Tướng phụ nữ mũi cao |
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Tuổi Tý
Tháng này tâm tư của người tuổi Tý khá vui vẻ, tình hình sức khỏe có sự cải thiện rõ rệt. Bạn nên chú ý chế độ ăn uống và nghỉ ngơi hợp lý, giảm bớt những cuộc tụ tập ở các quán bar hay vũ trường, nếu không sức khỏe của bạn sẽ xuống cấp nghiêm trọng.
Màu sắc may mắn: màu Cam.
Hướng may mắn: hướng Tây.
Tuổi Sửu
Áp lực tinh thần tháng này khá lớn, bạn nên đi lại hoặc vận động nhiều hơn để tâm trạng thoải mái. Với những người cao tuổi thì việc kiểm tra sức khỏe định kỳ là điều cần thiết và bắt buộc, giúp phát hiện sớm những bệnh liên quan đến sức khỏe.
Màu sắc may mắn: màu Tím.
Hướng may mắn: hướng Tây Bắc.
Tuổi Dần
Trải qua vài tháng mệt nhọc thì sức khỏe đã đến hồi kiệt quệ. Bạn nên chú ý nghỉ ngơi, vận động vừa sức, tập thể dục rèn luyện sức khỏe. Tuổi Dần cũng nên tìm cho mình liều thuốc phù hợp hơn.
Màu sắc may mắn: màu Đen.
Hướng may mắn: hướng Nam.
Tuổi Mão
Ba tháng bôn ba, bận rộn thì tháng này sức khỏe tuổi Mão lại thường xuyên xả ra vấn đề hơn. Cẩn thận đề phòng bệnh về dạ dày, đường thở… Khi đi du lịch, dã ngoại thì nên đề phòng bị ngã, chấn thương. Việc uống say thâu đêm sẽ khiến sức khỏe của bạn càng nghiêm trọng.
Màu sắc may mắn: màu Vàng.
Hướng may mắn: hướng Bắc.
Tuổi Thìn
Tháng này cần chú ý chế độ làm việc, nghỉ ngơi, thư giãn điều độ, đề phòng bệnh tật tích lũy trong thời gian dài mà bộc phát tức thì. Không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe mà còn ảnh hưởng đến vận khí khác của bạn nữa.
Màu sắc may mắn: màu Xanh nhạt.
Hướng may mắn: Đông Bắc.
Tuổi Tỵ
Tháng này sao Bệnh Phù lại xuất hiện lần nữa, năm nay lại trải qua quá nhiều biến cố nên thực sự là sức càn lực kiệt. Sức khỏe không được tốt lắm, cần đề phòng các bệnh truyền nhiễm. Đặc biệt chú ý vấn đề liên quan đến đường hô hấp, bệnh gân cốt hay cảm lạnh.
Màu sắc may mắn: Xanh da trời.
Hướng may mắn: Đông Bắc.
Tuổi Ngọ
Sức khỏe tháng này tương đối ổn, hãy duy trì chế độ ăn uống, nghỉ ngơi thường lệ. Cả tháng không xuất hiện vấn đề gì về sức khỏe. Nhưng cuối năm là lúc ăn uống, nhậu nhẹt khá nhiều nên cần chú ý đề phòng việc ăn uống quá độ.
Màu sắc may mắn: màu Xám.
Hướng may mắn: Tây Bắc.
Tuổi Mùi
Sức khỏe tháng này thất thường, lúc tốt lúc xấu. Chú ý vấn đề tâm tư cần tự mình điều chỉnh.Tháng này khi ra ngoài cần chú ý an toàn giao thông, đề phòng việc xảy ra ngoài ý muốn. Những người cao tuổi không nên đi một mình đến những nơi non cao bể rộng.
Màu sắc may mắn: mày Đen.
Hướng may mắn: hướng Tây.
Tuổi Thân
Sức khỏe có sự thay đổi tích cực, nhưng do tái đi tái lại nhiều lần nên đề phòng phát sinh ngoài ý muốn. Đặc biệt cần chú ý người cao tuổi dễ bị ngã. Tháng này phù hợp với những vận động trong nhà hơn là ngoài trời. Nên làm việc nhà nhiều hơn.
Màu sắc may mắn: màu Hồng.
Hướng may mắn: Tây Nam.
Tuổi Dậu
Sức khỏe tháng này có tiến triển tốt, thời gian rảnh nên đi bộ nhiều hơn hoặc đi du lịch. Điều này có lợi rất nhiều cho sức khỏe và tinh thần của bạn. Những bạn muốn có thai trong tháng này nên kết hợp cả tự nhiên và thụ tinh nhân tạo để có được kết quả tốt nhất.
Màu sắc may mắn: Xanh lam.
Hướng may mắn: Tây Bắc.
Tuổi Tuất
Tháng này sức khỏe khá tốt, trẻ nhỏ thì biếng ăn hơn. Nữ giới trưởng thành cần chú ý các bệnh phụ khoa. Người cao tuổir đặc biệt chú ý vấn đề liên quan đến đường tiết niệu, hệ thống tiêu hóa.
Màu sắc may mắn: màu Vàng.
Hướng may mắn: hướng Đông.
Tuổi Hợi
Qua hai tháng điều chỉnh vấn đề tâm lý thì tháng này sức khỏe đã có phần cải thiện đáng kể. Nên ngủ sớm, thức dậy sớm, ăn uống thanh đạm và vận động thường xuyên hơn. Đồng thời cần chú ý vấn đề ăn uống do cuối năm tụ họp, tiệc tùng nhiều.
Màu sắc may mắn: màu Xám.
Hướng may mắn: hướng Đông.
Theo Mai Nguyễn Khampha.vn
![]() |
Áp dụng 4 điều hay của nhà Phật để có giấc ngủ vẹn tròn![]() |
| ► Xem bói 2016 để biết vận mệnh, công danh, tình duyên của bạn |
![]() |
![]() |
Lễ Thất Tịch là ngày gì?
phúc trăm năm. Nếu từng được hẹn hò với Kim Ngưu, chắc chắn bạn đã được hiểu như thế nào yêu thương, chung thủy và sự hết mình của họ. Kim Ngưu có nhiều đặc điểm để trở thành một nửa tuyệt vời, nhưng không phải ai cũng được họ trao yêu thương như thế.
Cung hoàng đạo này thích sự sâu sắc, cam kết, mối quan hệ đầy đam mê, chứ không phải tình một đêm hay thứ tình cảm thoáng qua. Chính nhờ mong muốn này đã khiến họ trở thành người yêu tuyệt vời nhất trong cung hoàng đạo, bởi vì họ sẽ làm bất cứ điều gì cho tình yêu của mình.
![]() |
Tình yêu của Kim Ngưu mãnh liệt vì họ chung tình, không "đứng núi này trông núi nọ" |
![]() |
![]() |
2. Các sao Lưu niên (hoặc Phi tinh)
Nếu muốn giải đoán tinh vi về tiểu hạn hơn, ta cần căn cứ vào các sao lưu niên mà một số nhà tử vi quen gọi là phi tinh là các sao không thể an sẵn trên lá số nhưng cứ mỗi năm ta cần ghi thêm bằng bút chì trên lá số nếu muốn đoán kỹ lưỡng thêm, để biết những điểm dị biệt giữa các tiểu hạn trùng nhau.
Các phi tinh thông thường là Lộc tồn, Kình Dương, Đà La, Thái tuế, Thiên Mã, Thiên Khốc, Thiên Hư, Tang Môn, Bạch Hổ, Thiên Khôi, Thiên Việt mà cách an có ghi trong nhiều sách tử vi nên tôi không nêu ra đây nữa. Nhiều nhà tử vi khi an Lưu Thái Tuế hoặc Lưu Lộc Tồn thường an luôn cả các sao khác thuộc chùm đó, nhưng theo tôi nghĩ thì chỉ cần xét đến các phi tinh nêu trên, cũng đủ vì những sao còn lại không giúp được nhiều cho việc giải đoán mà còn có khi làm ta phân vân không biết đi tới kết luận nào.
Ngoài ra, trong các phi tinh kể trên, Lưu Thái Tuế cần được chú trong nhiều nhất vì nó luôn luôn tọa thủ tại cung của năm nhập hạn (tức là địa bàn, còn lưu tiểu hạn là thiên bàn).
Tôi lại cũng xin nêu ra nhiều thí dụ điển hình dưới đây chứ không thể nêu ra nguyên tắc giải đoán được:
-Khi đại hạn có Cự môn hãm địa hội Phục binh, Tuế phá, tiểu hạn lại có Cô Quả, Tang Hổ, Kình Đà, Hỏa Linh, Thái tuế mà Lưu Thái tuế lại gặp Thiên Hình, Hóa Kỵ, Kình hoặc Đà lưu niên (nhất là Kình hãm địa) thời ta có thể quyết đoán là đương số bị tù tội hoặc bị đánh đập khá nặng, nếu không cũng phải đau yếu nguy nạn. Nếu lưu Thái tuế không gặp Kình hoặc Đà, tức là Lưu Lộc tồn chạy sang cung khác, thì bao nhiêu sự nguy nan cũng chỉ còn một phút. Do đó quý bạn thấy mỗi 12 năm là Lộc tồn lưu niên lại thay đổi vị trí, kéo theo Kình Đà luôn chứ không thể nào cho rằng địa bàn nhập hạn luôn luôn giống nhau mỗi 12 năm.
-Nếu đại hạn có Hóa Khoa, Quang Quý (Sửu Mùi), tiểu hạn có Xương Khúc, Khôi Việt mà Lưu Thái Tuế lại gặp phi tinh Khôi Việt Hồng Hỉ thì thuận lợi nhất về công danh, đi thi chắc chắn phải đậu, nhất là khi thấy Mệnh có Thiên Lương, Thiên Tướng đắc địa hội Tả Hữu, Quyền Lộc nữa. Nhiều khi tiểu hạn hơi xấu mà Lưu Thái Tuế hội nhiều sao tốt đẹp vẫn được hanh thông, tuy vẫn có trở ngại lúc đầu, tỷ dụ như thi đậu kỳ nhì, hoặc buôn bán thua lỗ đầu năm nhưng giữa năm trở đi lại phát tài.
-Về phương diện Lưu Thiên Mã, nhiều nhà Tử vi cho rằng những người nào Mệnh, hoặc Thiên Di hay “Thân” cư tại Dần Thân Tỵ Hợi hay phải di chuyển, xuất dương, xuất xứ vì Thiên Mã cố định luôn luôn ở 4 cung đó và cả Thiên Mã lưu niên cũng vậy. Còn đối với những người khác, nhất là những người có cách làm việc cố định không bao giờ quý bạn nên đoán là họ sẽ thay đổi công việc mỗi khi gặp Lưu Thiên Mã vì cứ vài năm thế nào chẳng gặp trực tiếp hoặc gián tiếp Lưu Thiên Mã hoặc Thiên Mã cố định. Đối với những người này phải có thật nhiều yếu tố thay đổi mới có thể đoán được, tỷ dụ như đại hạn có Thiên Đồng, Thiên không rồi tiểu hạn có Mã cố định gặp Lưu Thiên Mã, mà lại phải chiếu về cung thuộc về mình, tức là Mệnh, Quan lộc, Tài bạch, Thiên Di, “Thân” chứ nếu chiếu về Phụ Mẫu, Tử tức thì cũng vẫn chưa thể quả quyết được. Ngoài ra, còn cần 2 đại hạn liền nhau thật khác nhau, để cho có sự thay đổi mạnh mẽ mỗi khi chuyển đại hạn.
Sau hết, ngoài các phi tinh kể trên, ta còn cần chú trọng đến Lưu Tuần, Triệt mà ít sách đề cập tới mặc dầu rất quan trọng (Cách an 2 sao lưu động này cũng như cách thông thường, tỷ dụ như năm nay Giáp Dần thì Tuần ở Tý Sửu và Triệt ở Thân Dậu). Thực thế, nhiều khi Lưu Tuần, Triệt còn ảnh hưởng mạnh mẽ hơn Tuần Triệt cố định, nếu luận đoán về tiểu hạn. Tỷ dụ như cung nhập hạn có Tử Phủ cư Thân hội nhiều sao tốt đẹp và hợp với đại hạn cũng như Mệnh nhưng vẫn không thấy hanh thông, đó cũng chỉ vì Lưu Tuần hoặc Lưu Triệt đã án ngữ làm mất gần hết cách tốt đẹp đó đi. Nhưng gặp trường hợp hạn quá xấu nếu may mắn được Lưu Tuần, Triệt án ngữ thời vẫn có thể chắc qua khỏi được. Như vậy quý bạn thấy mỗi tiểu hạn trùng nhau đã có khá nhiều yếu tố khác nhau.
3. Thời gian
Sau hết, ta cần phải lưu ý đến yếu tố thời gian tuy không có tính cách lý thuyết về tử vi, nhưng nhiều khi ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc giải đoán. Thí dụ như:
-Hai sao Tả Hữu thường thường chỉ ứng nghiệm trong thời đương số còn trẻ vì có trẻ mới hăng say hoạt động cho phù hợp với đặc tính của Tả Hữu, chứ khi đã lớn tuổi dù có muốn tích cực chăng nữa Tả Hữu cũng “già nua” rồi khó lòng giúp cho đương số được phong độ như trước. Về sao Đào Hồng cũng tương tự như vậy, nếu nằm trong những đại hạn ta còn thanh niên mới đúng môi trường chứ từ 60 tuổi trở đi 2 sao đó không những không giúp ích gì lại còn làm cho ta yếu đuối thêm và có khi đưa đến tận số. Còn sao Triệt thì từ năm 30 tuổi trở đi cũng bớt hẳn ảnh hưởng đi, nếu cung nhập hạn từ 30 năm trở về trước đang tốt trở thành xấu vì Triệt án ngữ thì từ 30 năm trở về sau phải đoán là tốt nếu gặp sao đó nữa.
-Về các hung tinh (như Kình Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp) nói chung thường hay hoạt động sớm nếu ở Đại hạn thì hay ứng vào mấy năm đầu và ở tiểu hạn ứng vào đầu năm, nhất là khi gặp chính tinh có ảnh hưởng sớm (tức là bắc đẩu tinh). Hoặc có khi trong đại hạn còn trẻ bị hung tinh này quấy phá nhưng đến đại hạn cách đó mấy chục năm sau cũng gặp hung tinh đó sự phá hoại lại quá nhẹ.
Qua các thí dụ trên, quý bạn hẳn nhận thấy việc đặt ra nguyên tắc hoặc hệ thống để giải đoán tiểu hạn rất khó thực hiện vì có quá nhiều yếu tố kết hợp không giống nhau và để kết luận tôi chỉ xin nhắc quý bạn là sự tốt xấu của tiểu hạn không phải hoàn toàn do đặc tính tốt xấu của các sao nhập hạn mà do sự tương hợp giữa tiểu hạn, đại hạn và Mệnh Thân.
1. Người Trung Quốc, cụ thể là các tướng thuật gia như Ma-Y tiên sinh, ngài Trương Phương Bình, ngài Thông Diễn, ngài Trương Tuấn Công, ngài Viên Thiên Cương v.v… thì lấy các sao, hành tinh, mặt trăng, mặt trời để đặt cho các kiểu mặt. Và từ đó suy ra nhân tính dựa trên tính chất của các tinh tú đó. Ví dụ ta có:

2. Kiểu mặt to tròn, đó là mặt kiểu Thái Dương – Mặt trời. Tướng mặt Thái Dương sáng ngời, mọi thứ trên khuôn mặt chỉnh chu đầy đặn là mặt của bậc vương giả, công khanh.
3. Mặt tròn vành vạnh. Đó là kiểu mặt Thái Âm – trăng. Tướng mặt Thái Âm sáng bóng, thanh tú các giác quan, nhạc, gò hài hòa là mặt của bậc thánh hiền, phúc hậu, nhân từ.
4. Kiểu mặt trái xoan, đó là kiểu mặt Kim tinh. Tướng mặt Kim tinh thanh thoát, tươi tắn mọi bộ phận trên khuôn mặt đầy đặn, tươi nhuận. Đó là mặt của các mỹ nhân, vương hậu phúc lộc đủ đầy.
5. Kiểu mặt vuông vắn, to – mặt vuông chữ Điền. Đó là kiểu mặt Thổ tinh.
Tướng mặt Thổ tinh thì đầu, mặt vuông vức cổ tròn, to khỏe, da đậm màu. Đấy là kiểu mặt bậc tướng lĩnh, dữ tợn, cương quyết, mạnh mẽ. Kiểu mặt của tranh đấu, can đảm, gan dạ, con nhà võ.
6. Kiểu mặt xương gầy. Đây là kiểu mặt của Hỏa tinh.
Tướng mặt Hoả tinh chữ nhật, gân xương, sắc tía. Mọi thứ
hài hòa đầy đủ sáng sủa, tướng hoạt bát, trí tuệ phát triển, nhanh hiểu biết, có học thức, nóng nảy, tự lực cao.
7. Kiểu mặt bầu bĩnh. Đây là kiểu mặt Mộc tinh. Tướng mặt Mộc tinh đầy đặn, các thứ cao đầy sắc khí xanh nhạt. Đây là khuôn mặt học giả, trí tuệ phong phú, ít hoạt động thể lực, nhân cách đàng hoàng, trầm tĩnh, tâm đức, chừng mực.
8. Kiểu mặt lưỡi cày. Đó là kiểu mặt Thủy tinh. Tướng mặt Thủy tinh sắc đậm, đen, cằm nhọn nhô, mắt lạnh sắc. Đây là khuôn mặt của mưu thần, tư vấn tốt, trí tuệ thông đạt, mưu mô, thủ đoạn.
9. Kiểu mặt choắt, mặt dơi. Đó là kiểu mặt Âm tinh. Tướng kiểu mặt Âm tinh bé hẹp vuốt nhọn cằm nhọn mắt lô” sắc sám xỉn hoặc nhợt nhạt. Đây là kiểu mặt nghèo hèn, láu lỉnh, háu hớt, yểu (khó thọ).
![]() |
| Song Joong Ki đang là nam thần số 1 của điện ảnh châu Á |
![]() |
| Trên ảnh của Song Joong Ki xuất hiện ... nữ quỷ |
Tính cách chuẩn cung Xử Nữ của chàng soái ca quân nhân Song Joong Ki
Xem tướng đại úy Yoo đoán đại vận hoành tráng 1. Răng cửa và sức khỏe
Theo nhân tướng học, răng cửa là bộ phận đại diện cho tuyến yên (tuyến này quản lí hệ thống nội tiết). Do đó, răng cửa cũng có sự ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới việc bài tiết hormon giới tính của cơ thể. Răng cửa đều, sạch và sáng phản ánh sức khỏe tốt, khí huyết lưu thông. Ngược lại sẽ cho biết khí huyết suy yếu, khả năng phòng the của đàn ông giảm.
![]() |
Nhắc đến người tuổi Tị, người ta hay nghĩ đến những con người rất thông minh nhưng có chút thâm trầm và bí ẩn. Vậy nếu có sự ảnh hưởng của nhóm máu, liệu tính cách người tuổi Tị có gì thay đổi không? Hãy cùng tìm hiểu về tính cách và vận mệnh của người tuổi Tị nhóm máu B nhé.
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
Tiền Tài tinh quân Lý quỷ tổ rất được người dân kính trọng, ông được xếp cùng với 3 vị cát thần “Phúc”, “Lộc”, “Thọ”, khi hợp lại thì được gọi là phúc lộc thọ tài hỉ.
![]() |
| Ảnh minh họa |
Ngày 22 tháng 7 Âm lịch là ngày Tế tự Thần Tài, theo dân gian thì ngày này chính là ngày sinh của Văn Thần Tài. Theo truyền thuyết thì Thái Bạch Kim Tinh dưới trướng Ngọc Hoàng chính là Kim thần. Kim tinh quân là người mặc áo gấm, hông đeo ngọc báu, tay trái nâng một thỏi vàng ròng, tay phải cầm sớ chiêu tài nạp phúc có ghi chữ “Chiêu tài tiến bảo đích quyển trục”, tướng mạo đôn hậu, phú quý. Tài Bạch Tinh Quân Lý Quỷ Tổ, danh xưng là Tăng Phúc Tướng Công, Văn Tài Thần, Tăn Phúc Tài Thần, Phúc Thiện Bình Thi Công. Lý Quỷ Tổ là người Tùng Sơn, sinh ngày 17 tháng 9 và thành đạo ngày 22 tháng 7. Ngụy Hiếu Văn Đế là quan huyện Lương, thanh liêm ái dân, sau khi qua đời được lập đền Tế tự. Đường Vũ Đức (năm 619) được Đường cao tông phong là “Tài bạch tinh quân”, Đường Minh tông Thiên Thành năm 926 được phong là “Thần quân Tăng phúc Tướng công”, từ năm 1271 tới 1368 thì được phong là “Phúc thiện bình thi công”. Được người dân Tùng Sơn lập miếu tự cùng với mộ của Lý tướng công. Tiền Tài tinh quân Lý Quỷ Tổ rất được người dân kính trọng, ông được xếp cùng với 3 vị cát thần “Phúc”, “Lộc”, “Thọ”, khi hợp lại thì được gọi là phúc lộc thọ tài hỉ. Kim tinh quân Lý Quỷ Tổ tướng mạo nho nhã, mặc cẩm ý, thắt lưng treo ngọc báu, đầu đội mũ quan, trên người khoác hồng bào, da trắng râu dài, lúc nào cũng nở nụ cười, tay trái cầm chữ Như Ý, tay phải cầm chữ Tụ Bảo Bồn, bên trái có viết 4 chữ “Chiêu tài tiến bảo”. Sau lưng ngài có 2 đứa trẻ cầm quạt Nhật Nguyệt. Tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ, miệng phun kim tiền cùng nguyên bảo, Văn Thần Tài rất thần thông quảng đại, có lấy bao nhiêu tiền cũng không hết, dùng mãi không cạn.
![]() |
| Ảnh minh họa |
chắn mất, có bốn cách cải thiện như sau:
– Cố gắng dẹp bỏ vật cản trước cửa hàng để mặt tiền hiện ra.

– Đối với mặt tiền chật hẹp không thể sửa chữa được thì nâng cao mặt tiền lên để cho khách hàng từ xa cũng có thể nhìn thấy cửa hàng.
– Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như báo đài, vô tuyến, biển quảng cáo để tuyên truyền, quảng cáo cố gắng làm cho khách hàng biết được địa chỉ cửa hàng, hàng hóa kinh doanh và đặc điểm dịch vụ của cửa hàng.
– Tích cực tham gia những hoạt động từ thiện để quảng bá danh tiếng của cửa hàng.
Năm 2004 quẻ Cấn bát vận bắt đầu chuyển động, quẻ Cấn tượng trưng cho núi cao. Bát vận chuyển động, núi cao cũng chuyển động, các cao nhân sống trong núi cũng thay đổi tâm lý, cùng xuống núi mưu cầu công danh. Điều này có nghĩa là ngũ thuật: sơn, y, mệnh, bặc, tướng của các sơn nhân nêu lên chắc chắn sẽ tung hoành thiên hạ trong năm bát vận (2004 – 2023).
Không gian trước cửa nhà được Thanh Long, Bạch Hổ ôm trọn gọi là Chu Tước, có nơi gọi là Minh Đường.
Chu Tước còn có thể gọi là Phượng Hoàng hoặc Huyền Ô, nó là một trong tứ linh. Cũng giống như ba linh thú còn lại, nó xuất thân từ 28 vì tinh tú, đại diện cho 7 ngôi sao ở phía Nam: sao Tỉnh, sao Quỷ, sao Liễu, sao Tinh, sao Trương, sao Dực, sao Chẩn. Chu là màu đỏ, tượng trưng cho Hoả, hướng Nam thuộc Hoả còn gọi là Phượng Hoàng. Đồng thời, nó cũng có đặc tính trùng sinh từ trong Hoả (Phượng Hoàng niết bàn) giống như chim bất tử của hướng Tây, còn gọi là Phượng Hoàng lửa.

Trong truyền thuyết, phượng là một loài chim vô cùng đẹp, giọng hót và tư thái của nó được phong là vua của các loài chim. Nó đem may mắn cho con người, đồng thời cũng có linh tính đặc biệt. Phượng Hoàng và Rồng là một đôi thú thần trong truyền thuyết. Rồng tượng trưng cho chí Dương, trước đây người ta cũng chia Phượng Hoàng ra làm hai phần Âm – Dương (Phượng là con đực, Hoàng là con cái). Sau khi được phối hợp cùng với Rồng thì nó đại diện cho thuần Âm.
Còn Huyền Ô là loài chim đại diện cho khởi tổ của các thương nhân. Vì thế, cho dù là Phượng Hoàng hay là Huyền Ô thì cũng đều phát triển theo sự phát triển của đạo giáo, biến chúng thành một con chim tước. Trước hết biến thành một tiên nữ nửa người nửa thú, truyền nhân binh pháp. Sau đó lại biến thành tiên nữ hoàn toàn có hình người. Do đó, thuyết tứ linh không thể không liên quan đến đạo giáo.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Nhiều người đưa ra những yếu tố đặt tên cho con một cách không cần thiết, rườm rà. Như đối với việc ứng dụng thuyết ngũ hành trong đặt tên, hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau.
Nhiều người cho rằng, khi đặt tên thì phải có quan hệ tương sinh về ngũ hành trong họ tên, không khắc với bản mệnh, ngũ hành con giáp của người đó cũng như bản mệnh, ngũ hành con giáp của cha mẹ. Chẳng hạn, nếu em bé sinh vào năm 2014 mệnh kim thì tên cần tránh từ mang hành mộc hoặc hành hỏa mà nên có hành thủy hoặc hành thổ.
Ngoài ra, có một số bậc cha mẹ hiện vẫn đặt tên trước khi sinh em bé. Như vậy, về phong thủy đã bỏ qua một yếu tố rất quan trọng, đó là giờ sinh. Giờ sinh là yếu tố rất quan trọng đánh dấu thời khắc ra đời của mỗi con người, có ảnh hưởng nhiều đến vận mệnh sau này.
Từ bốn yếu tố giờ, ngày, tháng, năm sinh (Tứ Trụ), các chuyên gia có thể tính toán xem âm dương ngũ hành trong vận mệnh có cân bằng hay không, từ đó sẽ lựa chọn những cái tên mang hành còn khuyết thiếu để bù đắp sự thiếu hụt. Chẳng hạn, nếu Ngũ hành thiếu hành Thủy có thể chọn các tên như Giang, Hải, Hà, Vũ... thiếu hành Mộc có thể lưa chọn những tên như Bách, Tùng, Lâm, Mai, Chi...
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Ngọc Sương (##)
Giường ngủ là nơi hai vơ chồng gần gũi nhất, bởi vậy việc chọn mua chăn đệm rất quan trọng. Trong gia đình, khi ngủ hai vợ chồng không nên đắp mỗi người một chăn vì điều này sẽ khiến cho tình cảm vợ chồng trở nên hờ hững, xa cách.
Kỵ để gương đối diện với giường ngủ và cửa ra vào

Rất khó tránh khỏi việc treo gương trong phòng ngủ, tuy nhiên bạn nên chú ý không để gương trong phòng đối diện với giường ngủ hoặc cửa ra vào phòng ngủ, nếu không sẽ khiến cho người chồng – chủ nhân căn nhà cảm thấy bất an. Nếu như không thể thay đổi được vị trí để gương, có thể dùng tấm vải che lên tấm gương, khi nào dùng mới vén lên.
Kỵ người thứ ba bước vào phòng ngủ của hai vợ chồng

Phòng ngủ là nơi dành riêng cho hai vợ chồng, vì thế nên tránh để người thứ ba bước vào bởi nó có thể đem đến khí vẩn đục cho căn phòng. Ngoài ra, nhiều người thường sử dụng phòng ngủ làm nơi thay quần áo, tuy nhiên điều này cũng không ổn vì dễ khiến người chồng ngoại tình ở bên ngoài.
Sưu tầm
Mỗi khi tai qua nạn khỏi, thoát khỏi lưỡi hái tử thần, người ta lại nói rằng may mắn “phước 70 đời” hay “phước do ông bà để lại”… Dưới góc nhìn Phật giáo, điều này có nghĩa gì?
![]() |
![]() |
![]() |
Vào đầu thế kỷ III, vua nhà Hậu Hán nhu nhược bất lực trước các hoạn quan chuyên quyền. Trên khắp lãnh thổ những nhóm này đảng nọ nổi lên chống đối lôi kéo rất nhiều nhân vật xuất hiện với nhiều cá tính đặc biệt và cuộc sống cũng khá phức tạp.
Có những ông vua như Lưu Bị làm cách mạng từ thuở hàn vi, rồi lên làm vua cho đến khi nhắm mắt qua đời vãn còn ôm hận; Tôn Quyền thì cứ bình thản hưởng công nghiệp cha anh không tham sân si, hơn nữa, còn Tào Tháo đầy thủ đoạn không thèm làm vua mà quyền hành còn hơn vị Hoàng Đế. Có những nhân sĩ như Khổng Minh, Bàng Thống, Từ Thứ ngồi trong thảo lư bấm tay biết được việc thiên hạ. Thôi Châu Bình, Tư Mã Huy trái lại gác bỏ ngoài tai chuyện phú quý, tìm cuộc sống với trời cao đất rộng.

Có những bậc tư lệnh như Chu Du, Tư Mã Ý, Khương Duy hành binh đầy đủ tài thao lược còn có cả nhwngc viên thượng tướng sức dịch muôn người mà vô mưu như Trương Phi, Lữ Bố, còn biết bao nhân vật không kém tài ba trong việc bình thiên hạ… trong đó còn có một người, nhân vật này có thể nói hầu hết dân Hán kính thờ như một vị thần vì có những đức tính của một đại trượng phu. Ông là nghĩa đệ vua Chiêu Liệt với chức vị Hán Thọ Đình Hầu, người đời nay ngưỡng mộ thường nhắc đến huy danh là Quan Thánh Đế Quân tức là Quan Công hiệu Vân Trường.
Ông tuổi Mậu Ngọ, sanh ngày 13 tháng 5 giờ Ngọ.
Lá số tử vi Tuổi Mậu Ngọ, Thân Mệnh đồng cung tại Tý, ông là người được coi như có sứ mạng phải đả phá kình chống tất cả những gì thời buổi đó tạo ra cho là chính nghĩa để giành quyền (Thái Tuế, Hữu Bật, Kình ở Ngọ) nghĩa là ông chỉ có biết nhà Hán là chính thống, rồi sau đến nghĩa huynh là Lưu Huyền Đức là dòng giống nhà Hán phải lập lại nghiệp Đế trên đất nước.
Phá Quân chi phối đời ông rất nghiêm luật (khắc nhập), ông đứng ở vị trí bất mãn mà ông rất coi thường đối phương, có lẽ sau này ông thọ nạn ở Mạch Thành cũng vì cái tánh quá kiêu khinh (Phá Quân Thân Mệnh ở Tý: Thủy; Thiên Di ở Ngọ: Hỏa cả vị trí lẫn sao). Ông có biết đâu cái chính nghĩa người đời đã cướp được ở trên cái thế hư phá, ông cố khăng khăng chống đỡ để không đi đến đâu, rồi ra họ sẽ tranh đấu với cả cái thế mạnh bạo (Liêm Tướng, Thái Tuế, Hữu Bật, Kình Hổ, Long Cái nhất là Khoa, Tài, Thọ, đủ mánh khóe để mà thắng).
Phá Quân ở Tý là người thông minh, tự đắc mà có tài thao lược, can đảm, dũng mãnh, thêm Tả Phù, Thiên Mã là những gì người đời phải nể phải trọng là thực tài thực lực thiên phú; chứ Phá Quân bị Tuần, Triệt là xuất thân phải gặp mọi bề khó khăn, đâu có được chau dồi học hỏi cũng chẳng thâu thái được là bao.
Phá Quân ở Tý là người chỉ nhìn nhận cái chính khí khi mình đã thấy và vạch ra lối để đi, không cần biết trên đầu có ai, ví có đưa đến chỗ chết cũng coi thường như cụ Phan Châu Trinh bất khuất tù đày. Quan Vân Trường khi thất thủ Hạ Bì, vì kẹt có nhị vị phu nhân của Huyền Đức phải tạm hàng Tào, nhưng ông đặt ra ba điều kiện buộc người thắng phải thỏa mãn đầy đủ, nết không ông chỉ có cái chết để đền bù tình tri kỷ của Lưu Bị. Đó có phải Phá Quân cũng biết tùy thời tòng quyền, nhưng thua mà vẫn đưa điều kiện cho kẻ thắng (cũng là một cách bất khuất). Sự việc này nó có liên quan đến sự việc ngày sau trên con đường nhỏ Hoa Dung ông tha chết cho Tào Tháo để trả lại cái nghĩa kẻ địch đã đãi mình lúc trước, mặc dầu ông đã ký kết tờ cam đoan cùng quân sư Gia Cát, nếu tha Tháo phải đền mạng. Ngay cả với kẻ địch khi đã thọ ơn người phải lấy nghĩa đền bù, cũng là tư cách của Phá Quân ở Tý. Khác với lúc nhậm trấn Kinh Châu lâm vào thế bí, thôi đành chịu chết, nhất quyết không hàng Tôn Quyền, đó là kí phách cao cả của Phá Quân ở Tý.
Còn nói về trung thành thì ông được kể là người trung thành số một, chỉ biết có vua Chiêu Liệt vừa là nghĩa huynh, người đã cùng ông và nghĩa đệ Trương Phi giữ lại cho nhà Hán phần ba đất nước. Nghĩa huynh nói sao, xin tuân theo không bao giờ từ chối và khi đã nhân sự ủy thác là chỉ còn một sống một chết. Như lần nhận sự phó thác phò nhị tẩu ở thành Từ Châu lúc chia tay cùng Lưu Bị, biết bao biến chuyển do mưu mẹo Tào Tháo bày ra quyến rũ làm cho tình nghĩa giữa ông và Lưu Bị phải lìa nhau như để ông và hai vị phu nhân ở chung một nhà rồi ngọc ngà tiền bạc, gái đẹp hầu non đưa đến. Khi được biết Lưu Bị ở Hà Bắc với Viên Thiệu là ông nhất quyết ra đi cho bằng được, bất chấp ngàn dặm ngăn cách phò hai chị chi đến nơi trùng phùng cùng Lưu Bị. Đó cũng à một việc rất khó tránh của thế nhân trước bã vinh hoa phú quý, nhất là mỹ nữ thường hay làm cho anh hùng thành trí đoản.
Tiếc rằng Phá Quân ở đây chỉ là một nghĩa sĩ ở trong hoàn cảnh mình Thất Sát (Thân) Tham Lang (Thìn) rất sáng tỏ. Tả Phù, Thiên Mã chỉ nổi bật cái thiên tài cá nhân, không đủ tư thế phò tá Phá Quân nên việc lớn. Phải chăng là vị trí ở Tý đã ngăn cản ông (tuổi Ngọ) thành thân, chỉ thành nhân với tư cách là Phá Quân cư Tý. Nếu có đủ bộ sát tinh đắc địa cũng chưa chắc nên việc, chỉ một giai đoạn nào mà thôi vì Thái Tuế của đối phương đã nghênh ngang một cõi, dầu mắc Kình Dương, Lực Sĩ, chưa hẳn đã hoàn toàn, họ cũng giữ được phần đất để thành cái thế tham phân.
Sống trong thời buổi ấy, người hiểu Quan Vân Trường rõ hơn ai hết có lẽ là Tào Tháo, bằng một lời thán phục đầy thủ đoạn và xác thực nhất trước mặt tất cả thuộc hạ lúc tiễn đưa Vân Trường đi kiếm Huyền Đức:
“Người như Vân Trường tiền tài bất động kỳ tâm, tước lộc cũng không thể đổi ý thay lòng, không quên chủ cũ, đi ở phân minh, quả là một đại trượng phu đời nay vậy”.
Tử vi miếu ở ba cung Sửu, Ngọ, Mùi, không ưa hai cung Thìn Tuất.
Tử vi thuộc âm thổ, là Bắc Đẩu chủ tinh. Trong 14 chính diệu của Đẩu Số, nó là lãnh đạo của các sao, cho nên Cổ nhân gọi là “đế diệu”, ví với hoàng đế. Do ví với hoàng đế, nên Tử vi có đặc tính như sau:
1. Có khí quý phái, có tài lãnh đạo, có phong thái của người ra lệnh. Tài năng lãnh đạo có hoàn mĩ hay không? Mệnh lệnh có chính xác hay không? thì cần phải xem Tử vi ở cung vị nào, và hội hợp với các sao ở tam phương tứ chính cát hung ra sao mới định được.
2. Có lực điều giải, tức là giỏi khống chế và làm thay đổi. Cho nên, Tử vi có thể kềm chế các sao hung hãn như Hỏa tinh, Linh tinh, Kình dương, Đà la, Địa không, Địa kiếp, Hóa Kị. Nhưng lại không tránh được ảnh hưởng của ám tinh Cự môn. Bởi vì, hoàng đế tuy có thể nhiếp phục được quần thần, nhưng lại dễ thích nghe lời sàm tấu, Cự môn giống như nịnh thần hay sàm tấu, có thể gây ảnh hưởng đến sự biểu hiện thanh thế của Tử vi.
3. Có lực khắc chế, là nói đối với hai sao Thất sát và Phá quân. Phá quân giống như tướng soái ở ngoài trận địa, không nhận mệnh lệnh của quân vương, nhưng không có Thất sát thì làm sao tâu báo với Tử vi. Nhưng, "Tử vi Phá quân" đồng cung, cũng có thể biến lực phá hoại của Phá quân thành lực khai sáng.
4. Có lực cạnh tranh, đặc biệt đối thủ càng mạnh thì đấu trí của Tử vi càng mạnh. Nếu như hội hợp với các sao có sự trợ giúp cho lực cạnh tranh như Thiên phủ, Thiên tướng, Hóa Quyền, Hóa Khoa, thì Tử vi càng không dễ nhượng bộ, giống như bậc quân vương lấy xã tắc làm trọng.
5. Có lòng tự tôn, mà còn có tính cách mạnh mẽ, giống như hoàng đế nhất định phải giữ sự tôn nghiêm của bản thân. Cho nên, về tính cách thường có biểu hiện tự cao tự đại, thiện ác tùy tâm. Nếu Tử vi hội chiếu với sát tinh mà không có sao cát, thì dễ kích động theo kiểu: thương thì cho sống, ghét thì cho chết. Nhưng khi ở trong nghịch cảnh, Tử vi lại có thể giấu nỗi khổ trong lòng, không chịu biểu lộ.
Vì Tử vi là “đế diệu”, cho nên rất ưa trăm quan đứng chầu (bách quan triều củng), rất kị quân thần xa lánh (tại dã cô quân). Bách quan và quần thần, là chỉ các sao Tả phụ, Hữu bật, Văn xương, Văn khúc, Tam thai, Bát tọa, Ân quan, Thiên quý, Lộc tồn, Thiên mã, Thiên khôi, Thiên việt. Tuy Tử vi cũng ưa Thiên phủ, Thiên tướng triều củng, nhưng vẫn không bằng cách "Bách quan triều củng". Cho nên Tử vi đóng ở cung Mệnh, được "Bách quan triều củng" thì có thể đại phú đại quý. Còn được cách "Phủ Tướng triều viên" thì chỉ là cách cục không thấp, nếu chỉ mang đặc tính của Tử vi để phát huy mà thôi, thì chưa chắc có thể phú quý.
Nếu không có "trăm quan đứng chầu", mà là "quần thần xa lánh", giả dụ như ngay cả "Phủ Tướng triều viên" cũng không có được cách này, thế thì, giống như vị vua cô độc nơi hoang dã (tại dã cô quân). Lúc này Tử vi sẽ có biểu hiện xử sự thiếu hòa hợp, đây là do sự tôn quý của hoàng đế, vì vậy khác với tư tưởng của người thường.
Sao Tử vi ở trong tình cảnh "Tại dã cô quân", lại gặp Địa không, Địa Kiếp và tứ sát, thì chỉ thích hợp phát huy tư tưởng siêu thoát. Cho nên cổ nhân cho rằng trường hợp này thích hợp làm tăng nhân, đạo sĩ. Nhưng ở thời hiện đại, có thể phát triển thành nhân vật có tư tưởng đặc biệt. Nếu gặp được Tham lang, Thiên tài, hoặc Liêm trinh, thì có khả năng là nghệ thuật gia hoặc nhà thiết kế.
Nhưng nếu Tử vi trong hoàn cảnh "tại dã cô quân" lại gặp các sao Sát, sao Không, còn tương hội với Thái âm, thì trái lại, tư tưởng siêu thoát sẽ không phát huy. Do ảnh hưởng của Thái âm, sẽ biến thành người hý lộng thủ đoạn, thích giở mánh khóe.
Ngoại trừ tam phương tứ chính, Tử vi còn chịu ảnh hưởng của hai cung ở bên trái và bên phải, Tử vi rất ưa Tả phụ Hữu bật giáp cung, kế đến là Văn xương và Văn khúc giáp cung.
Nếu gặp phải Hỏa tinh và Linh tinh giáp cung, hoặc Kình dương và Đà la giáp cung, thì Tử vi có khả năng trở thành bạo chúa, tức là phát huy toàn bộ tính chất xấu của Tử vi.
Tử vi độc tọa
Tử vi độc tọa, ở Tý không bằng ở Ngọ, bởi vì khi Tử vi ở Ngọ là nhập miếu, tài lãnh đạo và lực điều hòa chế hóa đều lớn hơn khi độc tọa ở Tý, vì vậy tài địa và tài phú cũng đều hơn hẳn.
Tử vi độc tọa, ngoài việc ưa “bách quan triều củng” ra, còn ưa Tả phụ, Hữu bật giáp cung mệnh, Văn xương, Văn khúc giáp cung mệnh, Lòng trì, Phượng các giáp cung mệnh, thảy đều làm tăng khí thế và giảm bớt vất vả cho Tử vi.
Nếu là “tại dã cô quân”, còn gặp các sao “Không”, như Thiên không, Địa không, thì thích hợp làm người truy tìm chân lý, thành nhân vật tôn giáo, cũng có thể trở thành nhân vật lãnh đạo. Gặp Hóa cái, tín ngưỡng tôn giáo càng sâu, hơn nữa còn thích tìm hiểu sự việc thần bí.
Tử vi độc tọa mà gặp đủ các sao Phụ, Tá, Sát, Hóa, thì cần phải xét xem các sao cát hung nhiều hay ít thế nào, sức mạnh của chúng ra sao, để định tốt xấu. Thông thường, phần lớn trường hợp đều chủ về có lý tưởng cao nhưng sức mạnh hành động không đủ, cần phải dùng Hậu thiên để bổ cứu cho những nỗ lực thực hiện lý tưởng của sao Tử vi.
Nếu như không có Cát tinh hội hợp mà chỉ gặp Sát tinh, thì dễ cảm thấy “có tài mà không gặp thời”, nên làm việc ở lĩnh vực kinh doanh thương mại. Chỉ cần Sát tinh nhập miếu, mà Sát tinh không nhiều, thì vẫn có thể hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh thương mại mà trở nên giầu có. Tốt nhất là được Hóa Lộc hoặc Lộc tồn hội hợp, dễ giầu có mà còn có địa vị trong xã hội, nhất là, càng dễ phát triển trong giới thương nghiệp. Nếu theo lĩnh vực chính trị, văn hóa, giáo dục, thì trái lại, sẽ gặp nhiều trắc trở bất đắc chí.
Sát tinh nặng, thông thường đều chủ về bất hòa, tranh chấp thị phi. Nhất là gặp phải Kình dương lạc hãm, càng chủ về kiện tụng, hoặc phải phẫu thuật ngoại khoa.
Tử vi độc tọa, cũng ưa Hóa Quyền và Hóa Khoa. Khi Hóa Quyền có thể làm tăng năng lực lãnh đạo và sức cạnh tranh, khi Hóa Khoa thì có danh tiếng, hơn nữa, theo ngành nghiên cứu học thuật để dung hợp các thuyết mà sáng tạo ra cái mới; nhưng đều khiến cho mệnh tạo tăng mạnh tính chủ quan, khó tiếp thu ý kiến của người khác.
Trường hợp Tử vi chỉ gặp một hai sao Sát Kị, thì lại chủ về dễ nghe lời nói xấu, dèm pha, thị phi.
Phàm Tử vi độc tọa, cung đối diện ắt sẽ gặp Tham lang chủ về hiếu sắc, có thêm các sao đào hoa hội hợp thì càng nặng, nếu chỉ hội hợp với Thiên hình thì chủ về tự biết kềm chế, gặp Đà la cũng có thể tự kềm chế.
Trong đại hạn hoặc lưu niên, gặp Tử vi độc tọa tại cung Hạn, cần phải xét kỹ các sao hội hợp để định cát hung. Gặp Cát tinh thì chức vị thăng tiến, thương vụ phát triển, phúc lộc đều hậu hỷ; nếu gặp Hung tinh Địa không, Địa kiếp, sao Hao (Đại hao), thì chủ về kinh tế khó khăn hoặc phá tài; có Sát tinh tương hội chủ về bất hòa, tranh chấp, trong làm ăn dẫn tới đình trệ, trong chức vụ bị giáng chức hoặc bị truất phế.
Tử vi và Phá quân đồng cung
Tử vi ở Sửu hoặc Mùi luôn luôn có Phá quân đồng độ. Đây là kết cấu tinh hệ rất có lực khai sáng. Phá quân vốn là chiến tướng tiên phong, được Tử vi cầm cương điều khiển, lực phá hoại của Phá quân nhờ vậy mà được giảm thiểu, sức sáng tạo trái lại sẽ tăng. Tuy đời người không tránh được vất vả gian khổ, nhưng nhờ có tài lãnh đạo, có tính quyết đoán, nên cũng chủ về trải qua vất vả mà có thành tựu.
Nhưng, lúc Phá quân Hóa Quyền sẽ làm tăng tính chất biến động của Phá quân, vì vậy mà đời người càng thêm biến động thay đổi. Nếu có Tả phụ Hữu bật hội hợp, có thể giảm thiểu vất vả; nếu gặp tứ Sát, thì chỉ thích hợp làm việc trong lĩnh vực kinh doanh thương mại, và cần phải chú ý tính chất sáng tạo cái mới trong kinh doanh.
Nếu Phá quân Hóa Lộc, đồng thời với sự khai sáng là cơ hội kiếm tiền, khiến cho sinh hoạt vật chất được sung túc, để bù đắp những vất vả đã trải qua. Nhưng như vậy, đồng thời tình cảm cũng gặp nhiều tình huống rắc rối khó xử, hơn nữa, sẽ khiến cho mệnh tạo thiên về hưởng thụ nhục dục. Bởi vì lúc này sẽ gặp Liêm trinh và Tham lang đồng độ ở Tị (hoặc ở Hợi), do hội với Phá quân Hóa Lộc mà phát huy tác dụng.
Bất kể Phá quân Hóa Quyền hay Hóa Lộc, cũng chủ về khiến cho mệnh tạo trở thành phú quý, nhưng nếu đồng thời hội hợp với các sao Sát Hình Kị, thì tuy giầu có sung túc, nhưng lại dễ chuốc điều tiếng thị phi. Gặp Kình dương, Thiên Hình, Hóa Kị, còn dễ vướng vào tranh chấp kiện tụng, thích hợp theo binh nghiệp hoặc ngành pháp luật.
Tinh hệ “Tử vi Phá quân” chủ về biến động, bởi vậy trong kinh doanh làm ăn, cần phải chú ý khi cơ hội đến bất ngờ, hơn nữa, có khả năng sẽ đồng thời kinh doanh hai ba lãnh vực có liên quan với nhau, hoặc cùng một thời điểm phải giải quyết hai ba việc. Nếu là nhân viên làm thuê, thì chủ về kiêm ngành, kiêm chức, hoặc làm tăng ca, nhưng nhất định sẽ một mình đảm trách công việc.
“Tử vi Phá quân” đóng ở cung mệnh, là người thẳng thắn, nhưng nếu gặp Hoa cái, thì thích hợp nghiên cứu tôn giáo hoặc triết học.
Có điều, do mệnh tạo hay lo toan nghĩ ngợi vì nhiều biến động thay đổi, lại xét thấy Thiên phủ ở cung Phúc đức chủ về lo toan chu đáo, nên khi gặp các sao Sát, sao Không, sẽ biểu hiện tính tự tư ích kỷ. Cổ nhân nói: "Tử vi Phá quân, làm tôi thần bất trung, làm con bất hiếu" (Tử vi Phá quân, vi thần bất trung, vi tử bất hiếu), còn nói: "Tử vi Phá quân mà không có Tả Hữu đồng cung, là phường quan lại hung ác" (Tử Phá đồng cung vô Tả Hữu, vô cát diệu, hung ác tư lại chi đồ), tức là đã chỉ ra bản tính tự tư ích kỷ và khuynh hướng hay lo toan nghĩ ngợi của mệnh tạo. Nhưng chỉ cần có Cát tinh hội hợp, thì những tính cách không lành này sẽ giảm nhẹ, thậm chí tiêu trừ.
Đại hạn hoặc Lưu niên mà gặp “Tử vi Phá quân” đồng độ, chủ về "khứ cựu canh tân" (bỏ cũ để đổi mới). Được Cát tinh hội hợp, đương nhiên biến động sẽ cát lợi. Nếu gặp Sát tinh, thì nên suy nghĩ kỹ, không được vội vã thay đổi. Nếu Sát tinh và Cát tinh đều có, thì phải xem đến vận hạn sau có cát hay không để quyết định làm hay dừng.
Tử vi và Thiên phủ đồng cung
Hai sao Tử vi và Thiên phủ đồng độ ở Dần hoặc ở Thân. Sao Tử vi là chủ tinh của Bắc Đẩu, tính thích hợp khai sáng. Thiên phủ là chủ tinh của Nam Đẩu, tính lợi về bảo thủ. Cho nên khi hai chủ tinh gặp nhau, không những xung đột “một núi không thể có hai cọp”, mà tính chất còn kềm chế lẫn nhau, như vậy sẽ khó mà phát huy tác dụng. Thông thường, chỉ chủ về thanh cao, thậm chí có khả năng phát triển thành tự sùng bái mình. Kết cấu tinh hệ kiểu này, rất nên theo sự nghiệp giáo dục, làm công chức cũng được, không nên theo nghiệp kinh doanh, nếu không, sẽ có phản ứng sai lầm, hành động không mạng lại hiệu quả tốt cho bản thân, thường đánh mất cơ hội, hoặc khéo quá mà thành vụng.
Khi “Tử vi Thiên phủ” đồng cung, nếu Tử vi Hóa Quyền hoặc Hóa Khoa, thì vầng hào quang của Tử vi càng lớn, khí quý phái càng lớn. Nếu Thiên phủ Hóa Khoa thì chỉ có khuynh hướng giữ uy tín, xem trọng lời hứa, nhưng sẽ quá khiêm cung hiền lành, thiếu năng lực lãnh đạo và khai sáng mọi thứ từ thực tế.
Kết cấu tinh hệ kiểu này, rất nên gặp cách “Lộc Mã giao trì” đến hội hợp, chủ về phú quý song toàn; kế đến là cách “Lộc văn củng mệnh”, tức có Lộc tồn hoặc Hóa lộc và Văn xương, Văn khúc hội hợp, cũng chủ về phú quý; kế đó nữa là các phụ diệu – tá diệu hội hợp và hội chiếu, chủ về quý mà không chủ về giầu có.
Nếu các sao Phụ diệu, Tá diệu không hội hợp, mà có tứ Sát Kình dương, Đà la, Hỏa tinh, Linh tinh, trái lại, sẽ chủ về bên ngoài thì tỏ ra trung thành mà bên trong thì gian trá, phần nhiều hay tráo trở thị phi. Nếu gặp sao Không, hoặc Không vong, là người tầm thường, cô độc, kiếm sống qua ngày.
Nữ mệnh có “Tử vi Thiên phủ”, nếu Tham lang của cung Phúc đức hội hợp với các sao đào hoa Hồng loan, Thiên hỷ, Thiên diêu, Hàm trì, thì rất nên xem trọng sinh hoạt tình cảm. Nếu cung Mệnh có các sao Sát Hình tụ tập, thì có thể làm kế thất, hoặc do quá tự sùng bái mình mà suốt đời không kết hôn.
Cung mệnh của đại hạn, hoặc cung mệnh của lưu niên gặp “Tử vi Thiên phủ” thì cát lợi hơn so với gặp ở cung mệnh nguyên cục, chủ về được quý nhân trợ lực, dễ phát đột ngột. Nếu gặp Thiên khôi, Thiên việt, hoặc lưu Khôi, lưu Việt thì nhờ có thay đổi mệnh lệnh, hoặc nơi làm việc thay đổi chính sách cũng phất lên đột ngột. Trong làm ăn phần nhiều không cầu mà bỗng nhiên gặp may.
Tử vi và Tham lang đồng cung
“Tử vi Tham lang” đồng độ ở Mão hoặc ở Dậu, cổ nhân gọi cách này là “”Đào hoa phạm chủ”, cho rằng chủ về dâm loạn. Cho nên gặp tinh hệ “Tử vi Tham lang” đồng cung, rất kỵ gặp thêm các sao đào hoa Hồng loan, Thiên hỷ, Hàm trì, Đại hao, Thiên diêu, Mộc dục, nếu không, chủ về bản thân dễ mất kềm chế không tự chủ được trước sức hấp dẫn của người khác giới. Nếu gặp thêm Sát tinh sẽ gặp họa vì sắc đẹp. Cho dù không gặp Sát tinh cũng vẫn bị ảnh hưởng đến con đường sự nghiệp.
Nếu Tử vi Hóa Quyền, được “bách quan triều củng”, giống như thiên tử phong lưu ở thời thái bình, chủ về phú quý đa tình. Tử vi Hóa Khoa gặp Cát tinh tuy có danh tiếng, nhưng vẫn thiên nặng về nhục dục và ham muốn vật chất.
Nếu Tham lang Hóa Lộc, chủ về giao tế thù tạc nhiều, thiên nặng về ham muốn vật chất, nhưng lại có tài vận hanh thông. Tham lang Hóa Quyền, ham muốn vật chất cũng nặng, nhưng phải trải qua cạnh tranh mới có được thành tựu. Tham lang Hóa Kị, tuy giảm sắc thái đào hoa, nhưng tài năng và tài nghệ lại rất khó phát huy và phát triển, những ham muốn vật chất khó toại nguyện.
Tử vi đồng độ với Tham lang, ưa gặp Tả phụ, Hữu bật đồng cung, mà không ưa Văn xương, Văn khúc. Nếu gặp Văn xương Văn khúc đồng cung, thì khuynh hướng hấp dẫn người khác giới càng lớn, đồng thời còn chú trọng trang điểm trải chuốt về biểu hiện hình thức bề ngoài hoàn mỹ, cho nên hành sự “giả nhiều mà thực ít”. Nếu gặp Tả phụ và Văn xương, hoặc Hữu bật và Văn khúc giáp cung Mệnh, thì trái lại, sẽ dễ phát huy tài chí, sự nghiệp có thành tựu. Cổ nhân nói: “Tả Hữu Xương Khúc giáp chế”, theo bí truyền của Trung Châu phái, đây là cách nói “giao thoa nhau mà giáp cung mệnh”, bởi vì tinh hệ “Tử vi Tham lang” vĩnh viễn không có khả năng “Tả Hữu giáp mệnh”.
“Tử vi Tham lang” mà gặp Sát tinh, chỉ nên hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh thương mại, nhưng Sát tinh nặng cũng có thị phi, tranh chấp. Nếu lại gặp sao Không và Hoa cái, trái lại, sẽ sinh nhai bằng nghiệp hoạt động tôn giáo.
Nữ mệnh có “Tử vi Tham lang”, gặp đào hoa và Sát tinh, dễ rơi vào chốn phong trần. Kị nhất là gặp sao Kình dương, khi các sao đào hoa tụ tập, thì nguy cơ rơi vào chốn phong trần càng lớn, đồng thời cũng vì vậy mà ham muốn vật chất có khuynh hướng trụy lạc. Khi cung mệnh an tại Dậu, phải mượn tinh hệ “Tử vi Tham lang” ở Mão để an cung, thì càng cần phải chú ý.
Cung mệnh của lưu niên, hoặc cung mệnh của đại hạn mà gặp tinh hệ Tử vi Tham lang, tính chất đào hoa sẽ nhẹ hơn khi gặp ở cung mệnh nguyên cục. Thông thường, nếu hội hợp với các Cát tinh chủ về ít có sự biến động thay đổi nhưng lại khó tiến bộ, nếu hội hợp với các Sát tinh mà không gặp các sao Hình Kị thì lại có thể tiến bộ. Còn khi các Sát tinh hội tụ lại gặp thêm các sao Hình Kị, chủ về vì sắc mà phá tài, chuốc họa, hoặc vì thù tạc mà chuốc điều tiếng thị phi.
Tử vi và Thiên tướng đồng cung
“Tử vi Thiên tướng” đồng độ ở Thìn hoặc ở Tuất, biết rằng Tử vi là đế diệu, Thiên tướng là sao “ấn”, thoạt nhìn có vẻ là một kết cấu rất lý tưởng, nhưng khi hai sao này đồng cung, thì lại vì Phá quân ở cung đối diện xung chiếu mà thay đổi tính chất. Đây là một ví dụ, mà Trung Châu phái xem trọng đặc tính của toàn bộ kết cấu các tinh hệ trong mệnh bàn.
Tinh hệ “Tử vi Thiên tướng” rất ưa được Lộc tồn hội chiếu, có thể giầu có, nhưng thành kiến chủ quan cực nặng, mà còn thích tranh quyền, nên dễ bị nhiều người không chấp nhận mà gây áp lực chèn ép, nặng hơn còn bị loại bỏ. Nếu không có Lộc tồn và Tử vi Hóa Quyền, thì tính thích tranh quyền càng diễn biến kịch liệt; nếu không có Lộc tồn mà Tử vi Hóa Khoa, tính thích tranh quyền tuy có giảm, nhưng lòng tự tôn và trọng danh dự càng nặng nề, dễ bị người ta úy kị.
Nếu tinh hệ “Tử vi Tham lang” không gặp cát hóa Lộc Quyền Khoa, thì tinh hệ này ưa được “bách quan triều củng”, không ưa các sao Sát Kị hội hợp. Nếu được Tả phụ, Hữu bật, Văn xương, Văn khúc hội chiếu, thì sự nghiệp có thể thành tựu, tính tình ôn hòa nhân hậu chủ về kiêm nhiệm chức danh lãnh đạo. Nhưng vì ảnh hưởng của Phá quân ở cung đối diện xung chiếu, nên trong đời người ắt phải trải qua một lần sóng gió, trắc trở.
Nếu không gặp Cát tinh, mà có tứ Sát hội hợp, thì lấy trường hợp Kình dương, Đà la là khá tốt, thích hợp hoạt động trong lĩnh vực thương mại. Nếu gặp Hỏa tinh Linh tinh, do Tử vi phải hao phí sức lực hóa giải nên tăng thêm vất vả, gian khổ. Giả dụ như gặp Hỏa tinh, Linh tinh, mà còn gặp thêm Địa không, Địa kiếp, Thiên Hình, chủ về gặp bất hạnh, tinh thần bị kích thích mạnh, hoặc mắc bệnh tim. Phàm tinh hệ Tử vi Thiên tướng thủ mệnh, dù không gặp Sát tinh, cũng nên chú ý sức khỏe tim mạch, nên chăm sóc sức khỏe tinh thần.
Nếu có nhiều Sát tinh hội hợp, chủ về phát triển một cách nhanh chóng rồi suy sụp cũng rất nhanh chóng, có những ứng xử biểu hiện vô tình vô nghĩa. Nếu có thêm Cát tinh tương hội, chủ về đời người trải qua nhiều sóng gió trắc trở, cuộc đời có bước ngoặt đặc biệt, hoặc gặp bất hạnh bất ngờ. Nhưng trong ngẫu nhiên vô tình vẫn có biểu hiện vô tình lạnh nhạt.
Nữ mệnh gặp tinh hệ “Tử vi Thiên tướng”, cần chú ý quan tâm đến sinh hoạt tình cảm, đồng thời phải lưu ý đến đặc tính “vô tình vô nghĩa” của tinh hệ này mà biết tự mình kềm chế bản thân, thì mới được hưởng cuộc sống an lành, tuy nhiên trong tình yêu ắt khó tránh được cảnh sóng to gió lớn.
Cung mệnh của lưu niên, hoặc cung mệnh của đại hạn có tinh hệ Tử vi Thiên thướng, nếu gặp các sao Sát Kị, ắt sẽ bị nhiều trở ngại rồi sinh lòng thay đổi, như mong muốn thay đổi việc làm nhưng lại không được. Gặp Cát tinh thì vận hạn thuận lợi toại ý, sự nghiệp có thành tựu.
Tử vi và Thất sát đồng cung
Tử vi và Thất sát đồng độ ở Tị hoặc Hợi. Tử vi là đế diệu, Thất sát là tướng tinh, hai sao này mà đồng cung, có uy thế không ai so bì được. Cho nên chủ về giầu tính khai sáng, hơn nữa, còn có tư tưởng độc đáo.
Thông thường, tinh hệ “Tử vi Thất sát” có thể xem là tượng trưng cho quyền lực, cho nên Tử vi không nên Hóa Quyền, vì khi Tử vi Hóa Quyền chủ về có lòng ham muốn quyền lực quá cao, có biểu hiện “khí bá đạo”, khiến cho cộng đồng làm việc xa gần rất khó chấp nhận.
Tinh hệ “Tử vi Thất sát” rất cần các Cát tinh hội chiếu. Như có Tử phụ, Hữu bật, Văn xương, Văn khúc, Lộc tồn, Thiên mã hội hợp, khi được những Cát tinh này hội hợp, thì tính cương dũng của Thất sát có đất dụng võ, đây là cái gọi là “hóa sát làm quyền” của cách cục này. Nhưng, giả dụ không có những Cát tinh hội chiếu, thì cách cục này giống như “anh hùng thảo dã biến thành giặc cướp”, khó tránh khỏi có những biểu hiện “tàn nhẫn bá đạo”, chủ về phát triển lên một cách nhanh chóng, rồi suy sụp cũng rất nhanh chóng.
Nếu như không có những Cát tinh, mà còn có Sát tinh hội hợp, thì khó tránh được “hình thương, khắc hại”.
Nữ mệnh gặp tinh hệ “Tử vi Thất sát”, nếu gặp Sát tinh, tuy có cơ hội thay đổi nhưng lại khó được như ý nguyện. Nếu có Cát tinh tụ hội thì phải chấp nhận trải qua sự biến động thay đổi, thì mới có được ích lợi.
Thuộc tính âm dương ngũ hành của sao Tử vi là âm thổ, là Bắc Đẩu Đế tọa, trung tâm của các vì sao, hóa khí là tôn quý chủ cung Quan lộc. Tại số chuyên quản về chức tước và bổng lộc, có khả năng giải ách (tiêu trừ tai ách, biến hung thành cát), kéo dài tuổi thọ (nếu vận hạn gặp được Tử vi thì có thể duy trì được bình an, tăng thêm độ tốt lành), có khả năng chế hóa (có khả năng chế phục và hóa giải hung tính của các sát tinh), có sức mạnh bao dung che chở, xuất hiện tại cung nào cũng có khả năng tạo phúc trừ tai, tiêu trừ mọi hung hại.
Tử vi tuy là sao Đế Tọa địa vị tôn quý, nhưng lại không nên đứng một mình chẳng khác gì vị vua cô độc trên ngai vàng, thiếu tôi hiền trợ giúp dễ trở nên độc đoán chuyên quyền, khiến gian thần tiểu nhân thừa cơ, kẻ dưới phạm thượng, nên khó phát huy được uy lực mà dễ suy yếu, có tài năng nhưng không có đất dụng võ, hay dùng kiến giải nghiệp dư để chỉ đạo người chuyên nghiệp.
Tử vi ưa Tả phụ Hữu bật phò tá, gặp Thiên tướng, Văn xương, Vũ khúc tùy tùng, gặp Thiên khôi Thiên việt truyền lệnh, gặp Thái dương Thái âm phân chức, gặp Lộc tồn Thiên mã để quản tước vị, gặp Thiên phủ cai quản kho tàng. Nếu được những Cát tinh trên đồng cung, hoặc nằm tại cung tam phương tứ chính ứng chiếu lẫn nhau, sẽ tạo thành cách Quần thần khánh hội là cách rất tốt. Uy lực của Tử vi có thể khắc chế Hỏa tinh Linh tinh thành thiện, có thể giáng Thất sát làm quyền. Khi Tử vi gặp hung tinh, tuy hóa cát nhưng vô đạo.
Sao Tử vi (cực) nằm tại cung Ly (ngọ), không bị sát tinh xung phá là cách Cực hướng Ly minh địa vị phú quý đến hàng công khanh. Hai sao đế là Tử vi và Thiên phủ nếu đồng cung, hoặc tại cung đối nhau chầu về cung Mệnh là cách Tử Phủ đồng cung chủ về một đời giầu có. Nếu Tử vi hoặc Thiên phủ miếu vượng nằm tại cung Mệnh, tam phương tứ chính lại gặp cát tinh là cách Tử Phủ triều viên tước lộc dồi dào.
Ca quyết:
Tử vi nguyên thuộc thổ, Quan lộc cung chủ tinh
Hữu tướng vi hữu dụng, vô tướng vi cô quân
Chư cung giai giáng phúc, ngộ hung phúc tự thân
Văn xương phát khoa giáp, Văn khúc thụ hoàng ân
Tăng đạo hữu sư hiệu, khoái lạc độ xuân thu
Chúng tinh giai củng chiếu, vi lai hiệp công bình
Nữ nhân hội Đế tọa, ngộ cát sự quý nhân
Nhược dữ đào hoa hội, phiêu lãng lạc phong trần
Kình dương Hỏa Linh tụ, thử thiết cẩu thâu quân
Tam phương hữu cát củng, phương tác quý nhân bình
Nhược hoàn vô Phụ Bật, chư ác cộng khí lăng
Đế vi vô đạo chủ, khảo cứu yếu chi nhân.
SAO TỬ VI TỌA THỦ CUNG MỆNH
Dung mạo và tính cách
Người có sao Tử vi tọa thủ tại cung Mệnh, thường có sắc mặt mầu vàng tía, người to béo, tướng mại hiền hậu điềm đạm, ánh mắt trong và sáng. Mệnh nam thì vai rộng lưng dày, rắn rỏi uy nghiêm; mệnh nữ thì đôn hậu thanh tú, phúng phính đãy đà, khoan thai quý phái.
Tính cách liêm chính ngay thẳng, trung hậu thật thà, bên ngoài cứng rắn bên trong yếu mềm, có lòng tự trọng tự ái, tâm địa lương thiện, có lòng nhân hậu hay nghĩ cho người khác, có khí chất tôn quý, có tính kiêu ngạo, thích phân minh rõ ràng. Có tinh thần trách nhiệm, thích hư vinh, đa nghi, thiếu chủ kiến, tự tin giỏi biện luận lại thường hiếu thắng, tâm địa khá hẹp hòi, thích chiếm hữu, dễ làm việc theo cảm tính tùy thuộc vào mong muốn bản thân. thường tự cảm thấy tủi thân mà dễ tự tìm đến phiền muộn. Thông minh học rộng, năng lực quản lý tài chính giỏi, có khả năng lãnh đạo. Làm việc chăm chỉ, nhiệt tình thích cầu toàn.
Nữ giới có sao Tử vi nhập vào cung Mệnh, ngoài có tiền đồ còn có dung mạo xinh đẹp, da dẻ mịn màng, khí thái đoan trang, được giáo dục tốt, là mẫu người phụ nữ vợ đảm mẹ hiền điển hình. Đa phần có được người bạn đời có địa vị cao trong xã hội, hưởng cuộc sống hành phúc về cả vật chất lẫn tinh thần. Nếu gặp thêm cát tinh là người vợ giúp chồng, nuôi con giỏi.
Suy đoán mệnh lý
| Tử vi + 3 Thất sát = 0 |
Tử vi + 4 |
Tử vi + 4 Phá quân + 3 |
Tử vi + 3 Thiên phủ + 2 |
| Tử vi + 2 Thiên tướng + 2 |
Tử vi + 3 Tham lang + 1 |
||
| Tử vi + 3 Tham lang + 1 |
Tử vi + 2 Thiên tướng + 2 |
||
| Tử vi + 3 Thiên phủ + 4 |
Tử vi + 4 Phá quân + 3 |
Tử vi = 0 |
Tử vi + 3 Thất sát = 0 |
Độ sáng của sao Tử vi tọa thủ 12 cung
Chữ số trong bảng biểu thị độ sáng của sao Thiên phủ.
Mối quan hệ của chúng như sau:
- Miếu = + 4
- Vượng = + 3
- Địa = + 2
- Lợi = + 1
- Bình hòa = 0
- Không đắc địa = - 1
- Hãm địa = - 2
Sao Tử vi tuy là Đế tọa phú quý, có khí thể độc tôn, quyền uy cao ngất, là chúa tể của các sao, nhưng khi tọa thủ tại cung Mệnh thì không nhất định là thể hiện phú quý vinh hoa, còn phải xem xét cát - hung của các sao trong cung và các cung bên cạnh, cung đối diện, và cung tam phương hội hợp với cung này.
Sao Tử vi không thích hợp tọa thủ một mình. Khi Tử vi đơn thủ độc tọa một mình, thì cũng giống như vị vua đơn độc không có hiền thần phò tá, lại làm việc không có chủ kiến, thường bó buộc trong vỏ bọc tôn quý, dễ bị gian thần tiểu nhân làm hại, dễ độc đoán chuyên quyền, về tinh thần không tránh khỏi cô độc, nếu không biết biến thông thì khó tránh khỏi gặp trở ngại tai ương.
Người có sao Tử vi tọa thủ ở cung Mệnh, thích người khác tiếp thu ý kiến của bản thân, thích ra lệnh, thường đưa ra kiến nghị cho người khác, dễ có hiềm khích. Do sao Tử vi có khuynh hướng duy trì địa vị tôn quý của mình, luôn hy vọng được người khác tôn trọng và thừa nhận, vì vậy tính tình thường kiên định, đòi hỏi cái "tôi" khá cao, làm bất cứ việc gì đều rất nghiêm túc, có khả năng cải tiến đi lên, đồng thời có tính cầu toàn, thích thể hiện phô diễn mặt tốt đẹp của bản thân ra ngoài, luôn hy vọng vào khả năng nỗ lực trong tương lai của những người xung quanh, để thể hiện vai trò vị chúa tể, nên thường tự độc tôn quyền uy ở một phương diện nào đó. Sau khi thành danh, tất tiếp tục khẳng định cái "tôi", nếu chuyên về tri thức hoặc kỹ thuật đặc thù, lấy hiện trạng đột phá, đồng thời biết tiếp thu ý kiến của bạn bè, duy trì bản năng có lòng hiếu kỳ với bất kỳ sự việc nào, tất có vận may được hiển đạt lớn, nếu không, sẽ dễ đi theo khuynh hướng hư danh.
Sao Tử vi hợp nhất khi có thêm 6 cát tinh phò tá, cũng hợp với cát tinh như Thiên phủ, Thiên tướng, Thái dương, Thái âm, Lộc tồn, Thiên mã, hoặc gặp được sự hỗ trợ trong cùng một cung, như vậy mới có thể phát huy được uy lực chân chính của Đế tinh.
Suy đoán cát - hung của sao Tử vi tọa thủ cung Mệnh, cũng phải đồng thời xem xét Tam thai, nếu cung vị của sao Tử vi là "trung thai", thì trước nó một cung là "thượng thai", sau nó một cung là "hạ thai". Các sao Tham thai đều là Cát tinh của miếu, vượng, thì mọi việc hanh thông. Nếu các sao của Tam thai đều là Hung tinh rơi vào thế hãm địa thì mọi việc không như ý.
Giường là đồ vật vô cùng quan trọng trong cả cuộc đời con người, con người có khoảng 1/3 thời gian gắn bó với giường, cho nên việc chọn được một chiếc giường ngủ tốt sẽ rất quan trọng đối với sức khoẻ. Khi chọn giường cần chú ý những vấn đề sau:
Thứ nhất, tránh giường quá cao. Giường quá cao tuy sạch sẽ và sang trọng nhưng nó dễ gây hại cho người sử dụng, đặc biệt là với người già, giường quá cao lên xuống khó khăn, đêm thức dậy dễ bị ngã.
Hat là tránh giường quá thấp. Giường quá thấp tuy có thể thuận tiện cho việc lên xuống nhưng thông gió cho giường lại kém, hơn nữa giường thấp sẽ dễ tiếp xúc và hút khí ẩm từ nền nhà lên gây bệnh tật cho cơ thể.

Ba là tránh đệm giường quá mềm. Giấc ngủ có ngon hay không chủ yếu phụ thuộc vào độ cứng mềm của đệm giường. Theo phân tích, khi người nằm ngửa, độ cong gập của xương sống lưng ở khoảng 2~3cm là thích hợp nhất, độ cong gập không phù hợp vừa ảnh hưởng đến giấc ngủ vừa ảnh hưởng đến sự phát triển hình dáng cơ thể. Đệm giường tốt là phải có đủ các đặc điểm là hợp với trọng lượng các bộ phận cơ thể, tính thấu khí tốt, chống được ẩm và giữ được nhiệt.
Đệm trải giường quá mềm sẽ làm tăng độ cong gập sinh lý bình thường của xương sống lưng, làm cho xương phát triển biến dạng mà đặc biệt ở người trẻ tuổi, khi cơ thể còn chưa phát triển hoàn chỉnh, càng phải tránh dùng đệm giường quá mềm, nên chọn dùng đệm cứng một chút.
Bốn là tránh đệm quá cứng. Đệm giường quá mềm là không tốt nhưng quá cứng cũng không tốt cho cơ thể. Đệm quá cứng sẽ ảnh hưởng đến giấc ngủ, không những bất lợi cho việc làm tiêu giảm mệt mỏi, mà trái lại còn gây mệt mỏi hơn.
Năm là tránh giường quá hẹp. Mặt giường nằm phải có độ rộng thích hợp, giường đơn rộng trên 70cm là hợp lý. Giường quá nhỏ tuy tiết kiệm được không gian nhưng sẽ làm cho người ngủ cảm thấy gò bó, khó chịu, mục đích nghỉ sẽ không đạt được. Hơn nữa giường hẹp khi ngủ rất dễ bị ngã.
Sáu là tránh giường quá ngắn. Yêu cầu đầu tiên đối với giường ngủ là phải đủ kích thước, phải đủ độ rộng và độ dài cần thiết. Người cao nằm giường ngắn, người béo nằm giường hẹp sẽ thấy gò bó khó chịu. Theo ý kiến các chuyên gia, ban đêm khi ngủ con người thường phải trở mình hơn 20 lần, giường ngủ nhỏ sẽ không có lợi cho sự co duỗi cơ thể, gây mỏi mệt sau khi ngủ dậy. Thông thường, chiều dài giường ngủ phải hơn chiều cao cơ thể 15cm, chiều rộng thích hợp là khi nằm thắng người đọc theo giường, hai lòng bàn tay đặt sau gáy cổ, hai khuỷu tay trải ra vẫn nằm gọn trong lòng giường.
Theo luận giải tử vi 12 con giáp, các chàng trai cô gái tuổi Mùi thường có tính cách ôn hòa, bình lặng, dễ được người khác yêu quý. Cũng vì vậy, khi ở cạnh họ, bạn không nên có những hành động hoặc cử chỉ thái quá. Có như vậy, tình yêu của 2 bạn mới bền chặt.
Người tuổi Mùi không coi trọng hình thức và các yếu tố vật chất. Họ ưa thích sự dịu dàng và chân thành. Do đó, hãy chinh phục người tuổi này bằng tấm lòng chân thành và tình cảm sâu sắc của bạn.
|
Những cô gái đầy nữ tính, luôn cần được che chở, bảo vệ là mẫu phụ nữ ưa thích của chàng trai tuổi Mùi. Chính sự nhu mì, hiền thục của bạn khiến chàng dễ dàng cởi mở tấm lòng. Cũng bởi vậy, họ không bao giờ để mắt đến những cô gái có tính cách bạo dạn như nam giới.
Các cô gái tuổi Mùi thường rất dịu dàng, lương thiện và nhẫn nại. Vì vậy, họ thích đàn ông có trái tim nhiệt tình, chân thành. Bạn cần cố gắng quan tâm đến họ cả trong công việc lẫn cuộc sống. Đó là hành động ghi điểm rất hiệu quả để cô gái tuổi Mùi cảm nhận được tấm lòng và tình yêu thương của bạn.
Mời bạn đọc tham khảo thêm bài viết: Người tuổi Mùi hợp với tuổi nào trong tình yêu và hôn nhân?
(Theo Bách khoa thư 12 con giáp)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Nhiều người nghĩ cửa cổng không quan trọng trong nội thất ngôi nhà? Điều này là hoàn toàn sai lầm bởi cửa cổng không chỉ trang trí cho ngôi nhà mà còn đáp ứng sự an toàn cho công trình đó.
Kích thước cửa cổng có ý nghĩa rất quan trọng, ảnh hưởng đến thẩm mỹ cũng như phong thủy của ngôi nhà. Dân gian ngày xưa hay nói “Nhà cao cửa rộng”, nếu nhà cao thì cửa phải rộng mới phù hợp tương ứng. Tuy nhiên không phải cửa cổng rộng hay cao bao nhiêu cũng là tốt, mà nếu cao quá hay rộng quá thì lại không tốt mà ngược lại còn xấu.

Nội dung
Thiết kế cửa cổng đầu tiên cần lưu ý sinh khí trước tiên theo cổng luân chuyển qua sân, vào nhà qua cửa chính và các cửa phụ. Vì thế, có thể xem cổng là lối vào đầu tiên của khí, đồng thời là bộ mặt của ngôi nhà, và cũng là tấm bình phong phân chia không gian trong và ngoài. Những nguyên tắc phong thủy sau đây sẽ giúp bạn thiết kế cho ngôi nhà thân yêu của mình một cổng rào hài hòa về ngoại hình và hòa hợp với không gian xung quanh.
Để chọn kích thước cửa cổng phải căn cứ theo thước Lỗ Ban để chọn kích thước tốt. Tuy nhiên cần lưu ý thêm là nếu chọn theo Lỗ Ban đã được kích thước tốt thì 2 kích thước: chiều rộng, chiều cao phải là âm – dương (Dương là số lẻ, Âm là số chẵn) thì sự phối hợp mới cát tường, “phúc lộc vĩnh trinh”. Chỉ một kích thước dương hay một kích thước âm thôi thì rơi vào “Cô Âm Bất Sinh, Độc Dương Bất Trưởng”.
Nếu hướng trổ cửa cổng mà có sao xấu chiếu tới trong vận đó (1 vận kéo dài 20 năm) mà không thể thay đổi hướng thì tốt nhất cửa cổng nên có kích thước nhỏ. Ngược lại cửa có sao tốt chiếu tới thì nên để kích thước cao rộng. Để cho khí xấu vào ít, mà khí tốt thì vào nhiều. Muốn biết cửa nào có sao xấu, tốt chiếu là căn cứ vào trạch vận phi tinh bàn của căn nhà đó.
Vị trí cửa cổng hoàn toàn phụ thuộc vào Phi Tinh và đo đạc mạch đất: có những mạch đất tốt khi người ra vào đạp lên thì vui vẻ, sảng khoái; còn mạch đất xấu khi ra vào mà đạp lên thì tâm trạng nóng nảy, bực dọc, khó chịu, chứ không nhất thiết phải đặt vào chính giữa. Do đó việc xây dựng các công trình lớn đòi hỏi xem xét về Huyền Không và Địa Lý, để tìm người biết được những kiến thức này không hề dễ, mà các kiến trúc sư càng không nắm rõ vì trong trường kiến trúc chỉ dạy những điều căn bản của phong thủy; Muốn tìm hiểu mạch đất, tầng địa chất dĩ nhiên là không dễ, nên môn này rất kén người để truyền thụ.

Khi đã tính toán được vị trí đặt cửa cổng thì phải cố gắng đặt cửa trong 1 vị trí 1 sơn mà thôi. Không nên đặt cửa quá hẹp thì không thu nạp được khí tốt; còn nếu cửa cổng quá rộng thì khí vào nhà sẽ bị tạp loạn, lai nhiễm vừa xấu vừa tốt nên dẫn đến mặc dù đặt tại nơi tốt, đón khí tốt nhưng cửa, cổng cũng đồng thời đón cả khí xấu. Cách xác định là vẽ sơ đồ căn nhà theo đúng tỷ lệ mà áp lên la bàn để xem kích thước cửa có phù hợp hay nằm trong 1 sơn không. Tâm điểm la bàn chính là trung cung nhà.
Nếu kích thước hay vị trí đặt cửa cổng không đúng có thể bạn sẽ không cảm thấy tài lộc hay sức khỏe bị ảnh hưởng nhưng dứt khoát con người sống trong nhà đó sẽ sinh ra bần tiện, hung ác, nhỏ mọn, hay ghen ghét, đố kỵ, tham lam, … Đây cũng là yếu quyết trong nghề khi xem xét nhà có nhân đinh xấu.
Thiết kế cổng luôn phải phù hợp với kích thước của nhà chính. Sự cân đối, hài hòa giữa các yếu tố luôn là nguyên tắc bất di bất dịch của phong thủy. Nếu cổng quá lớn, quá rộng sẽ khiến khí bị phân tán. Ngược lại cổng quá nhỏ sẽ không tiếp đủ khí cho ngôi nhà.
Ngoài kích thước, cần quan tâm nhiều đến vị trí đặt cổng, kiểu dáng cũng như đường dẫn từ cổng vào nhà. Cổng tốt phải đặt ở vị trí sinh vượng, “khí trường” được dẫn dắt để vào một không gian nào là do sự dịch chuyển của các luồng giao thông do con người tạo nên. Vì vậy, bạn phải lưu ý hướng di chuyển từ đường vào cổng nhà sao cho việc đi đứng thuận lợi nhất, tránh được những xung sát từ bên ngoài như góc nhọn của nhà đối diện, đối diện cột điện, cây cổ thụ, các hướng giao thông giao cắt bất lợi khi bạn ra vào nhà.
Cũng không nên thiết kế cửa cổng quá “kín cổng cao tường”, nên chừa những khoảng hở giúp không khí lưu thông tốt, tránh tù hãm. Không nên trồng nhiều loại cây um tùm che kín cổng và nên lưu ý chặt tỉa bớt cây cối xung quanh để cổng luôn rộng rãi, sáng sủa.
Cần dẹp bỏ những thứ gây cản trở lối ra vào như cây cối, cột, vách tường… Những thứ này có thể cản trở vận khí, tài lộc và sức khỏe của người sống trong nhà. Tuy nhiên, cây cối ở khoảng cách an toàn với ngõ lại thuận tiện cho việc bảo vệ cửa nhà. Tạo minh đường sáng sủa là nguyên tắc vàng giúp khí lưu thông vào nhà được tốt hơn.

Đường từ cổng vào nhà phải cân đối với cổng. Nếu lối đi chật hẹp hoặc bị cây cối rậm rạp che khuất tầm nhìn thì vận khí vào nhà ít hoặc bị mất cân bằng. Trong trường hợp này, có thể khắc phục bằng cách mở rộng lối đi hoặc không trồng những cây to, rậm rạp gần ngõ.

Nếu nhà nằm trên triền dốc hoặc nền nhà chính cao hơn mặt sân thì ngõ vào phải có bậc tam cấp và không được thiết kế quá dốc, bởi bậc tam cấp hẹp và dốc thì gia chủ khó giữ được tiền bạc. Chiều cao của một bậc tam cấp cao nhất chỉ khoảng 17cm.
“Trực lai trực khứ tổn nhân đinh”, đây là nguyên tắc vàng cho việc chọn nhà, xây nhà cũng như thiết kế các phân luồng giao thông cho nhà ở. Đến thẳng, đi thẳng gây hại người hại của là do các luồng trực xung quá mạnh, không phù hợp với nhịp sinh học của con người.
Việc thiết kế đường dẫn từ cổng rào vào nhà cũng phải đảm bảo nguyên tắc này, đường đi vòng cung hay uốn lượn nhẹ nhàng từ cổng vào đến cửa nhà sẽ tránh tạo ra xung sát.
Nếu bạn chọn phong thủy Bát Trạch, hướng thuận theo cung mệnh của chủ nhà, gia chủ sẽ thuộc Tây Tứ Mệnh, nên mở cổng tương ứng bốn hướng Tây, Tây Bắc, Tây Nam và Đông Bắc. Gia chủ Đông Tứ Mệnh thì mở cổng thuộc các hướng Bắc, Đông, Đông Nam và Nam. Vị trí cổng mở xét từ bên trong khu đất nhìn ra nên tránh bố trí thẳng với ngã ba, tránh dẫn lối “trực xung” với cửa cái của nhà.
Nếu bạn chọn hướng mở cổng theo Dương Trạch tam yếu thì hướng cổng cùng nhóm Đông Tứ Mệnh hay cùng Tây Tứ Mệnh với cửa, phòng chủ nhà và hướng bếp, còn bạn chọn hướng cổng theo trường phái Huyền Không phi tinh thì chọn hướng có sao sinh vượng trên tinh bàn. Dù bạn chọn mở hướng cổng theo trường phái phong thủy nào thì cũng nên chọn chính phương, chính hướng để tránh tạp khí.
Chung cư được xem là giải pháp hữu hiệu trong thời buổi “đất chật người đông” tuy nhiên làm sao lựa chọn một căn hộ hài hòa được giữa cả túi tiền của mình với những tiêu chí lý tưởng là một điều không dễ. Sách Phong thủy cho người mua nhà đưa ra một vài tiêu chí quan trọng cần lưu ý cho bạn trong quá trình lựa chọn.
1. Chung cư phải có tầm nhìn tốt
Chung cư như một ngôi nhà lớn có nhiều phòng, nhiều tầng. Ngôi nhà ấy cần có được các thuận lợi về phong thủy như hướng tốt, đón gió mát, tránh nắng gắt, có khoảng lùi tương xứng với đường giao thông để giảm xung sát bên ngoài xâm nhập vào không gian căn hộ.
2. Chung cư phải có minh đường rộng rãi
Minh đường là bộ phận quan trọng trong phong thủy. Một khu đất không có minh đường dù có nhiều đặc điểm đẹp thì cũng kém tốt.
Chung cư nên có khu đất trống phía trước mặt làm minh đường. Ảnh minh họa.
Đối với các tòa chung cư, minh đường được tính là những khu vực trống ở trước mặt. Đó có thể là các khu vực cây xanh, công viên nhỏ và lý tưởng nhất là hồ nước làm chỗ vui chơi, nghỉ ngơi cho cư dân, đồng thời là khoảng lùi, tạo tầm nhìn tốt cho người bên ngoài khi tiếp cận. Đây là một tiêu chí quan trọng khi lựa chọn chung cư làm nơi sinh sống.
3. Chọn hướng mặt quay về Nam hay Đông Nam
Hướng của một tòa chung cư là hướng thẳng góc với mặt cửa ra vào chính của chung cư chứ không phải hướng cửa các căn hộ. Ở nước ta, một chung cư đẹp thường có mặt dài quay về hướng Nam hoặc Đông Nam sẽ đón được gió mát và ánh sáng ổn định. Các cạnh ngắn quay về hướng xấu sẽ giúp cho các căn hộ bên trong giảm thiểu được ảnh hưởng của nắng gió tây và gió nóng.
4. Tránh ban công cửa sổ quay về hướng Tây
Đối với những chung cư bị phơi mặt dài ra hướng Đông, Tây, sẽ có hàng loạt ban công và cửa sổ căn hộ bị nắng chiếu gay gắt bất lợi cho người ở. Vì vậy khi chọn căn hộ chung cư điều lưu ý đầu tiên là hướng ban công và cửa sổ có bị nắng chiếu hay không và giải pháp che năng như thế nào?
Khi các dãy chung cư nằm kề nhau cần chú ý đến độ lệch của các khối nhà để không cản gió và che khuất tầm nhìn. Căn hộ tốt là căn hộ có cửa sổ các phòng quay mặt ra hướng tốt, có những điều kiện môi sinh hợp với gia chủ. Những chung cư cũ dùng kiểu hành lang giữa kéo dài thường rất hay bị tối tăm và gió lùa. Chú ý cửa sổ của các căn hộ không nên nhìn vào cửa sổ căn hộ khác mà nên chọn cửa sổ nhìn được ra cảnh quan bên ngoài.
5. Không chọn căn hộ có phòng ngủ bị nắng chiếu gay gắt
Nếu phòng ngủ có cửa sổ trổ về hướng nắng chói chang chắc chắn bất lợi cho gia chủ. Nên dùng hệ cửa chớp nghiêng hoặc màn sáo để cản quang (không nên lắp kính màu đậm, bít bùng sẽ tạo nên hiệu ứng tích nhiệt).
Đối với các căn hộ ở trên cao, nhiều mặt thoáng nắng chói và gió mạnh, giải pháp dùng rèm, nan chớp hoặc bình phong là tốt nhất cho cửa.
Dùng những khung cửa không có cánh hoặc sắp xếp đồ vật tạo nên các lối dẫn khí cũng là một giải pháp tốt trong điều kiện căn hộ diện tích nhỏ.
6. Kị từ hành lang nhìn thẳng vào căn hộ
Rất ít chung cư có bố trí Huyền quan, vì vậy từ bên ngoài hành lang vào tòa nhà, thẳng với cửa vào căn hộ, có thể nhìn thấy toàn bộ gian phòng khách, thậm chí cả bếp và phòng ngủ bên trong. Theo phong thủy, điều này tối kị vì nó dễ gây nên sự hao tán về tài lộc và bất an cho gia chủ.
7. Tránh những góc nhọn các công trình chĩa vào căn hộ
Nếu căn hộ có cửa sổ hoặc ban công bị góc nhọn của một công trình nào đó xung quanh chĩa thẳng vào thì đây là một điều xấu. Theo quan niệm phong thủy, những góc nhọn đó sẽ tạo ra xung sát gây tác hại lên sức khỏe và tài vận của gia chủ sống trong căn hộ.
8. Xem xét sự sắp xếp bên trong căn hộ
Do diện tích thường bị hạn chế mà hầu như nhà nào cũng cần ít nhất 2 phòng ngủ riêng biệt, nên các phòng ngủ bị chia nhỏ, cửa vào phòng thường được bố trí rất gần nhau hoặc đối diện nhau. Trong các phòng ngủ, nhà vệ sinh thường được thiết kế khép kín trong phòng và cửa nhà vệ sinh thường đối diện ngay với giường ngủ.
Theo thuật phong thủy, các cửa xung chiếu hoặc liền kề gây nên sự hỗn loạn về khí, chủ về sự bất an hoặc những thị phi rắc rối. Cửa nhà vệ sinh chiếu vào giường ngủ gây nên những tổn hại về sức khỏe.
Nhà vệ sinh là nơi thủy khí, uế khí tích tụ lại, có ảnh hưởng không tốt cho sức khỏe, chịu ảnh hưởng mạnh nhất là những người mệnh Hỏa vì Thủy khắc Hỏa.

Tỵ Hợi lại thuộc tứ mã tượng biến động nên Thiên Lương ở đây hãm địa, ứng với sự buông thả, phóng túng. Đồng như cô con gái ham chơi được mẹ thả lỏng, nên là cách "vượng địa" bay nhảy tự do không còn gì kềm hãm nữa.
Hóa Lộc và Thiên Mã (Lộc Mã, nhưng xem chú ý 1) là một cách rất tốt, biểu tượng thay đổi may mắn, nhưng chính vì vậy khuynh hướng phóng túng của Thiên Lương càng có cơ hội bộc phát. Thiên Đồng non dại thiếu sự dạy bảo của người trên thấy đổi thay may mắn thế nào chẳng ham vui nhảy vào, thiếu kinh nghiệm tất bị sa ngã. Bởi vậy Đồng Lương Tỵ Hợi gặp Lộc Mã thay vì tốt đẹp lại tà dâm, bất chính.
Nếu không gặp Lộc Mã nhưng có các cách đào hoa hội họp cũng luận như trên.
Chú ý 1: Lộc Tồn và Thiên Mã (cũng gọi là Lộc Mã) không thể luận như Hóa Lộc và Thiên Mã vì Lộc Tồn có tính bảo thủ, giảm tính vọng động của Đồng Lương Tỵ Hợi.
Chú ý 2: Tham Liêm Tỵ Hợi gặp hóa Lộc Thiên Mã tương tự, nhưng lý hiển nhiên hơn vì là hai sao chính phụ đào hoa.
Có những đứa trẻ sinh ra đã mang trên mình những vết bớt và đốm tích kì lạ tưởng chừng như đơn giản nhưng đằng sau nó lại ẩn chứa câu chuyện về kiếp trước. Những vết bớt ấy được cho là dấu hiệu của kiếp trước theo nghiên cứu của một nhà khoa học.
Một bà lão ở Thái Lan lâm chung với ước nguyện cuối đời được đầu thai thành cậu bé. Cô con gái đã nhúng ngón tay vào hồ trắng đánh một dấu lên cổ bà. Không lâu sau cô hạ sinh được một cậu bé kháu khỉnh với một vết trắng sau cổ chính xác với vết hồ trắng cô đánh dấu lên cổ mẹ lúc chết.
Khi cậu bé biết nói, thật kỳ lạ cậu luôn miệng đòi chiếm hữu những thứ của bà ngoại trước kia khăng khăng như thể chúng là của cậu vậy.
Đây chỉ là một chuyện kể trong rất nhiều trường hợp được kể lại bởi tiến sỹ Jim Tucke tại Đại học Virginia trong đó ông cho rằng vết bớt khi sinh thường có liên quan đến kiếp sống trước đó của họ.
Vào cuối đời của tiến sỹ lan Stevenson, công việc mà tiến sỹ Tucker đang tiếp tục, là điều tra 210 trường hợp những đứa trẻ sinh ra với vết bớt hoặc khuyết tật có liên quan đến ký ức từ kiếp trước.
Stevenson đã thu thập được một báo cáo khám nghiệm tử thi 49 trường hợp. Trong đó có tới 43% các trường hợp vết thương tích và vết chàm trong khoảng 10 cm2 cách nhau trên cơ thể, một số người thì những vết đó không tản ra mà nối liền nhau trên cùng một vị trí.
Phong tục ở một số nơi khác, người ta thường làm dấu người chết với nhọ nồi hoặc hồ dán để có thể dễ dàng nhận ra khi họ đầu thai.
Dưới đây là một vài ví dụ vết bớt khi sinh có liên hệ tới ký ức từ kiếp trước được nghiên cứu bởi tiến sỹ Stevenson.
Một cậu bé sinh ra ở Ấn Độ với bàn tay phải cụt ngón đã có lần nhớ lại kiếp sống trước của mình nơi cậu từng bị dính tay vào máy nghiền thức ăn và bị cắt bỏ.
Một cậu bé nữa ở Thổ Nhỹ Kỳ với tai phải dị hình đã nhớ lại cậu từng bị bắn và giết chết ở cự ly gần vào một bên đầu.
Một cậu bé khác có tên là Maha Ram ở Ấn Độ có thể nhớ mình bị giết trong một kiếp sống trước đó với một khẩu súng ngắn . Anh có thể nhớ một cách đầy đủ chi tiết về kiếp sống trước của mình và kể cho Stevenson với hi vọng tìm lại được kết quả khám nghiệm tử thi người được nghi là chuyển sinh đời này của cậu.
Và thật trùng hợp, kết quả cho thấy những vết bớt trên ngực Ram rất tương xứng với những vết đạn trong kiếp trước.
Và còn nhiều chuyện trùng hợp khác về vết bớt khi sinh và mối liên quan kiếp trước hiện vẫn chưa được xác minh hay chia sẽ trên các blog thảo luận trong quá khứ.
Bàn về trường hợp kỳ lạ khác về vết bớt, Karen Kubiko lúc còn học trung học cô đã đăng ảnh của mình với một vết bớt trên cổ và sau này cô đăng một hình khác nhưng không có vết bớt nữa. Cô cho biết vào năm 2011 cô bỗng nhiên nhớ lại được trong một kiếp sống trước cô từng là Helen một người phụ nữ bị trúng một viên đạn lạc bắn vào cổ và chết năm 1927.
Thế nên vết bớt để lại trên cổ cô chính là nơi viên đạn bắn vào cổ Helen trong kiếp trước. Sau khi cô nhớ lại được những điều này, vết bớt kia dần dần biến mất.