Cách xem tướng nốt ruồi trên cơ thể phụ nữ (mặt sau) –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Đoan Trang(##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Đoan Trang(##)
Trong chu kỳ sáng tạo (tương sinh), Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy,Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa. Trong chu kỳ hủy diệt (tương khắc), Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thanh Vân (##)
| ► Tham khảo thêm: Giải mã giấc mơ thấy cá, mơ thấy máu |
![]() |
| Ảnh minh họa |
Câu đối cũng còn được gọi là Liễn. Liễn thường là những dải giấy màu đỏ hay hồng đào, hai đầu dải giấy có làm trục bằng gỗ hay bằng tre để khi treo lên thì dải câu đối được ngay ngắn. Cũng có khi Liễn không cần có trục và chỉ là những dải giấy để tiện dán vào những nơi cần treo như ở hai bên bàn thờ, các cột nhà cửa, cổng hay ngõ. Trước đây ở chốn thôn quê, mỗi khi Tết đến, người ta còn cẩn thận dán Liễn đỏ ở cửa chuồng lợn, trâu, bò hoặc ở thân cây dừa, nhãn, ổi… để ngụ ý cầu mong cho mọi sự được tốt đẹp như lợn, trâu, bò hay ăn chóng lớn, sinh đẻ đầy đàn… các cây thì sai quả.
![]() |
| Treo câu đối Tết |
Cùng xem những nhân cách cao quý của những vị quan thanh liêm trong lịch sử đã đối đãi với việc hối lộ như thế nào. Hối lộ không chỉ là một chủ đề “gây nhức nhối” trong xã hội ngày nay, “hối lộ” cũng từng là một hành vi đã có từ thời cổ xưa. Trong lịch sử có rất nhiều bậc quan lại, tướng lĩnh nhận thức rõ ràng được sự nguy hại của hành vi này và có những cách ứng xử đang để học tập.
Công Tôn Nghi là tể tướng thời chiến quốc Lỗ Mục Công. Ông đặc biệt thích ăn cá. Vì vậy, nhiều người khi đến tìm ông để bàn việc thường rất hay mang cá hối lộ đến theo. Nhưng họ đều bị Công Tôn Nghi một mực từ chối.
Một người học trò của ông không hiểu nên đã hỏi: “Thưa thầy! Thầy từ trước đến nay đặc biệt thích ăn cá, vậy tại sao thầy lại luôn cự tuyệt cá mà người khác mang tặng?”
Công Tôn Nghi đáp: “Ăn mấy con cá thì tất nhiên không có vấn đề gì. Nhưng nếu như ta nhận cá của người khác mang đến tặng thì tất sẽ phải nhân nhượng cho họ. Như thế là làm trái với luật pháp, sau cùng cũng sẽ bị cách chức tước vị. Đến lúc đó, ta còn muốn ăn cá thì thử hỏi những người này có còn mang cá đến tặng ta không? Bây giờ, ta không nhận cá của người khác thì tự mình vẫn có thể thường xuyên mua được cá về ăn. Chẳng phải thế sao?”
Công Tôn Nghi thèm cá mà lại không nhận cá, quả thực là rất sáng suốt! Nếu như người khác tặng cá mà lại không chối từ, thì hậu quả chắc chắn sẽ như lời ông nói, chẳng những tước vị của ông bị tước bỏ mà ngay cả cá cũng sẽ không có mà ăn.
Có một số người xưa đã thông qua lời nói khéo léo để chối từ việc người khác hối lộ mình. Trong “Tả truyện” có ghi chép lại rằng, vào năm Tống Tương Công 15, có một người đã nhận được miếng ngọc trắng không tì vết liền mang đến tặng cho đại phu Tử Hãn. Tử Hãn nói: “Miếng ngọc là bảo bối của ngươi, “không tham” là bảo bối của ta. Nếu như ta nhận bảo bối của ngươi thì hai ta đều bị mất bảo bối rồi. Ngươi hãy cầm đi đi!”
Vào ngày mừng thọ 60 tuổi của Bao Thanh Thiên, ông kiên quyết không nhận lễ vật mà bất kỳ ai mang đến tặng. Ông thật không ngờ người đầu tiên đến chúc mừng và tặng lễ vật hối lộ cho ông lại chính là Hoàng đế đương triều Tống Nhân Tông. Trên thiếp, Thái giám có ghi bốn câu có ý là:
“Đức cao vọng trọng nhất phẩm khanh
Ngày đêm vất vả giống Ngụy chinh
Hôm nay Hoàng Thượng đem lễ tặng
Cự lễ ngoài cửa lễ bất thông”.
Bao Thanh Thiên sau khi đọc bốn câu thơ xong, ông liền hồi đáp bằng bốn câu có ý là:
“Thiết diện vô tư lòng son trung
Làm quan tối kỵ nhắc tới công
Vất vả vốn là phần nội sự
Cự lễ vi khai mở liêm khiết phong”.
Bao Thanh Thiên đã dùng thơ để cự tuyệt lễ vật hối lộ, vừa thể hiện được sự liêm chính, khéo léo của mình lại nhận được sự khen ngợi của Hoàng Thượng cũng như sự kính trọng của quan tướng trong triều.
Vào năm vua Càn Long đời nhà Thanh, ở Hà Nam có vị tuần phủ Diệp Tồn Nhân, làm quan trong mấy thập kỷ đều giữ được đức tính thanh liêm. Thời điểm ông cáo lão về quê sinh sống, quan lại đã mang tiền đến tặng ông nhưng lại lên thuyền muộn hơn so với ông. Mãi tới lúc trăng đã sáng, ông đột nhiên phát hiện một chiếc thuyền đi tới. Hóa ra là đám thuộc hạ đem lễ vật của những vị quan lại kia tới tặng ông làm quà cáo biệt. Diệp Tồn Nhân bèn lấy giấy bút ra và viết mấy câu thơ có ngụ ý: “Ánh trăng theo tiếng gió lúc nửa đêm, thuyền nhỏ đưa tiễn cố chậm chạp. Cảm quân tình trọng còn quân tặng, không sợ người biết sợ mình biết”. Viết xong mấy câu này, ông liền gửi họ và trả lại toàn bộ lễ vật không lấy một món nào.
Còn rất nhiều những câu chuyện kể về việc đối đãi với vấn đề “hối lộ” của các bậc quan lại, tướng lĩnh ngày xưa. Chúng ta có thể thấy rằng, họ đều dùng nhiều cách khác nhau để khéo léo khước từ những lễ vật đó.
Phương pháp của họ vừa bảo trì được nhân cách cao quý lại vừa làm hài lòng những người mang tặng. Sở dĩ họ có thể làm được điều này là nhờ có tầm nhìn xa trông rộng, thấu hiểu đạo lý cũng như lẽ “được, mất” trong cuộc đời.

1. Các ngày ở vòng Giáp Tý
– Ngày Giáp Tý và Ất Sửu:
Nên cầu Thần, lễ Phật để cầu con, cầu phúc sẽ kết quả như ý.
– Ngày Đinh Mão, Mậu Thìn, Kỷ Tị:
Nên lập đàn, lập cỗ chay cầu con sẽ được toại nguyện. Tế lễ, chiêu hồn, dâng sớ, lễ cúng tể tiên rất tốt.
– Ngày Nhâm Thân:
Nên cầu con, tế lễ, cầu phúc, dâng sớ.
2. Các ngày ở vòng Giáp Tuất
– Ngày Kỷ Mão, Canh Thìn:
Nên cầu phúc cho con cháu được thành đạt, vinh hoa, phú quý.
– Ngày Giáp Tuất, Ất Hợi:
Nếu lễ nhỏ vào giờ Thìn thì được, ngoài ra đều rất xấu.
3. Các ngày ở vòng Giáp Thân
– Ngày Giáp Thân, Ất Dậu:
Nên làm các lễ cầu.
– Ngày Bính Tuất, Đinh Hợi:
Nên cầu phúc, tế tựu, dâng sớ, cầu nguyện, hiến cúng, cầu xin tổ tiên.
4. Các ngày vòng Giáp Ngọ
– Ngày Giáp Ngọ:
Nên lễ tạ thổ công, thổ địa, dâng sớ, cúng tiến vào các nơi thờ tự.
– Ngày Bính Thân, Đinh Dậu và Mậu Tuất:
Nên cầu thọ, tế, tạ, dâng sớ, chiêu hồn, cầu siêu.
– Ngày Nhâm Dần, Quý Mão:
Nên lễ bái, cầu phúc, dâng sớ cầu xin.
5. Các ngày ở vòng Giáp Thìn
– Ngày Ất Tị:
Nên lễ cầu tại gia đình.
– Ngày Đinh Mùi:
Nên cầu phúc cho gia thế, lễ bái tổ tiên, dâng sớ cầu xin.
– Ngày Kỷ Dậu:
Nên tiến cúng cho nơi thờ tự, lễ bái.
6. Các ngày ở vòng Giáp Dần
– Ngày Giáp Dần, Ất Mão:
Nên làm lễ cầu phúc.
– Ngày Canh Thân:
Nên làm lễ chay, dâng sớ cầu xin mọi việc.
| ► Cùng xem những tiết lộ thú vị về 12 cung hoàng đạo tình yêu |
![]() |
Tiểu hạn và Lưu niên đều chủ về cát hung họa phúc của một năm. Tiểu hạn dựa vào niên chi và giới tính năm sinh quyết định mỗi một tuổi trong cuộc đời là thuộc Cung nào. Mỗi năm chủ về một Cung, sau 12 năm lại quay về vị trí ban đầu. Lưu niên là lấy niên chi của năm hiện tại, quyết định năm đó là Cung nào trong mệnh bàn, một năm đổi một cung. Cung của Tiểu hạn và Lưu niên là cung Mệnh của năm đó, dựa vào đó xác định 11 cung: Huynh đệ, Phu thê, Tử nữ, ... , của Tiểu hạn và Lưu niên, sau đó dựa vào mệnh bàn của Tiểu hạn và Lưu niên, tổng hợp phán đoán vận khí của năm đó.
Năm của Tiểu hạn và Lưu niên chỉ bắt đầu từ mồng 1 tháng 1 âm lịch (đoán mệnh theo Bát tự là bắt đầu từ Lập xuân). Số tuổi của Tiểu hạn là tuổi giả, tức khi sinh là 1 tuổi, sau đó cứ đến mồng 1 tháng 1 năm âm lịch tiếp theo tính thêm 1 tuổi.
Tiểu hạn và Lưu niên đều có thể dùng để phán đoán vận khí của một năm, nhưng Tiểu hạn chủ Thể, Lưu niên chủ Dụng, cả hai phải hòa hợp, hài hòa. Mà ứng nghiệm với thiện - ác của sự việc thì luôn luôn phát sinh ở Lưu niên. Nhưng bất luận là Tiểu hạn hay Lưu niên đều quy về Đại hạn, tức lấy Tiểu hạn, Lưu niên làm chủ đạo còn Đại hạn là phụ, tham khảo Mệnh cung và Thân cung.
Nói cách khác, thì cát hung của Tiểu hạn hay Lưu niên chịu ảnh hưởng của Đại hạn, đồng thời bị hạn chế trong một phạm vi cát hung cố định, và không tách rời Thân cung và Mệnh cung. Đợi hành vận đến Tiểu hạn hoặc Lưu niên, một khi thời cơ chín muồi, cát hung tự nhiên sẽ ứng nghiệm.
Bốn Hóa tinh cũng có vai trò quan trọng để phán đoán cát hung của Tiểu hạn và Lưu niên, lần lượt dựa vào cung Can của cung Lưu niên và Tiểu hạn trong mệnh bàn, sắp xếp ra bốn hóa tinh của Tiểu hạn và Lưu niên để phán đoán cát hung.
Tiểu hạn của Tử vi Đẩu Số, mệnh nam hành vận thuận theo chiều kim đồng hồ, mệnh nữ hành vận ngược chiều kim đồng hồ. Lưu niên của nam hay nữ, đều hành vận thuận theo chiều kim đồng hồ. Do đó, tiểu hạn và lưu niên của mệnh nữ có cơ hội cùng cung, tiểu hạn và lưu niên của mệnh nam không có cơ hội cùng cung.
Khi Đại hạn và Tiểu hạn cùng cung, hoặc Đại hạn và Lưu niên cùng cung, thì cát hung họa phúc của cung này hiển lộ rõ. Khi Tiểu hạn và Lưu niên của mệnh nữ cùng cung thì cát hung họa phúc của cung này càng rõ hơn, nếu lại gặp Đại hạn cùng cung, thì năm đó hành vận cần đặc biệt chú ý.
Ngoài ra, khi phán đoán cát hung của Lưu niên, bên cạnh việc cần xem cung của Tiểu hạn và Lưu niên, còn dựa vào niên can của 10 lưu tinh: Lưu lộc, Lưu dương, Lưu đà, Lưu khôi, Lưu việt, Lưu xương, Lưu hóa lộc, Lưu hóa quyền, Lưu hóa khoa, Lưu hóa kị. Tính chất của những lưu tinh này, giống các sao Lộc tồn, Kình dương, Đà là, ... , sau đó lại căn cứ vào những lưu tinh này để phán đoán vận khí của năm đó.
(Nguồn: blog tử vi tinh quyết)
Ngũ hành Tương sinh, tương khắc - Trong thế giới vật chất có muôn màu, vạn vật; con người cũng có nhiều loại người. Nhưng dù đa dạng hay phức tạp thế nào đi nữa đều được quy thành các ngũ hành, “- ,+” cụ thể. Và trên thực tế được chia thành 5 ngũ hành tất cả: thổ, kim, thủy, mộc, hỏa. Trong 5 ngũ hành này lại có mối quan hệ tương sinh, có mỗ quan hệ phản sinh, có mỗi quan hệ tương khắc, và phản khắc. Tất cả chúng đều có mối quan hệ biện chứng lẫn nhau, không thể tách rời, cũng không thể phủ nhận một yếu tố nào cả, chúng tồn tại dựa trên sự tương tác lẫn nhau, trong đó có cái chung cái riêng. - Mối quan hệ ngũ hành tương sinh: Mọi vật thể muốn phát triển cần được sự hổ trợ, nuôi dưỡng từ những vật thể khác. Do đó, quan hệ tương sinh là biểu hiện quá trình tăng trưởng và phát triển của sự vật.
Nguyên lý ngũ hành tương sinh là:
KIM sinh THỦY
THỦY sinh MỘC
MỘC sinh HỎA
HỎA sinh THỔ
THỔ sinh KIM.
Kim sinh Thủy không phải là vì Kim bị đốt nóng sẽ chảy ra thành nước, vì Kim lúc đó tuy ở dạng thể mền lỏng, nhưng đỏ chói, nóng bỏng nên sao có thể gọi là “Thủy” được. Thật ra, nguyên lý Kim sinh Thủy của cổ nhân là vì lấy quẻ CÀN là biểu hiện của Trời, mà Trời sinh ra mưa để tưới nhuần vạn vật, nên Thủy được phát sinh từ Trời. Mà quẻ CÀN có hành Kim nên mới nói Kim sinh Thủy là vậy. Mặt khác, trong Hậu thiên Bát quái của Văn Vương, Thủy là nguồn gốc phát sinh của vạn vật. Nếu không có Thủy thì vạn vật không thể phát sinh trên trái đất. Cho nên khi lấy CÀN (KIM) sinh KHẢM (THỦY) cũng chính là triết lý của người xưa nhìn nhận nguồn gốc của sự sống trên trái đất là bắt nguồn từ Trời, là hồng ân của Thượng Đế. Do đó, trong các nguyên lý tương sinh của Ngũ hành, Kim sinh Thủy là 1 nguyên lý tâm linh, triết lý và vô hình, và cũng là nguyên lý tối cao của học thuyết Ngũ hành tương sinh, vì nó là sự tương tác giữa Trời và Đất để tạo nên vạn vật. Còn những nguyên lý tương sinh còn lại chỉ là sự tương tác giữa những vật thể với nhau trên trái đất để duy trì sự sống mà thôi, nên cũng dễ hiểu và dễ hình dung hơn.
- Mối quan hệ ngũ hành tương khắc: Mọi vật thể khi bị sát phạt, khắc chế sẽ đi đến chỗ tàn tạ, thoái hóa. Do đó, quan hệ tương khắc là để biểu hiện quá trình suy vong và hủy diệt của sự vật.
Nguyên lý của Ngũ hành tương khắc là:
KIM khắc MỘC.
MỘC khắc THỔ.
THỔ khắc THỦY.
THỦY khắc HỎA.
HỎA khắc KIM.
Trong những nguyên lý tương khắc chỉ là sự tương tác giữa những vật thể với nhau để đi đến sự hủy diệt. Như vậy, trong nguyên lý tương sinh, tương khắc của Ngũ hành, người xưa đã bao hàm cả triết lý sự sống là bắt nguồn từ Trời, nhưng trường tồn hay hủy diệt là do vạn vật trên trái đất quyết định mà thôi. Ngoài ra, nó cũng bao hàm hết cả quá trình Sinh-Vượng- Tử- Tuyệt của vạn vật rồi vậy.
- Ngũ hành phản sinh: Tương sinh là quy luật phát triển của vạn vật, nhưng nếu sinh nhiều quá đôi khi lại trở thành tai hại. Điều này cũng tương tự như 1 em bé cần phải ăn uống cho nhiều thì mới mau lớn. Nhưng nếu ăn nhiều quá thì đôi khi có thể sinh bệnh tật hoặc tử vong. Đó là nguyên do có sự phản sinh trong Ngũ hành.
Nguyên lý của Ngũ hành phản sinh là:
Kim cần có Thổ sinh, nhưng Thổ nhiều thì Kim bị vùi lấp. Thổ cần có Hỏa sinh, nhưng Hỏa nhiều thì Thổ thành than.
Hỏa cần có Mộc sinh, nhưng Mộc nhiều thì Hỏa bị nghẹt.
Mộc cần có Thủy sinh, nhưng Thủy nhiều thì Mộc bị trôi dạt.
Thủy cần có Kim sinh, nhưng Kim nhiều thì Thủy bị đục.
- Ngũ hành phản khắc: Khác với quy luật phản sinh, Ngũ hành phản khắc là khi một hành bị khắc, nhưng do lực của nó qúa lớn, khiến cho hành khắc nó đã không thể khắc được mà lại còn bị thương tổn, gây nên sự phản khắc.
Nguyên lý của Ngũ hành phản khắc là:
Kim khắc được Mộc, nhưng Mộc cứng thì Kim bị gãy.
Mộc khắc được Thổ, nhưng Thổ nhiều thì Mộc bị gầy yếu.
Thổ khắc được Thủy, nhưng Thủy nhiều thì Thổ bị trôi dạt.
Thủy khắc được Hỏa, nhưng Hỏa nhiều thì Thủy phải cạn.
Hỏa khắc được Kim, nhưng Kim nhiều thì Hỏa sẽ tắt. Chính vì vậy trong sự tương tác giữa Ngũ hành với nhau không chỉ đơn thuần là tương sinh hay tương khắc, mà còn có những trường hợp phản sinh, phản khắc sẽ xảy ra nữa. Biết rõ được các mỗi quan hệ đó sẽ biết được sự tinh tế trong mối quan hệ của vạn vật, của trời đất, và con người.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thanh Vân (##)
Mỗi người đều hy vọng nhận được sự tôn trọng của người khác, cũng hy vọng nhận được sự tôn trọng của quỷ Thần. Rốt cuộc là những người như thế nào mới xứng đáng nhận được sự vinh hạnh đặc biệt này đây? “Duyệt vi thảo đường bút kí” có đề cập đến mấy loại người, chúng ta hãy đọc thử, xem xem có ở trong số đó hay không.
“Duyệt vi thảo đường kí” có ghi chép rằng, viên ngoại Cố Đức Mậu nói ông ta là minh vương của Đông Nhạc, những lời mà ông ta nói cũng rất có đạo lý. Trước đây ở nhà Cầu Văn Đạt, ông ấy nói rằng:
“Trong địa phủ rất xem trọng những bậc trung trinh liệt nữ, nhưng cũng có phân thành đẳng cấp. Hoặc vì tình cảm trai gái, hoặc vì gia sản nhà chồng kếch xù, nên có phần lưu luyến mà không tái giá, là thuộc hạ đẳng; có nảy sinh cảm tình với người khác nhưng có thể dùng lễ nghĩa để mà khắc chế bản thân, là thuộc trung đẳng; lòng như giếng khô, không nảy sinh những cơn sóng cảm tình, không tham luyến vinh hoa phú quý, đói rét cũng không màng, cũng không so tính thiệt hơn, là thuộc thượng đẳng.
Những người như vậy trong nghìn người cũng không dễ có được một người. Nếu là người như vậy, quỷ Thần cũng sinh tâm kính ngưỡng. Một ngày kia, trong địa phủ truyền rằng có một tiết phụ đã đến, Diêm Vương thần thái nghiêm trang cùng với các âm quan đều ăn mặc chỉnh tề, đứng dậy nghênh đón. Chỉ thấy một bà cụ già dáng vẻ rất mệt mỏi đi đến, chân bà dường như đang bước lên bậc thang. Mỗi bước một cao hơn, đợi đến khi bước đến Diêm Vương điện, bỗng từ nóc điện đi lên, không biết đã đi đâu rồi. Diêm Vương kinh ngạc nói: ‘Người này đã thăng thiên rồi, không ở trong cõi ma quỷ của chúng ta nữa’”.
Cố Đức Mậu lại nói: “Hiền thần cũng chia làm ba đẳng, những người sợ chế độ pháp luật là thuộc vào hạ đẳng, yêu thanh danh khí tiết là thuộc về trung đẳng, lòng trung với triều đình, chỉ một lòng vì nước vì dân, không màng họa phúc vinh nhục là thuộc hàng thượng đẳng”.
Ông ấy còn nói: “Địa phủ vốn rất căm ghét những kẻ vì cầu danh cầu lợi mà tranh mà đấu, cho rằng kết thảy mọi tội ác trên thế gian đều từ đây mà sinh ra. Vậy nên luôn khiến cho loại người này không được như ý muốn, khiến cho cái được của họ chẳng bằng với cái mất. Lòng người càng xảo trá, thì an bài của quỷ Thần cũng càng tinh xảo”.
Lại nói: “Chế độ pháp lệnh nơi âm gian cũng giống như phẩm hạnh khí tiết của của các bậc Thánh hiền vậy, luôn có thiện ý giúp đỡ người khác. Quân tử vì cố chấp phiến diện của bản thân mà tổn hại sự việc nào đó, cũng sẽ bị ghi chép lại làm thành khuyết điểm; tiểu nhân có một chuyện gì mà làm có lợi cho người khác, cũng phải dùng chút thiện báo để báo đáp y. Con người thế gian vốn không hiểu được đạo lý này, vậy nên luôn luôn hoài nghi nhân quả báo ứng có những lúc không ứng nghiệm”.
Những chuyện được đề cập ở trên, có lẽ không được tường tận rõ ràng cho lắm, nhưng cũng đủ để cho chúng ta thức tỉnh, biết nên làm người như thế nào rồi.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Cát Phượng (##)
Nếu muốn mời người tuổi Dậu cùng khiêu vũ, hãy chú ý bài trí khung cảnh, môi trường xung quanh để gợi cảm hứng. Người tuổi Dậu rất coi trọng điều đó. Với họ, 1 nơi có phong cảnh hiền hòa sẽ làm họ rung động. Khi đó, bạn sẽ có cơ hội để thể hiện tình cảm của mình.
|
Để chinh phục chàng trai tuổi Dậu, bạn phải biết cách thừa nhận, khẳng định những thành tích của anh ấy. Bởi vì đàn ông tuổi này đều là những người thích được nghe người khác khen ngợi, tán dương mình. Nắm bắt được đặc điểm đó, chắc chắn bạn sẽ dễ dàng có được tình yêu của chàng
Chinh phục nữ giới tuổi Dậu
Đa số phụ nữ tuổi Dậu đều rất nữ tính và có bề ngoài ưa nhìn, đồng thời họ cũng rất tự trọng, không dễ dàng thổ lộ tình yêu trước đối phương. Do đó, bạn nên chủ động bày tỏ tình cảm. Hãy cố gắng tạo ra khung cảnh lãng mạn, thì thầm với nàng những lời yêu thương chân thành.
(Theo Bách khoa thư 12 con giáp)
|
Một đời đại phú đại quý là chuyện mà ai chẳng mơ, có thể không lo không nghĩ sống bình an. Vì thế, các chòm sao may mắn dưới đây hãy tận dụng thật tốt số mệnh quý của mình, sống hạnh phúc và bình an nhé.
![]() |
![]() |
3 chòm sao tỉnh bơ trước sóng gió cuộc đời
Trong ngày Tết đầu năm người ta thường có xu hướng chọn ngày tốt giờ tốt để làm những việc thuận lợi như mở hàng, đi lễ, hay chỉ đơn giản là xuất hành trong ngày, với mong muốn đầu năm thuận lợi để cả năm làm việc, học tập... được dễ dàng hơn, tránh gặp phải những việc xấu có thể đem lại sự không may cho mình, khiến mình bị xui cả năm.
Có nhiều cách chọn ngày giờ. Dưới đây là phương pháp chung, được nhiều người áp dụng:
- Mùng 1 Tết (8/2, Thứ 2): Có thể xuất hành. Không lợi mở hàng, đi lễ. Xuất hành chọn hướng Tây Nam.
- Mùng 2 Tết (9/2, Thứ 3): Có thể đi lễ. Không lợi xuất hành, nếu cần xuất hành chọn hướng Tây Nam.
- Mùng 3 Tết (10/2, Thứ 4): Có thể mở hàng, đi lễ. Không lợi xuất hành, nếu cần xuất hành chọn hướng Tây.
- Mùng 4 Tết (11/2, Thứ 5): Có thể mở hàng, đi lễ. Không lợi xuất hành, nếu cần xuất hành chọn hướng Tây.
- Mùng 5 Tết (12/2, Thứ 6). Có thể mở hàng, đi lễ. Không lợi xuất hành, nếu cần xuất hành chọn hướng Đông Nam.
- Mùng 6 Tết (13/2, Thứ 7): Có thể mở hàng. Không lợi xuất hành, đi lễ. Nếu cần xuất hành chọn hướng Đông Nam.
- Mùng 7 Tết (14/2, Chủ nhật): Có thể mở hàng. Không lợi xuất hành, đi lễ. Nếu cần xuất hành hành chọn hướng Đông.
- Mùng 8 Tết (15/2, Thứ 2): Có thể mở hàng, xuất hành, đi lễ. Xuất hành nên chọn hướng Đông.
- Mùng 9 Tết (16/2, Thứ 3): Có thể đi lễ. Không lợi mở hàng, xuất hành. Nếu cần xuất hành chọn hướng Bắc.
- Mùng 10 Tết (17/2, Thứ 4): Có thể đi lễ. Không lợi mở hàng, xuất hành. Nếu cần xuất hành chọn hướng Nam.
Chú ý: hướng tốt cho xuất hành là hướng Tài thần, nhiều người không hiểu lấy hướng Hỷ thần (lợi cho cưới gả), là nhầm lẫn cơ bản trong chọn ngày giờ.
Qua liệt kê trên có thể thấy:
- Ngày tốt cho xuất hành, gặp mặt đầu năm: Mùng 1 (8/2), mùng 8 (15/2).
- Ngày tốt cho mở hàng, giao dịch ký kết đầu năm: từ mùng 3 (10/2) đến mùng 8 (15/2).
- Ngày tốt cho cúng tế, đi lễ đầu năm: từ mùng 2 (10/2) đến mùng 5 (12/2), rồi từ mùng 8 (15/2) đến mùng 10 (17/2).
Nguyễn Mạnh Linh
Trưởng phòng Phòng Phong thủy Kiến trúc
Viện Quy hoạch & Kiến trúc Đô thị - ĐHXD
Trong Lá số Tử vi, mệnh nữ có Thiên lương tại Tỵ, Hợi, gần gũi mẹ chồng. Nếu lại có Thiên mã đồng cung chủ về mệnh nam phiêu dạt, mệnh nữ tái giá nhiều lần.
Thiên lương ưa Văn xương, Thái dương, Lộc tồn đồng cung hoặc tọa tại Tam phương Tứ chính hội chiếu lẫn nhau, chủ về mệnh giỏi văn chương, sách cổ nói “mệnh trạng nguyên”. Ngày nay không có trạng nguyên thì đỗ đầu bảng, đứng vị trí đầu, nghiệp thi cử thành danh.
Thiên lương tọa Mệnh, Thái âm tọa Thân hoặc Thái âm tọa Mệnh, Thiên lương tọa Thân, mệnh nữ khắc chồng con, nhu cầu tình dục cao, lại chủ về nghèo hèn.
Thiên lương tại Hợi nếu không có Thiên mã đồng cung chủ về có nỗi đau thất tình hoặc bản thân không chung thủy, CUỐI cùng vì tình mà khổ não, tiều tụy.
Thiên lương ưa đồng cung với Thiên cơ, chủ về có sở trưòng, đỗ đạt cao. Mệnh nữ nên làm vợ lẽ nếu không dễ bị phụ tình hoặc bản thân có tình cảm với người đàn ông đã có vợ. Thiên lương tọa tại Thìn cát lợi hơn tại Tuất, mệnh nam có Thiên cơ, Thiên lương tại Tuất thì Thiên đồng, Thái âm ở chỗ Ngọ, phạm đào hoa.
Nên tập trung thời gian, tinh thần, tiền bạc vào nghiên cứu máy tính, xem mệnh, khoa học kỹ thuật có thể sẽ thành danh.
Trong tử vi sao Thiên cơ, Thiên lương đồng cung nếu có sát tinh, lại lạc Không vong nên hiến thân cho tôn giáo. Người có Thiên lương tọa Mệnh tính tình cô độc, trung hậu, có lòng trắc ẩn, thích bố thí, nên làm giáo viên, làm từ thiện hoặc làm lãnh đạo.
Người có Thiên lương tọa Mệnh không làm việc xấu, là người thật thà. Mệnh nữ nếu cung Phu thê có Thiên lương tọa thủ nên lấy chồng nhiều tuổi. Cung Nô bộc có Thiên lương tọa thủ nên làm bạn với ngưòi lớn tuổi.
Vận tuổi già gặp Thiên lương, có bệnh gặp lương y, gặp hung hóa cát.
Thiên lương tại cung Mệnh, cung Thân hoặc cung Thiên di gặp lưu niên, lưu nguyệt, lưu nhật thì mọi chuyện đều nên nhường nhịn, tránh xa tiểu nhân mối có thể tạo dựng nghiệp lớn. Chính là nói: “Lùi một bưốc biển rộng trời cao”, hay “cương nhu hài hòa mối là trượng phu”.
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
| 1. Tuổi Sửu | 2. Tuổi Dần | 3. Tuổi Thìn | 4. Tuổi Tỵ | 5. Tuổi Ngọ |
Tuệ Anh (theo Diyixz)
Hành: Thổ
Loại: Văn Tinh, Quý Tinh
Đặc Tính: Bằng sắc, ấn tín, quý hiển
Tên gọi tắt thường gặp: Cáo
Là một phụ Tinh. Thuộc sao bộ đôi Thai Phụ và Phong Cáo. Gọi tắt là bộ Thai Cáo
Tự đắc kiêu hãnh, tự phụ.
Háo danh, hay khoe khoang.
Chuộng hình thức bề ngoài.
Lợi ích cho việc thi cử, cầu danh vì sao này chủ về bằng sắc, huy chương, công danh.
Với ba ý nghĩa đầu, Phong Cáo giống nghĩa với Hóa Quyền, nhưng có lẽ không mạnh bằng Hóa Quyền vì Quyền đắc địa chỉ uy lực thực sự hơn là danh tiếng bề ngoài. Nếu đi đôi, nhất định ý nghĩa phải mạnh hơn, đặc biệt là có Quốc Ấn đi kèm.
Phong Cáo, Thai Phụ đi chung mới đủ mạnh, và nhất định là đi cùng với cát tinh càng khác.
Phong Cáo, Phụ, Xương Khúc, Khoa Quyền hay.
Phong Cáo, Phụ, Âm Dương sáng sủa hoặc.
Phong Cáo Phụ, Tướng Ấn: Rất quí hiển, được trọng dụng, có huy chương, tưởng lục.
Phong Cáo, Ấn, Thai Phụ: Được ban cấp điền sản ăn lộc, hay khẩn hoang
Phong Cáo Khi Vào Các Hạn
Cũng có nghĩa như đắc tài, đắc danh, được tiếng khen, có huy chương.
Phong cáo và Thai Phụ:
Thai Phụ Phong Cáo có tác dụng vào mệnh số giống như Tả Phụ, Hữu Bật. Có Tả Hữu còn thêm Thai Phong càng đắc lực. Nhưng chỉ Thai Phong thôi mà thiếu Tả Hữu thì Thai Phong là hư sức bề ngoài có khi còn thành dương dương tự đắc và vô dụng.
Thai Phụ cũng hay khi gặp Khôi Việt, Xương Khúc, Hóa Khoa trợ lực cho chuyện thi cử, cũng hợp cả với Tử Vi, Thái Dương Thiên Lương.Thai Phụ gặp các sao thuộc phú cách thì đỡ giàu bẩn. Thai Phụ Phong Cáo đi với các đào hoa tinh tạo ảnh hưởng làm dáng làm điệu.
Sách Phi Tinh Đẩu Số viết: Thai Phụ thuộc dương thổ là sao đài các, Phong Cáo thuộc âm thổ là sao hư trương
Hai sao này tuyệt đối phải dựa vào những sao khác, đứng chơ vơ là hết tồn tại.
g căn nhà.

Dưới đây là một vài hướng dẫn giúp bạn lựa chọn được chiếc chuông gió phù hợp với căn nhà của mình:
1. Chất liệu:
Luôn nhớ rằng chất liệu của chuông gió nên phù hợp với các yếu tố phong thuỷ tại vị trí đặt nó. Lấy ví dụ, bạn có thể đặt chuông gió làm bằng kim loại ở hướng Tây, Tây Bắc và hướng Bắc, trong khi chuông gió làm từ tre/gỗ có thể đặt ở hướng Đông, Đông Nam và Hướng Nam (Theo bát quái).
Thỉnh thoảng bạn vẫn bắt gặp những loại chuông gió được làm từ sứ, đất sét nung…khi ấy, chất liệu tạo nên chuông gió sẽ đại diện cho yếu tố thổ, do đó, nên được đặt ở vị trí trung tâm, Tây Nam, Đông Bắc, Đông và Đông Nam của ngôi nhà.

2. Biểu tượng:Có rất nhiều loại chuông gió mang trên mình những biểu tượng truyền thống. Một chiếc chuông gió làm bằng đất sét với hai trái tim rõ ràng là lựa chọn tuyệt vời cho hướng Tây Nam, Cung Tình Duyên, nên được đặt trong phòng nhà hoặc sân vườn. Trong khi đó, chiếc chuông gió với hình ảnh đức Phật sẽ phát huy tác dụng với những nguồn năng lượng phong thuỷ ở hướng Đông Bắc/ Cung học thức.
3. Số lượng:Khi sử dụng chuông gió như một pháp khí trong nhà, cần chú ý tới số lượng của mỗi thanh chuông trên chuông gió. 6 và 8 là hai con số phổ biến nhất trong số lượng thanh chuông, khiến chuông gió có khả năng tăng cường năng lượng cho ngôi nhà. Ngoài ra, số 5 được coi là lý tưởng nhất cho việc đẩy lùi những khí xấu, đối với những loại sao chiếu mạng hàng năm.
![]() |
Rằm tháng 7 đi liền với ngày cô hồn, do đó mà phải tránh nhiều điều để không rước hoạ. Tháng 7 là tháng âm binh quỷ quái, dân gian gọi là tháng cô hồn. Trong tháng này, có những điều mang hơi hướng tâm linh, có chút quỷ dị, nhưng nếu không tránh tất rước họa vào người.
| ► Tra cứu: Lịch âm, Lịch vạn niên chuẩn xác tại Lichngaytot.com |
![]() |
| Không phơi đồ ban đêm |
![]() |
| Không ăn đồ cúng lễ chúng sinh |
Bói tình yêu để nhận biết được người có được hạnh phúc trong tình yêu. Tình cảm yêu đương nam nữ phải xuất phát từ lòng ái mộ mới có thể yêu thương, quý mến nhau, xuất phát từ khát vọng hạnh phúc cuối cùng hai người mới kết hợp với nhau. Tình yêu hạnh phúc sưởi ấm cuộc đời của một con người. Đó là tình yêu đáng quý, rất khó có thể đạt được, và chính từ tướng tay bạn có thể biết được tình yêu của mình như thế nào.

Tướng tay ngón tay út dài và thẳng
Ngững người này đại đa số biểu hiện tình yêu một cách thẳng thắn, biểu hiện tình cảm của mình rõ ràng. Họ có thể hiểu được người mình yêu thương, do đó có thể tăng cường mối quan hệ với người này, vun đắp cho tình yêu.
Đường Tình cảm cong, đoạn trước có đường phân nhánh
Báo hiệuhọ là người có tình yêu ấm áp. Là người thông minh, lanh lợi, có thể đem đến cho đối phương cảm giác hạnh phúc. Họ yêu người khác và được người khác yêu lại, có thể, cùng nhau xây dựng nên mối quan hệ tình cảm ngọt ngào, hài hòa.
Gò Kim tinh dầy đặn, màu hông nhuận, có đường đuờng chỉ tay nhỏ
Đây là người trọng tình trọng nghĩa, nhân phẩm tốt. Là người có khả năng tình dục tốt, biết hưởng thụ tình yêu một cách trọn vẹn. Nhưng nếu trên gò Kim tinh có quá nhiều đưòng chỉ nhỏ, ngầm báo hiệu đây là người sẽ chịu nhiều vất vả.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Cát Phượng (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Đi kèm với một đĩa thức ăn hấp dẫn, ngon mắt, kích thích sự thèm ăn có rất nhiều yếu tô”, trong đó đóng vai trò không nhỏ là ánh sáng trong phòng bếp. Để đạt được hiệu quả trên, bạn có thể dùng loại đèn trần toả nhiệt lắp chìm hay chìm một nửa trong tường hoặc đèn chiếu sáng cục bộ cho bệ bếp. Ngoài ra có thể dùng loại đèn có thể nâng cao hạ thấp được hoặc đèn treo nhiều tầng. Màu của đèn nên chọn loại có màu ấm, không nên chọn đèn huỳnh quang ánh sáng trắng, lạnh.

Nếu trong gian bếp mắc đèn ống, thì đèn bóng dây tóc nên có công suất cao hơn một chút, bởi độ sáng trong gian bếp đòi hỏi tương đối cao. Nhưng trong gian bếp không nên chiếu sáng bằng đèn ông, bởi tính phương hướng của loại đèn này rất mạnh, hiệu quả chiếu sáng kém.
Ngoài ra, cũng có thể dùng đèn hút đỉnh chiếm không gian không lớn, độ chiếu sáng rộng, thuộc loại đèn chiếu sáng trực tiếp, tiết kiệm điện, nhiều tiện ích.
Hai sao Thai Phụ và sao Phong Cáo đều chủ về hiển quý. Sao Thai Phụ thuộc dương thổ, chưởng quản đài các; sao Phong Cáo thuộc âm thổ, chưởng quản phong tặng khen thưởng.
Sao Thai Phụ chủ về đúng đắn, kiên trì, bền bỉ. Nếu nhập cung thân, mệnh thì dung mạo đoan chính, ý chí kiên cường và quyết đoán, chính trực có tài văn chương, có thể có địa vị xã hội. Sao Phong Cáo chủ về thông minh lịch thiệp. Nếu nhập cung thân, mệnh, là người thực tế, thông minh, yêu thích nghệ thuật, cầu toàn, có trách nhiệm, tự trọng, dễ được quý nhân giúp đỡ, tài năng được khẳng định, có tiếng tốt, được x4 hội đánh giá cao.
Sao thai Phụ có thể tăng cường sức bền của sao cấp 1, và có thể khiến cho thành tựu càng rực rỡ hơn. Sao Phong Cáo có thể khiến cho sao cấp 1 giữ được ổn định. Nếu sao cấp 1 đủ mạnh thì lợi về khoa cử thanh danh.
Sao thai Phụ trợ giúp cho hai sao Tả Phù, Hữu Bật để phò tá cho đế tinh Tử Vi, có lợi cho việc thăng quan tiến chức. Sao Phong Cáo chủ về được ban tặng tước hiệu, ý nghĩa như gấm thêu hoa, có lợi cho thi cử, công chức, tăng thêm phần nổi tiếng.
Sao Thai Phụ đóng tại cung thân, cung mệnh thì nhờ vào việc làm của bản thân, tự nhiên sẽ được người ta xem trọng, nảy nở mày mặt. Sao Phong Cáo đóng tại cung thân, cung mệnh thì nhờ vào sự nỗ lực của bản thân mà được người khác công nhận, có tinh thần coi trọng công việc.
Trên phương diện tâm lí và môi trường mà nói, hướng cửa của cửa hàng nên tránh đối diện với các công trình kiến trúc mà trong phong thủy gọi là không cát tường.

Những công trình kiến trúc mà phong thủy cho là không cát tường, chủ yếu là những công trình kiến trúc khiến cho tâm lí con người cảm thấy không thoải mái như ống khói, nhà vệ sinh, chuồng trâu, chuồng ngựa, nhà tang lễ, bệnh viện… Những kiến trúc này, hoặc là khói đen cuồn cuộn, hoặc là hôi thối đến ngạt thở, hoặc là kêu khóc thảm thiết, hoặc là rên rỉ bệnh tật. Do kiến trúc không cát tường mang đến khí lưu như vậy nên trong phong thủy gọi là hung khí.
Nếu như mở cửa của cửa hàng hướng vào những công trình kiến trúc không cát tường đó, thì những hung khí sẽ cuồn cuộn theo nhau mà đến. Kinh doanh những hàng hoá tạp phẩm thì còn có thể được, còn nếu như kinh doanh những hàng ăn uống hoặc nhà nghỉ, khách sạn thì chắc chắn thực khách đến ít, là khách cũng thưa thớt, vì không ai muốn tốn tiền tại nơi đây xú khí, đầy tiếng kêu khóc ai oán đó. Hơn nữa đối với những người kinh doanh mà nói thì trong những môi trường như vậy cùng sẽ dẫn đến tinh thần không hào hứng, lòng dạ không thoải mái, nghiêm trọng hơn có người còn bị nhiễm bệnh mà thành tật, thương bại nhân vong.
Đương nhiên, khi lựa chọn địa chỉ cửa hàng nên tránh khai nghiệp ở những khu vực có công trình kiến trúc không cát tường, nếu vì một nguyên nhân nào đó mà phải đặt cửa hàng ở khu vực có vật không cát tường, thì khi mở cửa phải nhất định tránh mở hướng vào những vật không may mắn này, lựa chọn hướng mở cửa thượng thừa của khí, đặt ở sau cửa lớn một tấm bình phong có tác dụng như một bức tường để ngăn chặn bớt sát khí.
Phong thủy nhấn mạnh đến dương trạch, tránh mở hướng vào các vật không may mắn. Ngoài ra, nó còn có ý nghĩa nhấn mạnh đến công việc và cuộc sống của con người cần thiết có một không khí trong lành, môi trường tốt đẹp. Trong môi trường hoàn cảnh tốt đẹp, tinh thần của con người thoải mối, phát huy được trí lực tốt nhất, tự nhiên con người làm việc sẽ thành công.
![]() |
Vượt qua thất tình với lời Phật dạy về nhân duyên| ► Mời bạn đọc: Những câu nói hay về tình yêu và suy ngẫm |