Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

Những điều hợp, kỵ của Mộc trong bốn mùa

Mộc của tháng mùa xuân, cái lạnh vẫn còn sót lại, được lửa sưởi ấm, được nước tưới mát, nên mang vẻ đẹp thư thái. Nhưng nếu như nước nhiều thì cây ẩm ướt; nước
Những điều hợp, kỵ của Mộc trong bốn mùa

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1. Mùa xuân

ít thì cây khô héo, Thủy - Hỏa hài hoà là tốt nhất. Nếu Thổ nhiều thì Mộc sẽ hao tổn sức lực, nếu Thổ mỏng thì tiền tài dồi dào. Nếu gặp Kim nhiều thì gặp Hỏa vẫn không tổn thương, nếu Mộc mạnh thì có gặp Kim cũng vẫn phát triển.

(Ảnh minh họa)

2. Mùa hạ

Mộc của tháng mùa hạ cành lá khô héo, cần nước làm cho ẩm ướt, kỵ lửa nóng, làm cháy cây. Hợp với Thổ mỏng; Thổ dày sẽ thành tai họa. Nếu Kim nhiều cũng là điều xấu, nhiều qúa sẽ bị khắc chế. Cây cối mọc nhiều sẽ tạo thành rừng, hoa ra tầng tầng lớp lớp nhưng không kết quả.

3. Mùa thu

Mộc của tháng mùa thu, hình dạng dần úa tàn. Đầu mùa thu, khí nóng của Hỏa vẫn còn, đất cần nước để cây tiếp tục sống. Giữa thu, quả đã chín, cần dao (Kim) để cắt tỉa. Sau tiết Sương giáng thì không cần nhiều nước, nước nhiều cây sẽ bị trôi. Trước tiết Hàn lộ lại cần được lửa sưởi ấm, lửa nóng sẽ giúp cây rắn chắc. Cây cối nhiều sẽ cho nhiều gỗ, nhưng đất dày thì không có khả năng tự lập.

4. Mùa đông

Mộc của tháng mùa đông thì vẫn còn co quắp, ẩn náu trong đất. Cần đất nhiều để nuôi dưỡng, sợ Thủy mạnh sẽ mất đi hình dạng. Kim dù nhiều, bị khắc chế nên không gây hại, gặp Hỏa nhiều sẽ được ấm áp. Khi quay về mệnh số, bệnh của cây làm sao có thể được phù trợ?

(Theo Ngũ hành và tứ thời ngũ phương)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những điều hợp, kỵ của Mộc trong bốn mùa

Mơ thấy hạc: Tượng trưng cho công danh và nhân cách con người –

Hạc vốn sở hữu chiếc cổ khá dài, mang dáng vẻ cao ngạo, tượng trưng cho công danh con người. Quả phụ mơ thấy hạc, cả đời tâm nguyện thủ tiết thờ chồng. Người đi thi mơ thấy hạc, dự báo sẽ thi đỗ vào ngôi trường mong muốn. Thương nhân mơ thấy hạc, lờ
Mơ thấy hạc: Tượng trưng cho công danh và nhân cách con người –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mơ thấy hạc: Tượng trưng cho công danh và nhân cách con người –

Hạnh phúc là buông xả

Hạnh phúc chính là buông xả, xả ly, mọi sự tranh chấp buồn phiền do ta phần nhiều đổ lỗi cho người khác hoặc gánh hết tội lỗi vào bản thân và tự trách móc
Hạnh phúc là buông xả

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Người tu là người đi tìm hạnh phúc chân thật, hạnh phúc này chỉ có khi tâm không còn bám víu, dính mắc, thèm khát mọi sự vật trên đời này. Như vậy hạnh phúc chính là sự giải thoát của tâm ý. Và muốn có giải thoát thì phải tập buông xả.

Chất chứa có người nọ nghe nói về một đạo sư nổi tiếng nên tìm đến hỏi đạo. Đến nơi, anh thấy trong nhà của vị đạo sư trống trơn, chỉ có một cái giường, một cái bàn, một cái ghế và một cuốn sách.

Anh ngạc nhiên hỏi: “Sao nhà đạo sư trống trơn, không có đồ đạc gì cả?”
Đạo sư hỏi lại: “Thế anh có hành lý gì không?”
Anh đáp: “Dạ có một va li”.
Đạo sư hỏi: “Sao anh có ít đồ vậy?”
Anh đáp: “Vì đi du lịch nên đem ít đồ”.
Đạo sư nói: “Tôi cũng là một người du lịch qua cuộc đời này nên không mang theo đồ đạc gì nhiều”.

Chúng ta thường quên mất mình chỉ là khách du lịch qua cuộc đời này, lầm tưởng mình sẽ ở mãi nơi đây, nên tham lam, ôm đồm, tích trữ quá nhiều đồ vật, tài sản. Đàn bà thì chất chứa quần áo, vòng vàng, nữ trang. Đàn ông thì máy móc, xe hơi, ti vi, máy điện tử.

Tranh chấp

Mỗi khi có sự tranh chấp, buồn phiền, chúng ta thường có khuynh hướng đổ lỗi cho người khác. Sau đây là ba trường hợp:

  1. Người chưa biết đạo thì luôn cho mình đúng và người kia lỗi 100%.
  2. Người bắt đầu học đạo, biết tu thì thấy cả hai bên đều có lỗi 50%.
  3. Người hiểu đạo thì thấy mình lỗi 100%.

1/ Người chưa biết đạo thì luôn cho mình đúng 100%.

Do vô minh và chấp ngã quá lớn, cho mình là người quan trọng nhất, nghĩ cái gì cũng phải, cũng đúng, nên xảy ra chuyện gì trái ý cái ngã (cái ta) thì tức giận bắt lỗi người khác.

Thí dụ một chuyện thật xảy ra ở Hoa Kỳ, có một bà già vào mua cà phê tại tiệm Starbucks, không biết vì lý do gì, bà uống ly cà phê bị phỏng miệng. Thế là bà nổi giận làm đơn kiện tiệm này đã bán cho bà ly cà phê quá nóng khiến bà bị phỏng miệng và đòi bồi thường hai triệu đô la. Bà ta không thấy lỗi mình là khi cầm ly cà phê lên, nếu thấy nóng thì phải biết thổi cho nó nguội rồi mới uống, đàng này có thể vì tham ăn, tham uống, thấy ly cà phê bốc mùi thơm phức, mờ mắt húp cái ực nên bị phỏng miệng. Trong khi đó biết bao nhiêu người khác uống đâu có bị phỏng? Không những không biết lỗi mình mà còn đi kiện người ta!

Một chuyện khác có thật cũng xảy ra tại Hoa Kỳ. Một ông nọ đưa bộ đồ vét (veste, suit) đến một tiệm giặt ủi. Khi lấy bộ đồ về thì nhận ra cái quần không phải của mình. Ông đem trả lại tiệm và khiếu nại. Khoảng một tuần sau, chủ tiệm đưa cho ông một quần khác, nhưng ông vẫn không công nhận là quần của ông. Thế rồi ông làm đơn kiện tiệm giặt ủi. Chủ tiệm đề nghị bồi thường ông 12.000 đô la nhưng ông không chịu mà đòi 54 triệu. Đương nhiên là quan tòa đã bác đơn của ông ta.

2/ Người bắt đầu học đạo và biết tu thì thấy cả hai bên đều có lỗi 50%.

Ở đây nói 50% là nói tượng trưng, vì có thể là 40% và 60%, hoặc 30% và 70%, hoặc 20% và 80%, v.v… Khi xảy ra một sự tranh chấp, cãi nhau thì đương nhiên phải có một người bắt đầu.

Thí dụ như ông A và bà B cãi nhau. Ông A là người bắt đầu, nhưng nếu bà B im lặng bỏ đi, không chửi lại thì ông A không thể đứng đó chửi mãi. Nhưng nếu ông A nói một câu và bà B nói lại hai câu thì ông A sẽ tức lên nói ba câu hoặc năm, sáu câu liên tiếp. Và nếu bà B không biết ngừng thì cuộc cãi nhau sẽ leo thang. Nếu bà B biết ngừng thì cuộc khẩu chiến sẽ chấm dứt. Nhưng sau đó cả hai bên đều mang vết thương lòng và hận nhau. Về nhà, nếu bà B là người hiểu đạo thì sẽ nhận ra mình cũng có lỗi trong chuyện cãi nhau, và nếu nhận ra mình có lỗi 40% thì cơn giận của bà sẽ giảm xuống 40%. Nếu bà B nhận ra mình có lỗi 60% thì cơn giận của bà sẽ hạ xuống 60%.

3/ Người hiểu đạo thì thấy mình lỗi 100%.

Trong một cuộc tranh chấp mà thấy mình lỗi 100% thì coi bộ lỗ quá. Nhưng nếu hiểu đạo, đạo ở đây là luật nhân quả và nhân duyên thì biết là không thể nào tự nhiên vô cớ mà người kia lại gây sự với mình. Có thể mình đã nói hoặc đã làm điều gì tổn thương người ta mà mình không nhớ. Và nếu xét cho kỹ mà vẫn không thấy mình làm gì sai quấy thì có thể đời trước, hay nhiều kiếp trước mình đã não hại người ta, nên bây giờ họ gặp lại mình thì gây sự, kiếm chuyện trả thù.

Thấy mình lỗi đã là quý, nhưng nếu biết xin lỗi thì càng quý hơn vì có thể giải tỏa ân oán và oan gia.

Hạnh phúc xả ly

Ở đời người ta thường cho hạnh phúc là có được cái này, cái kia: Có nhà lầu, xe hơi, có vợ đẹp, con ngoan, có tài sản, quyền thế, v.v… Khi chưa có thì muốn có, làm đủ mọi cách để cho có. Có rồi thì sợ mất hoặc xem thường rồi lại muốn có cái khác. Nếu không được thì buồn phiền, bất mãn, khổ sở.

Người biết tu thì thấy “không có” là một hạnh phúc. Không có ở đây là do trí tuệ quán chiếu thấy mọi sự phiền toái đều do ham muốn mà ra. Bởi thế người tu không muốn có, nếu đã có rồi thì tập xả ly. Vì những thứ “có” trên thế gian này đều là ràng buộc.

Tuy nhiên đối với những người chưa có, chưa thỏa mãn được những mong ước, thèm khát, còn mải mê chạy theo vật chất thì xả ly là một việc thật khó làm, vì họ chưa có thì lấy gì mà xả bỏ.

Ðức Phật khi còn là thái tử đã có vợ con, vàng bạc, của cải, cung phi mỹ nữ, đầy đủ vật chất mà trong lòng vẫn nặng trĩu âu lo, không cảm thấy hạnh phúc. Do đó Ngài mới xả bỏ ra đi tìm chân lý, tìm hạnh phúc chân thật. Trong khi đó có những người tu lại chạy theo vật chất, của cải, tài sản, danh lợi bởi vì trong đời họ chưa được thỏa mãn, chưa cảm thấy có đầy đủ. Chỉ khi nào có được rồi và trải qua kinh nghiệm thấy những thứ mà họ đã nhọc công tìm kiếm chỉ đem lại phiền toái và khổ đau thì lúc đó ý nghĩ xả ly mới xuất hiện.

Trước hết có thân thì phải lo cho thân ăn, mặc, ở, sống. Phải đi làm kiếm ăn, phải mua quần áo mặc, phải thuê nhà ở tránh mưa nắng. Khi thân đau ốm phải lo thuốc men, chạy chữa. Nếu có gia đình thì phải lo làm ăn buôn bán kiếm tiền nuôi vợ con. Suốt ngày chỉ lo suy nghĩ và làm đủ mọi chuyện cho cái ta và những thứ của ta.

Hạnh phúc xả ly tương đương với thiểu dục tri túc, có nghĩa là tâm không ham muốn, và luôn cảm thấy đầy đủ dù trong tay không có gì hết. Với người tu, không có sở hữu gì thật là một hạnh phúc. Nói như vậy có vẻ ngược đời, nhưng người tu là kẻ đi ngược dòng đời kia mà!

Xả ly giống như người đang mang gánh nặng trên vai mà đi, nay bỏ được gánh nặng xuống thì cảm thấy nhẹ nhàng sung sướng vô cùng. Người tu cần tập xả ly, vì xả nhiều chừng nào thì nhẹ chừng nấy. Xả ly không có nghĩa là phải vứt bỏ hết tài sản, của cải đang có.

Xả ly trước hết là xả bỏ sự ham muốn và buồn giận trong tâm, kế đến là xả bỏ sự bám víu vật chất bên ngoài. Tuy sống giữa tài sản, vật chất, nhưng tâm không còn nhớ nghĩ những thứ đó là của ta, nếu có ai xin hoặc mất thì xem như nhẹ gánh nặng.

Tập xả ly tới mức cùng cực thì khi chết, ta xem như trút hết gánh nặng, nhất là cái thân tứ đại già yếu, bệnh hoạn. Ta đã phải mang nó trên vai suốt cả cuộc đời, nay bỏ được nó, há không phải là sung sướng lắm sao? Vì thế các thiền sư đắc đạo, khi chết đều vui vẻ an nhiên tự tại ra đi.

Khi đói thì ta thèm ăn, nhưng khi ăn thì đòi thứ này thứ kia rồi ăn cho cố, đau bụng, nặng bụng, khó thở. Khi khát thì thèm uống, nhưng khi uống thì thích những thứ độc hại như rượu bia, rồi say mèm, ói mửa. Nhiều khi sinh ra ung thư hay sưng gan.

Theo Phật giáo, người tu là người đi tìm hạnh phúc chân thật, hạnh phúc này chỉ có khi tâm không còn bám víu, dính mắc, thèm khát mọi sự vật trên đời này. Như vậy hạnh phúc chính là sự giải thoát của tâm ý. Và muốn có giải thoát thì phải tập xả ly. Hãy nhìn vào tự tâm, xem mình còn bám víu, dính mắc, ưa ghét cái gì không? Có người xả bỏ được vợ con nhưng lại dính mắc vào chùa chiền, xả bỏ được tài sản nhưng lại dính mắc vào danh lợi, địa vị. Xả bỏ được cái này nhưng rồi lại dính mắc vào cái khác!

Tác giả Thích Trí Siêu
Nguồn: Tạp chí Đạo Phật Ngày Nay số 11
Tiêu đề cũ “Hạnh phúc nhờ buông xả”, tiêu đề “Hạnh phúc là buông xả” do www.phatgiao.org.vn đặt lại.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Hạnh phúc là buông xả

Mơ thấy nhà ảo thuật: Gặp chuyện không vui trên con đường mưu cầu đời sống giàu sang –

Nhà ảo thuật gia là nhân vật mang đến niềm vui cho mọi người. Trong họ luôn ẩn chứa sự thần kỳ và khả năng biến hóa. Nhà ảo thuật gia xuất hiện trong mơ cho thấy rõ người nằm mơ sẽ gặp một vài chuyện không vui trong quá trình theo đuổi cuộc sống vật
Mơ thấy nhà ảo thuật: Gặp chuyện không vui trên con đường mưu cầu đời sống giàu sang –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mơ thấy nhà ảo thuật: Gặp chuyện không vui trên con đường mưu cầu đời sống giàu sang –

Trùng tang là gì? Cách hóa giải trùng tang?

Trùng tang là hiện tượng tâm linh đáng sợ trong dân gian và là nỗi lo lắng của các tang gia. Trùng tang là gì? Có cách nào để hóa giải trùng tang hay không?
Trùng tang là gì? Cách hóa giải trùng tang?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Trung tang la gi Cach hoa giai trung tang
 

1. Khái niệm trùng tang

  Trùng tang là gì? Hiện tượng một người mất vào thời điểm không đúng căn số khiến nhiều người trong gia đình, họ hàng, dòng tộc chết theo được gọi là trùng tang. Trong khoảng thời gian chưa mãn tang (3 năm) lại có thêm tang, đặc biệt là đại tang (người mất là ông, bà, cha, mẹ, con cái, anh chị em ruột) thì khả năng cao là gia đình đó bị trùng tang.   Gia đình bị trùng tang trong cùng một thời điểm phải mang ít nhất hai vòng khăn tang, liên tiếp đưa tiễn người thân, cần phải xem lại ngày giờ mất của người chết đầu tiên để xem có điều gì sai lầm, có sai căn sai số hay không để phòng bị, hóa giải, tránh những cái tang tiếp theo.   Trùng tang có nặng có nhẹ, nặng nhất là trùng tang liên táng, có thể khiến một dòng họ đông đúc thiệt hại nhiều nhân khẩu, trở nên suy tàn. Cách tính trùng tang nặng nhẹ mà dân gian thường hay áp dụng theo thứ tự ngày, tháng, giờ năm.    Tức là trùng tang ngày là nặng nhất, trong họ 3 đời có 7 người chết theo. Tiếp đến là trùng tang tháng, trong họ 2 đời có 5 người chết theo. Trùng tang giờ trong họ một đời có 3 người chết theo. Trùng tang năm là nhẹ nhất.   Có nhiều cách tính trùng tang, cần nắm vững nguyên tắc 3 trường hợp khi mất để xác định người nhà mình có trùng tang hay không:   Nhập mộ: người mất ra đi đúng căn đúng số, an táng rồi sẽ trở về với đất, không còn liên quan tới dương gian. Đây là trường hợp an lành, yên nghỉ, chỉ trong trong các yếu tố giờ, ngày, tháng, năm mất và tuổi người mất có một yếu tố là nhập mộ thì cát lợi, con cháu không cần lo lắng về trùng tang.   Thiên di: người mất ra đi tuy chưa phải căn số nhưng theo ý trời nên không quá hung hiểm, trong nhà chỉ mất mát tài sản, kiện tụng, phân ly chứ không thiệt hại về nhân khẩu.   Trùng tang: người mất không đúng căn số, không hợp mệnh nên còn lưu luyến dương gian, muốn kéo người đi cùng nên dẫn tới hiện tượng người trong nhà chết theo liên tiếp.  

2. Cách hóa giải trùng tang

  Trùng tang là hiện tượng đáng sợ, chưa có lý giải nhưng rất nhiều người tin tưởng bởi sự thực nó đã từng xảy ra với nhiều gia đình. Khi người thân mất phạm trùng tang, cần hết sức bình tĩnh để tìm cách hóa giải, bảo vệ an toàn cho những người con sống.   Người nhà nên tới chùa linh thiêng xin ít tro hóa vàng về rải đều thành lớp dưới huyệt mộ rồi mới đặt quan tài lên. Dân gian tin rằng, tro vàng ở chùa mang linh lực có thể trấn yểm vong hồn, không cho người chết quay về quấy nhiễu người sống.
cach hoa giai trung tang
 
Cách thức hóa giải trùng tang hiệu quả nhất và thường được sử dụng nhất là làm lễ trấn trùng tang và “nhốt trùng” lên chùa. Có những ngôi chùa nổi tiếng về độ thiêng và có thể trấn trùng mạnh như chùa Hàm Long ở Bắc Ninh. Nơi đây ngày nào cũng cúng cháo thí thực cho vong hồn và cầu kinh siêu thoát. 
Xem thêm bài viết Có đúng là tích cực niệm Phật thì sẽ trừ được ma ám không?
 
Khi áp dụng cách thức này, người nhà không được lập ban thờ tại gia, không được thắp hương cúng khấn kể cả trong ngày giỗ. Mãn hạn 3 năm, trùng yên ổn rồi mới được tới chùa thỉnh về thờ tại nhà.    Dân gian cũng lưu truyền các bài thuốc trấn trùng với các vị thần sa, chu sa, sương luật, địa liền,… buộc kín trong túi gấm để vào quan tài. Hoặc dùng linh phù đặt dưới gối người đã khuất, dùng bùa chú đặt ở ngực, giữa rốn, lót dưới quan tài để trấn tà. Nhưng những cách này được đánh giá là chỉ mang tính tạm thời, phần nào giảm hung hiểm chứ không hóa giải được hoàn toàn.     Một cách thức đến nay ít được sử dụng nhưng vẫn liệt kê ra đây để bạn đọc tham khảo, đó là làm huyệt giả. Chọn một mô đất trống, đào huyệt và đổ tỏi xuống, dùng thần chú, bát quái trận đồ trấn âm trạch rồi lấp đi. Khi chôn người chết ở huyệt mộ chính không làm lễ lớn, tiến hành vào ban đêm thật lặng lẽ. Cách này là du nhập từ Trung Quốc, ở Việt Nam không phổ biến.   Những kiến thức trùng tang là gì và cách hóa giải trùng tang ở trên đều mang tính chất tâm linh dân gian, truyền miệng. Giống như mọi hiện tượng kì bí, khoa học hiện đại chưa xác thực sự tồn tại của trùng tang song vẫn nên thận trọng, có thờ có thiêng, không sợ vạn nhất chỉ sợ nhất vạn, bảo vệ an toàn cho cả gia tộc là quan trọng nhất.
Những đại kỵ trong đám tang cần tránh tuyệt đối Những điều cấm kỵ trong tang gia Những kiêng kị trong đám tang để yên người chết, ổn người sống
Trần Hồng

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Trùng tang là gì? Cách hóa giải trùng tang?

Hình dáng chân và tướng đi tiết lộ tính cách, số phận con người

So với các bộ phận khác trên cơ thể con người, trong Nhân tướng học thì chân ít được để ý hơn. Song qua kinh nghiệm nhiều đời, cổ nhân đã phát hiện ra mối liên quan bí ẩn giữa đặc điểm, tính cách, số phận của con người với hình dáng, kích thước của chân (cẳng chân, bắp chân, bàn chân...) và dáng đi.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Luận chung về Tướng chân

Theo quan niệm cổ nhân, chân là nơi trên chở một thân, dưới vận trăm thể, làm tượng của đất, thể dẫu rất thấp, mà dụng rất lớn, có thể phân biệt tốt, xấu, mà xét sang, hèn vậy. Lão Tử nói đại ý rằng, chân tuy ở dưới cùng của thân thể nhưng khả năng chống đỡ lớn nhất, có thể giúp chúng ta đội trời đạp đất.Tương truyền, gian thần đời Tống là Tần Cối có chân dài. Một nhà tướng pháp nhìn thấy Tần Cối liền nói: "Người này phá nước hại dân, e thiên hạ đều chịu họa, nhiều quân tướng chịu chết dưới tay ông ta", về sau lời nói của nhà tướng pháp quả nhiên ứng nghiệm.

Dưới nhãn quan tướng học Á đông, diện mạo được coi như thân cây, chân tay ví như cành nhánh. Có cây tốt thân mà xấu cành, có cây lại tốt cành mà xấu thân. Cành và thân đều tốt đã đành là quý, nhưng cành tốt thân xấu hay ngược lại thì cây đó vẫn có thể khả dụng. Cho nên, nếu Ngũ quan, Tam đình, Ngũ nhạc (trong Tướng mặt) có bị khuyết điểm đôi chút về mặt hình thức mà tứ chi hợp cách vẫn được coi là loại tướng khả dĩ có phú quý.

Trần Đạm Giã, một nhà nghiên cứu tướng pháp Trung Hoa, đã nói: "Tứ chi đối với con người cũng như bốn mùa đối với sự phát triển của vạn vật. Bốn mùa mà không điều hoà thì vạn vật khó sinh sôi nẩy nở. Tứ chi không ngay thẳng, cân xứng thì kẻ đó suốt đời khốn khổ".

Các bộ phận của chân nói gì?

Về đại thể, người đùi đẹp, chân thon dài, mềm mại, đầu gối cân xứng, đặc biệt đối với phụ nữ, là người có tướng phú quý. Chân tuy to rộng nhưng lại lệch, gầy và mỏng là tướng bần tiện. Đùi to mà đầu gối quá nhỏ, hay mắc quan tụng (kiện tụng), thua thiệt. Đầu gối nổi gân có vòng, suốt đời bôn tẩu, lao đao. Đầu gối quá nhỏ, chân lại khẳng khiu yếu đuối như không xương, tướng yểu bần. Da khô đầu gối nhỏ xương so với đùi, đến già vẫn chưa làm nên chuyện gì thành công.

Gót chân dày, bắp chân và đùi thon gọn là người có quyền thế, bắp chân ngắn và gót chân lớn thì hay gặp gian nan, vất vả. Nhìn chung, chân người sang thì nhỏ mà dày, chân người hèn thì lớn mà mỏng.

Bắp chân (bụng chân): Người có bắp chân to, chân dài, thuôn thì thường có thân hình đẹp, khí chất cao quý, tính cách dịu dàng, thanh lịch, đời sống tình dục mạnh mẽ. Bắp chân khá to, chân ngắn, người coi trọng lý trí, sống quyết đoán, vững vàng trước sóng gió của cuộc đời, giỏi xử lý công việc, dù không dịu dàng cho lắm.

Bắp chân bé, chân dài, người sáng suốt, tự tin, hành động nhanh nhẹn, có khiếu thẩm mỹ. Bắp chân đầy đặn, là mẫu phụ nữ truyền thống, tính ôn hòa, cởi mở, khiêm tốn, ưa thích tình cảm kín đáo. Bắp chân thon, chân ngắn, tính tự vệ cao, luôn cảnh giác đề phòng, thường ở trong trạng thái tâm lý căng thẳng, là người nhanh nhẹn, cần cù nhưng thường thích hư vinh và luôn muốn mình là trung tâm.

dangdi410
Người đùi đẹp, chân thon dài, mềm mại, đầu gối cân xứng, đặc biệt đối với phụ nữ, là người có tướng phú quý.

Bàn chân: Nam giới có bàn chân dày, nhiều thịt, độ dài các ngón chân đều nhau, hồng hào thì phú quý, còn nữ giới thì phải mảnh mai, nhỏ nhắn, ít thịt lộ xương mới là tốt. Bàn chân vẹo vọ, gầy yếu, người khổ ải, nghèo hèn. Nếu trong lòng bàn chân có nốt ruồi đen, đó là dấu hiệu tượng trưng cho tài lộc, phú quý. Nốt ruồi càng to càng bóng càng chứng tỏ khả năng tài chính của chủ nhân rất ưu việt.

Nếu trong lòng bàn chân có đường vân hình xoắn ốc, người hợp với những công việc trong ngành truyền thông, phim ảnh và sẽ danh lợi song toàn.

Lòng bàn chân khuyết (lõm sâu) như chiếc thuyền úp, hay mặt trăng lưỡi liềm nằm giữa là người thường hưởng cả tài lẫn phúc lớn. Chân dù lớn mà mỏng là tướng hèn hạ, dày mà rộng và ngắn là tướng nghèo khổ, lòng bàn chân phẳng như ván là tướng nghèo hèn.

Gót chân: Người có gót chân tròn đầy là tướng phú quý. Người có gót chân hồng (nhất là phụ nữ) thì là hồng phúc, cả con cháu cũng được nhờ. Người có gót chân nổi rõ thường có tài vận cực vượng. Dưới gót có lằn thớ là tướng hèn hạ. Dưới gót có lằn xoáy là có danh vọng lớn. Dưới gót thành mắt là tướng phúc tới con cháu. Gót chân nứt nẻ là người hà tiện. Gót chân bằng phẳng thì trí lực kém, nghèo khổ.

Ngón chân: Ngón chân dài và hơi thon nhọn và dài là tướng quý, người trung lương. Ngón chân ngay và bằng là người trung nghĩa, thuần hậu. Ngón vẹo vọ, người luôn bận tâm, chịu khó làm lụng, tính khí nóng nảy, hấp tấp. Nếu các ngón xòe tõe ra, người vất vả, lao tâm, nghèo khổ. Nếu ngón lại gãy, gót bè bẹt thì tính ti tiện.

Ngón chân cái ngắn dùi đục: khổ ải. Ngón thứ hai dài hơn ngón cái, người quyết đoán, có khả năng lãnh đạo và tinh thần trách nhiệm cao. Ngón thứ hai và thứ ba cách xa nhau, người có khả năng quan sát tinh tế, nắm bắt nhanh và ngụy trang tốt cảm xúc. Ngón thứ hai ngả vào ngón cái, người ủy mị, giàu cảm xúc, nhưng đôi lúc lại quá yếu đuối, dù là người khá chín chắn. Ngón út nhỏ nhắn biểu hiện cho sự ngây thơ trong sáng và là người hóm hỉnh, hài hước. Ngón út cong lại, hướng ra ngoài người thích sự tự do, phóng khoáng.

Gan (lòng) bàn chân: Người có gan bàn chân mềm mịn và nhiều đường vân là phú quý. Gan bàn chân thô cứng không có đường vân là tướng bần cùng, hạ tiện. Gan bàn chân có vân rùa thì phải gánh vác trọng trách, vân hình chim thì giữ chức quan trọng. Gan bàn chân có vân như thêu gấm thì nhiều lộc, có đường vân như hình cây thì nhiều gia tài, có vân như hình chiếc kéo thì nhiều của cải. Nếu 10 ngón chi không có đường vân chủ về người phá hại gia tài.

Móng chân: Người có móng chân hình tròn, trơn bóng, nếu là nữ, là người có tướng mệnh phu nhân. Người có móng chân mọc cụp xuống dưới có số hưởng tiền. Người có móng chân màu tráng sữa thường có vận mệnh ổn định bình yên. Móng chân màu xám báo hiệu cuộc đời sẽ gặp nhiều trắc trở, đau khổ. Móng chân có sắc hồng hào là biểu hiện sức khỏe tốt, có mệnh phú quý.

Dáng đi nói gì?

Theo quan niệm của cổ nhân, đi là động, thuộc dương thể hiện phong thái và tính cách của con người. Nội tâm, nghĩ suy thế nào thì bước đi sẽ đồng điệu như thế. Người có phúc tướng đi như nước chảy không ngừng. Người tầm thường bước đi như cây gặp gió. Muốn đánh giá dáng đi thì phải quan sát từ xa và khi người đó đi một mình tự nhiên.

Theo đó, bước đi ung dung, uy nghi, bước dài, vững trãi, khoan thai, người và đầu thẳng, mắt nhìn thẳng là tướng vua quan uy quyền, cơ mưu. Bước đi điềm tĩnh, người và đầu không động đậy, không ngó nghiêng, tướng quyền uy kiêu hãnh, tự phụ hùng mạnh, dáng của tướng soái.

Đi thư thả bình lặng là người có tính ôn hòa, cuộc đời no đủ, an nhàn. Đi chân không bén đất, phá gia sản, tha hương, tính nôn nóng, đời nghèo khổ, không thọ.Tướng đi lấp sấp vội vã thì tính tình bất ổn, suốt đời lo lắng, thiếu thốn. Đi đầu cúi gằm nhìn đất hay ngó lại phía sau là tướng tự ti, không bản lĩnh, thân phận hèn kém, xảo quyệt.

Tướng đi lắc lư uốn éo (dáng rắn bò) là người cô độc, gái sát phu (nhiều đời chồng); người không thật thà, tham lam bủn xỉn và không thọ. Tướng đi bình lặng nhưng hai bàn tay nắm chặt, tính khó đăm đăm, giữ của, tính toán chi ly.

Đi mà hai bàn tay duỗi thẳng các ngón tay, tướng hoang phí, tính xởi lởi. Đi mà hai bàn tay khum tự nhiên là tướng căn cơ nhưng thiện tâm. Đi đầu chúi về phía trước, tướng vất vả đủ đường. Đi mà đầu ngửa ra sau là tướng ngu đần, vũ phu. Đi ưỡn thân ngực, đầu cất cao, tướng tự phụ, cao ngạo, coi thường thiên hạ.

Bước đi nặng nề là người suốt đời lo nghĩ, bất hạnh khổ đau. Bước đi hai chân song song (hai hàng) người thẳng là tướng giầu bất chợt nhưng cuộc đời phải đó đây. Bước đi hai tay lăng xa quạt chéo vể sau: Nếu là con trai thì đồng tính, tầm thường, nếu là con gái thì chua ngoa. Bước đi hai tay lăng xa quạt chéo phía trước, tính đỏm dáng, xởi lởi, quan tâm mọi người...

Theo Hà Nam
Câu chuyện pháp luật


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Hình dáng chân và tướng đi tiết lộ tính cách, số phận con người

Thưởng ngoạn nhan sắc đông tây

Ai đó từng nói một câu rất nổi tiếng: “Đẹp không phải trên má hồng thiếu nữ mà trong đôi mắt kẻ si tình…”. Điều đó có nghĩa là cái đẹp mang ý nghĩa tương đối, tuỳ thuộc chủ quan người đánh giá. Song, ở mỗi nền văn hoá, trong quan niệm về vẻ đẹp phụ nữ, vẫn có những yếu tố nhất định tạo nên tiêu chuẩn chung được đa số chấp nhận. Quan niệm này khác biệt qua các nền văn hoá và qua các thời đại.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Cổ xưa nhất, khi loài người chủ yếu phụng thờ sự phong nhiêu của đất đai (trong thần thoại của nhiều dân tộc, đất được hình dung như nữ thần Mẹ) và sự phồn thực (năng lực sinh sôi nảy nở của thực, động vật cũng như của con người) thì cả phương đông lẫn phương tây đều đã cùng tôn sùng vẻ đẹp người nữ với thân thể màu mỡ, bộ ngực đầy đặn, vòng mông sung mãn.



Từ Hy Lạp thời cổ đại thì nữ thần Vénus, với thân thon chân dài, được xem như mẫu mực cho vẻ đẹp muôn thuở của phụ nữ phương tây. Sau này, phương tây  đặt ra tiêu chuẩn 90-60-90 như số đo lý tưởng cho ba vòng: ngực và mông nở nang, eo thon nhỏ, tạo nên “corps guitare” (“co” người giống như hình dáng cây đàn guitare).



Trung Quốc qua các thời đại tạo dựng nên điển hình “Tứ đại mỹ nhân” (Tây Thi - thế kỷ 6 trước Công nguyên. Vương Chiêu Quân – thế kỷ 1; Điêu Thuyền – thế kỷ 3; Dương Quý Phi – thế kỷ 8). Cùng là những người đẹp “chim sa cá lặn, nguyệt thẹn hoa nhường”, đẹp đến độ “khuynh quốc khuynh thành” nhưng vẻ đẹp các nàng cũng rất khác nhau: Điêu Thuyền nhỏ nhắn, nhẹ nhàng như chim én đến ngỡ có thể nhảy múa trên lòng bàn tay người ta, trong khi Dương Quý Phi lại rất “mỡ màng” (trên news.china.com có tài liệu cho rằng nàng cao 1m64 mà nặng 69kg, theo tài liệu khác thì nàng cao 1m55 mà nặng 60kg). Tuy nhiên, về cơ bản, Trung Quốc, với truyền thống phong kiến gia trưởng, nghiêng về vẻ đẹp “mình hạc xương mai”, “liễu yếu đào tơ” – “thục nữ” phải “yểu điệu”, nương bóng tùng quân mới dễ khiến “quân tử hảo cầu”. Những bàn chân bó “gót sen ba tấc” (đặc biệt phát triển trong đời Thanh) là thuộc về hệ toạ độ của vẻ đẹp đó.



Trung Quốc là nơi rất nổi tiếng về nhân tướng học nên quan niệm vẻ đẹp phụ nữ luôn gắn với cái nhìn thần thái, người nữ đẹp đáng khao khát phải có tướng hiền lương, “vượng phu, ích tử”, đem lại phú quý, thịnh đạt cho gia đình, dòng họ. Mặt mũi đầy đặn chẳng hạn, là tướng đức hạnh của người đàn bà tính tình khoan hoà, đoan chính, khiến cho gia đình hoà thuận, con cái an vui (chẳng thế mà Nguyễn Du tả Thúy Vân: “khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang”)…

Đối với nền văn hoá Trung Hoa mà Nho giáo là yếu tố thống lĩnh, mỹ không tách rời chân, thiện. Nên bên cạnh “Tứ đại mỹ nhân”, Trung Quốc đồng thời tôn vinh Tứ đại sửu nữ – bốn hình tượng phụ nữ xấu ma chê quỷ hờn nhưng đức hạnh cao đẹp tuyệt vời (Mô Mẫu – thời viễn cổ; Chung Vô Diệm và Túc Lựu – thời Chiến quốc; Mạnh Quang thời Đông Hán) cho thấy cái đẹp bên trong (nội tại mỹ), cái đẹp đạo đức (đức mỹ) còn quan trọng hơn cái đẹp diện mạo bên ngoài (mạo mỹ).   

Ở Ấn Độ từ các thần thoại, sử thi cho đến thơ ca, nghệ thuật cổ điển… đều ngợi ca các nữ thần, các Apsara, các thiếu nữ… với vẻ đẹp thân thể tôn lên ba điểm uốn lượn của những đường cong tuyệt mỹ: bộ ngực cực lớn, eo cực nhỏ và mông cực đầy.

Trong thời toàn cầu hoá và hội nhập văn hoá hiện nay, cả trong quan niệm vẻ đẹp phụ nữ, dường như đông và tây cũng đang xích lại gần nhau, giao thoa, tích hợp… Khá nhiều cô gái Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc… đến mỹ viện để có thể có được nét đẹp hiện đại tây phương trong khi lại có trào lưu của không ít nam giới phương tây tìm kiếm người bạn đời phương đông với vẻ đẹp truyền thống. Siêu mẫu Saira Mohan, thừa hưởng từ người cha nét đẹp truyền thống Ấn Độ đồng thời từ người mẹ (mang ba dòng máu Pháp - Ireland - Canada) nét đẹp phương tây, hiện đang được nhiều người thừa nhận như một biểu tượng của vẻ đẹp hoàn vũ.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Thưởng ngoạn nhan sắc đông tây

Luận Bàn Họa Giang Hồ - Lãng Tử

– sự hiện diện của rất nhiều sao tình dục ở cung Mệnh, cung Thân: Thiên Riêu, Thai, Mộc Dục, Hoa Cái, Đào Hoa, Hồng Lo...
Luận Bàn Họa Giang Hồ - Lãng Tử

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

      sự hiện diện của rất nhiều sao tình dục ở cung Mệnh, cung Thân: Thiên Riêu, Thai, Mộc Dục, Hoa Cái, Đào Hoa, Hồng Loan, Liêm Trinh, Tham Lang ...       sự hiện diện của những sao này ở cung Nô chỉ con người đó rất sa đọa, trụy lạc, ăn chơi, đàng điếm, không kể dư luận, đạo đức.       sao khắc chế tình dục không có hoặc không đủ mạnh ở các cung Mệnh, Thân.       đối với phái nữ, sao tình dục có đi chung  với sao tài, ngụ ý rằng tiền bạc kiếm được bằng nhan sắc, bằng hương phấn.       cung Phu Thê bị Tuần, Triệt đồng cung hoặc 1 trong 2 án ngữ, tiên niệm sự trục trặc, sự bất hạnh về gia đạo hoặc sao cô độc như Cô, Quả, Đẩu, Quân.       cung Phu Thê có nhiều sao chỉ sự thay đổi cụ thể như Thiên Đồng, Thiên Mã, Đại Hao, Tiểu Hao, ngụ ý đương số thường thay đào đổi kép.       riêng số phụ nữ còn có những bộ sao nói lên họa trinh tiết       cung Mệnh, cung Thân của hai phái có nhiều sao nói lên tính nết lãng tử, giang hồ, ham vui, chóng chán, thích thay đổi, phiêu lưu tình cảm.
      cung Phúc có nhiều sao bất hạnh về gia đạo.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Luận Bàn Họa Giang Hồ - Lãng Tử

Điềm báo cận thị của giấc mơ –

Cận thị có liên quan đến thói quen xấu, nhưng cận thị ở một số người là do di truyền. Có một số em bé khi sắp bị bệnh thì nằm mơ thây bệnh nhưng không biết cách đề phòng, cũng không nói cho bố mẹ biết. Có một bé trai tên là Lâm Phong ở Trung Quốc khi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Cận thị có liên quan đến thói quen xấu, nhưng cận thị ở một số người là do di truyền.

Có một số em bé khi sắp bị bệnh thì nằm mơ thây bệnh nhưng không biết cách đề phòng, cũng không nói cho bố mẹ biết.

Có một bé trai tên là Lâm Phong ở Trung Quốc khi lên 9 tuổi nằm mơ thây một đóa hoa lớn, màu hồng, nở rộng nhưng héo ngay; trên đóa hoa có mây mù, giống như buổi sáng mùa đông. Do còn bé nên em không nói cho ai biết về giấc mơ. về sau em cảm thây mắt có chút mờ đi, xem sách phải để gần. Đến tuổi hiểu biết em cảm thây đau khổ, sau đó đi khám em mới biết thị lực hạ thấp khá nghiêm trọng.

Điềm báo cận thị

Lâm Phong có một em trai tên là Lâm Nguyên theo cha sông ở Paris. Khi Lâm Phong nằm mơ thấy đóa hoa thì Lâm Nguyên ở xa hàng chục nghìn cây số cũng nằm mơ thấy những vật tương tự như thế. Lâm Nguyên kinh ngạc kể với cha. Cha của Lâm Phong và Lâm Nguyên là một nhà thiên văn học, hiểu biết về mơ không nhiều, nhưng ở Paris ông có một người bạn, một chuyên gia tâm lý, ông này sau khi biết nội dung giấc mơ của Lâm Nguyên đã dự đoán có thể em bị cận thị, ông hỏi về tình hình bệnh tật của toàn gia đình rồi kết luận đây là do di truyền. Ông đề nghị đưa Lâm Nguyên đi bệnh viện kiểm tra mắt. Kết quả là bệnh khá nặng nhưng nhờ kịp thời điều trị nên có chuyển biến tốt.

Trong giấc mơ của Lâm Phong và Lâm Nguyên, đóa hoa tượng trưng cho đôi mắt của hai em. Hiện tượng này cho thấy: Không được xem thường giấc mơ.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Điềm báo cận thị của giấc mơ –

Chọn đèn có cần theo phong thủy ?

Hỏi: Tôi có đọc một số sách phong thuỷ kiểu hiện đại, thấy họ hay dùng giải pháp chiếu sáng, treo đèn như một cách để điều chỉnh các chuyện tốt xấu trong nhà. Điều này có vẻ khác với các tư liệu phong thuỷ truyền thống, chỉ chú trọng tuổi tác, phương hướng hay bếp núc...

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đây mới thực sự quan trọng hơn là dùng đèn. Vậy thực chất nên làm thế nào, việc chọn đèn có nhất thiết phải theo phong thuỷ hay không ?


Trả lời:


Ảnh trái: Ánh sáng gián tiếp, đèn LED theo
bậc thang...là giải pháp hiệu quả và tiết kiệm
cho không gian giao thông.
 
Không gian giao tiếp nhiều hay ít sẽ
quyết định đến số lượng đèn và mức độ
chiếu sáng.

Việc tài liệu phong thuỷ xưa ít đề cập đến hệ thống chiếu sáng như phong thuỷ hiện đại thì cũng dễ hiểu, bởi tiến bộ kỹ thuật ngày nay mở ra nhiều khả năng chọn lựa chiếu sáng phong phú hơn thời chỉ có thắp nến hay đèn dầu leo lét. Nhưng dù là xưa hay nay thì chọn đèn cũng có những nguyên tắc cơ bản sau:

– Chọn theo hướng giao tiếp: tuỳ theo đối nội hay đối ngoại mà sử dụng đèn tương ứng. Ví dụ sảnh đón khách hướng trước nhà thì tính dương cao, cần chọn những loại đèn rực rỡ hơn là sảnh phụ, lối đi phía sau nhà. Hoặc hệ thống đèn phòng khách cần nhiều tầng bậc khác nhau, có thể thêm đèn chùm để gia tăng tính nổi bật khi tập trung đông người. Trong khi phòng sinh hoạt nội bộ thì ít đèn hơn, kiểu đèn tĩnh tại hơn, ánh sáng phân tán và dịu nhẹ hơn.

– Chọn theo hướng phương vị: là hướng tính toán để bố trí đèn so với chủ thể xem xét. Ví dụ trong phòng ngủ thì vị trí nằm trên giường là chủ thể chính, các vùng chung quanh trái – phải – trước – sau, trên đầu dưới chân là các phương vị tương ứng với đặc thù gia chủ và nhu cầu sử dụng. Từ phương vị so với chủ thể xem xét sẽ đi đến quyết định loại đèn và kiểu chiếu sáng, cụ thể là vùng hai bên trái phải sẽ dùng đèn bàn điều chỉnh cường độ sáng, hoặc đèn treo thả xuống ra sao. Vùng tường trên đầu giường chỉ dùng đèn hắt nhẹ nhàng, tránh dùng đèn rọi gay gắt, còn các vùng xa giường có thể dùng đèn đứng hay đèn áp tường để tạo điểm kích hoạt khí, tóm lại là không thể “rải đèn” tràn lan, đều đặn mà không chú ý đến phương vị xoay quanh sinh hoạt của chủ thể.

– Chọn theo bối cảnh sử dụng: khác với đèn chiếu sáng cơ bản, đèn trang trí thường được mua sau khi đã hoàn thành xây dựng để gia chủ có thể phối hợp với các thành phần trang trí khác như tranh ảnh, rèm cửa, bàn ghế… Nếu ngôi nhà không phải là lâu đài cung điện, cần tránh những loại đèn quá cầu kỳ, nhiều góc cạnh hay mũi nhọn, vừa dễ bám bụi vừa là điểm xung sát không tốt. Khi bước vào một căn phòng đầy đủ ánh sáng mà không ngọn đèn nào choá mắt gây khó chịu thì có nghĩa là ánh sáng phòng đó đã được kiểm soát vừa phải.

– Chọn đèn theo ngũ hành: ánh sáng theo các sắc của ngũ hành cũng cần tương sinh hài hoà với không gian và gia chủ, ví dụ phòng ngủ vốn thuộc mộc nên dùng ánh sáng vàng nhẹ (thổ ) có thể điểm thêm ánh xanh (thuỷ), phòng làm việc nên lấy ánh sáng trắng (kim) làm chủ đạo, có bổ sung ánh sáng vàng (thổ) để tương sinh. Gia chủ mạng hoả sẽ hợp hơn với ánh sáng xanh lá cây, vàng và cam, với kiểu đèn có nhiều góc nhọn, hình chóp hoặc hình ống. Trong khi người mạng thuỷ theo nguyên tắc ngũ hành sẽ thiên về ánh sáng trắng và xanh biển, kiểu đèn có uốn lượn mềm mại hoặc đèn tròn trịa (kim sinh thuỷ). Dĩ nhiên không thể áp đặt nếu gia chủ không thích, nhưng thông thường các nguyên tắc ngũ hành khá phong phú và không ít thì nhiều sẽ tương hợp với đặc tính gia chủ và không gian cụ thể.

Tóm lại, chọn đèn về cơ bản là chọn những thiết bị vừa trang trí vừa phục vụ nhu cầu sử dụng, lại hàm chứa nhiều yếu tố phong thuỷ như kích hoạt năng lượng, trấn trạch… mang đến không gian các yếu tố hỗ trợ trong tâm lý. Phong thuỷ có câu “hình nào thì khí ấy, khí nào thì lý ấy” chính là triết lý chọn lựa biết cân nhắc giữa các nhu cầu và ham muốn, không để hình bên ngoài át khí bên trong, không để sự rực rỡ thu hút của kiểu dáng làm quên đi vai trò tăng cát giảm hung của đèn.

(Theo SGTT)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chọn đèn có cần theo phong thủy ?

Dự đoán hôn nhân (3)

1. Mệnh nữ không lợi cho chồng con. Nữ gặp thương quan là tượng khắc chồng tái giá, nếu gặp hợp nhiều thì đó là người đàn bà ti tiện, hoặc dâm ô, hoặc trộm cắp. Ất canh tương hợp là người đàn bà tuy dung mạo đẹp nhưng khắc chồng, hình phạt con. Nữ gặp quan sát hỗn tạp là người khắc chồng tái giá.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Thương quan gặp quan thì không những khắc chồng mà thân còn vất vả, nếu không làm hại chồng thì cũng là người bệnh hoạn, người ít phúc đức, cuộc sống không yên ổn.

Thiên can thấu quan sát , địa chi không có quan sát lại còn gặp đất tử tuyệt, đó là người làm suy kiệt chồng, cuối cùng đi làm vợ lẽ.

Nữ tài phải ít, nếu tài nhiều thì dâm loạn.

Tài và quan cả hai đều có thì khi hành vận gặp cả quan lẫn kiếp tài sẽ khắc chồng, qua vận mới nên lấy chồng
(hoặc nên lấy chồng muộn).

Thương quan trùng trùng tất sẽ khắc chồng và tính cách ngang bướng.

Nữ mà quan tinh nhiều thì làm hại chồng.

Nữ mà thực quan ít thì chồng suy, con vượng.

Nữ vận hành đến đất tỉ kiếp thì làm trở ngại chồng, khắc cha.

Quan tuyệt hưu tù thì cô quả, đơn đọc.

Nữ có kình dương là khắc chồng, chắc chắn sẽ tái giá.

Nữ Tứ trụ gặp thương nếu lấy chồng gần thì sẽ khắc chồng, gặp xung, kiêu, ấn nếu không ly dị thì dễ chết.

Nữ chỉ có 1 quan tinh là tốt, nhiều quan tinh là tượng tái giá lấy chồng nhiều lần.

Kiêu, ấn trùng trùng là người vợ dễ tử biệt sinh ly.

Trong Tứ trụ không có quan tinh, không làm vợ lẽ thì cũng là vợ kế.

Tài quan nhập mộ là người không là hại con thì cũng khắc chồng.

Tài quan lâm tử tuyệt là người phụ nữ cô quả đói nghèo.

Tài quan đều rơi vào tuần không vong là gây hại cho chồng, phải bỏ đi phương xa.

Trong Tứ trụ có cả kiêu thực cùng với thương quan là hại con, khắc chồng.

Mậu sinh vào ngày quý là quan, tuổi trẻ đã lấy chồng già. Trong Tứ trụ nếu gặp cả hợi, dậu thì không lấy chồng là tốt nhất.

Nữ không có tài, quan, thực ấn thì người đó cuộc sống không vất vả cũng là làm nghề ca kĩ.

Mệnh nữ trong Tứ trụ đinh gặp nhâm nhiều đó là người dâm loạn.

Phu tinh vượng, tử tinh suy, tất khắc con ; tử tinh vượng. Phu tinh suy, tất làm hại chồng.

Trong Tứ trụ chỉ một phu tinh, hai tài tinh thì gọi là người tranh chồng ; nếu chính tài vượng, thiên tài suy thì mình làm vợ cả, người kia làm vợ lẽ, ngược lại là mình làm vợ lẽ.

Phu tinh không vượng lại còn bị khắc chế là người lấy chồng muộn, hoặc lấy chồng bất minh, lén lút.

Tham tài, làm hỏng ấn là người phụ nữ bất lương ( tài nhiều, ất ít).

Tài tinh nhiều là khắc chồng : thân ở vượng địa là giàu mà khắc chồng con.

Tứ trụ có quý nhân còn gặp trạch mã là người đẹp, phong lưu, khéo.

Người hợp quý nhiều thì người đẹp, đa tình nhưng thấp hèn.

Ðào hoa mờ, mộc dục rõ không là người đi tu cũng là người ở chùa.

Tí, ngọ, mão, dậu đều có là người ham mê tửu sắc, hoang dâm. Dần , thân, tị, hợi đều có là người phụ nữ thông minh.

Ấn tin nhiều là người đó không bị chết thì cũng có cảnh chia ly.

Mệnh nữ nhiều là người đó không bị chết thì cũng có cảnh chia ly.

Mệnh nữ có quan tinh khi hành đến quan vận thì sẽ khắc chồng.

Trong Tứ trụ kim thanh, thủy lạnh là người khó lấy chồng.

Thổ táo, hỏa mạnh thì phòng không lạnh lẽo.

Quan nhiều, ấn nhiều là người cô đơn.

Tài suy, ấn tuyệt là lấy chồng sớm ( tảo hôn).

Tứ trụ gặp tam hình, gặp quan quỷ là khắc con hại chồng.

Thủy tụ vượng là người con gái lẳng lơ.

Lục hợp cùng với tam hình là người hại chồng, làm bại gia nghiệp.

Phá tài, phá ấn là người khó lấy chồng.

Xung quan hợp thực ( thần ) thì hình phạt chồng, sống nương tựa vào con.

Quan tinh được lệnh mà gặp thương là người làm ni cô.

Trụ ngày là kình dương là gặp sát là người không làm vợ lẽ thì cũng đi tu.

Chỗ ngang vai trong lục thân mà lộ ra chị em tất có chuyện tranh chồng.

Trong Tứ trụ toàn tỉ kiếp, quan địa thì chắc chắn có chuyện tranh chồng.

Phu tinh vượng, quan tinh được lệnh, kiêu thần mạnh thì hại con.

Năm và ngày tương xung thì không nên sinh đẻ.

Mệnh đào hoa là người phụ nữ rất dâm.

Thân vượng, quan tinh hung thì người đó không đi tu cũng làm nghề ca kĩ.

Thực thần gặp kiêu thần nhiều, can của năm sinh là thương quan, giờ là kình dương , hình xung khắc hại, lưu niên và các vận xung hợp kiêu thần, kình dương thì nhất đinh sinh đẻ khó khăn, trắc trở.

Phạm tam hình lục hợp, vong thần kiếp sát, cô thần quả tú là người khắc chồng, khắc con.

Nữ gặp quan đế vượng là người còn trinh nguyên.

Quan tinh gặp tuần không vong, ngày sinh vô khí là người không có chồng, nếu có thì cũng luôn luôn sợ chết chồng.

Kim thần gặp giáp là người khắc chồng.

Người trong Tứ trụ có thân tí thìn gặp nhâm quý là người không tiết hạnh.

Người đào hoa gặp kiếp sát là người cô độc, dâm ô, phá hại gia nghiệp, trẻ thì làm nghề linh tinh, già thì cô đơn nghèo khổ.

Hàm trì và đại hao cùng cung với nhau là người độc ác, gian dâm.

Người gặp mão dậu nhiều là người hay sẩy thai, khắc con. Hay đau nhức về bệnh máu.

Phu tinh đắc địa là người nhiều con.

Nhất đóng ở thương quan là người hay chửi chồng. Người như thế nên lấy chồng già làm mẹ kế hay vợ lẽ.

Trong Tứ trụ tân là quan tinh, có sửu là phu ( chồng ) kho nếu gặp nhiều tân là người đã chết chồng.

Nữ gặp tí ngọ mão dậu là người theo trai làm vợ .

Nữ ngày giờ sinh gặp khôi canh là hại chồng khắc con.

Nữ mệnh thủy gặp thổ nhiều là người sống cô đơn.

Cung phu có khắc là lấy vợ muộn, cung thê có khắc là lấy chồng muộn.

Nữ phạm thương quan, nếu không lấy chồng xa thì sẽ khắc chồng, gặp xung khắc kiêu thần nếu không chia tay thì khó sống lâu.

Nữ phạm thượng quan, nếu không lấy chồng xa thì sẽ khắc chồng, gặp xung khắc kiêu thần nếu không chia tay thì khó sống lâu.

Nữ phạm thương, thiên, ấn thì không lợi cho chồng con.

Quan sát nhiều mà không gặp tài là vợ không kính chồng. Cướp quyền chồng.

Quan tuyệt, hưu tù là người cô đơn quả tú. 

2. LY HÔN

Ví dụ 1. Khôn tạo


Tháng 3 năm 1984 người phụ nữ này nhờ đoán. Tôi xem trong Tứ trụ thấy kiêu thương tỉ kiếp đều có, lại còn thêm âm dương sai lệch, trụ ngày có khôi canh, đại vận lại gặp khôi canh nên chắc chắn phải kết hôn hai lần. Năm ất tị 1965 đúng là thương quan gặp thương quan có hại, vì kỉ thổ quan tinh ở vượng địa, chồng khoẻ không đến nỗi chết cho nên đoán ly hôn. Quả nhiên đúng thế.

Ví dụ 2. Khôn tạo


Tứ trụ này thương quan hai rõ ba mờ, thương vượng nhiều, chắc chắn là khắc chồng. Quả nhiên năm 1975 cô đó ly hôn. Năm 1975 cô ta 41 tuổi, hành đại vận giáp tí, gặp lưu niên ất hợi, kiêu ấn đều vượng, đó là năm ly hôn, chính ứng câu " Kiêu ấn trùng trùng là người phụ nữ tử biệt sinh ly". 

Ví dụ 3: Khôn tạo


Tháng 2 năm 1985 cô Mai nhờ tôi đoán. Xem trong Tứ trụ thấy thân ở đất đế vượng, thân vượng, kiêu ấn lại nhiều, kình dương nhiều chắc chắc là người phụ nữ khắc chồng, tái giá. Cho nên đoán : năm nhâm tí 1972 có ly hôn. Sự thực đúng thế

Ly hôn năm 1972 là vì đại vận nhâm dần, lưu niên là nhâm tí, tiểu vận là ngang vai, thân gặp đế vượng tất khắc chồng, lại kình dương trung lặp với tuế quân, "kình dương gặp tuế quân là đột nhiên hoạ đến". Nếu không ly hôn thì nhất định gặp hoạ.  

Ví dụ 4. Khôn tạo


Mùa thu năm 1985 cô Trương đến nhà nhờ đoán. Tôi thấy trong Tứ trụ thân vượng, sát vượng là vợ chồng xung khắc, cung phu sửu thổ là dậu sửu bán hợp , lục hợp với tí sửu là cuộc hôn nhân trước nóng sau lạnh, trước hợp sau tan. Nên năm 1972 ly hôn, năm 1978 ly hôn lần thứ hai.

Ly hôn năm nhâm tí 1972 là vì : đại vận đinh sửu ngang vai khắc chồng, lưu niên nhâm tí chính là hai sửu hợp với 2 tý, tức là chồng hợp với người khác. Năm 1978 lại ky hôn vì đại vận mậu dần là đất thương quan, lưu niên mậu ngọ là chỗ thương quan, "thương quan vượng địa là người khắc chồng". 

Ví dụ 5. Khôn tạo


Tháng 11 năm 1988 khi tôi đang giảng bài ở Nam Kinh có một vị đại sứ nước ngoài nhờ tôi đoán vận cho ông ta và người nhà. Khi tôi sắp xếp Tứ trụ con gái của ông, thấy trong Tứ trụ tỉ kiếp rất nhiều, cung phu tương hình nên khắc chồng rất nặng. Do vậy đoán năm 1975 nhất định phải ly hôn. Quả đúng tháng 5 năm 1975 vừa lấy chồng thì tháng 7 đã ly hôn.

Năm 1975 ly hôn là vì: trong Tứ trụ rất nhiều tỉ kiếp, điều đó ứng với câu : " Tỉ kiếp trùng trùng là chồng không còn tình nghĩa với mình". 

Ví dụ 6 . Khôn tạo

 

Tháng 7 năm 1987, tôi đến núi Phổ Ðà là một thắng cảnh của Phật giáo có 1 nữ thanh niên biết tôi đã nhờ tôi đoán giúp. Tôi thấy trong Tứ trụ, tỉ, kiếp mỗi bên 1 nửa, cung chồng khắc thân đó là tượng người phụ nữ lấy chồng muộn nhưng lại sớm chia tay. Do đó tôi nói với cô ta: cô lấy chồng muộn, nhưng không suôn sẻ. Theo Tứ trụ của cô thì năm kết hôn cũng là năm ly hôn. Năm 1986 có tai hoạ đó, cô ta thừa nhận : đúng như thế!

Năm 1986 ly hôn là vì : gặp đúng đại vận bính thìn, lưu niên bính dần là ấn thủ vượng địa cho nên có việc ly hôn. Ðúng là "tỉ kiếp trùng trùng là kết hôn 2 lần".

Trong 2 ví dụ 4 và 5, tỉ kiếp rất nhiều, nhưng là hai cô ở hai nước khác nhau thế mà tai hoạ trong hôn nhân lại giống nhau nên có thể nói Tứ trụ dự đoán học đoán ở đâu cũng đúng.  

Ví dụ 7. Khôn tạo

 

Ðây là Tứ trụ của một diễn viên điện ảnh nổi tiếng của Trung Quốc, mùa xuân năm 1990 khi tôi ở Thượng Hải đã khẩn thiết nhờ tôi đoán. Tôi xem trong Tứ trụ không thấy quan tinh, tức là "không phải là vợ lẽ thì cũng là vợ kế, nên ly hôn tái giá là điều chắc chắn". Xem đại vận thấy gặp thương quan, lưu niên bính dần lại là lúc "thương quan gặp quan" nên khắc chồng, do đó tôi nói: năm 1986 có chuyện ly hôn, nếu không ly hôn thì chồng chết. Cô ta nói: năm 1986 đã ly hôn. Xem ra đó là điều may mắn vì đã cứu được một sinh mạng.

Ví dụ 8. Khôn tạo

 

Tháng 4 năm 1991 khi ở Singapo người phụ nữ này nhờ tôi đoán. Trong Tứ trụ quan tinh hai lần lộ ra, thương quan mở, năm giáp tí 1984 thì ba quan hội ở vượng địa là người vợ có rắc rối trong hôn nhân, lại gặp phải "thương quan gặp thương quan là sẽ có tai hoạ bất ngờ ập đến", cho nên tôi đoán cô ta năm 1984 phải ly hôn. Lời đoán rất ứng nghiệm. 

3.      MẤT CHỒNG

Ví dụ 1 . Khôn tạo

 

Mùa xuân năm 1984, một thầy thuốc nhờ tôi đoán. Trong Tứ trụ tỉ kiếp nhiều lại gặp đế vượng, phu tinh tí thuỷ lại gặp hưu tù, thương quan laị vượng, tức là phu tinh có khắc không có sinh nên chắc chắn là chết. Do đó tôi đoán chồng chết năm 1969 tức là năm kỉ dậu thương quan. thực tế đúng như thế.

 Ví dụ 2 . Khôn tạo

 

Mùa đông năm 1986 một diễn viên kịch nói nổi tiếng của Trung Quốc đến nhà nhờ tôi đoán. Trong Tứ trụ của bà có "Tứ trụ thuần âm là tượng khắc chồng tái giá", "thực kiêu cũng gặp thương quan là nếu có chồng thì chồng chết", nên tôi đã đoán : nếu chồng bà không chết năm 1970 thì chết năm 1971. Bà nói: đúng, chồng mất năm 1970.

Chết năm 1970 là vì đúng với câu : "Kiêu ấn trùng lặp là người phụ nữ có tử biệt sinh ly". 

Ví dụ 3. Khôn tạo

 

Tháng 1 năm 1986 có 1 phụ nữ thông qua Lô Chí Tần nhờ tôi đoán vận. Tôi thấy trong Tứ trụ của bà, thương quan trùng lặp nhiều nên nói: cuộc đời của bà khổ nhất là việc hôn nhân không thuận, chồng mất liên tiếp, vừa tái giá lại tái giá. năm 1984 lại vừa gặp tai nạn mất chồng. Bà ấy vừa khóc vừa nói : người chồng thứ nhất của tôi mất năm 1959, người thứ hai mất năm 1984.

Chồng mất năm 1984 là vì nguyên nhân: ba thương hội tụ ở vượng địa. 

Ví dụ 4. Khôn tạo

 

Ðầu năm 1984, có 1 người Hồ Bắc đến nhờ tôi đoán. Xem trong Tứ trụ thấy thực nhiều, kiêu mạnh, kiêu thực đều có đó là thông in chồng mất rất rõ. Hiên nay đại vận canh ngọ gặp đát kiêu, năm giáp tí 1984 là năm có 3 thực, 4 kiêu tranh đoạt thực rất kịch liệt, nên năm 1984 có tai họa mất chồng. Tôi đã trình bày cho cô ta cách giải, nhưng cô không làm theo. Về sau tháng 8 năm 1984 thì báo thấy có tang : ngày 3 tháng 3 người chồng bỗng nhiên bị chết. 

Ví dụ 5. Khôn tạo 


Mùa xuân năm 1987 khi tôi lên Bắc Kinh gặp 1 người phụ nữ có chức vụ khá cao đã nhờ tôi đoán vận với thái độ xem thường việc đoán. Tôi thấy bà rất tự phụ, vốn không muốn đoán nhưng để muốn chứng minh rằng Chu dịch dự đoán học và Tứ trụ dự đoán học là có cơ sở nên tôi cũng sắp xếp Tứ trụ và đoán luôn. Vừa vào đầu đã nói đúng yếu điểm của bà ta : năm 1974 bà bị chết chồng. Nghe xong bà ta rất phục.

Ðại vận của bà ta là Giáp dần, lưu niên cũng là giáp dần, là tam quan cùng tương ngộ, hội tụ, tức ứng với câu " Nữ có quan tinh lại gặp quan vận, tất sẽ khắc chồng". 


Ví dụ 6: 
Khôn tạo

  Tháng 5 năm 1991 khi tôi ở Băng Cốc -Thái Lan có 1 bà họ Từ là đại thương nhân, tuy tuổi đã quá 60 nhưng tinh thần vẫn rất sung mãn, cười nói hoạt bát có duyên, tiếp khách nhiệt tình, cởi mờ. Bà ấy đã đưa Tứ trụ ra nhờ tôi đoán. Xem xong Tứ trụ tôi nói luôn : Tứ trụ của bà không có quan tinh là suốt đời tự do thoải mái, đi về một mình. Trong hôn nhân bà trước hết là tì thiếp sau mới làm vợ. Năm 1969 thì mất chồng. Bây giờ giàu có và quyền thế đã ràng buộc bà. Nghe xong bà liền giơ ngón tay cái: Thầy Thiệu là người thần, đoán đúng hết. Về hôn nhân thì bà là người vợ thứ 3 và chồng bà đã mất năm 1969.

Chông mất năm kỉ dậu  (1969) là vì : kiêu, ấn, đều vượng lại gặp tuế vận, lại còn gặp kiêu thần. Ðiều đó ứng với câu " Tứ trụ không có quan tinh không làm vợ lẽ thì cũng làm mẹ kế".

Mục 2 và mục 3 ở trên đều nói về những tiêu chí thông tin và các sự việc khắc vợ, khắc chồng. Hoạ khắc vợ khắc chồng là điều mọi người rất quan tâm. Nhưng tai hoạ có thể hóa giải được không ? Ðiều đó phải xem hoàn cảnh cụ thể của người ấy, có người hoá giải được, có người không. Ví dụ về ly hôn mà nói, ai cũng hy vọng không việc gì xẩy ra việc đó và xem nó như một tai hoạ trong đời người, nhưng thực tế có lúc ly hôn lại cũng không phải hoàn toàn là xấu.

Vì hai vợ chồng khí âm dương ngũ hành bất hoà từ lúc khắc nhau phát triển đến giai đoạn đối kháng, trong thời gian đó hai vợ chồng ngoài những lúc bực tức, tranh cãi, đánh nhau, làm việc gì cũng không thành, tuy rằng việc ly hôn còn do nhiều nguyên nhân gây ra nữa nhưng cũng ít thấy việc ly hôn còn do nhiều nguyên nhân gây ra nữa nhưng cũng ít thấy việc ly hôn lại do cãi nhau, mà điều chủ yếu là do sự đối kháng của khí âm dương bất hòa nên cuối cùng dẫn đến hôn nhân tan vỡ. Cuộc hôn nhân bất hòa có trường hợp sức khắc mạnh mẽ, nếu không ly hôn thì một bên sẽ chết, tuy nhiên cái chết đó là nguyên nhân bên ngoài hoặc bệnh tật gây đến, nhưng thực chất là do mệnh vận tác động sai khiến. Cho nên có những cuộc ly hôn không những cứu được một mạng người mà sua khi ly hôn mỗi người đều tìm thấy những người bạn tương sinh, tương hợp với mình, làm cho hai khí âm dương trong cơ thể được cân bằng, tình cảm thoải mái, thúc đẩy sự nghiệp phát triển, có cống hiến cho xã hội.

Trong vấn đền ly hôn không phải hai bên đều tự nguyện mà thường một bên hay nói có chết cũng không ly hôn. Ðối với các trường hợp như thế có thể tìm cách hóa giải để giải hoạ. Ví dụ tôi đã dùng phương pháp giải cứu cho nhiều cuộc ly hôn có hiệu quả tốt. Dưới đây cử vài ví dụ. Càn tạo. 


Tháng 3 năm 1985, gặp một trường hợp đòi ly hôn nhau, thời gian khá dài. Lãnh đạo và bạn bè đã khuyên hết lời, nói : ông đã hơn 50 tuổi, con cháu đều có, đòi ly hôn không sợ người đời cười hay sao. Nhưng ông ta vẫn một mực không nghe. Cuối cùng ông ta nghe người khác khuyên đến nhờ tôi hóa giải.

Tôi xem trong Tứ trụ ông ta thấy ngang vai nhiều, kình dương lại gặp vượng địa, nhật nguyên là mậu dần, năm và lệnh tháng xung khắc thê tinh rất nặng. Trên Bát quái thông tin khắc vợ cũng rất rõ nên từ rất sớm đã ly hôn 1 lần. Lần ly hôn thứ hai sẽ xảy ra vào năm bính dần (1986) là không nghi ngờ gì nữa.

Nhưng tôi thấy sự khắc vợ của ông ta tuy hung nhưng có thể hóa giải được và đã bày cho ông ta cách giải. Kết quả người chồng càng bình tĩnh và cuối cùng quan hệ vợ chồng tốt dần. Bạn bè người quen ai cũng rất ca ngợi. Còn có một biện pháp đơn giản nữa : nếu vợ chồng đòi ly hôn thì tạm thời ly thân ở riêng ra, sau một thời gian vận khắc nói chung dài từ 5 đến 10 năm, vượt qua vận đó là sẽ tránh được họa. 


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Dự đoán hôn nhân (3)

Những ngày tốt để đổ móng công trình, tu sửa nhà cửa –

Giáp Dần Kỷ Mão Giáp Thìn Ất Tị Quý Mùi Giáp Thân Mậu Dần Quý Mão Mậu Thìn Quý Tị Ất Mùi Mậu Thân Canh Dần Quý Dậu Ất Dậu Kỷ Dậu Giáp Tuất Kỷ Hợi Tân Hợi Mậu Tí Kỷ Sửu Tân Sửu.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

thietke-noithat-sua-nha-don-tet

  1. Giáp Dần
  2. Kỷ Mão
  3. Giáp Thìn
  4. Ất Tị
  5. Quý Mùi
  6. Giáp Thân
  7. Mậu Dần
  8. Quý Mão
  9. Mậu Thìn
  10. Quý Tị
  11. Ất Mùi
  12. Mậu Thân
  13. Canh Dần
  14. Quý Dậu
  15. Ất Dậu
  16. Kỷ Dậu
  17. Giáp Tuất
  18. Kỷ Hợi
  19. Tân Hợi
  20. Mậu Tí
  21. Kỷ Sửu
  22. Tân Sửu.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những ngày tốt để đổ móng công trình, tu sửa nhà cửa –

Tình duyên của người tuổi Hợi nhóm máu B

Với tất cả mọi người thì một ai đó không là gì cả nhưng với một ai đó thì người ấy lại là cả thế giới. Đó là chân lý bất biến của tình yêu và của những người
Tình duyên của người tuổi Hợi nhóm máu B

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Với tất cả mọi người thì một ai đó không là gì cả nhưng với một ai đó thì người ấy lại là cả thế giới. Đó là chân lý bất biến của tình yêu và của những người đang yêu. Trong mắt người đang yêu, không gì tuyệt vời hơn nửa kia của mình.

Với người tuổi Hợi thuộc nhóm máu B cũng vậy. Khi đã phải lòng ai đó, họ sẽ thấy tất cả mọi đặc điểm, tính cách của người ấy đều vô cùng đẹp đẽ và đáng yêu. Tuy nhiên, khi tình yêu đã nguội lạnh thì họ cũng trở nên lạnh lùng. Khi ấy, họ lại tìm ra những khuyết điểm của đối phương và dần dần thấy không còn tình cảm với người mà mình đã từng yêu.

Nam giới tuổi Hợi thuộc nhóm máu B thường là những người rất lãng mạn, thẳng thắn và dứt khoát. Họ có thể thu hút người khác giới nhờ vẻ ngoài trẻ trung, lịch lãm. Họ cũng là người hy sinh cho tình yêu nhiều hơn so với người cùng tuổi khác nhóm máu. Nữ giới tuổi này thật thà, thuần phác và rất thân thiện nên cũng được nhiều người khác phái chú ý đến.

Sau khi kết hôn, người tuổi Hợi thuộc nhóm máu B thường là trụ cột của gia đình cả về mặt vật chất lẫn tinh thần. Nữ giới trở thành những người vợ năng động, xử lý tốt mọi việc và luôn đem lại không khí hòa thuận, yên ấm trong gia đình.

Để cuộc sống hai người luôn tràn ngập hạnh phúc và niềm vui, nam giới tuổi Hợi nhóm máu B nên chọn bạn đời là những phụ nữ xinh đẹp, tinh tế và dịu dàng. Người vợ này có sức thu hút và hẫp dẫn chồng. Nữ giới, vị hôn thê lý tưởng của họ là những người đàn ông phóng khoáng, thông minh và chín chắn.

(Theo 12 con giáp về tình yêu hôn nhân)

 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tình duyên của người tuổi Hợi nhóm máu B

Văn hóa đón Tết thời Lý - Trần

Phong tục đón Tết thời Lý - Trần mang nét văn hóa riêng, thể hiện tinh thần, khí phách và sự phồn thịnh của triều đình, quân dân đương thời.
Văn hóa đón Tết thời Lý - Trần

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Từ bao đời nay, Tết Nguyên Đán là ngày lễ quan trọng, linh thiêng của dân tộc Việt. Ở mỗi triều đại, phong tục đón Tết đều mang nét văn hóa riêng, thể hiện tinh thần, khí phách và sự phồn thịnh của triều đình, quân dân đương thời.


Dưới đây là một số nét văn hóa riêng trong phong tục đón Tết thời Lý - Trần.

Tối 30 Tết, vua yết kiến thái hậu, thái thượng hoàng ở cung Đồng Nhân. Các tăng đồ, đạo sĩ vào cung làm lễ tống trừ ma quỷ. Đêm 30, dân Đại Việt đốt pháo trước cửa nhà để xua đuổi tà ma và đón mừng năm mới.

Phong tục thời Lý - Trần cho phép con trai, con gái nhà nghèo nếu yêu nhau nhưng không đủ tiền cưới xin theo lễ giáo phong kiến thì lúc này có thể tự ý lấy nhau. Đây là phong tục mang tính nhân đạo hiếm có trong thời phong kiến.

Sáng mồng 1 Tết, vua Trần ngự ở điện Vĩnh Thọ. Thái tử và các quan hầu cận đến chúc mừng nhà vua. Sau đó, vua vào cung Trường Xuân làm lễ cúng tổ tiên. Tiếp theo, vua ngự ở điện Thiên Ân, các phi tần xếp hàng ngồi quanh còn nội quan đứng ở trước điện. Thái tử và các quan đứng theo bậc, lạy mừng vua, tiến 3 lần rượu. Tiếp theo, thái tử lên lầu dự yến, triều quan ngồi ở điện nhỏ phía Tây... dự yến đến xế chiều mới ra về.

Ở trước điện, thợ thuyền dựng ngay đài Chúng Tiên hai tầng, tam cấp, ngói bạc chiếu sáng khung trời, tòa sen phô bày tướng quý. Trên nóc Bảo Đài có chim thiêng đứng đậu (chim là hình ảnh mặt trời, dương khí). 4 góc có rồng cuốn bay (cá rồng là biểu tượng của nước, âm khí). Trên thềm cao nhất, đấng Thanh Minh ngồi ngự. Thấp hơn có cấp dưới, bậc dưới, tiên nữ và chầu quan. Nhạc quan dàn hàng ở ngoài sân. Mọi người cùng nhảy múa, ca hát. Không khí tưng bừng, rộn rã, phấn chấn đón chào các chư hầu từ xa vào chầu ở kinh đô.

(Ảnh mang tính chất minh họa)

Vua lên quan Đài dự yến tiệc, trước khi ăn phải thực hiện đủ 9 lần vái, 9 lần uống rượu rồi mới tan tiệc. Ngày Tết, mọi nhà dân đều dọn mâm cơm cúng tổ tiên. Thời Thăng Long - Đại Việt tôn sùng đạo Phật nên trai gái ngày Tết thường mang hương lên chùa lễ Phật.

Ngày mồng 2 Tết, các quan được ở nhà cúng lễ tổ tiên. Ngày mồng 3 Tết, vua ngự trên lầu phía cửa Đại Hùng (cửa Nam) xem hoàng tử cùng các quan nội thị ném quả tú cầu (quả còn). Quả tú cầu được làm bằng gốm, to bằng nắm tay trẻ con, có buộc 20 dải ngũ sắc. Ai đón mà không rơi là người đó nhận được nhiều may mắn trong năm. Toàn kinh thành nhộn nhịp, tưng bừng trong các trò chơi. Trai gái chơi đánh đu, đá cầu, ca múa giao duyên, tung còn, kéo co. Ai thắng được uống rượu, ai thua uống nước lã.

Mồng 4 Tết, vua Lý mở tiệc ban yến cho các quan. Sáng mồng 5 Tết, vua mở tiệc bắt đầu cho khai hạ. Sau đó, các quan dân đi lễ chùa, đền rồi đi dạo chơi các công viên nổi tiếng. Ngày mồng 7, thấy trời sáng đẹp, không mưa gió thì người ta tin rằng con người cả năm được khỏe mạnh. Do đó, họ mở tiệc ăn mừng (gọi là khai hạ). Sau này, cứ đến mồng 7, kể cả trời có mưa thì quan dân cũng mở tiệc khai hạ.

Rằm tháng Giêng, người ta có câu: “Lễ Phật quanh năm không bằng ngày rằm tháng Giêng”. Đó là ngày thượng nguyên, ngày trăng tròn đầu tiên của một năm mới. Theo “An Nam chí lược”, đêm nguyên tiêu, triều đình nhà Trần dựng cây đèn trên sân rộng (gọi là đèn Quảng Chiếu), tỏa ánh sáng rực rỡ trên trời, dưới đất. Các vị sư đi xung quanh đèn đọc kinh, các quan đứng vòng quanh đèn làm lễ Triều Đăng.

Theo thời gian, Tết Nguyên Đán của người Việt vẫn còn giữ phong tục thời Lý - Trần. Bên cạnh nội dung nghi lễ truyền thống, người dân còn sinh hoạt văn hóa, văn nghệ tạo nguồn hứng khởi đón năm mới cường thịnh.

Theo Việt Báo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Văn hóa đón Tết thời Lý - Trần

Xem tay định hướng nghề nghiệp phù hợp

Mỗi người đều có thế mạnh, tài năng riêng. Nếu bạn chọn một công việc đúng với thế mạnh của mình thì sẽ giống như cá gặp nước, dễ thành công hơn.
Xem tay định hướng nghề nghiệp phù hợp

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1. Ngón tay thô, ngắn

1-2034-1410853809.jpg

Người ngón tay ngắn, thô dù là nam hay nữ đều có tính cách hoạt bát, nồng nhiệt, tác phong làm việc quyết đoán mạnh mẽ, không lề mề chậm chạp, không cứng nhắc chú ý tiểu tiết, gặp chuyện gì cũng có thể nhanh chóng đưa ra quyết định. Kiểu người như vậy thích hợp để làm kinh doanh. Với bộ óc sắc sảo, cái nhìn độc đáo và cá tính mạnh mẽ, chắc chắn họ sẽ đạt thành tựu nhất định trong sự nghiệp.

2. Ngón tay thanh mảnh

2-1352-1410853811.jpg

Người có ngón tay thanh mảnh hay suy nghĩ, tính tình ổn trọng, cái nhìn sâu sắc. Họ có khả năng phát hiện ra những điểm mấu chốt sau đó bình tĩnh phân tích vấn đề. Những người như vậy rất thích hợp với công việc lao động trí óc như: nghiên cứu, kinh tế, tài chính, chuyên gia phân tích thị trường chứng khoán hoặc các công việc có liên quan. Họ có thể đạt được thành tựu tốt nếu theo đuổi công việc như vậy.

3. Ngón áp út và ngón trỏ có cùng chiều dài

3-3531-1410853815.jpg

Người sở hữu bàn tay như vậy thường có đầu óc linh hoạt, phản ứng nhanh nhẹn, rất nhạy bén với các cơ hội. Họ giỏi đầu cơ tích trữ để kiếm tiền, vì vậy phù hợp với công việc liên quan đến cổ phiếu, kinh tế, bất động sản, đầu tư...

4. Bàn tay gầy, tĩnh mạnh hiện rõ

4-5101-1410853818.jpg

Đây là đôi bàn tay điển hình của những người ham học tập nghiên cứu, họ không ham công danh lợi lộc, thích quan sát, kiểm tra. Họ thích tự chìm vào thế giới riêng của mình, tập trung nghiên cứu những điều họ quan tâm. Những người như vậy rất thích hợp với công việc nghiên cứu khoa học và có thể đạt được những thành quả lớn lao. Nhưng bởi họ chỉ tập trung vào nghiên cứu, hoàn toàn không có khái niệm về tiền bạc nên rất khó để trở thành người giàu có.

Kunie (theo lnka)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tay định hướng nghề nghiệp phù hợp

Mẫu người Thân Cư Phu Thê –

Mẫu người Thân Cư Phu Thê trong tử vi Dù trong thời đại nào, dù phương Đông hay phương Tây thì gia đình vẫn luôn luôn là nền tảng của xã hội. Trong khoa Tử Vi Đẩu Số gia đình được thể hiện qua hai cung Phu Thê và Tử Tức. Hai cung này nói lên những vấ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Mẫu người Thân Cư Phu Thê trong tử vi

Dù trong thời đại nào, dù phương Đông hay phương Tây thì gia đình vẫn luôn luôn là nền tảng của xã hội. Trong khoa Tử Vi Đẩu Số gia đình được thể hiện qua hai cung Phu Thê và Tử Tức. Hai cung này nói lên những vấn đề vợ chồng, con cái của mỗi người. Chúng ta vẫn thường nghe câu: “Sau lưng một người đàn ông thành công là một người đàn bà đảm đang tài giỏi.” Có phải vì vậy mà cung Phu Thê của người đàn ông có tầm quan trọng không kém gì hai cung chính là Quan Lộc và Tài Bạch?

Còn đối với phụ nữ thì cung Phu Thê lại càng quan trọng hơn. Sự đánh giá này rất hợp lý với thời phong kiến xa xưa. Trong xã hội phong kiến, người đàn bà chỉ là cái bóng mờ, hầu như không có những sinh hoạt nào ngoài xã hội. Và cuộc đời của họ như thế nào cũng do cung Phu Thê của họ định đoạt mà thôi. Thật đúng với ý nghĩa “xuất giá tòng phu” Ngày nay, người đàn bà đã ra ngoài xã hội, đã có vai trò và vị trí không thua kém gì người đàn ông. Nhưng dù sao, đối với quan niệm của người Á Đông chúng ta thì không phải vì vậy mà sự quan trọng của cung Phu Thê bị giảm đi. Trong thực tế hai chữ “gia đạo” lúc nào cũng là nền tảng của cuộc sống con người trong bất cứ thời đại nào hay xã hội nào.

HuongHate

Điều này chúng ta sẽ thấy rõ ràng và đậm nét trong mẫu người Thân cư Phu Thê. Những người sanh vào giờ Tỵ (từ 9am tới 11am) hoặc giờ Hợi (từ 9pm tới 11 pm) thì Thân sẽ nằm vào cung Phu Thê. Người ta cho rằng rằng ông có Thân cư Phu Thê là số được nhờ vợ và nể vợ. Đàn bà có Thân cư Phu Thê là số nhờ chồng và nể sợ chồng. Điều này không đúng, chúng ta sẽ bàn đến sau. Mẫu người Thân cư Phu Thê có nhiều nét đặc biệt, nhất là trên lãnh vực tình cảm. Người Thân cư Phu Thê thường gặp người chồng/vợ mình trong một hoàn cảnh rất đặc biệt. Họ gặp nhau và có tình cảm với nhau như đã quen biết nhau từ kiếp trước, nay lại gặp nhau để xây tiếp lâu đài tình ái còn đang dang dở, hoặc trả tiếp cho xong cái duyên nợ chưa tròn, tùy theo lá số của mỗi người. Từ nét đặc biệt đó mà người Thân cư Phu Thê có một cuộc sống ràng buộc nhau rất mật thiết. Sự ràng buộc chặt chẽ này có thể do từ tình cảm tốt đẹp mà họ có được, nhưng cũng có thể là vì hoàn cảnh mà họ phải chịu trói buộc với nhau. Hình ảnh bị trói buộc với nhau vì hoàn cảnh điển hình nhất mà chúng ta đã thấy trong thời gian trước đây đó là hình ảnh của cựu Tổng Thống Bill Clinton. Dù đang gặp một hoàn cảnh đắng cay, hay có thể nói là “còn tình đâu nữa mà thù đấy thôi” Nhưng họ vẫn ở bên nhau, xuất hiện bên nhau trên truyền hình, trước công chúng đễ diễn tiếp cho xong vở tuồng mà họ phải diễn. Nói một cách khác, trong lĩnh vực tình cảm, người Thân cư Phu Thê thường có một cuộc sống khăng khít với nhau, cho dù trong những trường hợp cuộc sống không được hạnh phúc hay gặp những hoàn cảnh ngang trái, dường như có một sợi dây vô hình nào đó cứ buộc chặt họ lại với nhau, không chia ly dễ dàng như những người khác. Ngoài sự ràng buộc trong vấn đề tình cảm, người Thân cư Phu Thê còn có sự ràng buộc trong lãnh vực nghề nghiệp. Hầu hết họ và vợ/chồng của họ là những người làm cùng ngành nghề hay cùng chung một cơ sở thương mại với nhau.

Có thể không cùng nghề nghiệp nhưng công việc của hai người luôn có sự liên hệ và hợp tác hổ trợ cho nhau. Ngoài ra, người Thân cư Phu Thê thường có thêm một nghề tay trái nữa. Nghề tay trái này lúc đầu chỉ như một cái thú tiêu khiển của đương số, hoặc cũng có thể như một nghiệp mà họ phải theo đuổi. Dần dần có thể trở thành một lãnh vực sinh hoạt không thể thiếu được trong cuộc sống hằng ngày của họ. Cũng có một số người thành công, thành danh bởi nghề tay trái này hơn là nghành nghề chính của họ. Bây giờ chúng ta có thể trở lại với hai nghi vấn mà chúng ta đã đề cập lúc mở đầu: Có phải những người Thân cư Phu Thê là có số nhờ chồng/vợ hay không? Đối với người Á Đông chúng ta thì chuyện “xuất giá tòng phu” là một quan niệm bình thường.

Do đó, nếu một người đàn bà có số Thân cư Phu Thê mà cuộc đời phải nương tựa vào chồng của mình thì đó là một điều hợp tình hợp lý. Nhưng đối với nam giới, nhất là trong xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ, một người đàn ông có Thân cư Phu Thê là bị phán ngay là số nhờ vợ thì cũng tội nghiệp cho đương số. Để giải đoán cho phân minh, chúng ta phải cân nhắc giữa cung Phu Thê và cung Mệnh của đương sự. Chẳng hạn, người có Thân cư Phu Thê, nếu Mệnh của đương số yếu hơn cung Phu Thê (Mệnh nhược Thê cường) có nghĩa là người vợ của đương số có khả năng hơn chồng về mọi mặt từ trong nhà cho đến những giao tiếp ngoài xã hội. Như vậy chúng ta có thể nghĩ rằng những gì tạo dựng nên trong cuộc sống chung của hai người thì phần lớn đều do tay của người vợ. Đối với người đàn bà có Thân cư Phu Thê, vì bối cảnh xã hội ngày nay có khác, hai chữ “tòng phu” không còn nữa cho nên chúng ta cũng phải cân nhắc như vậy. Ngược lại nếu cung Mệnh của đương số tốt đẹp, sáng sủa hơn cung Phu Thê (Mệnh cường, Thê nhược) thì đây không phải là số nhờ chồng/vợ. Trường hợp này thông thường thì hai người cùng làm chung một ngành nghề hay cùng chung một cơ sở làm ăn, họ cùng góp sức tạo dựng với nhau trong cuộc sống chung, dĩ nhiên họ cũng có những sự ràng buộc chặt chẽ với nhau như đã bàn ở trên.

Có phải người Thân cư Phu Thê là số nể, sợ vợ/chồng hay không? Để trả lời vấn đề này, chúng ta cũng phải cân nhắc vấn đề mạnh và yếu giữa cung Mệnh và cung Phu Thê của đương số. Nếu Mệnh nhược Phu cường thì phải nể, sợ chồng là điều đương nhiên rồi. Chẳng hạn, lá số của một ông chồng có bộ sao Cơ Nguyệt Đồng Lương thủ Mệnh, là bộ sao tiêu biểu cho văn cách nhưng cung Phu Thê lại có bộ sao Sát Phá Liêm Tham là biểu tượng cho võ cách. Trường hợp này việc điều hành từ trong ra ngoài cũng nhu vai trò chánh yếu trong gia đình đều do người vợ một tay thao túng hết. Điều này chúng ta cũng thấy rõ những đấng mày râu tuy cung Mệnh không thua kém gì cung Phu Thê nhưng cung Phu Thê lại có các sao như Thái Âm, Hóa Quyền tọa thủ hoặc hợp chiếu thì đấy cũng là hội viên cùng hội với Thúc Sinh rồi.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mẫu người Thân Cư Phu Thê –

Phân loại tinh hệ theo nhóm bệnh

Một bài viết trích từ cuốn sách Trung Châu Tam Hợp Phái của tác giả Nguyễn Anh Vũ. Mời các bạn cùng đọc.
Phân loại tinh hệ theo nhóm bệnh

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Sách Trung châu tử vi Đẩu số - Tam Hợp phái - Dịch giả Nguyễn Anh Vũ

Nhóm 1: Bệnh hệ thần kinh

Các tổ hợp sao chủ yếu là Thiên cơ, Thái âm, Thiên đồng. Cũng có thể nói tổ hợp cách "Cơ Nguyệt Đồng Lương" rất dễ bị bệnh liên quan đến hệ thần kinh, như suy nhược thần kinh, tâm thần, thiểu năng chí tuệ,.v.v...

Nhiều lúc bệnh mang tính suy nhược thần kinh có liên quan đến "Thiên đồng - Cự môn". Nếu "Tử Vi - Tham lang" thủ cung Tật Ách gặp sao Đao hoa quá nặng, thì lúc đến hạn "Cơ Nguyệt Đồng Lương" thủ cung Tật Ách, thường dễ mắc chứng bệnh này, biểu hiện là dương nuy, di tinh, xuất tinh sớm. Ở đây không cần xem Cự Môn.

Người bị bệnh tâm thần, chủ yếu xem Thiên cơ, đông y gọi là Can phong.

Nếu "Thiên cơ - Thái âm" đồng cung với Hỏa Đà, còn gặp thêm Địa Không, Địa Kiếp, là rối loạn Tâm thần kinh (hysteria), thường có biểu hiện kích động, cử chỉ thất thường. Nhưng cần phải hội Thiên Lương và có Thái Dương không có nhập miếu tương chiếu, mới ứng nghiệm.

Bệnh viêm não Nhật bản-B, cũng có liên quan với tinh hệ "Cơ Nguyệt Đồng Lương", năm phát bệnh là cung hạn Tật Ách Thiên Lương lạc hãm, hội chiếu Hỏa tinh, Linh tinh. Phỉ liêm, Âm sát. Nhóm tinh hệ này khác với nhóm tinh hệ chủ về bệnh Hysteria nên cẩn thận phân biệt.

Tinh hệ chủ về viêm màng mão đại khái tương tự với tinh hệ chủ về chủ về viêm mang não Nhật bản - B, chỉ khác nhau một điều, là Thái Dương nhập miếu, nếu Thái dương lạc hãm, phần nhiều là viêm não Nhật Bản-B, thời gian ứng nghiệm thường là lúc hạn Tật Ách là Thất Sát hoặc Phá Quân. Thất sát thường chủ về chứng viêm, Phá quân chủ về chứng viêm cấp tính.

Chứng miệng méo, miệng chảy nước dãi (không phải do trúng phong), thì xem các tinh hệ chủ về bệnh chủ ở tạng Thận. Có lúc cung Tật Ách ở nguyên cục là Tham lang, niên hạn ứng nghiệm là lúc cung hạn Tật Ách "Thiên cơ - Thái Âm", cũng có lúc ngược lại, nguyên cục là "Thiên cơ Thái âm", thời kỳ ứng nghiệm là hạn Tham lang. Đây là một ví dụ. Hai chứng này đều gặp nhiều Tạp diệu như Thiên hư, Thiên sứ, Thiên diêu, thì phải lưu ý.

Trong số các bệnh hệ thần kinh, có bệnh "rỗng tủy sống" (syringomyelia), xem hệ "Thiên đồng - Cự môn" và hệ "Thất sát - Phá quân". Người bệnh thường cảm thấy chân tê, không có cảm giác, nếu nghiêm trọng các ngón tay ngón chân có thể bị co quắp, hoặc tê liệt phần mặt. Cổ nhân cho rằng Thất sát, Phá quân là sao chủ về tổn thương, tàn tật, nguyên nhân có liên quan đến chứng bệnh này.

Ngoài ra còn có bệnh múa tay múa chân (ST. Vitu's dance), người bệnh không thể kiểm soát hoạt động của chân tay, thường có một số động tác nhanh không tự chủ, có lúc thì mắt máy giật, nhíu may, lè lưỡi, bệnh tình tuy không đau, nhưng rất phiền phức. Tinh hệ chủ về chứng này là Tham lang đồng cung với Địa không, Địa kiếp, lại gặp thêm Kình dương, Thiên sứ, có lúc là Thiên đồng hóa Kị đồng cung với Hỏa linh, Linh tinh, Địa không, Địa kiếp, cũng chủ về chứng này, nhưng cung Tật Ách của nguyên cục phải là Kình dương ở cung Ngọ, cũng là một nhân tố quan trọng chủ về chứng này.

Đau dây thần kinh tam thoa, tinh hệ chủ yếu là "Thái Dương - Thiên Lương", có Hỏa Linh hội chiếu hoặc đồng độ, lại gặp thêm Thiên thương, còn có Thiên tướng bị cách "Hình Kị giáp ấn" hội chiếu cung mệnh, đều chủ về chứng bệnh này.

Tinh hệ chủ về liệt thần kinh mặt, và tinh hệ chủ về đau dây thần kinh tam thoa rất khó phân biệt. Điều cần chú ý là, Kình dương phần nhiều chủ về tê liệt thần kinh mặt, tinh hệ ứng nghiệm phát bệnh phần nhiều là Thiên Cơ, còn đau dây thần kinh tam thoa thì không phải vậy.

Bệnh thiên đầu thống mang tính thần kinh, thì xem tinh hệ "Thiên đồng - Thiên lương", tạp diệu hội hợp phần nhiều có Thiên nguyệt, Thiên hình. Có lúc là "Thiên cơ - Cự môn" đồng cung với Hỏa tinh cũng chủ về bệnh xuất huyết não, khác với bệnh thần kinh đơn thuần, phân biệt chủ yếu là tinh hệ "Thiên cơ - Cự môn" có biểu hiện choáng ngất.

Nếu tinh hệ "Thiên cơ - Cự môn" mà Thiên cơ hóa Kị, còn gặp thêm Thiên hư, thì càng ứng nghiệm.

Bàn tay chân run mang tính thần kinh, thì xem tinh hệ "Thiên đồng - Cự môn", cũng có quan hệ với Đà la và Cô thần.

Bệnh tay chân run do trúng độc, thì xem tinh hệ "Thái dương - Thiên lương", có Thiên nguyệt cùng bay đến tì càng đúng. Do trúng độc cũng có thể gây ra chứng tắc ruột, thời kỳ ứng nghiệm phải xem cung hạn Cự Môn

Viêm da mang tính thần kinh là tinh hệ "Liêm trinh - Thiên tướng", thời kỳ ứng nghiệm ắt cung hạn phải gặp Thiên cơ, Thiên Đồng.

Nhóm 2: Bệnh hệ tiêu hóa

Cơ quan thuộc hệ tiêu hóa, bao gồm Trường (ruột), Vị (dại dày), Can (gan), Đảm (mật). Theo chứng nghiệm của Vương Đình Chi, có thể phân chia như sau:

Vị hàn, thòng dạ dày (sa bao tử), thì xem Thiên phủ thuộc loại "kho lộ", "kho rỗng", hoặc Tử vi là cách "tại dã cô quân", nhưng không được có Hỏa tinh đồng độ mới đúng, có Hỏa tinh thì nhuyễn hóa thành chứng viêm.

Nếu tinh hệ "Tử vi - Thiên tướng" thủ cung Tật Ách, thì thường là Vị hàn, buồn nôn, hoặc tiêu chảy thuộc chứng Hàn, Thiên phủ đồng cung với Hữu bật, phần nhiều là sa bao tử.

Chứng vị hàn cũng có thể là chứng dạ dày dư acid, các sao ứng nghiệm là Thiên phủ gặp Thiên lương, Phá toái, Âm sát, gặp Liêm trinh hóa Kị thì bệnh rất nghiêm trọng, có thể phát triển thành chứng đay dạ dày, thần kinh dạ dày quá mẫn cảm.

Nếu là viêm dạ dày, thì xem Thiên cơ hoặc Cự môn. Thiên cơ thì chủ về bệnh mãn tính, thường còn chủ về đau Gan. Cự môn đồng cung với Hỏa linh thì chủ về viêm dạ dày cấp tính, hay viêm đại tràng cấp tính. Nếu tinh hệ "Thiên cơ - Cự môn" đồng độ, nguy cơ bị viêm dạ dày hay viêm đại tràng rất lớn. Có sao Lộc thì giảm nhẹ, không có sao Lộc mà còn hóa Kị thì càng nặng thêm. Nhưng nếu có Lộc thì thường chủ về bệnh Trường Vị bất hòa, mức độ nhẹ thì viêm dạ dày cấp tính. Bệnh viêm ruột thừa cấp tính thì xem Thiên lương gặp Kình dương, hay Thất sát gặp Kình dương, hoặc Phá quân gặp Kình dương. Trường hợp Phá quân gặp Kình dương cũng chủ về viêm ruột kết, viêm đại tràng cấp tính

"Thiên đồng - Thiên lương" đồng độ, cũng chủ về bệnh dạ dày, phần nhiều thuộc chứng hàn. Nếu có Thiên mã đồng độ, lại gặp thêm Hỏa tinh, Linh tinh, thì phần nhiều là rối loạn tiêu hóa, hoặc tiến triển thành tiêu chảy.

Tử vi cũng chủ về tiêu chảy, nhưng khác tính chất. Tiêu chảy của Tử vi thông thường là hấp thụ không tốt, còn tiêu chảy của tinh hệ "Thiên đồng - Thiên lương" là không tiêu hóa được.

Xơ gan thì xem Thiên cơ, cũng xem Thất sát ở hai cung Dần và Thân, nhưng trường hợp sau phần nhiều là viêm gan siêu vi.

Hễ Thiên cơ đồng cung với Phỉ Liêm, gặp các sao Sát - Kị, còn lại gặp thêm các sao Hư, Hư hao, Hao, Thiên nguyệt, phần nhiều chủ về gan nhiễm ấu trùng (Clonorchiasis) dẫn đến sơ hóa.

Nếu sơ gan do ống mật tắc nghẽn gây ra, thì xem Thiên tướng, có Đà la đồng độ thì càng đúng.

Ống mật tắc nghẽn thường do sỏi mật gây ra, tinh hệ ứng nghiệm là "Liêm trinh - Thiên tướng" đối nhau với Phá quân có sát tinh đồng độ.

Giun chui ống mật (gây nên sỏi mật), ngoại trừ Thiên tướng, Đà la, còn phải xem Phỉ liêm. Hễ bệnh liên quan đến ấu trùng, giun, đều phải xem Phỉ Liêm và Thiên Nguyệt.

Có lúc Cự môn cũng chủ về bệnh túi mật, thì vẫn lấy cung hạn Thiên tướng làm thời kỳ ứng nghiệm, nhất là tinh hệ "Liêm trinh - Thiên tướng" thì càng đúng.

Bệnh ở hậu môn chủ yếu xem Thiên đồng, phối với tạp diệu thì xem Âm sát, Long đức, Phá toái.

Trúng độc đường tiêu hóa khác với trúng độc mang tính thần kinh. Trường hợp sau có thể ví dụ là sử dụng ma túy, trường hợp trước chỉ là ăn uống trúng độc. Cung Tật Ách gặp Thiên tướng bị cách "Hình Kị giáp ấn", Thiên phủ lại không gặp sao Lộc, hoặc gặp sao Lộc mà đồng thời gặp Kình Đà, thì đều phải chú ý vấn đề ẩm thực. Nếu lại gặp Liêm trinh hóa Kị, thì càng phải đề phòng độc tố thức ăn nhiễm vào máu.

Nhóm 3: Bệnh hệ tuần hoàn

Nhóm bệnh này chủ yếu là bệnh tim mạch, huyết áp, phần nhiều xem Thái dương, kế đến là Thiên tướng.

Nhưng bệnh hệ tuần hoàn có khi do bệnh hệ thần kinh gây ra, Đông y gọi là "Tâm Thận bất giao", hoặc suy nhược thần kinh, có thể dẫn đến tâm thần phân liệt, nhịp tim rối loạn, các chứng bệnh này lại không liên quan đến Thái dương hoặc Thiên tướng, bạn đọc có thể tham khảo ở mục đã thuật ở trước.

Thái dương ở cung vượng, lại gặp Quyền - Lộc, cũng có thể chủ về huyết áp cao, không nhất định phải gặp sát tinh mới đúng.

Thái dương hóa Kị, hoặc Thái dương có Tứ sát tinh giao hội, cũng là điềm tượng huyết áp cao. Nếu là tổ hợp "Thái dương - Cự môn" thì càng đúng.

Tổ hợp "Thái dương - Thiên lương" cũng chủ về trúng phong, bại liệt, vì Thiên lương có tính chất bệnh kinh niên. Tinh hệ này cũng thường gặp các sao Thiên Nguyệt, Thiên Hình hội hợp.

Thiên tướng chủ về Thận, cho nên lúc Thiên tướng bị cách "Hình Kị giáp ấn", hoặc có các sao hung sát trùng trùng giao hội, cũng chủ về huyết áp cao, cũng có thể là đau tim. Nếu cung Tật Ách của nguyên cục, có khuynh hướng chủ về bệnh hệ thần kinh, lúc đến niên hạn Thái Dương thủ cung Tật Ách, cũng dễ bị chứng huyết áp cao.

Còn chứng huyết áp thấp có liên quan đến hệ nội tiết, cũng xem tinh hệ "Thái dương - Thiên lương", nhưng thường có Địa không, Địa kiếp hội hợp. Một tinh hệ quan trọng khác là "Thái dương - Thái âm", hễ có chứng trạng âm dương bất hòa, thì cũng là rối loạn nội tiết.

Cự môn đồng độ với Đà la, hội Thái dương có sát tinh, có lúc chủ về đau thắt ngực (angina pectoris), xơ vữa động mạch; nhưng cũng có thể là bán thân bất toại, tức trúng phong (tai biến mạch máu não)

Tinh hệ "Thiên đồng - Thiên lương" cũng chủ về đau thắt ngực, nếu hội các sao Hình - Kị, thì chủ về tắc nghẽn cơ tim, tắc nghẽn mạch máu.

Bệnh hệ tuần hoàn cũng bao gồm các chứng thiếu máu, tăng bạch cầu, các chứng này thì xem Liêm Trinh, nếu Liêm trinh hóa Kị, có các sao ác sát tụ hội, thì chứng bệnh càng nghiêm trọng.

Nếu do trúng độc gây ra thiếu máu, thì vẫn xem Thiên Lương, hoặc xem tinh hệ "Thái dương - Thái âm".

Thiếu tiểu cầu da có thể bị bầm tím, chứng bệnh này lấy Thiên đồng hóa Kị làm điềm tượng. Có lúc Thái dương hóa Kị ở nguyên cục có Âm Sát đồng độ, niên hạn ứng nghiệm là lúc đến cung tật ách Thiên đồng hóa Kị gặp các sao Sát - Hình; hoặc Thiên đồng của nguyên cục hóa Kị, niên hạn ứng nghiệm là lúc đến cung hạn tật ách Liêm Trinh đồng cung với Âm Sát. Nhưng trường hợp sau có sự khác biệt tinh tế, y học gọi là da bị bầm tím có tính mẫn cảm, không có liên quan đến tình trạng thiếu tiểu cầu.

Nhóm 4: Bệnh hệ hô hấp

Nhóm bệnh này chủ yếu xem Vũ Khúc, kế đến là Thiên Đồng. Nếu Thất sát, Phá quân hội hợp với các sao Sát - Kị, nhất là Vũ khúc hóa Kị, thì bệnh tình nghiệm trọng, hoặc bị ác tính.

Nhưng cũng có một số bệnh chứng không có liên quan đến các tinh hệ chủ về bệnh đường hô hấp như đã thuật ở trên; như hen suyễn thường xem Thái âm, Thiên lương, nếu hen suyễn là tính bẩm sinh thì xem tinh hệ "Liêm trinh - Thất sát". Trường hợp trước là bệnh ở ống phế quản, trường hợp sau là bệnh dị ứng bẩm sinh.

Nếu là bệnh viêm ống phế quản cấp tính, thì lấy tinh hệ Vũ khúc gặp Hỏa tinh, Linh tinh làm ứng nghiệm, có Thiên mã cùng bay đến, thì bệnh tình càng nghiêm trọng. Bệnh viêm ống phế quản mãn tính cũng có thể xem Vũ khúc, nhưng nếu do ngoại vật xâm nhập lâu ngày mà gây ra bệnh, như người hút nghiện thuốc lá, hay công nhân làm việc ở nơi nhiều bụi, thì xem Thiên đồng, Cự môn có các sao Sát - Kị tụ tập, có thể phát triển thành bệnh tràn khí phổi (pulmonary emphysema)

Ho gà thì lấy Thiên Lương làm điềm tượng, nhất là tinh hệ "Thiên đồng - Thiên lương" gặp sát tinh, có Thiên mã, phần nhiều chủ về bệnh ho gà. Khác với tắc nghẽn cơ tim là tinh hệ "Thiên đồng - Thiên lương" gặp sát tinh, mà không có Thiên mã.

Lao phổi (phổi kết hạch) thì xem tinh hệ "Liêm trinh - Thất sát", hoặc tinh hệ "Vũ khúc - Thất sát". Nếu nguyên cục gặp tinh hệ này, đến đại hạn hoặc lưu niên, gặp cung hạn tật ách Thái âm hóa Kị hội Hỏa Linh là bệnh tình nghiêm trọng, thường phát triển đến giai đoạn cuối.

Bệnh tràn khí phổi cũng xem Vũ khúc, nếu Vũ khúc hóa Kị, bị Liêm trinh hóa Kị của cung hạn xung hội, lại gặp các sao Thiên hình, Thiên nguyệt, Âm sát thì ứng nghiệm.

Một nhóm sao khác chủ về tràn khí phổi, là Phá quân đồng cung với Văn khúc hóa Kị. Còn Vũ khúc hóa Kị đồng cung với Văn khúc hóa Kị thì chủ về kéo đàm, hen suyễn.

Nếu bệnh ở cổ họng thông thường là viêm amidan, xem Cự môn hóa Kị thì càng đúng. Nếu là bệnh bạch hầu, thì xem tình hình Thái âm và Cự môn xung hội, nếu các sao Sát - Kị trùng trùng thì ứng nghiệm. Nếu là viêm họng thì lấy Địa không, Địa kiếp, Đại hao làm biểu trưng.

Nhóm 5: Bệnh hệ tiết niệu, cơ quan sinh dục

Nhóm bệnh này, thì xem Thiên đồng, Thiên tướng, Liêm trinh.

Khi bệnh tình phát triển đến giai đoạn cuối, nhất là những bệnh có tính viêm, thì xem Thiên lương, Thất sát, Phá quân.

Hễ viêm thận cấp tính hay mãn tính, phần nhiều đều lấy Liêm Trinh làm ứng nghiệm. Nếu Liêm trinh gặp Tham lang đồng độ, hoặc vây chiếu có sát tinh, hoặc Liêm trinh hóa Kị có sát tinh, đều chủ về viêm thận.

Nhưng nếu viêm thận do hệ sinh dục bị nhiễm trùng gây nên, thì không gặp Tham Lang cũng ứng nghiệm, ví dụ như tinh hệ "Liêm trinh - Thiên tướng" bị Kình Đà giáp cung, Hỏa tinh và Linh tinh giáp cung, hay cách "Hình Kị giáp ấn" đều có thể mắc bệnh nhiễm trùng này.

Nếu bệnh viêm thận phát triển đến giai đoạn mặt bị thũng, hoặc thậm chí ngực hay bụng giữ nước, thì lấy niên hạn cung tật ách gặp tinh hệ "Thiên đồng - Thái âm" và các sao sát kị, làm thời kỳ ứng nghiệm.

Bệnh bàng quang làm khó tiểu tiện, thì xem Thiên tướng, trường hợp đồng cung với Đà la là đúng. Nếu là bệnh do tuyến tiền liệt gây ra tiểu tiện khó, thì lấy Tham lang, Liêm trinh làm ứng nghiệm, tinh hệ "Hỏa Tham", hay "Linh Tham" càng chủ về bệnh này.

Niệu đạo kết sỏi, hay sỏi bàng quang, thì xem tinh hệ "Liêm trinh - Thiên tướng", lấy trường hợp khi bị Kình dương và Đà la giáp cung, hay cách "Hình Kị giáp ấn" là đúng. Có lúc tinh hệ "Thiên đồng - Cự môn" hóa Lộc, bị Hỏa tinh và Linh linh giáp cung, cũng chủ về bệnh này. Tinh hệ "Thiên đồng - Cự môn" chủ về bệnh ở đường ống niệu, niệu đạo kết sỏi cũng có thể gây tiểu tiện khó.

Bệnh tiểu tiện khó trái ngược với bệnh đái tháo nhạt, là tiểu ra quá nhiều nước. Chứng đái tháo nhạt, Đông y cho rằng do thận hư, vì vậy xem Thái âm, Thiên đồng. Nhưng cũng do "thùy thể" sau não phân tiết thất thường mà gây ra, thì chọn xem Thái dương hóa Kị, hội Cự môn gia sát tinh làm ứng nghiệm.

Các bệnh về tính dục liên quan đến hệ tiết niệu, đều xem Tham lang, Liêm trinh, lấy trường hợp gặp các sao Đào Hoa, Văn Xương, Văn Khúc, Hóa Kị làm ứng nghiệm. Thời kỳ ứng nghiệm, có khi kéo dài đến lúc gặp niên hạn Thiên Đồng thủ cung tật ách mới phát tác. Hoặc ngược lại, cung Tật Ách của nguyên cục gặp Thiên đồng, đến niên hạn "Tham lang - Liêm trinh" thủ cung tật ách mới phát tác. Hai nhóm tinh hệ cũng có sự phân biệt, trường hợp trước là do thể chất dễ nhiễm bệnh tính dục, trường hợp sau là do thể chất dễ nhiễm bệnh hệ tiết niệu.

Cho nên, các bệnh như thoát vị bẹn, sa đì, viêm tinh hoàn, lấy tinh hệ "Liêm trinh - Thiên tướng" làm điềm tượng. Nhóm tinh hệ này, dù có gặp sao Lộc, cũng không thể xem là tránh được nguy cơ mắc bệnh tiểu đường. Nếu nguyên cục là "Liêm trinh - Thiên tướng", mà Liêm trinh hóa Lộc (có lúc còn hội Lộc tồn), thường ở Đại hạn Liêm trinh lại gặp Lưu lộc thì phát bệnh. Cho nên Hóa Quyền, Hóa Lộc, Hóa Khoa không đại biểu cho việc tránh mắc bệnh, đây là một ví dụ.

Nhóm 6: Bệnh ở ngũ quan

Bệnh ở ngũ quan rất phức tạp, thông thường là do bệnh ở nội tạng phát bệnh mà dẫn đến. Đẩu Số nghiên cứu về bệnh tật, cổ nhân để lại tư liệu chứng nghiệm không nhiều. Vương Đình Chi tuy có nỗ lực nghiên cứu bổ xung, nhưng do thời gian và kiến thức y học đều có giới hạn, nên tư liệu chứng nghiệm về bệnh tật ở ngũ quan càng không được đầy đủ.

Đông y giải thích bệnh tật ở ngũ quan chỉ căn cứ lý luận âm dương ngũ hành và lý thuyết tạng phủ, thực ra không đủ để từ đó, luận đoán ra nhiều bệnh tật ở ngũ quan. Ví dụ như mắt bị cườm nước (glaucoma) rất khó tìm ra tinh hệ chính xác tuyệt đối. Vương Đình Chi kể, ông từng tình cờ gặp một trường hợp Thái dương lạc hãm hóa Kị mà mắt bị bệnh cườm nước (glaucoma), nhưng trước đó Ông cũng từng gặp một người bị mù mắt vì bệnh cườm nước, mà cung Tật Ách lại là Thiên Lương. Vì vậy, Vương Đình Chi đề nghị xem Thái Dương, Thiên Lương, Cự Môn, là điềm tượng chủ các bệnh về mắt, để bạn đọc tham khảo.

Viêm giác mạc mắt là Thái Dương gặp sát tinh, hoặc Thái Dương đồng cung với Hỏa tinh. Chứng bệnh này lấy trường hợp Thái dương hóa Quyền hay hóa Lộc làm ứng nghiệm. Nếu gặp các sao Kình dương, Thiên hình, Thiên sứ, mà Thái dương hóa làm sao Kị, sẽ chủ về phẫu thuật ở bộ phận mắt, nhẹ thì viêm thần kinh thị giác.

Mắt mù do bệnh tiểu đường gây ra, thì xem tinh hệ "Liêm trinh - Thiên tướng". Nếu do nguyên nhân khác gây ra, vẫn xem Thái dương, hoặc tinh hệ "Thiên đồng - Thái âm".

"Thiên đồng - Thái âm" chủ về Thận, gây ra bệnh mắt là do tạng thận gây ra. Vì vậy, thận khí hư, thường sẽ bị chứng ruồi bay trước mắt, cũng lấy nhóm tinh hệ này làm ứng nghiệm

Bệnh tai, các nhà Đẩu Số cổ đại chỉ xem Thất Sát, nếu có Long Trì đồng độ, sẽ chủ về tai điếc.

Nếu do thận hư gây bệnh ở lỗ tai, tai ù, thì có thể dùng tinh hệ chủ về bệnh thận để luận đoán, như tinh hệ Thái Âm.

Nhưng nếu là bệnh viêm tai giữa, theo chứng nghiệm của Vương Đình Chi, thì tinh hệ "Vũ khúc - Thiên tướng" có Hỏa tinh hội hoặc vây chiếu, thường chủ về chứng bệnh này.

Viêm họng, lấy Cự Môn làm ứng nghiệm, và cũng xem Thiên đồng, Thái âm.

Khoang miệng thường bị lở, miệng lưỡi bị rát bỏng, thì lấy Cự môn hóa Kị làm điềm tượng.

Đau răng thì phải xem Phá Quân, Vũ Khúc, sâu răng thì xem Thiên tướng có bị sát tinh giáp cung hoặc hội chiếu hay không.

Chảy máu mũi thì xem Liêm Trinh, không cần hóa Kị, gặp sát tinh và Âm Sát, là chủ về bị chảy máu mũi.

Mũi dị ứng và viêm mũi, thì lấy tinh hệ "Liêm trinh - Thất sát", và tinh hệ "Liêm trinh - Phá quân" có kèm sát tinh làm điềm tượng.

Nhóm 7: Bệnh phụ khoa

Các sao về bệnh phụ khoa, cổ nhân tương truyền là Liêm Trinh và Tham Lang, các sao khác như Tử vi, tinh hệ "Thái âm - Thiên cơ", Thiên đồng, Thiên tướng, Phá quân, cũng chủ về đau bụng kinh, huyết trắng, nhưng ý nghĩa trùng lặp, phân biệt giới hạn không rõ, cho nên lúc luận đoán hơi chung chung.

Luận đoán đặc biệt như Thiên Lương đồng cung với Hỏa tinh, Linh tinh, chủ về bệnh ung thư vú, mức độ chính xác rất cao. Theo chứng nghiệm của Vương Đình Chi, nếu Tham Làm hóa Kị xung hội Liêm trinh hóa Kị, hoặc Vũ khúc hóa Kị, đồng thời còn gặp Kình Đà xung chiếu, thì chủ về tử cung hoặc ống dẫn trứng có khối u, độ chính xác cũng cao. Nhưng đáng tiếc, những chứng nghiệm như vậy không nhiều, vẫn còn chờ nghiên cứu thêm. Hiện chỉ thuật một số nguyên tắc rất có giới hạn.

Bệnh phụ khoa thường gặp nhất là đau bụng kinh. Mếu không kèm bị viêm thì có thể là Thiên Tướng, có lúc là tinh hệ "Tử vi - Thiên tướng". Nếu có kèm bị viêm là Tham Lang. Nếu ở hai cung Tị hoặc Ngọ mà gặp sát tinh, thì chủ về lệch tử cung, nội mạc tử cung bị dị dạng bẩm sinh.

Nếu kinh nguyệt không điều hòa và ra nhiều máu, thì xem Thiên Đồng, hoặc tinh hệ "Thiên cơ - Thái âm". Trường hợp tính chất của Thiên Đồng là ôn hòa, thì không kèm bệnh biến, gọi là "xuất huyết có tính cơ năng". Nếu tinh hệ "Thiên cơ - Thái âm" có sát tinh, sẽ chủ về bệnh biến, nếu nghiêm trọng có thể là sa tử cung.

Bệnh sa tử cung cũng gặp ở trường hợp Thiên Tướng thủ cung tật ách, gặp các sao Đào Hoa và Thiên Hư, Địa không, Địa kiếp, phần nhiều là do sau khi sinh cơ thể hư nhược gây ra.

Nếu viêm nội mạc tử cung, viêm ống dẫn trứng, thì lấy Tử vi độc tọa ở hai cung Tý và Ngọ làm điềm tượng; nếu có Kình dương đồng độ, lại gặp Hàm Trì, Đại Hao, nhất là gặp Hỏa tinh, Linh tinh, thì càng chính xác.

Hai sao Liêm Trinh, Thiên Cơ chủ về bệnh kín của phụ nữ, phần nhiều là kinh nguyệt kho ít, hoặc huyết trắng (bạch đới), còn kèm bị viêm âm đạo.

Nhưng nếu đã gặp tinh hệ chủ về bị viêm, mà đến niên hạn có sao Thiên Tướng, Đà la, Âm sát, Thiên hình, Thiên nguyệt, Thiên đức thủ cung tật ách, thường thường có thể phát triển thành khối u, hoặc ung thư. Có lúc đến niên hạn Vũ khúc hóa Kị thì cung tật ách cũng chủ về ứng nghiệm.

Phá Quân thủ cung tật ách, thì bệnh tình rất là nghiêm trọng, nhất là hội hợp với Vũ khúc hóa thành sao Kị, lại gặp Hỏa tinh và Linh tinh giáp cung, tạp diệu lại gặp các sao hư, hao, hình, nguyệt, phần nhiều chủ về ung thư cổ tử cung, nhưng hiện tượng bề ngoài chỉ là ra huyết trắng.

Nếu là viêm âm đạo do nhiễm trùng, thì cần chú ý Phỉ Liêm

Viêm tuyến vú thì xem Thiên lương, cần chú ý xem có Hỏa tinh, Linh tinh đồng độ hay không, có thì bệnh tình có thể phát triển thành ác tính.

Phụ nữ mang thai thì lấy trường hợp cung Mệnh, cung Phúc đức, hoặc cung Phu thê, gặp Hồng loan, Thiên hỷ làm nguyên tắc luận đoán. Nếu lưu niên gặp Lưu Xương, Lưu Khúc hội chiếu, cung Tử Tức của Lưu niên cát lợi, thì có thể mẹ tròn con vuông. Nhưng nếu cung Tử Nữ của nguyên cục gặp Thiên đồng, Thái âm, nhưng một sao hóa làm sao Kị, lại gặp sao Không, và các sao Hoa cái, Âm sát, Thiên sứ, Thiên hư, Đại hao, thì có thể không sinh đẻ. Lúc này cung Tật ách cũng có điềm tượng, có thể hiển thị bệnh biến về tính dục bẩm sinh, hoặc bệnh biến về tính dục hậu thiên. Hai tinh hệ Tham lang và "Thiên cơ - Thái âm" ở hai cung Tị hoặc Ngọ là điềm tượng dị dạng bẩm sinh. Có thể bổ cứu là Thiên Tướng, nhưng nếu Thiên tướng là cách "Hình Kị giáp ấn", gặp Hỏa tinh và Linh tinh giáp cung, hay Kình dương và Đà la giáp cung, thì cũng có thể bị dị dạng bẩm sinh.

Bảy nhóm bệnh chứng thuật ở trên chưa được toàn diện, còn rất nhiều chứng bệnh thiếu chứng nghiệm, Vương Đình Chi kể, ông từng gặp một trường hợp, đoán là bị sa tử cung, không sinh nở được, nhưng rốt cuộc lại là chứng bệnh rất hiếm gặp, gọi là chứng "thạch nữ", bà ta kết hôn hơn 10 năm mà vẫn không thể gần gũi với chồng. Những căn bệnh hiếm gặp, cổ nhân không để lại nguyên tắc luận đoán, ứng nghiệm như thế nào phải do người đời nay tìm tòi nghiên cứu

(Nguồn: sưu tầm)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phân loại tinh hệ theo nhóm bệnh

Luận về cách giải đoán một lá số tử vi

Bài viết chia sẻ về cách luận về cách giải đoán một lá số tử vi của cụ Hoàng Hạc. Mời bạn đọc cùng tham khảo!
Luận về cách giải đoán một lá số tử vi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bài viết của cụ HOÀNG HẠC

Cái khó của phép đoán tử vi

Phép đoán số Tử vi chẳng phải lấy năm, tháng, ngày, giờ lật sách ra mà ghi vào. Rồi nhìn vào đó, coi Miếu, Vượng…hay lạc hãm mà cho là tốt, xấu. Cái học về Tử vi là cái học Trương Đối Luận, tất cả đều chung vào một cái lý chung. Nhất là phải rành luật Âm Dương và Ngũ hành sinh khắc chế hóa. Quí bạn phải thật rành Dịch học trước đã, rồi mới đi vào Tử vi, nó gồm cả Dịch lý. Nhất là mấy đạo (trung) làm gốc, tức là lấy luật quân bình làm chính yếu. Nói đến những luật căn bản ấy thật là dài dòng, ít ra phải cần một quyển sách cả nghìn trang mới có thể nói sơ sơ những nguyên lý chính, lại còn phải biết áp dụng nữa là khác. Biết áp dụng là cả một nghệ thuật mà tôi đã nhiều lần bàn bạc với các cụ giỏi về Tử vi. Họ cũng đã thú thật là vô cùng khó khăn. Ngay cả sự thuận nghịch của Âm Dương là vô cùng khó khăn rồi, diệu dụng cực kỳ phức tạp. Hiểu nó, đâu phải bậc thường thường là hiểu nổi, và như thế cần nhiều công phu nghiền ngẫm mới có thể hiểu lần lần mà thôi.

Tất cả mọi khoa bói toán của Trung hoa đều căn cứ vào Dịch học nhưng khoa Tử vi có thể gọi là khoa gồm nắm cả Dịch học trong đó nhiều nhất, cả các khoa Nhâm độn cũng không lìa khỏi. Nó là cả một Vũ trụ quan gồm cả quá khứ hiện tại và vị lai

Nói thế không phải để cho quí bạn ngán. Nhưng là để quí bạn thận trọng. Các khoa khác đều chỉ biết một khía cạnh nào của hiện tại, để đoán một khía cạnh nào của tương lai kế cận, chớ không như lá số Tử vi có thể bao gồm cả tiền kiếp, hiện kiếp…và cả tương lai gần và xa đến hơi thở cuối cùng. Các bậc tu hành chính cống không một ai là không biết xem lá số của mình, không phải để mong cầu được phú quý mà mừng…hay chỉ để xu kiết tị hung mà thôi đâu. Mục đích của họ là để tu. Tôi chỉ nói sơ qua cái công dụng cao cả của nó.

Xét về năm, tháng và ngày, giờ sanh, âm hay dương.

Như đã nói: trước khi xem lá số nào, cần phải rõ Âm Dương, Ngũ hành của cái tuổi, cái tháng sinh cái ngày sanh và cái Giờ sinh trước hết.

Xin thử lấy một thí dụ là dễ nói hơn.

Đây là lá số của một người đàn ông, tuổi Mùi. Bạn thử tra rồi rõ. Trước hết phải biết cả Thiên can Địa chi của năm tháng, ngày giờ của tuổi này. Tôi thí dụ: Tuổi Đinh mùi, tháng 6, tức là tháng Đinh Mùi. Ngày mùng 2, tức là ngày Tân Dậu. Giờ sửu, tức là giờ Quý Sửu.

Giờ Ngày Tháng Năm
Quý Tân Đinh Đinh
Sửu Dậu Mùi Mùi

Cứ nhìn qua và để ý đến Âm Dương ngũ hành ta thấy cả 8 chữ ấy đều thuộc Âm cả, mà tuổi này là tuổi âm nam.

Theo phép, cả thảy thuần âm hay thuần dương là hay nhất. Bọn người Thuần Dương hay Thuần âm là những tay đáo để nhưng nếu đàn ông mà Thuần Dương, không hay bằng Thuần Âm. Và trái lại đàn bà Thuần Âm, không hay bằng Thuần Dương.

Đó là điều đầu tiên phải ý thức. Như ta đã thấy trong hàng giờ, ngày, tháng, năm ghi trên. Thời hàng Thiên Can là Âm cả, mà hàng Địa chi cũng thuộc về Âm cả. Nếu là đàn bà thì không mấy hay, nhưng là đàn ông thì hay nhất. Ta biết liền người này trong đời ít bị tai nạn dữ dằn, vì Âm thì nhu thuận. Theo phép đoán Năm sanh thuộc Âm thì Tháng sinh phải thuộc Âm mới thuận; Ngày sinh thuộc Dương, tháng sinh thuộc Âm là nghịch. Nếu cả thảy đều thuộc Âm hay thuộc Dương thì rất tốt. Đó là điều thứ nhất phải biết qua thì sự thuận nghịch giữa năm sinh, tháng sinh, ngày sinh và giờ sinh…

Năm, tháng, Ngày, Giờ tương sinh, tương khắc

Điểm thứ hai: Xem về lẽ tương sinh tương khắc của năm và tháng ngày giờ. Như năm Thủy, tháng phải là Mộc hay Thủy là tốt. Ngày sinh thuộc Hỏa, giờ sinh thuộc Thổ là tốt. Trái lại, khắc nhau là xấu. Lấy theo thứ tự nếu được năm sinh tháng, tháng sinh ngày, ngày sinh giờ thì rất tốt. Bằng không thì chỉ hai cặp Năm sinh tháng, Ngày sinh Giờ cũng tốt

Mạng và Cục

Điểm thứ ba: xem Mạng và Cục. Mạng sinh Cục tốt hơn Cục sinh Mạng. Còn về twowg khắc thì Cục khắc Mạng, tuy xấu nhưng không bằng Mạng khắc Cục, rất xấu, vì nó làm cho suy giảm độ số rất nhiều, dù số tốt bực nào.

Cung an mệnh

Điểm thứ tư: Coi tuổi Dương mà an Mạng tại cung Dương là thuận, còn tại cung Âm là nghịch. Suốt đời thường không được vui vẻ, có nhiều công việc bất đắc chí, nghĩa là thường bất mãn, gặp nhiều ngang trái.

Tuy vậy không phải thuận cảnh là hay đâu. Gặp nghịch cảnh để làm cho mình vượt bực và có nhiều cố gắng đã thành công.

Các vĩ nhân cần có nhiều cảnh Còn thành công hay chăng còn tùy lá số và các chi tiết khác. Nhìn sơ qua Bổn mạng…và cung An Mạng là biết sơ đại khái về cuộc đời người ấy rồi.

Coi ngũ hành các chính tinh

Đến khi lập thành lá số rồi, phải nhìn đến ngũ hành các chính tinh (tức là của vòng sao Tử vi) coi được miếu vượng hay hãm địa. Nhất là coi có hợp mạng của người xem không?
Kỵ nhất là chính tinh và Mạng khắc nhau

(….mờ quá không nhìn được, mất trang)

Hành Thủy sinh Mộc, là nguyên ý nhưng có khi Thủy chả sinh gì được Mộc cả là như trường hợp Đại hải Thủy thì làm gì sinh Dương liễu mộc hay bình địa mộc. Nước biển mà tưới cây…thì không thành vấn đề, hơn nữa nó là nước biển thì làm sao chảy vào cản cây cối trên đồng bằng để thấm nhuần gốc rễ? Nếu là “giang hà, thủy hoặc là “thiên hà thủy” (tức là nước trời mưa) thì tự nhiên có thể giúp ích cho cây cối sởn sơ.

CÒn như nhiều người cho rằng Mộc khắc Thổ, nhưng nếu là “thổ” (đất) trên thành, thì Mộc khắc thổ ấy làm gì – Huống chi Thổ là để nuôi Mộc: Cây mà không đất làm sao sống, như cây thiếu nước cũng vậy. Vì vậy mà Thổ và Thủy là điều kiện tất yếu của Mộc, và thổ với Thủy cùng đồng một nguồn gốc Trường sinh, đâu có khác nhau. Thổ khắc Thủy là nhờ Thủy thấm vào Thổ mà Thổ được nhuận mềm và trở thành hữu dụng, nhưng Thủy mà nhiều quá thì Thổ bị lấp đi…, cũng không dùng được.

Chồng mạng Thổ mà là “bích thượng thổ” gặp vợ mạng Kim cũng đâu có ích gì? Là bởi “đất ấy” làm sao sinh ra vàng; cũng như “phú đăng hỏa (lửa trong đèn)” giúp ích gì được “Thổ ở khu đất to (Đại dịch thổ)”…Cho nên cần hiểu cái lý chứ đừng cố chấp trong sự sinh khắc máy móc. Nhiều người yên trí rằng được sinh (về ngũ hành) thì tỏ ra sai lầm to vậy

Theo tạp chí Khoa Học Huyền Bí


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Luận về cách giải đoán một lá số tử vi

Nguồn gốc và ý nghĩa của lễ hội Yên Tử

Yên Tử là một di tích kết hợp hài hòa giữa chiều sâu lịch sử và cảnh đẹp kỳ bí của thiên nhiên.
Nguồn gốc và ý nghĩa của lễ hội Yên Tử

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Vào mỗi độ xuân sang, du khách thập phương lại tấp nập về Hội xuân Yên Tử lễ Phật, du xuân cầu may và thành tâm chiêm bái chốn Tổ Thiền Trúc Lâm, thăm Khu Di tích lịch sử - thắng cảnh nổi tiếng của vùng Đông Bắc của Tổ quốc, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.

Lễ hội Yên Tử bắt đầu từ ngày 10 tháng Giêng tới hết 3 tháng mùa xuân, lễ hội diễn ra với nhiều hoạt động như: Lễ dâng hương cúng Phật, bái Tổ Trúc Lâm, Văn nghệ diễn xướng tái hiện sự tích lịch sử, Văn hóa tâm linh, Những huyền thoại về Tam Tổ Thiền phái Trúc Lâm tôn kính, Lễ khai ấn "Dấu Thiêng Chùa Đồng", múa Rồng Lân, võ thuật cổ truyền, trò chơi dân gian…

Nguon goc va y nghia cua le hoi Yen Tu hinh anh
Ảnh minh họa

 
Lễ hội Yên Tử đã thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân, du khách thập phương, chúng tăng, ni, Phật tử ở trong và ngoài nước cùng các Quý đại biểu lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các bậc tiền bối hiền nhân suốt đời phụng đạo, vì nước, vì dân.
 
Yên Tử là nơi vua Trân Nhân Tông hóa Phật, nơi khai sinh Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, đạo Phật Việt Nam, một dòng Thiền có một không hai trên thế gian này. Trong Ngài thể hiện rất rõ, quyện vào nhau ba yếu tố con người hiện thực, hướng thượng và nhập thế để sáng lập dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử, đạo Phật của Việt Nam.
 
Trải qua gần 1000 năm lịch sử, những công trình kiến trúc về chùa, am, tháp và những di vật cổ quý giá từ thời Lý, Trần, Lê, Nguyễn vẫn còn lưu dấu tích, ẩn khuất giữa rừng già. Yên Tử non thiêng là bảo tàng văn hóa kiến trúc, bảo tàng động vật, thực vật phong phú. Chính nơi đây, bản sắc dân tộc Việt Nam, tư tưởng, tâm hồn Việt Nam được thể hiện rất rõ.

Nguon goc va y nghia cua le hoi Yen Tu hinh anh 2
Ảnh minh họa
Các ngày lễ ở Yên Tử:
 
- Ngày mùng 10 tháng Giêng (Âm lịch): Lễ khai mạc Hội xuân Yên Tử được tổ chức long trọng và tưng bừng. Đây là Lễ hội truyền thống có tầm vóc Quốc gia.
 
- Ngày 01 tháng 11 (Âm lịch): Ngày tưởng niệm Phật Hoàng Trần Nhân Tông nhập Niết bàn. Ngày giỗ Sơ Tổ Trúc Lâm đã được Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam chọn làm ngày Đại lễ của Phật giáo Việt Nam.
 
- Ngày mùng 03 tháng 03 (Âm lịch): Ngày giỗ Đệ Nhị Tổ Pháp Loa.
 
- Ngày 23 tháng Giêng (Âm lịch): Ngày giỗ Đệ Tam Tổ Huyền Quang.
 
- Ngày 18 tháng 02 (Âm lịch): Ngày giỗ Thiền sư Chân Nguyên.
 
- Ngày 15 tháng 04 (Âm lịch): Ngày Đại lễ Phật Đản.

Ý nghĩa của số hạt châu trên tràng hạt niệm Phật
Ngày càng nhiều người tin rằng, tràng hạt niệm Phật mang tới may mắn, bình an và nếu mang theo người thì mọi chuyện sẽ thuận buồm xuôi gió.
- Ngày 15 tháng 07 (Âm lịch): Ngày Đại lễ Vu lan, ngày lễ tri ân báo hiếu cha mẹ, ông bà. Lễ Vu lan được tổ chức trang trọng, có ý nghĩa sâu sắc giáo dục lòng hiếu thảo của đạo làm con đối với cha mẹ, và các đấng sinh thành, lễ cầu siêu cho các linh hồn ông bà, cha mẹ, các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì nước, vì dân, các cô hồn được siêu thoát.

- Các ngày mùng 01, ngày Rằm, lễ đón Giao thừa thiêng liêng ở Yên Tử cũng được chúng tăng, ni và phật tử cùng nhân dân quanh vùng tổ chức với ý nghĩa tâm linh, tín ngưỡng dân gian và truyền thống tốt đẹp của dân tộc.  
Linh sơn Yên Tử đã đi vào tiềm thức, là niềm tự hào của con người Việt Nam và sự ngưỡng mộ của du khách quốc tế.
 
=> Xem Lịch vạn niên, lịch vạn sự chuẩn nhất tại Lichngaytot.com

Lichngaytot.com

Xem thêm clip: Hóa giải nghiệp chướng

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nguồn gốc và ý nghĩa của lễ hội Yên Tử

Tử vi thứ 7 của 12 Con Giáp ngày 7 tháng 2 năm 2015 - Tuổi tý - Xem Tử Vi

Tử vi thứ 7 của 12 Con Giáp ngày 7 tháng 2 năm 2015, Tuổi tý, Xem Tử Vi, xem bói, xem tử vi Tử vi thứ 7 của 12 Con Giáp ngày 7 tháng 2 năm 2015, tu vi Tử vi thứ 7 của 12 Con Giáp ngày 7 tháng 2 năm 2015, tu vi Tuổi tý

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tử vi thứ 7 của 12 Con Giáp ngày 7 tháng 2 năm 2015

Tử vi thứ 7 của 12 Con Giáp ngày 7 tháng 2 năm 2015, hôm nay, Bính Tý nên tỉnh táo đừng nên vội vàng tin lời người, Đinh Sửu chưa phải là lúc thay đổi công việc, Kỷ Mão nên giải quyết dứt khoát mọi vấn đề đi.

TỬ VI TUỔI TÝ THỨ 7:

- Bính Tý (Thủy, 20 nam Thổ Tú nữ Vân Hớn) : Tử vi hôm nay Bính Tý nên tin cẩn chớ tin người. Không nên đón tiếp người lạ trong nhà. Cẩn trọng trong việc nhận tin tức. Mọi việc chớ nên tiến hành nhanh chóng, không tốt. Nên có sự hòa hoãn. Tránh mọi chuyện tranh luận, thị phi không tốt. Ngày có nhiều lo âu, di chuyển nhiều trong công việc, tình cảm. Sức khỏe không tốt. Tài lộc chậm chạp không được như ý.

- Giáp Tý (Kim, 32 nam Thái Dương nữ Thổ Tú) : Có người đề nghị công việc nên chấp thuận và bàn thảo chi tiết. Mọi việc nên cẩn trọng từ tốn không nên hấp tấp. Về tài lộc đang lúc gặp sự hanh thông có lợi cho mình. Tình cảm tốt. Gia đạo an vui, có tin tức ở xa hoặc có khách ở xa đến. Có lộc ăn hoặc gặp sự vui vẻ.

- Nhâm Tý (Mộc, 44 nam Thái Âm nữ Thái Bạch) : Người mặc dù thân mật cũng chớ nên tin cẩn. Không nên chứa chấp người lạ trong nhà. Nên cẩn trọng về lời ăn tiếng nói gặp chuyện thị phi, tranh cãi, hiểu lầm, bị trách oán, sai hẹn, bội ước. Sự mong cầu về tin tức khó đến. Nên kiên nhẫn chờ đợi đừng nản chí khi công việc nảy sinh quá nhiều vấn đề cần phải giải quyết. Ngày có nhiều bề bộn và lo âu, tiến thoái lưỡng nan. Gia đạo có tin xấu. Không nên đi xa hoặc sử dụng phương tiện xe cộ máy móc, di chuyển. Không tốt cho việc cầu hôn, ký kết, hùn hạp.

- Canh Tý (Thổ, 56 nam Thổ Tú nữ Vân Hớn) : Hãy tự ý thay đổi công việc, công danh, chức vụ, phương hướng làm ăn, nếu đã có dự kiến của cấp trên, hoặc hoàn cảnh tạo những tình huống bắt buộc mình phải tiến hành. Có tài lộc hoặc gặp được quý nhân nâng đỡ giúp làm điểm tựa cho mình đi lên. Tình cảm tốt hoặc có tin tức tốt. Nên cẩn trọng về sức khỏe nếu cầu đi xa. Hạp các nghề vận chuyển, sửa chữa, nấu ăn.

- Mậu Tý (Hỏa, 68 nam Thái Dương nữ Thổ Tú) : Cần chụp lấy cơ hội, nhưng khi đã có lợi thì không nên khai triển tiếp tục, vì tình thế sẽ thay đổi. Có tài lộc. Nhưng nếu là người nữ thì phải chậm rãi chờ đợi tin tức mới trong công danh, tài lộc, tình cảm, trước khó sau dễ.

Trên đây là tử vi ngày thứ 7, các bạn Con Giáp muốn xem tử trọn đời vào Tử vi trọn đời. Còn xem tuổi xông đất, bạn quan tâm vào Xông đất 2015 xem nhé!

TỬ VI TUỔI SỬU THỨ 7:

- Đinh Sửu (Thủy, 19 nam La Hầu nữ Kế Đô) : Nên theo đường hướng cũ mà làm chưa phải lúc thay đổi phương hướng công việc. Không nên nản chí. Giao thiệp, giao dịch với người khác phái có lợi. Có khách hoặc bạn đến. Có tài lộc hoặc được lộc ăn, quà cáp, dự đám tiệc nhỏ. Có tin vui.

- Ất Sửu (Kim, 31 nam Thái Bạch nữ Thái Âm) : Không nên tranh cãi, kiện tụng lôi thôi chỉ đem đến phiền muộn. Đề phòng tin thất thiệt, thị phi. Mọi sự quan hệ, giao dịch nên thẳng thắn, chớ nên giải quyết vì tình cảm có hại. Nên giải quyết các công việc đã đến hạn kỳ. Ngày không nên có sự quyết định nhanh chóng, chỉ nên lắng nghe và tham khảo. Nên đắn đo trong việc cầu hôn, hợp tác, hẹn ước. Có người khác nhúng tay vào. Hạp các nghề kiến trúc, địa ốc, bảo hiểm.

- Quý Sửu (Mộc, 43 nam Kế Đô nữ Thái Dương) : Dù có điều lợi cũng phải có sự phân chia san sẻ, hoặc có tài lộc cũng phải hao tốn cho các việc đã đến hạn kỳ, tu bổ, sửa chữa các nhu cầu cần thiết về nhà cửa, đồ đạc, xe cộ, máy móc, đám tiệc, khách khứa. Có khách hoặc bè bạn đến, hao tốn cũng có, lợi lộc cũng có. Có tin tức tốt, trong đó có người nhờ mình làm giúp một công việc. Không nên ra mặt hoặc công bố, chỉ nên âm thầm tiến hành mới có kết quả.

- Tân Sửu (Thổ, 55 nam La Hầu nữ Kế Đô) : Sự quen biết, qua lại về tình cảm đã đến lúc phải kết thúc, hoặc đi vào một hướng mới. Công ăn việc làm còn nhiều cản trở, khó khăn không được như ý muốn. Tuy nhiên vẫn có quý nhân giúp đỡ hoặc vẫn tìm ra được phương cách có tài lộc. Do đó không thuận tiện cho việc đầu tư hay hùn hạp làm ăn lớn. Có khách hoặc bè bạn đến hoặc nhận được tin tức của họ về mong cầu thay đổi ý định hợp tác, công việc.

- Kỷ Sửu (Hỏa, 67 nam Thái Bạch nữ Thái Âm) : Trước khi quyết định hoặc mưu cầu việc gì cần có sự giao thiệp tốt đẹp về tình cảm, ngoại giao rộng mới có thể thành công. Nên nặng về hình thức quảng cáo. Có tài lộc nhưng hao tán về mặt quà tặng, giao dịch, chia chác, tiệc tùng. Thuận lợi cho việc cầu hôn, kết bạn, đính ước, hẹn ước, thỏa thuận. Gia đạo có hỷ sự, có đông người đến, hoặc có nhiều tin tức của thân nhân, đồng sự, hoặc có sự tu bổ, sửa sang, dọn dẹp, chỉnh đốn công việc, văn phòng. Hạp với các nghề nhiếp ảnh, công nghệ thông tin, thời trang, mỹ thuật, địa ốc.

TỬ VI TUỔI DẦN THỨ 7:

- Mậu Dần (Thổ, 18 nam Mộc Đức nữ Thủy Diệu – 78 nam Vân Hớn nữ La Hầu) : Ngày tuổi của bổn mạng. Quý nhân của mình sẽ là người nữ cho việc mong cầu. Ngày có nhiều trở lực, khó khăn, hoặc có nhiều tin tức trái ngược nhau khiến phân vân trong việc quyết định. Không nên làm ăn lớn táo bạo sẽ bị gẫy đỗ nửa chừng. Đề phòng tiểu nhân. Tránh mọi tranh giành có hại đến công danh, tình cảm, nhân nghĩa. Tài lộc, sức khỏe không tốt. Gia đạo bất an. Hạp các nghề pháp luật, y học, sửa chữa.

- Bính Dần (Hỏa, 30 nam Thủy Diệu nữ Mộc Đức) : Ngày tuổi của bổn mạng. Nên ngồi tại chỗ chờ đợi công việc hoặc tin tức đến tốt hơn là đi tìm kiếm, hoặc mong cầu về tin tức đều có sự chậm chạp, hoặc các tin có sự trái nghịch lẫn nhau. Tài lộc kém, nếu có thì cũng vào nhanh ra nhanh. Có sự tu bổ về nhà cửa, máy móc, xe cộ, đồ đạc. Không thuận lợi cho việc kết bạn, hẹn ước, kết hôn. Tránh mọi sự thị phi tranh luận và cũng không nên tin cẩn người khác. Hạp các nghề khoáng sản dầu mỏ, khí đốt, nhiếp ảnh, công nghệ thông tin, vi tính.

- Giáp Dần (Thủy, 42 nam Vân Hớn nữ La Hầu) : Ngày tuổi của bổn mạng. Mọi mưu sự tính toán hoặc cơ hội có đến trong công danh, tình cảm, tài lộc thì nên tiến hành. Nếu cần, việc hùn hạp cứ tính tới, có lợi nhưng phần chủ động vẫn do mình quyết định. Cẩn trọng trong việc sử dụng xe cộ, máy móc, đi lại. Có tài lộc hoặc có tin tức tốt về tiền bạc, công việc làm ăn.

- Nhâm Dần (Kim, 54 nam Mộc Đức nữ Thủy Diệu) : Ngày tuổi của bổn mạng. Không nên chờ đợi tin tức mới, ý kiến của người khác mà phải tự quyết định tiến hành thay đổi những công việc cần làm. Tình thế đã đổi khác, nên theo hoàn cảnh mới. Tình cảm không tốt, gia đạo vui buồn lẫn lộn. Có tài lộc nhưng dễ hao tán. Có người đi xa. Chỉ nên làm việc, lợi lộc sẽ tự đến, hoặc thoát được hoàn cảnh khó khăn hiện tại.

- Canh Dần (Mộc, 66 nam Thủy Diệu nữ Mộc Đức) : Ngày tuổi của bổn mạng. Nếu có người đề nghị công việc nên chấp thuận, đừng do dự kẻo mất cơ hội. Có tài lộc, có quý nhân giúp đỡ. Nên đi xa và giải quyết dứt khoát các công việc, tình cảm ở quá khứ. Chuyện tình cảm không nên có tính cách lâu dài, tất cả chỉ là tạm thời, thoáng qua. Nếu có dự tiệc không nên ở lâu sẽ gặp nhiều phiền toái.

TỬ VI TUỔI MÃO THỨ 7:  cuối Tam Tai

- Kỷ Mão (Thổ, 17 nam Thái Âm nữ Thái Bạch – 77 nam Thái Dương nữ Thổ Tú) : Nên giải quyết dứt khoát trong mọi vấn đề về công danh, tiền bạc, tình cảm. Ngày có sự kết thúc công trình, hội họp, hội ngộ, hoặc đã đến hạn, đúng hẹn, cần phải coi trọng lời hứa, có tin xa hoặc gặp thân nhân, quý nhân, bè bạn. Có tài lộc hoặc có hỷ sự, lộc ăn, quà tặng, và có cuộc đi xa, hoặc thuyên chuyển, thay đổi công việc, văn phòng. Thuận lợi cho việc cầu hôn, kết hôn, giải quyết mọi mặt trong vấn đề tình cảm, nhân nghĩa. Hạp nghề nhiếp ảnh, công nghệ thông tin, xây dựng, trang trí nội thất, dịch vụ cho thuê, bảo hiểm, bán hoa.

- Đinh Mão (Hỏa, 29 nam Thổ Tú nữ Vân Hớn) : Ngày có tin tức ở xa hoặc gặp bạn, kết bạn, hẹn ước, đính hôn, có liên quan đến mọi vấn đề về tình cảm. Thuận lợi cho việc di chuyển, đi xa. Có tài lộc, hoặc được lộc ăn, quà cáp, dự tiệc. Thích hợp cho các công việc chữa bệnh, kết thúc công trình, thanh toán tiền bạc.

- Ất Mão (Thủy, 41 nam Thái Dương nữ Thổ Tú) : Ngày thích hợp cho các công việc có liên quan đến tình cảm, hôn nhân, kết bạn, hẹn ước, thay đổi công việc, nơi ăn chốn ở, văn phòng. Có tin vui hoặc có khách đến khiến phải tạm ngưng công việc. Có quý nhân giúp đỡ. Nếu đã quyết định làm việc gì phải bền chí chớ nên bỏ ngang, bất lợi. Tiền bạc đến nhanh ra nhanh. Có lộc ăn hoặc được dự đám tiệc, nhóm bạn. Hạp các nghề có liên quan đến hoa, quả, quà tặng, thủ công mỹ nghệ, giải khát, du lịch, tự do, tiếp thị.

- Quý Mão (Kim, 53 nam Thái Âm nữ Thái Bạch) : Tất cả việc mong cầu nên tiến hành nhanh chóng, không nên chần chừ, và không nên có nhiều tham vọng, được bao nhiêu hay bấy nhiêu. Nếu không như vậy thì chọn một ngày khác tốt hơn và nên rút lui. Ở lâu sẽ phát sinh nhiều vấn đề phiền toái hao tài, tốn của. Sức khỏe không tốt. Không nên tranh cãi, đề phòng dèm pha, thưa kiện. Mọi vấn đề liên quan đến tình cảm cần có sự dứt khoát nhanh gọn mới tốt. Nói chung là hãy hành động không nên nói nhiều. Gia đạo bất an.

- Tân Mão (Mộc, 65 nam Thổ Tú nữ Vân Hớn) : Chớ để tin tức dư luận ảnh hưởng đến công việc của mình, nhất là giải quyết dựa trên tình cảm nhiều hơn là lý trí. Ngày gặp tình huống dây dưa khó giải quyết, chưa định được hướng đi. Nếu thấy có điều lợi về tài lộc thì chỉ là ngắn ngủi không nên tiếp tục, hoặc phải chia phần, hoặc chi vào những việc đã được tính trước. Không nên vui chơi quá đáng có hại. Quý nhân là người khác phái.

TỬ VI TUỔI THÌN THỨ 7:

- Canh Thìn (Kim, 16 nam Kế Đô nữ Thái Dương – 76 nam Thái Bạch nữ Thái Âm) : Có quý nhân hoặc có đồng sự, bạn bè tốt giúp đỡ mình hoặc cho tin tức, ý kiến hay trong công việc. Sức khỏe không tốt. Có tài lộc. Muốn thành công phải bỏ nhiều công sức, nỗ lực, và phải tiến hành nhanh chóng mới có kết quả. Gặp lại người xưa. Có người đi xa. Hạp nghề thầy thuốc, pháp luật, mua bán, tiếp thị, vận chuyển, bảo hiểm.

- Mậu Thìn (Mộc, 28 nam La Hầu nữ Kế Đô) : Mưu sự còn bị nghẽn lối, hoặc công việc gặp trắc trở. Cẩn trọng về tiền bạc, do tình thế đảo lộn khác với sự tính toán của mình. Tuy nhiên cũng có quý nhân giúp đỡ, hoặc chờ đợi sẽ có tin tức mới. Có khách, bè bạn đến, hoặc nhận được tin tức của họ. Có sự di chuyển, thay đổi. Có tài lộc. Hạp nghề máy móc, chế biến, pháp luật, sửa chữa.

- Bính Thìn (Thổ, 40 nam Thái Bạch nữ Thái Âm) : Tất cả mọi việc đều nên chậm rãi chờ đợi, không có lợi về mặt tiền bạc. Có khách hoặc bè bạn, người thân ở xa đến hoặc nhận được tin tức của họ có liên quan đến việc làm của mình, nên đi thăm dò hoặc đến nơi mình cần giải quyết, hoặc gặp quý nhân. Ngày có nhiều sự đảo lộn bất ngờ ngoài dự tính. Tài lộc trung bình. Không hạp cho các ngành địa ốc, bảo hiểm, ngân hàng, cổ phiếu.

- Giáp Thìn (Hỏa, 52 nam Kế Đô nữ Thái Dương) : Cần lưu ý những người mình gặp trong ngày là người đang gặp khó khăn, hoặc có chuyện lo âu về sự nghiệp công danh cũng như về tình cảm, sức khỏe. Ngàu chỉ có lợi cho những người làm nghề thầy thuốc, pháp luật, sửa chữa, mua bán xe cộ. Tài lộc tuy có nhưng chậm. Tình cảm gia đạo không tốt, có người đau ốm, có tin xấu ở xa về làm ăn, sức khỏe. Hoặc nhà phải bận rộn về chuyện tiếp khách. Nói chung có lợi về tiền bạc nhưng phải cực nhọc và phải có sự chờ đợi.

- Nhâm Thìn (Thủy, 64 nam La Hầu nữ Kế Đô) : Không nên nóng tính hoặc hấp tấp vội vàng khi đối đầu với trở lực, thách thức, vì sự trắc trở còn dài. Nếu là người kinh doanh thì nên uốn mình theo hoàn cảnh thì mới có lợi. Nếu là người quan chức thì không nên sợ hãi trước mọi trở lực, nên mạnh tay thay đổi nội bộ, trước khó sau dễ. Hãy bỏ qua mọi chuyện thị phi, đàm tiếu, những áp lực mới có kết quả. Tuy nhiên tất cả các việc có dính líu đến giấy tờ văn tự, chữ viết, thảo đơn đều phải hết sức cẩn trọng. Chỉ nên là một dự thảo. Ngay cả quý nhân của mình nếu có cũng không đủ khả năng ứng phó, hoặc chính họ cũng đang gặp nhiều trở ngại. Không nên cầu tài lớn lao.

TỬ VI TUỔI TỴ THỨ 7:

- Kỷ Tỵ (Mộc, 27 nam Mộc Đức nữ Thủy Diệu) : Cẩn trọng khi nhận tin tức. Người mặc dù thân mật cũng chớ nên tin cẩn. Không chứa chấp người lạ trong nhà hoặc kết bạn mới. Có sự kèn cựa tranh giành của tiểu nhân đưa đến có nhiều bực mình, nhưng không nên tranh cãi, sẽ bị thiệt thòi hoặc bị ràng buộc về lời nói, hẹn ước. Tránh chuyện thị phi, thưa kiện, có người chơi xấu hoặc gây cản trở. Tuy nhiên vẫn có quý nhân giúp đỡ hoặc có được tài lộc, và phân tán trong những việc đã có dự tính trước. Ngày thuận lợi cho sự thay đổi mọi mặt và đi xa. Hạp các nghề dịch vụ, làm môi giới, trung gian, hòa giải, trọng tài, mua bán trả góp.

- Đinh Tỵ (Thổ, 39 nam Thủy Diệu nữ Mộc Đức) : Có sự thay đổi phương hướng làm ăn, nơi ăn chốn ở, văn phòng, hoặc có sự tu bổ, sửa chữa mọi vận dụng, đồ đạc. Trong nhà người nữ sức khỏe, công danh, tài lộc không tốt, dù có tài lộc cũng hay hao tán.

- Ất Tỵ (Hỏa, 51 nam Vân Hớn nữ La Hầu) : Cần phải gặp quý nhân hoặc người trên của mình để hỏi ý kiến, hoặc chờ đợi tin tức khác. Nên ra ngoài xem xét không nên ngồi tại chỗ. Nhưng khi quyết định thì phải có tính cương quyết, mạo hiểm. Nên hoàn trả tiền bạc đến hạn kỳ hoặc các đồ đạc vật dụng không còn thích hợp. Trong vấn đề tình cảm nên có thái độ dứt khoát. Có tin tức, hoặc lời nhắn của bạn bè, thân nhân ở xa về chuyện tình cảm, chuyện của người xưa. Hạp các nghề nhiếp ảnh, vi tính, gia công chế biến, thời trang, siêu thị, kiến trúc, địa ốc.

- Quý Tỵ (Thủy, 63 nam Mộc Đức nữ Thủy Diệu) : Phàm làm việc gì cũng phải có sự nỗ lực bền chí mới có kết quả. Không nên ngồi tại chỗ mà phải di chuyển đây đó để thăm dò, giao thiệp. Tốt cho việc đi xa để cầu tài, gặp vận may. Phái nữ gặp ngày này mọi việc đều không tốt, gặp nhiều khó khăn hơn phái nam. Cầu mong tin tức khó được, hoặc chỉ có tin không tốt.

- Tân Tỵ (Kim, 75 nam Thủy Diệu nữ Mộc Đức) : Ngày của hạn kỳ đã đến, hoặc phải tiến hành, giải quyết, hoặc phải thay đổi hoàn cảnh, chức vụ, việc làm cũ. Nên đổi mới và lập kế hoạch cho mình một hướng đi. Không nên dấu diếm ý định của mình chỉ thêm sự thiệt thòi vì người khác cũng đang chờ đợi mình lên tiếng. Có tin tức không tốt ở nơi xa. Tài lộc trung bình.

TỬ VI TUỔI NGỌ THỨ 7:

- Canh Ngọ (Thổ, 26 nam Thái Âm nữ Thái Bạch) : Công danh, tài lộc của cấp trên hoặc của người trên trong thân tộc có tin tức thay đổi. Nên dự tính cho mình một đường lối riêng tương tương lai. Ngày có rất nhiều tin tức cho công việc cần làm. Có tài lộc hoặc nhận được tin tức tốt đẹp về việc làm. Có tin không tốt về sức khỏe, bổn mạng của người thân. Cần cẩn trọng khi sử dụng phương tiện xe cộ, máy móc. Ngày có quá nhiều việc cần phải giải quyết, hoặc nhà có đông người.

- Mậu Ngọ (Hỏa, 38 nam Thổ Tú nữ Vân Hớn) : Hết sức tránh sự đàm luận, tranh cãi, sẽ không giải quyết được gì mà còn gây sự bất hòa, xích mích, thị phi. Không nên nóng tánh vội vàng khi có chuyện xảy ra trong ngày cần phải giải quyết, hoặc nhận được những tin tức tạo nhiều áp lực cho mình trong công việc, tình cảm. Nên sắp xếp ổn định lại công việc, không nên tin cẩn người khác. Cẩn trọng khi di chuyển, đi lại. Sức khỏe, tài lộc không tốt hoặc vào nhanh ra nhanh. Hạp các nghề thể thao, sửa chữa, pháp luật, y tế.

- Bính Ngọ (Thủy, 50 nam Thái Dương nữ Thổ Tú) : Tất cả việc mong cầu về công danh, tình cảm, tài lộc đều không tốt. Không nên hấp tấp giải quyết những công việc lớn lao sẽ gặp rủi ro, bất trắc. Sức khỏe không tốt. Có tin không thuận lợi về công danh, tình cảm, sức khỏe của người thân. Cẩn trọng trong vấn đề pháp luật, tranh luận, kiểm tra. Đề phòng thị phi, tranh cãi. Mọi việc đều chưa xong. Hao tốn về đi lại xe cộ.

- Giáp Ngọ (Kim, 62 nam Thái Âm nữ Thái Bạch) : Không nên đi xa bất lợi gặp rủi ro hoặc có tai nạn về xe cộ, máy móc. Có tài lộc nhưng cực nhọc vất vả. Nên tự mình quyết định lấy công việc của mình sau khi lắng nghe ý kiến của người khác. Gia đạo có chuyện buồn. Không thích hợp cho việc gặp gỡ, kết bạn, vui chơi.

- Nhâm Ngọ (Mộc, 74 nam Thổ Tú nữ Vân Hớn) : Tất cả việc mong cầu nên tiến hành nhanh chóng, không nên chần chừ, và không nên có nhiều tham vọng, được bao nhiêu hay bấy nhiêu. Nếu không như vậy thì chọn một ngày khác tốt hơn và nên rút lui. Ở lâu sẽ phát sinh nhiều vấn đề phiền toái, hao tài. Sức khỏe không tốt. Không nên tranh cãi, đề phòng dèm pha, nói xấu, thưa kiện. Mọi vấn đề liên quan đến tình cảm cần phải có sự dứt khoát nhanh gọn mới tốt. Nói chung là hãy hành động không nên nói nhiều. Gia đạo bất an.

TỬ VI TUỔI MÙI THỨ 7 : cuối Tam Tai

- Tân Mùi (Thổ, 25 nam Kế Đô nữ Thái Dương) : Nếu có người đến đề nghị về công việc, hợp tác làm ăn là họ đang gặp khó khăn, trở ngại chút ít, nhưng là ý định chân thành. Tuy nhiên nên có sự thảo luận, chớ quyết định nhanh chóng bằng giấy tờ, văn tự vì thời cơ chưa đến. Tình cảm tốt. Có tin tức về tài lộc, công việc.

- Kỷ Mùi (Hỏa, 37 nam La Hầu nữ Kế Đô) : Gia đạo hoặc công sở có nhiều người đến. Do đó công việc hay bị đứt quãng hoặc khi bắt tay vào làm thì khó trước dễ sau. Có sự sửa sang, tu bổ về nhà cửa hoặc văn phòng. Ngày có sự di chuyển, thay đổi về công việc, hoặc có những lời đề nghị mới. Việc tình cảm mới chớm nở không nên hấp tấp trong việc hẹn ước, và cũng không nên tin cẩn quá đáng. Có tin xa. Hao tài nhỏ cho việc đi lại, tiếp khách, xe cộ. Nếu làm nghề buôn bán thì nên nhẫn nại, mới có kết quả. Có quý nhân giúp đỡ về lời nói hoặc danh tiếng. Hạp các ngành nghề sửa chữa, xây dựng, môi giới, trung gian.

- Đinh Mùi (Thủy, 49 nam Thái Bạch nữ Thái Âm) : Có sự thay đổi về nơi ăn chốn ở, công danh, tài lộc, tình cảm. Có tài lộc hoặc có lộc ăn, quà cáp, dự tiệc. Thuận lợi cho việc kết hôn, kết bạn, đến gặp quý nhân. Có người đi xa. Có khách đến. Hạp các nghề nhiếp ảnh, xây dựng, địa ốc.

- Ất Mùi (Kim, 61 nam Kế Đô nữ Thái Dương) : Nên thân cận với người lớn tuổi hoặc cấp trên khi quyết định công việc. Ngày có sự thay đổi, sửa chữa, tu bổ, dọn dẹp về nhà cửa, văn phòng. Tiền bạc vào nhanh ra nhanh. Không nên quá tham lam sẽ có hại. Có quý nhân giúp đỡ về công danh, tài lộc. Tình cảm tốt. Gặp bạn hoặc có khách đến, hoặc có tin tức của họ. Hạp các nghề xây dựng, kiến trúc, địa ốc, bảo hiểm.

- Quý Mùi (Mộc, 73 nam La Hầu nữ Kế Đô) : Dù đang ở trong hoàn cảnh có sự thuận lợi, mọi việc đều cũng phải có sự dè dặt, gặp trở lực, sai hẹn, dời hẹn. Đề phòng mất của, hao tài mà không được việc. Tránh gây gỗ. Tài lộc thất thường, hoặc có lộc ăn mà mình cũng phải hao tốn. Nên cẩn thận trong hành động, lời nói có sự hiểu lầm, oán trách. Có tin tức ở xa, có chuyện buồn, hoặc tin mong cầu không được như ý.

TỬ VI TUỔI THÂN THỨ 7:

- Nhâm Thân (Kim, 24 nam Vân Hớn nữ La Hầu) : Ngày xung của bổn mạng. Mưu sự còn gặp nhiều trắc trở, không nên làm càn, bất lợi. Nên có sự hòa hoãn, nhẫn nhịn mới qua được những trở ngại. Không nên quyết định các việc lớn về công danh, tài lộc, tình cảm. Mọi việc còn chưa sáng tỏ. Nên ngồi yên tại chỗ. Đi xa bất lợi. Tài lộc kém.

- Canh Thân (Mộc, 36 nam Mộc Đức nữ Thủy Diệu) : Ngày xung của bổn mạng. Nếu có tài lộc thì nên trang trải mọi việc còn tồn đọng lâu dài. Có quý nhân hoặc bè bạn giúp đỡ trong công việc. Không nên chần chờ lỡ mất cơ hội. Có tin xa hoặc người thân đi xa. Gặp lại người xưa. Nếu cần thay đổi nơi ăn chốn ở, văn phòng thì nên quay về khu vực cũ. Có người nhắc lại chuyện xưa khiến mình cần phải giải quyết. Nên cẩn trọng về sức khỏe, nhà có người đau yếu hoặc gặp chuyện buồn, rủi ro.

- Mậu Thân (Thổ, 48 nam Thủy Diệu nữ Mộc Đức) : Ngày xung của bổn mạng. Mọi việc sẽ trở nên không dễ dàng theo ý mình mong muốn. Công việc dở dang, hoặc phải bỏ ngang công việc làm lại. Nên nhẫn nại. Có tài lộc nhỏ, hoặc cầm tiền, đồ đạc của người khác nhờ mình chuyển giao.

- Bính Thân (Hỏa, 60 nam Vân Hớn nữ La Hầu) : Ngày có nhiều việc xảy ra ngoài dự tính và có sự thay đổi mọi mặt. Tài lộc vào nhanh ra nhanh. Tiền đáo hạn hoặc công việc, tình cảm, sức khỏe đã đến lúc phải kết thúc. Có quý nhân giúp đỡ. Tin tức mong đợi từ lâu đã đến. Hạp nghề mỹ thuật, gia công chế biến, thời trang.

- Giáp Thân (Thủy, 72 nam Mộc Đức nữ Thủy Diệu) : Ngày xung của bổn mạng. Có sự thay đổi về công việc, phương hướng làm ăn. Đề phòng công việc đang tiến hành bị ngăn trở, dở dang vì có khách hoặc có tin tức mới cần phải giải quyết. Có tài lộc, có quý nhân giúp đỡ hoặc có tin tức tốt về tiền bạc, công việc. Có hỷ sự. Có sự thay đổi, tu bổ đồ đạc, vật dụng hành nghề.

TỬ VI TUỔI DẬU THỨ 7:

- Quý Dậu (Kim, 23 nam Thái Dương nữ Thổ Tú) : Nên thay đổi hoàn cảnh hiện tại mới tốt, nếu không thì công việc mong cầu khó có kết quả, gặp trắc trở. Tuy nhiên phải có sự dè dặt, chậm rãi, toan tính kỹ càng rồi mới hành động vào ngày khác. Nên tìm gặp quý nhân là người khác phái sẽ có sự giúp đỡ mình về ý kiến, tiền bạc.

- Tân Dậu (Mộc, 35 nam Thái Âm nữ Thái Bạch) : Mọi việc cứ để xảy ra tự nhiên sẽ có lợi, có tài lộc. Gia đạo an vui, tình cảm tốt. Có tin tức tốt lành về tình cảm, giao dịch. Thuận lợi cho việc đính ước, giao hẹn. Tài lộc tốt ở xa đến.

- Kỷ Dậu (Thổ, 47 nam Thổ Tú nữ Vân Hớn) : Ngày thuận lợi cho các việc mong cầu về tình cảm, hôn nhân, kết bạn, đính ước, hợp tác, thi cử, xét duyệt lương bổng. Có tài lộc hoặc có lộc ăn, quà tặng, tin tức tốt. Không nên chần chờ khi có cơ hội đến dù không có lợi mấy ở trước mắt, nhưng nên tiến hành, hoặc mạnh bạo thay đổi hoàn cảnh hiện tại dù biết rằng việc tương lai phải trải qua nhiều giai đoạn, công sức. Hạp các nghề thời trang, thẩm mỹ, quảng cáo, quán ăn, trưng bày, biểu diễn, dịch vụ cho thuê, cho vay.

- Đinh Dậu (Hỏa, 59 nam Thái Dương nữ Thổ Tú) : Đã đến lúc cần có sự thay đổi về hoàn cảnh hiện tại. Không nên chần chừ sẽ bị lỡ việc. Không nên ngồi tại chỗ mà phải đi đến nơi mình cần giải quyết. Có tài lộc. Có hỷ sự. Hạp các nghề nhiếp ảnh, bảo hiểm, ngân hàng, đầu tư cổ phiếu.

- Ất Dậu (Thủy, 71 nam Thái Âm nữ Thái Bạch) : Giao kết, hẹn ước, kết bạn với người khác phái có lợi. Có nhiều tin tức liên quan đến công danh, tình cảm khiến mình phải quyết định thay đổi phương hướng làm ăn hoặc phải giải quyết các vấn đề xưa cũ, và phải có cuộc đi ngắn, hoặc hẹn gặp. Sức khỏe không tốt. Có tài lộc hoặc có tin tức tốt về công ăn việc làm.

TỬ VI TUỔI TUẤT THỨ 7:

- Giáp Tuất (Hỏa, 22 nam Thái Bạch nữ Thái Âm) : Đề phòng sức khỏe không tốt, hoặc trong gia đạo có nhiều chuyện xảy ra ngoài ý muốn về sức khỏe, bổn mạng của người thân. Nuôi súc vật không tốt, hoặc nên cẩn trọng khi đi đường, sử dụng xe cộ máy móc, té ngã hoặc va chạm có thương tích. Xe cộ máy móc hư hao. Cần nên tự mình quyết định không nên nghe ý kiến của người khác, bất lợi. Nói chung tài lộc thì ít nhưng đây là bước đầu để tạo danh tiếng. Hạp các nghề sửa chữa, điện, công nghệ thông tin, nấu ăn, xây nhà, mai táng, địa ốc, bảo hiểm, ngân hàng, cổ phiếu.

- Nhâm Tuất (Thủy, 34 nam Kế Đô nữ Thái Dương) : Ngày hoàn toàn không tốt cho mọi việc. Tất cả đều không nên tiến hành. Hoặc chỉ vì tình nghĩa miễn cưỡng mà phải làm. Gia đạo bất an. Tin tức không tốt, chớ nên tin cẩn, hoặc hy vọng vào người khác, có sự phản bội, nếu không thì cũng nhận tin tức trái ngược với dự tính. Không nên gây gỗ đưa đến bất hòa. Tài lộc vào nhanh, ra nhanh.

- Canh Tuất (Kim, 46 nam La Hầu nữ Kế Đô) : Có tin tức về chuyện tình cảm ở nơi xa, hoặc nhà có khách, bè bạn đến theo lời hẹn. Không nên hấp tấp vội vàng quyết định nhanh chóng, kết quả sẽ không tốt. Có tài lộc. Có tin xấu về sức khỏe, công danh của người thân. Cẩn trọng trong việc đi lại, sử dụng xe cộ, máy móc, gặp trở ngại. Chuyện tình cảm chớ nên dây dưa không tốt.

- Mậu Tuất (Mộc, 58 nam Thái Bạch nữ Thái Âm) : Có tài lộc nhưng phải có sự chia chác hoặc giữ số tiền, đồ đạc của người khác. Có sự vất vả trong công việc, hoặc phải lo cho người thân, bè bạn. Nên nhường nhịn, không nên tranh cãi, đôi co, nhưng cũng không nên hứa hẹn, hoặc để người khác ràng buộc mình vì lời nói. Gia đạo có nhiều âu lo, bận rộn, đau ốm, tai nạn hoặc có tang. Hạp nghề pháp luật, y tế, cơ khí, cơ giới, phóng viên.

- Bính Tuất (Thổ, 70 nam Kế Đô nữ Thái Dương) : Cần phải nghiêm chỉnh và hết sức cẩn trọng trong mọi việc đến với mình. Có quá nhiều vần đề cần phải giải quyết. Gia đạo rất bận rộn về công ăn, chuyện làm, nhà cửa, sức khỏe. Không nên di chuyển, đi xa. Bình tĩnh khi gặp áp lực từ nơi khác. Tình cảm không tốt. Tài lộc kém, dễ hao tài, dễ gặp chuyện thị phi, phiền toái. Nói chung mọi việc đều không tốt.

TỬ VI TUỔI HỢI THỨ 7:cuối Tam Tai

- Ất Hợi (Hỏa, 21 nam Thủy Diệu nữ Mộc Đức) : Nên từ tốn, chậm rãi không nên quyết định mau chóng sẽ gặp điều bất lợi, đừng ngại sự khó khăn, nên đi xa, tiến hành việc thay đổi phương hướng làm ăn cũng như về mặt tình cảm. Có tin tức tốt về công danh, nơi ăn chốn ở của bè bạn, người thân. Tài lộc trung bình. Hạp các nghề nhiếp ảnh, điện thoại, công nghệ thông tin, vi tính, thời trang, kiến trúc, địa ốc, bảo hiểm, thị trường chứng khoán.

- Quý Hợi (Thủy, 33 nam Vân Hớn nữ La Hầu) : Nên giải quyết các việc đã đến kỳ hạn. Càng để lâu thì càng gặp nhiều bất trắc, thiệt thòi, rắc rối, thị phi, việc càng nặng thêm. Hãy nên đi để giải quyết, chớ để người hoặc công việc đến với mình sẽ có nhiều bất lợi.

- Tân Hợi (Kim, 45 nam Mộc Đức nữ Thủy Diệu) : Nên bền chí nhẫn nại với tình trạng hiện tại, mọi việc còn chưa sáng tỏ, nhưng cũng nên bày tỏ ý định của mình để dễ thảo luận khi thay đổi phương hướng làm ăn, công danh, tình cảm. Sự mong cầu về tiền bạc, tình cảm còn trong giai đoạn chờ đợi nhưng sẽ đến.

- Kỷ Hợi (Mộc, 57 nam Thủy Diệu nữ Mộc Đức) : Đề phòng sức khỏe không tốt, hoặc có tin tức không thuận lợi về mặt sức khỏe, tình cảm của mình hoặc của người thân. Cẩn trọng về lời nói, văn thư, giấy tờ có sự lầm lẫn khiến mình bị ràng buộc, thị phi, sai hẹn, dời hẹn. Hành động không chu đáo gặp rủi ro phải làm lại, hoặc không nên quyết định mọi việc một cách nhanh chóng, sẽ gặp trở lực. Tin tức chậm chạp.

- Đinh Hợi (Thổ, 69 nam Vân Hớn nữ La Hầu) : Tài lộc tuy có nhưng chậm chạp, hoặc phải chi dụng những việc cần thiết, các công việc đã đến hạn kỳ. Mọi việc đều thay đổi. Có tin tức ở nơi xa. Hạp các nghề xây dựng, kiến trúc, du lịch, tiếp thị, phóng viên, địa ốc.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tử vi thứ 7 của 12 Con Giáp ngày 7 tháng 2 năm 2015 - Tuổi tý - Xem Tử Vi

Lưu ý khi lựa chọn địa chỉ cửa hàng –

Phải coi trọng đến phía trước rộng rãi, tiếp nạp sinh khí tám phương, điều này phù hợp với việc kinh doanh buôn bán phải coi trọng đến lượng khách khắp nơi. Theo nguyên tắc này, khi chọn lựa địa chỉ của hàng phải xem xét đến sự rộng rãi của một tiến,

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

yêu cầu không có bất kỳ vật ngăn che nào ở phía trước, ví dụ như: tường bao, cột điện, biển quảng cáo và cây cối che lấp quá lớn… Coi trọng đến sự rộng rãi trước cửa của cửa hàng có thể khiến cho cửa hàng hướng đến bốn phương, không những khiến cho phạm vi nhìn của cửa hàng được mở mang, thoáng đãng mà cũng có thể làm cho những khách hàng nơi xa đến và người đi đường đều có thể nhìn thấy mặt ngoài cửa hiệu, như vậy thì rất có lợi cho việc truyền bá tin tức của hàng hoá.

Phong thủy đưa tin tức loại này theo dây chuyền thì gọi là lưu động của khí. Có được sự lưu động của khí thì sẽ có được sức sống. Từ góc độ kinh doanh buôn bán mà nói, khách hàng và người đi đường tiếp nhận được các tin tức về hàng hoá của cửa hàng thì sẽ đến đó để chọn mua.

saigon-morin-hue_220920110819053868
Trong phong thủy học, kiến trúc không cát tường chủ yếu là chỉ những kiến trúc dễ khiến cho con người có cảm giác tâm lí không thoải mái như ống khói, nhà vệ sinh, nhà an táng, bệnh viện… Những loại kiến trúc này, hoặc là khói đen cuồn cuộn, hoặc là hôi thối đến ngạt thở, hoặc là kêu khóc thảm thiết, hoặc là rên rỉ bệnh tật. Do kiến trúc không cát tường mang đến những thông tin như vậy nên trong phong thủy gọi là hung khí. Nếu như mà mở cửa hàng trước cửa lại có những kiến trúc như vậy thì những hung khí như hôi thối, tiếng kêu khóc và tiêng rên rỉ, bệnh tật sẽ theo nhau kéo đến.

Nếu như kinh doanh đồ ăn uống, nhà hàng khách sạn thì chắc chắn thực khách đến ít, là khách dùng thưa thớt. Hơn nữa, đối với người kinh doanh mà nói thì trong những môi trường như vậy cũng sẽ dẫn đến tinh thần không hào hứng, lòng dạ không thoải mái, nghiêm trọng hơn có người còn bị nhiễm bệnh mà thành tật.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Lưu ý khi lựa chọn địa chỉ cửa hàng –

Cao thủ tiệm tạp hóa

Một bài dịch rất hay của dịch giả Durubi. Dịch bài viết của tác giả Liễu Vô Cư Sỹ.
Cao thủ tiệm tạp hóa

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tác giả Durobi biên dịch

1

Trong đám mấy thầy nghiệp dư cũng có lắm kẻ ngọa hổ tàng long, mấy thầy hành nghề thứ thiệt nhiều khi không thể tưởng tượng được đâu, phải đợi khi họ ngứa nghề giở vài ngón ra mới biết họ thâm tàng bất lộ, không biết mà xem thường họ thì chả khác nào múa rìu qua mắt thợ vậy.

Hồi vừa rồi khoảng tiết Thanh Minh năm 1983 tôi (Liễu Vô Cư Sĩ) đi vân du Đài Trung, có quen một ông chủ tiệm tạp hóa khoảng chừng năm mươi tuổi đổ lại, đầu hơi hói, nhưng tinh thần rất sung mãn tráng kiện. Ông ấy mời tôi và bạn đồng hành uống Lão nhân trà, bộ ấm chén và dụng cụ pha trà không thật cầu kỳ nhưng lá trà thì tuyệt đối vào hàng thượng phẩm.

Ông chủ tiệm nhờ tôi xem mệnh cho đứa con đang học lớp 11 của ông ta, xem coi có vô nổi đại học hay không. Tôi lật qua lật lại xem thử lá số rồi bảo ông ấy rằng, nguyện vọng một không dám chắc, nguyện vọng hai thì OK. Ông chủ tiệm gật gù:” Tôi cũng thấy thế, nếu đã vậy thì đành phải xem tạo hóa của nó thôi.”

Hóa ra ông chủ tiệm này là dân chơi Tử Vi nghiệp dư, không chỉ học Đẩu Số 15 năm mà là mỗi ngày đều học, công phu cao cỡ nào thì ông ta cũng không rõ, theo một cao thủ ở địa phương để bái sư xin học, từ từ dần rồi cũng thông thạo môn Tử Vi Đẩu Số. Ông ấy tự xem cho mình biết rằng không phải mệnh phát tài cho nên dẹp luôn ý nghĩ kinh doanh hoành tráng, chỉ mở một tiệm tạp hóa nho nhỏ kiếm chút đồng vô đồng ra thôi, sống một cuộc sống nhẹ nhàng ung dung.

Tôi mới hỏi: “Tôi mới lộ ngón nghề ra chắc là múa rìu qua mắt thợ, thậm chí múa bút qua cửa nhà Khổng với anh, là vì tôi nghe người ta nói nền tảng Quốc học của anh khá lắm, sánh với Vương Vân Ngũ còn được.”

Ông chủ tiệm cười ha ha: “ Làm gì có, tôi dân ngu khu đen có biết gì đâu. Dù cho tôi có xem được lá số thì cũng phải tham khảo ý kiến người khác là điều tất nhiên, trí giả thiên lự tất hữu nhất thất mà, vả lại tôi cũng đâu phải trí giả.”

Thời điểm ấy cũng là lúc sắp tổ chức cuộc thi Trà dịp mùa xuân ở làng Trần Cốc, chúng tôi vừa uống danh trà vừa bàn luận về trà. Ông chủ tiệm có cậu em họ trồng trà Ô Long ở núi Đỉnh Đông, từng 3 lần đoạt giải Quán quân, cứ sau mỗi cuộc thi trà thì chú ấy xuống núi chơi vài ngày, nhân tiện xách theo vài cân trà thượng hảo hạng, có khi thì ông chủ tiệm cũng lái xe lên núi giúp chú em hái trà và đóng gói.

Vừa uống vừa trò chuyện, tôi lấy từ trong cuốn sổ ghi chép tùy thân ra một tờ lá số, mời ông chủ tiệm bàn sơ qua. Tôi nói: “Đứa bé này cha mẹ ly dị, người ta mới đem nó cho một gia đình khác nuôi dưỡng, nhưng tôi không nhìn thấy trên lá số dấu hiệu nào có 2 bố 2 mẹ cả.”

Ông ấy cầm tờ lá số xem kỹ, bỗng đầu lắc nguầy nguậy, nói: “Chú có lộn không đấy, thằng nhỏ này ngủm củ tỏi từ đời thưở nào rồi!”

“Ồ! có chuyện đó thật à?” Tôi vờ hỏi tiếp: “Nếu giả sử như nó ngủm rồi thì anh xem nó làm sao mà chết?”

Ông ấy ngẩng lên ngó tôi trợn mắt: “Đừng có làm bộ. Chuyện gì cũng có thể giả sử, nhưng chỉ có chết là không thể giả sử, bởi vì tôi chưa nghe qua chuyện người ta có thể chết 2 lần.”

Tôi nói: “Đương nhiên là đã ngủm rồi, anh đoán đúng đó, tôi từng cho nhiều người xem thì nhiều lắm chỉ coi ra có bệnh hoặc mổ năm 1982. Chỉ có anh đoán chết thôi đó, bởi vậy tôi mới phục anh.”

Ông chủ tiệm châm thêm trà cho tôi rồi nói: “Nếu tôi đoán không nhầm thì nhất định có liên quan đến máu huyết, nhất thời thì nghĩ chưa ra chuyện gì, hình như trong máu thiếu nguyên tố gì đó, hoặc là kết cấu của tim và cơ năng tạo máu có vấn đề, không thể vận hành lọc máu như người bình thường.”

Cái ông này may mà không ra hành nghề chứ nếu không thì mấy thầy chuyên nghiệp húp cháo hết quá!

Ông ấy nói không sai, chẳng những không sai mà còn rất đúng nữa, đứa bé này bị chết vì bệnh “bại huyết”, chết tháng tám nhuận năm 1983. Chỉ từ một trang giấy trắng mực đen mà thấy được thiên cơ thì quả đáng sợ, nếu chưa tận mắt thấy qua mà bảo người khác chắc họ chả tin đâu.

Theo Lộc mệnh pháp thông thường thì đương nhiên có thể xem ra là tử vong, với trình của tôi thì có lẽ chỉ có thể đoán ra nhất mệnh ô hô mà thôi chứ không thể xem ra nguyên nhân của bệnh; cho dù có nói là chết do hệ thống tuần hoàn thì cũng là không hoàn hảo.

Mệnh tọa Thái Dương hội Kình Đà, đúng tiêu chuẩn cách cục phá tướng hoặc bệnh tật liên miên, và cung can của đại hạn thứ nhất (trùng với cung Mệnh) làm cho Mệnh tinh sau khi hóa Kị làm cho hiện tượng càng nổi bật. Với mệnh kiểu này thông thường phải đi qua hết đại vận thứ nhất thì bố mẹ mới yên tâm. Chúng ta tiến thêm bước nữa suy luận, nếu tổ nhà không gieo đủ phước đức cho con cháu hoặc là cha mẹ cơ địa nhân tố không thực sự khỏe mạnh thì với mệnh cách này đứa bé dễ bị tử thần đoạt mạng.

Năm Quí Hợi Tham Lang hóa Kị, làm cho cung này trở thành cách cục “Kình Đà giáp Kị”, mà cung này là cung Tật Ách của bản mệnh, tức là đến năm Hợi thì cung Tật Ách sẽ hoàn toàn vỡ nát; Tham Lang sau khi hóa Kị thì cùng với Vũ Khúc tiên thiên Hóa Kị giáp vào cung Mệnh. Năm Quí Hợi đến cung Tật Ách, Kị của Tham Lang từ cung Tật dẫn khởi, trói lấy cung Mệnh, tầng tầng lớp lớp kị sát tinh làm cho cung Mệnh và cung Tật vô phương trốn thoát, muốn đưa tay cứu cũng không cứu nổi!

Cung lưu niên Tật Ách (Ngọ), cũng hội chiếu với Kình Đà, nguyên thủy cung này đã bị Hỏa Linh giáp, nhưng chỉ nội Hỏa Linh giáp và Kình Đà chiếu không thôi thì không nhất định mất mạng, nếu Tật Ách bản mệnh bị kị sát tinh vây khốn thì “cung Ngọ” sẽ rung, gia tăng thêm nguy cơ của cung Tật tiên thiên.

Năm này Đẩu Quân tại Dậu, tháng Giêng Giáp Dần, Thái Dương hóa Kị, tại cung Mệnh tiên thiên, cung Tật của lưu nguyệt, cung này vốn đã hội Kình Đà, cho nên phát bệnh vào tháng này. Cung Thìn vốn bị song Kị giáp, tới đây đột biết thành cách cục song Kị giáp Kị.

Chết ngày 8 tháng Giêng, lưu nhật cũng tiến vào cung Mệnh tiên thiên, ngày hôm đó can chi Kỷ Mão, Văn Khúc hóa Kị, hợp vào cung Mệnh. Nhưng Văn Khúc hóa Kị ở đây không phải là quan trọng hàng đầu, không cấu thành nguyên nhân tử vong chính; nguyên nhân tử vong chính là ngày hôm đó ở vào vị trí cung Mệnh tiên thiên, chúng tôi thống kê nhiều mệnh tử vong phát hiện bất kể là chết bất ngờ, hay thọ chung chính tẩm thường tắt thở ở lưu nhật trùng vào cung Mệnh, thật khó mà tưởng tượng lại như thế.

Tôi hỏi ông ấy” “Anh đoán mệnh chính xác thần kỳ thế thì ắt hẳn phài do sư phụ anh dạy phải không? Sư phụ anh có phải là dị nhân trên dương thế không?”

Ông chủ tiệm thần sắc nghiêm trang, nói: “Minh sư chỉ đạo học sinh chân chính sẽ không dạy bạn đoán mệnh như thế nào; ông ấy chỉ cho bạn biết những quan niệm, còn lại là bạn tự đi tìm tòi, suy nghĩ. Chỉ có sư phụ hạng bét mới đem hết thứ trong bụng ra cho học sinh. Thiền tông có một công án khá nổi tiếng, có thể minh họa cho quan điểm này của tôi. Công án này chép trong “Truyền Đăng Lục” quyển 11, trong “Tục Cao Tăng Truyện” cũng có.

Thiền sư Hương Nghiêm Trí Nhàn là đệ tử của Qui Sơn Linh Hựu (171-853). Qui Sơn biết Hương Nghiêm có tuệ căn, có một lần hỏi sư: “Ta không biết ngươi học được bao nhiêu trong kinh sách rồi; ta chỉ hỏi ngươi một câu: “Khi là bào thai chưa ra khỏi bụng mẹ, trước khi biết phân biện sự vật, cái gì là ngươi?”

Hương Nghiêm không biết trả lời ra sao, trầm tư suy nghĩ một hồi rồi nêu ra một loạt các giải đáp nhưng đều bị Qui Sơn lắc hết. Thế rồi sư bèn xin lão thiền sư cho điểm phá nghi nan của sư, Qui Sơn nói: “Ta có thể nói cho ngươi đáp án, nhưng đó là của ta, đối với ngươi vô ích.”

Hương Sơn trở về thiền phòng, lật hết các bút ký ghi chép mà vẫn không thể tìm ra một câu trả lời cho rốt ráo. Sư hết sức thất vọng bèn đốt sạch hết mọi bút ký ghi chép và rời bỏ Qui Sơn mà đi. Đi cho tới khi đến một ngôi miếu cũ, ở đó có ngôi mộ của vị thiền sư đời trước là Tuệ Trung, sư bèn tạm dừng chân trú lại, ngày ngày vẫn đắm chìm suy nghĩ về công án của Qui Sơn cho sư.

Có một hôm đương lúc nhổ cỏ, sư nhặt một viên sỏi và ném vụt đi, viên sỏi bay vào bụi tre kêu đánh “chát” một tiếng, thanh âm vang vọng này làm bừng tỉnh vô thức trong sư, cái cảm giác đó rõ rệt như là đã có trước lúc được sinh ra. Hoát nhiên trở nên khai lãng, sư vô cùng sung sướng, cảm tạ lão thiền sư năm nào đã không cho sư đáp án. Vì vậy sư viết một bài kệ để kỷ niệm, hai câu đầu là: Nhất kích vong ngã tri, cánh bất giả tu trị.

“Công án này rõ ràng chỉ ra, dạy là thứ đã chết, ngộ mới là thứ sống. Nếu chúng ta đều được thầy từng câu từng chữ chỉ dạy cho thì trên đời chắc không có Trạng nguyên. Tục ngữ có câu: “ Có học sinh Trạng nguyên, không có thầy giáo Trạng nguyên”, thầy đồ già của Tam Gia Thôn cả đời không làm Trạng nguyên, nhưng học sinh của ông thì có Trạng nguyên, mà ngược lại những học sinh chỉ nghe thầy dạy mà không tìm tòi suy nghĩ thì tối đa chỉ làm thầy đồ đệ nhị mà thôi. Nguyên lý của nó rõ ràng thế đấy.”

“Anh đoán bệnh chứng chính xác thế, chả lẽ cũng do ngộ ra ư?”

“Sai.” Ông chủ tiệm trả lời: “Là do xem sách và học hỏi bạn bè làm nghề Trung Y mà ra. Tôi xem hai cuốn “Thương Hàn Luận”, một cuốn “Kim Quĩ Yếu Lược” và một cuốn “Hoàng Đế Nội Kinh”, các mặt khác như nội ngoại phụ khoa đều có nghiên cứu chút đỉnh.”

2

Tôi nói: “Tôi còn có lá số của cha đứa bé, anh có muốn xem không? Con bị tử vong là chuyện hệ trọng khó quên đối với cha mẹ, trong lá số của cha tất nhiên phải có hiển hiện.”

Ông ấy nói: “Đó là chuyện nhỏ, chắc chú cũng xem ra cả mà.”

Tôi nói tôi xem không ra. Ông ấy cười nói: “Nếu chú không xem ra thì chắc trên đời này không ai xem ra.”

Ông ấy nói thế nhưng vẫn cầm lấy lá số, xem khoảng một phút thì ngẩng lên, dùng một giọng điệu rất chi là chuyên gia giải thích: “Nè, chú xem nhé, cung Tử Tức lưu niên bị Hóa Kị đại hạn xâm nhập, hội chiếu vào tiên thiên Kị tinh, Hóa Kị tinh lưu niên tiến nhập cung Tật Ách của cung Tử Tức, hoàn toàn tương ứng với cung Tật bị phá tan trong lá số của đứa bé vừa xem hồi nãy. Nhưng tôi cho rằng, cung Tử Tức tiên thiên gặp Kình Dương và cung Tật của cung Tử Tức hóa Kị là mấu chốt quan trọng. Với loại tổ hợp này, đứa con đầu luôn khó nuôi lớn, nếu là con trai thì càng hung. Năm Quí Hợi sẽ là ngòi nổ, nó làm sao Tham Lang bị phá, tương ứng với Mệnh tinh và chủ tinh cung Tật của cung Tử Tức đều bị phá, cho nên, đứa con nào sinh ra trước thời điểm này đến năm nay e rằng khó bình an vượt qua.”

“Nếu đứa bé này sinh sau 1984 thì lịch sử có lập lại không?” Tôi tiếp theo luôn: “Giả dụ như sinh sau năm Giáp Tý, lưu niên chỉ có năm 1983 mới gặp can Quí, nhưng lúc này đại hạn đã ở cung khác rồi, đứa trẻ sinh ra sẽ sống chứ?”

Ông chủ tiệm cười khà khà nói: “Chú nói làm tôi buồn cười quá đi, lão đệ à, chú tưởng tôi là Gregor Mendel (thủy tổ môn Di truyền học, phát hiện ra Định luật Mendel) chắc? Tôi không rành về di truyền học nhưng chỉ có thể nói rằng, con người là một dạng thể hữu cơ sống, mà thời gian thì vĩnh viễn không chuyển lùi, chúng ta không thể khiến chúng lập lại một lần nữa, bao gồm cả kết hôn và sinh con, bởi vì không thể quay trở lại được cho nên mọi giả thiết đều là dư thừa. Nhưng câu hỏi của cậu vẫn còn giá trị thảo luận. Đại hạn sau Văn Khúc hóa Kị, lại tiến nhập cung Tử Tức tiên thiên, cung Tử Tức đại hạn (Tý) hội hợp Hỏa Linh Không Kiếp Kị, cũng toàn là sát tinh, với kết cấu này thì con cái sinh ra muốn được bảo toàn thì chắc phải cầu xin Bà mụ nhiều lắm mới được.”

Theo tôi biết, đương số sau khi mất con thì buồn bã, lại thêm vào vợ chồng lục đục (có thể thấy điều này trên mệnh cách), không lâu sau thì li dị, đôi người đôi ngả. Cho nên những giả thiết hồi nãy là không bao giờ có thể xảy ra được nữa.

(Hết)

Thông tin lá số:

Em bé sinh ngày al 22 tháng 7 năm Nhâm Tuất giờ Thìn

Cha em bé sinh ngày al 20 tháng 4 năm Canh Thìn giờ Tị

Geek trích dịch từ cuốn "Tử Vi Luận Mệnh", tác giả Liễu Vô Cư Sĩ, NXB HeBan - Đài Loan, trang 89-96.

Bình luận của Liễu Vô ngay dưới lá số em bé:

Hỏa Lục Cục mệnh phải 6 tuổi mới vào đại hạn, từ điểm này trở về trước có người chủ trương dùng "Đồng hạn", phối hợp "Kim Tỏa Thiết Xà Quan" để sử dụng, có người cho rằng tạm thời không dùng đại hạn, đi theo lưu niên là được (phái tiều hạn thì đi theo tiểu hạn); tôi cho rằng cái sau hiệu suất chính xác có phần cao hơn.

Thái Dương tọa mệnh tại Thìn, cung vị xem như là vượng, nhưng có Kình Đà hội chiếu thì coi như bị phá để luận, mệnh đới tật diên niên, có diên niên được hay không phải xem phúc nhà có to không. Năm Quí Hợi Tham Lang hóa Kị, tiến nhập cung Tật Ách, cũng là lưu niên Mệnh cung, đều là đại kị, còn kị hơn nữa ở chỗ biến thành song Kị giáp mệnh, cho nên là vừa đới tật vừa không thể diên niên.

Năm Quí Hợi lại vừa ngay đi vô cung Tật,Hóa Kị tinh hóa xuất từ cung Tật, giáp chế luôn cung Mệnh, tạo thành tai hại mỗi lúc một ác liệt. Tham Lang hội chiếu Hỏa Linh, lưu niên thành cách đáng lẽ phải được cứu, ai dè cung Hợi bị Kình Đà giáp, năm Quí Hợi bỗng nhiên trở thành Kình Đà giáp Kị, thế là hết thuốc chữa.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cao thủ tiệm tạp hóa

Bát tự luận mệnh: Bạn muốn giàu và hạnh phúc?

Ai cũng muốn mình phát tài, nhưng cùng với việc phát đại tài, sẽ mất đi rất nhiều thứ. Đây là chân lý của Bát tự mệnh lý. Tất cả mọi người vợ trong thiên hạ đều muốn chồng mình phát đạt kiếm được nhiều tiền, nhưng lại không nghĩ rằng, sau khi chồng phát đạt sẽ cặp bồ, có các hành động lừa dối, phản bội.
Bát tự luận mệnh: Bạn muốn giàu và hạnh phúc?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nếu giải thích theo Bát tự mệnh lý, điều này là có căn cứ, vì trong Bát tự của người đàn ông, tài (tiền của) và thê (vợ) thuộc cùng một cung vị, cùng một tinh vận. Đặc biệt chính thê (vợ chính thức) cũng là Chính Tài, mà Chính tài là tiền kiếm được nhờ sức lao động, loại Tài này sẽ không làm ảnh hưởng tìn cảm vợ chồng. Nhưng nếu như người chồng Bát tự mệnh lý có Thiên tài, mà Thiên tài trong mệnh lý chính là tài lộc kiếm được khổng lồ một cách dễ dàng (dân gian hay gọi là vô mánh, trúng quả) và Thiên tài cũng đại diện cho cung thê thiếp (vợ bé, bồ bịch). Mặc dù kiếm tiền rất dễ dàng, nhưng trong lúc người vợ đang vui vẻ với những món tiền khổng lồ do chồng mang về, người chồng đã có vợ bé lúc nào không hay. 

Đây là nguyên lý cuộc đời được thể hiện qua Bát tự mệnh lý, nhưng các nhà thuật số thường chỉ theo đuổi tính chính xác của Bát tự mệnh lý, mà coi nhẹ tính triết lý. Thật ra Bát tự là một bộ môn triết lý về cuộc đời, qua thao tác dự đoán, sẽ tiết lộ được những bí mật của đời người. Tiền có nhiều đến mấy thì cũng chỉ là những con số mà thôi. Nên tiền nhân có câu: “ Vạn khoảnh lương điền nhất uyển phạn, thiên gian hoa hạ nhất trang sàng” nghĩa là Vạn khoảnh ruộng tốt ngày ăn một bát, nghìn gian nhà rộng đêm ngủ một giường. Theo đuổi tài phú quá mức, sẽ mất đi tình thương của mẹ và khả năng sáng tạo. Bằng học thuật bát tự mệnh lý, chúng ta có thể giải thích rõ vì sao khi có nhiều tài phú con người sẽ mất đi rất nhiều thứ như tình cảm, sức sáng tạo, đạo đức, phẩm hạnh.
Ví dụ sau đây để thấy được sự huyền diệu của Bát tự mệnh lý và cách hóa giải, cải thiện cho rất nhiều những tình huống của con người. Nếu một người là Giáp mộc, thì Thổ là tài, Thổ quá nhiều sẽ khắc Thủy tiết chế Hỏa, mà Thủy là Mẹ và Hỏa là tài hoa sáng tạo, tự nhiên sẽ mất đi cân bằng trên quan hệ nhân luân. Tài nhiều thì vợ nhiều và đào hoa cũng nhiều, đây là điều phiền não của những người giàu, trừ khi họ có thân cường vượng để lấy lại cân bằng. Ngoài ra, tài có thể phá Ấn tinh là Mẹ, là đạo đức, phẩm hạnh. Vì vậy khi giàu có phát đạt tới một mức độ nào đó, nếu là người thông minh sẽ làm từ thiện, hoặc chuyển bớt tài phú cho người thân, con cháu, thực ra đây chính là phương pháp cứu mạng, cũng là phương pháp tự bảo vệ trong Bát tự mệnh lý. Nếu như không tự bảo vệ, chắc chắn sẽ mất đi rất nhiều thứ. Tài nhiều con cái sẽ bất hiếu hoặc ngu đần, vì Thổ sinh Kim là con cái, Thổ nhiều, Kim sẽ bị chôn vùi hoặc ngưng trệ, nếu như Bát tự không có Thủy để thông quan, con cái sẽ đần độn bất hiếu, hoặc không thể giao tiếp được với cha. Đây đã trở thành bi kịch của cá nhà giàu. 
Bạn sẽ thấy rất ngạc nhiên khi hiểu được vì sao rất nhiều Tỷ phú như Tỷ phú Bill Gates, Tỷ phú Warren Buffett, Tỷ phú Lý Gia Thành,…. đã có đóng góp rất lớn cho công tác từ thiện, xây dựng trường học, y tế, giáo dục, nghiên cứu,…Nếu lý giải theo Phật pháp “Buông bỏ thì còn, Giữ chặt thì mất”.

Trích từ bài viết "Bất hạnh của người phát đại tài"
Đại sư LiKuiMing

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bát tự luận mệnh: Bạn muốn giàu và hạnh phúc?

Không khó để hóa giải xà nhà phạm lỗi phong thủy

Nhiều người mua nhà chỉ quan tâm tới hướng mà vô tình chọn nhà có xà ngang lỗi phong thủy, hãy sửa lại ngay trước khi quá muộn nhé.
Không khó để hóa giải xà nhà phạm lỗi phong thủy

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nhiều người mua nhà chỉ quan tâm tới hướng mà vô tình chọn nhà có xà ngang lỗi phong thủy, hãy sửa lại ngay trước khi quá muộn nhé.


Xà nhà áp đỉnh là cấm kị trong phong thủy

Nhiều người thấy ngôi nhà đẹp, hướng hợp tuổi là mua ngay mà không xem xét kĩ, bỏ qua chi tiết xà nhà ghép (nối hai đoạn xà làm một), xà nhà bị yểm bùa Lỗ Ban (đóng những cây đinh dài 10cm lên xà), xà nhà áp đỉnh. Điều này rất nguy hiểm, ảnh hưởng tới tài vận, sức khỏe của người trong gia đình.
 
Người sống trong những ngôi nhà mà xà nhà có vấn đề không chỉ thất thoát tiền của, làm ăn lụn bại, tán gia bại sản mà còn thường xuyên ốm đau, bệnh tật, vợ chồng bất hòa, con cái hư hỏng.
 
Trong trường hợp này, chủ nhà cần phải chọn ngày tốt làm lễ động thổ thay ngay cây xà mới để hóa giải hung hiểm do xà nhà lỗi phong thủy Nếu vì lý do nào đó mà không thể thay mới thì phải áp dụng các mẹo phong thủy hóa giải lỗi xà nhà.
 
Xà nhà bị yểm bùa Lỗ Ban thì chọn ngày lành tháng tốt, tay trái cầm hương hơ vào chỗ bị yểm, tay phải gỡ bùa, gỡ đinh, miệng khấn “ai ở Đông về Đông, ai ở Tây về Tây. Thiên linh linh, Địa linh linh, nếu không nghe, ta cho chúng bay thành ngọa quỷ không được đầu thai kiếp khác”. Gỡ xong thì lấy đinh đem ra sông bỏ đi, bùa thì đốt đi.
 
Nếu làm lễ xong mà gia đình vẫn gặp nhiều chuyện không hay thì cây xà đã bị yểm bùa Lỗ Ban bằng máu động vật, gọi là đòn dông có mộc, rất khó giải. Tốt nhất nên mời thầy phong thủy tới, thay cây xà mới rồi treo gương Bát Quái, vái Thái Thượng Lão Ông độ trì xua tan ám khí.
 
Xà nhà chắp vá thì lập bàn thờ Bạch Hổ dưới xà, sao cho khi thắp hương khói sẽ bay thẳng tới tâm xà để hóa giải.
 
Xà ngang áp đỉnh thì dùng trần giả che lại, tránh sát khí giáng xuống.

► Xem và bài trí phong thủy nhà ở cầu tài lộc, tránh tai ương

Theo Thiên Việt

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Không khó để hóa giải xà nhà phạm lỗi phong thủy

Chùa Bà Ấn - Sài Gòn

Chùa Bà Ấn nằm tại đường Trương Định, quận 1, TP. Hồ Chí Minh. “Chùa bà Ấn" là tên mà người dân thường dùng để gọi ngôi đền Hindu giáo của người gốc Ấn
Chùa Bà Ấn - Sài Gòn

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Việt Nam có nhiều chùa Bà, nào là bà Đanh, Bà đen, Bà chúa xứ. Sài Gòn có chùa bà Ấn, nhắc lại lịch sử mấy trăm năm phát triển của Sài Gòn theo chiều hướng cởi mở, chấp nhận nhiều nền văn minh và văn hóa khác biệt.

Tại sao gọi là chùa Bà Ấn? Dân Sài Gòn gọi chùa này như vậy, tại vì đây là một chùa Ấn, thờ một vị nữ thần người Ấn. Chùa Bà Ấn nằm tại số 45 đường Trương Định, quận 1, TP. Hồ Chí Minh.

Chùa bà Ấn” là tên mà người dân thường dùng để gọi ngôi đền Hindu giáo của người gốc Ấn. Đền tên gốc là Mariamman, thờ nữ thần Mariamman, vị thần của mùa màng bội thu, đất đai màu mỡ, sức khỏe dồi dào, hôn nhân suôn sẻ, con cháu đông vui…

Đền Mariamman được xây dựng từ đầu thế kỉ 20, khi mà một số đông người Ấn Độ di cư qua Việt Nam và sống tập trung ở gần khu vực đền ngày nay. Hiện nay, đền vẫn được những người gốc Ấn trông coi cẩn thận như là nơi linh thiêng nhất của họ.

Không chỉ nổi tiếng linh thiêng, đền thờ Bà Mariamman còn là một công trình kiến trúc độc đáo mang đậm nét Ấn Độ. Điều này được thể hiện qua những tác phẩm điêu khắc rực rỡ sắc màu được bài trí ở nhiều nơi, đặc biệt là mái đền.

Trung tâm ngôi đền là phòng thờ Bà Mariamman. Người theo đạo Hindu tin rằng bà có khả năng làm cho bách bệnh tiêu tan và vạn sự như ý, trong đó có cả việc sinh con, hỏi vợ hay lấy chồng. Hai bên phòng thờ bà Mariamma là phòng thờ Cô và phòng thờ Cậu.

Chùa bà ấn
Kiến trúc độc đáo ở chùa

Người dân Việt có, gốc Ấn cũng có thấy vẫn đến đây cầu gì được nấy. Người thì thắp hương cầu khấn như ở mọi đền chùa khác. Người thì dùng vòng hoa bằng bưởi dâng lên Bà. Người thì chắp tay khấn vái, người thì cởi dép lên điện giơ tay ôm lấy khối đá hoa cương đập đầu vào đó mà cầu khấn. Khi làm lễ lại thấy có kéo chuông nghe giống như tiếng chuông nhà thờ hơn là chuông chùa.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chùa Bà Ấn - Sài Gòn

Sao Tử Vi - hình tượng Bá Ấp Khảo

Sao Tử vi - chủ tể của các vì sao trong lá số tử vi được lấy từ hình tượng Bá Ấp Khảo - con trai trưởng của Tây bá hầu Cơ Xương, quản về tước lốc, giải tai ách và chế hóa sát tinh

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Trong tử vi, Bá Ấp Khảo là con trai cả của Tây Bá hầu Cơ Xương, ông họ Cơ, tên là Khảo, tự Bá Ấp; hình tượng của sao Tử Vi được lấy từ nhân vật này

Từ sau khi Tây Bá hầu Cơ Xương bị vua Trụ cầm tù tại Dữu Lý, con trai trưởng của ông là Bá Ấp Khảo thay mặt quản lý chính sự tại Tây Kỳ. Vâng lời cha, ông cần cù việc chính, đất nước yên bình, nhân dân no ấm. Nhưng nỗi nhớ thương cha ngày càng lớn dần trong ông. Một hôm, không thể kìm chế nổi sự lo lắng, ông đã triệu tập đại thần Tán Nghi Sinh và tướng quân Nam Cung Quát, nói rằng: "Cha ta đã bị vua Trụ cầm tù gần bảy năm rồi, không biết lành dữ ra sao, nên ta muốn uỷ thác chính sự cho hai vị, để đến Triều Ca một phen, để cầu xin thiên tử tha cho cha ta trở về". 

Sao Tử Vi - hình tượng Bá Ấp Khảo

Sao Tử Vi - Bá Ấp Khảo

Nghe vậy, Tán Nghi Sinh lập tức khuyên rằng: "Trưởng công tử không nên quá nóng lòng, công tử còn nhớ lời hầu gia căn dặn hay không? Sau bảy năm, tai kiếp của hầu gia tự dưng sẽ chấm dứt mà bình an trở về Tây Kỳ. Nếu như công tử mạo hiểm về triều, chẳng phải đã phụ tấm lòng của phụ thân công tử hay sao. Xin công tử hãy suy nghĩ cho kỹ, dục tốc bất đạt. Phụ thân công tử đã dặn dò như vậy, chắc chắn là có nguyên do". Nhưng Bá Ấp Khảo tâm ý đã quyết, hai vị đại thần không biết làm thế nào, đành phải thoái lui.

Bá Ấp Khảo nói rõ nguyên do với mẹ, đến hôm sau đem theo ba vật báu gia truyền:

  • Xe thất hương - cỗ xe mà hoàng đế Hiên Viên từng ngự
  • Thảm tỉnh rượu - nằm lên tấm thảm này sẽ trở nên tỉnh táo
  • Con vượn mặt trắng biết hát

dự định dâng cho Trụ Vương để chuộc tội cho cha.

Sau khi đến Triều Ca, Bá Ấp Khảo chờ đợi suốt năm ngày nhưng không gặp được Trụ Vương. Đến ngày thứ sáu, ông lại đến Ngọ môn đợi thánh chỉ, gặp được Á tướng Tỷ Can, bèn giải thích rõ nguyên do với ông. Được sự giúp đỡ của Tỷ Can, ông đã được đến lầu Trích Tinh gặp vua Trụ. Bá Ấp Khảo đem ba vạt báu gia truyền dâng cho Trụ Vương, Tỷ Can lại chuyền lên Trụ Vươpg tấu chương của Bá Ấp Khảo. Trụ Vương cảm động trước tấm lòng hiếu thảo của Bá Ấp Khảo, bèn bảo ông đứng sang một bên chờ suy nghĩ.

Đát Kỷ liếc thấy Bá Ấp Khảo dung mạo anh tuân phi phàm, bèn nói với Trụ Vương rằng: "Thiếp nghe đồn Bá Ấp Khảo có tài gảy đàn thất huyền (tức cổ cầm), tinh thông âm luật, sao bệ hạ không bảo anh ta gảy một khúc xem có đúng là danh bất hư truyền hay không?"

Bá Ấp Khảo không tiện tự chối, bèn lấy đàn ra gảy một khúc "Phong nhập tùng" (gió thổi rừng tùng), Trụ Vương nghe đàn, vô cùng tâm đắc, ca ngợi không ngớt. Đát Kỷ thấy Bá Ấp Khảo tài mạo song toàn, thì càng yêu mến, muốn giữ Bá Ấp Khảo lại trong cung, bèn nói với Trụ Vương rằng: "Sao không giữ hắn lại để truyền thụ ngón đàn tuyệt thế ấy lại cho thiếp". Trụ Vương chấp thuận. Và như vậy, Bá Ấp Khảo đành phải lưu lại dạy đàn cho Đát Kỷ.

Một hôm, khi đã dạy đến giờ Tý nửa đêm, Bá Ấp Khảo chuẩn bị thu xếp ra về, Đát Kỷ bèn tỏ ý lả lơi khêu gợi. Bá Ấp Khảo vừa khó chịu vừa luống cuống không biết phải làm gì, bèn lớn tiếng quát Đát Kỷ dừng lại, gây kinh động đến đám thị vệ, suýt nữa đánh thức Trụ Vương.

Hôm sau, Đát Kỷ nghĩ ra một kế, chạy đến khóc lóc với Trụ Vương rằng Bá Ấp Khạo thừa cơ dạy đàn để trêu ghẹo, muốn giờ trò sàm sỡ với ả. Trụ Vương liền nói với Bá Ấp Khảo rằng: "Ngươi hãy gảy một khúc đàn, nếu tiếng đàn trung nghĩa, sẽ miễn tội cho ngươi! Nếu tiếng đàn có ý gian xảo, chắc chắn sẽ khép vào tội chết!".

Bá Ấp Khảo biết rằng khó thoát khỏi kiếp nạn này, bèn ôm đàn gảy dạo một khúc nhạc, bày tỏ tấm lòng thanh bạch, trung trinh với nước. Trụ Vương không tìm được chỗ sơ hở, lại sai ông gảy thêm khúc nữa. Bá Ấp Khảo bèn dạo thêm một khúc nhạc nói về đức hạnh và phẩm chất của người làm vua, trong cung đàn điệu nhạc có ẩn hiện ý chê trách. 

Bá Ấp Khảo vừa gảy đàn vừa cất lời ca rằng:

Mong nhà vua rời xa nữ sắc chấn chỉnh triều cương
Muốn thiên hạ thái bình mau phế bỏ nương nương
Yêu khí tiêu tan, chư hầu vui vẻ quy phục
Dâm tà chấm dứt, xã tắc êm ấm an lành
Cơ Khảo sa cơ không sợ muôn chết
Đát Kỷ diệt rồi sử sách lưu danh!

Hát xong, ông bèn quăng chiếc đàn về phía Đát Kỷ, nhưng lại không đánh trúng ả, chỉ khiến cho cốc chén trên bàn vỡ tan tành. Trụ Vương nổi cơn thịnh nộ, lệnh cho thị vệ bắt trói Bá Ấp Khảo vứt vào hầm rắn độc. Lúc này, Đát Kỷ lại nảy ra một ý, bèn tâu với Trụ vương rằng: "Hãy lấy thịt của Bá Ấp Khảo làm bánh đem cho Cơ Xương ăn. Nếu như Cơ Xương ăn, chứng tỏ ông ta bói quẻ không chuẩn, nên không biết đó là thịt của con trai mình. Nếu như ông ta không chịu ăn, chứng tỏ ông ta thực sự biết đoán thần số tiên thiên để dự đoán việc tương lai, nên lập tức chém đầu."

 Vua Trụ liền đồng ý với âm mưu của Đát Kỷ, cho thị vệ lóc thịt Bá Ấp Khảo làm bánh đem đến Dữu Lý cho Cơ Xương. Cơ Xương tạ ơn ân đức của Trụ vương, rồi thản nhiên ăn bánh. Bọn thị vệ nhìn mà thất kinh, nhưng cũng chỉ lẳng lặng quay về bẩm báo. Trụ Vương đợi thêm vài ngày nữa để xác nhận Cơ Xương thực sự không còn mối uy hiếp gì với bản thân, liền phóng thích cho về Tây Kỳ. Tính đến lúc đó, Cơ Xương bị cầm tù vừa vặn bảy năm. 

Về đến quê nhà, nhớ đến con trai Bá Ấp Khảo vì ông mà hy sinh cả tính mệnh, thì buồn thương khôn tả, bụng đau quằn thắt, đột nhiên nôn ra một miếng thịt, hóa thành con thỏ mà chạy đi mất.

Hồn phách của Bá Ấp Khảo bay đến trước đài Phong Thần, được phong làm sao Tử Vi, cai quản chòm sao Bắc Đẩu. Trong vườn hoa ben ngoài thần điện của ngài là ngút ngàn hoa tường vi màu tím.

Sao Tử vi còn gọi là Đế tòa đứng đầu 12 vì sao trong lá số tử vi, thuộc tính Ngũ hành là âm Thổ, là trung tâm của các vì sao. Tử vi chuyên quản về tước lộc, có tác dụng hóa giải tai ách, kéo dài tuổi thọ, chế hóa (chế phục và hóa giải hung tính của các sát tinh).


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sao Tử Vi - hình tượng Bá Ấp Khảo

Xem mồm miệng biết bệnh

Người ta vẫn thường nói: "Bệnh từ mồm vào". Mồm miệng là cửa ngõ của bệnh tật đi vào trong cơ thể. Các loại bệnh do thức ăn không sạch sẽ gây nên: các bệnh đái tháo đường, bệnh cao huyết áp, bệnh béo phì, bệnh thiếu máu ... đều gắn liền với vấn đề thức ăn đưa vào cơ thể qua mồm miệng. Bệnh không những "từ mồm vào", mà bệnh cũng còn có thể gây phản ứng, được thể hiện rõ qua những biến đổi về hình thái mồm miệng, khoang miệng, màu sắc của môi miệng.
Xem mồm miệng biết bệnh

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Mồm miệng, dân gian vẫn thường gọi là mồm mép môi miệng nó do hai mép trên và dưới hợp thành khoang mồm miệng y học gọi là khoang vòng miệng. Mồm miệng, môi mép của con người có tác dụng làm đẹp cho bộ mặt, nhất là xung quanh mồm viền một vành môi màu đỏ, trong giải phẫu học gọi là môi đỏ. Huyết quản ở bộ phận môi đỏ này sát ngang gần bề mặt niêm mạc. Huyết quản mao mạch ở đó rất nhiều, người bình thường, đôi môi đỏ tươi, mềm mại, tươi sáng, độ khô ướt vừa phải, hơn nữa trông tươi non bóng bẩy. Còn nếu đôi môi trông khác thường về hình thái và màu sắc thì đó thường là biểu hiện ở trong người có bệnh. Phương pháp quan sát có:

1. Nhìn vào hình thái môi miệng:

Môi miệng khô: Người bệnh môi miệng khô, thường vẫn phải đưa đầu lưỡi liếm liếm, thậm chí bị nứt nẻ cả môi miệng nữa. Trường hợp này phần lớn thấy ở những người bị sốt cao, khí hậu khô hanh, cơ thể thiếu nước, khi ngủ thích đắp chăn trùm đầu. Ở những người thiếu vitamin B và rất ít ăn các loại rau quả tươi mới và các loại lương thực tổng hợp cũng phần nhiều phát sinh ra những hiện tượng khô mồm miệng khô môi như thế. Viêm môi, chốc mép cũng là một nhân tố quan trọng dẫn tới chứng bệnh khô mồm miệng này. Những biểu hiện chủ yếu của viêm môi miệng là môi mép khô háo, bị tróc bong da, bị nứt nẻ, khi ăn các chất kích thích thuộc loại chua cay sẽ cảm thấy xót đau, khi nói và cười to, mép miệng sẽ bị nứt, rướm máu ra. Người bị nặng, mồm miệng và đôi khoé mép bị sưng tấy lên, mọc mụn nước, bị toét lở, bị đóng vẩy ... do vì nứt nẻ bỏng rát nên làm trở ngại đến việc ăn uống và nói cười. Nguyên nhân thường thấy nhất của bệnh viêm môi miệng là do sử dụng các đồ hoá trang ở môi miệng bị dị ứng. Ngoài ra khô háo mồm miệng còn thấy ở những người uống quá nhiều lượng rượu vào cơ thể và những người bị mắc bệnh dạ dày mạn tính.

Môi miệng bị nứt nẻ, lở loét: Phần nhiều là do tì vị bị nhiệt, thường thấy ở những người bị bệnh dạ dày và ruột ở thể mạn tính. Khi mới phát hiện có lở loét ở môi miệng thì cần phải cảnh giác đi kiểm tra kỹ xem có phải bị bệnh giang mai di truyền không. Nếu ở vùng môi mép mà bị lở loét và có những nốt chấm đen, lên những mụn nước, bị nứt nẻ và bong ra những vẩy ... rồi ở hai bên mép có thể thấy rõ những vân vệt như những tia phóng ra ngoài, phần lớn thì hiện tượng này thể hiện ở cả hai bên mép phát sinh cùng một lúc, cũng có trường hợp cá biệt là chỉ thể hiện ra ở một bên mép thôi. Trường hợp này thường là bị viêm ở bên mép, trong dân gian vẫn thường gọi là bị chốc mép. Đây là chứng viêm da và viêm niêm mạc ở bộ phận mồm miệng.

2. Nhìn màu sắc của môi miệng:

Màu môi bạc thếch: Nếu cả hai môi đều trưáng nhạt, phần lớn thuộc tì vị hư nhược, khí huyết không đủ, trường hợp này thường thấy ở những người bị thiếu máu và bị chứng mất máu. Nếu môi trên xanh tái xám lại, thì phần lớn là do đang bị những chứng bệnh như đại tràng bị hư nhược, bị tiêu chảy, bị chướng khí, bụng quặn đau, bị nhiễm lạnh, vừa sốt nóng vừa sốt rét v.v...

Nếu môi dưới xanh tái xám lại thì đó là hiện tượng do dạ dày bị hư hàn, gây nên miệng nôn trôn tháo, dạ dày phát lạnh, bị những cơn đau dạ dày v.v... gây nên.

Môi đỏ nhạt : Phần lớn thuộc về huyết hư hoặc cả hai phương diện khí và huyết đều suy hư. Có một số người tuy không có bệnh gì lớn, nhưng cơ thể hư nhược nhiều cũng vẫn thường thấy có biểu hiện là môi nhợt nhạt như vậy.

Môi đỏ thẫm: Màu môi rực đỏ, thẫm lại, thường thấy ở những người bị sốt. Đối với những người bị cả hai bệnh tim và phổi, lại có kèm theo cả tâm lực suy kiệt, khi thiếu ô xy trong cơ thể, cũng thường thấy môi đỏ thẫm và tím bầm lại. Trên lâm sàng gọi là tím đen lại. khi màu môi trông đỏ như màu quả anh đào thì thường là đã bị trúng độc hơi than.

Môi màu xanh tái: Đó là do khí trệ, huyết ứ tắc, trường hợp này phần nhiều là do huyết dịch, không lưu thông thoáng mát, rất dễ bị các bệnh cấp tính, nhất là những bệnh cấp tính nguy hiểm về huyết quản, như tắc huyết quản, bị trúng phong ...

Màu môi đen: Xung quanh môi màu đen sạm lại thì đó là do thận đã suy kiệt. Khi mồm miệng khô cháy, đen sạm lại thì đó lại là lúc nguy kịch lắm rồi. Nếu ở những người màu môi đen xịt lại và đục, thì phần lớn là có bệnh ở hệ thống tiêu hoá. Có lúc lại thấy ở những người bí đại tiện, bị tiêu chảy, bụng dưới bị đau tức, bị đau đầu, mất ngủ, chán ăn ... Nếu trên môi lại xuất hiện cả những nốt mẩn, các mảng bớt màu đen, hai bên mép nổi lên những sắc tố ở vành mép thì hiện tượng  này thường thấy ở những người công năng của màng thượng thận bị suy thoái có tính chất mạnh tính. (Bệnh addison). Nếu ở vùng mồm miệng, ở hai bên mép, nhất là ở mép dưới và niêm mạc khoang miệng có những nốt chấm nâu, đen có lúc rất dày và tập trung, không có cảm giác khó chịu, thì có thể là ở trong dạ dày và ruột của người bệnh phát sinh ra thịt thừa (cục thịt nổi lên ở dạ dày và vách ruột, vì niêm mạc phát triển khác thường) có tính đa phát.

3. Nhìn vào hình thái khoang miệng:

Khoang miệng bình thường thì rất thẳng và bóng bảy, sạch sẽ. Nếu niêm mạc ở khoang miệng bị tấy đỏ, mọc lên các mụn nước, bị lở loét hoặc xuất hiện các vết lấm chấm màu trắng vàng, có khi lại kèm theo cả sốt, đau đớn, không ăn được. Đó là đã bị viêm khoang miệng. Lúc bình thường, trong khoang miệng có vô số vi khuẩn, hễ khi sức đề kháng của cơ thể bị suy giảm, các vi khuẩn sẽ sinh sôi nảy nở ra nhiều và nhanh chóng làm cho viêm mạc của khoang miệng, của răng lợi, môi mép và đầu lưỡi bị viêm tấy, có khi cũng có thể là do virus hoặc là do quá mẫn cảm (dị ứng) gây nên.

Những người uống rượu và hút thuốc quá nhiều, cơ thể mệt mỏi, hoặc khi bị những kích thích của răng giả, của răng bị sún, bị sâu, cũng có thể làm cho viêm khoang miệng. Có những phụ nữ mỗi khi có kinh nguyệt cũng bị viêm khoang miệng có tính chất chu kỳ.

Hiện nay, ở một số vùng của nước ta, bệnh về giới tính (bệnh ở bộ máy sinh dục) lại nhen nhóm lại, những hành vi mất vệ sinh không những đã gây bệnh ở bộ máy sinh dục mà có khi còn xuất hiện cả những triệu chứng ở ngay trong khoang miệng.

Những biểu hiện của bệnh về giới tính thường thấy thể hiện những triệu chứng ở ngay trong khoang miệng như sau:

Bệnh giang mai mới mắc về sau này (không phải do di truyền hoặc bẩm sinh).

Bệnh giang mai: Ở thời kỳ đầu bị lây truyền bằng con đường tiếp xúc như hôn nhau chẳng hạn, sau đó từ ba đến bốn tuần, ở môi miệng ở mép, ở lợi, ở phần hàm ếch cứng và mềm, ở má, ở lưỡi và ở phần cổ họng, xuất hiện các nốt mẩn đỏ, những vết lở loét ... Ở thời kỳ thứ hai, bằng con đường giao tiếp tình dục, bệnh xâm nhập vào cơ thể, rồi vào tuần hoàn huyết dịch, từ máu truyền lan đi khắp cơ thể, sau khi nhiễm bệnh từ 9 đến 12 tuần, ở niêm mạc trong khoang miệng xuất hiện những mảng lấm chấm sắc tố có tính đa phát, ở đầu lưỡi và quanh lưỡi xuất hiện các vết loét. Đến thời kỳ thứ ba, qua tiếp xúc về tình dục, cứ thế truyền nhiễm vào cơ thể, sau thời gian từ 10 đến 30 năm, chủ yếu liên luỵ đến phần hàm ếch cứng, làm nó sưng tấy lên rồi mềm nhũn y như nhựa cây vậy, có thể bị vỡ ra làm cho xương hàm bị phá hoại rồi lây lan sang tới cả khoang mồm miệng và lỗ mũi.

Bệnh lậu: Người bị mắc bệnh nhiễm phải song cầu khuẩn của bệnh lậu, từ 3 đến 5 ngày có thể phát sinh ra triệu chứng viêm họng, viêm khoang miệng do bệnh lậu gây nên.

Những biểu hiện của những bệnh thường thấy ở trong khoang miệng còn có cả các nhọt hoặc khối u mẩn đỏ mọng, rồi bệnh cầu khuẩn xâu chuỗi màu trắng, bệnh mẩn mụn đỏ có tính chất đơn thuần nữa. Trong cuộc sống và sinh hoạt không đảm bảo vệ sinh sạch sẽ, có thể dẫn tới các bệnh về sinh dục, gây nguy hại nghiêm trọng đến sức khoẻ của mọi người, đòi hỏi mọi người luôn phải nâng cao cảnh giác.

4- Nhìn vào màu sắc của khoang miệng:

Bình thường thì niêm mạc khoang miệng màu như phấn hồng. Nếu xuất hiện những sắc tố màu đen xám xịt từng đám một, thì phần lớn là biểu hiện công năng của tuyến thượng thận bị giảm sút. Nếu lại xuất hiện những nốt máu hoặc những chấm sắc tố ứ đọng, thì có khả năng là do cơ thể thiếu vitamin C gây nên.

Khi quan sát màu sắc của niêm mạc khoang miệng, phải đặc biệt chú ý xem có xuất hiện những vết "đốm trắng", vết "đốm đỏ", vết "đốm đen" hay không. Bởi vì tỉ suất biến chứng của bệnh ung thư thể hiện ở những vết "đốm trắng", "đốm đỏ" và "đốm đen" tương đối cao, thế mà khoang miệng lại là một trong những chỗ thuộc loại dễ mắc bệnh này, cho nên phải đặc biệt cảnh giác.

Vết đốm trắng: Đây là một loại biến chứng bệnh lý đốm trắng ở niêm mạc khoang miệng thường thấy (các vết "đốm trắng" này dùng tăm quấn bông xát đi không mất được, nó không giống như bệnh tưa mồm (viêm mồm áp tơ). Bệnh này phần nhiều phát sinh ở những chỗ khác nhau của niêm mạc khoang miệng của những ông già, nhưng thấy nhiều ở niêm mạc má. Cũng có trường hợp thấy có cả ở niêm mạc môi, hàm ếch và lưỡi nữa. Tỷ lệ phát sinh bệnh này ở nước ta là trên dưới 8%. Trong số những người có những vết đốm trắng thì có tới từ 1 đến 5% cuối cùng là bị ung thư. Tỷ lệ biến chứng ung thư của vết đốm trắng ở trạng thái khối  u (trạng thái khối u ở đầu vú) cao nhất. Nếu các vết đốm trắng đó lại mọc lên cứng lại, nổi cộm lên và bị loét ra thì đó là điềm báo trước biến chứng của ung thư. Những người hút thuốc lá dễ mắc chứng bệnh đốm trắng này.

Vết đốm đỏ: Đây là một loại biến chứng bệnh lý máu đỏ ở niêm mạc khoang miệng, biểu hiện ra là những mảng lốm đốm màu đỏ tươi, mềm và có đường viền rất rõ ràng, nói chung là không thấy đau rõ rệt (điều này cần kiểm tra để giám định rõ, phân biệt với các chứng bệnh như viêm niêm mạc, bị bỏng, bị xây xước). Một biểu hiện khác nữa là còn có cả những hạt lốm đốm trắng, to bằng những hạt thóc rải rác nhiều chỗ giống y như những hạt lốm đốm màu đỏ tươi nữa, thường lại kèm thêm cả hơi thấy đau đau nữa. Những vết lốm đốm đỏ phần nhiều phát sinh ở rìa lưỡi, ở lòng lưỡi và ở đáy miệng, tỷ lệ phát sinh thấp hơn so với những vết lốm đốm trắng, nhưng tỷ lệ biến chứng ung thư thì lại cao gấp 17 lần so với những vết lốm đốm trắng. Do đó, cần phải đặc biệt chú ý.

Vết lốm đốm đen: Đây là một loại vết lốm đốm màu đen, hoặc màu xanh lam, màu xanh xám, có bờ rõ ràng ở trên niêm mạc khoang miệng, những vết lốm đốm này tương đối nhỏ, hình dạng không đều nhau, không có những triệu chứng gì làm cho người ta thấy khó chịu cả (các sắc tố màu đen trong khoang miệng lắng đọng, trông dày đặc và lan toả khắp, các ung nhọt mọc lên ở huyết quản trông ngoài không giống như các vết lốm đốm đen). Các vết lốm đốm đen phần lớn thấy ở niêm mạc hàm ếch trên, ở răng hàm và ở má. Tỷ lệ bệnh phát sinh ở nam giới gấp đôi nữ giới, tỷ lệ biến thành ác tính trên dưới 30%. Khi đã chuyển biến thành những nốt ung thư sắc tố ác tính thì những vết đốm đen đó lớn to lên, các bờ mép mờ đi, sắc tố không đều nhau và ăn sau vào, có những trường hợp ra máu và nổi lên những nốt ở xung quanh.

Nếu phát hiện những vết lốm đốm có màu sắc như trên thì cần phải kịp thời đến bệnh viện khám và điều trị.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem mồm miệng biết bệnh
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd