Những giấc mơ ác –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thanh Vân (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thanh Vân (##)
Hiểu được trí thức phong thủy tiền thuật, mọi người đều thành người trong nghề, chỉ có người trong nghề mới có thể giám định, phân biệt được thầy phong thủy, người ngoài ngành thì tuyệt đối không thể phân biệt, giám định được như người trong nghề.
Có người cho rằng: Những thầy phong thủy có kinh nghiệm lâu năm phong phú thì đáng tin, cũng có người cho rằng thầy phong thủy làm ăn là tốt nhất, có người tin những thầy phong thủy có trình độ văn hoá cao là tốt, có người thì tin vào những thầy phong thủy có phán đoán linh nghiệm, kỳ thực các cách này đểu không được. Vậy phải chọn lựa thầy phong thủy như thế nào?

Ngoài nghề lâu năm chỉ có thể thành người ngoài nghề, thuật phong thủy ngoài nghề giang hồ thành kẻ không thật thà, mời chào nhiều, làm ăn tốt, người này chắc chắn sẽ a dua nịnh hót, nói những lời ngọt ngào, dễ nghe, chỉ là phong lưu nhất thời, thầy phong thủy ngoài nghề học vấn lớn là thạc sĩ văn học, không phải thầy phong thủy. Còn như phán đoán linh nghiệm có đáng tin hay không? Những phán đoán của những người trong nghề là đáng tin, phán đoán của người ngoài nghề là không đáng tin, còn ngồi một chỗ mà khẳng định phán đoán linh nghiệm thì là thầy phong thủy giả.
Phàm xem xét nội khí, phải có phong cách của người chuyên nghiệp, còn nếu không có phong cách của một thầy phong thủy chuyên nghiệp thông qua các hành vi, ứng xử, kiến thức thì người đó dù nói biết nhưng cũng chỉ là kẻ ngoại đạo, hiểu biết qua tự cho mình là bậc thầy mà thôi.
Phàm xem xét ngoại khí (đường khí), tất yếu trước tiên quan sát thủy khẩu, gọi là nhập sơn quan thủy khẩu là người trong nghề, nếu không thì là người ngoài nghề.
Chúng ta đẵ biết, mọi sự vật của thế giới đều có quy luật nhất định, tục ngữ nói: Không dựa vào quy luật thì không thể thành vuông tròn. Phong thủy Trung Quốc, có ít nhất là hơn hai ngàn năm lịch sử, khẳng định quy luật của nó.
Tìm được một chỗ ở hoặc một ngôi mộ cổ, tốt nhất là niên đại lâu năm, gia tộc này đại phát giàu có. Thầy phong thủy đứng ở nơi thủy khẩu mà xem xét kỹ, nếu như có thể biết được hướng phân kim nhà cổ, mộ cổ trong thôn thì đó là thầy phong thủy trong nghề, còn nếu không là ngoài nghề.
Ví dụ như triều Tống, để có được một trạng nguyên, phải tra phong thủy, quốc sư đến cổng thôn tức là biết căn nguyên phong thủy, chính là đạo lí này. Chỉ có Quách, Dương, Tăng chân truyền đệ tử mới biết được bí quyết kỳ diệu này, do phong thủy hiện tại không có khảo quan, chỉ có nhà cổ, mộ cổ mới là người công bằng, chính trực được.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Ngọc Sương (##)
Rất nhiều gia đình sử dụng gương bát quái như một vật trấn trạch phong thủy nhưng không hiểu biết rõ về nó nên có những sai lầm gây ảnh hưởng xấu.
Trong đời sống, khái niệm về phong thủy có lẽ gần gũi nhất chính là gương bát quái. Đây là một vật dụng mà có thể bắt gặp ở bất kì đâu và gần như hộ gia đình nào cũng có. Sự phổ biến của gương bát quái là rất rõ nhưng hiện nay nhiều hộ gia đình vì không am hiểu về nguyên lí âm dương, ý nghĩa cũng như phương thức đặt hại. Gương bát quái mang ý nghĩa bảo vệ, khắc phục, hoặc hóa giải cho các ngôi nhà có hướng xấu, nhưng nếu như không làm đúng cách, đặt không đúng vị trí thì đã xấu lại càng xấu hơn…

Trước khi tìm cách đặt gương bát quái tốt nhất để khắc phục các điểm hạn chế cho hướng ngôi nhà thì tất cả mọi người phải hiểu về khái niệm Bát quái. Những kiến thức, quy định, nguyên tắc trong phong thủy tại Việt Nam có nguồn gốc sâu xa từ Kinh Dịch, đây còn được coi là gốc rễ của triết học phương Đông, là tiền đề cho tất cả các quan điểm về sự sống, thiên địa cũng như cuộc sống.
Gương bát quái là một vật trấn trạch phổ biến.
Theo Kinh Dịch: Thái Cực sinh lưỡng nghi (Âm Dương), lưỡng nghi sinh tứ tượng (Thiếu Âm, Thiếu Dương, Thái Âm, Thái Dương), tứ tượng sinh bát quái (Càn Đoài Ly Chấn Tốn Khảm Cấn Khôn). Bát quái lại có 3 cách sắp xếp khác nhau là Tiên Thiên, Trung Thiên và Hậu Thiên Bát Quái. Gương bát quái dùng để treo cho trường hợp hóa giải bao giờ cũng là Tiên Thiên Bát Quái. Hậu Thiện Bát Quái dùng để xem tướng nhà và mộ phần. Từ khái niệm này, có thể hiểu được rằng, gương bát quái được dùng để trấn trạch cho ngôi nhà nếu như buộc lòng phải xây theo hướng xấu. Ở các thành phố lớn hiện nay việc mua phải ngôi nhà có hướng không hợp tuổi với gia chủ là chuyện rất dễ gặp và tất cả mọi người sẽ tìm đến gương bát quái để xua tan đi nỗi lo sai hướng.
Sự phổ biến của gương bát quái hiện nay đã nói lên được việc người dân càng ngày càng quan tâm đến vấn đề phong thủy và coi đó như là một “biện pháp” có công năng thực sự. Giá của những chiếc gương bát quái có giá từ vài chục nghìn cho tới vài triệu tùy vào chất liệu, kích thước và cách chế tác. Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu phong thủy thì dù gương to hay gương nhỏ thì ý nghĩa của chiếc gương bát quái chỉ có một chứ không phải gương đắt tiền thì sẽ có hiệu quả cao hơn gương rẻ tiền. Nhưng phải biết phân biệt từng loại gương bát quái chứ không phải là “mua bừa” rồi về treo trước cửa nhà là có thể trấn áp tà khí, biến hung thành cát.
Dẫu là một vật dụng phong thủy rất phổ biến hiện nay nhưng rất nhiều hộ gia đình đã phạm phải những lỗi cực kì nghiêm trọng. Một trong những lỗi mà mọi người hay mắc phải đó là việc đặt sai vị trí gương bát quái. Để có được sự hiểu biết đúng nhất, chọn đúng loại gương bát quái phù hợp với gia đình mình, mọi người nên phân biệt theo từng loại vận dụng vào thực tế với ngôi nhà của mình đang ở.
Loại gương bát quái bằng đồng được sử dụng đầu tiên, trước khi có các loại gương tráng bạc. Loại gương đồng này được đánh bóng rất nhẵn và được biết đến có tác dụng phản xạ lại các luồng hung khí chiếu đến. Khi treo gương bát quái bằng đồng trước nhà, gia chủ có thể yên tâm về việc sẽ không có bất kì ác khí nào có thể vào được bên trong ngôi nhà của mình. Đồng vốn thuộc hành Kim nên các nhà phong thủy học trước đây đã dùng nó để mà ngăn chặn tà khí. Tuy nhiên, loại gương bằng đồng hiện nay được rất ít gia đình sử dụng và nó cũng không phổ biến như các loại khác.
Loại gương bát quái phổ biến nhất hiện nay đó là gương cầu lõm. Loại gương bát quái này có tác dụng phản xạ uế khí, thu hút vượng khí khắp nơi. Trong kiến trúc, với những ngôi nhà có thiết kế sai khi cầu thang để đối diện cửa chính thì gia chủ luôn treo một gương cầu lõm để có thể ngăn chặn thất tán, trấn hung vượng khí. Thường thì trong xây dựng hiện nay có khái niệm tựa sơn – chiếu thủy, nghĩa là nưng tựa vào núi, mặt chiếu xông biển. Nhưng nếu một trong hai hoặc cả hai yếu tố này đều ở cách xa thì gương bát quái có hình cầu lõm ở giữa sẽ khắc phục được nhước điểm này và hút nó về gần hơn với ngôi nhà của mình.
Một dạng nữa là các gương bát quái có gương cầu lồi ở giữa, đây là loại gương hóa giải sát khí và thường được các hộ gia đình trên thành phố sử dụng rất nhiều. Những trường hợp các ngôi nhà khi xây dựng mà cột đèn, cột điện hoặc một vật gì đó cản trở ở giữa cửa nó được hiểu như điểm hội tụ của sát khí, trong khi đó, gương cầu lồi có tác dụng hóa giải sát khi để giúp cho gia đình tránh được những tai ương từ bên ngoài có thể ập vào.
Đối với những loại gương bát quái phẳng, thì thường được biết có tác dụng hội tụ vượng khí. Gương bát quái phẳng thường được các gia đình có hướng nhà tốt rồi nhưng muốn thu hút vượng khí của đất trười thì sẽ treo gương bát quái phẳng trước cửa nhà hoặc trước cửa sổ với hy vọng sinh khí đất trời sẽ hội tụ vào trong ngôi nhà của mình.
Theo như các nguyên tắc phong thủy hiện nay thì một đại kỵ khi sử dụng gương bát quái đó là sử dụng các loại gương có hình thần tướng cưỡi hổ trong tay cầm binh khí, hoặc hổ phù ngậm binh khí vì những loại gương này luôn mang đến sát khí, nếu như treo ở trước ngôi nhà của mình thì chẳng những không xua đuổi được tài khí, thu hút khí tài mà còn khiến cho nhiều hung khí ở khắp nơi kéo đến. Đây là một trong những lỗi căn bản mà nhiều gia đình đang mắc phải khi luôn cho rằng những loại gương có hình thần tướng hổ phụ là tốt.
Có một số những lưu ý căn bản để các gia đình có thể tìm ra những vị trí tốt nhất cho những chiếc gương bát quái của mình như: không nên treo một chiếc gương ở đối diện cửa ra vào, đặc biệt là phía sau bếp nấu… Tuy nhiên không phải ngôi nhà nào cũng cần phải treo gương bát quái vì nếu như hướng nhà đã hợp với gia chủ thì chẳng cần treo, nếu có treo lên cũng chỉ là “phú quý sinh lễ nghĩa”, thậm chí là còn tạo ra những sung khí cho ngôi nhà của mình. Tuy nhiên, riêng các ngôi nhà nằm gần nghĩa trang, bệnh viện, trường học hoặc những nơi nào sát khí mạnh thì cần phải treo gương bát quái vì nó sẽ ngăn chặn các luồng tà khí.
Hiện nay các loại gương bát quái khi sản xuất có gắn luôn cả điểm mấu để các gia đình cứ thế theo hướng mà treo. Tuy nhiên, khi đặt gương bát quái, mọi người cần chú ý tới vị trí chính diện của cửa để làm sao giúp cho vật dụng phong thủy này phát huy được hết công năng vốn có của nó.
Chính từ việc nhiều người không hiểu cặn kẽ về nguyên tắc hay các quy định phong thủy nên cứ có nhà là mua gương bát quái về treo, thậm chí là mua gương thông thường. Khi mà những gương này chiếu vào nhà đối diện sẽ tạo ra sự xung khắc nhất định, đây là một đại kỵ trong thuyết phong thủy. Nếu như cả hai nhà cùng treo gương thì sẽ chẳng bao giờ tốt vì lúc này nó sẽ tạo ra một cuộc chiến giữa các luồng sinh khí. Cách tốt nhất để giải quyết chuyện này là trồng cây giữa hai nhà, bụi cây sẽ hóa giải mọi xung khắc và cũng giúp cho hai gia đình tìm được hòa khí chung.
Thiên đầu thống là bệnh do các huyết quản trên đầu gây ra. số người mắc bệnh chiếm tỉ lệ từ 5 – 10%, nhi đồng từ 2 – 4%, tỉ lệ nữ mắc bệnh cao hơn 4 lần so với nam. Người bị bệnh thiên đầu thông tình cảm lúc nào cũng căng thẳng, lo lắng, mỏi mệt, gầy mòn. Có một số giấc mơ liên quan đến loại bệnh này:

– Giấc mơ thứ nhất:
Tôi dừng lại trước cổng một trường học. Đằng xa có một cô gái dắt một đoàn trẻ con đi lại. Tôi nghi ngại nhìn cô, cô càng đi gần lại. Trẻ em ồn ào. Cô đi đến trước mặt tôi. Cô rất đẹp, tôi muốn trò chuyện với cô nhưng không sao nói được. Lúc đó mặt trời ra khỏi mây, chiếu xuống đầu tôi, đau ghê gớm. Tức khắc, tôi thấy đầu tôi to ra, như có nhiều con sâu đang bò trong đầu.
– Giấc mơ thứ hai:
Tôi đứng trên một phiến đá, xem hai người đang kéo cưa xẻ đá. Mảnh đá vụn bay khắp nơi. Lúc đó có nhiều người đến khuyên họ, nhưng không ai cản nổi. Tôi ở bên cạnh mà không biết nên nói gì, lấy tay chỉ họ để cưa xuống rồi hoảng hốt bỏ đi.
Giấc mơ thứ nhất có một số biểu hiện của bệnh thiên đầu thống. Tâm lý quá hưng phấn trong giấc mơ biểu hiện ở cảm giác đôi với một cô gái có hào quang xinh đẹp. Cảm thây đầu to lên một chút là bệnh đã phát triển.
Ở giấc mơ thứ hai, kéo cưa là một động tác liên tục, nhất là động tác cưa đá. Người mắc chứng thiên đầu thống thì huyết quản có lúc giãn ra có lúc thu hẹp như động hình của cưa xẻ vậy. Đá cũng cứng như đầu, đá bị cưa thì đầu bị đau.
Giấc mơ thứ nhất là của một nữ sinh. Giấc mơ thứ hai là của một người đàn ông ở độ tuổi sắp về hưu, mỗi giấc mơ đều liên quan đến đặc điểm bản thân
![]() |
| Tên sao | Đẩu phận | Âm dương ngũ hành | Hóa | Chủ | Tứ hóa |
| Thái âm | Trung thiên Đẩu | Âm thủy | Phú | Tài bạch, điền trạch | Ất: kị, Đinh: Lộc, Mậu: Quyền, Canh quý: khôi |
Thuộc tính âm dương của sao Thái Âm là âm Thủy, là tinh túy của nước, là cát tinh trong chòm trung thiên Đẩu, hóa khí là phú (giàu) và tài bạch, chủ cung điền trạch. Tiền tài của sao Thái Âm được do tích lũy dần, một đời tiền bạc ổn định.
Sao Thái Âm và sao Thái Dương đều là ghi biểu trên trời, chia ra trưởng quản đêm (Thái Âm), và ngày (Thái Dương), đồng thời cũng chia ra Thái Dương trưởng quản "sang cả" (quý) và Thái Âm trưởng quản "giàu có (phú). Trong mệnh bàn mức độ sáng miếu hay hãm của sao Thái Âm sẽ thay đổi theo từng cung giờ. Cung Dậu, Tuất, Hợi, Tý là "đắc viên" (sáng); các cung Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi là "hãm địa" (mất sáng); các cung Dần, thân là điểm mọc và lặn".
Sao Thái Dương chủ về phát sớm, sao Thái Âm chủ về phát muộn. Sao Thái Âm chia thành thượng huyền nguyệt (Trăng thượng huyền) và hạ huyền nguyệt (trăng hạ huyền), thượng huyền là cơ yếu, hạ huyền thì luận giảm uy. Theo âm lịch, ngày mồng 1 là ngày sóc, là mất sáng, đến khoảng mồng 8 là trăng thượng huyền, sau đó trăng tròn dần, đến ngày 15 ngày vọng, trăng tròn và sáng. Tiếp theo trăng sẽ khuyết dần, đến khoảng ngày 22 trăng hạ huyền. Sao Thái Âm tốt nhất (tối cát) đối với người sinh vào ngày trung thu tháng 8, tốt kế đó là người sinh vào ngày 15 mỗi tháng. Những người sinh vào trăng thượng huyền, sao Thái Âm nằm ở cung nào, sự việc ở cung đó sẽ dần dần trở nên tốt đẹp. Nếu sinh vào trăng hạ huyền, sao Thái Âm ở cung nào, sự việc ở cung ấy sẽ xấu dần đi.
Nếu sao Thái Âm đồng cung hoặc hội chiếu với các sát tinh như Cự Môn, Kình Dương, Đà La, Liêm Trinh, Thất Sát là tổ hợp bất lợi, chủ về thương tật tàn phế, nhưng nếu là sư tăng, đạo sĩ lại tốt lành. Sao Thái Âm rơi vào hãm địa lại gặp sát tinh, chủ về lộc chỗ khuyết, tiền đến rồi lại đi, một đời vất vả, tốt nhất là đi xa quê hương tìm cơ hội phát triển, đồng thời cần chú ý tới các vấn đề tiền bạc mà gâp phải rắc rối, hơn nữa dễ bị lo âu, mổ xẻ phẫu thuật.
Sao Thái Âm ưa gặp ba sao hóa cát là Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa khá có tác dụng trợ lực cho nó. Sao thái Âm gặp sao Lộc Tồn và Hóa Lộc sẽ tăng thêm độ sáng, một đời được hưởng nhiều nguồn tiền tài không cạn. Sao Thái Âm gặp sao Hóa Khoa thì nhờ tiền tài mà được nổi danh. Sao Thái Âm nếu ở cung hợi thì không sợ sao Hóa Kị, gọi là "biến cảnh" tuy có thay đổi nhưng cát lợi. Người sinh năm Canh không sợ sao Thái Âm Hóa Kị, vì đã gặp sao Thái Dương Hóa Lộc; nếu sao Thái Dương và sao Thái Âm đồng cung hoặc hội chiếu có thể dung Hóa Lộc của sao Thái Dương để khống chế sao Hóa kị của sao Thái Âm, vì vậy sẽ giảm bớt mức độ tổn hại. Nếu sao Thái Âm lạc hãm mà Hóa Kị, do bản thna6 không sáng, nên không có uy hiếp gì đáng kể.
Sao Thái Âm ưa gặp lục cát tinh Tả Phù, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt và Lộc Tồn, nếu ở cung nào miếu địa, vượng địa mà gặp Địa Không, Địa Kiếp, tuy bất lợi cho tiền tài, nhưng không ảnh hướng đến khoa cử danh tiếng.
Sao Thái Âm (mặt trăng) chuyển động quanh trái đất liên tục không ngừng nghỉ, cho nên cũng chủ về bôn ba vất vả, đặc biệt là khi ở vào bốn cung Mã (Dần, Thân, Tỵ, Hợi), mệnh vất vả càng rõ nét. Nếu đồng cung với sao Thiên Cơ cũng mang tính động, dễ có hiện tượng lưu lạc tha hương, mưu sinh nơi xa để tìm hướng phát triển.
Tiền tài của sao Thái Âm là thu nhập cố định, thường làm nhiều nghề, là tiền có được do tích lũy dần dần, chứ không phát tài đột ngột.
Nếu sao Thiên Phủ hoặc hai sao Vũ Khúc, Tham Lang thủ cung mệnh tại sửu hoặc mùi mà sao Thái Dương, Thái Âm kèm 2 cung bên cạnh (giáp cung), là cách cục "Nhật nguyệt giáp mệnh", chủ về một đời giàu có. Nếu sao Thái Âm nhập miếu, thủ mệnh tại cung hợi, lại sinh vào ban đêm là cách cục "nguyệt lãng thiên môn", (trăng sáng cổng trời), là chủ về rất giàu sang. Cung mệnh an tại Mùi, sao Thái Dương tại Mão, sao Thái Âm tại cung hợi nhập miếu hội chiếu, là cách cục "Minh châu xuất hải" (ngọc sáng ra khỏi biển), đường công danh rộng mở. Cung mệnh an tại sửu, mùi, sao Thái Dương và Thái Âm tam hợp, thế vượng hội chiếu; hoặc sao Thái Dương tại thìn, tỵ, sao Thái Âm tại tuất, dậu, đế vượng thủ mệnh và triều chiếu lẫn nhau, là cách cục "Nhật nguyệt tịnh minh" (mặt trăng mặt trời cùng sáng, hoặc gọi là "Đan trì quế trì" thềm son bậc quế), chủ về sớm được công danh. Sao Thái Âm, Thái Dương cùng ở cung sửu, mùi thủ mệnh hoặc chiếu về cung mệnh, là cách cục "Nhật Nguyệt đồng lâm" (mặt trăng và mặt trời cùng đến), sẽ làm quan to. Thái Dương,Thái Âm ở cung điền trạch tại sửu mùi, hoặc chia ra ở hai cung thìn và tuất chiếu về cung điền trạch, là cách cục "Nhật Nguyệt chiếu bích" (mặt trăng và mặt trời soi vách), là mệnh phú hào. Sao Thái Âm và Thiên Đồng cùng thủ mệnh hoặc ở cung điền trạch tại tí, là cách cục "Nguyệt sinh thương hải" (trăng mọc trên biển xanh hoặc còn gọi là "Thủy trùng quế ngạc" nước trong hiện cành quế), sẽ được chức quan cao quý. Các sao Thiên Cơ, Thái Âm, Thiên Đồng, Thiên Lương tụ hội tại ba cung mệnh quan tài là cách cục "Cơ nguyệt đồng lương", thích hợp trong lĩnh vực văn hóa giáo dục, truyền bá. Sao Thái Âm, Văn Khúc cùng đóng tại cung phu thê (sao Thái Âm tất cả sẽ ở thế miếu địa, vượng địa), gặp cát tinh là cách cục "Thiềm cung chiết quế" (bẻ quế cung trăng), nam mệnh sẽ gặp vợ sang, nữ mệnh sẽ sinh quý tử. Cung mệnh an tại Thìn, Mão, sao Thái Âm lạc hãm thủ cung mệnh, sao Thái Dương lạc hãm ở cung thiên di, là cách cục "Nhật Nguyệt phản bối" (Mặt trời, mặt trăng trở mặt) là mệnh vất vả. Sao Thiên Đồng, Thiên Lương lạc hãm thủ mệnh tại cung ngọ lại gặp sát tinh, là cách cục "Nguyệt Đồng ngộ sát", mọi việc không thuận lợi. Sao Thái Âm, Thái Dương lạc hãm ở cung tật ách là cách cục "Nhật Nguyệt tật ách", chủ về cơ thể trở ngại. Sao Thái Âm lạc hãm tại cung mệnh tại cung thìn, sao Thiên Lương ở cung thân (quan lộc) lạc hãm và hội chiếu; hoặc sao Thiên Lương lạc hãm thủ mệnh tại cung thân, sao Thái Âm cung thìn (tài bạch) cũng lạc hãm mà hội chiếu, là cách cục "Thiên lương củng nguyệt" (Thiên lương chầu mặt trăng), chủ về một đời nhiều biến động, phiêu bạt tha hương, dễ mất mạng vì tửu sắc, hoặc phá hoại gia sản.
![]() |
| ► Xem tử vi vận mệnh, tài lộc của bạn qua việc tự xem chỉ tay |
![]() |
4 điều Phật chỉ lối để xóa bỏ phiền muộn![]() |
Xu hướng thiết kế nhà hiện nay hay có kiểu phòng ngủ "cõng" phòng tắm, phòng bố mẹ "chăm" phòng trẻ con,...Thế nhưng theo phong ngủ nên tránh kiểu thiết kế phòng ngủ như vậy (房 中 房) vì nó biểu trưng cho một người thứ ba san sẻ phòng ngủ của bạn. Bố trí nhà ở như vậy sẽ có xu hướng thu hút bên thứ ba xen vào giữa mối quan hệ tình yêu và vợ chồng.
Thế nào là thiết kế Phòng "cõng" Phòng?
Nếu bạn có một căn phòng bên trong phòng ngủ và có cửa ngăn cách hay khung cửa.
Làm thế nào để hóa giải cấm kị Phòng "cõng" Phòng?
- Gỡ bỏ cửa và khung cửa để nó không tượng trưng cho một cánh cửa ngăn cách.
- Nếu không thể gỡ bỏ, bạn có thể treo một dải tiền xu Ngũ đế ở trên cửa, nhằm hóa giải tà khí.
Tiền xu đục lỗ hình tròn tượng trưng cho trời, giữa là lỗ hình vuông tượng trưng cho đất. Cát khí của nó không những làm gia tăng tài lộc mà con đem lại nhiều may mắn về công danh, sự nghiệp và giải trừ tai họa, tiểu nhân…
Tiền xu Ngũ đế là một dải gồm năm đồng tiền cổ của 5 vị Hoàng đế cường thịnh nhất triều đại nhà Thanh là: Thuận Trị, Khang Hy, Ung Chính, Càn Long và Gia Khánh. Theo phong thuỷ, các đồng tiền của các thời đại càng cường thịnh thì khí trường của nó càng mạnh. Mọi người thường hay treo xu ở bàn thờ thổ thần, bỏ trong túi xách, hay treo ở quầy thu ngân, cửa ra vào.
- Ngoài tiền xu, bạn cũng có thể treo một bình hồ lô ở trên khung cửa.
Hồ lô phong thủy là vật khí không thể thiếu để hoá giải hung khí và tăng cường sức khoẻ. Chúng ta thường thấy ông Thọ luôn luôn đeo hồ lô trên người. Vì vậy hồ lô phong thủy là biểu tượng của sự an lành và sức khoẻ.
Hồ lô phong thủy có tác dụng chế sát bằng việc hút “sát khí” kỳ diệu của quả hồ lô. Quả hồ lô sẽ có quỹ đạo hút khí theo hình chữ S, quả hồ lô sẽ hút và phá hủy “tà khí”.
Người tuổi Sửu nhóm máu A có tính cách cẩn thận, làm việc gì cũng suy nghĩ kĩ càng. Tuy nhiên họ có chút bướng bỉnh, chuyện đã quyết định thì sẽ không bao giờ thay đổi.
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
Tết nguyên đán là ngày lễ lớn nhất năm của nước ta, vậy ngoài nước ta thì còn những nước nào đón Tết nguyên đán giống Việt Nam nữa? Vậy có bao nhiêu nước ăn tết giống Việt Nam?
Xem thêm:
+ Xem tuổi xông đất năm 2017 cho 12 con giáp
+ Xem tử vi 2017
.png)
Tết cổ truyền ở Trung Quốc là ngày lễ lớn nhất trong năm. Bắt đầu từ ngày 8 tháng 12 âm lịch những người dân Trung Hoa đã kéo nhau về quê ăn Tết. Vào những dịp như thế nào, những ngả đường trong thành phố đều vắng vẻ. Các bến xe nhà ga tấp nập thậm chí là ùn tắc.
Giống như Tết cổ truyền ở Việt Nam, thì ngày Tết ở Trung Quốc cũng có những món bánh kẹo, phong bao lì xì để mừng tuổi. Ngoài ra, ở đây còn có tập tục đốt pháo vào giao thừa, vừa là báo hiệu thời khắc chuyển giao năm mới vừa có ý nghĩa tâm linh là xua đuổi tà ma.

Những nước đón Tết nguyên đán không thể kể tới Thái Lan. Người Thái Lan gọi Songkran là cách gọi ngày Tết cổ truyền dân tộc. Ngày mừng năm mới của họ là từ ngày 13/4 đến ngày 15/4.
Đây là thời điểm người Thái Lan tỏ lòng kính trọng với Đức Phật, dọp dẹp nhà cửa. Lễ hội năm mới của người Thái được tổ chức cùng với các cuộc thi sắc đẹp cũng như các cuộc diễu hành và lễ hội té nước.

Cũng giống như Thái Lan, Hàn Quốc là các nước ăn Tết nguyên đán giống Việt Nam. Tết Nguyên Đán theo người Hàn gọi là Seollah hay Won Dan. Cũng như người Việt Nam, người Hàn Quốc cũng quan niệm sau một năm tất bật lo loan thì dịp cuối năm là dịp mọi người sum họp bên nhau, thưởng thức các món ăn truyền thống và thờ cúng tổ tiên.
Phong tục tết truyền thống của người dân Hàn Quốc thường là nổ thanh tre trong nhà vì quan niệm tiếng nổ của các thanh tre sẽ khiến ma quỷ sợ bỏ chạy. Người dân Han Quốc thường không ngủ và đêm giao thừa bởi theo truyền thuyết của họ thì nếu ngủ vào đêm giao thừa thì khi thức dậy sẽ bị bạc trắng cả lông mi, đầu óc kém minh mẫn.

Trước kia người Triều Tiên đón tết nguyên đán vào tháng 10 và tháng 11, những năm gần đây mới chuyển dần sang ngày mồng Một tháng Giêng Âm lịch.
Ngày tết Nguyên Đán của người Triều Tiên không thể thiếu hai phong tục là “đuổi quỷ” và “đốt tóc”. Để đuổi quỷ người ta nhét tiền vào người nộm bằng rơm để sáng mồng một vứt ra đường với hy vọng tống khứ ma quỷ, nghênh đón điềm lành. Với tục “đốt tóc” thì sẽ thu gom tóc rụng trong năm, vào chiều mùng 1 sẽ đem đi đốt để cả năm được bình an, xua đuổi bệnh tật. Tết của người Triều Tiên kéo dài hàng tuần với nhiều phong tục đặc sắc và mang đậm nét truyền thống của dân tộc.
Tết Losar là một trong những ngày lễ quan trọng của đất nước Bhutan được tổ chức trong khoảng 15 ngày. Ba ngày đầu tiên của năm mới là những ngày quan trọng nhất.
Cũng giống như những nước có Tết Nguyên Đán thì những người dân Bhutan cũng có những phong tục như dọn dẹp nhà cửa vào năm mới, bày biện hoa quả để tạ ơn thần linh và tổ tiên.
Các nước đón Tết nguyên đán giống Việt Nam bao gồm 5 nước là Trung Quốc, Triều Tiên, Bhutan, Hàn Quốc, Thái Lan là những nước có ăn Tết Nguyên Đán.
Xem thêm những bài viết hữu ích khác trên: Phong thủy số
: Những câu chúc tết hay Những câu thơ chúc tết hay nhất Tết 2017
1./ Bán khoán trẻ lên chùa là như thế nào?
Không biết quan niệm bán khoán trẻ lên chùa để cho dễ nuôi có từ bao giờ. Nhưng dường như quan niệm này đã trở thành như một tín ngưỡng dân gian. Đây là một hình thức gửi gắm về mặt tâm linh.
Từ xưa đến nay, khi sinh con ra, đứa trẻ hay đau yếu, khóc lóc, còi cọc. chậm lớn mà không phải là do bị bệnh từ thân. Họ thường truyền tai nhau bảo những đứa trẻ đó phạm vào điều kỵ nào đó nên rất khó nuôi và hay ốm đau. Khi đó, nhiều gia đình mong muốn được nương nhờ vào Phật pháp, vào Thánh, vào sức mạnh của một đấng tối cao che chở cho con cái của họ. Cũng bởi thế mà tín ngưỡng bán khoán diễn ra khá phổ biến ở nhiều địa phương trên cả nước, nhất là với khu vực miền Bắc.

Như trường hợp của chị Hương (Gia Lâm, Hà Nội), đứa con trai của chị từ lúc sinh ra tới giờ ngày nào cũng quấy khóc, không chịu ăn, ngủ nhiều như con nhà người ta. Thấy con như vậy, cả gia đình chị mất ăn, mất ngủ, thậm chí bà nội cháu chạy khắp nơi xem xét, làm đủ mọi cách, kể cả lên chùa thắp hương cầu an. Nhiều người biết đã khuyên bà nên bán khoán cháu lên chùa cho dễ nuôi. Thế là cả gia đình bế cháu lên ngôi chùa gần nhà làm lễ bán khoán cho cháu với mong muốn cháu ăn ngon ngủ yên, dễ nuôi.
Hay có những đứa trẻ sinh vào giờ kỵ, ngày phạm (tức ngày mùng 1, 5, 8, 15, 23, 24, 28 và ngày 30 Âm lịch). Nhiều gia đình cho rằng, đó là những ngày xấu theo quan niệm dân gian, người dân không nên ra ngoài đường, để tránh sự quở trách của “quan đi tuần”?! Những đứa trẻ này cho dù bình thường, không ốm đau gì nhưng vẫn được bán khoán lên chùa để tránh những điều không tốt và dễ nuôi.

Bà Lâm ở Đông Hưng, Thái Bình là trường hợp như vậy. Bà cho biết bà có hai đứa cháu nội sinh ngày mồng 5 và 23 bà đều bán lên ngôi chùa gần nhà ngay từ khi chúng đầy tháng. Và “Nhờ Đức Phật che chở, đứa nào cùng dễ nuôi, ngoan ngoan, thông minh” bà cười bảo thế. Mấy hôm nay, bà lên Hà Nội thăm đứa cháu ngoại mới sinh và tiện thể giúp vợ chồng con gái bán đứa trẻ lên chùa vì đứa trẻ cũng sinh 15 hôm nọ.
Bên cạnh đó còn rất nhiều trường hợp khác đứa trẻ cũng được bán khoán lên chùa để mong muốn giải những điều không hay và dễ nuôi. Như trường hợp đứa trẻ xung khắc với tuổi bố mẹ, ông bà. Hay chỉ là một lần đi xem bói, xem tử vi, thấy thầy bảo rằng “đứa trẻ cao số, sau này sẽ khổ” hoặc “tán tài của cha mẹ” tức bố mẹ làm ăn sẽ không tốt (?!)
2./ Các hình thức bán khoán trẻ lên chùa
Hiện nay, có hai hình thức bán khoán con lên chùa:
- Thứ nhất: Bán khoán đến hết năm 13 tuổi, sau đó “chuộc” con ra.
Theo quan điểm dân gian, năm 13 tuổi là năm tuổi hạn. Qua năm năm này, đứa trẻ sẽ hết “đốt” trẻ con, hết vận hạn nên có thể chuộc về và nuôi như những đứa trẻ bình thường.
- Thứ hai: Bán khoán trọn đời.
Có nghĩa là bán khoán cả đời đứa trẻ trên chùa, không bao giờ chuộc về cả. Trường hợp này thường đối với những đứa trẻ được coi là “cao số” hay “có số khổ cả đời”.

Gia đình nào muốn bán khoán con, có thể lên bất kỳ ngôi chùa nào, hoặc chọn chùa ở gần nhà, hỏi sư thầy về mặt thủ tục và thời gian thực hiện. Khi đã bán khoán con, bố mẹ cũng không nhất thiết là đi chùa đều đặn hàng tháng. Quan trọng nhất, bố mẹ và con nên làm nhiều việc thiện, giúp đỡ mọi người. Nếu có thời gian rỗi, vào ngày mùng Một hay ngày 15 hàng tháng, tính theo lịch âm, hoặc bất cứ khi nào có thời gian rảnh, các bố mẹ có thể lên chùa vãn cảnh cầu an cho cả gia đình.
3./ Thực tế và hiệu quả sau khi bán khoán con lên chùa?
Tuy nhiên, sau khi bán khoán con lên chùa có dễ nuôi hay không, đến nay chưa được xác nhận một cách chính xác và cụ thể. Thậm chí, nhiều người còn lo ngại lợi bất cập hại, bán khoán con lên chùa, sau này lớn lên, con sẽ gặp lận đận trong tình duyên và hôn nhân?

Chị Nguyễn Thu Linh (Vĩnh Hồ, Hà Nội) cho biết, cậu con trai của chị khá nghịch. Hồi nhỏ, khi thấy con hay ốm đau, người lúc nào cũng xanh lét như tàu lá chuối, chị đã đưa con đi khám hết bệnh viện Nhi Trung ương đến viện Dinh dưỡng Quốc gia để cải thiện thể trạng. Thế nhưng, con chị vẫn thường xuyên đau ốm, còi cọc. Mãi đến khi con được 5 tuổi, chị đi xem “thầy” và được khuyên nên bán khoán con vào cửa Đức Ông ở chùa để ngài che chở. Tuy nhiên, theo “thầy” thì chị chỉ cần bán con đến hết 12 tuổi và “chuộc” con về. Theo lịch hẹn, đến Rằm tháng Hai âm lịch, chị sẽ đến chùa làm lễ “chuộc” con.
Theo chị Linh, thủ tục bán khoán cho con rất đơn giản. Chỉ cần sắm mâm lễ theo lời thầy dặn, còn việc thủ tục, cúng bái sẽ được thầy lo toàn bộ. Chi phí để làm lễ bán khoán khoảng 2 triệu đồng. “Sau khi làm lễ bán khoán, thầy có đưa một tờ giấy màu vàng (kiểu như tờ sớ), trong đó có ghi tên của đứa trẻ đã được “thay tên đổi họ” cho gia đình mang về. Một nguyên tắc bất di bất dịch là gia đình phải mua lễ và phải đặt tờ giấy đó lên bàn thờ gia tiên thắp hương trong vòng 100 ngày. Khi “chuộc” con, gia đình nhất định phải mang theo tờ giấy này”, chị Linh chia sẻ.
Cũng theo chị Linh, từ khi bán khoán cho con, đứa trẻ ít ốm đau hơn nhưng người lúc nào cũng xanh xao, gầy guộc. Chị Linh bảo rằng: “Không bán khoán cho con thì không yên tâm. Nhưng bán khoán có khiến con dễ nuôi hơn hay không thì tôi cũng không biết thực hư thế nào. Nghe bà ngoại bảo, sau này lớn lên, con sẽ gặp lận đận trong tình duyên và hôn nhân nữa”, chị Linh nói.
Các nhà nghiên cứu văn hóa, tín ngưỡng dân gian cho rằng:
Bán khoán con lên chùa là việc xuất phát từ tâm linh, bắt nguồn từ sự thành tâm hướng thiện và mong con cái gặp nhiều may mắn. Bán khoán con lên chùa có dễ nuôi hay không, đến nay chưa được xác nhận một cách chính xác và cụ thể. Đây là vấn đề thuộc về tâm lý của mỗi gia đình.

Với các bé mới sinh ra, hay ốm đau lặt vặt: mọc răng sẽ sốt, rối loạn tiêu hóa, dễ viêm phổi hay viêm phế quản. Khi bé lên 3 tuổi, lúc đó bé đã quen với môi trường sống, sức đề kháng tốt hơn. Bé sẽ không ốm đau liên tục hay ốm vặt liên miên như hồi bé tí. Lúc đó chắc chắn là bé sẽ nuôi hơn rồi.
Trong việc nuôi dạy con, bố mẹ chú ý giữ gìn cho con ăn sạch và không tiếp xúc với môi trường dễ khiến con nhiễm bệnh. Bố mẹ nên dành nhiều thời gian chăm sóc, quan tâm dạy dỗ con. Làm được những điều này, dù có bán khoán hay không bán khoán con lên chùa, con cũng đỡ ốm đau, lớn lên ngoan ngoãn, khỏe mạnh.
Nếu có thời gian rỗi, vào ngày mùng một hay ngày 15 hàng tháng, tính theo lịch âm hoặc bất cứ khi nào có thời gian rảnh, các bố mẹ có thể lên chùa vãn cảnh cầu an cho cả gia đình.
Còn những người trong cuộc, những ngôi chùa nhận những đứa trẻ bán khoán nói sao?
Đề cập tới vấn đề này, Thượng tọa Thích Thiện Bảo, Trưởng Ban Văn hóa Thành hội Phật giáo TPHCM chia sẻ:
Việc bán con chỉ giải quyết về mặt niềm tin tôn giáo. Các thủ tục bán con thường chỉ bằng miệng, bố mẹ thấy con khó nuôi thì đưa cháu lên chùa. Tại đây thầy trụ trì sẽ chọn ngày và lên chánh điện làm lễ. Buổi lễ diễn ra cũng rất nhanh chóng, thầy thắp hương và bạch Phật, sau đó dùng nước sái tịnh và lấy tay xoa đầu cho bé.
Sau đó thầy đặt cho một cái tên (tên này khác với ý nghĩa của pháp danh). Đây chỉ là cái tên của thầy đặt cho để công nhận bé là người của nhà chùa. Một số thầy cũng có thể đưa cho bé một bộ đồ vàng có dấu nhà chùa hay tượng Phật để đeo…
Sau khi làm lễ xong, bố mẹ bé có thể đưa bé ra về. Việc làm này chỉ nhằm giúp bố mẹ trẻ nuôi bé dễ hơn. Việc bán con này phổ biến diễn ra ở các vùng nông thôn, đặc biệt là các tỉnh miền Bắc.

Cũng theo Đại đức Thích Bản Quyền - trụ trì chùa Phúc Long (Hải Phòng), có nhiều gia đình bán khoán con cả đời và không chuộc ra. Việc bán con này chỉ là hình thức nói miệng để nương nhờ oai đức của chư Tăng, Thiên thần và sự gia hộ của chư Phật cho đứa trẻ. “Gửi trẻ vào cửa Phật, đặt một cái tên khác để giúp cho bé dễ nuôi chứ có phải đi tu đâu mà ảnh hưởng đến hôn nhân và công danh của bé sau này”.
Tuy việc làm này hỗ trợ niềm tin nhưng cũng không nên quá lạm dụng. Có những gia đình vì quá tin vào thầy bói, khi nghe phán là cháu khắc với cha mẹ, sinh cháu ra sẽ làm ăn lụn bại hay đoản mệnh… thì tìm cách bán khoán cháu, để chùa nuôi là điều không nên./
Theo Văn hóa dân gian.
|
| Bắt chước đúng cách là một trong các bí quyết tạo ra mối quan hệ tốt |
Nếu là lãnh đạo, muốn phát triển mối quan hệ và tạo ra không khí vui vẻ với cấp dưới đang trong tâm trạng lo lắng, bạn có thể bắt chước các tư thế của nhân viên đó.
Tương tự, nếu là nhân viên đầy triển vọng, bạn cũng có thể bắt chước các điệu bộ của cấp trên để thể hiện sự đồng tình của mình với ý kiến của sếp.
Bằng cách bắt chước các điệu bộ và tư thế tích cực của người khác, chúng ta có thể gây ảnh hưởng tới họ. Điều này sẽ tạo ra tâm lý thoải mái cho đối phương và giúp họ dễ tiếp thu khi nói chuyện. Bên cạnh đó, nó còn giúp đối phương nhận thấy rằng, bạn hiểu quan điểm của họ.
Tuy nhiên, điệu bộ này sẽ gây bất lợi cho bạn nếu không áp dụng đúng đối tượng. Vì vậy, trước khi bắt chước ngôn ngữ cơ thể của người khác, bạn cần xem xét mức độ mối quan hệ giữa 2 người.
Đặc biệt, trong trường hợp là cấp dưới, bạn bước vào phòng và được giám đốc mời ngồi. Sau đó, họ làm điệu bộ thể hiện sự thống trị: dựa lưng vào ghế, đan 2 tay vào nhau đặt sau gáy, bắt chân chữ ngũ. Nếu bạn bắt chước tư thế đầy uy quyền này khi đang thỏa thuận vấn đề tăng lương, chắc chắn bạn sẽ nhận được kết quả không như ý. Bởi hành động này sẽ khiến vị giám đốc cảm thấy bị xúc phạm.
Ngoài ra, bắt chước còn có tác dụng đe dọa hoặc tước "vũ khí" của người cấp cao hơn đang cố giành quyền kiểm soát. Do đó, bạn có thể sử dụng điệu bộ này để gây lúng túng cho người khác và buộc họ phải thay đổi tư thế. Tuy nhiên, nên nhớ, đừng bao giờ áp dụng điệu bộ đó với sếp của bạn.
(Theo Cuốn sách hoàn hảo về ngôn ngữ cơ thể)
Trong tác phẩm kinh điển “Tam Quốc diễn nghĩa”, trong các nhân vật chính thì Tôn Quyền được khắc họa không mấy thành công. Tôn Quyền không có được cá tính hoặc tài năng nổi trội như Lưu Bị và Tào Táo, cũng không có được khí khái anh hùng. Đại nghiệp của ông khiến cho người đọc cảm thấy phần nhiều do may mắn.
Thực ra, nhân vật lịch sử Tôn Quyền cũng không thừa hưởng được sự dũng cảm cương nghị của cha, không có được nhuệ khí như anh trai Tôn Sách, không có được sự gian hùng ngang dọc Nam Bắc mà lại tài hoa văn chương như Tào Tháo, không được như Lưu Bị khi lập đại nghiệp trong loạn thế anh hùng. Điểm nổi bật duy nhất khiến Tôn Quyền không lẫn với ai đó chính là tướng mạo đặc biệt với mắt xanh ngọc bích và hàm râu tím.
Công bằng mà phán xét, trong thời loạn, một quân vương trong 24 năm đã xây dựng được đại nghiệp hưng thịnh, tạo thế vững vàng như long hổ ở Giang Đông thì Tôn Quyền đúng là một đại anh hùng có tài hoa chính trị phi phàm.
Ông kế thừa cơ nghiệp từ cha anh không hề phải kinh qua sự tôi luyện nơi sa trường ác liệt nhưng ông đã biết dùng những võ tướng, đại thần có năng lực làm kẻ tận trung với mình khiến cho Giang Đông trở thành vùng bảo địa hội tụ của các hiền tài trong thiên hạ.
Ông cũng là người dũng cảm khi bản thân thực sự không có tài năng quân sự nhưng lại dám tin tưởng giao cho Chu Du, Lã Mông, Lục Tốn quyền thống soái quân đội cực lớn. Đó chính là cái tài của người làm chính trị.
Ông hiểu rõ nhất những nhân tài này nhất mực trung thành với mình. Chu Du và Lục Tốn tình như anh em ruột, Lã Mông và Lục Tốn lại do chính tay ông đề đạt nâng đỡ, họ đều là những người nợ ân tình thâm sâu với Tôn Quyền, nay lại được trọng dụng nên khó mà tạo phản. Chính nhờ sự trợ giúp hết lòng của những anh tài này mà Tôn Quyền mới có thể hùng cứ tại Giang Đông.
Xét từ góc độ lịch sử, hàng loạt các quyết định và hành động của Tôn Quyền đã chứng tỏ rằng ông ta chính là một hào kiệt trong thời loạn lạc. Ngay đến Tào Tháo, Lưu Bị người gian xảo kẻ dũng mãnh nhưng cũng không thể ngờ được rằng thất bại thê thảm nhất cuộc đời họ chính là để Tôn Quyền - một kẻ vãn bối vốn không được đánh giá cao đã xưng vương một cõi.
Tôn Quyền khéo léo, biết khuất phục cũng biết vươn mình, đầy khí khái của một đấng đại trượng phu. Trước khi xưng đế, ông đã làm chư hầu cho Ngụy. Tuy một số người coi ông là kẻ mặt dày vô xỉ, nhưng thực chất đây chính là mưu kế chính trị cao siêu của ông ta. Giữa buổi loạn lạc, Tôn Quyền vì muốn tránh nguy cơ rơi vào cạm bẫy trong trận chiến giữa hai bên trong việc tranh giành Kinh Châu nên đã chịu nhục trong vòng gần 10 năm để làm thần cho Ngụy.
Thực ra sự đầu hàng này chỉ là danh nghĩa, trên thực tế Tôn Quyền không hề chịu sự điều khiển của Tào Tháo về chính trị, kinh tế, quân sự và ngoại giao. Năm 24 Kiến An tức năm 219, Tôn Quyền sau khi giết chết Quan Vũ. Nguyên niên Hoàng Sơ tức năm 220, Tào Phi cướp ngôi nhà Hán, Tôn Quyền ngay lập tức cống tiến để biểu thị thần lễ. Năm thứ hai Hoàng Sơ, Tôn Quyền lại tiếp tục cử sứ giả đến xưng thần.
Tào Phi không bằng lòng với mối quan hệ nước chư hầu hữu danh vô thực nên đã yêu cầu Tôn Quyền đưa con trai đến làm con tin để biểu thị sự trung thành với nước Ngụy. Tôn Quyền không muốn để con trai mình làm con tin lại không muốn rơi vào ranh giới giữa cuộc chiến hai miền Nam Bắc nên đành phải tìm cách trì hoãn.
Năm thứ ba Hoàng Sơ, Tào Phi cuối cùng không chịu nổi Tôn Quyền đã cho ba đại quân xuống phía Nam phạt Ngô. Lúc này tướng Lục Tốn của Tôn Quyền vừa đại phá Lưu Bị giành chiến thắng ở trận chiến Di Lăng, giải quyết được sự uy hiếp từ phía Tây. Thừa thế xông lên, Tôn Quyền lập tức phản kháng lại Tào Phi, mối quan hệ chư hầu giữa Ngụy Ngô chính thức tan vỡ.
Tôn Quyền cuối cùng cũng đăng cơ hoàng vị, chính thức xây dựng nước Ngô. Trong thời gian chấp chính, ông cử người vượt biển. Ông cho thiết lập nông quan, thực hiện chính sách đồn điền, phát triển kinh tế, phát triển mở rộng lãnh thổ đến Giang Nam và một lần nữa ông lại thể hiện được tài năng trị quốc vượt bậc.
Đối với bất cứ một nhân vật lịch sử nào, đều cần phải nhìn nhận và đánh giá một cách khách quan. Tuy cuối đời Tôn Quyền tự dưng trở nên ngờ vực đa nghi, giết người vô độ, đưa chính cục của Đông Ngô vào thế hỗn loạn, nhưng tổng thể mà nói Tôn Quyền vẫn được coi là một đời anh hào, một chiến lược gia chính trị kiệt xuất trong lịch sử của Trung Quốc.
Nguồn: keinthuc.net.vn
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thiên Nga (##)
Ngoài ra, những dấu hiệu sau đây cũng liên quan khá mật thiết tới việc giải đoán thọ mạng:- Cổ phía dưới có thêm lớp da trễ xuống vai ( trường hợp khí người đứng tuổi và mập ).- Nếu là lộ hầu thì âm thanh phải trong trẻo và cao- Xương Lưỡng quyền vững vàng và ăn thông lên ngang phía- Xương hai bên đầu phía trên và sau tai nổi cao rõ rệt- Ngũ nhạc đầy đặn và đúng cách tục- Đến tuổi trung niên ( khoảng ngoài 30 tuổi ) Tai mọc lông dài hoặc Lông mày bắt đầu mọc dài và sắc thái tươi nhuận- Lưng rộng, bụng dầyNgười có đầy đủ tất cả các điều kiện kể trên chắc chắn là tướng trường thọ trong trường hợp bình thường.
Tướng người non yểu
Một cá nhân bị xem là tướng non yểu nếu đồng thời phạm bảy khuyết điểm sau đây :
- Lông mày đẹp đẽ về hình thức nhưng hỏng về thực chất ( chẳng hạn sợi thô vàng, sắc khô héo ), Lông mày mọc xệ xuống phía dưới mi cốt, dáng vẻ lạnh lẽo.- Tai nhỏ, úp xuống phía trước mặt, Tai quá mềm và sắc không xạm, tai quá mỏng, nhĩ căn bạc nhược.- Mũi gãy khúc, Sơn căn gập xuống, Chuẩn đầu nhỏ nhọn, khiến mũi trở thành liệt thế.- Đầu nhỏ, cổ dài, trán nhỏ nhọn và nổi gân xanh, thiếu niên mà đi hoặc ngồi co đầu rụt cổ.- Nhân trung ngắn nông cạn- Tiếng nói đứt đoạn, giọng nói gấp mà hời hợt như người thiếu hơi, âm điệu buồn tẻ như người không có sinh khí.- Ánh mắt đờ đẫn như kẻ si ngốc hoặc người ngái ngủ, ngồi thì lưng như gục ngã, đứng nhìn thì chân không có gân cốt, đi thì thân hình xiêu vẹo, bước chân thiếu vững vàng.
Tất cả những dạng thức trên đều là biểu hiện của “Thần suy nhược, hôn ám đoản xúc” nên không thể nào sống quá 50 tuổi. Bởi lẽ đó, có người tuy về hình tướng rất đẹp đẽ phương phi mà chết yểu chỉ vì khí chất không quân xứng.
Ngoài cách cục tổng quát về non yểu kể trên, tác giả Phong Vân Tử trong cuốn Giám Nhân Thuật còn liệt kê một vài hạn tuổi non yểu với một số hiệu đặc biệt rất dễ nhận xét như sau :
a ) Chết yểu trong vòng 10 tuổi trở lại : Phàm tướng người non yểu trong tuổi trên được thể hiện qua đầu và trán nhỏ quá mức so với thân mình, trán nổi gân xanh quá rõ rệt, phía sau đầu xương bị lõm xuống. b ) Chết yểu trong vòng 20 tuổi trở lại : Tác người lớn con mà đầu lại nhỏ bé cộng thêm với tiếng nói quá nhỏ là tướng khó sống qua năm 15 tuổi. Tai mỏng như giấy, nhĩ căn bạc nhược, da mỏng và bóng như bôi dầu khó vượt qua quãng 16, 19 tuổi, Mắt lồi mà lòng đen ít, lòng trắng nhiều, nhĩ căn xạm đen, tai mỏng và hướng về phía trước, khó sống qua tuổi 20.
c ) Chết yểu trong vòng 30 tuổi : Lông mày ngắn, mặt ngắn không thọ quá 25 tuổi. Mày thưa thớt, xâm phá Aán đường, mắt không có thần, môi xám đều là tướng đoản thọ trong vòng 26 tuổi. Mắt nhỏ, quyền thấp, xương thô, thịt teo mà hạ đình quá dài nhọn: không quá 27 tuổi. Lông mày giao nhau mà mắt thoát thần, môi vẩu mà môi trên lại ngắn, da mặt quá mỏng đều là tướng khó sống được quá 30 tuổi.
d ) Chết yểu trong vòng 40 tuổi : Mắt lồi, lông mày ngắn, mà đại các quá dài không tương xứng với khuôn mặt khó sống qua 32 tuổi. Mắt thì lúc như lộ chân quang, lúc thì lại như chìm xuống. Lông mày vừa thô vừa ngắn lại thêm hạ đình dài hẹp: không quá 34 tuổi. Mắt lộ mà lộ hầu, xương nhỏ mà người mập: không quá 36 tuổi. Mắt lộ hung quang hừng hực, tính tình thô bạo thì dẫu mũi cao, sơn căn không gẫy khúc thì cũng chỉ đến năm 39 tuổi khó tránh được số trời.
e ) Tướng mạng vong trong khoảng 50 tuổi : Con người quá 50 tuổi mà chết thì theo câu nói vẫn thường truyền tụng “nhân sinh thấp thập cổ lai hy" không còn gọi là yểu tử nữa mà nên gọi là mạng vong hay thọ chung. Thông thường, kẻ sống mũi không ngay ngắn (có chiều hướng lệch sang bên trái hay bên phải ) ít khi sống quá 42 tuổi. Mắt nhỏ, mày co rút lại không tương xứng với khuôn mặt, sơn căn lại đầy đặn thường sống đến khoảng 42, 44 tuổi. Bắt đầu phát phì mà thần khí lại có vẻ co rút thì khó qua được tuổi 49 và 50.
1) Nhân tướng học & tiên liệu vận mạng
2) Ứng dụng Nhân tướng học vào việc xử thế
3) Tướng Phát Đạt
4) Tướng Phá Bại
5) Thọ, Yểu qua tướng người
6) Đoán tướng tiểu nhi
7) Phu Luân về tướng Phụ nữ
8) 36 tướng hình khắc
9) Những tướng cách phụ nữ
10) Nguyên lý Âm Dương Ngũ hành
11) Ứng dụng của Âm Dương trong Tướng Học
12) Tương quan giữa Sắc và con người
13) Ý niệm Sắc trong tướng học Á Đông
14) Bàn tay và tính tình
15) Quan điểm của Phật giáo về vấn đề xem Tử Vi - Bói Toán
(Trích Lược Tử Vi : Tuổi Mùi, năm nay số mệnh ra sao? 12 Con Giáp và những đặc tính)

* Chọn mua cửa sắt chống trộm
– Xem chất liệu: Một cánh cửa chống trộm đạt tiêu chuẩn chất lượng nhất định phải được làm từ tấm sắt tây (tôn) dầy; trong khi đó, loại cửa giả kém chất lượng thường được làm từ tấm sắt mỏng. Để phân biệt, hãy thử ném một vật cứng vào cửa, nếu phát ra âm thanh leng keng giòn giã thì đó là cửa đạt tiêu chuẩn, còn nếu khô cứng thì đó là cửa giả. Ngoài ra, lớp dưới cùng của loại cửa đạt tiêu chuẩn được quét một lớp sơn chổng gỉ; trong khi đó, loại cửa giả chỉ được phủ một lớp sơn thường trên bề mặt. Khi kiểm tra, chỉ cần rạch một đường nhỏ trên bề mặt phần dưới chân cửa sẽ nhìn rõ phía dưới đó có lớp sơn chống gỉ hay không.
– Xem cách lắp đặt: Khi lắp cửa, bốn góc khung cửa và bốn góc cánh cửa sắt phải chênh nhau 45 độ, như vậy mới có thể làm cho cửa sắt thêm phần kiên cố. Còn đối với loại cửa giả, do gia công đơn giản nên khi lắp đặt, điểm nối giữa khung cửa và cánh cửa luôn là một góc vuông.
– Xem khóa cửa: Nếu tấm cửa sắt đủ rộng và khít với mép cửa, không nhìn thấy chìa khóa bên trong, đồng thời nếu đứng bên ngoài không cách nào tiếp cận được thì chứng tỏ khóa cửa an toàn. Nếu xảy ra trường hợp ngược lại thì tức là khóa cửa lắp không đạt yêu cầu.
– Xem mối hàn điện: Mối hàn phải khít chặt, đặc biệt là mốỉ hàn mũ ốc vít nối giữa khung cửa với bản lề.
– Xem khoảng cách giữa các thanh sắt: Khoảng cách thích hợp nhất là chừng 10 cm. Nếu khoảng cách quá lớn thì cửa sẽ không phát huy được hết tác dụng chống trộm.
* Cách chọn mua cửa
– Cửa nhà phải bền đẹp, độ lớn phù hợp với ngôi nhà; có khả năng chống thấm, chống ẩm, giữ ấm và cách âm.
– Nếu mua cửa gỗ thì nên chọn loại có kích thước tiêu chuẩn để đạt được độ mĩ quan thống nhất. Đồng thòi cần kiểm tra thật kĩ xem kích thước của cửa có đạt tiêu chuẩn không, tỉ lệ ngậm nước có phù hợp với điều kiện khí hậu trong vùng hay không và bề mặt cửa có trơn nhẵn, bằng phẳng không.
– Kiểu dáng của cửa phải thống nhất vói phong cách chung của các đồ dùng trong nhà. Nếu gia đình sử dụng các đồ dùng kiểu phương Tây thì thích hợp đi với những chiếc cửa gỗ có các đường nét trang trí kiểu phương Tây.
ện môi trường nhà ở của mình.

Thông thường, những nhân tố được mọi người xem xét đến trong nhu cầu chọn nơi ở gồm có vị trí địa lý, điều kiện giao thông, kiến trúc xung quanh, công tác quản lý, môi trường cây xanh và giá tiền. Cùng với sự phát triển chung của thời đại, các nhân tố mà mọi người thường xét tới khi lựa chọn nhà ở ngày càng nhiều, yêu cầu đối với nhà ở không còn giới hạn bởi các phương diện kể trên nữa. Sự tốt, xấu về phong thủy nhà ở đã trở thành một trong những nội dung trọng điểm cần được cân nhắc lựa chọn làm sao để có một nơi ở tốt nhất.
Thủ tướng Vương quốc Anh trước đây ông Churchill từng nói rằng: “Con người tạo nên nhà ở và nhà ở cũng tạo nên con người”. Nghĩa là vấn đề nhà ở có ảnh hưởng rất lớn đến con người. Trên thực tế, nhìn từ giác độ phong thủy học, vấn đề ảnh hưởng đến tính cách, sức khỏe, vận mệnh của con người không chỉ riêng ở bản thân ngôi nhà, ngoài nhân tố kết cấu ra còn là các nhân tố khác như môi trường bên ngoài và những vấn đề trong chính trang, bài trí nội thất.
Môi trường bên ngoài nhà ở gồm hai phần, một là mồi trường bên ngoài của khu vực nơi có nhà của mình, có thể gọi đây là môi trường lớn; hai là địa hình, địa thế, quy hoạch và bố cục của khu vực nơi có nhà. Kết cấu và bài trí bên trong nhà ở là môi trường nhỏ. Nhìn từ tống thể, khi nghiên cứu phong thủy về môi trường nhà chúng ta cần xem xét cả ba phương diện trên.
Thiết kế nhà hiện nay đang thịnh hành kiểu có phòng khách lớn và phòng ngủ nhỏ. Nhà ở thiết kế kiểu này không chỉ hợp lý về phong thủy học mà đối với vấn đề đường sinh học cũng có đủ cơ sở luận chứng. Trong phong thủy học, bốn chữ “tụ khí tàng phong” có thể nói là thiên cơ.
Khoa học hiện đại đã chứng minh bề ngoài cơ thể con người ta luôn tồn tại khí trường mà mắt thường không thấy được, nó được hình thành từ sự lưu động không ngừng của năng lượng do bản thân cơ thể con người sản sinh ra, năng lượng này lưu động giao thoa và tạo nên một loại khí có tên là Andes rất cần cho duy trì sự sống (khí này đã được chụp lại bằng kỹ thuật nhiếp ảnh đặc biệt). Loại khí này phù hợp với sự ngưng tụ chứ không hợp với sự phân tán, giống như việc ta trùm lên người một chiếc áo giáp để tạo một lớp bảo vệ cho cơ thể vậy. Nếu như loại khí này bị tán phát và mất đi đến một mức độ nào đó, cơ thể con người sẽ bị các nhân tố xấu của môi trường bên ngoài xâm phạm, từ đó phát sinh bệnh tật. Người xưa trong vân đề môi trường nhà ở từng nói: “trạch tiểu nhân đa khí vượng” – có nghĩa nhà ở nhỏ mà người trong nhà nhiều là có vượng khí (tốt). Điều này vô tình hoàn toàn phù hợp với lý luận tụ mà không tán của khí trường cơ thể người.
Thiết kế nhà ở không nhất thiết chỉ thiên về to lớn, mà vị trí phòng ngủ cũng rất quan trọng. Phòng ngủ trong nhà tốt nhất là được bố trí ở vị trí sao tốt, như vậy không chí có tác dụng “khí vượng tụ khí” mà còn có tác dụng hỗ trợ vận khí cho người ở.
Sao tốt có tác dụng hỗ trợ vận khí, có 3 sao tốt là “Sinh khí”, “Thiên y” và “Diên niên”. Thế nhưng, vị trí của ba sao này lại không cố định, muốn phán đoán được vị trí của chúng phải căn cứ vào hướng cửa chính, tức là “cửa di chuyến, sao di động được định ở trời đất”, nghĩa là “hướng của cửa khác nhau, vị trí của sao cũng khác nhau, bố cục bên trong nhà cũng theo đó mà thay đổi”.
Đời Tam Vương, nhà Hạ, chuộng mẫu đen, nên chọn tháng đầu năm, tức tháng Giêng, nhằm tháng Dần.
Nhà Thương, thích màu trắng, lấy tháng Sửu (con trâu), tháng chạp làm tháng đầu năm.
Qua nhà Chu (1050-256 trước công nguyên), ưa sắc đỏ, chọn tháng Tý (con chuột), tháng mười một làm tháng Tết.
Các vua chúa nói trên, theo ngày giờ, lúc mới tạo thiên lập địa: nghĩa là giờ Tý thì có trời, giờ Sửu thì có đất, giờ Dần sinh loài người mà đặt ra ngày tết khác nhau.
Đến đời Đông Chu, Khổng Phu Tử ra đời, đổi ngày tết vào một tháng nhất định: tháng Dần.
Mãi đến đời Tần (thế kỷ III trước Công nguyên), Tần Thủy Hoàng lại đổi qua tháng Hợi (con lợn), tức tháng Mười.
Cho đến khi nhà Hán trị vì, Hán Vũ Đế (140 trước Công nguyên) lại đặt ngày Tết vào tháng Dần (tức tháng Giêng) như đời nhà Hạ, và từ đó về sau, trải qua bao nhiêu thời đại, không còn nhà vua nào thay đổi về tháng Tết nữa.
Đến đời Đông Phương Sóc, ông cho rằng ngày tạo thiên lập địa có thêm giống Gà, ngày thứ hai có thêm Chó, ngày thứ ba có Lợn, ngày thứ tư sinh Dê, ngày thứ năm sinh Trâu, ngày thứ sáu sinh Ngựa, ngày thứ bảy sinh loại Người và ngày thứ tám mới sinh ra ngũ cốc.
Vì thế, ngày Tết thường được kể từ ngày mồng Một cho đến hết ngày mồng bảy.
* (Trích bài "Tết Nguyên Đán" của Nguyễn Đình Khang)
Trái đất quay xung quanh mặt trời 1 vòng trải qua một thời gian 365 ngày 6 giờ, 9 phút, 9 giây. Từ điểm Xuân phân năm trước đến điểm Xuân phân năm sau phải trải qua 365 ngày 5 giờ, 48 phút, 46 giây. Thời gian đó được gọi là "Tuế thực", tức là một năm tròn. Như vậy điểm Xuân phân dần dẩn chếch về phía Tây mỗi năm một ít, cho nên thời gian "Tuế thực" ngắn hơn 20 phút 23 giây so với vòng quay trái đất quanh mặt trời nói trên, số chênh lệch đó gọi là "Tuế sai".
Vì một năm không thể tính số giờ lẻ dôi ra, phải lấy số chẵn là một năm 365 ngày. Mỗi năm phải dôi ra 5 giờ 48 phút 46 giây. Dồn lại 4 năm số dư đủ một ngày đêm, cho nên qua 3 năm thường phải có một năm nhuận, năm nhuận đó là 366 ngày. Nhưng số dư 4 năm mới chỉ có 23 giờ 15 phút, 4 giây. Còn hụt mất 44 phút 56 giây.

Dồn 25 lần nhuận hụt khoảng 3/4 ngày cho nên tròn 100 năm phải bớt đi một lần nhuận, cho nên năm tròn trăm (có 2 số 00 ỏ sau) không nhuận. Cứ 400 năm bớt đi 3 lần nhuận.Tính bình quân mỗi năm có 365 ngày 5 giờ 49 phút 12 giây, thì sau 3.000 năm có sai 1 ngày. Để tiện cho việc xếp lịch, thì năm dương lịch nào mà 2 số cuối chia hết cho 4 tức là năm nhuận, riêng năm tròn thế kỷ không nhuận. Khi đếm số thế kỷ (nghĩa là 2 số trên số 00 cũng chia hết cho 4 thì năm đó cũng là năm nhuận. Thí dụ năm 1700, 1800, 1900 không nhuận đến năm 2000 có nhuận.
Cách tính âm lịch chia năm vẫn giống nhau với dương lịch, nhưng cách tính tháng có khác. Năm tháng dương lịch không liên quan đến hối, sóc, huyền, vọng, cho nên định hẳn được số ngày từng tháng (Hồi: ngày cuối tháng âm, Sóc: ngày đầu tháng tức mồng 1 âm, Vọng: ngày rằm, Huyền có Thượng Huyền và Hạ Huyền, Huyền (nghĩa là treo): Mặt trăng khuyết phía dưới gọi là Thượng Huyền, khuyết phía trên gọi là Hạ Huyền).
Tháng âm lịch phải lấy ngày nhật nguyệt hợp sóc làm đầu (tức là ngày mặt trời, mặt trăng và trái đất trên trục đường thẳng) hai lần hợp sóc cách nhau 29 ngày rưỡi, cho nên tháng âm lịch đủ là 30 ngày thiếu là 29 ngày. Vì cách tính tháng khác nhau thì tính năm sẽ khác đi. Năm âm lịch bắt đầu vào ngày Sóc kề với tiết Lập xuân. Trong 1 năm không thể tính số lẻ của tháng. Nhưng gộp 12 số lẻ chỉ được 354 ngày coi là 1 năm. Sai với số "Tuế thực" là khoảng 11 ngày, dồn 3 năm thì dôi ra 33 ngày, cho nên qua 3 năm phải nhuận 1 tháng, dồn 2 năm nữa dôi ra 25 ngày phải nhuận một tháng nữa. Tính bình quân 19 năm có 7 tháng nhuận. Trong mỗi tháng bình thường có 1 ngày tiết và 1 ngày khí. Số ngày của mỗi tiết khí bình quân là 30 ngày i 4/10 ngày = 30,4 ngày. Số ngày của tháng âm lịch có 29 ngày rưỡi, cho nên sau 2, 3 năm sẽ có 1 tháng chỉ có ngày tiết không có ngày khí, thì dùng tháng đó làm tháng nhuận.
Riêng nông lịch hay còn gọi là Hạ lịch (lịch ban ra từ thời nhà Hạ) tức là lịch tính theo 24 tiết, lại rất khớp với dưong lịch. Cứ sau tiết Đông chí 10 ngày là mồng 1/1 dương lịch, sở dĩ chênh lệch với dương lịch 1 ngày vì 24 tiết không có nhuận ngày mà dương lịch cứ 4 năm có 1 ngày nhuận.
Đây là quẻ Quan Âm thứ 92 được xây dựng trên điển cố: Thái Khanh báo ân hay Thái Khanh trả ân.
Quẻ thượng cát thuộc cung Dậu. Từ việc nhỏ đến việc lớn đều thuận lợi như ý, không gặp trở ngại. Những điều mong cầu sẽ có kết quả viên mãn như ý nguyện.
Thử quái tự tiều vi thương chi tượng. Phàm sự cẩn kiệm vô ưu dã.
Thái Khanh tức Thái Ung (133 -192) sống vào cuối thời Đông Hán, tự là Bá Giai, là người chăn ngựa ở Trần Lưu. Thái Ung rất hiếu thuận, trong thời gian ba năm mẹ của Thái Ung mắc bệnh, trừ những lúc nóng lạnh chuyển mùa, Thái Ung không bao giờ thay áo (tức là cởi áo đi ngủ), trong suốt bảy mươi ngày không có giấc ngủ ngon.
Nghe nói khi Thái Ung còn nhỏ, gia cảnh rất nghèo, nhưng cha của Thái Ung lại mong con trai có thể đạt được công danh. Vợ của Thái Ung là Triệu Ngũ Nương đành phải đi hỏi khắp anh em, vay mượn ngân lượng làm kinh phí cho Thái Ung lên kinh dự thi. Mấy tháng sau, Thái Ung thi đỗ Trạng nguyên, nhưng lại bị Ngưu Thừa tướng ép làm con rể.
Thái Ung đi bặt mười năm, không có tin tức gì. Ngũ Nương cùng với bố mẹ chồng tuổi đã cao, cuộc sống rất khố cực. May có người hàng xóm là Trương Quảng Tài giúp đỡ chăm sóc bố mẹ già. Năm đó gặp thiên tai, lúa gạo không thu hoạch được gì, Ngũ Nương nhường số lương thực dành dụm cho bố mẹ chồng, còn mình ăn rau dại, nhưng lại bị hai bố mẹ hiểu lầm. Sau khi hai ông bà hiểu rõ chân tướng sự việc thì vô cùng áy náy. Không lâu sau, hai ông bà qua đời, bỏ lại Ngũ Nương bơ vơ. Người hàng xóm Trương Quảng Tài giúp Ngũ Nương chôn cất cha mẹ, sửa sang phần mộ, đưa cho Ngũ Nương một cây đàn cầm, bảo cô đến kinh thành tìm chồng.
Ngũ Nương đi xin ăn để đến kinh thành, Ngưu Thừa tướng lại viết giấy ly hôn sai người gửi cho Ngũ Nương. Nhưng người đưa thư giữa đường ngã bệnh, đến khi người đưa thư đến được ngôi làng mà Ngũ Nương ở, thì Ngũ Nương đã trên đường đến kinh thành rồi. Ngưu Thừa tướng còn lừa gạt con gái mình là Văn Tú rằng, chuyện Thái Ung có vợ chỉ là bịa đặt. Thái Ung ngày ngày đều nhớ đến Ngũ Nương, muốn trở về quê cũ, nhưng bị Ngưu Thừa tướng ngăn cản.
Ngũ Nương giả làm ni cô, đi hỏi khắp kinh thành, cuối cùng biết được Thái Ung đã là con rể của Ngưu Thừa tướng, bèn vào trong phủ Thừa tướng, nói rõ sự tình. Ngưu Văn Tú rất nhân từ, đã khoản đẫi Ngũ Nương, lại lấy bức chân dung bố mẹ chồng có đề thơ do Triệu Ngũ Nương vẽ đưa cho Thái Ung xem. Thái Ung biết chuyện, vội vàng đi gặp Ngũ Nương, Ngũ Nương trách Thái Ung bất hiếu bất nghĩa. Thái Ung nói rõ về nỗi khố tâm của mình, bày tỏ nỗi nhớ nhung dành cho Ngũ Nương và người nhà, thề rằng dẫu phải vượt qua trăm núi nghìn sông cũng sẽ đi cùng Ngũ Nương.
Cuối cùng, vợ chồng hai người đã được đoàn tụ, Thái Ung cũng xin được về quê hương cúng tế cha mẹ. Khi đến mộ địa, vừa hay gặp Trương Quảng Tài đang thay Thái Ung quét dọn tu sửa mộ phần. Trương Quảng Tài nghiêm khắc trách mắng Thái Ung bất hiếu, Thái Ung tự biết mình sai, rất hổ thẹn. Nhờ có Triệu Ngũ Nương nói rõ sự tình, Trương Quảng Tài mới tha thứ cho Thái Ung. Thái Ung rất biết ơn sự giúp đỡ của Trương Quảng Tài trong nhiều năm qua, nên dùng lễ vật trọng hậu để báo đáp Trương Quảng Tài.
| ► Xem tướng số theo ngoại hình bát tự để đoán biết vận mệnh |
![]() |
![]() |
Từ xưa đến nay chúng ta vẫn thấy đại đa số những người thành đạt thường là những người ở độ tuổi trung niên hoặc tuổi ngoài ngũ tuần. Bởi do phần lớn họ đều dành tuổi trẻ của mình để làm tốt công tác chuẩn bị, đến thời điểm chín muồi sẽ được cả tài lẫn danh. Nhưng cũng có những người mới đến độ tuổi trung niên là đã có thể hiên ngang ngẩng cao đầu, tài vận cực kỳ tốt đẹp.
Hạng ba: Tuổi Hợi
Những người cầm tinh con lợn rất cần cù, trung thực, tính cách ôn hòa, biết cách đối nhân xử thế. Họ không chỉ là người thân thiện mà còn đầy uy nghiêm, năng lực tràn đầy, có tố chất của người lãnh đạo. Khi còn trẻ họ thường tỏ ra khác biệt so với những người khác, khi đã tích lũy được kinh nghiệm ngoài xã hội thì khoảng năm 35 tuổi họ có thể tự lập cơ nghiệp cho mình. Tài vận sau tuổi 35 cực kỳ suôn sẻ, tình cảm hạnh phúc viên mãn, người bạn đời của họ cũng chính là quý nhân mang đến vận phúc may mắn cho họ.
Hạng nhì: Tuổi Dần
Những người cầm tinh con hổ bẩm sinh đã thông minh, có chí tiến thủ, không chịu phục tùng, luôn muốn tạo dựng sự nghiệp của riêng mình. Họ là những người biết nhìn xa trông rộng, sớm đã bộc lộ tài năng và khí chất hơn người, vận mệnh thịnh vượng cả một đời, số hưởng thụ “cuộc sống của các vị hoàng đế”, sự nghiệp lên như diều gặp gió. Khoảng 35 tuổi ít nhiều họ đã có sự nghiệp của riêng mình, được thăng quan tiến chức, thu nhập tăng gấp bội và cũng gặp được ý trung nhân, hôn nhân viên mãn, hạnh phúc vẹn toàn.
Hạng nhất: Tuổi Thìn
Những người cầm tinh con Rồng sinh ra là để làm lãnh đạo, họ có khí chất hơn người, luôn khiến người khác phải nể phục. Tính cách của họ khá cương trực, thành thật và luôn thích giúp đỡ người khác. Lúc còn nhỏ tuổi họ luôn tỏ ra là người có năng lực xuất chúng, lớn hơn thì có ý chí phấn đấu. Sau năm 35 tuổi thì có được quyền cao chức trọng, tiền bạc cứ ào ạt chảy vào túi. Đồng thời hôn nhân cũng thuận buồm xuôi gió, gia đình hạnh phúc, vợ chồng hòa thuận, hưởng phú quý vinh hoa cả một đời.
Theo Mai Nguyễn (Khám phá)
Văn khấn Gia tiên ngày mùng Một Tết đầu năm âm lịch
Theo phong tục ngày Tết cổ truyền, thì ngày 30 Tết (hoặc ngày 29 Tết, nếu tháng thiếu), thì nhà nhà đều sắm lễ “Rước Ông bà” về cùng với con cháu trong 3 ngày Tết, để tỏ lòng hiếu thảo của con cháu với Tổ tiên.
Trong 3 ngày Tết này, thông thường con cháu đều cúng Gia tiên tiền tổ, ông bà, mỗi ngày 1 lần.
Sắm lễ cúng Gia tiên năm mới

Lễ vạt dâng cúng trong lễ tạ năm mới gồm:
Hương, hoa, nước, quả (ngũ quả).
Trầu cau;
Rượu;
Đèn, nến;
Lễ ngọt, bánh kẹo;
Mâm cỗ mặn: xôi, gà, bánh chưng, các món Tết đầy đủ, tinh khiết.
Văn khấn Gia tiên năm mới
Nam mô A Di Đà Phật
Nam mô A Di Đà Phật
Nam mô A Di Đà Phật
Kính lạy: Các cụ Tổ khảo, Tổ tỷ, bá thúc huynh đệ, đường thượng tiên linh, và các hương hồn nội tộc, ngoại tộc.
Hôm nay là ngày mùng một Tết, tháng Giêng, năm ………
Chúng con là: ………………
Tuổi: ……………………………….
Hiện cư ngụ tại số nhà …….. Đường…….. Khu phố ……
Phường ……………Quận………..Thành phố……………..
Nay theo tuế luật, âm dương vận hành tới tuần Nguyên đán, mồng một đầu xuân, mưa móc thấm nhuần, đón mừng năm mới. Con cháu tưởng niệm ân đức Tổ tiên như trời cao biển rộng, khôn đem tấc cỏ báo đáp ba xuân. Do đó, chúng con cùng toàn thể con cháu trong nhà sửa sang lễ vật, oản quả hương hoa kính dâng trước án.
Kính mời các cụ Cao tằng Tổ khảo, Cao tằng Tổ tỷ, bá thúc đệ huynh, cô di tỷ muội, nam nữ tử tôn nội ngoại, cúi xin thương xót con cháu, linh thiêng giáng về linh sàng, phù hộ độ trì con cháu, năm mới an khang, mọi bề thuận lợi, sự nghiệp hanh thông, bốn mùa không hạn ách nào xâm hại, tám tiết có điềm lành tiếp ứng.
Tín chủ lại mời các vị vong linh, tiền chủ, hậu chủ ở trong đất này cùng về hâm hưởng.
Giải tấm lòng thành cúi xin chứng giám.
Phục duy cẩn cáo!
Nam mô a di Đà Phật!
Nam mô a di Đà Phật!
Nam mô a di Đà Phật!
Bài viết trích từ phụ lục của tác giả Cam Vũ viết trong cuốn Tử Vi Chỉ Nam của Song An Đỗ Văn Lưu
* Tác giả Cam Vũ chính là nick name MinhMinh trên trang tuvilyso.org
Theo quan niệm: thiên địa vạn vật đồng nhất thế của triết học Trung Hoa, thì sự hình thành và biến hóa của vũ trụ đều do sự sinh hóa không ngừng của 7 yếu tố chính gọi là âm dương ngũ hành, phát xuất từ khối nguyên thủy gọi là Thái Cực, cũng là 1 lối quan niệm về sự hình thành và biến hóa của vũ trụ này cũng được cổ nhân Trung Hoa đồng hóa cho con người vì con người là 1 nhân thân tiểu thiên địa hay còn gọi là tiểu vũ trụ. Nên những sinh động biến hóa trong con người cũng được hình thành do 2 khí âm dương và 5 chất ngũ hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.
Thủy tổ khai sáng ra nền tư tưởng này là:
Khổng Tử đã hoàn chỉnh và lập thành sách để dạy cho môn sinh. Bắt đầu từ thời Châu được gọi là Kinh Dịch. Nội dung nói về sự biến hóa của trời đất, ứng dụng sự hiện diện của âm dương ngũ hành và quy tắc sinh khắc biến hóa vào mọi lĩnh vực từ lý số đến chính trị quân sự xã hội, kinh tế văn hóa, y học, dạy con người xử thế nào cho hợp thời phải đạo – giúp cho con người hiểu được thời để xuất sử, tiến thoái cho đúng lúc nhất nhất đều không ra khỏi căn bản là sự sinh động của âm dương ngũ hành.
Vào đời nhà Tống lúc mà nền văn hóa Trung Hoa rất thịnh vượng, các triết gia thời ấy đều chuyên tâm vào việc nghiên cứu con người để tìm giải pháp cho cuộc sống, tìm nguyên tắc cho việc xử thế ngõ hầu mưu cầu hạnh phúc cho mọi người. Tất cả bộ môn nhân văn đều tập trung vào môn khảo cứu con người và xã hội cần thiết cho việc tu thân tề gia trị quốc bình thiên hạ. Tất cả đều thấm nhuần tinh thần nhân bản thật hoàn mỹ, thủy tổ của Tử Vi: Trần Ðoàn, còn gọi là Hy Di Lão Tổ, một đạo gia kiêm nho gia thời Bắc Tống đã thấm nhuần tinh hoa của nền triết học này. Môn Tử Vi ra đời như một một học nghiên cứu hoàn con người hiện tại cho con người biết được bản dự thảo cuộc đời mình, cũng vẫn đưa trên nguyên lý âm dương ngũ hành, nên cũng không đi ngoài tư tưởng của Dịch Học. Trên tinh thần biến hóa không ngừng, hẳn bản dự thảo kia cũng không ngừng cố định ở 1 điểm A là A nào đó, nó có thể là A, rồi đến Á rồi đến B hay xa hơn nữa mà cái hàm súc của Tử Vi sẽ chỉ cho ta biết phải làm thế nào vậy.
Khi biết được can chi của tuổi thì nạp âm của can chi ấy đã tạo thành 1 quẻ dịch của một trong 64 quẻ. Ý nghĩa của cuộc đời của tuổi ấy. Và phải sống thế nào để có lợi cho sự nghiệp.
a. Thập can tương ứng với bát quái
b. Thập nhị chi tương ứng với bát quái
Lưu ý: số 5 thuộc trung cung thì tùy nam hay nữ luân giải: nam là quái khôn, nữ là quái Cấn.
Như vậy mỗi nạp âm (tức can chi của năm sinh, của tuổi 1 người) cho ta ý thiên về 1 quẻ dịch của 1 đời người.
Thí dụ: đàn ông, tuổi Canh Dần, Canh là Khôn vi Địa, Dần là Cấn vi Sơn, Quẻ Khôn ở trên, kết hợp với quẻ Cấn ở dưới thành ra quẻ địa sơn khiêm có nghĩa là: ở đời càng nhún nhường khiêm tốn càng có lợi cho sự nghiệp.
Như trên ta thấy cách thành lập quẻ được xếp theo: lấy hàng Can làm thương quái, lấy hàng Chi làm hạ quái.
Thượng quái và hạ quái kết hợp với nhau ra 1 trong 64 quẻ.
Thí dụ: Tuổi Ất Dậu, đàn bà, Ất là Chấn vi Lôi, Dậu là Ðoài vi Trạch, quẻ Chấn ở trên quẻ Ðoài ở dưới tạo thành quẻ lôi trạch quy muội có nghĩa là: những công việc làm vì vui thú, vì cao hứng thì chẳng được lành, càng đi càng vất vả, có nhiều ngang trái trong cuộc sống.
c. Sau đây là phần ý nghĩa các quẻ dịch
1. Phong thiên tiêu súc
Mây u ám mà không mưa, chưa có gì, việc làm nên đợi chín mùi hãy hành động.
2. Phong trạch trung phù
Trứng sắp nở không nên do dự nữa mà hỏng việc phải có gan tới phút cuối cùng.
3. Phong hỏa gia nhan
Ngọn lửa ở bếp, thời vẻ vang đã hết, cần an phận thì yên ổn hơn.
4. Phong lôi ích
Biết mình trong lợi ích chung, nên nhường nhịn để cùng hưởng lợi.
5. Phong thủy hoán
Buồm căng trước gió cơ hội tốt đang dần dần tới nên thận trọng mà đón nhận, vẫn có thử thách và nguy hiểm.
6. Phong sơn tiệm
Dục tốc bất đạt, loài chim biển khi cất cánh bay lên phải biết giữ sức để bay xa vì sông nước quá mênh mông.
7. Phong địa quan
Gío đang lớn thành bão, chớ vội vàng mà hỏng việc, nên nại chờ thời có thuận lợi.
8. Thuần tốn
Tự lượng sức mình thấy chưa đủ khả năng thì nên tìm cách ẩn náu kẻo có hại.
9. Thủy thiên nhu
Hãy trau dồi cho có khả năng để khi thuận lợi mà phát huy không nên vọng động sớm mà có hại.
10. Thủy trạch tiết
Phải chừng mực, tiết đồ để khỏi bị suy thoái.
11. Thủy hỏa ký tế
Thành công viên mãn.
12. Thủy lôi trân
Mầm non trong khối băng tuyết, tuy hy vọng mà nhiều bấp bênh gian nan, cần tu bổ khả năng chu đáo hơn.
13. Thủy phong tinh
Giếng nước ngọt có trước mắt người đang khát, ở đời nếu làm việc gì nên quyết định ngay kẻo lỡ mất cơ hội.
14. Thủy sơn kiển
Tưởng băng giá làm tê cóng tay, phải biết khi nguy hiểm ở trước mắt thì không nên làm, hay dừng lại là thuận lý.
15. Thủy địa tỵ
Khi thuận lợi vui vẻ phải cẩn thận đang có mầm khó nhọc xảy ra.
16. Thuần Khảm
Khi cảm thấy nhiều khó khăn đang đến như thác lũ kéo về. Cần nhẫn nại mới đương đầu vượt thắng được.
17. Trạch thiên quải
Tượng Hổ gầm dưới trăng, khi có tài mà chưa gặp thời chớ nên bất mãn, sẽ có lúc thuận lợi để khai triển sở trường.
18. Trạch hỏa cách
Khi việc cần đến phải bỏ cũ để làm mới hơn, chớ nuối tiếc do dự, càng gây cấn càng vẻ vang và thành công lớn.
19. Trạch lôi tùy
Khi hoàn cảnh khó thay đổi, cần ở thế nhu thuần là biết phận, không nên vọng động mơ tưởng thái quá.
20. Trạch phong đại quá
Tham thì cực thân, phải cận thận khi đến đích là lúc hết sức lực.
21. Trạch thủy khôn
Chịu vất vả thì sau này tốt tươi hơn.
22. Trạch sơn hàm
Những hỉ sư đến, với tầm tay, nên cố giữ mà hưởng thụ lâu dài.
23. Trạch địa tụy
Khi làm việc gì học hỏi cho kỹ; thành công đòi hỏi nhiều về quá trình kinh nghiệm của người khác.
24. Thuần đoài
Miệng lưỡi là gốc của họa phúc, thuận lợi xen lẫn với hiểm nghèo, làm việc gì cũng phải cẩn thận.
25. Ðịa thiên thái
Cuộc đời gặp được nhiều việc đắc ý sở cầu nhưng đừng nên thái quá.
26. Ðịa trạch lâm
Mềm dẻo, dĩ nhu chế cương thì thành công, tuy cơ mà ứng biến.
27. Ðịa hỏa minh di
Khi có nhiều tai họa vây quanh, nên tìm cách ẩn hơn là tranh đua, chỉ mua lấy bất lợi.
28. Ðịa lôi phục
Khi gặp thất bại nên rút tỉa kinh nghiệm thì sẽ thành công.
29. Ðịa phong thăng
Muốn thoải mái chớ tự phụ, khả năng nhiều cần giúp đỡ người khác.
30. Ðịa thủy sư
Khi gặp nổi khổ tâm, đừng nản chí, sáng suốt thì thoát khỏi thất bại.
31. Ðịa sơn Khiêm
Ở đời càng nhường nhịn là khôn ngoan, sẽ đạt thắng lợi nhiều.
32. Thuần Khôn
Nhu hòa và phải biết lùi đúng lúc là đã thành công thì tránh được họa hại.
33. Hỏa thiên đại hữu
Tương mặt trời ở chính ngọ phải thận trọng, lúc cao nhất là sắp bước sang kỳ suy thoái vất vả.
34. Hỏa trạch khuê
Phải tranh đấu mới được việc, vẫn cần đề phòng tất cả chỉ là tạm thời, phải chịu đựng.
35. Hỏa lôi phệ hạp
Phải quyết định dứt khoát mọi trở ngại mới mong thành công ở đời.
36. Hỏa phong đỉnh
Ở đời khi mong ước điều gì, cần góp nhặt tất cả khả năng, điều kiện.
37. Hỏa thủy vi tế
Khi thành công một phần, chớ tự mãn vì sự việc cần, đòi hỏi tiến tới nữa.
38. Hỏa sơn lú
Cuộc đời như người lữ khách nhiều lo âu, đang trong cơn thất thế, cần an phận, bình tĩnh.
39. Hỏa địa tấn
Vạn sự khởi đầu nan, cần vững tâm để có khí thế ban đầu.
40. Thuần ly
Ở đời, sự việc khi khí thế đang phát triển thì đừng nên quá đà mà trở thành ảo mộng.
41. Lôi thiên đại tráng
Không kìm hãm được mình, thành ra hỏng việc.
42. Lôi trạch qui muội
Vì tình mà quên lý, cái thế lỡ làng, nên nhẫn nhục là hơn.
43. Lôi Hỏa Phong
Lúc thành công nhất cũng là lúc báo hiệu suy tàn tới nơi, cần phòng xa.
44. Lôi Phong Hằng
Cố gắng tạo căn bản, đó là nắm vững lẽ thường, nên trầm tĩnh mà làm việc.
45. Lôi thủy giải
Tượng que: tuyết tan được nắng xuân. Khi thuận lợi đã đến nên nắm lấy mà hành động.
46. Lôi sơn tiểu quá
Cuộc sống ở đời thiếu thuận hòa, điều bất lợi càng lúc càng nhiều.
47. Lôi địa tụ
Phải biết lo xa để khỏi phiền gần, có phòng xa thì mới vui vẻ
48. Thuần lôi
Sau cơn mưa trời lại sáng, cứ yên tâm với những nỗi biến động của cuộc đời.
49. Thiên trạch lý
Ở đời khi đã bắt tay vào việc phải tùy cách đối phó khéo léo mà cư xử.
50. Thiên hỏa đồng nhân
Sự việc ở đời cần sự giúp đỡ của những người chung quanh cho nên quyết định một mình.
51. Thiên lôi vô vọng
Khi gặp lúc thất vọng cần trầm tĩnh để phân biệt cái thất bại với cái thành công. Thủ phận chờ lúc không phải là đã chịu an phận.
52. Thiên Phong cấu
Cuộc đời gặp lúc họa vô đơn chí, có nhiều tai họa dồn dập, phải bình tĩnh mà nhận định, chớ cuống cuồng.
53. Thiên thủy Tụng
Ở đời càng bớt va chạm càng tốt, giảm cứng rắn để đoạt thắng lợi.
54.Thiên sơn độn
Khi cơn nguy đến, chạy trước là thượng sách, tìm nơi ẩn mình mà tu dưỡng, sẽ vinh quang sau này.
55.Thiên Ðịa Bỉ
Ở đời khi gặp lúc cũng ví như vào ngõ cụt thì nên chịu phận nhục mà thu hồisức lực, chớ vong động rồi sẽ gặp thoải mái hơn.
56.Thuần Cấn
Bay cao quá sẽ rớt đau hơn, khi thành công chớ khinh thường, nên củng cố kinh nghiệm để tạo thành công mới.
57. Sơn thiên đại súc
Ở đời mọi sự việc càng chuẩn bị chu đáo, sẽ vững lòng tiến đến thành công.
58. Sơn trạch tổn
Ở đời nếu biết hy sinh những cái lợi trước mắt cách tạm thời, sẽ hanh thông hơn trong tương lai kế cận.
59. Sơn hảo bi
Ở đời nhưng cơ hội tốt đến với mình chỉ thoáng qua ví như sự huy hoàng của ngọn đèn sắp tàn.
60. Sơn lôi hi
Trước khi làm việc gì phải mất công quan sát nhiều điều kiện thì mới được tốt đẹp.
61. Sơn Phong Cổ
Ở đời mỗi lần sự việc xấu đến với mình, hay lan rộng từ trong ra ngoài nên phải đề phòng, nên tĩnh thì hơn.
62. Sơn Thủy Mông
Càng gặp chua cay thất bại càng nên học hỏi, chớ nản cứ kiên nhẫn, thời cơ sẽ đợi mình.
63.Sơn địa bác
Khi gặp tình thế bi quan, chớ nản lòng, trong đó vẫn còn lối dẫn đến thành công. Cứ bình tĩnh mà tìm sẽ thấy.
64. Thuận Cấn
Ở đời phải biết chữ tùy khi ngại ở trước mắt.
Trên đây chỉ là tóm tắt ý chính, lời khuyên bảo cho mỗi quẻ, để cho dễ nhớ, nếu muốn đào sau cho tường tận, ngọn nguồn, nên tìm đọc thêm các sách Chu–Dịch-vì ở đây không hoàn toàn thuộc phạm vi của Dịch Lý nên chỉ xin được phép khái lược để gây cho độc giả ý niệm về Dịch. Tuy vậy những lời bảo của mỗi quẻ dịch tương ứng với mỗi tuổi, vẫn được trình bày cách đơn giản và dễ hiểu.
Theo các sách Tử Vi của người xưa để lại, đều thấy nói, từ lúc mới sinh cho đến năm 30 tuổi thì cuộc đời ảnh hưởng do cung mệnh, do đó lấy cung Mệnh làm chính. Cuộc đời ngoài 30 tuổi trở ra tới lúc chết thì ảnh hưởng do cung Thân (Thân đây là cung an Thân chứ không phải cung Thân trong địa chi Tý Sửu Dần..). Do đó phải lấy quan niệm tam thập nhi lập – con người sống ở đời trong vòng 30 tuổi. Là cái thời gian để trui luyện dùi mài kinh sử, luyện tập khả năng để khi rời mái gia đình tức là từ 30 tuổi trở ra, mới đem cái sở trường ra để tạo sự nghiệp giúp đời, lúc ấy mới chính là lúc hành động. Thế cuộc biến đổi, quan niệm tam thập nhi lập ngày nay không còn nữa, để phù hợp với đại cuộc, cung mệnh chỉ được khả coi nặng khi đương số có trong mái gia đình và khi ra hoạt động với không không phân biệt tuổi tác thì ấy chính là lúc Thân hoạt động. Nhưng mỗi động tác con người đều là sự kết thúc của những năng lực tiềm tàng trong nội giới
Thân chính là cái ứng dụng của Mệnh - hay nói một cách rõ ràng dể hiểu hơn:
Trên địa bàn một lá số, chỉ thoáng nhìn cung mệnh, rồi đến cung an thân, ta có thể hiểu được con người của lá số ấy có tư tưởng gì và hành động ra sao? Mà mọi kết thúc của hành động chính là những tác nhân (nguyên nhân tác động) gây nên những điều hoặc có lợi, hoặc có hại cho bản ngã.
Vậy phải hành động thế nào cho có lợi cho bản ngã, khi nào chiều theo tư tưởng vẫn tự nó phát sinh, khi nào nên dứt bỏ, phải xét lại; ấy chính là cái “biệt” của người trí giả vậy.
Muốn biết về ý nghĩa của mệnh, thân, thế nào chỉ căn cứ vào vòng Thái Tuế và các sao ở cung mệnh hay Thân và ý nghĩa các sao liên hệ để luận.
Thí dụ: 1 lá số dương nam Canh Dần tháng 9 ngày 3 giờ Thân. Như vậy mệnh Lập tại Dần có Tham Lang gặp Thái Tuế. Thân đóng ở Ngọ có Quan Phù gặp Thất sát ngộ Tuần Triệt - có nghĩa là con người trong tư tưởng lúc nào cũng mang niềm tự hào, thích ra tay nghĩa hiệp nhưng hành động thì lại hay nóng nảy (quan.???? Thất sát) mà hỏng việc (Tuần Triệt cản) mà như vậy thì lại sinh ra bất mãn ở con người. Thái Tuế càng thất bại, càng gặp việc khó càng kiêu kỳ, chính vì cái tư tưởng (mệnh) Tham Lang nên khi làm việc chỉ hăng hái buổi đầu rồi tư tưởng sẽ thay đổi để dễ bỏ dở công việc để làm việc mới khác. Vậy muốn sống cho được thành công, người này phải biết mềm mỏng, kiên nhẫn và cương quyết trước sự việc, khi gặp trở ngại đừng nản chí, cứ tiếp tục làm sẽ thành công.
Sao THIÊN TÀI được khởi từ cung mệnh là cung tý tính theo chiều thuận đến năm sinh.
Sao THIÊN THỌ được khởi từ cung an thân là cung tý cung tính theo chiều thuận đến năm sinh.
Như, trên đã trình bày cái lý hàm súc của mệnh, Thân Thiên tài đi theo mênh, Thiên Thọ lại tùy với Thân như ngầm bảo cho thấy phải gieo cái Nhân ở đâu thì sẽ gặt hái kết quả cho đời, vậy nêu tính ra sẽ thấy người sinh năm:
Sao Thiên Thọ nằm ở đâu thì những kết quả gặt hái được sẽ do từ cung ấy.
Thí dụ: Tuổi Canh Dần ngày 3 tháng 9 giờ Thân. Thân cư quan Lộc, Thiên tài Phúc Ðức, Thiên thọ cư tài bạch, ở người này nếu muốn được sự thoải mái may mắn về tiền bạc, phải đối xử với họ hàng bà con thật rộng lượng, cho phải đạo, gạt bỏ mọi tị hiềm.
Tử Vi là 1 khoa học nhân văn nghiên cứu về con người hiện thực, cho nên Tài, Thọ ở đây là cái Nhân quả nhãn tiền có ngay từ cuộc sống này. Những thoải mái, may mắn mà ta đạt được (Thiên Thọ), sẽ xảy ra ngay sau cái nhân là Thiên Tài mình gieo được.
Người nghiên cứu Tử Vi, nếu đặt bút làm con tính thì ai cũng có thể thấy cứ 1 hội (60) thì có được 512.640 lá số tử vi khác nhau, nhưng trong khi ấy thì nhân loại có khoảng 6 tỉ người như thế, tính trung bình thì cứ 12,000 người có cùng 1 lá số giống nhau; thế nhưng trên thực tế số người số người có cùng một lá số lại vẫn có những sứ mệnh khác nhau. Ðiều này đã gây thắc mắc không ít cho học giả. Thật ra khi truyền bá môn lý học này. Cổ nhân có ý muốn hệ thống hóa các đặc loại con người, rồi theo đó mà có lời bảo cho từng loại phải sống sao cho chan hòa cùng nhau (xã hội hoàng kim thịnh vượng là vậy) chứ không hẳn chỉ nhằm vào việc đoán vận mệnh phú quý, thọ yểu mà thôi. Mỗi lá số đều có những cấu trúc tinh đẩu khác nhau chỉ thoáng qua thế chính tinh đã thấy rõ 3 cách phân bố.
a. Nhân cách: là thể nhị hợp của Liêm trinh với Thiên Lương, của Thiên Cơ với Phá Quân, của Vũ Khúc với Thái âm, của Thiên Phủ với Thái Dương và của Tham Lang với Thiên Ðồng.
b. Ðịa cách: là tính xung đối của Thiên tướng với Phá Quân, của Thất Sát với Thiên Phủ.
c. Thiên cách: là tính hình hại của chính tinh, xin nhắc lại tính hình hại của 12 cung địa chi, còn gọi là Lục Hại.
Ở thế này luôn luôn thấy tính cách hình Hợi của Tử Vi với Cự Môn, của Thiên tướng với Thiên Cơ, của Thái Dương với Thất Sát.
Sự hình thành chặt chẽ các thế đứng của 14 chính tinh trải đều trên địa bàn 12 cung dù trong bất cứ ở cung nào cũng không ra ngoài 3 thể cách đã nêu trên, đây cũng là 1 trong những huyền ảo của Tử Vi. Chính là ẩn tàng cái đạo lý làm người khi ta nghiệm lý về Tử Vi.
Mỗi cách số của Tử Vi đều có cái thuận lợi riêng và cũng có cái bất lợi riêng của nó, người thâm cứu về Tử Vi không phải là chỉ biết khi nào đáo vận Thái tuế, lúc nào đáo hạn Thiên Không, cái biết này chỉ là cái dụng sơ đẳng, tầm thường. Quan trọng hơn là ta phải biết cái “thể” rõ nét mà xử lý với đời như thế nào cho phải đạo.
Quân tử khó chung đụng với tiểu nhân, sự trong sáng, nghiêm túc không dung chứa tà mị vũ phu đó là thế hình nhau của Nhật với Phá quân. Ðời người theo tính lý của Tử Vi chỉ là 1 bản dự thảo của một con người.
Không một thế lực nào có thể độ mạng cho ta được, đời ta do tay ta gầy dựng tùy ý ta chọn lựa để tiếp nhận lấy những sự xảy đến với ta.
Không nên chê trách MẪU THIÊN KHÔNG. Những cũng chớ vội tôn sùng người THÁI TUẾ, vấn đề khẩn yếu là dựa vào cấu trúc của các tinh đẩu ở lá số của mình mà xử thế với đời sao cho nên người tốt lành trong xã hội.
Toàn bộ nội dung bài viết về phần quẻ dịch năm sinh và nguyên lý Tài Thọ đã được lập trình vào trong Hệ Thống Giải Đoán Lá Số Tử vi Xem Tướng. Bạn đọc có thể truy cập vào: ## để lấy lá số (lưu ý nhập ngày tháng năm và giờ sinh là âm lịch) sau đó vào phần "LỜI KHUYÊN ỨNG XỬ" để đọc nội dung hướng dẫn lời khuyên ứng xử theo nội dung bài viết.
![]() |
![]() |
Sử dụng Hồ Ly tốt nhất nên chọn Hồ Ly đen, vì nó là màu của Cửu vĩ Hồ. Chất liệu tốt nhất của linh vật phong thuỷ là đá tự nhiên.
Trong truyền thuyết Trung Quốc, Hồ Ly là tên gọi của cáo đã tu luyện thành tinh. Và trong các loài vật, thì loài Cáo là loài thông minh nhất sau con người.

– Theo truyền thuyết, Hồ Ly có thể tu hành luyện đạo; tu một trăm năm thì ba cái đuôi sẽ mọc ra và được gọi là “Yêu Hồ”, tu luyện đến một nghìn năm thì chuyển sang loài “Lục vĩ ma hồ” (Cáo ma 6 đuôi), và cứ như vậy; khi đến được cảnh giới là chín đuôi (Cửu vĩ thiên hồ) thì thế gian đích thị vô thượng cảnh giới; không ai rõ đích xác phải bao năm mới đạt được đến cảnh giới. Mỗi chiếc đuôi là một mạng của Hồ Ly. Muốn giết chết một Hồ ly thì phải chặt hết các đuôi trước.
– Tất cả các Hồ Ly thường là Cáo cái, các Hồ ly con sinh ra được là do Hồ ly mẹ đã uống thuốc tiên ngàn năm. Hồ ly cái khi hoá thành người thường vô cùng xinh đẹp, thông minh, có sức quyến rũ kì lạ. Các Hồ ly cái thường sử dụng ưu điểm đó để hớp hồn đàn ông và thực hiện các mục đích đã được vạch ra trước.
– Hồ Ly vốn là Cáo nên cũng có nhiều đặc tính giống Cáo, đó là rất thích ăn thịt gà. Tuy nhiên màu lông của Hồ ly thì khác hẳn so với cáo thường. Tuỳ theo số năm tu luyện mà chúng đổi màu theo đó. Tương truyền, lông của Cửu vĩ hồ thường đen tuyền. Hồ Ly thường sống trong các hang động lạnh vì chúng ưa lạnh. Mỗi khi ra khỏi hang động đều thay đổi hình dạng. Chỉ khi chết Hồ Ly mới trở lại y nguyên hình dạng của một con Cáo. Các lão Hồ Ly (Hồ Ly già, thường là đã sống được khoảng ngàn năm tuổi) có khả năng tiên đoán rất chính xác. Hồ Ly cũng có tổ chức bầy đàn. Thủ lĩnh tối cao nhất của Hồ Ly thường được gọi là “Hồ cung chủ”. Chức vị đó được truyền từ đời này sang đời khác, thường là truyền cho đứa con mà “Hồ cung chủ” đó yêu thương nhất hoặc tài giỏi nhất.
– Có tương truyền rằng Đắc Kỷ- mỹ nữ thời Trụ Vương là một “Hồ cung chủ” của Hồ Ly thời đó. Rất nhiều thành ngữ có yếu tố nói về sắc đẹp của Đắc Kỷ hoặc sắc đẹp hồ ly để nói về những nữ nhân có sắc đẹp làm mê muội những nam nhân có quyền lực.
– Và theo quan niệm trong dân gian Tung Quốc từ xưa đến nay, nếu sở hữu mặt đeo Hồ Ly hoặc tượng Hồ Ly, nhất là đối với phụ nữ, thì sẽ mang lại sự may mắn vượt bậc về đường tình duyên, hôn nhân, giữ gìn hạnh phúc lứa đôi. Và Hồ Ly rất thích số Tám ( Bát- Phát) nên người sở hữu nó sẽ gặp thêm nhiều may mắn về đường tài lộc, sự tiến triển trong sự nghiệp.
– Khi sử dụng Hồ Ly tốt nhất nên chọn Hồ Ly thạch anh hồng, hồ ly đá mắt hổ vàng, hồ ly đá mã não đen, quý hơn nữa là Hồ Ly thạch anh đen vì nó là màu của Cửu vĩ ( Hồ Ly chín đuôi ) cảnh giới cao nhất của Hồ Ly.
– Chất liệu tốt nhất là đá tự nhiên như đá thạch anh, đá mắt hổ, đá mã não…
– Không nên sử dụng Hồ Ly làm bằng đồng hoặc chất liệu nhân tạo, vì như vậy sẽ mang nhiều “sát khí” hơn là “cát khí”, không sử dụng Hồ Ly nếu không biết rõ nguồn gốc xuất xứ, chất liệu hình thành để tránh trường hợp bị tác dụng ngược.
– Nếu sử dụng tượng Hồ Ly nên trưng ở phòng ngủ hoặc để ở nơi làm việc ( trong góc khuất), nên chọn hướng, ngày giờ tốt và hợp tuổi để an vị. Và nhờ sự tư vấn của cửa hàng phong thuỷ nơi bạn đến.
– Khi sử dụng mặt dây chuyền đeo cổ mặt Hồ Ly thì nên tẩy uế trước khi sử dụng bằng cách dùng rượu trắng lau qua. Khác với Tỳ Hưu, Thiềm Thừ…, Hồ Ly vẫn có thể đeo bên mình khi làm chuyện phòng the, vợ chồng.