Những điều cấm kỵ khi xem tướng –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thanh Vân (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thanh Vân (##)
Với bản tính nhanh nhẹn, hoạt bát, thông minh và thân thiện, người tuổi Tý đứng top đầu trong 12 con giáp. Tuy nhiên, khi sinh vào ngày, giờ, tháng khác nhau thì vận số của người tuổi Tý cũng khác nhau. Hãy cùng Lịch ngày Tốt khám phá vận số người tuổi Tý theo ngày sinh nhé!
![]() |
Bé sinh vào mùa nào đặt tên theo tiết trời, thiên nhiên của mùa ấy là cách đặt tên vừa hay, ý nghĩa, lại hòa hợp theo phong thủy, đem lại may mắn, phát tài. Hãy thử tham khảo kiểu đặt tên con theo đúng mùa sinh và xem tên có phù hợp với con mình hay không?
Mùa xuân là mùa bắt đầu của một năm, mùa của cây cối đâm chồi nảy lộc, của muôn hoa khoe sắc thắm, mùa của những loài chim (đặc biệt là chim én) bay về làm tổ. Vì thế, có rất nhiều gợi ý thú vị cho những cái tên của bé yêu sinh vào mùa xuân:
Tên cho bé gái:
Mang ý nghĩa của mùa xuân: Minh Xuân (mùa xuân tươi sáng); Mỹ Xuân, Diễm Xuân (mùa xuân tươi đẹp); Thanh Xuân (tuổi trẻ tràn đầy sức sống); Hương Xuân (hương thơm của mùa xuân).
Các loài chim của mùa xuân: Hoàng Yến, Thanh Yến, Diệu Yến, Hồng Yến, Nhã Yến, Ngọc Yến, Bảo Yến, Phương Yến, Minh Yến, Xuân Yến, Kim Yến, Quỳnh Yến.
Các loài hoa của mùa xuân: Tú Mai, Thủy Tiên, Thanh Mai, Yến Thảo, Xuân Mai, Hải Đường, Nguyệt Mai, Cát Tường, Anh Đào, Tầm Xuân, Xuân Đào, Trà My, Thanh Đào, Anh Thảo.
Tên cho bé trai:
Mang ý nghĩa mùa xuân: Xuân Trường (mùa xuân trường tồn); Thanh Minh (tiết thanh minh của mùa xuân); Vĩnh Xuân (mùa xuân vĩnh cửu); Đông Phong (làn gió từ phương đông, gió mùa xuân); Đông Quân (vị thần của mặt trời, của mùa xuân).
Nhắc đến mùa hạ là nhắc đến sự rạo rực, sôi động và tràn đầy năng lượng từ ánh nắng mặt trời, từ những loài hoa nhiệt đới nhiều màu sặc sỡ và những cơn mưa mùa hạ tươi mát. Mùa hạ đem tới nhiều cảm hứng để đặt tên cho bé trai và bé gái:
Tên bé gái theo mùa hạ: Hạ Vy (mùa hạ nho nhỏ); Hạ Miên (giấc mơ mùa hạ); Diệp Hạ (lá cây mùa hạ); Lam Hạ (mùa hè xanh); An Hạ (mùa hè bình an); Thanh Hạ (mùa hè thanh bình); Hạ Vân (đám mây mùa hạ); Thùy Dương (án nắng rực rỡ); Thiên Thanh (bầu trời xanh)
Tên bé gá theo loài hoa mùa hạ: Đỗ Quyên, Hồng Liên, Mộc Miên, Diên Vỹ, Ngọc Phượng, Cát Phượng, Hướng Dương.
Tên bé trai theo mùa hạ: Hạ Vũ (mưa mùa hạ); Khởi Hạ (sự bắt đầu của mùa hạ); Quang Hạ (ánh nắng mùa hạ), Thái Dương (ánh mặt trời rực rỡ); Nam Phong (ngọn gió phía nam, gió mùa hạ)
Mùa thu đem đến cảm giác tươi sáng, nhẹ nhàng, lãng mạn. Đây là mùa có ngày Quốc khánh, ngày lễ vui và thiêng liêng của cả đất nước, mùa có trăng tròn đầy và viên mãn nhất:
Tên bé gái theo mùa thu: Hương Thu (hương thơm mùa thu); Diễm Thu (mùa thu đẹp); Hoài Thu (mùa thu thương nhớ); Minh Thu (mùa thu trong sáng); Bích Thu (mùa thu xanh)
Tên bé gái theo hiện tượng mùa thu: Thùy Vân (đám mây diêu bồng); Minh Nguyệt (ánh trăng sáng trong); Thu Nguyệt (ánh trăng mùa thu); Thu Thủy (làn nước mùa thu);
Tên bé gái theo loài hoa mùa thu: Thạch Thảo, Hoàng Cúc, Thanh Cúc, Hồng Cúc, Họa Mi, Vân Anh, Trúc Đào.
Tên bé trai theo mùa thu: Quốc Khánh (ngày vui của đất nước); Thanh Phong (ngọn gió mát màu thu); Vĩnh Thu (mùa thu dài bất tận)
Ấn tượng về mùa đông luôn là sự giá băng, lạnh lẽo. Vì thế, những cái tên liên quan đến các loài cây mạnh mẽ, chịu được sương gió bão tuyết cực kì thích hợp để đặt tên cho các bé trai. Những hiện tượng thiên nhiên lãng mạn như băng , tuyết cũng rất hợp để đặt tên cho bé gái:
Tên bé gái theo mùa đông: Đông Vy, Quỳnh Đông, Đông Nhi, Đông Phương
Tên bé gái theo hiện tượng mùa đông: Thanh Băng, Tuyết Nhi, Băng Di, Tuyết Ngọc, Tuyết Mai, Hải Băng, Ngọc Tuyết, Hàn Thư, Tuyết Vân, Hàn Nhi, Băng Tâm, Hàn Thanh, Khánh Băng, Minh Tuyết.
Tên bé trai theo mùa đông: Huỳnh Đông, Quang Đông, Hải Đông, Chí Đông, Giang Đông, Thụy Đông, Khả Đông.
Tên bé trai theo loài cây mùa đông: Hoàng Bách, Sơn Bách, Lâm Tùng, Thanh Tùng, Đức Tùng, Danh Tùng, Hoàng Thông, Huy Thông,
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Hiện tượng: Nếu bố cục trong nhà trong cùng một không gian và trên cùng một bức tường mà có thể đi vào từ cửa này và đi ra từ cửa kia, có thể đi một vòng tròn là trở lại được vị trí ban đầu, đây chính là Hồi phong sát. Loại sát này có thể làm cho khí trường trong nhà bị rối loạn, không tụ khí, đối với sức khỏe người trong nhà vô cùng bất lợi.

Phương pháp hóa giải:
Phương thức hóa giải triệt để nhất là bịt kín một cửa lại, cần ghi nhớ nếu có thể dùng gạch lấp lại là hóa giải tốt nhất, nếu không thể dùng gạch thì cũng phải dùng tấm gỗ bịt trong và ngoài cửa lại mới được. Nếu chỉ đóng cửa không bao giờ mở thì cũng không thể hóa giải được. Nếu là nhà thuê không thể bịt cửa lại thì bạn có thế dùng chuỗi đồng tiền Ngũ Đế treo nơi ngưỡng cửa để hóa giải.
| ► Lịch ngày tốt gửi đến bạn đọc công cụ xem bói tử vi chuẩn xác theo ngày tháng năm sinh |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
| ► Xem bói ngày sinh để biết tình yêu, hôn nhân, vận mệnh, sự nghiệp của mình |
![]() |
Con người sống trên đời cứ mải miết đắm mê nhặt nhạnh thật nhiều của cải mà không để ý rằng một khi nhắm mắt xuôi tay chẳng thể nào mang theo được. Mà cái đi theo người ta đó là chữ Nghiệp báo ứng cho đời sau. Biết được vậy khi còn sống nên xả bỏ dục vọng, tìm giải thoát mọi muộn phiền thế tục.
Thuở xưa có hai anh em cha mẹ mất sớm, để lại một gia sản to lớn. Không hiếu dưỡng được song thân, họ rất buồn tiếc…
Thời gian vùn vụt trôi, hai anh em từ chí hướng đến ý thích khác biệt nhau rất xa. Người anh thì mến đạo nghĩa, thường làm việc thiện như bố thí của cải, do đó gia sản càng ngày càng tổn giảm; còn người em thì mê tài sản, trổ tài mánh lới làm các thứ kinh doanh, nên gia sản càng ngày càng tăng thêm. Vì thế, người em rất bất mãn đời sống của anh mình. Một hôm, không chịu đựng được nữa, người em gọi anh ra lên mặt dạy dỗ:
“Anh em chúng ta bất hạnh nên cha mẹ mất sớm. Cha mẹ để lại gia tài cho chúng ta, chúng ta làm con, thì phải nhớ nghĩ đến từ tâm của cha mẹ, mau mau nỗ lực làm ăn buôn bán để giữ gìn và phát triển cái vốn gia sản sẵn có ấy khiến hương hồn của cha mẹ ở cõi trời được an ủi, thế mới đúng đạo làm con.
Đằng này, anh từ sáng tới tối cứ lo chạy theo mấy ông sa môn xuất gia để nghe kinh Phật, không lẽ mấy ông ấy có thể cho anh áo quần tiền tài hay sao? Gia đình anh càng ngày càng nghèo khó, tài sản càng ngày càng hao hụt, không những có lỗi với hương hồn cha mẹ mà còn làm cho làng xóm chê cười”.
Người anh ôn tồn trả lời: “Những gì chú nói, anh đã biết rõ hết, nhưng đó chỉ là những ý nghĩ thiển cận của thế tục. Chú nghĩ rằng mình phải bảo trì và khuếch trương sản nghiệp của cha mẹ mới là tận hiếu. Nhưng anh thì hoàn toàn không nghĩ như chú. Làm như thế chẳng qua chỉ cho chú có thêm điều kiện hưởng thụ, chứ vong hồn cha mẹ được lợi ích gì trong đó?
Còn anh thì lại lo giữ ngũ giới một cách nghiêm chỉnh, chuyên cần thực hành mười điều thiện, cúng dường Tam Bảo, lấy đạo cả mà cứu cha mẹ, khiến hương hồn cha mẹ được xa lìa nẻo khổ mà sinh về đường thiện, dần dần tiến đến chỗ giải thoát vĩnh hằng, đây mới là con đường báo hiếu chân chính.
Đạo và đời vốn tương phản nhau, cái mà đạo cho là sung sướng và quý giá thì đời lại chê là thấp hèn. Những gì chú cho là khoái lạc hôm nay, chính là gốc rễ của phiền não về sau. Anh không muốn đuổi theo những khoái lạc huyễn ảo như thế, cái khoái lạc mà người có trí huệ mong cầu là cái khoái lạc vĩnh hằng kìa!”
Người em nghe anh nói, cảm thấy mình không có lý lẽ để tranh cãi nhưng trong tâm thì không phục, bèn nén giận cúi đầu.
Người anh biết em mình không thể nói một lần mà hiểu, bèn phát biểu tâm chí muốn cầu học đạo của mình. Người em biết anh mình tâm đã cương quyết hướng về đạo nên im lặng, nén hận mà bỏ đi. Không lâu sau, người anh muốn cho việc học đạo của mình được chuyên tâm nên lìa bỏ gia đình, khoác y ôm bình bát làm sa môn, ngày đêm tinh tiến tu thiền, cẩn thận từng lời nói từng ý nghĩ, về sau chứng được quả A La Hán.
Người em nghe tin này, không những không vui mừng mà lòng phiền não giận hờn anh càng gia tăng thêm. Người này từ sáng đến tối lo làm ăn để tăng trưởng sự nghiệp cho đến mức đầu óc choáng váng, còn việc nhân sinh giải thoát thì không mảy may chú ý.
Cuối cùng, gia tài ức triệu nọ cũng không kéo dài được, đời sống vốn có giới hạn. Quả thật là chết đi không đem theo được bất cứ vật gì, chỉ có cái nghiệp là theo sát bên thân.
Trong lúc sống người em quá ư tham dục nên bị đọa xuống kiếp súc sinh, đầu thai làm trâu. Con trâu sinh ra mạnh khoẻ mập mạp, liền bị một người nhà buôn mua về kéo xe muối.
Kéo xe trèo dốc đường dài, lao khổ không phút nào ngừng nghỉ, con trâu mất sức, gầy mòn, mỗi lần lên dốc thở phì phò mà vẫn bị roi vọt, trông thật là thê thảm, thương tâm. Vừa đúng lúc ấy, người anh đi ngang dùng đạo nhãn quán sát con trâu, biết đây là em mình nên nói để khai mở trí huệ cho em:
“Chú một đời khổ cực, gia tài sản nghiệp chú gom góp được tính ra không biết bao nhiêu mà kể, bây giờ gia tài ấy đâu rồi? Trước kia, chú nói đạo cả là vô dụng vì không đem lại quần áo ăn uống, tiền tài mới đáng quý vì nó giúp chú thỏa mãn được mọi dục lạc. Bây giờ đạo cả lại làm cho anh giải thoát được luân hồi, chứng được quả thánh, còn tiền tài mà chú quý trọng tại sao lại không cứu chú thoát kiếp trâu mà sinh về nẻo thiện?”
Nói xong, người anh vận dụng thần thông khiến con trâu kiếp trước của mình. Con trâu tuy không nói được nhưng đau khổ rơi nước mắt, biết mình kiếp trước thấy đượcc có được thân người nhưng lại làm nhiều điều bất thiện, tham lam, ganh ghét, không tin Phật pháp, khinh chê thánh chúng, không nghe lời khuyên bảo thiện lành của anh, cho đến nỗi bây giờ đọa làm thân trâu, hối tiếc thì đã quá muộn.
Người anh biết em mình đã có tâm niệm hối hận và tự trách liền xin người chủ mua lại con trâu này, và đem mối quan hệ giữa mình và con trâu kể cho người chủ nghe. Người chủ trâu nghe xong tóc gáy dựng đứng rùng mình ghê sợ, không đòi tiền mà đem trâu dâng tặng cho người anh. Người anh dắt trâu về chùa phóng sinh, và dạy nó niệm Phật. Không lâu sau, con trâu chết đi, sinh lên cõi trời Đao Lợi.
Về sau, người chủ con trâu nghĩ đến vấn đề sinh tử luân hồi, cũng xả bỏ tất cả chuyên tâm tìm học đạo, cuối cùng được mãn nguyện, chứng được thánh quả, giải thoát phiền não.

Lấy được một người vợ tốt là may mắn lớn nhất của người đàn ông. Người vợ có đức tính này sẽ giúp đàn ông trọn đời viên mãn.
Có câu nói rằng: Nhất đại vô hảo thê, thập đại vô hảo tử, tức là một đời vợ không tốt, mười đời con kém cỏi. Danh từ “hiền thê” (người vợ tốt) này không biết đã biến mất từ khi nào, không có mấy ai định nghĩa được nữa.
Ngày xưa, một người “hiền thê” phải gánh vác trên mình 5 thế hệ: trên hiếu với tổ tông, cha mẹ chồng, hỗ trợ chồng, dạy con cái, dạy dâu con làm vợ, làm mẹ chồng như thế nào, và cuối cùng là dạy cháu dâu. Người vợ khi về nhà chồng được xem như học trò đến lớp, sinh con ra thì trở thành cô giáo, đến lúc dạy dỗ dâu còn lại là bậc thầy, đến khi dạy cháu dâu thì đích thị chính là tổ sư gia.
Chỉ là một người, tại sao lại quan trọng đến như vậy? Ngày nay, những “hiền thê” thời hiện đại lại có một suy nghĩ rất khác biệt, họ tự đặt mình ở vị trí là những đứa con, luôn muốn tất cả mọi người phải luôn che chở cho “tôi”. Vì thế mới nói người mẹ mà không trưởng thành, con cái sẽ trở nên kém cỏi, tiếc rằng sự thật chính là như vậy.
Phụ nữ yêu một người và sẽ cưới người đó. Đàn ông yêu một người nhưng sẽ cưới người khác”.
Khi quyết định yêu ai, hầu hết phụ nữ đã quyết định đi đến hôn nhân với người đàn ông đó, được chung sống bên cạnh anh ta, được sinh cho anh ta những đứa con kháu khỉnh.
Với đàn ông, bạn đừng thấy lạ khi đa số hầu hết họ yêu chết mê chết mệt một cô nhưng lại cưới một cô khác dù rằng trong tim anh ta vẫn luôn yêu người mình ko cưới. Đơn giản, người đàn ông chọn bạn đời còn dựa vào nhiều yếu tố khác, trong đó tính cách người phụ nữ đóng vai trò quan trọng.
1. Tình yêu:
Một tình yêu sâu sắc, chân thành, chung thủy là tỏ bày cảm xúc tự nhiên về mong ước và tự làm bổn phận mà người chồng mong mỏi nơi người vợ. Thực vậy, đó là cơ sở của mối quan hệ qua lại mật thiết lâu dài và là những phương tiện sanh con đẻ cái mà vợ chồng thương yêu, trìu mến chúng khi còn sống. Nơi đây tình yêu không chỉ giới hạn vào sự gắn bó do luyến chấp (prema) mà đó là đức tính mong muốn hạnh phúc cho người chồng.
Bao giờ cũng chăm chú, lưu tâm, chuyên cần cũng như quan tâm không ngăn ngại tới nhu cầu của người chồng.
Ngoài bổn phận chu toàn nhiệm vụ và trách nhiệm trong gia đình, người vợ cũng phải trân trọng gia đình thân quyến bên chồng, coi gia đình bên chồng cũng như gia đình của chính cha mẹ mình.
Trung thành và quyết tâm kết hợp với sự trong trắng của người vợ. Điều nay cũng bao hàm lòng tin cẩn và người vợ luôn luôn tận tâm với người chồng.
Tình mẫu tử là nền móng của tất cả tình yêu trên thế giới. Là một người mẹ tận tâm, người vợ do bản năng làm mẹ, không nề nguy hiểm để bảo vệ đứa con duy nhất của mình.
Được giao trọng trách quản lý gia đình, người vợ phải xem việc tiêu pha trong gia đình để bảo vệ ngân quỹ gia đình do người chồng kiếm được. Để làm tròn nhiệm vụ này, người vợ phải tiết kiệm chi tiêu và thực hành cần kiệm, thậm chí đến mức tần tiện.
Là người chủ trong gia đình, bổn phận người vợ là phải sửa soạn thức ăn bổ dưỡng cho gia đình. Bữa cơm hàng ngày trong gia đình rất quan trọng vì nó phát triển thiện chí và tình đoàn kết.
Khi người chồng trở về gia đình trong tình trạng bị khích động, người vợ phải biết tỏ ra dịu dàng để đem an lạc, an ủi cho người chồng. Điều này sẽ làm dịu tình thế.
Ngoài việc chứng tỏ cảm nghĩ thân ái, dịu dàng của mình, người vợ nên có một tính tình duyên dáng, lúc nào cũng vui tươi, hớn hở và dễ thương.
Cổng đóng một vai trò quan trọng trong phong thủy của ngôi nhà, vì đây là nơi đầu tiên tiếp nhận dòng khí tốt hoặc xẩu vào trong ngôi nhà.
Trong một số trường họp, vì nhiều yếu tố bạn không thể lựa chọn vị trí đẹp nhất cho cổng và phải chấp nhận việc cổng chính nằm hướng xấu.

Sau đây là một số hướng không tốt cho việc đặt cổng chính cũng như gợi ý một số cách hóa giải những điểm xấu mà nó mang lại:
Cổng hướng về phía Bắc:
Theo phong thủy, cổng nằm ở hướng Bắc là không tốt, vì hướng Bắc là nơi phát ra gió lạnh. Loại cổng này có hại đối với sức khỏe của toàn thể gia đình. Ngoài ra còn làm cho quan hệ giữa vợ chồng, con cái lạnh nhạt. Nếu tình trạng này diễn ra lâu dài bao trùm toàn bộ không khí gia đình, chắc chắn sẽ tạo ra những tai họa nghiêm trọng.
Cách khắc phục:
Bạn có thể đặt một bức bình phong sau cửa nhà, hoặc treo rèm sau cánh cửa. Như vậy bạn có thể ngăn không cho không khí lạnh vào trong nhà, những con gió độc cũng sẽ ít hơn.
Cổng hướng về hướng Đông Bắc:
Đông Bắc là hướng của quỷ, do đó còn được gọi là quỷ môn. Trong phong thủy, điều kiêng kị nhất là không được đặt cổng ở trong quỷ môn. Nhà hướng này làm cho người sống trong đó có cảm giác mờ mịt, bất an.
Cách khắc phục:
Tại hai bên cánh cổng bạn có thể dán những hình xua đuổi ma quỷ, như thế sẽ có tác dụng đuổi tà. Ngoài ra, còn có thể dán nhiều tranh ảnh ở hành lang, đó có thể là những bức tranh phong cảnh màu sắc sặc sỡ hoặc những vật tương tự để tạo ra một không khí thanh thoát tươi tắn, đồng thòi biến khí âm thành dương. Cần chú ý giữ sạch sẽ khô ráo cho khu vực cửa, như thế có thể ngăn chặn giảm thiểu tối đa xảy ra những tai họa.
Cổng hướng về phía Đông bị trũng:
Cổng hướng về phía Đông, về cơ bản hầu như không xảy ra tai họa gì nghiêm trọng. Nhưng nếu cổng bị trũng, lõm thì sẽ không tốt. Nó sẽ khiến cho người sống trong nhà có cảm giác thiếu sinh khí, từ đó dễ sinh bệnh.
Cách khắc phục:
Trong trường hợp này tốt nhất chúng ta nên đặt những cây tùng hoặc mai ở hai bên cửa, tận dụng tinh khí mà trong quá trình sinh trưởng và phát triển của cây tạo ra để bổ sung cho năng lượng sống của gia đình.
Cổng hướng về phía Đông Nam bị trũng:
Trong phong thủy, cổng quay về hướng Đông Nam là may mắn, nhưng nếu là cổng trũng thì sẽ tạo ra tác dụng ngược lại.
Cách khắc phục:
Bạn có thể đặt một số chậu hoa cỏ ở trước cửa hoặc trong cửa có thể trang trí những sản phẩm bằng thạch anh hoặc bằng tre, trúc. Như vậy là bạn có thể đạt được mục đích tiêu trừ những hậu quả xấu.
Cổng quay về hướng Nam:
Cổng quay về hướng Nam cần đặc biệt chú ý không để cho phía bên trong cửa tối tăm. Theo phong thủy, đây là hướng sáng, vì vậy giữ cho nơi đây đầy đủ ánh sáng là rất quan trọng.
Cách khắc phục:
Không cần đặt các thiết bị ánh sáng ở khung cửa, trong cửa tốt nhất nên sử dụng các hình điêu khắc để trang trí, đồng thời tôn thờ thần linh theo tín ngưỡng của mình, như thế có thể phát huy được hết hiệu quả. Ngoài ra, do hướng Nam là biểu trưng cho danh dự, tài cán, vì thế phải giữ gìn sạch sẽ, quang đãng.
Cổng quay về hướng Tây Nam:
Giống như hướng Đông Bắc, hướng Tây Nam cũng bị coi là hướng xấu trong quỷ môn. Những hướng này nếu như giải quyết không hợp lý sẽ tạo ra tà khí, ngoài ra rất dễ gây tụ khí ẩm ở đây và tạo ra một môi trường ẩm ướt và lạnh lẽo.
Cách khắc phục:
Để giải quyết những ảnh hưởng không tốt này, chúng ta cần phải sử dụng các biện pháp để tiêu trừ những khí ẩm ướt và lạnh lẽo đó. Bạn có thể bày một số chậu hoa, hoặc treo những bức tranh dân gian xua đuổi tà ma. Ngoài ra, bạn cũng có thể trang trí thêm một số đồ trang trí làm bằng thạch anh hoặc bằng ngọc để tăng thêm tác dụng.
Cổng quay hướng về phía Tây lõm vào trong
Nếu như cổng quay về hướng này mà lõm vào phía bên trong, sẽ mang đến những hậu quả không tốt. Không những bạn không đạt được tài vận, mà thậm chí đến tiền tích góp, tiết kiệm cũng có thể tiêu tan.
Cách khắc phục:
Trong trường họp này, cách tốt nhất là sử dụng bình phong hoặc rèm cửa để chặn lại. Ngoài ra trên bề mặt các vật dụng trong gia đình bạn nên có các hình khắc. Điều này thể hiện tiền tiết kiệm trước kia của bạn không tiêu tan mà còn có thể khiến cho vận may đến với bạn.
![]() |
| Ảnh minh họa |
Theo phong thủy, rồng, hổ, ngựa là những những biểu tượng lâu đời và có sức mạnh nhất trong 12 con giáp. Nếu treo đúng cách, tranh phong thủy sẽ đem đến nhiều may mắn, tài lộc cho gia chủ. Ngược lại, bạn và gia đình sẽ gặp nhiều điều không tốt trong cuộc sống nếu phạm phải những điều kiêng kị khi treo tranh.
Tranh con Hổ
Theo quan niệm Á Đông, hổ là biểu tượng của phẩm giá, vinh quang sức mạnh, lòng nhiệt huyết và quả cảm. Tranh con hổ được coi là biểu tượng nhằm xua đuổi những điều bất hạnh trong gia đình như ma quỷ, lửa hoặc trộm cướp. Khi treo tranh hổ, bạn cần chú ý những điều sau:
- Không treo tranh có đầu hổ hướng về phía trong nhà bởi điều đó ám chỉ hổ đang chuẩn bị săn mồi. Nên đặt đầu hổ hướng ra phía ngoài nhà hoặc cửa chính.
- Không treo ở khu vực có nguồn năng lượng thấp, ví dụ phòng tắm, nhà kho, ga ra. Thay vào đó, nên đặt tranh gần những nơi có không gian mở.
- Không đặt tranh quá cao hoặc quá thấp so với tầm mắt. Đặt tranh quá cao sẽ tạo ra quá nhiều năng lượng so với mức cần thiết, đặt thấp thể hiện sự thiếu tôn trọng.
- Không có quá 5 bức tranh hổ trong nhà.
- Khi treo tranh, hãy dán một mảnh giấy đỏ kích cỡ khoảng 1 đồng đô la lần lượt vào đầu và đuôi con hổ. Thực hiện vào buổi trưa và đồng thời lẩm nhẩm trong đầu: “Thưa Đức Phật, xin Người hãy dẫn hổ quay lại chỗ mà nó tới. Từ giờ trở đi, bức tranh này chỉ là một tác phẩm nghệ thuật”.
- Tránh chụp ảnh với hổ, bất kể là hổ thật hay chỉ trong các tác phẩm nghệ thuật (tranh vẽ, tượng điêu khắc…) Nếu đã lỡ chụp, hãy cắt phần ảnh chứa con hổ và đốt đi. Nếu không, bạn có thể bị bệnh.
Tranh con Rồng
Theo truyền thuyết, rồng xanh, cùng với rùa đen, hổ trắng, phượng hoàng đỏ tạo nên thế giới và chia bầu trời thành bốn góc. Mỗi con vật cai quản một hướng, trong đó rồng chiếm giữ góc phần tư phía đông.
Rồng là loài vật quyết đoán, thông minh và mạnh mẽ. Tranh con rồng biểu trưng cho trí tuệ, vận may, sức mạnh, tài lãnh đạo, lòng nhân từ. Tuy nhiên, nếu tranh đặt không đúng, rồng sẽ trở nên giống rắn, hung bạo vào xấu xa. Bạn hãy chú ý những điểm sau:
- Không nên đặt đầu rồng hướng ra ngoài bởi điều đó có nghĩa người trong nhà luôn muốn ở bên ngoài thay vì ở nhà.
- Tranh con rồng đặt ở phía bên phải ngôi nhà có thể gây ra nhiều tranh cãi trong gia đình. Nên đặt tranh ở tường phía Đông.
- Không treo gần hoặc trong phòng tắm.
- Không nên cuộn hoặc cất tranh vào một góc nào đó.
- Giống như tranh con hổ, bạn nên gắn một mảnh giấy màu đỏ kích cớ đồng 1 đô la lần lượt vào đầu và đuôi con rồng. Thời gian lý tưởng nhất để thực hiện là từ 7 giờ đến 9 giờ sáng ngày mùng 3, mùng 6 và mùng 9 âm lịch.
- Không nên treo quá 5 bức tranh rồng trong nhà. Rồng sẽ tiếp thêm năng lượng cho chủ nhân ngôi nhà, khiến họ luôn khao khát làm việc và tiến về phía trước. Tuy nhiên, quá nhiều năng lượng dễ khiến tâm lý con người bị kích động, bồn chồn, khó thư giãn. Thành công đạt được dễ phải đánh đổi bằng sức khỏe của cá nhân và gia đình.
Tranh con Ngựa
Từ lâu ngựa đã được coi là loài vật quý tộc trong văn hóa Á Đông. Ngựa tượng trưng cho tốc độ, sự bền bỉ, tự do, sức mạnh và lòng quả cảm. Tranh ngựa tượng trưng cho nhân tố thứ 5 trong phong thủy là lửa, do chứa nhiều năng lượng dương nên sẽ làm tăng vận may, mang tới danh tiếng, địa vị cho gia chủ.
- Không nên treo tranh chỉ có một con ngựa, đặc biệt với những gia đình kinh doanh. Điều đó ngụ ý bạn bị mất phương hướng, “đơn thuơng độc mã” trong việc làm ăn, không được các nhân viên ủng hộ.
- Ngựa phi nước đại được coi là sẽ mang nhiều dương khí tới gia đình bạn. Tuy nhiên nên tránh tranh vẽ nhiều con ngựa chạy phi nước đại về phía ngược nhau. Điều đó ám chỉ xung đột giữa các thành viên trong gia đình.
- Nên tránh treo tranh ngựa chiến hoặc những con có hình dáng bất thường, thể hiện cảm xúc giận dữ. Thay vì chọn các sắc lạ như đỏ, xanh lá, xanh nước biển, nên chọn ngựa có màu đen, nâu hoặc trắng.
- Không treo tranh tại các khu vực sau: gần/ đối diện cửa hướng ra ngoài đường, phòng tắm, bếp; sảnh chờ đối diện với kho hang tại công ty
- Luôn luôn treo tranh với đầu ngựa hướng về phía trong nhà. Nếu làm ngược lại, nó sẽ ảnh hưởng xấu tới vận may tài lộc của bạn, ví dụ như chi tiêu nhiều hơn thu nhập, nhiều khoản nợ chồng chất, buôn bán thua lỗ…
- Nên treo tranh ở phía Nam, Đông Nam của ngôi nhà, đối diện cửa ra vào hoặc cửa sổ.
- Không treo tranh trong phòng ngủ bởi nguồn năng lượng mạnh mẽ từ con vật này sẽ khiến không gian cho việc thư giãn, nghỉ ngơi bị xáo trộn. Thay vào đó, bạn nên treo tranh tại những khu vực chính trong nhà như phòng khách, sảnh chính…
Hướng kê giường trong phòng ngủ
– Năm sinh âm lịch: Tân Mão
– Quẻ mệnh: Tốn Mộc
– Ngũ hành: Tùng Bách Mộc (Gỗ tùng bách)
– Thuộc Đông Tứ Mệnh, nhà hướng Tây, thuộc Tây Tứ Trạch
– Hướng tốt: Bắc (Sinh Khí); Đông (Diên Niên); Đông Nam (Phục Vị); Nam (Thiên Y);
– Hướng xấu: Tây Bắc (Hoạ Hại); Đông Bắc (Tuyệt Mệnh); Tây Nam (Ngũ Quỷ); Tây (Lục Sát);Bếp nấu cũng là một yếu tố rất quan trọng, vì mọi bệnh tật, vệ sinh đều sinh ra từ đây.

Phòng ngủ:
Vị trí phòng ngủ trong nhà và vị trí giường ngủ trong phòng ngủ nên ưu tiên ở hướng tốt (các hướng Sinh Khí, Thiên Y, Diên Niên, Phục Vị)
Gia chủ mang mệnh Mộc, Thủy sinh Mộc, nên hướng giường nên quay về hướng thuộc Thủy, là hướng Bắc;
Nếu tính cho các phòng ngủ của các thành viên khác trong gia đình, thì cần tính hành ứng với mỗi thành viên.
Màu sơn trong phòng ngủ, màu sắc rèm cửa nên sử dụng màu Xanh dương, Đen, đây là màu đại diện cho hành Thủy, rất tốt cho người hành Mộc.
Tủ quần áo nên kê tại các góc xấu trong phòng để trấn được cái xấu, là các góc Ngũ Quỷ, Hoạ Hại, Lục Sát, Tuyệt Mệnh.
Giường ngủ cần tránh kê dưới dầm, xà ngang, đầu giường tránh thẳng với hướng cửa mở vào, thẳng với hướng gương soi.
| ► Lịch ngày tốt gửi tới độc giả công cụ: Xem phong thủy chuẩn xác để đón lành tránh dữ |
![]() |
Trên thế gian này không thể có việc cố ý chiếm đoạt lợi ích của người khác, “nợ tiền đền tiền, nợ mạng đền mạng” tuyệt đối không có lý để trốn thoát.
Xưa có một người làm việc trong cung hoàng tử tên là Đông Ngạc Lạc được phái đến vùng Mã Nạp Tư, thuộc quyền cai quản của nước Ô Lỗ Mộc Tề (ngày nay là Ürümqi – thủ phủ khu tự trị Tân Cương).
Anh ta quyết định đi vào ban đêm để tránh cái nóng oi bức. Giữa đường đến Ô Lỗ Mộc Tề, anh nằm nghỉ một chút cạnh một gốc cây. Đang thiu thiu ngủ thì có một người đàn ông đến gặp anh, tự giới thiệu mình là Lưu Thanh, cấp dưới của Trần Trúc Sơn. Sau một hồi lâu nói chuyện, Lưu Thanh có một thỉnh cầu: “Anh làm ơn có thể chuyển lời nhắn tới người đầy tớ tên Hỉ Nhi ở phủ quan Trần Trúc Sơn là trả tôi 300 đồng vì tôi đang trong cảnh túng thiếu”.
Ngày hôm sau khi tới nơi, Đông Ngạc Lạc thấy Hỉ Nhi và chuyển lời nhắn tới anh ta. Hỉ Nhi đổ mồ hôi đầm đìa và khuôn mặt đầy nét sợ hãi. Đông Ngạc Lạc thắc mắc và hỏi anh ta có chuyện gì xảy ra. Hỉ Nhi đáp: “Lưu Thanh đã chết vì bệnh từ lâu rồi”.
Chuyện là Trần Trúc Sơn thấy Lưu Thanh làm việc chăm chỉ và thận trọng khi còn sống nên đã ban thưởng 300 đồng cho anh ta sau khi chết, sau đó ông nhờ Hỉ Nhi chuẩn bị tiền giấy và cúng tế Lưu Thanh để tỏ lòng kính trọng. Hỉ Nhi biết rằng Lưu Thanh không có họ hàng thân thích để cúng viếng nên đã biển thủ tiền bạc, nghĩ rằng sẽ không ai phát hiện ra. Nhưng giờ đây, Hỉ Nhi bị một hồn ma yêu cầu trả nợ.
Trần Trúc Sơn không bao giờ tin vào chuyện nhân quả cho tới khi nghe tin này. Ông nói trong sự sợ hãi: “Những gì Lưu Thanh nói không thể là dối trá và nó hoàn toàn là sự thật. Tôi từng tin rằng người ta sợ bị bắt khi làm điều xấu nên chỉ làm nếu không ai phát hiện ra. Tới bây giờ tôi mới biết việc cho rằng ma quỷ không tồn tại là sai lầm. Với những ai đã làm điều xấu, thật lo lắng cho những ai làm điều xấu”.
Có một nguyên lý bất hủ rằng: “Nợ tiền đền tiền, nợ mạng đền mạng”. Chỉ có một cách duy nhất để những ai đã phạm phải điều xấu thoát khỏi sự trừng phạt nhân quả, đó là hối cải.
1. Bạn thuận tay:
a. Phải.
b. Trái.
Điều này nói lên, bạn là người:
a. Logic, bạn có khả năng phân tích và hành động theo lý trí.
b. Rất khéo léo, bạn hành động theo trực giác và đầy sức sáng tạo.
2. Các ngón tay của bạn:
a. Ngắn.
b. Trung bình.
c. Dài.
Móng tay lên tiếng, cảm xúc trong bạn thường là:
a. Hơi nhút nhát nhưng cũng mạnh mẽ đến không ngờ! Nguồn năng lượng trong bạn ảnh hưởng mạnh mẽ (theo hướng tích cực lẫn tiêu cực) đến cuộc sống của bạn.
b. Thoải mái và thật đơn giản. Bạn không quá chú tâm vào một vấn đề gì.
c. Kết quả của sự suy nghĩ chín chắn. Bạn sẵn sàng đợi đến giây phút cuối cùng, bạn không bao giờ hành động một cách vội vã.
|
|
| (Ảnh minh họa) |
Người tuổi Mão cũng cần chú ý đến những "vệ tinh" xung quanh mình. Trong số đó, một vài người chỉ có thái độ đùa cợt với tình yêu. Vì vậy, họ phải lựa chọn cẩn thận để tránh bị tổn thương về tình cảm.
Trang phục làm tăng sức hấp dẫn của người tuổi Mão là những bộ đồ màu nâu hoặc tím để tạo sự chín chắn, mang theo vẻ đẹp bí ẩn, lôi cuốn. Họ cũng nên sử dụng nước hoa để tôn thêm sự quý phái.
Theo phong thủy, một số đồ vật đem lại may mắn và tình yêu cho người tuổi Mão như sau: hoa hoa hồng, quả đào, ngọc phỉ thúy.
(Theo Bách khoa toàn thư 12 con giáp)
Từ cổ chí kim mặt trăng luôn là nguồn cảm hứng bất tận cho các thi nhân cho nên người có Thái Âm thủ Mệnh thường mang tính đa sầu, đa cảm. Chúng ta sẽ đi vào chi tiết hơn bản chất của mỗi sao trước khi có cái nhìn khái quát về mẫu người Nhật Nguyệt Đồng Lâm.
Thái Dương thuộc nam đẩu tinh, hành Hỏa, miếu địa ở Tỵ, Ngọ tức là mặt trời vào lúc giữa trưa, và vượng địa ở Dần, Mão, tức là mặt trời lúc bình minh. Ở 4 vị trí trên, Thái Dương chủ về sự thông minh, lòng nhân đức, tài lộc và uy quyền. Thái Dương rất hợp với người Dương
Thái Âm thuộc bắc đẩu tinh, hành Thủy, miếu địa ở Dậu, Tuất, Hợi, là lúc mặt trăng tỏa sáng nửa đêm, vượng địa ở hai cung Thân (lúc trăng mới mọc), và Tí (lúc trăng sắp tàn)
Ở những vị trí miếu vượng, Thái Âm là sự nhân từ, tánh đa sầu, đa cảm và lãng mạn, có khiếu về văn chương, nghệ thuật. Đồng thời Thái âm cũng chủ sự giàu có về điền sản như nhà cửa, đất đai…Thái Âm đặc biệt phò trì cho người Âm Nam, Âm Nữ, những người mạng Mộc, Thủy, và người sinh vào ban đêm, nhất là sinh vào những đêm trăng tròn 15, 16 thì càng tuyệt hảo.
Trong cơ thể, Nhật Nguyệt tượng trưng cho đôi mắt. Trong gia đình, Thái Dương là ông, là cha, là chồng, Thái Âm là bà, là Mẹ, là vợ…Điều này rất rõ khi cung hạn có Nhật hay Nguyệt tọa thủ thì những gì xảy ra trong hạn đó không những là cho chính bản thân của mình mà còn nói lên những sự việc xảy ra cho chồng, cho vợ, cha mẹ, ông bà của đương số nữa. Sự biểu tượng này cũng nói lên tình cảm hay sự gần gũi mật thiết trong cuộc sống giữa người con đối với cha hay mẹ. Chẳng hạn, khi chúng ta thấy lá số của một người có Thái Dương thủ Mệnh thì người này chịu ảnh hưởng tánh tình của cha nhiều hơn, có thể sẽ nối nghiệp cha, hoặc có thể vì hoàn cảnh, đương số sẽ sống gần gũi và hợp với cha nhiều hơn là với mẹ.
Khi nói đến hai sao Nhật Nguyệt, khoa Tử Vi có một nguyên tắc mà chúng ta thường nghe là: “Chính bất như chiếu” nghĩa là: Nhật Nguyệt chiếu Mệnh tốt hơn thủ Mệnh. Điều này nghĩ cũng hợp lý, rất thực tế. Chẳng hạn như chúng ta đặt một ngọn đèn ngay trước mặt mà đọc sách thì ánh sáng chiếu trực tiếp vào mắt sẽ làm cho mắt bị chói và mau mỏi mệt hơn là để ngọn đèn chiếu lên chụp đèn, hay chiếu vào tường rồi phản chiếu vào trang sách.
Chúng ta sẽ thấy rõ ràng hơn khi đi sâu vào trường hợp Nhật Nguyệt đồng cung. Trong 12 cung của lá số, bộ Nhật Nguyệt chỉ đồng cung ở hai vị trí Sửu, Mùi tạo nên một mẫu người khá đặc biệt gọi là mẫu người Nhật Nguyệt Đồng Lâm.
Nhật Nguyệt Đồng Lâm cũng giống như hiện tượng Nhật Thực, Nguyệt Thực. Nghĩa là trong một khoảng thời gian nào đó, mặt trời, mặt trăng, và trái đất cùng ở một đường thẳng. Như chúng ta đã thấy, khi Nhật Thực hay Nguyệt Thực thì mặt trăng che mặt trời hoặc mặt trời che mặt trăng, cho nên ánh sáng mờ mờ ảo ảo, ngày chẳng ra ngày, đêm cũng không giống đêm. Đó chính là nét đặc thù đầu tiên của mẫu người Nhật Nguyệt Đồng Lâm.
“Những người bất hiễn công danh Cũng bởi Nhật Nguyệt đồng tranh Sửu Mùi.”
Ý nghĩa thật qúa rõ ràng: Những người có Mệnh an tại Sửu/Mùi, có Nhật Nguyệt tọa thủ thì một đời công danh cũng như sự nghiệp khó lòng được như ý. Ngoại trừ một vài trường hợp đặc biệt mà chúng ta sẽ bàn đến sau.
Mệnh an tại Sửu/Mùi có Nhật-Nguyệt đồng thủ, mặc dù không phải là những vị trí miếu vượng của Nhật-Nguyệt nhưng cũng là người khá thông minh vì đó là bản chất thuần túy của vầng Nhật-Nguyệt. Tuy nhiên vì hai nguồn ánh sáng nằm cùng với nhau cho nên Nhật-Nguyệt tự che lấy ánh sáng của nhau như đã nói ở trên. Vì vậy người Nhật Nguyệt Đồng Lâm có trí nhớ kém và thường hay có những quyết định lầm lẫn, mãi cho đến khi việc đã xong, quay mình nhìn lại thì mới thấy ân hận tại sao lúc đó mình làm như vậy. Nhật-Nguyệt là biểu tượng của ngày và đêm, và cũng là biểu tượng của Âm và Dương trong vũ trụ cho nên người có NN thủ hay chiếu Mệnh thường có năng khiếu về ngành điện tử, điện toán, vi tính v.v…
Nhật - Nguyệt đồng cung cũng như Nhật Thực, Nguyệt Thực là khoảng thời gian mà ánh sáng và bóng tối hòa lẫn với nhau, trắng đen lẫn lộn, và như chúng ta thường gọi là lúc tranh tối tranh sáng. Bởi thế, người Nhật Nguyệt Đồng Lâm thần kinh dễ bị suy yếu, hay bị những chứng nhức đầu kinh niên, căng thẳng thần kinh, dễ bị xúc động, và chắc chắn một điều là hai mắt kém, có nhiều bệnh tật khi còn bé.
Riêng đối với phái nữ, người Nhật Nguyệt Đồng Lâm mỗi lần có kinh nguyệt thường bị đau bụng dữ dội hơn những người khác. Và họ thường hay bị những chứng bệnh mà đông y gọi là bệnh khí huyết.
Nếu nói như vậy, Mệnh có Nhật-Nguyệt đồng thủ tại Sửu/Mùi thì đây không phải là một cách tốt, ngoại trừ những trường hợp đặc biệt như sau:
1.Mệnh có Nhật Nguyệt tọa thủ tại Sửu/Mùi mà có Tuần án ngữ, và được các văn tinh như Xương Khúc, Khôi Việt, Quang Quí, Thai Tọa, Đào Hồng Hỷ hội hợp thì trở nên tốt. Đây là số của những nhà văn, nhà thơ, nhà báo, những người làm ngành truyền thông, hay là giới văn nghệ sĩ danh tiếng và có địa vị trong giới văn chương, nghệ thuật.
2.Mệnh có Nhật Nguyệt đồng thủ tại Sửu Mùi, có Hóa Khoa, Hóa Lộc đồng cung hay xung chiếu, hay hợp chiếu thì lại trở nên tốt đẹp. Công danh sự nghiệp vững vàng, có quyền cao chức trọng trong xã hội.
Tóm lại, ngoài hai trường hợp vừa nêu trên, Nhật Nguyệt Đồng Lâm ở Sửu/Mùi thì cuộc đời cũng được cơm no áo ấm nhưng đây là mẫu người bất đắc chí, có khả năng mà không gặp được thời vận điển hình như nhà thơ Tú Xương ngày trước.
Cũng là Nhật-Nguyệt đồng cung, nhưng đúng với nguyên tắc căn bản mà chúng ta đề cập ở trên “Nhật Nguyệt chiếu Mệnh tốt hơn thủ Mệnh” Như vậy nếu Mệnh an ở Sửu được NN đồng cung ở Mùi xung chiếu thì chắc chắn tốt hơn Nhật-Nguyệt tọa thủ tại Mệnh. Và phú Tử Vi cũng khẳng định điều này: “Nhật Nguyệt đồng Mùi, Mệnh an Sửu, hầu bá chi tài.” Trong trường hợp này nếu Mệnh có Tuần án ngữ để giữ ánh sáng của Nhật-Nguyệt, và có Hóa Kỵ thủ Mệnh như vầng mây ngũ sắc làm tăng thêm độ sáng cho Nhật-Nguyệt. Được cách này, công danh phú quý càng rực rỡ và bền vững hơn.
Như vậy, khi nói đến mẫu người Nhật Nguyệt Đồng Lâm, chúng ta phải phân biệt 2 trường hợp. Nếu Nhật-Nguyệt đồng thủ Mệnh thì cuộc đời được mô tả khái quát như câu: “Những người bất hiển công danh, cũng vì Nhật-Nguyệt đồng tranh Sửu Mùi” Nếu Nhật-Nguyệt đồng cung xung chiếu Mệnh thì công danh sự nghiệp chắc chắn sẽ trong tầm tay.
Nhưng cho dù ở trường hợp nào thì mẫu người Nhật Nguyệt Đồng Lâm giống nhau ở chổ mắt yếu, nhức đầu kinh niên, thần kinh dễ rối loạn, trí nhớ kém, phái nữ thường bị đau bụng dữ dội khi hành kinh. Năng khiếu nổi bật nhất của họ là văn chương và nghệ thuật.
Họ cho rằng cầu thang chỉ là lối đi lại. Thực ra cầu thang vừa là nơi tiếp khí, chuyển khí trong nhà, mà cũng là nơi rất dễ xảy ra tai nạn. Vị trí tốt nhất cho cầu thang chính là bám sát tường.
Chẳng may cầu thang lại đối diện với cửa chính thì để tránh khi mở cửa làm nhân khí và tài khí thất thoát ra ngoài, phải treo một chiếc gương cầu lồi ở bậc thang và chỗ đối diện với cửa chính, để khí có thể phản xạ vào trong nhà, tất nhiên đây chỉ là cách cứu vãn.
Cầu thang là nơi mà khí lưu động rất nhanh, khí có thể lưu động từ tầng một lên các tầng khác, khi mọi người lên xuống cầu thang sẽ làm nhiễu loạn luồng khí mà hình thành thế đối xung. Luồng khí kỵ nhất là đi thẳng, vì vậy cầu thang nên thiết kế thoai thoải, còn về hình dáng nên làm câu thang theo kiểu xoắn chôn ốc hoặc đoạn giữa có chỗ ngoặt. Ngoài ra, nên làm bậc cầu thang bằng gỗ, như vậy có thể giảm nhẹ sự lưu động theo đường thẳng của luồng khí.

Khi thiết kế cầu thang cần chú ý hướng cầu thang theo phong thủy, cầu thang
không nên đối diện với cửa chính.
Cầu thang tránh đặt giữa nhà. Nhiều nhà thiết kế không quan tâm đến sự khác biệt giữa nhà ở và văn phòng nên đã thiết kế cầu thang ở giữa nhà. cầu thang đi qua vị trí chính giữa ngôi nhà, tức chia ngôi nhà thành hai nửa không gian, điều này sẽ làm cho trong nhà hay xảy ra tranh cãi, vợ chồng bất hoà, thậm chí phải ly tán, trong phong thuỷ cho rằng đây là tướng hung.
Cầu thang trong nhà ở thường có ba loại: thứ nhất là đoạn giữa có chỗ ngoặt (có chiếu nghỉ), thứ hai là câu thang hình xoắn chôn ốc, thứ ba là cầu thang nghiêng. Dù cầu thang được thiết kế theo kiểu nào thì chân cầu thang cũng không nên đặt ở giữa nhà, và ban công ở cuối cầu thang cũng không nên nằm ở giữa nhà.
Khoảng không dưới gầm cầu thang không nên làm phòng ăn, nhà bếp, phòng ngủ, mà chỉ có thể làm nhà kho. Có nhà để tiết kiệm không gian đã làm cầu thang rất dốc, điều này không chỉ là điều kỵ trong phong thuỷ, mà cũng không phù hợp với yêu cầu về độ an toàn. Đồng thời, cố gắng không làm bậc cầu thang bằng đá hoặc kim loại, nguyên nhân cũng như trên.
(Theo Phong thủy trong gia đình)
![]() |
![]() |
![]() |
| Tý | Sửu | Dần |
![]() |
![]() |
![]() |
| Mão | Thìn | Tị |
![]() |
![]() |
![]() |
| Ngọ | Mùi | Thân |
![]() |
![]() |
![]() |
| Dậu | Tuất | Hợi |
Alexandra V (Tổng hợp)
Phương Vị: Nam Đẩu TinhTính: ÂmHành: MộcLoại: Phúc Tinh, Thọ TinhTên gọi tắt thường gặp: Lương
Một trong 14 Chính Tinh. Sao thứ 6 trong 8 sao thuộc chòm sao Thiên Phủ theo thứ tự: Thiên Phủ, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát, Phá Quân.
Vị Trí Ở Các Cung
1. Mũi dọc dừa, cao, thẳng, không quá to, không quá nhỏ
Chủ nhân của chiếc mũi này thường là người có tính tình nhân hậu, chan hòa, biết cách đối nhân xử thế. Họ có năng khiếu nghệ thuật, nếu biết cách rèn giũa và tập luyện nhất định sẽ tỏa sáng trong tương lai.
2. Mũi nhiều nếp ngang dọc, thân mũi cao gầy, lỗ mũi hẹp, đầu mũi nhọn
Những người sở hữu chiếc mũi như thế thường có tính tình không hiền lành, trái lại còn rất đanh đá. Họ tôn thờ chủ nghĩa cá nhân, thường nghĩ về bản thân trước khi bận tâm tới quyền lợi của người khác.
3. Mũi đầy đặn, cánh mũi rộng đều từ trên xuống dưới
Những người này có tính tình không mấy nổi bật, dễ bảo, dễ kết bạn nhưng nhiều khi ba phải và không quyết đoán, không thể hiện chính kiến của bản thân.
![]() |
4. Mũi đầy đặn, cao và rộng nhưng hơi ngắn
Đây là chiếc mũi của những người có tính tình thực tế, thậm chí đôi khi hơi thực dụng, coi trọng vật chất hơn tình cảm, tham vọng và ưa quyền lực. Họ cũng là người ăn to nói lớn, có khả năng lãnh đạo và tiếng nói rất có trọng lượng trong tập thể.
5. Mũi đầy đặn, cân đối, lỗ mũi to vừa phải
Chiếc mũi này nói rằng chủ nhân là người rất thông minh, có tài về nhiều lĩnh vực, tính tình lại trung thực, thẳng thắn nên được nhiều người yêu mến.
6. Mũi thẳng nhưng hẹp ở phiá trên, đầu mũi to, lỗ mũi lộ rõ
Thường là người có tính tình phóng khoáng, cởi mở, thích giao lưu kết bạn, chân thành, nhiệt tình và rất hay giúp đỡ mọi người xung quanh nên được nhiều người yêu mến.
7. Mũi cân đối, lỗ mũi rộng
Những người sở hữu chiếc mũi như vậy thường rất thông minh, trí tuệ sáng suốt nổi bật. Nếu đem tài năng sử dụng đúng việc, đúng lúc thì sẽ đạt được những kết quả vô cùng tốt đẹp, rực rỡ.
Fon Fon
![]() |
Ngắm bàn tay, đoán tính cách Bàn tay cũng là một bộ phận được các nhà nhân tướng học rất lưu ý khi đánh giá một con người. |
Bố cục căn nhà toạ Bính hướng Nhâm: Tài vận và sức khoẻ vận tương đối bình ổn, không có thay đổi to tát.
Tài vận: Hướng Bắc của căn nhà là hướng vượng khí tài thần, nên đặt vật phong thuỷ như đồng tiền ngũ đế, tỳ hưu ở vị trí này để tăng cường tài vận.

Sức khỏe nhân đinh: Hướng Bắc của phòng khách là vị trí vượng khí của Đinh thần, đặt nồi cơm điện ở đấy cực kỳ tốt cho sức khoẻ. Ngoài ra, hướng Tây Nam của phòng khách là hướng sinh khí của Đinh thần, ta cũng có thể đặt nồi cơm điện tại vị trí này để có lợi cho sức khoẻ.
Phú là một cách quan trọng cho đời người. Vì vậy, la số Tử Vi dành rất nhiều cách, cục để nói về phú, qua các cung và rất nhiều sao. Mặt khác, thường khi phải xem cả lá số nhười phối ngẫu, vợ hay chồng, để biết tình trạng giàu nghèo nói chung của gia đình.
Về các cung, có những cung mô tả cách giàu của mình. Có cung chỉ cách giàu tiền, có cung chỉ cách giàu ruộng đất.
1. Cung Phúc đức:
Cung này chỉ tài sản của dòng họ, thường là của ông bà, xa hơn là tổ phụ
Cung Phúc tốt là điềm có di sản. Di sản mà lớn lao thì mới bảo đảm được sinh kế dễ thở lúc thiếu niên, giúp cho tuổi trẻ khỏi bị bận tâm về vấn đề sinh nhai. Mặt khác, cung Phúc tốt sẽ giúp con người có của ngay từ lúc mới chào đời. Khéo giữ của thì của đó bành trướng thêm và là yếu tố căn bản cho việc làm giàu. Người giàu nhờ di sản chẳng bao giờ bắt đầu bằng con số không. Tài sản thụ hưởng đó có ảnh hưởng trực tiếp đến tài sản do mình tạo lập về sau vì cung Phúc chiếu thẳng vào cung Tài. Vì vậy người ta nói cung phúc tốt là có của Trời cho.
2. Cung Phụ Mẫu:
Cung này chỉ tài sản của cha mẹ. Nếu có nhiều sao tốt, nhất là sao tài thì cha mẹ dư dả, có thể giúp đỡ cho mình một cách đáng kể, nhất là trong giai đoạn lập nghiệp buổi đầu. Sỡ dĩ như thế là vì cung Phụ mẫu bao giờ cũng tiếp giáp cung Mệnh, ngụ ý rằng, đương sự vốn phải sống nhờ cha mẹ, ít nhất là trong buổi thiếu thời. Nếu cung Phụ mẫu tốt thì nếp sống đó hạnh thông, giúp con người bước vào đời bằng một số vốn nào đó chứ không phải bằng hai bàn tay trắng. Mặt khác, liên hệ giữa hai cung Phụ mẫu và Mệnh còn rõ ràng hơn nếu cung Mệnh được nhị hợp với cung Phụ mẫu.
3. Cung Mệnh:
Về mặt tài sản, cung này chỉ khả năng thụ hưởng và khả năng tạo sản của mình. Nếu Mệnh tốt, đương số có triển vọng thụ hưởng sản nghiệp thừa tự và nhờ đó bành trướng thêm của cải khác.
Duy cung Mệnh không mấy quan trọng về mặt tạo sản bởi lẽ cung này ứng vào lúc thiếu niên, lúc con người đang tập sự vào nghề, đang đầu tư vào nghề nghiệp sau này, chưa đến lúc thụ hưởng lợi lộc của nghề nghiệp mang lại. Tuổi niên thiếu là tuổi tiền tiêu nhiều hơn là làm ra tiền.
Dù sao, nếu cung Mệnh có sao tốt, thì sự đầu tư có triển vọng đắc lợi về sau, hoặc là sẽ sớm có được của cải trong thời gian đang học nghề.
4. Cung Thân:
Cung Thân tượng trưng cho hậu vận, tức từ khoảng 30 tuổi trở đi. Đây mới là giai đoạn tạo sản, là thời kỳ mà nhân đắc dụng và sáng tạo nhất. Nếu Thân tốt thì tạo và hưởng được sản nghiệp, đủ nuôi thân và có thể nuôi gia đình, thân thuộc. Hơn nữa, Thân còn có thể xem là cung Tài thứ hai, vì cung Thân có ý nghĩa đa diên, bao hàm công danh, tài sản, gia đạo v..v..
Trong trường hợp Thân cư Tài, sự tạo sản sẽ tích cực hơn: con người nỗ lực xây dựng của cải, ha, kiếm tiền, bị chi phối nhiều bởi xu hướng làm giàu, thích tiền của, điền sản hơn là quyền tước, công danh. Bấy giờ, nếu cung Tài tốt, đương số dễ thành đại phú.
Trong trường hợp Thân đóng ở cung khác , những hay dở của cung này sẽ có tiếng dội trên của cải. Nếu ở cung Phu Thê, cái hay của cung này nhất định có lợi cho việc tạo của, bằng sức lực, công lao hay di sản của vợ chồng. Nếu cung Di tốt đẹp, thì bấy giờ thời thế sẽ thuận lợi cho việc làm ăn nhất là ở phương xa.
Tóm lại, cung Phúc và cung Phụ là tài sản thiên định cung Thân là tài sản nhân tạo của hiện kiếp và báo hiệu tài sản của hậu kiếp trong đời con cháu . Vì vậy cung Tài mới tiếp giáp và ảnh hưởng vào cung Tử.
5. Cung Tài:
Tài ở đây chỉ tiền bạc, bất đọng sản, quí kim, cổ phẩn, trương mục, tiền tích trong tủ, trong ngân hàng, tiền để dành và tiền đầu tư.
Nếu hai cung Mệnh và Thân mô tả nếp sống tổng quát của con người trong hai đoạn tiền vận và hậu vận, thì cung Tài mô tả chi tiết tình trạng tài chính, nhất là trong giai đoạn hậu vận (khả năng kiếm tiền, giữ tiền, mức độ giàu nghèo, nguyên nhân hao phí...). vì tiền bạc thường tích tụ vào lúc con người lập thân, cho nên cung Tài và cung Thân có nhiều liên hệ mật thiết, đặc biệt khi Thân cư Tài.
Một điểm cần lưu ý là ngày nay, cung Tài chứa một nội dung và nhiều hình thái phong phú hơn ngày xưa. Thủa xưa, tài chỉ tiền bạc, vàng mà thôi. Còn ngày nay, nhờ sự phát triển ngành ngân hàng và nới rộng mậu dịch, cung Tài còn chỉ cả trương mục, cổ phần, mà giá trị còn hẳn cao hơn hiệu kim tích trữ.
6. Cung Điền:
Theo quan niệm xưa, nặng vè nông nghiệp, chữ Điền TRạch chỉ nhà và đất (ruộng, vườn), do di sản hay do mua sắm. Nhưng ngày nay, nhờ sự bành trướng của kỹ nghệ và tiện nghi vật chất, cung Điền còn chỉ luôn xí nghiệp, sản phẩm biến chế, hoa mầu trên mặt đất và khoáng sản dưới lòng đất, đồng thời chỉ cả máy móc, xe cộ dính liền với các bất động sản đó. Cho nên chữ Điền ngày nay phong phú hơn chữ Điền ngày xưa.
Cung Điền tốt chỉ có nhiều bất động sản và động sản liên hệ. Thông thường cái tốt của Điền phản ánh hoăc ảnh hưởng đến cái tốt ở cung Tài. Lý do là có tiền mới sắm được bất động sản lớn. Tài là yếu tố của Điền, Điền là thể hiện của Tài, theo một hàm số liên hệ nhân quả. Nếu cả hai cung đều tốt thì là phú gia địch quốc.
7. Cung Quan:
Cung này bao gồm bổng lộc do chức tước hay nghề nghiệp tạo ra, cho nên bổ túc cho hai cung Tài và Điền. Cung Quan càng có thêm ý nghĩa tài sản nếu Thân cư Quan.
Theo quan niệm xưa, cung này chỉ quan trọng cho phái nam. Duy quan niêm này đang thay đổi vì trong xã hội hiện nay, phụ nữ ngày càng có nhiều địa vị xã hội, có nghề nghiệp và sinh kế riêng, bổ túc cho sinh kế của chồng. Vì vậy, xem số phụ nữ có địa vị, phải để ý thêm cung Quan. Mặt khác, cung Thê của nam số cũng góp phần bổ túc ý nghĩa tài sản của vợ, trong trường hợp người vợ có nghề nghiệp riêng.
8. Cung Di:
Phần lớn những nhà giàu có của nhờ gặp thời. Vì thế cung Di góp phần khá quan trọng cho việc lập nghiệp.
Trong trường hợp Thân cư Di mà được cung Di tốt đẹp, ý nghĩa này càng rõ rệt. Đặc biệt là cung này có tài tinh, sao may mắn, sao trợ tài. Bấy giờ, khả năng của đương số sẽ không quan trọng bằng sự hên may của thời vân.
9. Các cung Hạn:
Trong lá số, bất cứ cung nào cũng có thể là cug hạn (đại hạn 10 năm, tiểu hạn từng năm một). Các cung hạn ghi nhận những biến cố, những thay đổi về mọi phương diên trong đó có phương diện tài sản. Tuy cung hạn bị đóng cung trong cung Thân, cung Mệnh, cung Tài, song nếu gặp cung hạn tôt, tài vận vẫn có thể khá lên được, dù cung Mệnh, Thân hay Tài, Điền tầm thường.
Trong khi bốn cung Tài, Điền, Quan, Phúc nói lên tình trạng tổng quat thì các cung Hạn đi vào chi tiết của vấn đề tài sản. Cụ thể như cung Hạn cho biết năm đắc tài, năm nào hao của, nguyên nhân của việc thủ đắc hay hao tán v.v...
- phải có chính tinh miếu, vương địa đóng ở các cung liên hệ đến tài sản, nhất là Tài và Điền. Nếu đó là tài tinh thì càng hay. Nếu có nhiều tài tinh đồng cung ở đấy càng tốt đẹp nữa. Đó là hai trường hợp gọi là thuận vị.
- phải được Âm, Dương sáng sủa chiếu vào hai cung Tài, Điền;
_ phải có phụ tinh tốt, nhất là tài tinh đóng ở hai cung Tài, Điền hay ít ra ở những cung Mệnh, Thân, Phúc, Quan. Nếu tài tinh hay cát tinh đắc địa thì càng tốt thêm;
- phải có sao giữ của đóng ở những cung Tài, Điền, Quan, Di, Mện, Thân;
- phải có sao hưởng của ở những cung tài sản hay ở Mênh, Thân, Phúc, Quan;
- phải có sao di sản ở những cung này;
- phải tránh các hao tinh, sát tinh, hung tinh, hình tinh. Nếu không các loại sao này phải đắc địa hoặc có sao giải đi kèm thì sức phá sẽ giảm nhẹ;
- cát và tài tinh phải tránh hai sao Tuần, Triệt mới bảo toàn hiệu lực cho cát tinh và tài tinh được.
Trong trường hợp cung Tài, Điền không có chính tinh thì phải có những điều kiện dưới đây bổ túc:
- có tứ Không, tam Không hay ít ra nhị Không, tức là các sao Tuần, Triệt, Địa Không và Thiên Không. Bốn sao này một phần tọa thủ, một phần họi chiếu;
- có Thái Âm, Thái Dương sáng sủa chiếu vào cung vô chính diện: đây gọi là trường hợp Nhật Nguyệt chiếu hư vô, mặt trời mặt trăng chiếu vào cõi vô cực;
- nếu khong được Âm Dương chiếu thì tối thiểu cung Tài, Điền vô chính diện phải có chính tinh miếu, vương địa xung chiếu vào.
- tài tinh, nghĩa là các sao trực tiếp chỉ tiền bạc và điền sản;
- sao trợ tài, nghĩa là các sao giúp đỡ thêm mãnh lực cho các tài tinh;
- sao may mắn nói chung;
- một số sao giữ của, giúp cho sự cầm của được chắc chắn và lâu bền, tránh hao tán, phá sản.
Phải đủ điều kiện kể trên, mới đủ phú cách và phú cách đó mới dồi dào và lâu dai.
1. Những sao tài:
Nói chung bất cứ chính tinh nào miếu và vương địa đều lợi cho tài sản. Nếu chính tinh lại là sao tài dưới đây càng hay:
Vũ khúc miếu và vương địa:
Chỉ sự giàu có, dư dả nói chung, thông thường là giàu về tiền bạc. Nhưng, nếu đóng ở cung Điền thì sẽ giàu về nhà đất.
Vũ Khúc không phân biệt nguyên nhân việc có của: bằng buôn bán, bằng quan tước, bằng kỹ nghệ, bằng ngân hàng, kinh tế v.v..Thiết tưởng ta không nên xác định cụ thể nghề nghiệp nào của Vũ Khúc, chỉ có thể nói rằng sao này liên hệ rất nhiều đến kinh tế, tài chính. Nếu làm việc công thì là quan coi kho, phụ trách ngân khố cho chính phủ hay phủ trách kinh tế quốc gia (thuế vụ, ngân hàng ngoại thương, nội thương). Ngày nay vì ngành xí nghiệp tư phát triển mạnh cho nên Vũ Khúc chỉ cả tư chức làm việc trong ngành kinh tế, tài chính (quản trị xí nghiệp, ngân hàng tư, xuất nhập cảng, thương gia, kỹ nghệ gia, xuất nhập cảng, hối đoái, nghiên cứu kinh tế tài chính v.v..)
Vũ Khúc sáng sủa báo hiệu một thế lực tài phiệt lớn, tức là người nhờ đồng tiền mà có thế lực, đặc biệt là khi đi đôi với Thiên Phủ, Lộc Tồn hay Hóa Lộc.
Thiên phủ:
Chỉ cái kho lớn của trời đât, nghĩa bóng là tài nguyên quốc gia, tất cả những gì sinh lợi cho nhà nước, bất luận lãnh vực nào (thuế má, kinh doanh, thương mại, ngân hàng, ngân khố, quan thuế, coi kho, thủ quỹ, phát lương, tồn trữ sản phẩm...). Đây là một tài tinh quan trọng tương tự như Vũ Khúc.
Nếu cả hai sao đồng cung và đặc biệt có thêm Hóa Lộc, Thiên Mã hay Lộc Tồn thì tài sản càng dồi dào, miễn là không bị sát, hung, hao tinh xâm phạm. Giữa Vũ và Phủ, rất khó phân biệt sao nào mạnh hơn. Có người cho rằng Phủ là đệ nhị chính tinh, đứng sau Tử Vi, thế tất phải mạnh hơn Vũ...Có quan niệm thì cho rằng Phủ là sao tầm thường và không chế nổi hung tinh hạng nhẹ như Kinh, Đà, Linh, Hỏa nên kém hơn Vũ.
Thái âm, Thái dương sáng sủa:
Biểu tượng cho hai nguyên lý âm, dương của trời đất. Nhật, Nguyệt có nghĩa bóng là phước của trời đất dành cho mình. Về phương diện tài sản, phước đó cụ thể bằng sự giàu có.
Nếu dựa vào nguyên nghĩa nói trên mà suy luận thì sự thịnh vượng của Âm Dương bắt nguồn từ việc đắc thời, từ vận hội tốt đẹp của đất nước, phù hợp với năng khiếu làm giàu của mình, trong thời bình hoặc trong thời loạn. Điều này được thể hiện qua việc hai sao này thường hội chiếu lẫn nhau. Nếu cả hai sao này gia tăng tài lộc dồi dào, đặc biệt cho những người có giờ sinh tương hợp. Nếu đồng cung thì phải có thêm Hóa Kỵ hay Tuần ha Triệt mới hay.
Ngoài ra, có thể nói sự thịnh vượng đó do cha mẹ để phúc lại vì Thái Âm tượng trưng cho mẹ, Thái Dương cho cha. Nếu cả hai sao cùng sáng thì cha mẹ giàu có, thường để lại di sản cho con cháu. Nếu không giàu thì ít ra cũng thọ.
Riêng Thái Âm trực tiếp có nghĩa điền sản. Đây là sao điển hình cho ai hành nghề bất động sản (chủ điền, chủ phố, chủ đồn điền, xí nghiệp, mua bán nhà đất ...). Cho nên, nếu đóng ở Điền thì rất hợp vị. Vì vậy, người ta cho rằng, về mặt của cải, Thái Âm lợi hơn Thái Dương. Ngay cả trong trường hợp Âm, Dương đồng cung (ở Sửu hay Mùi), nếu được Tuần, Triệt án ngữ (hay có Hóa Kỵ đồng đi kèm) thì Âm vẫn thịnh hơn Dương vì Sửu và Mùi là 2 cung Âm.
Riêng Thái Dương đi với Thiên Lương ở Mão với Cự Môn ở Dần, hoặc Thái Âm đi với Thiên Đồng ở Tý cũng rất giàu có.
Việc cung Tài giáp được Âm, Dương sáng sủa cũng chỉ dấu hiệu của sự dư dả. Về mặt nghề nghiệp, đó là nghề dính dáng đến tiền bạc.
Tử vi :
Tử Vi là đế tinh, có ý nghĩa tốt toàn diện, cả về mặt tài sản. Nhưng, Tử Vi không phải là sao tài đúng nghĩa. Đóng ở cung Tài, Điền vẫn lợi lộc, nhất là ở Dần, Thân, Tị, Hợi. Tại bốn vị trí này, Tử Vi hội với Thiên Phủ là tài tinh, nhất là ở hai cung Dần và Thân, Tử Vi và Thiên Phủ đồng cung cho nên hiệu lực về tài chính cũng thêm nhiều.
Nếu Tử Vi ở Ngọ thì rất rực rỡ, tài lực càng sung mãn.
Cự môn, Thiên cơ đồng cung:
Hai vị trí đồng cung của Cự, Cơ là Mão và Dậu, song ở Mão đẹp hơn ở Dậu. Hai sao kết hợp thì tạo được tài lộc dồi dào, nhờ tài năng cạnh tranh, óc tính toán, đa mưu, biết người biết việc, biết phương pháp, mánh khóe, chiến lược kinh doanh, biết tường tận môi trường tài chính, rất thích hợp cho các ngành nghiên cứu về kinh tài. Cự, Cơ là sao của các nhà đại kinh doanh, tư bản lớn, làm ăn trên các môi trường lớn, các gút kinh tế hoặc của các chiến lược gia kinh tế. Đi chung với tài tinh khác như Hóa Lộc, Song Hao, ý nghĩa trên càng chắc chắn.
Riêng Cự Môn đơn thủ ở Tý Ngọ cũng giàu có tự lập từ tay trắng rồi bộc phát lẹ làng, nhất là trong lúc loạn, cạnh tranh.
Thiên cơ, Thiên lương đồng cung:
Thế đồng cung của hai sao này chỉ có ở hai cung Thìn và Tuất. Tại đây Cơ, Lương chỉ sự giàu có dễ dàng. Thiên Cơ chỉ mưu trí, xảo thuật kiếm tiền, Thiên Lương chỉ cơ hội tốt đẹp và may mắn, đồng thời cũng chỉ thiện tính của nhà buôn bán, kinh doanh.
Nếu Lương chỉ đơn thủ ở Tý, Ngọ thì cũng giàu có. Đồng cung với Thái Dương ở Mão, với Thiên Đồng ở Dần Thân thì cũng đắc phú như vậy.
Cách giàu của các sao đi chung với Thiên Lương đều lương thiện, có tinh thần xã hội, cứu độ, tạo công ăn việc làm cho kẻ khác.
Vũ khúc, Tham lang đồng cung:
Hai sao này kết hợp điển hình cho ngành kinh doanh thương mại. Tham lang chỉ sự hám lợi, mưu tìm cái lợi tối đa. Vũ Khúc chỉ tiền bạc. Cả hai sao kết hợp là người tham tiền, ham lợi, đặc điểm của doanh thương. Vì có sự hiện diện của Tham Lang, nên sự buôn bán này không lương thiện, thành thật bằng Cơ, Lương.
Ngoài ra, vì cùng là bắc đẩu tinh hết cho nên Vũ, Tham đắc tài lúc hậu vận.
Riêng Tham Lang đơn ở Thìn, Tuất cũng rất giàu, nhất là về già. Cách giàu này rất nhanh, có tính cách hoạch phát. Hình chất khả hữu là sự kinh doanh táo bạo, tốc chiến tốc thắng, phù hợp với đặc tính của Tham Lang. Duy Tham Lang là sao tham lam, trục lợi, cho nên cách doanh thác này không mấy chính đáng. Hình thái đầu cơ tích trữ, cầm giá, kìm giá, thao túng thị trường, độc quyền mại bản có thể rất thông dụng
Thiên đồng miếu địa:
Sao này không phải là phú tinh mà là phúc stinh. Vì phúc tinh bao hàm cả lĩnh vực tiền bạc cho nên Thiên Đồng đắc địa cũng là đắc phú: đó là trường hợp Thiên Đồng ở Mão, chỉ người tay trắng lập nghiệp, chắc chắn nhờ may mắn, phúc đức. Duy cách giàu của Thiên Đồng phải nhọc sức, đi đây đi đó buôn bán mới có của, kiểu như các nhà môi giới, các đại diện thương mại, các người giao hàng, trình dược viên, quảng cáo lưu động, tùy viên thương mại ở nước ngoài hoặc ở xa trụ sở kinh doanh.
Đồng đi chung với Thiên Lương ở Dần Thân cũng rất thịnh vượng và lương thiện, thông thường kinh doanh trên các nghề nghiệp hợp pháp và có khuynh hướng bố thí, hào sảng, có của, làm ra của đông thời cũng làm cho ngươi khác có của theo.
Thiên tướng:
Tướng không phải là tài tinh, nhưng nếu ở Tỵ, Hợi, Sửu, Mùi hoặc đồng cung với Liêm Trinh ở Tý, Ngọ, với Tử Vi ở Thìn, Tuất thì cũng làm giàu dễ dàng mà lại lâu bền, chắc chắn và chính trực.
Phá quân miếu địa:
Cũng không phải là sao tài, nhưng nếu miếu địa ở Tý, Ngọ thì cũng phong phú. Tuy nhiên, cách giàu của Phá Quân, dù có nhanh chóng dễ dàng nhờ mạo hiểm, liều lĩnh, bạo dạn, nhưng đồng thời cũng có nhiều bất trắc vì tính mạo hiểm. Dù sao, Phá Quân vẫn giữ bản chất hao tán, cho nên cái giàu rất mong manh. Cũng vì đó cho nên Phá Quân dù kết hợp với chính tinh nào cũng không chắc duy trì lâu dài sự giàu có.
Thất sát miếu địa:
Cũng không phải là tài tinh, nên chỉ có của khi nào miếu địa ở Dần Thân và Tý Ngọ. Duy cái giàu của Thất Sát rất bất thường, thường là chậm, chỉ phát sau giai đoạn lập thân, phát lúc bất ngờ, cho nên có tính cách hoạch tài.
Đi chung với Tử Vi thì kiếm tiền dễ, nhanh vì Thất Sat hỗ trợ cho Tư Vi, trong khi Phá Quân làm suy bại Tử Vi.
Nói tóm lại, cách giàu phải có tài tinh chinh cống và miếu địa. Những phúc tinh, quyền tinh, võ tinh chỉ có ý nghĩa giàu khi nào miếu địa. Những sao giàu kể trên đây có thêm trung tinh trợ lực mới mạnh thêm. Lẽ dĩ nhiên, các sao trên phải tránh các sao phá tán của cách nghèo.
Đối với trung tính, cũng có loại sao tài, cũng có loại sao may mắn, loại sao giữ của.
Lộc tồn:
- Là một tài tinh quan trọng, báo hiệu dư ăn dư để, khả dĩ gọi là giàu có. Tồn có hai ý nghĩa, tích cực và tiêu cực.
Về mặt tiêu cực. Tồn chỉ "lộc ăn", nghĩa là có nhiều cơ hội được tiền bạc, điền sản, lợi lộc nói chung. Sự lợi lộc này thường do hai nguyên nhân:
- di sản tổ phụ, cha mẹ: người có Tồn ở Phúc, Mệnh thường được hưởng ít nhiều của cải của thân tộc;
- do người khác biếu xén, tặng, giúp đỡ.
Với hai khía cạnh này, Tồn đắc lợi từ kẻ khác. Tuy nhiên, đây chỉ là khía cạnh tiêu cực.
Về mặt tích cực, sao này chỉ người tháo vác, có tài tổ chức, có tính toán và quyền biến theo hoàn cảnh, những đức tính cần thiết cho việc tạo của cho người biết làm của cải sinh lợi. Nói khác đi, đó là năng khiếu buôn bán, tính chất của nhà buôn, đó là khả năng của các ủy viên tổ chức, của giám đốc thương mại, của trưởng cơ quan tài chính, kinh tế. Trong lĩnh vực tư, Tồn rất thích hợp với thương gia, nhất là nhà kinh doanh lớn, hiểu biết và lợi dụng được thị trường. Nếu không hành nghề buôn bán, thì ý nghĩa tiêu cực sẽ nội bật hơn.
Mức độ ảnh hưởng của Lộc Tồn nhiều ít tùy theo tuổi. Theo cụ Thiên Lương, một nhà lý số đương thời, nguyên tắc chính để hưởng thiên lộc của sao này là cung Mệnh phải tọa thủ hay tam chiếu với cung có Lộc Tồn trấn đóng. * Đây là một lý đương nhiên. Duy cụ Thiên Lương đã có công chi tiết hóa và lượng giá mức độ, hoàn cảnh hưởng thụ. Theo cụ:
Mệnh có Lộc tồn tọa thủ hay tam chiếu thì hưởng lộc.
Nếu tọa thủ thì hưởng nhiều, tam chiếu thì hưởng ít hơn thế tọa thủ
Nếu nhị hợp thì ít hơn nữa.
Điều đáng chú ý là theo cụ Thiên Lương. Lộc Tồn ở thế xung chiếu Mệnh lại không được kể.
Hóa lộc:
Nói chung, sao này đồng nghĩa với Lộc Tồn. Tuy nhiên, Hóa Lộc ngay thẳng, thành thật, không mưu cơ như Lộc Tồn. Hóa Lộc làm giàu một cách chính đáng, cạnh tranh ngay thẳng hơn, óc con buôn tương đối vừa phải, không mấy hám tài, tham lợi như Lộc Tồn.
Dường như cái giàu của Hóa Lộc dẽ dàng hơn, không đua chen, lăn lộn nhiều với sinh kế, phần ý nghĩa tích cực của Lộc Tồn ứng dụng nhiều cho Hóa Lộc. Trong khi Lộc Tồn tha thiết giữ của thì Hóa Lộc tương đối hào sảng, biết hưởng thụ chứ không phải chỉ biết lo chắt mót: đây là người có tiền, chịu ăn chơi và chịu chi tiêu. Tâm lý của Hóa Lộc không chặt chẽ xài kỹ như Lộc Tồn. Hóa Lộc có thể là một Mạnh Thường Quân dám bố thí, hiến của trong khi Lộc Tồn hãy còn tính toán hơn thiệt, nếu không nói là ích kỷ. Vì vậy, Hóa Lộc cầm của kém hơn Lộc Tồn, dù cả hai sao đều dư ăn dư để.
Ở vị thế hội chiếu, hai sao này đảm bảo giàu có. Tuy nhiên nếu đồng cung lại kém vì Tồn thuộc Thổ. Lộc thuộc Mộc, hai hành xung khắc, có thể lụy vì tiền, có lẽ vì quá tham kiếm tiền.
Hóa Lộc hay Lộc Tồn kết hợp với Thiên Mã càng thêm giàu có.
Thiên mã :
Đắc địa ở Dần, Tỵ và phần nào ở Thân, Thiên Mã cũng có ý nghĩa tài lộc, phần lớn nhờ tháo vác, lanh lợi, khôn ngoan, xoay trở khéo, quán xuyến, chịu khó, chí thú làm ăn, tương ứng với các đức tinh của ngựa hay, chạy nhanh và bền. Duy cái giàu của Thiên Mã do tự lực, tay làm hàm nhai, cho nên cực. Mặt khác, đó cũng là cái giàu ở tha phương, càng làm ăn xa càng có lợi.
Mã chỉ dễ làm giàu khi nào hội tụ nhiều cách tốt như Mã Tử Phủ, Mã Nhật Nguyệt sáng, Mã Lộc Tồn, Mã Hóa Lộc, Mã Tràng Sinh, Mã Khốc Khách, Mã và Lưu Mã. Các cách này chỉ sự may mắn, đắc thời, hợp cảnh. Ngoài ra, hành của Mã còn phải phù hợp với hành của Bản Mệnh thì mới phát tài dễ dàng. Ví dụ Mã ở Dần với người mạng Mộc, ở Tỵ với người mạng Hỏa, ở Thân với người mạng Kim, ở Hợi với người mạng Thủy. Nếu Mã gặp Hình, hay Tuyệt, hay Tuần Triệt hoặc Mã ở Hợi (trừ khi mạng Thủy) thì bất lợi, hung hiểm hoặc chật vật.
Mã đắc địa ở cung Điền có ý nghĩa là có nhà cửa, ruộng đất, xí nghiệp ở nơi xa. Nếu có thêm Tả Hữu thì có nghĩa là song mã, tam mã, ngụ ý có thêm nhiều điền lộc: có thể có hai nhà, hoặc một nhà và một miếng đất hay một xí nghiệp, trong đó có một nhà ở xa.
Về phương diện nghề nghiệp, nghề của Thiên Mã hợp vơi ngành vận tải hàng hoá hay hành khách, hoặc môi giới, giao dịch với bên ngoài, ký hợp đồng ở xa, với người ngoại quốc hoặc lập văn phòng đại diện thương mại xứ người. Nếu là nghề công thì đây có thể là tùy viên sứ quán về kinh tế, thương mại.
Đại hao, Tiểu hao ở Mão và Dậu:
Hai sao này là hao tinh, nghĩa là hao tán tài sản. Nhưng, chỉ riêng ở Mão và Dậu, Đại và Tiểu lại giàu có. Thuộc hành hỏa (có người cho là hành Thủy), nhị Hao ở Mão đắc lợi là vì cung Mão thuộc Mộc phù sinh cho sao Hỏa. Do đó, nếu Đại Hao ở Mão, Tiểu Hao ở Dậu thì tốt hơn Đại ở Dậu, Tiểu ở Mão.
Tại hai cung này, nhị Hao rất thịnh về tiền bạc: đó là người thông minh, lanh lợi, biết xoay trở làm ăn, có chí làm giàu lớn, dám bỏ tiền ra kinh doanh đại sự, dám gánh bất trắc của thời cuộc để mưu lợi tối đa. Óc mạo hiểm của nhị Hao ở Mão Dậu rất lớn, được thời thì trở thành đại phú, gặp vận xui thì có thể sạt nghiệp. Đại, Tiểu Hao không chắt mót giữ tiền mà luân chuyển vốn liếng làm ăn rất linh hoạt, tiêu pha lớn trong việc kinh doanh cũng như trong việc ăn chơi. Tính tình nhị Hao còn hào phóng hơn Hóa Lộc rất nhiều.
Mặt khác, do đặc tính linh động, nhị Hao ám chỉ người có nhiều ngành buôn bán, kinh doanh một lần trên nhiều cơ sở thương mại, đầu tư vào nhiều lãnh vực khác nhau, dễ chuyển ngành thương mại từ địa hạt này sang địa hạt khác. Do đó, nhị Hao tượng trưng cho những nhà đại tư bản có cả dây chuyền xí nghiệp hoạt động có tổ chức và liện hoàn. Xí nghiệp có ở nhiều chỗ, phải lưu động đi kiểm soát, đôn đốc, xuất ngoại rất thường để tìm thị trường thương mại. Nền kinh tế nhà nước có phồn thịnh hay không hẳn là do những nhà kinh doanh loại này. Nếu tài sản của Lộc Tồn tương đối bất động, thì tài sản của nhị Hao lại luân lưu. Nếu dùng ví dụ để mô tả, thì Lộc Tồn đọng vốn trong việc kinh doanh bất động sản (như cho vay bạc lấy lời, cất cửa nhà cho thuê, tạo điền sản cho mướn lấy địa tô...) còn nhị Hao thì chế biến sản phẩm, phân phối hàng hóa, vận tải hành khách hay hàng hóa bằng đường bộ, đường thủy (nếu có Lưu Hà) hay hàng không (nếu có phi Liêm).
Long trì, Phượng các:
Hai sao này không rõ rệt lắm về cách giàu. Long Phượng là hai sao tốt một cách tổng quát (đẹp về nhan sắc, hay về văn học nghệ thuật, đoan trang về phẩm hạnh, may mắn về hôn nhân, sang cả về phương diện tiện nghi vật chất). Ý nghĩa tài sản chỉ là một khía cạnh trong số các ý nghĩa tốt dẹp đa diện đó.
Về tài sản, Long Trì ở cung Điền chỉ cái nhà khang trang, đài các, có canht trí xinh xắn, có thể có ao hồ, non bộ. Đây có thể chỉ là cách phong lưu, tư sản chứ khong hẳn là tư bản, giàu có. Mặt khác, Long Phượng đi với Mộ có nghĩa là được hưởng di sản.
Về mặt nghề nghiệp, Long Phượng có thể là kiến trúc sư, thầu khoán, những người sống bằng nghề buôn bán bất dộng sản, đặc biệt là khi tọa thủ ở Điền hay đồng cung với Thái Âm.
Tam thai, Bát tọa:
Chỉ khi nào hai sao này đóng ở Tài và Điền thì ý nghĩa tài sản mới rõ ràng. Mặt khác, nếu bộ sao này gặp Mộ ở bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thì tài sản càng nhiều thêm. Hai sao Thai, Tọa ở Tài, Điền tốt đẹp thường chỉ sự hạnh thông về tiền bạc, sự may mắn trong việc tạo sản, không phải đấu tranh chật vật: tiền bạc tương đối dễ kiếm, hoặc có người bao bọc nuôi dưỡng, kiểu như trời sinh voi trời sinh cỏ. Cho dù kế sinh nhai có thanh đạm, đương số cũng không vì thế tự cho là khốn khổ. Tâm lý của Thai Tọa về mặt của cải rất lạ lùng: đó là sự vô tư trước tiền của, dù là giàu hay nghèo. Vì vậy, Thai Tọa thiếu óc đầu tư, đầu cơ trục lợi của người buôn.
Thiên khốc, Thiên hư ở Tý, Ngọ:
chỉ riêng hai vi trí này, Khốc Hư chỉ sự giàu có trong hậu vận, lúc về già. Người xưa gọi là "tiền bần hậu phú".
Ở những cung khác, Khốc Hư chỉ sự lo âu triền miên về tiền bạc. Trong các vị trí này, Khốc Hư là hai sao phản nghĩa với Thai Tọa.
Tử ở Tài, Điền:
Tử chỉ sự kín đáo, bí mật. Đóng ở Tài, Điền, đương số có tài sản chôn giấu hoặc nhờ người thân tín đứng tên. Riêng ở cung Điền tốt, sao Tử có thể có nghĩa quặng mỏ, quí kim, dầu hỏa...ở dưới lòng đất của mình, hoặc một trương mục vô ký danh ở ngân hàng. Về mặt nghề nghiệp, đây có thể là nhà khai thác khoáng sản, nếu sao Tử ở Tài, Điền và đi chung với các sao tài khác.
Tất cả tài tinh kể trên càng qui tụ nhiều vào các cung tài sản thì càng giàu, hoặc nếu giáp các cung tài sản thì cũng khá. Dĩ nhiên phải tránh các sao tán tài, các hung sát tinh, hao bại tinh và Tuần Triệt. Nếu gặp các sao này, tài sản sẽ chậm có, tiêu tán, hoặc phải cực nhọc mới thủ đắc được. Ngược lại, nếu tài tinh được phù trợ bởi các sao trợ tài thì sự giàu có càng dễ dàng, phong phú và lâu bền hơn.
Những sao trợ tài:
Những sao này không trực tiếp có nghĩa giàu có, phải đi chung với tài tinh thì tài lực mới hưng vượng được.
Tả phù, Hữu bật:
Tả, Hữu tượng trưng cho sự phò tá, sự giúp đỡ, sự cộng sức chung vốn của người đời. Đi chung với các sao tài, Tả Hữu có nghĩa là được bằng hữu giúp đỡ trong việc làm ăn, kiếm tiền dễ dàng nhờ những cộng sự viên đắc lực. Hai sao này chỉ những cổ đông, những người góp vốn hùn hạp, môi giới, trong thương hội, hợp tác xã. Cung Tài có Tả Hữu thì không có kinh doanh riêng rẽ trái lại được sự hợp doanh, hợp tư, chung của góp công, chia lời.
Đứng về mặt cơ sở thương mại, có Tả Hữu thì công ty sẽ có cơ sở rộng lớn hơn, có chi nhánh, có đại diện thương mại ở nhiều chỗ: đó là những xí nghiệp lớn.
Nếu tọa thủ tai một cung Điền tốt đẹp, Tả Hữu ngụ ý có hai nhà hoặc nhà, một đất hay xí nghiệp làm ăn. Còn ở cung Tài, đương số vừa có tiền để ở nhà, vừa có trương mục ở ngân hàng.
Nếu không bị sát tinh xâm phạm thì sự hợp tác chân thành tích cực và lương thiện. Trái lại, nếu có sát tinh, ám tinh đi kèm thì sự hợp tác có nghi kỵ, cạnh tranh, gian lận, lường gạt, hoặc giả có sự hợp tác để làm ăn ám muội và táo bạo kiểu như buôn lậu phi pháp, có thể đi đến sự thanh toán, giành giựt, phá sản, bị họa vì tiền bạc, vì quản lý kém phân minh.
Thiên quan, Thiên phúc:
Ý nghĩa tương tự như Tả, Hữu: có sự giúp đỡ của quí nhân trong việc làm ăn. Hai sao này vốn là cát tinh cho nên sự hợp tác có tính cách lương thiện, chân thành bất vụ lợi, tín nghĩa.
Mặt khác, Quan và Phúc cũng có nghĩa hay giúp đỡ kẻ khác, hay dùng tài sản làm việc phước thiện, làm việc văn hóa...
Tràng sinh, Đế vượng:
Sinh và Vượng chỉ sự phong phú, thừa thãi, đi với tài tinh, sẽ làm cho của cải thêm nhiều. Có thể ví hai sao này như hai hệ số, làm gia tăng tài lộc, mặc dù không tạo ra tài lộc: Sinh và Vượng chỉ số nhiều, chỉ lượng. Nói khác đi, cung Taì có sao tài đồng cung với Sinh hay Vượng thì tiền bạc có sinh lợi, vốn để ra lời hoặc vốn được tích lũy thêm mãi. Ngoài ra, Sinh Vượng còn có nghĩa như một tổ hợp thương mại chứ không phải một sự kinh thương đơn lẻ.
Ân quang, Thiên quý:
Ở cung Tài, Điền Quang Quý chỉ di sản, nhiều hay ít còn tùy số lượng tài tinh thủ hay chiếu. Nếu có nhiều sao đi kèm, di sản đó có thể quan trọng.
Mặt khác, Quang Quý còn có nghĩa là những cổ đông bỏ vốn, thường là người thân thuộc, tín nhiệm: thương hội vì vậy nên có tính cách gia tộc.
Ngược lại, nếu gặp cả Không, Kiếp hội chiếu, di sản đó có thể tiêu cực (có nợ nần của cha mẹ để lại) hoặc không được hưởng di sản, hoặc phải bị hao tán nhiều.
Đào, Hồng, Hóa, Lộc:
Lộc đi với Đào hay Hồng là cách làm giàu nhờ phái đẹp, vợ hay nhân tình có của. Sự may mắn thường do phái nữ mang đến. Đối với phái nữ, thì do phái nam cung cấp.
Hóa quyền:
Đóng ở cung Tài tốt đẹp, Hóa Quyền không hẳn có nghĩa quyền quí, mà có thể có nghĩa như một thế lực tài phiệt nếu Quyền đi cùng với tài tinh rực rỡ.
Đóng ở cung Điền, Hóa Quyền là bổng lộc do nhà nước ban cấp, dưới hình thức hiện vật, như được cấp đất khai khẩn, được ở nhà chính phủ, được sử dụng công xa, nói chung là những tiện nghi vật chất do quyền tước mà có. Đây chỉ là những ý nghĩa khả hữu mà thôi, không nhất thiết phải có như vậy, bởi lẽ Hóa Quyền chủ về quan lộc hơn là điền sản. Những lợi lộc trên chỉ rõ rệt đối với những lá số có quí cách, có quyền cách, nghĩa là những lá số làm quan to, văn hay võ.
Thiên khôi, Thiên việt:
Đây không phải là sao tài đúng nghĩa, cho dù Khôi, Việt có đóng ở Tài hay Điền. Hai sao này chủ yếu chỉ khoa giáp, bằng cấp.
Nhưng, Khôi Việt là những sao trợ tài vì làm sáng lạng thêm cho Tài Điền, nếu hai cung này xấu. Nếu thêm tài tinh thì của cải nhiều thêm. Sự hội tụ của nhiều tài tinh với Khôi Việt báo hiệu một thế lực tài phiệt có thể nói là xuất chúng, chính cũng vì Khôi Việt chỉ sự độc nhất trong lãnh vực nhất định nào đó. Trong trường hợp này, đương sự có thể là Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị, Chủ Tịch Hợp Tác Xã hay một xí nghiệp kinh tế tài chính, công hay tư. Bằng không thì là sở hữu chủ, chủ nhân.
Nếu hai cung Tài và Điền tương đối xấu thì sự hiện diện của Khôi Việt tại đó sẽ làm vượng cho hai cung: đương số không đến nỗi nghèo túng, có thể đủ ăn, đủ mặc.
![]() |
Muốn biết được cậy nhờ con cái hay không, xem ngay cung Tử Tức
nhân đem lại cho họ mái ấm gia đình hạnh phúc. Họ luôn nâng niu, quý trọng và dành nhiều tình cảm cho người thân của mình. Một số người tuổi Thìn thường sống khá tình cảm và vì thế trong đời sống vợ chồng, họ sợ bị tổn thương và cũng sợ làm tổn thương người khác.
Những người chồng tuổi Thìn thường tỏ ra dịu dàng với người vợ và sẵn sàng giúp đỡ vợ công việc nhà. Tuy không ít người vì áp lực nặng nề của công việc hay những tham vọng trong sự nghiệp đã làm cho những giây phút sum họp của gia đình trở nên căng thẳng nhưng nhìn chung họ luôn cố gắng trở thành người chồng, người cha tốt.
Phụ nữ tuổi Thìn luôn cố gắng hoàn thành tốt vai trò của mình trong gia đình. Họ lấy việc chăm sóc chồng con là niềm vui sống, niềm hạnh phúc. Đôi lúc, họ cũng cảm thấy cuộc sống căng thẳng và bản thân ít có được tiếng nói trong gia đình nhưng họ luôn biết cố gắng hiểu, cảm thông với chồng và vun đắp cho hạnh phúc lứa đôi.
(Theo 12 con giáp về tình yêu và hôn nhân)