Theo phong thủy, không gian nhà bếp cần phải được sắp đặt hợp lý để làm “giảm thiểu những điều chưa tốt” trong ngôi nhà bạn. Trong nhà, sẽ có những khu vực nào đó trong nhà được xem là “xấu” với các thành viên, dựa theo cung mạng, tuổi tác và giới tính của họ.
Nếu nhà bếp được bố trí tại một trong những khu vực "xấu" đó, thì đây là điều nên làm vì phong thủy nhà bếp tốt sẽ làm giảm thiểu những điều kém may mắn và mang đến những điềm lành cho gia đình bạn. Vị trí của nhà bếp và các dụng cụ bếp núc
Nguồn năng lượng giúp đẩy lùi những điều xấu đến từ sức mạnh của lửa (một thành tố của ngũ hành) có ở nhà bếp. Nguồn lửa này cần phải luôn được kiểm soát, vì thế bạn tuyệt đối không nên làm lò sưởi hay bếp lửa nhà mình “mạnh mẽ” thêm bằng cách treo gương ở khu vực này.
Việc treo gương ở nhà bếp theo phong thủy là khá nguy hiểm, thậm chí có thể mang đến những tai nạn không đáng có cho gia đình. Bếp lửa hay lò sưởi cũng là một trong những yếu tố quan trọng nhất của phong thủy, có thể mang đến vô số điềm lành nếu được bố trí phù hợp.
Điều này có nghĩa là nguồn năng lượng toát ra từ bếp lửa nhà bạn phải đến từ một sự chỉ dẫn tích cực theo phong thủy. Đó có thể là việc đặt bếp lửa quay về hướng đông, hoặc theo hướng tốt của người trụ cột trong gia đình.
Bếp lửa cũng cần phải luôn được sử dụng để chế biến các món ăn cho cả nhà. Ngày nay, khi gần như mọi phương tiện nấu ăn đều hoạt động bằng gas hoặc điện, thì thật khó để có thể bố trí chúng sao cho thật “đúng hướng”.
Người Trung Quốc cũng như hầu hết các dân tộc châu Á khác đều dùng phương tiện nấu cơm như là một cách dễ nhất để chọn hướng tốt theo cung mạng của họ.
Tầm quan trọng của hai yếu tố tương phản
Theo phong thủy, nhà bếp có hai yếu tố tương phản nhau. Thứ nhất, vì đó là nơi chế biến các món ăn nên tượng trưng cho sự sung túc và giàu có của gia đình. Tuy nhiên mặt khác, vì đây là nơi thường xuyên có lửa nên có thể sẽ làm giảm những điều may mắn ở nơi mà nó có mặt.
Vì thế, nếu bếp lò hay lò sưởi được đặt ở một vị trí không tốt, thì không gian hay vị trí của nhà bếp càng quan trọng. Có hai yếu tố bạn cần phải quan tâm khi bố trí không gian trong nhà bếp.
Một là bếp lò, vì dụng cụ này tương trưng cho “lửa”, và yếu tố còn lại là tủ lạnh và nơi rửa chén bát, vốn tượng trưng cho “nước”. Trong ngũ hành, nước và lửa là hai thành tố khắc nhau, vì thế cần có một sự sắp đặt cân bằng giữa chúng, như là cách cân bằng âm – dương cho không gian nhà bếp của gia đình.Sự sắp đặt không phù hợp
Các nhà phong thủy khuyên bạn không nên đặt bếp lửa hay lò sưởi hướng thẳng ra cửa chính, thay vì vậy nên hướng vào trong để giữ sựấm áp của “lửa” cho gia đình.
Sự sắp đặt phù hợp
Không gian nhà bếp cần phải có đủ ánh sáng, thoáng đãng và rộng rãi. Để nhà bếp có một phong thủy tốt, bạn cần phải tính đến yếu tố sắp đặt lò sưởi, bếp lửa, nồi cơm điện, tủ lạnh… Chẳng hạn, bếp lò hoặc lò sưởi (lửa) không nên đặt quá gần hoặc đối diện với tủ lạnh và bồn rửa chén bát (nước).
Khoảng cách cần thiết giữa chúng ít nhất là phải 60cm. Lý do là vì “nước” và “lửa” là hai thành tố khắc nhau. Nước cần phải được đặt cách xa lửa. Đặt một cái bàn hay kệ nhỏở giữa bếp lửa và nơi rửa chén bát cũng là cách có thể giúp bạn hóa giải sự tương khắc giữa chúng.
Hướng của bếp lửa
Vì là nơi chế biến các món ăn cho gia đình, tượng trưng cho sự sung túc và hạnh phúc, bếp lửa cần phải được đặt theo hướng tốt nhất của người trụ cột trong nhà. Với những dụng cụ dùng gas hoặc điện, bạn nên lưu ý đến vị trí nguồn điện hoặc gas cung cấp cho chúng.
Riêng nồi cơm điện (mặt có các nút bấm điều khiển) không nên hướng thẳng ra cửa chính, vì điều này ám chỉ có thể làm nguồn thực phẩm trong nhà bạn sẽ bị thất thoát ra ngoài. Trong khi đó các nút bấm điều khiển của bếp lò hướng thẳng lên trần nhà là điều có thể chấp nhận được.
Thêm một số hướng dẫn khác về phong thủy nơi nhà bếp
1. Nhà bếp nên ở gần cửa sau hơn là cửa trước của ngôi nhà bạn.
2. Vị trí nhà bếp không nên nằm ở giữa nhà.
3. Nhà bếp, đặc biệt là bếp lò hay lò sưởi, không nên xoay về hướng bắc. Điều này thường được mô tả như là “lửa ở cổng thiên đường” và tượng trưng cho điềm xấu.
Theo phong thủy, nhà bếp nằm ở hướng Bắc có thể khiến gia chủ bị mất việc, hao tài, làm ăn thua lỗ, không có hứng làm việc… Để hóa giải tình huống, bạn có thể thay đổi vị trí của bếp lò.
4. Bếp lửa hay lò sưởi không nên nằm đối diện với toilet, vì điều này có thể ảnh hưởng xấu đến thức ăn và mang đến những điều chưa tốt cho gia đình bạn.
Nên giữ cửa phòng tắm luôn đóng kín và thêm một cách để bạn hóa giải tình huống nữa là sơn cửa phòng tắm màu đỏ.
5. Bếp lửa hay lò sưởi không nên nằm đối diện với bất cứ cửa phòng ngủ nào trong nhà bạn.
6. Bếp lửa hay lò sưởi không nên nằm ngay dưới cầu thang hay bóng đèn.
7. Bếp lửa hay lò sưởi không nên nằm ngay dưới nhà vệ sinh của tầng trên.
(Theo DNSGCT) Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thanh Vân (##)
Những đặc điểm dưới đây có thể giúp các bậc cha mẹ đoán được một phần nào đó tính cách của các bé. Tóc thưa Khi mới sinh, tóc của… Những đặc điểm dưới đây có thể giúp các bậc cha mẹ đoán được một phần nào đó tính cách của các bé. Tóc thưa Khi mới si
– Đàn ông có tướng trán rộng, đầy đặn không chỉ sở hữu trí tuệ thông minh, cách hành sự khéo léo mà tài vận hanh thông, dễ gặt hái thành công trong sự nghiệp, con đường làm giàu khá suôn sẻ.
1. Mũi và xương gò má cân xứng
Thế nào gọi là mũi và xương gò má cân xứng? Đó là chỉ tướng mũi tròn trịa, nhiều thịt, hai bên xương gò má cũng đầy đặn, không quá lồi hay lõm.
Mũi còn được gọi là cung Tài Bạch, chủ về tài lộc, tiền bạc. Sống mũi cao, hai cánh mũi dày, lỗ mũi không quá to hoặc quá nhỏ được coi là nét quý tướng. Chủ nhân của tướng mạo này có tài vận rất vượng, cuộc sống luôn no đủ, không phải lo lắng về vật chất.
Bên cạnh đó, khi tướng mũi và xương gò má có sự cân xứng, không những tạo ra sự hài hòa trên khuôn mặt, mà cả vận thế cuộc đời cũng ngày càng khởi sắc. Công danh sự nghiệp thuận lợi, dễ phát tài phát lộc.
Hơn thế, tướng mặt đàn ông này không những kiếm tiền giỏi mà khả năng giữ tiền, duy trì và phát triển sản nghiệp tổ tiên cũng rất tốt.
2. Vầng trán rộng, đầy đặn, không khuyết hãm
Đàn ông có tướng trán rộng, đầy đặn không chỉ sở hữu trí tuệ thông minh, cách hành sự khéo léo mà tài vận hanh thông, dễ gặt hái thành công trong sự nghiệp, con đường làm giàu khá suôn sẻ.
Bên cạnh đó, nếu trán rộng, không khuyết hãm, huyệt Thái dương đầy đặn là dấu hiệu cho thấy khả năng giữ tiền của người này rất tốt. Nói như vậy không có nghĩa là họ chỉ chăm chăm tích lũy tiền bạc, ki bo trong chi tiêu. Trái lại, họ biết cách kiếm tiền, đầu tư và hưởng thụ cuộc sống một cách tối ưu nhất.
3. Khoảng cách giữa hai đầu lông mày rộng, sắc Ấn đường sáng sủa
Khoảng cách giữa hai đầu lông mày cũng là vị trí của Ấn đường, nó cho biết mức độ hanh thông về tài vận của mỗi người. Ấn đường sáng sủa, vận thế càng khởi sắc, cơ hội phát tài phát lộc ngày càng nhiều.
Khoảng cách này càng rộng thì tài lộc càng hanh thông, tốt đẹp. Ngược lại, nếu khoảng cách giữa hai đầu lông mày hẹp, cho thấy cuộc sống của chủ nhân gặp nhiều sóng gió, thăng trầm, tài lộc kém sắc.
4. Miệng rộng, đôi môi căng mọng, cằm đầy đặn
“Đàn ông miệng rộng thì sang”, ý chỉ những anh chàng có đặc điểm này có cuộc sống phú quý, nhiều tài lộc.
Nếu có thêm đặc điểm đôi môi căng mọng, cằm đầy đặn hoặc hai cằm thì chứng tỏ phúc khí càng lớn, nhiều may mắn về tài lộc, đặc biệt rất dễ phát tài bất ngờ. Ngoài khả năng kiếm tiền dễ dàng, người này còn biết tích lũy tiền bạc cho mục đích lớn lao.
Vì thế hiếm khi thấy họ tiêu xài hoang phí. Nhưng với người thân, bạn bè, họ luôn mở rộng “hầu bao” để giúp đỡ mà không mong được đền đáp. Làm thế nào để mèo Thần Tài hút càng nhiều tiền bạc? – Mèo Thần Tài còn được gọi là mèo chiêu tài. Trong phong thủy, mèo là linh thú cát tường, có thể hóa giải sát khí nhờ linh lực của nó. Có
► Xem tướng số biết vận mệnh của bạn chuẩn xác
Ngân Hà
Xem thêm video: Làm phước hướng thiện, ai ai cũng tỏ
Cách an vòng sao Trường Sinh là một bí ẩn nằm chồng lên bí ẩn tam hợp cục trong tử vi. Đây là một trong những kiến thức tử vi rất cần thiết cho người muốn xem
Cách an vòng sao Trường Sinh là một bí ẩn nằm chồng lên bí ẩn tam hợp cục trong tử vi. Đây là một trong những kiến thức tử vi rất cần thiết cho người muốn xem số mệnh.
Quy luật an vòng sao Trường Sinh được thiết kế trên nền móng tam hợp cục. Vị trí của các sao trong vòng Trường Sinh được phân bố theo cấu trúc của tam hợp cục. Chỗ khởi Trường Sinh tùy thuộc vào Cục. Mà Tử Vi Cục thì ăn vào tam hợp cục. Hay nói cho rõ hơn: • Tử Vi Thủy Cục ăn vào Tam Hợp Thủy Cục Thân – Tí – Thìn. • Tử Vi Mộc Cục ăn vào Tam Hợp Mộc Cục Hợi – Mão - Mùi. • Tử Vi Hỏa Cục ăn vào Tam Hợp Hỏa Cục Dần - Ngọ - Tuất. • Tử Vi Kim Cục thì ăn vào Tam Hợp Kim Cục Thân – Tí - Thìn. Theo đó, vòng sao Trường Sinh được phân bố như sau: • Sinh - Vượng - Mộ của Tử Vi Thủy Cục ăn vào Thân – Tí - Thìn của Tam Hợp Thủy Cục. • Sinh - Vượng - Mộ của Tử Vi Mộc Cục ăn vào Hợi – Mão - Mùi của Tam Hợp Mộc Cục. • Sinh - Vượng - Mộ của Tử Vi Hỏa Cục ăn vào Dần - Ngọ - Tuất của Tam Hợp Hỏa Cục. • Sinh - Vượng - Mộ của Tử Vi Kim Cục ăn vào Tỵ - Dậu - Sửu của Tam Hợp Kim Cục. Tất cả Thổ Cục trong Lục Thập Hoa Giáp gồm có: Canh Ngọ, Tân Mùi (Lộ Bàng Thổ), Mậu Dần, Kỷ Mão (Thành Đầu Thổ), Bính Tuất, Đinh Hợi (Ốc Thượng Thổ), Canh Tí, Tân Sửu (Bích Thượng Thổ), Mậu Thân, Kỷ Dậu (Đại Trạch Thổ), Bính Thìn, Đinh Tỵ (Sa Trung Thổ). Luận theo tử vi thì nếu đương số là: Thổ Cục thuộc vào nhóm đới Mộc tức là Thổ Cục Sửu/Dần/Mão (Thổ Cục Tân Sửu, Thổ Cục Mậu Dần, Thổ Cục Kỷ Mão), thì vòng Trường Sinh sẽ được an theo Mộc Cục. Thổ Cục thuộc vào nhóm đới Hỏa tức là Thổ Cục Thìn/Tỵ/Ngọ (Thổ Cục Bính Thìn, Thổ Cục Đinh Tỵ, Thổ Cục Canh Ngọ), thì vòng Trường Sinh sẽ được an theo Hỏa Cục. Thổ Cục thuộc vào nhóm đới Kim, tức là Thổ Cục Mùi/Thân/Dậu (Thổ Cục Tân Mùi, Thổ Cục Mậu Thân, Thổ Cục Kỷ Dậu), thì vòng Trường Sinh sẽ được an theo Kim Cục. Thổ Cục thuộc vào nhóm đới Thủy, tức là Thổ Cục Tuất/Hợi/Tí (Thổ Cục Bính Tuất, Thổ Cục Đinh Hợi, Thổ Cục Canh Tí), thì vòng Trường Sinh sẽ được an theo Thủy Cục.
Các Cục khác luận đoán tương tự. Chỉ an vòng sao Trường Sinh theo một chiều, đó là chiều kim đồng hồ, dù là Âm Nam hay Dương Nam, Âm Nữ hay Dương Nữ. Làm ngược lại sẽ vi phạm nguyên lý.
► Lịch ngày tốt gửi đến độc giả công cụ tra cứu tử vi năm 2016 chuẩn xác nhất
Theo Việt dịch Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Hương Giang (##)
Mơ thấy em gái của vợ: Che giấu hành vi bất chính của mình –
Mơ thấy hình ảnh cô em vợ biểu hiện sự che giấu hành vi bất chính của người nằm mơ. Trong bối cảnh văn hóa truyền thống, giữa anh rể và em gái của vợ thường nảy sinh mối quan hệ gần gũi, thế nên chuyện anh rể bỡn cợt cùng em vợ vẫn hay xảy ra.
Trán cao rông, đầy đặn và ngay ngắn là biểu thị của trí tuệ cao thâm, thì đường công danh rạng rỡ, còn hẹp và thấp thì trí tuệ bất túc. Trán là phần mặt của thượng đình. Trong lãnh vực cốt tướng học, Trán là phần bạo bọc phía ngoài của tiền não bộ.
Ngày sinh 12 chòm sao quyết định tính cách một cách rõ nét. Ngoài 4 nhóm cung hoàng đạo theo nguyên tố theo đặc tính có 3 nhóm với những phẩm chất nổi bật.
Ngày sinh 12 chòm sao quyết định tính cách của họ một cách rõ nét. Ngoài 4 nhóm cung hoàng đạo theo nguyên tố nhóm Lửa, nhóm Nước, nhóm Đất và nhóm Khí; theo đặc tính có 3 nhóm với những phẩm chất rất nổi bật.Theo chiêm tinh, ngày sinh 12 chòm sao chi phối, ảnh hưởng tới cuộc đời của họ thông qua việc quy định tính cách, quan điểm, thái độ. Ngoài ra, sự di chuyển của các hành tinh qua các cung cũng tạo ra vận mệnh, biến cố trong cuộc đời mỗi người. Mỗi nhóm cung có những nét riêng, thể hiện trong suy nghĩ và các hành động thường ngày.
1. Nhóm thống lĩnh – hành động
Các chòm sao Bạch Dương, Cự Giải, Thiên Bình và Ma Kết được xếp vào nhóm này bởi họ biểu hiện xu hướng thống lĩnh mạnh và có khuynh hướng hành động nhanh. Tuy xét về mặt tính cách và nguyên tố có rất nhiều sự khác biệt nhưng vị trí trên bản đồ sao quy định đặc định của họ nổi trội nhất ở điểm này.Những người này dù tính cách thâm trầm như Ma Kết, sôi nổi như Bạch Dương, khéo léo như Thiên Bình hay dịu dàng như Cự Giải thì đều có ý chí mạnh, họ thích đi trước dẫn đầu và thường có những hành động mang tính chất quyết liệt, không có chuyện ngồi không nói suông. Các chòm sao này cũng có một chút mạo hiểm và đặc biệt là có năng lực thực tiễn.Điểm yếu của nhóm thống lĩnh là bồng bột và nóng nảy, họ cũng không kiên trì mà chỉ hứng thú ban đầu. Họ sẵn sàng trả giá cao vì một việc mình thích nhưng sau đó khó quá thì bỏ qua, không tới nơi tới chốn nên đôi khi bỏ công vô ích hoặc vì lơ là mà bị người khác bỏ xa, tới khi quay lại thì đã công cốc rồi. Xem thêm bài viết Thổ lộ khuyết điểm khiến tình yêu tan vỡ của 12 chòm sao
2. Nhóm kiên định - ổn định
Dựa vào ngày sinh 12 chòm sao, các cung Kim Ngưu, Sư Tử, Thiên Yết và Bảo Bình được xếp vào nhóm này. Nếu cung thống lĩnh thích đi đầu và chỉ huy, lăn xả thì nhóm kiên định là những người theo sau, có vị trí vững vàng, làm việc có tính toán và chỉ nhắm mục tiêu vào những thứ mà mình thực sự muốn. Về bản chất, nhóm thống lĩnh thực sự muốn làm lãnh đạo nhưng thực tế người lãnh đạo thường là các chòm sao nhóm kiên định vì nhóm thống lĩnh hành động nhanh nhưng nóng vội, thường mất vị trí tốt vào nhóm kiên định tuy chậm hơn nhưng lại chính xác hơn. Đây cũng là những chòm sao giỏi chịu áp lực và bình tĩnh trước những tình huống khó khăn – phẩm chất cần thiết của người đứng đầu.Tuy nhiên họ lại khá cứng đầu, chỉ thích ở trong vòng an toàn, ngại thay đổi. Họ muốn giữ nguyên hiện trạng thay vì cải cách. Họ cũng rất có chính kiến tới mức độc đoán, không nghe lời khuyên của những người xung quanh, cũng không chịu vận động nên đôi khi tụt hậu so với thời cuộc. Xem thêm bài viết Phản ứng của 12 chòm sao khi được hỏi “Bạn đang làm gì đó?”
3. Nhóm biến đổi – giao tiếp
Nhóm này bao gồm các chòm sao Nhân Mã, Song Tử, Xử Nữ, Song Ngư. Họ thường là người đứng ngoài cuộc quan sát những việc mà hai nhóm trên đã làm rồi đưa ra nhận định, nhận xét và đôi khi là cả hòa giải. Nhóm này tập hợp những chòm sao hoạt bát, giỏi thuyết phục, linh hoạt và dễ thích nghi.Họ không ngại thay đổi, cũng không quá vội vàng, có thể thỏa hiệp và chọn phương pháp đối thoại thay vì đối đầu. Họ dung hòa được sự bồng bột của nhóm thống lĩnh và sự bảo thủ của nhóm ổn định. Nhóm biến đổi thích sự mới mẻ, thú vị, họ làm việc theo cảm hứng, tìm ra lý do để theo đuổi thì sẽ theo đuổi đến cùng.
Xem thêm bài viết Khám phá cuộc sống độc thân vui vẻ của 12 cung hoàng đạoNhược điểm của các chòm sao này là ba phải, bất nhất, đôi khi mất phương hướng với cuộc đời vì thay đổi quá nhanh. Họ cũng không phải là người chung thủy, khi cảm xúc tan biến họ sẽ ra đi nhanh, có cảm giác vô trách nhiệm, rũ bỏ mọi thứ để chạy theo niềm đam mê riêng, ích kỉ chỉ nghĩ tới bản thân mình.Ngày sinh 12 chòm sao quyết định phẩm chất của họ, phát huy được thế mạnh và tiết chế nhược điểm sẽ mang tới những thành công trong cuộc sống. Nên nhớ phẩm chất này là không thể thay đổi nhưng có thể điều chỉnh cho phù hợp. Bắt ngay cách khắc phục tính xấu của 12 chòm saoHình mẫu nữ thần trong mơ của 12 chòm sao namBật mí cách lấy cảm hứng làm việc cho 12 chòm sao Trình Trình Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Khánh Linh (##)
Các lễ hội ngày 5 tháng 2 Âm Lịch - Hội Đền Vua Bà
1. Hội Đền Rầm
Thời gian: tổ chức từ ngày mùng 5 tới ngày mùng 7 tháng 2 âm lịch.
Địa điểm: thôn Sâm Dương, xã Ninh Sở, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây cũ (nay thuộc Hà Nội).
Đối tượng suy tôn: nhằm suy tôn thủy cung Thánh Mẫu (tức Mẫu thoải - vị thần của dân gian Việt Nam chịu trách nhiệm cai quản vùng sông nước).
Nội dung: Lễ hội đền Rầm có lễ rước, và các trò múa rồng, múa sư tử, kéo chữ, cờ người, hát quan họ, chọi gà.
2. Hội Đền Vua Bà (Hội Thủy Tổ Quan Họ):
Thời gian: tổ chức từ ngày mùng 5 tới ngày mùng 7 tháng 2 âm lịch.
Địa điểm: làng Viêm Xá, xã Hoàng Long, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
Đối tượng suy tôn: nhằm suy tôn đức vua bà - Thủy tổ Quan họ.
Nội dung: Hội đền vua Bà cũng là hội quan họ duy nhất trong vùng quan họ. Mọi hoạt động lễ hội đều liên quan trực tiếp tới quan họ. Ngày hội chính là ngày mùng 6, nhưng từ chiều hôm mùng 5, dân làng đã tổ chức mở lễ đền và lễ dâng hương, lễ cầu mưa rửa đền. Lễ tế thần vào sáng ngày mùng 6 bao giờ cũng có hát quan họ ca ngợi công chúa Đức Vua Bà, cầu Đức vua Bà cho mưa thuận gió hòa để mùa màng được bội thu. Hát thờ ở hội đền Vua Bà chỉ được sử dụng giọng la rằng (làng Viêm Xá gọi là giọng A rằng).
Về sau dân làng còn dựng và diễn sự tích Vua Bà ở ngoài trời, không diễn ở trong đền. Trong diễn tích có cả những câu thuộc hệ thống giọng lẻ, giọng vặt mang nội dung giao duyên nam nữ.
Đây là một bản kinh ngắn gọn, ghi lại lời Phật dạy cách đối nhân xử thế, cách thực thi các trách nhiệm của Phật tử đối với bản thân, gia đình và xã hội
Bấy giờ, đã đến lúc đức Thế Tôn khoác y – bát lên đường vào thành khất thực, trên đường đi, đức Thế Tôn thấy một chàng thanh niên đang lễ bái, là người con có hiếu nên nghe theo lời dạy của cha trước khi mất, cứ mỗi sáng, sau khi tắm gội xong anh ta ra đường thực hành việc lễ bái sáu phương: Đông, Tây, Nam, Bắc, trên, dưới. Cuộc gặp gỡ là duyên khởi cho bản kinh Thiện Sanh ra đời.
Đây là một bản kinh nguyên thủy, ngắn gọn, ghi lại lời Phật dạy cách đối nhân xử thế, cách thực thi các bổn phận và trách nhiệm của người Phật tử đối với bản thân, gia đình và xã hội, rộng hơn là Phật dạy cách kiến tạo một xã hội hài hòa, một cuộc sống đầy an lành và hạnh phúc.
Trong tạng A-hàm, theo bản dịch Việt từ Hán mới nhất của Thượng tọa Tuệ Sỹ thì Kinh Thiện Sanh thuộc No.16, Phần II, Trường A-hàm. Trong tạng Nikaya, theo bản dịch Việt từ Pali của Hòa Thượng Thích Minh Châu, tương đương kinh Thiện Sanh là Kinh Giáo Thọ Thi-Ca-La-Việt (Sigàlovàda sutta) thuộc No.31, Trường Bộ Kinh. Bài viết chủ yếu trích từ ấn bản điện tử từ trang nhà Phatviet.com của TT.Tuệ Sỹ, tất cả các đoạn trích đều được đóng mở “.”, phần lễ bái sáu phương, hầu hết lấy nguyên văn trong kinh.
Tránh bốn việc ác và sáu việc làm hao tổn tài sản
Khi Phật ở tại núi Kỳ-xà-quật, dẫn đầu đoàn khất thực với đại chúng hai ngàn năm trăm vị Tỳ-Kheo đi vào thành, đức Thế Tôn thấy một gia chủ tử tên Thiện Sanh đang lễ sáu phương, Ngài hỏi:
“Vì sao, ngươi vào buổi sáng sớm ra khỏi thành, đi đến khu công viên, với cả người còn ướt đẫm, mà ngươi lại lạy các phương như thế?”
Thiện Sinh bạch Phật:
“Khi cha con sắp chết có dặn: “Nếu con muốn lạy, trước hết hãy lạy các phương Đông,Tây, Nam, Bắc, trên và dưới”. Con vâng lời cha dạy không dám chống trái.”
Phật bảo Thiện Sanh:
“Này con trai trưởng giả! Quả có cái tên các phương đó chứ không phải không. Nhưng trong pháp Hiền Thánh của ta chẳng phải lễ sáu phương như thế là cung kính đâu.”
Thiện Sinh thưa:
“Cúi xin đức Thế Tôn thương dạy cho con cách lễ sáu phương theo pháp Hiền Thánh.”
Phật bảo Thiện Sinh:
“Nếu trưởng giả hay con trưởng giả nào biết tránh bốn nghiệp kết không làm ác theo bốn trường hợp và biết rõ sáu nghiệp hao tổn tài sản. Như thế, này Thiện Sinh, nếu trưởng giả hay con trai trưởng giả nào tránh được bốn việc ác là lễ kính sáu phương”
Bốn nghiệp kết mà Phật dạy: Sát sinh, trộm cắp, dâm dật, vọng ngữ, đây là bốn điều xấu ác mà bất cứ ai cũng nên tránh, hàng ngày đọc báo chúng ta vẫn thường thấy nhan nhãn các tội phạm phạm bốn điều trên: giết người, cướp của… gây cho xã hội những bất an thường nhật. Rõ thấy, những điều mà Phật dạy chẳng có gì khác ngoài những chuyện thực thường ngày ở thế gian.
Bốn trường hợp ác: tham dục, sân hận, sợ hãi, ngu si. Về tham dục, không phải cứ tham dục là điều xấu, mà tham dục cần phân biệt có hai loại, loại tham dục phục vụ ngũ dục (tài, sắc, danh, thực, thùy) khiến cho tâm trí mê mờ, dẫn đến những vọng tưởng điên đảo, sân hận, sợ hãi và ngu si… loại tham dục này thì cần phải loại bỏ, loại tham dục thứ hai phục vụ cho chánh kiến, chánh tư duy, chánh nghiệp… cho sự học hành, phát triển nhân cách, tinh thông trí tuệ, nâng cao dân trí, sự phồn thịnh xã hội, sự bình an, sự hạnh phúc..thì cần thực hành và phát huy.
Sáu nghiệp hao tổn tài sản cần tránh:
Đam mê rượu chè.
Cờ bạc.
Phóng đãng.
Đam mê kỹ nhạc.
Kết bạn người ác.
Biếng lười.
Phật bảo Thiện Sinh:
“Này Thiện Sinh, nếu trưởng giả hay con trai trưởng giả biết rõ bốn kết hành không làm ác theo bốn trường hợp, lại biết sáu nghiệp tổn tài ấy là, này Thiện Sinh, tránh được bốn trường hợp, cúng dường sáu phương, thì đời này tốt đẹp, đời sau tốt đẹp; đời này căn cơ và đời sau căn cơ; trong hiện tại được người trí ngợi khen, được quả báo bậc nhất; sau khi chết được sanh lên trời, cõi thiện”.
Như vậy, Phật dạy người nào tránh được bốn nghiệp kết, bốn việc ác, sáu nghiệp hao tổn tài sản thì không những đời này đẹp và cả đời sau cũng được hưởng những quả tốt đẹp, đời này có duyên lành và đời sau cũng có duyên lành, trong hiện tại được người ngợi khen, xã hội ngợi khen, gia đình ngợi khen và trên hết phương ấy được an ổn, xã hội ấy được tốt đẹp, không lo sợ…
“Người nào không làm ác,
Do tham, hận, sợ, si,
Thì danh dự càng thêm,
Như trăng hướng về rằm”.
Bốn hạng kẻ thù và bốn hạng người đáng thân
Trong Trung Hoa Kim Cổ Kỳ Nhân có thuật lại tình bạn giữa Bá Nha – Tử Kỳ, một tình bạn đẹp lưu danh muôn thuở. Bá Nha là một vị quan làm đến chức Thượng đại phu, còn Tử kỳ chỉ là một chàng nông dân kém Bá Nha chục tuổi. Nhưng chỉ mỗi Bá Nha hiểu được tiếng đàn của Tử Kỳ, từ đó hai người trở thành tri kỷ, khi nghe tin Tử Kỳ chẳng may qua đời, Bá Nha đã cầm đờn đập mạnh vào tảng đá,cây đờn vỡ tan, sau đó đọc bốn câu thơ:
“Dao cầm đập nát đau lòng phượng,
Đã vắng Tử Kỳ đàn với ai?
Gió xuân bốn mặt, bao bè bạn.
Muốn tìm tri âm, thật khó thay!”
Trong cuộc sống ai cũng cần có bạn, tình bạn kiểu Bá Nha – Tử Kỳ thuộc dạng xưa nay hiếm, nhưng cũng cần phải lựa bạn tốt mà chơi, vì nếu “giao du với bạn xấu có sáu lỗi: 1, tìm cách lừa dối; 2, ưa chỗ thầm kín; 3, dụ dỗ vợ người; 4, mưu đồ chiếm đoạt tài sản của người; 5, xoay tài lợi về mình; 6, ưa phanh phui lỗi người”. Đó là sáu tai hại về bạn xấu. Nếu chúng ta làm bạn với kẻ ác mãi thì gia sản mỗi ngày mỗi tiêu tán”.
Nếu chúng ta làm bạn với kẻ ác mãi thì gia sản mỗi ngày mỗi tiêu tán
Phật bảo Thiện Sanh.
“Có bốn hạng kẻ thù mà như người thân, ngươi nên biết. Bốn kẻ ấy là những ai? 1, hạng uý phục; 2, hạng mỹ ngôn; 3, hạng kính thuận; 4, hạng ác hữu.
[(1) “Hạng úy phục thì thường hay làm bốn việc: một, cho trước đoạt lại sau; hai, cho ít mong trả nhiều; ba, vì sợ gượng làm thân; bốn, vì lợi gượng làm thân.
(2) “Hạng mỹ ngôn thì thường hay làm bốn việc: một, lành dữ đều chiều theo; hai, gặp hoạn nạn thì xa lánh; ba, ngăn cản những điều hay; bốn, thấy gặp nguy tìm cách đùn đẩy.
(3) “Hạng kính thuận thì thường làm bốn việc: một, việc trước dối trá; hai, việc sau dối trá; ba, việc hiện dối trá; bốn, thấy có một chút lỗi nhỏ đã vội trách phạt”.
(4) “Hạng bạn ác thì thường làm bốn việc: một, bạn lúc uống rượu; hai, bạn lúc đánh bạc; ba, bạn lúc dâm dật; bốn bạn lúc ca vũ.”
“Có bốn hạng người thân đáng thân vì thường đem lại lợi ích và che chở. Những gì là bốn? Một, ngăn làm việc quấy; hai, thương yêu; ba, giúp đỡ; bốn, đồng sự. Đó là bốn hạng người thân đáng thân cận”.
1) Này Thiện Sinh, hạng ngăn quấy thì thường làm bốn việc đem lại nhiều lợi ích và hay che chở: thấy người làm ác thì hay ngăn cản, chỉ bày điều chánh trực, có lòng thương tưởng, chỉ đường sinh Thiên. Đó là bốn trường hợp ngăn cản việc quấy đem lại nhiều lợi ích và hay che chở.
(2) Hạng thương yêu thì thường làm bốn việc: Mừng khi mình được lợi, lo khi mình gặp hại, ngợi khen đức tốt mình, thấy mình nói ác thì tìm cách ngăn cản. Đó là bốn điều thương yêu đem lại nhiều lợi ích và hay che chở.
(3) Hạng giúp đỡ có bốn việc. Những gì là bốn? Đó là: che chở mình khỏi buông lung, che chở mình khỏi hao tài vì buông lung, che chở mình khỏi sợ hãi, khuyên bảo mình trong chỗ vắng người.
(4) Hạng đồng sự thì thường làm bốn việc: không tiếc thân mạng với bạn, không tiếc của cải với bạn, cứu giúp bạn khỏi sợ hãi, khuyên bảo bạn lúc ở chỗ vắng người.”]
Lễ bái sáu phương hay cách thức xây dựng một xã hội hạnh phúc
Sáu phương là gì, tại sao phải lễ bái sáu phương như chàng Thiện Sanh đã làm, anh ta làm vì nghe lời cha mà không hiểu ý nghĩa của việc lễ bái đó. Phật dạy: “Sáu phương là gì? Phương Đông là cha mẹ, phương Nam là sư trưởng, phương Tây là thê thiếp, phương Bắc là bạn bè thân thích, phương trên là các bậc trưởng thượng, Sa-môn, Bà-la-môn, phương dưới là tôi tớ”. Bài dạy lễ sáu phương là cách mà Phật dạy đạo làm người.
Đạo hiếu làm con, phận làm cha mẹ.
Kẻ làm con phải kính thuận cha mẹ với năm điều:
Cung phụng không để thiếu thốn.
Muốn làm gì thưa cha mẹ biết.
Không trái điều cha mẹ làm.
Không trái điều cha mẹ dạy.
Không cản chánh nghiệp mà cha mẹ làm.
Kẻ làm cha mẹ phải lấy năm điều này chăm sóc con cái:
Ngăn con đừng để làm ác.
Chỉ bày những điều ngay lành.
Thương yêu đến tận xương tủy.
Chọn nơi hôn phối tốt đẹp.
Tùy thời cung cấp đồ cần dùng..
Này Thiện Sinh, kẻ làm con kính thuận và cung phụng cha mẹ, cha mẹ thương con, bảo bọc cho con thế thì gia đình ấy được hạnh phúc, xã hội bình an, phương ấy được an ổn không có điều lo sợ.
Đạo nghĩa thầy trò
Đệ tử cung phụng sư trưởng có năm điều:
Hầu hạ cung cấp điều cần.
Kính lễ cúng dường.
Tôn trọng quí mến.
Thầy có dạy bảo điều gì không trái nghịch.
Thầy có dạy bảo điều gì nhớ kỹ không quên. Kẻ làm đệ tử cần phải thờ kính sư trưởng với năm điều ấy.
Thầy cũng có năm điều để săn sóc đệ tử:
Tùy thuận pháp mà huấn luyện.
Dạy những điều chưa biết.
Giải nghĩa rành rõ những điều trò hỏi.
Chỉ cho những bạn lành.
Dạy hết những điều mình biết không lẫn tiếc.
Nếu đệ tử kính thuận, cung kính nghe lời sư trưởng, thầy thì thương trò, chỉ bảo dạy dỗ tận tình cho học trò thì nền giáo dục xã hội ấy phát triển, phương ấy vững bền, an ổn không có điều lo sợ.
Đạo nghĩa vợ chồng
Chồng phải có năm điều đối với vợ
Lấy lễ đối đãi nhau.
Oai nghiêm không nghiệt.
Tùy thời cung cấp y, thực.
Tùy thời cho trang sức.
Phó thác việc nhà.
Vợ cũng phải lấy năm việc cung kính đối với chồng
Dậy trước.
Ngồi sau.
Nói lời hòa nhã.
Kính nhường tùy thuận.
Đón trước ý chồng.
“Chồng đối với vợ thương yêu, tôn trọng, vợ đối với chồng cung kính đối đãi nhau, như thế thì phương ấy được an ổn không điều gì lo sợ”.
Quan hệ bạn bè, tình làng nghĩa xóm
Người ta phải lấy năm điều thân kính đối với bà con
Chu cấp.
Nói lời hiền hòa.
Giúp ích.
Đồng lợi.
Không khi dối.
Bà con cũng phải lấy năm điều đối lại
Che chở cho mình khỏi buông lung.
Che chờ cho mình khòi hao tài vì buông lung.
Che chở khỏi sự sợ hải.
Khuyên răn nhau lúc ở chỗ vắng người.
Thường ngợi khen nhau.
“Tình người, tình làng nghĩa xóm, biết thân kính bà con như vậy thì phương ấy được yên ổn không điều chi lo sợ”.
Quan hệ chủ tớ, trên dưới
Này Thiện Sinh, chủ đối với tớ có năm điều để sai bảo
Tùy khả năng mà sai sử.
Tùy thời cho ăn uống.
Phải thời thưởng công lao.
Thuốc thang khi bệnh.
Cho có thời giờ nghỉ ngơi.
Tôi tớ phải lấy năm điều phụng sự chủ:
Dậy sớm.
Làm việc chu đáo.
Không gian cắp.
Làm việc có lớp lang.
Bảo tồn danh giá chủ.
“Này Thiện Sinh, nếu chủ đối với tớ được như vậy thì phương ấy được an ổn không điều chi lo sợ”.
Quan hệ giữa đàn việt với Sa-môn
Kẻ đàn việt cung phụng hàng Sa-môn với năm điều.
Thân hành từ.
Khẩu hành từ.
Ý hành từ.
Tùy thời cúng thí.
Không đóng cửa khước từ.
Sa-môn, Bà-la-môn cũng khuyên dạy theo sáu điều:
Ngăn ngừa chớ để làm ác.
Chỉ dạy điều lành.
Khuyên dạy với thiện tâm.
Cho nghe những điều chưa nghe.
Những gì đã được nghe làm cho hiểu rõ.
Chỉ vẻ con đường sanh thiên.
“Này Thiện Sinh, nếu đàn việt kính phụng hàng Sa-môn, Bà-la-môn như thế thì phương ấy được an ổn không điều gì lo sợ”.
Bấy giờ Thiện Sinh bạch Phật:
“Lành thay, bạch Thế Tôn! Thật quá chỗ mong ước của con xưa nay, vượt xa những lời dạy của cha con. Như lật ngửa những gì bị úp xuống; như mở ra những gì bị đóng kín; như người mê được tỏ, đang ở trong nhà tối được gặp đèn, có mắt liền thấy. Những gì được Như Lai thuyết giảng cũng như thế; bằng vô số phương tiện khai ngộ cho kẻ ngu tối; làm rõ pháp thanh bạch. Phật là Như Lai, Chí Chân, Đẳng Chánh Giác, do đó có thể chỉ bày, hướng dẫn cho đời. Nay con xin quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Cúi xin đức Thế Tôn chấp thuận cho con được làm ưu-bà-tắc ở trong Chánh pháp. Kể từ hôm nay cho đến trọn đời, con nguyện không giết, không trộm, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu.”
Đọc toàn bộ nội dung kinh, một bản kinh ngắn, súc tích, ngôn ngữ Phật dùng rất rõ ràng mà bất cứ ai đọc cũng có thể nắm bắt, lời dạy như luồng sáng mở ra những gì bị đóng kín; như người mê được tỏ, đang ở trong nhà tối được gặp đèn, có mắt liền thấy, rất thiết thực, căn bản, rất cần cho chúng ta trong ứng xử với các mối quan hệ thường ngày trong cuộc sống.
Các pháp đều nương với nhau mà tồn tại, cũng vậy, mỗi người trong cuộc sống cũng đều phải có nghĩa vụ và trách nhiệm về một điều gì đó với một ai đó, mỗi một ai đó sẽ là phần còn lại về nghĩa vụ và trách nhiệm của người nào đó, suy ra sẽ nhìn thấy một ma trận ngang dọc, ma trận vuông tròn các quan hệ. Quan hệ cha mẹ, con cái, ai cũng ít nhất một lần làm học trò, ai cũng ít nhất có một người bạn, ai cũng phải làm một việc gì đó để sống,…vì vậy cần phải ứng xử sao cho hợp đạo hợp nghĩa, đúng mực để tự bảo vệ bản thân tức là bảo vệ cho gia đình, cho xã hội.
Kinh Thiện Sanh, là bản kinh căn bản dạy cho ta biết cách giữ gìn các mối quan hệ đó một cách tốt đẹp, ở đó ta thấy được các quan hệ được Phật dạy đều theo hai chiều rất tinh tế, như đời: “đường hai nẻo xuống lên”.
Hướng nhà nghênh cát tránh hung là điều rất quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới gia trạch. Vì vậy xem hướng nhà theo tuổi không thể lơ là, Lịch Ngày Tốt xin hướng dẫn nam giới tuổi Tuất xác định hướng tốt xấu của từng năm cụ thể.
Làm nhà xem tuổi, xem năm, xem hướng – ba yếu tố ấy không thể thiếu yếu tố nào. Khi đã xác định được năm tốt, tuổi tốt thì nhất định phải chọn được hướng tốt thì ngôi nhà mới đẹp phong thủy, người ở trong nhà mới được hưởng phúc khí. Ở bài viết này, xin gợi ý xem hướng nhà theo tuổi cho nam giới tuổi Tuất.
1. Tuổi Giáp Tuất 1994 – mệnh Càn
- Hướng tốt: Hướng Tây Nam – Diên niên: Căn cứ vào 4 tiêu chuẩn "vàng" xác định hướng nhà tốt, có thể thấy đây là hướng tốt nhất với tuổi Giáp Tuất, vừa vượng tài vượng lộc lại vượng nhân đinh, gia đình giàu có, con cháu thành đạt, sức khỏe dồi dào, hạnh phúc viên vãn.Hướng Đông Bắc – Thiên y: Nhà hướng này chủ về làm ăn phát triển, có cuộc sống vui vẻ ổn định, người trong nhà hiền lành, nhân hậu nhưng vì nhà thuần dương nên con gái trong nhà thường ốm đau.Hướng Tây Bắc – Phụ vị: Nhà hướng này thịnh vượng giàu có, con cháu đều thông mình thành đạt, nhất là con trưởng nhưng vì âm thịnh dương suy nên sức khỏe của phụ nữ trong nhà yếu, sinh con khó nuôi.- Hướng xấu:Hướng Tây – Sinh khí: Hướng Sinh khí hầu hết là hướng tốt nhưng trong trường hợp này sao Tham Lang thuộc ngũ hành Mộc bị cung Đoài thuộc ngũ hành Kim khắc nên dù ban đầu khấm khá tốt lành nhưng càng về sau càng lụi bại, không lâu dài.Hướng Nam – Tuyệt mệnh: Hướng nhà này rất xấu, nhờ có sao Kim Phá Quân nhập cung Hỏa, khắc hướng Ly Hỏa nên giảm bớt hung hiểm song vẫn không nên ở.Hướng Bắc – Lục sát: Hướng nhà này tưởng tốt vì ban đầu làm ăn vượng nhưng càng ở lâu sức khỏe người trong nhà càng sa sút, nhất là phụ nữ. Hơn nữa nhân đinh thoái lui, con cháu hư hỏng, không có định hướng.Hướng Đông Nam – Họa hại: Hướng nhà Tốn Mộc khắc sao Thổ giảm bớt điềm hung của sao thổ Lộc Tồn nhưng vẫn xấu, ảnh hưởng tới sức khỏe, nhất là phụ nữ. Phụ nữ hay ốm đau, khó sinh, sinh con khó nuôi.Hướng Đông – Ngũ quỷ: Hướng nhà này chủ về hung tai, tổn thương, tiêu bại gia sản, dễ gặp họa thị phi, tranh giành, kiện tụng, ốm bệnh. Quẻ Chấn đại diện cho trưởng nam nên người này bị ảnh hưởng nhiều nhất.
2. Tuổi Nhâm Tuất 1982 – mệnh Ly
- Hướng tốt:Hướng Đông – Sinh khí: Hướng nhà này hưng vượng tài lộc và công danh, có nhiều người phát triển đường quan lộ, con cháu thông minh thành đạt, gia vận phát triển bền vững.Hướng Bắc – Diên niên: Hướng nhà này tốt về kinh doanh làm ăn, sức khỏe ổn định, con cháu ngoan ngoãn thành công. Nhưng có Thủy Hỏa tương xung, nên tìm cách hóa giải để toàn diện hơn.- Hướng xấu: Hướng Đông Nam – Thiên y: Hướng nhà này vốn không xấu, làm ăn tốt mà công danh sự nghiệp cũng hiển đạt, nữ giới phúc đức nhưng lại tổn hại nam giới, dễ ốm đau, chết trẻ. Nam tuổi Tuất không nên sống trong nhà này.Hướng Nam – Phục vị: Nhà này cũng có của ăn của để, làm việc thông thuận nhưng không phát triển lâu dài, âm thịnh dương suy nên nam giới trong nhà sức khỏe kém, thường chết sớm.Hướng Tây Bắc – Tuyệt mệnh: Xem hướng làm nhà, nhà này có nhiều hung tai, hay gặp họa, người trong nhà chết trẻ, nhất là nam giới.Hướng Tây Nam – Lục sát: Hướng nhà âm thịnh dương suy, phụ nữ làm chủ, nam giới mất sớm. Hướng Đông Bắc – Họa hại: Hướng nhà chủ về túng thiếu khó khăn, luôn gặp họa thị phi.Hướng Tây – Ngũ quỷ: Hướng nhà âm thịnh dương suy nên nam giới hay bị bệnh tật, mất sớm; con gái thứ trong nhà thường vướng vào tai hung; gia vận càng ngày càng kém.
3. Canh Tuất 1970 – mệnh Chấn
- Hướng tốt:Hướng Nam – Sinh khí: Chọn hướng nhà này đảm bảo gia vận thịnh đạt, tài lộc dồi dào, con người hiền lành đức độ, nhất là phụ nữ trong nhà sống tình nghĩa, hiếu lễ.Hướng Đông Nam – Diên niên: Nhà này chủ yếu phát triển đường công danh, nhiều người gây dựng được sự nghiệp hiển hách, được xã hội trọng vọng, quyền cao chức trọng nhưng vẫn đức độ, sống nhân nghĩa.Hướng Bắc – Thiên y: Nhà này tốt về tài lộc, con người làm ăn chân chính nhưng dương khí thịnh nên sức khỏe phụ nữ trong nhà không tốt lắm.- Hướng xấu: Hướng Đông – Phục vị: Ban đầu hướng nhà này cũng tốt về kinh doanh nhưng dương khí quá mạnh nên gia vận không thuận, cha mẹ con cái thường xuyên cãi cọ, phụ nữ ốm đau, ít con cái.Hướng Tây – Tuyệt mệnh: Nhà này làm ăn rất kém lại hay gặp họa. Cung Chấn đại diện cho trưởng nam, người này bị ảnh hưởng nhiều nhất, dễ mất sớm vì bệnh tật.Hướng Đông Bắc – Lục sát: Nhà này sa sút, kém cỏi, âm khí suy bại nên phụ nữ thường bị tổn thương, người con trai út sức khỏe kém.Hướng Tây Nam – Họa hại: Nhà này nghèo túng, ít người, cung Khôn đại diện cho người mẹ bị khắc chế nên người mẹ gặp nhiều tai ương.Hướng Tây Bắc – Ngũ quỷ: Nhà này không phát triển về kinh tế, sức khỏe xấu, nhiều tai họa bất ngờ.
4. Tuổi Mậu Tuất 1958 – mệnh Càn
- Hướng tốt: Hướng Tây Nam – Diên niên: Hướng nhà này là hướng tốt nhất với tuổi Mậu Tuất, vừa vượng tài vượng lộc lại vượng nhân đinh, gia đình giàu có, con cháu thành đạt, sức khỏe dồi dào, hạnh phúc viên vãn.Hướng Đông Bắc – Thiên y: Nhà hướng này chủ về làm ăn phát triển, có cuộc sống vui vẻ ổn định, người trong nhà hiền lành, nhân hậu nhưng vì nhà thuần dương nên con gái trong nhà thường ốm đau.Hướng Tây Bắc – Phụ vị: Xem hướng nhà theo tuổi, nhà hướng này thịnh vượng giàu có, con cháu đều thông mình thành đạt, nhất là con trưởng nhưng vì âm thịnh dương suy nên sức khỏe của phụ nữ trong nhà yếu, sinh con khó nuôi.- Hướng xấu:Hướng Tây – Sinh khí: Hướng Sinh khí hầu hết là hướng tốt nhưng trong trường hợp này sao Tham Lang thuộc ngũ hành Mộc bị cung Đoài thuộc ngũ hành Kim khắc nên dù ban đầu khấm khá tốt lành nhưng càng về sau càng lụi bại, không lâu dài.Tham khảo thêm Tính chất 8 sao quyết định hướng nhà trong bát trạch phong thủy để hiểu rõ về vấn đề này.Hướng Nam – Tuyệt mệnh: Hướng nhà này rất xấu, nhờ có sao Kim Phá Quân nhập cung Hỏa, khắc hướng Ly Hỏa nên giảm bớt hung hiểm song vẫn không nên ở.Hướng Bắc – Lục sát: Hướng nhà này tưởng tốt vì ban đầu làm ăn vượng nhưng càng ở lâu sức khỏe người trong nhà càng sa sút, nhất là phụ nữ. Hơn nữa nhân đinh thoái lui, con cháu hư hỏng, không có định hướng.Hướng Đông Nam – Họa hại: Hướng nhà Tốn Mộc khắc sao Thổ giảm bớt điềm hung của sao thổ Lộc Tồn nhưng vẫn xấu, ảnh hưởng tới sức khỏe, nhất là phụ nữ. Phụ nữ hay ốm đau, khó sinh, sinh con khó nuôi.Hướng Đông – Ngũ quỷ: Hướng nhà này chủ về hung tai, tổn thương, tiêu bại gia sản, dễ gặp họa thị phi, tranh giành, kiện tụng, ốm bệnh. Quẻ Chấn đại diện cho trưởng nam nên người này bị ảnh hưởng nhiều nhất.
5. Tuổi Bính Tuất 1946 – mệnh Ly
- Hướng tốt:Hướng Đông – Sinh khí: Hướng nhà này hưng vượng tài lộc và công danh, có nhiều người phát triển đường quan lộ, con cháu thông minh thành đạt, gia vận phát triển bền vững.Hướng Bắc – Diên niên: Hướng nhà này tốt về kinh doanh làm ăn, sức khỏe ổn định, con cháu ngoan ngoãn thành công. Nhưng có Thủy Hỏa tương xung, nên tìm cách hóa giải để toàn diện hơn.- Hướng xấu: Hướng Đông Nam – Thiên y: Hướng nhà này vốn không xấu, làm ăn tốt mà công danh sự nghiệp cũng hiển đạt, nữ giới phúc đức nhưng lại tổn hại nam giới, dễ ốm đau, chết trẻ. Nam tuổi Tuất không nên sống trong nhà này.Hướng Nam – Phục vị: Nhà này cũng có của ăn của để, làm việc thông thuận nhưng không phát triển lâu dài, âm thịnh dương suy nên nam giới trong nhà sức khỏe kém, thường chết sớm.Hướng Tây Bắc – Tuyệt mệnh: Nhà này có nhiều hung tai, hay gặp họa, người trong nhà chết trẻ, nhất là nam giới.Hướng Tây Nam – Lục sát: Xem hướng nhà tốt xấu cho nam giới tuổi Tuất, hướng nhà âm thịnh dương suy, phụ nữ làm chủ, nam giới mất sớm. Hướng Đông Bắc – Họa hại: Hướng nhà chủ về túng thiếu khó khăn, luôn gặp họa thị phi.Hướng Tây – Ngũ quỷ: Hướng nhà âm thịnh dương suy nên nam giới hay bị bệnh tật, mất sớm; con gái thứ trong nhà thường vướng vào tai hung; gia vận càng ngày càng kém.
6. Tuổi Giáp Tuất 1934 – mệnh Chấn
- Hướng tốt:Hướng Nam – Sinh khí: Chọn đúng hướng để phong thủy nhà ở cực đỉnh, hướng nhà này đảm bảo gia vận thịnh đạt, tài lộc dồi dào, con người hiền lành đức độ, nhất là phụ nữ trong nhà sống tình nghĩa, hiếu lễ.Hướng Đông Nam – Diên niên: Nhà này chủ yếu phát triển đường công danh, nhiều người gây dựng được sự nghiệp hiển hách, được xã hội trọng vọng, quyền cao chức trọng nhưng vẫn đức độ, sống nhân nghĩa.Hướng Bắc – Thiên y: Nhà này tốt về tài lộc, con người làm ăn chân chính nhưng dương khí thịnh nên sức khỏe phụ nữ trong nhà không tốt lắm.- Hướng xấu: Hướng Đông – Phục vị: Ban đầu hướng nhà này cũng tốt về kinh doanh nhưng dương khí quá mạnh nên gia vận không thuận, cha mẹ con cái thường xuyên cãi cọ, phụ nữ ốm đau, ít con cái.Hướng Tây – Tuyệt mệnh: Nhà này làm ăn rất kém lại hay gặp họa. Cung Chấn đại diện cho trưởng nam, người này bị ảnh hưởng nhiều nhất, dễ mất sớm vì bệnh tật.Hướng Đông Bắc – Lục sát: Nhà này sa sút, kém cỏi, âm khí suy bại nên phụ nữ thường bị tổn thương, người con trai út sức khỏe kém.Hướng Tây Nam – Họa hại: Xem hướng nhà theo tuổi, nhà này nghèo túng, ít người, cung Khôn đại diện cho người mẹ bị khắc chế nên người mẹ gặp nhiều tai ương.Hướng Tây Bắc – Ngũ quỷ: Nhà này không phát triển về kinh tế, sức khỏe xấu, nhiều tai họa bất ngờ. “Bỏ túi” 9 bí quyết mua nhà chuẩn phong thuỷHướng dẫn chọn ngọc thạch phong thủy theo hướng nhàKị nhau về hướng trong phong thủy gây ra hậu quả khôn lường Trần Hồng
Trong kiến trúc, cầu thang giúp mang lại ánh sáng, thông gió, đối lưu không khí. Còn trong phong thủy, cầu thang là yếu tố mang lại sức khỏe, tinh thần, thể chất, giúp mọi thành viên sống cùng một nhà có tình cảm tốt đẹp, công việc hanh thông hơn. Tu
y nhiên, những cầu thang được thiết kế đảm bảo tính thẩm mỹ theo cảm quan thông thường nhưng “xấu” trong phong thủy dễ dẫn đến nhiều bất lợi cho gia chủ. Đáng lưu ý là những mẫu cầu thang sau:
Kiêng kỵ về kiểu dáng:
– Trống cả hai bên:
Để đảm bảo tính thẩm mỹ, sự tiện dụng, họp thời và tiết kiệm vật tư, cầu thang loại này được thiết kế trống ở hai bên hông. Trong phong thủy, đây là mẫu cầu thang tạo hiệu quả xấu, dương khí bị suy thoái, người ở trên các tầng dễ mắc bệnh tim mạch.
– Hình dáng quá cong hoặc xoắn ốc:
Loại cầu thang này đảm bảo tính thẩm mỹ cao trong kiến trúc nhưng xấu về mặt phong thủy, vì dương khí bị “bẻ gãy” khi di chuyển lên cầu thang tạo hiệu ứng xấu, dễ tác động tiêu cực đến cảm xúc, thần kinh và máu huyết của gia chủ.
– Cầu thang xương cá:
Rất phổ biến và dễ nhận ra với cấu trúc hở trống ở các bậc thang, một lườn xương sống ở giữa và phía dưới bậc, tạo hình ảnh như xương cá. Cấu trúc này ngoài hệ quả suy khí còn tạo ra hiệu ứng xung – sát khí do lườn xương sống của cầu thang gây ra. Gia chủ sẽ bị ảnh hưởng xấu đến thần kinh, huyết áp, tim mạch.
– Cầu thang kiểu hang hốc:
Cấu trúc bít bùng, kín bí do hông của cầu thang không làm bằng lan can hoặc tay vịn mà được che chắn bởi tường kín, cao tạo nên hình thể như hang hốc. Mang lại âm khí nặng nề, tác động tiêu cực khiến gia chủ suy nhược thần kinh, bất ổn tâm lý.
– Cầu thang phá cách:
Cấu trúc cầu thang phá cách không có trong các kiểu mẫu với thiết kế lệch trái hay lệch phải, các bậc lớn nhỏ khác nhau đều gây ảnh hưởng xấu về phong thủy do tạp khí phát sinh. Gây bất ổn tâm lý, thần kinh hoặc gây bệnh dị ứng, viêm nhiễm cho gia chủ và những người sống cùng nhà.
Kiêng đặt gương đối diện với cầu thang
Phong thủy cho rằng, nếu trong nhà bạn có một tấm gương lớn được bố trí tại vị trí phản xạ hình ảnh của cửa và cầu thang, thì đó là một trong những nguyên nhân quan trọng gây nên sự bất đồng, cãi cọ, tranh biện thường xuyên giữa vợ chồng của chủ nhân.
Ngay từ xưa dân gian đã quan niệm, cửa tượng trưng cho miệng, cầu thang tượng trưng cho lưỡi. Vì thế, khi thiết kế cửa đối diện với cầu thang sẽ tạo ra hiện tượng “khẩu thiệt trường”, nhiều thị phi.
Nếu hình ảnh ấy đưọc một tấm gương phản xạ lại, sẽ nảy sinh hiện tượng “khẩu thiệt tương đối” (miệng lưỡi đối chọi nhau). Điều đó ám chỉ tình trạng tranh cãi giữa các thành viên trong gia đình, nhất là giữa vợ chồng sẽ thường xuyên xảy ra.
Ngoài ra, những điều nên tránh khi thiết kế cầu thang:
– Cầu thang không đi thẳng ra hướng cửa chính.
– Không có xà nhà đè lên bất cứ bộ phận nào của cầu thang.
– Cầu thang không đi từ phía sau đi lên.
– Cầu thang không hướng thẳng vào bếp, dù ở tầng nào.
Trong cuốn "Tướng Mạng Mộng Bốc" (Dịch giả Huyền Mặc Đạo Nhân). Phép "Cân Xương Tính Số" này lấy giờ ngày tháng năm sinh (Âm Lịch) phối chuẩn với nhau, mỗi can chi, ngày tháng được định lượng theo kiểu "vàng" tức là lượng chỉ. Cộng lại số lượng chỉ sau khi quy đổi ra sẽ được số cuối cùng. Phương pháp này xem chung cho cả Nam lẫn Nữ. Mục đích của phương pháp này chủ yếu là xem chữ "Phú" và chỉ mang một giá trị tham khảo thôi. Muốn chính xác & độ tin cậy cao phải kết hợp xem với Tử Vi, Tử Bình hoặc Bát Tự Hà Lạc v.v... Dịch vụ đóng phí xem Tử vi trọn đời .
Giáp Tý: 1 lượng 2 chỉ Bính Tý: 1 lượng 6 chỉ Mậu Tý: 1 lượng 5 chỉ Canh Tý: 0 lượng 7 chỉ Nhâm Tý: 0 lượng 5 chỉ
Ất Sửu: 0 lượng 9 chỉ Đinh Sửu: 0 lượng 8 chỉ Kỷ Sửu: 0 lượng 8 chỉ Tân Sửu: 0 lượng 7 chỉ Quý Sửu: 0 lượng 5 chỉ
Bính Dần: 0 lượng 6 chỉ Mậu Dần: 0 lượng 8 chỉ Canh Dần: 0 lượng 9 chỉ Nhâm Dần: 0 lượng 9 chỉ Giáp Dần: 1lượng 2 chỉ
Đinh Mão: 0 lượng 7 chỉ Kỷ Mão: 1 lượng 9 chỉ Tân Mão: 1 lượng 2 chỉ Quý Mão: 1 lượng 2 chỉ Ất Mão 0 lượng 8 chỉ
Mậu Thìn: 1 lượng 2 chỉ Canh Thìn: 1 lượng 2 chỉ Nhâm Thìn 1 lượng 0 chỉ Giáp Thìn: 0 lượng 8 chỉ Bính Thìn: 0 lượng 8 chỉ
Kỷ Tỵ: 0 lượng 5 chỉ Tân Tỵ: 0 lượng 6 chỉ Quý Tỵ: 0 lượng 7 chỉ Ất Tỵ: 0 lượng 7 chỉ Đinh Tỵ: 0 lượng 6 chỉ
Canh Ngọ: 0 lượng 9 chỉ Nhâm Ngọ: 0 lượng 8 chỉ Giáp Ngọ: 1 lượng 5 chỉ Bính Ngọ: 1 lượng 3 chỉ Mậu Ngọ: 1 lượng 9 chỉ
Tân Mùi: 0 lượng 8 chỉ Quý Mùi: 0 lượng 7 chỉ Ất Mùi: 0 lượng 6 chỉ Đinh Mùi: 0 lượng 5 chỉ Kỷ Mùi: 0 lượng 6 chỉ
Nhâm Thân: 0 lượng 7 chỉ Giáp Thân: 0 lượng 5 chỉ Bính Thân: 0 lượng 5 chỉ Mậu Thân: 1 lượng 4 chỉ Canh Thân: 0 lượng 8 chỉ
Quý Dậu: 0 lượng 8 chỉ Ất Dậu: 1 lượng 5 chỉ Đinh Dậu: 1 lượng 4 chỉ Kỷ Dậu: 0 lượng 5 chỉ Tân Dậu: 1 lượng 6 chỉ
Giáp Tuất: 0 lượng 5 chỉ Bính Tuất: 0 lượng 6 chỉ Mậu Tuất: 1 lượng 4 chỉ Canh Tuất: 0 lượng 9 chỉ Nhâm Tuất: 1 lượng 0 chỉ
Ất Hợi: 0 lượng 9 chỉ Đinh Hợi: 1 lượng 6 chỉ Kỷ Hợi: 0 lượng 9 chỉ Tân Hợi: 1 lượng 7 chỉ Quý Hợi: 0 lượng 7 chỉ
Cân lượng theo tháng sanh
Tháng Giêng: 0 lượng 6 chỉ Tháng Hai: 0 lượng 7 chỉ Tháng Ba: 1 lượng 8 chỉ Tháng Tư: 0 lượng 9 chỉ Tháng Năm: 0 lượng 5 chỉ Tháng Sáu: 1 lượng 6 chỉ Tháng Bảy: 0 lượng 9 chỉ Tháng Tám: 1 lượng 5 chỉ Tháng Chín: 1 lượng 8 chỉ Tháng Mười: 1 lượng 8 chỉ Tháng Mười Một: 0 lượng 9 chỉ Tháng Chạp: 0 lượng 5 chỉ
Cân lượng theo giờ sanh
Giờ Tý: 1 lượng 6 chỉ Giờ Sửu: 0 lượng 6 chỉ Giờ Dần: 0 lượng 7 chỉ Giờ Mẹo: 1 lượng 0 chỉ Giờ Thìn: 0 lượng 9 chỉ Giờ Tỵ: 1 lượng 6 chỉ Giờ Ngọ: 1 lượng 0 chỉ Giờ Mùi: 0 lượng 8 chỉ Giờ Thân 0 lượng 8 chỉ Giờ Dậu: 0 lượng 9 chỉ Giờ Tuất: 0 lượng 6 chỉ Giờ Hợi: 0 lượng 6 chỉ
Cân lượng theo ngày sanh
Ngày mùng một: 0 lượng 5 chỉ Ngày mùng hai: 1 lượng 0 chỉ Ngày mùng ba: 0 lượng 8 chỉ Ngày mùng bốn: 1 lượng 5 chỉ Ngày mùng năm: 1 lượng 6 chỉ Ngày mùng sáu: 1 lượng 5 chỉ Ngày mùng bảy: 0 lượng 8 chỉ Ngày mùng tám: 1 lượng 6 chỉ Ngày mùng chín: 0 lượng 8 chỉ Ngày mùng mười: 1 lượng 6 chỉ Ngày mười một: 0 lượng 9 chỉ Ngày mười hai: 1 lượng 7 chỉ Ngày mười ba: 0 lượng 8 chỉ Ngày mười bốn: 1 lượng 7 chỉ
Ngày rằm: 1 lượng 0 chỉ Ngày mười sáu: 0 lượng 8 chỉ Ngày mười bảy: 0 lượng 9 chỉ Ngày mười tám: 1 lượng 8 chỉ Ngày mười chín 0 lượng 5 chỉ Ngày hai mươi: 1 lượng 5 chỉ Ngày hai mươi mốt: 1 lượng 0 chỉ ngày hai mươi hai: 0 lượng 9 chỉ Ngày hai mươi ba: 0 lượng 8 chỉ Ngày hai mươi bốn: 0 lượng 9 chỉ Ngày hai mươi lăm: 1 lượng 5 chỉ Ngày hai mươi sáu: 1 lượng 8 chỉ Ngày hai mươi bảy: 0 lượng 7 chỉ Ngày hai mươi tám: o lượng 8 chỉ Ngày hai mươi chín: 1 lượng 6 chỉ Ngày ba mươi: 0 lượng 6 chỉ
Xem Lược Giải Lượng chỉ.
Thí dụ:
Người sinh năm Giáp Tý, tháng Giêng, ngày mùng Một, giờ Tý. Xem ở bài trên thì Giáp Tý được 1 lượng 2 chỉ, tháng Giêng được 0 lượng 6 chỉ, ngày mùng một được 0 lượng 5 chỉ, giờ Tý được 1 lượng 6 chỉ. Rồi cộng chung lại như dưới đây:
Sinh năm Giáp Tý : 1 lượng 2 chỉ Sinh tháng Giêng : 0 lượng 6 chỉ Sinh ngày mùng một: 0 lượng 5 chỉ Sinh giờ Tý : 1 lượng 6 chỉ __________________ Tổng cộng : 3 lượng 9 chỉ
Chúng ta vẫn biết ngày ngày 1 tháng 4 là ngày Nói Dối – hay ngày Cá tháng Tư. Vào ngày này, mọi người trên khắp thế giới được phép trêu đùa nhau mà không ai được quyền cáu giận.
Nguồn gốc ngày Nói Dối Ngày Cá tháng Tư có nguồn gốc từ nước Pháp. Từ thời trung cổ cho tới cuối thế kỷ 16, người dân châu Âu nói chung và người dân Pháp nói riêng thường tổ chức đón năm mới vào ngày 1 tháng 4, đây được coi là ngày bắt đầu của mùa xuân. Thế nhưng vào năm 1564, đức vua Pháp là Charles IX đã quy định lại ngày đầu tiên của năm mới là ngày 1 tháng 1 và ban hành thống nhất trong cả nước. Do phương tiện liên lạc thời xưa khá lạc hậu, tin tức được truyền đi bằng cách chạy bộ truyền tin cho nhau nên nhiều người dân vẫn chưa được biết tới sự thay đổi này. Và một số khu vực, người ta biết tin này nhưng lại không chấp nhận, vẫn cố chấp coi ngày 1 tháng 4 là ngày đón năm mới. Việc này được cho là “ngớ ngẩn” và trở thành trò đùa của mọi người.
Ảnh minh họa
Truyền thống này được lan truyền từ Pháp sang Anh và Scotland (thế kỷ 18). Người Anh và người Pháp đưa tục lệ nói dối sang các thuộc địa ở Bắc Mỹ. Từ đó, ngày Cá tháng Tư trở thành một lễ hội quốc tế được chấp nhận ở nhiều nước khác nhau. Ý nghĩa ngày Cá tháng Tư Trong ngày Cá tháng Tư, bạn có quyền thỏa thích đùa cợt người khác mà không hề bị giận hờn trách móc, tuy nhiên, hãy chắc chắn rằng những lời đùa cợt này không gây ra hậu quả nghiêm trọng. Để mọi người có được tiếng cười sảng khoái trong ngày này thì rất nhiều trò đùa độc đáo, thú vị cũng ra đời, giới truyền thông cũng sẽ đứng ngoài cuộc trong ngày này. Du có chung mục đích là mua vui và mang lại tiếng cười cho mọi người trong ngày nay, thế nhưng tại mỗi quốc gia, ngày Cá tháng Tư lại có một ý nghĩa khác nhau và người dân mỗi nước lại có cách riêng để trêu chọc gia đình và bạn bè. Ngày Nói dối tại đất nước Mexico sẽ diễn ra vào ngày 28 tháng 12. Theo lịch sử, vào ngày này, nhà vua Herod đã ra lệnh thảm sát trẻ em vô tội, chính vì vậy mà những trò đùa chỉ mang tính chất nhẹ nhàng. Bạn bè có thể “ăn trộm” đồ của bạn và nếu muốn lấy lại chúng bạn phải đổi bằng kẹo. Ở Scotland lại có tới 2 ngày Cá tháng Tư. Ngày thứ hai đặc biệt để trêu ghẹo phần sau lưng của mỗi người nên được gọi là “Ngày vuốt đuôi”. Đây được coi là ngày phát sinh của trò đùa “Hãy đá tôi một phát”. Và những người bị lừa được gọi là “gowk” (kẻ ngốc). Ngày 1 tháng 4 tại vương quốc anh được gọi là “April Fool”, từ “fool” cũng có nghĩa là kẻ ngốc. Những trò đùa sẽ được tiến hành trong buổi sáng và kết thúc vào 12h trưa, nếu bạn bị “mắc câu” thì bạn sẽ bị coi là một “con cá”.
Ảnh minh họa
Người dân Pháp thì gọi ngày này là “Poissons D’Avril”, và do ảnh hưởng của văn hóa Pháp nên ở Việt Nam chúng ta cũng gọi ngày này là ngày Cá tháng Tư hay ngày Nói Dối. Ngày nay, ở Anh người ta gọi những người bị lừa trong dịp 1/4 là “April Fool” cũng có nghĩa là fool – kẻ ngốcNgười Pháp thì gọi những người bị lừa là Poissons D’Avirl có nghĩa là “những con cá tháng Tư”. Và có lẽ do ảnh hưởng của người Pháp nên ở Việt Nam chúng ta gọi ngày này là ngày Cá tháng Tư - ngày nói dối. Tại sao lại chọn con Cá? Quay lại thế kỷ XVI ở nước Pháp, mọi người thường tặng quà cho nhau là thực phẩm. Tuy nhiên, vào dịp lễ ăn chay, thịt hay những đồ ăn có liên quan tới thịt sẽ bị cấm đối với người dân theo đạo Thiên Chúa, nhưng Cá thì lại được phép thoải mái sử dụng. Khi truyền thống này được phổ biến thì Cá giả là những “bẫy lừa” được người dân sử dụng phổ biến nhất, họ có thể dán những mẩu giấy hình con cá vào sau lưng áo của người khác. Tại một số quốc gia khác, người ta tin rằng ngày cá tháng Tư bắt nguồn từ những trò đùa tai hại của những người đánh cá, họ cho rằng ngày 1 tháng 4 thuộc thời kỳ cá giao phối nên việc câu cá bị cấm. Tuy nhiên, một số người thì tin rằng việc sử dụng hình ảnh cá lại liên quan đến vòng quay của mặt trời. Bởi lẽ trong những ngày đầu tháng Tư, mặt trời sẽ quay quanh cung Song Ngư theo chiêm tinh thì chùm sao có hình con cá.
=> Xem ngày tốt xấu chuẩn xác theo Lịch vạn sự
Lichngaytot.com Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Thanh Vân (##)
Vệ sinh phòng bếp và nhà vệ sinh bằng hoá phẩm nào? –
Bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh luôn sạch sẽ gọn gàng không những làm cho bạn cảm thấy dễ chịu mà còn đảm bảo sức khoẻ cho mọi người trong nhà. Trên thị trường hiện nay có rất nhiều loại hoá phẩm giúp cho việc rửa chén bát, lavabô, bồn tắm, gạch lát nền ở
các công trình phụ. Các hoá phẩm dùng để tẩy rửa, lau chùi đồ dùng trong bếp và nhà tắm chia làm hai loại: loại có bột nhám và loại không có bột nhám (bột nhám thường là cát mịn), thạch cao tán nhỏ, phấn, bột đá bọt.
Hoá phẩm tẩy rửa có bột nhám ngoài bột giặt là thành phần chủ yếu, còn có thêm sôđa, chất khử trùng và chất thơm. Hoá phẩm có bột nhám dạng kem ngoài các chất có hoạt tính bề mặt còn cho thêm glycerin, etylenglyco, có tác dụng giúp kem không bị khô và bảo vệ da tay.
Hoá phẩm tẩy rửa có bột nhám giúp việc lau chùi các vết bẩn mau sạch, song hay để lại các vết xước nhỏ, do vậy không nên dùng loại này thường xuyên, mà chỉ dùng để đánh sạch các vết dơ bám lâu ngày. Đối với các đồ dùng như nhôm bóng, ly, chén, đồ pha lê, thuỷ tinh không nên dùng chất tẩy rửa có bột nhám.
Hoá phẩm tẩy rửa không có bột nhám có thể ở dạng kem hoặc lỏng. Hoạt chất chủ yếu trong thành phần là các chất hoạt tính bề mặt, sôđa, chất thơm. Ngoài ra, dạng kem và lỏng còn có dung môi hữu cơ, cồn etylic và một ố chất phụ gia khác, đôi khi còn thêm chất tẩy trùng.
Nếu hệ thống các công trình phụ lâu ngày không được tẩy rửa, thì rất khó lau sạch các vết bẩn. Trong trường hợp này phải sử dụng phương tiện tẩy rửa có bột nhám. Cách làm rất đơn giản: dùng miếng xốp mềm hoặc giẻ ướt có tẩm bột hoặc kem tẩy rửa lau đều trên bề mặt lavabô, bồn tắm, gạch lát nền, bồn cầu để 15 phút rồi dùng giẻ thấm nước sạch lau hai lần và rửa lại bằng nước, sau đó lau khô.
Trong một tháng, bồn tắm, lavabô cần được rửa và khử trùng bằng dung dịch cloramin hai lần. Cách làm như sau: Hoà tan cloramin và nước theo tỉ lệ 1/10 rồi dùng giẻ ngâm vào dung dịch cloramin và lau trên hết các bề mặt bồn tắm lavabô, gạch lát nền.
Sau 15 phút rửa sạch bằng nước (nên làm 2 lần).
Tường ốp gạch đá hoa nếu bị bẩn nên rửa bằng xà bông và nước ấm.
Hoá phẩm chuyên dùng cho bồn cầu không nên dùng cho lavabô, bồn tắm, bởi có axit mạnh, dễ làm hư lớp men mỏng của bồn tắm, lavabô.
Do hơi nước và cả oxy đường cống hoặc các chi tiết sản xuất từ gang bị oxy hoá tạo ra lớp gỉ sét. Các màng gỉ sét theo nước trôi vào bồn tắm, lavabô tạo thành vết rỉ màu nâu nhạt. Để tẩy sạch các vết rỉ nâu vàng trên bề mặt men trắng, nên dùng axit osatic và axít nitric. Các axit này tác động với ôxit sắt tạo ra muối không màu hoà tan trong nước.
Cần lưu ý, một tháng chỉ nên tẩy lớp gỉ sét bám trên men hai lần, vì nếu làm nhiều lần, axit sẽ làm tan dần lớp men.
Trên bề mặt bồn cầu thường có cặn lắng do nước tiểu, muôi, gỉ sét và cặn hữu cơ. Các loại cặn này không thể tẩy sạch bằng xà bông hay bột giặt bình thường, mà cần đến chất tẩy rửa chuyên dụng cho bồn cầu, ngoài tác dụng tẩy sạch cặn bám kể trên, còn có chất khử trùng.
Chất tẩy rửa chuyên dùng loại này thường có axit sulphamin, axit asalic và một vài axit khác, ngoài ra còn có thêm bột nhám, các chất hoạt động bề mặt… Cách làm như sau: Nhúng giẻ vào nước có pha bột hoặc kem, hay nước rửa chuyên dùng rồi đánh đều lên bề mặt bồn cầu. Để 15 phút cho dung dịch ngấm rồi dùng bàn chải vừa đánh vừa dội sạch.
Đốì với các đường Ống dẫn nước và tiêu nước thường bị tắc do rác và các chất thải vón cục. Thông thường người ta hay dùng các biện pháp cơ học như dùng que sắt, bơm nén, hoặc tháo gỡ đoạn đường ống ra để xử lý.
Để thay cách làm vất vả như trên, có thể sử dụng hoá phẩm chuyên dùng khử các vật làm tắc đường ống.
7 điều đại kỵ khi tặng và nhận bao lì xì mọi người đều nên biết
Dùng bao lì xì và tiền đã cũ để tặng cho người khác là những điều không nên trong dịp đầu năm mới. Xem những điều đại kỵ khi tặng và nhận bao lì xì đầu năm
Dùng bao lì xì và tiền đã cũ để tặng cho người khác là những điều không nên trong dịp đầu năm mới.
► Mời các bạn: Đổi ngày dương sang âm nhanh chóng và chuẩn xác nhất tại Lịch ngày tốt
Từ lâu, ở nhiều nước châu Á, trong đó có Việt Nam thường sử dụng những phong bao lì xì để tặng cho người thân nhân dịp năm mới với mong muốn mang lại nhiều may mắn, phúc lộc. Tuy nhiên, tặng bao lì xì không phải là chuyện đơn giản mà nó bao gồm nhiều yếu tố phong thủy nên tuân thủ:
Nên dùng phong bao lì xì màu đỏ
Ý nghĩa của việc tặng lì xì không nằm ở số tiền bên trong đó mà nằm ở chiếc phong bao màu đỏ. Những người nhận được phong bao lì xì màu đỏ đầu năm mới đồng nghĩa sẽ có một năm mới bình an, hạnh phúc. Bởi màu đỏ là màu tượng trưng cho năng lượng, hạnh phúc và may mắn. Tặng phong bao màu đỏ là một cách để gửi lời chúc tốt đẹp và may mắn trong dịp năm mới.
Những người đã làm ra tiền nên lì xì cho người khác
Theo truyền thống, nếu bạn là người đã bắt đầu làm ra tiền, đó là thời điểm bạn bắt đầu trải nghiệm việc sẽ lì xì cho người khác. Đây là cách bạn chia sẻ điều phước lành trong năm của mình cho người thân, bạn bè đồng thời đón nhận những may mắn trong năm mới từ người khác. Thực chất là quy luật cho và nhận mà ta nên tuân theo.Thông thường, số tiền lì xì phụ thuộc vào thu nhập của bạn. Tuy nhiên, nếu bạn là người chưa có gia đình thì cũng không nhất thiết phải lì xì cho người khác.
Nên dùng tiền mới để lì xì
Tiền cũ được đặt trong bao lì xì mang lại âm khí xấu không phù hợp cho một năm mới. Chính vì thế, dịp cuối năm là khi nhiều người thường đi đổi tiền mới tại các ngân hàng để lì xì cho người khác.
Số tiền trong phong bao tránh con số 4
40 nghìn đồng hoặc 400 nghìn đồng là những con số không nên đặt trong phong bao lì xì. Trong phong thủy, số 4 liên quan đến chữ “tử” nghĩa là cái chết, được coi là không may mắn. Con số thích hợp nên đặt trong bao lì xì là 8.
Luôn chuẩn bị sẵn phong bao lì xì
Phong bao lì xì cần được chuẩn bị sẵn để tiện lì xì, tránh trường hợp gặp người bất chợt và muốn lì xì nhưng lại không có hoặc lúc đó mới bắt đầu đi kiếm phong bao lì xì.
Nhận bao lì xì bằng 2 tay
Luôn luôn nhận phong bao từ người khác bằng cả hai tay để bày tỏ lòng cảm ơn và trân trọng. Thật bất lịch sự khi dùng một tay để nhận phong bao từ người khác.
Không mở phong bao trước mặt người tặng
Thật thiếu lịch sự nếu như bạn mở ngay chiếc phong bao lì xì trước mặt người tặng. Việc mở phong bao lì xì nên thật sự riêng tư.
Theo Eva Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Ngọc Sương (##)
Bộ vị Chuẩn đầu trên khuôn mặt gồm 10 bộ vị bộ phận. Trong đó nếu bộ vị bộ phận Pháp lệnh (cách mũi) mà dài, đẹp, hình đậm và rõ nét là người có tuổi thọ cao.
Bộ vị Chuẩn đầu trên khuôn mặt, dựa theo thứ tự lần lượt từ trong hướng sang phải bao gồm: Chuẩn đầu, Lan đài, Pháp lệnh, Táo thượng, Cung thất, Điển ngự, Viên thương, Hậu các, Thủ môn, Binh tốt, Ấn thụ. Trong đó, nếu bộ vị bộ phận Pháp lệnh (cách mũi) mà dài và đẹp, hình đậm và rõ nét là người tuổi thọ cao.
Pháp lệnh, chủ việc phát hiệu thi lệnh, hay còn gọi là Thọ bộ.
Người mà vị trí này đoan chính thì đưa ra mệnh lệnh sẽ được người khác làm theo, nếu không thì sau khi đưa ra mệnh lệnh kẻ dưới sẽ không theo.
Pháp lệnh dài và đẹp, hình đậm và rõ nét thì tuổi thọ cao.
Táo thượng, chủ phòng ốc.
Vị trí này mà bằng đầy thì sẽ ở vị trí cao, nếu có khiếm khuyết thì sẽ không có chỗ ở.
Cung thất, chủ nhà cửa, nếu là hoàng đế thì gọi là dịch đình.
Vị trí này mà khiếm khuyết thì vợ bệnh tật, nếu là hoàng đế thì phi tần sẽ mắc bệnh.
Điển ngự, chủ nô bộc, đồng thời chủ số lượng nô bộc.
Nếu chỗ này bằng đầy thì cả đời không thiếu người hầu kẻ hạ, nếu có khiếm khuyết khô hạn thì cả đời không có nô tỳ.
Viên thương, chủ thực lộc.
Nếu chỗ này bằng đầy, ngay ngắn thì sẽ không buồn phiền vì bổng lộc, nếu có khiếm khuyết thì sẽ sống cảnh đói khổ, bần cùng, nếu có màu xanh thì lo lắng làm quan gặp họa.
Hậu các, chủ việc ở nơi khác.
Nếu vị trí này mà xương thịt đầy đặn và nhô lên thì cả đời không phải ở nhờ nơi khác, nếu có khiếm khuyết thì định cư tha hương.
Thủ môn, chủ vị trí giàu có, tài lộc.
Vị trí này nếu bằng đầy và không có nốt ruồi đen thì gia cảnh giàu có, nếu ngắn khuyết thì cả đời bần cùng.
Binh tốt, chủ việc có hay không có binh sĩ để dùng.
Nếu chỗ này bằng đầy thì có sĩ tốt để chỉ huy, nếu có khiếm khuyết thì không có binh tốt để dùng.
Kinh nghiệm tử vi của cụ Thiên Lương: những bí quyết giải đoán đại vận
Bài viết của Trần Việt Sơn trình bày đầy đủ những bí quyết giải đoán đại vận của của cụ Thiên Lương. Một bài viết ngắn gọn nhưng bao rất dễ hiểu và áp dụng.
Trong việc giải đoán lá số Tử vi, đối với sở thích của những người đã lớn tuổi, có thể kể rằng việc giải đoán đại vận là quan trọng nhất. Về phương diện tâm lý, với người đã lớn tuổi, người ta rất mong được biết những dịp tốt hay những vận hạn sẽ đến, nếu biết dịp tốt đến, sẽ cố gắng khai thác; nếu biết thất bại đến sẽ không dại bỏ tiền ra để rồi mất hết. Vả lại khi đã lớn tuổi, với nhiều người, gần như số mạng đã an bài, chỉ còn trông vào những thay đổi phần nào ở vận hạn. Trong thật tế có nhiều người chỉ ăn về vận. Đương là một người như mọi người, bỗng cơ may đưa đến, vọt ngay lên ngôi cao chức cả, thế rồi hết vận, lại tụt đi đâu mất không ai hay.
Người ta có thể kể không biết bao nhiêu người như thế, như ông Diệm, ông Nhu, ông Cẩn, tướng Nguyễn Khánh, ông Trần Trọng Kim, cụ Phan Khắc Sửu, và gần đây hơn, có biết bao nhiêu người đương là giáo sư công chức, kỹ sư, dược sĩ, nhẩy ngay lên chức lớn, và có một số đã bỗng nhiên bỏ chức chức lớn mà trở về với cuộc sống bình thường; có những người đương làm ăn bình thường, bỗng lời đổ đến tay như thác nước trong cả một thời kỳ, nhưng rồi quen ăn làm tới, tiền lại ào ào đội nón ra đi. Những cuộc thay đổi lớn lao và bất thường đó là do Đại Vận, hơn là do Tiểu vận.
-Đại vận 10 năm, chủ vào 10 năm của cuộc đời. Đại vận mà khá thì cũng như có cái gốc khá. Tiểu vận có kém cũng được khá theo, và nếu Tiểu vận được khá thì lại càng khá nhiều.
Ngược lại, Đại vận mà kém thì tiểu vận có những sao tốt, cũng không thể tốt như ý muốn. Càng bởi thế, tính vận hạn, ta không nên ngạc nhiên rằng năm Thân lần trước sao ta khá thế, mà năm Thân lần này, sao ta lại quá dở, đó là vì Tiểu vận phải tùy theo Đại vận.
-Trong việc đoán số mạng đoán Đại vận là nắm được cái tốt xấu trong cả một cuộc đời, cho nên đoán đại vận là một sự rất hứng khởi. Có một lần, một vị độc giả, hận vì đã bị đoán số lầm, nhất định xin hỏi cụ Thiên Lương giải đoán cho vận hạn mấy năm. Vị độc giả đó không nói trước điều nào. Cụ Thiên Lương tính toán rồi nói: “Mấy năm nầy, ông làm ăn thất bại, thiệt tiền của”. Vị nọ thở phào, tự coi như an ủi vì số mạng đúng. ông mới tâm sự: “Đó là mấy năm tôi phải bỏ một số vốn lớn công ty vào một việc. Tôi đã hỏi kỹ mấy ông thầy. Mấy ông bảo tốt, cứ xúc tiến công việc đi. Tôi yên trí bỏ tiền ra không ngờ mất tất cả. Nhưng tại sao lại hỏng việc được? Rõ ràng hành của cung đại vận sinh cho hành mệnh của tôi như thế bước vào đại vận này là phải tốt chứ? Cụ Thiên Lương trả lời rằng ông mới được địa lợi, nhưng Thiên thời lại hỏng.
Và bây giờ chúng tôi xin trình bày những kinh nghiệm của cụ Thiên Lương.
Ba yếu tố chính
Để xác định một cung Đại vận là tốt hay xấu, có ba yếu tố chính:
1. Hành của bộ Tam hợp cung Đại vận sinh cho hành của bộ Tam hợp cung tuổi, hay đồng hành, là tốt. Khắc là xấu. Đó là yếu tố Thiên thời. Được Thiên thời là được thế thắng, được vận tốt do số mạng dành cho mình là được khá hơn đại vận khác.
2. Hành của cung Đại vận sinh hay khắc cho Mệnh của mình. Sinh là tốt, khắc là xấu. Đây là yếu tố chủ về thế thắng và vận tốt. Chắc các bạn thích Tử vi đã nhận ra rằng đây là yếu tố chủ chốt mà các nhà giải đoán Tử vi thường dùng để xét đoán vận tốt xấu, (nhưng các ông lại không để ý đến yếu tố là yếu tố Thiên thời).
3. Sự thích hợp hay không thích hợp của bộ sao tại Đại vận đối với bộ sao tại cung Mệnh. Có những bộ sao mà quý bạn đều biết: Sát Phá Liêm Tham, Tử Phủ Vũ Tướng, Cự, Nhật, Cơ Nguyệt Đồng Lương: Yếu tố này cũng được các sách cổ nói đến và các thầy Tử vi sử dụng, nhưng không có sự hệ thống hóa đầy đủ, chỉ nói sơ trong vài trường hợp (tỷ dụ: Mệnh có bộ sao này, đến cung đại vận gặp bộ sao này, thì tốt hay xấu). Yếu tố thứ 3 này là yếu tố Nhân hòa.
Yếu tố về Tuần Triệt đã được chúng tôi trình bầy, chúng tôi sẽ nhắc lại. Còn các trung tinh, hung tinh là những yếu tố thêm vào cho các yếu tố chính, và chỉ rõ thêm về các trường hợp cá biệt, như vận mạng về gì, hạn về phương diện nào. Thí dụ:
- Được cả ba yếu tố Thiên thời, Địa lợi, Nhân hòa là được đại vận rực rỡ. Nếu lại được các trung tinh tốt và thoát được các hung tinh hãm, thì càng rực rỡ hơn.
- Bị cả 3 yếu tố Thiên thời, Địa lợi, Nhân hòa, cùng xấu, là bị đại vận xấu. Nếu lại bị những sao hung xâm nhiễu, thì đó là đại vận rất nặng, gặp nhiều thất bại, và có thể đi đến cái chết.
Trong số giai phẩm này, chúng tôi xin trình bầy hai yếu tố Thiên Thời và Địa lợi. Các yếu tố khác, sẽ xin trình bầy trong giai phẩm sau.
A - YẾU TỐ THIÊN THỜI
Trong Tử vi, đừng bao giờ quên yếu tố các bộ Tam hợp. Xin nhắc lại hành bộ Tam hợp trên lá số:
Nguyên tắc: Trước hết, ghi nhận hành của tam hợp cung tuổi. Như người tuổi Tý thuộc tam hợp Thân Tý Thìn, hành Thủy.
Rồi muốn đoán cho mỗi đại vận cứ xét hành của tam hợp của cung Đại vận đó. So sánh hai hành (Hành của tam hợp cung tuổi và hành của tam hợp cung Đại vận) thấy sự sinh khắc chế hóa thế nào thì biết Thiên thời của Đại vận là xấu hay tốt.
-Hành tam hợp Đại vận sinh cho hành tam hợp tuổi: tốt, được Thiên thời.
-Hành tam hợp Đại vận đồng hàng với tam hợp tuổi (đây là trường hợp đại vận vào cung có Thái tuế Quan phù, Bạch hổ): tốt. Thiên thời đến cho mình.
-Hành tam hợp Đại vận khắc tam hợp tuổi (trường hợp mình bị khắc nhập) xấu nhất, thời gian và hoàn cảnh chung đánh vào mình và thắng mình, mình bị nhiều thất bại và thua thiệt.
-Hành tam hợp Đại vận bị hành tam hợp tuổi khắc (trường hợp khắc xuất): mình khắc thời vận, gặp nhiều khó khăn, nhưng mình cố gắng và chịu chật vật nhiều, có thể thắng được.
-Hành tam hợp Đại vận được hành tam hợp tuổi sinh (trường hợp sinh xuất): tuy sinh, nhưng sinh xuất, cho nên lao đao, như người mất máu huyết, mất sức lực tiền bạc.
Ghi các trường hợp
Quý bạn cứ theo các giải đoán trên mà xác định về Thiên thời: sau đây, nên ghi các trường hợp.
1)Tuổi Thân, Tý, Thìn Tam hợp Thủy
Đại vận đến cung Thân, Tý, Thìn: được Thiên thời, tốt nhất của mình Đại vận đến cung Hợi Mão Mùi (Mộc) Thủy sinh Mộc, vậy bị sinh xuất. Đại vận đến cung Dần Ngọ Tuất (Hỏa) Thủy khắc Hỏa khắc xuất. Mình khắc thời, phải chật vật mới thắng Đại vận đến Tị Dậu Sửu (Kim). Sinh nhập, Thiên thời.
2)Tuổi Hợi Mão Mùi Tam hợp Mộc
Đại vận đến cung Hợi Mão Mùi, tức đến tam hợp Thái tuế, tốt nhất. Đại vận đến cung Thân, Tý, Thìn (Thủy): Mình được sinh nhập. Tốt, mình có Thiên thời. Đại vận đến cung Dần Ngọ Tuất (Hỏa) Mình bị sinh xuất, lao đao. Đại vận đến Tị Dậu Sửu (Kim). Mình bị khắc nhập xấu.
3)Tuổi Dần Ngọ Tuất (Hỏa)
Đại vận đến cung Dần Ngọ Tuất (tam hợp Thái tuế): tốt. Đại vận đến cung Thân, Tý, Thìn (Thủy): Mình bị khắc xấu Đại vận đến cung Hợi Mão Mùi (Mộc) Mình được sinh nhập. Tốt. Đại vận đến Tị Dậu Sửu (Kim) khắc xuất, phải chật vật mới thắng
4)Tuổi Tị Dậu Sửu (Kim)
Đại vận đến cung Tị Dậu Sửu (tam hợp Thái tuế): tốt. Đại vận đến cung Thân, Tý, Thìn (Thủy): Mình bị sinh xuất. Đại vận đến cung Hợi Mão Mùi (Mộc) Khắc xuất Đại vận đến Dần Ngọ Tuất (Hỏa) Mình bị khắc nhập
Dàn bài cho đủ các trường hợp, chớ thật ra bạn nắm vững nguyên tắc các bộ tam hợp và hành sinh khắc, là bạn giải đoán được ngay.
B - YẾU TỐ ĐỊA LỢI
Hành của cung Đại vận sinh cho mệnh của mình, là sinh nhập, tốt nhất. Hành của cung Đại Vận đồng hành với Mệnh là tốt. Hành của Mệnh mình sinh cho hành cung Đại Vận, là sinh xuất, lao đao. Hành của Mệnh mình khắc hành cung Đại vận: Khắc xuất, bị chật vật nhưng có thể thắng. Hành của cung Đại vận khắc hành của mệnh: Khắc nhập, xấu, thất bại.
Ví dụ: Lá số Kỷ Mùi, 56 tuổi, Mệnh Hỏa (Thiên Thượng Hỏa), tam hợp tuổi Hợi Mão Mùi thuộc Mộc.
Đại vận 2-11 ở Sửu, thuộc Tỵ Dậu Sửu (Kim) Thiên thời: Hỏa khắc Kim; khắc xuất Địa lợi: cung Sửu, hành Thổ. Hỏa sinh Thổ, Mệnh sinh xuất.
Đại vận 12-21: ở Tý, thuộc Thân Tý Thìn (Thủy). Thủy sinh Mộc, vậy được Thiên thời, tốt. Cung Tý thuộc Thủy. Thủy khắc Mệnh hỏa, hỏng Địa lợi.
Đại vận 22-31: ở Hợi, thuộc Hợi Mão Mùi (Mộc), tam hợp Thái tuế: được Thiên thời. Cung Hợi thuộc Thủy. Thủy khắc Mệnh Hỏa, hỏng Địa lợi.
Hai đại vận ở Tý và Hợi hỏng Địa lợi, nhiều người đoán là hỏng: thật ra đương số được Thiên thời, nên khá (học hành tiến, tuy bị nhiều bệnh mà vẫn khỏi và sống, thành đạt, đi làm, cưới vợ được điều hòa).
Đại vận 32-41: ở Tuất, thuộc Dần Ngọ Tuất (Hỏa), Thiên thời: sinh xuất (vì Mộc sinh Hỏa), lao đao. Cung Tuất thuộc Thổ, Mệnh Hỏa: sinh xuất. Đại vận này nhiều lao đao, bệnh tật, nghèo túng.
Đại vận 42-51 ở Dậu thuộc Tí Dậu Sửu (Kim). Kim khắc Mộc, bị khắc nhập, xấu nhất, hỏng Thiên Thời. Cung Kim, Mệnh Hỏa khắc Kim, vậy khắc xuất. Thiên thời, Địa lợi hỏng, may được Triệt ở Đại vận cởi gỡ Tuần ở Mệnh. Vào cuối Đại vận, làm ăn khá.
Đại vận 52-61 ở Thân, thuộc Thân Tý Thìn (Thủy). Thủy sinh Mộc vậy được Thiên thời. Cung Kim, Mệnh Hỏa khắc Kim vậy, vậy khắc xuất vẫn được khá nhưng phải chật vật, cố gắng nhiều.
Đại vận 62-71 ở Mùi, thuộc Hợi Mão Mùi (đại vận Thái Tuế): được Thiên thời. Cung Mùi thuộc Thổ, Mệnh Hỏa sinh Thổ: sinh xuất.
Tuy nhiên còn phải xét yếu tố thứ 3 là yếu tố các bộ sao. Xin mời quý bạn đón coi giai phẩm sau, để thấy sự liên hợ của 3 yếu tố, trong việc giải đoán Đại vận tất chính xác.
C - YẾU TỐ NHÂN HÒA
Yếu tố thứ ba là bộ sao ta gặp ở Đại vận hợp hay không hợp với bộ sao ta có tại cung Mệnh. Đây là yếu tố mà ta thường thấy ghi ở các sách cổ kim, nhưng các trường hợp này không được giải thích và hệ thống hóa. Cụ Thiên Lương đã hệ thống hóa như sau:
Như trong sách “Tử vi nghiệm lý” cụ đã ghi, cụ phân các bộ chính tinh ra âm và Dương, Dương là thực hành mà âm là lý thuyết. Các bộ Tử, Phủ, Vũ, Tướng và Sát, Phá, Liêm, Tham thuộc về Dương và có tánh chất thực hành, các bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương và Cự Nhật thuộc về âm và có tánh chất lý thuyết. Hai bên âm Dương phân ra như vậy là hình ảnh của Lưỡng nghi.
Phân biệt ra Tứ tượng, ta có 4 bộ với tánh chất như sau:
Sát Phá Liêm Tham: 100% thực hành. Tử Phủ Vũ Tướng: 60% thực hành, 40% lý thuyết Cự Nhật: 60% lý thuyết, 40% thực hành. Cơ Nguyệt Đồng Lương: 100% lý thuyết.
Luận ra các thế của Đại vận
Sự khác biệt hay giống nhau là do chỗ thế âm và thế Dương mà gặp nhau thì nghịch, thường kém tốt; hoặc thế lý thuyết mà gặp thế thực hành thì có phát thêm, nhưng gặp họa lệch lạc, kém tốt. Tuy nhiên, nếu lý thuyết 100% mà gặp thực hành 100% thì phát mạnh hoạt động nhiều nhưng gặp họa nhiều hơn là những thế tuy khác biệt âm Dương mà thế lý thuyết, thực hành không khác nhau xa mấy (như có thế 60% lý thuyết, 40% thực hành mà gặp thế 40% thực hành 60% lý thuyết thì không khác nhau xa mấy). Cũng vậy, thế 100% thực hành mà gặp thế 60% thực hành, 40% lý thuyết, cũng không khác xa nhau mấy.
Từ căn bản đó, luận ra các thế như sau:
-Mệnh Cơ Nguyệt Đồng Lương (yếu, âm, 100% lý thuyết) gặp Đại vận Sát Phá Liêm Tham (mạnh, Dương, 100% thực hành): phát mạnh thì lại bị nặng, nhiều khó khăn, có thể có những cái rủi lớn.
-Mệnh Sát Phá Liêm Tham gặp Đại vận Sát Phá Tham – giống nhau hợp, tốt.
-Mệnh Cơ Nguyệt Đồng Lương đến đại vận Cơ Nguyệt Đồng Lương giống nhau, hợp, tốt.
-Mệnh Sát Phá Tham gặp đại vận Cơ Nguyệt Đồng Lương: kém, nhưng không hiểm nguy, mặc sống kém hơn so với các đại vận Sát Phá Tham (tóm lại là kém đi).
-Mệnh Sát Phá Tham gặp đại vận Tử Phủ Vũ Tướng, cùng Dương, vậy là không có gì khó khăn nặng, nhưng cũng giảm kém xuống một chút vì sự khác biệt về thế thực hành, lý thuyết ( Sát Phá Tham đương hoạt động 100/100, gặp Tử Phủ Vũ Tướng hoạt động giảm đi, nhưng thêm lý thuyết thế vào).
-Mệnh Tử Phủ Vũ Tướng gặp Tử Phủ Vũ Tướng: tốt.
-Mệnh Tử Phủ Vũ Tướng gặp đại vận Sát Phá Tham, phải hoạt động thâm lên như cũng giảm kém chút đỉnh.
-Tử Phủ Vũ Tướng với Cơ Nguyệt Đồng Lương: cũng luận như giữa Sát Phá Tham và Cơ Nguyệt Đồng Lương, nhưng sự khắc biệt, sự giảm kém không quá mạnh, là vì Tử Phủ Vũ Tướng còn có 40% lý thuyết so với Cơ Nguyệt Đồng Lương 100% lý thuyết.
-Mệnh Tử Phủ Vũ Tướng gặp Cự Nhật: khác về âm Dương, nhưng sự chênh lệch trong tỷ lệ lý thuyết và thực hành rất ít, nên sự giảm kém cũng rất ít. Mệnh Cự Nhật gặp Tử Phủ Vũ Tướng cũng luận theo như thế.
Vài yếu tố khác
Luận ba yếu tố trên, đủ thấy được đại cương Đại vận tốt xấu, một cách rất chính xác.
Còn những yếu tố phụ khác, nhưng cũng quan trọng, là các trung tinh lớn và các hung tinh lớn.
Ngoài ra có yếu tố lớn và chúng tôi đã nêu lên trong một kinh nghiệm trước cũng của cụ Thiên Lương, đó là kinh nghiệm về Tuần Triệt như một yếu tố để giải đoán Đại vận, Tuần hay Triệt nói chung làm giảm kém các sao tốt, nhưng lại làm tốt những sao hãm.
Nếu ở cung Mệnh có Tuần giải chế Mệnh thì đến Đại Vận có Triệt, mệnh được cởi gỡ ra và khá lên. Cũng vậy, nếu ở Mệnh có Triệt thì đến Đại vận có Tuần, vận mệnh được gỡ ra và khá lên.
Một lá số để thử nghiệm
Ví dụ: lá số mệnh tại Sửu, cách Sát Phá Liêm Tham; Hỏa mệnh; âm nam; tam hợp tuổi là Hợi Mão Mùi thuộc Mộc.
Đại vận 12-21 tại Tý – Tam hợp Đại vận là Thân Tý Thìn, thuộc Thủy, Thủy sinh Mộc, vậy là được Thiên thời, yếu tố chính. Cung Đại vận tại Tý là cung Thủy, khắc mệnh Hỏa: mất Địa lợi. Bộ chính tinh là Cơ Nguyệt Đồng Lương, lệch với bộ Sát Phá Liêm Tham, nhưng không nặng bằng khi Mệnh là Cơ Nguyệt Đồng Lương mà gặp đại vận Sát Phá Liêm Tham. Trong giai đoạn này, đương số sống dưới bóng cha mẹ, được đầy đủ điều kiện ăn học, nhưng cũng gặp khá nhiều vấp váp trong việc học thi trượt mấy lần, và lúc cuối đại hạn cũng lên được đại học. Bị một đau tưởng chết.
Đại vận 22-31 tại Hợi – Được Thiên thời vì Đại vận tại Hợi thuộc tam hợp Hợi Mão Mùi đồng hành với tam hợp tuổi. Cung Đại vận thuộc Thủy, khắc mệnh Hỏa, mất Địa lợi, nhưng cũng kéo lại phần nào là vì cung âm đồng mệnh âm. Bộ sao nặng về Tử Phủ Vũ Tướng, thuộc Dương cùng với bộ Sát Phá Liêm Tham được lợi lạc. Tuy hành cung Đại vận khắc hành Mệnh, nhưng cũng được khá. Trong đại hạn này, đương số sống cuộc đời nhiều biến cô, chen lẫn tốt với xấu. Đường công danh thi trượt nhiều lần, nhưng đi làm, thi đậu đi làm chức cao, nhưng rồi lại bỏ việc, sống khổ một thời gian ngắn, rồi lại khá lên. Đường vợ con: lấy vợ, sanh con. Sức khỏe: mang những bệnh nặng trong người tưởng khó thể qua khỏi, nhưng rồi vẫn sống được. Tóm lại: nhiều bước thăng trầm, nhưng vẫn khá.
Đại vận 32-41 – Tại Tuất, tam hợp Dần Ngọ Tuất thuộc Hỏa, vậy là tam hợp tuổi bị sinh xuất (Mộc sinh Hỏa). Đại vận ở cung Thổ, mạng Hỏa, vậy là Mạng bị sinh xuất. Hai yếu tố Thiên thời, Địa lợi bị kém, chủ về sự lao đao. Về bộ sao thấy có Cơ Lương chiếu, Cự Nhật chiếu, chủ về sự giảm kém. Đương số quả gặp những bước lao đao, gây được một ít tài sản lại phải bỏ đi cư gặp mấy lần hạn nặng (vì chánh trị, cụ Ngô Đình Diệm cho đi nằm ấp), một lần đau nặng cả năm trời tưởng chết, nhiều lần thay đổi chỗ ở. Mặc dầu làm việc nhiều nhưng chỉ đủ ăn.
Đại vận 42-51 – Tại Dậu, thuộc Tị Dậu Sửu hành Kim, khắc tam hợp tuổi thuộc Mộc, là mất Thiên thời. Cung Đại vận thuộc hành Kim, hành Hỏa của Mạng khắc Kim, tuy là khắc xuất không nặng bằng khắc nhập, nhưng cũng là xấu, tuy chế ngự được hoàn cảnh và có những thành công, nhưng phải khổ công hoạt động rất nhiều. Được Nhân hòa đúng bộ Sát Phá Liêm Tham như tại Mệnh. Lại được thêm một yếu tố quan trọng: sao Triệt tại đây cởi gỡ cái Tuần của Mệnh nên vận mạng sáng ra, được ổn định hơn.
Đương số trải qua những phen hứng khởi, hoạt động nhiều, đường làm ăn đều hòa hơn, tuy có vài trận đau ốm. Nhưng gọi là thành công như ý muốn thì không có. Tuy nhiên, việc làm ăn, hoạt động và hứng khởi, đều hơn trước, khá hơn trước, cho phép sắm sửa trong nhà, sống sung túc hơn.
Đại vận 52-61 – Đại vận tại Thân, thuộc Thân Tí Thìn, Thủy sinh cho Mộc của tam hợp tuổi. Được Thiên thời, cung Đại vận thuộc Kim, so với mệnh Hỏa là khắc nhập: vẫn phải tranh đấu nhiều để khắc phục hoàn cảnh. Chính tinh gặp thế Cơ Nguyệt Đồng Lương và Cự Nhật Đại vận phải giảm kém. Mất yếu tố Triệt cởi gỡ Tuần trong Đại vận trước. Tuy nhiên, yếu tố Thiên thời là quan trọng. Trong đại vận này, đương số đã bị một vài tật bệnh tưởng nguy nhưng thoát cả. Việc làm ăn được đều hòa và có phần sung túc nhờ được người tốt giúp đỡ. Nhưng đại vận này mới được phân nửa, chưa cho biết rõ hơn. Muốn rõ chi tiết, phải coi nhưng trung tinh và hung tinh khác trong các cung.
Sự quan trọng của yếu tố Đại vận
-Yếu tố Đại vận rất quan trọng vì nó đứng chủ cho các tiểu vận. Các tiểu vận khá hay xấu là do Đại vận mà ra.
-Phần nào, Đại vận cho phép bốc lên một cách khốc liệt theo Mạng, hoặc có thể vùi dập xuống đến đất đen. Như một người Mệnh thường nhưng mấy chục năm, chỉ làm những công việc thông thường. Nhưng gặp Đại vận được cả ba yếu tố Thiên thời, Địa lợi, Nhân hòa, bổng bộc phát dữ dội. Nhưng qua khỏi Đại vận đó, lại tụt thang, trở về nếp sống cũ.
-Một sinh viên có một cung mệnh rất tốt, tương lai huy hoàng. Gặp phải đại vận mà cả ba yếu tố Thiên thời, Địa lợi, Nhân hòa cùng hỏng, thế là đương nhẹ bước thang mây và có tương lai hứa hẹn huy hoàng, anh ta bị nạn lớn và từ trần. Xem lá số, không thấy Mệnh và Phúc chỉ sự yểu vong – nhưng xem đến Đại vận, thấy hỏng cả mấy yếu tố, nên chết. Đại vận thật là ghê gớm vậy (lá số của anh sinh viên này sẽ được cụ Thiên Lương dẫn giải trong số giai phẩm tới)
Đó chỉ là một yếu tố để ấn định tai họa nặng. Cũng có những lá số được Thiên thời hay Địa Lợi hay Nhân Hòa, nhưng bị chết, là vì còn những yếu tố khác.
1. Đường chỉ tay Hôn nhân dàiĐường chỉ tay Hôn nhân là một đường vân ngang, nằm dưới gốc ngón tay út. Người có đường chỉ tay này dài chứng tỏ cuộc sống hôn nhân viên mãn. Hơn thế, người này còn dễ kết hôn với người giàu sang, nổi tiếng, cuộc đời sẽ chuyển sang ngã rẽ hoàn toàn mới sau hôn nhân. Ngoài ra, theo quan điểm nhân tướng học, chủ nhân của tướng tay này vốn thuộc tuýp khéo léo, góp phần rất lớn vào thành công của bạn đời. Các gò lòng bàn tay và lá số tử vi4 đường chỉ tay chính ai cũng tự xem đượcDấu hiệu cảm xúc thể hiện qua cử chỉ tay 2. Đường chỉ tay Tình cảm chia làm ba nhánhĐây là dấu hiệu cho thấy người này khá đào hoa, có nhiều người theo đuổi. Bên cạnh đó, bản thân họ cũng thuộc tuýp hiền lành, quan tâm người khác nên sẽ vun đắp được tình yêu đẹp, đi tới đâu cũng được người khác giới ái mộ, quan tâm nhiệt tình. Cuộc sống sau hôn nhân của người này càng thêm thuận lợi khi được bạn đời hết mực chiều chuộng. Tình cảm vợ chồng luôn được hâm nóng kịp thời cho nên hiếm khi giữa hai người xảy ra mâu thuẫn quá nghiêm trọng.
3. Đường chỉ tay Vận mệnh và đường Trở ngại hợp nhấtKhi xem tướng tay, nếu thấy nét tướng cách này xuất hiện trong lòng bàn tay, đồng nghĩa với việc mối tình của bạn sẽ kết thúc tốt đẹp, có thể tiến tới hôn nhân hạnh phúc. Ngoài ra, nếu phần giao nhau giữa hai đường chỉ tay này có vân hình sao, ám chỉ cuộc sống hôn nhân sẽ làm thay đổi cuộc đời của bạn, tất nhiên là theo hướng tích cực hơn.5 kiểu đường tình duyên tiết lộ hôn nhân viên mãnĐoán khả năng nhảy việc qua đường chỉ tay Sự nghiệp (P1)Đoán khả năng nhảy việc qua đường chỉ tay Sự nghiệp (P2) 4. Trên gò Mộc tinh có vân hình ngôi saoGò Mộc tinh nằm dưới ngón trỏ, đại diện cho uy tín và giá trị bản thân. Người tự tin với chính mình thường có gò Mộc tinh nhô cao. Ngoài ra, nếu phạm vi phần nhô lên rộng, có nghĩa là giỏi giao tiếp và khẳng khái. Nếu gò này nhô cao hơn hẳn so với những gò còn lại, chứng tỏ là người tham vọng, thích nắm quyền lực.Nếu trên gò Mộc tinh xuất hiện vân hình ngôi sao, chứng tỏ giá trị bản thân bạn được nâng lên cấp độ mới. Nhiều khả năng bạn sẽ kết hôn với người có địa vị xã hội cao hay nổi tiếng trong thiên hạ. Nhìn chung, bạn và người ấy sẽ là cặp đôi hoàn hảo trong tương lai.5. Đường chỉ tay Trí tuệ đậm, rõ nétĐường Trí tuệ hay còn gọi là đường Trí đạo hoặc đường học hành, công danh. Vị trí đường này trong lòng bàn tay: nằm giữa đường Sinh đạo và Tâm đạo. Đường này thể hiện khả năng tư duy, sáng tạo và công danh sự nghiệp của con người.Người có trí tuệ tốt cũng sẽ sáng suốt trong việc lựa chọn bạn đời. Vậy nên, đường chỉ tay này mà đậm, sâu và rõ nét cũng là dấu hiệu cho thấy cuộc sống của bạn sẽ chuyển biến tốt đẹp sau khi kết hôn.An NhiênDự đoán tương lai giàu nghèo qua những đường vân đặc biệt trong bàn tay Trong lòng bàn tay, ngoài 3 đường chỉ tay cơ bản là đường Tâm đạo, Sinh đạo và Trí đạo, còn có những đường vân đặc biệt khác như vân đảo, vân lưới... Mỗi đường Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Yến Nhi (##)
Nhiều năm liền, anh Nguyễn Quốc Cường, ngụ tại ấp Long Thành, thị trấn Phước Long (Bạc Liêu) nằm mơ thấy một người đàn bà xõa tóc ngang lưng báo mộng về kho
Nhiều năm liền, anh Nguyễn Quốc Cường, ngụ tại ấp Long Thành, thị trấn Phước Long (Bạc Liêu) nằm mơ thấy một người đàn bà xõa tóc ngang lưng báo mộng về kho báu dưới lòng đất. Sau khi cùng hợp đồng tác chiến với hàng xóm, anh chọn một đêm khuya thanh vắng để cũng đào kho báu. Thay vì đào được vàng, "bấu vật" ẩn sâu dưới lòng đất là một.... bộ hài cốt.
Nhiều năm liền, anh Nguyễn Quốc Cường, ngụ tại ấp Long Thành, thị trấn Phước Long (Bạc Liêu) nằm mơ thấy một người đàn bà xõa tóc ngang lưng báo mộng về kho báu dưới lòng đất. Sau khi cũng hợp đồng tác chiến với hàng xóm, anh chọn một đêm khuya thanh vắng để cũng đào kho báu. Thay vì đào được vàng, "báu vật" ẩn sâu dưới lòng đất là một.... bộ hài cốt. Hàng xóm bất hòa thành thân thiện vì hợp sức… tìm kho báu Anh Nguyễn Quốc Cường, 33 tuổi, ngụ tại địa chỉ nêu trên là nhân vật chính trong câu chuyện đi tìm kho báu. Theo anh Cường, từ thời điểm đầu năm 2005, hàng đêm anh thường xuyên gặp đi gặp lại một giấc mộng rất kỳ lạ: Một người phụ nữ khoảng 30 tuổi, mặc bộ đồ bà ba, tóc xõa dài ngang lưng đến bên giường thầm thì với anh: “Dưới gốc cây mít trước nhà con có rất nhiều vàng thỏi, con về đào đi”. Anh Cường nói: “Tôi vốn là người cứng bóng vía nên cũng không hoảng hốt lắm. Thường khi giấc mơ đó đến, tôi chỉ giật mình tỉnh dậy rồi sau đó vài ngày là quên đi ngay”. Bẵng đi khoảng 3 năm, đến năm 2008, anh Cường lại thường gặp lại giấc mộng có nội dung tương tự như vậy nhiều đêm. Anh kể lại, đến lúc này anh bắt đầu ngờ ngợ và đi xem “địa thế” mà người phụ nữ trong mộng đã chỉ. Quả thật, cây mít trước nhà anh có những đặc điểm đúng như người đàn bà báo mộng đã chỉ: Gốc cây có những vết sẹo nào, có bao nhiêu cành cây… Phần đất mà theo người phụ nữ trong mộng miêu tả là có kho báu ở dưới cũng có những đặc điểm về màu đất giống y như trong thực tế. Theo anh Cường: “Đến lúc ấy, tôi đã bắt đầu thấy tin”. Thế nhưng lúc này, anh lại rơi vào một tình thế oái oăm là muốn đào kho báu cũng không được, vì phần đất được báo mộng là có kho báu lại nằm trong diện tích đất giáp ranh với nhà bà hàng xóm (cũng là nhà dì ruột của anh), và hai nhà đã tranh chấp diện tích đất này từ nhiều năm nay chưa đi đến hồi kết. Suy đi tính lại, anh nghĩ nếu bỏ không kho báu này thì uổng quá. Ngày qua ngày, anh càng quyết tâm: “Dù gì thì cũng phải đào một lần cho biết dưới đó có gì”. Nhiều đêm trằn trọc, suy nghĩ đủ cách nhưng anh thấy không cách nào khả thi vì cây mít này nằm cặp ranh, lại trước mặt nhà hai bên. Nếu có đào ban đêm thì cũng bị phát hiện, khi đó rất khó ăn nói với bên kia. Cuối cùng, anh Cường quyết định mang chuyện mình nằm mộng thấy kho báu nói với ông Võ Hữu Phước, là một người có uy tín trong ấp và nhờ ông này sang thương lượng với bà dì để đào kho báu. Tuy “tiết lộ” về chuyện kho báu nhưng anh Cường lại “ém” thông tin cụ thể, không cho biết chính xác địa điểm cụ thể của kho báu mà anh đã được báo mộng. Theo anh: “Nếu nói địa điểm cụ thể ở đâu, lỡ bên kia người ta đào trộm mất thì mình lại công toi”. Cuối cùng, ba bên: anh Cường, bà dì hàng xóm và ông Phước thỏa thuận cùng “hợp tác” đào kho báu, nếu có vàng thì sẽ chia làm 3 phần bằng nhau cho 3 bên. Đêm hãi hùng tìm kho báu, được... đầu lâu Ba bên thống nhất thời gian đào kho báu sẽ là giữa đêm để tránh bị mọi người để ý. Cũng phải đến trước khi cả đội “xuất kích”, anh Cường mới phổ biến “tọa độ” chính xác. Vào một đêm tối trời đầu tháng 3/2010, cả nhóm trên 10 người mang theo cuốc, giá, chĩa ba… khấp khởi mừng thầm trong bụng xuất hành đi tìm kho báu, chắc mẩm sau đêm nay mình sẽ giàu “kếch xù”. Tại nơi được báo mộng, Cường lấy sơn vẽ một hình chữ nhật có cạnh dài 2 x 1,5m ngay gốc cây mít giáp ranh phần đất hai nhà và bảo mọi người đào. Công việc đào bới được tiến hành rất bí mật, đèn chiếu sáng được che lại để chỉ vừa đủ ánh sáng cho người đào đất nhìn thấy. Hì hục đào khoảng hai tiếng đồng hồ, “soi” kỹ từng vốc đất được đưa lên nhưng mọi người vẫn chưa phát hiện được “hơi vàng”. Khi đào xuống độ sâu khoảng 1,8 m, lúc mọi người đã bắt đầu nản thì chiếc chĩa ba đâm thăm dò xuống chạm một vật cứng kêu “cạch”. Những người đi tìm kho báu khẽ bụm miệng ồ lên mừng rỡ vì đều nghĩ đã đào đến nắp của thùng vàng rồi. Nhiều người nhanh chóng nhảy xuống hố để “tiếp sức”. Người đào, người bới, mớ đất xà bần dưới đáy hố nhanh chóng được chuyền tay nhau đưa lên. Khi vật cứng được đưa lên mặt đất, mọi người xác định đó là một miếng gỗ khá dày.
Bà Ánh thắp hương tại ngôi miếu
Ở dưới hố, những người đào bới mò mẫm tìm thấy dưới khu vực có tấm gỗ là những vật cứng khác mà theo họ thì “cứng và có hình dạng giống như những thỏi vàng”. Ở phía trên, một số người được phân công mang những vật nghi vấn là vàng thỏi này đi rửa sạch sẽ. Trong ánh tranh tối tranh sáng, người ta ngạc nhiên không hiểu đây là loại hợp chất gì vì nếu lấy tay bẻ, những thỏi này đều bị gãy từng khúc. Anh Cường kể lại: “Ma lực của kho báu quá lớn nên mọi người bỏ qua chuyện tranh cãi đây là chất gì, chỉ căng mắt nhìn xuống đáy hố xem có phát hiện gì mới không”. Đêm truy tìm kho báu chấm dứt khi một người ở dưới chuyền lên phía trên một vật tròn tròn to hơn cái sọ dừa, nặng trịch. Một thanh niên hí hửng lau chùi và lăn đùng ra đất giãy đành đạch sợ hãi: “Á, cái đầu lâu bay ơi”. Cả đám người thất kinh hồn vía, không ai hô một câu nào mà tự động bỏ chạy tán loạn trong đêm, người ở dưới hố nhảy lên chen đường người ở trên mặt đất tìm lối thoát thân. Có người ngã dúi dụi mà hai tay chắp lạy như tế sao. Bà Phan Nguyệt Ánh nhớ lại: “Khi phát hiện không phải kho báu mà là xương người, người ta bỏ chạy ráo trọi. Lúc đó chỉ còn mình tôi cố trấn tĩnh trụ lại, gom góp tất cả lại bỏ vào một cái thau, để sáng mai tính tiếp”. Sáng hôm sau, một số người thu hết can đảm, tiếp tục xuống hố gom góp nắm xương tàn của người đã chết. Bà Ánh nói: “Người chết đã linh thiêng báo mộng nên mình phải làm cho tròn trách nhiệm”. Thông tin có bộ xương người trong khu đất giáp ranh nhà anh Cường và nhà bà Ánh loan nhanh như chớp. Ngay buổi chiều cùng ngày, nghi ngờ đây có thể là một vụ án mạng, chôn xác phi tang nên công an huyện Phước Long đã tiến hành xuống hiện trường lập biên bản, xác minh sự việc, triệu tập những người có liên quan đến lấy lời khai. Một điều tra viên nhớ lại: “Sau khi tiến hành xác minh và khám nghiệm tại hiện trường, chúng tôi xác định bộ hài cốt này đang trong quá trình phân hủy. Theo ước tính, người này đã chết cách đây khoảng trên 30 năm”. Bà Ánh đã cho chôn lại bộ hài cốt và lập miếu để thờ. Hiện tại ngôi miếu này nằm ngay ranh đất, gần chỗ đào vàng trước đây. Sau khi sự việc xảy ra, nhiều người mới “đoán già, đón non” cho rằng, vì cầu Xã Tá đang thi công, móng cầu lại “trúng” ngay phần mộ của người đã khuất nên người này mới về báo mộng, để mọi người mang đi nơi khác an táng?
Theo Baophapluat.vn
http://baophapluat.vn/bi-an-cuoc-song/bi-ma-choi-xo-nua-dem-keo-nhau-diquat-mo-vo-chu-167259.html Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Trúc Loan (##)
Đây là điển cố thứ Bốn tư trong quẻ Quan Thế Âm, mang tên Duy Ngãi Đấu Trận (còn gọi là Khương Duy Và Đặng Ngãi Đấu Trận). Quẻ Quan Thế Âm Duy Ngãi Đấu Trận có bắt nguồn như sau:
Khương Duy là đại tướng nhà Thục Hán, Đặng Ngải là tướng quân của nước Tào Ngụy. Câu chuyện hai người đấu trận xuất hiện trong Tam Quốc diễn nghĩa. Khương Duy và Đặng Ngải gặp nhau ở núi Kỳ Sơn, hai quân đội dàn trận ở trước núi Kỳ Sơn. Khương Duy theo phương pháp “bát trận” của Vũ Hầu, dựa vào hình thái của trời, đất, gió, mây, chim, rắn, rồng, hổ đế sắp xếp trận thế. Đặng Ngải thấy Khương Duy dàn thành trận đồ Bát quái, cũng bố trí quân đội của mình thành trận đồ Bát quái. Khương Duy cầm cây thương từ trên lưng ngựa nói lớn: “Ngươi bắt chước ta, bày thành trận đồ Bát quái, vậy ngươi có thể biến trận được chăng?”
Đặng Ngải cười nói: “Ngươi cho rằng thế trận này chỉ có ngươi biết bày hay sao? Ta đã bày trận được, lẽ nào lại không biết biến trận?” Rồi thúc ngựa đi vào trận đồ, lệnh cho quan chấp pháp phất cờ ra hiệu, biến thành tám tám sáu mươi tư cửa, rồi Đặng Ngải lại đi ra phía trước trận đồ, hỏi: “Biến pháp của ta thế nào?” Khương Duy nói: “Tuy là không tồi, nhưng ngươi có dám đấu vây cùng trận đồ Bát quái của ta không?” Đặng Ngải đáp: “Có gì mà không dám!” Thế là hai đội quân đều tiến lên theo đội ngũ của mình. Đặng Ngải ở giữa đội quân điều khiển đội ngũ. Hai đội quân đối đầu nhau, trận pháp không sai lệch chút nào. Khương Duy đi đến giữa đội quân của mình, cầm cờ lệnh phất lên, đột nhiên biến thành trận đồ “trường xà quyển địa” (rắn dài cuốn đất), vây hãm Đặng Ngải vào giữa, bốn bề tiếng hò reo vang dậy. Đặng Ngải không hiểu được phép biến hóa của trận pháp này, trong lỏng rất sợ hãi. Quân Thục dần dần vây đến gần, Đặng Ngải dẫn các tướng muốn phá vây xông ra nhưng không thành, chỉ nghe thấy tiếng quân Thục đồng thanh hô lớn: “Đặng Ngải mau ra hàng!” Đặng Ngải ngẩng lên nhìn trời thở dài: “Ta nhất thời cậy tài, đã trúng kế của Khương Duy rồi!”
Bỗng nhiên, ở góc phía tây bắc có một toán quân đánh vào, Đặng Ngải thấy là quân Ngụy, bèn thừa thế đánh ra. Người cứu Đặng Ngải là Tư Mã Vọng. Sau khi Tư Mã Vọng cứu Đặng Ngải ra, thì chín doanh trại của quân Ngụy đóng ở núi Kỳ Sơn đều bị quân Thục cướp mất cả. Đặng Ngải mang theo bại quân, đóng quân ở phía nam sông Vị Thủy. Đặng Ngải hỏi Tư Mã Vọng: “ông làm thế nào mà hóa giải được trận pháp đó của Khương Duy?” Tư Mã Vọng trả lời: “Ta lúc nhỏ đi học ở Kinh Nam, từng kết bạn với Thôi Châu Bình và Thạch Quảng Nguyên, đã từng luận bàn về trận đồ này. Trận đồ mà Khương Duy biến hóa ra hôm nay, chính là trận “trường xà quyển địa”. Nếu như tấn công từ những vị trí khác, chắc chắn sẽ không thể phá được. Tôi thấy phần đầu của trận thế ở phía tây bắc, cho nên tấn công từ phía tây bắc, tự nhiên sẽ phá được thôi.” Đặng Ngải nói: “Ta tuy có học được trận pháp, nhưng thực không hiếu về biến pháp, ông đã biết được phép ấy, ngày mai hãy sử dụng phép ấy chiếm lại các doanh trại cũ ở Kỳ Sơn, ông thấy thế nào?”
Tư Mã Vọng nói: “Những gì mà ta học được, e rằng không qua mặt được Khương Duy!” Đặng Ngải nói: “Ngày mai ông đấu trận pháp với hắn, còn tôi sẽ dẫn một đội quân, đánh úp quân đội ở sau núi Kỳ Sơn của hắn. Hai bên cùng đấu, có thể lấy lại được doanh trại!” Vì thế lệnh cho Trịnh Luân làm tiên phong, Đặng Ngải tự mình dẫn quân tập kích ở sau núi, mặt khác lại sai người soạn thư khiêu chiến, hẹn Khương Duy ngày hôm sau đấu trận pháp.
Khương Duy đã biết được mưu kế của Đặng Ngải, nhưng vẫn nhận lời đấu trận, lại sai Liêu Hóa mai phục ở sau núi, đợi quân của Trịnh Luân vừa vòng qua sườn núi, Liêu Hóa lập tức dẫn quân đánh ra, một đao chém Trịnh Luân rơi xuống ngựa. Đặng Ngải rất kinh hãi, vội vàng lui quân, nhưng lại bị tướng của quân Thục là Trương Dực tấn công, quân Ngụy đại bại.
Xem bói Quẻ Quan Thế Âm Duy Ngãi Đấu Trận là quẻ thẻ Trung Bình trong quẻ thẻ quan âm, là quẻ số 44 !
Quẻ này là tượng gặp phải kỳ phùng địch thủ. Những việc mong cầu phài bỏ công suy tính mới được tốt đẹp thuận lợi.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Hương Giang (##)
Tiến hành phân loại các trung tâm mua bán như thế nào? (Phần 3) –
Phân loại theo giá trị đầu tư Cửa hàng, khách sạn được coi là hình thức đầu tư điển hình của bất động sản khi mới ra đời. Khả năng thu được lợi nhuận đầu tư và giá trị đầu tư của nó đối với nhà đầu tư thương phố mà nói thì đó là vấn đề đáng quan tâm
Cửa hàng, khách sạn được coi là hình thức đầu tư điển hình của bất động sản khi mới ra đời. Khả năng thu được lợi nhuận đầu tư và giá trị đầu tư của nó đối với nhà đầu tư thương phố mà nói thì đó là vấn đề đáng quan tâm nhất. Nếu như giá trị đầu tư thương phố không cao thì đối với nhà đầu tư mà nói, chí ít cũng có nghĩa là thất bại trong thời gian ngắn.
Giá cả nhà ở bình dân của Bắc Kinh cao hơn gấp hai lần trở lên so với các khu khác, Hồng Kông phải bán gấp mười lần. Đối với việc định giá thương nghiệp của khu phố nên gấp hai lần đến ba lần của nhà ở, còn đối với giá cả thương phố ở khu trung tâm, thì giá bán có thể đạt tới ba lần đến năm lần của nhà ở.
Xét thấy tính quan trọng của giá trị đầu tư thương phố, dưới đây tiến hành phân loại thương phố theo giá trị đầu tư của hàng cửa hiệu, thuận tiện cho nhà đầu tư phán đoán phương hướng đầu tư từ góc độ thu được lợi nhuận đầu tư và mục tiêu đầu tư.
Thương phố “đô thị hình ” – tích ưu cổ
Thương phố “đô thị hình” là chỉ các cửa hàng cửa hiệu.
Các thương phố “đô thị hình” nhiều không kể xiết, như Hàng Đào, Hàng Ngang… Các thương phố ở khu vực này đều thuộc các khu vực thương mại sầm uất trong đô thị, nằm trong khoảng đất trung tâm thương nghiệp của thành phố. Xét thấy vị trí đặc thù này và giá trị thương nghiệp hiện có của khu vực thông thường, lưu lượng khách hàng trong thời gian dài của các thương phố “đô thị hình” tương đối ôn định, nói cách khác, khả năng kinh doanh thu được lợi nhuận của nó là khá cao.
Trình độ kinh doanh thương nghiệp của các thương phố loại này tự nhiên sẽ thể hiện ra năng lực thu được lợi nhuận tiền thuế của các thương phố, đầu tư vào các thương phố” “đô thị hình” thu được lợi nhuận ổn định. Hơn nữa lợi nhuận mang hại tương đối cao, cho nên chúng ta gọi các thương phố “đô thị hình” là tích ưu cổ trong thương phố, như vậy là khá xác đáng, dễ hiểu.
Thương phố “đô thị hình” đa số dùng kinh doanh của nghiệp thái vật phẩm, nghiệp thái thể hiện và nghiệp thái phục vụ chiếm tỷ trọng tương đối nhỏ. Điều này khá phủ hợp với nguyên tắc giá trị thương nghiệp – trong khu vực có lưu lượng khách cùng đơn vị diện tích giá trị thương nghiệp rất cao, chỉ có nghiệp thái vật phẩm mới có thể đủ để thực hiện mục tiêu này.
Giải mộng, giải mã giấc mơ bị mất đồ. Trong giấc mơ bạn thấy đồ của mình bị mất, vậy giấc mơ đó báo hiệu điều gì? Liệu có phải dự báo một điều tốt lành đến với bạn không? Điều này rất nhiều bạn đang thắc mắc. Vậy bài viết sau chúng tôi sẽ giải mã giấ
– Tận dụng triệt để thế mạnh của mình, con trai tuổi Thân biết cách lấy lòng các cô gái thông qua đường… dạ dày. Tuyệt chiêu này tuy đơn giản, nhưng lại vô cùng hiệu quả.
1. Chàng trai tuổi ThânBiệt tài nấu nướng của các anh chàng tuổi Thân miễn chê vào đâu được. Hơn thế, đây lại là con giáp có tâm hồn ăn uống, biết thưởng thức cao lương mĩ vị trên đời. Vậy nên, họ chẳng ngại ngần xắn tay áo, đeo tạp dề vào bếp để chế biến những món ăn ngon, trước là phục vụ sở thích ăn uống của mình, sau là mang tới niềm vui cho người thân, nhất là “gấu”.Tận dụng triệt để thế mạnh của mình, con trai tuổi Thân biết cách lấy lòng các cô gái thông qua đường… dạ dày. Tuyệt chiêu này tuy đơn giản, nhưng lại vô cùng hiệu quả.
2. Chàng trai tuổi TỵDù ít khi vào bếp vì bận rộn công việc, nhưng một khi chàng tuổi Tỵ đã ra tay, ắt có món ngon ngay cho “gấu”. Con giáp này luôn cho rằng, đường từ dạ dày tới trái tim các nàng là con đường tắt, vừa ngắn lại vừa nhanh, tại sao lại không tận dụng.Chính vì thế, nhân lúc rảnh rỗi hay khi chỉ có “hai mình” với nhau, con trai tuổi Tỵ sẽ chủ động vào bếp để trổ tài nấu nướng.
3. Chàng trai tuổi Hợi“Hay ăn thì lăn vào bếp”, câu nói này cũng khá đúng với chàng trai tuổi Hợi. Họ biết cách thưởng thức ẩm thực nên sẵn sàng tự tay mình đảm nhiệm vai trò đầu bếp cho cả nhà. Hơn thế, tay nghề nấu ăn của con giáp này cũng thuộc hàng cao siêu, họ có thể chế biến thành các món ăn vừa ngon, vừa đẹp mắt chỉ bằng những nguyên liệu đơn giản. Thế mới nói đây là một trong những con giáp nam nấu ăn ngon nhất. Vậy nên, quanh người tuổi Hợi mới có nhiều vệ tinh theo đuổi đến thế.4. Chàng trai tuổi MùiAi cũng biết chàng trai tuổi Mùi điềm tĩnh, tốt bụng, lại biết cách cảm thông, rất coi trọng tình cảm gia đình. Với họ, bữa ăn chính là công cụ để gắn kết tình thân, tạo ra sợi dây liên kết vững mạnh, không thể tách rời giữa những thành viên trong một nhà.Bởi thế cho nên, họ chẳng ngại ngần xắn tay áo, tay dao tay thớt, chế biến món ăn ngon cho cả nhà cùng thưởng thức. Nhìn ai nấy ăn uống ngon lành, họ cũng cảm thấy hạnh phúc ngập tràn.
=> Theo dõi: Tử vi hàng ngày của 12 con giáp được cập nhật nhanh chóng, chính xác
Hoàng LamNhững cặp đôi con giáp kết hôn nhất định sẽ hạnh phúc suốt đời Dần và Hợi là cặp đôi con giáp cùng tương trợ và cổ vũ cho nhau, có thể hy sinh bản thân vì đối phương, coi nửa kia quan trọng hơn bản thân mình, cuộc sống hôn Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Cát Phượng (##)
Sao Địa Võng ở Mệnh là rất thông minh, có tài khéo, suy tính công việc rất tài tình nhưng hay gặp ngăn trở, mọi công việc hay gặp rắc rối, bị ràng buộc.
Phụ Tinh. Thuộc bộ sao đôi Thiên La và Địa Võng. Gọi tắt là La Võng. Vị trí luôn ở trong Cung Tuất. Sao này là sao xấu.
Đây là một ám tinh, có nghĩa: - hiểm ác ngầm - gây rắc rối, ngăn trở mọi công việc - chủ sự bắt bớ, giam cầm Người có Địa Võng thủ Mệnh, Thân bụng dạ khó lường, tính nết tráo trở, hiểm ác ngầm, hay hại kẻ khác mà nạn nhân không biết được.
Ý Nghĩa sao Địa Võng Ở Cung Mệnh:
Sao Địa Võng ở Mệnh là rất thông minh, có tài khéo, suy tính công việc rất tài tình nhưng hay gặp ngăn trở, mọi công việc hay gặp rắc rối, bị ràng buộc.
Ý Nghĩa sao Địa Võng Với Các Sao Khác:
Sao Địa Võng và các sao giải: Làm giảm bớt hay tan biến đặc tính xấu của Địa Võng. Các sao giải này là Tuần, Triệt, Tử Vi, Hóa Khoa, Thiên Giải, Giải Thần.
Địa Võng, Trực Phù: Làm tăng thêm ác tinh cho đương số.
Sao Địa Võng bao giờ cũng ở cung Tuất, đối diện với sao Thiên La, do đó cần xem sao Thiên La.
Võng, Linh Đà, Liêm Tham: bị bắt giữ, xử tử
Võng và các sao giải: làm giảm bớt hay tan biến đặc tính xấu của Địa Võng. Các sao giải này là Tuần, Triệt, Tử Vi, Hóa Khoa, Thiên Giải, Giải Thần.
Tướng người cao quý đại để tướng người cao quý toàn thân toát ra vẻ quý phái sang cả Những người như vậy diện mạo không hẳn là xinh đẹp, đôi khi còn dưới mức trung bình, nhưng hầu hết đều có một số nét tướng sau đây: - Mục quang sáng sủa, chính đín
ÂM DƯƠNG VÀ NGŨ HÀNH TRONG VŨ TRỤ QUAN TRUNG HOA a ) Lược sử : Thuyết âm Dương Ngũ hành đã được đề cập đến trong một tác phẩm thành văn tối cổ Trung Hoa là kinh Dịch. Tuy vậy, kinh Dịch của Khổng Tử chỉ là sự thâu nhập các kiến thức và quan niệm của người xưa từ thời vua Phục Hy lưu truyền đến đời Khổng Tử. Khổng Tử chỉ góp nhặt và suy diễn thêm cho thành một hệ thống và ghi lại thành văn bản cho hậu thế mà thôi. Theo truyền thuyết, người đầu tiên nhận thức được các lẽ âm dương biến hoá của Trời Đất, vạn vật là vua Phục Hy ( khoảng 44 thế kỷ trước Tây lịch ), người minh thị đề cập đến cái dụng của Ngũ hành là vua Hạ Vũ ( khoảng 22 thế kỷ trước Tây lịch ).
Đến thế kỷ thứ ba trước Tây lịch, tại nước Tề ( nay là tỉnh Sơn Đông ) có học giả Trâu Diễn, căn cứ vào Kinh Dịch, đã phổ biến hết tinh thần và công dụng của Âm dương, ngũ hành không những vào sự vật thiên nhiên mà còn cả vào việc người nữa. Do đó, người đời sau coi Trâu Diễm như người khai sáng ra phái Âm Dương. Phái này chính là nguồn gốc của phái Lý Số do các học giả đời Tống sau này sáng lập. Đến đời Hán, học giả Dương Hùng ( 53 trước Tây lịch - 20 Tây lịch ) tham bác kinh Dịch và Đạo đức kinh mở ra ngành Lý số học sơ khai qua tác phẩm Thái huyền kinh. Đến đời Tống sơ ( khoảng thế kỷ thứ 10 ) một nhân vật đạo gia kiêm nho gia là Trần Đoàn tự là Đồ Nam, hiệu là Hi Di tiên sinh, tinh thông cả Lý Số học của các nhà đi trước đã tổng hợp các kiến giả về lý Thái cực của vũ trụ, lấy tượng số mà xét sự vận chuyển của Trời Đất, suy diễn ra hành động của vạn vật rồi áp dụng các hệ quả của Lý thái cực vào Nhân tướng học đế giải đoán tâm tình, vận số của con ngườ , mở đầu cho Lý Số và Tướng số học. Từ đó về sau, quan niệm Âm Dương, Ngũ hành được áp dụng rộng rãi vào Nhân tướng học và thành ra một thành tố bất khả phân trong tướng thuật. b ) Nội dung của Thuyết âm Dương, Ngũ hành Theo cổ nhân Trung Hoa, lúc đầu vũ trụ chỉ là một khối hỗn độn, không có hình dạng rõ ràng được gọi là thời Hỗn mạng. Trong sư Hỗn mạng đó, bàng bạc cái lẽ vô linh linh diệu gọi là Thái cực. ( Sở dĩ gọi là Thái cực vì nó huyền bí và vô tận nên không thể xác định rõ ban thế cuả nó ra sao). Tuy nhiên, dẫu không biết được chân tính và chân chất của cái lẽ Thái cực huyền vì song ta có thể dựa vào sự quan sát về tính cách biến hoá của vạn vật mà suy ra được cái đông thể của Thái cực. Căn bản của sự chuyển biến hoá được biểu lộ bằng hai trạng thái tương phản là Động và Tĩnh. Động gọi là Dương, Tĩnh gọi là Âm. Dương lên đến cực độ thì lại biến ra Dương. Hai cái trạng thái tương đối của cái Bản thể nguyên khởi duy nhất ( Thái cực ) cứ tiếp diễn mãi, điều hợp với nhau, sinh sinh hoá hoá không ngừng mà sinh ra Trời, Đất, Người cùng vạn vật. Vì Âm Dương phối hợp, đun đẩy lẫn nhau nên có sự biến chuyển. Sự biến chuyển chính là nền tảng của Dịch. Do đó, trong phần chú giải kinh Dịch, Khổng Tử đã nói “ Âm nhu Dương Cương, Cương nhu tương thôi sinh nhi biến hoá “(Nghĩa là Âm thì mềm, Dương thì cứng, cứng mềm đun đẩy lẫn nhau chuyển hoá thành thiên hình vạn trạng). Theo cổ nhân, mỗi chu trình gồm bốn giai đoạn :a ) Nguyên : Khởi đầu của sự biến hoá b ) Hạnh : Sự thông đạt , hội hợp các thành tố c ) Lợi : Sự thỏa đáng các điều kiện cần thiết cho sự tăng trưởng d ) Trinh : Sự thành tựu chung cuộc của một chu trình sinh ra sự vật Biến hoá là ngoại biểu của Thái cực mà đạo Dịch căn cứ trên sự biến hoá của vũ trụ và vạn vật. Do đó, Kinh Dịch mô tả diễn trình chuyển hoá (Dịch) một cách khái quát như sau : “ Dịch hữu Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh Bát quái, Bát quái sinh Ngũ hành : Đạo Dịch có nguồn gốc là Thái cực, Thái cực sinh ra hai Nghi ( Âm và Dương ) hai Nghi sinh ra bốn Tượng ( bốn trạng thái tượng trưng bằng bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông ) bốn tượng sinh ra tám Quẻ ( Kiền, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài ) tượng trưng cho Trời, Đầm, Lửa, Sấm, Gió, Nú, Nước, Đất ) tám Quẻ sinh ra năm Hành ( năm loại nguyên tố cấu tạo ra vạn vật hữu hình Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ ). Khởi đầu của sự biến hoá rất đơn giản, rồi từ cái đơn giản đó mà chuyển hoá dần dần để thành ra phồn tạp. Vì Âm Dương là hai thành tố đầu tiên của vũ trụ, nên được Kinh Dịch chọn là biểu tượng căn bản và tượng trưng bằng hai cái vạch đơn giản :a ) Vạch liên tục tượng trưng cho Dương b ) Vạch gián đoạn ( - - ) tượng trưng cho Âm Trong phép biến đổi hoá để sinh ra Bát quái, hai vạch tượng trưng cho Âm Dương lần lượt chồng chất lên nhau theo nền tảng tam tài mà thành ra tám Quẻ căn bản với hình dạng và ý nghĩa tượng trưng sau đây : 1 - Kiền tượng trưng cho Trời 2 - Đoài tượng trưng cho Đầm , Ao 3 - Ly tượng trưng cho Lửa 4 - Chấn tượng trưng cho Sấm 5 - Tốn tượng trưng cho Gió 6 - Cấn tượng trưng cho Núi 7 - Khảm tượng trưng cho Nước 8 - Khôn tượng trưng cho Đất Đó là tám Quẻ nguyên thủy gọi là “ Tiên thiên Bát quái “ do vua Phục Hy ( 4477 - 4363 ) trước Tây lịch vạch ra để giải thích cái lẽ Âm Dương biến hoá của Thái cực. Về sau vua Hạ Vũ (2205 - 2163 trước Tây lịch) đặt ra Cửu trù ( chín pháp lớn ) phối hợp với Bát quái và tính cái số của Ngũ hành trong việc giải thích lẽ biến hoá của vũ trụ và vạn vật. Tới đời Tây Chu, vua Văn Vương, trong thời gian bị giam ở ngục Dũ Lý ( khoảng thế kỷ 11 trước Tây lịch ) đã dành thì giờ nhàn rỗi diễn lại các quẻ tiên thiên Bát quái của Phục Hy thành tám quẻ, Bát quái mới gọi là hậu thiên Bát quái với các ý nghĩa thiên về nhân sự để dùng vào việc bói toán và suy gẫm việc ngườ . Con Văn Vương là Chu Công Đán về sau có giải thích thêm đôi chút về ý nghĩa và công dụng của kẻ Bát quái, nhưng rất ngắn và mơ hồ, chỉ có các kẻ có thiên tư đặc biệt tâm truyền mới có ánh mắt hiểu được. Tình trạng của Dịch lý từ thượng cổ đến trước khi Khổng Tử ra đời chỉ có như thế mà thôi. Đến đời Đông Chu, Khổng Tử ( 511 - 478 trước Tây lịch ) đem kiến giảu cảu mình bổ xung vào các điều truyền lại của Dịch lý đời Chu, san định lại và viết thành Kinh Dịch trong đó bao gồm cả Âm Dương, Bát quái và Ngũ hành. Căn cứ theo ý nghĩa thông thường, cổ nhân gán cho Âm Dương Ngũ hành, các ý nghĩa tượng trưng sau đây : Dương : Tượng trưng cho mặt trời, lửa, ánh sáng, sinh động, cứng cát, ban ngày, đàn ông …..Âm : Tượng trưng cho mặt trăng, tối tăm, nguội lạnh, bất động, mềm nhão, ban đêm, đàn bà ….Kim : Vàng, bạc, hiểu rộng ra là tất cả các chất kim thuộc Mộc : Cây trong rừng, nói tổng quát ra là mọi thực vật trên mặt đất Thủy : Nước và nói rộng ra là các chất lỏng Hỏa : Lửa, hơi ấm Thổ : Đất đá, nói chung Thổ bao gồm mọi loại khoáng chất trừ kim loại Về phương diện siêu hình. Âm Dương không phải là cái khí vật chất hữu hình hữu thể mà chỉ là biểu thị tượng trưng cho hai trạng thái tương đối, mâu thuẫn như nóng lạnh, sáng với tối, cứng với mềm, sinh với diệt, khoẻ với yếu …. Về phương diện ý nghĩa siêu hình của Ngũ hành, ta cũng đi đến kết quả tương tự Kim, Mộc, Thủy, Hoả, ngoài tìm cách vật chất của nó kể trên có một ý nghĩa tượng trương có tính cách tương sinh tương khắc trong sự biến hoá của muôn vật diễn ra hàng ngày trước mắt. Trong tướng học, người ta rất chú trọng đến Ngũ hành và thường hiểu Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ theo cả hai ý nghĩa : vật chất lẫn siêu hình qua sự tượng hình chuyển ý của văn tự từ nghĩa hẹp đến nghĩa rộng. c ) Ảnh hưởng của thuyết ngũ hành trong nhân sinh quan Trung Hoa Từ quan niệm là một lý thuyết triết học thuộc phần Hình nhi thượng từ đời Tống trở đi, Âm Dương thuộc Ngũ hành được đem áp dụng vào lãnh vực Hình nhi hạ. Đại đa số học giả Trung Hoa và các dân tộc Á Đông chịu ảnh hưởng văn hoá sâu đậm của Trung Hoa đã dùng lý thuyết Ngũ Hành đem giải thích và gán ghép các đặc tính của vật chất được siêu hình hoá của Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ vào các lãnh vực thường dụng của nhân loại, điển hình là các trường hợp sau đây : 1 - Phương hướng, màu sắc, bốn mùa 1a ) Mộc tượng trưng cho Mùa Xuân, màu Xanh, phương Đông Mùa Xuân khí hậu mát mẻ như sương buổi ban mai, biểu hiện khởi đầu của một chu trình biến hoá mới của vạn vận bắt đầu hồi sinh và tăng trưởng. Mặt đất về Mùa Xuân, đâu đâu cũng một màu xanh thắm, Thái dương bắt đầu mọc ở phương đông. Tất cả đều bàng bạc ý nghĩa của Âm Dương tương thôi với Dương lấn lướt Âm một cách tương đối trong cái trung dung của Âm Dương ( Âm Dương tỷ hoà thì vạn vật mới sinh ). Do đó, cổ nhân đã lấy Mộc tượng trưng cho mùa Xuân, màu Xanh, phương Đông. 1b ) Hỏa biểu thị mùa Hạ, màu Đỏ, phương Nam Mùa hè nóng nực bức như lửa thiêu, Dương cương lên đến cùng cực. Hoa lá đặc trưng của mùa này như lụa và phượng vĩ trổ bông màu đỏ, phương Nam gần như ấm áp quanh năm nên Hỏa tượng trưng cho mùa Hạ, màu Đỏ và phương Nam vậy. 1c ) Kim tiêu biểu cho mùa Thu, màu Trắng, phương Tây Mùa Thu là giai đoạn cho Âm Dương tương thôi bình hoà khí trời nóng quá, không lạnh lắm, nhưng Dương cương bắt đầu suy, Âm nhu bắt đầu thịnh. Mặt trời lặn ở phương Tây sau khi đã mọc ở Phương Đông. Trời Mùa Thu thường có mây trắng ngà bao phủ, nên cổ nhân mới nhân đó mà chọn Kim tiêu biểu cho mùa Thu, màu trắng và phương Tây. Nói khác đi, theo Ngũ hành thì mùa Thu, sắc trắng phương Tây thuộc Kim. 1d ) Thủy tiêu biểu cho mùa Đông , màu đen , phương Bắc Hiện tượng độc đáo nhất của mùa Đông là tuyết rơi, giá buốt, cảnh vật ảm đạm, cửa nẻo đóng kín, tối tăm. Tuyết là một trạng thái của nước, phương Bắc thường hay có tuyết nên với tinh thần tượng hình, chuyển ý, cổ nhân Trung Hoa chọn hành Thủy để tượng trưng cho mùa Đông, màu Đen, phương Bắc. 1e ) Thổ tiêu biểu cho Đất , màu Vàng , Trung ươngNgười Tàu phát tích ở lưu vực sông Hoàng Hà, đất đai ở đây màu vàng ( hoàng thổ ) nên dựa vào sự vật để định tên, lấy đất tiêu biểu cho chất Thổ và màu vàng tượng trưng cho sắc Thổ. Bởi người Tàu lấy địa phương của họ làm trung tâm quan sát, tự coi mình là người trung Thổ, danh xưng là Trung quốc nên màu vàng, vàng là màu trung ương, Thổ là Hành chủ bao gồm cả bốn hành còn lại với lý do Địa tải sơn hà vạn vật ( Sông núi, muôn loài vạn vật đều do đất chứa đựng ). 2 - Năm đức tính căn bản của con người Trên bình diện đạo đức, năm đức tính căn bản để phân định kẻ lương tri với kẻ bại hoại là Nhân Nghĩa Lễ Trí và Tín, gọi chung là Ngũ thường. Dựa vào ý nghĩa siêu hình của Ngũ hành và đặc tính bao quát của Ngũ thường người ta đã đi đến chỗ Ngũ hành hoá Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín . 2a ) Nhân ứng với Mộc : Nhân chủ ở chỗ thanh tĩnh, ung dung tự tại, không cạnh tranh bao dung và đãi người đồng đẳng. Thảo mộc, vốn không di động cạnh tranh, loài tùng bách quanh năm xanh tươ , bất chấp gió sương, nóng lạnh, tượng trưng cho thái độ an tĩnh, ung dung tự tại. Cây cỏ còn để người che mưa tránh nắng, không phân biệt một ai. Hoa quả trong chốn sơn lâm ai thưởng thức cũng được. Cái đức tự nhiên lưu hành của thảo mộc tương tự như đức Nhân của bậc thức giả nên Mộc được coi là biểu tượng của đức Nhân ở nhân loại. Do ở ý nghĩa mà Khổng Tử đã nói “ Nhân giả nhạo sơn ( Bậc nhân giả thích núi ) vì trên núi có thảo mộc tượng trưng cho đức Nhân của tạo vật. 2b ) Nghĩa ứng với Kim : Luôn luôn thích ứng với phép tắc thiên nhiên hoặc công lý, hằng cửu, không biến chất, cứng cỏi không sờn. Đó là những ý nghĩa bao quát của Nghĩa. Loài Kim thuộc như vàng luôn luôn giữ mãi vẻ sáng cứng rắn, khuyết biết tiết, dù ở nơi này hay nơi khác, lúc nào cũng vậy, phảng phất ý nghĩa của đức Nghĩa nên cổ nhân lấy Kim tượng trưng cho Nghĩa. 2c ) Lễ ứng với Hỏa : Lễ gồm chung tất cả những gì soi sáng khuôn phép, tạo nên tôn trọng duy trì diềng mối, phát huy chân lý tự nhiên lưu hành, Tế tự là một hình thức cụ thể của Lễ, biểu dương sự tôn kính. Một trong những cái ứng dụng của Hỏa là soi sáng tại nơi, làm hiển lộng cái tôn kính quỷ thần của con người nên cái dụng ( về phương diện ý nghĩa triết học ) của Hoả và Lễ tương đồng, nên Lễ ứng với Hoả. 2d ) Trí ứng với Thủy : Kẻ trí không điều gì là không thấu triệt, nước không đâu là không thông qua. Cái đức của Trí và Nước có sự tương đồng đại lược nên người xưa đã nói một cách đầy biểu tượng “ Trí giả nhao Thủy “ ( Bậc trí giả thích nước ). Do đó, Thủy tượng trưng cho Trí. 2e) Tín ứng với Thổ : Bản chất của Thổ là không bao giờ sai chạy. Thảo mộc dựa vào đất mà sống và đất cứ theo từng mùa nhất định mà thúc đẩy sự sinh diệt của cây cối theo đúng chu trình chuyển hoá tự nhiên của tạo vật, không bao giờ sai chạy. Do đó, so với Tín thì bản chất của Tín và Thổ về ý nghĩa tổng quát có những nét tướng đồng. 3 - Năm cung bậc trong âm nhạc a ) Cung ( âm thấp nhất ) ứng với Thổ b ) Thương ứng với Kim c ) Giốc ứng với Mộcd ) Chủy ứng với Hỏae ) Vũ ứng với Thủy
1) Nhân tướng học & tiên liệu vận mạng 2) Ứng dụng Nhân tướng học vào việc xử thế 3) Tướng Phát Đạt 4) Tướng Phá Bại 5) Thọ, Yểu qua tướng người 6) Đoán tướng tiểu nhi 7) Phu Luân về tướng Phụ nữ 8) 36 tướng hình khắc 9) Những tướng cách phụ nữ 10) Nguyên lý Âm Dương Ngũ hành 11) Ứng dụng của Âm Dương trong Tướng Học 12) Tương quan giữa Sắc và con người 13) Ý niệm Sắc trong tướng học Á Đông 14) Bàn tay và tính tình 15) Quan điểm của Phật giáo về vấn đề xem Tử Vi - Bói Toán
(Trích Lược Tử Vi : Tuổi Mùi, năm nay số mệnh ra sao? 12 Con Giáp và những đặc tính)
Cũng giống những người tuổi Mùi mệnh khác, người tuổi Mùi mệnh Hỏa thông minh, giỏi giao tiếp và có sức hấp dẫn đối với người khác giới. Mang khí chất của Hỏa, họ khá nóng tính. Đôi khi, chỉ cần cảm thấy bị ức chế là sẽ nổi nóng, thậm chí sẵn sàng "đọ sức" với người khác mà không hề tính toán đến hậu quả.
Dù biết tiếp thu ý kiến của người khác nhưng họ không thích bị chi phối, bó buộc trong cuộc sống cũng như trong công việc. Khi gặp chuyện không vui, họ cũng ít khi tìm sự cảm thông hay chia sẻ ở người khác mặc dù họ có khá nhiều bạn bè thân thiết.
Người tuổi Mùi mệnh Hỏa có tính cách mạnh mẽ, quyết đoán. Tuy nhiên, không giống người mệnh Hỏa cầm tinh con giáp khác, người tuổi Mùi mệnh Hỏa có đời sống nội tâm rất sâu sắc. Họ cũng là người trọng nghĩa khí và sống ân tình. Họ có trách nhiệm với gia đình, có ý chí phấn đấu cho sự nghiệp.
Nữ giới tuổi Mùi mệnh Hỏa thường có cuộc sống khá sung túc, an nhàn và đặc biệt họ giúp đỡ chồng con rất nhiều trong sự nghiệp và cuộc sống.