Các ngày kỵ nhập trạch, cưới hỏi –
Tân Mão- Mậu Thìn
- Kỷ Tị
- Mậu Tý
- Mậu Dần
- Mậu Tuất
- Nhâm Tuất
- Mậu Ngọ
- Nhâm Ngọ
- Kỷ Dậu
- Kỷ Sửu
- Tân Sửu
- Quý Tị
- Kỷ Hợi
- Tân Ti
- Mậu Thân.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Đoan Trang(##)
Tân Mão
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Khi xây tường rào cần chú ý tường rào không được quá cao hoặc quá thấp so với ngôi nhà, điều này không tốt cho phong thủy.
Tường không nên quá cao so với nhà: trong kiến trúc học tường quá cao cũng là một điềm không tốt. Điều này được giải thích bởi hai lý do sau: Thứ nhất là trộm cắp dễ lọt vào nhà: nhiều người cho rằng làm hàng rào bao quanh cao mới khiến trộm khó vào nhà. Nhưng thực tế hoàn toàn không phải vậy vì trộm cắp vốn lén lút không gây tiếng động. Tường cao lại chắn hết tầm nhìn từ ngoài vào nhà và ngược lại, khiến cho hành vi của bọn trộm càng khó phát hiện. Thứ hai là về mặt mỹ quan: hàng rào cao quá không chỉ phá vỡ khung cảnh đẹp mà còn khiến con người cảm thấy đơn điệu. Nhưng cũng không nên quá thấp: sẽ không phát huy được chức năng chính là tránh tiếng ồn và ô nhiễm, đặc biệt là trong cuộc sống hiện đại. Ngoài ra theo lý thuyết phong thủy thì hàng rào bao quanh cao hơn nhà là điềm không may, sẽ mang đến sự nghèo khó cho gia chủ.Tốt nhất không nên xây hàng rào thấp quá 1,5m và cao hơn độ cao này quá nhiều.Ngoài ra bạn cũng có thể sử dụng hàng rào thép thay vì hàng rào bê tông sẽ khiến ngôi nhà trở nên thoáng đãng hơn.
Ngoài ra, tường rào cũng không nên xây quá gần nhà vì sẽ tạo cảm giác bức bối, vướng víu chân tay, hạn chế khả năng hứng ánh sáng và thông gió. Trong những trường hợp bất khả kháng mà phải xây hàng rào quá gần nhà thì bạn có thể cái thiện nhược điểm của nó bằng cách: Giữ một khoảng cách khoảng 20 cm giữa nhà và tường bao. Như thế vừa có thể cải thiện việc thông gió, hứng anh sáng, vừa có thể trồng những cây xanh để tạo một khoảng xanh cho ngôi nhà. Bảo Ngọc (Sưu tầm)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Xông đất mang an lành
Ngay sau thời khắc Giao thừa, bất cứ người nào bước từ ngoài vào nhà với lời chúc năm mới được coi là đã xông đất cho gia chủ.
Gia chủ sẽ căn cứ vào sự thành đạt, tài cán, đức độ, sức khỏe... của người xông đất để đoán vận hạn cho mình. Tục xông đất thể hiện khát vọng về sự thịnh vượng, an khang và người xông đất như một dấu hiệu để người ta giải đoán trước hậu vận của năm đó.
![]() |
| Quan niệm người xông đất đầu năm sẽ mang lại may mắn cho gia chủ trong suốt một năm vẫn được giữ gìn. |
Với người Việt, tục xông đất ở các vùng gần như giống nhau. Khách đến xông đất phải đến vào sáng sớm ngày mùng 1 mang theo quà biếu như hoa quả, bánh mứt và tiền lì xì cho người già, trẻ con trong nhà.
Người đến xông đất thường chỉ đến thăm, chúc Tết khoảng 5-10 phút chứ không ai ở lâu, như vậy thì mọi việc trong năm của chủ nhà cũng được trôi chảy, thông suốt. Cứ đến dịp cuối năm, hầu như ai cũng có ý tìm chọn trong họ hàng hay láng giềng những người tốt tính và làm ăn phát tài, có cuộc sống suôn sẻ để “xông đất” nhà mình. Tục xông đất đầu năm có ý nghĩa biểu trưng sâu sắc, thể hiện mong muốn hướng tới những điều tốt lành của người dân Việt.
Có một số gia đình lại chọn cách xông đất sau giờ Giao thừa, thường để người thân trong gia đình tự xông lấy. Người ta chọn một người dễ vía ra khỏi nhà trước thời khắc đón Giao thừa rồi đi lễ tại đình chùa, sau đó xin hương hái lộc. Lúc trở về nhà đã bước sang năm mới, người này tự “xông nhà”, mang sự tốt lành quanh năm về cho gia đình theo quan niệm của ông bà xưa. Với kiểu xông nhà, xông đất như vậy tránh được việc phải nhờ người khác.
Ngày nay, đối với những người làm kinh doanh, việc chọn “ngày lành tháng tốt” để bắt đầu công việc, chọn người hợp tuổi để khai trương, xông đất đầu năm không còn là chuyện quá hiếm. Giới doanh nhân tâm niệm ngày đầu “xuất quân” suôn sẻ sẽ đem lại một năm làm ăn may mắn.
Chọn tuổi xông đất
Bất cứ ai cũng muốn được người tử tế, tốt tính đến xông đất nhà mình. Vì thế, người ta thường để ý tìm người hợp tuổi với mình để dặn trước nhờ xông đất.
Thông thường nên chọn người xông nhà hợp với tuổi chủ nhà, có thể là tam hợp hoặc nhị hợp.
Chẳng hạn như: Chủ nhà tuổi Tý thì nên chọn người tuổi Thân, Thìn, Sửu để xông nhà. Chủ nhà tuổi Sửu nên chọn người tuổi Tỵ, Dậu, Tý. Chủ nhà tuổi Dần nên chọn người tuổi Ngọ, Tuất, Hợi. Chủ nhà tuổi Mão nên chọn người tuổi Mùi, Hợi, Tuất. Chủ nhà tuổi Thìn nên chọn người tuổi Tý, Thân, Dậu. Chủ nhà tuổi Tỵ nên chọn người tuổi Sửu, Dậu, Thân. Chủ nhà tuổi Ngọ nên chọn người tuổi Dần, Tuất, Mùi. Chủ nhà tuổi Mùi - nên chọn người tuổi Mão, Hợi, Ngọ. Chủ nhà tuổi Thân nên chọn người tuổi Tý, Thìn, Tỵ. Chủ nhà tuổi Dậu nên chọn người tuổi Sửu, Tỵ, Thìn. Chủ nhà tuổi Tuất nên chọn người tuổi Dần, Ngọ, Mão. Chủ nhà tuổi Hợi nên chọn người tuổi Mão, Mùi, Dần để xông nhà.
Mặc dù đã chọn tuổi nhưng người được nhờ xông đất, xông nhà người khác cũng e ngại. Vì cái vía của mình có may mắn, có đem lại tốt lành cho gia chủ hay không, việc đó phải chờ đến hết cả năm mới biết được. Thế nên việc nhờ người xông đất cũng không phải chuyện dễ dàng.
Thế mới hay, xông đất vẫn là một nét đẹp văn hóa cần được gìn giữ. Trong mùi hương trầm thoang thoảng ấm cúng, người đến xông đất cùng gia chủ rót tách trà ngon, mời nhau chiếc bánh ngọt hay uống một ly rượu vang, rồi cùng cầu chúc những điều tốt đẹp cho nhau trong năm mới… Thật là một khung cảnh ấm cúng trong những ngày đầu năm mới này!
(Theo Laodong.com.vn)
Trang trí giáng sinh hợp phong thủy sẽ giúp giảm thiểu mức độ căng thẳng và thúc đẩy một luồng cân bằng năng lượng trong nhà của bạn.
Giáng sinh là truyền thống của phương Tây nhưng không vì thế mà lại thoát ra khỏi sự ảnh hưởng của phong thủy phương đông. Trang trí giáng sinh hợp phong thủy sẽ giúp giảm thiểu mức độ căng thẳng và thúc đẩy một luồng cân bằng năng lượng trong nhà của bạn.

Mỗi năm đến Giáng sinh, việc trang trí nội thất cho ngôi nhà lại là vấn đề rất được quan tâm của mỗi gia đình. Không chỉ đơn thuần là hợp không khí mà thực sự đó là một cách đổi mới và thể hiện sự sáng tạo của tất cả các thành viên gia đình. Nhưng liệu những sự trang trí của bạn có hợp phong thủy không? Nếu bạn nghĩ rằng phong thủy là không cần thiết thì có thể bạn sẽ nên cân nhắc một chút. Vì trang trí giáng sinh hợp phong thủy sẽ giúp gia đình xua tan căng thẳng và thúc đẩy một luồng cân bằng năng lượng trong nhà của bạn. Vậy tại sao không vừa trang trí nhà đẹp lại vừa có lợi cho cuộc sống của cả nhà? Hãy chú ý một số tư vấn phong thủy sau:

Các yếu tố phong thủy mạnh mẽ trong mùa giáng sinh cũng cần được chú ý và cân bằng với những gam màu mát và trung tính. Màu sắc dùng để trang trí nội thất phòng khách cho đêm Noel cần phải được phối cách hài hòa tương sinh, tương hợp với môi trường xung quanh, với tâm lý tình cảm sở thích và trạch mệnh của chủ nhân. Bởi màu sắc cũng có ảnh hưởng rất lớn đối với sức khỏe và tâm lý con người. Những gam màu sáng luôn là sự chọn tốt nhất với khả năng cân bằng tốt và phù hợp với đa phần tâm lý tình cảm.

Ngoài tính năng giúp thanh lọc tất cả các trung tâm năng lượng trong ngôi nhà, việc trang trí các yếu tố lửa như nến hay lò sưởi xung quanh nhà cũng sẽ giúp năng lượng cá nhân của bạn càng được tăng cường. Tuy nhiên, bạn cũng cần lưu ý, nên sắp xếp một nhóm những cây nến nhiều màu sắc và sử dụng chúng vào buổi tối. Tránh đốt nhiều nến ở khu vực phía Đông, vì đây là khu vực có ảnh hưởng đến sức khỏe và hạnh phúc của bạn.

Và thông thường thì cây thông noel là vật trang trí không thể thiếu trong đêm giáng sinh này. Tuy nhiên, việc đặt cây thông cũng không kém phần quan trọng trong việc trang trí khi xét về mặt phong thủy. Nếu bạn có nhiều lựa chọn, hãy xem xét việc đặt cây thông noel tại một trong các khu vực phong thủy: Nam, Đông, Đông Nam hoặc trung tâm của căn phòng. Các vị trí này sẽ mang lại sự cân bằng cho năm yếu tố Phong thủy.
Bốn tiêu chí tốt xấu về hướng trong phong thủy nhà ở:
Trong phong thủy học có câu sau “nhất vị, nhị hướng“, có nghĩa là vị trí và cách xếp đặt quan trọng hàng đầu, nếu bạn không may mắn gặp hướng không tốt thì có thể xoay trở vị trí khác để khắc phục. Mặt khác, hướng của ngôi nhà phải được hiểu 1 cách toàn diện và duy vật, chứ không phải chỉ chọn hướng hợp theo tuổi như nhiều người vẫn đang lầm tưởng.
Trong môi trường thiên nhiên, các hướng vốn không bao giờ thay đổi. Sở dĩ có sự lẫn lộn về hướng tốt xấu là vì hiện tại có rất nhiều quan niệm khác nhau và thiếu giải thích rõ ràng. Trong thuyết phong thủy, 4 phương 8 hướng mà bạn biết đến đều có những đặc điểm riêng tùy thuộc cách xem xét. Có 4 tiêu chí sau để đánh giá tốt xấu về hướng khi làm nhà:

Ảnh minh họa


Dùng hình khối lồi thụt, mái che, cây xanh, mở cửa hạn chế là các phương pháp rất hiệu quả hạn chế hướng khí hậu xấu

Như vậy, khi xem xét một căn nhà có hướng tốt hay không, chúng ta phải xem xét trên cơ sở phân tích và tổng hợp cả 4 loại hướng, chứ không chỉ đơn giản là “nghe thầy bói nói gia chủ hợp hướng đông bắc“ thì cố gắng lục tìm cho bằng được nhà hay mảnh đất hướng đông bắc mà xem nhẹ những yếu tố về khí hậu – giao tiếp – phương vị. Cần phải xem xét đầu tiên xem 4 loại hướng trên tốt xấu bao nhiêu phần, có thể khắc phục ít hay nhiều, có ảnh hưởng gì đến con người, môi trường, kết cấu xây dựng của căn nhà hay không.

Căn nhà xoay hướng cửa ra vào sang bên hông nhằm tránh hướng xấu. Cửa gara vẫn được giữ hướng cũ



Người Trung Quốc thường lấy hoa đào để ví với sắc đẹp kiều diễm của mỹ nhân và chữ “đào” thường dùng trong tên của những người con gái, ví dụ như: Đào hoa trang, Đào hoa vận, Đào sắc tân văn… Văn hoá này cũng được truyền sang Nhật Bản, Phong lữ dương của Nhật Bản (bồn tắm) cũng được ghi chữ “đào chi đang”, “tùng chi đang” (bồn tắm nữ, hồn tắm nam). Nhưng người ta ai cũng thích đào.
Người xưa tin đào có linh khí, đào vào tháng 3 mà không nở hoa, ắt dự báo có hỏa hoạn. Thắng 3 cũng được gọi là “đào nguyệt”. Trong thần thoại Trung Quốc có nói cây đào biến thành cây trượng cầm tay của Hoá Phu. Trong “Sơn Hải kinh” có ghi lại: “Khoa Phụ và cuộc rượt đuổi mặt trời, khi tiếp cận được mặt trời, ông khát muốn được uống nước, uống nước ở sông vị, Vị Hà không đủ. bèn chạy đến biển Bắc Hải nhưng trên đường đi thì chết vì khát, bỏ lại cây trượng, hoá thành Đặng Lâm. (Đặng Lâm tức là rừng đào)”.
Trong Thái hình ngự lâm có dẫn “điển thuật” viết: “Đào giả. ngũ mộc chi tinh dã, cố khuyển phục tà khí giả giã. Đào chi tinh sinh tại quỳ môn, chế bách quỷ, cố kim tác đào nhân canh tru môn, dĩ khuyển tà khi (Đào là tinh khí của Ngũ mộc, nên có thể trừ tà khí vậy). Đào ché bách quỷ, quỷ vị đào mộc. Người xưa thường dùng gỗ đào làm thành những vật phẩm để trừ tà như: Đào ấn, Đào phù, Đào kiếm, Đào nhân…
Từ thời Ngũ đại hậu Thục (Trung Quốc) bắt đầu viết những câu đối trên gỗ đào. Giờ đây, mỗi khi xuân đến, người ta vẫn lưu truyền cách thức dân gian này, chỉ có thay bằng vật liệu là giấy đỏ. Tết Đoan Ngọ, người ta cắm cành đào ngoài cửa cũng xuất phát từ quan niệm xưa cho rằng đào có thể tránh tà khí. Cây đào hoa đẹp, quả tươi, trong tâm lí dân gian đó là để dẫn cát tránh tà, lại giảm bệnh tật mà để trống, chính vì vậy trong cốc vườn cây, hoa viên thường trong loại cây này.
| ► Trắc nghiệm tính cách của bạn với những sự tương đồng thú vị tại Lichngaytot.com |
Thời gian: tổ chức vào ngày 24 tháng 9 âm lịch.
Địa điểm: Buôn Đôn hoặc cánh rừng thưa ven sông Sêrêpốk (Đắk Lắk).
Nội dung: Lễ hội đua voi được tổ chức tại một khu đất trống, khá bằng phẳng, ít cây của vườn Quốc gia Yok Đôn hoặc một cánh rừng thưa ven sông Sê-rê-pốk. Voi dàn hàng ngang khoảng 10 con hoặc nhiều hơn. Trong sự reo hò, cổ vũ của khán giả, đàn voi đua như hăng hái hơn. Chúng đưa vòi lên cao rồi hạ xuống chào mọi người. Sau một hồi tù và vang lên báo lệnh xuất phát, đàn voi bật dậy chạy thẳng về phía trước. Đường đua thường khoảng 400-500 mét, đua đường dài khoảng 1-2km. Hai anh nài voi, tiếng địa phương gọi là mơ-gát, ngồi trước và sau điều khiển voi chạy đúng đường và giữ sức bền, tăng tốc... Khán giả phần đông là người bản địa ăn mặc thổ cẩm sặc sỡ hoa văn đứng hai bên đường hò hét tạo nên một không khí náo nhiệt. Theo người dân địa phương, trước khi vào cuộc đua, voi được đưa đến những đồng cỏ xanh tốt và tẩm bổ thêm bằng các loại củ. Trong thời gian này, voi không làm nặng để dưỡng sức. Vì vậy, khi vào đấu trường, con voi nào cũng rất khỏe mạnh, sung sức. Người M’nông và một số dân tộc ở Tây Nguyên rất quý voi như người Khmer ở Nam bộ quý con bò. Theo truyền thống, con voi thể hiện sức mạnh của bộ tộc, sự sung túc của gia đình. Chỉ có những gia đình giàu có mới có voi được thuần dưỡng từ voi rừng. Hiện nay, chỉ có Tây Nguyên mới còn voi, nhưng số lượng cá thể đang bị giảm sút đáng kể. Giới trẻ ở đây trở nên xa lạ với phương thức thuần voi của cha ông ngày xưa mà chủ yếu là chăm sóc và điều khiển voi. Những người thuần voi vì thế càng trở nên hiếm hoi theo thời gian. Hiện nay, công việc này chủ yếu là người lớn tuổi, có vài chục năm kinh nghiệm. Huyền thoại về thuần dưỡng voi rừng là N’Thu K’Nul, ông sinh năm 1828, mất khi đã thọ được 110 tuổi, ông có danh hiệu là “Vua săn voi” (khun-ju-nốp) do Hoàng gia Thái Lan ban tặng. Ông được xem là người khai sinh nghề săn bắt và thuần dưỡng voi ở Buôn Đôn, một người tù trưởng đầy quyền lực và được nhiều dân tộc kính phục lúc bấy giờ. Theo người dân địa phương, trong đời ông đã thuần dưỡng khoảng 170 con voi rừng, có người lại nói ông thuần dưỡng đến hàng trăm con; trong đó, có một con bạch tượng-loài vật hiếm có. Hiện nay, khu mộ của ông được giữ gìn kỹ lưỡng. Mộ được kết hợp giữa kiến trúc của người M’Nông và người Lào-hai dân tộc chính ở địa phương vào thời điểm đó. Đó như một biểu tượng của truyền thống sức mạnh đoàn kết các dân tộc anh em. Phần mộ là những chi tiết hình khối đơn giản, trang trí búp sen ở bốn góc và đỉnh. Cạnh mộ Vua săn voi là ngôi mộ hình tháp, có mái nhọn cách điệu nhà rông. Ngôi mộ này do vua Bảo Đại xây dựng cho hậu duệ của N’Thu K’Nul là R’Leo K’Nul, gọi ông bằng cậu. Người ta hay nhầm tưởng ngôi mộ hình tháp là của N’Thu K’Nul. Khu lăng mộ này được nhiều du khách đến chiêm ngưỡng để hiểu rõ hơn về những con người xuất chúng. Về sau, có một số hậu duệ khác của N’Thu K’Nul nối nghiệp, nhưng số lượng voi thuần dưỡng ít hơn và tay nghề kém hơn. Quần thể du lịch Buôn Đôn là một không gian đặc trưng, là cái hồn của Tây Nguyên với những cánh rừng già, những con sông cuồn cuộn chảy và những hồ nước lưng chừng trời, lưu giữ nhiều chứng tích lịch sử hình thành vùng đất này. Buôn Đôn thuộc xã Krông Na, huyện Buôn Đôn, cách TP Buôn Mê Thuột khoảng 42km. Đến đây, du khách có dịp thưởng thức cồng chiêng, cưỡi voi.Cá trên sông Sê-rê-pốk và hồ Lắk là những đặc sản quý của vùng này. Ai đến đây cũng phải tìm cho bằng được các loại cá bản địa để thưởng thức vì vị ngon và lạ bởi vị trí hiểm trở của nơi chúng sinh trưởng đã tạo sự khác biệt giữa cá sông, hồ Tây Nguyên với cá sông, hồ ở đồng bằng...
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Nhiều người thích đem theo biểu tượng hồ lô khi vào bệnh viện thăm người ốm hoặc dự tang lễ để tránh mang âm khí về nhà.
Hồ lô (quả bầu khô) là một trong những biểu tượng được sử dụng rộng rãi nhất trong phong thủy, giúp bảo vệ con người khỏi bệnh tật nặng nề và cái chết không tự nhiên. Nhờ cấu tạo đặc biệt “miệng nhỏ, bụng to, bên trong rỗng”, quả bầu khô được người xưa dùng làm bình giữ thuốc hoặc đựng nước và rượu, phục vụ những chuyến đi xa. Nhờ khả năng cứu sống con người, Hồ lô được coi là biểu tượng linh thiêng của sức khỏe và sự trường thọ.

Hình dáng đặc biệt của Hồ lô tượng trưng sự hợp nhất của Trời và Đất: nửa trên là Trời, nửa dưới là Đất. Khi được con người sử dụng, Hồ lô sẽ phát huy thế mạnh của tam tài Thiên – Địa – Nhân.
Một số đạo sĩ dùng Hồ lô để bắt giữ những linh hồn xấu. Vì vậy, người ta cho rằng quả bầu khô có thể hấp thu tà khí. Thời xưa, người già thường mang theo mình trái hồ lô như bùa hộ mệnh, giúp sống lâu và xua đuổi quỷ dữ.
Một số thần linh như ông Thọ hay Lý Thiết Quải đều mang theo người biểu tượng Hồ lô, tượng trưng cho khả năng chữa bệnh nan y cứu người của họ.
Ông Thọ, thuộc Tam Đa (Phúc Lộc Thọ), là vị thần bất tử râu tóc bạc phơ, thường mang theo mình Trái đào tiên, nấm bất tử Linh chi và Hồ lô chứa Nước trường sinh.
Lý Thiết Quải, một trong 8 vị thần bất tử (Bát Tiên) của Đạo Giáo, thường được minh họa như một ông già xấu xí, râu ria xồm xoàm, đi lại nhờ một chiếc thiết trượng (nạng sắt) và đeo trên vai hay cầm trong tay một quả bầu. Là người hay nóng giận, gắt gỏng nhưng nhân từ với người nghèo khổ ốm đau, ông dùng thuốc đặc biệt từ quả bầu của mình để chữa bệnh cho họ.

Cũng giống như gương bát quái và chuông gió, Hồ lô được coi là một trong những vật phẩm phong thủy quyền năng nhất, giúp hóa giải vận xấu và tăng cường vận may.
Hồ lô có thể sử dụng ở dạng tự nhiên hoặc đúc bằng kim loại, pha lê. Để kích hoạt, người ta thường buộc một sợi dây đỏ quanh phần eo của nó. Một số quả hồ lô tự nhiên được sơn phủ một lớp màu vàng hoặc gắn thêm những đồng xu đặc biệt để thu hút tài vận. Một số Đạo sĩ viết thêm các câu thần chú hay vẽ thêm hình bát quái lên Hồ lô để tăng thêm quyền năng của nó.
Nơi đặt Hồ lô
– Đặt hồ lô ở bất cứ khu vực nào của ngôi nhà (số lượng bao nhiêu tùy thích) để thu hút sức khỏe và tài vận, đồng thời hóa giải năng lượng xấu.
– Bày hoặc treo hai trái hồ lô (tự nhiên hoặc bằng kim loại) ở hai bên đầu giường để giảm bệnh cũng như nạp thêm năng lượng mới cho người ốm, giúp họ chóng bình phục.
– Bày hoặc treo Hồ lô trong phòng ngủ (hoặc bên cạnh giường) để tránh rắc rối về sức khỏe. Người ta tin rằng treo hồ lô ở đầu giường giúp những đứa trẻ hay quấy khóc trở nên ngoan ngoãn hơn.
– Bày Hồ lô ở nhà bếp để kích hoạt vận may sức khỏe cho cả gia đình, điều này giúp tăng sự lành mạnh của thực phẩm chế biến tại khu vực này.
– Bày Hồ lô ở cung Đông của phòng khách hay phòng ăn để có sức khỏe tốt cho cả gia đình.
– Hồ lô có thể là món quà ý nghĩa cho người già, như lời cầu chúc sức khỏe và trường thọ.
– Bày Hồ lô tại bàn hoặc nơi làm việc để hóa giải khí xấu.
– Treo Hồ lô trong ôtô để phòng ngừa tai nạn và hấp thu khí xấu.
– Dùng Hồ lô để hóa giải năng lượng bệnh tật của Nhị Hắc (sao số 2). Trong năm 2012, Nhị Hắc nằm ở cung Bắc ngôi nhà của bạn. Đối với những ngôi nhà có phòng ngủ nằm ở cung Bắc hoặc cửa chính ở cung này, việc bài trí Hồ lô là điều rất quan trọng.
– Nếu thấy vận xấu tới liên tiếp, hãy bày Hồ lô ở nơi bạn dành nhiều thời gian nhất. Vật phẩm này giúp hấp thu khí xấu và biến nó thành vận tốt cho bạn.
– Nhiều người thích mang theo biểu tượng hồ lô khi vào bệnh viện thăm người ốm hoặc dự tang lễ để tránh mang âm khí về nhà.
![]() |
Rằm tháng 2 âm lịch - ngày Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nhập cõi Niết Bàn bàn về phản tỉnh![]() |
Chòm sao nào không kiềm chế được cảm xúc khi tức giận? Đứng đầu bảng là Bạch Dương nhé. Cậu ấy siêu nóng tính vì thế không thể kiềm chế được cảm xúc mỗi khi tức giận đâu. Vậy những chòm sao khác trong 12 cung hoàng đạo thì sao? Để tìm hiểu vấn đề này các bạn hãy cùng đọc bài viết sau để biết thêm về vấn đề này nhé!
Nội dung




Theo văn hóa truyền thống, phong thủy tốt mang lại may mắn, trong khi phong thủy xấu mang lại tai ương. Bạn có muốn biết làm thế nào mang lại may mắn cho chính mình theo con giáp đại diện. Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn hé lộ phần nào.
Tuổi Chuột - thêm thủy ở hướng Bắc
Yếu tố nước giúp những người sinh ra trong năm Chuột phát tài. Họ nên đặt một bể cá vàng ở phía Bắc của văn phòng, và sau đó may mắn sẽ tìm đến họ.
Tuổi Trâu - thêm hỏa
Theo ngũ hành, người tuổi Trâu có thể tìm cách gia tăng tài sản với sự trợ giúp của yếu tố lửa mạnh mẽ. Vì vậy, họ nên đặt một số bình gốm trong văn phòng hoặc phòng ngủ của mình để mang lại may mắn, vì đồ gốm được nung nóng bởi lửa.
Tuổi Hổ - thêm thổ
Nguyên tố đất (thổ) bổ trợ cho người tuổi Hổ. Trong nhà gia chủ tuổi hổ cần có những vật phẩm đại diện cho đất, ví dụ như chậu cây, để cuộc sống viên mãn hơn. Chậu cây càng tươi tốt thì gia chủ càng thu nhập dồi dào.
Tuổi Mèo - thêm thổ ở hướng Đông Bắc
Khác một chút với người tuổi Hổ, người sinh năm mèo chỉ khi bày bảo bối phong thủy tại hướng Đông Bắc mới mang lại may mắn về tiền tài. Họ nên bày một miếng ngọc bích tại góc này của phòng ngủ. Theo các chuyên gia, ngọc bích bị chôn vùi trong lòng đất hàng ngàn năm, là tinh hoa của trời đất, do đó sẽ mang lại may mắn cho người tuổi mèo.
Tuổi Rồng - thêm thủy ở Tây Bắc
Hướng Tây Bắc lý tưởng cho những người sinh ra trong năm con Rồng. Họ nên đặt một chậu nước ở góc này trong phòng ngủ. Nếu thích trang trí thêm thì có thể thêm một vài bông sen giả cho sáng góc nhà.
Tuổi Rắn - thêm kim ở hướng Tây
Trong ngũ hành, người tuổi Rắn hợp nguyên tố Kim và hướng Tây. Đeo trang sức kim loại, đặc biệt là vàng hoặc bạc, sẽ mang lại may mắn. Người ta tin rằng đeo đồ trang sức vàng và bạc sẽ đảm bảo những người tuổi Rắn sẽ không cần phải lo lắng về thực phẩm và quần áo, thậm chí họ có khả năng sở hữu khối tài sản khổng lồ.
Tuổi Ngựa -thêm kim ở hướng Tây Bắc
Người tuổi Ngựa nên đặt một con cóc bằng đồng (hay một đồ vật tượng trưng cho nguyên tố kim loại) ở phía Tây Bắc của phòng ngủ. Nó sẽ mang lại cho họ may mắn cả trong sự nghiệp và tài sản.
Tuổi Dê - thêm mộc ở hướng Bắc
Người tuổi Dê nên quan tâm đến hướng Bắc nếu muốn mở rộng sự nghiệp, tiền bạc. Đặt một hộp gỗ gụ tại góc phía Bắc của văn phòng của họ, và sau đó đặt một vật phẩm liên quan đến công việc của họ trong hộp. Ví dụ, một đầu bếp có thể đặt một con dao trong hộp.
Tuổi Khỉ - thêm mộc ở hướng Tây
Những người sinh ra vào năm khỉ hợp hướng Tây. Họ nên đặt một chậu cây (tốt hơn nếu cây cao hơn người) ở phía Tây ngôi nhà.
Tuổi Gà - thêm mộc
Nếu muốn hút nhiều tài lộc, gia chủ tuổi gà nên trồng cỏ trong chậu gốm (tuyệt đối không phải chậu bằng kim loại). Cỏ sẽ sinh sôi nảy nở vô vạn trong chậu, tương ứng với vận may tiền tài của người tuổi gà.
Tuổi Chó - thêm mộc
Những người sinh ra trong năm Tuất nên tránh các yếu tố nước và đất trong cuộc sống. Họ nên đặt một số nhánh cây khô trong văn phòng, tuy nhiên không nên cắm chúng vào nước hoặc đất.
Tuổi Lợn - thêm Hỏa
Những người sinh ra trong một năm Lợn cần thêm nguyên tố hỏa trong cuộc sống để mang lại may mắn. Họ nên bày một loạt các bình gốm sứ trong phòng khách của mình.
![]() |
| ► ## gửi đến bạn đọc công cụ xem thước lỗ ban online, xem hướng nhà theo tuổi chuẩn xác |
Trong Phật Giáo , Vị Đại Bồ Tát Quán Âm ( Có lúc mang hình tướng nữ ) được coi là vị Bồ Tát bảo hộ , nâng đỡ cho các bà mẹ trong việc sinh nở . Trong Phật Giáo có một câu Thần Chú của Đức Bồ Tát Quán Thế Âm khuyên các bà mẹ trì đọc hàng ngày để bảo vệ cho mẹ cùng con an toàn khỏe mạnh : “ UM CA SÁ CA SÁ , VI CA SÁ , MA HA CA SÁ XOÁ HA” .
Trong Đạo giáo Trung Hoa người ta cũng tìm thấy vô số các Linh Phù ( Bùa) từ cổ xưa hỗ trợ cho việc sinh nở , nuôi trẻ .
Trong Dân Gian người ta thường nói “Mẹ Tròn Con Vuông” để chỉ việc sinh nở an toàn , nhanh chóng . Hình tròn ở đây tượng trưng cho khái niệm Thiên ( Trời ) , hình vuông tượng trưng cho Địa ( Đất ) là hai khái niệm hoàn hảo trong triết học cổ Đông Phương . Cũng trong kho tàng Dân Tục Học ( Các tục lệ dân gian ) người ta thấy có vô số các mẹo ( Thủ thuật mang nặng cảm tính hình tượng ) rất thú vị . Như khi thấy vợ khó đẻ thì người chồng chạy xuống bếp lấy một chiếc nồi đất để giữa sân rồi đập vỡ - ý mong cho vợ nhanh chóng sinh con .
Trong nền nếp Nho Gia thì có một khái niệm rất hay là “Thai Giáo” , giáo dục con từ khi trong bụng mẹ . Theo đó người mẹ trong lúc mang thai con phải dè chừng , để ý từng cử chỉ , lời ăn tiếng nói để cho đứa con trong bụng mẹ có được những phong thái cử chỉ tốt sau này . Thật ra truyền thống này bắt nguồn từ tích Mạnh Mẫu ( Mẹ của Đức Mạnh Tử - Một trong hai vị Thánh của Nho Giáo ) . Truyện kể rằng khi bà mang thai ngài Mạnh Tử , chiếu trải không ngay ngắn bà không ngồi , miếng thịt cắt không vuông vắn bà không ăn …v…v… Vì thế sau này bà sinh ra Đức Mạnh Tử nổi tiếng chính trực , lễ nghĩa .
Thuật Phong Thủy cũng có rất nhiều tiêu chuẩn để trợ giúp cho việc mang thai và sinh con . Các thủ thuật “Áp Tuyệt Thôi Đinh – Trừ Bỏ Không Con Thúc Đẩy Sinh Sản ” trong Phong Thủy Lý Khí thực chất là tìm ra môi trường có trường khí tốt nhất để cải thiện sức khỏe của cả hai vợ chồng , từ đó làm cho việc mang thai có tỷ lệ cao hơn . Phong Thủy cũng khuyên người ta nên tránh một số điều như sau :
1. Phía Bắc của nhà kỵ để gập nước , vì phía Bắc vốn là hành thủy , trường khí ở đây là ứng hợp với Thận Khí của con người , nếu đề quá nhiều nước sẽ dễ dẫn đến các bệnh về Thận , ảnh hưởng trực tiếp đến mang thai và sinh nở .
2. Vị Trí giường ngủ ngoài việc kê đúng nơi có trường khí hợp với thể chất hai vợ chồng , thì cũng nên tránh đối diện với bếp , nhà vệ sinh , cửa ra vào , các vật nhọn. Đặc biệt nên tránh nhìn trực tiếp vào ban thờ , gây tâm lý sợ sệt hoang mang cũng khó đậu thai .
3. Trong khi mang thai rất kỵ xây hoặc sửa nhà. Thứ nhất xây sửa nhà là công việc nặng nhọc, ô nhiễm dễ dần đến ảnh hưởng xấu cho bà mẹ vốn đã rất yếu trong lúc mang thai. Thứ hai quá trình xây sửa nhà dẫn đến thay đổi phương vị, tính chất của trường khí xung quanh. Điều này có thể người thường khó nhận biết nhưng thai nhi lại chịu ảnh hưởng. Phạm vào điều này Khoa Phong Thủy cho rằng dễ dần đến dị tật, hoặc biến chứng của thai nhi .
4. Tương tự như việc xây sửa nhà , trong quá trình mang thai người ta cũng khuyên không nên đào giếng, ngoài việc biến đổi trường khí của nhà ở, giếng nước còn được dùng trực tiếp cho ăn uống, nếu phạm vào một trong các Sát ( Điều xấu ) trong Phong Thủy thì hậu quả thật khôn lường . Tuy nhiên do ngày nay dùng nước máy nhiều nên vấn đề này cũng đã được giải tỏa bớt .
5. Nhà gần bệnh viện, nghĩa địa, hồ nước ở phương vị xấu ( Phong Thủy gọi là Huyết Bồn Chiếu Kính – Gương Soi Chậu Máu ) cũng dễ là biến chứng, hư thai. Có rất nhiều trường hợp bị xảy thai, hư thai do nhà ở tại hướng Lưu Niên Phi Tinh (Trường khí vận động theo từng năm) mang sát khí mà phương vị đó lại có bề bơi , ao , hồ ….v…v…Gặp trường hợp này tốt nhất nên tránh đi nơi khác trong lúc mang thai.
6. Việc đặt bếp lúc bình thường đã rất quan trọng ( Nhân Gian Ngũ Tự Táo Vi Tiên – Nhân Gian Năm Chữ Bếp Đứng Đầu ). Đặc biệt trong lúc mang thai, sinh nở càng nên thận trọng . Bởi việc ăn uống lúc đó trở nên rất quan trọng. Có nhiều trường hợp chỉ nhờ tác động của việc xoay hướng bếp mà loại bỏ được tình trạng vô sinh đã lâu năm.
7. Việc đặt chỗ em bé nằm cũng rất quan trọng vì ngoài việc có sức đề kháng yếu, nhưng trẻ lại đặc nhạy cảm với các điều kiện xung quanh . Vì thế nên chú ý tới độ sáng, tốc độ lưu thông khí , độ ẩm , nhiệt độ . Tất cả các điều kiện này Phong Thủy quy về hai khái niệm Âm ( Xấu ) , Dương ( Tốt ) . Điều hòa cân bằng tức là Dương ; mất cân đối , quá ít hoặc quá nhiều một trong các yếu tố trên đều là Âm .
8. Khi thấy trẻ có các biểu hiện bất thường , như khóc liên tục không dừng , ngủ ly bì không dậy , hay giật mình . Mà không có biểu hiện của bệnh lý . Lúc đó cần xem xét lại môi trường , khí trường xung quanh chỗ trẻ lằm . Thậm chí một số mẹo thuật trong dân gian cũng có thể đem lại hiệu quả tốt bất ngờ .
9. Trong Phong Thủy nói chung và Huyền Không Phi Tinh nói riêng có hai khái niệm rất quan trọng là Sơn ( Núi ) , Thủy ( Nước ) . Yếu tố Sơn chính là yếu tố hỗ trợ cho việc sinh đẻ , nuôi dạy con người . Thế nên có câu : “Sơn Quản Nhân Đinh , Thủy Quản Tài – Núi Quản Con Người , Nước Quản Tiền Bạc” . Trong Phong Thủy Huyền Không các Phi Tinh Sơn đạt tiêu chuẩn sinh vượng kết hợp với thực địa cũng tốt thì tất nhiên đó là môi trường tốt cho con người sinh sống . Tuy nhiên yếu tố Thủy cũng cần tốt đề hỗ trợ tốt cho yếu tố Sơn. Bởi bạn cứ tưởng tượng xem nếu chỉ có yếu tố Sơn tốt mà Thủy không tốt thì sao. Khi khí trường mất cân bằng cũng này sinh khó khăn.
10. Muốn đạt được tối đa việc tạo môi trường hỗ trợ thịnh phát về con người . Phong Thủy Học khuyên con người ta cần kết hợp tốt các yếu tố . Từ hình thế bố cục trong , ngoài nhà ; Sự lưu chuyển , sắp xếp của khí trường ( Bát Trạch , Huyền Không ) ; Thể chất của từng người , cũng sự kết hợp của họ với nhau . Càng có nhiều yếu tố hợp , sinh , vượng là tốt . Nếu chỉ là khiếm khuyết thì dùng các biện pháp bổ cứu (Theo thuyết âm dương, ngũ hành, bát quái). Còn nếu quá xấu (Tử Địa) thì đành bỏ .
Sinh và Tử vốn là hai việc tối quan trọng của đời người . Nó như một dấu mốc của một dòng chảy trong quãng thời gian nhất định . Chính vì thế mà từ khi có nhân loài cho mãi về sau này nó vẫn là vấn đề con người coi trọng nhất . Phong Thủy với tư cách là một bộ môn học thuật nhằm chọn lựa cho con người một không gian , thời gian tồn tại tốt nhất cũng đã không đứng ngoài cuộc đề hỗ trợ con người trong vấn đề sinh sản , duy trì giống nòi . Hiểu thêm một chút về quan niệm của Phong Thủy thì cũng rất bổ ích .
(Sưu tầm)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Cát Phượng (##)
Phong thủy hay còn gọi là khảm dư, là một bộ môn khoa học có nguồn gốc từ trung quốc. Phong thủy chỉ địa thế nhà, đất, phần mộ từ đó xét tới các yếu tố cát hung, nhân sự. Phong thủy chính là cơ sở để ta lựa chọn môi trường sống ăn, ở, làm việc, xây dựng...
Phong thủy theo chữ hán 風水. là học thuyết chuyên nghiên cứu sự ảnh hưởng của hướng gió, hướng khí, mạch nước đến đời sống hoạ phúc của con người.
Từ xa xưa phong thủy đã được con người coi trọng. Cho tới ngày nay cùng với sự phát triển của khoa học người ta ngày càng trú trọng tới Phong thủy và ứng dụng vào trong các ngành nghề, đặc biệt là phong thủy trong xây dựng, kiến trúc. Phong thủy ngày càng được phát triển và ứng dụng trong cuộc sống và được phân ra các trường phái khác nhau như: Phong thủy trong nhà ở, phong thủy trong kinh doanh, Phong thủy thực vật... Tuy nhiên không phải ai cũng có thể hiểu và áp dụng bộ môn này vào trong ứng dụng cuộc sống.
Đối với người trung hoa Phong thủy được hiểu như gió và nước là những nhân tố quan trọng hiểu như những cơn gió nhẹ mang ý nghĩa mùa màng bội thu và con cháu đầy đàn. Sông suối cung cấp sự sống cho thực vật và động vật đảm bảo sự cân bằng cho môi trường sống của các cá thể.
Mặt khác những cơn gió hung phá hoại mùa màng nước tù đọng sinh ra dịch bệnh, và những dòng nước dữ gây nên tai họa. Người ta quan niệm gió, nước, mưa, sương mù, mặt trời và mây là khí của trời đất. Khí chuyển động mang đến sinh lực, và khí hung tù đọng mang đến sự hủy hoại.
Người trung hoa quan niệm sự thành công hay thất bại của con người đều liên quan tới hoạt động của nuồn lực thần bí trên trái đất. Các hoàng đế trung hoa xưa kia vẫn tham vấn các chuyên gia phong thủy trước khi xây dựng các công trình kiến trúc lớn.
Phong thủy bắt đầu từ sự quan sát đơn giản về môi trường xung quanh của con người, có ảnh hưởng đến họ về cách bày trí nơi làm việc, nhà ở, đất đai. Hơn nữa từ lâu người trung hoa quan niệm rằng có những nơi tốt hơn, may mắn hơn và được ban phúc nhiều hơn những nơi khác trên trái đất. Họ kết luận rằng nếu bạn thay đổi môi trường sống xung quanh, bạn có thể thay đổi cuộc đời của bạn. Mục đích của phong thủy là làm hài hòa môi trường sống, cải thiện vận may.
Hiện nay chưa có một tài liệu nào cho chúng ta biết chính xác ai là người sáng lập ra khoa Phong Thủy. Những tài liệu đưa ra từ trước đến nay về vấn đề này chỉ là những giả thuyết hay do sự suy diễn của mỗi cá nhân mà thôi.
1.Lễ Khai Hạ (hạ cây nêu)
Thời gian: tổ chức vào ngày mùng 7 tháng 1 âm lịch.
Nội dung: Cây nêu trồng trong năm, khi sửa soạn đón tết cùng với cung tên bằng vôi trắng vẽ trước cửa nhà để trừ ma quỷ, đến ngày khai hạ sẽ được hạ xuống. Nhân dịp này, ngoài lễ cúng trời đất, người ta còn sửa lễ cúng gia tiên, cúng thổ công và thần tài. Sau ngày lễ này, mọi công việc thường xuyên của mọi người mới được bắt đầu trờ lại (đặc biệt với nghề nông).
2. Hội Làng Thúy Lĩnh
Thời gian: được tổ chức vào ngày mùng 7 tháng 1 âm lịch.
Địa điểm: phường Lĩnh Nam, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ.
Đối tượng suy tôn: nhằm tưởng nhớ tới Xuân Nương - một nữ tướng tài giỏi của Hai Bà Trưng.
Nội dung: mở đầu lễ hội là tiệc cầu xuân dâng lên vị Thành Hoàng, theo truyền thống dọn cỗ chay, có củ mài và mật ong. Tục truyền việc mổ trâu "nồi da sáo thịt" để diễn lại tích năm xưa vị tướng của vua Hùng thờ Thần sông mà thoát nạn, khi lên bờ tìm trâu mổ thịt, lấy da làm nồi nấu để tế Thần sông. Trong ngày cuối cùng của hội, tổ chức diễn trò trình nghề ở bãi sông trước đình làng. Các vai diễn cày, bừa, gieo mạ, tát nước, bán con ngài tằm, bán bông thu hút nhiều người xem và tham gia.
3. Hội Vĩnh Mỗ
Thời gian: tổ chức vào ngày mùng 7 tới ngày 11 tháng 1 âm lịch.
Địa điểm: xã Cao Xá, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.
Đối tượng suy tôn: Nhằm tôn vinh Nguyễn Khoan (sứ quân ở thế kỉ 10).
Nội dung: Sau khi tiến hành các thủ tục lễ tế thành hoang làng thì cũng là lúc hội thi vật diễn ra nhưng người đoạt giải cuối cùng (sau 5 ngày) phải ôm giải cắm đầu chạy khỏi làng mới được ngoái cổ lại nhìn.
4. Hội Chợ Viềng
Thời gian: tổ chức từ nửa đêm ngày mùng 7 đến sáng ngày mùng 8 âm lịch.
Địa điểm: xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, và thị trấn Nam Giang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.
Đối tượng suy tôn: Lễ Thánh Mẫu Liễu Hạnh Thần chủ Đạo Mẫu Việt Nam.
Nội dung: Chỡ Viềng là chợ cầu may mỗi năm chỉ họp một phiên duy nhất. Chợ bày bán đủ thứ hàng hóa nhưng điều đặc biệt ở đây là cả người bán lẫn người mua đều không đạt mục đích lợi ích kinh tế lên hàng đầu. Những sản phẩm mà chợ bày bán thường mang tính chất phục vụ sản xuất tiểu nông như: cái cày, cái cuốc, cái dao, cái liềm, cái thúng, cái mủng... hoặc là một số loại cây trồng vật nuôi như cây chanh, cây ớt, các loại cây cảnh.
Tuy nhiên, điểm nổi bật và gây ấn tượng nhất đối với du khách ở hội chợ viềng này là những miếng thịt bê thui vàng ruộm được bày bán khắp chợ. Người ta quan niệm đi hội chợ Viềng mà không mua bán một thứ gì đó thì coi như chưa từng tới chợ Viềng, chưa được may mắn. Vì thế, hội chợ Viềng ngày xưa còn có tên gọi là chợ cầu may.
Công cuộc giáo hoá độ sinh của đức Phật thành tựu viên mãn chính nhờ Ngài tu tập Tứ vô lượng tâm đạt đến vô lượng. Tứ vô lượng tâm là bốn tâm vô lượng bao gồm: Từ vô lượng tâm, Bi vô lượng tâm, Hỷ vô lượng tâm và Xả vô lượng tâm. “Từ” nguyên văn là: “Từ năng dữ nhất thiết chúng sinh chi lạc”
Từ là ban vui, đem tình thương vô điều kiện đến cho tất cả chúng sinh. Trong cuộc sống, để tu tập đạt được Từ vô lượng tâm, trước tiên cần phải có lòng trắc ẩn thương người thương vật, có xúc cảm thương yêu đồng loại thì mới có khả năng đem an vui đến cho người khác bằng cách giúp đỡ vật chất hoặc tinh thần để họ vui sống an lạc.
Với lòng từ vô lượng, đức Phật đã ban vui, ban lợi ích vô lượng cho tất cả chúng sinh. Tâm “từ” của Ngài là tình thương không điều kiện, không bị ràng buộc và tình thương đó không mưu cầu. Đức Thế Tôn hóa độ những người mạt hạng, người cùng khổ của xã hội và cứu vớt tất cả sinh linh, nên “từ” của Ngài là ban vui cùng khắp. Bồ tát ban vui cho chúng sinh có khi bằng vật chất, bằng tinh thần hoặc bằng đạo lý. Các Ngài ban tặng, khuyên răn hoặc đem đạo lý giáo hoá nhằm giúp chúng sinh bớt mê khai ngộ, tháo gỡ bế tắc tinh thần, giảm thiểu ràng buộc để chúng sinh có thể sống đời thong dong, tự tại và an vui trọn vẹn. Với nội tâm trong sáng, các Ngài phục vụ lợi ích chúng sinh có thể làm cho người khác bớt khổ được vui bởi lòng vị tha vô ngã, vì cảm nhận được đồng loại có niềm đau, có xúc cảm đau khổ khi gặp phải điều bức bách, ép ngặt làm cho hệ thống thần kinh và não bộ của cơ thể phải cảm xúc đau đớn. Nếu quán chiếu được điều ấy, tâm từ sẽ nảy nở và phát triển rồi dần hình thành được lòng trắc ẩn để có thể thương yêu đồng loại, thương yêu chúng sinh, đó là ý nghĩa của “Từ”. Vì thế, chúng ta cần phải tu tập hạnh trang trải tâm từ mà không mưu cầu lợi ích, không điều kiện để có thể xoa dịu niềm đau nhân thế bằng chất liệu yêu thương và đem lại an vui trong mọi hoàn cảnh.
Chữ Hán có câu: “Bi năng bạt nhất thiết chúng sinh chi khổ.” Đạo Phật là đạo từ bi, đạo cứu khổ, thương người, thương vật và thương tất cả chúng sinh. Hình ảnh đức Phật với nhân dáng toàn mỹ, tinh thần Ngài với trí tuệ, uy dũng, hùng lực và từ bi. Khi chúng sinh bị vướng vào trói buộc, Ngài tìm mọi cách tháo gỡ để tâm hồn họ được thanh lương, không còn bị phiền não chi phối và tham sân si dằn vặt trong lòng. Diệt khổ là tác dụng của tâm bi đạt đến vô lượng, khi thấy người thiện hay kẻ ác, bạn hay thù, giàu hay nghèo, sang hay hèn, người hay vật cho dù gặp khổ bất cứ hoàn cảnh nào, đức Thế Tôn đều sẵn lòng cứu giúp để chúng sinh được an vui, hạnh phúc bởi đó là lòng trắc ẩn cao thượng của Ngài trước nỗi khổ niềm đau của chúng sinh.Vì vậy, nỗi khổ của chúng sinh vô cùng thì tâm bi của Bồ tát cũng vô tận. Những vị Bồ tát cứu khổ độ sinh như: Bồ tát Quan Âm, Bồ tát Phổ Hiền, Bồ tát Địa Tạng… với tâm bi đã phát đại nguyện lăn xả vào cuộc đời ô trược để cứu khổ độ sinh. Các Ngài hòa quang đồng trần để từng bước tháo gỡ những vướng mắc, đau khổ cho chúng sinh. Người ở thế gian thấy ai đau khổ thì bị xúc cảm làm chấn động thân tâm. Ngược lại, các vị Bồ tát với lòng thương vô bờ mà chẳng bị xúc cảm thường tình của thế gian làm chấn động, vì xúc cảm của các Ngài đã được tịnh hoá nên mang tính trong sáng. Để tôn vinh các Ngài, chúng ta cần tu tập, biết thương yêu những người bất hạnh lầm than trong cuộc sống, tuỳ hỷ và không đố kỵ khi gặp người thành công, thành đạt, thành danh hay hạnh phúc.
Hỷ vô lượng tâm còn gọi là Đại hỷ, là niềm vui không bờ mé. Những niềm vui thế gian rồi cũng qua đi, nỗi buồn nào rồi cũng dần nhạt phai theo năm tháng, vì niềm vui đến ngập tràn rồi cũng phải tắt lịm. Riêng niềm vui trong lòng đức Thế Tôn và các vị Bồ tát dù gặp phải trở ngại khó khăn hoặc chướng duyên nghịch cảnh vẫn không bao giờ lay động, vì các Ngài đã tu tập viên mãn Hỷ vô lượng tâm, niềm vui đó xuất phát từ tu tập Giới-Định-Huệ, do làm các hạnh lành, giữ giới, thiền định, sống lành mạnh tự do hoá tâm hồn và thấy được đạo lý chân thật. Vì thế, các Ngài cho rằng không phải chỉ có ánh sáng của ngũ dục lục trần là niềm vui tối thượng trên cuộc đời này. Bởi lẽ, cuộc sống dồi dào tiền bạc, tài sản và của cải vật chất thì tất nhiên gặp nhiều thuận lợi hơn, nhưng có biết bao người giàu có bỗng chốc trở nên hư hỏng, ăn chơi trác táng, trụy lạc, sa vào tệ nạn xã hội rồi trở thành những phạm nhân. Niềm vui của ngũ dục lục trần chính là nhân đau khổ, còn niềm vui của người thấu hiểu đạo lý thì cuộc đời được xây đắp bằng những hạnh lành, công huân giữ giới, thiền định và chuyển mê khai ngộ, có thể xua tan phiền não và tạo được niềm vui chân thật tận cõi lòng. Cho nên người có đức tuỳ hỷ thì tâm thanh thản, nhẹ nhàng, không vướng bận, còn người có lòng vị kỷ thường hay ganh tỵ và đố kỵ khi thấy người khác giàu có hoặc hạnh phúc hơn mình. Vì thế, tăng ni, phật tử cần tu tập đạt Hỷ vô lượng tâm thì mới có thể làm cho Phật pháp xương minh, người người an lạc.
Xả vô lượng tâm là tâm buông xả tất cả, trong lòng không chấp chứa thị phi, nhân ngã, bỉ thử, phải quấy, tốt xấu, hơn thua, buồn vui, thương ghét. Nói cách khác, buông xả là một trạng thái thiền định sâu, chặt đứt tất cả mọi phiền não vô minh mà an nhiên tự tại giữa dòng đời. Đức Phật tu tập đạt được tâm xả vô lượng, trong lòng Ngài thanh tịnh với tâm thường định nên không bấn loạn trước nghịch cảnh chướng duyên. Các vị Bồ tát xả chấp ngã, xả chấp pháp cho đến khi các Ngài xả cả địa vị tu chứng, tâm hoàn toàn buông thư không dính mắc thế gian và xuất thế gian nên được tôn xưng là bậc Vô trụ, Vô nhiễm.
Tóm lại, với bốn đức tính Đại từ, Đại bi, Đại hỷ và Đại xả, còn gọi là Tứ vô lượng tâm, đức Thế Tôn đã trở thành Phật như trong kinh đã nói: Ngài là Bậc Thiên nhân chi Đạo sư, Tứ sinh chi Từ phụ (Bậc Đạo sư dẫn đường cho cõi Trời, cõi Người và cha lành của cả bốn loài). Người tu tập cần tinh tấn theo lời Phật dạy, lấy tâm từ bi hỷ xả làm lợi ích cho vạn loại, chan hòa tình thương chân thật khắp nơi nơi để giúp đời, giúp người, xả bỏ mọi chấp trước để nội tâm an trú chính niệm, lấy hạnh phúc làm chất liệu chuyển hóa thân tâm và thành tựu viên mãn Bốn tâm vô lượng. Và chính Bốn tâm vô lượng này là cương lĩnh, là phương châm xử thế của người đệ tử phật chân chính.
Thiền Viện Phổ Chiếu tọa lạc tại ấp Tân Phú, xã Phú Mỹ, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
Thiền viện Phổ Chiếu trước kia thực chất là nông trại Thiền Đức, toạ lạc trong khuôn viên Đại Tòng Lâm với diện tích 3 hecta. Do cố Sư bà Vĩnh Bửu thành lập vào tháng 7 năm 1975. Sư bà đưa ni chúng từ chùa Thiền Đức về đây canh tác. Trải qua thời gian lao động vất vả, và do không quen nếp sống nông nghiệp nên Ni chúng trở về. Sư bà giao cho Như Ánh duy trì nơi đây làm Thiền Đức thứ 2.
Năm 1982, thiền viện được thành lập. Hòa thựơng đặt tên là Phổ Chiếu. Phổ Chiếu ban đầu rất khó khăn và thiếu thốn về mọi mặt. Lúc đó, thiền viện chỉ có 8 ngưởi. Nhưng khi nghe tin Hòa thượng cho phép mở thiền viện, chúng các nơi xin về tu theo pháp của Hoà thượng rất đông. Chỉ vài tháng sau đã tăng lên 20 vị. Lúc đó nhà cửa chật hẹp, gạo không đủ ăn. Buổi đầu chỉ có hai căn nhà nhỏ vách đất mái lá đơn sơ. Một ngôi dành làm chánh điện. Một ngôi dành cho Ni chúng ở.
Năm 1984, Thiền viện Bát Nhã ở Vũng Tàu giải tỏa, Sư bà cho Phổ Chiếu trở về làm Thiền đường. Cùng năm ấy được sự ủng hộ của nhân dân và Phật tử, Phổ Chiếu làm lại chánh điện bằng mái tôn vách ván, để có nơi cho Ni chúng tu tập. Thời gian này thiền viện rất khó khăn về vật chất.
Mạch nguồn Thiền tông được Hòa thượng khơi dậy ngày càng lang rộng. Số chúng tăng dần lên 60 vị. Phật tử biết đến Phổ Chiếu cũng tới lui ủng hộ.
Năm 1992, chánh điện được xây lại. Khu thiền thất tăng dần, từ 3 ngôi nay đã được 6 ngôi, giúp các thiền sinh có nơi yên tĩnh để hạ thủ công phu tu tập. Trai đường, lớp học, nhà bếp, nhà khách và các công trình phụ cũng được sửa sang lại khá khang trang.
Qua thời gian tu học tại thiền viện, một số Ni chúng đã nắm vững yếu chỉ và đi làm Phật sự các nơi. Hiện nay số chúng đang tu học tại rhiền viện là 70 vị.
Thiền viện Phổ Chiếu áp dụng theo đường lối chủ trương tu thiền của Hoà thượng và các Thiền viện thuộc thiền phái Trúc Lâm cuối Thế kỷ 20. Thiền viện Phổ Chiếu tổ chức chương trình tu học trong mỗi tuần.
Vượt qua bao gian nan thử thách, Thiền viện Phổ Chiếu để rồi có được ngày hôm nay. Đó cũng là nhờ thâm ơn của Hòa thượng (Người đã vun bồi cho Phổ Chiếu từ vật chất đến tinh thần) cùng sự nhiệt tâm ủng hộ của các thiền viện anh chị, các Phật tử xa gần và sự chung sức chung lòng của thiền sinh đã tạo nên một Phổ Chiếu hôm nay để nối tiếp mạch nguồn Thiền tông, xứng đáng với danh hiệu Phổ Chiếu.
![]() |
![]() |
| Thanh thiên mi (Lông mày thẳng tắp như chân trời) | Nguyệt ấu mi (Lông mày trăng non) |
![]() |
![]() |
| Khinh thanh mi (Lông mày nhỏ và thanh) | Tiếu diện mi (Lông mày hơi xếch) |
![]() |
![]() |
| Tam giác mi (Lông mày hình tam giác) | Sư tử mi (Lông mày đậm, rõ nét, hơi thô và đuôi cong) |
![]() |
|
| Đoản súc tu mi (Lông mày ngắn, thanh mảnh, nét đẹp) |
Alexandra V (theo vonvon)
Bài viết của G.S Hoàng-Quân
A- Nguồn gốc khoa Tử-Vi
- Tranh luận về khoa Tử -Vi hiện nay, người ta có ba giả-thuyết về nguồn gốc của nó:
- Giả-thuyết thứ nhất: Nói rằng đời người có nhiều sự kiện. Các sự kiện khi giao huy với nhau thành ra sự kiện mới. Trong khoa Tử-Vi, mỗi sao biểu tượng cho một sự kiện đó.
- Giả-thuyết thứ hai: Khoa Tử-Vi là một số sự kiện. Nguyên lý của khoa Tử-Vi không giải-thích được. Các ngôi sao chỉ giao huy với nhau trên một tờ giấy.
- Giả-thuyết thứ ba: lại cho rằng nguyên lý của khoa Tử-Vi là Dịch lý. Hi-Di tiên-sinh đã căn cứ vào Dịch lý mà san định ra Tử-Vi. Như đã trình bày ở trên: Các nhà nghiên cứu Tử-Vi ít để ý đến lịch-sử nguồn gốc của nó. Nên diễn tiến lịch-sử bị bỏ quên. Người đời nay muốn tìm, rất khó khăn, nên mới có những giả-thuyết đặt ra theo trí thông minh sâu sắc mà suy diễn.
Trở lại với nguyên lý khoa Tử-Vi, ta hãy căn cứ vào đoạn đối đáp sau đây của Tống-Thái-Tổ với Hi-Di tiên-sinh:
“.. Quả nhân đã đọc Tử-Vi Tinh-Nghĩa kinh do tiên-sinh ban cho. Tiên-sinh là Thần Tiên khác phàm, trên cảm cùng trời, dưới thông cùng nhân gian. Tiên-sinh đã khải ngộ đặt ra từ bao giờ vậy?
Ðáp:
- Không phải bần đạo đâu. Không phải bần đạo đâu. Khoa Tử-Vi uyên-nguyên từ đời Ðông-Tấn. Qua đời Lục-Triều vẫn chưa có qui-tắc nhất định. Ðời Ðường thịnh trị mấy trăm năm, không ai để tâm đến. Vừa qua thiên-hạ đại loạn, thế sự thăng trầm, chết sống vô định, nên Tử-Vi được san định lại. Bần đạo nhân học 6 khoa Thiên-Văn, Lịch-Phổ, Ngũ-Hành, Ngũ-Sự, Tạp-Chiêm và Hình-Tượng thấy cùng một gốc ở vũ-trụ biến dịch, nên tập lại vậy. Xưa kia các vị Chúc-Quan đã tốn nhiều tâm lực nghiên-cứu ra đây... (Triệu-thi Minh thuyết Tử-vi kinh, chương 1).
Như vậy, nguồn gốc khoa Tử-Vi rất xa, và nguyên-lý của nó ở 6 khoa và gốc ở vũ-trụ.
B– Sáu khoa tạo thành Tử-Vi
Uyên-nguyên khoa Tử-Vi là ở 6 khoa cổ trong thời kỳ văn-hóa sơ khai của Trung-Hoa. Thời đại thượng cổ Trung-Hoa: Hoàng-Ðế, Hạ-Vũ, Tây-Châu, Xuân-Thu, tính ra khoảng 2502 năm ( Từ 2752 đến 250 trước Tây-lịch) nói về tư tưởng rất kính sợ trời. Giữa trời và người có sự liên-hệ quan trọng, được biểu dương bằng câu:
Thiên nhân tượng dữ.
Nghĩa là giữa trời và người có cùng mối liên quan với nhau.
Kinh-Thư nói: Thiên sinh chúng dân.
Kinh-Thư nói: Duy Thiên âm chất hạ dân.
Lễ-Ký nói: Vạn vật bản hồ Thiên - Trời có toàn quyền soi xét khắp nơi, trời có phép tắc trị muôn vật, làm khuôn phép cho mọi ngươì, tức là cái nền tảng đạo đức.
Kinh-Thi nói:
Thuợng đế lâm hạ hữu hách
Giám quan tứ phương.
Lại nói:
Thiên giám tại hạ.
Thiên sinh chúng dân.
Hữu vật hữu tắc.
Kinh-Thư nói:
Thiên tự hữu điển.
Thiên trật hữu lễ.
Ấy bởi cái tư-tưởng đó mới phát sinh ra học thuật. Mà giữ về cái quan hệ học thuật ấy có hai chức quan: Quan Chúc coi việc trời, quan Sử coi việc người. Quan Chúc tức là khởi thủy của khoa Tử-Vi vậy.
a) Quan Chúc coi việc trời
Thời cổ chính trị tôn giáo vẫn chưa phân ra hai đường. Cái chức quan coi việc Thần-quyền rất quan trọng. Như tại Ai-Cập có chức Pháp-Lão, Do-Thái có chức Tế-Tự-Trưởng. Ấn-Ðộ phân ra làm 4 tộc: Bà-la-môn, Sát-lị là giòng Ðế-vương. Bà-la-môn chính là giòng Quan-Chúc. Tây-Tạng có chức Lạt-Ma chuyên giữ đại chính trong nước. Xưa kia Giáo-Hoàng La-mã còn có quyền trên cả vua chúa.
Chúc quan Trung-Hoa có hai loại:
* Một là quan Chúc coi việc cúng tế. Ðại biểu tư-tưởng nhân dân mà tâu lên trời để cầu lấy phúc lành. Sách Châu Quan trong thiên Xuân Quan Ðầu có nói về giòng dõi chi lưu chức quan Chúc ấy. Trong sách Tả truyện có chép, khi Tào-Uế luận chiến sự với Lỗ-Hầu, có bàn về các lễ tế thần để thắng trận.
* Hai là Quan-Chúc coi việc làm lịch. Chuyên giữ việc suy xét việc trời để ứng vào người. Ðời Tam-Hoàng có sai quan Nam-Chính là Trọng coi việc trời để họp các thần. Quan Bắc-Chính là Lê coi việc đất để họp dân. Ðời vua Nghiêu có sai quan Hi-Hòa-Kính thuận việc Trời xét về trình độ Nhật-Nguyệt tinh thần mà làm ra lịch để bảo cho dân biết bốn mùa mà làm ăn. Lại xét máy toàn cơ ngọc hành để so sánh 7 chính, tức mặt trời, mặt trăng, ngũ hành tinh: Kim, Mộc, Thủy, Hoả, Thổ. Quan Chúc coi việc làm lịch có ba phần:
- Hiệp định ngày, tháng, 4 mùa làm ra lịch.
- Suy tính thủy chung năm đức để định mệnh trời. Như thiên Nghiêu-Ðiển có viết: Lịch số trời đã thuộc về mình vua. Ðời sau nói về các vua Tam Ðại chịu mệnh trời cũng gốc ở Lịch-Học. Thiên-Hồng-Phạm có nói về Ngũ-Hành và những lời sấm vĩ đều phát nguyên từ đó.
- Xem xét tinh tượng, bói toán, định cát hung. Ðến đời Xuân-Thu, bọn Tì-Táo, Tử-Thận đều là giòng Chúc Quan coi việc lịch.
b) Quan-Sử coi việc người
Quan Chúc, quan Sử quyền ngang nhau. Sách Châu Lễ có kể đến quan Ðại-Sử, Tiểu-Sử, Tả-Sử, Hữu-Sử, Nội-Sử, Ngoại-Sử.
- Kinh-Thi, do quan Thái-Sử đi nhặt về mà có các bài thơ Lão-Ðam (Lão Tử) cũng là quan Trụ-Hạ-Sử. Trong Hán-Thư, phần Nghệ-Văn-Chí, sử-gia Ban-Cố cũng cho rằng phái Ðạo-Gia là do Sử-Quan mà ra.
Tóm lại, tư-tưởng học thuật cổ Trung-Hoa, tư-tưởng “Thiên Nhân Tương Dữ” như sau:
Quan Chúc coi việc Trời (nguồn gốc Tử-Vi):
Quan Chúc coi việc tế tự.
Quan Chúc coi việc làm lịch (Lịch tương gia tức Thiên-Văn học. Lịch số học, tức âm Dương. Chiêm-tinh-gia tức Phương-thuật).
Quan-Sử coi việc nguời:
Nhà Sử học về sự thực (Tổ Nho-gia).
Nhà Sử học về suy lý (Tổ Ðạo-gia)
Tất cả Thuật số đều phát xuất từ Chúc-Quan làm lịch.
c) Thuật số cổ Trung-Hoa
Trong bộ Hán-thư của Ban-Cố, phần Nghệ-Văn-Chí có đoạn:
“Thuật số do các sử gia Thần-thoại là Hi-Hòa trong nhà Minh-Ðường đã sưu tầm và duyệt lại. Công việc ấy từ lâu bị hủy đi mà không dùng nữa. Sách vở đến nay không còn đủ. Tuy vậy, có phần sách thì còn, mà nguồn thì quá cố từ lâu. Kinh Dịch có câu: Nếu người chính đáng mà không có thì đạo không thể thi hành được đầy đủ. Ðời Xuân-Thu có Lỗ có Tân-Thuận, Trịnh có Lý Táo, Tần có Bốc Yểm, Tống có Tử-Vi. Thời Chiến-Quốc, Sở có Cam-Công, Vệ có Thạch-Thông-Phủ. Hán có Ðường-Ðô. Ðấy là những nhà thuật số giỏi”.
Các khoa thuật số Trung-Hoa là sáu khoa mà Hi-Di tiên-sinh bảo đó là các khoa có cùng nguyên-lý. Tiên-sinh nhân học, rồi hiệp tinh-hoa thành khoa Tử-Vi. Sách Tả truyện có nói nhiều đến các khoa này.
- Khoa Thiên-văn, trong bộ Sử-Ký 130 quyển của Tư-Mã-Thiên đã dành cả quyển 28 nói về Lịch, quyển 29 nói về Thiên-quan. Trong bộ Hán-Thư, Nghệ-Văn-Chí, Ban-Cố để một chương chép về khoa Thiên-văn. Theo Ban-Cố thì Thiên-Văn dùng để xếp đặt thứ tự, biến dịch của 28 sao 5 hành tinh Nhật, Nguyệt, nhờ đấy mà đoán ra tốt xấu. Khoa Tử-Vi đặt căn bản là vận hành tinh tú ảnh hưởng đến con người, nguồn gốc của nó là Thiên-Văn. Kinh Dịch rút từ nguyên-lý vũ-trụ tuần-hoàn, đồng nguồn gốc với Thiên-Văn, nên có câu:
Quan Thiên-Văn dĩ sát thời biến.
Nghĩa là ngắm tượng trời để xét sự thay đổi thời tiết.
(Chu Dịch, Quẻ Bí)
Nguyên-lý căn bản của Tử-Vi là Thiên-Văn. Thiên-Văn và Dịch đều có nguyên-lý là Vũ-Trụ. Chính vì vậy, có nhiều người lầm cho rằng nguyên-lý của Tử-Vi là Dịch lý cũng không lạ.
-Về Lịch-Phổ dùng vào việc đặt vị trí bốn mùa có thứ tự để tính thời tiết bốn mùa, đêm ngày, Hi-Di không mấy chú ý đến tính chất Ngũ-Hành của các sao tại 12 cung. Mà chỉ để ý đến các cách thường kết hợp lại với nhau thành một cường lực nào đó.
-Ngoài ra, khoa Ngũ-Hành, Ngũ-Sự, Tạp-Chiêm, Hình-Tượng cũng đều có nguyên-lý Vũ-Trụ mà Hi-Di tiên-sinh rút ra để đoán vận hạn, tính tình, sống chết, thành bại của con nguời.
Tóm lại, nguyên-lý khoa Tử-Vi có thể tóm lược như sau:
C- Khoa Tử-Vi và tiểu-thuyết thần thoại
Vì sự thiếu sót của Tử-Vi sử, nên hầu hết những nguời bình dân Việt-Nam đều lầm lẫn những nhân vật tiểu-thuyết Thần-kỳ chí-quái, ma trâu đầu rắn với các sao trong khoa Tử-Vi. Ðể rồi khi lo vận hạn, bầy ra cúng sao, coi như đó là những ông Thần có thể ban phước, ban ơn cho người ta. Thậm chí có nhiều nhà Tử-Vi thành danh mà cũng bị lầm lẫn, nguyên do chính vì không học sử Trung-Hoa và bị tiểu thuyết ảnh huởng đến độ tưởng thật (1)
a) Trần-Ðoàn không phải là Tiên-ông. Trần Hi-Di là một đạo-gia tu ở Hoa-Sơn, đời Tống-sơ. Tất cả sách vở đều chép như vậy. Nhưng đến đời Minh, phong trào chương hồi tiểu-thuyết ra đời. Nhiều tiểu-thuyết gia biến Tiên-sinh thành Trần-Ðoàn lão-tổ, có phép tắc vô cùng huyền bí, hô phong hoán vũ. Có tiểu-thuyết gia cho Tiên-sinh sống từ đời Bàn-Cổ. Ðời Ðông-Chu, Tùy, Ðường đều có xuất hiện đấu phép thu học trò. Tiên-sinh chỉ là Ðạo-gia, và trở thành Tiên trong sự tưởng tượng của người sau ông đến hơn 200 năm.
Các Sao trong Tử-Vi và nhân vật Thần-Thoại: Từ sự lầm lẫn Hi-Di tiên-sinh là một Tiên ông, người ta còn lầm lẫn trầm trọng thêm nữa là lầm các Sao trong Tử-Vi với các vị thần trong Tiểu-thuyết.
Rồi khẳng định rằng Hi-Di tiên-sinh căn cứ vào nhân vật Thần-thoại đời Thương-Chu chiến tranh mà đặt cho các ngôi sao. Sự lầm lẫn tai hại này chứng tỏ không hiểu tí gì về Văn-Học-Sử và Sử Trung-Hoa. Có ba điều chứng minh rằng Hi-Di tiên-sinh không hề căn cứ vào nhân vật đời Thương-Chu đặt tên cho các ngôi sao trong khoa Tử-Vi:
Thứ nhất: Các ngôi sao trong khoa Tử-Vi đều là những hành-tinh có thật trong Thiên-Văn. Ðọc bộ Tinh-Kinh của Cam-Hũu-Vu, hoặc của Lưu-Biểu sẽ thấy rõ tính chất tuần hành của Thiên-Hà. Tiểu-thuyết gia lấy các sao trong Thiên-Văn rồi đặt ra những nhân vật ấy là Thần của ngôi sao.
Ðáng buồn thay, có những nhà Tử-Vi khuyên người ta nên căn cứ vào nhân vật tiểu-thuyết để tìm hiểu tính chất các sao thì tránh sao khỏi sai lạc trầm trọng.
Thứ hai: Khoa Tử-Vi được phổ biến vào năm Càn-Ðức nguyên niên (963), vào đầu đời Tống. Còn nhân vật tiểu-thuyết mãi đời Minh mới xuất hiện. Không thể có việc người sống trước 2000 năm bắt chước người sau. Trong bộ
Trung-Quốc Văn-Học Sử của Dị-Quân-Tả Tự-Do thư xã ấn hành tại Hương-Cảng vào niên hiệu Trung-Hoa Dân-Quốc thứ 48, chương II, Minh Ðại văn-học, trang 397 có viết:
“.. Minh-Sử, Nghệ-Văn-Chí chÉp có tới 127 bộ tiểu-thuyết được viết trong đời này, gồm 3307 cuốn.. Nhưng xứng đáng được gọi là tiểu-thuyết có Trung-Quốc tứ đạo kỳ thư.. Mà Tứ-Ðại kỳ-thư tiểu-thuyết đời Minh truyền đến nay còn thực nhiều. Tiến cử ra đây một bộ đó là bộ Phong-Thần Diễn-Nghĩa hay còn gọi là Phong-Thần Bảng (2).. “
Ðoạn trích dẫn trên đầy đủ chứng minh rằng nhân vật Phong-Thần được bịa đặt ra sau Hi-Di tiên-sinh đến 200 năm.
Thứ ba: Tra cứu các bộ chính sử như Kinh Xuân-Thu, Tả truyện, Chiến-Quốc sách không hề thấy nói đến tên nhân vật thần-thoại trong Phong-Thần. Bộ Sử-Ký của Tư-Mã-Thiên:
- Cuốn 4 nói về Thương Kỷ.
- Cuốn 5 nói về Chu Kỷ.
- Cuốn 33 nói về Lễ, Chu-Công thế-gia.
- Cuốn 32 nói Tề, Thái-Công thế-gia.
Chỉ thấy nói đến các nhân vật lịch-sử như: Trụ-Vương, Võ-Vương, Khương-Thượng...vân. vân... Không hề thấy nói đến Dương-Tiễn, Lý-Tĩnh, Lý-Na-Tra, Long-Kiết công chúa, Nguyên-Soái Trương-Quế-Phương.v.v...
c) Kết luận. Tóm lại:
- Khoa Tử-Vi nguồn gốc ở chức Chúc quan đời cổ. Nguyên-lý của nó là vũ-trụ. Dịch lý cũng có nguyên lý từ vũ-trụ nên nhiều người lầm tưởng khoa Tử-Vi có nguyên lý là Dịch lý.
Tiểu-thuyết gia đời Minh tưởng tượng ra những nhân vật thần-thoại, rồi cho các nhân vật ấy thành thần, trấn mỗi người một tinh tú. Không có sự liên hệ khoa-học nào giữa các nhân vật đó và những sao trong Tử-Vi. Hi-Di tiên-sinh là một đạo-gia, không phải là Tiên ông.
Tài liệu tham khảo:
SÁCH CHỮ HÁN:
SÁCH TÂY PHƯƠNG:
KHHB số 74L1
| ► Tham khảo thêm: Đặt tên cho con theo phong thủy để có vận mệnh tốt đẹp |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
| ► Bạn đã biết: Ý nghĩa Tết Trung Thu theo truyền thống Á Đông? |
![]() |
![]() |
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Hành: Thổ
Loại: Phúc Tinh
Đặc Tính: May mắn, tốt lành, gặp quý nhân giúp đỡ.
Tên gọi tắt thường gặp: Quý
Là một phụ tinh. Một trong sao bộ đôi Ân Quang và Thiên Quý. Gọi tắt là bộ Quang Quý.
Tính Tình:
Thiên Quý thủ hay chiếu mệnh:
Tính nhân hậu, lòng từ thiện, sự hên, may mắn.
Sự thành tín với bạn bè.
Sự hiếu để đối với cha mẹ.
Sự chung thủy với vợ, chồng.
Sự tín ngưỡng nơi đấng linh thiêng, khiếu tụ.
Người có Thiên Quý bao giờ cũng có thiện tâm, chính tâm, chủ làm lành, không hại ai cho nên ít bị người hại, tin tưởng vào phúc đức và nhân quả, được thần linh che chở cho một cách vô hình. Đây là sao của những đệ tử nhà Nho, nhà Phật.
Người có Thiên Quý thủ mệnh có yếu tố nội tâm để trở thành phật tử hay ít ra là cư sĩ. Ở ngoài đời thì là bậc quân tử, được thiên hạ quý chuộng nhờ đức hạnh xử thế, nhờ thiện tâm sẵn có.
Cùng với Tả Hữu, Thiên Quan quý nhân và Thiên Phúc quý nhân. Thiên Quý chủ sự may mắn thịnh đạt, do sự phù trợ của trời, của người trong nhiều công việc. Tất cả các sao kể trên hợp thành một đoàn phúc tinh, ban nhiều lợi ích từ bạn bè, xã hội, người trên, kẻ dưới và linh thần. Đây là người có đức lớn, có hậu thuẫn rộng rãi.
Phúc Thọ Tai Nạn:
Thiên Quý có nghĩa là giảm bớt nhiều bệnh tật tai họa, đem lại nhiều may mắn và sống thọ. Thiên Quý tượng trưng cho phúc đức của trời ban cho, sự che chở của Trời Phật hay Linh Thiêng cho con người, biểu hiện cho sự giúp đỡ của Trời, còn Tả Phù, Hữu Bật biểu hiện cho sự giúp đỡ của người đời.
Ý Nghĩa sao Thiên Quý Ở Cung Phụ Mẫu:
Được cha mẹ thương yêu.
Có thể có cha mẹ nuôi đỡ đầu.
Ý Nghĩa sao Thiên Quý Ở Cung Phúc Đức:
Thiên Quý là phúc tinh, tọa thủ ở cung Phúc Đức rất thích hợp.
Được thần linh che chở, ước gì được nấy, sống thọ, họ hàng đoàn kết, đùm bọc nhau. Khi chết, được người hiến đất chôn cất.
Ý Nghĩa sao Thiên Quý Ở Cung Điền Trạch:
Được hưởng di sản (nhà, đất) của tổ phụ, của cha mẹ để lại.
Được người hiến nhà, hiến đất cho ở.
Ý Nghĩa sao Thiên Quý Ở Cung Quan Lộc:
Hay giúp đỡ đồng nghiệp, lấy chí thành mà đãi người.
Được thượng hạ cấp quí trọng, nâng đỡ.
Được chỗ làm, nghề nghiệp đúng sở thích.
May mắn trong quan trường, sự nghiệp.
Ý Nghĩa sao Thiên Quý Ở Cung Nô Bộc:
Được tôi tớ đắc lực và trung tín.
Có bạn bè tốt quí mến, giúp đỡ tận tình.
Được nhiều thuộc quyền phò tá.
Được nhiều nhân tình thương yêu.
Ý Nghĩa sao Thiên Quý Ở Cung Thiên Di:
Sinh phùng thời, được may mắn, hên ở xã hội.
Được xã hội giúp đỡ, quý nhân phù trợ làm nên.
Ý Nghĩa sao Thiên Quý Ở Cung Tật Ách:
Ít bệnh tật, tai họa.
Có bệnh thì chóng khỏi, gặp thầy giỏi, thuốc hay.
Ý Nghĩa Thiên Quý Ở Cung Tài Bạch:
Thường được người giúp đỡ tiền bạc, của cải.
Thường được nhiều may mắn về tiền bạc.
Có thể được hưởng di sản.
Ý Nghĩa sao Thiên Quý Ở Cung Tử Tức:
Có con hiếu với cha mẹ và được cha mẹ thương yêu.
Có thể lập con nuôi để làm phúc.
Có sách cho là có con thánh thần.
Ý Nghĩa sao Thiên Quý Ở Cung Phu Thê:
Phúc trời cho được thể hiện bằng:
Hôn nhân vì tình.
Vợ chồng hòa thuận và thương yêu nhau, chịu đựng được nghịch cảnh mà lòng dạ sắt son: đó là trường hợp những người biết thủ tiết như Pénélope.
Ở vậy nuôi con, không tục huyền, không tái giá.
Ý Nghĩa sao Thiên Quý Ở Cung Huynh Đệ:
Anh chị em hòa thuận và giúp đỡ lẫn nhau.
Có anh nuôi chị em nuôi.
Có thể có anh chị em kết nghĩa.
Tóm lại, Thiên Quý là sao rất hay về nhiều phương diện, hữu ích cho bất luận cung nào, cho bất luận tai họa hay hỷ sự nào. Những ý nghĩa trên càng chắc chắn hơn, càng có tác dụng mạnh mẽ hơn nếu được thêm phúc tinh khác đi kèm chẳng hạn như:
Tả Phù, Hữu Bật, Tràng Sinh, Đế Vượng, Thiên Giải, Địa Giải, Giải Thần, Hóa Khoa, Thiên Quan, Thiên Phúc, Thiên Thọ, Tứ đức.
Việc tiếp giáp với Thiên Quý cũng tốt, tuy không bằng Thiên Quý tọa thủ.