Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

Quẻ Quan Âm: Phụng Bích Quy Triệu

Quẻ Quan Âm thứ 77 Quẻ Quan Âm: Phụng Bích Quy Triệu đoán rằng nếu muốn có kết quả tốt, cầh phải nhờ quý nhân chỉ bảo và giúp đỡ.
Quẻ Quan Âm: Phụng Bích Quy Triệu

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đây là quẻ Quan Âm thứ 77 được xây dựng trên điển cố: Phụng bích quy Triệu hay đưa ngọc bích về Triệu.

Quẻ trung bình thuộc cung Ngọ. Hiện giờ chẳng khác gì nói mơ trong mộng, đừng nên chờ đợi hư ảo. Nếu muốn kết quả tốt đẹp, cần phải nhờ quý nhân chỉ bảo và tương trợ.

Thử quái mộng trung đắc bảo chi tượng. Phàm sự hư đa thiểu thực dã.

Điển cố quẻ Quan Âm: Phụng Bích Quy Triệu

Thời Chiến Quốc, vua nước Triệu có được một viên ngọc bích, gọi là Hòa thị bích. Vua nước Tần biết được, cậy nước mình có thế lực lớn mạnh, liền viết một bức thư, sai người gửi cho vua Triệu, nói rằng vua Tần muốn dùng mười lăm tòa thành trì để đổi lấy viên ngọc Hòa thị bích.

Vua Triệu đọc thư xong, liền cùng các đại thần bàn bạc. Các đại thần cũng không nghĩ ra biện pháp gì hay. Đang trong lúc khẩn trương, bỗng một người tiến lên nói rằng, có người giỏi mưu tính tên là Lạn Tương Như (329 tr. CN – 259 tr. CN), rất thông minh dũng cảm. Vua Triệu sai người truyền gọi Lạn Tương Như vào gặp, hỏi anh ta nên xử lý sự việc này như thế nào. Lạn Tương Như nói: “Thưa đại vương, xin hãy cho tôi mang viên ngọc Hòa thị bích đi gặp vua Tần. Đến đó tôi sẽ tùy cơ hành sự, nếu như không chắc chắn vua Tần sẽ dùng mười lăm tòa thành trì để hoán đổi, tôi nhất định sẽ mang viên ngọc Hòa thị bích trở về một cách vẹn toàn”. Vua Triệu thấy Lạn Tương Như là người dũng cảm lại thông minh, liền đồng ý.

Lạn Tương Như đến nước Tần, vua Tần tiếp đón Tương Như ờ trong cung. Lạn Tương Như hai tay nâng viên ngọc Hòa thị bích dâng lên vua Tần. Vua Tần xem đi xem lại, vô cùng thích thú. Vua Tần xem xong, lại truyền cho các đại thần từng người một xem, sau đó lại truyền cho các phi tần ở hậu cung xem.

Lạn Tương Như đứng ở bên cạnh chờ đợi rất lâu, cũng không thấy vua Tần đề cập đến chuyện cắt mười lăm tòa thành trì để trao đối, biết rằng vua Tần vốn không có thành ý dùng thành trì để đổi lấy viên ngọc quý. Nhưng ngọc quý đã vào tay vua Tần rồi, làm thế nào để lấy lại được đây? Tương Như tiến lên, nói với vua Tần rằng: “Viên ngọc Hòa thị bích này thoạt nhìn tuy rất đẹp, nhưng vẫn có một khiếm khuyết nhỏ, xin để tôi chỉ cho đại vương xem!” Vua Tần vừa nghe thấy có khiếm khuyết, vội sai người đem viên ngọc từ hậu cung đến giao cho Lạn Tương Như.

Lạn Tương Như cầm viên ngọc Hòa thị bích, lùi lại mấy bước, tựa người vào cây cột, giận dữ nói với vua Tần rằng: “Khi trước đại vương sai người gửi thư cho vua Triệu, nói rằng sẽ đem mười lăm tòa thành trì để đổi lấy viêh ngọc Hòa thị bích. Các đại thần nước Triệu đều nói rằng, không nên tin lời dối trá của người nước Tần. Tôi đã phản bác rằng, đến thường dân còn coi trọng tín nghĩa, huống chi lại là đại vương của nước Tần! Vua Triệu nghe lời của tôi, mới sai tôi đem viên ngọc Hòa thị bích đến đây. Thế mà đại vương nhận lấy ngọc quý, tùy tiện giao cho kẻ dưới xem, lại không hề đề cập đến chuyện trao đổi mười lăm tòa thành trì. Có thể thấy rằng đại vương quả không có thực tâm muốn dùng thành trì để đối lấy ngọc quý. Nay ngọc đã ở trong tay tôi, nếu như đại vương nhất định muốn ép buộc, tôi sẽ đập viên ngọc lên cây cột này cho vỡ tan!” Nói xong, Lạn Tương Như nâng cao viên ngọc Hòa thị bích, ra vẻ như định đập vào cây cột.

Vua Tần thấy vậy, vội nói: “Đại phu chớ có nóng vội, lời ta đã nói sao có thế không giữ được!” Nói rồi sai người mang bức địa đò đến, giả bộ chỉ vào bức địa đò nói: “Từ đây đến đây, tống cộng mười lăm tòa thành, đều cắt cho nước Triệu!” Lạn Tương Như nghĩ thầm: “Vua Tần thường hay giở trò lừa bịp, chớ có mắc lừa ông ta lần nữa!” Bèn nói với vua Tần rằng: “Viên ngọc Hòa thị bích này là vật báu nổi tiếng trong thiên hạ, khi tôi mang nó đến nước Tần, vua Triệu đã phải trai giới năm ngày, lại tổ chức nghi thức tiễn đưa báu vật rất long trọng ờ triều đình. Nay đại vương muốn nhận viên ngọc quý này, cũng nên trai giới năm ngày, và tổ chức nghi thức nhận báu vật ở triều đình, tôi mới có thể dâng ngọc quý lên được! “Vua Tần nói: “Được! Ta sẽ làm theo như vậy!”

Lạn Tương Như mang viên ngọc đó đến công quán, cho một thuộc hạ cải trang thành người buôn bán, giấu viên ngọc ở trong người, lặng lẽ theo con đường nhỏ trở về nước Triệu. Cuối cùng ngọc bích đã trở về nước Triệu, vua Tần đành phải thả Lạn Tương Như về.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Quẻ Quan Âm: Phụng Bích Quy Triệu

Chỉ ra 3 con giáp coi trọng tình bạn nhất

Nhắc tới con giáp coi trọng tình bạn, trước tiên phải nói tới người tuổi Ngọ. Ngay từ khi lọt lòng, bản tính nhiệt tình dường như đã ngấm vào máu.
Chỉ ra 3 con giáp coi trọng tình bạn nhất

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

– Nhắc tới con giáp coi trọng tình bạn, trước tiên phải nói tới người tuổi Ngọ. Ngay từ khi lọt lòng, bản tính nhiệt tình dường như đã ngấm vào máu của con giáp này. Chính vì thế, trông họ lúc nào cũng tràn đầy sức sống, đi tới đâu cũng kết giao nhiều bằng hữu, được nhiều người yêu mến và trân trọng.

1. Người tuổi Ngọ   Nhắc tới con giáp coi trọng tình bạn, trước tiên phải nói tới người tuổi Ngọ. Trong mười hai con giáp, ngay từ khi lọt lòng, bản tính nhiệt tình dường như đã ngấm vào máu của con giáp này. Chính vì thế, trông họ lúc nào cũng tràn đầy sức sống, đi tới đâu cũng kết giao nhiều bằng hữu, được nhiều người yêu mến và trân trọng.  
Chi ra 3 con giap coi trong tinh ban nhat hinh anh
 
Thêm nữa, trước khi làm việc gì đó, những chú Ngựa không chỉ cân nhắc lợi ích cá nhân mà còn nghĩ cho bạn bè, tập thể. Bởi vậy dễ có được lòng tin, sự kính trọng từ phía những người xung quanh.    Mỗi khi bạn bè gặp khó khăn, Ngọ sẵn sàng đến bên cạnh giúp đỡ, an ủi. Bởi vậy, hễ họ gặp khó khăn, trở ngại nào trong cuộc sống, ngay lập tức có quý nhân phù trợ, giúp cứu nguy giải nan, xử lý mọi việc êm thấm.   Bí kíp bỏ túi để 12 con giáp đỗ đầu mọi kỳ thi 3 con giáp sinh ra đã mang mệnh phú quý hơn người Ngưỡng mộ với cuộc sống hôn nhân hạnh phúc của 3 cặp con giáp
2. Người tuổi Mão
  Tính cách của người tuổi Mão cẩn thận, tỉ mỉ, trọng tình cảm và biết đặt mình vào hoàn cảnh của người khác để suy nghĩ khách quan. Nếu đã là bạn tri kỉ, con giáp này sẵn sàng đánh đổi lợi ích cá nhân, hy sinh bản thân mình vì bạn.   
Chi ra 3 con giap coi trong tinh ban nhat hinh anh
 
Kể cả khi đang mặn nồng trong tình yêu, người tuổi Mão cũng quyết không bỏ rơi bạn bè. Với họ, tình yêu và tình bạn hoàn toàn khác biệt, cả hai đều cần thiết và có sự hài hòa với nhau thì cuộc sống mới thảnh thơi, tốt đẹp được.   Khi gặp trục trặc về tình cảm, người tuổi Mão chẳng ngại ngần dốc bầu tâm sự với bạn bè thân thiết. Vì sao ư, vì họ đặt niềm tin gần như tuyệt đối của mình ở tình bạn.   12 con giáp đón tin vui gì trong nửa cuối năm 2016? (P2) 12 con giáp đón tin vui gì trong 6 tháng cuối năm 2016? (P1) Chọn chuẩn màu quần áo cho 12 con giáp để tài vận dồi dào trong tháng 5
3. Người tuổi Dần
 
Chi ra 3 con giap coi trong tinh ban nhat hinh anh
 
Trong mắt của người tuổi Dần, tình bạn được ví như một phương thuốc chữa bệnh kỳ diệu, có tác dụng trợ lực cho tinh thần rất tốt. Bởi mỗi khi cảm thấy cô đơn, thấy cuộc đời đang gây khó dễ hay quay lưng lại với mình, họ sẽ tìm tới bạn bè để chia sẻ, vơi đi nỗi lòng.    Với họ, đã là bạn thì cả đời là bạn. Dù bẵng đi một khoảng thời gian dài không liên hệ, nhưng điều đó không có nghĩa là tình bạn thay đổi. Dòng chảy của cuộc sống có thể cuốn trôi tất cả, nhưng tình bạn của người tuổi Dần vẫn còn mãi, trường tồn theo thời gian.    Thêm nữa, con giáp này vốn thuộc tuýp “khẩu xà tâm Phật”, nói năng có vẻ to tát nặng lời thế thôi, nhưng thực chất bên trong lại có trái tim vô cùng nhân hậu và yếu mềm. Sau mỗi trận cãi vã với bạn bè, họ nhanh chóng làm lành, chín bỏ làm mười, coi như không có chuyện gì xảy ra. Vì thế mà tình bạn của họ khá bền vững.
Việt Hoàng   Người tuổi nào có mối thâm duyên với nhà Phật?
Trong tâm tưởng mỗi người đều có sự hiện hữu của Đức Phật từ bi, đức độ. Tu Phật chính là tu tâm, người hữu duyên với nhà Phật ắt hiểu được điều này. Dưới đây

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chỉ ra 3 con giáp coi trọng tình bạn nhất

Sao Thiên Cơ

Một bài viết sưu tầm về sao Thiên Cơ. Mời các bạn cùng đọc và tham khảo.
Sao Thiên Cơ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Thiên cơ tinh - Toàn thư

Thuộc tính âm dương ngũ hành của sao Thiên cơ là âm mộc. Tại Đẩu sao Thiên cơ là ngôi sao thứ ba thuộc Nam Đẩu, tại Số sao Thiên cơ theo cung vị thứ hai thuộc Bắc Đẩu, của phép định cục an sao thiên bàn. Chủ về trí tuệ, tư tưởng, anh chị em, hệ thần kinh, hóa khí là thiện, khi hóa Kị sẽ Hung (chủ về thần kinh đầu óc có vấn đề), làm chủ cung Huynh đệ.

Sao Thiên cơ mang đặc trưng đa tài đa nghệ, mang tính động, nhưng tính động ở đây không phải là những biến động trong cuộc đời, mà là động não, hoạt động thường phải bôn ba lao lực nên phản ứng khá nhanh nhạy, giỏi vận động, liên lạc giao thiệp, quy hoạch, phân tích, làm việc có nguyên tắc có uy nghiêm. Hợp với những nghề dịch vụ, kỹ thuật chuyên môn, truyền thông đại chúng, thường theo các công việc thiết kế quy hoạch mà không phải thực thi, thực hành. Nhưng thiếu tính ổn định nên kỵ theo nghề kinh doanh hay tự lập nghiệp.

Sao Thiên cơ còn có tên là sao Thiện, nếu gặp Cát tinh lại đắc địa thì mọi việc đều tốt đẹp. Chăm lễ Phật, có hứng thú đặc biệt với tôn giáo hoặc mệnh lý, kính trọng hiếu thảo với người thân, phù hợp với nghiệp tu hành tăng đạo, tính lương thiện không có lòng ác độc bất nhân, có khả năng tùy cơ ứng biến, làm việc có phương pháp.

Nếu mệnh nữ có Thiên cơ phần nhiều chủ về phúc thọ, gặp Cát sẽ cát gặp Hung sẽ hung. Nếu gặp sao Thiên lương thì bản thân sẽ có một biệt tài nào đó.

Sao Thiên cơ không có khả năng chế hóa hung sát, đặc biệt nhạy cảm với sát tinh, vì sợ rằng trí tuệ của Thiên cơ sẽ giúp kẻ ác làm càn. Sao Thiên cơ cũng rất kỵ khi Hóa Kị, khi hành vận hạn nếu gặp phải hung sát hoặc sao hóa Kị, hoặc bị hung sát Hóa Kị xung chiếu, nếu không được Cát tinh ứng cứu, nên đề phòng tai ách, tốt nhất là nên thận trọng phòng thủ, không nên hành động.

Bốn ngôi sao Thiên cơ, Thái âm, Thiên đồng, Thiên lương nếu tập hợp lại 3 cung Mệnh Tài Quan là cách Cơ Nguyệt Đồng Lương thích hợp với sự nghiệp tôn giáo, văn hóa, truyền thông đại chúng. Nếu Thiên cơ và Cự môn rơi vào cung mệnh tại Mão hay Dậu là cách Cự Cơ đồng lâm, sẽ có thành tựu lớn trong lĩnh vực khoa học công nghệ cao. Nếu Thiên cơ và Thiên lương đồng cung tại Thìn hay Tuất, hoặc tại cung Thiên di chiếu về cung Mệnh, là cách Thiện ấm triều cương chủ về phúc thọ song toàn. Nếu Thiên cơ Cự môn cùng trấn mệnh tại Dậu địa lại đồng cung với hóa Kị, hoặc gặp sao hóa Kị tại cung vị tam phương tứ chính là cách Cự Cơ hóa Dậu chủ về bôn ba vất vả gặp nhiều thất bại, nếu là mệnh nữ chủ về lênh đênh phiêu bạt.

Ca quyết:

Thiên cơ huynh đệ chủ, Nam Đẩu chính diệu tinh

Tố sự hữu thao lược, bẩm tính tối cao minh

Sở vi tối hiếu thiện, diệc khả tác quần anh

Hội cát chủ hưởng phúc, nhập cách cư hàn lâm

Cự môn đồng nhất vị, võ chức áp biên đình

Diệc yếu quyền phùng sát, phương khả lập công danh

Thiên lương tinh đồng vị, định tác đạo dữ tăng

Nữ nhân nhược phùng thử, tính xảo tất dâm bôn

Thiên đồng dữ Xương Khúc, tụ củng chủ hoa vinh

Thìn Tuất Tý Ngọ địa, nhập miếu hữu công danh

Nhược tại Dần Mão Thìn, Thất sát tịnh Phá quân

Huyết quang tai bất trắc, Kình Đà cập Hỏa Linh

Nhược dữ chư sát hội, tai hoạn hữu ách kinh

Vũ ám Liêm Phá hợp, lưỡng mục thiểu quang minh

Nhị hạn lâm thử tú, sự tất hữu biến canh.

SAO THIÊN CƠ TỌA THỦ CUNG MỆNH

Dung mạo và đặc tính

Người có sao Thiên cơ tọa thủ cung Mệnh, đa phần là có dáng người cao, nếu hập miếu thì béo mập, rơi vào thế hãm thì gầy, ánh mắt linh hoạt, dáng vẻ đoan chính, diện mạo dễ gần lương thiện, có lễ nghĩa, lời nói nho nhã, cử chỉ lịch sự.

Là người thông minh, mặt mũi ưa nhìn, tính cách nhân từ, ôn hòa trung hậu, thích làm việc tốt, hiếu nghĩa với luc thân, chịu khó lễ Phật, không có hành vi bất nhân bất nghĩa, được người khác tin cậy. Có tính hiếu học hiếu động, đa tài đa nghệ, học nhiều nhưng không tinh thông, phản ứng nhanh nhạy, điềm tĩnh có sức hút, túc trí đa mưu, xử sự hợp lý, giỏi thích nghi hoàn cảnh, lúc lâm nguy không bị rối loạn. Tam tư trấn tĩnh, có năng lực quan sát, giỏi nghiên cứu, có sở trường về phân tích, kế hoạch, giao thiệp, có thể không ngừng đưa ra ý tưởng sáng tạo. Thích phục vụ cống hiến, có tinh thần đồng đội, hứng thú với mệnh lý tôn giáo. Thần kinh quá nhạy cảm hoặc đa sầu đa cảm, nhiều ảo tưởng, có tửu lượng tốt, tính cố chấp, không phục tùng, có cơ duyên với người khác giới, về phương diện tình cảm thì ghét tình dục, dễ bị cắm sừng; tâm tính, công việc, sự nghiệp thường thay đổi theo hoàn cảnh.

Nếu là mệnh nữ thường có dung mạo xinh đẹp, biết cách trang phục dễ coi, được lòng người, tính cởi mở. Nếu sao Thiên cơ là miếu, vượng thì tính cách khôn khéo, có quyền bính, vượng chồng lợi con, nếu lại được Hóa Quyền, Hóa Lộc (hoặc có Lộc tồn) thì là quý phụ. Thiên cơ rơi vào thế hãm địa, gặp tứ Sát, sao Hóa Kị xung phá, thì chủ về cô độc, tàn tật, không cát lợi.

Suy đoán mệnh lý

Thiên cơ = 0

Thiên cơ + 4

Thiên cơ - 2

Thiên cơ + 2

Thiên cơ + 1

   

Thiên cơ + 3

Thiên cơ + 3

   

Thiên cơ + 1

Thiên cơ + 2

Thiên cơ - 2

Thiên cơ + 4

Thiên cơ = 0

Độ sáng của sao Thiên Cơ tọa thủ 12 cung

Chữ số trong bảng biểu thị độ sáng của sao Thiên cơ.

Mối quan hệ của chúng như sau:

- Miếu = + 4

- Vượng = + 3

- Địa = + 2

- Lợi = + 1

- Bình hòa = 0

- Không đắc địa = - 1

- Hãm địa = - 2

Sao Thiên cơ vận chuyển theo sao Tử vi, do sự chỉ đạo của sao này, các sao khác mới có thể vận hành theo quý đạo, là mẫu chốt thay đổi của hệ thái tinh tĩnh "Cơ Nguyệt Đồng Lương" nên có đặc tính "động"

Sự chuyển động của sao Thiên cơ không giống như sự chuyển động với "biên độ lớn" trong lịch trình đời người của các sao Thất sát, Phá quân, Tham lang, mà là sự động não, động thân thể. Sự thay đổi "biên độ nh" trong phạm vi nhất định, đầu óc không ngừng hoạt động, chân tay cũng không chịu để yên, vì vậy mà phản ứng nhanh nhạy, túc trí đa mưu, là một sao chủ về đa trí. Nhưng cũng vì vậy mà dễ bị thần kinh suy nhược, mất ngủ, bệnh biến tứ chi, hoặc trở thành bệnh mang tính chất thần kinh.

Sao Thiên cơ tùy theo cơ duyên mà thay đổi không ngừng, thường thay đổi lập đi lập lại trong phạm vi cố định, thay đổi lập đi lập lại hoặc trở về thời điểm ban đầu, nhưng lại không có chức năng hoàn nguyên. Do sao Thiên cơ thông minh, phản ứng nhanh, khả năng thích ứng mạnh, có thể thoải mái tự do trong sự thay đổi, vận dụng mang tính đàn hồi, cùng với sách lược điều chỉnh cơ động của môi trường, trong trạng thái tĩnh không làm mất đi biểu hiện hoạt bát, vì vậy có thể không ngừng thay đổi về quan niệm và hành động của bản thân. Làm cho những phiền não và đau khổ trước đó được giải tỏa, mang lại thời cơ chuyển biến cho khí vận vốn cứng nhắc trì trệ.

Sao Thiên cơ thay đổi thích ứng với hoàn cảnh, đồng thời chủ động nắm bắt và thúc đẩy bản năng thay đổi, có thể thúc đẩy năng lực học tập, có nhiều cơ hội học tập, làm cho sao Thiên cơ rất dễ học được nhiều điều mới, sau khi học hỏi xong rất nhanh có thể học hỏi những điều mới lạ khác, thúc đẩy bản thân sao Thiên cơ tiến bộ không ngừng, tri thức và trí tuệ không ngừng gia tăng, về già thường trở thành người đáng tin cậy "Nhất ngôn cửu đỉnh", là người giảng hòa cho người khác.

Sao Thiên cơ là một sao tốt, nhiều trí tuệ, thích đưa ra chủ kiến giải tỏa khó khăn cho người khác, nên theo nghề phục vụ, chuyên môn kỹ thuật, thiết kế và truyền thông đại chúng. Người có sao Thiên cơ tọa thủ cung Mệnh, về quân đội có thể trở thành nhà chiến lược. Về văn chương có thể trở thành nhà văn, nhà nghệ thuật. Về chính trị có thể trở thành quản đốc kỹ thuật, đại biểu dân ý chuyên nghiệp. Về kinh doanh có thể trở thành nhân tài đầu tư tài chính. Về khoa học kỹ thuật có thể trở thành sỹ sư máy tính hoặc cơ điện.

Sao Thiên cơ hiếu học hiếu động, làm cho người khác cảm thấy vừa tháo vát lại vừa đa tài đa nghệ, nhưng tính chất của "tài nghệ" không giống với sao Tham lang, hoặc Văn xương, Văn khúc. Tài nghệ của sao Thiên cơ thiên về các lĩnh vực như vận động, vạch ra kế hoạch, phân tích, sáng tạo, phát minh, giao thiệp, truyền thông đại chúng. Tài nghệ của sao Tham lang chủ yếu là giao tiếp ứng xử, cầm kỳ thư họa, thiết kế. Tài nghệ của sao Văn Xương thì lại thiên về văn học, nghiên cứu học thuật, viết văn... Tài nghệ của sao Văn Khúc chủ yếu ở các linh vực như: nghệ thuật, giao tiếp, ngoại ngữ, tài nghệ đặc biệt, âm nhạc, hội họa, vũ đạo, sân khấu, giải trí.

Sao Thiên cơ có đặc tính động, khó yên vị với môi trường cố định không thay đổi, thích tự mình tìm ra cái mới phát sinh thay đổi, có tiềm năng vận động để thay đổi vận động cũng như thay đổi môi trường, hoặc có nhiều cơ hội kiêm hai ba chức vụ, nên thường rất bận rộn vất vả bôn ba, thiếu tính ổn định, do vậy Thiên cơ kỵ nhất là lập nghiệp theo ngành kinh doanh.

Người có sao Thiên cơ thủ Mệnh, cung Phu thê tất có sao Thái dương tọa thủ, nếu gặp sao Thái dương rơi vào thế hãm hoặc Hóa Kị (người sinh năm Giáp), hoặc sao Thiên cơ bản thân rơi vào thế hãm, Hóa Kị hay gặp phải hung tinh, sát tinh, thì chủ về bất lợi cho đời sống hôn nhân, có thể đứt gánh giữa đường.

Sao Thiên cơ tại cung vị tọa mệnh liền kề với hai cung vị, một cung luôn có sao Tử vi, cung còn lại thì không có chủ tinh cũng là không có sao cố định, mức độ tốt xấu thiện ác của sao này hành đại vận, tiểu hạn, lưu niên, đều ảnh hưởng đến phương hướng thay đổi của sao Thiên cơ. Nếu thuận hành theo đại vận, tiểu hạn hoặc lưu niên, tất trước tiên phải xem mức độ tốt xấu của sao tọa thủ tại cung này, nếu thuộc cát lợi thì sao Thiên cơ nên "thuận tay đảy thuyền" nghênh tiếp vận hạn mà phát triển theo phương diện tốt. Cung này nếu không cát lợi, mà phấn đấu cũng không có hiệu quả, thì sao Thiên cơ nên điềm tĩnh lại, thu thập tàn cục, chịu khó phân tích và kiểm điểm lại việc đã qua, để vạch ra sách lược nhiệm vụ kế hoạch cho tương lai sau này.

Trường hợp nghịch hành với đại vận, tiểu hạn, lưu niên, nếu cung này không cát lợi, thì sao Thiên cơ phải biết thận trọng dè dặt, không được vội vàng thay đổi, khi chưa phân tích tình hình cụ thể những đòi hỏi của hoàn cảnh có thể phải sửa đi sửa lại nhiều lần. Bởi vậy, khi gặp phải vận xấu nhập vào sao Thiên cơ, vận hạn này chưa thể là thời cơ tốt để thăng cơ bổ vận.

Phương thức bổ vận có vận động, tiến tu, suy xét,..., để làm giảm bớt sự dao động của bản thân sao Thiên cơ, với tiền năng của Thiên cơ làm cho bản thân có được trạng thái điềm tĩnh mà đối diện với biến động không ngừng của cuộc sống, đồng thời thể hiện đầy đủ triết lý nhân sinh về tĩnh và động, biến và bất biến.

Sao Thiên cơ khi miếu, vượng, thì hóa cát lợi chủ về phú quý. Nếu rơi vào hãm địa thì bình thường, có thể nói là không tốt. Sao Thiên cơ và các Cát tinh như Thiên lương, Tả phụ, Hữu bật, Văn xương, Văn khúc, tam phương hội chiếu, về văn thì tinh thông về võ thì trung lương, thông tình đạt lý tận trung tận tụy với công việc.

Sao Thiên cơ gặp Thiên lương đồng cung hoặc trong thế tam phương hội chiếu, là người giỏi về việc binh, có thể là nhân tài quân sư. Sao Thiên cơ và sao Thiên tài cùng cung là người trí tuệ, thông minh hơn người.

Mệnh nữ có sao Thiên cơ gặp cát tinh chiếu tại tam phương (cung Quan, cung Tài, cung Di), tứ chính (cung mệnh hợp tam phương) thì vượng chồng ích lợi cho con, gặp Hóa Lộc, Hóa Quyền là người vợ tốt.

Sức đối kháng của sao Thiên cơ với Sát tinh khá yếu. Thiên cơ sợ rơi vào thế hãm, không ưa đồng cung với 6 sát tinh, cũng sợ gặp sao Hóa Kị. Nếu Thiên cơ rơi vào thế hãm hoặc gặp Sát tinh, mà không có Cát tinh phù trợ, thì dễ gặp trắc trở nội tâm đau khổ, nên theo nghề công chức hoặc ngoại vụ, đề phòng bệnh tật hình khắc.

Sao Thiên cơ Hóa Kị, có thể tồn thương đến gân não, đầu óc, phàm làm việc dễ xảy ra tình trạng xai sót, càng suy sét kỹ lại càng xảy ra sai lầm, trước khi kết hôn thường hay trăng hoa, sau khi kết hôn lại dễ rơi vào môi trường có điều kiện hái hoa bắt bướm, thường theo nghề kỹ nghệ, thiên về lĩnh vực kỹ thuật, hoặc thích nghiên cứu Đông y, Mệnh lý.

Tất cả các sao đều sợ sao Hóa Kị, đặc biệt là ba sao Liêm trinh, Tham lang và Thiên cơ càng sợ sao Hóa Kị. Sao Liêm trinh là sao "tù", khi Hóa Kị thành bị thắt chặt, không thể mở ra, thân và trái tim bị đóng chặt, hàng ngàn khó khăn, tai họa không nhẹ. Sao Thiên cơ chủ về lo xa, chu đáo, sao Thiên cơ hóa Kị thì mọi việc đều có sai xót, càng lo lắng thì càng có vấn đề. Sao Tham lang là quỷ dục vọng, sao Tham lang Hóa Kị thì dục vọng quá cao nên mọi cố gắng cuối cùng cũng bằng không.

Sao Thiên cơ - Lục Bân Triệu

Sao Thiên cơ về ngũ hành thuộc âm mộc, ở trên trời thuộc chòm Nam tinh, hóa làm sao lành. Tính chất của sao này là nhiều kế mưu ứng biến đa đoan; ở người là giỏi quyền biến, giỏi nắm bắt cơ hội, có tính hiếu học, hiếu động, siêng năng. Song cứ thấy lạ là thay đổi cách suy nghĩ, vì vậy rộng mà không sâu, bác mà không tinh; hơn nữa dục vọng quá cao, cho nên thực tế thường không theo kịp lý tưởng, vì vậy mà nhọc tâm mệt sức, song xử sự phần nhiều là có lý lẽ.

THIÊN CƠ Ở CUNG MỆNH

Thiên cơ ở cung mệnh thì chủ về người sắc mặt trắng xanh, lúc tuổi già hơi kèm sắc vàng. Nhập miếu thì thân hình dài mập. Đồng độ với Cự môn hoặc lạc hãm chủ về người gầy dong dỏng cao, mặt dài hơi kèm tròn, tâm từ tính gấp, hiếu động, hiếu học.

Nam mệnh có sao Thiên cơ ở cung mệnh thì nhiều cơ mưu biến hóa, đa tài đa nghệ. Hội hợp với Thiên lương thì sở trường về khẩu tài, khéo biện luận, tính tình nhạy cảm, giỏi tùy cơ ứng biến. Đồng độ hoặc hội hợp với Thái âm thì kín đáo giỏi quyền biến, trọng tình cảm.

Thiên cơ ở Thân địa thì có Tử vi và Thiên phủ giáp cung Mệnh, một đời quyền trọng lộc nhiều. Ở Tý địa hoặc Ngọ địa thì Cự môn xung cung trở thành bậc quyền quý giầu có.

Thiên cơ nhập miếu thì bàn việc quân rất giỏi. Được các sao Tử phụ, Hữu bật, Văn xương, Văn khúc, Hóa quyền, Hóa lộc, Thiên khôi, Thiên việt hội hay chiếu thì một đời quyền quý. Được Lộc tồn Thiên mã vây chiếu thì nguồn tiền tài dồi dào. Có Văn xương Văn khúc giáp cung thì bẩm tính thông minh, văn chương xuất chúng. Có tam hóa tinh Lộc Quyền Khoa chiếu và hội, không có sát diệu, là trong thần triều đình. Gặp Hóa Kị thì đi đó đi đây nhiều thay đổi, lừng khừng không quyết đoán vì tính tự hay quan trọng hóa vấn đề, quan trọng hóa sự việc một cách không cần thiết, nên hay lo hay nghĩ. Đồng độ với Kình Đà Hỏa Linh tuy được phú quý song không lâu dài. Gặp Cát tinh thì nên chọn nghề kinh doanh song phải chấp nhận nhiều biến động để thích nghi với thị trường.

Nếu có Cát tinh phù trì thì chủ về bản thân kiêm mấy chức, hoặc là người có kỹ thuật chuyên môn, thành công vè nghệ thuật.

Thiên cơ Cự môn Lộc tồn đồng cung, hoặc ở cung Thiên di, chủ về đại quý (cần phải không có ác sát)

Thiên cơ Thiên lương đồng cung, có cát tinh hội và chiếu, tuy có thể phát song không được lâu dài, tuy rằng quý nhưng chỉ có hư danh. Thiên cơ, Thiên lương, Thát sát, Phá quân xung hội là người thích đàm luận thiền cơ của cửa Không. Thiên cơ, Thiên lương, Thiên đồng, Thái âm hội và chiếu thì nên tính việc phát triển ở cơ quan công sở hoặc những ngành nghề liên quan đến công chúng. Nếu gặp Văn xương Văn khúc thì thích hợp với những ngành nghề liên quan đến văn hóa đại chúng. Thiên cơ, Thiên lương, Thái âm hội và chiếu, mà Tham lang thì ở cung Thân thì chủ về người ngày đêm bôn ba, tất bật dị thường, hoặc đam mê riệu chè cờ bạc. Cùng với Kình Đà Hỏa Linh hội và chiếu thì chủ về nhiều tài nhiều nạn, hoặc sau khi suy sụp thì bỏ đi nơi khác, hay làm con thừa tự của người khác, nếu không sẽ hay lo sợ vô cớ. Ở Dần địa, Mão địa, Thìn địa mà hội và hợp Sát tinh Thất sát và Phá quân là chủ về chuyện bất trắc chảy máu. Phàm hội và hợp Kình Đà Hỏa Linh Không Kiếp và Thiên hình, lại gặp thêm Hóa Kị thì yểu thọ.

Nữ mệnh có sao Thiên cơ ở cung mệnh chủ về tính tình cương cường, thông minh khéo léo, lanh lợi, giúp chồng ích con, giỏi lo việc nhà, tháo vát hơn chồng. Có tam cát Lộc Quyền Khoa tương hội là tạo mệnh phu nhân. Có Thái âm đồng độ là dung mạo mỹ lệ, giầu tình cảm, khéo đối xử. Có Cự môn hội và chiếu là người nhiều lời qua tiếng lại. Thiên cơ hóa Kị thì hay lo nhiều nghĩ nhiều, bị tính ưa kích thích, dễ bị ngoại giới ảnh hưởng mà gây nên cảm xúc, làm cho đối tượng nam giới vừa hận vừa yêu, là bông hoa hồng có gai. Nếu Thiên cơ, Cự môn, Thiên lương, Thái âm hội và hợp, lại gặp thêm ác sát Hóa Kị Kình Đà Hỏa Linh, Thiên hình Không Kiếp là chủ về hình khắc, thường làm kế thất, làm vợ lẽ, hoặc hậm kết hôn, nếu không thì tổn thương chồng khắc hại con.

Lưu niên đại hạn vào triền độ của Thiên cơ, nhiều cơ hội mới, chủ về có cơ hội chuyển động biến đổi, hoặc nhà ở, giường ngủ có chuyện phải di dời. Hội và chiếu Thiên mã là có thuyên chuyển thăng chức, đi xa. Hội với tam hóa Khoa Quyền Lộc và các cát tinh như Lộc Mã Xương Khúc Khôi Việt thì chủ về phát triển sự nghiệp, thêm tài thêm phúc. Nếu các sao Kình Đà Hỏa Linh Không Kiếp Hóa Kị Cự môn hội và chiếu thì chủ về lời qua tiếng lại liên miên, gia sự rối bời, tâm phiền ý nản, mọi việc đều biến động không được yên ổn.

Sao Thiên cơ - Vương Đình Chi

Sao Thiên cơ miếu ở Tý Ngọ, hãm ở Sửu Mùi.

Sao Thiên cơ là sao thứ nhất của Nam Đẩu, ngũ hành thuộc âm mộc, hóa khí là "thiện" (khéo léo).

Tính chất cơ bản của Thiên cơ là mưu trí, quyền biến và linh hoạt, có thể ví với mưu sĩ hoặc quân sư.

Nói về phương diện tốt, Thiên cơ chủ về thông minh, nhạy bén, xử sự có mạch lạc lớp lang, cho nên học hành giỏi giang, có thể trở thành người đa tài đa nghệ. Nhờ đặc tính thông minh, nhạy bén với thời cuộc, người Thiên cơ là người khi lâm sự thường phản ứng nhanh, lại khéo ăn khéo ở. Do những đặc tính này, Thiên cơ có phẩm cách về trí tuệ, giỏi động não sở trường về phân tích và vạch kế sách, kiêm có kỹ năng chuyên môn. Đây đều là đặc tính mưu thần và quân sư.

Nói về phương diện khuyết điểm, Thiên cơ có đặc tính hay lo nghĩ quá đáng, thường lao tâm khổ tứ. Cho nên, có biểu hiện không thể kiên trì trong một kế hoạch. Bởi vì, khi tiến hành theo kế hoạch tới một giai đoạn nào đó, người Thiên cơ sẽ vì suy nghĩ tính toán quá nhiều nên muốn thay đổi kế hoạch. Nói cụ thể hơn, người có Thiên cơ thủ cung Mệnh dễ có tính đứng núi này trông núi nọ, học nhiều mà không thực tế, tâm dục đặt mục tiêu quá cao.

Thiên cơ thủ Mệnh không nên kinh doanh làm ăn, đặc biệt không nên tự sáng lập sự nghiệp, mà chỉ nên làm việc lập kế sách. Nếu không, khi tự kinh doanh, sẽ dễ vì động não quá nhanh mà không kiên trì theo đuổi mục đích ban đầu, thường dẫn đến rối loạn sự đồng thuận ở giai đoạn cuối nên hiệu quả không mang lại giá trị cao nhất, đôi khi còn dẫn đến thất bại.

Thiên cơ khác với Tử vi, nó không có khí quý phái của bậc hoàng đế, cho nên sức đề kháng và hóa giải các sao hung, sát, kị, hình, rất yếu. Thiên cơ rất ngại Hóa Kị, khi hóa Kị khiến cho những ưu điểm của Thiên cơ rất khó được phát huy, trong khi khuyết điểm lại bị bộc phát hoàn toàn.

Thiên cơ cũng tương phản với Tử vi ở chỗ không kị gặp Cự môn, khi Cự môn gây ảnh hưởng đối với Thiên cơ, chỉ là dễ xảy ra điều tiếng thị phi sau lưng, nhất là sai lầm về những phát ngôn thuộc quá khứ của Thiên cơ.

Sao Thiên cơ - Phan Tử Ngư

Thiên cơ thuộc âm mộc, sao thứ ba của nhóm Nam Đẩu, là sao ích thọ, chủ về anh em, hóa khí gọi là thiện nên còn gọi là Thiện Tú (sao Thiện). Thiên cơ nhập miếu, vượng thì người đậm mập, gặp hãm địa thì người gầy ốm. Tính cách phần nhiều tính toán sáng suốt, siêng năng cẩn thận, nếu đồng cung với Thiên lương thủ Thân Mệnh thì phần nhiều là người nói hay, giỏi biện luận, đủ tố chất thành tài ở ngành nghề cần tới sự khéo léo đặc biệt, tâm địa thiện lương, có lòng tín ngưỡng đối với tôn giáo. Nếu thêm Khôi Việt Khúc Xương thì chủ về đa học đa năng, nếu có Kình dương xung phá hoặc hội thêm Không Kiếp thì rất cô độc, hoặc là mệnh sư tăng đạo sĩ.

 


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sao Thiên Cơ

Các bước luận đoán lá số Tử Vi

Bài viết trình bày các bước để giải đoán một lá số tử vi một cách đơn giản, dễ hiểu, khoa học và chính xác. Ai cũng có thể tự giải đoán lá số của mình theo cách này.
Các bước luận đoán lá số Tử Vi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Muốn lập thành một lá số tử vi cần phải hội đủ 4 yếu tố là Năm-Tháng-Ngày-Giờ sinh theo Âm Lịch. Cách lập thành lá số tử vi nói chung có nguyên tắc chỉ dẩn khá rỏ ràng, nhưng về phương cách giải đoán thì còn phải tùy theo trình độ, cơ duyên và kinh nghiệm... của người giải đoán mà sẽ có những lời giải đoán khác nhau cho lá số tử vi.

Để giải đoán được tử vi giỏi, đại khái cần phải có 4 điều kiện sau:

Trí nhớ - tử vi là một khoa lý số cổ học rất phức tạp nên rất cần có trí nhớ tốt để thuộc các nguyên lý của Âm dương, Ngũ hành, Can Chi và ý nghĩa tính chất của các Sao.

Suy luận - Phải suy luận để phân tích, phối hợp, chế hóa sự sinh khắc của âm dương ngũ hành và xấu tốt của các sao đóng tại mỗi cung số.

Trực giác - Cần phải có trực giác bén nhạy để giúp ích cho những sự suy luận.

Kinh nghiệm - Phải thực hành cho nhiều, đối chiếu phần thực nghiệm với lý thuyết để suy luận ra những lời giải đoán cho súc tích, phong phú và chính xác.

Để giúp các bạn mới bắt đầu tự nghiên cứu tử vi được dễ dàng, dễ hiểu và có kết quả, chúng tôi mạo muội xin đưa ra những phương pháp, hướng dẫn cụ thể để các bạn theo thứ tự học hỏi hầu có thể tự giải đoán được lá số của mình.

Xem giải thích cách trình bày và hiểu ý nghĩa của lá số.
Những Nguyên Tắc Căn Bản phải nhớ trong tử vi
Những nguyên tắc căn bản về Âm Dương / Can Chi và Ngũ hành sinh khắc trong tử vi.
Những quy tắc phối chiếu của Tam hợp - Nhị hợp - Xung chiếu giữa các cung trong lá số tử vi.

Những tiến trình luận đoán số phải theo:

Xét sự thuận nghịch về lý âm dương giữa Năm sinh với vị trí cung an Mệnh để biết tổng quát tốt xấu của cung cần giải đoán.
Xét sự sinh khắc ngũ hành của Can Chi Năm sinh
Xét sự tương quan ngũ hành giữa bản Mệnh và Cục
Xem phối hợp hai cung tam hợp với cung an Mệnh-Thân
Xem phối hợp cung nhị hợp với cung an Mệnh-Thân
Xem phối hợp cung xung chiếu với cung an Mệnh-Thân
Xem vị trí của tam hợp hai cung Mệnh/Thân và vòng Thái Tuế trên lá số
Xem vị trí của tam hợp hai cung Mệnh/Thân và vòng Lộc Tồn trên lá số
Xem vị trí của tam hợp hai cung Mệnh/Thân và vòng Tràng Sinh trên lá số

Phải xét qua tất cả các yếu tố trên rồi phối hợp lại để đưa ra lời lý giải tổng quát về những nét đại cương của cuộc đời cho lá số.

Những Đặc Tính của các Sao phải hiểu trong tử vi

Xem tổng hợp bộ cách của Chính tinh và các trung tinh tại ba cung Mệnh-Tài-Quan, cung an Thân và cung Phúc Đức để biết tổng quát lá số của mình được các cách gì.

Xem ý nghĩa và đặc tính của Chính tinh tọa thủ, hợp chiếu và nhị hợp tại cung Mệnh và Thân.

Xem ý nghĩa và đặc tính của các Trung tinh và Phụ tinh tọa thủ, hợp chiếu và nhị hợp của cung Mệnh-Thân.

Xét ý nghĩa, đặc tính, vị trí và sự đắc hãm của các Hung Sát tinh trên lá số.

Xem ảnh hưởng của các Hung Sát Bại tinh (nếu có) tọa thủ, hợp chiếu và nhị hợp tại các cung quan trọng như tại ba cung Mệnh-Tài-Quan, cung an Thân và cung Phúc Đức.

Xét tới giá trị và ảnh hưởng biến đổi của các sao theo thời gian của mệnh số.

Xem sự liên đới của các sao với nhau, nếu các sao này kết hợp thành cách cục hay bộ cách thì sẽ có tác dụng mạnh mẽ hơn là đóng đơn lẽ hay lạc lỏng.

Nếu muốn xem cung nào thì phải phối hợp ý nghĩa, đặc tính và đặc điểm của các sao tọa thủ, hợp chiếu và nhị hợp tại cung đó, quân bình số lượng các sao rồi đúc kết các yếu tố lại để đưa ra lời lý giải kết luận về cung muốn xem.

Phải tập xem phần giải đoán qua các lá số mẫu để biết cách lý giải lá số. Phần này có thể xem qua các bài sưu tập về "Vấn đáp tử vi của Tướng Số gia Thiên Đức đăng lại trên trang Web này để rút tỉa kinh nghiệm về cách thức giải đoán lá số. Mỗi câu vấn đáp nói trên đều có phần lược giải về tử vi cho người đặt ra câu hỏi.

Hiện tại phần "Tính lý các sao" của trang Lý Số Đông Phương chưa được hoàn thành đầy đủ, nên các bạn có thể qua trang Web của Vietshare, sau khi lấy xong lá số thì nhấn nút chuột trên tên của mỗi sao tại cung nào muốn xem thì sẽ có ngay lời giải tóm tắt về đặc tính của sao đó ngay trên màn ảnh.

Những cung cần phải xem

Cùng một cách xem cho cung Mệnh-Thân và Phúc Đức, xét và luận đoán các cung liên hệ đến bản thân mình là Quan lộc - Tài bạch - Tật ách - Thiên di - Điền trạch - Nô bộc.

Cùng một cách xem cho cung Mệnh-Thân và Phúc Đức, xét và luận đoán các cung liên hệ đến lục thân như Phối ngẫu - Tử tức - Phụ mẫu - Huynh đệ

Những Vận Hạn Trong Cuộc Đời phải biết

Cách Giải Đoán Vận Hạn

Xem các Đại vận 10 năm của lá số

Xem Tiểu vận từng năm

Luận về cung tam hợp

Sách số nào cũng chỉ khi xem một cung thì phải xem phối hợp: cung chính, hai cung tam hợp, cung xung chiếu và cung nhị hợp, tất cả là 5 cung cùng một lúc để giải đoán.

Có quan điểm còn đánh giá thứ tự ưu tiên hoặc xếp đặt ra giá trị tỷ lệ cho cung chiùnh là quan trọng nhất, thứ nhì là cung xung chiếu, thứ ba mới đến hai cung tam chiếu với cung chính và sau hết là cung nhị hợp. Sự đánh giá này nhằm phân định được các ảnh hưởng nào là trực tiếp và ảnh hưởng nào là gián tiếp để giúp cho việc giải đoán được cụ thể và đầy đủ hơn.

Riêng theo cụ Thiên Lương thì căn bản chính yếu của một cung chỉ có một cung chính và hai cung tam hợp. Cung nhị hợp (tương sinh) chỉ phụ thêm bổ túc cho cung chính. Còn cung xung chiếu (tương khắc) tuyệt đối chính là đối phương.

Dưới đây là 4 bảng Tam Hợp trong tử vi:

Sở dĩ không có tam hợp hành Thổ vì trong 4 tam hợp trên đều có hành Thổ làm nền tảng để cho Tứ Sinh (Dần-Thân-Tỵ-Hợi) phát nguồn bồi đắp cho Tứ Chính (Tý-Ngọ-Mão-Dậu) được đầy đủ sung túc để trở thành những hành chính trong tam hợp.

Theo Dịch học, hành Thổ là nguồn gốc phát xuất ra các hành khác, rồi tập trung về lại nguồn cội trung ương, hành Thổ phối hợp với 4 hành Kim-Mộc-Thủy-Hỏa thành 4 cục diện, là thế tam hợp căn bản của tử vi Đẩu Số.

Nhận xét về bảng Tam Hợp dưới đây sẽ thấy trong mỗi cục diện gồm có 3 hành, tuy khác nhau nhưng cùng liên minh với nhau thành một hành chung, để cùng các cục diện khác tranh đua biến đổi sinh khắc lẫn nhau.

Ngoài ra, theo cụ Việt Viêm Tử thì cần phải phân biệt đến hai chiều thuận nghịch theo quy lý âm dương của tam hợp cục nữa. Lấy ví dụ người có cung mệnh tại Ngọ trong tam hợp cục Dần-Ngọ-Tuất. Nếu là Dương Nam/ Âm Nữ khởi theo chiều thuận đi từ cung Dần đến cung Tuất nên những sao tam hợp đóng tại cung Dần sẽ ảnh hưởng nhiều hơn là những sao cùng tam hợp tại cung Tuất. Còn với người Âm Nam/ Dương Nữ theo chiều nghịch đi ngược lại từ cung Tuất đến cung Dần nên những sao tam hợp tại cung Tuất sẽ ảnh hưởng nặng hơn là những sao tại cung Dần.

Thuyết Âm Dương theo kinh Dịch Chúng tôi xin sơ lược tóm tắt về thuyết Âm Dương:

Theo học thuyết cổ của Trung Hoa, nguồn gốc sơ khởi của vạn vật trong vũ trụ là Thái Cực. Trong thái cực có hai động thể tiềm phục đó là hai khí Âm Dương - gọi là Lưỡng Nghi.

Âm và Dương là hai mặt tương phản đối lập, mâu thuẫn, ức chế lẫn nhau nhưng thống nhất, nương tựa, thúc đẩy lẫn nhau, trong Dương có mầm của Âm và trong Âm có mầm của Dương. Vạn vật được sinh thành và biến hóa nhờ hai khí Âm Dương này phối hợp.

Hai khí Âm Dương giao tiếp tuần hoàn sinh hóa ra vạn vật theo 4 trạng thái phát triễn và suy tàn được gọi là Tứ Tượng (Thiếu Dương - Thái Dương và Thiếu Âm - Thái Âm)
"Khí của trời đất, hợp thì là một, chia thì là Âm và Dương, tách ra làm bốn mùa, bày xếp thành Ngũ hành." (Đổng Trọng Thư)

Tứ tượng nhờ ảnh hưởng của hai khí Âm Dương thúc đẩy và biến hóa khai sinh ra:

  • 4 mùa - Xuân Hạ Thu Đông
  • 5 chất gọi là Ngũ hành: Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ
  • 8 hình dạng khác nhau của vũ trụ được gọi là Bát Quái

Càn chỉ trời, Khảm chỉ nước, Cấn chỉ núi non, Chấn chỉ sấm sét, Tốn chỉ gió, Ly chỉ lửa, Khôn chỉ đất, Đoài chỉ đầm lầy.

Liên hệ giữa Mệnh-Thân và Hạn trong tử vi

Mệnh Thân và Hạn tốt - Người có cung Mệnh tốt thì chỉ xứng ý toại lòng lúc còn trẻ tuổi, đến tuổi trung niên và hậu vận thì cũng cần phải được cung Thân tốt thì mới được trọn vẹn. Nếu được Hạn tốt nữa thì ví như gấm thêm hoa.

Mệnh Thân tốt gặp Hạn xấu - Mệnh Thân tốt có thể giải trừ được một phần lớn ảnh hưởng xấu của Hạn.

Mệnh Thân xấu được Hạn tốt - Được phát ví như lúa non gặp mưa thuận gió hòa, cây khô gặp mùa Xuân, nhưng không bền.

Mệnh Thân và Hạn xấu - Rất xấu như sinh bất phùng thời.

Ảnh hưởng của Chính tinh là Nam hay Bắc Đẩu Tinh nhập hạn trong tử vi

Nam Đẩu Tinh nhập hạn - Ảnh hưởng mạnh mẽ vào khoảng nữa phần thời gian sau của Đại và Tiểu vận. Nếu bị Tuần Triệt thì đoán ngược lại.

Các Nam Đẩu Tinh là Thái Dương - Thiên Cơ - Thiên Đồng - Thiên Lương - Thiên Tướng và Thất Sát. Các chính tinh trên hợp với người dương nam và âm nữ, nếu được miếu vượng hay đắc địa thì càng thêm tốt đẹp.

Riêng hai chính tinh tử vi và Thiên Phủ là Nam Bắc Tinh

Bắc Đẩu Tinh nhập hạn - Ảnh hưởng mạnh mẽ vào khoảng nữa phần thời gian đầu của Đại và Tiểu vận.

Các Bắc Đẩu Tinh là Thái Âm - Vũ Khúc - Tham Lang - Liêm Trinh - Phá Quân và Cự Môn. Các chính tinh trên hợp với người âm nam và dương nữ, nếu được miếu vượng hay đắc địa thì càng thêm tốt đẹp.

Ảnh hưởng của Sao nhập hạn

Ảnh hưởng các Sao lưu động mỗi năm

Đại Tiểu Hạn trùng phùng

Cung gốc đại vận 10 năm với lưu niên tiểu vận đồng cung, sự việc tốt xấu hay dở của năm xem hạn tại cung trùng phùng này sẽ gia tăng.

Thí dụ: hạn năm Ngọ 32 tuổi lưu niên chữ Ngọ trùng với cung gốc của đại vận 23-32 tuổi

Yếu tố thiên thời của đại-vận (10 năm) trong tử vi

Mỗi đại-vận là một thiên-thời, đắc được thiên-thời gặp vận hội tốt đời sẽ lên hương, còn mất thiên-thời thì đời sẽ thấy khó khăn để rồi đi xuống.

Lấy ngũ hành của tam hợp tuổi đem so-sánh với hành tam hợp của cung đại vận nhập hạn:

Tam hợp tuổi tương đồng hành tam hợp vận - đắc vận Thái-tuế (thiên-thời) là đại-vận tốt đẹp nhất trong đời; thêm sao tốt nhập hạn thì được như gấm thêu hoa, nếu gặp ách-nạn thì cũng sẽ được cứu-giải mà qua khỏi.

Trường-hợp bị Hung-sát-tinh phá cách như Không-Kiếp... thì vẫn được lên nhưng rồi dễ xuống, hay gặp khó-khăn và trở-ngại, vận hội tốt còn hưởng độ 50% mà thôi.

Đại-vận này cần phải được thêm tam-hợp Sinh-Vượng-Mộ hổ trợ thì mới được hưởng vận Thiên-thời một cách chính-đáng, trọn-vẹn và bền-bỉ.

Thí dụ: các người tuổi Dần-Ngọ-Tuất đại vận 10 năm đến các cung Dần-Ngọ-Tuất (đại vận hỏa đồng hành tam-hợp tuổi hỏa)

Tam-hợp-vận sinh-nhập hành tam-hợp-tuổi - được thuận-lợi và sức-khỏe tốt; tuy-nhiên vì nằm trong tam-hợp Thiên-không nên cũng hay dễ xảy ra những sự thất-bại và buồn lòng, nếu đắc Hóa-khoa có thể cứu-giải.

Thí dụ: các người tuổi Dần-Ngọ-Tuất đại vận 10 năm đến các cung Hợi-Mão-Mùi (đại vận mộc sinh hành tam-hợp tuổi hỏa)

Tam-hợp-tuổi khắc-xuất hành tam-hợp-vận - bị sa-lầy, nhiều vất-vả (Thiếu-âm), phải gắng công tranh-đấu (Phá-Hư-Mã); có thể nhờ đến phần Nhân-hòa (sao) giúp-đỡ.

Thí dụ: các người tuổi Dần-Ngọ-Tuất đại vận 10 năm đến các cung Tỵ-Dậu-Sửu (đại vận kim bị hành tam-hợp tuổi hỏa khắc)

Tam-hợp-vận khắc-nhập hành tam-hợp-tuổi - khắc ngược rất xấu, cần phải có được nhiều sao tốt để cứu giải.

Thí dụ: các người tuổi Dần-Ngọ-Tuất đại vận 10 năm đến các cung Thân-Tý-Thìn (đại vận thủy khắc hành tam-hợp tuổi hỏa)

Yếu tố địa lợi của Đại-vận (10 năm) trong tử vi

Địa-lợi là nơi an thân của bản mệnh tại đại vận. Nếu cung hạn tương sinh tất bản mệnh sẽ được vững chắc an lành. Phần này phải lấy ngũ hành nạp âm của mệnh so-sánh với ngũ hành của cung nhập-hạn:

Tương-Sanh - sức-khỏe dồi-dào và thường gặp may-mắn.

Thí dụ: người mệnh hỏa đại vận đến hai cung Dần-Mão thuộc mộc được tương sinh.

Tương-Khắc - sức-khỏe kém, thường gặp nhiều khó-khăn và bất trắc xảy ra.

Thí dụ: người mệnh hỏa đại vận đến hai cung Hợi-Tý thuộc thủy bị tương khắc.

Nếu hành bản mệnh bị hành của cung đại-vận khắc rất xấu, nhưng được Chính-tinh tại cung đại-vận sinh-nhập lại mệnh (tức cung sinh sao và sao sinh lại mệnh) là cách "tuyệt xứ phùng sinh" rất tốt (ví dụ người mệnh hỏa bị hành của cung đại vận tại Hợi hay Tý thuộc thủy khắc, nhưng lại được chính tinh Thiên Cơ hoặc Thiên Lương tại Hợi-Tý thuộc mộc sinh lại bản mệnh)

Yếu tố nhân hòa của đại-vận (10 năm) trong tử vi

Nhân-hòa là thứ cách quan trọng sau yếu-tố Thiên-thời, nếu được Thiên-thời và Địa-lợi nhưng không được phần "Nhân-hòa" thì dù bản-thân có may-mắn đến đâu thì cũng phải bị nhiều vất-vả mới được thành-công, vì ít được sự trợ-giúp của bên ngoài.

Phần này phải xem bộ Chính tinh Đại-vận có cùng hay khác thế lưỡng-nghi với bộ Chính tinh của tam hợp Mệnh:

Nếu Chính tinh đồng bộ cùng phe phái lưỡng-nghi (như Tử-Phủ-Vũ-Tướng gặp Sát-Phá-Liêm-Tham) thì khi chuyển vận gặp nhau ít thay-đổi, thêm Trung-tinh đắc cách tam-hợp thì được hòa-thuận tốt đẹp.

Bằng như khác phe phái (như Cơ-Nguyệt-Đồng-Lương gặp Sát-Phá-Liêm-Tham) thì hẳn là có sự đụng-độ và khó-khăn, phần thiệt-hại vẫn là phần của phe yếu thế là Cơ-Nguyệt-Đồng-Lương; nếu gia thêm Sát-tinh nhập hạn thì sẽ gặp nhiều chuyện không may.

Tư-thế của bốn bộ Chính tinh (Tứ tượng) trên muốn được thêm hoàn-mỹ và thành-công thì cần phải có tối thiểu:

- Bộ T-P-V-T cần nhất là Tả-Hữu, Thai-Tọa
- Bộ S-P-L-T cần nhất là Thai-Cáo và Lục-sát-tinh
- Bộ C-N-Đ-L cần nhất là Xương-Khúc và Khôi-Việt
- Bộ C-N cần nhất là Hồng-Đào, Quang-Quý

* So-sánh hành Sao nhập hạn sinh hay khắc với hành Mệnh, bộ Sát-Phá-Liêm-Tham mỗi khi nhập hạn thường có những cuộc thăng-trầm khá quan-trọng xẩy ra.

Luận về Lưu niên đại hạn trong tử vi

Ngoài cách xem các đại vận 10 năm ra, nếu muốn xem đại vận một cách tường tận hơn thì phải xem cả lưu đại hạn của từng năm một.

Nếu muốn biết xem lưu đại vận từng năm một của mỗi 10 năm đại vận thì phải khởi năm thứ nhất từ con số đầu ghi ở cung gốc đại hạn muốn xem, tính tiếp sang cung xung chiếu của cung gốc hạn là năm thứ hai, sau đó:

Dương Nam - Âm Nữ: Từ năm thứ hai ở cung xung chiếu lùi lại một cung (theo chiều nghịch kim đồng hồ) là năm thứ ba, xong trở thuận lại cung xung chiếu ghi số tiếp năm thứ tư, rồi tiếp tục theo chiều thuận ghi tiếp mỗi cung một số cho các năm kế tiếp cho đến cung gốc của đại hạn sau.

Xem bảng thí dụ cách tính lưu đại vận của 10 năm đại vận từ 22 đến 31 tuổi của tuổi Dương Nam / Thủy Nhị Cục bên trái dưới đây.

Âm Nam - Dương Nữ: Từ số của năm thứ hai ở cung xung chiếu tiến lên một cung (theo chiều thuận kim đồng hồ) ghi số kế tiếp là năm thứ ba, xong trở lùi lại cung xung chiếu ghi số tiếp năm thứ tư, rồi tiếp tục theo chiều nghịch ghi tiếp mỗi cung một số cho các năm kế tiếp cho đến cung gốc của đại hạn sau.

Luận về Lưu niên tiểu vận (1 năm) trong tử vi

Trong lá số tử vi, chung quanh phần địa bàn (trung tâm của lá số) kế bên ô mỗi cung đều được ghi 1 địa chi (ví dụ Tý-Sửu-Dần-Mão...) theo chiều nam thuận nữ nghịch, đó chính là năm tiểu vận tại mỗi cung của đời người - ví dụ năm Kỷ Mão thì xem tiểu vận tại cung có ghi chữ Mão, năm Canh Thìn thì xem tiểu vận tại cung có ghi chữ Thìn...

Khi xem tiểu vận phải xem phối hợp với cung gốc của 10 năm đại vận của tiểu vận đó. Tiểu hạn (dầu tốt hay xấu) chỉ phụ giúp thêm hay làm giảm bớt 10% ảnh hưởng của Đại vận.

Mỗi tiểu hạn, chúng ta cần phải so sánh đến các tương quan giữa Can Chi của tuổi với Can Chi của năm nhập hạn vào ngũ hành của các sao nhập hạn, sau đó phải so sánh hành bản mệnh với hành của cung tiểu vận nhập hạn theo bảng dưới đây để biết được tiểu vận đó tốt hay xấu.

So sánh hành Can của tuổi và Can năm nhập hạn (gốc, quan hệ)
So sánh hành Chi của tuổi và Chi năm nhập hạn (ngọn, thứ yếu)
So sánh hành bản mệnh và hành của năm hạn (tính theo nạp âm) để biết mức độ đắc thất.
So sánh Can của tuổi và Hành sao nhập hạn phụ thêm để quyết định.

Phụ luận:

Trong đời người từ nhỏ đến 60 tuổi có 5 lần gặp năm Thiên khắc Địa xung nhưng chỉ có 2 lần xung quan trọng là Năm 43 tuổi (hàng Can bị sinh xuất) và Năm 67 tuổi (hàng Can bị khắc nhập) vừa là giai đoạn gặp Thiên thương hay Thiên sứ.

Còn Năm 49 tuổi thường xấu vì tuy hàng Can của năm được sinh nhập (hưng vượng) nhưng hàng Chi lại nằm ở thế Phá Hư (không đắc ý) nên khiến cho từ chổ thành công mà lại đưa đến chỗ thất bại bất mãn; chẳng khác gì cây bị úng nước, rể phải hư và ngọn bị héo tàn.

Từ 49 đến 50 tuổi, 53 đến 60 tuổi và từ 67 đến 70 tuổi là ba đoạn đường đổ dốc để lượn lên các ngôi sơ thọ (50) - trung thọ (60) và thượng thọ (70) luôn luôn có Thương cung Nô và Sửu cung Ách là hai đồn canh đứng chặn giữa ba đoạn đường đại vận này để kiểm soát suôi ngược.

Người lái xe phải lành nghề (vòng Thái Tuế) vững tay lái, xe không ham chở nặng (Quyền Lộc) thì mới mong được an toàn.

Thương (thổ cung Nô) phụ tá của Thiên Sứ, gây ra tổn hại; có phần nào nhẹ tay hơn Sứ (cho người có đại vận đi xuôi gặp Thương trước).
Sứ (thủy cung Ách) thi hành lệnh gieo tai ách

Mức độ nặng nhẹ của Thương-Sứ thi hành nhiệm vụ là tùy thuộc vào các Sát tinh nhập cuộc tại cung Nô và Ách như Văn Xương, Kình Dương (cung Tứ chính / các tuổi Giáp Mậu Canh Nhâm), Không Kiếp, Thiên Không, Tang Môn...

Ngoài ra trong 3 đại vận liên tiếp trên, ít nào cũng năm sáu lần tiểu hạn đụng đầu Đào Hồng gặp Thiên không, Lưu hà và Kiếp Sát rất dễ gây ra sức ép với tuổi già.
Trừ phi Mệnh hay Thân đắc Thọ tinh hợp hành làm nồng cốt và không bị nghiệp báo Hình Riêu, Không Kiếp lũng đoạn.

Trong đời người, cứ mỗi 12 năm thì có 3 năm liên tiếp gặp hạn tam tai, thường thì hạn năm giữa là nặng nhất. Trong các năm nhập hạn tam tai thường gặp nhiều trở ngại, rủi ro hoặc khó khăn trong công việc. Ngoài ra không nên tu tạo hay tậu mãi nhà đất trong những năm hạn này. Còn việc hôn nhân, cưới hỏi thì ít bị ảnh hưởng. Đây chỉ là những dự đoán về hạn xấu chung để mà phòng tránh thôi chứ không chắc hẳn sẽ xảy ra như vậy.

Nếu năm nhập hạn trong lá số tử vi tốt thì hạn xấu của năm tam tai sẽ được giảm bớt, ngược lại nếu năm hạn trong lá số xấu mà gặp thêm năm tam tai thì năm hạn xấu sẽ càng xấu thêm.

Sao hạn Cửu Diệu:

Ảnh hưởng của Cửu Diệu tinh trong tử vi

La Hầu - còn gọi là Khẩu thiệt tinh, là sao xấu ảnh hưởng nặng cho Nam giới và người mạng Kim, phái Nữ thì ảnh hưởng nhẹ. Thường gây ra những trở ngại bất trắc, bệnh tật, khẩu thiệt, thị phi miệng tiếng. Hạn sao này cần phải dè dặt cẩn thận. Ảnh hưởng vào các tháng giêng và tháng 7.

Thổ Tú - còn gọi là Thổ Đức tinh hay Ách tinh chủ gia đạo bất an buồn phiền, bệnh hoạn hay kéo dài, tiểu nhân phá phách, đi xa bất lợi. Hai tháng 4 và 8 bất lợi.

Thủy Diệu - còn gọi là Thủy Đức tinh là Phúc lộc tinh chủ bình an, giải trừ tai nạn, đi xa có lợi, Phụ nữ bất lợi về đường sông biển. Ảnh hưởng vào các tháng 4 và tháng 8. Người mạng Kim và Mộc hợp với hạn sao này, riêng người mạng Hỏa thì hơi bị khắc kỵ.

Thái Bạch - còn gọi là Kim Đức tinh, là hung tinh chủ về sự bất toại tâm, xuất nhập phòng tiểu nhân, hao tán tiền bạc, bệnh tật nảy sinh. Phòng tháng 5 xấu, nhất là những người mệnh hỏa, kim và mộc.

Thái Dương - Phúc tinh chủ sự hanh thông, cứu giải nạn tai. Với Nữ giới thì công việc vẫn thành công nhưng rất vất vả. Tốt vào các tháng 6 và 10.

Vân Hán - còn gọi là Hỏa Đức tinh là Tai tinh chủ hao tài, khẩu thiệt và tranh chấp, kiện tụng bất lợi. Đề phòng những rủi ro bất ngờ. Tháng 4 và 8 xấu.

Kế Đô - được ví như bà hoàng hậu khắc khe, là sao xấu ảnh hưởng nặng nơi phái Nữ, riêng những người có thai hay sinh đẻ trong hạn sao này thì ít bị ảnh hưởng. Gặp hạn sao này những mưu sự thường gặp khó khăn, thành ít bại nhiều, phòng thị phi, đau ốm hay tai biến bất ngờ. Sao Kế đô dù ít ảnh hưởng tới Nam giới nhưng ít nhiều cũng có tác dụng không thuận lợi. Phòng tháng 3 và tháng 9

Thái Âm - Phúc tinh chuyên cứu giải bình an, tốt cho Nữ số. Sao Thái Âm nhập hạn là tài tinh đem lại nhiều may mắn về tài lộc nhưng mang tính chất bất thường, thời vận hay thăng trầm.

Mộc Đức - Phúc tinh chủ may mắn, gặp thời vận tốt. Sao Mộc đức cũng là một phúc tinh cứu giải nên trong trường hợp dù gặp khó khăn gì vẫn có quý nhân giúp sức vượt qua. Tháng 10 và 12 tốt, riêng người mạng Kim thì bất lợi đôi chút vì không hợp với hạn sao này.

Năm hạn trong lá số tử vi tốt mà gặp Cửu Diệu tinh nhập hạn tốt thì lại càng tốt thêm. Nếu gặp hạn sao xấu mà năm nhập hạn trong lá số tốt thì sao hạn xấu sẽ được giảm bớt. Ngược lại nếu năm hạn trong lá số xấu mà gặp thêm Cửu Diệu tinh nhập hạn xấu thì năm hạn xấu sẽ càng xấu thêm.

Luận về Tuần (hỏa) / Triệt (kim)

Tuần Trung Không Vong là cây cầu nối tiếp giữa hai giai-đoạn, kiềm hãm bớt từ từ lại, là trung gian kiềm chế, không cho quá trớn.

"Tứ chính giao phù kỵ nhất Không chi trực phá"

Triệt Lộ Không Vong là bao vây, ngăn cách từ cái xấu đến cái tốt, đã không cho xâm nhập từ ngoài vào (xấu cũng như tốt), mà còn phá đổ tất cả những gì trong cung bị nó phong tỏa.

"Tam phương xung sát hạnh nhất Triệt nhi khả bằng"

(Không vong định yếu đắc dụng, nhược phùng bại địa chuyên khán phù trì chi diệu, đại hữu kỳ công)

Tuần Triệt chỉ có thể làm giảm sự tốt đẹp của Cát-tinh hay tiêu-tán bớt sự xấu của Hung-tinh, chứ không thể biến đổi tính cách của sao được, như biến Cát-tinh trở thành Hung-tinh và ngược lại.

Tuần-Triệt có thể làm cho bộ SPT thành hiền dịu lại đôi chút, còn đối với CNĐL thì làm cho bộ này trở nên chậm rãi, phấn-đấu hơi khó-khăn chứ không thể biến đổi từ ôn-hòa trở nên hào hùng và khí-phách như bộ SPT được.

Tuần-Triệt cũng không thể thay-đổi tính-cách của vòng Thái-tueá được, nhưng các sao trong tam-hợp Thái-tuế bị Tuần-Triệt phải tùy thuộc vị-trí mà thay-đổi tư-cách.

Trường-hợp những người chẳng may bị đặt để vào những vị-trí bất mãn (tam-hợp Tuế-phá, Thiếu-dương, Thiếu-âm) dễ tự thiêu thân, làm những việc xấu (nếu gặp SPT và Sát-tinh); được Tuần hay Triệt đóng khiến tự hạn-chế những tham-vọng và hành-động của mình mà thuận theo đường lợi-ích, nâng cao tư-cách không kém gì những người tam-hợp Thái-tuế.

Tuần-Triệt đóng giữa 2 cung trong tử vi, nghĩa là chỉ có liên-quan đến 2 cung đó mà thôi.

Dương-Nam / Âm-Nữ = ảnh-hưởng Tuần-Triệt tại cung Dương 70% và tại cung Âm 30%

Âm-Nam / Dương-Nữ = ảnh-hưởng Tuần-Triệt tại cung Dương 80% và tại cung Âm 20%

Mệnh bị Tuần hay Triệt thiếu-niên tân-khổ, luôn gặp trở-ngại lúc đầu thực-hiện công-việc.

Mệnh bị cả Tuần lẫn Triệt thì đời bị vùi xuống đất đen, không phải là Tuần-Triệt phá nhau để cho đương-số được thong-thả.

Tuần-Triệt phá nhau dành cho những người thuận lý âm-dương:

Mệnh hay Thân có một Tuần hay Triệt, đến đại-vận từ 30 tuổi trở đi gặp Tuần hay Triệt hay Triệt thì sẽ được tháo-gỡ cho hanh-thông, dầu chỉ là một vài năm (bất chấp đến vòng Thái-tuế).

Trường-hợp người Dương đóng cung Âm (hoặc ngược lại) mà Mệnh-Thân có một Tuần hay Triệt, khi đến đại-vận gặp Tuần hay Triệt thì thời-vận tốt mở làm hai lần chậm chậm ở 2 cung đại-vận có Tuần hay Triệt đóng (mỗi đại-vận là 5 năm).

Mệnh Tuần Thân Triệt (hoặc ngược lại) không còn gì để tháo-gỡ; ngay cả khi đến đại-vận Thái-tuế, ảnh-hưởng tốt đẹp cũng chỉ thỏa mãn 50% mà thôi.

Trên đây là kinh nghiệm về hai sao Tuần Triệt của học phái Thiên Lương trong việc bình lá số tử vi, thật ra vấn đề đặc tính, ngũ hành và tác dụng của Tuần Triệt hiện còn đang là những nghi vấn, đề tài gây ra nhiều tranh luận, tùy theo mỗi người có lối tiếp thu, suy luận và khám phá riêng mà giải đoán.

Luận về Thiên Mã (hỏa)

Thiên Mã trong Tử-vi là một viên ngọc quí, viên ngọc quí này chỉ thấy ở trong hoàn-cảnh trái nghịch mà số đã xếp đặt cho người cung Mệnh hay Thân nằm trong tam-hợp Tuế-phá (bất mãn, đối kháng) của vòng Thái-tuế.

Thiên-mã là nghị-lực và khả-năng để giúp cho những người bất-mãn này đương đầu với những ngang-trái của tâm-thức và cuộc đời mà họ phải chịu. Đây chính là hình bóng một Tống Giang, một Đơn Hùng Tín, anh hùng hào hiệp chỉ phù suy chứ không tơ hào đến người thịnh. Còn tùy theo Thiên-mã có phải là của họ hay không mới là việc thành-bại quyết định.

Thiên Mã chủ tháo vát, tài năng và khéo léo. Ảnh hưởng nhiều đến công danh, sự nghiệp. Ngoài ra Thiên Mã còn chủ về sự di chuyển, thay đổi, đi xa và là phương tiện di chuyển như xe cộ, nếu gặp Sát tinh tùy theo mức độ nặng nhẹ dễ bị xe cộ hay hư hỏng hoặc tai nạn.

Về cơ thể con người Thiên Mã là tứ chi, nếu gặp Sát tinh tùy theo mức độ nặng nhẹ dễ bị thương tật.

Hành chính của Thiên Mã là hỏa, nhưng vì là dịch mã nên Mã đổi ngũ hành tùy theo phương vị Mã đóng, muốn làm chủ được Mã này thì bản mệnh phải đồng hành với cung Mã đóng thì mới có kết-quả được

Mã ngộ Tuần = Tuần là gạch nối liền giữa hai Giáp bắt cầu cho Mã trở nên đắc dụng. Tuy-nhiên Mã phải chùng lại một bước trước khi nhảy thì mới được thành-công, có nghĩa là vào giai đoạn đầu vẫn gặp những khó khăn, trở ngại nhưng rồi sau sẽ được hanh thông, nếu Thiên Mã hợp Mệnh, còn Mã ngộ Triệt là ngựa què ăn hại.

Người dương-nam - âm-nữ đại vận an theo chiều xuôi:

Mã mộc cung Dần gặp Tuần trở thành Mã hỏa
Mã hỏa cung Tỵ vì Tuần đứng sau nên không chuyển đổi
Mã kim cung Thân gặp Tuần trở thành Mã thủy
Mã thủy cung Hợi vì Tuần đứng sau nên không chuyển đổi
Người âm nam - dương nưõ đại vận an theo chiều ngược:
Mã mộc cung Dần vì Tuần đứng sau nên không chuyển đổi
Mã hỏa cung Tỵ gặp Tuần trở thành Mã mộc
Mã kim cung Thân vì Tuần đứng sau nên không chuyển đổi
Mã thủy cung Hợi gặp Tuần trở thành Mã kim

Thí dụ tuổi Kỷ Tỵ (Mệnh mộc) Mã tại cung Hợi ngộ Tuần đóng hai cung Hợi và Tuất. Nếu là người âm nam đại vận theo chiều nghịch thì Mã thủy sẽ theo cầu Tuần về lại cung Thân trở thành Mã kim khắc lại Mệnh mộc xấu. Còn với người âm nữ đại vận theo chiều thuận Tuần đóng sau lưng không thể bắt cầu cho Mã chạy nên Mã thủy sẽ sinh phò cho Mệnh mộc rất tốt.

Những cách tốt của Thiên Mã trong tử vi

Mã đắc Tràng-sinh = là giai-đoạn phát thịnh của tam-hợp Tuế-phá, Mã phải nằm trong tam-hợp Sinh-Vượng-Mộ thì mới được gọi là thanh vân đắc lộ nhưng chỉ hanh-thông trong đại-vận đó mà thôi và còn tùy thuộc vào Hành của Mã phù hay hại Mệnh nữa.

Mã-Khốc-Khách = Mã phải nằm trong tam-hợp Lộc-Tồn dành cho các tuổi Giáp/Thìn-Tý-Thân và Canh/Tuất-Ngọ-Dần. Phần ngoại-lệ này ban phát cho người được nhiều nghị-lực bền bỉ, tùy theo sự sinh-khắc của bản mệnh đối với Mã (xử-dụng và làm lợi).

Những cách xấu của Thiên Mã trong tử vi

Mã kỵ gặp Không Kiếp, Kình-Đà, Thiên-hình và Triệt là ngựa què, ngựa chết dễ bị trở ngại hay tai họa.

Mã ngộ Tuyệt = Người mệnh kim-hỏa và thổ / dương nam hay âm nữ, mệnh có Thiên Mã gặp Tuyệt (sao cuối cùng của vòng Tràng Sinh) tại cung Hợi là cách "Mã cùng đồ" ngựa cùng đường, hết lối chạy chỉ sự bế tắc và thất bại.

Luận về bộ sao Tứ Hóa trong tử vi

Hóa-khoa (thủy) - văn-tinh chủ về phúc-quý, là Đệ Nhất Giải Thần hoán cải được tư-cách SPLT và ngộ chế được Thiên-không, Lục-sát-tinh.
Hóa-quyền (mộc) - trung-lập chủ về uy-quyền và may-mắn, hay vụng tính sinh kiêu vì tự ái nên gặp Sát-tinh dễ bị kết-quả xấu
Hóa-lộc (mộc/thổ) - tài lộc do công khó làm ra, tăng ảnh-hưởng cho Tài-cát-tinh và tốt cho cung Điền-Tài.
Hóa-kỵ (thủy) - ám tinh hay đố kỵ, là sao Kế-đô của nữ mệnh. Giảm sự tốt đẹp của Cát-tinh, tăng ảnh-hưởng xấu của Sát-tinh.

Tam Hóa được áp đặt vào những chính-diệu theo hàng Can tuổi để đem lại sự hảnh-diện và phú quý cho người được hưởng. Giá-trị thật sự của Tam-hóa chỉ là gấm thêu hoa cho những bộ Chính-tinh dắc cách mà thôi chứ không phải là tư-cách, khả-năng và nghị-lực dùng để nâng cao phẩm-giá thực-sự cho người chính phái.

Nhận xét bảng tóm luận trên, các tuổi Ất-Bính-Kỷ-Nhâm-Quý được những sao đầy-đủ tư-cách hiền-lương nhân-hậu hẳn con thuyền khi ra khơi ít gặp phong ba bão lớn. Còn thuận buồm suôi gió hay không tùy thuộc ở hàng Chi (vòng Thái tuế) và giòng nước theo chiều cuộc diện (vòng Tràng-sinh).

Cách Tam hóa liên châu - ba sao đóng liên tiếp ba cung từ cung Dần đến Mùi / đắc vị nhất tại cung Thìn được dành cho 6 tuổi Ất/Tỵ-Dậu-Sửu (Khoa giáp Quyền-Lộc tại vị-trí Thiếu-âm) và Canh/Thân-Tý-Thìn (Quyền giáp Khoa-Lộc tại vị-trí Thái-tuế), còn các tuổi Ất-Canh khác chỉ là vay mượn mà thôi

Thiên Tài & Thiên Thọ (thổ) trong tử vi

Thiên Tài có ý nghĩa là tài năng, đo lường cắt giảm, vì thế nên Tài có đặc tính như Tuần Không là giảm ảnh hưởng xấu của các sao mờ ám và giảm bớt ảnh hưởng tốt của các sao sáng sủa.

Thiên Thọ là Phúc Thọ tinh chủ nhân hậu, từ thiện và gia tăng ảnh hưởng cho các phúc thọ tinh.

Ngoài những tính chất kể trên, Tài Thọ còn tượng trưng cho đạo lý Nhân Quả của đời người. Tài được khởi từ cung Mệnh (định mệnh thừa trừ mà cắt giảm) và Thọ được khởi từ cung an Thân (bản thân tự gây tạo) đến một cung nào đó để mách bảo cho biết là giữa Mệnh Thân và cung mà Tài hay Thọ đến đóng đã có sự hoán cải do luật thừa trừ mình đã gây nên.

Thân (Thiên Thọ / Nhân) = cá nhân tự gây tạo, tùy theo vị trí "Thân" để quyết định hành động theo cung mà Thiên Thọ đóng.

Mệnh (Thiên Tài / Quả) = định mệnh thừa hành mà cắt giảm, chịu ảnh hưởng cân quả do Thọ đã làm ra, tại cung có Thiên Tài đóng.

Nếu như Thân (tam hợp Thái Tuế) có làm ra "Thọ" hay cư xử sao cho "Thọ" được toàn vẹn thì Mệnh mới có đủ "Tài" năng lực hoán cải tạo ra những sự tốt đẹp để đền đáp. Còn như Thân xuất phát chử "Thọ" bị Không-Kiếp hãm thì Mệnh "Tài" kia cũng sẵn sàng đem lại những kết quả là hình thức như tranh vẽ mà thôi.

Người đời nhập thế ở khoảng thời gian nào thì sẽ thấy căn quả của mình phải mang nặng ở ngay phần việc nào như:

Năm Tý (Tài ở Mệnh) căn quả do chính bản thân mình
Năm Sửu (Tài ở Phụ) phải làm sao với Đấng sinh thành
Năm Dần (Tài ở Phúc) căn quả chịu ảnh hưởng nơi dòng họ
Năm Mão (Tài ở Điền) căn quả chịu ảnh hưởng về nhà cửa điền sản
Năm Thìn (Tài ở Quan) căn quả chịu ảnh hưởng với công việc làm
Năm Tỵ (Tài ở Nô) căn quả chịu ảnh hưởng nơi bạn bè, kẻ dưới tay
Năm Ngọ (Tài ở Di) căn quả chịu ảnh hưởng nơi ngoại nhân
Năm Mùi(Tài ở Ách) căn quả chịu ảnh hưởng những hoạn nạn
Năm Thân (Tài ở Tài) căn quả chịu ảnh hưởng do tiền của thâu hoạch
Năm Dậu (Tài ở Tử) căn quả chịu ảnh hưởng nơi con cháu
Năm Tuất (Tài ở Phối) căn quả chịu ảnh hưởng ở vợ chồng
Năm Hợi (Tài ở Bào) căn quả chịu ảnh hưởng nơi anh em

Các cách tốt xấu của Thiên Tài trong tử vi

Thiên Tài + Nhật hay Nguyệt = Thiên Tài khi đồng cung với Nhật hay Nguyệt hãm sẽ gia tăng sức sáng cho Nhật Nguyệt và sẽ làm giảm sự quang huy của Nhật Nguyệt một khi bộ sao này sáng sủa tốt đẹp.

Trường hợp Nhật Nguyệt đồng cung thì Thiên Tài sẽ làm cho Nhật Nguyệt thêm rực rỡ tốt đẹp.

Thiên Tài + Nhật hãm = Người không cẩn trọng lời nói, thiếu lòng tín ngưỡng về thần quyền.

Thiên Khôi (dương hỏa đới kim)
Thiên Việt (dương hỏa đới mộc)

Nhận xét kỷ sẽ thấy Khôi Việt hoàn toàn gần như đứng nghịch lý âm dương với cung đóng, tức là không bao giờ đứng chung trong tam hợp Thái Tuế hoặc Tuế Phá mà chỉ đứng trong tam hợp Thiếu Dương (Thiên Không) và Thiếu Âm.

Theo nhận xét trên, nếu xét theo ngũ hành thì Thiên Khôi luôn luôn bị khắc nhập, phải sinh xuất hay khắc xuất mà sa lầy bởi cung đóng và bị Triệt làm cho thất thế. Trong khi Khôi đóng vào những hoàn cảnh không được thuận lợi như vậy thì Việt lại được ưu thế vững vàng hơn, nhất là hai tuổi Đinh-Quí / Tỵ-Sửu được đứng chung tam hợp Thái Tuế như có ý là Việt ở ngôi vị thứ "Ất" thay mặt cho Khôi là trưởng "Giáp" mà lo toan mọi việc.

Vậy Khôi Việt chính là Thiên Ất Quý Nhân luôn đóng trong những tam hợp bất đắc ý vì nghịch lý âm dương và bị Sát tinh lủng đoạn hoành hành để giúp đỡ cứu tai giải họa và báo động cho người có số biết suy gẫm và điều chỉnh lại cung cách sống sao cho có ích thiện hơn như hai chữ Tài Thọ đã hướng dẫn.

Ngoài sứ mạng là Phúc tinh chủ về phúc thọ, cứu khổn giải nguy ra, Khôi Việt còn là Văn tinh hổ trợ cho các sao văn chương, nghệ thuật như Xương Khúc và là Quý tinh chủ về khoa giáp và quyền tước khi đứng chung với Khoa-Quyền-Lộc, Lộc Tồn, Thai Tọa...

Các cách tốt của Khôi-Việt

Khôi-Việt + Quý tinh = Gia tăng ảnh hưởng cho bộ Tử-Phủ-Vũ-Tướng và Xương-Khúc, Thai-Cáo, Khoa-Quyền-Lộc... Người được cách này thường thông minh, có tài thao lược, óc tổ chức và nắm giữ các chức vị cao trong công quyền.

Người được Khôi Việt thủ mệnh thường là con trưởng hoặc đoạt trưởng.

Các cách xấu của Khôi-Việt

Khôi Việt + Triệt hay Ky-Hình = Khôi Việt bị Triệt án ngữ hoặc Sát tinh, nhất là các sao Không là người thường bất đắc chí, công danh trắc trở không lâu bền. Dễ bị những tai họa đao thương hay súng đạn và yểu mệnh.

Thiên Quan Quí Nhân (dương hỏa)
Thiên Phúc Quí Nhân (âm thổ)

Nhận xét kỷ bảng an sao sẽ thấy Quan Phúc được phân công chia đều cho cả hai phía âm dương và có những vị trí hoàn toàn nghịch lý âm dương như Thiên Quan với các tuổi Giáp-Ất-Bính-Đinh-Mậu-Canh-Quý và Thiên Phúc với những tuổi Giáp-Ất-Mậu-Kỷ.

Riêng 5 tuổi Giáp-Ất-Mậu-Tân-Nhâm được Quan Phúc và cả Thiên Ất Quí Nhân (Khôi-Việt) đồng tụ lại đứng chung để ra công giúp đỡ, đem phân tích từng tuổi sẽ thấy:

Tuổi Giáp tại cung Mão của tam hợp Hợi-Mão-Mùi thường xuyên có Thiên Không và Kình Dương lủng đoạn.

Tuổi Ất tại cung Thìn của người âm nam trong tam hợp Thân-Tý-Thìn có Đà La là lưới trời.

Tuổi Mậu tại cung Ngọ có Kình Dương là kiếm treo đầu ngựa bất lợi cho ba tuổi Dần-Ngọ-Tuất và Thiên Không tung hoành tại cung Mão.

Tuổi Tân tại cung Dậu trong tam hợp Tỵ-Dậu-Sửu có Phá Toái phá hoại và cung Tỵ có Triệt chặn đứng, với tuổi Tân Tỵ còn bị thêm Tuần tại Dậu.

Tuổi Nhâm bị mắc lưới tại cung Tuất với Đà La.

Tóm tại, chúng ta nên chú ý tại những cung mà có nhiều Phúc Thiện tinh như Quan Phúc, Khôi Việt, Tứ Đức... tụ chung lại đều là những cung có sự hiểm nghèo vì nghịch lý âm dương và bị Sát tinh lủng đoạn hoành hành để giúp đỡ cứu tai giải họa và báo động cho người có số biết sẽ có những trở ngại và thử thách gay go trong cuộc sống, nhất là với bốn tuổi Mậu-Ất-Tân-Nhâm để đương nhân suy gẫm và điều chỉnh lại cung cách sống sao cho có ích thiện hơn như hai chữ Tài Thọ đã hướng dẫn, có kết quả tốt hay xấu còn tùy ở người có tuân theo mà cải thiện hay là bỏ qua.

Vậy Quan Phúc Quý Nhân chính là những Phúc Thiện tinh chủ về sự đức độ, nhân hậu, thực hiện từ thiện, giải trừ bệnh tật và tai họa...

Thiên Đức (hỏa) Phúc Đức (thổ)
Nguyệt Đức (hỏa) Long Đức (thủy)

"Thiên Nguyệt Đức, Giải Thần tàng,
cùng là Quan Phúc, một đoàn trừ hung"

Thiên Đức và Nguyệt Đức được an theo năm sinh. Còn Phúc Đức và Long Đức là hai sao thuộc vòng Thái Tuế cũng được an theo năm sinh. Bộ sao Tứ Đức là phúc thiện tinh chủ về sự đức độ, nhân hậu, từ thiện và có khả năng giải trừ bệnh tật và tai họa. Tứ Đức có thể chế giải một phần nào ảnh hưởng xấu của các sao hung sát.

Bản chất của Tứ Đức là đức hạnh và đoan chính nên chế ngự được tính dâm đãng hoa nguyệt của Đào Hồng và các dâm tinh.

Nhận xét về Thiên Đức, Phúc Đức và Nguyệt Đức chúng ta sẽ thấy ba sao này luôn đóng trong tam hợp Thiếu Dương của vòng Thái Tuế để khuyên nhủ, chỉ đường và cứu giải cho các tuổi nằm trong tam hợp Thiếu Dương vì quá tinh khôn đứng vượt lên trên Thái Tuế nên bị nghịch lý âm dương và luôn luôn có Thiên Không tác hại. Còn lại một Long Đức trong tam hợp Thiếu Âm để an ủi cho những tuổi bị bạc đãi và thua thiệt.

Chúng ta nên chú ý tại những cung mà có nhiều Phúc Thiện tinh như Quan Phúc, Khôi Việt, Tứ Đức... tụ hợp chung lại đều là những cung có sự hiểm nghèo vì nghịch lý âm dương và bị Sát tinh lủng đoạn hoành hành để giúp đỡ cứu tai giải họa và báo động cho người có số biết sẽ có những trở ngại và thử thách gay go trong cuộc sống, để đương nhân suy gẫm và điều chỉnh lại cung cách sống sao cho có ích, kết quả tốt hay xấu còn tùy ở người có tuân theo mà cải thiện hay là bỏ qua.

Phá Toái (hỏa đới kim)

Phá Toái được an theo năm sinh (tứ chính, tứ sinh và tứ mộ) là hung tinh chủ sự phá tán, gây trở ngại, hao tán tiền của, điền trạch. Gia tăng ảnh hưởng xấu của các sát tinh như Không Kiếp, Hỏa Linh nếu kết hợp.

Phá Toái chỉ đóng tại 3 cung Tỵ-Dậu-Sửu trên địa bàn Tử Vi, tuy chổ đóng bị hạn chế như vậy nhưng ảnh hưởng phá tán của Phá Toái cũng đủ làm ngang trái tư cách của các Chính tinh hiền dịu như Tử-Phủ, Cơ-Lương và tăng thêm sức mạnh cho bộ Sát-Phá-Tham, nhất là Phá Quân.

Nhận xét về sao Phá Quân đóng tại ba cung Tỵ-Dậu-Sửu (vị trí thường trực của Phá Toái) đều hãm địa hết như Vũ-Phá ở Tỵ và Liêm-Phá tại Dậu. Riêng Tử-Phá ở Sửu tuy đắc địa nhưng tư cách xấu không hơn gì Vũ-Phá và Liêm-Phá tại hai cung Tỵ-Dậu.

Mệnh Vũ-Phá tuổi Tý-Ngọ-Mão-Dậu (tuổi Dậu đẹp nhất)
Mệnh Liêm-Phá tuổi Dần-Thân-Tỵ-Hợi (tuổi Tỵ đẹp nhất)
Mệnh Tử-Phá tuổi Thìn-Tuất-Sửu-Mùi (tuổi Sửu đẹp nhất)

Phá Toái + Phá Quân = tạo thành cách "Toái Quân lưỡng Phá" dũng mãnh và hiển đạt về vỏ nghiệp
Luận về Thiên-không và Hồng-Đào

Cung Dần-Thân-Tỵ-Hợi - vị-trí của Hồng-loan làm chủ, Đào và Không tam hợp, là vị-trí của người thấy xa hiểu rộng, ít tham-vọng, đầy lòng đạo-đức, từ-tâm và cởi mở.

Tuổi Thìn-Tuất-Sửu-Mùi tại các vị-trí Dần-Thân-Hợi có thêm Cô-thần tam hợp nên được lòng cởi mở sáng-suốt, biết thân hiểu phận yếu mềm, dễ khiến sinh ra nhạy-cảm đến yếm-thế.

Riêng tại vị-trí Tỵ có thêm Phá-toái tam-hợp, vì Hồng-loan hơi yếu nên Phá Toái thường gây ra những sự ngang trái và khó-khăn cho mệnh số, như phải chịu ít nhiều những sự thử-thách.

Người của tam-hợp Thiếu-dương tại vị trí này nếu biết ngộ được chữ "không" của đời mình thì sẽ tránh được mọi phiền-não do Thiên-không gây ra.

Cung Tý-Ngọ-Mão-Dậu - vị-trí chính của Đào-hoa, được Hồng Loan tam hợp phát tiết vẻ anh hoa, sức quyến-rũ tạo nên sự mưu-sĩ, quỷ-quyệt và đạo đức giãkhiến phải sớm nở tối tàn vì Thiên-không và Kiếp-sát.

Với tuổi Dương, Đào đắc Thiên-riêu như được một phần nào thanh cao, đỡ sa ngã và đồi trụy hơn các tuổi Âm.

Tuổi Dần-Thân-Tỵ-Hợi tại vị-trí này đầy lòng tự-hào và có tham vọng cao nên rất dễ bị hãm vào vòng di lụy.

Người của tam-hợp Thiếu-dương tại vị trí này thường khôn-ngoan, thích lấn-lướt hơn người; nếu tại Mệnh thì đó là còn trong ý định, còn tại Thân thì lại tỏ ra bằng hành-động.

Cung Thìn-Tuất-Sữu-Mùi - vị-trí của Thiên-không một mình tung-hoành tác-hại và gieo tai-họa, vì thường-xuyên vắng bóng tôi trung là Hồng-loan mà chỉ còn kẻ nịnh là Đào-hoa đưa đẩy.

Tuổi Tý-Ngọ-Mão-Dậu tại vị-trí này rất khẳng-khái, nhiều khi quá cứng-rắn nên thường bị những kết-quả có phần ác liệt hơn các tuổi khác.

Người của tam-hợp Thiếu-dương tại vị-trí này thường hay đạp đổ để xây-dựng lại theo ý mình, dễ bị sa vào đường gây ra tội ác, nếu có thêm Hung-tinh gây bè kết đảng xúi giục.

Nói chung bộ Đào-Hồng-Không dầu gì cũng có tính-cách là vạn sự giai không, những người đạo-đức không màng tưởng đến phú-quý là cái "không" cao cả; kẻ mưu sĩ quỷ quyệt có xoay sở cho lắm rồi cũng lảnh hậu-quả là cái "không" bù trừ. Còn hạng người tàn-ác thường gieo tai-họa rồi ra cũng chỉ còn "không" trơ-trọi.

Chỉ còn người sáng suốt vẫn được sống yên lành là trường-hợp của Hồng Loan.

Thiên Hình (kim)

Thiên Hình là hung tinh chủ sự dũng mãnh, sát phạt phá tan, hình thuơng, gây trở ngại.

Thiên Hình hợp với Thiên Riêu là bộ sao đặc biệt cùng khởi theo tháng sinh từ tam hợp Tỵ-Dậu-Sửu và cùng đắc địa tại các cung Dần-Thân-Mão-Dậu-Tuất. Vì thế cho nên nếu Hình-Riêu đứng cặp với bộ sao nào hợp tình hợp cảnh sẽ gia tăng ý nghĩa cho các sao đó, tùy từng trường hợp. Như Hình Riêu đứng cặp với Xương Khúc là hỷ thần chủ về học thành, công danh hiển đạt...

Ngoài ra, theo học phái Thiên Lương thì Thiên Hình cùng với cung an Thân còn có một liên quan đặc biệt, như chúng ta đã biết Thân là hành động và Thiên Hình chính là sự phán xét, cùng cấu kết với nhau như bóng với hình.

Thân cư Mệnh thì Hình ở Ách (giờ Tý) hoặc Phuï (giờ Ngọ)
Thân cư Quan thì Hình ở Tử (giờ Dần) hoặc Điền (Thân)
Thân cư Tài thì Hình ở Bào (giờ Thìn) hay Nô (giờ Tuất)
Thân cư Di thì Hình ở Phối (giờ Mão) hoặc Quan (giờ Dậu)
Thân cư Phối thì Hình ở Mệnh (Tỵ) hoặc Di (giờ Hợi)
Thân cư Phúc thì Hình ở Tài (giờ Sửu) hay Phúc (giờ Mùi)

Mặc dầu cùng một cung an Thân nhưng nếu khác giờ sinh thì Hình sẽ ở tại cung đối xung để cho người có số biết sự chọn lựa như thế nào giữa hai cung.

Ví dụ Thân cư Quan nhưng nếu sinh giờ Dần thì Hình ở Tử và nếu sinh giờ Thân thì Hình sẽ ở Điền (đối cung với Tử) để giúp ta dự kiến trước khả năng sẽ phải đương đầu (mất con hay phải chịu thiệt hại về nhà đất) để mà tự do chọn lựa cách xử thế trong quá trình làm việc công ích xã hội như Thân cư Quan đã cho biết.

Những Cách tốt của Thiên Hình

Hình + cung Dần = Hình đắc địa tại cung Dần là cách "Hổ hàm kiếm" dũng mãnh và hiển đạt về vỏ nghiệp.

Hình + Binh + Tướng + Ấn = Hình là đại long đao, chủ sự sát phạt, có tài chỉ huy, thao lược và hiển đạt về vỏ nghiệp. Nhất là người Kim cung Mệnh tại Ngọ có Thất Sát và Hình đồng cung.

Hình + Dâm tinh = Bản chất của Thiên Hình là ngay thẳng, đoan chính vì thế nên Thiên Hình chế ngự được tính hoa nguyệt, dâm đãng của Đào Hồng và các dâm tinh khác.

Những Cách xấu của Thiên Hình

Hình hãm địa + Sát tinh = Gia tăng ảnh hưởng cho Sát tinh chủ tai họa, chém giết, hình thương và tù đầy, nhất là khi Hình đồng cung với Tướng hoặc Maõ bị Triệt.

Hình hãm địa + Tù tinh = Hội với các tù tinh như Liêm Trinh, Kình-Kiếp, Thái Tuế... thì hay bị quan tụng, hình ngục khó thoát.

Hình + Riêu + Không + Kiếp = Chủ oan trái nghiệp quả và chịu tai họa tập thể.

Thượng Cách

Tử-Phủ-Vũ-Tướng
Sát-Phá-Liêm-Tham
Cơ-Nguyệt-Đồng-Lương
Cự-Nhật
Nhật-Nguyệt

Muốn được thượng cách, tuổi và cung Mệnh phải được hội đủ các yếu tố như Âm Dương thuận lý, Mệnh Cục tương sinh.
Cung Mệnh-Thân của lá số phải được 1 trong 5 bộ Chính tinh trên, các sao trong bộ phải đầy đủ và miếu vượng hay đắc địa, sinh hay đồng hành với bản mệnh. Được nhiều Trung tinh như Khoa-Quyền-Lộc, Xương-Khúc, Khôi-Việt, Tả-Hữu, Thai-Tọa, Long-Phượng... đắc địa đồng cung hay hội chiếu và không bị Hung Sát tinh phá cách.

Người được thượng cách thường là sinh phùng thời, đạt được những thành công lớn trong cuộc đời, có tiền tài danh vọng hoặc là các bậc khoa bảng, có chức phận hay quyền tước cao trong xã hội.

Trung Cách

Trung cách là cách không được hoàn toàn như thượng cách, một trong hai yếu tố là tuổi và cung Mệnh âm dương bị nghịch lý hoặc Mệnh Cục khắc nhau.

Ngoài ra bộ cách của Chính tinh tại cung Mệnh-Thân của lá số không hội tụ đầy đủ và có sao bị lạc hãm. Các trợ tinh đồng cung hay hội chiếu như Khoa-Quyền-Lộc, Xương-Khúc, Khôi-Việt, Tả-Hữu, Thai-Tọa... không hội đủ hoặc lạc hãm và có Hung Sát hay Bại tinh xâm phạm.

Người được trung cách cũng đạt được những thành công trong cuộc đời nhưng không hiển hách bằng thượng cách, thường nghề nghiệp trung lưu, có tiền tài hay chức vị nhỏ trong xã hội.

Hạ Cách

Lá số hạ cách một hoặc cả hai yếu tố là tuổi và cung Mệnh âm dương bị nghịch lý hoặc Mệnh Cục khắc nhau.

Ngoài ra bộ cách của Chính tinh tại cung Mệnh-Thân của lá số không hội tụ đầy đủ và có sao bị lạc hãm, khắc nhập lại bản Mệnh. Thiếu nhiều trợ tinh như Khoa-Quyền-Lộc, Xương-Khúc, Khôi-Việt, Tả-Hữu, Thai-Tọa... đồng cung hay hội chiếu và bị nhiều Hung Sát hay Bại tinh phá cách.

Người hạ cách thường suốt đời bị vất vả lận đận, bất như ý trong cuộc sống, nghề nghiệp không nhất định và hay phiêu bạt.

* Ba cách (Thượng-Trung-Hạ) kể trên chỉ ảnh hưởng nhiều đến chính bản thân đương số mà thôi.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Các bước luận đoán lá số Tử Vi

Treo dây thường xuân đón bình an và may mắn

Thường xuân - loại dây leo thuộc họ ngũ gia - cuống dây có mọc rễ, cành non phủ lông, có dạng vảy cá. Lá mọc cách nhau, xanh bóng mượt. Hoa nở vào tháng 8 -
Treo dây thường xuân đón bình an và may mắn

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Thường xuân - loại dây leo thuộc họ ngũ gia - cuống dây có mọc rễ, cành non phủ lông, có dạng vảy cá. Lá mọc cách nhau, xanh bóng mượt. Hoa nở vào tháng  8 - 9, hoa nhỏ, 5 cánh, màu vàng nhạt, thơm thoang thoảng, có hình chiếc dù. Tháng 9 - 10 thì hoa kết quả, có màu đỏ hoặc màu vàng, hình cầu nhỏ.

Dây thường xuân

Là loại cây xanh tốt quanh năm, thường xuân có sức sống rất mãnh liệt, ngay cả trong mùa đông giá rét. Vì vậy, nó được xem là loại cây rất tốt theo phong thủy, là món quà thích hợp cho những dịp như lễ tết, thi cử, mừng thọ, mừng thăng chức, khai trương. Ngay cả trong tình yêu, đây cũng là quà tặng đầy ý nghĩa.

Theo quan niệm dân gian, một công dụng khác của dây thường xuân là khả năng trừ tà. Chính vì thế nó cũng là loài cây mang lại bình an, may mắn cho gia chủ.

Bạn có thể bày thường xuân tại nhà ở, phòng họp, khách sạn, nhà hàng, văn phòng. Nên để cây gần cửa sổ hoặc khu vực có ánh sáng. Có thể treo thường xuân ở ban công nhưng tránh ánh sáng quá mạnh.

Để cây phát huy hiệu quả về mặt phong thủy, nên treo cây ở hướng Đông, Đông Bắc, Đông Nam của căn phòng.

(Theo Hoa cảnh ứng dụng trong phong thủy)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Treo dây thường xuân đón bình an và may mắn

Họa phúc tại miệng, 4 khẩu nghiệp gánh cả đời không hết

Phật dạy về cuộc sống có 4 loại người nói năng sai trái: một là vọng ngôn, hai là ba phải, ba là thiển ngữ, bốn là xảo ngữ. Nói năng không thành thật, mắc phải những lỗi trên thì họa từ miệng mà ra.
Họa phúc tại miệng, 4 khẩu nghiệp gánh cả đời không hết

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1. Vọng ngữ - nói dối   Phật giáo coi trọng sự thật và điều thật, nên nói dối là một trong những tội nghiệt nặng. Người mà mở miệng ra là nói dối, nói dối không chớp mắt, nói dối tới quen miệng, thuận lời, không cần suy nghĩ, chính mình còn không cảm nhận được mình đang nói dối. Thật là nguy hiểm!   Những người này đôi khí nói dối cũng không phải là để hại người mà nói dối cho vui, ba hoa, nhưng không biết rằng như thế là rước họa vào thân. Người gặp thì đề phòng, bạn bè gặp thì lánh xa, nhân duyên gặp thì vụt mất. Vì, Phật dạy về cuộc sống, dù nói dối xuất phát từ hảo tâm hay ác ý đều là tạo nghiệp xấu, làm tổn hại danh dự và hạ thấp bản thân.   2. Ba phải – nói hai lời   Hai lời tức là lúc nói thế này lúc nói thế khác, châm ngòi ly gián, trước mặt người này nói A mà với người khác lại nói B để hai bên phát sinh mâu thuẫn. Loại người này rất nguy hiểm, dùng lời lẽ hại người, là tạo nghiệp ác chứ không đơn thuần chỉ là nhói sai sự thật.  
3. Thiển ngữ - lời lẽ thô thiển
  Người mà hay dùng những lời không hay đả kích người khác thì đối với Phật giáo chính là ác nhân. Đả thương lòng tự trọng của người khác, chửi mắng người khác, làm phương hại danh dự người khác là họa từ miệng ra, nói lời hại người lại chính là hại mình, tự mang phiền toái đến cho mình.   Bởi vậy, Phật dạy, tôn trọng người khác là tôn trọng chính mình. Khi thốt ra những lời lẽ thô tục đối với người khác thì cũng là lúc bản thân bị hạ thấp, mà nói lời thiển ngữ lại còn bị tổn phước, rất không nên làm.   4. Xảo ngữ - lời lẽ khiêu khích   Người dùng ngôn ngữ khích bác, gợi lên lòng tham, sân, si của người khác, tuy cười nói bóng bẩy đấy mà bụng dạ sâu xa, cũng là ác nghiệp. Nếu không thể giúp được gì cho người khác thì không nên hại người, nếu không thể dùng từ bi mà hóa độ tham, sân, si của người khác thì cũng không nên khơi gợi, cổ vũ những thói xấu ấy.   Gieo nhân nào gặp quả ấy, đừng vì đôi lời nói ra phút chốc mà gánh nghiệp cả đời.   Tâm Lan

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Họa phúc tại miệng, 4 khẩu nghiệp gánh cả đời không hết

Phong thủy phòng ngủ kích thích chuyện “yêu” - Phong thủy phòng ngủ - Xem Tử Vi

Phong thủy phòng ngủ kích thích chuyện “yêu”, Phong thủy phòng ngủ, Xem Tử Vi, xem bói, xem tử vi Phong thủy phòng ngủ kích thích chuyện “yêu”, tu vi Phong thủy phòng ngủ kích thích chuyện “yêu”, tu vi Phong thủy phòng ngủ
Phong thủy phòng ngủ kích thích chuyện “yêu” - Phong thủy phòng ngủ - Xem Tử Vi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Phong thủy phòng ngủ kích thích chuyện “yêu”

Hướng dẫn bạn cách bài trí phòng ngủ theo phong thủy kích thích chuyện “yêu”. Giúp gia chủ hài hòa của năng lượng, tạo cảm giác cuốn hút, kích thích sự sinh sôi nảy nở trong phòng ngủ.

Làm thế nào để tạo ra một phòng ngủ có phong thủy tốt để hỗ trợ và nuôi dưỡng sức khỏe cũng như cuộc sống tình yêucủa bạn? Xem boi cách tăng sự kích thích chuyện yêu từ phong thủy phòng ngủ:

Không để tivi, thiết bị điện tử hay máy tập thể dục trong phòng ngủ. Việc xuất hiện những món hàng này sẽ phá hủy nguồn năng lượng tốt trong phòng ngủ.

7 mẹo phong thủy phòng ngủ kích thích chuyện

 

Không khí trong lành luôn mang lại nguồn năng lượng dồi dào

Giữ cho lượng oxy trong phòng luôn được dồi dào bằng cách mở cửa sổ thường xuyên hoặc sử dụng máy lọc khí. Phòng ngủ có phong thủy tốt không được bị “ô nhiễm”, thiếu khí tươi.

Sử dụng nhiều cấp độ ánh sáng trong phòng ngủ, điều chỉnh độ sáng để có mức ánh sáng phù hợp. Ánh sáng thích hợp là rất quan trọng vì đây là nguồn dinh dưỡng, là một trong những biểu hiện mạnh nhất của năng lượng.

7 mẹo phong thủy phòng ngủ kích thích chuyện

 

  Màu sắc hài hòa nhẹ nhàng luôn đem lại cảm giác êm dịu

Sử dụng màu sắc nhẹ nhàng để tạo sự cân bằng. Sự cân bằng trong trang trí phòng ngủ nhằm thúc đẩy dòng chảy năng lượng tốt nhất cho giấc ngủ được phục hồi, cũng như chữa bệnh tình dục. Chúng ta biết được màu da con người từ màu trắng đến màu chocolate đậm. Hãy chọn màu sắc phòng ngủ trong dải màu này nhé!

7 mẹo phong thủy phòng ngủ kích thích chuyện

 

Tình yêu đôi lứa thăng hoa là mong muốn của hầu hết các cặp uyên ương

Chọn hình ảnh treo trong phòng ngủ một cách khôn ngoan sẽ mang lại năng lượng phong thủy mạnh mẽ. Lời khuyên tốt nhất là hãy chọn những hình ảnh bạn muốn thấy nó xảy ra trong cuộc sống của bạn. Không nên để tranh ảnh tạo cảm giác buồn và cô đơn trừ phi bạn thực sự muốn như vậy!

7 mẹo phong thủy phòng ngủ kích thích chuyện

 

Bài trí giường đúng cách cũng giúp tạo nguồn năng lượng dồi dào cho chủ nhân

Cách bố trí giường: hãy nhớ những điểm cơ bản sau:

 

– Dễ dàng tiếp cận cả hai bên.

– Mỗi bên đầu giường có một tủ nhỏ (table de nuit).

– Tránh việc để giường thẳng cửa ra vào.

Xem chi tiết về cách bài trí giường ngủ tại 14 điều tối kỵ khi bài trí phòng ngủ!

Ưa nhìn và cân bằng là điều quan trọng tạo nên một phòng ngủ hoàn hảo trong phong thủy phòng ngủ. Đệm tốt, đầu giường vững chắc và từ những chất liệu tự nhiên cũng là những điều không kém quan trọng để tạo ra năng lượng hài hòa.

Cần đóng tất cả các cánh cửa của phòng ngủ vào ban đêm, nó sẽ tập trung nguồn năng lượng cho phòng một cách tốt nhất, bổ dưỡng nhất. Hãy giữ các cánh cửa luôn sạch sẽ và đúng vị trí, điều đó tạo cho bạn cảm giác bình an và yên tĩnh trong phòng ngủ của chính mình.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phong thủy phòng ngủ kích thích chuyện “yêu” - Phong thủy phòng ngủ - Xem Tử Vi

Tướng phụ nữ gặp nhiều gian truân, bất hạnh trong cuộc sống - Nhân tướng - Xem Tử Vi

Tướng phụ nữ gặp nhiều gian truân, bất hạnh trong cuộc sống, Nhân tướng, Xem Tử Vi, xem bói, xem tử vi Tướng phụ nữ gặp nhiều gian truân, bất hạnh trong cuộc sống, tu vi Tướng phụ nữ gặp nhiều gian truân, bất hạnh trong cuộc sống, tu vi Nhân tướng

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tướng phụ nữ gặp nhiều gian truân, bất hạnh trong cuộc sống

Những người phụ nữ có tướng mạo này dễ gặp phải những điều đen đủi, gian truân, ít khi có được hạnh phúc trong cuộc sống.

Thái dương quá hẹp, không rõ ràng

Phụ nữ có tướng mặt mà Thái dương (góc trán) hẹp, không rõ ràng thường gặp khá nhiều xui xẻo trong cuộc sống.

Bản thân họ dễ dàng thay đổi tình cảm, có thể bỏ phản bội chồng, bỏ con mình dứt ruột đẻ ra để chạy theo danh lợi. Thậm chí, ngay cả cha mẹ mình cũng không đoái hoài tới.

Sống mũi lỗi lõm hoặc gãy gập

Xem bói sống mũi thể hiện phần nào công danh sự nghiệp của một con người. Nếu có sống mũi cao là người tự tin, dễ thành công. Ngược lại, nếu sống mũi lồi lõm hoặc gẫy gập thường hay bị kẻ xấu hãm hại trong công việc.

Ngoài ra, tướng mặt phụ nữ này còn cho thấy sự nản chí và chùn bước khi gặp khó khăn trở ngại. Họ không có quan điểm sống rõ ràng và sợ phải đối mặt với chính mình. Do đó, làm việc gì cũng trong trạng thái hoang mang, lo lắng. Đa phần thất bại nhiều hơn thành công.

Cằm thụt, xương gò má nhô cao 

Xem tướng mặt phụ nữ, khi nhìn ngang một người mà có cằm thụt, xương gò má nhô cao tạo cảm giác không tin tưởng được. Phụ nữ có tướng mạo này thì dã tâm rất lớn, tham vọng đầy mình, khó có thể yên phận tại gia để chăm chồng chăm con được.

Ảnh minh họa

Lông mày thô đậm, mọc lộn xộn

Phụ nữ có tướng mặt với lông mày thô đậm nhưng mọc lộn xộn thường nóng vội, hành xử không khéo léo, dễ gặp trở ngại và thất bại trong công việc. Tuy nhiên, người này không xấu, đôi khi vì khả năng giao tiếp kém cộng với tính khí nóng nảy nên làm việc gì cũng bị thua thiệt. Đường công danh sự nghiệp của họ do đó mà không khả quan.

Lỗ tai lộ ra ngoài

Trong nhân tướng học, lỗ tai còn gọi là Phong môn. Lỗ tai càng lộ ra ngoài rõ ràng chứng tỏ chủ nhân của nó thiếu tinh thần trách nhiệm trong cuộc sống. Lúc cao hứng thì hứa hẹn nhiều điều, khi mất hứng lại sẵn sàng buông bỏ tất cả.

Người này thường “ăn cỗ đi trước, lội nước theo sau”, gặp việc khó khăn là bỏ dở giữa chừng trong khi lúc nào cũng chỉ muốn ăn ngon mặc đẹp.

Miệng nếp nhăn

Miệng nếp nhăn hay còn gọi là miệng túi vải, có đặc điểm là hai môi ngậm chặt, khóe miệng trễ xuống, có rất nhiều nếp nhăn trên môi, mặt giống như đang khóc. Người có miệng này kết hôn và có con muộn. Thuở nhỏ sống vất vả, về già cô đơn, cả cuộc đời nghèo khó.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tướng phụ nữ gặp nhiều gian truân, bất hạnh trong cuộc sống - Nhân tướng - Xem Tử Vi

Nếu ngủ mơ thấy người nhà bị ma nhập là điềm báo gì? –

Trên thế giới hiện nay còn rất nhiều hiện tượng kỳ bí mà khoa học không thể giải thích được, tiêu biểu nhất trong đó là những chuyện liên quan đến ma quỷ, hồn phách, thế giới âm dương. Mặc dù hiện nay thế giới có tồn tại rất nhiều nền tôn giáo với ph
Nếu ngủ mơ thấy người nhà bị ma nhập là điềm báo gì? –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nếu ngủ mơ thấy người nhà bị ma nhập là điềm báo gì? –

Đặt tên cho con hợp phong thủy 2016 - Đặt tên cho con - Xem Tử Vi

Đặt tên cho con hợp phong thủy 2016, Đặt tên cho con, Xem Tử Vi, xem bói, xem tử vi Đặt tên cho con hợp phong thủy 2016, tu vi Đặt tên cho con hợp phong thủy 2016, tu vi Đặt tên cho con

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đặt tên cho con hợp phong thủy 2016

Gia đình bàn đang đón chờ một thành viên mới hay đang có dự định có thêm thành viên mới trong năm 2016 Bính Thân. Bạn muốn con mình sẽ muốn đặt tên cho con một cái tên thật đẹp, cái tên sẽ đi theo suốt cuộc đời, và hẳn cha mẹ nào cũng mong muốn cái tên mà cha mẹ lựa chọn sẽ mang lại thật nhiều may mắn cho con.

Hãy cùng tìm hiều những cách đặt tên hợp phong thủy cho con trong năm 2016

dat-ten-cho-con-hop-phong-thuy-2016

Một cái tên hợp phong thủy sẽ là khởi đầu tốt đẹp cho con

1. Tính cách bé tuổi Thân
Năm 2016 tương ứng với năm âm lịch là Bính Thân, theo tử vi những em bé sinh năm 2016 mang đậm đặc điểm tính cách của tuổi Thân nên hiếu động thông minh và vui vẻ. Người tuổi này hoạt bát và mạnh khỏe, nhanh nhẹn yêu đời bằng cả trái tim.  Đặt tên cho con hợp phong thủy sẽ giúp bé có một khởi đầu tốt đẹp trong suốt cuộc đời.
2. Đặt tên cho con theo ngũ hành
Tuổi Thân thuộc hành Kim. Theo quan hệ tương sinh trong ngũ hành, Kim sinh ra Thủy, nên những cái tên thuộc bộ Thủy sẽ rất tốt cho bé.
Gia đình có thể lựa chọn những cái tên thuộc hành thủy sau đây:
Lệ,                              Thủy,              Giang,                          Hà,
Sương,                       Hải,                Khê,                            Trạch,
Nhuận,                       Băng,             Hồ,                             Biển,
Võ,                              Bùi,                  Kiều,                          Tiên,
Hoàng,                       Giao,              Thương,                     Trọng,
Luân,                          Kiện,               Giới,                          Quang,
Toàn,                         Loan,               Khương,                    Khánh,                Khải…
3. Đặt tên theo quy luật tự nhiên
Loài khỉ, con giáp tượng trưng cho tuổi của bé thường sinh sống theo từng bầy trong rừng. Vì vậy, những từ thuộc hành Mộc sẽ thích hợp để chọn tên cho bé.

Một số gợi ý cho mẹ tên thuộc hành Mộc
Khôi,             Lê,                    Đỗ,
Mai,              Đào,                 Trúc,
Tùng,            Quỳnh,             Thảo,
Liễu,             Bách,               Lâm,
Sâm,            Kiện,                Xuân,
Quý,             Hạnh,              Thôn,
Phương,       Phần,              Chi,
Thị,              Bính,               Bình,
Sa,              Phúc,               Phước…
Ngoài ra, những bộ thủ như Khẩu, Miên, Mịch có ý nghĩa liên quan đến “cái hang khỉ” cũng thích hợp để đặt tên cho bé.
Một số gợi ý cho mẹ tên bộ Khẩu, Miên, Mịch:
Trung,          Quân,              Trình,
Thiện,          Hòa,                Gia,
An,              Thất,                Dung,
Nghi,           Hoành,             Bảo,
Thực,          Khoan…
Khỉ cũng rất thích bắt chước cử chỉ và tiếng nói của con người, bởi chúng là loài động vật cao cấp rất gần gũi với con người trên nấc thang tiến hóa. Vì vậy, cái tên chứa bộ Nhân, Ngôn cũng là lựa chọn thích hợp mà bạn nên cân nhắc.
Một số gợi ý cho mẹ tên bộ Nhân, Ngôn
Nhân,            Giới,              Kim,
Đại,               Nhiệm,          Trọng,
Tín,               Hà,                Bảo,
Hưu,             Nghi,             Huấn,
Thành …

 

4. Đặt tên cho con sinh năm 2016 theo tính cách
Loài khỉ rất lanh lợi, hoạt bát, nên những cái tên có bộ Sam, Cân, Y, Mịch sẽ giúp tôn lên sự duyên dáng, đẹp đẽ.
Một số gợi ý cho mẹ tên bộ Sam, Cân, Y, Mich:

Hình,             Nhạn,                 Ảnh,

 

Chương,        Đồng,                 Thường,

Hi,                 Sư,                    Phàm,

Ước,             Tố,                      Hồng,

Duyên…


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đặt tên cho con hợp phong thủy 2016 - Đặt tên cho con - Xem Tử Vi

Xem bệnh qua tóc

Tóc trên đầu không những có thể bảo vệ da đầu, mà những sợi tóc đen óng mượt còn có thể tô điểm cho cả đầu, mặt của con người, làm cho mặt con người ta trở nên rạng rỡ, xinh đẹp thêm lên và càng hiện rõ thần sắc tinh anh lanh lợi của người.
Xem bệnh qua tóc

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tóc trên đầu không những có thể bảo vệ da đầu, mà những sợi tóc đen óng mượt còn có thể tô điểm cho cả đầu, mặt của con người, làm cho mặt con người ta trở nên rạng rỡ, xinh đẹp thêm lên và càng hiện rõ thần sắc tinh anh lanh lợi của người. Điều quan trọng hơn là tóc còn có thể phản ánh trạng thái sức khoẻ của con người. Thông qua quan sát sự biến hoá nhỏ bé của tóc trên đầu, người ta có thể biết được bệnh.

Tóc trên đầu chủ yếu là do chất anbumin sừng cấu thành. Trong tóc có hơn 20 loại axít amin (amimo acid (S)), còn có cả hơn 10 loại nguyên tố vi lượng như kẽm, đồng, sắt  ... nữa. Theo các báo đưa tin thì việc xác định hàm lượng các nguyên tố vi lượng trong tóc có thể chẩn đoán được rất nhiều bệnh. Tóc cũng như các cơ quan khác trong cơ thể con người luôn luôn đổi mới, thay thế. Tóc của mỗi người có khoảng 10 vạn sợi. Cuộc đời mỗi sợi tóc ước khoảng 3 đến 4 năm. Tốc độ mọc dài ra mỗi ngày của một sợi tóc là 0,3 đến 0,4 milimét. Trong trường hợp bình thường, tất cả mọi sợi tóc không phải đều là mọc đồng bộ như nhau, ước tính khoảng trên 90% số tóc sinh trưởng, còn gần 10% số tóc lại bị rụng một cách tự nhiên. Người thành niên có khoảng 60 sợi tóc rụng trong mỗi ngày. Vì rằng số tóc rụng và số tóc sinh trưởng luôn giữ ở mức cân đối vơớinhau, cho nên không thấy có hiện tượng rụng tóc rõ rệt. Nhưng nếu số tóc rụng nhiều hơn số tóc sinh trưởng thì sẽ hình thành tình trạng mái tóc thưa, thậm chí có trường hợp rụng hết cả tóc. Hiện nay khoa học đã biết nguyên nhân của rụng tóc có rất nhiều, có nguyên nhân có tính chất sinh lý như người có chửa, người đẻ con bị rụng tóc, lại có cả nguyên nhân có tính chất bệnh lý do chủ yếu là mắc các chứng bệnh như thương hàn, viêm phổi, thiếu máu, ung thư ... Ngoài ra còn do cả nhân tố di truyền nữa.

Thực ra thì cổ nhân của chúng ta từ xa xưa cũng đã nhận thức được sự sinh trưởng và rụng tóc đều có quan hệ mật thiết đối với sức khoẻ. Y học dân tộc cho rằng sự thịnh suy của thận khí có thể hiện ra ở tóc, đó chính là "kỳ hoa tại phát" (tinh hoa của người ta là ở nơi tóc). Thận khí là một động lực thúc đẩy những hoạt động cơ năng như phát dục, trưởng thành và sinh đẻ. Khí thận khí đầy đủ, thì tinh lực của cơ thể dồi dào, lông tóc sinh trưởng khoẻ, xanh tốt. Ngược lại, nếu thận khí suy thoái quá sớm thì sẽ làm cho con người ta già trước tuổi, tóc rụng và râu tóc bạc sớm.

"Y thuật" có viết: "Nhìn vào màu tóc khô ráp hay óng ả có thể quan sát được bệnh của tạng phủ". Nhìn tóc biết được bệnh, chủ yếu là thông qua nhìn sự thay đổi về chất, về màu sắc của tóc để khám biết các bệnh có trong cơ thể và sự biến đổi, phát triển của nó.

Kinh nghiệm chứng minh rằng tất cả những trường hợp sau đây thì đều cần phải nêu ra ở phần đầu hoặc các phần khác có thể có bệnh tiềm ẩn, cần phải cảnh giác.

Tóc bạc quá sớm. Nếu thanh niên mà bạc tóc thì phải kiểm tra xem là do các nhân tố như di truyền, có vấn đề về mặt tinh thần, hay là do bị bệnh gây nên. Các bệnh như bệnh lao, bệnh về dạ dày và ruột, bệnh thiếu máu, bệnh xơ cứng động mạch ... đều có thể làm cho tóc bạc sớm.

Tóc quá đen hoặc tóc dần dần đen sẫm lại. Các nhà khoa học trên thế giới phát hiện tóc đen là màu sắc đặc biệt của những người thuộc giống da vàng. Nhưng tóc mà đen quá hoặc từ trước đến giờ không đen lắm, bây giờ bỗng đột nhiên dần dần đen nhánh lại, như vậy có khuynh hướng là bị mắc chứng ung thư.

Tóc rụng không bình thường, có thể nghĩ đến là trong cơ thể có khả năng thiếu kẽm. Tóc giòn, yếu, dễ gẫy, có thể nghĩ đến khả năng có bệnh ở tuyến giáp trạng. Y học dân tộc cho rằng tóc của người thành niên thưa thớt, trông khô cứng, màu vàng khè thì như vậy phần lớn thuộc về thận có khuyết tật, khí huyết hư suy gây ra.

Nam giới khi mà thấy tóc rụng nhiều quá mức thì phải nghĩ đến khả năng có bệnh về thận. Nữ giới tóc rụng cả hoặc lác đác rụng nhiều thì phải nghĩ đến khả năng mắc bệnh viêm thận. Khi thấy tóc rụng ở trên đỉnh đầu thường phải nghĩ đến khả năng do bị viêm kết tràng, viêm túi mật gây nên.

Rụng tóc có kèm thêm với cả các lông trong toàn thân thưa thớt, thì thường thường là biểu hiện của một số bệnh về nội tiết.

Mỗi ngày số tóc rụng tới trên mười sợi, thậm chí rụng hàng mảng tóc, đó là triệu chứng báo trước bị bệnh hói đầu, cần phải cảnh giác, tìm nguyên nhân gây bệnh để phòng trị sớm.

Nam giới sau khi lớn phổng, nếu thấy tóc cứ mọc lùi về sau, đầu tóc óng nhẫy, nhiều gầu, da đầu bị ngứa thì phải đề phòng hói đầu do thừa mỡ.

Bất kể là nam hay nữ, khi chải và gội đầu, phát hiện thấy tóc dễ gẫy rụng, trong da đầu tìm thấy những vết chấm, vằn, những cái bớt to bằng hạt đậu nành, nhưng lại không đau, không ngứa, thì phải đề phòng bệnh rụng tóc do vết chấm vằn, tục gọi là "bệnh trọc đầu".

"Nhìn tóc biết bệnh" chủ yếu thích hợp với những người ở độ tuổi thanh thiếu niên và trung niên. Còn về những người già, do tuyến mỡ ở da đã suy thoái, sự phân tiết ở da giảm đi, không đủ để làm mượt tóc, do vậy tóc trở nên khô khẳng và mất tính mượt mà, óng ả. Đó là một hiện tượng suy lão tự nhiên, không thuộc trạng thái có bệnh. Khi gặp những trường hợp nói trên, người già có thể không cần phải băn khoăn suy nghĩ nhiều.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem bệnh qua tóc

Tại sao nói Nam đeo Quan Âm, nữ đeo Di Lặc

Khi muốn đeo trang sức Phật giáo, người ta truyền nhau rằng Nam đeo Quan Âm, nữ đeo Di Lặc thì sẽ được hưởng phúc khí, tài lộc. Vậy câu nói này do đâu mà có?
Tại sao nói Nam đeo Quan Âm, nữ đeo Di Lặc

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Khi muốn đeo trang sức Phật giáo, người ta thường truyền nhau rằng “Nam đeo Quan Âm, nữ đeo Di Lặc” thì sẽ được hưởng phúc khí, hạnh phúc đủ đầy. Vậy quan niệm này từ đâu mà có, tính chính xác của nó đến đâu, hãy cùng tìm hiểu nhé.   Trong giới chơi ngọc có câu “Nam đeo Quan Âm, nữ đeo Di Lặc”, đó là một tục truyền dân gian, tựa như một lời cầu chúc may mắn cho người tín ngưỡng. Bạn đã biết và hiểu lý do tại sao có câu nói thiên về yếu tố tâm linh này hay chưa? Hôm nay, Lịch ngày tốt sẽ cùng các bạn độc giả đi tìm rõ ngọn nguồn nảy sinh và cách hiểu câu nói được sử dụng khi chọn trang sức Phật giáo này sao cho thật chính xác nhé.


Tai sao noi Nam deo Quan Am, nu deo Di Lac hinh anh
 
 

Nguồn gốc ra đời quan niệm “Nam đeo Quan Âm, nữ đeo Di Lặc”

  Quan niệm “Nam đeo Quan Âm, nữ đeo Di Lặc” chủ yếu bắt nguồn từ mối quan hệ giữa Đạo giáo, Phật giáo và Kinh Dịch, kết hợp với âm dương ngũ hành để đúc rút ra kinh nghiệm sử dụng trang sức Phật giáo. Nam giới thuộc dương mà nữ giới thuộc âm. Ngược lại, Quan Âm là nữ thuộc âm, Di Lặc là nam thuộc dương. Từ đó có thể hiểu rằng quan niệm trên sinh ra từ việc bản thân được mặt Phật đem theo mình bổ sung âm dương, đạt đến hiệu quả âm dương cân bằng.    Trong quan điểm văn hóa truyền thống phương Đông, âm dương luân chuyển, là đạo lý của vạn vật trong vũ trụ này, âm dương giao hòa là bản chất nội tại của tự nhiên, là cơ chế hoạt động của sinh mệnh con người. Do đó, dù là tu sinh hay dưỡng sinh thì đều phải đạt đến độ âm dương cân bằng, tiến tới tâm và cơ thể hài hòa, chạm tới cảnh giới con người và thiên nhiên hợp vào làm một.    Xưa kia, nam giới là người ra ngoài đối ngoại, lo chuyện làm ăn buôn bán, kiếm tiền chăm sóc gia đình. Họ thường phải đi xa gia đình suốt một thời gian dài, vì thế sự an toàn luôn là điều quan trọng nhất.


Tai sao noi Nam deo Quan Am, nu deo Di Lac hinh anh
 
  Nam đeo Quan Âm vì tâm tính đàn ông thường khá lạnh lùng thô bạo, mà Quan Âm là đức Phật đại diện cho thiện tâm. Mang theo mình tượng Quan Âm cũng chính là lời nhắc nhở bản thân tu thân tích đức, xóa bỏ tà tâm, bình tình giải quyết sự việc, không nóng nảy bộp chộp mà dễ hỏng việc lớn.   Ngoài ra, nam đeo Quan Âm là thể hiện mong muốn nam giới ra ngoài xã hội được bình an may mắn, công danh tài lộc đủ đầy. Trong văn hóa về Ngọc, Quan Âm là hình tượng nữ thân được kết hợp từ Quan Âm trong Phật giáo và Vương Mẫu nương nương trong Đạo giáo.    Quan Âm là vị Phật có thể bảo trợ bình an, ngoài ra chữ “Quan Âm” trong tiếng Hán đồng âm với “Quan Ấn”, vì thế mà người ta cũng hy vọng Quan Âm sẽ phù hộ độ trì cho cuộc sống thuận lợi, sự nghiệp hanh thông, sức khỏe dồi dào, vạn sự như ý.  
Bạn có biết Một năm có bao nhiêu ngày vía Quan Âm không?
 
Nữ giới đối nội, coi gia đình làm trọng, là người mang lại sự ấm áp cho gia đình, là biểu trưng cho tổ ấm hạnh phúc. Phật Di Lặc đầu tròn bụng lớn, thân hình tròn trịa, lòng dạ khoan dung, từ bi độ lượng, luôn nở nụ cười, lạc quan vui vẻ. Nữ giới đeo Di Lặc sẽ hoàn toàn thể hiện được tình yêu bao la của người mẹ, có thể thoải mái giải quyết đủ mọi chuyện vụn vặt của gia đình, giữ cho gia đình hòa thuận yên ấm, “gia hòa vạn sự hưng”.

Tai sao noi Nam deo Quan Am, nu deo Di Lac hinh anh
 
Nữ đeo Di Lặc còn thể hiện mong muốn cuộc đời phụ nữ được Di Lặc bảo hộ được an nhàn hạnh phúc. Di Lặc là đức Phật của tương lai, có thể đem lại phúc khí, cát khí cho con người, mang tới ngày mai tươi sáng hơn. Nữ đeo Di Lặc hay nữ đeo Phật cũng có ý nghĩa tương tự như nhau, chữ “Phật” trong tiếng Hán phát âm gần giống với chữ “Phúc”, ý cầu chúc người phụ nữ lấy được người chồng tốt, cả đời được phúc khí đi theo.   Nữ đeo Di Lặc vì phụ nữ thường có phần ích kỉ nhỏ nhen, hay so đo tính toán, mà Di Lặc là đức Phật đại diện cho lòng dạ bao la, khoan dung độ lượng. Nói nữ nên đeo mặt Di Lặc là muốn học cách phóng khoáng đối diện với mọi chuyện mình gặp phải. Cuộc đời nhiều chuyện phải lo phiền nghĩ ngợi, nên học Phật để tĩnh tâm an lạc, bình tâm xem xét sự đời, mỉm cười vượt qua giông bão. Bạn biết cách thờ Phật Di Lặc hay chưa, cùng tìm hiểu nhé.   Nói tóm lại, “nam đeo Quan Âm, nữ đeo Di Lặc” cũng chính là lấy âm dương nam nữ tương trợ, bù đắp cho nhau những điều còn thiếu sót. Nam giới có thể lấy những ưu điểm của nữ giới để sửa đổi bản thân mình và ngược lại, nữ giới cũng vậy.   Từ đó có thể thấy, “nam đeo Quan Âm, nữ đeo Di Lặc” là quan điểm thể hiện sự hiểu biết và thăng hoa của văn hóa Phật giáo, Đạo giáo đối với việc sử dụng ngọc, đá quý. Dù là Quan Âm hay Di Lặc thì đều là Đức Phật phổ độ chúng sinh, có thể giúp con người trừ tà tích phúc, hóa dữ cầu an, gặp hung thành cát.

Khám phá 5 vị trí đắc đạo đặt tượng Phật Di Lặc hái tài hái lộc nhé.
 

Quan điểm trên có thực sự chính xác hay không?

 

Có người lại cho rằng cách lý giải phía trên là không hoàn toàn chính xác, vì trong Phật giáo thì Phật và Quan Âm vốn không phân biệt giới tính rõ ràng, vậy thì sao có thể nói “Nam đeo Quan Âm, nữ đeo Di Lặc”.    Theo quan điểm này thì Phật giáo Mật tông của Trung Quốc được truyền qua thiên can địa chi, 12 mối nhân duyên, ngũ hành Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ tương sinh nên có 8 đức Phật bảo hộ cho 12 con giáp. Vì thế, nếu muốn được Phật phù trợ thì tốt nhất nên dựa vào con giáp của mình mà lựa chọn Phật bản mệnh cho chính xác để mang theo người.


Tai sao noi Nam deo Quan Am, nu deo Di Lac hinh anh
 
  Câu nói “Nam đeo Quan Âm, nữ đeo Di Lặc” qua thời gian bị thay đổi dần. Theo ghi chép trong Kinh Phật thì khi mỗi người sinh ra đều có một vị Phật hay Quan Âm Bồ Tát đi theo bảo vệ. Người sinh vào con giáp khác nhau thì tính cách khác nhau, tính cách là một trong những yếu tố quan trọng quyết định vận thế con người. Bạn đã biết Các vị Phật bản mệnh phù hộ độ trì cho 12 con giáp chưa, đọc ngay nào.   Phật độ mệnh thực tế chính là dựa vào việc trong mệnh mỗi người thiếu sót gì thì đeo mặt Phật độ mệnh bên mình sẽ bổ khuyết, giữ được bình an, hóa hung thành cát, ly khổ đắc lạc. Theo đó, chúng ta có Phật độ mệnh cho từng con giáp, giúp bản mệnh được an lành, phúc lộc.

Tai sao noi Nam deo Quan Am, nu deo Di Lac hinh anh
 

Phật bản mệnh bảo hộ cho từng con giáp là ai?

  Tuổi Tý: Quan Âm Bồ Tát nghìn mắt nghìn tay Tuổi Sửu: Hư Không Tạng Bồ Tát Tuổi Dần: Hư Không Tạng Bồ Tát Tuổi Mão: Văn Thù Bồ Tát Tuổi Thìn: Phổ Hiền Bồ Tát Tuổi Tị: Phổ Hiền Bồ Tát Tuổi Ngọ: Đại Thế Chí Bồ Tát Tuổi Mùi: Đại Nhật Như Lai  Tuổi Thân: Đại Nhật Như Lai  Tuổi Dậu: Bất Động Minh Vương Tuổi Tuất: Phật A di đà Tuổi Hợi: Phật A di đà   An An

Lịch Phật hàng năm - những ngày lễ lớn kính ngưỡng Phật, Bồ Tát Tại sao Quan Thế Âm Bồ Tát được nhiều người kính ngưỡng? Trang sức hình Phật: Nên đeo hay không, suy ngẫm thế nào mới đúng?

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tại sao nói Nam đeo Quan Âm, nữ đeo Di Lặc

Nhìn ra dấu hiệu phát tài trên khuôn mặt chỉ trong 1 phút

Nhìn ra dấu hiệu phát tài trên khuôn mặt chỉ trong 1 phút, bạn đã thử chưa? Qua mỗi đặc điểm khuôn mặt, người ta không chỉ biết thêm về tính cách mà còn đoán
Nhìn ra dấu hiệu phát tài trên khuôn mặt chỉ trong 1 phút

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Qua mỗi đặc điểm khuôn mặt, người ta không chỉ biết thêm về tính cách mà còn đoán ra dấu hiệu phát tài một cách nhanh chóng.


1. Khuôn mặt cân đối

Yếu tố đầu tiên của một khuôn mặt dễ phát tài phát lộc là sự cân đối, tương xứng trong chỉnh thể.

Sở hữu khuôn mặt cân đối, cuộc đời bạn sẽ suôn sẻ, may mắn và thành công. Do đó, bạn nên tránh để những kiểu tóc tạo cảm giác che khuất hoặc khiến cho mặt bị lệch.

2. Trán cao


Tướng trán tốt là cao và rộng. Vầng trán cao, đầy đặn, khí sắc sáng sủa cho thấy đây là người có sức khỏe tốt, tràn trề sinh lực, thông minh, nhạy bén hơn người và thường là người có quyền có thế.

Nốt ruồi đen ở trung tâm trán là dấu hiệu không may mắn. Nếu có thể, bạn nên xóa đi bởi nó ảnh hưởng phần nào đến tài vận của bạn. Ngược lại, nếu là nốt ruồi đỏ, tài vận sẽ hanh thông.

Nhin ra dau hieu phat tai tren khuon mat chi trong 1 phut hinh anh
 
3. Mũi to, cao và đầy đặn


Kích cỡ mũi là thước đo sự giàu có của một con người. Mũi là cung Tài Bạch, nơi lưu giữ tiền tài. Người có mũi to, sống mũi cao, sáng mịn thì cuộc đời giàu có và nhàn hạ, sung sướng.

Mũi càng tròn và đầy đặn thì chủ nhân càng giàu sang, phú quý. Lỗ mũi không nên quá nhỏ hoặc quá to mới được coi là tốt. Ngoài ra, nốt ruồi ở đầu mũi là dấu hiệu của sự xui xẻo.

4. Môi hình trái tim

Người có đôi môi hình trái tim, tức viền môi trên lượn sóng tạo thành 2 đỉnh trái tim cân xứng, thường được quý nhân phù trợ, cuộc sống an nhàn, gặp nhiều may mắn. Những đứa trẻ từ khi sinh ra đã có đặc điểm môi tròn và hơi cong, khi lớn lên sẽ có vận may hơn người.

Những ai có cằm chẻ, má lúm đồng tiền và môi trái tim rất đào hoa, nhân duyên tốt. Đặc biệt, phụ nữ có môi trái tim rất vượng phu, đem lại nhiều may mắn cho chồng.

5. Miệng hình cánh sen

Tướng miệng đẹp khi nó nhỏ nhắn, mềm và có đôi môi căng mọng. Miệng luôn ẩm đem lại may mắn và tiền tài cho chủ nhân, miệng khô mang ý ngược lại.

Nếu có nốt ruồi xung quanh miệng, chỉ cần nó không phải màu đen thì sẽ tăng sự may mắn cho chủ nhân. Thường thì người có một nốt ruồi son nhỏ quanh miệng luôn được quý nhân phù trợ.

Nhin ra dau hieu phat tai tren khuon mat chi trong 1 phut hinh anh 2
 
6. Cằm đầy đặn


Trong nhân tướng học, cằm là địa các, quản về tài phúc. Chiếc cằm biểu thị mức độ kiên trì, lòng quyết tâm và ý chí của bạn. Cằm cũng được coi là nơi giữ của, người tích lũy được nhiều của cải thì quai hàm thường nhô ra.

Tướng cằm đẹp và tốt thường nhô ra, đầy đặn và nhìn như một ngọn núi. Người  sở hữu tướng cằm này thường sống thọ. Nếu quai hàm thụt vào là dấu hiệu của sự bất hạnh khi về già hoặc là chết yểu.

Nốt ruồi dưới cằm trái chủ tài lộc, là tướng phú quý. Phụ nữ có nốt ruồi này thường hưởng vinh hoa, phú quý suốt đời. Đồng thời, họ được thừa kế khối tài sản đất đai lớn từ tổ tiên để lại.

Chỉ ra tướng mặt người nghèo khó và cách thoát nghèo
Trong Nhân diện học, lông mày lộn xộn, đứt đoạn là biểu hiện của đời sống tình cảm phức tạp. Chủ nhân của tướng lông mày này thường yếu đuối, dễ bị yếu tố
7. Mắt sáng

Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn, nó không chỉ biểu lộ tâm trạng mà còn nói lên khí chất, tài năng của mỗi người. Những người có đôi mắt sáng với cái  nhìn điềm tĩnh thường gặp nhiều may mắn trong cuộc sống.

Đôi mắt sáng được bảo vệ bởi lông mày cong, chủ nhân có sức khỏe tốt và giàu có. Bạn nên hạn chế cạo hoặc nhổ lông mày vì điều này có thể làm giảm sự may mắn.

8. Gò má đầy đặn

Gò má đầy đặn và hồng hào báo hiệu một cuộc sống dư dả, an nhàn. Gò má nên đầy đặn và không nên quá cao. Hai gò má cân bằng, đều ửng sắc hồng chứng tỏ người này luôn được quý nhân phù trợ.

9. Tai to và dày

Người có đôi tai cân xứng thường may mắn và khôn ngoan. Tướng tai to, dày, luân quách rõ ràng là dấu hiệu của sự cao sang, quý phái.

► Xem tướng các bộ phận cơ thể đoán vận mệnh chuẩn xác

Phùng Hiền (Theo Wofs)
 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nhìn ra dấu hiệu phát tài trên khuôn mặt chỉ trong 1 phút

Phong thủy phòng ngủ và vận mệnh đàn ông

Đặc điểm của phòng ngủ hướng Tây Bắc là tính độc tài và bảo thủ, tuy nhiên đây lại là hướng nằm ngủ rất tốt đối với nam giới.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Phòng ngủ hướng Tây Bắc - người bảo thủ nhưng lại có tài


Phòng ngủ quay hướng Tây Bắc có thể khiến cho cái tôi của người đàn ông thể hiện càng rõ. Người này thường có tính độc tài, lại tương đối bảo thủ. Nhìn bề ngoài thì người này có vẻ không quan tâm đến những chuyện nhỏ nhặt, nhưng thực ra trong số họ lại có rất nhiều người bận tâm đến điều đó.

 


Đàn ông sống trong nhiệt lượng tại phía Tây Bắc này rất dễ gặt hái thành quả, lại có thể đảm nhận chức vụ cao. Đồng thời vì rất có khí phách của một người đàn ông nên được cấp dưới tín nhiệm. Cuối đời họ có thể để lại tiếng thơm.

Khi quay hướng Tây Bắc, phòng ngủ có một đặc điểm về nghề nghiệp là thành tích đều tương đối ổn định. Hướng Tây Bắc tương đối thích hợp với phòng ngủ, vì nó có thể hấp thu đầu đủ nhiệt lượng, đồng thời cũng hài hòa với ánh mặt trời chiều.

Đặc điểm của phòng ngủ hướng Tây Bắc là tính độc tài và bảo thủ. Hướng Tây Bắc rất thích hợp với nam giới, nhưng phải chú ý, không nên để người ta có ấn tượng về "tính bảo thủ" của bạn.

Phòng ngủ hướng Bắc - người luôn nỗ lực gặt hái thành quả

Đàn ông nghỉ ở phòng ngủ hướng Bắc dễ chịu sự chi phối của quan hệ xã giao, lại không khéo bày tỏ ý của mình. Người ngủ ở phương vị này tuy không mấy thông minh, nhưng họ không vì thế mà nhụt chí. Họ là người biết tự kiểm điểm bản thân, xem mình có phạm lỗi lầm gì hay không.

Nói chung, phòng ngủ hướng Bắc mang khí chất của học giả. Hay nói cách khác, người ở trong phòng ngủ hướng này thường vùi đầu vào công việc nghiên cứu. Họ không hay trách móc mọi người không hiểu mình, chỉ cần nỗ lực làm việc thì nhất định sẽ gặt hái được thành quả lớn lao.

Người nghỉ ở phòng ngủ hướng Bắc về nghề nghiệp tương đối thích hợp với các nghề như học giả, nhà văn, nhân viên kỹ thuật. Ngoài ra, họ cũng có thể làm rất tốt công việc kinh doanh quán bar hoặc câu lạc bộ.

Người nghỉ ở phòng ngủ hướng Bắc đa phần thuộc kiểu người có tài nhưng thành đạt muộn, do vậy không nên vì thấy tình hình hiện tại không được như ý muốn mà lo lắng. Về quan hệ xã giao, chỉ cần để ý một chút là có thể ứng phó dễ dàng.

Phòng ngủ hướng Đông Bắc - thích quan tâm đến người khác



 

Người ở trong phòng ngủ quay hướng này đa số đều có tính hẹp hòi ích kỷ, nhưng lại gặp rất nhiều sóng gió trong cuộc đời. Đối với người làm công chức thì có thể hay bị thuyên chuyển công tác. Đối với người tự kinh doanh thì có thể gặp nhiều thất bại.

Hướng Đông Bắc là hướng tối nhất trước lúc mặt trời mọc, đôi khi khó tránh khỏi cảm giác lạnh lẽo. Người ở trong phòng ngủ hướng này thường thích quan tâm đến người khác. Do vậy, có một số người ở trong phòng ngủ hướng này thường hay bị mắc lừa.

Hướng Đông Bắc thường lạnh, có thể khơi dậy nhiệt huyết của người đàn ông. Trong con mắt của người khác thì người đàn ông ở trong phòng ngủ hướng Đông Bắc thường là người tốt nhất, mà bản thân họ cũng cảm thấy tự hào về điều này. Tóm lại, rộng rãi, độ lượng chính là phẩm chất tốt đẹp của họ. Mặt khác, vì họ rất nhiệt tình nên thường hay giúp đỡ mọi người.

Nói chung, người ở trong phòng ngủ hướng này đa phần là người rất có tâm huyết, khá thích hợp với nghề kỹ sư xây dựng. Nhưng điều cần lưu ý là, không nên cáu gắt vô cớ, để tránh bị thiệt hoặc làm tổn thương chính mình.

Phòng ngủ hướng Đông - thành công sớm, năng động

Phòng thường mang đến sự tươi mới và phát triển, do vậy dễ mang lại thành công cho nam giới khi tuổi còn trẻ. Những người ngủ ở phòng hướng này thích hợp với những nghề nóng của thời đại như vi tính, truyền hình, sáng tác âm nhạc, nhà văn, thời trang,...


Tuy có người do quan hệ nghề nghiệp liên quan đến cuộc sống vào ban đêm, nhưng họ vẫn thường dậy sớm tập thể dục. Đó cũng là do chịu ảnh hưởng từ "cảm giác năng động" của hướng Đông. Do luôn tràn đầy sức sống nên chỉ cần là người khéo tùy cơ ứng biến là có thể phát huy được thực lực của mình.

So với công việc lãnh đạo một nhóm người thì chi bằng đảm nhiệm chức lãnh đạo của một đơn vị gồm mấy chục người, như vậy có thể phát huy được năng lực của mình, nếu được làm việc trong văn phòng hướng về phía mặt trời thì cơ hội tăng lương thăng chức sẽ nắm chắc trong tầm tay. Nhưng sau khi bước vào tuổi trung niên, tốt nhất nên chuyển phòng ngủ sang hướng Tây để tạo cảm giác ổn định.

Cho dù đối với bất cứ việc gì cũng không được có tâm trạng hoang mang, tuyệt đối không được tùy tiện quyết định bất cứ việc gì khi chưa có sự suy xét kỹ lưỡng.

(Theo Xzone)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phong thủy phòng ngủ và vận mệnh đàn ông

Những con giáp có số giàu sang thiên bẩm –

Con giáp nào có số giàu sang? Những cái tên được lọt vào danh sách này là Tý, Sửu, Dần, Thìn... Củ thế như thế nào chúng ta cùng đọc viết sau đây nhé! Những con giáp có số giàu sang Tuổi Tý Người tuổi Tý thông minh lanh lợi, có khả năng thích ứng với

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Con giáp nào có số giàu sang? Những cái tên được lọt vào danh sách này là Tý, Sửu, Dần, Thìn… Củ thế như thế nào chúng ta cùng đọc viết sau đây nhé!

Nội dung

  • 1 Những con giáp có số giàu sang
    • 1.1 Tuổi Tý
    • 1.2 Tuổi Sửu
    • 1.3 Tuổi Dần
    • 1.4 Tuổi Thìn
    • 1.5 Tuổi Ngọ
    • 1.6 Tuổi Dậu

Những con giáp có số giàu sang

Tuổi Tý

Người tuổi Tý thông minh lanh lợi, có khả năng thích ứng với môi trường tốt. Họ luôn lạc quan, vui tính nên đường đời gặp nhiều may mắn, có quý nhân phù trợ, đi đâu cũng được mọi người yêu mến.

tuoi-ty-4632-1406244354

Ngoài ra, con giáp này khá nhạy bén về chuyện tiền bạc. Họ biết nỗ lực bằng chính sức mình để đạt được tham vọng lớn lao về cuộc sống giàu sang, phú quý.

Tuổi Sửu

Người sinh năm Sửu thường có sức chịu đựng bền bỉ, kiên trì đến cùng. Bình thường họ không thích nói chuyện khoa trương mà trầm tư như đang suy tính chuyện gì vô cùng quan trọng. Do vậy, rất khó nắm bắt được suy nghĩ của con giáp này. Người tuổi Sửu còn tỏ ra chín chắn, sẵn sàng chịu khổ để đạt được điều mình mong muốn.

suu-6265-1405878996

Tuy nhiên, phải trải qua nhiều trắc trở, người tuổi Sửu mới nhận ra khả năng của mình và áp dụng triệt để. Họ còn rất giỏi trong việc tích lũy, thực hiện tiết kiệm để có cuộc sống sung túc. Thường thì đến trung vận, người tuổi Sửu sẽ rất giàu có.

Tuổi Dần

Vốn phóng khoáng và có năng lực thực thụ, cộng với mối quan hệ rộng, nên người tuổi Dần dễ gặt hái được thành công. Đặc biệt, đến trung vận sự nghiệp của họ sẽ lên như diều gặp gió, mang lại nhiều tài lộc.

dan-3122-1406244354

Có điều, tính khí người tuổi Dần nông nổi, dễ cáu giận. Nếu biết tiết chế tính cách này, con đường tới vinh hoa phú quý của họ sẽ thêm rộng mở.

Tuổi Thìn

Tuổi Thìn có bản lĩnh hơn người, phân biệt thiện ác rõ ràng và cách thức thực hiện mọi việc đâu ra đó, không làm tổn hại đến lợi ích của bất kỳ ai.

thin-5754-1406244354

Tuy nhiên, vì đôi lúc quá tự tin thành ra tự kiêu, làm bản thân người tuổi Thìn “mất điểm” trong mắt mọi người xung quanh, cản trở con đường tài lộc của chính mình. Chỉ cần sửa được nhược điểm này này, tài vận của người tuổi Thìn càng tăng lên theo cấp số nhân.

Tuổi Ngọ

Là người có tính cách thẳng thắn, liêm khiết, chân thành, người tuổi Ngọ dễ dàng tạo dựng được rất nhiều mối quan hệ xã giao có ích cho sự nghiệp và tài đồ của họ.

ngo-8876-1406244354

Tuy vậy, trước mắt họ cần có sự trợ giúp từ người thân và bạn bè để tìm cơ hội tiến hành đầu tư, kinh doanh thu lợi nhuận. Thường ngày họ cũng biết cách chi tiêu và tích lũy nên có nhiều cơ hội phấn đấu để cuộc sống đủ đầy.

Tuổi Dậu

Người tuổi Dậu có năng lực phán đoán và phân tích vấn đề khá giỏi, lại có biệt tài ăn nói và tạo dựng các mối quan hệ có lợi cho sự phát triển về tiền đồ và địa vị của bản thân.

a69d5bb2-b388-41d9-9901-d08db6-6533-4364-1406244354

Bản thân người tuổi Dậu cũng đặt ra những yêu cầu, quy tắc, chuẩn mực khá cao để bản thân luôn trong trạng thái phấn đấu không mệt mỏi. Vì lẽ đó, đời sống vật chất của họ khá dư giả, thậm chí có thể nói là giàu sang, phú quý.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những con giáp có số giàu sang thiên bẩm –

Bố trí và trang trí phòng học, thư gia theo phong thủy –

Phòng học, dọc, yêu cầu về các phép phong thủy cát tường cụ thể như sau: 1. Bố trí nơi yên tĩnh thuộc phương Bắc. Đây là phương tiếp nhận kiên thức của tuổi trẻ. 2. Kê bàn viết theo năm sinh. Hướng bàn viết liên quan đến khả năng phát triển kiến thức

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Phòng học, dọc, yêu cầu về các phép phong thủy cát tường cụ thể như sau:

thiet-ke-phong-hoc-cho-tre-4

1. Bố trí nơi yên tĩnh thuộc phương Bắc. Đây là phương tiếp nhận kiên thức của tuổi trẻ.
2. Kê bàn viết theo năm sinh.

Hướng bàn viết liên quan đến khả năng phát triển kiến thức trí tuệ. Vì vậy nên căn cứ vào tuổi của người thường xuyên ngồi làm việc để kê bàn sao cho khi ngồi vào bàn viết mặt hướng về hương theo năm tuổi âm. Cụ thể tính theo phương vị của “sao văn xương” trên có sơ Thiên Can (tuổi theo 10 can) của tuổi.
<3. Ví dụ, kê bàn theo phương vị sao văn xương đóng tùy thuộc như sau:

–     Các tuổi có can là Quý gồm: … 1943, 1953, 1963, 1973, 1983, 1993, 2003, 2013, 2023, 2033, 2043…

Sao Văn Xương ơ hướng Chính Đông (90°, Mão)

–      Can Giáp gom: …1944, 1954, 1964, 1974, 1984,

1994,      2004, 2014, 2024, 2034, 2044…

Sao Văn Xương đóng ở phương Đông Nam (135°- Tốn)

–      Can Ất Dậu gồm: …1945, 1955, 1965, 1975, 1985,

1995,      2005, 2015, 2025, 2035, 2045…

Sao Văn Xương đóng ở hướng chính Nam (180°,

Ngọ)

–     Can Bính và Can Mậu gồm: …1946, 1948, 1956, 1958, 1966, 1968, 1976, 1978, 1986, 1988, 1996, 1998, 2006, 2008, 2016, 2018, 2026, 2028, 2036, 2038, 2046, 2048…

Sao Văn Xương đóng ơ phương vị Tây Nam (225°, Khôn)

–     Can Đinh và Ký gồm: …1947, 1949, 1957, 1959, 1987, 1969, 1977, 1979, 1987, 1989, 1997, 1999, 2007, 2009, 2017, 2019, 2027, 2029, 2037, 2039…

Sao Văn Xương đóng ở phương Tây Bắc (315°, Càn)

–     Tuổi can Tân gồm: …1941, 1951, 1961, 1971, 1981, 1991, 2001, 2011, 2021, 2031, 2041, 2051…

Sao Văn Xương đóng ở hương Chính Bắc (0° – Tý)

–     Tuổi can Nhâm gồm: …1952, 1962, 1972, 1982, 1992, 2002, 2012, 2022, 2032, 2042, 2052…

Sao Văn Xương đóng ở Phương Tây Bắc (45°, Cấn)
4. Ý nghĩa phong thủy cụ thế hướng của phòng học, dọc sách v.v…

–      Phòng ở hương Bác:

Có thể tăng cường khả năng chỉ đạo, biết áp dụng các phương pháp lãnh đạo.

–       Phòng ở phương Đông Bắc:

Tăng cường trí tướng tượng sáng tạo.

–       Phòng ở hương Đông:

Tăng khả năng về trí tuệ, về nghiên cứu trở thành học giá.

–       Phòng ở hướng Đông Nam:

Ngày càng có phương pháp tăng thêm tín nhiệm.

–       Phòng ở hương Nam:

Khả năng độc lập.

–       Phòng ở phương Tây Nam:

Ngày càng được tín nhiệm vì tính làm việc tỉ mỉ.

–      Phòng ở hướng Tây:

Có điệu kiện, có duyên làm việc về ngành tài chính, ngân hàng.

–      Phòng ở phương Tây Bắc:

Có thổ nâng cao uy quyền trong gia dinh, ở nơi làm việc, có các nhân viên trung thành, đáng tin cậy.
5. Phương pháp bài trí phòng học, dọc hay phong thủy
–     Đèn sáng màu ánh sáng tốt nhất thuộc hành Hóa. Cụ thể thì bóng đền sợi tóc.

–      Đồng hò treo phù hợp phương hướng và màu, dáng của đồng hồ theo phép phong thủy (đẵ trình bày ở phần phòng khách).

–     Tranh ảnh theo phong thủy ngũ hành là hợp với màu sơn phòng.

–      Màu sơn vàng, vàng mới chín, màu gà con.

–      Giá sách, túi sách có màu nâu, cà phê màu gỗ tự nhiên.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bố trí và trang trí phòng học, thư gia theo phong thủy –

Nguyệt Đức quý nhân - may mắn, hạnh phúc

Cũng giống như Thiên Đức quý nhân, Nguyệt Đức quý nhân là cát tinh phúc thọ. Người được Nguyệt Đức quý nhân phù trợ thường rất nhân từ, đôn hậu, cuộc đời gặp
Nguyệt Đức quý nhân - may mắn, hạnh phúc

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Cũng giống như Thiên Đức quý nhân, Nguyệt Đức quý nhân là cát tinh phúc thọ. Người được Nguyệt Đức quý nhân phù trợ thường rất nhân từ, đôn hậu, cuộc đời gặp nhiều may mắn, hạnh phúc.

Ba vị thần Phúc, Lộc, Thọ

Cách tra Nguyệt Đức quý nhân là lấy chi tháng làm cơ sở để tra các thiên can trong tứ trụ. Nếu tứ trụ nào ở vào một trong các trường hợp dưới đây là có sao Nguyệt Đức nhập mệnh.

1. Tháng Dần, tháng Ngọ, tháng Tuất thấy can Bính.

2. Tháng Thân, tháng Tý, tháng Thìn thấy can Nhâm.

3. Tháng Hợi, tháng Mão, tháng Mùi thấy can Giáp.

4. Tháng Tỵ, tháng Dậu, tháng Sửu thấy can Canh.

Người sinh vào ngày 6 giờ ngày 21/9/1990 (âm lịch) có tổ hợp tứ trụ là: giờ Tân Mão, ngày Bính Tý, tháng Bính Tuất, năm Canh Ngọ.

Theo trường hợp 1, chi Tuất của tháng (Bính Tuất) gặp can Bính của ngày (Bính Tý), do vậy tổ hợp này xuất hiện Nguyệt Đức quý nhân.

(Theo Dự đoán theo tứ trụ)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nguyệt Đức quý nhân - may mắn, hạnh phúc

Lộ diện 4 con giáp yêu không sợ nghèo khổ

Cô nàng tuổi Sửu chính là con giáp yêu không sợ nghèo khổ, sức mạnh tình yêu sẽ
Lộ diện 4 con giáp yêu không sợ nghèo khổ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

– Dẫu có phải “một túp lều tranh, hai trái tim vàng”, cô nàng tuổi Sửu vẫn bằng lòng “nâng khăn sửa túi” cho nửa kia, miễn sao đó thực sự là tình yêu chân chính.
 


 
Những con giáp thích hợp ăn chay để tăng vận khí

1. Cô nàng tuổi Sửu
  Bản tính chân thành, biết tích lũy tiền bạc, chăm chỉ làm ăn nên các nàng tuổi Sửu chẳng hề lo sợ hay e ngại về cuộc sống nghèo khổ, nhất là khi đã có người tâm đầu ý hợp kề bên.   Khi đã yêu, con giáp này không cần phải đắn đo quá nhiều về mặt kinh tế của đối phương. Bởi với họ, tiền bạc chỉ là thứ phòng thân, người làm ra tiền chứ tiền chẳng thể làm ra người.   Dẫu có phải “một túp lều tranh, hai trái tim vàng”, họ vẫn bằng lòng “nâng khăn sửa túi” cho nửa kia, miễn sao đó thực sự là tình yêu chân chính. Đây chính là con giáp yêu không sợ nghèo khổ, sức mạnh tình yêu sẽ "thổi bay" mọi nỗi sợ hãi, lo toan về vật chất.    
Lo dien 4 con giap yeu khong so ngheo kho hinh anh
 
2. Cô nàng tuổi Thân   Trong 12 con giáp, tuổi Thân thường ngày thông minh, lanh lợi, có tài ứng biến linh hoạt, xử lý khéo léo là thế, nhưng hễ rơi vào lưới tình, cô nàng tuổi Thân lại chẳng thể tỉnh táo được. Họ bất chấp tất cả để được bên cạnh người mình yêu thương, kể cả sau ngày phải trả giá bằng cuộc sống nghèo khó.   Trong suy nghĩ thường trực của con giáp này, tình yêu có sức mạnh vượt qua mọi sóng gió, trở ngại. Huống chi nghèo khó chỉ là thiếu đi đôi chút về mặt vật chất. Họ sẽ dùng sức mạnh tinh thần, khát vọng của trái tim để biến những điều tưởng như không thể thành có thể.    
Lo dien 4 con giap yeu khong so ngheo kho hinh anh 2
 
3. Cô nàng tuổi Hợi   Ai cũng biết những người tuổi Hợi có suy nghĩ lạc quan trong mọi hoàn cảnh. Nhất là trong tình yêu, dù phải cùng nhau trải qua muôn trùng sóng gió, họ vẫn cảm thấy hạnh phúc vì bản thân mình dám làm, dám đương đầu thử thách.   Con giáp này luôn nghĩ theo kiểu “thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt, còn hơn buồn le lói suốt trăm năm”. Khi bản thân mỗi người dám làm dám chịu, cuộc sống mới thực sự trở nên ý nghĩa. Họ không hề nghèo khó, trái lại tâm hồn lại rất giàu niềm vui và hạnh phúc.   4. Cô nàng tuổi Mùi   Dịu dàng, lương thiện là ưu điểm trời cho của những cô nàng tuổi Mùi. Đây cũng là mẫu mẹ hiền vợ đảm lý tưởng trong gia đình. Bởi họ coi trọng tình cảm hơn vật chất, sẵn sàng hy sinh bản thân mình vì người thân yêu.   Vậy nên, dù đời sống vật chất có khó khăn, nghèo khó, đó cũng chỉ là trạng thái tạm thời. Bởi niềm tin yêu, nỗ lực phấn đấu vì một gia đình hạnh phúc của họ cực mạnh, có thể biến những điều không thể thành hiện thực.   Ngân Hà   Điểm mặt con giáp phải đau đầu vì phú quý khi tới Tứ tuần
Mốc 40 tuổi là lúc con người đã được những thành tựu nhất định trong cuộc sống. Hãy điểm mặt những con giáp phải đau đầu vì phú quý khi đến tuổi Tứ tuần.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Lộ diện 4 con giáp yêu không sợ nghèo khổ

Phong thủy âm trạch –

1 . Rồng đến có thế , phát mạch từ xa Việc lựa chọn âm trạch , đầu tiên phải xem thế đến của sơn mạch trên phạm vi vĩ mô . Trong phong thuỷ gọi núi đến từ xa là thế , núi ở nơi gần là hình , trước tiên bàn về thế sau bàn về hình , hình là do thế quy

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1 . Rồng đến có thế , phát mạch từ xa

Việc lựa chọn âm trạch , đầu tiên phải xem thế đến của sơn mạch trên phạm vi vĩ mô . Trong phong thuỷ gọi núi đến từ xa là thế , núi ở nơi gần là hình , trước tiên bàn về thế sau bàn về hình , hình là do thế quyết định .Trong ” Táng thư . Nội thiên ” có ghi : “Thượng địa chi sơn , nhấp nhô liền giải , là đến từ trời . Như sóng nước , như ngựa phi , thế đến như bay , như long như loan khi cao lên lúc trũng xuống , như đại bàng bổ xuống , như con thú quỳ , vạn vật đều tuân theo ” . 

Ở đây viết ” Thượng địa chi sơn ” là núi nơi mai táng , đặc điểm của nó là : núi non nhấp nhô trùng điệp , như từ trên trời kéo xuống , như vạn mã phóng bay , hình thành thế lai long , khí thế hùng vĩ “.Thầy phong thuỷ lại cho rằng : thế lai long lại uốn lượn uyển chuyển , là rất tốt cho sự hình thành sinh khí to lớn , cho nên trong ” Táng thiên . Nội thiên ” lại ghi : ” Địa thế nguyên mạch , sơn thế nguyên cốt , uốn lượn Đông Tây hoặc là Bắc Nam , ngàn thước là thế , trăm thước là hình . Thế đến hình dừng , là nơi toàn khí . Đất toàn khí an táng phù hợp ” .

Chính vì thế rồng đến khí thế to lớn có ” Toàn khí ” cho nên có đặc điểm ” Đất cao nước sâu , cây cỏ tươi tốt ” . Các nhà phong thuỷ thường căn cứ vào thế lai long lớn nhỏ để xác định đẳng cấp phú quý , vì vậy trong ” Táng thư . Tạp thiên ” có ghi : ” Thế như vạn mã từ trên trời dẫn xuống , táng vương giả . Thế như sóng lớn núi non trùng điệp , táng thiên thừa . Thế như giáng long nước vòng mây lượn , táng tước lộc tam công . Thế như nhà cửa san sát , cây cỏ xanh tươi , táng khai phủ kiến quốc …” .

Không nói đến mối quan hệ giữa thế lai long lớn nhỏ và đẳng cấp phú quý , trong đó có nói đến núi non trùng điệp , nước vòng mây lượn , cây cỏ xanh tươi v.v …, rất rõ ràng đã thể hiện sự tìm kiếm của con người với môi trường tự nhiên đẹp đẽ .

Con người hy vọng rằng sau khi chết đi sẽ trở về trong lòng của đại tự nhiên , tìm kiếm môi trường táng địa lý tưởng là biểu hiện một loại quan niệm về môi trường của người cổ đại .

Thế của rồng đến thường có quan hệ với phát mạch xa xôi . Phát mạch của rồng đều ở nơi những dãy núi hội tụ , cho nên mới gọi là ” Lai long thiên lý ” , ý nói là huyệt vị phong thuỷ thường có quan hệ với đầu nguồn của long mạch , chỉ có sơn mạch to lớn mới có thể hình thành chi long dài rộng . Như vậy rồng mới có khí thế , huyệt cũng mới có sinh khí .

Trong phong thuỷ lấy quan hệ ” Tổ tông ” để biểu thị giữa can long ( rồng chính ) và chi long ( rồng nhánh ) . ” Địa lý giản minh ” có ghi : ” Nơi phát mạch của đại long phải là nơi gặp gỡ của núi cao đỉnh lớn , gọi là thái tổ ; từ đó mà xuống , lại có đỉnh cao , gọi là thái tông ; thế núi quanh co uốn khúc , lại có đỉnh cao , gọi là thiếu tổ . Từ đây núi thiếu tổ đi xuống , có cao có thấp , nhưng lấy tiết tinh thứ nhất đặt đằng sau đỉnh huyền vũ gọi là phụ mẫu ” .

Vì vậy , khi xem thế núi phải xem kỹ hình thế của thái tổ , thái tông , thiếu tổ , thiếu tông , phụ mẫu , sau đó mới trên cơ sở núi phụ mẫu và dựa theo lý luận thai tức dựng dục của người để tìm nơi tồn tại của sinh khí , tức là tìm huyệt .

Am Trach 1

2. Lớp lớp che chắn , từ xa đến gần

Như trên đã nói hình thế to lớn của rồng có quan hệ với phát mạch từ xa , nhưng phát mạch từ xa không phải từ đầu đến cuối là một đường thẳng , mà phải có lớp lớp che chắn , có tầng tầng lớp lớp hộ vệ chủ mạch.

Đúng như trong ” Táng thư ” đã ghi : ” Thế như vạn mã từ trên trời rơi xuống , hình dáng như có từng lớp lang ” , hình pháp gia cho rằng núi mà không có che chắn thì chủ long sẽ cô đơn , che chắn càng nhiều càng cát tường , vì vậy ” Địa học giản minh . Long khai chương ” đã nói một cách tổng quát : ” Long như mở đường mà đi , là có lực nhất , kim thuỷ mão là trên , thuỷ tinh là thứ , phải có hình dáng như tấm che chắn , được như vậy mới tốt ” .

3 . Tứ cục phân minh , bát long hữu dị

Nhà phong thuỷ cho rằng , hình thế của lai long nhìn từ phía bên ngoài có thể chia làm năm loại : tức ” ngũ thế – chính thế , trắc thế , nghịch thế , thuận thế , hồi thế ” , cụ thể biêủ hiện là : ” Long Bắc phát triều Nam đến là chính thế . Long Tây phát Bắc làm huyệt , Nam làm triều , là trắc thế . Long nghịch thuỷ thượng triều , thuận thuỷ hạ thử là nghịch thế .

Thân long quay về núi tổ làm triều , là hồi thế ” . Hiển nhiên , đây là cách chia của phái hình pháp , lấy hình thế tự nhiên của thân núi để đánh giá lợi hại của môi trường âm trạch , trộn lẫn giữa quan niệm duy vật và duy tâm . Phái lý khí khi bàn về hình thế , chủ yếu dựa vào Ngũ tinh Bát quái và phương vị .

Nhà phong thuỷ căn cứ ngũ tinh ở trên trời đối ứng với ngũ hành của núi sông , cho rằng hình núi trên đất , dốc thuộc Mộc , nhọn thuộc Hoả , vuông thuộc Thổ , tròn thuộc Kim , dài thuộc Thuỷ . Lại dùng lý luận tương sinh tương hợp của ngũ tinh để suy đoán tài quan ấn lộc , dùng 24 sơn hướng để chỉ rõ hướng táng khác nhau .

Hướng Đông thuộc Mộc long , hướng Nam thuộc Hoả long , hướng Tây thuộc Kim long , hướng Bắc thuộc Thuỷ long . Gọi là tứ cục . Lại theo phép tăng giảm của Âm Dương , bốn loại long cục đều có phân Âm Duơng , bắt đầu là Âm long , thịnh là Dương long …

4 . Huyệt trường phân minh , huyệt hình đa dạng

Môi trường âm trạch về mặt vĩ mô phải là nơi khí thế to lớn , về mặt vi mô phải có huyệt trường rõ ràng . Phạm vi của huyệt trong phong thuỷ rất nhỏ thường gọi là ” Huyệt tám thước ” , là một miếng đất tấc vuông ” Thừa sinh khí , trú tử cốc ” , vả lại vị trí rất khó tìm chuẩn , vì vậy trong ca dao cổ có câu : ” Nhìn thế tìm long dễ , muốn biết huyệt điểm khó ” .

Các sách như ” Táng thư ” và ” Địa học giản minh ” đều cho rằng : nơi kết huyệt có liên quan với khí . Trong ” Địa học giản minh ” đã dùng lý luận thai tức dựng dục để bàn về tình hình kết huyệt của long mạch , trong sách ghi : ” Một tiết tinh phía sau đỉnh huyền vũ gọi là phụ mẫu , dưới phụ mẫu nơi mạch rớt xuống là thai , giống như nhận huyết mạch của cha mẹ làm thai vậy .Luồng khí phía dưới đó là tức vậy , lại bắt đầu từ đỉnh huyền vũ tinh diện là dựng , giống như hình thể có đầu mặt của thai nam nữ vậy , nơi dung kết huyệt là dục , giống như đứa con sinh thành từ thai mà dục vậy ” . 

Có thể thấy rằng nơi kết huyệt tương đương với nơi người mẹ sinh con , cũng là khu vực Âm Dương giao cấu mà rất nhiều sách nói tới . Nghĩa là đã xem huyệt phong thuỷ là nữ âm , là nơi ” Lấy được khí ra , thu được khí đến ” , là nơi nhận được sự thai nghén , là nơi ” ém khí ” , ” dưỡng tức ” . Đồng thời cũng là nơi ” sinh dục ” , ” xuất thai ” .

Chính vì phong thuỷ cổ đại dùng nguyên lý thai tức dựng dục sinh sản của loài người để giải thích về ý nghĩa của huyệt phong thuỷ , đã làm cho huyệt phong thuỷ lấy tượng trưng là nữ âm , huyệt phong thuỷ được xem như là đất toàn khí , vì vậy con người khi lựa chọn đất ở , đất để chôn cất đều chọn đất có những điều kiện như vậy làm đất tốt nhất , điều này đã hình thành một khuynh hướng tình cảm lâu dài , đem lại một nội dung văn hoá đặc biệt .

Huyệt phong thuỷ đặc biệt nhấn mạnh : ” Có được sự tốt đẹp của thai tức dựng dục của tổ tông cha mẹ , lại có toàn khí dung kết … ” . Huyệt hình của huyệt phong thuỷ thường có sự khác nhau do địa hình cục bộ , vì vậy chia ra làm oa huyệt , kiềm huyệt , nhũ huyệt , đột huyệt .

Oa huyệt , theo như trong ” Táng thư ” là hình giống như tổ chim yến , chôn ở nơi lõm xuống , thường gặp ở nơi núi cao .

Kiềm huyệt , hình dáng giống như hai chân bắt chéo lên nhau như gọng kìm , còn gọi là khai cước huyệt , ở núi cao bình địa .

Nhũ huyệt , huyệt tinh mở ra , ở giữa có nhũ , còn gọi là huyền vũ huyệt , hoặc cũng gọi là nhũ đầu huyệt , ở bình địa núi cao .

Đột huyệt , tinh huyệt bằng , ở giữa nổi lên , còn gọi là bào huyệt . Theo ” Táng thư ” có hình nồi úp , đỉnh có nhiều kiểu , thường gặp ở bình địa .

5. Núi bao nước vòng , bốn mặt vây bọc

Môi trường âm trạch tốt hay xấu , ngoài long thế long cách , che chắn , huyệt trường như trên đã nói , còn phải xem núi sông bao bọc xung quanh có hữu tình không ,tức là có cấu thành một tiểu môi trường hoà hợp nhất trí không .
Thông thường cho rằng : ” Nơi có chính huyệt , núi phải trẻ , hướng trước mặt phải mở rộng , hình thế bốn bên phải chụm , gió phải kín , nước phải tụ … Sơn minh thuỷ tú phải mưa thuận gió hoà , đất trời sáng sủa , như một thế giới khác , thanh tịnh trong ồn ào , phồn hoa trong thanh tịnh , trông thấy là muốn nhìn , đến gần thấy lòng vui tươi , khí phải tích , tinh phải tụ ” .

Đây là một đoạn văn nói về phương diện Phong thuỷ , mà cũng như là một đoạn văn miêu tả về mặt phong cảnh . Trong đó những yêu cầu phải tìm kiếm như ” Sơn minh thuỷ tú ” , ” Mưa thuận gió hoà ” , ” Thanh tịnh trong ồn ào ” , ” Đến gần thấy lòng vui tươi ” , đây cũng là ý tưởng tìm kiếm về cảnh đẹp thiên nhiên .

” Núi bao nước vòng ” trong phong thuỷ , chủ yếu là thể hiện bằng quan hệ giữa sơn và thuỷ . Về quan hệ giữa sơn và thuỷ , các nhà triết học tiền bối đã bàn đến từ lâu . Trong ” Chu lễ . Khảo công ký ” đã chỉ ra : “Địa thế của thiên hạ , giữa hai núi nhất định phải có sông . Bên sông lớn nhất định phải có đường đi “ , cũng có nghĩa núi và sông đồng hành với nhau .

Trong ” Quản thị địa lý chỉ mộng ” cũng có ghi : ” Nước đi theo núi , núi ngăn nước . Núi sông phân chia các khu vực , ngăn không cho vượt quá , tích tụ khí . Nước không có núi thì khí tan mà không thể tập trung , núi không nước thì khí hàn . Núi như nhà , nước như tường , ở nhà cao không có tường , không thể phòng vệ được . Núi là thực khí . Đất càng cao khí càng dày . Nước càng sâu khí càng lớn “.

Có thể thấy rằng sơn và thuỷ dựa vào nhau để tồn tại , sơn là nội khí , thuỷ là ngoại khí , nội ngoại kết hợp mới có thể tạo thành một chỉnh thể hữu cơ mới có thể làm cho môi trường có sinh khí , mới có thể đạt được ” Sơn minh thuỷ tú ” , ” Mưa thuận gió hoà ” .

Về môi trường sơn thuỷ xung quanh huyệt trường thông thường được hợp thành được các địa hình như Sa , Thuỷ , Triều , Án . Trong đó Sa , Triều , Án đều là núi ở xung quanh huyệt .

” Địa học ” của Trầm Cảo đã nói về quan hệ giữa chúng như sau : “ Thuỷ nếu vòng vèo uốn khúc thì sa cũng xoay chuyển , sa và thuỷ nguyên là một nhà . Ôm sát hai bên huyệt như cánh ve sầu là long hổ . Thanh long là tên gọi cánh bên trái , bất kể thanh long hay bạch hổ , chỉ cần nước giữ được khí . Giữa long hổ là minh đường , minh đường giống như ngực con người . Phía trước long hổ có án , án phải thấp bằng để có nhìn được xa ,nước chảy ngang bên trong gọi là trung đường , ngoài án phải có triều sơn , giống như chủ nghiêng mình đón khách “ . Có thể tóm tắt những ý chính của nội dung trên là :

Sa thuỷ đồng hành với nhau .

Thanh long , bạch hổ là hai sa sơn bên trái bên phải .

Ở gần phía trước huyệt là núi thấp gọi là án , ở xa phía trước huyệt là núi lớn gọi là triều ( có nghĩa là triều bái ) .

Nơi nước uốn lượn chảy ra gọi là thuỷ khẩu , hai bên thuỷ khẩu phải có núi cao dựng đứng khép lại gọi là thuỷ khẩu sa . ” Núi của thuỷ khẩu phải cao và lớn , vòng mà khép lại , hình thế như vậy mới tốt ” . Nước chảy ra phải chậm rãi uốn lượn , không được chảy nhanh , nếu không sẽ tổn sinh khí .

Vì vậy tại thuỷ khẩu càng nhiều lớp núi càng tốt , ” Hám long kinh ” có ghi : ” Cửa khẩu có ngàn trùng khoá chặt nhất định có vương hầu ở trong đó “ . thật ra yêu cầu ở đây vẫn là một loại môi trường tương đối độc lập , yêu cầu môi trường phải tĩnh mịch bình yên, tương đối độc lập với ngoại cảnh , nước chảy vòng vèo , lớp lớp khoá chặt , có cảm giác như lớp lớp che chắn .

Sự phân hợp của sơn thuỷ tạo thành môi trường lớn với núi bao nước vòng , kết hợp với sa , triều , án tạo thành môi trường nhỏ trấn giữ bốn mặt.

1 . Rồng đến có thế , phát mạch từ xa

Việc lựa chọn âm trạch , đầu tiên phải xem thế đến của sơn mạch trên phạm vi vĩ mô . Trong phong thuỷ gọi núi đến từ xa là thế , núi ở nơi gần là hình , trước tiên bàn về thế sau bàn về hình , hình là do thế quyết định .Trong ” Táng thư . Nội thiên ” có ghi : “Thượng địa chi sơn , nhấp nhô liền giải , là đến từ trời . Như sóng nước , như ngựa phi , thế đến như bay , như long như loan khi cao lên lúc trũng xuống , như đại bàng bổ xuống , như con thú quỳ , vạn vật đều tuân theo ” . 

Ở đây viết ” Thượng địa chi sơn ” là núi nơi mai táng , đặc điểm của nó là : núi non nhấp nhô trùng điệp , như từ trên trời kéo xuống , như vạn mã phóng bay , hình thành thế lai long , khí thế hùng vĩ “.Thầy phong thuỷ lại cho rằng : thế lai long lại uốn lượn uyển chuyển , là rất tốt cho sự hình thành sinh khí to lớn , cho nên trong ” Táng thiên . Nội thiên ” lại ghi : ” Địa thế nguyên mạch , sơn thế nguyên cốt , uốn lượn Đông Tây hoặc là Bắc Nam , ngàn thước là thế , trăm thước là hình . Thế đến hình dừng , là nơi toàn khí . Đất toàn khí an táng phù hợp ” .

Chính vì thế rồng đến khí thế to lớn có ” Toàn khí ” cho nên có đặc điểm ” Đất cao nước sâu , cây cỏ tươi tốt ” . Các nhà phong thuỷ thường căn cứ vào thế lai long lớn nhỏ để xác định đẳng cấp phú quý , vì vậy trong ” Táng thư . Tạp thiên ” có ghi : ” Thế như vạn mã từ trên trời dẫn xuống , táng vương giả . Thế như sóng lớn núi non trùng điệp , táng thiên thừa . Thế như giáng long nước vòng mây lượn , táng tước lộc tam công . Thế như nhà cửa san sát , cây cỏ xanh tươi , táng khai phủ kiến quốc …” .

Không nói đến mối quan hệ giữa thế lai long lớn nhỏ và đẳng cấp phú quý , trong đó có nói đến núi non trùng điệp , nước vòng mây lượn , cây cỏ xanh tươi v.v …, rất rõ ràng đã thể hiện sự tìm kiếm của con người với môi trường tự nhiên đẹp đẽ .

Con người hy vọng rằng sau khi chết đi sẽ trở về trong lòng của đại tự nhiên , tìm kiếm môi trường táng địa lý tưởng là biểu hiện một loại quan niệm về môi trường của người cổ đại .

Thế của rồng đến thường có quan hệ với phát mạch xa xôi . Phát mạch của rồng đều ở nơi những dãy núi hội tụ , cho nên mới gọi là ” Lai long thiên lý ” , ý nói là huyệt vị phong thuỷ thường có quan hệ với đầu nguồn của long mạch , chỉ có sơn mạch to lớn mới có thể hình thành chi long dài rộng . Như vậy rồng mới có khí thế , huyệt cũng mới có sinh khí .

Trong phong thuỷ lấy quan hệ ” Tổ tông ” để biểu thị giữa can long ( rồng chính ) và chi long ( rồng nhánh ) . ” Địa lý giản minh ” có ghi : ” Nơi phát mạch của đại long phải là nơi gặp gỡ của núi cao đỉnh lớn , gọi là thái tổ ; từ đó mà xuống , lại có đỉnh cao , gọi là thái tông ; thế núi quanh co uốn khúc , lại có đỉnh cao , gọi là thiếu tổ . Từ đây núi thiếu tổ đi xuống , có cao có thấp , nhưng lấy tiết tinh thứ nhất đặt đằng sau đỉnh huyền vũ gọi là phụ mẫu ” .

Vì vậy , khi xem thế núi phải xem kỹ hình thế của thái tổ , thái tông , thiếu tổ , thiếu tông , phụ mẫu , sau đó mới trên cơ sở núi phụ mẫu và dựa theo lý luận thai tức dựng dục của người để tìm nơi tồn tại của sinh khí , tức là tìm huyệt .

2. Lớp lớp che chắn , từ xa đến gần

Như trên đã nói hình thế to lớn của rồng có quan hệ với phát mạch từ xa , nhưng phát mạch từ xa không phải từ đầu đến cuối là một đường thẳng , mà phải có lớp lớp che chắn , có tầng tầng lớp lớp hộ vệ chủ mạch.

Đúng như trong ” Táng thư ” đã ghi : ” Thế như vạn mã từ trên trời rơi xuống , hình dáng như có từng lớp lang ” , hình pháp gia cho rằng núi mà không có che chắn thì chủ long sẽ cô đơn , che chắn càng nhiều càng cát tường , vì vậy ” Địa học giản minh . Long khai chương ” đã nói một cách tổng quát : ” Long như mở đường mà đi , là có lực nhất , kim thuỷ mão là trên , thuỷ tinh là thứ , phải có hình dáng như tấm che chắn , được như vậy mới tốt ” .

3 . Tứ cục phân minh , bát long hữu dị

Nhà phong thuỷ cho rằng , hình thế của lai long nhìn từ phía bên ngoài có thể chia làm năm loại : tức ” ngũ thế – chính thế , trắc thế , nghịch thế , thuận thế , hồi thế ” , cụ thể biêủ hiện là : ” Long Bắc phát triều Nam đến là chính thế . Long Tây phát Bắc làm huyệt , Nam làm triều , là trắc thế . Long nghịch thuỷ thượng triều , thuận thuỷ hạ thử là nghịch thế .

Thân long quay về núi tổ làm triều , là hồi thế ” . Hiển nhiên , đây là cách chia của phái hình pháp , lấy hình thế tự nhiên của thân núi để đánh giá lợi hại của môi trường âm trạch , trộn lẫn giữa quan niệm duy vật và duy tâm . Phái lý khí khi bàn về hình thế , chủ yếu dựa vào Ngũ tinh Bát quái và phương vị .

Nhà phong thuỷ căn cứ ngũ tinh ở trên trời đối ứng với ngũ hành của núi sông , cho rằng hình núi trên đất , dốc thuộc Mộc , nhọn thuộc Hoả , vuông thuộc Thổ , tròn thuộc Kim , dài thuộc Thuỷ . Lại dùng lý luận tương sinh tương hợp của ngũ tinh để suy đoán tài quan ấn lộc , dùng 24 sơn hướng để chỉ rõ hướng táng khác nhau .

Hướng Đông thuộc Mộc long , hướng Nam thuộc Hoả long , hướng Tây thuộc Kim long , hướng Bắc thuộc Thuỷ long . Gọi là tứ cục . Lại theo phép tăng giảm của Âm Dương , bốn loại long cục đều có phân Âm Duơng , bắt đầu là Âm long , thịnh là Dương long …

4 . Huyệt trường phân minh , huyệt hình đa dạng

Môi trường âm trạch về mặt vĩ mô phải là nơi khí thế to lớn , về mặt vi mô phải có huyệt trường rõ ràng . Phạm vi của huyệt trong phong thuỷ rất nhỏ thường gọi là ” Huyệt tám thước ” , là một miếng đất tấc vuông ” Thừa sinh khí , trú tử cốc ” , vả lại vị trí rất khó tìm chuẩn , vì vậy trong ca dao cổ có câu : ” Nhìn thế tìm long dễ , muốn biết huyệt điểm khó ” .

Các sách như ” Táng thư ” và ” Địa học giản minh ” đều cho rằng : nơi kết huyệt có liên quan với khí . Trong ” Địa học giản minh ” đã dùng lý luận thai tức dựng dục để bàn về tình hình kết huyệt của long mạch , trong sách ghi : ” Một tiết tinh phía sau đỉnh huyền vũ gọi là phụ mẫu , dưới phụ mẫu nơi mạch rớt xuống là thai , giống như nhận huyết mạch của cha mẹ làm thai vậy .Luồng khí phía dưới đó là tức vậy , lại bắt đầu từ đỉnh huyền vũ tinh diện là dựng , giống như hình thể có đầu mặt của thai nam nữ vậy , nơi dung kết huyệt là dục , giống như đứa con sinh thành từ thai mà dục vậy ” . 

Có thể thấy rằng nơi kết huyệt tương đương với nơi người mẹ sinh con , cũng là khu vực Âm Dương giao cấu mà rất nhiều sách nói tới . Nghĩa là đã xem huyệt phong thuỷ là nữ âm , là nơi ” Lấy được khí ra , thu được khí đến ” , là nơi nhận được sự thai nghén , là nơi ” ém khí ” , ” dưỡng tức ” . Đồng thời cũng là nơi ” sinh dục ” , ” xuất thai ” .

Chính vì phong thuỷ cổ đại dùng nguyên lý thai tức dựng dục sinh sản của loài người để giải thích về ý nghĩa của huyệt phong thuỷ , đã làm cho huyệt phong thuỷ lấy tượng trưng là nữ âm , huyệt phong thuỷ được xem như là đất toàn khí , vì vậy con người khi lựa chọn đất ở , đất để chôn cất đều chọn đất có những điều kiện như vậy làm đất tốt nhất , điều này đã hình thành một khuynh hướng tình cảm lâu dài , đem lại một nội dung văn hoá đặc biệt .

Huyệt phong thuỷ đặc biệt nhấn mạnh : ” Có được sự tốt đẹp của thai tức dựng dục của tổ tông cha mẹ , lại có toàn khí dung kết … ” . Huyệt hình của huyệt phong thuỷ thường có sự khác nhau do địa hình cục bộ , vì vậy chia ra làm oa huyệt , kiềm huyệt , nhũ huyệt , đột huyệt .

Oa huyệt , theo như trong ” Táng thư ” là hình giống như tổ chim yến , chôn ở nơi lõm xuống , thường gặp ở nơi núi cao .

Kiềm huyệt , hình dáng giống như hai chân bắt chéo lên nhau như gọng kìm , còn gọi là khai cước huyệt , ở núi cao bình địa .

Nhũ huyệt , huyệt tinh mở ra , ở giữa có nhũ , còn gọi là huyền vũ huyệt , hoặc cũng gọi là nhũ đầu huyệt , ở bình địa núi cao .

Đột huyệt , tinh huyệt bằng , ở giữa nổi lên , còn gọi là bào huyệt . Theo ” Táng thư ” có hình nồi úp , đỉnh có nhiều kiểu , thường gặp ở bình địa .

5. Núi bao nước vòng , bốn mặt vây bọc

Môi trường âm trạch tốt hay xấu , ngoài long thế long cách , che chắn , huyệt trường như trên đã nói , còn phải xem núi sông bao bọc xung quanh có hữu tình không ,tức là có cấu thành một tiểu môi trường hoà hợp nhất trí không .
Thông thường cho rằng : ” Nơi có chính huyệt , núi phải trẻ , hướng trước mặt phải mở rộng , hình thế bốn bên phải chụm , gió phải kín , nước phải tụ … Sơn minh thuỷ tú phải mưa thuận gió hoà , đất trời sáng sủa , như một thế giới khác , thanh tịnh trong ồn ào , phồn hoa trong thanh tịnh , trông thấy là muốn nhìn , đến gần thấy lòng vui tươi , khí phải tích , tinh phải tụ ” .

Đây là một đoạn văn nói về phương diện Phong thuỷ , mà cũng như là một đoạn văn miêu tả về mặt phong cảnh . Trong đó những yêu cầu phải tìm kiếm như ” Sơn minh thuỷ tú ” , ” Mưa thuận gió hoà ” , ” Thanh tịnh trong ồn ào ” , ” Đến gần thấy lòng vui tươi ” , đây cũng là ý tưởng tìm kiếm về cảnh đẹp thiên nhiên .

” Núi bao nước vòng ” trong phong thuỷ , chủ yếu là thể hiện bằng quan hệ giữa sơn và thuỷ . Về quan hệ giữa sơn và thuỷ , các nhà triết học tiền bối đã bàn đến từ lâu . Trong ” Chu lễ . Khảo công ký ” đã chỉ ra : “Địa thế của thiên hạ , giữa hai núi nhất định phải có sông . Bên sông lớn nhất định phải có đường đi “ , cũng có nghĩa núi và sông đồng hành với nhau .

Trong ” Quản thị địa lý chỉ mộng ” cũng có ghi : ” Nước đi theo núi , núi ngăn nước . Núi sông phân chia các khu vực , ngăn không cho vượt quá , tích tụ khí . Nước không có núi thì khí tan mà không thể tập trung , núi không nước thì khí hàn . Núi như nhà , nước như tường , ở nhà cao không có tường , không thể phòng vệ được . Núi là thực khí . Đất càng cao khí càng dày . Nước càng sâu khí càng lớn “.

Có thể thấy rằng sơn và thuỷ dựa vào nhau để tồn tại , sơn là nội khí , thuỷ là ngoại khí , nội ngoại kết hợp mới có thể tạo thành một chỉnh thể hữu cơ mới có thể làm cho môi trường có sinh khí , mới có thể đạt được ” Sơn minh thuỷ tú ” , ” Mưa thuận gió hoà ” .

Về môi trường sơn thuỷ xung quanh huyệt trường thông thường được hợp thành được các địa hình như Sa , Thuỷ , Triều , Án . Trong đó Sa , Triều , Án đều là núi ở xung quanh huyệt .

” Địa học ” của Trầm Cảo đã nói về quan hệ giữa chúng như sau : “ Thuỷ nếu vòng vèo uốn khúc thì sa cũng xoay chuyển , sa và thuỷ nguyên là một nhà . Ôm sát hai bên huyệt như cánh ve sầu là long hổ . Thanh long là tên gọi cánh bên trái , bất kể thanh long hay bạch hổ , chỉ cần nước giữ được khí . Giữa long hổ là minh đường , minh đường giống như ngực con người . Phía trước long hổ có án , án phải thấp bằng để có nhìn được xa ,nước chảy ngang bên trong gọi là trung đường , ngoài án phải có triều sơn , giống như chủ nghiêng mình đón khách “ . Có thể tóm tắt những ý chính của nội dung trên là :

Sa thuỷ đồng hành với nhau .

Thanh long , bạch hổ là hai sa sơn bên trái bên phải .

Ở gần phía trước huyệt là núi thấp gọi là án , ở xa phía trước huyệt là núi lớn gọi là triều ( có nghĩa là triều bái ) .

Nơi nước uốn lượn chảy ra gọi là thuỷ khẩu , hai bên thuỷ khẩu phải có núi cao dựng đứng khép lại gọi là thuỷ khẩu sa . ” Núi của thuỷ khẩu phải cao và lớn , vòng mà khép lại , hình thế như vậy mới tốt ” . Nước chảy ra phải chậm rãi uốn lượn , không được chảy nhanh , nếu không sẽ tổn sinh khí .

Vì vậy tại thuỷ khẩu càng nhiều lớp núi càng tốt , ” Hám long kinh ” có ghi : ” Cửa khẩu có ngàn trùng khoá chặt nhất định có vương hầu ở trong đó “ . thật ra yêu cầu ở đây vẫn là một loại môi trường tương đối độc lập , yêu cầu môi trường phải tĩnh mịch bình yên, tương đối độc lập với ngoại cảnh , nước chảy vòng vèo , lớp lớp khoá chặt , có cảm giác như lớp lớp che chắn .

Sự phân hợp của sơn thuỷ tạo thành môi trường lớn với núi bao nước vòng , kết hợp với sa , triều , án tạo thành môi trường nhỏ trấn giữ bốn mặt.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phong thủy âm trạch –

Chuyện có một không hai: Giai thoại về Tả Ao (P2)

Những giai thoại về Tả Ao tiên sinh - thầy phong thủy địa lý cao tay nổi tiếng nhất nhì Việt Nam vẫn còn được lưu truyền rộng rãi cho đến ngày nay.
Chuyện có một không hai: Giai thoại về Tả Ao (P2)

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tả Ao hay Tả Ao tiên sinh là thầy phong thủy địa lý cao tay nổi tiếng nhất nhì Việt Nam. Những giai thoại về Tả Ao được lưu truyền rộng rãi cho đến tận ngày nay, trở thành những câu chuyện hết sức li kì.

Nhung chuyen co mot khong hai ve thay phong thuy cao tay nhat nuoc Viet (phan 2) hinh anh
 

Dạy dỗ kẻ tham lam

Một hôm Tả Ao đang đi đến vùng đất nọ. Thấy ngôi đình làng ở đây đặt hướng bị thất cách, ông đứng ngắm mãi rồi đến gần để xem cho rõ. Các vị chức sắc trong làng biết danh Tả Ao nên khẩn khoản nhờ ông đổi lại hướng đình làng để cả làng phát khoa bảng rầm rầm, nhằm đè đầu cưỡi cổ thiên hạ một phen cho họ biết tay.

Tả Ao nghe xong chỉ cười, sau đó ra trước sân đình đặt tróc long định hướng, rồi cắm hướng mới cho ngôi đình. Xong cáo biệt đi thẳng. Mấy tháng sau khi đình đã được xoay ngôi đổi hướng, các vị chức sắc kỳ mục không nói cho dân làng nghe chuyện, mà chỉ dặn con cháu ra công đèn sách nay mai ứng thí.
 

Nhưng không hiểu sao, tất cả đám con trai, từ lớn đến bé hễ cầm quyển sách định học, nhưng học mãi mà chữ nghĩa chẳng vào đầu. Các thầy đồ được mời đến dạy cũng thở dài ngao ngán. Rồi thay vì sách vở bút nghiên, càng ngày càng có nhiều anh con trai con các chức sắc kỳ mục rủ nhau đi sắm hòm đồ nghề thợ cạo, xách đi khắp nơi hớt tóc dạo. Trong lúc hành nghề, họ tha hồ mà “đè đầu đè cổ” thiên hạ.
 
Các cụ chức sắc lúc ấy mới hiểu ra cái thâm ý của thầy Tả Ao trước đây. Nhưng cũng hiểu rõ, tại họ quá tham lam, chỉ biết tư lợi cá nhân, nên mới bị Tả Ao dạy dỗ. Từ đó có giai thoại Tả Ao chuyên dùng phép trị kẻ tham, kẻ ác.
 
Phá trấn yểm của Cao Biền Tương truyền, Cao Biền là thầy phong thủy cao tay được vua Đường phái sang nước Nam trấn yểm các long mạch, nhằm cắt đứt chân khí nước ta. Nhưng Tả Ao – bậc thầy địa lý phong thủy nước Việt nhiều lần khiến âm mưu của Cao Biền thất bại.
 
Dân gian truyền lại, Cao Biền xem địa thế biết núi Tản là nơi long mạch khởi nguồn của nước Việt, bèn đào 100 cái hố xung quanh núi để chặt đứt long mạch, nhưng đào đến đâu là lún tới đó. Người ta cho là do Tả Ao đứng ở trên núi làm phép ngăn cản.
 
Một lần khác, Cao Biền ngang qua núi Hàm Rồng (Thanh Hóa), thấy huyệt Hàm Rồng bèn nói là thế đất tuy không phải hung địa “xương long vô túc” (con rồng không chân) nhưng cũng là con rồng què, không phải đất cực quý nên bỏ đi. 
 
Miệng nói vậy nhưng y âm thầm trở lại, mang mộ cha định táng vào chỗ ấy để sau này phát đế vương. Nhưng nhiều lần mà xương cốt cứ bị huyệt núi đùn ra. Biền quyết tâm tán nhỏ xương cốt cha để tung lên cho bám vào long huyệt thì bỗng đâu xuất hiện muôn con chim nhỏ cùng bay đến vỗ cánh khiến tro cốt tứ tán khắp nơi, đành phải chịu thua. Người ta đồn, ấy là do Tả Ao tiên sinh cao tay hơn nên ngăn được y. Giai thoại Tả Ao "trên cơ" Cao Biền cũng là từ chuyện này.
 
Táng mộ Huyết thực thành Phúc thần

Không chỉ xem giỏi cho người, còn có giai thoại Tả Ao  xem chỗ đặt mộ cho mình để sau khi chết thành Phúc thần. Khi già yếu, Tả Ao chọn cho mình chỗ đất táng kiểu Nhất khuyển trục quần dương (chó đuổi đàn dê) ở xứ Đồng Khoai, chỉ ba ngày là thành Địa Tiên. Đến ngày gần mất, ông bảo con khiêng ra chỗ đất ấy để nằm xuống mộ rồi chôn khi chưa chết hẳn. Nhưng nửa đường, biết sẽ chết trước khi đến nơi, Tả Ao bèn xem quanh rồi chỉ con khi mình chết táng vào một gò đất bên đường, thực chất là ngôi Huyết thực, về sau sẽ được thờ cúng. Quả nhiên, sau đó Tả Ao trở thành Phúc thần, được nhiều người thờ phụng.
ST

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chuyện có một không hai: Giai thoại về Tả Ao (P2)

Nên bố trí phòng cưới như thế nào hợp phong thủy?

Phòng cưới hay phòng tân hôn luôn chiếm vị trí quan trọng. Vậy bố trí nơi này theo phong thủy như thế nào? Cần chú ý gì?
Nên bố trí phòng cưới như thế nào hợp phong thủy?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Kết hôn luôn là bước ngoặt quan trong cuộc đời của mỗi người. Ai cũng mong muốn có cuộc sống hôn nhân hạnh phúc viên mãn. Thế nên, tất cả mọi thứ từ: đám cưới, lễ nghi… đều được lên lịch và chuẩn bị thật tốt hàng tháng. Và phòng cưới hay phòng tân hôn luôn chiếm vị trí quan trọng. Vậy bố trí nơi này theo phong thủy như thế nào? Cần chú ý gì? Chúng ta xem nhé!

1./ Vị trí phòng cưới.

Nếu được lựa chọn hãy chọn một ngôi nhà mới làm, căn phòng mới xây hay mới tân trang lại, diện tích vừa đủ (không lên rộng quá sẽ gây lãng phí và cảm giác trống trải, cô đơn), thoáng gió và đủ ánh sáng. Nếu phòng tối, ẩm thấp sẽ khiến tâm trạng hai người bị ức chế.

Nên bố trí phòng cưới như thế nào hợp phong thủy?

Phối cảnh các căn phòng trong nhà

Hiện giờ, nhà cửa chật chội, không phải ta muốn là chọn được vị trí và căn phòng cưới theo ý. Tùy vào kiến trúc từng nhà mà chúng ta có thay đổi cho phù hợp. Có thể mở thêm cửa phòng ngủ để đón ánh nắng, thông gió. Nhưng nên bố trí thêm rèm ở các cửa này. Vì ban ngày muốn nghỉ ngơi, bạn có thể kéo rèm che bớt ánh sáng.

2./ Bố trí nội thất, đồ đạc:

Tùy theo nhu cầu và diện tích của căn phòng mà bố trí các loại đồ đạc, nội thất cho phù hơp nhưng phải đảm bảo tiêu chí gọn gàng, ngăn nắp và tiện dụng.

Bạn nên chọn những đồ nội thất có size nhỏ hoặc vừa, màu sắc tươi sáng. Giường, tủ, bàn ghế trong phòng nên có thiết kế hiện đại, đồng bộ, kiểu dáng đơn giản, ít hoa văn trang trí sẽ làm cho căn phòng gọn gàng, tạo cảm giác thoải mái

Nên bố trí phòng cưới như thế nào hợp phong thủy?

Sau đây là một số chú ý khi bố trí các đồ đạc chủ đạo trong phòng cưới:

Giường ngủ được coi là trung tâm của phong thủy nhà ở. Nên cần được bố trí cẩn thận.

- Hai bên giường ngủ cần có sự cân bằng. Bất cứ bên nào giường lớn/nhỏ hơn đều không tốt. Phía bên phải của giường ngủ rộng hơn bên trái, sự tương tác phía bên phải của giường ngủ mạnh hơn bên trái, bên phải sôi động và bên trái tĩnh tại thể hiện âm dương lộn ngược là một điềm gở trong phong thủy.

- Vị trí đầu giường không được đối diện với cửa nhà vệ sinh, gần nhà vệ sinh. Bởi nhà vệ sinh trong phong thủy coi là nơi ô uế. Nó thường được bố trí ở các hướng xấu trong nhà để trấn trạch. Nếu bố trí gần giường ngủ, các uế khí, khí độc có thể hít phả,i không tốt cho sức khỏe.

- Phía trước và hai đầu giường không nên đối diện với gương, vợ chồng dễ bất hòa.

- Đầu giường ngủ phải tiếp giáp với bức tường bằng phẳng để đảm bảo sự ổn định cho cuộc hôn nhân.

Nếu bức tường có hình dạng cong. Từ quan điểm số học trong phong thủy, đường thẳng đại diện cho sự tĩnh, trong khi đó, đường cong đại diện cho sự chuyển động. Chuyển động là không ổn định, do đó cuộc hôn nhân cũng không thể tốt đẹp.

Thiết kế của bức tường có quá nhiều góc cạnh thì cuộc sống hôn nhân sẽ không được êm đềm, ổn định.

- Tuyệt đối không nên để loa đài, ti vi ở tủ đầu giường như vậy sẽ dễ khiến vợ chồng bị suy nhược thần kinh, ảnh hưởng không tốt tới giấc ngủ.

3./ Bài trí không gian phòng cưới:

Với phòng ngủ của vợ chồng mới cưới, các đồ trang trí cần hài hoà với màu sơn, màu nội thất để tạo sự ấm cúng, lãng mạn. Xu hướng trang trí hiện nay thường là gam màu nhẹ nhàng và lãng mạn như màu hồng phấn, màu kem và màu trắng…

- Không khí trong phòng phải thông thoáng, tránh để vật dụng trong phòng quá nhiều, ảnh hưởng đến hệ thống hô hấp và não bộ (đồ trong phòng cấm kỵ dùng màu đen)

- Tranh ảnh treo trong phòng nên giản dị, trang nhã, tránh treo quá nhiều tranh ảnh trong phòng tân hôn.

- Mặt tường, đồ dùng trong phòng, rèm không nên dùng quá nhiều màu nóng, bởi sẽ dễ khiến cơ thể bị suy nhược thần kinh, hoảng sợ, bất an, nóng tính dễ cãi nhau.

- Trần nhà trong phòng tân hôn không nên trang trí hoa văn lạ, màu sắc hỗn loạn nếu không tinh thần bất ổn, đau ốm nhiều, gặp vận hạn.

Nên bố trí phòng cưới như thế nào hợp phong thủy?

- Màu sắc trong phòng tránh sử dụng gam màu tối như màu xanh sẫm, màu xanh lá cây đậm, màu đỏ sẫm, màu tro… dễ khiến tâm trạng hai vợ chồng không thoải mái.

- Không nên trang trí phòng cưới chỉ với hai màu đỏ và trắng. Màu đỏ tượng trưng cho lửa (yếu tố Hỏa) và màu trắng tượng trưng cho kim loại (yếu tố Kim). Về mặt bản chất phong thủy, lửa luôn luôn khắc chế kim loại.

Nếu phòng cưới được trang trí bằng hai màu chủ đạo là đỏ và trắng là đi ngược nguyên tắc phong thủy. Nó có thể khiến hai vợ chồng bất đồng, thường xuyên tranh cãi với nhau dẫn tới sự bất ổn, khó bền vững cho hôn nhân.

Theo Phong thủy đời sống!


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nên bố trí phòng cưới như thế nào hợp phong thủy?

Chùa Thanh Quang - Quảng Bình

Việc xây dựng lại ngôi chùa Thanh Quang là một điều vô cùng quý, và việc mở lớp tu học Phật pháp thì càng quý hơn, đem lại nhiều điều hay lẽ phải
Chùa Thanh Quang - Quảng Bình

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Chùa Thanh Quang nằm tại thôn Thanh Khế, xã Thanh Trạch, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.

Vào thời Nhà Trần gã công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm Chế Mân để đổi về hai châu Ô Lý rồi tiếp sau đó là thời nhà Lê mà điển hình là thời vua Lê Thánh Tông (1442-1497) đã có kế hoạch mở rộng đất nước về phương Nam.

Vào thời kỳ chúa Nguyễn chọn “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân” thì Phật giáo tiếp tục là điểm tựa tâm linh chính để bình ổn nhân tâm và mở mang bờ cõi, một loạt những ngôi chùa đã được các thiền sư và người dân làng dựng lên tại Quảng Bình trong đó có chùa Thanh Quang.

Thời Trịnh-Nguyễn phân tranh, chùa bị phá sập hoàn toàn. Sau khi nhà Nguyễn bình định đất nước thì Phật giáo Quảng Bình cũng được phục hưng, chùa Thanh Quang cũng được trùng tu.

Năm 1993, nhiều bà con dâng làng như bác Nguyễn Văn Đảng đã lặn lội ra Hà Nội, vào Huế tìm Thầy tham vấn, kiên trì nhẫn nại, vận động bà con, con cháu “tìm thầy học đạo” như thế cho đến năm 2007 thì cơ duyên mới chín muồi, bác và bà con dâng làng Thanh Khê mới động thổ, đặt viên đá xây dựng lại chùa Thanh Quang. Đến ngày 15/5/Kỷ Sửu thì hoàn thành và tổ chức lễ an vị Phật.

Tổng thể kiến trúc chùa Thanh Quang ngày nay rất khang trang và kiên cố. Từ ngoài vào, cổng tam quan rất đồ sộ, được thiết kế theo kiểu tam quan chùa Huế “thượng lầu hạ quan” với chất liệu bê tông cốt thép rất kiên cố, mái lợp ngói hài, sơn màu hiện đại. Đài Quán Thế Âm Cát rất đẹp, hình bát giác, có cổ lầu và nhiều giao long được đắp sành sứ rất công phu tinh xảo. Pho tượng Bồ tát Quán Thế Âm bằng đá cẩm thạch trắng được đặt tử Non Nước, Đà Nẳng rất trang nghiêm…

Ngôi Chánh điện chùa Thanh Quang có lối kiến trúc rất lạ. Có lẽ do quỹ đất khiêm tốn nên đã có lối kiến trúc rất lạ. Ngôi tiền đường chạy dài vượt qua hai nóc của hai lầu chuông trống, đẩy hai lầu chuông trống nhô ra phía trước trông rất mạnh mẻ. Bên trên trang trí rồng chầu Pháp luân và mái bê tông sơn màu đỏ dã ngói.

Hầu hết chùa được đúc bằng bê tông rất kiến cố, bên trong chánh điện thiết kế theo dạng vòm và trang trí đèn điện rất “Tây”. Không gian hành lễ khoảng 100m2. Chánh điện thờ Phật Bổn Sư Thích Ca, bên tả thờ Bồ tát Quán Thế Âm, bên hữu thờ Bồ tát Địa Tạng. Bệ và bàn thờ được làm bằng gỗ sơn son thếp vàng. Phía sau thờ chư Tổ và chư hương linh tiền bối hữu công.

Để xây dựng được ngôi chùa, nhà chùa đã đi vay mượn dân làng và tư nhân Phật tử. Nhờ đạo tâm của bà con dâng làng rất mạnh, mọi người sẵn sàng ủng hộ, người thì cúng dường, người thì cho vay mà không nhận lãi…nên công việc xây dựng được diễn ra thuận lợi.

Khi ngôi chùa đã bắt đầu thành hình thì đạo tâm của bà con càng mạnh, các hạng mục còn lại như cổng tam quan, đài Quán Âm…đều được những Phật tử hảo tâm phát nguyện cúng dường, cho đến tường thành, sân vườn nhà tăng, nhà bếp, hệ thống phụ… do đó lần lượt được hoàn thiện khang trang như hiện nay.

quán âm

Hiện nay hầu hết bà con trong làng Thanh Khê và xã Thanh Trạch đều là Phật tử, thường xuyên đến chùa để lễ bái, tụng kinh niệm Phật và nhất và tham gia lớp học Phật pháp do chư Tăng, Ni trong Ban Hoằng pháp tỉnh Thừa Thiên Huế đứng ra tổ chức khai giảng và giảng dạy Phật pháp.

hơn cho người dân để mọi người biết chọn lựa đâu là xấu đâu là tốt để phục vụ đạo pháp cũng là phục vụ đất nước…


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chùa Thanh Quang - Quảng Bình

Những chòm sao cố chấp khiến người yêu phiền chán

Hai người yêu nhau tha thiết nhưng cũng có lúc cảm thấy phiền chán. Đây chính là trạng thái bất ổn mà 3 chòm sao cố chấp dưới đây thường xuyên mắc phải.
Những chòm sao cố chấp khiến người yêu phiền chán

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tình yêu giống như cổ phiếu, lên xuống biến hóa không ngừng. Hai người yêu nhau tha thiết, có những phút giây ngọt ngào nhưng cũng có lúc cảm thấy phiền chán, không muốn cùng nhau đi tới cuối con đường. Đây chính là trạng thái bất ổn mà 3 chòm sao cố chấp dưới đây thường xuyên mắc phải.


► ## cập nhật thông tin Tử vi hàng ngày, Mật ngữ 12 chòm sao mới nhất gửi tới bạn đọc

Nhung chom sao co chap khien nguoi yeu phien chan hinh anh
 

Kim Ngưu: cố chấp, mạnh miệng, không thừa nhận khuyết điểm

  Chòm sao cố chấp Kim Ngưu khá nổi tiếng về khoản không chịu nhận sai, luôn cho mình là đúng đắn. Trong tình yêu, nếu như đối phương có một chút ý kiến hoặc thái độ với những khuyết điểm của Kim Ngưu thì họ sẽ lập tức nhận được sự phản ứng quyết liệt, không những không tiếp thu mà còn nổi khùng lên.   Để ổn định tình cảm, Kim Ngưu hãy thử buông lỏng bản thân, kiên trì và khiêm tốn hơn, lắng nghe ý kiến của người khác. Trên thế giới này đâu có ai thập toàn thập mĩ, bản thân mình cũng vậy, có thiếu sót thì hoàn thiện, như vậy tình yêu mới bền lâu.  

Sư Tử: không chịu mất mặt, thua cái gì chứ không thua khí thế

  Kiêu ngạo và ngông cuồng biến Sư Tử thành chòm sao cố chấp. Lòng tự ái của họ cực kì mạnh mẽ, chú trọng hình tượng bản thân, thích thể diện, hư vinh nên khi nghe người khác, dù là người yêu góp ý, phê bình chắc chắn sẽ không thể chịu được. Chưa biết đúng sai thế nào nhưng cứ phải cãi trước đã, dùng khí thế áp đảo tất cả.   Cá tính thô bạo và trẻ con như vậy thì tình yêu sao có thể duy trì được. Sư Tử cần biết cách tiết chế cái tôi, tiếp thu ý kiến để tiến bộ. Biết rõ khuyết điểm của mình và khắc phục nó sẽ giúp Sư Tử ngày một hoàn thiện hơn và sẽ không còn bị phê bình nữa, đấy mới là cách hay.  

Xử Nữ: hay oán giận, thích chỉ trích người khác

 

Tính cách của Xử Nữ khá khắt khe, trong mắt không chứa nổi một hạt bụi cùng với sự nhạy cảm trời ban nên thường có ý kiến về nếp sống, suy nghĩ, quan điểm của người khác, nhất là người yêu của mình. Điều này trên tinh thần là tốt nhưng nếu quá thường xuyên, quá gay gắt và thiếu tế nhị như Xử Nữ đang làm thì chẳng hay ho chút nào.   Trước khi xét nét người khác, hãy tự kiểm điểm lại bản thân, đặt mình vào địa vị của người khác xem nếu bị giáo huấn như vậy Xử Nữ sẽ cảm thấy thế nào. Thế nên, cứ lời hay ý đẹp mà nói, chớ nổi nóng, phê bình theo cảm tính.
Nhung chom sao co chap khien nguoi yeu phien chan hinh anh
 

Ma Kết: thái độ tiêu cực, có ý kiến đều giữ trong lòng

  Khác với các chòm sao cố chấp ở trên, Ma Kết không thể hiện ngay ra bên ngoài nhưng lại cố chấp giữ ở trong lòng và bày ra bộ mặt lạnh tanh, bi quan, mẫn cảm khiến người bên cạnh cảm thấy ngột ngạt, đáng sợ. Đối với người yêu có điều bất mãn, không vừa ý Ma Kết cũng chẳng nói ra, cố tình để đối phương phải đoán.   Nên thay đổi ngay đi thôi Ma Kết à, có ai đi guốc trọng bụng bạn mà đoán được bạn đang nghĩ gì. Nghiêm túc, trưởng thành và thẳng thắn với nhau là điều để cả hai cùng thoải mái, vui vẻ và gắn bó hơn đấy.
3 chòm sao nữ không thích yêu xa, ngại ngần khoảng cách địa lý Điểm danh 3 chòm sao nữ bá đạo, thích là tự cầm cưa Top 3 chòm sao lận đận tình duyên, yêu nhiều khổ nhiều
Trình Trình  
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những chòm sao cố chấp khiến người yêu phiền chán

Các ngày “Ngũ quỷ” (xấu), cần tránh mọi việc –

Tháng Giêng kỵ ngày Ngọ Tháng Bảy kỵ ngày Sửu Tháng Hai kỵ ngày Dần Tháng Tám kỵ ngày Tị Tháng Ba kỵ ngày Mão Tháng Chín kỵ ngày Tý Tháng Tư kỵ ngày Thìn Tháng Mười kỵ ngày Hợi Tháng Năm kỵ ngày Mão Tháng Mười một kỵ ngày Mùi Tháng Sáu kỵ ngày Thân

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

cung-kham

  1. Tháng Giêng kỵ ngày Ngọ
  2. Tháng Bảy kỵ ngày Sửu
  3. Tháng Hai kỵ ngày Dần
  4. Tháng Tám kỵ ngày Tị
  5. Tháng Ba kỵ ngày Mão
  6. Tháng Chín kỵ ngày Tý
  7. Tháng Tư kỵ ngày Thìn
  8. Tháng Mười kỵ ngày Hợi
  9. Tháng Năm kỵ ngày Mão
  10. Tháng Mười một kỵ ngày Mùi
  11. Tháng Sáu kỵ ngày Thân
  12. Tháng Chạp kỵ ngày Tuất


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Các ngày “Ngũ quỷ” (xấu), cần tránh mọi việc –

Điểm mặt tướng đàn ông xấu khiến chị em thất vọng tràn trề

Điểm mặt tướng đàn ông khiến chị em thất vọng: Hãy cân nhắc thật kĩ lưỡng trước khi cưới những người đàn ông có tướng cách dưới đây.
Điểm mặt tướng đàn ông xấu khiến chị em thất vọng tràn trề

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nếu quý cô đang có ý định “nâng khăn sửa túi” cho người đàn ông có một vài đặc điểm tướng cách dưới đây, hãy cân nhắc thật kĩ lưỡng, tránh trao gửi niềm thương yêu nhầm chỗ, cuộc sống hôn nhân sau này sẽ không như ý muốn.


1. Khóe miệng trễ xuống, Nhân trung đầy đặn

Chủ nhân của khóe miệng trễ xuống phía dưới đồng thời Nhân trung (phần ngấn rãnh môi trên thẳng từ mũi xuống) đầy đặn thường không đáng tin cậy. Lúc đầu họ ra sức lấy niềm tin của người khác, trong quá trình hợp tác làm ăn, họ cũng thể hiện sự nhiệt huyết, chu đáo của mình. Tuy nhiên, khi gặp trở ngại, chính họ cũng là người “qua cầu rút ván” đầu tiên, sẵn sàng phản bội đối tác, bạn bè, thậm chí là người thân của mình để đạt được mục đích.

Do đó, nếu quý cô đang có ý định “nâng khăn sửa túi” cho người đàn ông này, hãy cân nhắc thật kĩ lưỡng, tránh trao gửi niềm thương yêu nhầm chỗ, hôn nhân sau này sẽ gặp bất hạnh liên tiếp.

Diem mat tuong dan ong khien chi em that vong tran tre hinh anh
Ảnh minh họa

2. Lỗ mũi to, tai vểnh


Trong nhân tướng học, đàn ông có tướng mũi mà lỗ mũi to, lông mũi lộ thiên, cộng thêm đặc điểm tai vểnh thường không có tinh thần trách nhiệm với kế hoạch, mục tiêu trong cuộc sống của chính họ chứ chưa nói tới trách nhiệm với người khác. Người này không có khả năng gánh vác được công to việc lớn trong gia đình, lấy họ, mọi việc lớn nhỏ sẽ đều do bạn quyết định.

3. Trán và xương gò má lồi ra


Người mang đặc điểm tướng cách với chiếc trán lồi ra, trông gầy guộc thiếu sức sống, lại thêm hai bên xương gò má cao, ít thịt và nổi gân xanh dễ gặp thất bại trong sự nghiệp. Người này tính cách nóng vội, dễ bị kích động và tác động bởi các yếu tố ngoại cảnh. Có thể nói, họ chỉ biết chăm lo cho cuộc sống của chính mình mà không thể gánh vác trách nhiệm của gia đình. Đây cũng không phải là tướng đàn ông lí tưởng để các quý cô có thể “trao thân gửi phận” suốt cuộc đời.

5. Răng vẩu, mũi hếch


Người có đặc điểm hàm răng vẩu, cười nói hở lợi cộng thêm chiếc mũi hếch, hai bên cánh mũi nhìn như lật ngược lại thường lắm tật ít tài, dù có gia sản tổ tiên để lại cũng không biết giữ gìn và phát huy. Hơn thế, người này có tâm địa đen tối, ra tay tàn bạo, một khi đã công kích người khác thì không còn đường rút lui. Bên cạnh đó, họ đặt lợi ích bản thân lên trên hết, xem nhẹ mối quan hệ tình cảm bạn bè hay tình thân gia đình.

► Xem tướng các bộ phận cơ thể đoán vận mệnh chuẩn xác

Ngân Hà (Theo D1xz)

 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Điểm mặt tướng đàn ông xấu khiến chị em thất vọng tràn trề

Quẻ Quan Âm: An Lộc Sơn Mưu Phản

Quẻ Quan Âm thứ 56 dựa trên tích An Lộc Sơn mưu phản, nói sự việc nên được giữ nguyên hiện trạng, chờ đợi đến khi thời cơ chính mùi, quý nhân xuất hiện
Quẻ Quan Âm: An Lộc Sơn Mưu Phản

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đây là quẻ Quan Âm thứ 56 được xây dựng trên điển cố: An Lộc Sơn mưu phản trong cuộc loạn An Sử nổi tiếng trong lịch sử nhà Đường.

Quẻ này trung bình, quẻ thuộc cung Sửu. Ý quẻ nói rằng những việc mưu cầu thì nên nhẫn nại chờ đợi thời cơ đến hẵng hành động. Bắt tay thực hiện ngay lúc này thì uổng phí công sức, chi bằng giữ nguyên hiện trạng, chờ đợi quý nhân phù trợ xuất hiện thì hãy tiếp tục liệu tính, như vậy mới tốt đẹp.

Điển cố quẻ Quan Âm: An Lộc Sơn mưu phản

An Lộc Sơn (703 – 757), người Doanh Châu sống vào đời Đường. Cha của An Lộc Sơn là người dân tộc Hồ, họ Khang, mẹ là người dân tộc Đột Quyết, tên ban đầu là A Lạc Sơn (còn có tên là Yết Lạc Sơn), có nghĩa là “chiến đấu”. An Lộc Sơn khi nhỏ đã mất cha, theo mẹ ờ với người Đột Quyết. Sau đó mẹ của An Lộc Sơn tái giá với An Diên Yến, anh trai của tướng quân dân tộc Đột Quyết An Ba Chú, vì thế An Lộc Sơn mới mang họ An, tên là Lộc Sơn.

Năm mười ba tuổi, An Lộc Sơn gia nhập quân đội, chưa đến bốn năm, đã làm đến chức Bình Lư tướng quân. Năm bốn mươi tuổi, ông một bước thăng lên Bình Lư quân Tiết độ sứ, là một trong những chức thống soái quân sự cao nhất canh giữ biên cương lúc bấy giờ.

Sau khi An Lộc Sơn được làm Tiết độ sứ, đã ra sức tìm kiếm các loài chim thú quý hiếm, trân châu ngọc quý, đưa đến cung đình lấy lòng Đường Huyền Tông. Đường Huyền Tông cho rằng An Lộc Sơn có lòng trung với mình, nên phong cho Lộc Sơn làm Quận vương, cho xây dinh phủ tráng lệ cho An Lộc Sơn ờ Trường An. Sau khi An Lộc Sơn chuyển vào Vương phủ, Đường Huyền Tông còn cho người đến uống rượu nghe nhạc cùng An Lộc Sơn, để Dương Quý Phi nhận An Lộc Sơn làm con.

Sau khi Tể tướng Lý Lâm Phủ bị bệnh qua đời, người anh cùng họ của Dương Quý Phi là Dương Quốc Trung nhờ vào thế lực của ngoại thích đã được nhận chức Tể tướng. Dương Quốc Trung vốn là tên vô lại, An Lộc Sơn coi thường Dương Quốc Trung, Dương Quốc Trung cũng rất căm ghét An Lộc Sơn, giữa hai người đã phát sinh mâu thuẫn, Dương Quốc Trung nhiều lần nói với Đường Huyền Tông rằng An Lộc Sơn có ý đò làm phản, nhưng Đường Huyền Tông không tin.

Tháng mười năm 755, An Lộc Sơn đã chuẩn bị xong xuôi, quyết định tạo phản. Lúc này, vừa hay có một quan viên từ Trường An đến Lạc Dương. An Lộc Sơn làm giả chiếu thư của Đường Huyền Tông từ Trường An gửi đến, triệu tập các tướng sĩ tuyên bố rằng: “Đã nhận được mật lệnh của hoàng thượng, muốn ta lập tức đem quân vào kinh diệt Dương Quốc Trung” Và như vậy, mười lăm vạn bộ binh và kỵ binh đã xuất phát từ vùng Bình Nguyên ở Hà Bắc, như một cơn lốc cuồn cuộn tiến về, trống chiêng vang dậy. Một dải Trung Nguyên đã hơn một trăm năm không có chiến tranh, dân chúng đã mấy đời không nhìn thấy cảnh chém giết, nên quan viên ờ ven đường người thì bỏ chạy, người thì đầu hàng.

Phản quân của An Lộc Sơn tiến thẳng theo hướng nam, hầu nhừ không gặp phải sự kháng cự nào.

Chẳng bao lâu, phản quân đã vượt sông Hoàng Hà, chiếm tĩnh Lạc Dương. Sau khi Đồng Quan thất thủ, Đường Huyền Tông vội vàng chạy về Thành Đô. An Lộc Sơn liền tự xưng vương, đổi tên nước là “Yên”.

An Lộc Sơn vốn có bệnh ở mắt, từ khi khởi binh đến lúc này, thị lực dần dần giảm sút, sau cùng hai mắt bị mù. Lại thêm mắc chứng ung nhọt, nên tính tình ngày càng tàn bạo, với những người hầu hạ bên cạnh, chỉ cần hơi phật ý, không bị đánh đập cũng bị mắng chửi. Chỉ cần có một chút sai sót, liền bị giết ngay. Sau khi An Lộc Sơn xưng đế, những chuyện các tướng tĩnh bàn bạc, đều được Nghiêm Trang truyền đạt lại. Nghiêm Trang tuy được trọng dụng, nhưng cũng thường xuyên bị An Lộc Sơn đánh đập. Hoạn quan Lý Trư Nhi thường hầu hạ y phục cho An Lộc Sơn là người bị đánh nhiều nhất, nên vô cùng bất mãn. Đoàn thị được An Lộc Sơn sủng áỉ, sinh được một người con trai, tên là “Khánh Ân”, rất được yêu mến, An Lộc Sơn luôn muốn cho Khánh Ân thay thế vị trí của thái tử An Khánh Tự. An Khánh Tự cũng lo mình bị phế truất. Vì thế, Nghiêm Trang và An Khánh Tự, Lý Trư Nhi liên kết với nhau, mưu hại An Lộc Sơn.

Đêm ngày mùng năm tháng giêng năm Chí Đức thứ 2 (tức năm 757), ba người bí mật lẻn vào phòng ngủ của An Lộc Sơn. Lý Trư Nhi tay cầm cây đao lớn lao thẳng vào trong màn, nhằm trúng bụng của An Lộc Sơn đang nằm trên giường đâm mạnh một nhát, kết thúc cuộc đời của An Lộc Sơn.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Quẻ Quan Âm: An Lộc Sơn Mưu Phản

Văn khấn giải hạn Sao Vân Hán

Người xưa cho rằng mỗi người vào mỗi năm có một ngôi sao chiếu mệnh. Nếu năm nào sao xấu chiếu mệnh nên dâng sao giải hạn cầu bình an, mọi tai ách sẽ qua...

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Người xưa cho rằng: mỗi người vào mỗi năm có một ngôi sao chiếu mệnh, tất cả có 9 ngôi sao, cứ 9 năm lại luân phiên trở lại. Cùng một tuổi, cùng một năm đàn ông và đàn bà lại có sao chiếu mệnh khác nhau. Trong 9 ngôi sao có sao tốt, có sao xấu, năm nào sao xấu chiếu mệnh con người sẽ gặp phải chuyện không may, ốm đau, bệnh tật. . . gọi là vận hạn.

giai-han-sao-van-han

1. Ý nghĩa của làm lễ dâng sao giải hạn

Để giảm nhẹ vận hạn người xưa thường làm lễ cúng dâng sao giải hạn vào đầu năm (là tốt nhất) hoặc hàng tháng tại chùa (là tốt nhất) hay tại nhà ở ngoài trời với mục đích cầu xin Thần Sao phù hộ cho bản thân, con cháu, gia đình đều được khoẻ mạnh, bình an, vạn sự tốt lành, may mắn, thành đạt và thịnh vượng.

Theo quan niệm dân gian thì 9 ngôi sao chiếu mệnh chỉ xuất hiện vào những ngày nhất định trong tháng, từ đó hình thành tục dâng sao giải hạn vào các ngày như sau:

Sao Thái Dương: Ngày 27 hàng tháng
Sao Thái Âm: Ngày 26 hàng tháng
Sao Mộc Đức: Ngày 25 hàng tháng
Sao Vân Hán: Ngày 29 hàng tháng
Sao Thổ Tú: Ngày 19 hàng tháng
Sao Thái Bạch: Ngày 15 hàng tháng
Sao Thuỷ Diệu: Ngày 21 hàng tháng
Sao La Hầu: Ngày 8 hàng tháng
Sao Kế Đô: Ngày 18 hàng tháng

2. Sắm lễ dâng sao giải hạn: Sao Vân Hán

Lễ cúng dâng sao Vân Hán vào ngày 29 hàng tháng, thắp 15 ngọn nến.

Theo quan niệm xưa, Vân Hán là tai tinh (sao xấu) chủ về ốm đau, bệnh tật.

Lễ vật gồm có: Hương, hoa, tiền vàng, phẩm oản;  Bài vị màu đỏ; Mũ đỏ; 36 đồng tiền.

Hướng về phương Nam để làm lễ giải sao.

3. Văn khấn dâng sao giải hạn: Sao Vân Hán

- Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

- Nam mô Hiệu Thiên chí tôn Kim Quyết Ngọc Hoàng Thượng đế.

- Con kính lạy Đức Trung Thiện tinh chúa Bắc cực Tử Vi Tràng Sinh Đại đế.

- Con kính lạy ngài Tả Nam Tào Lục Ty Duyên Thọ Tinh quân.

- Con kính lạy Đức Hữu Bắc Đẩu cửu hàm Giải ách Tinh quân.

- Con kính lạy Đức Nam phương Bính đinh Hoả Đức Tinh quân.

- Con kính lạy Đức Thượng Thanh Bản mệnh Nguyên Thần Chân quân.

Tín chủ (chúng) con là:……………………………………….

Hôm nay là ngày…… tháng………năm….., tín chủ con thành tâm sắm lễ, hương hoa trà quả, đốt nén tâm hương, thiên lập linh án tại (địa chỉ)……………………………………………………………để làm lễ giải hạn sao Vân Hán chiếu mệnh:

Cúi mong chư vị chấp kỳ lễ bạc phù hộ độ trì giải trừ vận hạn; ban phúc,lộc, thọ cho con gặp mọi sự lành, tránh mọi sự dữ, gia nội bình yên, an khang thịnh vượng.

Tín chủ con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Văn khấn giải hạn Sao Vân Hán
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd