Tướng người sống lâu –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Sau đây chúng tôi xin sưu tập và dịch rõ phần tổng quát về hình tướng phụ nữ để quí thân chủ và bạn đọc suy nghiệm.
- Lưng dài vai tròn là: Vượng phu ích tử.
- Lưỡng quyền cao mủi nhỏ là: Hại tử khắc phu.
- Tam đình bình đẳng là: Khởi gia hưng nghiệp.
- Mũi cao lỗ kín là: Có chồng giàu sang.
- Môi xứng với miệng là: Con làm nên danh vọng.
- Mặt chỗ lép chỗ nhọn là: Sạt nghiệp chồng con.
- Mặt sáng ngời như ngọc: Ắt đẻ con sang, con hiếu.
- Mũi nhỏ mặt bạnh là: Đa dâm đa loạn.
- Mình thơm mắt sáng là: Phu quí tử vinh.
- Miệng rộng mồm méo là: Phu cùng tử yểu.
- Trán thẳng mày thanh là: Đàn bà phước đức.
- Mặt lớn má lép là: Người vô phước.
- Mũi tròn da mịn là: Tướng phụ nữ hưng gia.
- Mũi tẹt mặt lớn là: Tướng đàn bà phá sản.
- Môi trắng mỏ nhọn là: Phường ăn không nói có.
- Má cao khắc lỏm là: Tướng khắc chồng con.
- Môi hường tươi: Ắt sanh con quí.
-Con ngươi đỏ như tia lửa là: Khắc sát chồng con.
- Dáng vóc nhàn tịnh khiêm cung là: Nghiêm tướng.
- Mặt đẹp con ngươi vàng là: Sát tướng.
- Tướng hình đoan chính trang nghiêm là: Uy tướng.
- Mặt lớn mồm nhỏ răng thô là: Sát tướng.
- Trên sóng mũi có nhiều lằn gạch là: Sát tướng.
- Ngồi ngay nói thẳng lòng khoan hoà là: Uy tướng.
- Tai lật không có thành quách là: Sát tướng.
- Vẻ mặt hoà dịu, mừng không lộ, sợ không khiếp là: Nghiêm tướng, quí tướng, có con quí chồng sang.
- Mặt đẹp nhưng trắng như vôi, lông mi đen rậm như lưỡi dao lớn, con ngươi như mắt cá đỏ, lông mày thô như chổi, đều là Sát tướng. Dù mặt – tướng diện – có đẹp đẻ đến đâu cũng hình phu khắc tử sát hại chồng con ghê lắm.
Trở lên là tướng hình tốt xấu lẫn lộn, xem rồi suy gẩm ắt thấy điều hay. Sau đây là tướng hình đàn bà hiền đức.
Trán bằng, đầu tròn, tóc mịn đen mướt.
Mặt như khuôn thiên, cằm nở dài mép có một vành. Đi đứng ngay thẳng, ngồi nằm khoan thai. Tóc nỏn nà nhuyễn mượt, mắt dày mày thanh môi hồng răng trắng ngà, da mịn xương nhỏ không lộ, mình trắng hơn mặt, thân mình sắc hoà dịu.
Lưng vai tròn, ngực rộng, vú to không xệ, rún sâu có vành. Bàn tay dài, ngón tay hơi nhọn, tiếng thanh, ít nói cười. Hơi mình thon, xương âm cao nhô ra, thịt dầy, âm đạo thẳng đều là tướng hiền, có phước đức.
Lại có những tướng hình tổng quát lẫn lộn thiện ác, tốt xấu như sau:
Người có tướng đi đứng khoan hoà hiền diệu, tinh thần nghiêm chỉnh, tiếng nói trắng thanh, ngồi nằm đoan chính là tướng đàn bà quí, lập danh cho chồng, để đức cho con, hưởng thọ tuổi cao, sanh toàn con trai.
Người có tướng mặt hơi vuông dài, ngực lớn, tiếng nói lớn mà thanh, tinh thần tươi sáng, cử chỉ đoan chính, chuyện trò êm thấm hoà dịu, vẻ người trang nghiêm chửng chạc, khiến kẻ đối diện nể trọng, ấy là đàn bà có phước đức trinh thuận, liêm chánh.
Người có tướng diện tươi thắm như hoa nở đầy hương nhụy, cười như hoa đào, mắt sáng như sao chớp, đi đứng phong lưu đài trang, làm cho người đối diện phải ao ước mơ tưởng và hình dung điều bất chánh, có khi kẻ đối diện có cảm tưởng như cởi bỏ y trang, để xoi mói vào bên trong thân thể, ấy là tướng tà dâm, rất dễ bị mềm lòng nhẹ dạ. Không tốt.
Tướng người mặt nhọn ngực lép mà bạnh ra, môi ướt răng hô, mắt tròn trắng dả, mũi nguỡng thiên, tiếng nói rè, đi như ma đuổi, đi lắc như phải gió, chưa nói mà ngoắc tay nghiêng mình kiễng chân như con lật đật. Tướng nghèo khó, hình phu, khắc tử.
Má thật cao, mắt lỏm, tóc xoắn, môi mép có lông rám như râu. Xương thịt thân thể cứng rắn, mình miệng và các chỗ kín có mùi hôi hám khó chịu đều là các hình tướng bần tiện, hạ đẳng, ngu độn chỉ làm nô tỳ chớ không thể làm nổi ca kỷ được nữa.
Tướng có gò má thật cao, lông mày xoáy hoặc hình chổi sề, hình lưỡi đao, tiếng nói nhọn bén như ong vò vẻ, mắt như mắt chó sói, như mắt cá đỏ, là tướng đàn bà cùng hung cực ác, khắc sát chồng con dữ lắm.
Lại có tướng người đi đứng không yên như gấp rút vội vàng như sợ sệt gì vậy. Người thì đong đưa nghiêng ngã, tưởng như sắp té đến nơi, giọng nói cợt nhả đỏng đảnh mời mọc, đó là tướng đàn bà ngồi lê đôi mách, bần tiện hạ lưu, chuyên đi nịnh bợ xoi móc hàng xóm.
Cũng có tướng người mặt ngang trán lớn má cao, tiếng nói khao khao, bước đi mông lắc như chim se sẻ, mắt lộ con ngươi đỏ như diều, như cá chép, như mắt rắn là người bạc ác, lòng một dạ hai, bất nghĩa bất tín mà ương ngạnh, ưa nói càng nói bướng.
SAO LỘC TỒN
Tính chất công việc
Môi trường làm việc
SAO THIÊN MÃ
Tính chất công việc
Môi trường làm việc
LỤC CÁT TINH
SAO TẢ PHÙ VÀ SAO HỮU BẬT
Tính chất công việc
Môi trường làm việc
SAO THIÊN KHÔI VÀ THIÊN VIỆT
Tính chất công việc
Môi trường làm việc
SAO VĂN XƯƠNG VÀ SAO VĂN KHÚC
Tính chất công việc
Người có sao Văn xương, và sao Văn khúc tọa thủ cung Quan lộc thường có các biểu hiện như sau về công việc:
Môi trường làm việc
Người có sao Văn xương văn khúc tọa thủ cung Quan lộc thường có môi trường làm việc :
LỤC SÁT TINH
SAO ĐỊA KHÔNG VÀ ĐỊA KIẾP
Tính chất công việc
Hai sao Địa không, Địa kiếp tọa thủ cung Quan lộc phần lớn có các tính chất công việc như sau:
Môi trường làm việc
HỎA TINH VÀ LINH TINH
Tính chất công việc
Người có sao Hỏa tinh và Linh tinh tọa thủ cung Quan lộc thường có các biểu hiện như sau về công việc:
Môi trường làm việc
Người có sao Hỏa tinh và Linh tinh tọa thủ cung Quan lộc, thường làm việc trong các môi trường:
SAO KÌNH DƯƠNG
Tính chất công việc
Người có sao Kình dương tọa thủ cung Quan lộc thường có các biểu hiện:
Môi trường làm việc
SAO ĐÀ LA
Tính chất công việc
Người có Đà la tọa thủ cung Quan lộc phần lớn có một vài biểu hiện dưới đây:
Môi trương làm việc
Người có Đà la tọa thủ cung Quan lộc thường có môi trường làm việc:
TỨ HÓA DIỆU
HÓA LỘC
Tính chất công việc
Người có Hóa lộc tọa thủ cung Quan lộc thường có các biểu hiện về công việc như sau:
Môi trường làm việc
Người có Hóa lộc tọa thủ cung Quan lộc thường làm việc trong môi trường:
SAO HÓA QUYỀN
Tính chất công việc
Người có Hóa quyền tọa thủ cung Quan lộc thường có tính chất nghề nghiệp như sau:
Môi trường làm việc
Người có Hóa quyền tọa thủ cung Quan lộc phần lớn có một vài hiện tượng sau:
SAO HÓA KHOA
Tính chất công việc
Người có Hóa Khoa tọa thủ cung Quan lộc thường có những biểu hiện sau:
Môi trường làm việc
Người có Hóa khoa tọa thủ cung Quan lộc trường làm việc trong các môi trường:
SAO HÓA KỴ
Tính chất công việc
Người có Hóa kỵ tọa thủ cung Quan lộc phần lớn có tính chất công việc như sau:
Môi trường làm việc
Người có Hóa kỵ tọa thủ cung Quan lộc thường làm việc ở các môi trường:
Trên đây là đặc tính cơ bản tổng quát về nghề nghiệp của hệ thống trung tinh trong Tử vi, khi dùng luận đoán nên có sự kết hợp sáng tạo và vận dụng nhuần nhuyễn.
![]() |
![]() |
Đeo ngọc chỉ để ngắm hay còn chiêu nạp phúc khí
![]() |
| Ba vị thần Phúc, Lộc, Thọ |
Cách tra Nguyệt Đức quý nhân là lấy chi tháng làm cơ sở để tra các thiên can trong tứ trụ. Nếu tứ trụ nào ở vào một trong các trường hợp dưới đây là có sao Nguyệt Đức nhập mệnh.
1. Tháng Dần, tháng Ngọ, tháng Tuất thấy can Bính.
2. Tháng Thân, tháng Tý, tháng Thìn thấy can Nhâm.
3. Tháng Hợi, tháng Mão, tháng Mùi thấy can Giáp.
4. Tháng Tỵ, tháng Dậu, tháng Sửu thấy can Canh.
Người sinh vào ngày 6 giờ ngày 21/9/1990 (âm lịch) có tổ hợp tứ trụ là: giờ Tân Mão, ngày Bính Tý, tháng Bính Tuất, năm Canh Ngọ.
Theo trường hợp 1, chi Tuất của tháng (Bính Tuất) gặp can Bính của ngày (Bính Tý), do vậy tổ hợp này xuất hiện Nguyệt Đức quý nhân.
(Theo Dự đoán theo tứ trụ)
Tuyển chọn những câu chúc tết hay năm 2017 Đinh Dậu dành những lời chúc cho người thân, bạn bè và đồng nghiệp.
Một mùa xuân nữa lại sang, nhà nhà vui đón Tết, mừng một năm mới an khang và thịnh vượng. Cùng với thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ thì không thể thiếu những câu chúc tết hoăc ý nghĩa, hoặc vui vẻ hoặc vô cùng hóm hỉnh của bạn dành cho ông bà, cha mẹ, anh chị em, cô gì chú bác, họ hàng gần xa, cùng bạn bè và đồng nghiệp.
Những lời chúc tết hay được sưu tầm và chọn lựa đều mang nhiều ý nghĩa may mắn, dồi dào tài lộc cho những người thân yêu mà bạn tặng. Bao gồm:
Đây là những lời chúc tết hay để bạn dành tặng cho người thân quen một cách lịch sự, trang trọng.
CHÚC NĂM MỚI:
Tươi sáng tương lai, tấn tài tấn lộc
Trên thuận dưới hòa, giàu sang phú quý
Trong trẻo vận niên, tình duyên tốt đẹp
Thuận thiên đắc địa, thịnh vượng an khang
Trẻ mãi không già, mặn mà nhan sắc
Gia đạo an khang, dồi dào sức khỏe
Trăm sự vuông tròn, giòn tan tiếng trẻ
Cá chép hóa rồng, công thành danh toại
—–
Cung chúc tân niên một chữ nhàn.
Chúc mừng gia quyến đặng bình an.
Tân niên đem lại niềm Hạnh Phúc.
Xuân đến rồi hưởng trọn niềm vui
—–
VẠN chuyện lo toan thay đổi hết
SỰ gì bế tắc thảy hanh thông
NHƯ anh, như chị, bằng bè bạn
Ý nguyện trọn đời đẹp ước mong
CHÚC MỪNG NĂM MỚI
Tống cựu nghênh tân
Vạn sự cát tường
Toàn gia hạnh phúc!
Tết tới tấn tài.
Xuân sang đắc lộc.
Gia đình hạnh phúc.
Vạn sự cát tường!
Ngàn lần như ý,
Vạn lần như mơ,
Triệu sự bất ngờ,
Tỷ lần hạnh phúc!
Đong cho đầy hạnh phúc.
Gói cho trọn lộc tài.
Giữ cho mãi an khang.
Thắt cho chặt phú quý.
Chúc năm mới bình an.
Cả nhà đều sung túc.
Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua.
Phúc lộc đưa nhau đến từng nhà.
Vài lời cung chúc tân niên mới.
Vạn sự an khang vạn sự lành.
Đây là các lời chúc năm mới hay nhất để bạn dành tặng bạn bè hoặc những người đồng trang lứa
Giao thừa sắp đến
Chúc bạn đáng mến
Sự nghiệp tiến lên
Gặp nhiều điều hên!
Một lời chào mong một ngày may mắn
Một lới nhắn nhủ mong bạn thành công
Một lời chúc mong bạn ấm lòng
Một nụ cười để vượt qua tất cả
Một ý chí để đập tan vất vả, lo âu
Một năm mới tràn đầy niềm vui và hạnh phúc
Chúc mừng năm mới
Một lời chào mong một ngày may mắn
Một lới nhắn nhủ mong bạn thành công
Một lời chúc mong bạn ấm lòng
Một nụ cười để vượt qua tất cả
Một ý chí để đập tan vất vả, lo âu
Một năm mới tràn đầy niềm vui và hạnh phúc
Chúc mừng năm mới
Bạn ơi cho hỏi, hôm nay ngày gì, thấy PHÚC LỘC đến, đen đủi lại đi, ông THỌ gói bánh, ông TÀI rửa hành, ông MAY sóc gạo, ông QÚY nhân xào? Bạn ơi cho hỏi, còn thiếu ông nào, tôi điểm DANH nốt, cho theo bạn nào?
Sáng sớm mở cửa, đón gió AN LÀNH, chạm cành LỘC BIẾC, hái chiếc MAY MẮN, vươn vai KHỎE KHOẮN, nhận được tin nhắn CHÚC MỪNG NĂM MỚI!
Tặng bạn một cành MAY biếc lộc, cắm vào một chiếc BÌNH AN, đặt lên bàn PHÚ QUÝ, chờ đợi nở bông SỨC KHỎE, khoe sắc NHƯ Ý, tỏa hương THỊNH VƯỢNG. Chúc mừng năm mới.
Tặng bạn cành lộc để nở ra phú quý, rụng xuống nghèo khổ, trổ bông tài danh, tỏa hương sức khỏe, đón gió may mắn!
Nhất SỨC KHỎE, Nhị THUẬN LỢI – BÌNH AN, tam SANG – PHÚ – QUÝ, tứ PHÚC – LỘC – THỌ – THÀNH, ngũ Ái – HỶ – DANH – NHƯ Ý- MAY MẮN! Chúc mừng năm mới.
Rước ngựa vào nhà, bao la phú quý, tình duyên như ý, sức khỏe dẻo dai, rạng rỡ tương lai, tiền tài đồ sộ…chúc mừng năm mới!
Năm mới tặng bạn một cuốn sách thần thánh, mở ra là nhà, lật trang là quà, đọc xong là hạnh phúc bao la, gấp lại là thấy một nhà phú quý, cất sách đi mọi việc đều như ý. Chúc mừng xuân mới tài lộc, thắng lợi!
Chúc bạn năm mới, một bị tiền tài, một tương lai giàu có, một bó công danh, một làm ăn tấn tới, một hạnh phúc phơi phới, một năm mới bình an, một không gian trong lành, một cành lộc biếc!
Chúc mừng năm mới, trút bỏ âu lo, tậu nhà thật to, xuất kho thật ít, vui mừng ríu rít, hôn hít cả ngày, lộc tài đầy tay, làm ăn may mắn, bách chiến bách thắng, giàu có vù vù, hạnh phúc đầy lu, bạc vàng đầy lọ, sức khỏe sống thọ, trăm họ đều ưng, ai cũng vui mừng, năm nay tấn tới.
Năm mới chúc bạn vạn niềm vui, một trời hạnh phúc, một đại dương sung túc, một ca khúc tình yêu, một buổi chiều độc đắc, một tích tắc buồn đau, cả 365 ngày sau phú quý.
Năm mới một giỏ tiền tài, một vai sức khỏe, một tuổi trẻ căng tràn, một làn phú quý, một í chung nhân, một xuân vui vẻ.
Tết đến rước hên, lộc vàng xuân tràn, sức khỏe vô đối, làm ăn tấn tới, bạc vàng gấp bội, cả năm vui phơi phới.
Chúc mừng xuân mới, một hang của cải, một kho phú quý, một hầm sức khỏe, một trang công danh, một nhà hạnh phúc, một năm đại thành!
Một năm mới, một tuổi mới, nhiều hiểu biết mới và một lời chúc cũ: Chúc bạn mãi hạnh phúc bên gia đình và những người thân yêu nhất
12 tháng phú quý, 365 ngày phát tài, 8760 giờ sung túc, 525600 phút thành công, 31536000 giây vạn sự như ý!
Đây là các lời chúc tết hay nói về tiền bạc, vui vẻ có, hóm hỉnh có và trịnh trọng cũng có
Cung chúc tân xuân, nhiều may mắn
Con đường danh vọng, mãi thênh thang
Lộc tài trọn vẹn, đều như ý
Sung túc một năm, với an nhàn.
Bây giờ đã hết mùa đông
Nghe đoàng pháo nổ mùa xuân sẽ về
Chúc cho độc đắc gần kề
Chúc cho tiền bạc vỡ đê tràn vào.
Ai xui con nhện giăng tơ
Ai xui phú quý giao thừa đến xông
Tiền vào như nước sông Hồng
Tiền ra nhỏ giọt như không mất gì
Vận xui đội nón ra đi
Để cho vận đỏ lì lì đứng trong
Bao nhiêu mơ ước, ngóng trông
Xuân sang một cái thần thông ắt thành.
Buôn to bán nhỏ cũng hời
Buôn 5 lại lãi đến 20 lần
Đồng tiền đã xuất là thông
Thả con săn sắt cá kình sẽ vô.
Giàu nứt đố đổ vách
Vui khanh khách cả năm
Thuận lợi đến gấp trăm
Tiền tài nhiều vô kể
Mọi việc đều như ý
Xuất hành đắc bình an
Sự nghiệp được vinh quang
Bạc vàng nhiều núi núi.
Xuân như ý, tiền vào nặng ví
Tết giàu sang, hạnh phúc an khang
Mừng một năm mới đã sang
Nguyện cầu may mắn lộc vàng về tay.
Mừng xuân đón Tết
Quên hết muộn phiền
Năm mới gặp hên
Giàu lên trông thấy.
Đoàng tiếng pháo, Giao thừa đã tới
Lất phất mưa, xuân mới đã sang
360 ngày, thuận lợi bình an
Tiền vào như nước, tràn tràn suốt năm.
Đầu xuân hoa nở
Sức khỏe dồi dào
Phúc lộc thêm cao
Một năm thuận lợi.
Vuông tròn tài lộc
Sức khỏe lâu dài
Công danh rạng mở
Sung túc gấp hai.
Xuân mới an khang
Sự nghiệp thênh thang
Tiền vào rủng rỉnh
Cả năm đủng đỉnh
Tha hồ bội thu.
Một năm sung túc, an vui
Một năm dung mạo ngời ngời trẻ trung
Một năm thuận lợi, thành công
Một năm tất bật tiền nong thu về!
Năm mới chúc bạn, chạm tay là vàng, đi ngang là tiền, tiến lên là thành, công danh phú quý.
Cung chúc tân niên.
Vạn sự bình yên.
Hạnh phúc vô biên.
Vui vẻ triền miên.
Kiếm được nhiều tiền.
Sung sướng như tiên!
Năm mới chúc nhau sức khỏe nhiều.
Bạc tiền rủng rỉnh thoải mái tiêu.
Gia đình hạnh phúc bè bạn quý.
Thanh thản vui chơi mọi buổi chiều!
Năm mới đến: Chúc luôn hoan hỉ, sức khỏe bền bỉ, công danh hết ý, tiền vào bạc tỉ, tiền ra ri rỉ, tình yêu thỏa chí, vạn sự như ý, luôn cười hi hi, cung hỷ cung hỷ…
Thần tài rảo bước khắp mọi nhà,
Tiền lộc đầy ắp, xuân hạnh phúc,
Mọi người sum họp vui năm mới.
Đây là các lời chúc tết hay nhất dành cho tập thể, công sở, văn phòng:
Việc nhiều bù đầu, sức khỏe sống lâu, cầu đâu được đấy, khó khăn chẳng thấy, thuận lợi bình an, phú quý giàu sang, bạc vàng chất đống. Chúc mừng năm mới!
Tiền đến bất chợt, tài vô bất ngờ, phúc lộc đang chờ, chúc mừng năm mới!
Năm mới cái gì cũng tốt
Cái gì cũng lành
Thêm tài thêm lộc
Thêm vợ thêm chồng
Thêm duyên thêm dáng
Thêm ngày thêm tháng
Thêm ý trung nhân
Thêm đường công danh
Phú quý cộng vào
Vài câu chúc tết
Tuy là đơn giản
Nhưng tấm lòng thành
Mong sao mọi điều
Chúc thành sự thật
Năm mới vừa sang
Hạnh phúc mênh mang
Ý chí vững vàng
Niềm vui rộn ràng
Tiền bạc lai láng
Sức khỏe cường tráng
Cả nhà cười vang
Chúc mừng năm mới
Chúc mọi người đẹp như hoa Hồng
Thành công như Cúc
Hạnh phúc như hoa Mai
Phát tài như hoa Pháo
Độc đáo như hoa Lan
An khang như hoa Huệ
Trí tuệ như hoa Sen
Cung chúc tân xuân: Cầu mong một năm mới an hòa thịnh vượng. Chồi non đâm tược, cây cỏ xum xuê tươi tốt, vũ trụ hài hoà. Thân chúc mọi người khỏe mạnh, hạnh phúc, tinh thần luôn sáng suốt.
Nhân dịp Tết tây đã qua, Tết ta thì sắp đến chúc mọi người thực hiện những mục tiêu từ nhỏ bé với từng bước chậm chạp nhưng vững chắc để đón năm mới với chìa khóa của sự thành công.
Năm hết Tết đến kính chúc mọi người: người già, người trẻ nhiều sức khoẻ, miệng cười vui vẻ, mua xe rẻ rẻ, tiền vào mạnh mẽ, tóm lại cái gì cũng được suôn sẻ, để sống tiếp một cuộc đời thật là đẹp đẽ.
Kính chúc mọi người một năm mới tràn đầy niềm vui và hạnh phúc: Vui trong sức khoẻ, trẻ trong tâm hồn, khôn trong lý tưởng và trưởng thành mọi lĩnh vực.
1 nụ cười cho lòng thêm ấm áp
1 ánh mắt cho hạnh phúc tràn đầy
1 lời nói cho trọn vẹn niềm tin
1 cái nắm tay cho yêu thương còn mãi
1 sự chờ đợi cho tình mãi bền lâu
1 chút hờn ghen cho yêu thương toả sáng.
1 trái tim hồng cho tình yêu thuỷ chung.
Chúc mừng năm mới an khang, thịnh vượng – Phát tài phát lộc – Tiền vào cửa trước, vàng vào cửa sau – Hai cái gặp nhau, chui vào két sắt – Một phần mua đất, một phần mua nhà – Vẫn còn rủng rỉnh, ta đi du lịch.
Xuân sang xin chúc mấy câu
Người dân no đủ làm giàu quê hương
Ra đường xin hãy nhịn, nhường
Giao thông văn hóa, học đường văn minh
Xuân về trên đất nước mình
Xin đừng xả rác thanh bình quê hương
Du khách từ khắp bốn phương
Việt Nam điểm đến niềm tin mọi người
Xuân về xin chúc muôn nơi
Một năm may mắn, mọi nhà yên vui!
Cung chúc tân niên, Gia đạo bình yên, Chồng thảo vợ hiền, Ấm êm toàn diện.
Cung chúc tân niên, Làm ăn thuận tiện, Kiếm được nhiều tiền, Giầu sang vinh hiển.
Cung chúc tân niên, Thành đạt triền miên, Sự nghiệp phát triển, Công danh thẳng tiến.
Cung chúc tân niên, Sức khỏe vô biên, Đau ốm chẳng phiền, Chẳng thèm đi viện.
Cung chúc tân niên, Đẹp đường tình duyên, Nam nữ thanh niên, Yêu nhau… ngấu nghiến.
Cung chúc tân niên, Chúc các bạn hiền, Trên khắp mọi miền, Sung sướng như tiên
Năm mới Tết đến. Rước hên vào nhà. Quà cáp bao la. Mọi nhà no đủ. Vàng bạc đầy hũ. Gia chủ phát tài. Già trẻ gái trai. Sum vầy hạnh phúc. Cầu tài chúc phúc. Lộc đến quanh năm. An khang thịnh vượng!
Xem thêm:
Những câu chúc tết hài hước dễ thương 2017
Lời chúc năm mới 2017 tặng người yêu tặng vợ tặng chồng
Những lời chúc tết hay tặng đồng nghiệp và sếp nơi công sở 2017
Hướng dẫn trình tự lễ tại đình, đền chùa và miếu phủ như sau
– Theo lệ thường, người ta lễ thần Thổ địa, thủ Đền trước, gọi là lễ trình vì đó là lễ cáo Thần linh Thổ Địa nơi mình đến dâng lễ. Người thực hành tín ngưỡng cao lễ Thần linh cho phép được tiến hành lễ tại Đình, Đền, Miếu, Phủ.
– Sau đó người ta sửa sang lễ vật một lần nữa. Mỗi lễ đều được sắp bày ra các mâm và khay chuyên dùng vào việc cúng lễ tại Đình, Đền, Miếu, Phủ.
– Kế đến là đặt lễ vào các ban. Khi dâng lễ phải kính cẩn dùng hai tay dâng lễ vật, đặt cẩn trọng lên bàn thờ. Cần đặt lễ vật lên ban chính trở ra ban ngoài cùng.
– Chỉ sau khi đã đặt xong lễ vật lên các ban thì mới được thắp hương.
– Khi làm lễ, cần phải lễ từ ban thờ chính đến ban ngoài cùng. Thường lễ ban cuối cùng là ban thờ cô thờ cậu.
– Thắp từ trong ra ngoài
– Ban thờ chính của điện được đặt theo hàng dọc, ở gian giữa được thắp hương trước.
– Các ban thờ hai bên được thắp hương sau khi đã thắp xong hương ban chính ở gian giữa.
– Khi thắp hương cần dùng số lẻ: 1, 3, 5, 7 nén. Thường thì 3 nén.
– Sau khi hương được châm lửa thì dùng hai tay dâng hương lên ngang trán, vái ba vái rồi dùng cả hai tay kính cẩn cắm hương vào bình trên ban thờ.
– Nếu có sớ tấu trình thì kẹp sớ vào giữa bàn tay hoặc đặt lên một cái đĩa nhỏ, hai tay nâng đĩa sớ lên ngang mày rồi vái 3 lần.
– Trước khi khấn thường có thỉnh chuông. Thỉnh ba hồi chuông. Thỉnh chuông xong thì mới khấn lễ.
– Khi tiến hành lễ dâng hương bạn có thể đọc văn khấn, sớ trình trước các ban, hoặc chỉ cần đặt văn khấn, sớ trình lên một cái đĩa nhỏ, rồi đặt vào mâm lễ dângcúng cũng được.
– Khi hoá vàng thì phải hoá văn khấn và sớ trước.
Sau khi kết thúc khấn, lễ ở các ban thờ, thì trong khi đợi hết một tuần nhang có thể viếng thăm phong cảnh nơi thừa tự, thờ tự.
Khi thắp hết một tuần nhang có thể thắp thêm một tuần nhang nữa. Thắp nhang xong, vái 3 vái trước mỗi ban thờ rồi hạ tiền, vàng… (đồ mã) đem ra nơi hoá vàng để hoá. Khi hoá tiền, vàng… cần hoá từng lễ một, từ lễ cảu ban thờ chính cho tới cuối cùng là lễ tiền vàng… ở ban thờ Cô thờ cậu.
Hoá tiền vàng xong mới hạ lễ dâng cúng khác. Khi hạ lễ thì hạ từ ban ngoài cùng vào đến ban chính. Riêng các đồ lễ ở bàn thờ Cô, thờ Cậu như gương, lược… thì để nguyên trên bàn thờ hoặc giả nơi đặt bàn thờ này có nơi để riêng thì nên gom vào đó mà không đem về.
Theo phong thuỷ, vị trí vượng khí của ngôi nhà nằm ở phòng khách, tập trung nhiều tại vị trí góc đối chéo với cửa chính. Để tăng thêm vận khí, tại không gian này nên đặt cây cảnh có màu xanh để hỗ trợ cho vận thế của ngôi nhà cho hợp lý
Dưới đây là một số mẹo nhỏ theo phong thủy trong bố trí phòng khách, giúp tăng tài vượng lộc:
1. Phòng khách phải đủ ánh sáng
Điều kiện tiên quyết cho phong thủy phòng khách là đủ ánh sáng, vì vậy trên bậu cửa sổ, bạn nên hạn chế tối đa việc bày biện những chậu hoa rậm rạp chắn ánh sáng. Phòng khách sáng sủa sẽ giúp vận khí ngôi nhà trở nên thịnh vượng, vì vậy, khi chọn màu sơn cho tường, bạn nên tránh những màu sắc quá tối.


2. Màu sắc của phòng khách
Trần của phòng khách nên có màu nhạt vì theo phong thuỷ trần nhà phòng khách tượng trưng cho trời, nền nhà tượng trưng cho đất. Màu sắc của trần nên nhạt còn nền nhà lại có màu sắc đậm hơn để phù hợp với ý nghĩa “trời nhẹ, đất nặng”.
Màu sắc trong phòng khách mang ý nghĩa chủ đạo, có tác dụng điều hoà tất cả màu sắc trong ngôi nhà. Màu sắc của phòng khách phải phù hợp với phương hướng của phòng. Màu sơn vách tường trong phòng khách phải khéo léo hết hợp được với ánh sáng đèn làm phòng khách trở nên sáng sủa mới có thể đem lại thịnh vượng may mắn cho gia đình.


3. Trần phòng khách không nên có xà ngang
Nếu trên trần phòng khách có xà ngang vắt qua sẽ khiến chủ nhân ngôi nhà có cảm giác bị đè nén, nặng nề khó chịu. Khi ngồi ở vị trí ngay dưới xà ngang, con người thường lo lắng, căng thẳng, khiến vận thế kém khởi sắc.
Để khắc phục lỗi sai này, bạn có thể thiết kế trần thạch cao để che xà ngang phòng khách, hoặc chọn màu sơn nhạt để sơn phủ lên xà ngang giúp giảm bớt cảm giác nặng nề khi ở.


4. Làm cửa giả giữa cửa chính và phòng khách
Với những phòng khách có diện tích nhỏ, phong thủy rất “kỵ trực xung”. Vì vậy, để cải thiện, bạn nên thiết kế cửa giả hoặc đặt tủ thấp để che giữa cửa chính của căn nhà với phòng khách. Sự ngăn cách này sẽ có tác dụng “hoãn xung” giữa không gian bên ngoài – bên trong và giúp không khí sau khi đi vòng sẽ hội tụ tại phòng khách.
Sự che chắn khéo léo cũng đem lại sự kín đáo cần thiết cho căn phòng và tránh được sự nhòm ngó từ bên ngoài. Xét theo phong thủy, căn hộ kín đáo còn mang ý nghĩa phúc khí kéo dài.

5. Phòng khách không được đối thẳng với cửa sổ, cửa hậu hoặc nhà vệ sinh
Cửa và cửa sổ là những nơi không khí lưu thông ra vào phòng, vì vậy, vị trí phòng khách không thể nằm trên một trục thẳng với cửa sổ và cửa hậu. Nói cách khác, bố trí nhà theo dạng cửa trước cửa sau thông thẳng với nhau là điều cấm kỵ.
Kiểu thiết kế này khiến không khí xộc thẳng vào nhà rồi nhanh chóng thoát ra cửa sau, không tụ lại trong phòng. Do vậy, tiền tài, phúc lộc cũng khó mà kết tụ trong nhà.
Xét theo phong thủy, kiểu bố cục như vậy là bố cục thoát tài. Xét về bản chất, không gian nhà vệ sinh không được sạch sẽ, vì vậy, cửa chính trong nhà nên tránh hướng thẳng vào nhà vệ sinh. Nếu vô tình thiết kế theo hướng này, tài vận của gia chủ sẽ bị tổn hại, chủ nhân dễ mắc sai lầm khi đầu tư tài chính, tiền chưa vào nhà đã bị thất thoát…
6. Xác định vị trí vượng tài trong phòng khách
Vị trí vượng tài trong nhà thường là ở phòng khách, kể cả các căn hộ nhỏ. Điều kiện cơ bản của phòng khách là sạch sẽ, yên tĩnh và ổn định. Thông thường, vị trí vượng tài nhất trong phòng khách nằm ở góc chéo từ cửa chính bước vào. Do đó, bạn không nên treo gương tại vị trí này vì gương có tác dụng phản xạ, dễ gây cản trở tài vận, khiến bạn bỏ lỡ các cơ hội kiếm tiền.
Tại vị trí này, gia chủ nên bài trí các vật ngụ ý cát tường để tăng cường vận thế. Tốt nhất là đặt cây xanh có lá rộng, căng tràn nhựa sống, mọc xanh tốt quanh năm tại đây.

7. Nội thất trong phòng khách
Phòng khách nhất thiết phải tạo không khí thân mật, hoà thuận và đoàn kết. Hình tròn trong phong thuỷ tượng trưng cho sự hài hoà, thống nhất, cho nên khi trang trí bằng các vật dụng có kiểu dáng hình tròn sẽ có tác dụng hỗ trợ thêm hòa khí. Nếu bàn ghế không “tròn”, hãy cố gắng làm mềm những góc nhọn bằng cách trải khăn hay đặt chậu cây cảnh xung quanh.


8. Sàn Phòng Khách
Khi làm sàn phòng khách bạn nên lưu ý tuyệt đối phải bằng phẳng, không được dốc, hoặc bậc cao, bậc thấp vì sàn chênh lệch sẽ dễ gây ra sóng gió cho gia đình của bạn.

![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
| => Theo dõi: Tử vi hàng ngày của 12 con giáp được cập nhật nhanh chóng, chính xác |
Chùa Giác Lâm được biết đến qua các tên gọi: Cẩm Sơn, Sơn Can hay Cẩm Đệm. Đây là một trong những ngôi chùa cổ nhất của Thành phố Hồ Chí Minh. Chùa là tổ đình của phái Thiền Lâm Tế tông ở miền Nam Việt Nam. Giác Lâm là một trong những ngôi chùa được xây dựng sớm nhất ở đất Gia Định – Sài Gòn còn tồn tại đến ngày nay
Chùa Giác Lâm được cư sĩ Lý Thụy Long người Minh Hương quyền tiền xây dựng vào mùa xuân năm Giáp Tý (1744). Ban đầu chùa có tên là Sơn Can, về sau được gọi là Cẩm Sơn do chùa tọa lạc trên gò Cẩm Sơn. Ngoài ra, chùa còn được gọi là chùa Cẩm Đệm vì cư sĩ Thụy Long có tên riêng là Cẩm và làm nghề đan đệm bán, đươc dân địa phương gọi là ông Cẩm Đệm. Vào năm 1774, Thiền sư Phật Ý – Linh Nhạc (trụ trì chùa Từ Ân) đã cử đệ tử của mình là Thiền sư Tổ Tông – Viên Quang (gọi tắt là Viên Quang) về trụ trì chùa, đồng thời đổi tên chùa thành Giác Lâm.
Chùa Giác Lâm đã trải qua ba lần trùng tu: lần đầu tiên vào năm 1798 – 1804, lần thứ hai vào năm 1906 – 1909 và lần trùng tu thứ ba được hoàn thành đầu năm 1999.
Chùa Giác Lâm hiện nay có lối kiến trúc chữ Tam, gồm 3 dãy nhà ngang nối liền nhau: chính điện, giảng đường và nhà trai (nhà Ông Giám). Cổng tam quan của chùa chỉ mới được xây dựng vào năm 1955. Mái chùa gồm 4 vạt và các sống mái đều thẳng. Khu giảng đường và tăng xá phía bên phải chùa được khởi công vào năm 2007.
Chùa có hai tam quan. Tam quan cũ được xây dựng năm 1955. Tam quan mới được xây dựng năm 1999, sát đường Lạc Long Quân, cách tam quan cũ khoảng 80m. Hai cổng đều xoay mặt về hướng Nam. Hai bên cột trụ tam quan cũ có câu đối bằng chữ Hán
“Giác ngộ quảng khai từ thiện đồng lai quy hướng tổ
Lâm truyền phổ nhuận ngộ mê cộng hưởng tuệ vi đình.”
Kết cấu kiến trúc của chùa là hai nếp nhà tứ trụ bố trí theo kiểu trùng thềm điệp ốc. Khu Tam Bảo bao gồm chánh điện, trai đường và giảng đường, bố cục trên một mặt bằng hình chữ nhật, chiều rộng 22m, chiều dài 65m, xây trên nền cao khoảng 1m so với vườn chùa. Trước chánh điện có sân hình chữ nhật, ngang 20m, rộng 10m. Trước sân là sân vườn, có miếu nhỏ đặt tượng Bồ tát Quán Thế Âm bằng đá màu. Đặc biệt ở sân vườn có cây bồ đề cao lớn do ngài Narada (Srilanka) tặng.
Đằng sau chính điện là bàn thờ Tổ và các vị Hòa thượng đã trụ trì tại chùa Giác Lâm. Đối diện với bàn thờ Tổ là các bàn thờ Phật Chuẩn Đề, Phật A Di Đà, và sau cùng là bàn thờ Thập Điện Diêm Vương. Thời kì chống Pháp chống Mĩ, nơi này được dùng làm cơ sở hậu cần, nuôi chứa cán bộ, làm công tác trinh sát nội thành.
Phía trước chùa là bảo tháp xá lợi gồm 7 tầng hình lục giác. Tháp được khởi công xây dựng từ năm 1970 đến năm 1975 thì tạm nhưng cho đến 1993 mới được tiếp tục hoàn thành.
Trong chùa có 113 pho tượng cổ trong đó chỉ có 7 pho là tượng đồng còn lại đều là tượng gỗ. Tượng trong chùa có nhiều tượng có giá trị như: Tượng Phật A Di Đà, Phật Thích Ca, Di Lặc Bồ Tát; Thế Chí Bồ Tát, Quan Thế Âm Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát, bộ tượng Cửu Long (đúc bằng đồng)…Chùa Giác Lâm là nơi chứa đựng nhiều tư liệu quý báu về lịch sử, văn hóa, nghệ thuật kiến trúc và nghệ thuật điêu khắc tôn giáo. Ngày xuân nơi đây đón hàng ngàn khách thập phương và du khách quốc tế đến lễ phật tôn kính và chiêm ngưỡng nét cổ kính uy nghiêm của chùa.
Ngày 16-11-1988, chùa Giác Lâm được Bộ Văn hóa công nhận Di tích lịch sử – văn hóa quốc gia. Đây là một trong những điểm văn hóa có sức thu hút mạnh mẽ du khách trong lẫn ngoài nước tới chiêm bái.
Nguyên tắc lớn thứ nhất của phong thủy văn phòng kỵ ngồi quay lưng ra cửa
Nếu bàn làm việc đặt ở vị trí sát với cửa, tức là người ngồi quay lưng ra cửa, đây chính là điểm cơ bản cần tránh đầu tiên khi bố trí bàn làm việc trong văn phòng. Cửa ra vào là nơi tất yếu của mọi người, là cửa khí của phòng làm việc, cũng là nơi thu nạp khí, bao gồm sinh khí và hung khí. Nếu ngồi quay lưng lại cửa mà đằng sau không có chỗ dựa, đồng thời có tạp khí của người qua lại.

Nếu trong thời gian lâu như vậy, nhân viên trong văn phòng ngồi ở vị trí này sẽ luôn ở trong trạng thái căng thẳng tiềm thúc. Có lúc còn cảm thấy giống như bị khinh miệt, dẫn đến tư tường hỗn loạn, quyết sách sai lầm, không thể yên tâm mà làm tốt mọi việc, luôn cảm giác phấp phỏng, thậm chí sẽ xuất hiện các chức năng của tỳ không tốt, mỏi lưng, làm việc thỉ hay gặp tiểu nhân, điều thị phi… Những trường hợp này trong phong thủy gọi là “gió lạnh thổi lưng”.
Phương pháp hoá giải là điều chỉnh vị trí của bàn làm việc, chuyển tới vị trí không phải là ngồi quay lưng ra cửa; nhưng đối với những nhân viên của văn phòng thì không dẽ dàng điều chỉnh vị trí bàn làm việc trong phòng, bởi vì rất nhiều vị trí bàn làm việc đã được xếp đặt theo yêu cầu của công việc. Vậy thì chúng ta có thể lựa chọn một ghế ngồi có tựa đằng sau, dựa lưng như vậy không những có chỗ dựa, còn có thể ngăn chặn được sự xung kích của tạp khí.
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
Vì sao không nên cắt móng tay vào ban đêm?| ► Xem bói tử vi 2016 để biết vận mệnh, công danh, tình duyên của bạn |
Nhật Nguyệt là hai đế tinh, thêm Lương là bầy tôi lương đống, cung mệnh được cách này dễ trở thành nhân vật có quyền lực. Nhật ở Dậu hãm địa nên thành tựu kém hơn nhưng vẫn là cách tốt đẹp. Đặc biệt nếu Nhật hoặc Lương hóa Lộc hoặc hóa Quyền thì theo lý "cùng tắc biến" lại thành kỳ cách, tốt hơn cả Nhật Lương cư Mão .
Lương cư Tý Ngọ cũng đắc cả hai sao Nhật Nguyệt, nhưng không được tọa cùng đế vị nên kém hơn Nhật Lương Mão Dậu, ứng với quyền lực ở vị trí thấp hơn, cư mệnh đắc phụ tinh tốt đẹp có thể là nhân sĩ địa phương hoặc làm thầy giáo (số vạn thế sư biểu Khổng Phu Tử có Thiên Lương cư Tý).
Cô Thần, Quả Tú hay Đẩu Quân: chỉ sự lẻ loi, xế bóng, cô đơn, kén chọn, có tác dụng ngăn trở việc lập gia đình. Càng hội tụ nhiều, sự ngăn trở càng mạnh, trừ phi gặp nhiều sao tình duyên bù chế.
Thái Tuế, Quan Phù, Quan Phủ: Thái Tuế đối nghĩa với Đào, Hồng vì vậy làm cản trở sự kết duyên. Quan Phù và Quan Phủ chỉ sự phản bội, sự phụ rẫy trong tình yêu.
Phục Binh: chỉ sự cản trở, thường là bắt nguồn từ cha mẹ mỗi bên không tán thành duyên số cho đôi trẻ. Mặt khác, sao này còn chỉ sự phá hoại, rình rập, bắt ghen, bêu xấu.
Địa Không, Địa Kiếp hãm địa: chỉ sự xui xẻo về mọi phương diện. Không Kiếp hãm làm cho việc cưới hỏi bất thành, trai gái phải đau khổ vì mối tình bất toại, đôi khi đưa đến hậu quả tai hại cho tính mạng.
Phá Quân hãm địa: không bao giờ có lợi cho hôn nhân và cho hạnh phúc lứa đôi. Hạn rơi vào, việc lập gia đình sẽ bị tan vỡ.
Tuần, Triệt: phá vỡ, làm chậm trễ, làm khó khăn cho hôn nhân. Nếu cả hai đồng cung ở hạn đó thì sự bế tắc quan trọng. Trong trường hợp đơn thủ mà gặp sao xấu tại cung hạn, sự khó khăn, trắc trở xảy ra trong buổi đầu: hôn nhân sẽ đến chậm.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Mỹ Ngân (##)
![]() |
Hướng dẫn chi tiết nghi thức cúng ngày vía Quan Âm![]() |
| => Tra cứu: Lịch âm 2016, Lịch vạn niên 2016 chuẩn xác tại Lichngaytot.com |
1.Hội Làng Cựu Ấp
Thời gian: tổ chức vào ngày 10 tháng 5 âm lịch.
Địa điểm: xã Liên Châu, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.
Đối tượng suy tôn: nhằm suy tôn Tam Giang Đại Vương Thổ Lệnh.
Nội dung: Ngoài hoạt động dâng hương tạ ơn Tam Giang Đại Vương Thổ Lệnh, hội làng còn tổ chức đua thuyền cướp kén: Thuyền đua xuất phát từ đình Chải, bơi sang làng Xuân Viên bên kia sông cướp né kén đem về lấy may.
2. Hội Cúng Biển Mỹ Long
Thời gian: tổ chức từ ngày 10 tới ngày 12 tháng 5 âm lịch.
Địa điểm: miếu bà Chúa Xứ, thị trấn Mỹ Long, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.
Đối tượng suy tôn: nhằm suy tôn bà Chúa Xứ và Cá Ông.
Nội dung: Lễ hội cúng biển Mỹ Long hay còn gọi là Lễ hội nghinh Ông có cách nay khoảng 300 năm diễn ra từ ngày 11 đến ngày 13 tháng 5 (âm lịch) tại miếu bà Chúa xứ, khóm 4, thị trấn Mỹ Long, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh. Lễ hội này xuất phát từ tín ngưỡng thờ Đức Ông Nam Hải (cá Voi) của ngư dân. Lễ hội cúng biển Mỹ Long là lễ hội truyền thống dân gian đặc sắc gắn liền với lịch sử, tín ngưỡng, phong tục tập quán của cư dân vùng đất Mỹ Long - Cầu Ngang, là điểm tựa tinh thần, nơi vui chơi giải trí, giao lưu cộng cảm và trao truyền đạo lý, tình cảm; nơi để mọi người thỉnh cầu, bày tỏ ước muốn cầu cho mưa thuận gió hòa, cho mùa vụ đầy ắp cá tôm, phúc lộc thọ mọi nhà. Trong những ngày lễ hội, hàng chục ngàn khách thập phương từ các tỉnh lân cận đổ về trẩy hội và tham gia nhiều trò chơi dân gian như: đua thuyền buồm, đua thuyền chèo, dự khán xem hát bội - múa bóng rỗi, đi cà kheo... Các lễ chính thức của lễ hội cúng biển Mỹ Long bao gồm: Nghinh Ông (đám rước trên biển), Chánh tế (tại miễu Bà), Dâng Mâm lộc (tại miễu Bà), Nghinh Ngũ phương (đám rước khắp thị trấn), Tống Quái (đám rước trên biển)...
Sáng sớm ngày 11/5 lễ Giỗ Tiền Chức diễn ra tại gian thờ Tiền Hiền trong miếu Bà Chúa xứ nhằm tạ ơn công lao và cầu mong các bậc tiền nhân ban thêm ân huệ. Đến 9 giờ thì tổ chức Nghinh Nam Hải tức (Cá Ông) còn gọi là Nghinh Ông. Đoàn nghinh khởi hành từ miếu ra cửa Cung Hầu để nghinh Nam Hải về. Khoảng 5 giờ chiều thì Tế Thần Nông và chiến sĩ trận vong tại sân miếu. Tuy là phối tự nhưng lễ tế Thần Nông được tổ chức quy mô, trang trọng, có cả học trò lễ, đội lân, đội nhạc; có đọc văn tế và người tham gia chật kín cả sân miếu. Mục đích nghi lễ là tế Thần Nông vị thần nông nghiệp và các chiến sĩ trận vong vì dân, vì nước cùng về chứng giám, phối hưởng mà tiếp tục phù hộ cư dân.
Lễ Chánh tế Chúa Xứ: Vào lúc 10 giờ đêm 11 sáng ngày 12 tháng 5 âm lịch tổ chức Chánh tế Chúa Xứ trong chính điện trước bàn thờ Bà Chúa Xứ. Vật cúng lễ Chánh tế là xôi, heo trắng. Học trò lễ có cặp đăng, cặp đài và cặp thài. Đến giờ trống nhạc nổi lên các học trò lễ, ban quý tế lần lược tiến hành hiến tuần hương, tuần hoa, tuần quả, tuần rượu, dâng sớ và tuần trà. Sau lễ Chánh tế là hát bóng rỗi đây là hình thức diễn xướng tổng hợp có chức năng thực hành nghi lễ đồng thời nó cũng là loại hình nghệ thuật biểu diễn phục vụ người dự lễ hội.
Sang ngày 12/5 lúc 7 giờ sáng thì tổ chức lễ Nghinh ngũ phương quanh chợ Mỹ Long để tống tiễn những sui rủi của năm qua, đón nhận mai mắn sẽ đến. Liền sau đó thì tổ chức lễ Tống tàu.Chiếc tàu được thiết kế rất cẩn thận bằng ván gỗ theo kiểu tàu đánh cá chiều dì khoảng 3,5m chiều ngang 1,5m được trang trí rất tỉ mĩ có cả hình nộm của tài công, các ngư phủ cùng các vật cúng thí như chuối, gạo, muối, bánh, tiền vàng mã... Phía trước đầu tàu bày một bàn lễ vật cúng tế gồm: 01 con heo trắng, 01 thau huyết heo, 01 thau lòng heo, 01 mâm bánh bò, 01 chén huyết cùng một ít lông heo, trà, hoa, rượu.
Vào lễ vị pháp sư đóng vai trò điều hành cùng các vị hương chức tiến hành nghi thức. Nghi lễ thực hiện xong, các vật cúng ở bàn cúng được đưa vào tàu và tiến hành tống tàu. Đoàn đi cũng có lân, nhạc, trống, chiêng, vị pháp sư, các hương chức, hầu bóng, chức việc khoảng 2.000 - 3.000 người. Từ miếu đoàn đi vòng qua chợ Mỹ Long rồi đến Vàm Lầu trong tiếng trống, tiếng nhạc rộn rã. Đến Vàm Lầu tàu chở vật cúng được hạ thủy rồi được một tàu đánh cá khởi hành kéo ra cửa biển Cung Hầu cách Vàm Lầu khoảng 4 km.
Đến vị trí tống tàu các tàu dừng lại, vị chủ tế khăn áo chỉnh tề rồi châm ba tuần rượu, một tuần trà khấn nguyện Đại Càn Quốc Gia Nam Hải rồi ra hiệu lệnh tháo dây tống tàu gởi theo đó bao ước mơ, hy vọng cho một mùa đánh bắt mới may mắn, tốt đẹp.
Lễ hội cúng biển Mỹ Long góp phần tạo ra đời sống tinh thần phong phú, lành mạnh, củng cố bền vững khối đoàn kết cộng đồng. Đây là lễ hội truyền thống giàu tính nhân văn, sáng tạo đã trở thành một sinh hoạt văn hóa mang đậm tính dân gian và là nhu cầu thiết yếu trong đời sống tâm linh của người dân.
| => Xem tử vi của 12 con giáp chuẩn xác |
![]() |
![]() |
Những con giáp cần sự ổn định trong 6 tháng đầu năm
![]() |
| Mơ thấy mưa xuân là sắp gặp chuyện vui |
Mơ thấy một cơn mưa xuân nhẹ thường là điềm lành, hứa hẹn nhiều chuyện tốt đẹp sắp đến.
Nếu đang trong tình trạng túng quẫn mà mơ thấy một cơn mưa tầm tã thì hãy vui lên, bởi đó là dấu hiệu của sự thay đổi theo xu hướng tốt hơn.
Mơ thấy cơn mưa phùn, là dấu hiệu bạn sẽ gặp những khó khăn nho nhỏ phải giải quyết trong nay mai, nhưng hãy yên tâm vì khó khăn này sẽ nhanh chóng trôi qua thôi.
Mơ thấy gặp mưa mà bị ướt thường là điềm tốt. Nếu là mưa vừa phải, không nhỏ, không lớn, điềm lành sắp tới là một mối tình có kết thúc êm đẹp, vui vẻ. Nhưng nếu là mưa to, và bạn thấy mình bị ướt sũng thì bạn sắp giàu có một cách bất ngờ đấy.
Mơ thấy mưa to nhưng không có bão tố, thường là điềm tài lộc vào nhà không ngớt.
Mơ thấy mưa vừa tạnh, thường dự báo công việc làm ăn phát đạt.
Theo Giải mã giấc mơ
Số 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99 có ý nghĩa gì? Giải mã ý nghĩa số 90 đến số 99? Những con số bạn đang dùng mang ý nghĩa gì, con số đó mang ý nghĩa tốt hay xấu? Cùng Phong thủy số tìm hiểu ý nghĩa các con số từ 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99.
Ý nghĩa của số 9 là con số may mắn nhất trong dãy số, đây là con số may mắn và thuận lợi nhất.
.jpg)
Số 90 có ý nghĩa gì? Số 90 mang ý nghĩa tốt hay xấu? Ý nghĩa số 90 tượng trưng cho sự nguy khốn, chủ về tang thương, khó khăn vất vả, việc đi lại gặp nhiều khó khăn trắc trở.
Số 91 là số chủ về làm ăn, luôn gặp khó khăn, thất bại, dễ hao tài tốn của. Số 91 có ý nghĩa xấu vì số này đại diện cho sao Tuế phá.
Xem thêm: Giải mã hiện tượng nháy mắt phải, giật mắt trái
Số 92 có ý nghĩa là biểu trưng cho quyền lực, cho sự vĩnh cửu mãi mãi. Ý nghĩa của số 92 là thể hiện sự may mắn trên con đường công danh sự nghiệp, nhanh được thăng quan tiến chức.
Số 93 có ý nghĩa gì? Đây là con số tượng trưng cho sao Bạch Hổ, chủ về sự lo lắng, buồn rầu. Con số 93 mang ý nghĩa về sự khó khăn trong giải quyết công việc, ngoài ra còn là sự hao tán về tiền bạc.
Số 94 mang ý nghĩa về việc làm ăn thuận lợ, mọi công việc đều tiến triển theo đúng định hướng kế hoạch. Đây là một con số may mắn và được nhiều người sử dụng.
Số 95 mang ý nghĩa gì? Con số 95 là tượng trưng cho ngôi sao xấu, chủ về trí đa mưu và thủ đoạn, nếu người làm ăn sở hữu số 95 thì dễ gặp thất bại, lụn bại.
Số 96 đại diện cho sao Phục Tinh. Vậy số 96 có ý nghĩa gì? Ý nghĩa số 96 biểu hiện sự dèm pha, dễ bị người khác cạnh tranh trong công việc, làm ăn nên cận thẩn bị người khác chơi xấu.
Số 97 có ý nghĩa là con Hạc với mong muốn trường thọ. Con số 97 thường được nhiều người sưu tầm với để biếu người khác với mong muốn chúc tụng họ trường thọ, sống lâu với những người thương yêu.
Nhiều bạn thắc mắc về ý nghĩa số 98 mà mình đang sở hữu. Bạn muốn biết số 98 có ý nghĩa gì? Theo Phong thủy số thì số 98 có ý nghĩa là mang lại may mắn, phát đạt thành công cho người sở hữu nó.
Ý nghĩa số 99 là con số kép, gồm 2 số 9. Về mặt ngữ nghĩa thì số 99 có ý nghĩa là trường cửu phát. Vì số 99 là con số tượng trưng cho sức mạnh, cho quyền uy, quyền lực và là thời gian vĩnh cửu.
Mong rằng bài viết trên cung cấp đầy đủ thông tin cho bạn về ý nghĩa các con số từ 90 đến 99. Nếu bạn có những thắc mắc hay ý kiến khác, mời góp ý tại danh mục thư viện: Xem bói.
: Ý nghĩa của các con số từ 0 đến 100
Cách thị trấn Ân Thi (Hưng Yên) chừng 1km về phía thị trấn Kẻ Sặt (Hải Dương), thuộc thôn Đỗ Hạ, xã Quang Vinh, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên có một ngôi chùa được gọi là chùa Đá.
Tương truyền vào thời Lý, có cô thôn nữ đẹp người đẹp nết của làng được hoàng cung tuyển chọn làm thiếp yêu cho vua. Vào ngày cô dời làng lên xa giá về cung, bỗng xuất hiện đám mây ngũ sắc, hình dáng tựa con rồng xanh, như đang ngồi che chở cho cô, theo cô về triều. Dân làng cho đó là điềm lành nên hoan hỷ lắm, liền lấy điềm đó đổi tên làng thành làng Đỗ Xá.

Sau khi sinh cho triều Lý một hoàng tử, cô thôn nữ làng Đỗ Xá không bệnh mà tự dưng hóa. Đêm đó, trời đổ mưa như trút nước. Sáng ra, dân làng thấy trên khúc sông đầu làng nổi lên những phiến đá, cột đá, kèo đá... đủ xây dựng một ngôi chùa. Dân làng cho rằng trời đất cảm thương bà liền dùng những đồ đá đó dựng lên ngôi chùa, để thờ cúng bà, gọi đó là chùa Đá. Và làng Đỗ Xá được triều đình đổi tên là làng Đá từ đó.
Trước kia, khu chùa làng Đá rất rộng. Nhiều gian thờ được xây dựng bằng cột đá, trụ đá, có chạm trổ rồng phượng và những hoa văn tinh tế.
Khuôn viên chùa nằm trên diện tích rộng vài hecta Bắc Bộ nhưng những năm phong trào Cần Vương, ngôi chùa bị thực dân Pháp kéo quân về đốt phá vì chùa Đá là nơi dân làng nuôi giấu các chiến sĩ Cần Vương.
Các cụ bô lão trong làng kể rằng, con sông đầu làng ngày xưa rất rộng, trai tráng khỏe mạnh, bơi giỏi nhất vùng cũng chỉ đủ sức bơi sang bên kia bờ, chứ đâu nhỏ bé như bây giờ, không đủ để tưới tiêu cho một cánh đồng.
Ngày trước, bao quanh khuôn viên chùa là những cây nhãn cổ thụ, đến mùa sai trĩu quả, nay dấu tích nhỏ cũng không còn vì đất của chùa đã dùng xây sân kho, xây nhà văn hóa, làm nhà dân ở...
Ngôi chùa ngày nay rất nhỏ, được dựng lại trên nền gian Cửa Trình của khu chùa ngày trước. Do ngôi chùa bị thực dân Pháp đốt phá nhiều lần nên những dấu tích về ngôi chùa, nhất là sự tích về ngôi chùa không còn.
Dấu tích chùa xưa chỉ còn lưu lại ở một số cột đá, chạm trổ hoa văn và những con rồng đang vươn mình bay lên cao... ở gian chính điện.
Trước cửa chùa là con rùa to bằng đá, đội bát nhang để du khách thập phương thắp hương trước khi vào lễ Phật.
Việc thờ tự ở ngôi chùa Đá cũng giống các ngôi chùa khác ở Bắc Bộ, cũng theo tín ngưỡng tứ phủ.
Gian chính điện thờ Phật. Hai bên chính điện thờ Đức Ông, Đức Thánh Hiền, Thành Hoàng và Hồ Chủ Tịch.
Gian thờ Mẫu nằm bên cạnh, hơi chếch về phía sau chính điện. Ngoài việc thờ Tam tòa Thánh Mẫu, Quan Ngũ Hổ, gian thờ Mẫu còn thờ Bà Chúa Sơn Trang, Đức Thánh Trần Triều...
Những ngày đầu tháng, đầu năm âm lịch, dân trong vùng đến lễ Phật, lễ Mẫu.... để cầu xin tài lộc.
Người dân trong vùng kể nhiều chuyện về sự linh ứng khi thành tâm dâng lễ: Nào là chuyện vợ chồng nhà nọ lấy nhau đã nhiều năm, chữa chạy đã nhiều thầy nhiều thuốc mà vẫn không có con, vậy mà chỉ sau vài tháng năng đến chùa dâng lễ, giờ đã có con nối dõi tông đường; nào là chuyện nhà kia vợ ốm nặng, chạy chữa mãi không khỏi, khi người chồng thành tâm dâng lễ, liền có người “mách” mà gặp được thầy, được thuốc, vài tuần sau khỏi bệnh...
Người dân trong vùng cũng nói rằng: Sự ứng nghiệm chỉ đến với những ai thành tâm, thật lòng hướng thiện, còn những ai sống không có thiện tâm, không thành tâm hướng thiện sẽ không nhận được sự linh ứng, thậm chí còn bị Phật, Mẫu trừng phạt.
(Trích trong VÀO CHÙA LỄ PHẬT NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT của Đặng Xuân Xuyến, nxb Văn Hóa Thông Tin)

Bài viết được tác giả gửi đến trang nhà Xem Tướng chấm net, tháng 6 năm 2015
Một số sách của tác giả Đặng Xuân Xuyến đã xuất bản như:
Cùng với phòng khách và phòng ngủ, bếp là một trong ba nơi quan trọng, có ảnh hưởng rất lớn tới vận khí của ngôi nhà.
Do đó, theo phong thủy học truyền thống, khi thiết kế nhà bếp cho nhà cần đảm bảo một số nguyên tắc sau:

“Tàng phong tụ khí”
Nguyên tắc phong thủy học truyền thống cho rằng khi bố trí bếp trong nhà ở gia đình phải đảm bảo yếu tố “tàng phong tụ khí” (tức phải tránh gió để tụ được khí). Do đó, khi thiết kế, nhà bếp cần tránh các hướng bị gió thổi.
Theo ý nghĩa đó, nhà bếp nên được bố trí ở phần phía sau của ngôi nhà, cách cửa chính càng xa càng tốt vì cửa chính là nơi không khí lưu động khiến khí bị tán chứ không tụ lại được.
Tuy nhiên, không vì thế mà thiết kế phòng bếp bị đóng kín vì điều này ảnh hưởng rất lớn tới vận thế của ngôi nhà và các thành viên trong gia đình. Bếp cần có ít nhất một mặt thoáng, giúp căn phòng thông thoáng, sạch sẽ. Khi thiết kế, cần tránh các hướng gió lùa là được.
“Thủy hỏa bất tương dung”
Hỏa khí của bếp nấu và thủy khí của hệ thống vòi nước trong nhà bếp vốn xung khắc với nhau. Vì thế, khi thiết kế, bếp nấu và vòi nước không nên đặt cạnh nhau. Theo ý nghĩa đó, bếp nấu và tủ lạnh cũng không nên đặt cạnh nhau. Cần tuyệt đối tránh thế bếp nấu bị kẹt giữa hai yếu tố có mang theo thủy như vòi nước, tủ lạnh, máy giặt, bồn rửa bát…
Thêm vào đó, khi thiết kế hệ thống cấp thoát nước trong phòng bếp cũng cần chú ý không đặt bếp lên trên hệ thống rãnh, mương hay đường cấp thoát nước gian bếp để tránh sự xung khắc rất tối kỵ này.
Tọa hung hướng cát
“Tọa hung hướng cát” nghĩa là bếp đặt tại vị trí của hướng xấu nhưng mặt quay về hướng tốt.
Các nhà nghiên cứu phong thủy khuyên nên đặt bếp ở 4 hướng xấu trong cung bổn mệnh: họa hại, lục sát, ngũ quỷ, tuyệt mệnh. Sở dĩ phong thủy khuyên đặt nhà bếp ở các vị trí xấu bởi nếu nhà bếp ở những vị trí này sẽ hỗ trợ áp chế những luồng khí gây bất lợi cho gia chủ.
Khí dương mà lửa từ bếp nấu sinh ra có thể điều hòa các loại khí bất lợi, giúp cải thiện được phong thủy trong nhà một cách rất hiệu quả.
Tuy nhiên, bếp phải “hướng cát” để hướng về các điều lành, giúp mọi thành viên trong gia đình gặp được phúc đức, tốt lành.
Hướng đặt bếp cát lợi
Nhà bếp đặt ở hướng bắc trong nhà, phía bắc thuộc thủy, xưa gọi thủy hỏa đã có sẵn, gia chủ luôn được bình an.
Nhà bếp thuộc phía đông hoặc nam trong nhà. Ngũ hành của hai hướng này thuộc mộc, đây là bố cục mộc hỏa thông hiểu. Người ở trong nhà sẽ được quý nhân phù hộ.
Nhà bếp thuộc hướng đông bắc trong nhà. Ngũ hành của hướng đông bắc thuộc thổ, gọi là hỏa thổ tương sinh. Đây là hiện tượng dung hòa, hỏa là quẻ trung tâm, thổ là quẻ thiếu dương. Đây là dương âm tương hợp, trung cát.
Nhà bếp ở hướng tây bắc hoặc phía tây trong nhà, ngũ hành của hai hướng này thuộc kim. Đây là hiện tượng hỏa kim tương khắc, gia chủ vận khí không tốt.
Nhà bếp ở phía tây nam trong nhà. Tây nam là hướng dễ sinh bệnh, ngũ hành thuộc thổ. Thổ hỏa xung khắc, người trong nhà sẽ bị nhiều bệnh tật.
Không bố trí gần phòng vệ sinh
Chức năng của bếp là nơi nấu nướng, chế biến thức ăn cho các thành viên trong gia đình. Nhà bếp có bếp nấu – có lửa thuộc về hỏa. Còn phòng vệ sinh là nơi có nước, thuộc về thủy. Theo ngũ hành, thủy và hỏa vốn tương khắc nhau nên việc bố trí nhà bếp giáp tường hoặc gần với phòng vệ sinh là điều tối kỵ.
Nếu không thể thay đổi vị trí hai không gian sống này trong nhà, bạn có thể hóa giải phần nào rắc rối bằng cách tăng cường sự thông thoáng giữa hai bên và phải giữ cho bếp cũng như nhà vệ sinh luôn khô ráo, sạch sẽ.
Ngoài ra, cần lưu ý bố trí thêm một chiếc cửa hoặc bình phong để ngăn cách không gian giữa hai khu vực này.
Cách giải quyết đem lại hiệu quả nhất và thẩm mỹ nhất để hóa giải những mũi tên độc bí mật bên trong văn phòng là trưng bày những bình hoa lớn. Những bình hoa này được đặt ở những vị trí thích hợp, hài hòa với khung cảnh và tạo một môi trường thích hợp để làm việc.
Nếu trong văn phòng có nhiều cột vuông, gờ tường nhô ra … bạn phải tìm cách giải quyết ngay bằng cách bài trí những chậu cây giả xung quanh để làm giảm bớt độ nhọn, bén của nó.
![]() |
| Chậu cây giả làm giảm bớt độ nhọn, sắc của gờ tường |
Ngoài ra, theo phong thủy, trưng bày cây giả trong văn phòng còn có lợi ích khác nữa. Những cây này tượng trưng cho sự phát triển, vì vậy, nó rất phù hợp cho công việc kinh doanh.
Trong ngũ hành, Mộc được tượng trưng bởi cây, dùng để kích họat vận may trong văn phòng là rất tốt. Cây giả cũng đem lại hiệu quả tương tự như cây thật, tuy nhiên không nên để bụi bám vào và phải lau rửa thường xuyên. Không nên trưng bày những cây giả có vẻ ủ rũ, gãy cành …
Theo Sách Phong Thủy để thành công trong công việc và kinh doanh
Lại còn có một số Thần người nước ngoài xâm lăng nước ta, khi chết tạo sự bất an cho dân, như Nguyễn Bá Linh theo nhà Nguyên đánh Đại Việt, Trương phụ là tướng nhà Minh…cũng được thờ ở Ninh Bình, Quảng Ninh cho bớt sự quấy đảo… Nhưng các Thần người nước ngoài có công với chúng ta, thể hiện đạo đức phù hợp với bản chất dân tộc Việt được nhân dân tôn thờ, sùng kính. Ví như đền thờ Mỵ Ê ở Lý Nhân, Hà Nam, là vợ vua Chiêm có khí tiết đáng kính. Triệu Trung là tướng nhà Tống theo Đại Việt đánh giặc Nguyên được thờ ở Cao Đài - Mỹ Thành – Nam Định và đặc biệt Tứ Vị Thánh Nương, triều đình Nam Tống kháng chiến đế quốc Mông – Nguyên không thành, cơ đồ nhà Tống tan nát, hận mất nước mang nặng, tình nguyện âm phù cho Đại Việt đánh giặc cũng như nhân dân Việt làm ăn, phát triển sĩ, nông, công, thương… được dân gian chiêm ngưỡng rộng rãi khắp Trung, Bắc, Nam và lịch đại phong tặng danh hiệu Thượng đẳng thần.
Việc sùng bái này tuy có thời sóng gió, nhưng một vài thập kỷ gần đây được phục hồi, Nhà nước quan tâm tu bổ di tích như đền Cờn - Nghệ An, đền Mẫu – Hưng Yên, đền Lộ - Hà Nội, đền Ninh Cường, đền thờ Mẫu ở Thái Bình, đền các xã Quần Anh cũ, đền xã Trực Khang – Nam định… Phải chăng đạo nghĩa dân tộc, tầm nhìn tổ tiên đã vượt qua biên giới, nói cách khác là đã có quan điểm toàn cầu. Quý hoá thay, đáng kính thay! Riêng với Nam Định nay (vì Nam Định xưa, đầu thế kỷ 19 quản lãnh cả Thái Bình và một phần Hưng Yên) tục thờ Tứ Vị Thánh Nương còn được khôi phục ở khá nhiều nơi, đặc biệt vùng biển, nay thuộc huyện Hải Hậu, huyện Trực Ninh. Xin dẫn chứng lịch sử tôn thờ Tứ vị, với công trình khẩn hoang mở đất phía Nam sông Cường Giang (nay là sông Ninh Cơ) để có được phần lớn đất đai huyện Hải Hậu, huyện Trực Ninh ngày nay. Theo di tích, truyền thuyết địa phương thì các cụ tổ sáng lập đất Quần Anh là Trần Vu, Vũ Chi, Hoàng Gia, Phạm Cập (địa chí ghi là Tứ tính) cùng chín họ Lại, Nguyễn, Lê, Bùi… (địa chí ghi là Cửu tộc) vượt sông Cường Giang, từ vùng Tương Đông - Trực Ninh sang khai hoang lấn biển vào cuối thế kỷ 15 đầu thế kỷ 16, khi điền địa hình thành, lập xóm trại, họ đã lập đền thờ. Phần này trong sách chép tay Quần Anh tiểu sử của Tiêu Viên Hoàng Diễn (1872-1914), do Phương Châu Đoàn Ngọc Phan dịch và chú thích năm Ất Sửu 1985, mục xây dựng đền, miếu, đàn, chùa và bi ký có ghi: “Nguyên trước đền thờ Tống Thái hậu (người họ Dương là vợ vua Tống Độ Tông, mẹ Tống Đế Bính cùng hoàng hậu và hai công chúa bị nạn giặc Mông - Nguyên chết đuối ở bể năm Kỷ Mão 1279). Đền Bóng trước tại xứ Cồn Khuôn bị xã Cát Chử chiếm mất, bèn lập lại đền Bóng tại phía Bắc sông Trệ (nay thuộc cầu Xẻ, xã Thượng). Tương truyền khi Tú Tổ khai trương, phía đông có đền xã Quần Mông, phía tây có đền thờ Tống hậu còn gọi là Tứ Vị Thánh Nương (do ai xây, xây từ bao giờ?... Các tổ nhân sẵn đền cũ tu bổ lại, đúc tượng đồng phụng sự… Niên hiệu Cảnh Thịnh năm thứ 13 mới đúc tượng đồng ở đền Bóng sông Trệ lại trang hoàng từ vũ. Diện tích khu đền rộng hơn một mẫu, nước hồ trong vắt, cây cối um tùm, nhân dân kỳ đảo linh ứng, trải qua nhiều triều đại có sắc phong… Sau khi Quần Anh phân làm ba xã (1804) đến năm Minh Mạng thứ 2 (1821), xã Hạ lập đền Bóng tại phía bắc chợ Đông Cường, xã Trung, xã Thượng vẫn thờ tại đền Bóng phía bắc sông Trệ. Năm Thành Thái thứ 10 (1890), xã Trung mới lập đền Bóng ở phía nam sông Trà, phía đông Cầu Đông. Từ đó các xã đều có đền Bóng riêng, tục gọi là đền Chánh. Còn đền tại Vĩ Châu do Ninh Cường phụng sự, nhưng hai xã Thượng và Trung thay phiên nhau hàng năm lên kinh tế”… Như vậy, trong vòng 5-7 km, các xã giáp nhau đều có đền Bóng thờ Tứ Vị Thánh Nương. Theo truyền thuyết đây là đời sống tinh thần của dân khai hoang mở đất Quần Anh. Sách Quần Anh dấu xưa mở đất của Trần Xuân Mậu (Hội Văn học nghệ thuật Nam Định - 2002) còn ca ngợi đền Chánh xã Trung là công trình kiến trúc tuyệt đẹp. Thợ nề Quần Anh có tài nặn, đắp, tạo hình…Đôi nghê chầu do hai phó nề quây cót đắp thi khá thành công, đã có thơ ca ngợi… Gần 4 ngôi đền phía nam sông Cường Giang, phía bắc sông có đền Lạc Chính nay thuộc xã Trực Khang, huyện Trực Ninh. Lịch sử lập đền vào cuối thế kỷ 19, xin chân nhang ở đền Ninh Cường (cửa biển Lác) về thờ và ngày càng tu bổ đẹp đẽ, lại là cơ sở cách mạng, kháng chiến của địa phương. Đơn cử một số điểm thờ Đại Càn Thánh Mẫu, hoặc Tứ Vị Thánh Nương ở Nam Định để chúng ta tìm hiểu về nguyên nhân cũng như ảnh hưởng của Tứ Vị Thánh Nương đối với cộng đồng dân tộc Việt. Có thể có sự đồng cảm bởi Vương hậu, Vương phi nhà Tống vì kháng chiến chống kể thù chung Mông – Nguyên. Có thể bởi đức độ giữ chư tiết nghĩa mà ngọc phả dẫn, phù hợp với chất đạo lý dân tộc, hoặc do sự âm phù vua Trần Anh Tông cho nên biển lặng, sóng yên giúp quân Trần nhanh chóng chinh phạt kẻ thù phương Nam thành công, hay có sự anh linh, một niềm tin nào đó cho sĩ, công, nông, thương Đại Việt trước kia, rồi Đại Nam, Việt Nam chúng ta ngày nay cầu được ước thấy, mưa thuận gió hoà, thuận buồm xuôi gió…dẫn đến đời sống ấm no, hạnh phúc mà dân gian hết lòng tôn kính, lập đền thờ tự.
Hoặc do dân quê thuần phác, đời sống khó khăn, trong công cuộc khai hoang lấn biển, nhiều lần nước mặn phá vỡ đê biển, nhiều lần tràn ngập cướp đi hàng ngàn, hàng vạn ngày công… dân quê không còn cách nào hơn là lập đền ở Vĩ Châu, rồi sau là đền Chánh, đền Bóng thờ Tứ Vị Thánh Nương mong sự cứu độ và đây là liều thuốc an thần, giúp dân khai phá thành công, thiết lập làng xã với một nếp sống nông thôn nghĩa tình, có từ đường thờ tổ, văn đàn, võ đàn, đền, miếu, chùa cảnh, thờ Thần, Phật, Tổ lập lăng. Còn chấn hưng việc học, xây cầu, lập quán tạo cuộc sống đầy đủ vật chất, chu đáo về tâm linh cho dân. Đây là văn hoá bản địa, văn minh bản địa khá tiêu biểu ít nơi có. Và để minh chứng xin trích dịch “Tân đình bi ký” (1815) tại xã Trung, nay là Hải Trung, Hải Hậu, Nam Định. … “Đất ta cổ truyền là đất chua mặn, cát chữa nên ruộng, bằng phẳng bốn bề, chỗ cao có thể dựng nhà cửa, chỗ thấp có thể cấy dâu gai, ngàn mẫu tạo nên mà trăm nhà dựng, xanh tươi sầm uất thành vũ trụ trời Nam… từ niên hiệu Hồng Thuận chung nhau một xã, đình làng cùng chung, chợ cùng nhau họp, cầu cùng nhau leo, đều cùng nhau cúng. Năm Giáp Tý (1804) mới cắm mốc chia làm ba làng”… Văn bí chùa Phúc Sơn (Quần Phương Trung, Phúc Sơn tự ký) lập năm 1932 còn ghi: … “Năm Hồng Thuận thứ 3 (1511) lập thành tên xã Quần Anh, dựng đền Quốc Mẫu tối linh Thần ở thôn An Cường, nguyên trước là thôn Tây Cường, nay là xã Ninh Cường, cửa bể sông Lác bãi Vĩ Châu, dựng thêm đền Bóng ở cửa sông Trệ, dựng chùa thờ Phật gọi là chùa Phúc Lâm”. Những dòng chữ Hán của người xưa, muốn cho cộng đồng cư dân Nam Định ghi nhớ dấu tích đời sống tinh thần trong đó có tục thờ Tứ vị, cũng như đức tin của người Nam Định đối với các vị Thần Tổ lập biển lập làng, tạo an sinh xã hội”
Nhìn chung các di tích thờ Tứ Vị Thánh Nương ở Nam Định khá lớn, khá nhiều, thường có hai hoặc ba toà chính, có hệ thống tường hoa, cột trụ vây quanh tạo khuôn viên nội chữ đinh, hoặc nội chữ công, ngoại chữ quốc, quy mô hoành tráng. Phần thư tịch, câu đối đều có nhắc tới nạn xâm lăng của nhà Mông – Nguyên, triều đình Nam Tống bị diệt vong, thái hậu cùn ba con bị nạn trôi đến Càn Môn - Quỳnh Lưu - Nghệ An, nêbn dân gian coi đền Cờn - Nghệ An là nơi phát tích, hàng năm vẫn có người vào đền Cờn dâng lễ tỏ rõ lòng thành, không 1uên gốc. Đơn cử câu đối đền Lạc Chính nay là xã Trực Khang ghi: Nam Hải thần phong thiên hữu sắc Cần môn ba tố địa giai binh Tạm dịch: Nam Hải thần do trời ban sắc, Cầu môn nổi sóng đất anh linh. Lễ hội ở đây, ngoài việc tế lễ, ngày 7 tháng giêng có lệ thi trâu béo, khoẻ. Để làm việc này, ngay từ ngày 6 tháng giêng các giải pháp tắm rửa cho trâu, cho trâu ăn no, lại trang trí trên đầu, trên sừng trâu. Các nhà trong giáp góp gạo thổi xôi làm lễ, tối mồng 6 thắp đuốc rước trâu. Người cưỡi trên lưng trâu giơ cao ngọn đuốc và đoàn người trống chiêng hối hả theo sau. Đoàn rước có tới hàng chục con trâu béo, trâu đẹp được tập trung để dự thi, con nào đạt thì được giải. Lệ này được duy trì cho mãi đến ngày nay, vừa khích lệ tinh thần chăn nuôi tạo sức kéo, vừa nhớ lại chuyện xưa trẻ trâu thấy đền Cửa Lác thờ, bắt chước đắp đất làm đèn, vì thế các cụ mới sang Ninh Cường xin chân nhang về thờ… Theo sách Thần tích Việt Nam của Lê Xuân Quang – Nxb Thanh Niên, 2003, thì thôn Thiện Đăng, xã Thời Mại, huyện Tây Châu, Nam Định có 2 tướng Đinh Thuyên và Nguyễn Phụng dưới trướng Trần Quốc Điền, theo lệnh của Hưng Đạo Đại vương đem 500 quân vào Châu Hoan do thám tình hình địch, trong cuộc kháng chiến lần thứ II – 1285. Nhưng kế hoạch bại lộ, bị địch truy đuổi, các ông cho quân sĩ lên bờ rút lui, bỗng trông thấy đền thờ Tứ vị, liền vào đền khẩn cầu kêu xin âm phù. Ít phút sau trời đất tối sầm, sấm chớp nổi lên, gió bão ập đến làm cho thuyền giặc gãy cột buồm trôi dạt trở lại. Quân ta thừa cơ tấn công, địch rút chạy, thu được hon chục thuyền chiến… Biết chuyện đánh thắng quân Toa Đô có nhờ sự âm phù của Thần ở Càn Hải. Vua Trần ban phong “Càn Hải Tứ vị linh thần”. Lại cho vàng bạc tu sửa đền thờ… Đáng tiếc một thời, các đền thờ Tứ vị nhiều nơi bị cấm đoán, thậm chí phá công trình, tẩu tán đồ thờ. Nhưng do ý thức tôn trọng Tứ vị trong dân gian, họ vẫn ngấm ngầm tìm đi các nơi cầu đảo Thánh Nương phù hộ. Các tư liệu, câu đối còn lưu, ca ngợi sự âm phù của Tứ vị cho triều đình chống ngoại xâm thắng lợi, âm phù cho các thuyền buôn, thuyền đi trên biển, trên sông an toàn. Tài liệu của ông Lê Xuân Quang còn ghi lại đạo sắc ngày 4/12 Quang Trung thứ 5 (1793) trong văn có câu: “Phi tự Đại Tống ngật kim tích tại Tiên tảo, danh tại sử, tướng duy ngã Việt lập quốc, công ư đế thế, trạch ư dân”. Tạm dịch: - Trải từ thời Đại Tống đến nay, dấu tích ghi trong sổ người Tiên, tiếng tâm ghi tự điển. - Âm phù nước Việt ta lập quốc, công giúp nhà vua, ơn sâu với dân cũng thấm nhuần khắp mọi nơi. Đạo sắc trên đây ở đền Hương Nại, xã Yên Nhân, Yên Mô, Ninh Bình phong Tứ vị là người Tiên. Liệu đây có là nguyên nhân để trong điện Thần tứ phủ có văn chầu Đại Càn Thánh Mẫu. Ảnh hưởng của Tứ vị được nhân lên, được dân gian hàon toàn đưa vào nội đạo của dân gian Việt Nam. Xin giới thiệu lại văn chầu Đại Càn Thánh Mẫu, sưu tầm trong những người hát văn ở Nam Định, Thái Bình, Hải Phòng. Gương tứ đức sáng cùng nhật nguyệt, Nghĩa tam tòng tỏ hết Bắc Nam, Ngàn thu thơm nức hương lan, Đời càng ca tụng, tích càng hiển dương… Đức lồng lộng muôn dân khôn lượng, So bể, trời hình tượng cao sâu Sáng soi khắp chốn đâu đâu, Thơm danh Dương Thị hồi đầu Tống gia Trăm họ nức âu ca cổ vũ, Bốn bộ đều áo mũ đai xiêm. Khắp hoà Thuấn nhật, Nghiêu thiên, Đã vui cõi thọ lại lên xuân đài, Đang vui lúc lòng trời yên thuận, Quốc gia đều hoà khí xuân phong. Sau vì nhất quốc tam công, Người Nguyên ác độc đặt bày mưu mô. Nhà Tống phải thiên đô châu Quảng, Bóng tà dương soi rạng bể Nam. Thợ trời khôn tỏ cơ hoàn, Chúa tôi một dạ những toan phục hồi. Giang sơn Tống dẫu mười còn một, Có lẽ đâu chịu mất ngay đi. Ngoài thì tướng sĩ phù trì, Trong thì Thánh Mẫu khuê nghi luận bàn. Người son phán mà gan vàng đá Việc binh nhung vững dạ kiên tâm. Thần dân báo đáp quân ân, Nặng tình sơn hải mấy thân liễu bồ. Quyết giữ lại cơ đồ nhà Tống, Hẳn không dung những giống bất nhân. Lại khuyên võ tướng mưu thần, Gắng công vì nước đền ơn sinh thành… Nghe dụ chỉ quân dân quyết đánh, Nhưng khôn đua sức mạnh quân Nguyên Mới hay thành bại do thiên, Cơ huyền vẫn giữ, cơ huyền vẫn xoay. Cuộc thế sự hết bày trò rối, Trận Nhai Sơn hết đỗi gian nan… Lênh đênh trên biển liều thân, Quyết lòng thu thập quan quân phục thù, Nhược chẳng được mặc cho thuyền lắng, giãi gan cùng trời trắng bề trong. Ôi thôi thả lá giữa dòng, Qua ba bực sóng đều cùng thảnh thơi. Ấy mấy biết người trời khác giá, Trải gian nguy vẫn dạ trung trinh. Chí thành Phật cũng chứng minh. Bè từ đã đón thênh thênh lên ngồi Phép Phật độ tỉnh rồi mới biết, Chùa La Sơn Nam Việt là đây. Ung dung ở chốn am mây Khấu đầu lễ Phật giãi bày vân vi… Độ bốn vị đều nên Thần phúc, Hoá chân thân bốn khúc trầm hương. Gió đưa thoảng ngát một phương, Hào quang trước mắt ngư phường khô hay. Thuyền qua lại mấy ngày mới hiển, Rước lên thờ kính tiến khói hương. Nhờ ơn từ đấy mấy làng Lưới chài phong vận bạc vàng đầy chen. Đua cầu phúc lập đền tế lễ Độ cho người sông bể biết bao Kể chi giông tố ba đào Kêu cầu khắc ứng chuyện nào cũng yên… Công hộ quốc thơm ghi Nam sử, Lễ suy tôn khởi sự Đông – A Mẫu về chắc giáng điện toà Khuông phù đệ tử vinh hoa thọ trường. Như trên đã nói về ý thức người Quần Anh trong việc tôn thờ Đại Càn Thánh Mẫu. Ý thức trân trọng này được ghi vào tục lệ của làng. xin trích dẫn đôi điều cần thiết. Ngay trang đầu “tục lệ vào đám” có ghi: “Khoảng thế kỷ thứ 15, tiên tổ Quần Anh từ Tương Đông xuống khẩn điền lập ấp. Lúc đó đắp đê bể rất gian khổ nên đã lập đền thờ Tống hậu ở ngay cửa bể Lác Môn (đền Ninh Cường ngày nay) để cầu Thần ủng hộ”… “Khi xã Trung chưa làm đền Chánh, mỗi lần vào đám phải xuống xã Thượng rước kiệu Thần về đình… phải hưng công lập dịch bồi trúc con đường rước Thánh cho thật cao ráo, bằng phẳng. Ngoài ra các con đường khác cũng phải sửa chữa cho tiện đi lại và đón khách gần xa”. Theo lệ tục, những người rước Thánh phải là đàn ông, con trai đi rước, hoặc đi xem hội trên đường, còn các cụ già, đàn bà, em nhỏ thì đi thuyền dưới sông, nên sông Giữa, sông Múc nằm cạnh đường rước phải sửa, vét lại. Phàn đường, phần sông xã phân giao cho các giáp, các xóm, các tư nhân đảm nhận dưới sự kiểm soát của ban đốc công. … Đền Chánh là nơi khởi đầu cuộc rước phải tu sửa cho thật uy nghi, xứng đáng như cung điện Tống triều. Còn các đền khác cũng sửa sang cho tốt để quan khách trông vào. Xã lo phí tổn tu sửa đền Chánh, còn các đền khác các giáp tự lo… Khoản đồ rước như cờ, áo, kiệu, võng, tàn quạt, chiêng trống, gươm, roi… phải bắt tay từ năm, bảy tháng trước. Thợ thêu, thợ mộc, thợ sơn… mỗi hiệp hàng chục người phải làm liên tục…”. Tục vào đám còn ghi tỉ mỉ các khoản đóng góp, phân công cử người vào đám, đề chương trình tế lễ, đề nhật ký tiến cúng cho các giáp, quy định bầy đám, bầy điểm để phô trương văn vật địa phương. Đám do xã lo, thường bày giữa đình là gian thờ kiệu Thần nên phía trên và 4 mặt căng phủ màn thêu, hai gian bên thì đơn giản hơn, ngoài rạp cũng căng phủ màn, treo câu đối, cửa võng…Đồ thờ Thần có sập ngữ, võng ngự theo nghi thức hoàng hậu, hai bên tả hữu thiết đồ thờ theo nghi thức vương công. Điếm hát do các giáp lo nhưng cũng phải tươm tất, xứng với danh vị chủ nhân của giáp. Lại phân chia điếm văn, điếm võ,điếm thể sát để giải quyết mọi pháp lý, điếm đoàn áp (trị an, tuần phòng), điếm tổng cờ (chỉ huy thi đấu cờ), điếm tướng cờ nam, nữ… Phần rước Thần được ghi chép tỉ mỉ, nào phân công cầm “lộ bộ” (đi rước kiệu Thánh), nào người cầm mã đao, cầm cờ “thanh đạo” (dẹp đường), cầm tán, biển có chữ “tĩnh túc” (nghiêm tĩnh), “hồi tỵ” (tránh lại), cờ nhật nguyệt, bộ trống ngũ lôi (10 người), cầm thập kỳ (cờ đỏ viền xanh trắng, hoả xanh) rồi cầm tán, cờ ngũ hành “kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ”, cờ bát quái, tán, tàn… Ngay các hiệu lệnh, trống, chiêng cũng ghi chép tỉ mỉ, các phường hội sư tử, múa rồng, phường động, phường chèo, các trò đi kheo, đô vật… cũng được phân công, trước sau rất cụ thể. Nêu vấn đề trên để thấy việc tế lễ trịnh trọng như thế nào, nghiêm chỉnh như thế nào nhất là vai trò Thàn đền Chánh – Tứ Vị Thánh Nương là chủ chốt, oai linh nhất đối với dân Quần Anh – Nam Định nh thế nào. Phần cỗ rất linh đình. Có cỗ mặn, cỗ chay. Xin đề cập lễ rước cỗ chay tại xã Trung, nay là xã Hải Trung. Ngày 7 tháng giêng lễ khai hạ, lại là dịp kỷ niệm Đại Càn Thánh Mẫu cùng Tam vị, nên ngoài việc tế lễ, sang đêm ngày 8 tháng giêng tổ chức rước cỗ chay. Rước cỗ chay thường làm hai lễ, một lễ sang đền Chánh thờ Tứ vị, một lễ rước sang đền Khải xã, thờ liệt tổ khai sáng Quần Anh. Cỗ đặt trên “mân dàn” (mâm có nhiều tầng). Giữa bày hòn non bộ, bốn góc bầy tứ linh. Đi rước kiệu có đinh nam bưng mâm bồng có trầu rượu cùng cờ, quạt, chiêng trống… Cỗ chay thường có các loại bánh như bánh xu xê, nhựa mận, bánh dứa, bánh quế, bánh nhãn… Những cỗ chay cũng là nét riêng của từng địa phương, dùng sản phẩm riêng của địa phương. Ví như dùng quả đu đủ trổ thành các hoạ tiết, nấu thành mứt trong như kính rồi cắm vào tấm bánh, bày lên đĩa xung quanh có các thứ bánh chay. Mâm cỗ chính có 120 đĩa, các mâm bồng phụ, khoảng 12 đĩa làm toàn bằng ngũ cốc, nông sản, hoa quả. Điều đặc biệt là khi rước Thánh qua thôn xóm nào đèu có sự nghênh tiếp trịnh trọng. Việc này còn có câu đối lưu lại. Tạm dịch: Đền Thần mới sửa bên sông Trệ Kiệu Thánh mừng qua trạm xã Trung Hoặc câu: Âu ca một hội Xuân sau trước, Lễ nhạc trăm năm nghĩa láng giềng. Câu đối trên còn chứng tỏ đất Quần Anh sau khi tách làm ba, vẫn giữ được tình nghĩa làng cũ, nhất là ý thức đối với Tứ vị. Thần linh, coi như Thành hoàng che chở cho dân khẩn điền, lấp biển thành công. Riêng xã Hạ (nay là xã Hải Bắc, huyện Hải Hậu) lễ hội trong khu di tích thờ Phật, thờ Đại Càn Thánh Mẫu, thờ Liệt tổ, thờ Mẫu Liễu Hạnh, thờ Trần Hưng Đạo, xưa vẫn lấy ngày 6, ngày 7 tháng giêng là trọng tâm. Truyền thuyết cho ngày này là kỷ niệm Liệt tổ và Tứ Vị Thánh Nương. Ngoài việc tế lễ, rước kiệu Thánh du xuânb còn có các trò vui như tổ tôm điếm, đấu cờ tướng, cờ người, hát chèo, hát Ả Đào. Hát chèo, hát Ả Đào ở đây có truyền thống. Bởi xưa đây là xóm chuyên nghề này, sau xóm chuyển thành phố với tên phố Cô đầu, nhân dân sống nhờ nghề này và đã lập miếu thờ “Cầm ca nhĩ tổ” (Tổ nghề đàn, ca). Hiện miếu thờ không còn, nghề cũ cũng mai một, nhưng trong ký ức về rạp hát Thanh Kỳ do nghệ sĩ Quách Thị Hồ mở hàng chục năm, rồi nghệ sĩ Linh Nhâm, người con quê hương cũng ít nhiều gợi lại về một địa phương có nghề cầm ca. Xa xưa nghề cầm ca phục vụ các đám hát trong ngày hội Thánh, hầu Dương hậu, vương phi có các chức sắc, quan lại về dự, sau nghề cũ không phù hợp, nhưng truyền thống nghề nghiệp còn bảo lưu, giúp cho phong trào ca hát, đội văn nghệ địa phương trưởng thành. Và ngày hội hiện tại có các chiếu chèo, hoặc các nghệ sĩ hát ca trù dưới con thuyền trôi lững lờ trên sông nước trước đền chùa, gợi cảnh lệ vào đám xưa kia của tiên tổ Quàn Anh. Tục thờ Tứ Vị Thánh Nương ở Nam Định nhen nhóm từ thế kỷ 15-16, thịnh hành vào các thế kỷ 17, 18, 19 và đầu thế kỷ 20. Đặc biệt nhân dân ở các cửa lạch, cửa sông và người làm nghề trên sông biển. Dân gian tin Tứ Vị Thánh Nương lúc nào cũng từ bi cứu độ muôn dân, như xưa đa âm phù giúp vua Trần, tướng Trần, cùng vua Lê đánh giặc, lại âm phù cho ngư dân vào lộng ra khơi đánh bắt cá, thương thuyền buôn bán sóng lặng, bể yên. Phù hộ cho việc khẩn hoang lấn biển, ngự trị được nước cường, sóng lớn cho đê biển vững bền… Sự hiển linh tạo thành đức tin và để đền đáp, kính cẩn thần linh, dân gian lập miếu tôn thờ, theo cách nhìn: Ai có công giúp nước, giúp dân thì thờ. Việc thờ tự có lễ, lễ dâng hương tưởng niệm và hàng năm hoặc 3 năm một lần vào các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu làng vào đám. Vào đám để biểu hiện lòng thành cao độ. Nhưng vào đám cũng bày vẽ quá đáng, khiến dân thôn phải phục vụ hao tổn sức người, sức của. Ấy vậy mà không ai bảo ai cứ cố gắng hoàn thành tục lệ tế lễ, hội hè do làng xã quy định. Bởi tâm linh mọi người; đây là giờ phút thể hiện sự thành tâm của con dân đối với liệt tổ mở đất, đối với Tứ vị thần linh âm phù cho nước bình yên, cho dân hạnh phúc theo đạo lý dân tộc: “Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Phải chăng đây là bản chất ưu việt của cộng đồng cư dân Nam Định và như câu nói cổ nhân: “Thực kỳ tự giả, bất huỷ kỳ khí, ấm kỳ thụ giả, bất chiết kỳ chi”. (Ăn cơm không đập vỡ mâm bát, đứng dưới bóng cây không bẻ gẫy cành).
Hồ Đức Thọ - Chi hội trưởng Chi hội VHDG tỉnh Nam Định
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Tổng hợp những câu nói hay về con gái khi yêu. Bạn đã bao giờ được nghe câu chuyện về sự tích tại sao trên thế giới này lại có con trai và con gái chưa? Vì “Con trai-con gái, là hai sắc màu của cuộc sống, nếu con gái là màu hồng ngọt ngào thì con trai là màu xanh của sức sống. Không có con trai thì thế giới thật buồn.Con trai mà vắng bóng con gái nhớ con trai lắm đấy!” Thế nên mới xuất hiện con trai và con gái, nhưng hôm nay chúng ta chỉ bàn về vấn đề của con gái thôi nhé.
“Con gái” là nhiều vấn đề lắm đấy nhé, hãy cùng tham khảo những câu nói hay về con gái khi yêu mà chúng tôi tổng hợp được sau đây nhé để hiểu rõ hơn về con gái nhé
Con gái thuộc môn phái yếu nên trong tình yêu con gái có lẽ sẽ chịu nhiều thiệt thòi và khổ đau hơn con trai. Nhưng con gái cũng có những điểm đáng yêu và rất “riêng”
——-
Là con gái, bạn nên :
– Tập ngủ sớm
– Yêu bản thân mình hơn
– Bớt tin người
– Bớt ngốc
– Sống đơn giản
– Tẩy não một số kí ức buồn
Và
– Cười thật tươi nhé con gái
– Khi một người con gái vừa đi vừa khóc trên phố mà chẳng cần quan tâm rằng có hay không người đang nhìn mình, thì lúc đó, chắc chắn rằng trái tim họ đã thật sự tan nát.
– Con gái chỉ “lảm nhảm” với người mà họ yêu, và cũng chỉ nhõng nhẽo với người mà họ thực sự quan tâm.
– Sự ương ngạnh, tính khí thất thường, tỏ ra như một “đứa bé” hư, tất cả cũng chỉ vì họ muốn bạn chú ý, quan tâm đến họ nhiều hơn.
– Nếu như họ không yêu bạn, họ sẽ chẳng nỗi giận với bạn, không mong bạn tới dỗ dành, và cũng sẽ không vì bạn mà rơi nước mắt.
– Bởi nếu là người mà họ không yêu, sẽ chẳng bao có khả năng khiến họ như thế.
Và bạn có biết… khi bạn rời xa họ, bỏ họ lại một mình… Họ sẽ mong đợi. Và lo sợ biết bao nhiêu…”.
Là con trai hãy nên nhường nhịn con gái các bạn nhé, khi mà con gái giận thì họ sẽ không làm bạn với con trai nữa đâu, các bạn sẽ buồn lắm đấy? Biết chưa?
Là con gái hãy trân trọng bản thân, và biết mình, biết người nghe chưa? Hãy cùng tham khảo những câu nói hay để rút ra nhiều kinh nghiệm sống cho mình nữa nhé.
Một người con gái khi yêu, yêu thật lòng là trọn vẹn, là hết mình cho người thương, là không ngại thay đổi tâm hồn mình để vừa vặn hơn với bản chất không hề biến đổi của người con trai. Khi yêu, dù người con gái có ích kỷ đến bao nhiêu thì cũng trở nên thật rộng lượng trước người ấy. Sẵn sàng tha thứ tất cả, mà có khi điều nhận lại được chỉ là một câu xin lỗi, một câu nhớ hay một câu yêu không thật lòng.
Một người con gái khi yêu, yêu thật lòng luôn cố gắng thay đổi bản thân, làm mọi việc, kể cả những điều ngu ngốc chỉ để trở nên vừa lòng, xinh đẹp trong mắt người ấy. Đôi khi đó có thể là “lần đầu tiên em nói dối” rồi cả những lần sau nữa… cũng chỉ bởi vì yêu… và dẫu biết những điều đó là sai, vẫn cứ ngây thơ tôn thờ chủ nghĩa yêu thương.
Một người con gái khi yêu, yêu thật lòng là sẵn sàng bỏ qua tất cả lời ra tiếng vào, khen chê này nọ để bảo vệ những cảm xúc dành cho người ấy, coi người ấy là thần thánh mà tôn sùng một cách vô điều kiện. Cái kiểu bảo vệ ấy, giống như thể một người mẹ sẵn sàng hi sinh tất cả mọi thứ để bảo vệ đứa con của mình. Có khi đúng và có khi sai.
Một người con gái khi yêu, yêu thật lòng là trọn vẹn, là hết mình cho người thương, là không ngại thay đổi tâm hồn mình để vừa vặn hơn với bản chất không hề biến đổi của người con trai. Khi yêu, dù người con gái có ích kỷ đến bao nhiêu thì cũng trở nên thật rộng lượng trước người ấy. Sẵn sàng tha thứ tất cả, mà có khi điều nhận lại được chỉ là một câu xin lỗi, một câu nhớ hay một câu yêu không thật lòng.
Một người con gái khi yêu, yêu thật lòng thì dù trái tim có cứng rắn, mạnh mẽ như thế nào đi nữa rồi cũng trở nên mềm nhũn trước những điều mang nghĩa là yêu thương. Chỉ cần người con trai nhẹ nhàng quan tâm, chỉ cần người ấy biết cách đưa tay, khẽ chạm vào sợi tóc của mình trước mỗi cơn gió thoảng qua là người con gái đã trở nên yếu mềm như chưa từng vậy.
Bởi một người con gái khi yêu, yêu thật lòng là tự sâu tâm can luôn có hơi hướng của sự đợi chờ. Cứ chờ, cứ đợi hết lần này đến lần khác và cố gắng cho đến một ngày người ấy chỉ yêu mỗi mình thôi… cứ tin thế mà đôi khi biết nó là vô vọng.
Bởi một người con gái khi yêu, yêu thật lòng luôn hi vọng đến một ngày người con trai có thể nhận ra bản thân mình đặc biệt, là duy nhất trên cõi đời này và rất đáng để người ta tự nguyện bỏ đi tất cả mọi thứ chỉ để có được mình.
Bởi một người con gái khi yêu, yêu thật lòng dù có keo kiệt đến bao nhiêu cũng không không tiếc gì tình cảm, những giọt nước mắt cho đi vì người mình yêu. Khi đã trót thương một người con trai, người con gái vô thức quên đi bản thân mình trong cuộc sống ngày thường, cứ lãng đãng tồn tại như cánh bèo trên dòng nước chảy ngang.
Nhưng một người con gái khi yêu, yêu thật lòng sẽ chấp nhận bước đi không tính toán khi tất cả niềm tin yêu bị phá vỡ, khi nhận ra không còn điều gì có thể bấu víu lấy được. Dù người con gái hiểu rằng, tìm thấy được tình yêu trong đời này là rất khó, phải bằng mọi cách mà nắm giữ nó… Nhưng để làm gì, khi cố níu kéo một thứ tình yêu vô vị, mãi chỉ có sự cố gắng đơn phương như thế…
Một người con gái khi yêu, yêu thật lòng sẵn sàng chia tay, cố gắng quên đi một người con trai không phải bởi vì hết yêu, hết tình cảm mà bởi vì đã quá đau rồi mà thôi. Khi đó, với người con gái, yêu thương qua đi, chỉ còn nỗi đau ở lại.
Một người con gái khi yêu, yêu thật lòng là sẵn sàng bỏ qua tất cả lời ra tiếng vào, khen chê này nọ để bảo vệ những cảm xúc dành cho người ấy, coi người ấy là thần thánh mà tôn sùng một cách vô điều kiện. Cái kiểu bảo vệ ấy, giống như thể một người mẹ sẵn sàng hi sinh tất cả mọi thứ để bảo vệ đứa con của mình. Có khi đúng và có khi sai.
Nhiều khi người con gái vì yêu nên mù quáng, để rồi ngu ngốc, tin vào người mình yêu, nhưng nhận lại tất cả chỉ là sự lừa dối, sự giả tạo mà thôi. Nhưng biết làm sao được, khi mẹ sinh con ra là con gái nhỉ.
Và người con trai sẽ có cảm xúc như thế nào trong tình yêu nhỉ? Nếu bạn là một người con trai khi đọc được những dòng chia sẻ này hãy chia sẻ cảm xúc của mình cho chúng tôi bằng cách để lại bình luận bên dưới nhé. Dù thế nào đi nữa, là con trai hay con gái thì hi vọng mọi người sẽ nhận được một tình yêu như tình yêu mà mình đã trao tặng nhé.
ên phải là Bạch Hổ.

Khi thu nghịch Thuỷ nhập thủ từ cửa chính căn nhà. Trước hết ta cần biết hướng chảy của dòng nước ngoài cửa. Nếu là chính Thuỷ (sông, suối) thì chỉ cần xem hướng chủ của nó là biết. Nhưng trong thành phố, rất ít khi ta gặp được chính Thuỷ bên ngoài căn nhà. Cho nên, phong thủy coi đường đi hoặc hành lang bên ngoài căn nhà là Thuỷ. Tuy nhiên ta không thể biết hướng chảy của hành lang hoặc đường đi đó. Vậy thì căn cứ vào độ dài ngắn của Thanh Long, Bạch Hổ để lựa chọn cách Nghênh Thuỷ cho phù hợp.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Yến Nhi (##)
Trăng sáng đã đi vào thơ văn từ xa xưa, hôm nay chúng ta lại biết đến tác dụng thần kỳ vốn có của “Ông tốt”: Có thể cảm hóa lòng người hướng thiện, ánh Trăng mát mẻ soi sáng những tâm hồn đen tối. Ta đi đâu trăng theo đó.
Thuở xưa, trong một ngôi làng nọ, có một gia đình nghèo khổ. Hai vợ chồng vì để tiết kiệm tiền, thường lợi dụng ban đêm sang vườn rau nhà người ta, ăn cắp rau quả.
Một đêm nọ, người chồng nhà này đem theo một đứa con trai nhỏ 7 tuổi vào vườn rau nhà người ta, muốn nhổ vài củ cải trắng mang về nhà.
Khi hai người vừa nhổ mấy củ cải trắng, thì đứa con nhỏ đột nhiên la khẽ ở đằng sau lưng: “Ôi! Cha ơi! Có người đang nhìn chúng ta kìa!”
Người cha kinh hãi, đưa mắt nhìn xung quanh, bối rối hỏi: “Con à! Người đó ở đâu?”
Đứa bé nhỏ vừa chỉ tay lên bầu trời vừa trả lời: “Cha ơi! Cha nhìn kìa, trăng đang nhìn chúng ta đó! Không phải sao?”. Nghe đứa con nói câu này, người cha lặng yên, ngẩn cả người.
Ông từ từ buông mấy củ cải trong tay xuống, trong tâm đầy hối hận, vừa khổ sở, vừa vui mừng. Ông yên lặng nắm tay con về nhà.
Trên đường đi, ông suy nghĩ: “Trộm cắp là tội nghiệp rất lớn, có lẽ là Phật, Bồ Tát, hay Thần linh từ bi, thông qua miệng con trai, giúp mình tỉnh ngộ, giúp mình cải chính hướng thiện đây mà!”
Kỳ thực, ranh giới giữa chính và tà, chỉ ở một niệm đầu mà thôi!
Ông chủ vườn rau kia vì rau thường bị mất trộm, tức giận không chịu được, nghĩ thầm tên trộm này thật quá đáng ghét, nhất định phải bắt cho được… liền trốn phía sau một cái cây để rình bắt.
Khi ông nhìn thấy bóng người, đang muốn hô hoán bắt trộm, thì nghe được tiếng của đứa bé nói, nhất thời cũng lặng lẽ ở nơi đó… ngước nhìn ánh trăng, nhờ vào ánh trăng, người chủ vườn rau cũng thấy được gương mặt của tên trộm, biết được rằng người đó chính là gia đình nghèo khổ bần hàn cùng làng.
Nhìn hai cha con yên lặng dắt tay nhau rời đi, ông lại ngẩng đầu nhìn ánh trăng, lòng lặng thinh không nói điều gì.
Sau khi người chủ vườn rau về nhà, ông đem sự tình kể cho vợ nghe, người vợ nói: “Ánh trăng kia không phải là cũng đang nhìn anh hay sao?”
Người chủ vườn rau cả đêm không ngủ được.
Giữa trưa hôm sau, ông chạy đi tìm người cha ăn trộm đêm đó, nói: “Nhà tôi đang cần tìm một người giúp việc, anh có thể đến giúp không? Trừ tiền công, tôi sẽ cho anh một ít thức ăn mang về nhà”.
Đối với cơ hội kiếm tiền quý giá này, lại có thể khiến gia đình no ấm, người đó đương nhiên đã đồng ý.
Màn đêm buông xuống, người cha nắm tay đứa con ngồi trên bậc cửa ngắm ánh trăng, đứa con nói: “Ô! Cha xem trăng đang cười kìa!”
Cùng lúc đó, người chủ vườn rau cũng đang ngồi ngắm trăng ở nhà, nói với vợ: “Chưa bao giờ anh nghĩ đến trăng cũng đang nhìn, nhìn người khác cũng nhìn anh, nhìn xem người khác đang làm gì, cũng đang nhìn anh đối đãi như thế nào… Ô! Em xem, trăng đang cười đó!”