Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

Phong tục Tống Cựu Nghênh Tân ngày Tết

Tống cựu nghênh tân vốn nghĩa là đưa cái cũ đi, đón cái mới đến. Tập tục “tống cựu nghênh tân” thường được chuẩn bị từ sau khi tiễn ông Táo về trời.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tống cựu nghênh tân vốn nghĩa là đưa cái cũ đi, đón cái mới đến. Các cụ bảo, muốn đón được cái mới thì người đón trước hết phải dọn mình sạch sẽ, tinh tươm, gác lại tất cả những âu lo, bực dọc. Tập tục “tống cựu nghênh tân” thường được chuẩn bị từ sau khi tiễn ông Táo về trời. 

Tết là dịp mọi người có cơ hội ngồi ôn lại việc cũ và làm mới mọi việc. Nhất là về phần tình cảm và tinh thần của con người, để mối liên hệ với người thân được cảm thông hơn hoặc để tinh thần mình thoải mái, tươi mát hơn. Chuẩn bị đón Tết, mọi người đều muốn tất cả mọi thứ được sạch sẽ, tinh tươm, chính vì thế sàn nhà được chùi rửa, chân nến và lư hương được đánh bóng.

tống cựu nghênh tân

Bàn ghế tủ giường được lau chùi, phủi bụi. Người lớn cũng như trẻ con đều tắm rửa gội đầu sạch sẽ, mặc quần áo mói may bảnh bao. Bao nhiêu mối nợ nần đều được thanh toán trước khi bước qua năm mới để xả xui hay để tạo một sự tín nhiệm nơi người chủ nợ. Với mỗi người, những buồn phiền, cãi vã được dẹp qua một bên, tối thiểu ba ngày Tết, mọi người cười hòa với nhau, nói năng từ tốn, lịch sự để mong suốt năm sắp tói mối liên hệ được tốt đẹp. Người Việt tin rằng những ngày Tết vui vẻ đầu năm sẽ báo hiệu một năm mới tốt đẹp sắp tới.

Năm cũ đã qua mang theo mọi xui xẻo và năm mới đến mang theo đầy niềm tin lạc quan. Nếu năm cũ khá may mắn, thì tin sự may mắn sẽ kéo dài qua năm sau. Tết cũng là lúc mọi người trong làng gọi nhau quét dọn đình, chùa. Ai nấy lo đi cắt tóc, may sắm quần áo mới… Đó là những việc thường được làm vào cuối năm, quen thuộc đến mức người ta không nghĩ đấy là tục lệ “chia tay cái cũ để đón những điều mới mẻ”. Nhiều gia đình nhắc nhỏ, dặn dò con cháu từ phút giao thừa trở đi không được quấy khóc, nghịch ngợm, cãi cọ nhau, không nói tục chửi bậy hay vứt rác, viết vẽ bừa bãi. Cha mẹ, anh chị cũng không nên quở mắng, trách phạt con trẻ. Đối với bà con xóm giềng, dù trong năm cũ có điều gì xích mích cũng xí xóa hết. Dâu không thực lòng cũng tỏ ra ôn tồn hòa nhã, không ai nói khích bác hoặc bóng gió ác ý trong ngày đầu năm, dù là lỡ miệng; đối với ai cũng tay bắt mặt mừng.

Cả nghìn năm rồi, người Việt có lệ đốt hương, xông trầm lúc giao thừa để tống cựu nghinh tân theo truyền thống của dân tộc. Giới tao nhân mặc khách còn làm những câu đối Tết, qua đó giãi bày cảm nhận của mình về buổi giao thừa cũ – mới.

Nguyễn Công Trứ, nhà quân sự, nhà kinh tế, nhà thơ lỗi lạc, cuộc đời ông là những thăng trầm trong sự nghiệp; được thăng quan tiến chức nhiều lần nhưng cũng bị giáng phạt lắm lúc.

Chiều ba mươi nợ réo tít mù, co cẳng đạp thằng Bần ra cửa
Sáng mồng một rượu say túy lúy, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà

Câu đối ông viết toát lên một thần thái tự tin, lạc quan vào vận hạn đời mình, rằng cái cũ xui rủi sẽ rời xa và cái mới may mắn sẽ đến.

Tết là sinh nhật của tất cả mọi người, ai cũng thêm một tuổi vì thế câu nói mở miệng khi gặp nhau là mừng nhau thêm một tuổi. Người lớn có tục mừng tuổi cho trẻ nhỏ và các cụ già để chúc các cháu hay ăn chóng lớn và ngoan ngoãn, học giỏi; còn các cụ thì sống lâu và mạnh khoẻ để con cháu được nhờ phúc.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phong tục Tống Cựu Nghênh Tân ngày Tết

Đặc tính của sao Thiên Diêu - Đào hoa, phong lưu

Sao Thiên Riêu ở Mệnh là người ham vui, thích chơi bời, phóng đãng, dễ tin người, nhẹ dạ, tính tình không dứt khoát, khó cầu công danh, thi cử.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đặc tính của sao Thiên Diêu - Đào hoa, phong lưu

Đặc tính của sao Thiên Diêu - Đào hoa, phong lưu

Tìm hiểu về đặc tính của sao Thiên Riêu trong Tử Vi

Thuộc tính âm dương ngũ hành của sao Thiên Riêu là âm thủy, hóa khí là phá bại, chủ về đào hoa phong lưu.

Sao Thiên Riêu tọa mệnh, chủ về đa nghi, xinh đẹp, sự cô đơn, tư tưởng sớm trưởng thành, tình cảm phong phú, đa tài đa nghệ, rất chú trọng hình thức bên ngoài, có phong cách độc đáo, thông mình lanh lợi, có khiếu hài hước, quan hệ giao tế rộng, thích giao tiếp, có sức hấp dẫn đối với người khác giới, có năng khiếu nghệ thuật. Sao Thiên Riêu nhập miếu chủ về lịch sự, phong nhã có diễm phúc, có tài nghệ được người khác yêu thích, giàu sang. Nếu đóng tại cung hợi thì học thức. Nếu rơi vào cung hãm thì chủ về đa tình, đa nghi thái quá, dễ lầm đường lạc lối, đam mê tửu sắc. Gặp phải sao ác sẽ khuynh gia bại sản, dễ vì sắc tình mà phạm tội. Đại hạn, tiểu hạn, hoặc lưu niên mà gặp nó, thì kết hôn mà không cần nghi lễ, cần đề phòng tai họa sông nước, tái hôn. Sao Thiên Riêu ở bốn cung Mão, Dậu, Tuất, Hợi là nhập miếu; ở sáu cung Thân, Tý, Thìn, Dần, Tỵ, Ngọ là bình hòa; ở hai cung Sửu, Mùi là hãm. Sao Thiên Riêu nhập miếu lại gặp cát tinh, chủ về siêu phàm thoát tục, có lợi theo các lãnh vực nghệ thuật, tạo hình, thiết kế.

Sao Thiên Riêu là sao đào hoa, dễ thay lòng đổi dạ, khó nắm bắt, nhanh nhạy thông minh, nhiều toan tính, kết bạn tình một cách nhanh chóng, phóng khoáng dạn dĩ, yêu hết mình, dám làm dám chịu, giàu sức sáng tạo, thích hợp với những ngành nghề cần phong thái; nhưng thiếu ổn định, dễ nản chí, thường không theo đuổi việc gì lâu dài.

Sao Thiên Riêu có phong cách độc đáo, rất có sức hấp dẫn đối với người khác giới, đồng thời sao Thiên Riêu cũng rất yêu bản thân mình, khao khát được người khác giới khẳng định, nhưng có lẽ cũng chỉ là tình cảm thoáng qua mà thôi.

Sao Thiên Riêu đóng tại cung thân, cung mệnh, có thể hiện tài năng trong công việc một cách dễ dàng, nghề nghiệp thường có liên quan tới người khác giới, như đóng phim, biểu diễn, quần áo, trang sức.

Nếu sao Thiên Riêu đồng cung với sao Tử Vi tại bốn cung bại Tý, Ngọ, Mão, Dậu, là cách cục "Đào hoa phạm chủ", chủ về phong lưu, cần đề phòng bệnh tật về máu. Sao Thiên Riêu đồng cung với sao Hữu Bật thì về tình yêu sẽ gặp nhiều rắc rối, không rõ ràng. Sao Thiên Riêu mà gặp các sao đào hoa như Hồng Loan, Thiên Hỷ, Hàm Trì, Mộc Dục thì cần phải hết sức thận trọng chuyện sắc tình, nếu không ắt sẽ trước vui vẻ sau đau buồn.

Cung vị tam hợp của sao Thiên Riêu nếu gặp Tham Lang, Liêm Trinh, Mộc Dục, chủ về chết yểu. Sao Thiên Riêu đồng cung với sao Kình Dương cũng cần đề phòng chết sớm.

Sao Thiên Riêu đồng cung với tứ sát tinh, sao Hóa Kị thì dễ tán gia bại sản vì cờ bạc, rượu chè, hoặc gặp rắc rối vì người khác giới.

Sao Thiên Riêu hợp với cung thiên di, chủ ra ngoài được quý nhân phù trợ. Sao Thiên Riêu không hợp với cung phúc đức, chủ về thân tâm vất vả bận rộn, gặp rắc rối về mặt tình cảm.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đặc tính của sao Thiên Diêu - Đào hoa, phong lưu

Những bí quyết giải đoán đại vận

* Đại vận rất quan trọng, lấn áp cả Tiểu vận * Ba bí quyết xác định sự tốt xấu của cung Đại vận, về ba phương diện: Thiênthời, Địa lợi, Nhân hòa . Trần Việt Sơn trình bày.
Những bí quyết giải đoán đại vận

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Trong việc giải đoán lá số Tử vi, đối với sở thích của những người đã lớn tuổi, có thể kể rằng việc giải đoán đại vận là quan trọng nhất. Về phương diện tâm lý, với người đã lớn tuổi, người ta rất mong được biết những dịp tốt hay những vận hạn sẽ đến, nếu biết dịp tốt đến, sẽ cố gắng khai thác; nếu biết thất bại đến sẽ không dại bỏ tiền ra để rồi mất hết. Vả lại khi đã lớn tuổi, với nhiều người, gần như số mạng đã an bài, chỉ còn trông vào những thay đổi phần nào ở vận hạn. Trong thật tế có nhiều người chỉ ăn về vận. Đương là một người như mọi người, bỗng cơ may đưa đến, vọt ngay lên ngôi cao chức cả, thế rồi hết vận, lại tụt đi đâu mất không ai hay.

Người ta có thể kể không biết bao nhiêu người như thế, như ông Diệm, ông Nhu, Ông Cẩn, tướng Nguyễn Khánh, ông Trần Trọng Kim, cụ Phan Khắc Sửu, và gần đây hơn, có biết bao nhiêu người đương là giáo sư công chức, kỹ sư, dược sĩ, nhẩy ngay lên chức lớn, và có một số đã bỗng nhiên bỏ chức chức lớn mà trở về với cuộc sống bình thường; có những người đương làm ăn bình thường, bỗng lời đổ đến tay như thác nước trong cả một thời kỳ, nhưng rồi quen ăn làm tới, tiền lại ào ào đội nón ra đi. Những cuộc thay đổi lớn lao và bất thường đó là do Đại Vận, hơn là do Tiểu vận.

-Đại vận 10 năm, chủ vào 10 năm của cuộc đời. Đại vận mà khá thì cũng như có cái gốc khá. Tiểu vận có kém cũng được khá theo, và nếu Tiểu vận được khá thì lại càng khá nhiều.

Ngược lại, Đại vận mà kém thì tiểu vận có những sao tốt, cũng không thể tốt như ý muốn. Càng bởi thế, tính vận hạn, ta không nên ngạc nhiên rằng năm Thân lần trước sao ta khá thế, mà năm Thân lần này, sao ta lại quá dở, đó là vì Tiểu vận phải tùy theo Đại vận.

-Trong việc đoán số mạng đoán Đại vận là nắm được cái tốt xấu trong cả một cuộc đời, cho nên đoán đại vận là một sự rất hứng khởi. Có một lần, một vị độc giả, hận vì đã bị đoán số lầm, nhất định xin hỏi cụ Thiên Lương giải đoán cho vận hạn mấy năm. Vị độc giả đó không nói trước điều nào. Cụ Thiên Lương tính toán rồi nói: “Mấy năm nầy, ông làm ăn thất bại, thiệt tiền của”. Vị nọ thở phào, tự coi như an ủi vì số mạng đúng. Ông mới tâm sự: “Đó là mấy năm tôi phải bỏ một số vốn lớn công ty vào một việc. Tôi đã hỏi kỹ mấy ông thầy. Mấy ông bảo tốt, cứ xúc tiến công việc đi. Tôi yên trí bỏ tiền ra không ngờ mất tất cả. Nhưng tại sao lại hỏng việc được? Rõ ràng hành của cung đại vận sinh cho hành mệnh của tôi như thế bước vào đại vận này là phải tốt chứ? Cụ Thiên Lương trả lời rằng ông mới được địa lợi, nhưng Thiên thời lại hỏng.
Và bây giờ chúng tôi xin trình bày những kinh nghiệm của cụ Thiên Lương.

Ba yếu tố chính

Để xác định một cung Đại vận là tốt hay xấu, có ba yếu tố chính:
1.Hành của bộ Tam hợp cung Đại vận sinh cho hành của bộ Tam hợp cung tuổi, hay đồng hành, là tốt. Khắc là xấu. Đó là yếu tố Thiên thời. Được Thiên thời là được thế thắng, được vận tốt do số mạng dành cho mình là được khá hơn đại vận khác.

2.Hành của cung Đại vận sinh hay khắc cho Mệnh của mình. Sinh là tốt, khắc là xấu. Đây là yếu tố chủ về thế thắng và vận tốt. Chắc các bạn thích Tử vi đã nhận ra rằng đây là yếu tố chủ chốt mà các nhà giải đoán Tử vi thường dùng để xét đoán vận tốt xấu, (nhưng các ông lại không để ý đến yếu tố là yếu tố Thiên thời).

3.Sự thích hợp hay không thích hợp của bộ sao tại Đại vận đối với bộ sao tại cung Mệnh. Có những bộ sao mà quý bạn đều biết: Sát Phá Liêm Tham, Tử Phủ Vũ Tướng, Cự, Nhật, Cơ Nguyệt Đồng Lương: Yếu tố này cũng được các sách cổ nói đến và các thầy Tử vi sử dụng, nhưng không có sự hệ thống hóa đầy đủ, chỉ nói sơ trong vài trường hợp (tỷ dụ: Mệnh có bộ sao này, đến cung đại vận gặp bộ sao này, thì tốt hay xấu). Yếu tố thứ 3 này là yếu tố Nhân hòa.

Yếu tố về Tuần Triệt đã được chúng tôi trình bầy, chúng tôi sẽ nhắc lại. Còn các trung tinh, hung tinh là những yếu tố thêm vào cho các yếu tố chính, và chỉ rõ thêm về các trường hợp cá biệt, như vận mạng về gì, hạn về phương diện nào. Thí dụ:

-Được cả ba yếu tố Thiên thời, Địa lợi, Nhân hòa là được đại vận rực rỡ. Nếu lại được các trung tinh tốt và thoát được các hung tinh hãm, thì càng rực rỡ hơn.

-Bị cả 3 yếu tố Thiên thời, Địa lợi, Nhân hòa, cùng xấu, là bị đại vận xấu. Nếu lại bị những sao hung xâm nhiễu, thì đó là đại vận rất nặng, gặp nhiều thất bại, và có thể đi đến cái chết.

Trong số giai phẩm này, chúng tôi xin trình bầy hai yếu tố Thiên Thời và Địa lợi. Các yếu tố khác, sẽ xin trình bầy trong giai phẩm sau.

A-YẾU TỐ THIÊN THỜI

Trong Tử vi, đừng bao giờ quên yếu tố các bộ Tam hợp. Xin nhắc lại hành bộ Tam hợp trên lá số:

1-Thân Tý Thìn: THỦY
2-Hợi Mão Mùi: MỘC
3-Dần Ngọ Tuất: HỎA
4-Tị Dậu Sửu: KIM

Nguyên tắc: Trước hết, ghi nhận hành của tam hợp cung tuổi. Như người tuổi Tý thuộc tam hợp Thân Tý Thìn, hành Thủy.

Rồi muốn đoán cho mỗi đại vận cứ xét hành của tam hợp của cung Đại vận đó. So sánh hai hành (Hành của tam hợp cung tuổi và hành của tam hợp cung Đại vận) thấy sự sinh khắc chế hóa thế nào thì biết Thiên thời của Đại vận là xấu hay tốt.

-Hành tam hợp Đại vận sinh cho hành tam hợp tuổi: tốt, được Thiên thời.

-Hành tam hợp Đại vận đồng hàng với tam hợp tuổi (đây là trường hợp đại vận vào cung có Thái tuế Quan phù, Bạch hổ): tốt. Thiên thời đến cho mình.

-Hành tam hợp Đại vận khắc tam hợp tuổi (trường hợp mình bị khắc nhập) xấu nhất, thời gian và hoàn cảnh chung đánh vào mình và thắng mình, mình bị nhiều thất bại và thua thiệt.

-Hành tam hợp Đại vận bị hành tam hợp tuổi khắc (trường hợp khắc xuất): mình khắc thời vận, gặp nhiều khó khăn, nhưng mình cố gắng và chịu chật vật nhiều, có thể thắng được.

-Hành tam hợp Đại vận được hành tam hợp tuổi sinh (trường hợp sinh xuất): tuy sinh, nhưng sinh xuất, cho nên lao đao, như người mất máu huyết, mất sức lực tiền bạc.

Ghi các trường hợp

Quý bạn cứ theo các giải đoán trên mà xác định về Thiên thời: sau đây, nên ghi các trường hợp.

1)Tuổi Thân, Tý, Thìn Tam hợp Thủy
Đại vận đến cung Thân, Tý, Thìn: được Thiên thời, tốt nhất của mình
Đại vận đến cung Hợi Mão Mùi (Mộc) Thủy sinh Mộc, vậy bị sinh xuất.
Đại vận đến cung Dần Ngọ Tuất (Hỏa) Thủy khắc Hỏa khắc xuất. Mình khắc thời, phải chật vật mới thắng
Đại vận đến Tị Dậu Sửu (Kim). Sinh nhập, Thiên thời.

2)Tuổi Hợi Mão Mùi Tam hợp Mộc
Đại vận đến cung Hợi Mão Mùi, tức đến tam hợp Thái tuế, tốt nhất.
Đại vận đến cung Thân, Tý, Thìn (Thủy): Mình được sinh nhập. Tốt, mình có Thiên thời.
Đại vận đến cung Dần Ngọ Tuất (Hỏa) Mình bị sinh xuất, lao đao.
Đại vận đến Tị Dậu Sửu (Kim). Mình bị khắc nhập xấu.

3)Tuổi Dần Ngọ Tuất (Hỏa)
Đại vận đến cung Dần Ngọ Tuất (tam hợp Thái tuế): tốt.
Đại vận đến cung Thân, Tý, Thìn (Thủy): Mình bị khắc xấu
Đại vận đến cung Hợi Mão Mùi (Mộc) Mình được sinh nhập. Tốt.
Đại vận đến Tị Dậu Sửu (Kim) khắc xuất, phải chật vật mới thắng

4)Tuổi Tị Dậu Sửu (Kim)
Đại vận đến cung Tị Dậu Sửu (tam hợp Thái tuế): tốt.
Đại vận đến cung Thân, Tý, Thìn (Thủy): Mình bị sinh xuất.
Đại vận đến cung Hợi Mão Mùi (Mộc) Khắc xuất
Đại vận đến Dần Ngọ Tuất (Hỏa) Mình bị khắc nhập

Dàn bài cho đủ các trường hợp, chớ thật ra bạn nắm vững nguyên tắc các bộ tam hợp và hành sinh khắc, là bạn giải đoán được ngay.

B-YẾU TỐ ĐỊA LỢI

Hành của cung Đại vận sinh cho mệnh của mình, là sinh nhập, tốt nhất.
Hành của cung Đại Vận đồng hành với Mệnh là tốt.
Hành của Mệnh mình sinh cho hành cung Đại Vận, là sinh xuất, lao đao.
Hành của Mệnh mình khắc hành cung Đại vận: Khắc xuất, bị chật vật nhưng có thể thắng.
Hành của cung Đại vận khắc hành của mệnh: Khắc nhập, xấu, thất bại.

Kinh nghiệm Tử vi của cụ Thiên Lương
Tôi học Tử vi: NHỮNG BÍ QUYẾT GIẢI ĐOÁN ĐẠI VẬN

* Yếu tố thứ ba: bộ sao gặp Đại vận có hợp với bộ sao tại Mạng không?

Trần Việt Sơn

Trong giai phẩm trước, chúng tôi đã trình giải kinh nghiệm của cụ Thiên Lương về việc giải đoán Đại vận. Chúng tôi đã nói đến hai yếu tố đầu, bây giờ xin nói đến yếu tố thứ ba, sau đó sẽ xin nói đến những yếu tố phụ thuộc (nhưng cũng quan trọng).

Nhắc lại: Yếu tố Thiên Thời: được thời vận thì dù các yếu tố khác có kém, mình cũng khá. Xét yếu tố này, phải cân nhắc tam hợp cung tuổi của mình và tam hợp cung đại vận: nếu đến tam hợp Đại vận đồng hành với tam hợp tuổi, mình được khá nhất; tam hợp Đại vận sinh cho tam hợp tuổi, là có Thiên Thời tốt; tam hợp Đại vận khắc tam hợp cung tuổi: khó khăn nhất và hoàn cảnh thắng mình. Tam hợp tuổi sinh cho tam hợp Đại vận là bị sinh xuất: mình bị lao đao, có khá được cũng mệt mỏi tiêu hao nhiều.

-Yếu tố hai là yếu tố Địa lợi: phải ghi hành của Mệnh mình (tức là Mệnh của mình là người Kim, Mộc, Thủy, Hỏa hay Thổ) rồi xét xem Đại vận đến cung nào, hành của cung này sinh khắc cho Mệnh thế nào. Tùy theo các thế sinh khắc mà ta đã biết: Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, ta biết được cung Đại vận sinh khắc chế hóa như thế nào với Mệnh của ta. Cung Đại vận sinh cho Mệnh của ta là tốt nhất. Cung Đại vận hòa với Mệnh của ta là trung bình. Mệnh của ta sinh cho cung Đại vận, là ta bị sinh xuất, có đạt được cũng lao đao, cuối cùng cung Đại vận khắc Mệnh của ta, là ta gặp khó khăn, hoàn cảnh chế ngự ta, ta không thể thắng nổi. Nếu Mệnh bị cung khắc, còn có thể xét xem được yếu tố Âm Dương của cung giống Âm Dương của Mệnh thì cũng dở.

Yếu tố thứ ba: bộ sao ta gặp ở Đại vận

Yếu tố thứ ba là bộ sao ta gặp ở Đại vận hợp hay không hợp với bộ sao ta có tại cung Mệnh. Đây là yếu tố mà ta thường thấy ghi ở các sách cổ kim, nhưng các trường hợp này không được giải thích và hệ thống hóa. Cụ Thiên Lương đã hệ thống hóa như sau:

Như trong sách “Tử vi nghiệm lý” cụ đã ghi, cụ phân các bộ chính tinh ra Âm và Dương, Dương là thực hành mà Âm là lý thuyết. Các bộ Tử, Phủ, Vũ, Tướng và Sát, Phá, Liêm, Tham thuộc về Dương và có tánh chất thực hành, các bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương và Cự Nhật thuộc về Âm và có tánh chất lý thuyết. Hai bên Âm Dương phân ra như vậy là hình ảnh của Lưỡng nghi.

Phân biệt ra Tứ tượng, ta có 4 bộ với tánh chất như sau:
Sát Phá Liêm Tham: 100% thực hành.
Tử Phủ Vũ Tướng: 60% thực hành, 40% lý thuyết
Cự Nhật: 60% lý thuyết, 40% thực hành.
Cơ Nguyệt Đồng Lương: 100% lý thuyết.

Luận ra các thế của Đại vận

Sự khác biệt hay giống nhau là do chỗ thế Âm và thế Dương mà gặp nhau thì nghịch, thường kém tốt; hoặc thế lý thuyết mà gặp thế thực hành thì có phát thêm, nhưng gặp họa lệch lạc, kém tốt. Tuy nhiên, nếu lý thuyết 100% mà gặp thực hành 100% thì phát mạnh hoạt động nhiều nhưng gặp họa nhiều hơn là những thế tuy khác biệt Âm Dương mà thế lý thuyết, thực hành không khác nhau xa mấy (như có thế 60% lý thuyết, 40% thực hành mà gặp thế 40% thực hành 60% lý thuyết thì không khác nhau xa mấy). Cũng vậy, thế 100% thực hành mà gặp thế 60% thực hành, 40% lý thuyết, cũng không khác xa nhau mấy.

Từ căn bản đó, luận ra các thế như sau:
-Mệnh Cơ Nguyệt Đồng Lương (yếu, Âm, 100% lý thuyết) gặp Đại vận Sát Phá Liêm Tham (mạnh, Dương, 100% thực hành): phát mạnh thì lại bị nặng, nhiều khó khăn, có thể có những cái rủi lớn.

-Mệnh Sát Phá Liêm Tham gặp Đại vận Sát Phá Tham – giống nhau hợp, tốt.

-Mệnh Cơ Nguyệt Đồng Lương đến đại vận Cơ Nguyệt Đồng Lương giống nhau, hợp, tốt.

-Mệnh Sát Phá Tham gặp đại vận Cơ Nguyệt Đồng Lương: kém, nhưng không hiểm nguy, mặc sống kém hơn so với các đại vận Sát Phá Tham (tóm lại là kém đi).

-Mệnh Sát Phá Tham gặp đại vận Tử Phủ Vũ Tướng, cùng Dương, vậy là không có gì khó khăn nặng, nhưng cũng giảm kém xuống một chút vì sự khác biệt về thế thực hành, lý thuyết ( Sát Phá Tham đương hoạt động 100/100, gặp Tử Phủ Vũ Tướng hoạt động giảm đi, nhưng thêm lý thuyết thế vào).

-Mệnh Tử Phủ Vũ Tướng gặp Tử Phủ Vũ Tướng: tốt.

-Mệnh Tử Phủ Vũ Tướng gặp đại vận Sát Phá Tham, phải hoạt động thâm lên như cũng giảm kém chút đỉnh.

-Tử Phủ Vũ Tướng với Cơ Nguyệt Đồng Lương: cũng luận như giữa Sát Phá Tham và Cơ Nguyệt Đồng Lương, nhưng sự khắc biệt, sự giảm kém không quá mạnh, là vì Tử Phủ Vũ Tướng còn có 40% lý thuyết so với Cơ Nguyệt Đồng Lương 100% lý thuyết.

-Mệnh Tử Phủ Vũ Tướng gặp Cự Nhật: khác về Âm Dương, nhưng sự chênh lệch trong tỷ lệ lý thuyết và thực hành rất ít, nên sự giảm kém cũng rất ít. Mệnh Cự Nhật gặp Tử Phủ Vũ Tướng cũng luận theo như thế.

Vài yếu tố khác

Luận ba yếu tố trên, đủ thấy được đại cương Đại vận tốt xấu, một cách rất chính xác.

Còn những yếu tố phụ khác, nhưng cũng quan trọng, là các trung tinh lớn và các hung tinh lớn.

Ngoài ra có yếu tố lớn và chúng tôi đã nêu lên trong một kinh nghiệm trước cũng của cụ Thiên Lương, đó là kinh nghiệm về Tuần Triệt như một yếu tố để giải đoán Đại vận, Tuần hay Triệt nói chung làm giảm kém các sao tốt, nhưng lại làm tốt những sao hãm.

Nếu ở cung Mệnh có Tuần giải chế Mệnh thì đến Đại Vận có Triệt, mệnh được cởi gỡ ra và khá lên. Cũng vậy, nếu ở Mệnh có Triệt thì đến Đại vận có Tuần, vận mệnh được gỡ ra và khá lên.

Một lá số để thử nghiệm

Xin lấy một lá số để cụ thể hóa các nguyên tắc trên bằng một cuộc áp dụng thật tế, để dễ nhận định hơn.

Lá số trên, Mệnh tại Sửu, cách Sát Phá Liêm Tham; Hỏa mệnh; Âm nam; tam hợp tuổi là Hợi Mão Mùi thuộc Mộc.

Đại vận 12-21 tại Tý – Tam hợp Đại vận là Thân Tý Thìn, thuộc Thủy, Thủy sinh Mộc, vậy là được Thiên thời, yếu tố chính. Cung Đại vận tại Tý là cung Thủy, khắc mệnh Hỏa: mất Địa lợi. Bộ chính tinh là Cơ Nguyệt Đồng Lương, lệch với bộ Sát Phá Liêm Tham, nhưng không nặng bằng khi Mệnh là Cơ Nguyệt Đồng Lương mà gặp đại vận Sát Phá Liêm Tham. Trong giai đoạn này, đương số sống dưới bóng cha mẹ, được đầy đủ điều kiện ăn học, nhưng cũng gặp khá nhiều vấp váp trong việc học thi trượt mấy lần, và lúc cuối đại hạn cũng lên được đại học. Bị một đau tưởng chết.

Đại vận 22-31 tại Hợi – Được Thiên thời vì Đại vận tại Hợi thuộc tam hợp Hợi Mão Mùi đồng hành với tam hợp tuổi. Cung Đại vận thuộc Thủy, khắc mệnh Hỏa, mất Địa lợi, nhưng cũng kéo lại phần nào là vì cung Âm đồng mệnh Âm. Bộ sao nặng về Tử Phủ Vũ Tướng, thuộc Dương cùng với bộ Sát Phá Liêm Tham được lợi lạc. Tuy hành cung Đại vận khắc hành Mệnh, nhưng cũng được khá. Trong đại hạn này, đương số sống cuộc đời nhiều biến cô, chen lẫn tốt với xấu. Đường công danh thi trượt nhiều lần, nhưng đi làm, thi đậu đi làm chức cao, nhưng rồi lại bỏ việc, sống khổ một thời gian ngắn, rồi lại khá lên. Đường vợ con: lấy vợ, sanh con. Sức khỏe: mang những bệnh nặng trong người tưởng khó thể qua khỏi, nhưng rồi vẫn sống được. Tóm lại: nhiều bước thăng trầm, nhưng vẫn khá.

Đại vận 32-41 – Tại Tuất, tam hợp Dần Ngọ Tuất thuộc Hỏa, vậy là tam hợp tuổi bị sinh xuất (Mộc sinh Hỏa).
Đại vận ở cung Thổ, mạng Hỏa, vậy là Mạng bị sinh xuất. Hai yếu tố Thiên thời, Địa lợi bị kém, chủ về sự lao đao. Về bộ sao thấy có Cơ Lương chiếu, Cự Nhật chiếu, chủ về sự giảm kém. Đương số quả gặp những bước lao đao, gây được một ít tài sản lại phải bỏ đi cư gặp mấy lần hạn nặng (vì chánh trị, cụ Ngô Đình Diệm cho đi nằm ấp), một lần đau nặng cả năm trời tưởng chết, nhiều lần thay đổi chỗ ở. Mặc dầu làm việc nhiều nhưng chỉ đủ ăn.

Đại vận 42-51 – Tại Dậu, thuộc Tị Dậu Sửu hành Kim, khắc tam hợp tuổi thuộc Mộc, là mất Thiên thời. Cung Đại vận thuộc hành Kim, hành Hỏa của Mạng khắc Kim, tuy là khắc xuất không nặng bằng khắc nhập, nhưng cũng là xấu, tuy chế ngự được hoàn cảnh và có những thành công, nhưng phải khổ công hoạt động rất nhiều. Được Nhân hòa đúng bộ Sát Phá Liêm Tham như tại Mệnh. Lại được thêm một yếu tố quan trọng: sao Triệt tại đây cởi gỡ cái Tuần của Mệnh nên vận mạng sáng ra, được ổn định hơn.
Đương số trải qua những phen hứng khởi, hoạt động nhiều, đường làm ăn đều hòa hơn, tuy có vài trận đau ốm. Nhưng gọi là thành công như ý muốn thì không có. Tuy nhiên, việc làm ăn, hoạt động và hứng khởi, đều hơn trước, khá hơn trước, cho phép sắm sửa trong nhà, sống sung túc hơn.

Đại vận 52-61 – Đại vận tại Thân, thuộc Thân Tí Thìn, Thủy sinh cho Mộc của tam hợp tuổi. Được Thiên thời, cung Đại vận thuộc Kim, so với mệnh Hỏa là khắc nhập: vẫn phải tranh đấu nhiều để khắc phục hoàn cảnh. Chính tinh gặp thế Cơ Nguyệt Đồng Lương và Cự Nhật Đại vận phải giảm kém. Mất yếu tố Triệt cởi gỡ Tuần trong Đại vận trước. Tuy nhiên, yếu tố Thiên thời là quan trọng.
Trong đại vận này, đương số đã bị một vài tật bệnh tưởng nguy nhưng thoát cả. Việc làm ăn được đều hòa và có phần sung túc nhờ được người tốt giúp đỡ. Nhưng đại vận này mới được phân nửa, chưa cho biết rõ hơn.
Muốn rõ chi tiết, phải coi nhưng trung tinh và hung tinh khác trong các cung.

Sự quan trọng của yếu tố Đại vận

-Yếu tố Đại vận rất quan trọng vì nó đứng chủ cho các tiểu vận. Các tiểu vận khá hay xấu là do Đại vận mà ra.

-Phần nào, Đại vận cho phép bốc lên một cách khốc liệt theo Mạng, hoặc có thể vùi dập xuống đến đất đen.
Như một người Mệnh thường nhưng mấy chục năm, chỉ làm những công việc thông thường. Nhưng gặp Đại vận được cả ba yếu tố Thiên thời, Địa lợi, Nhân hòa, bổng bộc phát dữ dội. Nhưng qua khỏi Đại vận đó, lại tụt thang, trở về nếp sống cũ.

-Một sinh viên có một cung mệnh rất tốt, tương lai huy hoàng. Gặp phải đại vận mà cả ba yếu tố Thiên thời, Địa lợi, Nhân hòa cùng hỏng, thế là đương nhẹ bước thang mây và có tương lai hứa hẹn huy hoàng, anh ta bị nạn lớn và từ trần. Xem lá số, không thấy Mệnh và Phúc chỉ sự yểu vong – nhưng xem đến Đại vận, thấy hỏng cả mấy yếu tố, nên chết. Đại vận thật là ghê gớm vậy (lá số của anh sinh viên này sẽ được cụ Thiên Lương dẫn giải trong số giai phẩm tới)

Đó chỉ là một yếu tố để ấn định tai họa nặng. Cũng có những lá số được Thiên thời hay Địa Lợi hay Nhân Hòa, nhưng bị chết, là vì còn những yếu tố khác.

KHHB số 74G2

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những bí quyết giải đoán đại vận

Sao Thiên Tướng - Chủ sự uy nghi, đôn hậu và can đảm

Tìm hiểu về ý nghĩa của Sao Thiên Tướng trong lá số tử vi. Thiên Tướng chỉ sự đôn hậu, can đảm, ưa thanh sắc, dễ đam mê chủ sự uy dũng công danh và tài lộc.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Sao Thiên Tướng - Chủ sự uy nghi, đôn hậu và can đảm

Sao Thiên Tướng - Chủ sự uy nghi, đôn hậu và can đảm

Sao Thiên Tướng thuộc chòm sao Nam Đẩu Tinh, tên thường gọi là Tướng (thuộc tính Dương Thủy).

Sao Thiên Tướng là một Quyền tinh, Dũng tinh chủ quan lộc và phúc thiện.

Sao Thiên Tướng miếu địa tại cung: Dần, Thân.

Vượng địa tại cung: Thìn, Tuất, Tý, Ngọ.

Hãm địa tại: Mão, Dậu.

Cung mệnh có sao Thiên Tướng tọa thủ dù đắc địa, miếu địa hay vượng địa là người có thân hình nở nang, da trắng, cao vừa tầm, có vẻ đẹp đẽ và uy nghi, rất thông minh, tính đôn hậu và thẳng thắn.

Sao Thiên Tướng khắc chế được tính nóng nảy của Sao Liêm trinh.

Thiên Tướng miếu địa, vượng địa hay đắc địa có thể khắc chế được tính hung ác của các sát tinh. Coi sát tinh như sao tùy thuộc.

Thiên Tướng gặp Kình đồng cung ví như dao kề trên đầu thường gây ra những chuyện chẳng lành.

Gặp Tuần, triệt án ngữ ví như ông tướng mất đầu hay ấn tín bị sứt mẻ, nên hết quyền lực lại gây ra những tai họa khủng khiếp. Thích ăn ngon mặc đẹp, ưa thanh sắc bề ngoài, và được hưởng phú quý giàu sang, phúc thọ song toàn.

Sao Thiên Tướng hãm địa thì thân hình nở nang nhưng hơi thấp, kém thông minh tính tình đôn hậu nhưng dễ đam mê và thích ăn chơi không biết lo xa. Suốt đời chẳng mấy khi được xứng y toại lòng, tuy nhiên vẫn được cơm no áo ấm và sống lâu.

Thiên Tướng miếu địa, vượng địa hay đắc địa gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp như Tử, Phủ, Vũ, Xương, Khúc, Khôi, Việt, Tả, hữu, Khoa, Quyền, Lộc tất được hưởng phú quý tới tột bậc và có uy quyền, danh tiếng lẫy lừng.

Tướng vượng địa gặp Kình, Đà hội họp thì nên chuyên làm về những ngành mang tính chất kỹ nghệ, kinh doanh hay buôn bán sẽ có nhiều tài lộc.

 Thiên Tướng miếu địa, vượng địa hay đắc địa gặp nhiều sao xấu xa và mờ ám nhất là các sát tinh sẽ có nhiều bệnh tật ở đầu, mặt.

Sao Thiên Tướng dù nằm ở vị trí nào tốt hay xấu mà gặp Tuần, Triệt án ngữ thì suốt đời khổ cực, công danh trắc trở, tiền bạc khó kiếm, thường phải ly tổ buôn ba. Hay mắc phải những tai nạn khủng khiếp như dao gươm, súng đạn.

Sao Thiên Tướng hãm địa, vượng địa, đắc địa hay hãm địa dù ở vị trí nào mà gặp sao Thiên Hình đồng cung thì thật khó thoát khỏi những tai nạn về dao búa, chắc chắn sẽ bị thương ở đầu, mặt hay tay chân.

Phụ nữ có sao Thiên Tướng thủ mệnh hãm địa là người có tài nhưng hay ghen tuông cả đời chẳng mấy khi được xứng ý toại lòng, phải buồn khổ vì chồng con.

Cung mệnh an tại Thìn, Tuất có Thiên Tướng tọa thủ là một cách quý.

Đàn bà có sao Thiên Tướng tọa thủ tại mệnh rất can đảm và dũng mãnh ví như một con gấu dữ. nếu Thiên Tướng miếu địa, vượng địa hay đắc địa thì lấy được chồng hiền, tài giỏi, sinh con quý.

Cung mệnh an tại Tý, Ngọ có sao Liêm Trinh và Thiên Tướng tọa thủ đồng cung giáp với Kình Dương khó tránh được cảnh tù tội.

Đàn bà mà cung mệnh có Thiên Tướng, Hồng Loan tọa thủ đồng ắt lấy được chồng tài giỏi và giàu sang.

 Đàn bà mà cung mệnh có Thiên Tướng tọa thủ gặp Khúc, Mộc, Cái, Đào hội họp là người rất xinh đẹp nhưng lại có tính dâm đãng.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sao Thiên Tướng - Chủ sự uy nghi, đôn hậu và can đảm

Mơ thấy tàu thuyền hứa hẹn nhiều niềm vui

Giấc mơ liên quan đến tàu, thuyền thường mang lại cho chủ nhân của nó những điềm tốt lành trong cả công việc lẫn tình cảm.
Mơ thấy tàu thuyền hứa hẹn nhiều niềm vui

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

 Giấc mơ liên quan đến tàu, thuyền thường mang lại cho chủ nhân của nó những điềm tốt lành trong cả công việc lẫn tình cảm. 


► ## giải mã giấc mơ theo tâm linh chuẩn xác

Mo thay tau thuyen hua hen nhieu niem vui hinh anh
Ảnh minh họa

 
Nếu bạn mơ thấy tàu thủy thì sự may mắn trong việc kinh doanh đang sắp ùa về với bạn.    Bạn sắp có được món lợi lớn nếu thấy tàu, thuyền đậu san sát gần bờ trong  giấc mơ.   Nếu mơ thấy tàu, thuyền phát cháy bạn cũng đừng nên lo lắng, ngược lại, đó là điềm lành báo trước bạn sắp có lợi lộc.   Thấy tàu, thuyền chạy trên sông trong giấc mơ là điềm hứa hẹn bạn sẽ có nhiều chuyện vui.   Một ngày nào đó, trong giấc mơ, bạn thấy tàu, thuyền đến một nơi xa lạ, đông đúc? Hãy lạc quan lên vì công việc sắp tới sẽ mang lại nhiều lợi lộc cho bạn.   Trong thực tế, tàu, thuyền đang chạy bỗng nhiên bị thủng nhiều chỗ, nước tràn vào có thể sẽ mang đến những đại họa. Nhưng nếu điều đó xuất hiện trong giấc mơ thì việc trở nên giàu có đang nằm trong tầm tay của bạn. Cùng với sự “phất lên” đó, bạn cũng nên tự bảo vệ mình khỏi những sự đố kỵ xung quanh.    Mọi nguy hiểm sẽ trôi qua nhanh chóng nếu tàu, thuyền cập bến trong giấc mơ của bạn. Tàu, thuyền xuất hiện trong giấc mơ còn là dự báo một cuộc hành trình có liên quan đến tình yêu lãng mạn.   Theo Giải mã giấc mơ
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mơ thấy tàu thuyền hứa hẹn nhiều niềm vui

Xem tử vi tháng 4 của người tuổi Sửu

Theo tử vi tháng 4 của người tuổi Sửu, bản mệnh được hỗ trợ nhiệt tình từ Nguyệt Lệnh, có sức mạnh đẩy lùi vận xấu, đổi thoái thành hưng.
Xem tử vi tháng 4 của người tuổi Sửu

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

- Theo tử vi tháng 4 của người tuổi Sửu, bản mệnh được hỗ trợ nhiệt tình từ Nguyệt Lệnh, có sức mạnh đẩy lùi vận xấu, đổi thoái thành hưng. Những vận xấu từ tháng trước sẽ được sửa chữa và bổ sung để tốt hơn. Có gặp khó khăn thì quý nhân tương trợ, sự nghiệp có cơ hội phát triển rộng về quy mô. 

 

tu vi thang 4 cua nguoi tuoi Suu hinh anh goc
 
TAM HỢP TRƯỜNG SINH LỢI NGƯỜI LÀM ĂN    Bước vào tháng Quý Tỵ, vận tử vi của người tuổi Sửu tọa ngay vị trí tam hợp Tỵ Dậu Sửu trường sinh rất tốt đẹp. Bản mệnh được hỗ trợ nhiệt tình từ Nguyệt Lệnh, có sức mạnh đẩy lùi vận xấu, đổi thoái thành hưng. Những vận xấu từ tháng trước sẽ được sửa chữa và bổ sung để tốt hơn. Có gặp khó khăn thì quý nhân tương trợ, sự nghiệp có cơ hội phát triển rộng về quy mô.   
tu vi thang 4 cua nguoi tuoi Suu hinh anh goc 2
 
SỰ NGHIỆP    Người làm công ăn lương được quý nhân Quốc Ấn phù trợ, dễ được nâng đỡ, đề bạt. Người có suy nghĩ nhảy việc thì nên tranh thủ “thiên thời” mà hành động. Những người làm chủ thì vận trình có lợi hơn, sẽ thành công nếu bạn tìm kiếm hướng phát triển từ thị trường khác. Với sự năng động bạn sẽ có nhiều vận tài lộc bất ngờ, có thể chủ động trong cầu tài, cơ hội sẽ dồi dào hơn.    Tuy vậy, vì vận trình tháng trước không tốt nên tháng này bạn càng phải cẩn thận hơn. Ngoài ra trong quá trình làm việc người tuổi Sửu dễ gặp phải đối tác khó khăn, cố chấp, khó thuyết phục, đặc biệt họ còn có thành kiến sẵn với bạn. Bạn nên điều chỉnh lại thái độ khi nói chuyện với mọi người và khách hàng, nên thể hiện sự thành ý nhiều hơn. 
tu vi thang 4 cua nguoi tuoi Suu hinh anh goc 3
 
TÀI LỘC    Xem tử vi thấy, vận tài lộc có hanh thông hay không dựa vào sự sáng suốt của bản mệnh, tính toán chi tiết tránh vướng vào họa mất tiền. Kiếp Sát hung tinh đem tới rủi ro mặc dù cơ hội tiền bạc đến với bạn không phải ít. Đầu tháng nhiều mối lợi nhỏ tự tìm tới túi tiền của bản mênh, cuối tháng lại được biểu dương bởi chút tài lộc từ đối tác. Người tuổi Sửu nên biết cách đền đáp hoặc thể hiện chút thành ý bằng một vài món quà nhỏ.    TÌNH CẢM   Vận tình cảm của người tuổi Sửu dường như vẫn dậm chân tại chỗ. Cô Thần hung tinh ảnh hưởng, khiến sự nhiệt tình của bạn với đối phương trở nên nhạt nhẽo, bản thân bạn vẫn muốn hưởng thụ cuộc sống FA tự do bay nhảy như hiện tại. Bạn nên dành chút thời gian để suy nghĩ lại, cứ mải cặm cụi làm việc cũng không hẳn là chuyện tốt. Đối phương sẽ nghĩ bạn là người khô khan.   Tuy nhiên đến cuối tháng, cơ hội mới sẽ tới giúp bạn mở rộng quan hệ xã giao, có thể gặp gỡ nhiều đối tượng mới. Họ khá lãng mạn, có cùng suy nghĩ, mục tiêu phấn đấu và thậm chí, cùng ngành nghề với bạn.    SỨC KHỎE   Trong tháng 4, bản mệnh cần chú ý tới chân tay, vận động quá mạnh dễ xảy ra họa huyết quang. Người hay tham gia các trò mạo hiểm như leo núi, nhảy dù, thường xuyên phải lái xe đường dài… phải đề cao cảnh giác, tuân thủ an toàn giao thông. Dân văn phòng lưu ý ngồi quá nhiều dễ gây ra các bệnh liên quan đến tim mạch, tê liệt thần kinh… Bạn nên thường xuyên luyện tập nhẹ nhàng, duy trì sức khỏe và tinh thần ở trạng thái sung sức nhất. Nếu có điều kiện hơn, hãy mời một huấn luyện viên chuyên nghiệp hướng dẫn bạn tập luyện thể thao.   Nhìn chung, trong tháng Quý Tỵ bản mệnh gặp được Thiên Can Quý Thủy hưng vượng, Thủy Hỏa tương khắc, nhưng Sửu Thổ lại tiếp thêm sức mạnh cân bằng lực lượng với Tỵ Hỏa. Nhưng nguy cơ phá tài vẫn khá rõ nét. Lời khuyên dành cho bạn: hãy tính toán chi tiêu thật kĩ càng. Lưu ý, công việc thuận lợi ắt bị người khác soi mói, tránh hành sự hồ đồ nên nhẫn nhịn thì hơn.   
tu vi thang 4 cua nguoi tuoi Suu hinh anh goc 4
 
=> Xem tử vi hàng ngày của 12 con giáp cập nhật mới nhất
Lichngaytot.com

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tử vi tháng 4 của người tuổi Sửu

Xem bói Tình duyên trên bàn tay của bạn

Tình yêu và duyên số luôn là thứ hấp dẫn và đầy bí ẩn với mỗi chúng ta trong cuộc sống, thông qua xem bói đường tình duyên trên lòng bàn tay

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

  Tình yêu và duyên số luôn là thứ hấp dẫn và đầy bí ẩn với mỗi chúng ta trong cuộc sống, thông qua xem bói đường tình duyên trên lòng bàn tay sẽ giúp bạn giải đáp phần nào những thắc mắc ấy.Trong lòng bàn tay mọi người ai cũng có đường tình duyên vậy nhận biết đường tình duyên như thế nào: "Đường tình duyên" có điểm bắt đầu từ cạnh của bàn tay phía dưới ngón út, chạy trên lòng bàn tay và lý tưởng nhất là kết thúc giữa ngón trỏ và ngón giữa.

  dot-ngon-tay

Đường  hôn nhân kỳ duyên:

Đường  hôn nhân gần sát đường  tứ đạo   là cưới  sớm  trước  tuổi  26.

Đường hôn nhân xa đường tứ đạo  là gả cưới  chận  sau 35 tuổi thành gia thất.

Hai đường hôn nhân đi song song vừa thô vừa cạn không  hiện sâu càng gả cưới chậm  đi nhiều. Nếu  có ba đường nằm ấp hàng nhau đường nằm gần tứ đạo   nhất  là đường kết hôn đầu.

Đường  hôn nhân tàn gia.

Đường  hôn nhân  bị đường  phá tâm chặt ngang nghĩa là bị  người ta dùng bạo lực can thiệp  vào cuộc hôn nhân đang tiến hành. Sau khi kết hôn sẽ tán gia bại sản. Hay gặp bất trắc.

Đường lương duyên  bất loạn.

Đường hông nhân có hình như đuôi cây tên, tình đầu bẽ bàng, hoặc tiến đến hôn nhân bị dang dở, vì hoàn cảnh không hợp. Kết quả không bao giờ thành  hôn được.

Đường   hôn  nhân  có ba đường  chỉ nhỏ nằm  trong thế  tam giác,  trên  đường  chỉ lại có  những đường nhỏ chắc ngang là tâm  hồn lúc nào cũng  bấn  loạn,  nên hôn nhân bất hòa.

Đường  hôn nhân,  đường  liền nhỏ và ngắn  lại, lai có đường  chắn  ngang, đường   dưới  dài ấy là cuộc hôn nhân đầu tiên thất bại nhưng cuối cùng vẫn kết quả mỹ mãn.

Đường lương duyên ngang trái.

Đuôi đường  hôn nhân  như rễ  quạt là thất  tình hay ngang trái. Nếu  đường  hôn nhân  mà ngoằn ngoèo là vì tình mà tự sát hay gặp tai nạn chết chóc bất ngờ.

Cuối đường hôn nhân có một hình tròn như quả cầu vợ hay chồng  sẽ gặp tai nạn bất ngờ. Nhưng nếu trên quả cầu tự nhiên có lông  thì sẽ tốt đẹp  vô cùng.

Dầu đường  hôn nhân  có quả cầu mà đường  chỉ vòng xuống  qua khỏi  đường   tứ đạo, lúc kết hôn gặp chuyện không mấy tốt đẹp.

Đường lương duyên ngoại tình 

Đường hôn nhân nhỏ lại lấm chấm nhiều đường là yêu đương không chuyên nhất, sẽ đi tìm người mới luôn. Đường  hôn nhân có đường lại cản đầu là sau khi kết hôn sẽ bất hòa tai hại.

Đường  hông nhân cản trở.

Đường  hôn nhân  có hai đường nằm song song mà tách  rời tứ đạo  khá xa, và đường   tứ đạo  ngắn ngủi thô cạn  và đường  hôn nhân  dài mà đi lên thì sẽ gặp người  có nghệ  thuật  hay sang cả, cảm tình tốt đẹp  và hạnh phúc lắm. Nếu đường lọt vào kẻ  tay có nghĩa là trước  tốt sau xấu.

Đường mạng đạo  gặp đường phá tâm chặt ngang với lại đường tâm đạo  và đường mạng  đạo rời nhau thì có nghĩa là cuộc hôn nhân bị người ta phá hoại.

Đường lương duyên tan vỡ.

Đường  hôn nhân đứt đoạn, đường này đè lên đường  kia. Cuộc hôn nhân không thể tiến hành được, sẽ gặp nhiều  trở ngại  trong lúc tiến hành hôn lễ. Hay sau khi kết hôn xong sẽ đi đến ly dị nếu gặp đường lý tài  ở bên trên nữa thì chắc chắn cuộc hôn nhân này không bao giờ thành  tựu.

Đường lương duyên đa thê.

Đường hôn nhân có thêm  hai đường   rất rõ và đi song song với nhau lại thêm hai đường lý tài bên trên, người ấy được  nhiều  người yêu, cưới vợ hoặc gả chồng song vẫn  có bé hay lẽ. Kết hôn sớm. Trên sự nghiệp, thích hợp trong giới chính trị và lý tài – và được  nhiều  người  mến  chuộng.

Đường lương duyên  bất hòa.

Đường lương duyên cong queo là phu thê bất hòa, trong gia đình khó bề êm đẹp. Đường hôn nhân có mọc  lông  như đuôi tên tua tủa ra hai bên, vợ bị bịnh ngặt nghèo.

Đường  hôn nhân ngược  đầu lên thật cao là cưới  hay gả nhằm  nơi giàu  có nếu  đường   chỉ thổ là cuộc hôn nhân khó thành. Nếu đường chỉ đi suốt kẽ tay kết hôn song sẽ bại  sản phá

tài.

Đường lương duyên lang chạ.

Đường  hôn nhân  đứt đoạn mà nôi tiếp  nhau đôi ba đường   là gả hay cưới nhằm chỗ không  đàng hoàng.

Đường hôn nhân ngoằn ngèo như hai con rắn quấn nhau, là vợ  hay chồng đều có ngoại tình cả, và cũng  là triệu  chứng  tiến hành  cuộc  hôn nhân  khó khăn,  hoặc  bệnh  và tai họa.

Đường  hôn nhân dài, đi xuống  tới lòng bàn tay là vợ hay chồng  cực  kỳ xung khắc  nếu  là nam thì có năm  bảy vợ,  gái thì có hai ba chồng.  Nếu đường  chỉ ấy đứt đoạn  thì sẽ nhẹ  hơn một nửa.

Đường lương duyên xung khắc.

Đường  hôn nhân  có kim tinh lại  thêm  lục  tú là sẽ cưới  hay gả nhằm   người  có kỹ thuật  và nghệ thuật, đường chỉ càng rõ càng  hiệu  nghiệm.

Đuôi  đường  hông  nhân  có chữ thập  là cưới  hay gả nhằm  chỗ giàu  có  được hưởng gia tài, nếu không chữ thập  mà là đánh  chéo  thì sau khi kết hôn một trong hai người  chết  bất đắc kỳ tử.

Đường hôn nhân dài và đi xuống suốt đường mạng đạo là vợ chồng  khắc  và đi tới chỗ xa nhau.

Đường lương duyên ly dị.

Đường  tâm đạo  và mạng đạo rời xa nhau là vợ chồng ly dị nhưng nếu bàn tay của cả vợ lẫn chồng đều như thế thì trái lại chồng  vợ sẽ thuận hòa, nhưng đến trung niên không khỏi tai nạn  và bệnh hoạn,  kết hôn trễ, lòng tự nhủ rất nặng,  nếu có đường thấu văn nối liền thì nhẹ đi một nửa.

Đường lương duyên  bội tình.

Đường  bội tình nằm trên đường tâm đạo thì cả vợ lẫn chồng  đều phản bội nhau. Nếu trên đường tứ đạo  thì khi chưa thành hôn khó gặp được  tình yêu chân chính, nếu nằm trên đường mạng  đạo thì hãy coi chừng bạn hay người ở bất   trung. Nhược  bằng bị đường dạ xoa ngang thì đường  bội thình không linh nghiệm.

Đường lương duyên  háo sắc.

Đường hôn nhân mọc nhánh, trên nhánh lại mọc nữa là người háo sắc, vợ ngoại tình có con, huyết thống hỗn tạp nếu thấy đường dạ xoa, thất bại về tình, kết hôn rồi cũng phân ly, khó có hạnh phúc lắm, nếu nhánh rời là không linh nghiệm.

Đường lương duyên  sát phu.

Đầu đường  hôn nhân  như cây chĩa ba là cực   kỳ đa dâm, loạn luân, trai thì giết vợ, gái thì hai chồng, vì hôn nhân mà gặp nhiều  điều bất hạnh  nếu là độc thân, nghèo  khổ hay đi tu thì giảm đi được một nửa.

Xem bói tình duyên trên lòng bàn tay chỉ mang tính chất tham khảo ,duyên phận còn phụ thuộc vào chính mỗi bản thân con người đấy, chúc các bạn luôn làm chủ được duyên số của mình!


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem bói Tình duyên trên bàn tay của bạn

Đeo nhẫn theo phong thủy để hút tài lộc và vận đào hoa

Cách đeo nhẫn theo phong thủy để hút tài lộc và tình duyên. Nếu muốn chiêu tài, bạn nên đeo nhẫn ở ngón áp út. Đây là vị trí giúp tụ tài tốt nhất và mang lại
Đeo nhẫn theo phong thủy để hút tài lộc và vận đào hoa

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nếu muốn chiêu tài, bạn nên đeo nhẫn ở ngón áp út. Đây là vị trí giúp tụ tài tốt nhất và mang lại nhiều may mắn về tiền bạc.

 

1. Đeo nhẫn để chiêu tài

  Theo quan điểm đeo nhẫn theo phong thủy, ngón tay áp út là vị trí giúp tụ tài tốt nhất. Nếu đeo nhẫn ở ngón tay này sẽ tăng thêm tài lộc và gặp nhiều may mắn về tiền bạc. 
 
Tuy nhiên, một vài quan điểm cho rằng, đây là ngón tay đeo nhẫn cưới, nếu vẫn độc thân mà đeo nhẫn ngón này sẽ dễ bị lỡ mất cơ hội kết thân với người khác giới.
 
Do đó, với những người độc thân, có thể sử dụng các loại nhẫn có hình dáng khác với nhẫn cưới để giúp chiêu tài, tụ khí lại không làm lỡ mất cơ hội tình cảm.
 
Trên thực tế, trong thời gian đang yêu hoặc đã đính hôn, việc đeo nhẫn ở ngón tay này sẽ giúp tình cảm lứa đôi thêm gắn kết, sớm “ra hoa kết trái”. 
 

2. Đeo nhẫn để khai vận và duy trì hạnh phúc


Deo nhan chuan phong thuy hut tai loc va van dao hoa hinh anh
Đeo nhẫn chuẩn phong thủy hút tài lộc và vận đào hoa

Ngón tay giữa chính là vị trí trung tâm của bàn tay, có ý nghĩa tụ hợp. Nếu đeo nhẫn ở ngón tay này sẽ tập hợp được sức mạnh, tăng cường vận may trong mọi phương diện của cuộc sống.
 
Bên cạnh đó, ngón này đại diện cho sự bình ổn và cũng chính là phúc phần tốt nhất. Vì vậy, nếu muốn duy trì niềm vui và hạnh phúc trong cuộc sống, bạn nên đeo nhẫn theo phong thủy ngón tay giữa.

Mời bạn đọc tham khảo thêm bài viết: Đeo nhẫn cưới hợp mệnh: vợ chồng hạnh phúc, con cái đề huề
 

3. Đeo nhẫn thúc đẩy sự nghiệp thăng tiến

  Trên bàn tay, ngón trỏ đại diện cho bản thân và địa vị của mỗi người. Do đó, nếu đeo nhẫn ở ngón trỏ sẽ thúc đẩy sự nghiệp, chuyện học hành thêm thuận lợi và phát đạt. 
 
Ngoài ra, ngón trỏ cũng là vị trí tốt dành cho khai vận tình yêu. Nhiều người cho rằng, nếu đeo nhẫn ở ngón trỏ có nghĩa là bạn đang “bật đèn xanh” cho đối phương cũng nhưng kích thích vận đào hoa của bản thân.
 

4. Đeo nhẫn để tăng vận quý nhân

  Một vài người quan niệm rằng, đeo nhẫn ở ngón út là biểu hiện của người đã li hôn. Nhưng thực ra, vị trí này cũng mang lại nhiều phúc khí cho bạn.
 
Đây là ngón đại diện cho quý nhân phù trợ, đeo nhẫn ngón tay này sẽ giúp bạn dễ dàng vượt qua khó khăn, hóa giải được mưu kế của kẻ tiểu nhân, từ đó vận thế hanh thông, đạt được nhiều thành công trong cuộc sống.
 

5. Đeo nhẫn để tăng vận thế và uy quyền

Người xưa cho rằng, ngón tay cái là đại diện cho vật chất và uy quyền. Điều đó lí giải tại sao giới vua chúa, quý tộc thời xưa thường đeo nhẫn ở ngón cái. Do đó, nếu muốn tăng vận thế, khí trường và uy quyền cho bản thân, bạn nên đeo nhẫn theo phong thủy ở ngón cái.

Xem thêm bài viết: Ngón tay đeo nhẫn tiết lộ vận may hay điều xui của bạn

ST

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đeo nhẫn theo phong thủy để hút tài lộc và vận đào hoa

Ma trơi hay ma chơi ?

Tiếng khu Tư gọi là "ma trơi", Bắc bộ gọi là "ma chơi". Chúng tôi chưa rõ biến âm hay xuất xứ của ngôn từ ám chỉ loại ma đó "chơi vơi", "chơi đùa với trần thế" hay "chêu chọc cho xấu hổ". Nguyễn Du trong " Văn chiêu hồn thập loại chúng sinh" câu:
Ma trơi hay ma chơi ?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Lập loè ngọn lửa ma chơi
Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương.

Nguyễn Văn Thành trong "Văn tế trận vong tướng sĩ" có câu:

Hồn chiến sĩ biết đâu miền minh mạc,
Mịt mù gió lốc thổi dấu tha hương.
Mặt chinh nhân khôn vẽ nét gian nan,
Lập loè lửa chơi soi chừng cổ độ.

Chúng tôi đã nhìn thấy ma trơi và nghe nhiều người kể chuyện ma trơi đuổi. Đó là ngọn lửa lập loè yếu nhạt, bập bùng lan toả theo chiều gió, chốc lại biến mất rồi từ chỗ cũ, chốc chốc lại lập loè ngọn lửa xanh nhạt, loáng thoáng bay lên. Theo các cụ già giải thích thì đó là oan hồn của những người chết trận, của những nắm xương vô thừa nhận không người chôn cất, vất vưởng trên bãi chiến trường, trong bãi tha ma, hoặc trên cánh đồng không mông quạnh. Khoa học đã giải thích, chứng minh hiện tượng đó là do chất lân tinh (P) từ trong xương cốt người và súc vật toả ra, gặp ôxy trong khí trời bốc cháy thành ngọn lửa xanh nhạt, ban ngày cũng có nhưng không nhìn thấy.

Tuy được khoa học giải thích rõ không phải là ma, nhưng cảnh khuya thanh vắng, đi một mình giữa chốn hoang vu mà bị ma chơi đuổi thì cũng thần hồn nát thần tính, có người đâm hoảng loạn mà ốm, phải cúng bái mãi mới lành, có lẽ khỏi bệnh là do tác động tâm lý. Sở dĩ có hiện tượng tưởng là ma trơi đuổi là vì khi ta chạy đã tạo nên một luồng không khí cuốn hút ngọn lửa ấy vờn theo.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Ma trơi hay ma chơi ?

Phật dạy 15 nguyên tắc đảm bảo sống vui, sống an lành (p1)

Cuộc sống phức tạp, chúng sinh ly khổ, phát bồ đề tâm, Phật dạy 15 nguyên tắc sống cơ bản mà lòng người nên thuộc.
Phật dạy 15 nguyên tắc đảm bảo sống vui, sống an lành (p1)

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


► Cùng đọc những câu nói hay về cuộc sống và suy ngẫm

Phat day 15 nguyen tac dam bao song vui, song an lanh p1 hinh anh
 
1. Nguyên tắc nhân quả
  Trên thế giới này, không có sự việc nào ngẫu nhiên sinh ra, bất cứ việc gì phát sinh đều có nguyên nhân, đâu là nguyên tắc sống căn bản nhất. Vì thế, nếu gieo nhân nào thì gặt quả nấy, không có ngoại lệ. Nhân mệnh tuần hoàn, Phật giáo lấy thuyết nhân quả làm căn bản cũng bởi lẽ, bất cứ ai cũng sẽ phải chịu trách nhiệm cho việc mình làm, bất cứ sự việc nào cũng bắt nguồn từ một sự việc khác, cứ thế luân hồi mà thành cuộc sống.   2. Nguyên tắc hấp dẫn   Tư tưởng và sự thật luôn hấp dẫn lẫn nhau. Nếu con người chỉ nghĩ tới những điều xấu xa, cay nghiệt, oan trái thì chắc chắn nguy cơ ấy sẽ xảy tới, do quá lo lắng, quá bất an, quá sợ hãi. Nếu hướng tới điều tích cực thì bản thân phấn chấn, đường đời rộng mở.
Nhân quả báo ứng: Con cái đến với cha mẹ là do nghiệp duyên Ghé thăm vườn tượng Phật tại Lào: Như lạc vào tiên cảnh 3. Nguyên tắc tin tưởng   Chân chính tin tưởng thì sẽ thành hiện thực. Vì tin tưởng nên tâm lúc nào cũng nghĩ tới, thân lúc nào cũng hành động vì điều đó, tự khắc chuyện đó sẽ xảy ra. Niềm tin là thứ có thể đánh ngã cũng có thể cứu vớt một đời người. Phật dạy, nhân sinh vô thường, tin là có, có là tin.   4. Nguyên tắc thả lỏng
 
Chỉ có trong lòng thả lỏng, tâm tình thư thái mới đối diện được với cuộc sống. Vì đời là bể khổ, sống là phải đối diện với trăm ngàn bất an, sợ hãi cùng nguy cơ. Vô niệm sống an vui, vì đời là trăm ngàn ham muốn, dục vọng cùng ganh ghét. Nếu chạy đua với đời, đua với người thì làm sao tồn tại được một cách bình an. Ở đâu sinh tâm ác thì ở đó có khổ đau, ở đâu tâm tu vi, ở đó có hoa cỏ.  
Phat day 15 nguyen tac dam bao song vui, song an lanh p1 hinh anh
 
5. Nguyên tắc quyết đoán
  Bất cứ sự việc nào đều chỉ xảy đến một lần, trong một thời điểm. Con người không thể khống chế quá khứ, thay đổi tương lai chỉ có thể tự mình tạo dựng chính khoảnh khắc này. Quá khứ là cơm thiu, tương lai là gạo sống, hiện thực mới là thứ nuôi sống được chúng ta. Nhớ điều đó và sống vì hôm nay, cho hôm nay, không để quá khứ làm ảnh hưởng, không để tương lai làm sợ hãi.   Phật chỉ ra nhân duyên kiếp trước của 10 loại người Trở thành thiện nam tín nữ để hưởng an lạc Phật dạy 15 nguyên tắc đảm bảo sống vui, sống an lành (phần 2)
Phật giáo thâm sâu, triết lý thông tuệ, những nguyên tắc cuộc sống dưới đây là những đúc kết kinh nghiệm từ ngàn đời, chỉ có tự mình trải qua mới thực sự thấu

Thái Vân

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phật dạy 15 nguyên tắc đảm bảo sống vui, sống an lành (p1)

Đoán giàu nghèo qua nốt ruồi ở chân

Nếu để ý đến tử vi, xem tướng bạn sẽ thấy dựa vào đặc điểm nhận dạng trên cơ thể người ta có thể đoán được trong tương lai bạn thế nào? Một trong những đặc điểm nhận dạng rõ thấy đó là nốt ruồi. Cụ thể là người ta có thể đoán giàu nghèo qua nốt ruồi ở chân.
Đoán giàu nghèo qua nốt ruồi ở chân

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nốt ruồi trên ngón chân cái

Ngón chân cái thường biểu trưng cho quyền lực. Vậy nên nốt ruồi mọc trên ngón chân này có hàm ý về sự tài hoa và tố chất lãnh đạo. Nếu sở hữu nốt ruồi này, trong tương lai bạn sẽ được thăng tiến nhanh chóng và trở thành nhà lãnh đạo tài ba.

 Nốt ruồi ở lòng bàn chân

Theo Nhân tướng học, nốt ruồi mọc ở lòng bàn chân (hay còn gọi là gan bàn chân) là biểu trưng cho sự phú quý, cuộc sống sung túc, no đủ. Người có nốt ruồi này không bao giờ phải lo về vấn đề cơm áo gạo tiền và nhà cửa. Khi sinh ra, họ đã có số mệnh sướng, giàu có, lắm tiền nhiều của.

Nốt ruồi ở gót chân

Đây là nốt ruồi phú quý, đại cát đại lợi. Người có nốt ruồi ở gót chân thường có tài lãnh đạo và quản lý rất nhiều người. Về tổng thể, đây là nốt ruồi báo hiệu mệnh sướng, nhiều tài lộc.

Nốt ruồi trên mu bàn chân

Người xưa gọi đây là nốt ruồi “hai chân không nghỉ”. Người có nốt ruồi trên mu bàn chân thường lận đận, vất vả, hay phải chạy đôn chạy đáo để lo chuyện.

Nốt ruồi ở mắt cá chân và hai mép bàn chân

Người có nốt ruồi trên mắt cá chân và ở hai bên mép bàn chân thường có số vất vả, chạy đông chạy tây để lo cuộc sống mưu sinh.

 Nốt ruồi mọc trên các ngón chân khác

Những nốt ruồi mọc ở các ngón chân khác ngoài ngón cái được người xưa gọi là nốt ruồi “tha hương cầu thực”. Khi sống, những người này phải xa quê hương, cuộc sống chật vật khó khăn. Thậm chí, khi qua đời, họ cũng không được về với đất mẹ mà phải chôn vùi ở nơi đất khách quê người.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đoán giàu nghèo qua nốt ruồi ở chân

Mơ thấy quả cau: Sẽ giải tỏa khó khăn, có được thành công –

Mơ thấy quả cau, bản thân sẽ không ngừng hoàn thiện, giúp mình ngày càng vững mạnh hơn. Mơ thấy mình nhặt quả cau, dự báo sự nghiệp thành công. Mơ thấy ăn quả cau, với hàm ý trong sự nghiệp bản thân không hề dựa dẫm bạn bè. Mơ thấy hình ảnh quả cau t
Mơ thấy quả cau: Sẽ giải tỏa khó khăn, có được thành công –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mơ thấy quả cau: Sẽ giải tỏa khó khăn, có được thành công –

Giải mã ý nghĩa các ngày sinh (Từ ngày 20/10 tới ngày 24/10)

Mỗi người chúng ta đều có tính cách không giống nhau do ý nghĩa các ngày sinh khác nhau, mỗi ngày sinh lại mang một ý nghĩa không hề giống nhau.
Giải mã ý nghĩa các ngày sinh (Từ ngày 20/10 tới ngày 24/10)

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Mỗi người chúng ta đều có tính cách không giống nhau do ngày sinh khác nhau, mỗi ngày sinh lại mang một ý nghĩa không hề giống nhau. Giải mã ý nghĩa ngày sinh từ ngày 10/10 tới 14/10.


► Xem bói ngày sinh để biết tình yêu, hôn nhân, vận mệnh, sự nghiệp của mình

Giai ma y nghia cac ngay sinh Tu ngay 2010 toi ngay 2410 hinh anh
Ảnh minh họa

Ngày 20 tháng 10

  Những người sinh vào ngày này thường có trí tưởng tượng phong phú và luôn là người bắt kịp xu thế. Không chỉ vậy, những người này còn rất giỏi việc quản lý tài sản, năng lực kiếm tiền, có con mắt nghệ thuật và tính thẩm mỹ khá cao, cũng là người rất có năng lực.   Ưu điểm: Chuyên tâm với sự nghiệp, rất coi trọng cả đời sống vật chất lẫn tinh thần, khả năng suy nghĩ cũng năng lực phán đoán rất tốt.   Khuyết điểm: Người này khá là cố chấp, không dễ dàng thay đổi hoặc tiếp nhận ý kiến của người khác.  

Ngày 21 tháng 10

  Thông minh, có chí tiến thủ lớn, tính cách hướng ngoại là những điểm dễ dàng nhận thấy ở những người sinh vao ngày 21 tháng 10. Họ có khả năng giao tiếp tốt, khéo mồm khéo miệng nên các mối quan hệ xã giao khá rộng, hơn nữa vẻ bề ngoài cá tính rất có sức hấp dẫn nên thường bị người khác đố kị.
Giải mã ý nghĩa các ngày sinh (Từ ngày 15/10 tới ngày 19/10) Giải mã ý nghĩa các ngày sinh (Từ ngày 10/10 tới ngày 14/10) Giải mã ý nghĩa các ngày sinh (Từ ngày 05/10 tới ngày 09/10)
Ưu điểm: Lạc quan, độ lượng, rất coi trọng sự nghiệp, năng lực rất tốt, thường gặt hái được nhiều thành tích cao trong công việc.   Khuyết điểm: Hay phê bình người khác và thích tranh luận, tự cao tự đại, thường làm người khác khó chịu.

 

Ngày 22 tháng 10

  Hầu hết những người có sinh nhật vào ngày 22 tháng 10 thường rất hiếu kỳ, luôn tìm tòi và khám phá cái mới, thích sự phiêu lưu mạo hiểm. Những người này cũng có sức lôi cuốn đặc biệt, có khả năng thu hút sự chú ý của người khác.   Ưu điểm: Quả cảm, dũng cảm, đầu óc vô cùng sáng tạo.   Khuyết điểm: Dễ dàng bị kích động, dễ dàng bị lừa gạt.
Giai ma y nghia cac ngay sinh Tu ngay 2010 toi ngay 2410 hinh anh
Ảnh minh họa

Ngày 23 tháng 10

  23 tháng 10 không phải là ngày đặc biệt nhưng những người có sinh nhật vào ngày 23 tháng 10 lại có chút khác người. Họ chủ động, tích cực, linh hoạt, tinh lực dồi dào, sẵn sàng đối mặt với mọi lời thách thức. Ngoài ra, những người này có khéo ăn khéo nói, khả năng giao tiếp tốt, dễ gần và dễ kết bạn.   Ưu điểm: Tâm tư nhạy bén, quả quyết, hành động nhanh chóng, biết cách nắm bắt thời cơ, khá nhạy bén và linh hoạt.   Khuyết điểm: Quá cả tin, luôn lo lắng bất an, bất cứ việc gì cũng đều muốn tự tay mình làm hoặc mình kiểm soát.  

Ngày 24 tháng 10

  Những người sinh vào ngày 24 tháng 10 thường rất coi trọng tình cảm, họ lãng mạn vô cùng, nhiều lúc thường xử trí theo cảm tính, tinh lực dồi dào, ý chí kiên định. Những người này cũng có năng khiếu nghệ thuật, tuy nhiên, họ cũng theo đuổi chủ nghĩa hoàn hảo, mọi việc đều phải thập toàn thập mỹ tới từng chi tiết. Ưu điểm: Là người theo đuổi chủ nghĩa hoàn hảo, khi làm việc thì khả năng tập trung khá tốt, đời sống tình cảm phong phú.   Khuyết điểm: Tính sở hữu mạnh, hay ghen, đối với bất kỳ chuyện gì cũng rất để ý, không dễ dàng cho qua.   Lichngaytot.com Ngày sinh chào đón sự ra đời của mỹ nhân Xem tử vi quý nhân vận theo ngày sinh siêu chuẩn Biết trước tương lai, số mệnh dựa vào Thập cách
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Giải mã ý nghĩa các ngày sinh (Từ ngày 20/10 tới ngày 24/10)

Thứ của mình người khác lấy mất, ông trời sẽ trả lại cho

Câu chuyện "Thứ của mình người khác lấy mất, ông trời sẽ trả lại cho" cho thấy nhờ lấy ân báo oán, gia đình chàng trai trong câu chuyện đã có cái kết thật viên mãn.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Hôm nay, tuvismenh.com xin gửi tới anh chị một câu chuyện răn dạy đạo làm người của người Trung Quốc. Nhờ lấy ân báo oán, gia đình chàng trai trong câu chuyện đã có cái kết thật viên mãn.

Vào triều đại nhà Minh, có một thư sinh tên là Ngô Tử Điềm. Ngô Tử Điềm mồ côi mẹ từ rất sớm, cha cậu cưới vợ hai. Mẹ kế của Tử Điểm rất bất công, bà chỉ đối xử tốt với người con ruột của mình, còn đối với Tử Điềm thì lại rất không tốt. Dần dần trong lòng Tử Điềm có chút bất bình thậm chí oán giận mẹ kế.

Sau này, khi Tử Điềm cưới vợ, mẹ kế cũng không đối xử tốt với vợ của anh ta. Trong lòng Tử Điềm thầm nghĩ: “Thật là bất công, mình không thể chịu đựng thêm được nữa, phải đi tìm mẹ kế nói cho ra lẽ mới được.” Thế là Tử Điềm bèn đi tìm mẹ kế nói chuyện. Nhưng lại bị vợ bắt gặp, vợ anh ta khuyên can rằng: “Chúng ta là con nên chịu nhịn một chút.”

Sau này, khi cha của Tử Điềm qua đời. Ông có để lại ruộng đất và tiền bạc. Mẹ kế của Tử Điềm chỉ chia cho hai vợ chồng Tử Điềm một số đất ít ỏi còn hai mẹ con bà nhận hết phần tiền và phần lớn ruộng đất. Lần này, Tử Điềm quyết không nhẫn nhịn nữa mà lập tức đi tìm mẹ kế để đòi sự công bằng.

Nhưng vợ biết được và ngăn cản lại. Người vợ còn nói rằng: “Có hại chịu thiệt là phúc! Hơn nữa chúng ta cần phải hiểu, đã là thứ của chúng ta thì có chạy cũng không chạy thoát, đâu; có cái nào cứ tranh là được? Càng tranh giành, phúc báo càng bị hao tổn.”

Quả nhiên, không lâu sau vì người con riêng của mẹ kế và cha Tử Điềm có thói quen đam mê cờ bạc, nên toàn bộ tài sản đã nhanh chóng tiêu tan. Hai mẹ con người mẹ kế này phải đi ra đường xin ăn.

Nếu là người bình thường ở vào hoàn cảnh giống như Tử Điềm, chắc hẳn sẽ có người hả hê mà nghĩ: “Đúng là trời xanh có mắt!” Nhưng vợ của Tử Điềm đúng là người hiểu lẽ đạo lý. Cô khuyên bảo chồng đi tìm và đón mẹ kế cùng người em về nhà. Sau khi đón mẹ kế và em chồng trở về nhà, hai vợ chồng Tử Điềm cùng giúp người em này bỏ thói quen cờ bạc, khiến hai người họ vô cùng cảm động. Thế là từ đó trở đi, cả gia đình cùng nhau sống cuộc sống vui vẻ, chan hòa.

Về sau, hai vợ chồng Tử Điềm sinh được ba người con trai và cả ba người này sau khi trưởng thành đều thi đậu tiến sĩ. Quả là phúc báo cho những việc làm lương thiện của vợ chồng anh ta. Ba người con, từ nhỏ đã được mẹ giáo dưỡng lại được tận mắt chứng kiến cách đối nhân xử thế của mẹ nên trong cuộc sống sau này luôn được mọi người kính trọng, gia đình hạnh phúc.

Cho nên, làm người đừng quá so đo, đặc biệt với người thân thiết của mình. Có thiệt hãy biết chịu đựng một chút, người khác thiếu nợ mình, ông trời chắc chắn sẽ trả lại cho mình.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Thứ của mình người khác lấy mất, ông trời sẽ trả lại cho

Những cấm kỵ phong thủy trong văn phòng –

Phong thủy đối với người Á Đông luôn hữu ích với mọi không gian sinh hoạt và làm việc. Một số nguyên tắc phong thủy sau sẽ giúp bạn tạo cơ sở tốt nhất cho sự phát triển của mình cũng như công ty. Nên dựa vào người có quyền hành cao nhất để tính toán

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

phong thủy cho văn phòng.

Bên cạnh phòng của sếp không nên có vòi nước nhằm tránh “dột tiền tài”. Tương tự, nền nhà hay tường công sở bị thấm nước, rạn nứt cũng tượng trưng cho sự “rơi lọt tiền tài”. Cần có biện pháp khắc phục ngay nếu hiện trạng đang diễn ra.

Vị trí tài lộc chính là góc chéo đối diện ngay cửa đi vào trong phòng. Vị trí này cần sáng và sạch sẽ; kiêng đặt hoa và cây cảnh giả.

Cổng văn phòng tối kỵ đối diện cột điện, ống khói hoặc gốc cây to. Cũng không đặt nhà vệ sinh ngay cạnh cổng ra vào, bởi toilet sẽ chặn luồng không khí mới vào văn phòng, ảnh hưởng xấu đến vận may và sự nghiệp.

van-phong

Nền nhà văn phòng kỵ quá thấp vì sẽ không đem lại may mắn trong làm ăn, đồng thời ảnh hưởng đến việc thông gió.

Cầu thang tránh đối diện cổng vì như vậy luồng khí đến và đi sẽ xung đột, không tốt cho vận may và sức khỏe.

Văn phòng không có cửa sổ là điều đặc biệt xấu vì khí không thể lưu thông.

Kỵ nứt vỡ, tổn hại đường công danh. Không đặt văn phòng đối diện nhà vệ sinh sẽ bị ảnh hưởng khí xú uế. Bàn làm việc tốt nhất nên làm bằng gỗ, tránh bằng kim loại.

Phía sau bàn làm việc tối kỵ cửa thông cửa (cả cửa ra vào lẫn cửa sổ), như vậy vừa không an toàn vừa dễ mất tập trung khi làm việc. Bàn làm việc tốt nhất nên có 1 góc dựa vào tường, tối kỵ đặt chéo.

Phía sau văn phòng kỵ hành lang và nhiều người đi lại ồn ào. Tốt nhất nên là không gian tĩnh. Ngay cả trong phòng cũng cần không gian đó. Các chuyên gia cho rằng khi thiết kế phòng làm việc, dùng thảm trải nền và rèm kéo cũng mang lại hiệu quả trong cách âm.

Tránh ánh sáng tối tăm. Ánh sáng trong văn phòng phải chan hòa, ánh sáng tự nhiên tốt hơn là đèn điện. Vì thời gian làm việc rất dài, cường độ ánh sáng mạnh yếu sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thị lực.

Trong văn phòng ngoài bày tủ sách, máy tính, ghế ngồi cũng nên trang trí thêm các đồ thủ công mỹ nghệ, cây cảnh tạo không gian tươi sáng, trang nhã.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những cấm kỵ phong thủy trong văn phòng –

Sao Cự Môn

Phương Vị: Bắc Đẩu Tinh Tính: Âm Hành: Thủy Loại: Ám Tinh Đặc Tính: Ngôn ngữ, thị phi Tên gọi tắt thường gặp: Cự Một trong 1...
Sao Cự Môn

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Phương Vị: Bắc Đẩu TinhTính: ÂmHành: ThủyLoại: Ám TinhĐặc Tính: Ngôn ngữ, thị phiTên gọi tắt thường gặp: Cự
Một trong 14 Chính Tinh. Sao thứ 4 trong 8 sao thuộc chòm sao Thiên Phủ theo thứ tự: Thiên Phủ, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát, Phá Quân.
Vị Trí Ở Các Cung

  • Miếu địa ở các cung: Mão, Dậu.
  • Vượng địa ở các cung: Tý, Ngọ, Dần.
  • Đắc địa ở các cung: Thân, Hợi.
  • Hãm địa ở các cung: Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, Tỵ.
Ý Nghĩa Cự Môn Ở Cung Mệnh
Tướng Mạo
Cung Mệnh có sao Cự Môn dù đắc địa hay hãm địa thì thân hình đẫy đà, thấp, da trắng, mặt vuông vắn, đầy đặn, mắt lộ.
Tính Tình
Sao Cự Môn ở cung miếu địa, vượng địa hay đắc địa thì thông minh, nhân hậu, vui vẻ, mưu trí, có khả năng phán xét tinh vi.
Sao Cự Môn ở cung hãm địa thì kém thông minh, hay nhầm lẫn, không có tánh dứt khoát, ba phải, người hay nói khoác, ích kỷ, đa nghi, tính khí hay thay đổi, tham lam, có tài nhưng kém đức, hay lợi dụng. Người nữ thì hay đố kỵ, ghen tuông, đa nghi.
Công Danh Tài Lộc
  • Sao Cự Môn ở cung đắc địa chỉ giàu sang, có uy danh. Người nữ thì tài giỏi, đảm đang, lợi chồng.
  • Sao Cự Môn ở cung hãm địa thì vất vả, khổ sở, nhất là khi Cự Môn tọa thủ ở Thìn, Tuất. Tuy nhiên, có ngoại lệ đối với hai tuổi Ất, Bính gặp Cự Môn hãm địa ở Sửu, Mùi. Trong bốn trường hợp này thì hiển đạt, khá giả.
  • Sao Cự Môn ở Tý được gọi là cách Thạch Trung Ẩn Ngọc, chủ học lực rộng rãi, tài cao có chí. Cách này cần phải có thêm Hóa Lộc đồng cung hoặc TUẦN, TRIỆT án ngữ, hoặc có Đại Hao, Tiểu Hao mới trở thành phú quý mạnh mẽ.
Phúc Thọ Tai Họa
  • Đắc địa: Cự Môn có ý nghĩa phúc thọ.
  • Hãm địa: Cự Môn có ý nghĩa xấu rất nặng nề, hay bị khẩu thiệt, miệng tiếng, kiện cáo, tù tội, tai nạn, bệnh nan y. Yểu tử, nếu không bỏ quê nhà tha phương cầu thực. Người nữ thì khắc chồng hại con. Nhưng ngoại lệ đối với bốn tuổi Quý, Tân và Ất, Bính, trong trường hợp này, tai họa sẽ bị chiết giảm đi nhiều.
  • Tuy nhiên, Cự Môn rất kỵ sao Hóa Kỵ, dù là Cự Môn đắc địa. Nếu hai sao đồng cung sẽ gặp nạn chết đuối, đụng xe hay tai nạn trinh tiết nếu gặp thêm Kình Đà. Ngoài ra, Cự Môn hãm địa còn kỵ thêm các sát tinh như Kinh, Đà, Không, Kiếp, Linh, Hỏa và hình tinh như Thiên Hình tai họa bệnh tật rất nặng và thường phải yểu tử và chết thảm.
Những Bộ Sao Tốt
  • Cự Môn, Thái Dương đồng cung ở Dần: Vinh hiển và danh giá suốt ba đời (ông, cha, mình). Nếu ở Thân thì không bằng ở Dần, chỉ khá giả mà thôi, trước có công danh, sau mới có tiền bạc.
  • Nếu thêm Quyền, Phượng: Sự tốt đẹp tăng thêm, tuy nhiên, nếu gặp Lộc Tồn thì lại xấu suốt đời bất đắc chí, đời lông bông, hao tán của cải, chơi bời lang thang.
  • Mệnh được Cự Nhật đồng cung chiếu: Cũng được tốt đẹp như Cự, Nhật tọa thủ.
  • Cự Cơ ở Mão và Dậu: Có quan chức lớn, tài lộc dồi dào (đại phú). Ở Dậu thì kém hơn ở Mão. Đặc biệt bốn tuổi Ất, Kỷ, Bính, Tân thì càng thịnh đạt và cả hai mặt phú và quí.
  • Nếu có thêm Đại, Tiểu Hao: Rất giàu có và uy quyền, danh tiếng lừng lẫy, nhưng tính tình phóng đãng, ăn tiêu hoang phí.
  • Cự Khoa ở Thìn Tuất: Có biệt tài về ăn nói, có khả năng du thuyết.
  • Tuổi Tân, Mệnh ở Tứ Mộ, Cự tọa thủ: Vẫn khá giả dù Cự hãm địa. Nếu thêm Tả, Hữu, tai họa bị chiết giảm đi nhiều, dù cho có Hóa Kỵ đồng cung.
Những Bộ Sao Xấu
  • Cự hãm, Kình, Đà: Người yếu đuối, bị bệnh nan y. Nếu không bệnh thì trộm cắp, đàng điếm, phá hoại; nữ thì lăng loàn.
  • Cự Hỏa Linh: Rất xấu, có thể bị chết thảm nếu hạn xấu.
  • Nếu thêm Kình hay Đà: Có thể tự tử bằng cách tự trầm hay thắt cổ. Nếu không chân tay bị tàn tật, phỏng nặng, làm bếp, nội trợ giỏi.
  • Cự ở Tý Ngọ gặp Lộc Tồn đồng cung: Có học, có tài nhưng bất đắc chí vì không gặp thời.
  • Cự ở Hợi Tý gặp Lộc Tồn đồng cung: Không phát huy được tài năng, dù được Lộc Quyền hội họp. Đây là trường hợp một người có cao vọng nhưng bất toại chí.
  • Nữ mệnh có Cự Kỵ: Con gái thì thất trinh, đàn bà thì thất tiết.
  • Cự Tham Hao, Cự Tham Riêu: Hạn ở nhà, ngồi tại chỗ thất nghiệp, bị tù tội, bị thưa, bị phạt tiền do sai phạm trong công việc, hạn gặp chuyện phiền nhiễu.
Ý Nghĩa Cự Môn Ở Cung Phụ Mẫu
  • Cung Phụ Mẫu có sao Cự Môn: Cha mẹ bất hòa, dù sao Cự Môn đắc hay hãm địa.
  • Sao Cự Môn đơn thủ tại Hợi, Tý, Ngọ: Cha mẹ giàu nhưng khác tính với con.
  • Sao Cự Môn đơn thủ tại Tỵ, Thìn, Tuất: Cha mẹ xa cách nhau, nếu không cha hay mẹ sớm chết.
  • Sao Cự Môn, Thiên Cơ hay Thiên Đồng đồng cung: Cha mẹ song toàn.
  • Cự Môn, Thái Dương đồng cung ở Thân: Cha mẹ phúc thọ, khá giả nhưng không bằng ở Dần.
Ý Nghĩa Cự Môn Ở Cung Phúc Đức
  • Sao Cự Môn đơn thủ tại Tý, Ngọ, Hợi (đắc địa) thì phúc thọ vẹn toàn, gia đình giàu sang. Đơn thủ tại Thìn, Tuất, Tỵ (hãm địa) thì kém phúc, giảm thọ, đời sống khó khăn. Họ hàng ly tán, phiêu bạt.
  • Cự Môn, Thiên Cơ đồng cung thì lúc trẻ vất vả, về già mới khá. Họ hàng thịnh vượng.
  • Cự Môn, Thiên Đồng đồng cung thì kém phúc, giảm thọ, hay gặp tai nạn. Họ hàng ly tán.
  • Cự Môn, Thái Dương đồng cung thì được hưởng phúc thọ, họ hàng quý hiển.
Ý Nghĩa Cự Môn Ở Cung Điền Trạch
  • Cự Môn đơn thủ tại Tỵ, Thìn, Tuất: có nhà đất nhưng không đáng kể.
  • Cự Môn đơn thủ tại Hợi, Tý, Ngọ: có nhiều nhà đất tự tay tạo lập.
  • Cự Cơ ở Mão Dậu: Rất nhiều nhà cửa.
  • Cự Đồng đồng cung: Có nhà đất chút ít lúc về già.
  • Cự Nhật đồng cung tại Dần Thân: Có nhiều nhà đất ông cha để lại cho và cũng tự tay tạo nên.
Ý Nghĩa Cự Môn Ở Cung Quan Lộc
  • Cự Môn tại Tý, Ngọ: Có nhiều tài năng, nhất là khoa ăn nói, mưu trí, tài tổ chức, được người trọng vọng vì lời nói.
  • Tại Hợi: Có công danh nhưng có cao vọng.
  • Cự Môn tại Tỵ: Công danh trắc trở, chức nhỏ, hay gặp tai nạn.
  • Cự Môn tại Thìn, Tuất: Sự nghiệp về sau mới phát. Có tài xét đoán, lý luận, nhưng thường bị thị phi, oán trách.
Ý Nghĩa Cự Môn Ở Cung Nô Bộc
  • Cung Nô Bộc có sao Cự Môn: Thông thường người giúp việc, bạn bè hay nói xấu, oán trách, hay gây sự thị phi.
  • Cự Môn ở cung hãm địa: Bị phản bội.
Ý Nghĩa Cự Môn Ở Cung Thiên Di
  • Cự Môn đơn thủ tại Tý, Ngọ, Hợi thì ra ngoài được thắng lợi. Đơn thủ tại Thìn, Tuất, Tỵ thì bất lợi hay bị khẩu thiệt, tranh chấp và gặp tai nạn.
  • Cự Môn, Thái Dương đồng cung tại Dần, Thân thì ra ngoài được quý nhân giúp đỡ, mọi người kính nể, tài lộc hưng vượng.
  • Cự Môn, Thiên Cơ đồng cung thì ra ngoài khá giả, đi buôn bán thì giàu có nhưng hay bị miệng tiếng.
  • Cự Môn, Thiên Đồng đồng cung thì hay được gần quý nhân, nhưng hay bị chê bai.
Ý Nghĩa Cự Môn Ở Cung Tật Ách
  • Cung Tật Ách có sao Cự Môn thì lúc còn bé hay có mụn nhọt, khi lớn tuổi hay bệnh ở hạ bộ, bệnh ở bộ máy tiêu hóa.
  • Cự, Nhật đồng cung thì đầu hay mặt có mụn nhọt.
  • Cự, Cơ đồng cung thì hay có bệnh về khí huyết.
  • Cự, Đồng đồng cung thì có bệnh về tâm khí. Cùng với Kình, Hỏa thì có tật ở mắt và chân tay bị yếu. Cùng với Khốc, Hư thì bị ho nặng.
Ý Nghĩa Cự Môn Ở Cung Tài Bạch
  • Sao Cự Môn đơn thủ tại Hợi, Tý, Ngọ thì làm ăn lương thiện, tài lộc đồi dào.
  • Sao Cự Môn đơn thủ tại Thìn, Tuất, Tỵ thì tiền bạc vào ra thất thường, dễ gặp cảnh túng thiếu, dễ có sự tranh chấp tiền bạc, hoặc thưa kiện. Phải xa xứ làm ăn mới tốt.
  • Sao Cự Môn, Thái Dương đồng cung thì khá giả, giàu có. Dễ kiếm tiền.
  • Cự Môn, Thiên Cơ đồng cung thì làm kinh doanh, địa ốc, lập vườn, đồn điền, xây dựng, kiến trúc, trở thành khá giả.
Ý Nghĩa Cự Môn Ở Cung Tử Tức
  • Cung Tử có sao Cự Môn thì con cái khá giả nhưng thường kém hòa thuận, sớm xa cha mẹ, hoặc ở với người thân, được sự phụ giúp của người thân.
  • Cự Môn, Thiên Cơ đồng cung thì có con dị bào hoặc có con nuôi.
Ý Nghĩa Cự Môn Ở Cung Phu Thê
  • Cự Môn ở Tý, Ngọ, Hợi: Vợ chồng đẹp đôi, quí hiển nhưng hay bất hòa.
  • Cự Môn tại Thìn, Tuất, Tỵ: Vợ chồng bỏ nhau. Nam hay nữ phải nhiều lần lập gia đình, hoặc chậm duyên nợ.
Cự Môn Khi Vào Các Hạn
  • Cự Môn, Hóa Kỵ: Tai nạn dưới nước hay xe cộ.
  • Cự Môn: Bị tai tiếng, kiện tụng.
  • Nếu sáng sủa: Cự là Quyền tinh, tất dễ thăng tiến, được tín nhiệm, có kiện tụng cũng thắng. Riêng tại Hợi gặp Lộc, thì có nhiều tiền của nhưng có thể bị hao hụt nếu mưu đại sự.
  • Nếu xấu xa: Bị thị phi, tai tiếng, hao tài, đau yếu, có tang ; có thể bị bãi chức và bị tai nạn xe cộ. Nếu Đại Hạn cũng xấu thì chết.
  • Cự Môn, Tang Môn, Hỏa Linh: Đau ốm, tán tài, có tang, có thể bị cháy nhà.
  • Cự Môn, Tham Lang, Hao: Thất nghiệp, nội trợ.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sao Cự Môn

Tìm hiểu về Tỳ Hưu - Linh vật phong Thủy may mắn cho đường Tài lộc, Công danh

Trong các vật phẩm phong thủy ngày nay, Tỳ Hưu là một linh vật được nhiều người yêu thích và lựa chọn để cầu tài, cầu công danh trong sự nghiệp. Theo truyền thuyết, Tỳ Hưu là một loại mãnh thú rất dũng mãnh
Tìm hiểu về Tỳ Hưu - Linh vật phong Thủy may mắn cho đường Tài lộc, Công danh

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

     Trong các vật phẩm phong thủy ngày nay, Tỳ Hưu là một linh vật được nhiều người yêu thích và lựa chọn để cầu tài, cầu công danh trong sự nghiệp. Theo truyền thuyết, Tỳ Hưu là một loại mãnh thú rất dũng mãnh, nhưng lại mang đến những điều thiện, tốt lành cho loại người. Rất được ưa chuộng, nhưng Tỳ Hưu là gì, nguồn gốc của nó ra sao, và tác dụng của nó như thế nào chắc hẳn không nhiều người biết được. Cùng chúng tôi tìm hiểu nhé.

I. Tỳ Hưu là gì?

Tỳ Hưu cũng như Kì lân là một trong 9 con của Rồng được phân ra đực cái. Con đực là Tỳ, con cái là Hưu. Sách Thanh bại loại sao của Từ Kha đời Thanh miêu tả: “Tỳ Hưu, hình tự hổ, hoặc viết tự hùng, mao sắc hôi bạch, Liêu Đông nhân vị chi bạch hùng. Hùng giả viết Tỳ, thư giả viết hưu” (Tỳ hưu có hình dáng như con hổ, có người bảo như con gấu, lông màu tro, người Liêu Đông gọi nó là gấu trắng. Con đực là Tỳ, con cái là Hưu). Tỳ hưu trong văn hóa Trung Hoa có hai loại. Loại thứ nhất có hai sừng, là loài mãnh thú, có tác dụng xua đuổi tà ma, từng nằm trong số sáu loài mãnh thú (Tỳ, Hưu, Hổ, Bưu, Bi, Hùng) theo Hoàng Đế đánh nhau trong cuộc chiên thần thoại với Xuy Vưu trên cánh đồng Trác Lộc. Loại thứ hai chỉ có một sừng, bẩm sinh không có hậu môn, lại thích ăn vàng bạc mà không tiêu hóa, giống như “thần giữ của”, “thần tài” nên được mọi người trang trí trong nhà biểu thị ý nghĩa cầu tài lộc.

ty-huu.gif

II. Truyền thuyết về Tỳ Hưu

Tương truyền, thời vua Minh Thái Tổ khi lập nghiệp gặp lúc ngân khố cạn kiệt, vua rất lo lắng. Trong giấc mơ vàng, vua thấy có con vật đầu lân mình to, chân to lại có sừng trên đầu xuất hiện ở khu vực phía trước cung điện nuốt nhanh những thỏi vàng ròng sáng chói mang vào trong cung vua. Theo thầy phong thủy tính toán, khu vực xuất hiện con vật ấy là cung tài và đất ấy là đất linh, như vậy, theo đó giấc mơ đã ứng với việc trời đất muốn giúp nhà vua lập nghiệp lớn. Sau đó vua Minh Thái Tổ cho xây một cổng thành to trên trục Bắc Nam, đường dẫn vào Tử Cấm thành, ngay tại cung tài ấy. Con linh vật ấy có mặt giống con lân đực nhưng lại có râu, mình to, mông to như mông bò, đuôi dài, có chùm lông đuôi rậm. Con vật này không ăn thức ăn bình thường mà chỉ ăn vàng, bạc, đặc biệt nó không có hậu môn, do vậy vàng bạc nó ăn vào không bị thoát đi đâu, cho dù no căng bụng.

Sau khi có linh vật ấy, ngân khố nhà Minh ngày càng đầy. Sau đó, vua cho tạc tượng con linh vật trên bằng ngọc phỉ thúy và đặt trên lầu cao của khu “Tài môn”. Từ đấy, nhà Minh ngày càng mở rộng địa giới và trở thành triều đại giàu có. Khi nhà Mãn Thanh lên ngôi vua, họ vẫn rất tin vào sự mầu nhiệm của con vật linh kia và đặt tên cho nó là con Kỳ Hưu hay cũng gọi là Tỳ Hưu. Nhà Thanh cho tạc nhiều tượng con Tỳ Hưu đặt tại cung vua và hoàng hậu. Các cung công chúa, hoàng tử đều không được đặt con Tỳ Hưu. Các quan càng không được dùng cho nhà mình, bởi quan không được giàu hơn vua.

Thời ấy, ai dùng thứ gì giống vua dùng là phạm thượng. Nhưng với sự linh nghiệm của con vật này khiến các quan lại lén lút tạc tượng con Tỳ Hưu đặt trong phòng kín, ngay cung tài nhà mình để “dẫn tiền vào nhà”. Muốn tạc tượng phải gọi thợ điêu khắc và thế là thợ điêu khắc cũng tự tạc cho mình một con để trong buồng kín, cầu tài. Cứ thế, các đời sau, con, cháu thợ khắc ngọc cũng biết sự linh nghiệm ấy mà tạc tượng Tỳ Hưu để trong nhà, cầu may.

Tại sao Tỳ Hưu tạc bằng các loại đá quý tự nhiên thì mới linh? Người Hồng Kông quan niệm rằng chữ Vương (王) có một dấu chấm (.) thành chữ Ngọc (玉), nghĩa là ai dùng ngọc là người vương giả, giàu sang. Do vậy phải tạc bằng ngọc quý thì mới linh nghiệm mà ngọc tự nhiên thì mới quý.

ty-huu-1.jpg

Chuyện Tỳ Hưu với Hoà Thân

Thiếu thời nhà Hòa Thân rất nghèo, nghèo đến nỗi không có đủ 10 lượng bạc nộp cho quan để xin nhận lại chức quan nhỏ của cha truyền lại. Nhờ ông Liêm (sau này là cha vợ) cho 10 lạng bạc mà Hòa Thân có cơ hội bước vào quan trường.

Thời vua Càn Long, Hòa Thân là nhân vật “dưới một người trên triệu triệu người” (Trong phim “Tể Tướng lưng gù hoặc Lưu gù (Lưu Dung)” chúng ta đã biết về nhân vật Hòa Thân). Ngân khố nhà vua ngày càng vơi mà nhà Hòa Thân ngày càng giàu với câu nói nổi tiếng “Những gì nhà vua có thì Hoà Thân có, còn những gì Hoà Thân có thì vua chưa chắc đã có”. Đến khi Hòa Thân bị giết quan quân đã tá hỏa khi thấy tài sản Hòa Thân bị tịch thu nhiều gấp 10 lần ngân khố nhà vua đang có.

Hòa Thân có 2 vật trấn trạch được cất giấu trong hòn giả sơn trước nhà đó là con Tỳ Hưu và chữ Phúc do chính vua Khang Hy viết tặng bà nội, nhân ngày mừng thượng thọ. Khi đập vỡ hòn giả sơn, các quan mới phát hiện trong núi đá ấy có con Tỳ Hưu, mà con Tỳ Hưu của Hòa Thân to hơn Tỳ Hưu của vua.

Ngọc để tạc con Tỳ Hưu của Hoà Thân là NGỌC PHỈ THÚY xanh lý mát rượi, trong khi vua chỉ dám tạc bằng BẠCH NGỌC. Bụng và mông con Tỳ Hưu của Hòa Thân to hơn bụng, mông con Tỳ Hưu của vua và như thế khiến Hòa Thân nhiều vàng bạc hơn vua.

Sau khi tịch thu con Tỳ Hưu, nhà vua không thể tịch thu chữ “Phúc” kia được bởi chữ Phúc đã được gắn chết vào đá hồng ngọc; nếu đập đá ra lấy chữ thì đá sẽ vỡ, như thế thì phúc tan. Mà chữ thì do vua Khang Hy viết nên không ai dám phạm thượng. Thế là đành để “Phúc” lại cho nhà Hòa Thân, có lẽ vì thế nên dù phạm nhiều tội tày đình nhưng Hòa Thân chỉ chết một mình, thay vì phải bị tru di tam tộc.

 

ty-huu-2.jpg

 

III. Đặc điểm của Tỳ Hưu

Thứ nhất, Tỳ Hưu là linh vật không có hậu môn, nếu chẳng may bạn mua một con Tỳ Hưu có hậu môn thì lý do rất đơn giản duyên của bạn và sự giàu có chưa đến. Bởi lẽ người bán hàng thỉnh thoảng vẫn đục một lỗ nhỏ ở vị trí hậu môn của con Tỳ Hưu và trộn chung vào số những con Tỳ Hưu khác. Họ không chỉ khiếm khuyết ấy cho người mua bao giờ, để chứng minh rằng không phải cứ ai muốn giàu là được giàu. Như vậy, nếu người bào mua phải Tỳ Hưu có hậu môn thì bạn làm ăn khá giả nhưng bạn không giữ được của.

Thứ hai, Tỳ Hưu có sừng (loại này có sừng dài nhất trong các loại hình dáng Tỳ Hưu), có cánh, mông nhỏng cao, thuôn là những đặc điểm về hình dáng mà con Tỳ Hưu có tác dụng giúp bạn phát triển về sự nghiệp công danh.

Thứ ba, muốn cầu sức khỏe, bình an thì tuyệt nhất và tròn trịa nhất đó là con Tỳ Hưu phải có chòm râu càng dài càng tốt, có cái bụng to và mông tròn căng, có sừng (không cần sừng dài như công danh, nhưng phải có sừng) và có cánh.

Ngoài ra, màu sắc của Tỳ Hưu cũng là một yếu tố mang tài lộc khác nhau cho bạn:

- Tỳ Hưu màu đen có tác dụng chiêu tài, phát lộc.

- Tỳ Hưu màu trắng, vàng có tác dụng bảo trợ sức khỏe, phát tài phát lộc.

- Tỳ Hưu màu xanh có tác dụng may mắn trong công danh.

- Tỳ Hưu màu tím, hồng có tác dụng mang đến hạnh phúc gia đình.

Nếu có điều kiện bạn có thể thỉnh bộ 4 ông Tỳ Hưu hoặc 3 ông để có được đầy đủ tác dụng mà Tỳ Hưu mang lại cho gia đình. Mặt khác, Tỳ Hưu vừa là linh vật phong thủy số 1 về tài lộc, Tỳ Hưu còn có tác dụng hóa giải khí xấu, trừ vận xấu ngoài ra nếu bạn dùng

- Hai ông Tỳ Hưu sẽ có tác dụng hóa giải sao phi tinh ngũ hoàng đại sát (Ví dụ: năm 2012 nhà cửa chính là Đông Nam thì phạm ngũ hoàng đại sát làm cho gia đình bất hòa, trong gia đình có người ốm đau, bệnh tật, công việc làm ăn không thuận lợi)

- Ba ông Tỳ Hưu sẽ có tác dụng hóa giải tam sát (sát Bắc, sát Nam, sát Tây, sát Đông ) khi phạm tam sát sẽ khiến gia đình, công việc, sức khỏe, làm ăn sa sút …

IV. Tác dụng của Tỳ Hưu trong phong thủy

Về tác dụng của Tỳ Hưu trong phong thủy thì có nhiều tác dụng:

1. Về màu sắc

Tỳ Hưu màu đen thì có tác dụng chiêu tài, phát lộc. Tỳ Hưu màu trắng thì có tác dụng bảo trợ sức khỏe. Tỳ Hưu màu xanh thì có tác dụng may mắn trong công danh.

2. Tránh tà khí

Tỳ Hưu còn có tác dụng trấn nhà để tránh tà khí, ta đặt Tỳ Hưu đã được “khai quang” ở các hướng tốt trong nhà như : Sanh khí, Thiên y, Diên niên, Phục vị. Nhất là hướng “sanh khí”, thì Tỳ Hưu có thể làm cho vận mệnh các thành viên trong gia đình chuyển biến tốt, vận mệnh tốt được nâng cao, đuổi tà khí đi và có tác dụng trấn nhà, vì vậy Tỳ Hưu đã trở thành thần bảo vệ cho gia đình, bảo vệ sự bình yên cho ngôi nhà của ta.

3. Tỳ Hưu còn có tác dụng mang lại điều tốt lành:

Như nhiều tài lộc, nhất là ở các sòng bạc tại HK ta đều thấy họ chưng Tỳ Hưu, nhưng được bảo vệ rất kỹ, vì sợ mất trộm, sẽ gây ra nhiều điều xúi quẩy cho họ. Tỳ hưu ngoài việc có tác dụng chiêu tài lộc không liêm chính như trên, Tỳ Hưu cũng còn có tác dụng chiêu tài lộc liêm chính, nên những người kinh doanh cũng đặt Tỳ Hưu ở nhà và ở công ty…

Tỳ Hưu khi đặt, đầu Tỳ Hưu phải hướng ra cửa chính, hoặc hướng ra cửa sổ để chiêu tài khí bốn phương. Tất nhiên khi đặt bất cứ vật phẩm phong thủy nào, điều cần phải nhớ là: Xem ngày giờ tốt để đặt.

4. Tỳ Hưu hóa giải “Ngũ hoàng đại sát”

Ngũ hoàng đại sát là một sát tinh trong phong thủy, khi nó vào nhà thì tác dụng của nó thật vô cùng đáng sợ : Mang đến những điều bất lợi cho những thành viên trong gia đình về sức khỏe và tài vận.

Nếu ở phương vị Ngũ hoàng đại sát bay đến, ta đặt hai con Tỳ Hưu phía sau cửa chính, đầu Tỳ Hưu hướng về phía trước, thì có thể hóa giải sát khí của Ngũ hoàng đại sát.

V. Những lưu ý khi sử dụng Tỳ Hưu

1. Cách khai quang điểm nhãn và bài trí cho Tỳ Hưu phong thủy phát huy hết tác dụng

-  Chọn một ngày đẹp.

-  Đặt Tỳ Hưu quay về phía Thần Tài.

-  Đứng phía sau Tỳ Hưu hai bàn tay chắp vào hình dấu +, mắt nhắm vào và cầu ước điều mình muốn, phải thật thành tâm thì mới linh.4, Sau khi ước, quay Tỳ Hưu lại phía mình.

-  Lấy khăn bông thấm một chút nước chè điểm ( chấm ) vào mắt Tỳ Hưu, điểm mắt trái trước sau đó điểm mắt phải, lặp lai 3 lần.

-  Tay trái giữ chắc Tỳ Hưu, dùng ngón cái tay phải xoa đầu Tỳ Hưu, xoa từ phía trước ra phía sau, lặp lại 3 lần.

-  Thả lỏng tai, tháo dây vải đỏ ở cổ Tỳ Hưu để Tỳ Hưu bắt đầu đi ăn tiền.

-  Khai quang đã hoàn tất.

2. Cách bày trí Tỳ Hưu

2.1. Những điều cấm kỵ

Điều 1: Không được đặt Tỳ Hưu xông chính môn ( từ ngoài quay vào trong nhà ) mà phải đặt đầu Tỳ Hưu quay ra ngoài.

Điều 2: Không quay Tỳ Hưu vào gương, vì gương có quang sát, Tỳ Hưu rất kỵ.

Điều 3: Không đặt đối với giường ngủ, vì như thế xẽ không có lợi cho chính mình.

Ngoài ra còn một số điều nên chú ý nếu bạn thờ Tỳ Hưu:

-  Bát hương không đuợc cho đát cát vào, mà phải cho gạo đỏ, gạo đen, gạo chân châu.

-  Đồ thắp hương không được cho Lê, Dâu Tây còn các thứ khác không kỵ.

-  Phụ nữ đén tháng, có thai không được thắp hương, sờ mó Tỳ Hưu (Tỳ Hưu kỵ huyết sát, quang sát, thai sát)

-  Không nên thường xuyên lau chùi Tỳ Hưu, mổi năm chỉ lau chùi 4 lần: âm lịch 6/2, 2/6. 14/7, 12/9.

-  Không được tuỳ tiện thay đổi vị trí, không nên sờ mó vào mồm và phần đầu Tỳ Hưu, nếu muốn thay đổi vị trí Tỳ Hưu trước tiên phải dùng vải đỏ che phần đầu Tỳ Hưu rồi mới chuyển.

3. Cách khởi động Tỳ Hưu

Tỳ Hưu sau khi mua về phải bịt mắt lại, đợi tới ngày khai quang mới mở ra. Ngày khai quang cần chuẩn bị các thứ sau :

-  Thất bảo thạch ( 7 viên đá quý )

-  Gạo ngũ cốc tạp.

-  Sợi ngũ sắc.

-  Sợi ngũ đế

-  Linh Đang.

- Một tờ giấy đỏ, bên trên tờ giấy viết bài chú.

Lần lượt đổ ba món đầu tiên vào bụng Tỳ Hưu, sau đó treo sợi ngũ đế và Linh đang lên trên Tỳ Hưu, rồi chuẩn bị “niệm“.

4. Bài chú phước lành Tỳ Hưu

*Kim quang nhất khí, Tỳ Hưu cao tường, tiến tài tiến quý, lợi lộ hanh thông.

*Kim quang nhị khí. Tỳ Hưu phúc giáng, phúc lộc mãn đình,phúc tinh cao chiếu.

*Kim quang tam khí,Tỳ Hưu điểm hóa, nam nạp bách phúc, nữ nạp thiên tường càn, cát lợi nguyên hanh.

Niệm chú xong đặt bài chú vào bụng Tỳ Hưu, như thế Tỳ Hưu dã có linh khí. Chờ sau khi hương chấy hết là có thể đặt Tỳ Hưu ở quầy thu ngân, hoặc phòng khách, ở cửa hoặc huyền quan, điều quan trọng nhất là đầu Tỳ Hưu phải quay ra cửa chính hoặc cửa sổ.

Thờ Tỳ Hưu mỗi ngày phải đốt một khoanh hương vòng đểTỳ Hưu vấn (ngửi), hoặc đặt bên cạnhTỳ Hưu một ly nước cũng được. Như thế Tỳ Hưu mới có sức đi kiếm tiến cho chủ nhân.

5. Hình thức đeo ngọc bội Tỳ Hưu

-  Dùng dây đỏ đeo ngọc bôi Tỳ Hưu trên cổ hoặc cổ tay.

-  Dùng nước mưa và nước sông tắm cho cơ thể nó.

- Tỳ Hưu rất được QUAN ÂM “cưng“, cho nên thắp hương khai quang trước mặt QUAN ÂM rất tốt ( tốt nhất mỗi tháng nên đặt Tỳ Hưu trước QUAN ÂM thắp hương càu nguyện.)

- Không nên sờ vào miệng Tỳ Hưu, miệng để hút tiền tài, không nên sờ vào mắt, mắt để tìm châu báu.

Ngày nay, Tỳ Hưu vẫn luôn hiện hữu trong nhân gian, là linh vật mang lại nhiều điều may mắn trong cuộc sống cả về tài lộc, về sức khỏe, công danh cho người sở hữu. Ngày nay Tỳ Hưu được chế tác thành rất nhiều kiểu dáng như nhẫn đeo tay, vòng đeo cổ...được làm từ nhiều loại chất liệu khác nhau. Khi sử dụng chúng ta cũng nên chú ý những điều kiêng kị cũng như những lưu ý khi sử dụng Tỳ Hưu mà chúng tôi đã đề cập phía trên để linh vật này phát huy được tối đa tác dụng.

Xem thêm những thông tin phong thủy - tử vi 2017 hấp dẫn:

Tìm hiểu về Thanh Long trong phong thủy

Tìm hiểu về 12 cung hoàng đạo

Tìm hiểu về người mệnh Kim trên mọi phương diện

 


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tìm hiểu về Tỳ Hưu - Linh vật phong Thủy may mắn cho đường Tài lộc, Công danh

3 vị trí phong thủy xấu của khu vực tài lộc

Khu vực tài lộc nằm trong phòng tắm, phòng giặt hay ga-ra để xe đều là những vị trí rất xấu theo phong thủy.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Trong hai phần trước, chúng ta đã cùng tìm hiểu về cách trang trí tốt cho khu vực tài lộc và những sai lầm cần phải tránh trong khu vực tài lộc. Chắc chắn các bạn đã phần nào hiểu rõ tầm quan trọng của việc áp dụng các giải pháp phong thủy để khắc phục những nhược điểm, làm khu vực tài lộc trong nhà và nơi làm việc của mình tốt đẹp hơn.

Xác định khu vực tại lộc trong nhà hoặc văn phòng làm việc:

Có hai cách để xác định khu vực tài lộc trong nhà và nơi làm việc là theo phong thủy phương Đông hoặc phong thủy phương Tây.

- Theo phong thủy phương Đông, khu vực kết nối với tiền bạc, sự thịnh vượng và dồi dào về tài lộc chính là hướng Đông Nam của ngôi nhà hoặc phòng làm việc. Đây là cách cổ điển, truyền thống để bạn xác định được khu vực tài lộc của mình.

- Theo phong thủy phương Tây, khu vực tài lộc được xác định là vị trí phía trên bên trái của không gian bạn ở hoặc làm việc.

Thực tế, không phải lúc nào khu vực tài lộc cũng nằm ở những vị trí đẹp đẽ trong nhà của bạn. Hãy cùng tìm hiểu một vài trở ngại phố biến đối với vị trí của khu vực tài lộc cũng như các giải pháp phong thủy tốt để khắc phục tình huống này.

1. Khu vực tài lộc nằm trong phòng tắm

Trong số tất cả các vị trí bất lợi nhất có thể xảy ra đối với khu vực tài lộc của bạn thì phòng tắm đứng số 1. Phòng tắm được coi là nơi tiêu cực theo phong thủy, không quan trọng nó nằm trong khu vực bát quái nào.

Bạn đương nhiên không muốn khu vực tài lộc của mình nằm trong căn phòng này, vì rất khó để giữ nguồn năng lượng ở đây được thông suốt, tươi mới và ổn định. Tuy nhiên, khó khăn không đồng nghĩa với điều không thể. Những lời khuyên phong thủy sau đây sẽ giúp bạn giảm thiểu các tác động tiêu cực có thể xảy ra.

Điều đầu tiên cần phải làm khi bạn đối với bất kỳ khu vực phong thủy đầy trở ngại nào đó là giữ cho nó thật sạch sẽ và ngăn nắp. Bởi vì, không bao giờ có thể tạo ra phong thủy tốt nếu khu vực đó luôn bẩn thỉu và bừa bộn, đặc biệt là khu vực tài lộc.

Dưới đây là một vài lời khuyên phong thủy đơn giản mà bạn có thể áp dụng cho khu vực tài lộc thuộc phòng tắm:

 3 vi tri phong thuy xau cua khu vuc tai loc - 1

Nên lựa chọn màu sắc yêu thích nhất của ba yếu tố Mộc, Thủy và Thổ  để sử dụng cho phòng tắm.

- Màu sắc: Sử dụng các màu sắc bạn thích nhất trong số các màu sắc đại diện cho ba yếu tố phong thủy Mộc, Thủy và Thổ. Bạn có thể đưa các lựa chọn màu sắc của mình dùng cho các bức tường, các yếu tố nghệ thuật hoặc với phụ kiện trong phòng tắm.

Cụ thể: Yếu tố Mộc: Màu nâu, xanh lá cây. Yếu tố Thủy: Màu xanh da trời, đen. Yếu tố Thổ: Màu cát, vàng nhạt.

- Cây tre may mắn: Một cây tre 8 đốt được coi là giải pháp phong thủy tuyệt vời cho sự giàu có và dư giả. Vì thế, thử cân nhắc đặt một cây tre may mắn trong phòng tắm nếu phù hợp.

- Đá quý, pha lê: Để một chiếc bát chứa đầy các loại đá quý, pha lê phong thủy trong phòng tắm là một ý tưởng mới cho bạn. Bạn có thể chọn nhiều loại đá quý và pha lê có màu sắc cũng như hình dạng khác nhau, ví dụ như đá thạch anh tím, ngọc bích…

- Hình ảnh: Nên treo các hình ảnh thể hiện sự giàu có. Đó có thể là những bức ảnh đầy màu sắc, một loạt poster nghệ thuật hoặc những bức tranh thiên nhiên tươi đẹp.

 3 vi tri phong thuy xau cua khu vuc tai loc - 2

Những hình ảnh thể hiện sự giàu có, trù phú rất thích hợp trang trí khu vực tài lộc.

- Không khí spa: Cảm hứng spa sang trọng, yên tĩnh cũng rất tốt cho phòng tắm.

- Chú ý sự ngăn nắp: Giữ cho không gian sạch sẽ và gọn gàng. Đảm bảo cho căn phòng có sự lưu thông khí tốt và đủ ánh sáng vì đây là nền tảng của năng lượng tốt.

- Báo động phong thủy: Cuối cùng nhưng không kém quan trọng đó là luôn đậy nắp bồn cầu khi không dùng đến để giảm sự thất thoát năng lượng của sự giàu có qua đường ống thoát nước.

2. Khu vực tài lộc nằm trong ga-ra, phòng giặt hoặc phòng thay đồ

Đây là mối quan tâm tiếp theo với vị trí của khu vực tài lộc. Trong nhiều ngôi nhà, khu vực tài lộc thực sự nằm ở ga-ra, phòng thay đồ hoặc phòng giặt. Một lần nữa, điều đầu tiên phải làm là chỉ cần chăm sóc thật tốt những không gian này bởi vì chúng không được chú ý, ngay cả khi căn phòng đó đẹp và gọn gàng.

 3 vi tri phong thuy xau cua khu vuc tai loc - 3

Muốn có phong thủy tốt thì điều đầu tiên bạn cần phải giữ cho các khu vực đó được sạch sẽ và ngăn nắp.

Sau khi những căn phòng trên được dọn dẹp sạch sẽ và sắp xếp ngăn nắp thì bạn có thể tham khảo 8 lời khuyên phong thủy trang trí nội thất đơn giản và hiệu quả để áp dụng cho chúng.

3. Khu vực phong thủy nằm trong không gian mở

Nếu khu vực tài lộc của bạn nằm trong một căn phòng có quá nhiều cửa, cả cửa sổ và cửa ra vào thì năng lượng rất dễ bị thất thoát. Do đó, bạn cần tập trung vào việc giữ nó lại. Bạn có thể làm điều này bằng cách sắp xếp đồ nội thất, thêm phụ kiện như rèm cửa…

 3 vi tri phong thuy xau cua khu vuc tai loc - 4

Khu vực tài lộc rơi vào căn phòng nhiều cửa sổ thì năng lượng của sự giàu có dễ bị thất thoát. Để kiểm soát điều này, bạn nên treo thêm rèm cửa, bố trí lại đồ nội thất để quản lý dòng chảy của năng lượng.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 3 vị trí phong thủy xấu của khu vực tài lộc

Mơ thấy mình hẹn hò là điềm báo tình yêu tốt đẹp

Giấc mơ hẹn hò cùng người yêu cho thấy có sự phát triển trong quan hệ tình cảm của bạn và người ấy.
Mơ thấy mình hẹn hò là điềm báo tình yêu tốt đẹp

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

 

 

 

Mo thay minh hen ho la diem bao tinh yeu tot dep hinh anh
hẹn hò

Trong giấc mơ, bạn thấy mình hẹn hò cùng người yêu, điềm báo mối tình của bạn sẽ có kết quả tốt đẹp.  

Mơ thấy hẹn hò cùng bạn bè của người yêu mình, dự báo bạn sẽ có thêm nhiều mối quan hệ tốt.

Nếu mơ thấy gặp người mình yêu với gương mặt rất lạ, điềm báo mách bảo rằng, bạn nên suy nghĩ thấu đáo trước khi đưa ra quyết định nào đó.

Trong mơ, bạn thấy mình cùng người yêu che ô đi dưới mưa, ngụ ý, sắp tới bạn sẽ nhận được nhiều niềm vui từ người ấy.

Nếu mơ thấy mình cùng người yêu đội mưa vượt qua sông, cho thấy tình yêu của 2 người ngày càng mặn nồng, tốt đẹp, hoặc bạn sẽ có nhiều người theo đuổi cùng lúc.

Tuy nhiên, mơ thấy mình cùng người yêu dạo bước trong mưa, ám chỉ rằng, tình cảm của 2 người không được thuận lợi.

Trong giấc mơ, bạn thấy mình vào người yêu đối mặt nhau ở 1 khoảng cách xa, cho thấy 2 người chưa thật sự hiểu nhau. Hãy chia sẻ và cảm thông với người ấy và giúp họ vượt qua khó khăn trong cuộc sống.

Theo Giấc mơ và vận mệnh của con người trong cuộc sống


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mơ thấy mình hẹn hò là điềm báo tình yêu tốt đẹp

Thiết kế cửa –

Cửa là nơi thu nạp khí vào trong nhà, muốn cho vận khí gia đình không bị cản trở thì cần phải giữ cho khu vực xung quanh cửa luôn sạch sẽ sáng sủa, không được vứt rác bừa bãi gây mất vệ sinh. Hai cánh cửa có thể trực tiếp đối diện nhau nhưng không n

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

phongthuy094

ên song song và trùng nhau. Nếu hai cánh cửa đốỉ diện nhau nhưng được thiết kế cái ra cái vào sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe và cuộc sống bình yên của cả gia đình. Hai cánh cửa chặn nhau thì trong nhà sẽ thường xuyên xảy ra cãi cọ. Nếu nhìn qua cánh cửa nhà đang mở có thể thấy rõ các bức tường bên trong hoặc toàn cảnh của một căn phòng khác thì lưu thông nội khí trong cơ thể ngưòi sẽ bị đảo lộn. Các phòng lớn nên lắp những cánh cửa lớn, như phòng ngủ, phòng sinh hoạt, phòng khâch. Ngược lại, với các phong nhỏ nhu phòng tắm hay phòng bếp thì chỉ nên để cửa nhỏ vì cửa to sẽ áp chế cửa nhỏ. Nếu cửa phòng tắm quá to thì chủ nhà sẽ gặp vấn đề về sức khỏe, đặc biệt là sẽ dễ mắc các bệnh về đường tiêu hóa.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Thiết kế cửa –

Mối quan hệ giữa con cái và cha mẹ tuổi Tý, Sửu

Cha mẹ tuổi Tý, con cái tuổi Tý, Sửu, Tỵ, Hợi: gia đình hòa thuận, con cái hiếu thảo, có cơ hội phát triển tốt.
Mối quan hệ giữa con cái và cha mẹ tuổi Tý, Sửu

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


1. Cha mẹ tuổi Tý

- Con tuổi Tý, Sửu, Tỵ, Hợi: Gia đình hòa thuận, con cái hiếu thảo, có cơ hội phát triển tốt.

- Con tuổi Tuất, Dậu: Con rất hiếu thuận với cha mẹ, song, đôi lúc vẫn xảy ra bất đồng quan điểm.

- Con tuổi Dần, Mão, Mùi, Thân, Thìn: Gia đình không thuận hòa lắm. Con có thể thoát ly sớm hoặc tự cho mình là tài giỏi mà không tôn trọng ý kiến người lớn khiến cha mẹ phiền lòng. Trường hợp khác, cha mẹ quá nuông chiều con cái làm con hư hỏng, hay cãi lại cha mẹ.

Moi quan he giua con cai va cha me tuoi Ty, Suu hinh anh
Cha mẹ tuổi Tý hợp với con cái tuổi Tý, Sửu, Tỵ, Hợi hơn so với những tuổi khác

2. Cha mẹ tuổi Sửu

- Con tuổi Tỵ, Thân, Dậu, Tuất, Hợi: Gia đình hòa thuận, con cái hiếu thảo, biết giúp đỡ cha mẹ. Tuy nhiên, gia đình vẫn có những bất đồng nhỏ, ẩn sâu bên trong là một số mâu thuẫn khó giải quyết.

- Con tuổi Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Mùi: Quan hệ giữa cha mẹ và con cái không tốt. Con hay cãi lại cha mẹ hoặc đi thoát ly sớm, không muốn sống chung cùng cha mẹ. Gia đình ít khi có được không khí vui vẻ, đầm ấm.

Theo Đời người qua 12 con giáp

 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mối quan hệ giữa con cái và cha mẹ tuổi Tý, Sửu

Xem tướng mắt xếch –

Mắt xếch Phụ nữ mắt xếch là người giàu tình cảm, dễ bị kích động. Những người này tương đối thích hợp làm diễn viên vì họ vào các cảnh diễn tình cảm rất tự nhiên. Họ gợi cảm và dễ đạt được khoái cảm khi “yêu”. Kiểu phụ nữ này biết cách mang lại sự vu

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Mắt xếch

mat-xech

Phụ nữ mắt xếch là người giàu tình cảm, dễ bị kích động. Những người này tương đối thích hợp làm diễn viên vì họ vào các cảnh diễn tình cảm rất tự nhiên. Họ gợi cảm và dễ đạt được khoái cảm khi “yêu”. Kiểu phụ nữ này biết cách mang lại sự vui vẻ cho người đàn ông với cuộc sống êm ả, tình yêu lâu bền.

Đàn ông đuôi mắt xếch là một nam tử hán. Đàn ông có đuôi mắt xếch tốt nhất là nên kết hôn với phụ nữ có đuôi mắt xệ, như vậy có thể bổ sung khiếm khuyết cho nhau, tạo nên gia đình hạnh phúc, đồng thời vận khí của 2 vợ chồng cũng tốt hơn.

Nếu vợ chồng đều mắt xếch thì cuộc sống hôn nhân khó được yên ấm, có thể xảy ra bất hòa. Căn nguyên của vấn đề là cả 2 người đều tính tình cứng cỏi, thích chỉ huy người khác, không ai chịu nhún nhường.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tướng mắt xếch –

Xem tuổi mở hàng –

Năm hết Tết đến, người Việt luôn trăn trở vấn đề chọn ngày khai trương, chọn giờ xuất hàn, xông đất và chọn ngày làm việc đại sự để tránh hung tin cát. 1. Ngày đại cát của năm 2014 Ngày mùng 1: Ngày lý tưởng để đi lễ chùa, hội họp, khai bút. Giờ tốt:
Xem tuổi mở hàng –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Năm hết Tết đến, người Việt luôn trăn trở vấn đề chọn ngày khai trương, chọn giờ xuất hàn, xông đất và chọn ngày làm việc đại sự để tránh hung tin cát.

1. Ngày đại cát của năm 2014

Ngày mùng 1: Ngày lý tưởng để đi lễ chùa, hội họp, khai bút.

Giờ tốt: Tỵ, Mùi, Tuất, Hợi

Cầu tài: đi về phương đông

Tuổi kỵ: Bính, Tân, Sửu, Mậu, Kỷ.

Ngày mùng 2: Thuận lợi cho xuất hành, đi lễ chùa, hội họp, mở hàng

Giờ tốt: Sửu, Thìn, Tỵ, Mùi, Tuất.

Huớng tốt: Cầu duyên đi về phía Đông Nam, cầu tài đi về phương Bắc.

Tuổi kỵ dùng: Nhâm, Dần, Đinh, Bính.

Ngày mùng 4: Nên đi thăm hỏi họ hàng, lễ chùa, hội họp vui chơi.

Giờ tốt: Thìn, Tỵ, Thân.

Hướng tốt: Cầu duyên đi về phía Tây Bắc, cầu tài đi vềTây Nam.

Tuổi kỵ dùng: Giáp, Thìn, Mùi, Kỷ, Mậu.

Ngày mùng 6: Thuận lợi khai trương, xuất hành, mở kho, đi lễ chùa, hội họp, thăm hỏi

Giờ tốt: Sửu, Mão, Mùi, Thân.

Hướng tốt: Cầu duyên đi về phía chính Nam, cầu tài đi về chính Tây.

Những tuổi kỵ dùng: Bính, Mão, Ngọ, Tân, Canh.

Ngày mùng 10: Nên xuất hành, khai trương cửa hàng, cưới hỏi, đi thăm hỏi họ hàng, lễ chùa, hội họp vui chơi…

Giờ tốt: Tỵ, Thân, Dậu, Hợi. Hướng tốt: Cầu duyên đi về phía Tây Nam, cầu tài đi về phía chính Đông.

Tuổi kỵ dùng: Canh, Thìn, Tuất, Giáp, Ất.

xem-tuoi-mo-hang

2. Những ngày đại kị năm 2014

Ngày mùng 3: Ngày cực xấu để đi chuà, thăm hỏi, hội họp, vui chơi. Không nên khai trương cửa hàng, làm việc đại sự.

Giờ tốt: Tý, Mão, Mùi.

Hướng tốt: Cầu duyên đi về phía Đông Bắc, cầu tài đi về phương chính Nam.

Những tuổi kỵ dùng: Nhâm, Quý, Mão, Dậu, Bính, Đinh.

Ngày mùng 7:  ngày rất xấu, không nên làm việc lớn mà nên đi lễ chùa, thăm hỏi làng xóm, họ hàng gần nhà.

Giờ tốt: Mão, Tỵ, Thân, Tuất, Hợi.

Hướng tốt: Cầu duyên đi về phía Đông Nam, cầu tài đi về phía Tây Bắc.

Những tuổi kỵ dùng: Bính, Đinh, Sửu, Mùi, Canh, Tân.

3. Những ngày “bình thường” của năm 2014

Ngày mùng 5: Nên đi chơi lễ chùa, có thể thăm hỏi hàng xóm, hạn chế làm việc đại sự.

Giờ tốt: Sửu, Thìn, Ngọ, Mùi, Tuất, Hợi.

Cầu duyên và cầu tài đi về phía Tây Nam.

Tuổi kỵ dùng: Giáp, Ất, Tỵ, Hợi, Mậu, Kỷ.

Ngày mùng 8: Được coi là ngày “vô thưởng vô phạt”. Nên đi lễ chùa vui chơi.

Giờ tốt: Sửu, Thìn, Mùi, Tuất. Hướng tốt: Cầu duyên đi về phía Đông Bắc, cầu tài đi về phía Đông Nam. Tuổi kỵ dùng: Mậu, Thân, Tỵ, Quý, Nhâm. Trên đây là một trong những điều lưu ý cho việc chọn ngày khai trương mở hàng năm mới để quý độc giả tham khảo. Kính chúc năm mới an khang thịnh vượng, mã đáo thành công.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tuổi mở hàng –

3 sai lầm tâm linh phổ biến đi ngược lời Phật dạy

Nhiều người hướng Phật, làm theo điều Phật dạy nhưng lại phạm những sai lầm tâm linh đáng tiếc, tưởng làm chuyện tốt mà hóa ra sai lầm.
3 sai lầm tâm linh phổ biến đi ngược lời Phật dạy

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Ở Việt Nam, Phật giáo là tôn giáo phổ biến nhất, có sức lan tỏa mạnh mẽ và sâu rộng. Nhiều người hướng Phật, làm theo điều Phật dạy nhưng lại phạm những sai lầm tâm linh đáng tiếc, tưởng làm chuyện tốt mà hóa ra sai lầm.


► ## giải mã giấc mơ theo tâm linh chuẩn xác

3 sai lam tam linh pho bien di nguoc loi Phat day hinh anh
 
1. Coi Phật Di Lặc là Thần Tài

Trong Phật giáo, Phật Di Lặc là vị Đại Bồ Tát, nhưng vì có dáng vẻ tươi cười, viên mãn, đầy đủ nên nhiều người thờ như Thần Tài để mong may mắn, tài lộc đến với gia đình. Nguyện vọng tuy tốt, nhưng lại là sai lầm tâm linh đáng tiếc, báng bổ Phật. 
 
Phật Di Lặc cũng giống như các vị Phật tôn kính khác, phải thờ ở nơi cao, trang nghiêm nhưng ban thờ Thần Tài lại thường ở gần cửa ra vào nhộn nhạo, ở dưới thấp. Hơn nữa, nhiều người coi Phật Di Lặc là Thần Tài thông thường, đúc tượng có cầm hai thỏi vàng trên tay. Phật nào mà lại coi trọng tiền tài, vật chất như vậy? Quả là đi ngược lại giáo lý nhà Phật.
 
2. Phóng sinh sai cách

Phóng sinh là cứu mạng những con vật sắp bị giết, là một việc làm thiện, có phước báo rất lớn theo giáo lý nhà Phật. Nhưng ngày nay, việc tốt đẹp này đã bị biến tướng thành tục lệ xấu xí.
 
Ý nghĩa của phóng sinh là giải phóng sinh vật bị giam hãm, tạo nghiệp lành, chứ không phải là đua nhau ra chợ mua về rồi thả bừa bãi, tạo nên cảnh vây bắt hỗn loạn, phóng thả bừa bãi. Phóng sinh phải thành tâm, và thực là việc giải thoát cho sinh vật ấy, chứ đừng xuất phát từ tâm muốn được báo đáp của mình.
 
3. Đốt vàng mã

Từ xa xưa, theo tín ngưỡng của người Trung Quốc, người ta đốt vàng mã để cho người thân đã chết có tiền tiêu, có đồ dùng. Đây là theo quan niệm của người Trung Quốc, không phải của Đạo Phật, vì ở Ấn Độ – xuất xứ Đạo Phật không hề có lệ này.
 
Phật giáo trọng sự tiết kiệm, đốt vàng mã gây lãng phí tiền của, công sức, ô nhiễm môi trường thì là việc trái ngược với tinh thần của Phật. Phật là tu tâm, muốn khi chết được thanh thản thì khi sống hãy tạo nhiều nghiệp lành. Khi sống chỉ gây oan trái thì thác đi rồi, sao có thể hòng mong điều tốt.
Phương pháp Cầu An - Giải hạn - Tăng cường phước báu theo tinh thần đạo Phật
Đúc kết những phương pháp Cầu An - Giải hạn - Tăng cường phước báu để vượt qua những khó khăn theo tinh thần đạo Phật.
7 điều khiến bạn dễ dàng đạt thành công trong cuộc sống (P1)
Để có được cuộc sống hạnh phúc, để trở thành một người thành công trong mọi lĩnh vực, để làm một “người tốt” thì phải dưỡng cả tâm, cả tính

ST

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 3 sai lầm tâm linh phổ biến đi ngược lời Phật dạy

Bí ẩn phong thủy về cái chết của Gia Cát Lượng

Lâu nay, Gia Cát Lượng vẫn được truyền tụng như một nhà chính trị, quân sự lỗi lạc đồng thời cũng là một thầy phong thủy, tướng số có khả năng hô phong hoán
Bí ẩn phong thủy về cái chết của Gia Cát Lượng

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

vũ, nhìn sao đoán mệnh, dự báo tương lai. Có lẽ chính vì vậy mà ngay cả với cái chết của vị quân sư họ Gia Cát này người ta cũng truyền tai nhau đủ chuyện phong thủy thần bí.


Bi an phong thuy ve cai chet cua Gia Cat Luong hinh anh
 
“Xác giả” đánh lui quân Tư Mã Ý

Năm Kiến Hưng thứ 12 nhà Thục Hán (tức năm 234), Gia Cát Lương dẫn quân Bắc phạt, đóng quân ở Ngũ Trượng Nguyên. Đó là vào giữa mùa hạ, trời nóng bức, chiến cuộc lại không có nhiều tiến triển khiến Gia Cát Lượng rất lo lắng, ưu phiền, cứ mở miệng nói là cáu gắt, một ngày chỉ ăn được chút cơm. Vì vậy mà không lâu sau, cơ thể suy kiệt nhanh chóng, nằm liệt giường trong doanh trại, đến tháng 8 nôn ra máu mà chết. Năm đó, Gia Cát Lượng mới 54 tuổi.
 
Gia Cát Lượng xuống núi theo Lưu Bị năm 27 tuổi, 14 năm sau thì làm tới chức Thừa tướng nước Thục, 27 năm sau thì chết vì lo lắng phiền muộn. Người ta nói rằng, tất cả những sự kiện trọng đại xảy ra trong đời Gia Cát Lượng đều liên quan tới con số 7. Đây hoàn toàn không phải là ngẫu nhiên.  7 là con số định mệnh của Gia Cát Lượng.
 
Con trai Lưu Bị là Lưu Thiện nghe tin dữ từ tiền tuyến báo về kinh hoảng vô cùng. Vì lẽ, xưa nay, mọi việc trong triều đình nhà Thục đều trông vào một tay Gia Cát Lượng, nay Lượng vì chuyện Bắc phạt mà chết, ai sẽ là người thay Lưu Thiện lo lắng chuyện quốc gia đại sự. Bởi thế, người ta nói rằng, Lưu Thiện sau khi nghe tin là khóc lóc chạy tới nơi chôn cất của Gia Cát Lượng, tự mình chủ trì nghi lễ chôn cất còn phong cho ông là “Trung Vũ hầu”. Người đời sau vẫn gọi Gia Cát Lượng là “Gia Cát Vũ hầu”  là từ tước hàm này.
 
Sách chép, trước khi chết, Gia Cát Lượng biết rằng sau khi mình nằm xuống, quân Thục không thể là đối thủ của quân đội Ngụy dưới sự chỉ huy của Tư Mã Ý. Vì vậy, mặc dù trong tình trạng bệnh tình nguy kịch vẫn cố gắng họp mặt các tướng lĩnh dưới quyền để bố trí thật chu đáo cho việc rút quân. Các tướng trung thành của Gia Cát Lượng là Dương Nghĩa, Khương Duy theo sắp xếp, sau khi ông chết không phát tang ngay mà chỉnh đốn binh mã, rút quân về Hán Trung thật thần tốc nhưng phải trật tự, không để quân Tư Mã Ý phát hiện.
 
Tư Mã Ý biết chuyện quân Thục đang rút chạy, lập tức xua quân đuổi theo, quyết một phen tiêu diệt quân của Gia Cát Lượng. Dương Nghĩa ra lệnh cho binh lính rải đinh sắt trên đường rút quân để cản trở quân địch. Tư Mã Ý không phải tay vừa, ra lệnh cho hơn 2000 binh sỹ đi những đôi giày có đế làm bằng gỗ mềm chạy trước đoàn quân khiến đinh sắt do quân Thục rải trên đường găm hết vào đế giày. Quân đội Ngụy cứ theo đoàn quân giày gỗ này thuận lợi truy đuổi quân Thục. Tuy nhiên, khi quân Ngụy đuổi tới gần, quân Thục đột nhiên dựng cờ, gõ trống giống như chuẩn bị phản kích quân Ngụy. Quân Tư Mã Ý thấy vậy không dám truy đuổi nữa. Quân Thục nhờ vậy mà an toàn rút về Hán Trung.
 
Vì sao một người thông minh như Tư Mã Ý lại không dám truy đuổi quân Thục? Nguyên nhân là vì, trước khi chết, dự liệu rằng khi quân Thục rút lui, Tư Mã Ý tất sẽ đuổi theo vì vậy Gia Cát Lượng đã cho người đẽo một bức tượng của mình rồi đặt lên xe. Đến khi quân của Tư Mã Ý đuổi theo đến gần thì đẩy xe có bức tượng của mình lên phía trước. Tư Mã Ý vốn nghe phong thanh Gia Cát Lượng bị bệnh mà chết, vì thế quân Thục mới rút quân. Nay khi đuổi sát tới nơi lại thấy Gia Cát Lượng vẫn điềm nhiên ngồi trước xe ra trước ba quân thì sợ rằng cả cái chết lẫn việc rút quân chỉ là kế sách của Gia Cát Lượng nên không dám manh động. Tư Mã Ý quá thông minh, do vậy cũng quá sức thận trọng vì thế đánh mất cơ hội tiêu diệt quân Thục. Người đời sau gọi sự kiện này là “Xác giả” Gia Cát Lượng đánh lui Tư Mã Ý.
 
Quái chiêu “điểm huyệt” định phong thủy

Là một người trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, Gia Cát Lượng đương nhiên rất chỉn chu trong việc chọn nơi chôn cất cho chính mình. Theo di nguyện của Gia Cát Lượng, sau khi chết nơi đặt mộ của mình sẽ là núi Định Quân.
 
Núi Định Quân nay nằm ở phía Nam huyện Miễn, thuộc tỉnh Thiểm Tây. Nó là một nhánh đâm theo hướng Tây Bắc của dãy Hệ Mỹ Thương. Vì trên đỉnh núi rất bằng phẳng, có thể đóng được cả vạn quân nên mới có tên là núi Định Quân. Một truyền thuyết khác nói rằng, khi Gia Cát Lượng dẫn quân Bắc phạt đã dùng ngọn núi này làm nơi tập Bát trận độ, luyện tập binh lính nên mới có tên là núi Định Quân.
 
Vì sao Gia Cát Lượng lại chọn núi Định Quân mà không chọn chôn cất ngay tại quê nhà hoặc mang hẳn về kinh đô nước Thục? Người ta đã đưa ra nhiều giải thích khác nhau. Có người nói Gia Cát Lượng là vì quan niệm khi sống thì quản lý nước Thục, khi chết thì bảo vệ nước Thục. Một thuyết khác lại cho rằng, do việc Bắc phạt thất bại nên Gia Cát Lượng không muốn đưa xác mình về chôn tại kinh đô, sợ bị Lưu Thiện trả thù. Tuy nhiên, có lẽ nguyên nhân thuyết phục nhất vẫn là Gia Cát Lượng đã tính toán rất kỹ về phong thủy khi lựa chọn ngọn núi Định Quân này.
 
Địa hình núi Định Quân rất phức tạp, các sườn núi uốn lượn, nhấp nhô được coi là một nơi cực tốt về phong thủy. Tuy nhiên, ngọn núi thì quá lớn, vậy nếu như chỉ nói rằng chôn cất ở núi Định Quân thì các tướng lĩnh biết chôn cất Gia Cát Lượng ở đâu? Người ta truyền rằng, chuyện này cũng đã được Gia Cát Lượng tính toán rất kỹ.
 
Theo ghi chép, trước khi chết, nói về việc lo hậu sự của mình, Gia Cát Lượng nói với các tướng sỹ rằng, sau khi mình chết thì đem bỏ xác vào quan tài, lấy dây thừng buộc lại rồi cho quân sỹ khiêng theo đoàn quân rút về Hán Trung. Dây thừng đứt ở đâu thì lấy nơi đó làm mộ. Quân sỹ theo lời dặn của Gia Cát Lượng, buộc dây thừng vào quan tài rồi khiêng theo đoàn quân rút lui về phía Hán Trung. Cứ khiêng đi như vậy một thời gian rất lâu nhưng dây vẫn không đứt. Tuy nhiên, khi tới núi Định Quân thì đột nhiên sợi dây thừng rất chắc chắn bỗng dưng đứt bật ra, quan tài rơi xuống đất. Quân sỹ vội đặt quan tài xuống rồi tìm xẻng để đào huyệt hạ quan tài xuống. Nhưng khi binh lính vừa tản ra đất tại nơi đặt quan tại bỗng sụp xuống, vừa khít lấp trọn quan tài của Gia Cát Lượng.
 
Tam Quốc là thời kỳ “mộ tặc” cực kỳ lộng hành. Vì vậy, ngoài việc chọn phong thủy cho ngôi mộ, việc đầu tiên cần nghiên cứu đối với các nhà phong thủy chính là làm cách nào để chống lại bọn mộ tặc này. Tào Tháo vốn là một chuyên gia trộm mộ, vì vậy cũng trở thành một người cực kỳ tài năng trong việc chống lại mộ tặc. Nghi án về 72 ngôi mộ của Tào Tháo cho tới tận ngày nay vẫn chưa có lời giải và người ta vẫn chưa thể nào tìm thấy ngôi mộ thật của nhà chính trị lừng danh thời Tam Quốc này.
 
Về mặt phong thủy, Gia Cát Lượng có lẽ không thua gì Tào Tháo vì vậy, việc chống mộ tặc của Gia Cát Lượng cũng đặc sắc không kém. Gia Cát Lượng khi chọn mộ cũng đã nghĩ đến việc sẽ bị Tư Mã Ý hoặc những người đời sau đào và cướp mộ nên đã yêu cầu tướng lĩnh dưới quyền không chôn theo các vật tùy táng, mộ huyệt cũng không cần đào lớn, chỉ vừa đủ để đặt quan tài là được. Khu vực đặt mộ cũng không cần xây kín, cũng không trồng cây đánh dấu hay làm bất cứ thứ gì có thể bị phát hiện.
 
Tuy nhiên, những người đời sau để tưởng nhớ công đức của Gia Cát Vũ Hầu đã quyết định xây dựng khu mộ cho ông, lại còn trồng cây để ghi nhớ vị trí đặt mộ. Tuy nhiên, khi quyết định làm điều này, họ cũng tính đến việc giúp ngôi mộ chống lại bọn mộ tắc. Họ đã xây dựng rất nhiều ngôi mộ giả xung quanh ngôi mộ thật.
 
 Ngôi mộ mà ngay nay người ta vẫn gọi là “Mộ thật của Gia Cát Vũ Hầu” thực tế không phải là mộ thật. Nhiều người cho rằng, ngôi mộ chỉ vẻn vẹn dòng chữ “Mộ Vũ Hầu” mới là mộ thật. Vì vậy mà người Trung Quốc đến nay vẫn còn lưu truyền câu tục ngữ: “Mộ thật thì không thật mà mộ giả lại không giả”. 
 
Ngôi mộ có tên là “Mộ Vũ Hầu” được đặt ở góc Tây Bắc của núi Định Quân, diện tích lên tới hơn 300 mẫu. Trên thực tế, nhiều chuyên gia lại cho rằng, ngay cả ngôi mộ có tên “Mộ Vũ Hầu” này cũng không phải là thực. Ngôi mộ này được coi là ngôi thật của Gia Cát Lượng chỉ mới bắt đầu từ năm 1799, do Đô đốc tỉnh Thiểm Tây là Tùng Quân khẳng định dựa trên những truyền thuyết lưu truyền trong dân địa phương thời đó. Vì vậy, cũng giống như Tào Tháo, cho tới nay người ta vẫn chưa thể xác định được mộ thật của Gia Cát Lượng nằm ở đâu.      
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bí ẩn phong thủy về cái chết của Gia Cát Lượng

Tranh treo và ngũ hành phong thủy

Nếu Ngũ hành của tranh trang trí có thể bổ trợ cho thuộc tính ngũ hành của chủ nhân thì tranh treo trong nhà sẽ như gấm thêm hoa.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Mỗi người khác nhau đều có thuộc tính Ngũ hành riêng, tranh trang trí hhác nhau cũng có thuộc tính Ngũ hành khác nhau. Nếu Ngũ hành của tranh trang trí có thể bổ trợ cho thuộc tính ngũ hành của chủ nhân thì tranh treo trong nhà sẽ như gấm thêm hoa. Những năm tuổi khác nhau cùng ở một chỗ sẽ tạo ra hiệu ứng khác nhau, chủ nhà nếu có thể lựa chọn được bức tranh trang trí hình con giáp phù hợp vói năm tuổi của bản thân thì sẽ có tác dụng rước lấy may mắn, cát tường.

tranh ngu hanh

Quy luật tương sinh tương khắc của Ngũ hành

Các nhà hiền triết cổ đại đem sinh mệnh vạn vật trong vũ trụ phân thành năm yếu tố cơ bản, năm yếu tố đó gọi là “Ngũ hành”, tức Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.
a. Ngũ hành tương sinh:
Tương sinh là biểu thị quan hệ giữa hai vật có tác dụng thúc đẩy, xúc tiến, hỗ trợ, bảo vệ lẫn nhau. Quy luật tương sinh của Ngũ hành như sau:
Mộc sinh Hỏa: Mộc có thể dùng để đốt lửa.
Hỏa sinh Thổ: Hỏa có thể thiêu đốt vạn vật thành đất.
Thổ sinh Kim: Kim thuộc là vật chất được tôi luyện từ trong bùn đất.
Kim sinh Thủy: Kim thuộc về chất rắn, sau khi được làm nóng chảy sẽ từ thể rắn chuyển sang thể lỏng, chất lỏng thuộc Thủy.
Thủy sinh Mộc: Thủy là nguồn sinh trưởng của cây cối.

b. Ngũ hành tương khắc:
Tương khắc là biểu thị quan hệ giữa hai sự vật có tác dụng cản trở, phương hại, ức chế, phá hoại và làm suy thoái lẫn nhau. Quy luật tương khắc của Ngũ hành như sau:
Mộc khắc Thổ: Cây cối phá đất mà ra, gốc của cây nằm trong bùn đất, có thể làm đất tơi xốp, vì vậy mà khắc Thổ.
Thổ khắc Thủy: Nước đến đất ngăn.
Thủy khắc Hỏa: Nước có thể dập tắt lửa.
Hỏa khắc Kim: Lửa có thể làm tan chảy kim loại.
Kim khắc Mộc: Những công cụ kim loại có thể chặt gãy cây cối.

Thuộc tính Ngũ hành của tranh trang trí chủ yếu do ba yếu tố chủ đề, chất liệu và màu sắc của tranh quyết định. Thuộc tính Ngũ hành của một bức tranh trước tiên phải dựa vào nội dung chủ đề tranh để phán đoán. Thuộc tính Ngũ hành của chủ đề tranh đã trình bày rất chi tiết trong bảng bên trên, như tranh tùng bách Ngũ hành thuộc Mộc, tranh tuấn mã Ngũ hành thuộc Hỏa, tranh kiến trúc Ngũ hành thuộc Thổ, tranh gà trống Ngũ hành thuộc Kim, tranh cá bơi Ngũ hành thuộc Thủy. Tuy nhiên cũng có những nội dung tranh có hai loại Ngũ hành trở lên, như tranh phong cảnh sơn thủy Ngũ hành bao gồm Thủy, Thổ hoặc Thủy, Mộc hoặc Thủy, Mộc, Thổ. Tranh sư tử, hổ Ngũ hành gồm Mộc và Hỏa; tranh rồng xanh Ngũ hành gồm Thủy và Thổ. Có những bức tranh có nhiều hình tượng nội dung, chúng có thể đại diện cho nhiều thuộc tính Ngũ hành. Nếu nội dung trong tranh có nhiều loại Ngũ hành hoặc thuộc tính Ngũ hành không rõ ràng thì có thể không cần suy xét đến thuộc tính Ngũ hành cẩn thận.

Nếu một bức tranh làm từ một loại chất liệu rất rõ ràng, chất liệu đó lại chiếm không gian tương đối lớn thì thuộc tính Ngũ hành của bức tranh trang trí đó nên lấy Ngũ hành của chất liệu làm cơ sở. Như tranh vẽ trên tre trúc, tranh khắc gỗ, Ngũ hành thuộc Mộc; tranh đèn trang trí Ngũ hành thuộc Hỏa; tranh gốm sứ, tranh ngọc thạch, tranh pha lê Ngũ hành thuộc Thổ; tranh đồng Ngũ hành thuộc Kim; tranh bình cá treo tường Ngũ hành thuộc Thủy...
Nếu bức tranh lấy một hoặc hai loại màu sắc làm chủ đạo thì phải xem xét màu sắc Ngũ hành của bức tranh. Thông thường màu sắc của tranh rất đa dạng nên không nhất thiết phải xem xét Ngũ hành trong màu sắc.

Mỗi người đềụ có thuộc tính Ngũ hành, vì thế đối với tranh nhân vật cũng không thể không suy xét đến thuộc tính Ngũ hành. Khi xác định thuộc tính Ngũ hành của tranh nhân vật, ngoài việc xem xét chất liệu tranh còn phải xem xét cảnh vật trong bức tranh. Nếu trong tranh ngoài hình tượng nhân vật ra không có cảnh vật hoặc cảnh vật không rõ ràng thì có thể căn cứ vào màu sắc chủ đạo để phán đoán thuộc tính Ngũ hành của bức tranh.

Lựa chọn tranh treo trang trí tương hợp với Ngũ hành hỷ, dụng của mỗi người

Mỗi người đều có Ngũ hành hỷ dụng và Ngũ hành kỵ thần. Nếu chọn được bức tranh có thuộc tính Ngũ hành là Ngũ hành của íỉỷ, Dụng thần thì có thể khiến cho cuộc sống của chủ nhân thêm tốt đẹp. Nếu Ngũ hành của bức tranh là kỵ thần của chủ nhân thì có thể mang lại những ảnh hưởng xấu.
Có thể đưa ra ví dụ như một người đàn ông sinh vào 23 giờ ngày 25 tháng 11 năm 1964, Ngũ hành hỷ, dụng thần là Hỏa, Thổ; Ngũ hành của kỵ thần là Mộc. Vậy người này nên lựa chọn tranh trang trí có Ngũ hành thuộc Hỏa, Thổ mà không nên lựa chọn tranh trang trí có Ngũ hành thuộc Mộc.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tranh treo và ngũ hành phong thủy

Sự tích Đức Quan Thế Âm Bồ Tát

Quán Âm Bồ Tát hay còn được gọi bằng những danh hiệu như: Quan Âm Phật, Quan Âm Như Lai, Quan Thế Âm, Quan Âm Nam Hải, Phổ Đà Phật Tổ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Quán Thế Âm Bồ Tát là danh hiệu của một vị Phật đáng lẽ đã chứng quả Phật, nhưng còn nguyện lẫn lộn ở cõi ta bà để cứu độ chúng sinh. Người ta cũng gọi Ngài là Quan Âm Phật, Quan Âm Bồ Tát, Quan Âm Như Lai, Quan Thế Âm, Quan Âm Nam Hải, Phổ Đà Phật Tổ, v.v...

 Quyền pháp năng lực của Ngài cao siêu.

 Quyển kinh nói về Ngài, mà hiện nay phái Bắc Tôn (Trung Hoa, Cao Ly, Nhật Bổn, Việt Nam) còn truyền tụng là quyển “Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Quan Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm”. Theo lời kinh Phổ Môn bất cứ là hạng nào trong chúng sanh, bất cứ là ở vào tình cảnh nào, lúc nào, hễ cầu đến Ngài, niệm danh hiệu Ngài thì đặng cứu ngay. Ngài dùng huyền diệu cứu vớt chúng sanh không biết muôn ức nào mà kể. 

Nếu cầu Ngài với danh hiệu thuộc về một phân thân nào của Ngài thì Ngài xuất hiện y theo phân thân ấy để cứu độ. Kinh Phổ môn có biên rành 12 điều đại nguyện của Ngài.

 Theo kinh truyện để lại, Ngài phân thân giáng trần 33 kiếp, khi thì mượn xác nam nhi, khi thì làm thiếu nữ, khi thì ở vào cảnh quyền quý cao sang, khi thì vào hàng bần cùng cơ khổ, khi thì sanh làm đạo sĩ, khi thì làm tỳ khưu, v.v...

 Hiện nay đời còn truyền tụng hai kiếp giáng trần làm phụ nhơn của Ngài là: kiếp thứ mười làm bà Thị Kính, kiếp chót làm bà Diệu Thiện. Sau khi thoát kiếp chót này Ngài được chứng quả Phật Tổ tại Phổ Đà Sơn (Nam Hải).

Truyện 1: Quan Âm Thị Kính

Trước kia Đức Quan Âm Bồ Tát tu đã đặng tám kiếp rồi. Qua tới kiếp thứ chín Ngài phân thân nam nhi đi tu chứng bực tỳ khưu. Khi kiếp thứ chín của Ngài gần mãn thì Đức Thích Ca giáng xuống thử lòng. Đấng Thế Tôn hiện ra một người con gái tới lần khân ép nài vị tỳ khưu kia kết duyên với mình. Vị này mới thốt rằng: “Có chăng họa may là kiếp sau, chớ kiếp này vì lời thề nguyện tu trì thì không thể nào đặng”. Vì lời hứa ấy mà sau khi mãn kiếp thứ chín rồi vị tỳ khưu kia phải giáng trần đầu thai làm thiếu nữ, suốt đời phải chịu trăm điều cay đắng về vấn đề tình duyên để thử lòng Ngài coi ra sao.

 Vâng lệnh của Đức Phật Tổ chơn linh vị Bồ Tát kia bèn giáng trần đầu thai làm con gái nhà họ Sùng là Sùng Ông, một nhà giàu có ở xứ Cao Ly lại là nhà từ tâm chưởng đức. Hai ông bà tuổi đã cao mà không con nên đi cầu tự và sanh ra nàng Thị Kính, dung nghi đẹp đẽ, tướng mạo đoan trang. Hai ông bà mừng được chút gái để có người hôm sớm trong lúc tuổi già. Khi nàng đã đúng tuần cập kê thì gần đó có chàng Thiện Sĩ, con nhà quyền quý trâm anh cậy mai đến nói. Vợ chồng Sùng Ông thấy phải đôi vừa lứa bèn chịu gả con gái mình.

 Đến ngày nạp thái vu quy nàng Thị Kính buồn tủi muôn phần! Buồn là vì thấy mình là con một, một khi đã xuất giá rồi thì bề nhà sau trước quạnh hiu, lấy ai mà thần tỉnh mộ khang thế cho mình! Tủi là lỡ sanh làm con gái thì đúng tuổi phải xuất giá tòng phu rủi may phải chịu và ơn sanh thành không sao trả đặng! Cha mẹ nghe nàng than thở làm vậy bèn kiếm lời khuyên giải và nói rằng: "Cha mẹ sanh con là gái, thì khôn lớn có nơi có chốn làm đẹp mặt nở mày mẹ cha đó là đủ rồi". Con chẳng nên lo điều chi khác nữa! Vả lại nhà bên chồng con cũng gần đây thì sự thăm viếng cũng thuận tiện. Nghe vậy nàng mới an lòng chiều ý muốn của cha mẹ. Từ khi về nhà chồng, nàng giữ một mực tôn kính, phụng sự nhà chồng, trong êm ngoài ấm, ai nấy đều khen.

 Một ngày kia nàng đương ngồi may, chàng Thiện Sĩ sau khi đọc sách mỏi mệt mới ra gần chổ nàng may mà nằm nghỉ, luôn dịp ngủ quên. Từ khi về nhà chồng đến giờ nàng chưa có dịp nhìn chàng cho chính đính. Nay có cơ hội đưa đến nàng, nhơn lúc chàng ngon giấc mà nhìn kỹ mặt đức lang quân. Chợt thấy dưới cầm chàng có mọc một sợi râu và biết coi tướng ít nhiều, nàng thấy quả là sợi râu bất lợi! Nhơn cầm sẵn cái kéo trong tay nàng mới đưa kéo ra cắt lấy. Đương lúc ấy, chàng Thiện Sĩ giựt mình thức dậy, thấy vợ cầm kéo đưa ngay cổ mình, vụt la hoảng lên rằng: “Vợ tôi muốn giết tôi.” Trong nhà vỡ lở, cha mẹ gia tướng chạy đến gạn hỏi. Nàng tình thật cứ nói ngay, không ngờ cha mẹ chồng quá ư nghiêm khắc bắt tội nàng có ngoại tình và mưu giết chồng. Nhơn cớ ấy cha mẹ chồng buộc chàng Thiện Sĩ làm tờ để vợ và mời vợ chồng Sùng Ông đến lãnh con về. Vợ chồng Sùng Ông hơ hãi tới nơi mới tường tự sự. Hai ông bà kêu con ra hỏi, rầy la than trách một hồi rồi lãnh con về.

 Lúc ấy Thiện Sĩ lòng như dao cắt, tưởng là việc đáng bỏ qua không dè đến nỗi rẽ thúy chia loan thì chàng ăn năn vô ngần, châu rơi lã chã. Khi nàng Thị Kính lạy từ công cô và chàng ra về, vì sợ uy cha mẹ chàng chẳng dám hở môi nói bào chữa nàng một lời nào.

 Về nhà, nàng Thị Kính buồn bã muôn phần. Một là buồn cho số phận long đong, tình duyên trắc trở; hai là buồn cho cha mẹ phải mang điều phiền não trong lòng.

 Vì nàng là một người đàn bà chân chính may rủi một chồng mà thôi, nàng khăng khăng không chịu “ôm cầm thuyền ai”. Nàng than rằng nếu có anh em đông thì nàng cũng đành nhắm mắt cho rồi để khỏi mang tiếng nhơ. Nhưng vì nàng là con một, nàng không nỡ hủy mình, sợ e thất hiếu, mà ở như vậy thật rất khổ tâm cho nên nàng quyết chí xuất gia, noi gương Phật Tổ, tu hành cho đắc đạo rồi trở về độ lại mẹ cha.

 Một hôm, nàng lén cải trang nam tử, rồi bỏ nhà trốn đi. Hay tin cha mẹ nghi nàng vì buồn tình xưa mà sanh nhẹ dạ theo người và sai người đi kiếm cùng nơi mà không gặp.

 Từ khi nàng lìa gia đình ra đi thì nàng có ý tìm một cảnh chùa để gởi thân. Đến ngôi chùa được chọn nàng gặp giờ sư cụ đang thuyết pháp. Nàng trộm xem tướng mạo thì thấy rõ đó là một bậc chơn tu, đạo pháp khá lớn. Nàng bèn xin thọ pháp quy y. Sư cụ ban đầu rất nghi ngờ nàng, bèn ngọn hỏi ngành tra vì sợ e trang thiếu niên kia sau này bán đồ nhi phế mà đắc tội với Phật Trời. Nàng thì một mực nói mình là một thư sanh, con nhà quyền quý, lòng chán công danh nên vào nương nhờ cửa Phật để gột rửa lòng phàm.

quan thế âm bồ tát

 Thấy chí quả quyết của vị thiếu niên, sư ông mới vui nhận cho làm đệ tử và ban pháp danh là Kính Tâm.

 Vì sãi Kính Tâm là nữ trá hình cho nên dung mạo khôi ngô kiều mị, làm cho hàng tín nữ trầm trồ, nhất là nàng Thị Mầu, con của một vị phú ông trưởng giả vùng ấy. Mượn cớ ra vô trong chùa, nàng Thị Mầu lắm khi đưa tình trêu ghẹo sãi Kính Tâm, nhưng nàng vẫn trơ trơ như không hay không biết. Thất vọng, Thị Mầu mới quay lại tư tình với đứa ở của nàng. Khi thai đã gần già, khí sắc nàng đổi, làng xã thấy thế mới đòi phú ông và nàng ra hỏi.

 Chịu đòn không kham, Thị Mầu túng phải cung xưng. Trong khẩu cung Thị Mầu quả quyết rằng mình có tư tình với sãi Kính Tâm nên mới ra cớ đỗi và xin làng rộng lượng cho sãi Kính Tâm hoàn tục kết duyên với mình.

 Trống mõ inh ỏi, cửa thiền xưa nay êm lặng phút chốc trở nên huyên náo, sóng dậy ba đào. Người nhà làng đến chùa đòi sư ông và sãi Kính Tâm ra nghe dạy việc.

 Thầy trò cùng dắt nhau đi. Đến nơi mới hay tự sự! Tá hỏa tâm thần, thầy hỏi trò có sao nói thiệt. Trò một mực kêu oan chớ không nói điều chi thêm nữa. Hương đảng đông đủ tra hỏi sãi nhỏ đủ điều, khi dọa, khi khuyên nhủ rằng: Nếu nói thật thì làng cũng chứng cho để lập gia thất. Kẻ thì mai mỉa: Sãi kia tu có trót đời không? Rốt cuộc vì không chịu xưng tội tình và một mực kêu oan cho nên sãi Kính Tâm phải bị đem ra tra tấn.

 Đứng trước cảnh thịt nát máu rơi và thấy trò bất tỉnh, sư ông mới động mối từ tâm đứng ra xin bảo lãnh cho trò để sau này về nhà khuyên nhủ dạy răn.

 Thấy thế hương đảng cũng niệm tình ưng thuận cho sư tiểu cùng về. Đến chùa, Sư ông dạy tiểu ra ở ngoài tam quan để tránh tiếng không tốt cho chùa.

 Thời gian qua, Thị Mầu đến ngày mãn nguyệt khai hoa, hạ sanh đặng một mụn con trai. Nàng bèn bồng hài nhi đến cửa tam quan bỏ đó rồi về, nói rằng: “Con của ngươi, đem trả cho ngươi.” Sãi Kính Tâm đương tụng kinh nghe đứa nhỏ bị bỏ dưới đất giãy giụa khóc la, động mối từ tâm người bèn ra ẵm đứa bé vào, mướn vú nuôi bên tự. Mẹ vò nuôi con nhện lắt lẻo qua ngày.

 Hết thời trì kinh thì sãi Kính Tâm lại phải giữ gìn bồng bế đứa trẻ. Nghe vậy, sư cụ mới vời sãi Kính Tâm vào mà trách rằng: “Trước kia con nói rằng con bị hàm oan, mà nay như thế thì chính thầy đây cũng phải nghi ngờ nữa là ai?”

 Sãi Kính Tâm bèn bạch rằng: “Bạch sư phụ, khi xưa sư phụ có dạy đệ tử  rằng cứu đặng một người, phước đức hà sa. Đệ tử vâng lời thầy mới cứu mạng đứa trẻ này, chớ kỳ trung con không có ý chi hết.”

 Tuy vậy sãi Kính Tâm cũng không đặng phép vô ra trong chùa để tránh tiếng cho chùa.

 Đứa trẻ khi đặng hai, ba tuổi đã có vẻ thông minh và giống sãi Kính Tâm như hệt. Khi hài nhi đúng ba tuổi thì sãi Kính Tâm đến ngày phải theo Phật. Biết trước giờ phân ly, sãi Kính Tâm mới viết hai bức thơ gởi lại, một kính gởi cho sư cụ, còn một bức thì gởi cho cha mẹ ruột. Khi sãi Kính Tâm tắt hơi thì đứa nhỏ y như lời cha dặn đem bức thơ vào dâng cho sư cụ.

 Xem thơ xong, sư ông rất ngậm ngùi, bèn phái vài vị ni cô ra coi tẩm liệm. Khám xét xong thì mới hay sãi Kính Tâm là nhi nữ trá hình.

 Tin ấy truyền ra hương lân nhóm lại đòi cha con Thị Mầu đến buộc tội cáo gian và phạt phải chịu tổn phí về các cuộc tống táng và làm ma chay cho sãi Kính Tâm. Bằng chứng sờ sờ phú ông phải chịu, Thị Mầu xấu hổ muôn phần bèn quyên sinh để trốn khổ nhục.

Đến ngày an táng sãi Kính Tâm thì thiên hạ đồng thấy Phật hiện trên mây rước hồn sãi Kính Tâm là nàng Thị Kính. Hai vợ chồng Sùng Ông và Thiện Sĩ đặng thơ và hay tin đau đớn này đồng có đến dự. Sau cuộc tống táng vợ xưa Thiện Sĩ ăn năn lỗi trước bèn phát nguyện tu hành.

 Tục truyền rằng Thiện Sĩ sau đắc quả thành con chim ngậm xâu chuỗi bồ đề, đậu một bên Đức Phật Quan Âm, Đức Phật Quan Âm cũng độ luôn con của Thị Mầu đắc quả hầu gần bên Ngài.

Ngày nay, người xứ ta và người Tàu khi họa tượng Phật Quan Âm thì thường họa một bà đội mũ ni xanh hoặc đen, ngồi trên tòa sen hoặc thạch bàn, bên tay mặt có một con chim mỏ ngậm xâu chuỗi bồ đề, dưới có đứa trẻ bận khôi giáp chắp tay hầu. Ấy là con của Thị Mầu.

Truyện 2: Quan Âm Nam Hải

 Theo sự khảo cứu của nhà bác học Hòa Lan tên là De Groot thì trong kiếp chót của Đức Phật Quan Âm, Ngài hạ phàm làm một vị công chúa Ấn Độ, con vua Linh Ưu, niên hiệu Diệu Trang.

 Vào năm 2587 trước Chúa giáng sanh thuộc vào thời đại kim thiên (ciel d’or) bên Ấn Độ bên phương Tây có một tiểu quốc kêu là Hưng Lâm. Nhà vua trị vì nước ấy tên Linh Ưu (Spirituel Excellent) lấy niên hiệu là Diệu Trang (Miao Tchoang). Tứ vi xứ Hưng Lâm là như vầy: Phía Tây giáp ranh Thiên Trúc Quốc (Inde), Phía Bắc giáp ranh Xiêm La, phía Đông giáp ranh Phật Chai Quốc (Sumatra), phía Nam giáp ranh Thiên Chơn Quốc (Tiên Tchan). Trong nước Hưng Lâm cảnh tượng thái hòa là nhờ có vua hiền, tôi giỏi, bá tánh chuyên lo cày cấy, nông trang.

 Chánh thê của nhà vua là bà hoàng hậu Bửu Đức. Từ ngày nhà vua tức vị đến nay đã 40 năm rồi mà bà hoàng hậu chưa hạ sanh đặng vị hoàng tử nào. Thấy thế bà lấy làm buồn và xin nhà vua đi cùng bà lên núi Huê Sơn cầu tự. Núi Huê Sơn ở về hướng Tây. Trên núi ấy có một vị thần rất linh thiêng. Ai cầu chi thì đặng nấy. Vua nghe theo, một ngày kia quân gia rần rộ, xa giá nhắm Huê Sơn trực chỉ. Cầu tự xong về triều thì một ít lâu bà có thai và đến ngày sanh đặng một vị công chúa đặt tên là Diệu Thanh (Miao Tsing). Cách một ít lâu hoàng hậu lại hạ sanh một nàng công chúa tên là Diệu Âm (Miao Yin) và sau rốt sanh ra nàng công chúa Diệu Thiện (Miao Chen). Vị công chúa thứ ba này ngày sau tu hành đắc đạo lấy hiệu là Quan Âm (Quan Yin).

 Vì nhà vua không có con trai nên vua nhứt định truyền ngai vàng lại cho một trong ba vị phò mã (rể vua). Hai công chúa đầu là Diệu Thanh và Diệu Âm thì nhà vua đã đính hôn cho hai vị quan to thinh danh nhứt trong triều. Trái lại nàng công chúa thứ ba là Diệu Thiện thì cương quyết không chịu lấy chồng và nhứt định phế trần đi tu để thành chánh quả. Nghe con quyết định như thế nhà vua nổi cơn thịnh nộ và buộc nàng Diệu Thiện phải tuân lịnh xuất giá. Thấy thế nàng mới xin vua cha nếu ý định nhà vua như vậy thì ít nữa xin cho nàng kết hôn với một thầy thuốc và thưa rằng: “Ý con là muốn cứu chữa hàng quan lại bất tài và ngu xuẩn, những tai nạn do sự nắng lửa mưa dầu, tuyết giá mà ra, những tính xấu xa ích kỷ về nhục dục, các tật nguyền, bịnh hoạn do sự già nua cằn cỗi mà ra, sự phân chia giai cấp, sự khinh rẻ kẻ nghèo và sự tư lợi”.

Nàng lại nói to lên rằng: “Chỉ có Đức Phật là được chứng quả bồ đề, minh tâm kiến tánh”. Nghe vậy nhà Vua lại càng tức giận thêm bèn hạ lệnh lột hết áo quần của công chúa và nhốt nàng vào huê viên để bị đói lạnh mà chết. Công chúa không sờn lòng. Trái lại nàng cảm ơn vua cha đã phạt nàng như thế và chỉ vui tươi mà chịu khổ hình. Các bà mệnh phụ được lệnh ra khuyến dụ nàng hồi tâm tuân ý thánh chỉ. Nàng khư khư một mực và nhứt định vào chùa Bạch Tước ẩn tu, nhập thất tham thiền. Chùa Bạch Tước thuộc quận Long Thọ (Loung Chou), tỉnh Nhữ Châu (Ju Tcheou). Hay tin ấy nhà vua không cấm cản chi, đinh ninh rằng ra nơi ấy một ít lâu công chúa chịu không nổi với những nỗi khổ cực, sẽ chán nản mà về triều.

 Nơi Bạch Tước Tự có mật lệnh của nhà vua phải buộc nàng làm những công việc đê tiện, hèn hạ và mệt nhọc nhứt. Nàng vẫn cúi đầu vâng chịu, không một tiếng than, là vì khi nàng làm phận sự có những hùm beo, chim chóc và thần thánh giúp sức. Biết được thế cho nên bà sư cụ chùa Bạch Tước mới cụ sớ về triều tâu vua mọi sự. Vua cha bèn nghĩ ra một chước cốt làm nàng kinh khủng bỏ chùa mà về đền. Một bữa kia quân lính đến bao vây và phóng lửa thiêu chùa bốn mặt. Sư cụ và tất cả ni cô kinh tâm tán đởm chạy ngược chạy xuôi tầm phương tẩu thoát. Tiếng kêu trời kêu đất inh ỏi! Nàng Diệu Thiện điềm tĩnh như thường. Nàng chỉ lâm râm cầu Đức Phật mà nàng nguyện theo gương và xin Ngài đến cứu nàng. Nàng bèn rút trâm cài đầu đâm vào họng và phun máu tươi lên không trung, tức thì mây kéo mịt mù, thiên hôn địa ám, mưa xuống như cầm chĩnh mà đổ. Bị đám mưa to các ngọn lửa đỏ ngất trời kia lần lần êm dịu rồi tắt. Thấy vậy quân chạy về phi báo. Nhà vua liền hạ lệnh bắt nàng và đưa về đền. 

 Khi điệu nàng về tới, nhà vua dạy mở yến tiệc ca xang, bày một cuộc lễ hội thật lớn cốt để đem nàng trở lại quãng đời phong lưu khoái lạc. Nhưng các cuộc bài trí ấy cũng không hiệu quả gì và cho đến những điều hăm dọa ghép nàng vào tử hình cũng không thấm vào đâu. Cùng thế nhà vua mới hạ lệnh trảm quyết nàng và dạy ba quân điệu nàng khỏi đền mới hành hình. Thần hoàng bổn cảnh liền tâu sự ấy lên cho Ngọc Đế rõ. Đức Ngọc Đế hạ lệnh cho thần hoàng bổn cảnh giữ gìn hồn nàng đừng cho nhập địa phủ. Giờ hành hình đến, giám sát vừa giơ gươm lên thì gươm gãy làm hai. Giám sát bỏ gươm rút giáo toan đâm thì giáo lại tét làm hai. Giám sát chỉ còn một nước là xử giảo nàng (thắt cổ). Đến giờ hành hình thì có một trận cuồng phong thổi tới, làm cho trời đất tối tăm mà chung quanh mình nàng thì hào quang hiện ra sáng rỡ. Thần bổn cảnh liền hóa ra một con hổ, từ trong rừng xanh nhảy ra và cõng thây nàng chạy thẳng vô núi. Những kẻ đi xem hoảng chạy tứ tung. Quan quân và giám sát ảo não muôn phần, lật đật về triều tâu vua mọi sự. Nhà vua không nao núng và lại cho rằng cọp tha thây là một sự trừng phạt nặng nề, gán thêm vào sự trừng phạt của nhà vua để phạt nàng về tội bất hiếu và tội bất tuân lệnh vua cha.

 Nhờ huyền diệu ấy mà nàng DIệu Thiện tuy chết nhưng xác vẫn còn nguyên. Lúc ấy nàng mơ màng như thấy một giấc chiêm bao, cơ hồ như nàng đã lướt gió tung mây... Khi tỉnh lại nàng lấy làm lạ mà thấy mình ở vào một thế giới không nhật nguyệt, tinh tú, không núi non, không người, không loài vật.

 Bỗng chốc nàng thấy hiện ra trước mắt một vị thanh niên mặc áo màu xanh dương, hào quang chói rạng. Vị ấy đến trước mặt nàng, tay cầm một tờ giấy dài và nói rằng: Mình vưng lệnh Diêm Chúa (Yama) mời nàng xuống viếng Diêm Cung để thấy rõ ràng cảnh khốn khổ và những hình phạt mà kẻ có tội phải chịu sau khi chết.

quan âm bồ tát

 Nơi Diêm Cung mỗi khi nàng đi đến đâu nhờ sức thần thông và đức từ bi thuyết kinh của nàng các hồn bị giam cầm đều đặng cứu rỗi và thoát khỏi ngục môn hầu tái kiếp trở lại trần gian. Thập Điện Minh Vương cũng ao ước đặng nghe nàng thuyết pháp. Chiều ý Mười Vua, nhưng nàng xin rằng sau cuộc ấy các hồn tội nhân đều đặng phóng thích. Sau khi khoản ấy đã đặng các vua ưng thuận thì nàng mới dùng hết phép thần thông của nàng mà thuyết pháp. Trong nháy mắt chốn U Minh biến thành lạc cảnh và các âm hồn đều đặng trở lại cõi trần. Thấy mười cõi U đồ đã trống trơn, Thập Điện Minh Vương mới lật đật phán rằng: “Mười điện chúng ta không quyền giam cầm vong hồn nàng Diệu Thiện”. Và tức khắc dạy đưa nàng trở lại dương gian.

 Khi tỉnh dậy nàng Diệu Thiện lấy làm bối rối chưa biết phải đi phương nào. Lúc ấy Đức Phật Thế Tôn hiện ra trên mây dạy nàng phải ra ở núi Phổ Đà, giữa Nam Hải thuộc cù lao Hương Đảo để tu thêm. Muốn đến đó phải trải qua ba ngàn dặm đường. Bởi thế, Đức Phật Thế Tôn mới ban cho nàng một trái bàn đào vườn Tây Vương Mẫu để nàng đỡ đói khát trong một năm và nhơn có đặng trường sanh. Nàng sắm sửa thượng trình. Thấy nàng sức yếu mà đường lại xa Đức Trường Canh Thái Bạch mới truyền cho thần bổn cảnh hóa ra con hổ, cõng đưa nàng ra nơi ấy. Thần bổn cảnh tuân y và trong giây phút nàng đã đến Phổ Đà Sơn.

 Khi nàng tu đặng chín năm thì có một vị Phật Tiếp Dẫn đến cho các vị thần trấn Phổ Đà Sơn hay rằng nàng Diệu Thiện tu hành đạo pháp hiện nay cực kỳ cao siêu mà từ trước đến giờ chưa vị nào đạt được. Nàng đã đứng trên tất cả chư vị Bồ Tát và cai quản các đấng ấy. Hôm nay, ngày 19 tháng 02 chúng ta phải yêu cầu vị ấy nhận một địa vị cao thượng hơn để cứu rỗi và ban hạnh phúc cho quần sanh. Sơn thần Phổ Đà Sơn bèn triệu tập tất cả các thần tiên, thánh phật vùng ấy đến chầu và xưng tụng công đức của vị Bồ Tát mới vừa chứng quả và từ nay người thường gọi là Quan Âm Như Lai, Quan Âm Nam Hải, Phật Tổ Phổ Đà Sơn. Tân Bồ Tát ngự trên tòa sen và tiếp kiến các đấng thiêng liêng đến bái kiến và khánh chúc. Lúc ấy chư thánh tiên mới định lựa một vị đồng tử để hầu Ngài. May đâu lúc ấy có một vị trẻ tuổi xưng là Hoàn Thiện Tài (Hoan Chen Tsai) nghĩa là người chỉ có đọc kinh mà đặng đức lành phép lạ. Thiện Tài đồng tử thú nhận rằng vì mồ côi cha mẹ chàng mới phát nguyện tu hành quy y Phật pháp nhưng chưa chứng quả. Nay nghe tin Nam Hải Phổ Đà Sơn có Bồ Tát ngự nên quyết chí vượt qua mấy muôn dặm đến đây để hầu Ngài và xin làm đệ tử. Trước khi ưng chuẩn lời nguyện ấy, Đức Bồ Tát muốn thử tâm chí coi ra sao, Ngài bèn truyền cho sơn thần, thổ địa hóa làm ăn cướp đến vây đánh Phổ Đà Sơn. Riêng về phần Ngài thì Ngài giả dạng sợ sệt, kêu la cầu cứu và giả té xuống hố sâu. Thấy vậy Thiện Tài đồng tử chạy theo cứu thầy và nhảy luôn xuống hố. Vì quyền năng pháp lực chưa đặng cao cho nên đồng tử phải thiệt mạng. Bồ Tát liền dùng thần thông cứu tử. Khi đồng tử tỉnh dậy thì thấy một cái xác bên mình, Bồ Tát cho biết đó là xác phàm của đồng tử và hiện nay đồng tử đã bỏ xác phàm và nhập vào cõi thánh. Từ đó Thiện Tài đồng tử một lòng phụng sự Bồ Tát trong sự cứu độ chúng sanh.

 Sau lại Đức Bồ Tát có thâu làm đệ tử nữ vị cháu gái của vua Nam Hải Long Vương tên là Long Nữ. Việc đã xảy ra như vầy. Ngày kia đệ tam thái tử con vua Long Vương hóa làm con cá, dạo chơi trên mặt biển, chẳng may vướng phải lưới của ông chài. Ông chài bắt cá ấy đem bán ngoài chợ. Ngự trên liên đài Bồ Tát biết rõ việc ấy, bèn sai Thiện Tài Đồng tử giả dạng thường nhơn đến mua cá ấy đem ra biển phía Nam thả. Nam Hải Long Vương nhớ ơn cứu tử con mình mới định dưng cho Bồ Tát một cục ngọc ban đêm chiếu sáng để giúp Ngài đọc sách không cần đèn, và dạy Long Nữ là con gái của đệ tam thái tử phải bổn thân đem ngọc đến dưng. Đến nơi dưng ngọc xong, Long Nữ rất cảm phục huyền năng và đức độ của Bồ Tát và cầu xin Ngài cho theo hầu Ngài cùng quy thuận Phật pháp. Bồ Tát ưng cho. Từ ấy Long Nữ đặng thâu làm đệ tử hiệp cùng với đồng tử Thiện Tài mà phụng sự Ngài.

 Từ khi Diệu Trang Vương dùng chước độc mà hại nàng Diệu Thiện thì nhà vua phải một chứng bệnh hết sức khổ sở.

 Thân thể nhà vua phải thúi tha đầy ung thư ghẻ chốc làm cho nhà vua nhức nhối đau đớn vô hồi. Đức Bồ Tát phóng đại quang minh biết rõ mọi sự. Nhà Vua lúc ấy hạ lệnh đăng bảng cầu danh y, Bồ Tát bèn giả dạng một nhà sư già đến xin chữa bịnh.

 Khi đến trước mặt vua thì nhà sư bèn tâu phải kiếm cho đặng đôi mắt và một đôi cánh tay của thân nhân nhà vua mới trị đặng bịnh, nhưng mà phải ra núi Phổ Đà mới kiếm đặng hai món ấy. Vua liền phái hai vị quan cấp tốc đến Phổ Đà Sơn để tìm hai món vừa nói. Thấy vậy hai vị phò mã rất bất bình và âm mưu định giết nhà sư và sau đó thí vua mà soán ngôi.

 Bồ Tát rõ sự việc ấy và đã sai Thiện Tài đồng tử giả làm tên thị vệ hầu bên cạnh vua. Khi một tên quân của hai vị phò mã dưng cho vua một chén thuốc độc nói dối là của nhà sư dạy đem cho vua ngự thì tên thị vệ kia tiếp bưng chén ấy và sẵn tay làm đổ ngay xuống đất. Đang lúc ấy một người lẻn vào phòng nhà sư để thích khách. Bồ Tát bèn dùng thần thông làm cho tên ấy tê liệt không còn hoạt động nữa và bị bắt trói. Cơ mưu bại lộ, hai vị phò mã vì sợ bị khổ hình nên đã uống độc dược tự tử. Hai vị công chúa phải tội liên can đều bị biếm vào lãnh cung đời đời cấm cố. Hai nàng mới ăn năn, noi gương em mình là Diệu Thiện lo tu hành. Khi hai nàng đã tấn hóa nhiều về con đường tu niệm thì Bồ Tát và Thiện Tài đồng tử hóa ra hai thớt tượng bạch mà đưa hai vị công chúa đến cảnh Phật Đài để tránh xa mùi tục lụy.

 Từ ngày hai vị sứ giả phụng mệnh nhà vua, tuôn mây lướt sóng trải biết bao khổ cực mới đến Phổ Đà Sơn, Thiện Tài đồng tử phụng lịnh Bồ Tát hiện ra tiếp rước. Hai sứ giả trình bày mọi sự rồi được đến yết kiến Bồ Tát. Bồ Tát Diệu Thiện ngồi trên liên đài bèn trao cho hai vị sứ giả con mắt bên tả và cánh tay bên tả của mình. Việc xong sứ giả cáo tạ rồi hồi trào, và dưng lên cho vua và hoàng hậu hai món đã kiếm đặng. Hoàng hậu nhìn lên cánh tay tả thấy có nốt ruồi và sau khi nghe sứ giả tả dung mạo người đã cho nhà vua hai vật ấy thì quả quyết đó là con mình và đau đớn không ngần.

 Nhà sư bèn trộn hai món ấy với ít vị thảo dược rồi đem tất cả đắp lên nửa thân bên trái của nhà vua thì nhà vua tức khắc khỏi đau phía bên mặt. Thấy thế nhà sư bèn tâu vua xin sứ giả ra Phổ Đà Sơn tìm cho đặng con mắt phía tay mặt và cánh tay mặt. Sứ giả vâng lệnh ra đi, không bao lâu đem về dưng đủ hai món. Nhà sư cũng làm y như trước thì nửa thân bên phải của nhà vua khỏi ngay. Từ ấy vua Diệu Trang hoàn toàn lành bịnh. Trong triều, ngoài quận ai ai cũng đồng biết rằng nhờ con chí hiếu là Diệu Thiện mà nhà vua mới khỏi bệnh ngặt nghèo.

 Sau khi khỏi chết vua cùng hoàng hậu cám ơn cứu tử, định ra Phổ Đà Sơn một chuyến để tạ ơn. Xa giá đăng trình gặp không biết bao là nguy nan, nhưng đều nhờ Bồ Tát dùng phép thần thông mà cứu khỏi.

 Đến nơi vua cùng hoàng hậu thấy Bồ Tát tọa thoàn trên liên đài mất cả hai mắt và hai tay. Nhìn biết là con mình nhà vua ăn năn xúc động vô cùng bèn quỳ xuống cầu nguyện cho con đặng sống và đặng huờn y hai con mắt và hai tay. Khẩn nguyện xong thì nhà vua và hoàng hậu thấy con mình hiện trước mắt, tay mắt đủ, hình dạng mạnh khỏe như xưa.

 Thấy phép thần thông vô biên của Bồ Tát, vua cùng hoàng hậu nhất định lìa nơi điện ngọc đền vàng, lánh mình trần tục tìm đàng thiên thai.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sự tích Đức Quan Thế Âm Bồ Tát
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd