng bọt biển lau sạch các lớp kem đánh răng, bụi bẩn , tóc còn bám trên bồn rửa.
Sử dụng miếng lót silicon cho lò nướng, lò vi sóng

Sử dụng những miếng lót silicon gọn nhẹ này sẽ giúp việc dọn dẹp và lau chì các loại lò nướng và máy rửa chén nhanh gọn hơn rất nhiều. bạn có thể dễ dàng cắt các miếng lót này vừa vặn với thiết bị đang sử dụng , đặt nó dưới tầng thấp nhất trong lò nướng. Bất kỳ vết dầu mỡ tràn hay vụn bánh rơi xuống đều sẽ rơi trên bề mặt miếng lót này.
Mua các sản phẩm tẩy rửa có hương thơm tự nhiên

Nhiều sản phẩm tẩy rửa có mùi rất hắc khiến bạn không thích, hãy chọn những sản phẩm tẩy rửa có hương thơm tự nhiên mà bạn thích hoặc tự mua thêm các loại tinh dầu thơm cho căn phòng sau tẩy rửa như mùi chanh, bạc hà, quế, oải hương…
Phân loại rác

Không chỉ trong phòng bếp mà ngay trong phòng tắm, phòng làm việc và các nơi khác trong nhà hãy phân loại rác và bỏ chúng vào những túi phù hợp. Khi một túi rác đầy, đừng ngần ngại dọn và thay thế túi mới ngay khi có thể.
Ngâm xoong nồi trước khi ăn tối

Hãy đem tất cả đồ ăn thừa dồn vào các hộp thủy tinh hay hộp nhựa bỏ vào tủ lạnh và ngâm xoong chảo trước khi bạn ăn tối. Chỉ thêm một vài phút nhưng việc rửa bát đĩa và dọn dẹp nhà bếp của bạn sẽ thư thả và dễ dàng hơn rất nhiều.
Tuổi Tý
![]() |
Nhờ vào trực giác siêu nhạy bén cùng vận may luôn song hành, người tuổi Tý dễ thành công và trở nên giàu có. Hơn nữa, con giáp này sở hữu kỹ năng thương thuyết tài tình, nên dễ “hái được tiền” trong lĩnh vực truyền thông, bán hàng. Tính cách thích sung sướng, nên người tuổi Tý càng ham kiếm tiền. Họ đặt ra mục tiêu giàu có trước mới lo nghĩ chuyện tình cảm. Nếu cầm tinh con chuột, bạn nên tận dụng cơ hội làm giàu vào năm Sửu vì Tý và Sửu tương hỗ nhau rất tốt.
Tuổi Hợi
Khả năng dự báo trước tương lai và biết nhìn xa trông rộng của người tuổi Hợi là chìa khóa vàng dẫn họ tới danh đại gia. Họ hào phóng cho đi, nên dễ nhận lại được số tiền nhiều hơn gấp bội nhờ quý nhân phù trợ và vận may luôn sẵn có. Nếu kết hợp với người tuổi Dần, con giáp này sẽ nhanh chóng gặp cơ hội “tiền vào như nước”. Tuy nhiên, người tuổi Hợi nên quản lý tiền bạc khoa học hơn.
Tuổi Thân
![]() |
Không chỉ thông minh, người tuổi Thân còn rất chăm chỉ, thể hiện được năng lực trong nhiều lĩnh vực. Hơn nữa, con giáp này sống giản dị, vui vẻ nên nhận được sự quý mến của mọi người. Nếu gặp bất kỳ khó khăn nào, ngay lập tức người tuổi Thân được hỗ trợ từ nhiều phía. Dù vậy, bản tính nóng vội khiến con giáp này gặp vận hạn, thất bại vài lần. Nếu bắt tay làm ăn với người tuổi Tỵ, số giàu có của mình đến nhanh chóng hơn.
Tuổi Dần
Tiền bạc không chảy liên tục về túi của người tuổi Dần, nhưng khi đã thắng lợi, con giáp này đếm tiền mỏi tay không hết. Sở dĩ như vậy là bởi họ dám mạo hiểm, thích phát kiến ra những điều mới mẻ. Số giàu sẽ không đến sớm với người tuổi Dần, mà họ sẽ phát về hậu vận. Đối tượng để con giáp này nên hợp tác là người tuổi Hợi.
Mr.Bull (theo GHT)
![]() |
Top 5 con giáp lắm tiền nhiều của nhất |
Tháng 5 này chúng ta chắc hẳn ai cũng đã bắt đầu cảm nhận được cái nóng oi bức của mùa hè, cho dù là chưa rõ rệt. Thế nên tư tưởng muốn ngao du vẫn không hề ngừng trong tâm trí của mỗi người. Thậm chí là tháng này có khá nhiều con giáp gặp cực nhiều may mắn trong chuyện tình cảm, và tất nhiên sức ép trong công việc cũng là điều không thể tránh khỏi. Vậy thì chúng ta cùng xem tình cảm, công việc, tài vận của các con giáp sẽ ra sao trong tháng 5 này nhé.
Tuổi Tý:
Tuổi Tý do tháng này chịu ảnh hưởng của sao Hỏa Tinh nên chuyện thị phi đấu khẩu khá nhiều. Những ai làm công chức nhà nước cần cẩn trọng đề phòng rước họa vào thân. Chuyện tình cảm cần giữ chừng mực không nên làm ảnh hưởng đến công việc và cuộc sống. Những bạn đã lập gia đình cần cẩn thận kẻ thứ 3 chen chân. Giữa tháng thu nhập phụ tăng, nhưng số lượng có hạn. Cuối tháng sức khỏe không được tốt lắm, tinh thần hoang mang, và nên tránh xa bia rượu.
Tuổi Sửu:
Tháng 5 này tuổi Sửu trong sự nghiệp gặp nhiều cám dỗ nên cần chú ý cẩn trọng. Khi chọn người yêu hoặc bạn đời cũng cần cân nhắc kỹ lưỡng. Nhân cách phẩm chất đạo đức của đối phương là tiêu chuẩn hàng đầu mà bạn cần quan tâm đến, không nên bị tiếng sét ái tình làm cho mê muội. Tài vận cực tốt, mặc dù thu nhập không đến mức cực kỳ nổi bật nhưng cũng không thua kém ai. Ai đang có bệnh mãn tính hãy theo phương pháp trị liệu đến cùng để có thể phục hồi sức khỏe.
Tuổi Dần:
Tháng này sao Minh Đức hồi cung, có quý nhân trợ giúp nên mọi việc của tuổi Dần đều khá thuận lợi. Trong tình thế khó khăn bạn dễ dàng phát huy được năng lực của mình trước lãnh đạo, điều này khiến bạn có được sự tin tưởng từ cấp trên. Nếu cảm thấy công việc hiện tại không còn là niềm đam mê của bạn thì hãy mạnh dạn tìm công việc khác để có bước phát triển tốt hơn nữa. Tình cảm thi thoảng có người nữa xen vào nên cần chú ý kiểm soát tình cảm của bản thân. Cuối tháng có cơ hội tốt để đầu tư, nguồn thu tăng lên đáng kể. Chỉ có điều tháng này dễ bị cảm lạnh, giấc ngủ không được tốt.
Tuổi Mão:
Tháng 5 đối với tuổi Mão có thể nói là tháng “rào cản". Vào đúng thời khắc then chốt thì bị tiểu nhân chắn đường, phát sinh nhiều sự cố và mọi kế hoạch trở thành dang dở. Chi tiêu nhiều, tiền vào thì ít mà tiền ra thì nhiều, những khoản nợ thì cũng không trông mong gì thu lại được nhiều. Bởi nhiều việc xảy ra nên tình cảm tháng này cũng bị ảnh hưởng không ít, thậm chí còn để cho kẻ thứ 3 có thêm cơ hội nữa. Những bạn nữ còn trẻ tuổi chú ý nhiều đến việc chăm sóc sức khỏe sinh sản.
Tuổi Thìn:
Bước vào tháng 5 này do sao Thiên Khúc nhập vị nên tinh thần của tuổi Thìn luôn bất an, dễ phát sinh đấu khẩu với người khác. Mối quan hệ vợ chồng thì không phải yên lặng mà là cãi lộn quá nhiều, thậm chí có khả năng ly thân. Những ai quyền cao chức trọng không phải do năng lực thực sự của bản thân thì khó lòng yên ổn. Điều chỉnh tốt giấc ngủ là điều cực kỳ quan trọng, hoặc có thể uống bổ sung loại thuốc dưỡng não.
Tuổi Tỵ:
Tháng này tuổi Tỵ gặp sao Thiên Sát, sóng gió nhiều, đa phần là không được thuận buồm xuôi gió. Các bạn đang là lãnh đạo hoặc cấp trên thì có điều động nhân sự, việc hạ chức hay cắt chức là điều rất dễ xảy ra. Chỉ số vận đào hoa hay nguy cơ có người thứ 3 đều rất thấp, những bạn còn độc thân thì không mấy dễ dàng có thể tìm được người tâm đầu ý hợp. Công việc vất vả, bận rộn nên tinh thần cũng khá căng thẳng, có thể chọn lựa những chuyến du lịch ngắn hay ra ngoài đi dạo để tinh thần thoải mái hơn.
Tuổi Ngọ:
Bước vào tháng 5 này vận thế sự nghiệp của tuổi Ngọ có phần thuyên giảm theo chiều hướng xấu. Trong công ty luôn có người ghen ăn tức ở, cấp dưới dễ lật mặt, thời điểm then chốt hãy xem xét loại bỏ để tránh hậu quả về sau. Gia trạch không được yên, mối quan hệ mẹ chồng nàng dâu xảy ra nhiều mâu thuẫn thậm chí là phân tranh đất đai nhà cửa. Mối quan hệ vợ chồng nhiều việc không được nhất đồng quan điểm. Khẩu vị không được tốt, cẩn thận các bệnh hô hấp.
Tuổi Mùi:
Đối với tuổi Mùi mà nói thì tháng 5 này là tháng cần bảo toàn mọi sự. Sao Hối Khí sẽ mang đến nhiều ám khí, bạn sẽ có thể đối mặt với sự chọn lựa mới trong công việc. Giải quyết vấn đề dễ bị kích động, không nên vộii vàng, mọi sự hãy dựa theo thói quen thường nhật mà làm, không nên tự ý mà thử trải nghiệm những cái mới, rất dễ phát sinh sự cố ngoài ý muốn. Chú ý đề phòng phần bụng và tay chân.
Tuổi Thân:
Tháng 5 này tuổi Thân có Cát tinh hộ mệnh nên vận thế tốt đẹp hơn. Nhưng bởi trùng Thái Tuế quá nặng nên vẫn cần rất thận trọng trong mọi việc. Sự giác ngộ mạnh mẽ hơn, có thể làm nghiên cứu khoa học, đề ra những phương án mới để nâng cao năng lực của bản thân. Nhận lỗi hay cầu hôn vào những ngày có 1 chữ số thì mức độ thành công sẽ lớn hơn. Những người cao tuổi chú ý ho, hen suyễn, viêm phổi, nôn mửa…
Tuổi Dậu:
Tháng này mọi khía cạnh của tuổi Dậu đều đạt tới đỉnh điểm của sự tốt đẹp. Trải qua thời gian dài tích lũy và học tập rèn luyện mọi việc đã bắt đầu khởi sắc, bước sang một trang mới. Đầu tháng qua mọi “kênh” giới thiệu của bạn bè bạn có thể tìm được người tâm đầu ý hợp, và có khả năng phát triển mối quan hệ này thêm nữa. Trẻ con sức miễn dịch yếu nên dễ mắc các bệnh đang vào dịch.
Tuổi Tuất:
Bước vào tháng 5 có nhiều vấn đề cần phải suy nghĩ hơn, hao tổn nhiều cả sinh lực, tâm lực. Tài vận bình thường, trong công việc cần chú ý dựa vào năng lực chính của bản thân để giải quyết mọi việc cho tốt, không nên quá trông chờ vào sự giúp đỡ của người khác. Tình duyên tháng này gặp chút trở ngại nhỏ, hãy nhẫn nại để vượt qua nhé. Sức khỏe cần chú ý để tinh thần được thoải mãi, tránh căng thẳng quá mức.
Tuổi Hợi:
Do ảnh hưởng của sao Quan Phù mà vận thế suy giảm, dễ dính vào những chuyện thị phi, hành sự dễ gặp rắc rối. Lại thêm lắm kẻ tiểu nhân đeo bám, khi biểu quyết ý kiến của bản thân cần cẩn trọng, chu toàn. Tài vận bình thường, đề phòng tiền trôi ra bên ngoài mà không hay biết. Cần chú ý nhiều hơn đến việc học tập và biểu hiện của con cái và cả những bệnh mãn tính ở người cao tuổi. Cuối tháng có thể đưa cả gia đình đi du lịch một chuyến.
Dự đoán Tứ Trụ khắc phục được hạn chế ở một số môn học dự đoán khác là đưa ra được “Mức Độ” diễn tiến của sự kiện. Mô hình Tứ trụ được mã hoá thật gọn với bốn yếu tố thời gian: năm, tháng, ngày, giờ căn cứ vào đó lập luận theo Âm Dương Ngũ Hành để dự đoán.
Âm Dương không có gì để bàn, riêng Ngũ Hành cần phải nói rằng: Các phương pháp dự đoán Tứ Trụ trước nay đã không sử dụng đúng và toàn diện khả năng của Ngũ Hành. Thay vì phải sử dụng 10 đồ hình Ngũ Hành Biến Hoá để lập luận, các phương pháp ấy chỉ sử dụng 2 đồ hình Tương Sinh & Tương Khắc khiến cho khối Tứ Trụ bị ngắt ra thành từng đoạn. Những sách dạy về bói toán dự đoán có tham khảo qua, tôi không thấy đề cập đến lý thuyết Ngũ Hành Biến Hoá với 10 đồ hình.
Ngũ Hành Biến Hoá với 10 đồ hình hiện nay chỉ bên Đông Y là có giáo trình giảng dạy. Là thầy thuốc Đông Y, phải biết Ngũ Hành Tương Sinh Tương Khắc nhưng khi luận bệnh thì phải dùng Ngũ Hành Biến Hoá. Hiểu một cách nôm na là Ngũ Hành Tương Sinh Tương Khắc chỉ để biết, còn khi luận bệnh phải sử dụng Ngũ Hành Biến Hoá. Nói gọn: “Cơ thể con người là một thể thống nhất, chỉ dùng 2 đồ hình Tương Sinh Tương Khắc để luận bệnh là sai !”
Tương tự, Tứ Trụ được xem là một khối thống nhất 4 yếu tố thời gian, nên việc sử dụng 2 đồ hình Tương Sinh Tương Khắc để dựđoán là không đúng và kết quả dự đoán sẽ không chính xác. Các phương pháp dự đoán Tứ Trụ hiện nay có đưa vào khái niệm Lệnh Tháng để giải quyết vấn nạn này. Cách giải quyết mang tính chắp vá không toàn diện dẫn đến hậu quả là phải có “Kinh nghiệm lập luận (?!)” Điều này cần phải được thay đổi.
Tứ Trụ với 4 yếu tố thời gian là khối thông tin mã hoá khả năng của sự kiện & con người trong không gian, thời gian mà chúng tồn tại. Tương tự như bên Đông Y, xem con người với tự nhiên là 1 chỉnh thể thống nhất. Vì thế, tôi sẽ sử dụng các cách thức lập luận cơ bản bên Đông Y áp dụng vào môn học Tứ Trụ để xây dựng nên phương pháp dự đoán mới.
Phương pháp mới này rất dễ học và dễ sử dụng. Cơ sở lý thuyết của Tứ Trụ khi có dịp tôi sẽ đưa lên mạng. Riêng kỹ thuật thực hành Tứ Trụ sẽ được trình bày ngắn gọn để người mới học có thể nhìn thấy ngay được kết quả dự đoán ở mức độ Tốt-Xấu. Đi vào chi tiết đã có các bảng chuẩn để điền vào. Căn cứ vào các chi tiết ấy, sử dụng khả năng tư duy để lập luận nhằm đưa ra kết quả tổng thể là phần còn lại nơi người dự đoán.
Chú thỏ đáng yêu xuất hiện trong giấc mơ của bạn có rất nhiều ý nghĩa. Chúng ta cùng giải mã giấc mơ này để biết rằng mơ thấy con thỏ nói lên điều gì nhé!
Nội dung
Mơ thấy mình giơ tay ôm hoặc tóm thỏ vào lòng, điềm báo bạn sẽ có khách từ phương xa tới thăm nhà. Nếu chưa có người yêu, điều này cho thấy bạn sẽ tìm được nửa kia ưng ý.
Nếu trong giấc mơ thấy bản thân nuôi thỏ, đây như lời nhắc nhở bạn cần phải thận trọng hơn về lời nói và hành động, tránh kẻ xấu lợi dụng sơ hở để gây phiền toái cho bạn.
Con thỏ xuất hiện trong giấc mơ của bạn, tín hiệu cho thấy bạn sẽ tìm thấy người thân đã phải ly biệt từ rất lâu.
Nếu mơ thấy những chú thỏ này đang bị bắt nhốt lại, điềm báo mọi sự tốt lành sẽ đến với bạn.

Mơ thấy người nào đó cùng chú thỏ đi tiến về phía bạn, bạn cần đề phòng bị lừa gạt trong chuyện tình cảm.
Nếu mơ thấy bản thân đang đi săn thỏ, bạn sẽ thoát ra khỏi cái bóng của chính mình, trở nên mạnh mẽ và tự tin hơn.
Con gái mơ thấy mình bắt được một chú thỏ bên đường, sau đó ôm nó vào lòng. Điều này có nghĩa bạn sẽ là trụ cột của gia đình sau này cả về lĩnh vực tài chính và tinh thần.
Mơ thấy cả đàn thỏ bay lên trời, điềm báo cực tốt lành về địa vị trong xã hội của bạn. Mọi người sẽ thêm phần tôn kính và nể phục bạn.
Phong thủy âm trạch là một ngành khoa học, nhấn mạnh sự hòa hợp giữa con người với sinh khí tự nhiên. Phong thủy hung cát của mộ phần tổ tiên sẽ ảnh hưởng rất lớn đến vận mệnh tiền đồ của con cháu đời sau. Trước giờ, phong thủy luôn là việc mà mọi người chú ý và xem xét đầu tiên khi làm các việc liên quan đến an táng mộ phần. Phong thủy âm trạch có ảnh hưởng rất lớn đến khí vận, tài vận của người còn sống. Vậy trong phong thủy âm trạch có những điều gì cấm kị và cần chú ý đến? Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu nhé.
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
“Coi văn phòng là nhà” đã trở thành cách miêu tả sinh hoạt chân thực của những dân làm công ăn lương ở những thành phố hiện đại. Trong trường hợp kinh tế không sáng sủa, phát sinh sự cắt giảm nhân viên thì làm sao có thể khiến cho bản thân giữ được chỗ làm một cách chác chắn yên ổn, thậm chí nhẹ bước trên mây, trở thành vấn đề rất quan tâm của các viên chức văn phòng. Thực ra, trong văn phòng, những người quan vận hưởng thông ngoài thực lực của bàn thân, phong thủy của văn phòng cũng rất quan trọng
Trong văn phòng làm việc vị trí nào, hướng phong thủy nào là tốt nhất? Những vị trí nào tương đối lý tưởng? Nhất thiết đừng nói bạn không mê tín, ngay cả trong sách cổ của Trung Quốc “Kinh Dịch” củng đã từng vẽ ra những biến hoá diệu kỳ của hung cát phúc họa như một lời dự báo, để cài biến vận mệnh.

Người xưa có nói “dương trạch phong thủy” là chỉ “môi trường sinh hoạt thường ngày của con người”, đối với những nhân viên công chức, môi trường văn phòng chính là “chức trường dương trạch”. Một có thể “chế nhân” lại không “chịu chế của người khác”, là phong thủy tốt nhất của chức trường (nơi làm việc). Cũng chính là vừa nhìn có thể hiểu rõ được nhất cử nhất động của con người, lại có thể bảo vệ vị trí ẩn tránh của bản thân. Điều này cũng phù hợp với chiến lược trong binh pháp “tiến khả cung, thoái khả thủ”, cho nên phần lớn những ông chủ hoặc chủ quan đều nhắm cho mình những vị trí thuận lợi.
Còn với những viên chức bình thường thì rất ít có cơ hội ngồi ở những vị trí “vừa nhìn là thấy hết” này, điều này cũng không có trở ngại, quả thực trong vòng tròn của vị trí ngồi mỗi người, cũng có thể tạo ra không gian có lợi cho mình. Đầu tiên cần phải bảo đảm trong lòng không phải chịu những phiến nhiễu, hơn nữa có thể khiến cho tư duy nhanh chóng, tập trung, đầu óc minh mẫn để suy nghĩ. Vậy thì, môi trường như thế nào không có lợi cho những yêu cầu ở trên?
Phía trước có gương soi – để ảnh hưởng giao cảm thần kinh, khiến tư duy không thể tập trung trong thời gian dài.
Lưng không có “khao sơn” (sau lưng là lối đi hoặc cửa sổ thủy tinh) – trong lòng khó có thể yên tĩnh.
Đối diện với phòng vệ sinh hoặc đối diện với cửa chính – có cảm giác không vui và giao tiếp với mọi người dễ dẫn đến thần kinh phân tán.
Những vị trí kể trên là không có lợi cho việc phát huy sở trường, nhưng nhỡ không may bạn bị sắp xếp ở những chỗ như thế, thì cũng không nên lo lắng, có thể dùng một số phương pháp nhỏ để cải thiện.
Ví dụ: (1) Dùng một vài vật để che lấp (như những bồn hoa) để che đi tầm nhìn.
(2) Lợi dụng tựa ghế cao để tăng thêm cảm giác an toàn.
(3) Có thể tăng thêm trước cửa những rèm che đi.
Nói tóm lại, tăng cường cảm giác ổn định khi cơ thể con người tiếp xúc với môi trường, tương đương với việc nâng cao hiệu quả làm việc của hạn.
- Ngọ thượng Khoa Quyền biên cương nhậm trọng (Mệnh tại Ngọ hoặc Quan Lộc tại Ngọ mà có Khoa Quyền nắm quyền bính nơi biên ải)
- Khoa Quyền củng bất như lâm viên (Khoa Quyền chiếu không bằng đóng tại Mệnh)
- Khoa Quyền Lộc Mã tu phòng Không Kiếp ám xung (Mệnh Khoa Quyền Lộc Mã hoặc vận hạn Khoa Quyền Lộc Mã mà bị Không Kiếp xung thì ảnh hưởng tốt của Khoa Quyền Lộc Mã kém đi nhiều)
- Khoa Quyền nhập Mệnh tuy lạc nhàn diệc hữu hiển danh (ở Mệnh có Khoa Quyền tuy Khoa Quyền ở nhàn cung thì vẫn có địa vị)
- Hóa Khoa đồng văn diệu đề bảng chi vinh (Hóa Khoa đứng với Khôi Việt Xương Khúc học hành thành đạt)
- Hóa Khoa tối vi kỳ; vật hướng Thiên Thương nhi ám hối (Hóa Khoa rất tốt, nhưng kị đóng vào cung Nô việc học hành lận đận)
- Khoa Quyền nhân Khôi Việt dĩ thành công (Khoa Quyền cần Khôi Việt để thành công)
- Khoa Quyền Lộc hợp phú quí (có Khoa Quyền Lộc thủ chiếu Mệnh không bị hung sát tinh tất giàu sang)
- Khoa Mệnh, Quyền triều đăng dung giáp đệ (Khoa đóng Mệnh, Quyền xung chiếu dễ đỗ đạt cao)
- Khoa danh hãm ư hung thần miêu nhi bất tú (Hóa Khoa bị Không Kiếp Kình Đà thông minh tài cán mà lận đận)
- Khoa Quyền Lộc vọng, danh dự chiêu chương (thủ chiếu có Khoa Quyền Lộc nên danh nên giá)
- Khoa Minh Lộc Ám vị liệt tam đài (Mệnh Hóa Khoa cung nhị hợp có Lộc là người chức vị)
- Quyền Khốc đồng cung minh danh vu thế (Mệnh Hóa Quyền đứng cùng Thiên Khốc tại Tí hay Ngọ danh vọng hơn người)
- Quyền Lộc đồng cung định tác cơ thương chi nghiệp (Quyền Lộc tụ vào Mệnh cung buôn bán làm giàu)
Sự ảnh hưởng phong thủy của những con đường tiếp cận với ngôi nhà rất lớn so với tưởng tượng của bạn. Trong phong thủy, những con đường có sức mạnh tương tự như dòng chảy của các con sông. Nếu con đường có tốc độ lưu thông nhanh thì cũng giống như một dòng sông nước chảy xiết. Con đường lúc này sẽ mang năng lượng có hại. Những tuyến đường cao tốc vì thế thường mang những năng lượng phong thủy không mấy tốt lành. Còn những con đường vắng thì lại giống như một dòng sông êm đềm, bình yên. Dưới đây là những vị trí tiếp cận xấu mà các ngôi nhà mặt tiền dễ gặp phải:
Đường chiếu tới từ cả hai phía
Phong thủy cho rằng con đường quanh co mang năng lượng tốt hơn so với những con đường thẳng tắp. Nếu những con đường thẳng lại thêm lưu thông trên đường như mắc cửi thì những người sống trong các ngôi nhà ở hai bên đường cũng khó có được một cuộc sống bình lặng. Tuy nhiên, những con đường có hình thế uốn cong như 'ôm' lấy ngôi nhà thì lại có phong thủy tốt. Nó được hiểu với nghĩa là tiền được đổ vào dễ dàng nhưng ít khi bị thất thoái.
Ngược lại, thế đất mà cả hai phía đều có con đường chiếu thẳng tới mặt tiền ngôi nhà sẽ khiến gia chủ rất dễ gặp phải biến cố, lắm tai họa, dù áp dụng các cách hóa giải thì cũng không mấy hiệu quả.

Nhà A được hưởng lợi thế phong thủy tốt, ngược lại, ngôi
nhà ở vị trí B chủ nhà dễ gặp tai họa
Con đường đâm thẳng vào cửa chính
Trong phong thủy, con đường được ví như dòng nước chảy - mà "thủy” lại quản về tài lộc, những nơi có thủy tụ được cho là sẽ hưởng tài lộc. Tuy nhiên, chỉ những dòng nước đến và tụ lại mới tốt còn nước xung thẳng lại rất xấu.
Những ngôi nhà nằm ở vị trí cuối con đường cụt có đường đâm thẳng vào cửa chính thì nằm ở thế đất xấu. Những người sống trong ngôi nhà này có thể bị tai nạn xe cộ, thương tật hoặc mắc các bệnh phải mổ xẻ.
Với những ngôi nhà phạm phải thế đất này, có thể dùng gương bát quái treo ở trước cửa nhà để phản chiếu lại những luồng sát khí, hóa giải thế nhà xấu. Một cách nữa là trồng một số loại cây bụi phía trước nhà cũng giúp hấp thu các năng lượng xấu.

Ngôi nhà ở vị trí giữa bị đường đâm thẳng vào cửa là thế phong thủy xấu
Ngôi nhà bị kẹp giữa hai con đường giao nhau
Những ngôi nhà nằm tại ngã tư có giao thông thuận tiện thông thường cũng rất thuận lợi cho việc buôn bán, kinh doanh. Thế nhưng những ngôi nhà này lại không thích hợp để ở. Phong thủy cho rằng, không phải ai cũng có thể ở nhà nơi ngã tư đường. Chỉ những ai thuộc nhóm bát tự thích hợp mới có thể làm ăn phát đạt ở nhà ngã tư, với đa số còn lại, ở ngã tư đều lợi bất cập hại. Những ngã tư đường thường tạo thành thế đất có hình như hai lưỡi kéo, thế đất này có nhiều sát khí có thể làm cho người trong nhà dễ gặp tai nạn, bệnh tật.
Đường chạy cả đằng trước và sau ngôi nhà
Nhiều người lầm tưởng nhà có hai mặt đường là thuận lợi nhưng thực chất lại bị coi là xấu. Sách Hoàng đế trạch kinh có ghi rằng “hai bên nhà mà đều có đường dễ gặp họa diệt vong, vạn sự cũng khó thành, lại hay mắc tai ương, tài sản dễ bị trộm cắp, có thể tán gia bại sản hoặc luôn bị những kẻ quyền chức quấy nhiễu”.

Những ngôi nhà nằm tại địa thế giữa hai con đường thường
có tài vận kém không nên mua
Tất cả chúng ta đều biết rằng, khi xây dựng một ngôi nhà trước hết phải đào móng làm nền vững chắc, sau đó xây phòng ở, rồi đến các phòng khác và cuối cùng mới đến cửa và các công trình phụ, tường rào… và không ai làm ngược lại như vậy.

Phong thuỷ học giải thích rằng, nếu xây dựng từ ngoài vào trong sẽ làm cho uế khí luôn ám trong nhà, không thông thoáng, ảnh hưởng tới sinh hoạt thường nhật của chủ nhà. Còn theo thực tiễn thì khi thi công công trình nhà ở, nếu như hoàn tất công trình ngoài nhà trước rồi mới làm các công trình phía trong, thì khi vận chuyển vật liệu, rất dễ làm bẩn, sứt mẻ các công trình đã hoàn thành.
Nếu thi công từ trong ra ngoài, bạn không những khắc phục được tình trạng trên, mà còn tránh được hiện tượng chồng chéo giữa các tốp thợ do họ làm đi làm lại cùng một công việc, tiến độ sẽ nhanh, chắc, sớm hoàn thành và cũng tiết kiệm được chi phí xây dựng.
Cách xem và lấy bát tự nhập cách, lấy can ngày đại biểu xã hội bản thân là chính, sau đó phối hợp với nguyệt lệnh, giờ năm, mà lấy nguyệt lệnh làm trọng, trong đó phùng quan xem tài (tài có thể sinh quan), phùng tài xem sát (tài có thể sinh sát), phùng sát xem ấn (ấn có thể hoá sát), phùng sát xem quan (quan ấn tương sinh).
Ca rằng: Nhất quan nhị ấn tam tài vị
Tứ sát ngũ hành thực lục thương quan
Lập pháp tiên tường sinh dữ tử
Thứ phân quý tiện cát hung khan
Trong sách đoán mệnh, có hai loại cách cục của mệnh khác nhau, có chính cách và biến cách, nếu lấy quan, sát, ấn, tài, thực, thương nhập cục, gọi là chính cách, ngoài chính cách ra thì gọi là biến cách. Bây giờ đem các cách cục mà sách đoán mệnh nói, trích ra những ví dụ như sau.
1. Chính cách
Phán định mệnh cục chính cách, thông thường lấy can chi trụ tháng là chính để quan sát, như bản khí ngũ hành tàng trong chi tháng thấu xuất thiên can, có thể kết hợp với tư lệnh để định thật giả, sau đó lấy làm cách cục. Ví như thiên can tháng Dần thấu Giáp, thiên can tháng Mão thấu , thiên can tháng Thìn thấu Mậu, thiên can tháng Tỵ thấu Bính, thiên can tháng Ngọ thấu Đinh, thiên can tháng Mùi thấu Kỷ, thiên can tháng Thân thấu Canh, thiên can tháng Dậu thấu Tân, thiên can tháng Tuất thấu Mậu, thiên can tháng Hợi thấu Nhâm, thiên can tháng Tý thấu Quý, thiên can tháng Sửu thấu Kỷ, mà những thiên can được thấu xuất này lại được dụng sự tư lệnh ngày sinh trong mệnh chủ, đều có thể từ mối quan hệ sinh khắc giữa thiên can được thấu xuất với thiên can ngày sinh mà lấy làm cách cục.
Nhưng cũng có người cho rằng chỉ cần thiên can bản khí thấu xuất là được, không cần phải suy xét đến tư lệnh dụng sự. Ngoài ra còn có 3 loại tình huống, một là nếu bàn khí chi tháng không thấu xuất thiên can, mà các ngũ hành khác hàm chứa trong chi lại thấu xuất, thế thì có thể lấy thiên can thấu xuất này kết hợp với tư lệnh, lấy làm cách cục. Nếu thiên Can tháng Hợi không thấu xuất Nhâm Thuỷ mà thấu xuất Giáp Mộc mà Giáp Mộc này lại dụng sự ở tư lệnh ngày sinh mệnh chủ, thế thì cũng có thể căn cứ tình hình cục thể của cả bát tự, từ mối quan hệ giữa Giáp Mộc và thiên can ngày sinh mà định cách cục. Hai là bản khí chi tháng không thấu xuất thiên can, mà các ngũ hành khác tàng trong chi đều không thể thấu xuất thiên can, thế thì đành phải so sánh cường nhược của các chi tàng trong chi tháng, chọn ra một chi cường hơn, lấy làm cách cục, như người sinh tháng Dần, trong can tháng, can giờ, can năm đều không thấu xuất Giáp Mộc, Bính Hoả, Mậu Thổ, vì rằng Dần là tháng xuân, Giáp Mộc đắc lệnh, cho nên số đông có thể lấy Giáp Mộc làm đại biểu. Như nếu như Giáp Mộc này không thấy sinh khí trong trụ Giáp, thế thì đừng ngại gì mà không lấy Bính Hoả hoặc Mậu Thổ làm đại biểu để định cách cục. Ba là trong 3 tháng Mão, Dậu, Tý, vì rằng chi tháng của nó chỉ tàng một loại ngũ hành thiên can, cho nên dù bản khí của can tháng có thấu hay không thấu xuất, nếu xét toàn cục có thể lấy dùng thì có thể trực tiếp định là cách cục.
1.1. Chính quan cách
Trong lục thần, chính quan là chính khí của trời đất, có tên tôn kính là trung tín. Tuy nhiên trị quốc tề gia, lao khổ công cao, nhưng trong bát tự xuất hiện, chính quan chỉ cần có một ngôi sao là đủ và ngôi vị xuất hiện, lấy trụ tháng làm chính, lại sợ hình xung, nếu quan tinh quá nhiều, hoặc quan sát (thiên quan) lẫn lộn hoặc ngôi vị thiên li trụ tháng, hoặc quan tinh phùng xung thì khó lòng nhập cách. Đó là điều trong sách đoán mệnh từng nói: chính khí quan tinh, rất kỵ hình xung, nhiều thì luận sát, nhất vị danh nhân”. Nếu thân vượng mà ở chi giờ kiêm có tài tình, thì càng quý không thể nói được.
Bát tự nhập cách
Năm Quý Mùi
Tháng chính quan Ất Mão
Ngày Mậu Dần
Giờ Nhâm Tý
Trụ tháng Ất Mão, trong Mão Ất Mộc thấu xuất thiên can, cho nên lấy Ất Mộc để phán định cách cục, vì rằng Ất Mộc đối với trụ ngày Mậu Thổ mà nói, thuộc về chính quan khắc ta mà trụ giờ Nhâm Tý lại là tài tinh của Mậu Thổ, như vậy tài quan tương sinh, nên lấy làm chính quan cách. Điều không đủ đẹp là tài quan trong cục quá vượng, bản thân thiên nhược, may được ấn thụ tỷ kiếp trong sơ vận trợ thân làm vượng, cho nên có thể kham nhậm tài quan.
Thơ rằng: Chính quan tu tại nguyệt trung cầu
Vô phá vô thương quý bất hưu
Ngọc lặc Kim an trân phú thái
Lưỡng hành sinh tiết thượng tinh châu
1.2. Thiên quan cách
Gọi là thiên quan, tức là cách gọi thất sát bị chế ước, nếu như trong bát tự đồng thời xuất hiện thiên ấn, thiên tài, thân sát cân bằng, đó là mệnh đại phú đại quý, nếu như thất sát bị chế ước quá mức, hoặc trong bát tự quan sát hỗn tạp, đó là bỏ chức từ quan, nhiều thì dẫn đến hung mà chết. Lại như hành vận tiến vào đất sát, thì không chết cũng nghèo khổ, ngoài ra, thiên can trụ ngày vô căn mà gặp sát bị chế đến chết, nói là sát lại tàng căn, tức là thất sát trực tiếp tàng ở trong địa chi của trụ ngày, ví dụ người sinh vào ngày Ất Dậu, Dậu là Tân Kim, khắc Ất Mộc là sát, lúc này nếu trong trụ năm, trụ giờ không thấy can chi của chế sát hoặc hoá sát, đó là mệnh rất không cát lợi.
Bát tự nhập cách
Năm Bính Dần Mộc chế
Tháng Mậu Tuất
Ngày Nhâm Tuất
Giờ Tân Sửu
Trụ tháng Mậu Tuất, trong Tuất Mậu Thổ thấu xuất càn tháng cho nên lấy Mậu Thổ để định cách cục, vì rằng Mậu Thổ với ngày sinh Nhâm thuỷ mà nói, thuộc về thất sát khắc ta, mà chi năm Dần và Giáp Mộc lại chế thất sát Mậu Thổ. “Thất sát bị chế là thiên quan”, cho nên thuộc về thiên quan cách. Hay ỏ chỗ can giờ thấu Tân, là chính ấn sinh Nhâm thuỷ. Như vậy khiến trụ ngày bị chế mà có sinh, vì thế là mệnh quý mà trung hoà, nếu thất sát trong trụ không bị chế, sẽ thuộc về thất sát cách cục.
Thơ rằng: Thiên quan hưu chế hoá vi quyền
Thuỷ thủ đăng vận phát thiếu niên
Tuế vận nhược hành thân vượng địa
Công danh đại dụng phúc song toàn
1.3. Thất sát cách
Trong mệnh cục, thất sát là thần khắc ta, cần phải được chế ước mới là phúc, ví như với kê tiểu nhân tàn ác cần phải chế phục, thì sẽ dùng nó phục vụ ta.
Trong sách đoán mệnh, tuy có cách nói “thất sát bị chế, gọi là thiên quan”, nhưng trong việc lấy cách cục, lại không phân rõ như vậy, chúng ta hãy xem một cách cục thất sát dưới đây:
Bát tự nhập cách Lý tự thừa
Năm Kỷ Tỵ Tháng Đinh Mão
Ngày Bính Ngọ thân vượng
Giờ sát Nhâm Thìn
Nhâm thuỷ ở giờ khắc Bính Hoả bản thân là sát, nhưng xung quanh lại không thiếu Thổ chế thuỷ, có thể thấy các cách “thất sát”, “thiên quan”, vốn không phân biệt hạn chế rõ rệt như vậy, cho nên có sách đoán mệnh lại tuỳ tiện đem thiên quan, thất sát đều gọi là thiên quan cách hoặc thất sát sách.
Theo nguyên tắc “một ngôi ở giờ là quý”, hễ là lên được cách cục thất sát, vị trí của thất sát nhất định xuất hiện tại trụ giờ và chỉ có thể một ngôi, không được nhiều ngôi, giả dụ ở trụ giờ xuất hiện thất sát mà ở chi ngày, tháng, năm lại cũng xuất hiện thất sát, thế thì không những không quý mà trở thành mệnh lao đao vất vả. Với thất sát cách “một ngôi ở giờ là quý”, chỉ cần bản thân tự vượng mà có chê phục, hành vận đi vào đất vượng của thất sát, nhất định sẽ phát phúc, ngược lại nếu trong mệnh, thất sát không được chế phục mà trở thành thất sát cách, thế thì chỉ cần đi tới vận chế phục được thất sát, cũng có thể phát phúc, chỉ sợ thất sát trong mệnh chưa được chế phục mà vận lại đi vào vùng đất sát vượng không bị chế, thế thì khó lòng tránh khỏi tai hoạ.
Thơ rằng: Thời thượng thất sát thị thiên quan
Hữu chế thân cường hảo mệnh khan
Chế phục hỷ phùng sát vượng vận
Tam phương đắc địa phát hà nan?
Nguyên vô chế phục vận tu khan
Bát phạ hình xung đa sát toàn
Nhược thị thân suy quan sát vượng
Định tri thử mệnh thị bần hàn
1.4. Ấn thụ cách
Trong tên các dụng thần, ấn thụ là sinh ta, người phù hợp với loại cách cục này, thân vượng là phúc, trong tứ trụ rất thích thấu xuất quan tinh thất sát và đi đến vận quan sát, vì rằng quan sát có thể sinh ấn. Đại kỵ trong trụ xuất hiện quá nhiều tài, vì rằng tài có thể thương khắc ấn thụ. Còn như tứ trụ thuần là ấn, do ấn thụ quá nhiều sẽ đi tới mặt trái của sự vật, cho nên có thể khẳng định mệnh của chủ nhân là cô độc.
Bát tự nhập cách Trần Đồ Hiến
Năm quan Quý Mùi
Tháng chính ấn Ất mão chính ấn
Ngày Bính Tý bào thai phùng ấn
Giờ quan Quý Tỵ
Ất Mão trong trụ tháng bát tự, hai ất Mộc đều là ấn thụ của Bính Hoả can ngày bản thân, mà chi ngày Tý với can ngày Bính mà nói, trong 12 cung ký sinh lại ở vào chỗ khí giao của trời đất, tạo thành trạng thái thụ thai, như vậy càng cần ấn thụ đến để xúc tiến tạo thành. Hay là trong trụ năm, trụ giờ thấu xuất hai quan tinh Quý Thuỷ, làm tăng thêm số điểm cho cách cục chính ấn.
Thơ rằng:
Nguyệt phùng ấn thụ hỷ quan tinh
Vận nhập quan hương phúc tất thanh
Tử tuyệt vận làm thân bắt lộc .
Hậu hành tài vận bách vô thành.
1.5. Chính tài cách
Trong cách cục, chính tài rất thích thân vượng ấn thụ, kỵ quan tinh, kỵ thiên ấn, kỵ thân nhược tỷ kiên, kiếp tài. Kỵ gặp quan tinh, lý do là sợ cắp mất tài khí nhưng trong chính tài cách lại mang theo quan tinh, lại đi vào đại vận tài vượng sinh quan, thì ngược lại càng thêm phát phúc, nói trái lại, nếu trong trụ tài nhiều thân nhược thì ngược lại tai hoạ giáng xuống đầu. Lại như tài thần nên tàng, tàng thì dày dặn, lộ thì trôi nổi, hành vận nếu gặp tỷ kiên, kiếp tài, không những tài sản phân tán, làm ăn không tốt, e rằng không giữ được mệnh. Ngoài ra, còn có một số tình hình, ví như thân cường tài vượng phùng tài kiến sát, thì quan tinh càng tốt, cho nên sách tưóng mệnh lại có cách nói “tài tàng lộc quan thì đoán là quý”
Bát tự nhập cách Thừa tướng Ly La
Năm Nhâm Thân
Tháng Bính Ngọ Kỷ trong Ngọ là tài
Ngày Giáp Ngọ
Giờ Nhâm Thân
Kỷ Thổ trong chi tháng Ngọ của bát tự là chính tài của Giáp Mộc bản thân mà chi ngày của bản thân lại toạ tại địa, cho nên khi lấy cách coi nó là chính tài cách. Hơn nữa chi năm, chi giờ Nhâm Thuỷ Thân Kim không phải là ấn thụ Giáp Mộc sinh ta mà là thất sát Giáp Mộc chế ta; goi là “phùng tài khám sát” với ấn vượng sinh tài mà nói, có thể nói là phương án đẹp nhất dẫn đến trung hoà.
Thơ rằng: Tài tinh kỵ thấu chỉ nghi tàng
Thân vượng phùng quan đại cát tường
Pha phùng tỷ kiếp lai tương hội
Nhất sinh danh lợi bị phân trương
1.6. Thiên tài cách
Nếu thiên tài xuất hiện ở giờ, cũng giống như cách cục thất sát ở giờ, chỉ cần một ngôi, ba chi khác không nên xuất hiện lặp lại. Mà thiên tài ở ngôi giờ này, lại sợ phùng xung, nếu một khi hành vận đi vào đất của tài vượng thì sẽ phát phúc đến trăm lần
Bát tự nhập cách Lý Tham Chính
Năm Canh Dần Tháng Ất Dậu, chính quan
Ngày Giáp Tý
Giờ Mậu Thìn Mậu Thổ thiên tài
Ở mệnh này, chi tháng chính quan không thấu, trụ giờ Mậu Thổ toạ ở chi Thìn thấu khí thông căn, cho nên cân nhắc lấy Mậu Thổ thiên tài là cách cục, thiên tài cách ngoài thích đi vào tài vận, rất sợ phùng xung, còn rất kỵ đi vào vận dương nhận bại tài và kiếp tài. Vì rằng thiên tài này bị phân, bị cướp là hết sạch.
Thơ rằng:
Thời thượng thiên tài nhất vị giai
Bất phùng xung phá hưởng vinh hoa
Bại tài kiếp nhận hoàn vô ngộ
Phú quý song toàn tỷ thạch định
1.7. Thực thần cách
Thực thần nếu xuất hiện ỏ đề cương nguyệt lệnh, chỉ cần một ngôi và phải là thân vượng, vì rằng thực thần có thể sinh tài, nếu phùng thân nhược thì khó lòng khắc được tài, với người có thực thần cách mà nói, tứ trụ kỵ ấn thụ, quan sát, đến cả tỷ kiên, Dương Nhâm (kiếp tà) là hoạ, nếu như đại vận một khi đi vào vận thực thần tài vượng thì sẽ phát phúc.
Bát tự nhập cách Thục vương Năm Kỷ Mùi Tháng Mậu Thân thân vượng Ngày Mậu Thìn Giờ Canh Thìn Thực thần bát tự của thục vương tuy xuất hiện ở can giờ, nhưng vì rằng là đắc lực, cho nên nó làm thực thần cách cục. Do bản thân mậu Thổ sinh vào tháng Thìn tháng 3, tháng cuối của mùa xuân, Thổ lệch được thời cho nên thân vượng.
Thơ rằng: Thực thần thân tượng hỷ sinh tài
Nhật chủ cương cường phúc lộc lai
Thân nhược thực đa phải vi hại
Hoặc phùng đảo thực chủ hung tai
1.8. Thương quan cách
“Thương quan kiếm quan, vi hoạ đoan”, (thương quan thấy quan, trăm ngần tai hoạ), vì rằng thương quan trong dụng thần là khắc tinh của chính quan, nếu quan đến thừa vượng thì hoạ không nói được. Cho nên thương quan cách của người, thương quan phải thương phá bằng hết mới tốt. Gọi là thương phá bằng hết, tức là một điểm trong tứ trụ cũng không xuất hiện quan tinh. Trong bát tự nếu thương quan nhiều, có tài tinh hoặc hành vận thân vượng, hoặc hành vận tài vượng, đều là mệnh phú quý phát phúc. Các nhà mệnh lý học cho rằng “thương quan là tình của kẻ tiểu nhân, hỷ tài mà ghét quan, lại hành tài vận mà sinh phú quý. Ngoài ra thương quan tài vượng vô tài thì hung, loại người này nếu gặp quan vận, thì đại hoạ sẽ giáng xuống đầu, lẽ nên nhanh cáo cáo quan từ chức. Thương quan chỉ thích tài vượng thân vượng nếu hành vận đi vào đất tài suy và tử tuyệt thế thì thoát tài vô lộc, nếu không bị bại trên quan trường thì sẽ bị chết.
Bát tự nhập cách Thông Tham Chính
Năm Giáp Dần
Tháng Canh Ngọ Kỷ Thổ thương quan
Ngày Bính Ngọ Giờ Giáp Ngọ
Kỷ Thổ trong chi tháng Ngọ của bát tự với Bính Hoả mà nói là thương quan ta sinh. Do trong cách không nói điểm nào có Bính Hoả của quan tinh Quý Thuỷ, cho nên thương quan bị thương hết, hơn nữa thương quan nhiều, can tháng thấu xuất Canh Kim tài tinh, bản thân Bính Ngọ, Ngọ lại là đất đế vượng của Bính, cho nên là mệnh phát phúc phú quý.
Thơ rằng:
Hoả Thổ thương quan thương nghi tận
Kim thuỷ thương quan yếu kiến quan
Mộc Hoả kiến quan quan hữu vượng
Thổ Kim quan khứ phản thành quan
Duy hữu thuỷ Mộc thương quan cách
Tài quan lưỡng kiến thuỷ vi hoan
Các chính cách chính quan, thiên quan, thất sát, ấn, thực thương nói ở trên, mỗi một cách lại có thể hoá ra một vài cách khác, như chính quan cách kiêm sát thì gọi là quan sát cách, kiêm ấn thì gọi là quan ấn cách, chính quan cách kiêm tài thì gọi là quan cách thiên quan hoặc thất sát cách kiêm ấn thì gọi là sát ấn cách, kiêm tài thì gọi là tài sát cách, ấn thụ cách kiêm quan thì gọi là quan ấn cách, kiêm sát thì gọi là sát ấn cách. Chính, thiên tài cách kiếm quan thì gọi là tài quan cách, kiêm sát thì gọi là tài cách. Thực thần thì cách dụng sát thì gọi là thực thần chế sát cách, dụng tài thì gọi là thực thần sinh tài cách, thương quan cách thủ ấn thì gọi là thương quan dụng ấn cách, thủ tài thì gọi thương quan sinh tài cách, thủ kiếp thì gọi là thương quan dụng kiếp cách, thủ thương thì gọi là thương quan dụng thương cách, thủ quan thì gọi là dụng quan cách, lại có giả thương quan cách v.v...
1.9. Quan sát cách
Mệnh cục quan sát đương lệnh thì hỗn tạp, nếu được toạ ở chi ấn thụ, dẫn thông khí của Quan. Sát, khiến nó sinh hoá có tình, hoặc khí trùm giờ sinh, đủ để phù thân địch sát, như vậy có thể bói là quý phú. Ngược lại, nếu toạ ở chỗ không có ấn thụ dẫn thôn quan sát vượng khí mà khí lại không trùm lên giờ sinh, thế thì không nghèo cũng hèn, nhưng nếu quan sát không đương lệnh thì không nói như thế này.
Bát tự nhập cách:
Năm Mậu Ngọ Tháng Kỷ Mùi
Ngày Nhâm Thân Giờ Tân Hợi
Mệnh này quan sát được lệnh mã vượng, tốt ở ngày toạ trường sinh, lại có ấn thụ, dẫn thông khí của tài sát và giờ phùng lộc vượng, cho nên đủ để định lại quan sát, hơn nữa vận sinh ở đất Tây bắc Kim thuỷ nên đoán là lúc trẻ đỗ đạt, văn chương giỏi, không phải là hạng ngu đần.
1.10. Tài sát cách
Trong cách cục nếu tài sát đắc dụng, hoặc phải dùng tài nhuận sát gọi là sát cách hoặc tài từ nhược sát cách, người ở ách này, phần lớn bản thân cường, nếu không khó đương nổi dùng tài sát
Bát tự nhập cách:
Năm Bính Thân Tháng Canh Dần
Ngày Canh Thân Giờ Tân Tỵ
Trong cục Canh Tân thấu xuất ba nơi, 2 địa chi toạ lộc vượng, cho nên bản thân cường vượng, có thể đảm nhận tài sát, lại xem can năm tuy thấu Bính sát, đeo sừng mà đắc lộc nhưng do Canh Tân nguyên thần thấu lộ, cho nên phải dùng Tài nhuận Sát mới là tốt đẹp. Kết hợp hành vận, dư khí của Thìn vận Mộc sinh sắc, Kỷ vận Hoả lộc vượng, học hành đỗ đạt, Giáp Ngọ, Ất Mùi, Mộc Hoả đều vượng, tài sát đắc thế, được làm quan to.
1.11. Sát ấn cách
Trong mệnh thất sát quá nặng phải nhờ ấn thụ dẫn thông, hoá sát sinh thân, gọi là sát ấn cách.
Bát tự nhập cách:
Năm Mậu Tý Tháng sát Giáp Dần ấn
Ngày Mậu Ngọ ấn Giờ sát Giáp Dần sát
Mậu Thổ sinh ở tháng Dần giờ Dần, ở tượng sát vượng Thân suy, tốt ở toạ tại ấn thụ Ngọ Hoả, sinh Thân hoá sát, chi năm Tý thuỷ tài, lại sinh Dần Mộc mà không xung Ngọ Hoả, cho nên hành vận một khi đi vào đất nam phương Hoả Thổ, hoá sát vượng thân, đỗ hoàng giáp sớm, làm quan nổi danh.
1.12. Thực thần chế sát cách
Trong mệnh thất át quá vượng, lại không có ấn thụ hoá sát , lúc này nếu lấy thực thần là dụng thần, chế phục thất sát, không cho khắc chế thái quá, gọi là thực thần chế sát cách.
Năm sát Mậu Thìn sát Tháng sát Mậu Ngọ
Ngày Nhâm Thìn sát Giờ thực thần Giáp Thìn
Tứ trụ trong bát tự đều sát, tốt ở bản thân Nhâm thuỷ thông căn Thìn khố, can giờ thấu xuất thực thần, mà nhìn lại là dư khí của Mộc, cho nên các chứng hung tự phục, về sau vận đến Quý Hợi, Hợi là trường sinh của thực thần Giáp Mộc, là lộc địa của ngày sinh Nhân thuỷ, cho nên đỗ đạt liên tục. Giáp Tý nhất vận, Giáp vận thực thần được trợ giúp, giữ chức huyện lệnh, khi vận suy thần xung vượng, không có lộc nữa.
1.13. Chế sát thái quá cách
Sát phải chế hoá mới và dùng được, nhưng nếu chế sát thái quá, sát thần bị thương, nếu sát thần ấy lại là dụng thần trong mệnh cục bản thân, như vậy sẽ không hay lắm.
Bát tự nhập cách:
Năm Tài Tân Mão Ấn
Tháng Thực thần Mậu Tuất kiếp Thực Tài
Ngày Bính Thìn Ấn thực quan
Giờ Kỷ Hợi Sát Ấn
Giờ phùng một mình sát, bốn thực cùng chế, chi năm tuỳ có ấn thụ Mão Mộc chế thực, nhưng Tân Kim lại trùm đầu, huống hồ thu Mộc sức mỏng, khó mà sơ Thổ, tốt là Giáp Mộc trong Hợi, chế thực vệ sát, sát có thể đắc dụng. Vận đến Ất Mùi, Hợi mão Mùi hồi thành Mộc cục ấn thụ, chế thực vệ sát có công, tin mừng báo đến nam cung, danh cao lừng lẫy, Giáp Ngọ nhất vận, Mộc chết ở Ngọ, Giáp và can giờ Kỷ trong vận hợp mà hoá Thổ, nên Đinh gian khổ bên ngoài, năm Kỷ Tỵ, Tỵ ại xung Hợi thuỷ đi, cho nên không lộc.
1.14. Thương quan dụng ấn cách
Thương quan quá nặng, khí của ngày sinh bị tiết quá độ, nên dùng ấn bù thiên để cứu nạn, chế thương sinh thân, gọi là thương quan dụng ấn cách.
Bát tự nhập cách
Năm Kỷ Sửu Tháng Tân Mùi
Ngày Bính Dần Giờ Kỷ Sửu
Ngày sinh bình Hoả, can chi 4 chi thương quan trùng điệp, dẫn đến ngày sinh tiết khí thái quá, may mà Bính Hoả toạ Dần trường sinh, Giáp Mộc trong Dần thiên ấn, sinh Thân chế thương là dụng Thân, nhưng mà rốt cuộc một ấn khó định lại nhiều hướng, huống hồ lại gặp can tháng Tân Kim tài tinh phá ấn, nên hành vận lúc trẻ, sông lật núi đè, về sau khi vận hành Đinh Mão, Đinh Hoả kiếp khử Tân Kim, Mão Mộc phá Sửu Thổ nên gọi là “có bệnh gặp thuốc, vươn mình bước lên nguyệt điện. Tiếp đến là Bính Dần nhật vận, mọi sự đều tốt, làm quan đến nhà vàng.
1.15. Thương quan dụng tài cách
Kiếp ấn trùng trùng, bản Thân mệnh chủ thiên cường, nên lấy thương quan tài sinh tiết Thân phá ấn làm dụng thần khiến mệnh cục bát tự đi vào thế ổn định. Bát tự nhập cách.
Năm Bính Thân
Tháng Mậu Tuất
Ngày Đinh Mão
Giờ Ất Tỵ
Ở đây có thể thấy Hoả Thổ thương quan kiếp ấn trùng điệp, nhật chủ Thân cường, cho nên lấy chi năm Thân Kim tài tình làm dụng thần. Người này khi trẻ được tổ tiên để lại di sản, khi vận nhập Tân Sửu thương quan sinh tài, lúc tài tinh được trợ giúp. Kinh doanh đắc lợi, phát tài hơn 10 vạn. Về sau vận đến Nhâm Dần, Dần là Thân Kim tuyệt địa.
Và là Bính kiếp trường sinh, lại nhân Dần xung Thân phá, cho nên gọi là vượng giã xung suy suy giả bát, cho nên không đắc lộc.
1.16. Thương quan dụng kiếp cách
Trong mệnh thương quan sinh tài, tài tinh quá nặng, phá ấn luỵ Thân, cho nên phải dùng kiếp chế tài để giữ được trung hoà, gọi là thương quan dụng kiếp cách.
Bát tự nhập cách:
Năm Quý Hợi
Tháng Tân Dậu
Ngày Mậu Thân
Giờ Kỷ Mùi
Ngày sinh Mậu Thổ, can tháng thương quan thông căn, can năm chi năm tài tinh Mộc vượng, lại phùng thương sinh cho nên tài tinh quá nặng. Cho nên lúc trẻ không khỏi hao tâm tốn sức. Hay ở chỗ can giờ Kỷ Mùi kiếp tài thông căn làm dụng thần, chế ức tài tinh, về sau một khi vận hành đến Đinh Tỵ, Bính Thìn, ấn vượng kiếp sinh, làm đến chức châu mục, gia tư phong phú. Đáng tiếc đến vận Ất Mão, quan tinh xung khắc không yên, bãi chức về nhà.
1.17. Thương quan dụng thương cách.
Trong cách cục, ấn hoặc bản Thân cường vượng, hẳn phải dùng thương quan ở trung vận mệnh giúp đỡ, mới làm cho cách cụ giữ được cần bằng, gọi là thương quan dụng thương cách.
Bát tự nhập cách:
Năm Ất Dậu Tháng Mậu Dần
Ngày Quý Dậu Giờ Quý Sửu
Quý Thuỷ sinh ở tháng Dần, địa chi Dậu Sửu vây Kim, ấn vượng sinh Thân, tất phải lấy Giáp Mộc trong Dần thương quan là dụng thần. Vận ở ất Hợi, Mộc phùng sinh vượng, thi cử đỗ cao. Về sau Giáp Tuất, làm quan chức huyện lệnh, chuyển đến Quý Dậu, vận Quý còn đẹp, Dậu vận, chi phùng tam Dậu, Mộc non Kim nhiều, cách chức về nhà. Nhìn chung vận này, bệnh ở Hoả ít không có thuốc,. Nếu được Hoả chế Kim, tuy vận đi vào đất ấn Kim, không có hoạ lớn.
1.18. Thương quan dụng quan dụng quan cách.
Sách nói rằng “thương quan kiến quan, vi hoạ bách đoan” nhưng trong cục nếu có tài làm điều hậu hoặc thương quan bị chế ước mà đủ để dùng quan thì không chỉ vô hại mà còn có hỉ.
Bát tự nhập cách:
Năm Canh Ngọ
Tháng Kỷ Mão
Ngày Nhâm Thân
Giờ Kỷ Dậu
Nhâm Thuỷ sinh vào tháng Mão, thuộc tương Thuỷ Mộc thương quan. Đáng mừng là đồng thời quan tinh thông căn cứ chi năm, Đinh hào trong Ngọ là tài, đủ để hoá thương sinh quan mà Mão Mộc thương quan lại chế phục Kim ấn hơn mình ngày sinh sinh sinh vượng, đủ để dụng quan, tương vận quan tinh ở vào đất hẹp nên rau nước quyệt nhau bẻ quế cung hằng. Nhâm Ngọ, Quý Mùi vẫn đi về nam phương Hoả vận, danh tiếng một vùng, quan giữ chức châu mục. Giáp Thân, Quý Dậu, Kim đắc địch mà Mộc lâm tuyệt địch, và quan tinh tiết khí bị chế, nên lui về điền viên, lấy cầm kỳ thi hoạ làm vui
1.19. Giã thương quan sách
Trong cách thương quan được làm dụng thần, nhưng lúc không được làm tư lệnh chi tháng, cho nên có giã hương quan cách.
Bát tự nhập cách:
Năm Mậu Ngọ
Tháng Bính Thìn
Ngày Mậu Thìn
Giờ Tân Dậu
Mậu Thổ thông căn, can chi tháng, năm hoà Thổ trùng trùng, toàn dựa vào thương quan trụ giờ thông căn thấu can tiết ra tú khí. Trước 30 tuổi vận đi vào hoà Thổ, bị phá bị ép, khi giao vào Canh Thân, đường mây thẳng tiến. Sau đến Tân Dậu, Nhâm Tuất, Quý Hợi, mọi sự đều nên, thương quan sinh tài, từ xấu chuyển tốt đẹp, quan lộ không bị sóng gió.
2. Biến cách
Gọi là biến cách, là một loại cách đặc biệt của mệnh, ỗ tình huống thông thường, bát tự tứ trụ nếu phù hợp với điệu kiện của loại mệnh cục đặc biệt này, thì gọi là biến cách mà không là chính cách.
2.1. Tạp khí ấn thụ cách
Ở phần tháng, các tháng Thìn, Mùi, Tuất, Sửu túc tức là tháng 3, 6, 9, 12, trong chi tháng Thìn có ất Mộc, Quý Thuỷ, Mậu Thổ, trong tháng Mùi có Đinh Hoả, ất Mộc, Kỷ Thổ, trong tháng Tuất có Tân Kim, Đinh Hoả, Mậu Thổ, trong tháng Sửu có Quý Thuỷ, Tân Kim, Kỷ Thổ, ở đây bao hàm khí tạp không thuần của trời đất. Lấy ví dụ như Giáp, ất toạ trấn ở Mão vị âm Mộc, cả hai đều quản xuân lệch mà đoạt khí của đông phương, nhưng Thìn tuy thuộc ở tháng 3 mộ xuân nhưng lúc này đã ở vào khoảng giữa giao tiếp của xuân hạ, lực đã thiên về hướng đông nam, cho nên thụ khí không thuần, mệnh không thuần nhất, gọi là có tạp khí. Ba tháng Mùi, Tuất, Sửu cũng theo nguyên lý này mà xem xét.
Trong tạp khí ấn thụ cách, nếu Can ngày bản thân là Giáp phải sinh vào tháng 12 Sửu mới được gọi là Quý, vì rằng Tân Kim trong Sửu là chính quan của Giáp Mộc, Quý Thuỷ trong Sửu là chính ấn của Giáp Mộc, Kỷ Thổ trong Sửu là chính tài của Giáp Mộc, nếu lúc này không biết nắm tài, quan, ấn, chọn cái nào để định cách thì có thể quan sát trong can tháng thấu xuất dụng thần gì, sau đó mối quyết định lấy bỏ cái nào. Nhưng Thìn Tuất Sửu Mùi đều là khô" tàng, phải có chìa khoá mở ra, mới có thể phát phúc, mới có thể dùng cho ta, mà loại chìa khoá để mở kho này tức là hình xung phá hại, nhưng loại hình xung phá hại này phải để ở chỗ tốt, nếu không tạp khí cần có nhiều tài mối có thể trỗ thành Quý. Giả dụ trong trụ năm, giờ có các phù hợp với các cách cục khác thì lấy các cách cục khác mà nói.
Bát tự nhập cách:
Năm Canh Thân
Tháng Bính Tuất, Đinh hoà là ấn
Ngày Mậu Tý
Giờ Quý Sửu
Loại cách cục này kỵ hành tại vận quan vận. Chủ nhân cát đãi chiều trong bắt tự vốn là người bán gối bán lược chỉ vì tạp khsi trong nguyệt lệnh thấu xuất Bính Hoả, chi tháng tàng Đinh Hoả làm ấn, cho nên hành vận một khi thành khố xung phá thì phát phúc, nhưng mà rốt cuộc chi ngày Tý là Quý Thuỷ thuộc về tài của Mậu Thổ, mà trong chi giờ Sửu lại hàm chứa một lượng Quý Thuỷ nhất định là tài, nên tài có thể phá ấn, Thuỷ khắc Hoả, lúc thường có thể duy trì qua được, nhưng một khi hành vào Tý vận. Quý Thuỷ trong vận và Quý Thuỷ hô ứng với nhau, như vậy tràn đầy thành hoạ, Hoả bị huỷ diệt. Về sau quả nhiên khi hành đến Tý vận, ông cát đãi chiêu này thọ lâu ngủ cả ngày, thuật ngũ dùng để đoán mệnh gọi là “tham tài hoạ ấn”
Thơ rằng:
Thìn Tuất Sửu Mùi vi tứ Quý
Ấn thụ tài quan cư tạp khí
Can đầu thấu xuất cách vi trân
Chỉ vấn tài đa vi tôn Quý.
2.2. Tạp khí tài quan cách
Sách đoán mệnh nói, ngưòi sinh gặp Thìn, Tuất, Sửu, Mùi gọi là có tạp khí, đại thể tài nhiều thấu bộ là Quý, gặp quan cũng tốt, vì rằng Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thuộc về mộ khố, cần phải xùng khai, như vậy tài quan ấn thụ trong khô" mới danh mói có thể dùng cho ta, nếu không được ở trên đời, ấn mộ không được tín nhiệm thì chỉ là hư giả.
Bát tự nhấp cách vương thượng thư.
Năm Chính tài Mậu Tý
Tháng Nhâm Tuất Tân Kim là quan, Mậu Thổ là tài
Ngày Ất Hợi Giờ Đinh Sửu.
Bản Thân ất Hợi sinh vào tháng Mậu, trong Mậu Tân Kim là quan, Mậu Thổ là tài, mà trong đó Mậu Thổ lại thấu xuất can năm, cho nên trở thành tạp khí tài quan cách cục:
Thơ rằng
Tạp khí tài quan tứ khổ trung
Hoàn tu phá hại dữ hình xung
Thiên can thấu xuất tài nguyên cách
Tài đa Thân vượng lộc tương đồng.
2.3. Dương nhập tì kiên cách
Gọi là tỉ kiên, tức là gọi trong cùng loại dương gặp dương, âm gặp âm, giống như anh em chị em đồng loại. Trong cùng loại, dương gặp dương không gọi là tỉ kiên mà gọi là bại tài, lại gọi là dương nhận, âm gặp dương không gọi là bại mà gọi là kiếp tài. Trong bát tự nếu thấy ấn tài Thân cường thì đoạt được thương quan Thất sát, nếu thấy Thân nhược, kiếp tài phân quan bị lột.
Bát tự nhập cách Cao thái uý
Năm Canh Ngọ Đinh Hoả
Tháng Ất Dậu chính quan
Ngày Giáp Dần Giờ Ất Hợi trường sinh
Thiên can bản mệnh Giáp Mộc, sinh vào tháng 8, lấy Tân Kim trong Dậu là chính quan nhưng can năm xuất hiện Canh Kim là Thất sát, loại này quan và sát lẫn lộn, không đẹp lắm.
Tốt ở Ất Canh hợp Kim, Giáp Mộc đem em gái Ất Mộc gả cho Canh Kim làm vợ, trong sách đoản mệnh có cách nói “tham hợp vong sát”, huống hồ trong chi năm lại có Đinh Hoả chế phục cánh Kim, không gây ra tai hoạ. Lại xem chi giờ thấu xuất Ất Mộc, làm dương nhận của Giáp mộ mà Nhâm Thuỷ trong chi giờ Hợi, lại khiến Mộc ở vào trạng thái trường sinh, cho nên hành vận một khi đi vào Sửu vận. Tân Kim trong Sửu lại ức Ất Mộc, lại làm cho quan vận Giáp Mộc bản Thân hanh thông, cho nên làm quan đến nhị phẩm, thơ rằng:
Xuân Mộc hạ Hoả lường tương phùng,
Thu Kim đồng Thuỷ nhất ban đồng.
Bất nghi dương nhận thiên can thấu,
Vận chí trùng phùng hựu phân hung.
2.4. Thất sát dương nhận cách
Gọi là thất sát tức là thiên quan, hĩ chế phục, hĩ dương nhận. Như thất sắt dương nhận trong mệnh cục đồng thời xuất hiện, thường thường có thể coi nó là loại cách cục này. Nhưng kỵ tài đa, nếu không sẽ thành các cục. Với người ở thất sắt dương nhận cách mà nói, sợ nhất dương nhận phùng xung. Ví dụ người sinh vào ngày Bính, ngày Mậu, dương nhận ở Ngọ, vì rằng Đinh Hoả, Kỷ Thổ trong Ngọ lần lượt thuộc về dương nhận của Bính, Mậu can ngày, lúc này nếu hành vận tiến vào chính tài Tý địa, Tý Ngọ, tương xung, phá hỏng dương nhận, sẽ không hay nữa. Cũng vậy người sinh ngày đêm, dương nhận tại Tý, kỵ hành vận chính tài Ngọ địch, ngày sinh ngày Canh dương nhận tại Dậu, kỵ hành vận chính tài Mão dịch, người sinh ngày Giáp, dương nhận tại Mão, kỵ hành vận chính tác Dậu địa. Nếu trong cách cục, dương nhận không bị xung phá, thế th́ đụng phải tài vận, vấn đề không lớn.
Bát tự nhập cách: Bất hoa bình chương
Năm Ất Mão
Tháng Mậu Tý dương nhận
Ngày Nhâm Tuất thất sát
Giờ Nhâm Dần
Mệnh chủ trong cục sinh yào ngày Nhâm, trụ tháng, trụ ngày phân toạ ở hai chi Tý Tuất, Quý Thuỷ trung Tý là dương nhận Nhâm Thuỷ, Mậu Thổ trong Mậu là thất sát Nhâm Thuỷ. Nhâm Thuỷ sinh vào tháng Tý giữa mùa đông. Đắc lệnh Thân vượng thất sắt bị Giáp mộ trong Dần chi giờ chế phục, có thể là cát, như vậy Thân cường mà sắt yếu. Thất sắt dương nhận thành cách. Nên là mệnh cực Quý.
2.5. Tỉnh lan tả soa cách
“Tỉnh lan soa” giải nghĩa là miệng giếng. Trong giếng có nước, cho nên giúp người. Người ở cách cục này, lấy Canh Thân, Canh Tý, Canh Thìn ba thiên can Canh làm chính, địa chi Thân ở Thìn tam hợp Thuỷ cục, thiên can thấu xuất ba Canh. Canh Kim lấy Đinh Hoả làm chính quan, lấy Thân Tý Thìn xung Dần Ngọ Tuất Hoả cục, khiến ngày Canh đắc tinh là Quý. Nếu thiên can trong chi thấu xuất Bính Đinh, thì quan sát lộ rõ, địa chi phùng Tỵ Ngọ thì miệng giếng lấp chắc, đều giảm phân số. Giờ lại gặp Bính Tý, là thiên quan ở giờ, giờ gặp Giáp Thân, là lộc ngày quy giờ, đều không thuộc cách này. Tam mệnh thông hội nói, nếu thiên can Nhâm Quý Mậu thì Dần Thân Tý Thìn là thiên quan, bỏ sức Hoả Dần Ngọ Tuất. Mậu Kỷ Canh khắc thương Thuỷ cục, không thể xung Dần Ngọ Tuất Hoả Quý, thì giảm phân số. Tuế vận cũng như vậy. Nếu lúc Canh Tý lại gặp Tý, chỉ có thể là phi thiên lộc mã, ở tháng Thìn, lấy ấn thụ, ở tháng Tý, lấy thương quan, phải biến thông tiêu tức, quả hợp cách này, thanh kỳ Quý hiển nhưng không giàu lắm. Vận hỉ đồng phương tài, bắc phương thương, kỵ nam phương Hoả Thổ, tây phương bằng bằng.
Bát tự nhập cách: Vương Đô Thống
Năm Canh Tý
Tháng Canh Thìn
Ngày Canh Thân
Giờ ĐinhSửu
Thiên can tam Canh, địa chi Thân Thìn hợp Thuỷ toàn gặp nhuận, tuy nói sinh ở tháng Thìn nhưng mà biến thông tiêu tức, có thể coi là tĩnh lan tà soa cách.
Thơ rằng:
Sinh ngộ tam Canh hỉ khí Tân
Toàn Kỷ phùng nhuận hạ tỉnh lan trân
Hội tinh phạ kiến Dần Ngọ Tuất
Thuỷ tri thiên nghi Thân Tý Thìn
Thương Quý duyên đa Nhâm Quý kiến
Lộ quan hưu cộng Bính Đinh lâm
Vận hành đại thể đông phương mỹ
Nhất thế vinh hoa bất thụ bần
2.6. Tài quan song mỹ cách
Cách này lấy hai ngày Nhâm Ngọ, Quý Tỵ là chính, do toạ chi địa chi hàm chứa, là chính quan chính tài của can ngày, những ngày khác như Giáp Tuất, Kỷ Sửu, Ất Tỵ, Bính Thân, Đỉnh Sửu, Mậu Thìn, Kỷ Hợi, Canh Dần, Tân Mùi, Nhâm Tuất, Quý Mùi và trong chi tuy có tàng tài quan, lộc tức quan, tài tức mà nên gọi lộc mã đồng hương, nhưng do lộc mã tài quan này hoặc thiên hoặc chính, không thể thống nhất, cho nên không nhạp được cách này.
Bát tự nhập cách.
Năm Kỷ Sửu
Tháng Đinh Mão
Ngày Nhâm Ngọ
Giờ Quý Mão
Chi ngày Nhâm Ngọ vốn cùng tài quan song mĩ, hơn nữa năm tháng trong thấu xuất Đinh, Kỷ mà chi ngày Ngọ lại là làm quan lộc địa của tài quan Đinh, Kỷ, cho nên đại phủ đại Quý.
Thơ rằng:
Lộc mà đồng hương vô khắc đoạt
Tài quan đồng xứ tối vi vinh
Tam thai bát toạ trân kỳ Quý
Khắc đoạt như cường khiếm lại danh
2.7. Thiên nguyên ám lộc cách
Cách này chỉ lấy 4 thiên can Canh Dần, Ất Tỵ, Bính thận, Kỷ Hợi. Ngày Canh Dần, Canh lấy Đinh Hoả làm chính quan, lúc này trong can năm, tháng, giờ không thấy Đinh Hoả, cũng có toạ chi Dần Hoả khắc Canh là quan. Giáp lộc ở Dần, Mộc là mẹ Hoả, mẹ con có tình nghĩa kế tiếp nhau. Kết hợp với can năm, can giờ thích có Mậu Kỷ trợ giúp bồi bổ, lúc này nếu ất Đinh thì càng đẹp càng tốt, nếu thấy Bính sát thì nên lấy Nhâm, Quý Hợi, Tý dùng để chế phục. Ngày Ất Tỵ, Ất toạ ở Kim Trường sinh là quan, thành lộc là tài, nếu trong can năm, tháng, giờ có Canh, Mậu dẫn thấu tài quan trong Tỵ thì càng lý tưởng. Ngoài ra càng cần Ấn của Nhâm Quý trợ thân, Kỵ Tân Kim thất sắc là chế, nhưng trong Tỵ vốn có Bính Hoả, phải Nhâm, Quý, Hợi, Tý, khử Hoả khí của nó mới đẹp. Ngày Bính Thân, Hỉ Canh, Tân Tài, Quý Thuỳ quan, Giáp Ất ấn, Kỵ Mậu Thổ thương quan, ngày Kỷ Hợi Giáp Mộc toạ trường sinh trong hợi là quan, Kỵ Kim thương quan.
Bát tự nhập cách Văn uyên thượng thư
Năm Cánh Tý
Tháng Giáp Thân
Ngày Canh Dần
Giờ Bính Tuất
Ngày sinh Canh Dần, lưỡng Hoả trường sinh trong Dần khắc canh là quan, lộc vượng giáp Mộc bị khắc là tài, tuy nói can giờ lại thấu Bính sát, tốt ở chi năm Tý Thuỷ chế phục, cho nên trở thành quý cách.
2.8. Lộc nguyên hổ hoạn cách
Cách này chỉ có 4 thiên can 4 giờ, tức là ngày Mậu Thân thấy giờ Ất Mão, ngày Đinh Dậu thấy giờ Nhâm Dần ngày Bính Tý thấy giờ Quý Tỵ, ngày Canh Tí thấy giờ Đinh Hợi, nếu ngày Mậu Thân thấy giờ Đinh Mão, Mậu lấy Ất Mộc trong Mão là quan, Ất lấy Canh Kim trong Thân là quan, do đổi cho nhau mà thành quý lộc. Trong trụ nếu thấy nhâm, quý là tài, sinh trợ ất Mộc quan tinh, khi vận đến đất quan vượng thì là quý mệnh. Kỵ thấy thất sắt giáp Mộc, Tân Kim thương quan, chi Dần xung Thân, chi Dậu xung Mão. Những ngày Đinh Dậu khác thấy giờ Nhâm Dần, ngày Bính Tý thấy giờ Quý Tỵ, ngày Canh Tý thấy giờ Đinh Hợi, cách đoán hỉ Kỵ giống với ngày Mậu Thân thấy giờ Đinh Mão. Ngoài ra, các lấy lộc nguyên hồ hoán xưa như ở ví dụ Mậu Ngọ thấy Đinh Tỵ là thấy lộc của lâm quan thì khác với cách nói ở đây.
Bát tự nhập cách:
Năm Quý Hợi
Tháng Nhâm Tuất
Ngày Bính Tý
Giờ Quý Tỵ
Ngày giờ tháng này thay đổi cho nhau lộc vượng, đều lâm quan quý, lại không hình xung phá hại, nên quý.
2.9. Lộc Nhâm di hoán cách
Tam mệnh thông hội nói! Cách này trong trụ có lộc, có nhận, có quan, có ấn, không theo bản thân, gặp xung khắc thì biến hoá, có thiên can, địa chi khắc xung, hoặc năm tháng giờ xung khắc, hoặc can ngày giờ xung khắc chi, lấy cái nọ đổi cho cái kia để dùng, do thiên can thường động mà địa chi tỉnh nên vì địa chi xung khắc động mà lấy thiên can vậy. Như ngày Giáp Tý trong trụ thấy giờ Canh Ngọ, vì can khắc chi xung, cho nên thay đổi cho nhau để dùng, lấy Canh Tý Giáp Ngọ để luận định cát hung. Ngoài ra nếu ngày Nhâm Tý thấy giờ Bính Ngọ, ngày Canh Ngọ thấy giờ Bính Tý, ngày Quý Hợi thấy giờ Đinh Tỵ, cũng có thể đổi cho nhau theo nguyên tắc này. Duy chỉ có ngày Đinh Dậu gặp ngày Quý Mão thì không được đổi cho nhau, vì rằng Đình Sinh ở Dậu, Quý sinh ở Mão, cho nên nó đều ở vị trí thiên Ất Quý nhân trường sinh.
Bát tự nhập cách:
Năm Kỷ Tỵ
Tháng Quý Dậu
Ngày Đinh Mão
Giờ Quý Mão
Trong cục hai Mão một Dậu, Quý đinh tương khắc, do địa chi Mão Dậu xung mà khuấy động thiên can, nhìn bề ngoài một Đinh kẹp giữa hai Quý, tưởng chừng khó phát triển, nào biết Đinh là mẹ Kỷ Thổ của thái tuế can năm, lúc này đã thấy Quý Thuỷ khắc Đinh, Tý đến cứu mẹ, đem mẹ về ngồi ở bên cạnh mà Quý Thuỷ là trốn sự chế khắc của kỷ Thổ nên cùng vui vẻ đổi vì trí cho Đinh Hoả, kết quả thay đổi trụ tháng biến thành Đinh Dậu, chi ngày biến thành Quý Mão, như vậy thì Đinh Hoả, Quý Thuỷ đến gặp quy định, cho nên đại quý.
2.10. Tý Ngọ song bao
Tý là đế toạ, Ngọ là đoan môn, cả hai đều là vì trí đế vương cư trú vì thế mệnh cụ nếu hai Ty hai Ngọ hoặc hai Ngọ bao một Tý hoặc hai Tý bao một Ngọ, vì rằng được Thủy Hoả tương tế giúp, được cơ may dương sinh âm trưởng, cho nên gặp nó thì quý.
Bát tự nhập cách:
Năm Nhâm Ngọ
Tháng Nhâm Tý
Ngày Mậu Tý
Giờ Nhân Tý
Trong cục, hai Ngọ hai Tý, cho nên nhập vào cách này. Ngoài ra như Nhâm Tý, Quý Sửu, Mậu Ngọ, Nhâm Tý, Giáp Tý, Canh Ngọ, Bính Thân, Mậu Tý. Mậu Tý Mậu ngọ, Đinh Mùi, Canh Ty, Giáp Thân, Canh Ngọ, Giáp Ngọ, Nhâm Thân, Giáp Tý, Canh Ngọ, đều là quý mệnh của cách này.
2.11. Âm tịch dương sinh cách
Sách xưa lấy Dần, Thân, Tỵ, Hợi làm tứ trường sinh, nếu như Ất, Đinh, Tân, Quý là ngày ngũ âm nếu gặp Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm ngày ngũ dương thì sinh trưởng, không thể nói là “dương sinh âm tử” được. Vì vậy người xưa thấy Ất gặp Ngọ là Mộc của củi đốt, không Hợi thì không thể sinh, Đinh gặp Dậu là Hoả của tinh thạch, không có Dần thì không thể sáng lại, Dậu là Thổ có nguồn phân, không Dần thì không thể sinh vật, Tân thấy Tý là Kim trong cát, không Tỵ thì không thể sinh, Quý thấy Mão là Thuỷ có mầu mỡ, không Thân thì đông kết.
Bát tự nhập cách:
Năm Giáp Thân
Tháng Canh Ngọ
Ngày Ất hợi
Giờ Binh Tý
Tam mệnh thông hội nói: nếu mệnh nhập cách thì năm thông khí tháng là đại quý. Đại kỵ quan sát hỗn tạp, nghèo
Thơ rằng:
Ngũ âm nhật đản hỷ tương sinh
Nhược thi niên chi phúc cánh hanh
Nguyệt khí đắc thông tu đại quý
Duy hiềm quan sát chủ cô bần
2.12. Sinh xứ tụ sinh cách
Cách này ngày sinh gặp ấn thụ, lại dần vào đất trường sinh của ngày, như vậy thân cường hỉ gặp quan tỉnh, cho nên có tưống quý ngũ mã chư hầu.
Bát tự nhập cách:
Năm Ất Mão
Tháng Đinh Hợi
Ngày Bính Dần
Giờ Canh Dần
Trong cục Mộc Hoả tương sinh, dẫn thân vào đất sinh, vượng, cho nên là quý, thơ rằng:
Sinh xứ tụ sinh phúc tối giai
Ẩn thụ dẫn vượng phúc vô nhai
Trường sinh phục đáo trường sinh địa
Ngũ mã chư hầu phú quý gia
2.13. Mộc Hoả giao huy cách
Tượng này như Giáp Tuất, Giáp Ngọ, Giáp Dần, Bính Ngọ, Bính Dần, Bính Tuất, các ngày phải sinh vào tháng xuân hoặc tháng Ngọ, trong trụ không thấy Kim Thuỷ làm tổn thương phá hoại, ở giờ phải thấu xuất Mộc, Hoả mới thành. Trong hành vận, ngày Mộc Hoả đẹp, hành vận nam phương, ngày Hoả Mộc đẹp, hành vận đông phương.
Bát tự nhập cách:
Năm Đinh Tỵ
Tháng Giáp Thìn
Ngày Giáp Dần
Giờ Đinh Mão
Trong cục Mộc Hoả thông sáng, cho nên là mệnh Quý và Phú.
2.14. Hoả Thổ Giáp tạp
Hoả thấy Thổ thì tối, Thổ ép Hoả thì mờ cho nên cần Hoả tự Hoả, Thổ tự Thổ, hai bên không che nhau là tốt. Trong cục nếu Hoả Thổ giáp tạp, phần lớn là ngu dốt.
Bát tự nhập cách:
Năm Mậu Tuất Tháng Đinh Tỵ
Ngày Kỷ Mùi Giờ Bính Dần
Trong cục vì Hoả Thổ giáp tạp, cho nên bình thường. Sách nói: Hoả hư Thổ trụ có tác dụng gì? Hẳn là người vất vả ở chốn trần ai.
2.15. Thuỷ Thổ bại dậu cách
Thuỷ Thổ bại dậu, không lợi cuối đời, Tam Mệnh thông hội nói: nếu càng là Thuỷ mệnh Thổ mệnh, mà ngày sinh gặp Thuỷ Thổ, càng nghiệm.
Bát tự nhập cách:
Năm Quý Hợi Tân Dậu
Tháng Ất Sửu Giáp Ngọ
Ngày Quý Dậu Mậu Tý
Giờ Tân Dậu Tân Dậu
Nhập cách này, hoặc làm quan nhỏ hoặc về hưu sớm, hoặc chỉ bình thường mà sớm lìa đời, cuối đời thường không tốt đẹp.
2.16. Giáp khố cách
Cách này, địa chi bốn trụ hư, Giáp khố vị Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, Đại kỵ lấp đầy và hình xung phá hại không vong, tuế vận lấy đất quan ấn là tốt.
Bát tự nhận cách:
Năm Ất Hợi
Tháng Kỷ mão
Ngày Kỷ tỵ
Giờ Giáp Tý
Tháng Mão ngày Tỵ, ở giữa hư, với Thuỷ Khố trong Thìn là tài, tứ trụ lại không có chi Thìn lấp đầy và không phạm không vòng phá hại hình xung, cho nên quý là mệnh của thừa tướng.
2.17. Địa chi giáp cũng cách
Cách này còn gọi là “địa chi liên nhụ” nêu ví dụ như địa chi tứ trụ thấy Tỵ, Dần, Thìn, Tỵ, Ngọ. Theo thứ tự sắp xếp của 12 chi là Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Bây giờ địa chi của tứ trụ là Tý, Dần, Thìn, Ngọ, ở giữa hư Giáp hư cũng Sửu, Mão, Tỵ, cho nên gọi là địa chi Giáp cũng
Bát tự nhập cách: Thái sư Thiếp Can Viễn
Năm Giáp Dần
Tháng Mậu Thìn
Ngày Bính Ngọ
Giờ Bính Thân
Địa chi tứ trụ Dần Thìn, Giáp Mão, Thìn, Ngọ, Giáp Tỵ, Ngọ Thân, Giáp Mùi, nên nhập vào địa chi Giáp cùng cách.
2.18. Mộ sát cách
Cách này vì thất sát nhập vào mộ khố, cho nên gọi là “mộ sát”. Nếu ngày Giáp gặp Canh Tuất, Canh Thìn, ngày Ất gặp Tân Sửu, Tân Mùi, ngày Bính gặp Nhâm Thìn, Nhâm Tuất, ngày Đinh gặp Quý Sửu, Quý Mùi, ngày Mậu gặp Giáp Thìn, Giáp Tuất, ngày Kỷ gặp Ất Sửu, Ất Mùi, ngày Canh gặp Bính Thìn, Bính Tuất, ngày Tân gặp Đinh Sửu, Đinh Mùi, ngày Nhâm gặp Mậu Thìn, Mậu Tuất, ngày Quý gặp Kỷ Sửu, Kỷ Mùi thì đúng nó.
Bát tự nhập cách:
Năm Kỷ Tỵ
Tháng Mậu Thìn
Ngày Quý Sửu
Giờ Bính Thìn
Tam mệnh thông hội nói: ngày quý gặp Mậu là quan, Kỷ là sát, Mậu, Kỷ đều ở Thìn lại là Quý Thuỷ khố, chủ nhân sớm phát sớm tàn.
2.19. Kim thần cách
Kim thần cách chỉ có 3 giờ, đó là Quý Dậu, Kỷ Tỵ, Ất Sửu. Phàm là trụ giờ trong tứ trụ xuất hiện 3 sao giờ này thì được coi là Kim thần cách. Nhưng cũng có người cho rằng nếu gặp sinh vào ngày lục Giáp thì mới nhập vào cách cục này, trong đó Giáp Tý, Giáp Thìn càng tốt, Kim thần vốn là thần phá bại, hễ nhập vào cách cục này. Trong tứ trụ phải hoà chế phục mới quý, hoặc hành vận đi vào đất Hoả cùng tốt, nếu vận vào đất thuỷ, thuỷ tiết Kim khí, đại hoạ sẽ giáng xuống đầu.
Bát tự nhập cách: Nhạc Vũ Mục
Năm Quý Mùi
Tháng Ất Mão
Ngày Giáp Tý
Giờ Kỷ Tỵ Kim thần
Tinh Bình hội hãi nói: Giáp kỷ là bình đầu sát, sinh vàọ tháng xuân, Thân vượng tài nhược, chủ cốt nhục tham gia thương mại, bình sinh làm việc, khéo quá thành vụng. Kỷ Tỵ
Kim Thần có Hoả chế phục, Tỵ Dậu Sửu hợp cụ, hành vận nam phương, danh cao lộc nặng, trụ không gặp Hoả, tàn hại hoá khí, chủ hung ác tàn bạo mà chết. Ngày Giáp Tý, giờ Kỷ Tỵ, trước nghèo sau giàu, tổ nghiệp sơ sài, vợ siêng con phá. Thơ rằng.
Quý Dậu Kỷ Tỵ Tịnh Ất Sửu
Thời thượng phùng chi thị phúc thần
Ngạo vật thị tài nghi chế phục
Giao phùng nhận sát quý nhân trân
Tính đa lang bạo tài minh mẫn
Vận nhập thuỷ hương lập khổ nhân
Chế phục vận hành phùng Hoả cục
Can thiên quý hiển phú vô luân.
2.20. Khôi cương cách
Khôi cương (tên sao) có 4 là Canh Thìn, Nhâm Thìn, Mậu Tuất, Canh Tuất, trong đó Thìn là Thuỷ khố thuộc thiên cương (tên sao), Tuất là Hoả khố thuộc địa lý, Thìn Tuất gặp nhau, cho nên trở thành một loại sát thiên xùng địa kích. Nếu trong mệnh, ngày sinh gặp Canh Thìn, Nhâm Thìn, Mậu Tuất, Canh Tuất thì sẽ thuộc về khôi cương cách cục. Tam mệnh thông hội nói: khôi cương tụ nhiều (trong tứ trụ xuất hiện khôi cương không phải chỉ ở chỗ trụ ngày) phát phúc phi thường . Người chủ mệnh tính cách thông minh, văn chương phấn phát, gặp việc quả đoán, cầm quyền hiếu sát. Nếu vận hành thân vượng, phát lúc trăm bề, hễ gặp tài quan, tai hoạ đến ngay. Tử Bình tổng luận nói: thân ỏ thiên cương địa khôi, buồn thì bần hàn thấu xương, cường thì hiểm quý tuyệt luân, nhưng với loại cách cục này, xem phải linh hoạt, ví dụ bát tự của Trương Thời Kim là Canh Ngọ, Đinh Hợi, Mậu Tuất, Bính Thìn, Bát tự của Thiếu Khanh Lưu đại thụ là Đinh Hợi, Quý Sửu, Canh Tuất, Mậu Dần, tuy nói ngày sinh đều là khôi cương nhưng lại không kỵ tài quan ấn là một minh chứng, thơ rằng:
Nhâm Thìn Canh Tuất dữ Canh Thìn
Mậu Tuất khôi cương tư toạ thần
Bất kiến tài quan hình sát Tịnh
Thân hành vượng địa quý thiên luân
Về cách nói khôi cương cách, Trương Thần Phong phê phán nói: “khôi cương cách lấy Nhâm Thìn, Canh Tuất, Canh Thìn, Mậu Tuất, lâm trí mộ, là khối cương, có thể nắm đại quyền. Sao lại lâm tứ mộ mới được như vậy, cũng là nói xạo
2.21. Nhật đức cách
Cách cục này chỉ có 5 ngày can dương tức là Giáp Dần, Bính Thìn, Mậu Thìn, Canh Thìn, Nhâm Tuất, trong đó Giáp toạ dần đắc lộc, Bính toạ Thìn quan Thổ Canh toạ Thìn tài ấn song toàn, Nhâm toạ Tuất Tài Quan Ấn đều đủ, và địa chi dần đứng đầu tam dương, thìn Tuất là đất Khôi yêu thích, cho nên can chi của 5 ngày này có điểm khác với can chi của các trụ ngày khác, trong bát tự xuất hiện nhất đức, không ngại nó nhiều, nếu chỉ có một ngôi trụ ngày Nhật đức thì khi chưa lấy cách phải theo tài, quan ấn thực trong trụ tháng mà đứng làm khác. Lúc bình thường nhật đức ngoài Canh Thìn tự kiêm hai chức khôi cương ra, dù trong mệnh có là đại vận hay không, tối kỵ đồng thời xuất hiện vối cái khỏi ưu thích, nếu không sẽ cho rằng là vận mệnh rất không tốt.
Bát tự nhập cách: Trương Học Quan
Năm Giáp Thân
Tháng Mậu Thìn
Ngày Mậu Thìn
Giờ Nhâm Tuất
Trong mệnh có ba ngôi Nhật Đức, do họ quan mà đại vàng áo gấm, quan hàm ngũ phẩm, rất là cao. Lại như mệnh Canh Thìn, Kỷ Mão, Mậu Thìn, Giáp Dần, theo lý có ba ngôi Nhật Đức, đáng là mệnh tốt nhưng Giáp Dần kỵ gặp Canh Thìn là cái mà khôi ưa thích, về sau vận hành đến đất tài quan Nhâm Ngọ, Kỷ Thổ trong Ngọ là dương nhận của can ngày Mậu Thổ, phạm phải kỵ huý của Nhật Đức, lúc đến năm Tỵ. Dần Tỵ tương hình, tháng 4 chết, chỉ thọ 38 tuổi, đó là việc Tam mệnh thông hội ghi chép. Thơ này.
Nhật Đức hỷ sát hỷ thân cường
Bất hỉ tài tinh quan vượng hương
Vì tính ôn nhu cánh từ thiện
Nhất sinh phúc thọ lạc phi thường
Nhật Đức bất hỉ kiến khôi cương
Hoá thành sát diệu tối nan đương
Cục trung trùng kiến hoàn tu tật
Vận hạ phùng chi tất định vong
2.22. Nhật quý cách
Người có mệnh sinh vào 4 ngày Đinh Dậu, Đinh Hợi> Quý Tỵ, Quý Mão, vì rằng can ngày toạ ở sao Thiên Ất quý nhân, cho nên bèn gọi cách cục là “nhật quý”, trong đó lại phân ra Nhật Quý Dạ Quý. Sinh ngày Đinh Dậu, Quý Mão giờ sinh phải ban ngày, g
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Trúc Loan (##)
Chùa An Ninh nằm tại thôn 4, xã Tân Hương, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương, được trụ trì bởi Đại đức Thích Tục Phương. Chùa An Ninh có tên chữ là Vĩnh Khánh tự, tên thường gọi là Chùa Trăm Gian xứ Đông, ở Vạn Lộng trang sau đổi thành làng An Ninh rồi An Đông thuộc xã An Bình, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Theo hệ thống bia ký, chùa Trăm gian có quy mô khá lớn và độc đáo vào bậc nhất ngày từ đầu thế kỷ XVII.
Lịch Sử: Chùa An Ninh được xây dựng từ đầu thế kỷ XVII đến năm Chính Hòa (1691) đời vua Lê Hy Tông sửa thượng điện, năm Vĩnh Thịnh thứ 1 (1705) đời vua Lê Dụ Tông vua tiếp tức sửa thượng điện, các năm 1740 và 1809 tư sửa và tôn tạo khá nhiều công trình trong chùa.
Thế kỷ XIX – XX chùa Trăm gian được trùng tu lớn. Đường vào chùa qua một cầu gỗ xây dựng theo kiểu “thượng gia hạ kiều” vào năm Cảnh Hưng thứ 1 (1740). Năm 1795, “thượng gia hạ kiều” bị giải hạ và thay vào đó là một cầu đá 9 nhịp. Đến khoảng năm 1938-1939, cầu đá bị sông ngòi vùi lấp . Đến nay cầu chỉ còn 3 hàng cột nhô lên mặt nước.
Kiến Trúc: Các công trình chính của chùa hiện nay nằm tập trung trong một quần thể kiến trúc gần như khép kín. Từ phía đông, mở đầu là công trình gác chuông, có quy mô lớn và độc đáo. Trên gác chuông ở gian trung tâm treo quả chuông đồng đúc vào năm Thành Thái thứ 2 (1890), đây là quả chuông hiếm có của tỉnh Hải Dương.
Chùa có kiến trúc kiểu chữ Đinh, được xây dựng vào năm Chính Hòa thứ 12 (1691) nhưng đã được trùng tu nhiều lần, kiến trúc hiện nay mang phong cách thời Nguyễn thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Gần đây, thượng điện đã được tu sửa lại.
Tiền đường 7 gian, kết cấu các vì kèo theo kiểu chồng rường đấu sen. Các chi tiết như cột cái, cột quân, bẩy hiên, xà nách, các con thuận, câu đầu, trụ, con vành, đấu gòi được chế tạo rất công phu. Các xà thượng, xà hạ, hoành, rui đều được soi chỉ. Kết cấu hệ thống giằng ngang và giằng dọc hợp lý, chặt chẽ. Trong tiền đường có một số bức chạm hoa lá “long quần”, chạm khắc rất tinh vi. Phần ngõa cũng được tạo dựng khá chắc chắn, tường, móng xây dựng bằng gạch Bát Tràng đe lộ bắt mạch, mái lợp ngói mũi cổ, kỹ thuật lợp phẳng.
Nối liền gian tiền đường với 3 gian thượng điện là hai máng xối. Tường xây bằng gạch Bát Tràng, bên trong trát vữa, ngoài đe mộc bắt mạch nõn dong, mái lợp ngói mũi. Bên trái thượng điện là 7 gian nhà thờ mẫu. Các vì kèo kết cấu theo kiểu kèo cầu, đơn giản. Bên phải là hai nhà khách. Hai nhà khách nối liền nhau như một hành lang. Sau thượng điện là nhà tứ ân, kết cấu theo kiểu kẻ chuyền, chồng chóp, các con chồng, đấu sen, các bức chạm lá lật chạm trồ tinh vi. Nhà thờ tổ nằm phía sau nhà tứ ân.
Sau nhà tổ là nhà cung 9 gian, kết cấu theo kiểu kèo cầu trụ đấu, mái thấp, gian hẹp, được tu sửa năm 2002. Phía bắc chùa có sân rộng chừng 1.000m², có một số công trình quay ra sân là nhà tháp nhà tăng, am trong, am ngoài cùng nhiều công trình phụ khác. Phía sau chùa là một vườn tháp gồm 10 ngôi, trong đó có 9 ngôi được xây dựng vào thời Nguyễn, một ngôi được xây dựng năm 2003.
Đầu thế kỷ XX, chùa Trăm gian còn đủ 100 gian, nhưng hiện nay chùa chỉ còn 85 gian. Chùa còn lưu giữ hệ thống cổ vật phong phú gồm 57 pho tượng Phật có niên đại thời Lê và thời Nguyễn, trong đó có tượng Trúc Lâm tam tổ, 12 bức đại tự, 12 đôi câu đối các loại, 738 bản khắc kinh Phật, 7 bia đá có niên đại thời Lê và thời Nguyễn, nhiều cổ vật có chất liệu gỗ, gốm, đồng và khá nhiều đồ tế tự mới.
Chùa An Ninh (Chùa Trăm Gian) đã được công nhận di tích năm 1990. Đến nay chùa thu hút nhiều lượt du khách tham quan. đặc biệt là vào ngày lễ chính: Ngày 13 tháng 9 âm lịch hàng năm.
No1. Tuổi Tý
Trong 5 năm nữa, vận may về tiền bạc của những người cầm tinh con Chuột siêu vượng. Bản thân con giáp này lại rất đam mê chuyện kiếm tiền nên khó mà bỏ lỡ cơ hội này.
Đặc biệt, khả năng trúng thưởng bất ngờ của con giáp này rất cao, thậm chí họ có thể giàu sụ chỉ sau một đêm thôi đấy. Do đó, đôi khi bạn có thể thử vận may của mình bằng cách mua vé số, biết đâu điều đó sẽ mang lại số tiền kếch xù mà bạn có nằm mơ cũng không thấy.
No2. Tuổi Mão
![]() |
Cuộc đời của những người cầm tinh con Mèo khá may mắn, đặc biệt về phương diện tiền bạc. Bạn thấy đấy, xung quanh mình không ít người tuổi Mão có thể giàu lên trông thấy chỉ sau một đêm thôi.
Dựa vào vận may trời ban cộng thêm với sự nỗ lực không mệt mỏi, việc có được cuộc sống giàu sang phú quý trong 5 năm nữa đối với họ chỉ là chuyện nhỏ mà thôi.
No3: Tuổi Ngọ
![]() |
Khả năng kiếm tiền của người tuổi Ngọ cứ gọi là siêu việt. Đặc biệt là những người có đầu óc kinh doanh, buôn bán thì số lợi nhuận họ thu về nhiều theo cấp số nhân mỗi năm.
Do đó, cơ hội để họ làm chủ cuộc sống giàu có, dư giả tiền của sẽ tăng dần theo thời gian. Trong 5 năm nữa, chắc chắn con giáp này sẽ tạo nên tiếng vang lớn trong xã hội với khối tài sản khổng lồ của mình.
No4: Tuổi Dậu
Trong 5 năm tới, vận thế của người tuổi Dậu lên như diều gặp gió, lại xuất hiện quý nhân phù trợ nên mọi sự đều thành công rực rỡ. Hơn thế, với ý chí kiên định và nghị lực vươn lên trong cuộc sống, chắc chắn họ sẽ chinh phục được mọi mục tiêu đề ra.
Mr.Bull (Theo DYXZ)
![]() |
Top 3 con giáp sẵn sàng xả thân vì bạn bè |

| Giờ\Ngày |
Tý |
Sửu |
Dần |
Mão |
Thìn |
Tị |
Ngọ |
Mùi |
Thân |
Dậu |
Tuất |
Hợi |
| Dần-Thân |
Đi |
Đường |
Bình |
Yên |
Đến |
Đâu |
Cũng |
Được |
Người |
Quen |
Đón |
Chào |
| Mão-Dậu |
Đến |
Cửa |
Động |
Đào |
Có |
Tiên |
Đứng |
Đón |
Qua |
Đèo |
Thiên |
Thai |
| Thìn-Tuất |
Ai |
Ngóng |
Đợi |
Ai |
Đường |
Đi |
Suôn |
Sẻ |
Đẹp |
Đôi |
Bạn |
Đời |
| Tị-Hợi |
Cuối |
Đất |
Cùng |
Trời |
Đến |
Nơi |
Đắc |
Địa |
Còn |
Nghĩ |
Đắn |
Đo |
| Tý-Ngọ |
Đẹp |
Đẽ |
Tiền |
Đồ |
Qua |
Sông |
Đừng |
Vội |
Đón |
Đò |
Mà |
Sang |
| Sửu-Mùi |
Sẵn |
Người |
Đưa |
Đường |
Qua |
Đèo |
Vượt |
Suối |
Đến |
Nơi |
Đồn |
Điền |
* Lưu ý:
Ô nào có chữ “Đ”, giờ tương ứng chính là giờ Hoàng Đạo.
Ví dụ: 2 ngày Dần – Thân có các giờ: Tý, Sửu, Thìn, Tị, Mùi, Tuất là các giờ Hoàng Đạo. Vì các giờ này ứng với chữ cái đầu là chữ “Đ”.
Lòng tự trọng là một cảm xúc cơ bản của con người. Người ta cứ tưởng rằng ngoài con người ra, những sinh vật khác không hề có cảm xúc hay suy nghĩ độc lập. Đó là một nhận thức sai lầm, bởi chúng cũng có những cảm nhận riêng mà con người không nhận thấy.
Năm ấy tôi quen một huấn luyện viên dạy chó nghiệp vụ trong quân đội. Tôi hỏi anh: “Loại chó thông minh nhất có thể đạt được tới trình độ như thế nào?”
Anh trả lời: “Trừ chuyện không biết nói ra, chúng không khác gì người”.
Câu trả lời của anh khiến tôi sửng sốt. Tôi hỏi tiếp: “Phải chăng câu này của anh có lẫn lộn nhiều màu sắc tình cảm?”
“Không đâu!”, anh nói.
Rồi anh kể cho tôi nghe dăm ba câu chuyện về loài chó, đều là những chuyện chính anh từng trải qua. Có mấy chuyện tôi đã quên mất rồi, duy chỉ có một chuyện sau đây thì cho đến nay tôi vẫn còn nhớ như in.
Trong doanh trại của anh có một con chó cực kỳ thông minh tên là Đen. Để trắc nghiệm năng lực phản ứng của nó, một hôm mấy huấn luyện viên dạy chó nghĩ ra một biện pháp đặc biệt. Họ chọn hơn chục người xếp thành một hàng, sau đó cử một người trong số đó vào trong doanh trại “lấy cắp” một vật đem giấu đi, rồi lại trở về đứng trong hàng. Khi mọi việc đã xong xuôi, huấn luyện viên dạy chó dắt con Đen đến, bảo nó đi tìm vật bị mất.
Con Đen chạy đi, chỉ một loáng sau đã thấy nó ngoạm vật kia mang đến. Huấn luyện viên dạy chó vỗ vỗ lên đầu nó tỏ ý khen ngợi. Rồi anh chỉ tay vào hàng người kia, bảo con Đen đi tìm kẻ đã lấy cắp vật ấy. Nó chạy đến dí mũi hít hít ngửi ngửi hết người này đến người khác, chẳng mấy chốc đã cắn quần một anh lôi ra ngoài hàng, đúng là anh “kẻ cắp” kia.
Phải nói rằng như vậy con Đen đã hoàn thành trọn vẹn nhiệm vụ được giao, thế nhưng huấn luyện viên dạy chó lại cứ một mực lắc đầu bảo nó: “Không, không phải người ấy! Tìm lại đi!”
Con Đen tỏ ý hết sức ngạc nhiên, mắt nó ánh lên nỗi nghi hoặc, thắc mắc, vì nó tin chắc rằng mình không hề tìm nhầm người; nhưng mặt khác nó lại tuyệt đối tin tưởng vào huấn luyện viên của mình. “Đây, đây là chuyện thế nào nhỉ?”, chắc nó nghĩ vậy.
“Không phải người ấy! Đi tìm lại đi!”, huấn luyện viên cứ khăng khăng bảo.
Con Đen tin vào huấn luyện viên, nó quay lại tìm… Nhưng sau nhiều lần thận trọng ngửi đi ngửi lại, cuối cùng nó vẫn cứ cắn quần anh chàng kia lôi ra.
“Không! Không đúng!”, huấn luyện viên lại lắc đầu. Tìm lại đi! Con Đen mỗi lúc một thêm nghi hoặc, đành chạy lại chỗ hàng người kia. Lần này nó đánh hơi ngửi rất lâu, rất lâu để xác định ai là kẻ cắp.
Sau cùng, nó đứng lại bên cạnh anh “kẻ cắp” kia rồi quay đầu nhìn huấn luyện viên, tỏ ý “tôi cảm thấy chính là người này đây…”
“Không! Tuyệt đối không phải người ấy!”, huấn luyện viên lại quát to, nét mặt trở nên nghiêm nghị. Sự tự tin của con Đen bị đập tan tành. Dĩ nhiên nó tin vào huấn luyện viên hơn là tin vào bản thân nó. Rốt cuộc nó bỏ kẻ cắp kia và đi tìm người khác, nhưng người khác… đều không đúng mà?
“Nó ở trong hàng người ấy đấy! Mau tìm ra ngay!”, huấn luyện viên quát lên.
Con Đen vô cùng thất vọng chán nản. Nó dừng lại bên chân mỗi người một lúc, nhìn nhìn ngó ngó xem người đó có giống tên kẻ cắp hay không, rồi quay đầu nhìn ánh mắt của huấn luyện viên, hy vọng có thể tìm thấy chút ít tín hiệu hoặc biểu thị gì đấy… Cuối cùng, khi nó nắm bắt được một chút xíu biến đổi trong ánh mắt của huấn luyện viên, nó cắn quần người đứng bên cạnh và kéo ra.
Tất nhiên, lần này thì nó đã nhầm, nhưng huấn luyện viên của nó cùng mấy người kia thì lại cười ha hả. Tiếng cười khiến con Đen trở nên lú lẫn. Sau cùng huấn luyện viên gọi “kẻ cắp” bước ra ngoài hàng, rồi bảo con Đen: “Lần đầu mày tìm đúng rồi, nhưng mày sai ở chỗ không kiên trì mình đúng…”
Một điều khiến huấn luyện viên và tất cả mọi người có mặt lúc ấy không thể hiểu được và vô cùng kinh ngạc, vô cùng ân hận, là ngay trong khoảnh khắc ấy họ đã nhìn thấy: Khi con Đen hiểu ra chuyện vừa rồi là một vụ lừa dối, nó “ngoào” lên một tiếng vô cùng đau khổ, mắt ứa ra những giọt nước mắt nóng hổi. Sau đấy nó ủ rũ gục đầu nặng nề, thui thủi từng bước bỏ đi…
“Đen! Đen! Mày đi đâu thế hả?”, huấn luyện viên sợ hãi đuổi theo hỏi tới tấp.
Con Đen chẳng hề đoái hoài tới người rèn dạy nó, cứ cắm cúi đi ra khỏi doanh trại.
“Đen! Đen! Tao xin lỗi mày!”, huấn luyện viên òa lên khóc.
Nhưng con Đen chẳng hề xúc động, nó không thèm ngoái lại nhìn chủ mình.
“Đen! Đừng giận! Tao chỉ đùa mày một tí thôi mà!”, huấn luyện viên chạy đến ôm chặt lấy con chó, nước mắt nóng hổi từ mặt anh lã chã rơi xuống con Đen. Con chó giãy giụa tuột ra khỏi vòng tay của huấn luyện viên, rồi nó thủng thẳng, lừ đừ từng bước đi lên quả đồi ở bên ngoài doanh trại, tìm một chỗ khuất gió xoài bốn chân nằm xuống đất…
Mấy ngày sau đấy con Đen không ăn không uống, ủ rũ chán chường. Mặc cho huấn luyện viên dỗ dành, nựng nịu thế nào đi nữa, nó cũng nhất định không chịu tha lỗi cho anh.
Lúc bấy giờ mọi người mới hiểu ra: Dù chỉ là con chó thôi, nó cũng có sự tự trọng của mình!
đấy.
Con người ta ai cũng có tự tôn riêng của mình, đừng vì một phút nhất thời mà đánh mất đi tình bạn quý giá.
Đối với một ngôi nhà, cửa sổ được coi là linh hồn, đón sinh khí cho gia đình và là một phần tất yếu tạo nên sự lịch lãm, cũng như phong cách kiến trúc của ngôi nhà đó. Trong phong thủy, bố trí cửa sổ là việc cực kì quan trọng. Bài trí cửa sổ hợp phong thủy sẽ giúp đón thêm nhiều vượng khí, mang lại năng lượng tươi mới cho ngôi nhà. Một ngôi nhà đẹp không thể thiếu được cửa sổ. Cửa sổ được ví như đôi mắt, là nơi giúp bạn nhìn ra thế giới bên ngoài. Cửa sổ tuy chỉ là một dấu ấn nhỏ trong thiết kế nhưng có vai trò vô cùng to lớn. Nó không chỉ mang đến sự thông thoáng, vẻ lịch lãm, quyến rũ của ngôi nhà mà còn thu nạp vượng khí và may mắn cho gia chủ.
Ngoài cửa chính, những yếu tố phong thủy cửa sổ cũng cần được chú ý. Tuy nhiên, ngày nay chuyện mở cửa sổ đối với ngôi nhà còn đang bị xem nhẹ, bởi có một số người có quan niệm sai lầm rằng “cửa sổ đặt đâu cũng được, miễn sao ánh sáng mặt trời chiếu sáng đầy đủ thông suốt là được”.
Trong phong thủy có rất nhiều yếu tố liên quan chặt chẽ tới tài lộc. Cửa sổ là một nơi quan trọng để giữ gió và khí. Vì thế, vị trí, hình dáng, kích thước cửa sổ sẽ xác định nguồn khí của ngôi nhà là tốt hay xấu, mạnh hay yếu. Nó cũng liên quan đến phong thủy của ngôi nhà và kiểm soát may mắn cho gia chủ.
Theo đó, bố trí cửa sổ phù hợp sẽ chiêu tài chiêu lộc, ngược lại thì sẽ khiến mọi may mắn bị xua tan. Vậy nên bố trí cửa sổ theo hướng nhà như thế nào để hợp phong thủy, mang lại phúc lành cho những người sống trong ngôi nhà đó? Hãy cùng Lịch ngày tốt tìm hiểu về vấn đề này nhé.
![]() |
![]() |
Ở đây chúng tôi không nói đến sự khác biệt giữa luật hôn nhân thời xưa và thời nay, và những quy định bất công về phụ nữ thời phong kiến mà chỉ nói về phong tục, trong đó một số phong tục còn duy trì tới nay:
Trước khi cô dâu về nhà chồng luôn có những thủ tục cơ bản theo đúng phong tục cưới hỏi Việt Nam. Xem những thủ tục trước khi cô dâu về nhà chồng.
Khi nhà trai bắt đầu đến đón dâu thì cô dâu cùng với chú rể đến trước bàn thờ gia tiên, khấu đầu làm lễ, tự khấn lạy xin tổ tiên chấp nhận kể từ nay nên vợ nên chồng, phù hộ cho trăm năm duyên ưa phận đẹp, cầm sắt giao hoà.
Cũng có thể nhờ gia trưởng khấn hộ cho có bài bản. Lễ xong, hai người đưa hộp trầu, bao thuốc, đi mời chào thân nhân, khách, bạn khắp một lượt, người nhà sau, những đám cưới có tổ chức thường đã có sự sắp xếp vị trí sẵn. Trong khi chào mời, cô dâu phải giới thiệu cho chú rể biết mối quan hệ để biết cách xưng hô.
Sau cùng, trước khi bước ra cửa để về nhà chồng là lễ tạ cha mẹ: Cha mẹ ngồi sẵn một phía ở cửa chính, nếu ông bà nội ngoại còn thượng tại có đến dự thì ông bà cũng ngồi chung một phía, nhưng ở ghế cao hơn.
Đối với ông bà cũng có những động tác tương tự.
1. Cách giải họa qua các sao:
a. Chính tinh:
Vũ Khúc: là sao giải họa mạnh nhất. Nếu Vũ Khúc miếu, vượng và đắc địa gặp Không, Kiếp, Kình, Đà, Hỏa, Linh thì không đáng lo ngại trong khi Tử Vi chỉ chế được Hỏa, Linh. Nếu Vũ Khúc đồng cung với Thiên Tướng thì khả năng chống đỡ với sát tinh càng mạnh thêm, cho dù sát tinh đó đắc địa hay hãm địa.
Thiên Tướng: khắc chế được sát tinh. Có võ tinh khác đi kèm, Tướng được thêm uy, thêm quân. Được Vũ Khúc đồng cung, hiệu lực của Thiên Tướng càng được tăng cường: tiêu trừ hay giảm thiểu tai họa, bệnh tật một cách đáng kể. Thiên Tướng chỉ e ngại Kình Dương, Thiên Hình và hai sao Tuần, Triệt. Với Kình Dương, hung nguy dễ gặp. Với Tuần Triệt và Thiên Hình, Thiên Tướng không những mất uy lực cứu giải mà còn báo hiệu bệnh, tật, họa nặng nề hơn nữa.
Tử Vi: là cách giải họa gián tiếp vì (i) Tử Vi che chở con người chống lại bệnh tật và họa nhưng Tử Vi chỉ ban phúc chứ không giải họa mạnh như Vũ Khúc hay Thiên Tướng. Đối chọi với sát tinh, Tử Vi chỉ khắc được Hỏa, Linh mà thôi. Gặp sát tinh khác như Kình, Đà, Không, Kiếp, Tử Vi ví như bị vây hãm một cách hiểm nghèo: tuy không chết nhưng gặp hung họa dẫy đầy, đấu tranh chật vật; (ii) Tử Vi mang lại tiền bạc, của cải giúp con người tránh được cảnh nghèo, đồng thời giúp con người tạo phúc cho mình bằng tiền bạc; (iii) Tử Vi ban cho công danh, quyền thế trong xã hội, không bị đè nén bởi sự cạnh tranh giai cấp.
Thiên Phủ: cũng có đặc tính như Tử Vi nhưng hiệu lực kém hơn. Tuy nhiên, Phủ mạnh hơn Tử trong việc đối chọi với sát tinh: có tác dụng khắc phục được cả Kình Đà nhưng hiệu lực này chỉ có đối với từng sao riêng lẻ hoặc nhiều lắm là hai hoặc ba sao phối hợp. Lẽ dĩ nhiên, Phủ chưa phải là địch thủ của Địa Không, Địa Kiếp và Phủ còn chịu thua Thiên Không nữa. Mặt khác, gặp Tuần Không và Triệt Không, Phủ bị giảm hẳn khả năng cứu giải.
Tử Vi, Thiên Phủ đồng cung: chế hòa được Kình, Đà, Hỏa, Linh phối hợp nhưng đây là cuộc đọ sức giữa các địch thủ hạng nặng, hẳn sẽ gây biến động lớn cho cuộc đời. Bản Mệnh chỉ vững chãi nếu được đắc cách Mệnh Cục tương sinh, Âm Dương thuận lý cùng với Tử Phủ đắc địa đồng cung. Bằng không, cuộc đời sẽ gặp nhiều sóng gió, hiểm tai nghiêm trọng. Phối cách này cũng tạm thời cầm chân được từng sao Địa Không, Địa Kiếp.
Tử, Phủ, Vũ, Tướng cách: cách hay nhất vì giải họa thập toàn nhất.
Thiên Lương: nếu đóng ở cung Phúc thì đức của ông bà di truyền được cho mình, nếu đóng ở Mệnh, Thân thì tự mình tu nhân, tích đức, gây được hậu thuẫn cho người đời. Nhưng Thiên Lương chỉ kìm chế được hung tinh mà thôi.
Thiên Đồng: ý nghĩa tương tự như Thiên Lương nhưng hiệu lực cứu giải kém hơn. Gặp hung tinh, Thiên Đồng ắt phải lận đận nhiều và chỉ kìm chế được nếu có thêm giải tinh trợ lực. Đối với bệnh tật, Thiên Đồng ắt phải lận đận nhiều và chỉ bệnh về bộ máy tiêu hóa vì Thiên Đồng giải bệnh tương đồng kém.
Thái Dương, Thái Âm sáng sủa: chỉ sự thông minh quán thế, khả năng nhận thức thời cuộc, sự am hiểu lẽ trời, tình người từ đó Nhật Nguyệt giúp con người thích nghi dễ dàng với nghịch cảnh với nhiều may mắn. Tuy nhiên, đối với bệnh tật, Nhật Nguyệt không mấy hiệu lực: chỉ bệnh căng thẳng tinh thần, bệnh thần kinh, bệnh tâm trí và nhất là bệnh mắt. Nhật Nguyệt có hiệu lực như Thiên Phủ đối với Kình, Đà, Hỏa, Linh nhưng bị Không, Kiếp lấn át. Nếu Nhật Nguyệt đồng cung ở Sửu Mùi có Tuần Triệt án ngữ, thêm Hóa Kỵ càng tốt, khả năng giải họa tất phải mạnh hơn, chống được hung và sát tinh đơn lẻ. Giá trị của Nhật Nguyệt trong trường hợp này tương đương với Tử Phủ đồng cung hay ít ra cũng bằng Đồng Lương hội tụ.
b. Phụ tinh:
+ Những giải tinh bắt nguồn từ linh thiêng: được cụ thể hóa qua: những hên may đặc biệt giúp cho con người thoát hay giảm được bệnh tật, tai họa; những vận hội tốt đẹp của thời thế, của hoàn cảnh, những diễn biến bất ngờ có lợi đặc biệt cho riêng mình. Gồm các sao: Ân Quang, Thiên Quý, Thiên Giải, Địa Giải, Giải Thần, Thiên Quan, Thiên Phúc
+ Những giải tinh bắt nguồn từ sự giúp đỡ của người đời: Tả Phù, Hữu Bật khi đắc địa ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi và có kèm theo nhiều cát tinh khác. Tả Hữu tượng trưng cho sự giúp đỡ của bạn bè, đồng nghiệp, thượng cấp, hạ cấp nhưng chỉ cứu họa chứ không giải bệnh. Tả Hữu còn có nghĩa là chính mình hay giúp đỡ kẻ khác nhờ đó được sự hỗ tương. Có hai sao này ở Mệnh, đương số dễ dàng thành đạt nhưng cần đi chung với chính tinh đắc địa.
+ Những giải tinh bắt nguồn ở chính năng đức con người:
Tam Hóa (Khoa, Quyền, Lộc): càng mạnh nghĩa hơn nữa. ý nghĩa đó càng mạnh nếu cả ba hội chiếu hoặc liên châu (Mệnh, Thân ở giữa có một Hóa, hai Hóa kia tiếp giáp hai bên). Thủ Mệnh hay Thân, Tam Hóa có hiệu lực mạnh hơn thế liên châu, nhất là không bị sát tinh xâm phạm. Tam Hóa sẽ tăng hiệu lực nếu đóng ở cung ban ngày và cung dương. Tam Hóa giải họa nhiều hơn giải bệnh,tật. Nếu bị sát tinh đi kèm, Hóa nào bị thì nguồn cứu giải của Hóa đó bị giảm sút hoặc bị họa về mặt đó. Cụ thể, Quyền gặp Không Kiếp thì quý cách bị giảm, Lộc gặp Không Kiếp thì hao tán tiền bạc, Khoa gặp Không Kiếp thì khoa bảng lận đận.
Tứ Đức (Long Đức, Nguyệt Đức, Thiên Đức và Phúc Đức): chỉ phẩm cách tốt, sự nhân hậu, khoan hòa của cá nhân, nết hạnh đó báo hiệu sự vô tai họa hay ít tai họa. Hiệu lực giải bệnh của Tứ Đức không có gì đáng kể.
Thiếu Âm, Thiếu Dương: ý nghĩa giống như Tứ Đức nhưng hiệu lực kém hơn và không có nghĩa giải bệnh.
+ Những giải tinh khác:
Thiên La, Địa Võng: có tác dụng làm cho sao xấu thành tốt lên ít nhiều, do đó góp phần giảm họa riêng trong các hạn nhỏ.
Đại Hao, Tiểu Hao: nếu đóng ở cung Tật, Đại Tiểu Hao có hiệu lực giải họa đáng kể, cụ thể như làm họa, bệnh tiêu tán mau kiểu như bệnh chóng lành, người bị họa mau khôi phục thế quân bình. Vì la sao hao nên kỵ đóng ở cung Tài.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Mỹ Ngân (##)
Trung Thu Rằm tháng 8 là dịp lễ có ý nghĩa vui vẻ và tốt lành của Việt Nam nói riêng và các nước phương Đông nói chung. Trong ngày này, không thể thiếu mâm cỗ Trung Thu với những thức quà mùa thu được bày biện khéo léo, cùng xem những mâm cỗ vừa đầy đủ vừa đẹp mắt, tạo nên không khí ngày lễ tưng bừng, vui vẻ.
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
Tìm hiểu về cách ghen tuông trong khoa tử vi, thảo luận các sao ghen tuông:
Cự Môn: chỉ sự nghi ngờ, thắc mắc, bất mãn đưa đến dò xét, giám sát, theo dõi cử chỉ, lời nói và hành động của người bị tình nghi. Nếu hãm địa, xu hướng quá khích sẽ rõ ràng hơn. Đối tượng bị bao vây chặt chẽ, bị theo bén gót, bị điều tra từng bước, bị hạch sách từng cử chỉ.
Hóa Kỵ: ngụ ý nghi ngờ, thắc mắc như Cự Môn nhưng lại thêm tính đố kỵ, sợ người khác lấn lướt hoặc thay chân mình. Thường nông nổi và dục động, dễ bị xao xuyến vì những chỉ dấu nhỏ nhặt, nhưng cũng dễ nguôi, dễ quên để rồi dễ nhớ, dễ ghen trở lại. Hình thái điều tra của Hóa Kỵ là thẩm vấn, dò hỏi, gợi chuyện chặn đầu.
Quan Phù, Quan Phủ: chỉ sự cạnh tranh, thù vặt, thù dai thường bắt nguồn từ một chỉ dấu bị phản bội nào đó. Đến giai đoạn Quan Phù, sự hiềm khích xuất hiện, tác giả bắt đầu dấn thân đối phó với một tình địch đã được nhận dạng, với người chồng/vợ đã có bằng cớ hai lòng.
Thiên Hình: là nết ghen sâu sắc của một người thông minh, biết dò xét, biết lý luận để khám phá những điểm lạ trong thái độ, cử chỉ, ngôn ngữ, nếp sống của người kia. Bắt mạch rất mau, hành động rất lẹ. Hình thái trả đũa của Thiên Hình thường có tính cách vũ phu, mạnh bạo.
Thiên Cơ: cũng chỉ nết ghen của người có mưu trí, tinh quái, theo kiểu Hoạn Thư. Thông minh trong lúc điều tra, Cơ cũng khôn ngoan khi đối phó, thường là có kế hoạch tinh vi và ít khi thất bại.
Liêm Trinh: chỉ sự khó tính, khắt khe trong tình yêu, trong cuộc sống gia đạo. Liêm ghen vì thấy vợ/chồng phạm vào các nguyên tắc căn bản của hạnh phúc, xáo trộn các tiêu chuẩn mà họ tự vạch ra để duy trì hạnh phúc. Liêm có thể bao dung những hành động bay bướm nhỏ nhặt, nhưng không tha thứ cái gì quá đáng phạm vào các nguyên tắc bất dịch của hạnh phúc. Do đó, hình thái trả đũa thường là gián đoạn khá dễ dàng như chấm dứt tình yêu chẳng hạn.
Tham Lang: nết ghen rất mạnh và thiếu suy nghĩ, có hình thái quá khích và vũ phu, bất chấp hậu quả. Nết ghen nông nổi và cuồng nhiệt, hành động theo bản năng nhất thời, nông cạn vì vậy sự đổ vỡ khó tránh. Càng hãm địa, tính chất cực đoan càng mạnh.
Phá Quân: ghen tuông có tính phá hoại, nhằm trả đũa gấp rút bằng hành động mau lẹ và mạnh mẽ, đôi khi tàn nhẫn, tương tự như Tham Lang.
Thiên Tướng, Tướng Quân: ghen tuông rất dữ dội, vì không nhẫn nhịn được trước sự bất bình, phải ra tay can thiệp ngay. Cả hai cùng chỉ sự nóng tính như lửa, nhất là Tướng Quân, vừa nóng lại vừa liều, làm càn, làm bạo, dám đi đến những hành động quyết liệt ăn thua đủ, nhất là khi bị khiêu khích. Tự ái của hai sao này rất lớn.
Phục Binh, Thiên Không: trong việc đối phó, chỉ sự rắp tâm, có chuẩn bị kỹ lưỡng để ra tay bất ngờ, dùng nhiều thủ đoạn trá ngụy, gian hiểm như tổ chức theo dõi, bắt ghen tại trận chứ không chịu cản trở suông. Cách ghen đó chạm tự ái nạn nhân rất nặng nề, đi đến đổ vỡ dễ dàng. Nếu bị Tuần, Triệt có thể bắt ghen hụt.
Cô Thần, Quả Tú, Đẩu Quân: có ý nghĩa cô đơn, cô độc, ít giao thiệp, tình cảm hướng nội và bị dồn ép, kén chọn bạn trăm năm vì thế không có lợi cho hôn nhân. Khi có gia đình, ba sao này có nghĩa ghen tuông một cách ích kỷ, nhỏ mọn, hay gắt gỏng vì những chuyện vặt, thường là thúc thủ đau khổ ngầm, không giãi bày được với ai. Sự dồn ép dày vò đương sự có khi đưa đến một phản ứng rất bất ngờ khó lường, tự mình hành động tay đôi với tình địch hoặc tự mình rút lui âm thầm.
Hóa Quyền: chỉ người tự ái lớn, thích chỉ huy, không chấp nhận lép vế trong địa vị độc tôn của mình. Hóa Quyền ghen phần lớn do tự ái nhiều hơn là do tình yêu. Chính vì vậy, phản ứng của Quyền khá mạnh bạo và kiên trì cho đến khi khuất phục được đối thủ mới thôi. Nếu xoa dịu và gãi trúng chỗ tự phụ của Quyền, nết ghen tuông sẽ giảm đi nhiều, khả dĩ chấp nhận tính bay bướm của bạn trăm năm, miễn là đương số vẫn giữ ưu thế đối với người bạn trăm năm và với tình địch. Phái nam mà có Quyền, bao giờ cũng phải dứt khoát, không chấp nhận thành phần thứ ba trong cuộc sống lứa đôi.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
![]() |