Những nét tướng xấu của phụ nữ –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thanh Vân (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thanh Vân (##)
Khi trồng cây trong vườn cũng cần chú ý đến những yếu tố phong thủy để cuộc sống của con người hài hòa hơn vói thiên nhiên.
Khi quy hoạch tổng thể sân vườn cần phải chú ý đến bố cục chung trong đó, cây cỏ hoa lá là một trong những yếu tố quan trọng.
Khi trồng cây phù hợp với yêu cầu phong thủy sẽ có lợi cho sức khỏe, tài vận và sự nghiệp của con người.
Đây cũng là một phương thức tạo cảnh quan môi trường thuần chất trong phong thủy truyền thống.

Lưu ý khi trồng các loại cây
– Những cây trồng trong vườn nên chọn loại cây có thân thẳng đều, vươn cao như chuối, tre, trúc, cau, dừa… sẽ mang lại nhiều may mắn và thuận lợi trong công việc của các thành viên trong gia đình.
– Nếu cành lá của cây cối xung quanh sinh trưởng hướng về các phòng trong nhà đều có lợi, nếu ngược lại là bất lợi.
– Hướng Tây Bắc là hướng Càn, cây cối là Mộc tinh, vì thế hướng nhà ở hướng Tây Bắc nên trồng cây to sẽ bảo vệ được chủ nhân của nhà đó.
– Bạn có thể trồng xung quanh sân vườn một dãy tre, trúc để mang lại những điều tốt lành cho người trong nhà. Tre, trúc cũng là các loại cây dễ sống, cành lá tươi tốt bốn mùa nên có chức năng cải thiện môi trường và điều tiết phong thủy rất tốt.
– Nếu như cây cối trong vườn luôn xanh tốt là biểu hiện cho đất đai màu mỡ, môi trường trong lành.
– Nếu cây cối sinh trưởng thưa thớt là biểu hiện một môi trường không tốt, đó cũng là cách giúp bạn cải thiện môi trường, tránh những ảnh hưởng bất lợi đối với sức khỏe.
Lưu ý với hướng khi trồng cây
– Theo quan niệm của phong thủy, khi trồng cây nên trồng hướng cát tránh hung. Nên trồng những loại cây mang vận cát và chú ý hướng trồng cây.
Ví dụ đào nên trồng trước nhà; liễu nên trồng bên cạnh ao, bể nước; trồng các loại cây hoa trước hiên nhà, “trước cau sau chuối”…
Bên cạnh đó, nên tránh trồng những loại cây như hoa sứ vì nó chỉ thích hợp trồng nơi chùa chiền, miếu mạo.
– Nếu nhà hướng Tây hoặc Tây Bắc thì nên chọn những loại cây chịu nắng tốt, đó là những cây mang khí dương như hoa mai, hoa đào, thiên thanh, đinh lăng…
Nếu nhà hướng Bắc hoặc Đông Bắc thì cây trồng nên có lá màu sáng để phản xạ thêm ánh sáng, hoặc lá dày thân chắc để ngăn gió lạnh như cau, dừa, bàng, mật cật…
Những điều không nên khi trồng cây trong vườn
– Trước cửa ra vào hoặc cửa sổ không nên để các cây khô héo hoặc cây to che lấp cửa.
– Với vườn trước nhà, đặc biệt là vị trí trước cửa ra vào hay cửa sổ không nên trồng những cây có hình dáng không đẹp, cây có nhiều gai.
– Không nên trồng nhiều loại cây lá rộng, rậm rạp trước nhà làm mất cân bằng âm dương cho sân vườn.
Chùa Kim Sơn còn có tên là Am Vạn Linh, chùa Tàu Mã, chùa Kim Mã, nằm ở 73 Kim Mã, quận Đống Đa. Trước đây, vào thời Lý, vùng Kim Mã là pháp trường, nơi này trở thành nghĩa địa, người trong thôn Kim Mã lập ra một am nhỏ để thờ cúng. Sau này thi hài các chiến sĩ tử trận Đống Đa (1789) trong trận đánh chống giặc Thanh được đưa vào tử tang tại nghĩa địa Kim Mã. Am được sửa lại và gọi là Am Vạn Linh.
Năm 1831 người làng Kim Mã sửa lại am, bên trong dựng tượng Phật, linh vị thờ Vạn Linh đặt ra hai bên, gọi là chùa Tàu Mã. Năm 1897 đổi tên là chùa Kim Sơn. Năm 1932 xây dựng lại chùa, dựng tòa tam bảo, đền thờ Mẫu và đàn Vạn Linh. Năm 1952 nghĩa địa Kim Mã chuyển lên nghĩa trang Yên Kỳ 1953 xây ngũ môn quan. Năm 1952 chùa Linh Sơn ở phố Nguyễn Trường Tộ bị bom Mĩ tàn phá, toàn bộ tượng Phật của chùa Linh Sơn được chuyển về chùa Kim Sơn và đặt trong gian thờ Vạn Linh của chùa Kim Sơn.
Chùa được xây dựng gồm: giải Ngũ Môn ở trước chùa 50m. Trong ngũ môn có treo 1 quả chuông đồng khá lớn và có đặt 1 pho tượng Phật. Qua ngũ môn là một khu vườn trong có bể non bộ, 2 ngọn tháp và nhiều cây cau.
Tiếp đó là một sân gạch rồi đến chùa chính được bố cục ba phần tương đối độc lập. Chính giữa là toà Tam bảo thờ Phật, bên phải là Vạn Linh đàn, bên trái là đền thờ Mẫu. Toà Tam bảo được xây cao hẳn lên và thông sang Vạn Linh đàn và đền thờ Mẫu bằng 2 cửa ngách. Nóc đền thờ Mẫu và nóc Vạn Linh được đắp hình lưỡng long chầu nguyệt.
Nóc tam bảo thì chính giữa đắp bảng ghi ba chữ Kim sơn tự, hai bên bảng là 2 con rồng. Phần bên ngoài có hương án trên đặt 3 ngai thờ Hùng Vương ở giữa, hai bên là hai bệ thờ mỗi bên có 3 tượng nữ thị vệ và binh khí như long đao, kiếm.
Phía sau toà Tam bảo, Vạn Linh đàn và nhà Mẫu có nhà hậu để thờ các vị sư tổ trụ trì tại chùa Kim Sơn đã quá cố và cũng để cho sư ở. Cạnh nhà hậu là cổng hậu trông ra phố Kim Mã. Hiện nay ở chùa Kim Mã có một pho tượng Phật bằng đồng, cao 76,8 cm nặng khoảng trên 30 kg. Tượng được thể hiện tư thế đứng thẳng với tay ấn “vô ủy” trên một bệ dạng hình hộp gần vuông đúc liền khối với tượng. Mặt trước chân bệ có khắc chìm một dòng chữ Lào.
Sư cô Thích Đàm Tiến hiện nay là trụ trì chùa đã tổ chức nhiều lần trùng tu, tôn tạo nhiều hạng mục của ngôi chùa. Chánh điện được bài trí trang nghiêm , Tam quan mới được xây dựng lại bề thế , nhà khách … . Chùa có nhiều pho tượng gỗ có giá trị nghệ thuật. Chùa Kim Sơn đã được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là Di tích lịch sử – văn hóa quốc gia năm 1985.
![]() |
Tướng mặt của những kiểu sếp “khó chiều”![]() |
![]() |
| => Xem thêm: Nốt ruồi và ý nghĩa của các vị trí trên cơ thể |
Chỉ ra tướng mặt người nghèo khó và cách thoát nghèo
Người tuổi Sửu và tuổi Sửu có thể hợp tác nhưng ít có triển vọng bởi cả hai đều không có đầu óc kinh doanh.
Người tuổi Sửu và tuổi Dần hợp tác không đem lại nhiều thành công. Thông thường, hai bên không đồng quan điểm nên đa phần người tuổi Sửu sẽ lép vế trước người tuổi Dần.
Người tuổi Sửu và tuổi Mão hợp tác không mấy vui vẻ. Hai bên thường không tin tưởng lẫn nhau. Việc hợp tác chỉ đơn thuần là mối quan hệ cả hai cùng có lợi.
Người tuổi Sửu và tuổi Thìn thường chỉ hợp tác được với nhau trong thời gian ngắn. Hai bên đều có ý tưởng kinh doanh nhưng không ai chịu nhường ai. Kết quả là họ khó kéo dài được quan hệ hợp tác.
|
| (Ảnh chỉ mang tính chất minh họa) |
Người tuổi Sửu và tuổi Tỵ không nên hợp tác với nhau bởi cả hai đều khăng khăng giữ quan điểm riêng của mình.
Người tuổi Sửu và tuổi Ngọ hợp tác kinh doanh khá ăn ý. Hai bên nỗ lực làm việc, đối xử chân thành với nhau, sự nghiệp nhất định sẽ phát triển.
Người tuổi Sửu và tuổi Mùi không nên hợp tác, họ không thể làm việc được với nhau để tránh những thất bại sau này.
Người tuổi Sửu và tuổi Thân không nên hợp tác. Trâu thích khỉ nên thường bị khỉ lợi dụng. Mối quan hệ hợp tác sẽ gây bất lợi cho người tuổi Sửu.
Người tuổi Sửu và tuổi Dậu có thể hợp tác với nhau. Tuy nhiên, người tuổi Sửu bỏ ra nhiều công sức hơn. Họ thường cho rằng người tuổi Dậu lười biếng và xem thường thế mạnh của người này.
Người tuổi Sửu với tuổi Tuất không nên hợp tác với nhau bởi hai bên không đồng quan điểm.
Người tuổi Sửu với tuổi Hợi hợp tác khá ăn ý. Người tuổi Hợi rất khâm phục năng lực và tinh thần làm việc của người tuổi Sửu. Trong khi đó, người tuổi Sửu lại thu được nhiều lợi ích khi hợp tác với người tuổi Hợi.
Theo Bách khoa toàn thư 12 con giáp
Là một người lãnh đạo sáng suốt, dù tuổi đời còn rất trẻ nhưng Pháp Loa đã đưa Thiền phái Trúc Lâm phát triển tới một đỉnh cao mới. Ông cũng là người tổ chức ấn hành Đại Tạng Kinh, một cuốn sách quan trọng của Phật giáo tại Việt Nam… Những thành tựu mà Pháp Loa có được đã khiến cuộc đời của ông được bao quanh bởi vô số những câu chuyện đẫm tính huyền thoại.
>> Xem TỬ VI 2016 mới nhất!
>> Xem VẬN HẠN 2016 mới nhất!
1./ Giấc mơ kì lạ khi Nhị Tổ Pháp Loa ra đời
Nhị Tổ Pháp Loa sinh ngày 7 tháng 5 niên hiệu Thiệu Bảo thứ 4, tức năm 1284, quê ở làng Cửu La, huyện Chí Linh, lộ Lạng Giang (nay là huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương). Người vốn tên thật là Đồng Kiên Cương, sau này đi tu mới đổi pháp hiệu là Pháp Loa. Cha của Ngài là Đồng Thuận Mậu, mẹ tên là Vũ Từ Cứu. Câu chuyện về sự ra đời của Ngài lưu truyền từ trước tới nay đẫm màu huyền thoại, vẫn chưa thể biết là thật hay giả.

Tương truyền, có lần bà Vũ Từ Cứu có lần nằm mộng thấy một vị thần đến trao cho thanh kiếm, bà vui vẻ nhận rồi sau đó thì mang thai. Trước khi sinh Pháp Loa, cha mẹ ông đã sinh tới 8 người con nhưng đều là gái, vì vậy sợ lần này cũng sinh ra con gái nên mẹ ông đã dùng thuốc để bỏ cái thai đi. Tuy nhiên, thuốc không có công hiệu dù mẹ ông đã cố gắng dùng thuốc tới 4 lần. Và cuối cùng, Pháp Loa đã được sinh ra.

Chuyện cũng kể rằng, khi Pháp Loa mới sinh ra, người ta cảm thấy có một mùi thơm kỳ lạ bay tỏa khắp nhà. Mọi người đều cho rằng đó là điềm lành và đứa bé này chắc chắn sẽ làm nên sự nghiệp lẫy lừng. Cha mẹ Pháp Loa sinh được con trai lại là một đứa bé kỳ lạ nên rất vui mừng. Nhân việc mẹ ông dùng thuốc phá thai tới 4 lần mà vẫn sinh ra được Pháp Loa nên cha mẹ ông mới quyết định đặt tên cho ông là Kiên Cương (nghĩa là cứng rắn).
2./ Thời niên thiếu và cơ duyên với Phật pháp của Nhị Tổ Pháp Loa.
Không hề phụ sự kỳ vọng của cha mẹ, ngay từ nhỏ, Pháp Loa đã tỏ ra là một đứa trẻ thông minh, học một biết mười. Tuy tuổi còn rất trẻ nhưng Pháp Loa đã rất uyên bác. Ông không chỉ tinh thông Phật học mà cả Nho, Lão cũng rất am tường. Một điều đặc biệt là từ nhỏ tới lớn, Pháp Loa tuyệt đối không dùng các thứ thịt, cá. Ngoài ra, ông cũng không hề nói lời xấu, ác và rất biết trọng đức hiếu sinh, giống hệt như một đệ tử nhà Phật.
Năm Hưng Long thứ 12, tức năm 1304, Hoàng Giác Điếu Ngự Trần Nhân Tông, vị Tổ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử cùng với đoàn sứ giả du hành khắp nơi trong cả nước để hoằng pháp, bố thí và khuyên dân phá bỏ những miếu thờ thần không chân chính, hướng tâm vào các việc phúc thiện. Khi đoàn sứ giả của Trần Nhân Tông tới huyện Nam Sách quê của Pháp Loa, ông đã tìm đến yết kiến Hoàng Giác Trần Nhân Tông và cầu xin được đi xuất gia.
Hoàng Giác Trần Nhân Tông nhìn cậu bé Pháp Loa khôi ngô, tuấn tú vui mừng nói: “Kẻ này có tuệ nhãn, ắt sau này làm long thịnh cho Phật pháp!” thế rồi cho ông đi theo hầu về chùa Long Động, làm lễ xuống tóc và cho thụ giới sa di. Sau đó, Hoàng Giác Trần Nhân Tông gửi Pháp Loa tới tham học với hòa thượng Tính Giác ở Quỳnh Quán. Ở đây, Pháp Loa chuyên nghiên cứu kinh Lăng Nghiêm, khi đọc phần chính tông, khi nói về việc đệ tử A Nan bảy lần hỏi về cái “tâm” đến đoạn nói về “khách trần” thì bừng tỉnh, nhận ra là, “tính thấy vốn không sinh, diệt” thì Pháp Loa có được sở ngộ.

Một hôm, Pháp Loa về gặp thầy mình là Hoàng Giác Trần Nhân Tông và trình kiến giải của mình bằng một bài tụng về “tam yếu”.
Tuy nhiên, bài tụng của ông bị Hoàng Giác Trần Nhân Tông gạch một gạch dài từ trên xuống dưới. Sau đó, Pháp Loa thỉnh cầu mấy lần nhưng Trần Nhân Tông đều làm thinh, bảo: “Hãy tự mình tham khảo lấy”. Đêm ấy, Pháp Loa về phòng nhập thiền, tâm trí bị dao động mạnh với bao ý nghĩ vụt hiện, vụt tắt. Đến quá nửa đêm, nhân thấy hoa đèn tàn rồi rụng xuống, Pháp Loa chợt đại ngộ. Sáng hôm sau, Pháp Loa lên trình chỗ sở ngộ của mình tối hôm qua và được Hoàng Giác Trần Nhân Tông ấn chứng.
Từ đó, Pháp Loa nguyện tu theo mười hạnh đầu đà và phát lời nguyện nổi tiếng: “Chư Phật và Bồ Tát, có những hạnh nguyện nào, tôi xin học và thực hành theo; dù chúng sinh khen hay chê, dù khinh hay trọng, dù bố thí hay cướp đoạt, khi mắt thấy, tai nghe cũng đều hỉ xả, khiến cho tất cả cùng bước lên nấc thang giác ngộ”.
Đến năm Hưng Long thứ 13, tức năm 1305, Hoàng Giác Trần Nhân Tông lập đại giới đàn để Pháp Loa thụ Tỳ khưu và Bồ tát. Lúc này, Hoàng Giác Trần Nhân Tông mới quyết định đổi pháp danh Thiên Lai của ông thành Pháp Loa. Qua nhiều lần khảo chứng, nhận thấy Pháp Loa đã ngộ đạo, lại tinh thông kinh điển nên Hoàng Giác Trần Nhân Tông đã cử ông làm chủ giảng tại chùa Báo Ân ở Siêu Loại (nay thuộc Bắc Ninh).
Năm 1307, Pháp Loa cùng với năm vị pháp hữu tới am Ngọa Vân cầu thỉnh Trần Nhân Tông dạy bộ Đại Tuệ Ngữ Lục.Tháng 5 năm đó, trên am Ngọa Vân, khi làm lễ bố tát xong, ngài được Hoàng Giác trao y bát và tâm kệ.

Tới đúng ngày mồng 1 Tết năm 1307, Pháp Loa ngài chính thức được Hoàng Giác cử giữ chức trụ trì chùa Báo Ân, và được suy tôn là Tổ thứ 2 của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Lúc đấy Ngài mới bước sang tuổi 23. Ngày 3 tháng 11 năm Hưng Long thứ 14, tức năm 1308, Trần Nhân Tông qua đời. Pháp Loa phụng mệnh đưa xá lợi vua về kinh đô.
3./ Sự nghiệp tu hành, phật pháp của Nhị Tổ Pháp Loa.
Sau khi Pháp Loa chính thức được suy tôn là Tổ thứ 2 Thiền phái Trúc Lâm, trở thành người lãnh đạo Phật tử trong cả nước, số người xin xuất gia và quy y học đạo rất đông, số lượng lên tới hàng vạn. Do đệ tử ngày một đông nên Pháp Loa phải nhờ hai vị sư huynh là Tông Cảnh và Bảo Phác về chùa Báo Ân dạy luật Tứ phần cho các đệ tử.
Khi đó, Tông Cảnh trụ trì chùa Tiên Du và Bảo Phác trụ trì chùa Vũ Ninh, cả hai người lúc đó đều đã được triều đình tôn là quốc sư. Pháp Loa nhận trách nhiệm giảng các bộ kinh lớn như Kim Cương, Lăng Nghiêm, Hoa Nghiêm, Lăng Già, Viên Giác, Pháp Hoa và Niết Bàn, các bộ ngữ lục như: Đại Tuệ Ngữ Lục, Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục… Ngoài ra, ông còn tới thuyết pháp cho tín đồ tại các chùa Quỳnh Lâm, Dưỡng Phúc, Xí Thịnh Quang, An Lạc Tàng Viện và Kiến Xương phủ.

Trong số các đệ tử kể trên, đắc pháp khoảng 3.000 người. Số tự viện cũng được xây dựng rất nhiều, gồm 800 sở, dựng hai đài giảng kinh, xây 5 cây bảo tháp, đúc 1.300 tượng Phật lớn nhỏ bằng đồng. Trong thời gian này, Pháp Loa cũng là người tổ chức in bộ Đại Tạng Kinh đời nhà Trần nổi tiếng còn được lưu truyền đến ngày nay. Chưa bao giờ Phật giáo phát triển thịnh vượng đến thế.
Tới năm Đại Khánh thứ 4, tức năm 1317, đời Trần Minh Tông, Pháp Loa bị ốm nặng liền viết tâm kệ và lấy bộ pháp y của Hoàng Giác trao cho mình khi trước để trao lại cho đệ tử Huyền Quang, pháp khí và tích trượng thì trao cho Cảnh Nguyện, phất tử trao cho Cảnh Huy, gậy trúc trao cho Huệ Quán, pháp thư trao cho Huệ Nhiên, linh vàng trao cho Hải Ân, mỏ vàng trao cho Huệ Chúc… Tuy nhiên, chỉ sau đó ít ngày, sức khỏe của Pháp Loa lại bình phục trở lại.

Tới năm 1318, Thượng hoàng Trần Anh Tông mời Pháp Loa vào cung Thiên Trường để giảng cho mình về bộ Tuyết Đầu Ngữ Lục. Sau khi khóa giảng kết thúc, Anh Tông tự tay viết 4 chữ “Phổ Tuệ Tôn Giả” tặng Pháp Loa. Người ta nói rằng, vua Anh Tông rất tôn kính Pháp Loa, thường khiêm tốn xưng với ông là đệ tử.
Không chỉ Trần Anh Tông, các thành viên hoàng thất và quý tộc triều Trần cũng rất tôn kính Pháp Loa. Quốc vụ thượng tể Quốc Chấn cũng mời ông vào phủ An Hoa giảng Đại Tuệ ngữ Lục. Cũng năm ấy, Pháp Loa còn trao giới tam quy tại gia cho công chúa Hoa Dương.
Tới ngày 2/5/1330, niên hiệu Khai Hưu thứ 11, lúc đang giảng kinh Hoa Nghiêm cho chúng đệ tử tại viện An Lạc thì Pháp Loa bỗng dưng cảm thấy trong người khó chịu. Ông đành nhờ trưởng lão Bích Phong thay mình giảng tiếp rồi lui về phòng nghỉ ngơi. Từ hôm đó cho tới ngày 11 thì bệnh của ông ngày càng nặng hơn. Ngày 13, các đệ tử đưa ngài về viện Quỳnh Lâm tĩnh dưỡng. Tại đây, Thượng hoàng Minh Tông đích thân tới thăm và gọi ngự y tới chẩn mạch, cắt thuốc cho Pháp Loa nhưng bệnh vẫn không thuyên giảm. Tới lúc này, các đệ tử mới quỳ xuống thưa: “Xưa nay các bậc đại ngộ, lúc sắp tịch, đều có những lời kệ để lại cho đời sau, sao riêng thầy không có?”.

Pháp Loa liền ngồi dậy, cầm bút viết bài kệ rằng:
Vạn duyên tài đoạn nhất thân nhàn,
Tứ thập dư niên mộng huyễn gian,
Trân trọng chư nhân hưu tá vấn,
Na biên phong nguyệt cánh man khoan
Nghĩa là:
Muôn duyên cắt đứt,
Một thân nhan,
Trót nửa cuộc đời mộng thế gian,
Hỡi các môn đồ đừng gạn hỏi,
Bên kia trăng gió đẹp mênh mang
Viết xong bài kệ, Pháp Loa an nhiên viên tịch, hôm đó nhằm ngay 3 tháng 3 năm 1330, thọ 42 tuổi. Sau khi được tin Pháp Loa viên tịch, Thượng hoàng Trần Minh Tông ngự bút truy tặng ngài là Tịnh Trí Đại Tôn Giả. Các đệ tử theo di chúc của Pháp Loa, đưa nhục thể ông về an táng tại ngọn tháp trên núi Thanh Mai.
Tượng Nhị tổ Pháp Loa thờ tại Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt
Mặc dù qua đời khá sớm nhưng trong suốt 24 năm ròng rã, Pháp Loa đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh mà thầy mình là Trần Nhân Tông giao phó, trở thành vị tổ nổi tiếng của dòng thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.
>> Xem TUỔI XÔNG ĐẤT 2016 mới nhất!
>> Xem NGÀY TỐT XẤU 2016 mới nhất!
Theo Phật giáo Việt Nam
![]() |
“Tên tự” khái niệm mà người xưa dùng. Có thể nói như ngày nay ta dùng bí danh. Nó khác ở chỗ ngày nay nhiều khi người ta dùng bí danh thay cho các trường hợp thay tên thường gọi trong các văn bản, bút từ mà không muốn dùng tên thật.

“Tên tự” người xưa còn thay cho tên gọi, trừ tên húy. Xin lấy một ví dụ mà nhiều người có học Hán học đều biết đó là Khổng Tử có tên tự là Khổng Khâu; tên húy Khổng
Trọng Mi: Người ta lại còn đặt – phong cả tên “Thụy” (tên khi chết) được truy nữa.
Người xưa có học thường đặt cho mình nhiều loại tên để ký tự, để giao dịch v.v… Song tên gọi “chính tắc” thì chỉ có một nó có tính pháp lý, mang tính pháp lý và quyền uy. Chỉ có tên này mới dùng để số hóa. Và những số biểu lý của nó mới chứa đựng thông tin. Bởi nó chứa chất “khí lực” tiên, hậu. Nghĩa là ông bà, cha mẹ đặt cho và mình dùng nó (đa phần) suốt cả cuộc đời. “Tên tự” thì không như vậy. Nó do chính bản thân đặt lấy. Nó không có “thiên khí”, nó chỉ có một phần “nội lực”.
Bày bể cá phong thủy ở huyền quan có tác dụng phong thủy rất tốt. Nhưng bày thế nào cho đúng chuẩn, tránh những sai lầm đáng tiếc? Hãy lưu ý vài điểm dưới đây nhé.
![]() |
![]() |
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
BÍNH TÝ: GIẢN HẠ THỦY
Trong tử vi Bính Tý là con chuột trong sơn động, tính cách chính trực, là người trọng đạo nghĩa, phàm mọi việc đều biết giới hạn, làm việc tỉ mỉ cẩn thận, thái độ cung kính khiêm nhường.
Giản hạ Thủy xuất phát là con sóng nhỏ, sau trở nên chảy xiết, nối liền dòng Nam Bắc, đứng đốì mặt với cung vị Khảm, Ly.

Bình Tý là Thủy chảy nơi đồng bằng, không kỵ Thủy khác, duy không ưa Canh Tý Bích thượng Thổ, là vượng gặp Ngũ quỷ, không tốt, còn chủ về con cái duyên mỏng.
Phàm là người sinh năm Bính Tý thường tư chất khoáng đạt, kiến thức sâu rộng, sinh vào mùa xuân hạ có nhiều thành tích đóng góp, nhất là theo công trình thủy lợi.
Thủy này trong xanh, ưa gặp Kim nuôi dưỡng, nhất là ưa Ất Mùi Sa trung Kim; Nhâm Thân, Quý Dậu Kiếm phong Kim. Không nên gặp Canh Tuất Thoa xuyến Kim và Đinh Sửu Giản hạ Thủy.
Bính Tý gặp Tân Hợi chủ về hiển quý, gặp Mộc là tốt, nhiều Mộc chủ vất vả khổ cực. Nạp âm không được có Thổ, phạm vào chủ về người ngu muội, là phá cách, không có tiền đồ. Kỵ nhất Canh Ngọ, Tân Mùi Lộ bàng Thổ và Mậu Thân, Kỷ Dậu Đại dịch Thổ.
Trong tử vi Bính tý không ưa chi khác có Mão là phạm hình, không biết kính trọng bề trên, không trọng lễ tiết, thực chất trong lòng không có ý ngỗ ngược, nhưng khiến cho đối phương cảm thấy đau lòng. Mệnh nữ tối kỵ, chủ bất hiếu vói bố mẹ chồng. Nếu tọa thời chi, có nỗi đau để tang con, người đầu bạc khóc kẻ đầu xanh.
Chi khác có Tý, vợ chồng duyên mỏng.
Chi khác có Thìn, nên nương nhờ nơi cửa Phật.
Bính Tý Không vong tại Thân Dậu, nếu tọa nhật chi, khắc vợ hoặc chồng. Nếu tọa thời chi, khắc con cái, cuối đời chán nản.
Can khác không ưa có Nhâm, phạm vào chủ là người làm những việc tổn hại đến danh dự.
Bính lộc tại Tỵ, can khác có Tỵ, Thân đều chủ về cát lợi.
Chi khác có Hợi là đắc quý nhân.
Mệnh nam nên theo nghiệp diễn viên, mệnh nữ thường lưu lạc phong trần.
Mỗi khi gặp năm Tý, Ngọ, trong nhà không yên ổn, không hại đến bản thân cũng hại đến người nhà.
Bạn đời không nên gặp người sinh năm Nhâm, Quý. Nên tìm người sinh năm Canh, Tân.
Top 3: Tuổi Dậu
Tính cách hơi kiêu ngạo, luôn xem mình như “nữ hoàng” và rất rộng lượng với bản thân. Những chuyện phải đụng tay vào thứ không sạch sẽ hay mệt mỏi đều khiến bạn khó chịu. Bạn cho rằng cả ngày ru rú trong nhà để làm những chuyện không tên không phải bổn phận của bậc cao quý như bạn, bạn thích cuộc sống hưởng thụ hơn. Có thể nói, bạn luôn đòi hỏi được chăm sóc chứ không phải mình chăm sóc người khác.
![]() |
Top 2: Tuổi Thân
Tính cách không chịu an phận nên bạn không thích làm một người phụ nữ của gia đình, nhất là phải động tay vào việc sinh hoạt trong nhà. Bạn thích những cuộc tụ tập bên ngoài hơn là ở nhà. Cho dù miễn cưỡng phải làm cô gái đảm đang thì bạn cũng sẽ khiến mọi thứ rối tung lên mà thôi.
Top 1: Tuổi Ngọ
Làm chuyện gì cũng đòi hỏi nhanh mà không cần chất lượng nên bạn thật sự khó đảm đương tốt chuyện nhà. Bạn có thể xắn tay làm nhưng lại làm qua loa và hỏng hóc, hậu quả còn lại để người khác dọn dẹp và vô tư nghĩ rằng mình “đã có làm” là được rồi. Nếu ai đó chê trách bạn không đảm đang, thậm chí bạn còn tỉnh bơ phản ứng lại rằng người đó ghét mình.
Khang Ninh (theo Meiguoshenpo)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)

| Tháng sinh |
Giờ phạm |
Tháng sinh |
Giờ phạm |
| Giêng |
Giờ Tị (9-10-11) |
Bảy |
Giờ Hợi (21-22-23) |
| Hai |
Giờ Ngọ (11-11-13) |
Tám |
Giờ Tý (23-0-1) |
| Ba |
Giờ Mùi (13-14-15) |
Chín |
Giờ Sửu (1-2-3) |
| Tư |
Giờ Thân (15-16-17) |
Mười |
Giờ Dần (3-4-5) |
| Năm |
Giờ Dậu (17-18-19) |
Mười một |
Giờ Mão (5-6-7) |
| Sáu |
Giờ Tuất (19-20-21) |
Chạp |
Giờ Thìn (7-8-9) |
![]() |
Tìm Văn Xương vị trong 5 năm tới để nhanh đỗ đạt vinh hiển![]() |
| ► Xem bói tử vi để biết tình yêu, hôn nhân, vận mệnh, sự nghiệp của mình |
Cô Thần, Quả Tú hay Đẩu Quân: chỉ sự lẻ loi, xế bóng, cô đơn, kén chọn, có tác dụng ngăn trở việc lập gia đình. Càng hội tụ nhiều, sự ngăn trở càng mạnh, trừ phi gặp nhiều sao tình duyên bù chế.
Thái Tuế, Quan Phù, Quan Phủ: Thái Tuế đối nghĩa với Đào, Hồng vì vậy làm cản trở sự kết duyên. Quan Phù và Quan Phủ chỉ sự phản bội, sự phụ rẫy trong tình yêu.
Phục Binh: chỉ sự cản trở, thường là bắt nguồn từ cha mẹ mỗi bên không tán thành duyên số cho đôi trẻ. Mặt khác, sao này còn chỉ sự phá hoại, rình rập, bắt ghen, bêu xấu.
Địa Không, Địa Kiếp hãm địa: chỉ sự xui xẻo về mọi phương diện. Không Kiếp hãm làm cho việc cưới hỏi bất thành, trai gái phải đau khổ vì mối tình bất toại, đôi khi đưa đến hậu quả tai hại cho tính mạng.
Phá Quân hãm địa: không bao giờ có lợi cho hôn nhân và cho hạnh phúc lứa đôi. Hạn rơi vào, việc lập gia đình sẽ bị tan vỡ.
Tuần, Triệt: phá vỡ, làm chậm trễ, làm khó khăn cho hôn nhân. Nếu cả hai đồng cung ở hạn đó thì sự bế tắc quan trọng. Trong trường hợp đơn thủ mà gặp sao xấu tại cung hạn, sự khó khăn, trắc trở xảy ra trong buổi đầu: hôn nhân sẽ đến chậm.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Mỹ Ngân (##)
Với một cuộc sống công nghiệp, thời gian dành cho người thân và bạn bè ngày càng ít, để rút ngắn khoảng cách ấy, con người đã phát minh ra rất nhiều thứ như: điện thoại, internet, máy bay… Trong ố đó, có một thứ mà các bà nội trợ hoan nghênh nhất, đó là nồi cơm điện. Dù có bận công việc đến đâu, với chiếc nồi nhỏ xinh, bạn có thể nấu được một nồi cơm ngon nhờ thao tác cực kỳ ngắn gọn là cho gạo, nước vào và cắm điện là xong.

Ngoài tác dụng mang lại cho bạn một bữa cơm ngon, ít ai biết rằng nồi cơm điện cũng ảnh hưởng đến từ trường trong nhà và ảnh hưởng đến hung cát của phong thuỷ ngôi nhà. Phong thuỷ cho rằng, để nồi cơm điện vào chỗ có lưu niên vượng nhất có thể thúc đẩy được cát tinh khí trường. Vì vậy, cách tốt nhất là đặt vị trí của nồi cơm điện ở vị trí thuộc mệnh của chủ nhà. Nếu người chủ là nam muôn tăng tính Hoả thì để ở hướng Tây Bắc, người chủ là nữ thì để ở hướng Tây Nam, con trai cả thì để ở hướng Đông, con gái cả thì để ở hướng Đông Nam.
![]() |
| Hướng tiền sảnh | Màu hung | Màu cát | Hình kỵ | Hình cát |
| Bắc | Đỏ, hồng | Trắng, sữa | Vuông | Làn sóng |
| Nam | Vàng, da cam | Đỏ, hồng | Làn sóng | Tam giác |
| Đông | Trắng, sữa, kim | Xanh | Tròn | Cao, thẳng |
| Tây | Đỏ, hồng, tím | Trắng, sữa, kim | Tam Giác | Tròn |
| Tây Bắc | Đỏ, hồng, tím | Trắng, sữa, kim | Tam giác | Tròn |
| Tây Nam | Xanh | Vàng, da cam, nâu | Thẳng đứng | Vuông |
| Đông Bắc | Xanh | Vàng, da cam, nâu | Thẳng đứng | Vuông |
| Đông Nam | Trắng, sữa, kim | Xanh | Tròn | Cao, thẳng |
Bài viết của tác giả Anh Việt
Chúng tôi đã nêu các bảng lập thành để các bạn an sao.
Chúng tôi đã nêu lên luật Âm Dương và luật sinh, khắc chế hóa giữa các Hành của Sao với Hành của Cung (để có sao miếu địa, đắc địa hay hãm địa), và giữa các Hành của Sao và Hành của Mạng. Chúng tôi đã có một bản về các Sao, Hành, Phương, Âm Dương của các sao đó, cùng với vị trí miếu, đắc địa hay hãm địa của các sao. Chắc các bạn đã sử dụng tất cả các nguyên tắc đó.
Trong kỳ này, chúng tôi xin tiếp sang một nhận xét khác, tuy vẫn là nhận xét đại cương, về tánh chất các sao, thay đổi tánh chất tốt xấu và ý nghĩa tùy tên của Cung (cung Mạng, cung Phúc Đức) và tùy theo những sao khác gặp phải.
Khi theo dõi cuộc kiểm điểm đại cương này, các bạn nên có trong đầu óc phương hướng, Âm Dương và Hành của mỗi sao, cùng với những cung miếu địa, đắc địa hay hãm địa của mỗi sao (theo như kỳ trước). Các bạn cũng nên luôn luôn nhớ lại rằng sao tốt, nhưng nếu Hành của sao lại khắc Mạng của con người, thì cái hay của sao lại dùng để khắc Mạng, sẽ có hại. Đối với sao Hung cũng vậy, tuy là xấu trong bản chất, nhưng ở nơi miếu địa, đắc địa, thì cũng có ảnh hưởng tốt, ảnh hưởng đó thường là bộc phát bất ngờ, nhưng các hung tinh miếu địa đó cũng phải có Hành nuôi dưỡng cho Mạng mới được.
Tử Vi là đế tinh, đứng đầu các sao. Tại Mạng là biểu hiện của sự thông minh, uy nghi, trung hậu nếu là miếu địa. Nếu còn đắc địa, cũng biểu hiện sự thông minh, thao lược. Ở đất bình hòa, chỉ là sự nhân hậu.
Nhưng đấy là kể Tử Vi không bị chặn. Nếu gặp Tuần-Triệt, Kình, Đà, Không, Kiếp thì lại hỏng, đó là Đế ngộ hung đồ, ảnh hưởng tốt của Tử Vi bị phá hết.
Tử Vi mà không gặp hung đồ, lại được thêm các trung tinh phò tá như Xương, Khúc, Khôi, Việt, Tả, Hữu thì không khác gì vua giỏi có đủ quần thần, hiển hách, cao sang lắm. Tử Vi gặp thêm Thiên Tướng, hoặc Thất Sát, hoặc Lộc, Mã cũng rất tốt.
Tử Vi gặp thêm Thiên Phủ càng thêm trọng hậu, con người tốt và thêm sự giầu có.
Tử Vi không sợ Hỏa, Linh. Tử Vi còn chế ngự được Hỏa, Linh.
Gặp hạn, mà thấy Tử Vi tốt đẹp, là không những được hay, mà còn giải trừ được các họa hại. Nhưng nếu Tử Vi có xấu (tức là gặp Tuần, Triệt, Kình, Đà, Không, Kiếp) thì lại gặp những không may, hoặc Tử Vi ở các nhàn cung (Hợi, Tí, Mão, Dậu), thì Tử Vi không còn cứu được các họa hại nữa.
Tử Vi chủ về quan lộc, tiền tài, phúc đức, ở vào các cung mang tên đó và cung Mạng mới hay (nếu đất tốt).
Liêm Trinh là thứ sao võ tướng, chỉ công danh lớn, sự thẳng thắn, nóng nảy, sự liêm khiết. Đó là Liêm Trinh ở đất tốt và hợp Mạng. Liêm Trinh ở đất xấu, con người thành khắc nghiệt. Liêm Trinh cũng có đặc tánh như một thứ sao Đào Hoa, còn gọi là Đào Hoa thứ hai (nếu thủ Mạng).
Nếu Liêm Trinh ở đất xấu, thì chủ về sự kiện cáo, tù tội (như người mà Mạng có Liêm, Tham ở Tị, Hợi, thời cuộc đời thường bị tù hay bị kiện cáo). Liêm Trinh, dù có ở đất tốt mà gặp Xương, Quan, Phủ đồng cung, cũng có ảnh hưởng đó. Nếu ở đất xấu, lại thêm Kị, Hình và sát tinh (Kình, Đà, Không, Kiếp, Hỏa, Linh) thì Liêm Trinh còn tác hại mạnh.
Liêm Trinh chủ về quan lộc, ở Mạng và Quan Lộc và có đất tốt, mới hay, chứ ở các cung khác như Tài Bạch, chẳng giúp ích gì).
Chủ về Phúc, Thọ, nên ở Phúc Đức, Mạng, mới hay, ở các cung khác kém hay.
Người có Thiên Đồng tại đất tốt là người trung hậu, từ thiện, vui vẻ, nhưng cũng hay canh cải hay thay đổi. Nếu Thiên Đồng tại Mạng mà bị đất xấu, con người cũng hay canh cải, thay đổi, hay gặp chuyện kiện cáo, thị phi bực mình, nhưng bản chất cũng nhân hậu.
Chủ về công danh và tài lộc, nên ở cung Mạng, Thân và Tài Bạch, Điền Trạch, lại được đất tốt, là tốt. Ở các cung khác kém hay, không đúng cung.
Người được Vũ Khúc tại Mạng, nơi đất tốt, là người cương nghị, có công danh, có tài lộc. Nhưng nếu Vũ Khúc ở hãm địa, thì con người lại tham lam, ương ngạnh, hay thất tài.
Vũ Khúc là sao mạnh, nên không sợ các sát tinh phá. Có gặp các sát tinh đồng cung, Vũ Khúc cũng át đi được. (Sát tinh là Kình, Đà, Không, Kiếp, Hỏa, Linh).
Tức là mặt trời. Sao này chủ về quan lộc, công danh. Về phần Mặt trời, lại còn thêm yếu tố giờ giấc. Như người Mạng có Thái Dương, mà sanh ban ngày (tức là giờ có mặt trời trên bầu trời) là tốt đẹp.
Có Thái Dương tại Mạng, ở đất tốt, là người thông minh, nhân hậu, có công danh, có tài lộc, có uy quyền. Ở đất xấu kém thông minh, ít uy quyền, nhưng cũng nhân hậu.
Thái Dương gặp Đào, Hồng, Hỉ hay Hỏa, Linh đắc địa càng tốt hơn. Thái Dương gặp Riêu, Đà, Kị, hoặc Kình, Không Kiếp thì giảm đi. Ở Miếu địa gặp Tuần Triệt thì bị chế bớt. Nhưng nếu Thái Dương ở hãm địa gặp Tuần, Triệt lại tốt thêm. Thái Dương có thêm Kị (biểu tượng mây che), không khác nào mặt trời thêm mây ngũ sắc, càng tốt hơn.
Mạng của đàn bà mà có Thái Dương thì kém hơn.
Đây là sao Thiện, chủ về phúc thọ và huynh đệ. Được Thiên Cơ tại Mạng ở đất tốt, là người khéo léo, có mưu lược, từ thiện, nhân hậu. Nhưng hãm địa, các đức tánh trên kém đi.
Là tài tinh và quyền tinh, cũng có khả năng cứu giải khỏi các tai nạn, bệnh tật nếu ở đất tốt và không bị tiết giảm.
Ở đất tốt, Phủ làm cho Mạng thêm quyền lộc, làm cho bản chất con người từ thiện, nhân hậu.
Gặp những sao Kình, Đà, Hỏa, Linh, không sợ. Nhưng gặp Tuần, Triệt ngay tại cung đó và Không, Kiếp, Thiên Không thì bị ngăn trở nặng, lại bị ảnh hưởng xấu.
Được Thiên Phủ ở Tài Bạch mà không bị các cách xấu ngăn trở thì giầu to.
Chủ về công danh cũng như về điền trạch, tài sản, thiên về tài sản nhiều hơn.
Thái Âm là mặt trăng, nếu người sanh ban đêm thì tốt hơn, nhất là những người sanh từ 1 đến 15 (trăng thượng huyền).
Gặp Đào, Hồng, Hỉ, tốt.
Gặp Kị đồng cung: tốt hơn (thêm mây ngũ sắc).
Gặp Riêu, Đà, Kị hay Kình, Không, Kiếp, bị cản trở.
Ở đất tốt miếu địa mà gặp Tuần, Triệt thì bị che lấp, xấu.
Ở đắc địa, thêm Tuần Triệt lại tốt lên.
Hãm địa, gặp Tuần Triệt, sáng lên.
Mạng có Thái Âm thì con người khoan hòa, từ thiện, và có nhiều may mắn, nhiều tài sản. Nhưng phải ở đất tốt. Nếu Thái Âm ở đất xấu, cũng nhân hậu nhưng suy bại.
Được Thái Âm tốt ở Điền Trạch, Tài Bạch là tốt.
Tham Lang là sao chủ về uy quyền và họa phúc, vừa là hung tinh vừa là dâm tinh. Cho nên người gặp Tham Lang đất tốt tại Mạng, thì có uy quyền, tài lộc, thọ, nhưng thích sắc dục, nếu không có cách kiềm chế. Nếu Tham Lang hãm địa thì dâm tham vô độ và quyền thế giảm kém.
Cự Môn chủ về các tai nạn thị phi, công môn; nhưng được những cách tốt thì cũng có công danh tiền bạc.
Ở đất tốt, Cự Môn tại Mạng làm cho có uy quyền, tài, lộc, làm cho thuần hậu, vui vẻ. Ở đất xấu, Cự Môn làm cho kém sáng, thành gian trá, hay có chuyện thị phu, kiện cáo.
Tại Tý-Ngọ, Cự Môn là ngọc quý giấu trong đá, cần có song Hao, hay Tuần, Triệt đồng cung, hoặc Hóa Lộc, thì mới phá vỡ được đá làm cho giầu có.
Cự Môn hãm địa hay có tai họa, nhưng gặp Hóa Khoa đồng cung lại chẳng có gì đáng sợ.
Tướng nhà trời dũng mãnh, chủ về uy quyền, tài lộc, và phúc thiện.
Tại Mạng, ở đất hay đất xấu, đều làm cho con người uy dũng có uy quyền; có tài lộc, nhân hậu, nhưng dễ đam mê.
Đi với Liêm Trinh, trừ được tánh xấu của Liêm.
Sao Thiên Tướng không sợ các sát tinh (Hỏa, Linh, Không Kiếp). Các sao này không giảm chế được Thiên Tướng, nhất là Thiên Tướng ở đất tốt. Trái lại Thiên Tướng ngộ Kình lại hay gây tai họa. Thiên Tướng ngộ Triệt, Tuần cũng không hay, ở Quan Lộc làm công danh gián đoạn, ở Mạng thì mất quyền và làm cho họa hại.
Thiên Lương chủ về sự hiền hòa, phúc thọ. Người được Thiên Lương đất tốt tại mạng, là người hiền lành, nhân hậu, biết quyền biến, tránh được các tai họa. Nhưng ở đất xấu, Thiên Lương vẫn làm cho con người hiền lành nhưng hay nhầm lẫn, đổi thay bất thường.
Là quyền tinh dũng tinh, chủ về uy lực và sự sát phạt. Tại Mạng, ở đất tốt là người có uy quyền, dũng mãnh, nóng nảy. Ở đất xấu thì hung bạo, hay bị tai họa. Nếu Thất Sát gặp Kình đồng cung thì hay có những họa lớn.
Phá Quân là hung tinh, chủ về quyền uy, nếu ở đất tốt tại Mạng thì thêm tánh can đảm và gian hiểm. Ở hãm địa, thì hung bạo, gian ác, sẵn sàng hại người và hay bị tai họa.
Phá Quân tại Mạng ở Thìn Tuất, con người dũng mãnh mà không tình nghĩa.
Gặp Hao, Phá Quân càng tác hại
Được thêm Lương, Hỉ, Lộc thì Phá Quân bị chế ngự về các ảnh hưởng xấu.
(Theo Tạp Chí Khoa Học Huyền Bí)
Vì tính cách không thích cạnh tranh nên người tuổi Hợi khá phù hợp để theo đuổi nghề giáo viên hoặc những ngành nghề phục vụ lợi ích công cộng khác. Nếu theo đuổi những ngành nghề đó, chắc chắn họ sẽ có thành tích vượt trội.![]()
Người tuổi Hợi thường rất ham học hỏi và luôn cố gắng hết mình trên con đường học tập. Điều này sẽ giúp họ phát huy được khả năng của mình trên con đường học vấn hoặc trong lĩnh vực nghệ thuật. Tuy nhiên, họ sẽ không thể có được nhiều thành tích tốt trong những lĩnh vực rộng mà chỉ trong một chuyên ngành nào đó của lĩnh vực ấy mà thôi.
Tính cách của người tuổi Hợi cho thấy rằng họ sẽ không thể phát triển được trong những ngành nghề có sự cạnh tranh gay gắt. Điều này không phải do họ không cố gắng, nỗ lực hay kém tài hơn người khác mà chỉ do tính cách của họ không thích ứng được với những lĩnh vực đó mà thôi.
Người tuổi Hợi cũng rất thích hợp để theo đuổi ngành thú ý, chăn nuôi hoặc ngành lâm nghiệp. Những ngành nghề kể trên có thể giúp họ có được cuộc sống bình lặng như mình mong muốn.
Vì không thành thạo lắm trong lĩnh vực quản lý tiền tệ nên người tuổi Hợi không nên theo đuổi ngành nghề kinh doanh, thương mại hoặc có liên quan đến tài chính.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thanh Vân (##)
Tên là mệnh, là vận mệnh của mỗi con người, tên gọi luôn gắn liền với mỗi người trong suốt cuộc đời. Việc đặt tên cho con thực sự rất quan trọng để Con có được thời vận tốt. Trong thời đại công nghệ thông tin, Bạn có thể dễ dàng chọn cho con yêu một cái tên đẹp, hay và ý nghĩa.
Nhưng quan trọng, hãy xem tên có phù hợp với con bạn không nhé. Khoa học cổ dịch đã cho thấy, nếu tên gọi đúng ngũ hành mệnh, hợp với giờ sinh của bé, sẽ mang lại cho bé nhiều may mắn, sức khỏe, thuận lợi trong cuộc sống sau này.
Nếu sinh con Trai, Bạn có thể tham khảo một số tên hay và ý nghĩa:
Tên "Kiên" có ý nghĩa kiên cường, mạnh mẽ: Quốc Kiên, Bảo Kiên, Trung Kiên, Thái Kiên, Hoàng Kiên, Hùng Kiên, Vĩnh Kiên, Trọng Kiên, Đức Kiên, Chí Kiên, Mạnh Kiên, Huy Kiên, Chí Kiên, Anh Kiên.
Tên "Lâm" chỉ cây rừng vững chãi: Việt Lâm, Tùng Lâm, Ngọc Lâm, Mạnh Lâm, Hoàng Lâm, Trọng Lâm, Quốc Lâm.
Tên "Long" mang ý nghĩa loài rồng linh thiêng, mạnh mẽ: Bảo Long, Đức Long, Hoàng Long, Mạnh Long, Tuấn Long, Vĩnh Long, Phúc Long.
Tên "Minh" mang ý nghĩa sáng láng, thông minh: Anh Minh, Tuấn Minh, Hoàng Minh, Phúc Minh, Khải Minh, Hiền Minh, Nghĩa Minh.
Tên "Nam" mang ý nghĩa phương nam, mạnh mẽ: Phương Nam, Bá Nam, Tuấn Nam, Quốc Nam, Hữu Nam, Hải Nam.
Tên "Nghĩa" mang ý nghĩa sống có trước sau, hướng thiện: Nhân Nghĩa, Đức Nghĩa, Trọng Nghĩa, Phú Nghĩa, Minh Nghĩa, Xuân Nghĩa, Trung Nghĩa, Tuấn Nghĩa.
Tên "Nguyên" là nguồn gốc, nơi bắt đầu hay là bình nguyên, miền đất rộng lớn: Đình Nguyên, Khôi Nguyên, Phước Nguyên, Hoàng Nguyên, Bảo Nguyên, Trung Nguyên, Thành Nguyên.
Tên "Phong" là ngọn gió khoáng đạt, mạnh mẽ: Lâm Phong, Đình Phong, Tuấn Phong, Hải Phong, Đông Phong, Việt Phong, Khải Phong, Hùng Phong.
Tên "Quân" là khí chất như quân vương: Minh Quân, Đông Quân, Hoàng Quân, Mạnh Quân, Trung Quân, Đình Quân, Đức Quân, Bảo Quân.
Tên "Quang" là sáng sủa, vẻ vang: Đăng Quang, Minh Quang, Mạnh Quang, Nhật Quang, Hồng Quang, Vinh Quang, Xuân Quang.
Tên "Quốc" có ý nghĩa là đất nước: Hữu Quốc, Anh Quốc, Bảo Quốc, Cường Quốc, Việt Quốc, Duy Quốc, Hoàng Quốc.
Tên "Thái" là mong đầy đủ , thanh nhàn: Quốc Thái, Minh Thái, Bảo Thái, Quang Thái, Hoàng Thái, Vĩnh Thái, Ngọc Thái.
Tên "Tuấn" là người tài giỏi xuất chúng, dung mạo khôi ngô: Quốc Tuấn, Thái Tuấn, Anh Tuấn, Minh Tuấn, Trung Tuấn, Quang Tuấn, Thanh Tuấn, Hữu Tuấn.
Tên "Thành" là thành đạt, thành công: Đức Thành, Duy Thành, Tân Thành, Phú Thành, Tiến Thành, Bá Thành, Hải Thành, Minh Thành.
Tên "Thiên" là khí phách xuất chúng: Quốc Thiên, Duy Thiên, Hoàng Thiên, Phúc Thiên, Đức Thiên, Khánh Thiên.
Tên "Thịnh" là sung túc, hưng thịnh: Phúc Thịnh, Quốc Thịnh, Hữu Thịnh, Bá Thịnh, Nhật Thịnh, Đức Thịnh, Vĩnh Thịnh.
Tên "Trung" là trung hậu, son sắt: Quốc Trung, Tuấn Trung, Hoàng Trung, Thành Trung, Quang Trung, Minh Trung.
Tên "Sơn" là mạnh mẽ, uy nghiêm như núi: Hải Sơn, Xuân Sơn, Trường Sơn, Vĩnh Sơn, Thanh Sơn, Quốc Sơn, Bảo Sơn.
Tên "Việt" là ưu việt, xuất chúng: Quốc Việt, Tuất Việt, Mạnh Việt, Duy Việt, Minh Việt, Trí Việt, Trọng Việt.
Tên "Vũ" có ý nghĩa là mưa, sức mạnh phi thường: Anh Vũ, Ngọc Vũ, Hạ Vũ, Tuấn Vũ, Trọng Vũ, Hoàng Vũ.
Bài viết của tác giả Phong Nguyên
Tục ngữ có câu “Ớt nào mà ớt chẳng cay” để nói lên bản tính ghen tuông cố hữu của giới phụ nữ có chồng. Và khổ một nỗi là các đấng lang quân đều có tâm hồn lả lướt, không nhiều thì ít, cứ luôn đề cao “trai anh hùng năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên chỉ có 1 chồng” để tự bào chữa, khiến cho các bà vợ lúc nào cũng nghi ngờ và theo dõi chồng. Thậm chí khoa Tử Vi cũng được các bà chiếu cố tận tình để tìm hiểu tâm hồn thầm kín của chồng.
Vì vậy tôi xin dành trọn bài hôm nay để bàn về “đa thê” thực sự ngõ hầu giúp được phần nào các bà biết Tử Vi đang thắc mắc về người bạn đời của mình. Nhưng tôi cũng xin nói trước với quý bà là đừng quá câu nệ tử vi (do bất cứ ai giải đoán) để đến nỗi “chén đĩa bay” 1 cách oan uổng thì lại còn tệ hại hơn, vì những điều giải đoán tử vi không bao giờ có thể hoàn toàn chính xác, nhất là khi người sử dụng không biết nắm vững.
Tôi xin tạm chia bài ra làm 2 phần:
MÔI TRƯỜNG TỬ VI THUẬN LỢI CHO ĐA THÊ
Tôi buộc lòng phải nêu ra 1 cách tương đối như vậy vì e rằng các bà áp dụng quá máy móc, đâm ra tai hại, nghĩa là tôi chỉ muốn nói rằng, nếu đàn ông nằm trong 1 trường hợp nào đó dưới đây có thể vướng vào vòng đa thê chứ không phải chắc chắn, vì có nhiều yếu tố linh động gia giảm mức ứng nghiệm đi.
Tôi xin lỗi quý bạn vì sự dè dặt của tôi vì vấn đề này rất phức tạp và dễ gây hậu quả không hay.
Thông thường chúng ta có thói quen để ý đến các sao Đào, hồng, tả Hữu, Riêu, Mộc, Cái chiếu Thê Thiếp hoặc nô bộc hay Mệnh Thân hầu tìm hiểu về khía cạnh đa thê. Nếu chỉ có thế thực quá dễ dàng, đơn giản, chẳng cần phải nhờ đến thầy Tử Vi, vẫn biết rằng khi cung Thê có Đào hồng, Tả Hữu cũng hay ứng nghiệm như vậy, nhưng nhiều trường hợp không có các sao đó mà người chồng vẫn cứ đa thê thì làm sao ta hiểu được. Vì vậy ta cần phải phân biệt môi trường tạm gọi là “lộ” và “ẩn”
A – MÔI TRƯỜNG LỘ
Xét về môi trường này tương đối dễ dàng, miễn là quý bạn thận trọng kết hợp 1 số cung và sao liên hệ là có thể thấy kết luận khá rõ rệt, vì đã gọi là “lộ” nghĩa là không có ý nghĩa ngược lại hoặc khác đi
- Ví dụ: 1 ông chồng Mệnh có Riêu, Mộc; cung Thê có Đồng âm, Trường Sinh, Đế Vượng; cung Nô có Tả Hữu, Đào hồng, Mộ; cung Di có Hoa Cái; cung Tài có Song Lộc thì hơi khó tránh được vấn đề đa thê. Tại sao vậy? Vì khi Mệnh có Riêu, mộc là tâm hồn ưa nhục dục; Cung Thê có những sao liệt kê trên là chủ về vợ mềm yếu, không áp đảo được chồng, nhất là sao Thiên Đồng thường chủ về canh cải, có nghĩa là vợ đổi mới hoài; Cung nô có đủ bộ sao chủ về ăn chơi, trụy lạc và được nhiều con gái thương yêu, phù hợp với Hoa Cái cư Thiên Di là ra ngoài được long nhiều người, bất luận nam nữ, già trẻ; trong khi đó, cung Tài song Lộc lại càng them phương tiện thu hút phái nữ cũng như bao bọc cho họ vì tiền bạc quá sung túc, thừa thãi…tức là quá đủ cho môi trường đa thê.
- Trường hợp ông chồng Mệnh có Khôi Việt hội Đào hoa; cung Nô có Hồng Loan, Riêu hỉ; cung Quan có Tả Hữu; cung Thê có Cô Quả, Không Kiếp cũng chẳng kém gì trường hợp trên vì khi Mệnh có Khôi Việt hội Đào hoa thường chủ về hào hoa phong nhã, ưa bao dung phụ nữ, bất kể người đó là con gái hay đã có chồng. Cung Nô có hồng, Riêu, hỉ, chủ về phụ nữ dưới quyền hoặc trong giới giao du thiếu đứng đắn và ưa sắc dục, làm gì họ không mê dáng đẹp kiêu hùng của Khôi Việt Đào. Trong khi đó, cung Quan lại có Tả Hữu là cách sốt sắng giúp đỡ mọi người, dễ đắc nhân tâm nên càng them sức hấp dẫn. Còn cung Thê thì dễ làm cho chồng xa lánh vì có Cô Quả Không Kiếp. Như thế tưởng cũng đã quá đủ yếu tố thuận lợi cho con người đa thê
Vì mục “lộ” này khá dễ dàng nên tôi chỉ cần nêu ra 2 ví dụ và chắc quý bạn có thể suy luận ra các trường hợp khác. Nghĩa là cứ thấy các cung và sao lien hệ hoàn toàn bổ túc cho nhau chứ không tương phản hoặc trái ngược nhau là dễ kết luận dứt khoát
B – MÔI TRƯỜNG ẨN
Khía cạnh này có thể nói là rất khó tìm ra vì cần xét cả yếu tố tâm lý. Nếu quý bạn chỉ xem phớt qua thì thế nào cũng lầm. Tôi cũng đã có lần chỉ muốn vứt bỏ Tử Vi vì không sao tìm hiểu được khía cạnh đa thê “ẩn”. Nay tôi xin nêu ra những ví dụ để quý bạn hiểu rõ, chứ không thể nào đưa ra 1 phương thức tổng quát để giải đoán vì khía cạnh này rất uyển chuyển.
- Tôi có được coi lá số 1 ông chồng Mệnh rất đứng đắn, vắng bóng hẳn các sao Đào, Riêu, mộc, Cái, Tham Lang; cung Thê cũng chứng tỏ là cô vợ đoan trang, nết hạnh, hiền thục và còn xinh đẹp nữa (vì có Long Phượng, Khoa, Quan, Phúc, Tứ Đức…); rồi cung Quan và Tài cho thấy đương số có chức phận và tiền bạc; duy chỉ còn cung Nô là có Tả Hữu, hóa Quyền, Xương Khúc, Thai Tọa, Khôi Việt – nghĩa là chưa có đủ yếu tố để đoán là đương số đa thê. Nhưng trên thực tế, đương số lại có 3 vợ mới khổ chứ. Chính vì trường hợp này mà tôi nản chí nghiên cứu Tử vi. Nhưng cũng chính nhờ trường hợp này mà tôi đã tiếp tục hăng say, miệt mài với lý số khi đã được 1 cao thủ Tử Vi chỉ dẫn cách đây nhiều năm. Thực thế, lá số trên không phải là sai trật, chỉ vì tôi đã bỏ qua 1 cung rất quan trọng, đó là cung Tử tức. Cung này có Đẩu Quân, Cô Quả, Kình Đà cho thấy là đương số rất hiếm con. Do đó, tuy là con người đứng đắn và biết yêu thương vợ đoan trang, nhưng đương số vì quá ham muốn có con, bất luận trai gái nên đã đành phải lấy them người con gái khác sau khi được sự thỏa thuận thực tình của người vợ. Tuy nhiên, khổ 1 nỗi là với bà thứ 2 cũng chả có đứa con nào nên đương số lại kết hôn không chính thức với 1 bà thứ 3, và bà này sinh được 1 đứa con gái. Từ đó đương số sống với cả 3 bà 1 cách thuận thảo…nếu suy nghĩ kỹ và lý luận, các bạn thấy rằng nhờ cung Thê thuần hậu, biết điều nên đương số mới tiện lấy vợ bé, và nhất là cung Nô quá tốt nên mới đem lại nguồn vui cho đương số, vì hóa Quyền trong trường hợp này không còn có nghĩa là vợ bé áp đảo, bắt nạt vợ cả mà thực ra chỉ chủ về uy tín (vì đã sinh được người con), huống chi lại có Khôi, Việt, Thai, Tọa, Xương Khúc chủ về người có tư cách, thông minh thì làm gì không biết cách làm vừa long vợ cả. Nói tóm lại, đầu dây mối nhợ là do cung Tử hiếm, rồi mới nhờ đến cung nô, nhưng cũng phải xét đến cung Tài và Quan, chứng tỏ là đương số phải đủy cả quyền quý nên mới nghĩ nhiều đến con cái nối dõi, và mới đủ khả năng bao bọc nhiều vợ, chứ nghèo nàn làm sao thực hiện được ý muốn của mình
- Một trường hợp khác về đa thê rất lờ mờ mà tôi đã được coi cũng bắt nguồn từ cung Tử tức, nhưng lại không phải là hiếm con mà trái lại rất nhiều (chắc bây giờ phải có tới trên 10 người con) vì có Tả Hữu hội Trường Sinh, Đế Vượng (nguyên Tả Hữu cũng chủ về nhiều con, đó là cách “trập trập ưu trung tư” theo câu phú). Nếu không nhờ có sao Phục binh hội Đào hoa, Tướng Quân và Thai thì có lẽ không thể biết là đương số đa thê vì những sao trên thường chủ về có con riêng, con rơi, tức là khó có 1 vợ được, nhất là khi cung Thê không chứng tỏ là người vợ thường gần gũi chồng vì có Lộc Tồn hội Cô Quả, Đẩu Quân, khiến cho người chồng hướng về người khác. Trong trường hợp này không cần phải có cung Nô có yếu tố phù hợp mạnh mẽ vì cung Tử lại đóng vai trò chính yếu. tuy nhiên, có 1 điểm khác với trường hợp trên là các người vợ nhỏ khó sống chung được với vợ cả vì dù sao cung Thê cũng có uy lực mạnh hơn và có óc cố chấp (cô Quả) khiến cho khó dung hòa được với cung Nô. Hơn nữa, cung Tử tức cũng chỉ chứng tỏ có sự lén lút, vụng trộm nên mới có con riêng, con rơi…Vì vậy, bề ngoài ta rất khó nhận thấy đương số có nhiều vợ, nhất là khi Mệnh của đương số là những sao đứng đắn, tư cách. Sở dĩ đương số ham nhục dục nhiều là vì cung ách có Riêu, mộc, cái hội Tham Lang tức là sự ham muốn rất kín đáo, tiềm tang mà chỉ đương số mới nhận biết
MÔI TRƯỜNG TRỞ NGẠI CHO ĐA THÊ
A - MÔI TRƯỜNG TUYỆT ĐỐI
Trong phần này, tôi đề cập đến trường hợp rõ ràng không thể đa thê được, nghĩa là khi ta thấy cung Mệnh và Thân chỉ có những sao đứng đắn hoặc cô đơn, lạnh lùng; Cung Thê chứng tỏ vợ chồng thuận hòa, khắng khít; Cung Nô không thuận lợi cho việc giao du với phụ nữ hoặc ít ra không chứng tỏ họ lãng mạn,m đa tình hay trội hơn cung Thê, và sau hết (nếu có càng chắc), cung Tử Tức không có gì khả nghi về 2 dòng con hoặc quá hiếm hoi
Ví dụ: Nếu Mệnh có Lộc Tồn, Vũ khúc, Thân có Thiên Phủ hội Cô Quả chủ về đứng đắn, trung hậu, thích thanh tịnh; Cung Thê có Long Phương, Khoa, Thai Tọa, Quang Quý chủ về hạnh phúc lứa đôi bền vững, khắng khít; Cung Nô có Quan Phúc, bộ Tứ Đức…chứng tỏ phụ nữ giao thiệp với mình, nếu có đều biết luân thường đạo lý, đoan trang nết hạnh, không ưa chuyện cướp chồng người, thì làm sao ta dám nghĩ rằng đương số có vợ nọ, con kia. Nếu lại được them cung Tử hội các soa Khôi Việt, Khoa, Quyền, Sinh Vượng…chủ về con cái đầy đàn và thành đạt khiến cho gia đình them đầm ấm, lại còn chắc ăn hơn nữa.
B – MÔI TRƯỜNG TƯƠNG ĐỐI
Nói đến tương đối có nghĩa là các cung và sao liên hệ vấn đề trở ngại không thuần nhất. Ví dụ được cung Mệnh đứng đắn cô đơn nhưng cung Nô lại quá lả lướt….hoặc được cung Thê chứng tỏ vợ chồng thương yêu nhau nhưng cung Mệnh lại biểu lộ sự đam mê nhục dục, ăn chơi trụy lạc…Gặp trường hợp như thế, ta cần xét kỹ càng tới những yếu tố chế hóa mà tôi xin trình bày qua những ví dụ sau:
- Tôi đề cập ngay tới yếu tố đa thê mạnh nhất là Đào hồng, tả Hữu chiếu Thê để quý bạn thấy, để chế hóa nó ta cần phải có những khía cạnh nào. Trong trường hợp này, chỉ cần phải có cung Mệnh và Thân hội nhiều sao cô đơn, đứng đắn, khắc kỷ như Vũ Khúc, Lộc Tồn, Cô Quả, Khoa, Khôi việt, Quan Phúc, Thai Tọa và cung Tử Tức không có gì khả nghi về khả năng có 2 dòng con là đủ mức tin tưởng đương số không đa thê, dù cho cung Nô có những yếu tố chứng tỏ sự ăn chơi chăng nữa. Vì khi Mệnh và Thân là vai trò chủ chốt không có khuynh hướng 5 thê 7 thiếp thì các sao Đào hoa, Tả Hữu sẽ chuyển hướng hết. Lúc đó ta có thể ước đoán là đương số khó lây vợ, cứ mai mối hết đám này tới đám khác (Tả Hữu) và đám nào cũng xinh đẹp (Đào hồng), nhưng khi lấy được vợ rồi thì chính mình dễ bị cắm sừng vì Đào hồng lại ứng vào vợ bay bướm. Do đó, bà nào thấy chồng mình có trường hợp như trên, đừng bao giờ nghi ngờ chồng mà trái lại tự kiểm điểm tâm hồn mình xem có lệch lạc không?
- Ngoài thành kiến về Đào hồng, Tả Hữu chiếu Thê trên đây, đa số những người mới biết xem Tử vi cũng hay nghi ngờ những ông Mệnh có Đào hoa, Riêu, Hỉ và cung Nô có Tham Lang, hồng Loan, Mộ hoặc ngược lại, cho rằng họ rất dễ đa thê. Thật ra trường hợp trên dễ bị vô hiệu hóa vì chỉ cần cung Thê có bản lĩnh chi phối được người chồng là đủ (ví dụ như có Hóa Quyền, Tướng Ấn, Khoa Lộc; Lộc Tồn hội Liêm Phủ…) Khi đó ông chồng chỉ dám vui chơi trong khoảnh khắc như đi phòng trà, khiêu vũ…chứ đâu có liều mạng ăn ở với phụ nữ khác trước người vợ quyền uy của mình. Và có khi ngay cả vấn đề vui chơi chồng cũng phải lén lút và giới hạn nữa. Trường hợp cung Thê không đủ áp đảo ông chồng thì cần phải có các sao thuần hậu như Quang Quý, Long Phương, Quan Phúc, Khôi việt …để thu hút người chồng. Ngoài ra cần phải có them những đại hạn liên hệ hỗ trợ mạnh mẽ, nghĩa là không có các sao tạo môi trường thuận lợi cho việc ăn chơi hoặc tình yêu nồng nàn (ví dụ như Cô Quả, Thái Tuế, Đẩu Quân, Tang Hổ, khốc Hư). Nếu chỉ có 1 đại hạn hỗ trợ thì chưa đủ vì có người luống tuổi rồi mới đèo bồng vợ nhỏ, nghĩa là cần có sự trở ngại cho giai đoạn từ 30-60….thì mới yên 1 bề vì í tai có vợ nhỏ trước 30 và sau 60, trừ 1 vài trường hợp cá biệt.
Qua những điều trình bày trên đây, quý bạn hẳn thấy rằng quyết đoán 1 người đàn ông đa thê rất phức tạp, hấp tấp 1 chút là sai lạc dễ dàng và còn tai hại cho hạnh phúc vợ chồng. Về phần quý bà có gia đình cũng vậy, không nên lấy Tử Vi làm cứu cánh để nghi ngờ hoặc quá itn tưởng chồng mà đâm ra tự mình phá vỡ hạnh phúc gia đình
Theo tạp chí Khoa Học Huyền Bí
Từ lần xem nhà đầu tiên, để tạo cảm giác thích thú cho khách mua nhà, gia chủ nên tập trung bố trí không gian theo chiều ngang và tạo góc nhìn theo những góc chéo từ ngoài cửa vào bên trong phòng nhằm tạo cảm giác căn phòng thoáng mát, rộng rãi hơn, giúp khách hàng tập trung nhìn vào các khu vực phong thủy mang lại may mắn.
Bên cạnh đó, cũng cần đảm bảo sự di chuyển thoải mái và dễ dàng cho các phòng trong nhà và hành lang. Đặc biệt, chủ nhà không nên treo gương đối diện với bất kỳ một cánh cửa nào.
![]() |
| Chủ nhà cần chú ý tới nhiều đặc điểm trang trí cho căn nhà thêm nổi bật để bán nhà nhanh chóng vào dịp trước Tết |
Ngoài những lưu ý trên, để tạo ấn tượng cho lần xem nhà đầu tiên, chủ nhà cũng cần chú ý tới âm thanh trong căn nhà bằng cách mở nhạc thường xuyên hay để một đài phun nước ở gần khu vực mặt tiền, nhất là ở góc Tây Bắc của căn nhà. Chủ nhà cũng cần lưu ý tới hương thơm tự nhiên của căn nhà để hấp dẫn người mua.
Việc treo biển bán nhà rất quan trọng, góp phần lớn vào việc thực hiện giao dịch thành công. Theo các nhà phong thủy, nên đóng/treo biển “Bán nhà” tại vị trí bên phải cửa chính căn nhà.
Phong thủy lý giải, vị trí treo biển này sẽ tạo cho người nhìn từ bên ngoài vào trong với một góc nhìn thoáng, mang nguồn năng lượng dương, tạo ra tác động ấn tượng, mạnh mẽ.
Thông thường bàn tiếp đón khách hàng nên đặt ở bên phải của hành lang hay nơi đầu tiên khi khách bước vào từ cửa chính. Nên trang trí nhiều danh thiếu trên bàn nên trang trí nhiều danh thiếp, một chiếc bát đầy kẹo sô-cô-la, sách, truyện... và một lọ hoa tươi, đặc biệt bàn này nên dùng khăn trải màu đỏ.
Phong thủy học cho rằng, phòng bếp là khu vực sức khỏe và tài lộc. Do đó, để thu hút người khách hàng cần giữ cho bề mặt bếp thoáng đãng, sạch sẽ.
Bên cạnh đó, cần sắp xếp ngăn nắp các tủ đựng đồ trong phòng bếp, để dao và sọt rác ở những vị trí khuất mắt nhìn. Ngoài ra, cũng nên bố trí một chậu cây nhỏ xinh, xanh tốt và một hộp đầy thức ăn, ví dụ như kẹo, bánh... trên bàn bếp.
Tuy nhiên, phải thật chú ý để không có cây nào chạm vào căn nhà nhằm tránh việc năng lượng tốt bị đưa ra khỏi nhà. Chủ nhà không nên để cây trụi lá và chỉ còn lại các cành khẳng khiu bởi như thế sẽ tạo nên sự cạn kiệt, héo hon sức sống của ngôi nhà.
Ngoài những lưu ý trên, chủ nhà cũng nên chú ý luôn đóng cửa phòng tắm bởi theo phong thủy thì khách hàng không nên nhìn thấy toilet khi họ bước vào một căn phòng hoặc ngôi nhà.
Do đó, chủ nhà nên đậy nắp bồn cầu và đóng cửa phòng tắm mỗi khi ra vào để gây được thiện cảm của người mua nhà.
(Theo CafeLand)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Theo phong thủy văn phòng, mỗi con giáp lại có những điểm riêng cần phải chú ý. Bạn đã biết nên ngồi ở vị trí nào, bày đồ vật gì trên bàn làm việc để sự nghiệp hanh thông chưa? Lịch ngày tốt sẽ tiết lộ cho các bạn những bí mật này nhé.
Có thể nhiều bạn không biết rằng, những người thuộc con giáp khác nhau thì lại có những chú ý riêng về phong thủy văn phòng. Mỗi con giáp có những đặc điểm riêng, ví dụ như tuổi Dần ngũ hành khuyết Kim, trên bàn làm việc nên bày quả cầu thủy tinh màu vàng hoặc đá thạch anh vàng để tăng cường trí tuệ, nâng cao sức khỏe, đề phòng tiểu nhân… từ đó gặt hái được thêm nhiều thành công trong cuộc sống.
Vậy 12 con giáp nên biết những điều gì về phong thủy văn phòng? Phải làm gì để sự nghiệp hanh thông, tài lộc vượng phát? Hãy cùng Lịch ngày tốt khám phá bí mật này nhé.
MỤC LỤC
Phong thủy văn phòng cho người tuổi Tý
Phong thủy văn phòng cho người tuổi Sửu
Phong thủy văn phòng cho người tuổi Dần
Phong thủy văn phòng cho người tuổi Mão
Phong thủy văn phòng cho người tuổi Thìn
Phong thủy văn phòng cho người tuổi Tị
Phong thủy văn phòng cho người tuổi Ngọ
Phong thủy văn phòng cho người tuổi Mùi
Phong thủy văn phòng cho người tuổi Thân
Phong thủy văn phòng cho người tuổi Dậu
Phong thủy văn phòng cho người tuổi Tuất
Phong thủy văn phòng cho người tuổi Hợi
![]() |
Nam giới sinh năm Tý bàn làm việc nên ở vị trí tọa Bắc hướng Nam, nữ giới nên ở vị trí tọa Tây hướng Đông thì đại cát đại lợi. Đặc biệt với những cô gái chưa chồng thì càng phải chú ý và cố gắng ngồi đúng vị trí này ở văn phòng.
Người tuổi Tý mệnh khuyết Kim đa phần sinh từ ngày 19 tháng 2 đến ngày 4 tháng 5 âm lịch, tức mùa xuân, bát tự Mộc vượng Kim suy. Nam giới trên bàn làm việc có thể bày tượng Khỉ bằng đồng hoặc cầu thủy tinh. Với nữ tuổi Tý mệnh khuyết Kim, nên bày tượng Gà, Rồng bằng đồng. Làm như vậy sẽ giúp tài vận tăng tiến, được lòng cấp trên, đồng nghiệp và đối tác.
Người tuổi Tý mệnh khuyết Thủy, đa phần sinh từ ngày 5 tháng 5 đến ngày 7 tháng 8, tức mùa hạ, bát tự Hỏa vượng Thủy suy. Nam giới nên đặt bàn làm việc ở vị trí tọa Bắc hướng Đông, là nữ giới thì nên ở vị trí tọa Tây hướng Đông. Ngoài ra, cũng có thể đặt ở vị trí tọa Đông Nam hướng Tây Bắc.
Trên bàn làm việc, người tuổi Tý mệnh khuyết Thủy nên đặt một bể cá nhỏ, nuôi một con cá màu đen và hai con màu trắng. Nam giới có thể nuôi hai con cá màu trắng, bày thêm tượng Thiềm Thừ bằng vàng. Đây là một trong những phương pháp để cải thiện số mệnh của lá số tử vi mệnh khuyết Thủy.
Ngoài bể cá, nữ giới nên bày một bình hoa và cắm 4 cành hoa trắng như ly, lan, loa kèn… Nam giới thì nên cắm trúc phú quý. Nhờ đó có thể tăng cường trí tuệ và tài năng cho chủ sở hữu.
Người tuổi Tý mệnh khuyết Hỏa, đa phần sinh từ ngày 8 tháng 11 đến ngày 18 tháng 2, tức mùa đông, bát tự Thủy vượng Hỏa suy. Thủy vượng mà Hỏa suy, trên bàn làm việc có thể bày tượng Long Quy. Nữ giới nên đặt thêm bình hoa màu đỏ, cắm 3 bông hoa hồng đỏ hoặc các loại hoa mang sắc đỏ khác. Nam giới có thể bày thêm quả cầu thủy tinh hoặc thạch anh đỏ để tăng thêm vận may cho mình. Vị trí thích hợp nhất để đặt bàn làm việc là tọa Nam hướng Bắc.
Người tuổi Tý mệnh khuyết Mộc, đa phần sinh từ ngày 8 tháng 8 đến ngày 7 tháng 11, tức mùa thu, bát tự Kim vượng Mộc suy. Trước tiên, ở văn phòng người này nên chọn chỗ ngồi ở tọa Đông hướng Tây, hay tọa Đông Nam hướng Tây Bắc.
Người này có thể đặt bên cạnh bàn làm việc một chậu trúc phú quý hoặc bày rổ hoa quả trên mặt bàn, tốt nhất nên chọn quả táo. Nữ giới nên bày tượng Mèo, nam giới thì đặt tượng Rồng. Mão Mộc có thể bổ khuyết Mộc, nâng cao trí tuệ, còn Thìn tượng trưng cho sự nghiệp lên cao, cũng có thể tích tài tụ lộc.
Trúc phú quý là cây phong thủy rất được ưa chuộng, đọc Những lý do theo phong thủy này bạn sẽ muốn mua trúc phú quý ngay lập tức.
![]() |
Nam giới sinh năm Sửu nên ngồi ở vị trí tọa Bắc hướng Nam, tọa tây hướng Đông hoặc tọa Tây Bắc hướng Đông Nam. Nữ giới thì nên chọn vị trí tọa Đông hướng Tây, tọa Nam hướng Bắc, trên bàn làm việc bày quả cầu thủy tinh hoặc thạch anh tím để tăng vận thế.
Để biết thêm về vận thế cuộc đời, mời bạn đọc thêm Tử vi trọn đời cho người tuổi Sửu nhé.
Nam giới nên đặt trên bàn tượng Gà đồng để chiêu Quý nhân, nhờ đó mà công danh sự nghiệp thăng tiến ầm ầm. Nữ giới cũng có thể đặt tượng Voi đồng hoặc Tỳ hưu để trí tuệ càng thêm minh mẫn.
Người tuổi Sửu mệnh khuyết Kim, đa phần sinh từ ngày 19 tháng 2 đến ngày 4 tháng 5, tức mùa xuân, bát tự Mộc vượng Kim suy. Nam giới có thể bày tượng Khỉ ôm chữ như ý, Khỉ ôm quả hồ lô, ôm Văn Xương tháp, tượng trưng cho sự nghiệp được quý nhân nâng đỡ, thăng bước lên mây. Nữ giới có thể bày quả cầu thạch anh trắng hoặc tượng Gà trống đồng.
Người tuổi Sửu mệnh khuyết Thủy, đa phần sinh từ ngày 5 tháng 5 đến ngày 7 tháng 8, tức mùa hạ, bát tự Hỏa vượng Thủy suy. Bàn làm việc nên có tượng Chuột đồng, Tý Thủy bổ sung cho mệnh khuyết, ngoài ra cũng có thể đặt thêm bể cá nhỏ để tăng yếu tố Thủy. Nữ giới thì nên đặt tượng Heo vàng tượng trưng cho Hợi Thủy. Đặc biệt, nếu có thêm bình hoa, nhất là bình gốm sứ vẽ hình sơn thủy, trong bình đựng nước hoặc cắm thêm hoa thì tài lộc như ý, thần trí minh tuệ.
Người tuổi Sửu mệnh khuyết Mộc, đa phần sinh từ ngày 8 tháng 8 đến ngày 7 tháng 11, tức mùa thu, bát tự Kim vượng Mộc suy. Nên bày tượng Mèo đồng (Mão Mộc) hoặc chậu cây nhỏ trên bàn. Để biết thêm chi tiết, mời bạn đọc bài Chỉ rõ bản chất của lá số tử vi mệnh khuyết Mộc.
Người tuổi Sửu mệnh khuyết Hỏa, đa phần sinh từ ngày 8 tháng 11 đến ngày 18 tháng 2, tức mùa đông, bát tự Thủy vượng Hỏa suy. Nam giới nên chọn chỗ ngồi tọa Nam hướng Bắc, nữ giới thì tọa Đông nam hướng Tây Bắc. Trên bàn làm việc, nam giới nên đặt tượng Hồ lô, nữ giới đặt quả cầu thạch anh tím, nhờ đó tài lộc càng thêm vượng phát, có thêm nhiều cơ hội phát huy năng lực bản thân, được cấp trên công nhận và tín nhiệm.
![]() |
Với người tuổi Dần, vị trí bàn làm việc tốt nhất là tọa Tây Bắc hướng Đông Nam. Nữ giới nên chọn tọa Đông hướng Tây hoặc tọa Nam hướng Bắc. Các cô gái trẻ chưa chồng thì đẹp nhất là ở vị trí tọa Nam hướng Bắc.
Trên bàn làm việc bày một viên đá phong thủy nhỏ để tăng thêm tài vận, tùy theo sở thích mà chọn đá Thái Sơn hoặc thạch anh, ngọc… đều được. Làm vậy sẽ có thể hóa giải họa tiểu nhân, tăng cường năng lực bản thân, sự nghiệp ngày càng thăng tiến.
Ngoài ra, tượng Ngựa phong thủy cũng là lựa chọn không tồi, đại diện cho mối quan hệ xã giao hài hòa. Tượng làm bằng nhiều chất liệu từ đồng đến thạch anh, gỗ đều tốt. Người còn độc thân lại càng nên đặt tượng này trên bàn để vận đào hoa thêm nở rộ.
Người tuổi Dần mệnh khuyết Thủy, đa phần sinh từ ngày 5 tháng 5 đến ngày 7 tháng 8, tức mùa hạ, bát tự Hỏa vượng Thủy suy. Bàn làm việc của người này nên bày đá thạch anh đen hoặc tượng Heo đồng, Heo thạch anh hoặc tượng Heo đàn có Heo mẹ Heo con thì càng tốt. Nếu có bể cá thì nên nuôi 6 con cá màu đen.
Bạn đã biết Cách bày bể cá cảnh chuẩn phong thủy 12 con giáp để thăng tiến chưa?
Người tuổi Dần mệnh khuyết Mộc, đa phần sinh từ ngày 8 tháng 8 đến ngày 7 tháng 11, tức mùa thu, bát tự Kim vượng Mộc suy. Kim vượng nên người này làm việc nhanh nhẹn dứt khoát, tính cách thẳng thắn dễ làm mất lòng người. Song về mặt tình cảm, họ lại khá yếu đuối, đặc biệt dễ mù quáng trong tình yêu.
Ở văn phòng, người này tốt nhất nên ngồi ở vị trí tọa Đông hướng Tây, bày trên bàn bình hoa nhỏ, cắm hoa hoặc 4 cành trúc phú quý hay trúc Văn Xương. Túi xách hay đồ dùng văn phòng nên chọn nhiều màu đen, màu xanh lá.
Ngoài ra, cách hóa giải tốt nhất cho phong thủy văn phòng của người tuổi Dần mệnh khuyết Mộc là bày trên bàn 4 cuốn sách để cải đổi vận thế. Sau 100 ngày, bạn sẽ thấy sự khác biệt trong vận thế của mình, cấp trên chắc chắn sẽ có lòng công nhận tài năng của bạn và giao cho bạn thêm nhiều trọng trách.
Người tuổi Dần mệnh khuyết Hỏa, đa phần sinh từ ngày 8 tháng 11 đến ngày 18 tháng 2, tức mùa đông, bát tự Thủy vượng Hỏa suy. Người này nên ngồi ở vị trí tọa Đông hướng Tây, nữ giới thì tọa Nam hướng Bắc. Bàn làm việc nên để một bình sứ phong thủy màu đỏ, cắm hoa tươi màu sắc rực rỡ để tăng thêm vận khí.
![]() |
Trong số 12 con giáp, đây là con giáp có tính cách hiền hòa nhất, cũng có giác quan thứ 6 nhạy bén nhất. Mão thuộc hành Mộc, đây cũng là con giáp duy nhất không gặp phải vận hạn gì lớn trong năm bản mệnh mà ngược lại, vận trình lại có phần tốt hơn nhiều.
Để biết thêm vận trình người tuổi Mão trong năm này, bạn hãy xem thêm Tử vi 2017 nhé.
Trong năm bản mệnh, người tuổi Mão nên chọn chỗ ngồi ở văn phòng tọa Đông Nam hướng Tây Bắc hoặc tọa Tây Bắc hướng Đông Nam. Với nữ giới, có thể chọn thêm vị trí tọa Đông hướng Tây nữa.
Người tuổi Mão mệnh khuyết Kim, đa phần sinh từ ngày 19 tháng 2 đến ngày 4 tháng 5, tức mùa xuân, bát tự Mộc vượng Kim suy. Nữ giới nên ngồi bàn làm việc tọa Tây Nam hướng Đông Bắc hoặc tọa Tây Bắc hướng Đông Nam. Bên tay trái có thể đặt một viên đá phong thủy hoặc tượng Chó phong thủy bằng đồng hoặc vải, sứ.
Nam giới tuổi này mệnh khuyết Kim bàn làm việc tọa Tây Bắc hướng Đông Nam là tốt nhất, trên bàn đặt tháp đồng hoặc hồ lô đồng nhỏ để trí óc thêm phần sáng rõ. Mời bạn đọc thêm Chỉ rõ bản chất của lá số tử vi mệnh khuyết Kim để có thể tự cải thiện số mệnh của mình nhé.
Người tuổi Mão mệnh khuyết Thủy, đa phần sinh từ ngày 5 tháng 5 đến ngày 7 tháng 8, tức mùa hạ, bát tự Hỏa vượng Thủy suy. Trên bàn làm việc của nam giới nên đặt tượng Heo đồng hoặc tượng Voi đang hút nước bằng gỗ hoặc đá. Nữ giới có thể bày trên bàn quả cầu thạch anh tím lưu ly hoặc tượng Chuột đồng, bể cá nuôi 2 con cá màu đen.
Người tuổi Mão mệnh khuyết Mộc, đa phần sinh từ ngày 8 tháng 8 đến ngày 7 tháng 11, tức mùa thu, bát tự Kim vượng Mộc suy. Bàn làm việc của người này nên có bình hoa hoặc cây nhỏ, bày thêm sách bút để tăng thêm vận khí. Chỗ ngồi nên là vị trí tọa Đông hướng Tây.
Người tuổi Mão mệnh khuyết Hỏa, đa phần sinh từ ngày 8 tháng 11 đến ngày 18 tháng 2, tức mùa đông, bát tự Thủy vượng Hỏa suy. Trên bàn làm việc, bày tượng Ngựa, Long Quy phong thủy sẽ thêm phần may mắn. Cũng có thể cắm 3 bông hoa hồng đỏ hoặc đặt chậu ớt cảnh đỏ, quả cầu thạch anh màu đỏ.
![]() |
Nam giới tuổi Thìn ở văn phòng tốt nhất ngồi ở vị trí tọa Bắc hướng Nam hoặc tọa Tây hướng Đông. Nữ giới nên chọn tọa Tây Nam hướng Đông Bắc hay tọa Đông Bắc hướng Tây Bắc.
Người tuổi Thìn mệnh khuyết Kim, đa phần sinh từ ngày 19 tháng 2 đến ngày 4 tháng 5, tức mùa xuân, bát tự Mộc vượng Kim suy. Nam giới nên bày trên bàn 2 tượng Gà đồng phong thủy. Nữ giới thì chọn tượng Khỉ như ý.
Người tuổi Thìn mệnh khuyết Thủy, đa phần sinh từ ngày 5 tháng 5 âm lịch đến ngày 7 tháng 8, tức mùa hạ, bát tự Hỏa vượng Thủy suy. Chỗ ngồi ở văn phòng của người này nên là tọa Bắc hướng Nam. Đàn ông nên bày đá thạch anh phong thủy hoặc một bình trà lớn, nhớ đừng để nước trong bình vơi để bổ khuyết cho bản mệnh.
Phụ nữ mệnh khuyết Thủy thì nuôi bình cá nhỏ có 4 con cá. Cũng có thể để bát thả hoa hoặc đá thạch anh phong thủy màu đen để trợ thêm vận khí.
Có lẽ bạn sẽ quan tâm đến Chọn địa thế tốt để việc làm ăn phất như vũ bão.
Người tuổi Thìn mệnh khuyết Mộc, đa phần sinh từ ngày 8 tháng 8 đến ngày 7 tháng 11, tức mùa thu, bát tự Kim vượng Mộc suy. Nữ giới nên chọn chỗ tọa Đông Nam hướng Tây Bắc, nam giới thì chọn tọa Đông hướng Tây là tốt nhất. Bàn làm việc nên có đĩa hoa quả hoặc chậu hoa nhỏ để vượng khí phát tài.
Người tuổi Thìn mệnh khuyết Hỏa, đa phần sinh từ ngày 8 tháng 11 đến ngày 18 tháng 2, tức mùa đông, bát tự Thủy vượng Hỏa suy. Người này ngồi tọa Nam hướng Bắc sẽ tốt cho sự nghiệp. Bàn làm việc có thể đặt tượng Long Quy hoặc cắm bình hoa hồng đỏ. Nam giới nên đặt tượng Quan Công cưỡi ngựa hoặc tượng hồ lô để phát tài phát lộc.
![]() |
Theo tử vi, Tị thuộc hành Hỏa, bàn làm việc của người này nên tọa Tây hướng Đông để đón cát khí từ hướng Đông thổi đến. Nữ giới có thể ngồi vị trí tọa Đông Nam hướng Tây Bắc.
Người tuổi Tị mệnh khuyết Kim, đa phần sinh từ ngày 19 tháng 2 đến ngày 4 tháng 5, tức mùa xuân, bát tự Mộc vượng Kim suy. Trên bàn nên bày tượng Gà, Trâu phong thủy. Nữ giới có thể bày tượng Khỉ cưỡi Voi hoặc quả cầu thạch anh màu trắng. Bình thủy tinh cắm 4 bông hồng trắng cũng là lựa chọn không tồi.
Người tuổi Tị mệnh khuyết Thủy, đa phần sinh từ ngày 5 tháng 5 đến ngày 7 tháng 8, tức mùa hạ, bát tự Hỏa vượng Thủy suy. Hỏa vượng, người tuổi này nên chọn chỗ ngồi tọa Đông Bắc hướng Tây Nam hay tọa Tây Nam hướng Đông Bắc.
Vận số năm Tị theo con giáp, bạn biết chưa nhỉ?
Bàn làm việc của nam giới mệnh này nên đặt cốc uống nước bằng inox hoặc sứ màu trắng ở bên phải, nữ giới thì đặt bên trái. Cũng có thể thường xuyên để một chai nước khoáng ở đó để bổ sung khuyết thiếu ngũ hành cho bản mệnh. Nếu không, hãy chọn quả cầu phong thủy màu trắng.
Người tuổi Tị mệnh khuyết Mộc, đa phần sinh từ ngày 8 tháng 8 đến ngày 7 tháng 11, tức mùa thu, bát tự Kim vượng Mộc suy. Cả nam hay nữ đều có thể ngồi ở vị trí tọa Đông hướng Tây, bày thêm tượng 4 con Mèo trên bàn để đại cát đại lợi.
Người tuổi Tị mệnh khuyết Hỏa, đa phần sinh từ ngày 8 tháng 11 đến ngày 18 tháng 2, tức mùa đông, bát tự Thủy vượng Hỏa suy. Thủy vượng, người này nên có bàn làm việc tọa Nam hướng Bắc. Bàn làm việc của nam giới nên bày tượng Hồng Mã, còn nữ giới thì đặt tượng Long Quy sẽ tăng thêm tài vận cho bản mệnh.
![]() |
Người sinh năm Ngựa có một tật xấu, đó là quá cầu toàn. Họ luôn không hài lòng với những việc mình đã làm, yêu cầu sự hoàn hảo tuyệt đối. Người này thường cho rằng tài năng của mình bị chôn vùi một chốn và không ngừng tìm kiếm cơ hội phát triển sự nghiệp.
Song điều nổi bật của người tuổi này trong công việc là không ngại khó ngại khổ, có điều dễ bị thay đổi mục tiêu, vì thế mà thường xuyên thay đổi công việc.
Vị trí ngồi nơi công sở có thể thay đổi vận mệnh, nam giới nên chọn chỗ tọa Đông Bắc hướng Tây Nam hoặc tọa Đông hướng Tây, nữ giới nên chọn chỗ tọa Tây Nam hướng Đông Bắc hoặc tọa Tây hướng Đông.
Đặc biệt, với nữ giới, vị trí bàn làm việc này sẽ giúp bạn không phải chịu quá nhiều vất vả trong công việc, cũng tăng thêm lòng kiên định và nâng cao vận khí.
Bạn đã biết cách Tiến lên nấc thang công danh nhờ 16 chiêu phong thủy cực độc này chưa?
Người tuổi Ngọ mệnh khuyết Kim, đa phần sinh từ ngày 19 tháng 2 đến ngày 4 tháng 5, tức mùa xuân, bát tự Mộc vượng Kim suy. Nam nữ mệnh này nên ngồi tọa Tây hướng Đông. Bàn làm việc có tượng Dê đồng, Tì hưu đồng sẽ giúp vận khí thêm tăng tiến, sự nghiệp và nhân duyên đều thêm vượng phát. Cầu thạch anh màu vàng hay tượng Như ý cũng có tác dụng tương tự. Nữ giới thì đặt đá thạch anh màu trắng cũng rất tốt.
Người tuổi Ngọ mệnh khuyết Thủy, đa phần sinh từ ngày 5 tháng 5 đến ngày 7 tháng 8, tức mùa hạ, bát tự Hỏa vượng Thủy suy. Vị trí tốt nhất ở nơi công sở của người này là tọa Tây Bắc hướng Đông Nam. Bàn làm việc của nam giới có thể đặt tượng Thiềm Thừ vàng, nữ giới thì có thể dùng đá thạch anh phong thủy để bổ sung vận khí. Tượng Rồng là vật phẩm phong thủy cho cả nam và nữ mệnh này.
Người tuổi Ngọ mệnh khuyết Mộc, đa phần sinh từ ngày 8 tháng 8 âm lịch đến ngày 7 tháng 11, tức mùa thu, bát tự Kim vượng Mộc suy. Người này nên đặt bàn làm việc ở vị trí tọa Đông hướng Tây. Riêng nữ giới, vị trí đẹp nhất là tọa Đông Nam hướng Tây Bắc. Trên bàn của nam nên bày tượng Như ý, còn nữ thì bày tượng Mèo phong thủy.
Người tuổi Ngọ mệnh khuyết Hỏa, đa phần sinh từ ngày 8 tháng 11 đến ngày 19 tháng 2, tức mùa đông, bát tự Thủy vượng Hỏa suy. Thủy vượng, trên bàn làm việc, nam giới nên chọn tượng Hồng Mã, còn nữ giới nên chọn tượng Chó phong thủy. Vị trí tốt để ngồi ở văn phòng cho nam là tọa Đông Bắc hướng Tây Nam, nữ là tọa Nam hướng Bắc.
![]() |
Nam giới tuổi Mùi nên đặt bàn làm việc tọa Nam hướng Bắc, nữ giới thì chọn vị trí tọa Tây Nam hướng Đông Bắc. Với những cô gái chưa chồng, để tăng vận đào hoa thì nên chọn chỗ tọa Đông Nam hướng Tây Bắc sẽ có kết quả tốt nhất.
Người tuổi Mùi mệnh khuyết Kim, đa phần sinh từ ngày 19 tháng 2 đến ngày 4 tháng 5, tức mùa xuân, bát tự Mộc vượng Kim suy. Bàn làm việc của người này đặt tượng Khỉ cưỡi Ngựa hoặc bày đá Thái Sơn phong thủy rất thích hợp. Treo dây 6 đồng tiền xu bằng đồng cũng sẽ thu được hiệu quả khả quan, giúp con đường sự nghiệp thuận buồm xuôi gió. Đá thạch anh màu trắng thì sẽ tăng phần tài lộc cho bản mệnh. Chỗ ngồi đẹp nhất trong văn phòng là tọa Tây Bắc hướng Đông Nam.
Người tuổi Mùi mệnh khuyết Thủy, đa phần sinh từ ngày 5 tháng 5 đến ngày 7 tháng 8, tức mùa hạ, bát tự Hỏa vượng Thủy suy. Thủy vượng, nữ mệnh chủ nên đặt bàn làm việc tọa Tây Bắc hướng Đông Nam, trên bàn cắm 4 cành trúc phú quý hoặc bình hoa tươi, cũng có thể dùng bình thủy tinh đựng đầy nước. Nam giới tốt nhất chọn vị trí tọa Bắc hướng Nam, trên bàn đặt bể cá nhỏ và bình thủy tinh đựng nước bên tay phải, mỗi sáng lại đổ thêm nước để tăng thêm vận khí.
Cầu điều gì bày cây nấy để cải thiện phong thủy văn phòng, đừng bỏ lỡ nhé.
Người tuổi Mùi mệnh khuyết Mộc, đa phần sinh từ ngày 8 tháng 8 đến ngày 7 tháng 11, tức mùa thu, bát tự Kim vượng Mộc suy. Nữ giới nên chọn chỗ ngồi tọa Đông hướng Tây, bàn làm việc bày 3 con Mèo phong thủy để trí tuệ càng thêm minh mẫn. Nam giới mệnh này bàn làm việc nên tọa Đông Bắc hướng Tây Nam. Nam hay nữ đều có thể chọn cắm 4 cành trúc phú quý trên bàn.
Người tuổi Mùi mệnh khuyết Hỏa, đa phần sinh từ ngày 8 tháng 11 đến ngày 18 tháng 2, tức mùa đông, bát tự Thủy vượng Hỏa suy. Tọa Nam hướng Bắc là vị trí thích hợp ngồi làm việc của nam giới, còn nữ giới thì nên là tọa Tây hướng Đông. Bàn của nữ nên thường xuyên cắm hoa tươi, còn nam thì bày tượng Hồng mã để Hỏa vượng thêm.
![]() |
Để có mối quan hệ xã giao hữu hảo, nam giới tuổi Thân nên đặt bàn làm việc tọa Bắc hướng Nam, nữ giới thì chọn vị trí tọa Tây hướng Đông.
Người tuổi Thân mệnh khuyết Kim, đa phần sinh từ ngày 19 tháng 2 đến ngày 4 tháng 5, tức mùa xuân, bát tự Mộc vượng Kim suy. Chỗ ngồi hợp phong thủy văn phòng cho người này là tọa Tây hướng Đông, tọa Tây Bắc hướng Đông Nam. Đặc biệt chú ý, chớ ngồi phía dưới dầm nhà hay đèn chum, cùng không ngồi đối diện với cây nước uống hoặc vòi nước, tốt nhất là chọn vị trí có thế dựa núi. Đá thạch anh phong thủy màu trắng hoặc vàng sẽ bổ sung khuyết thiếu cho bản mệnh.
Mời bạn đọc thêm: Treo tranh hợp nghề, phong thủy văn phòng tốt đẹp rực rỡ.
Người tuổi Thân mệnh khuyết Hỏa, đa phần sinh từ ngày 8 tháng 11 đến ngày 18 tháng 2, tức mùa đông, bát tự Thủy vượng Hỏa suy. Nữ giới nên chọn chỗ ngồi tọa Tây hướng Đông để nhận cát khí từ hướng Đông tới. Nam giới thì ngồi vị trí tọa Bắc hướng Nam sẽ rất vượng tài. Trên bàn nên bày bình hoa hoặc hồ lô đồng, cũng có thể đặt tượng Khỉ cưỡi Ngựa.
Người tuổi Thân mệnh khuyết Mộc, đa phần sinh từ ngày 8 tháng 8 đến ngày 7 tháng 11 âm lịch, tức mùa thu, bát tự Kim vượng Mộc suy. Nam giới mệnh này bàn làm việc tọa Đông hướng Tây, nữ giới thì tọa Tây hướng Đông là tốt nhất. Tượng Mèo phong thủy tốt cho nam, còn tượng Dê phong thủy dành cho nữ để bổ sung vận khí.
Người tuổi Thân mệnh khuyết Thủy, đa phần sinh từ ngày 5 tháng 5 đến ngày 7 tháng 8, tức mùa hạ, bát tự Hỏa vượng Thủy suy. Ở công sở, người này có chỗ ngồi tọa Bắc hướng Nam sẽ có sự nghiệp tăng tiến không ngừng. Nam giới nên đặt tượng Rồng đá hoặc đồng trên bàn. Nữ thì bày hoa tươi là tốt nhất. Nếu không muốn khoa trương, các bạn có thể chọn 2 bức tượng chuột đồng phong thủy ôm tiền nho nhỏ cũng có tác dụng tương tự.
![]() |
Chỗ ngồi thích hợp nhất trong phong thủy văn phòng cho người tuổi Dậu là tọa Đông Nam hướng Tây Bắc, tọa Đông hướng Tây hoặc tọa Đông Bắc hướng Tây Nam.
Người tuổi Dậu mệnh khuyết Kim, đa phần sinh từ ngày 19 tháng 2 đến ngày 4 tháng 5, tức mùa xuân, bát tự Mộc vượng Kim suy. Bàn làm việc của người này nhất định phải chọn vị trí tọa Tây Bắc hướng Đông Nam để có sự nghiệp hanh thông. Trên bàn bày tượng Rồng, Heo bằng đồng hoặc thạch anh. Nữ giới có thể cắm hoa tươi thường xuyên.
Người tuổi Dậu mệnh khuyết Mộc, đa phần sinh từ ngày 8 tháng 8 đến ngày 7 tháng 11, tức mùa thu, bát tự Kim vượng Mộc suy. Người này nên đặt bàn làm việc tọa Đông Nam hướng Tây Bắc hoặc tọa Tây hướng Đông. Trên bàn bày chậu cây nhỏ hoặc bình hoa tươi để bổ sung khuyết thiếu cho bản mệnh. Trúc phú quý là lựa chọn không tồi cho người này.
Chọn cây phong thủy để bàn trợ lực nghề nào phát nghề đó, đọc ngay bạn nhé.
Người tuổi Dậu mệnh khuyết Hỏa, đa phần sinh từ ngày 8 tháng 11 đến ngày 18 tháng 2, tức mùa đông, bát tự Thủy vượng Hỏa suy. Tốt nhất nên ngồi ở vị trí tọa Nam hướng Bắc. Trên bàn bày tượng Ngựa gỗ, Long Quy để tài lộc được ngày càng vượng phát.
Người tuổi Dậu mệnh khuyết Thủy, đa phần sinh từ ngày 5 tháng 5 đến ngày 7 tháng 8, tức mùa hạ, bát tự Hỏa vượng Thủy suy. Nếu ngồi ở vị trí tọa Tây Bắc hướng Đông Nam thì theo phong thủy văn phòng sẽ vô cùng thuận lợi trong sự nghiệp. Một bí mật nhỏ để tăng cường vận khí cho cả nam và nữ mệnh này là luôn đặt một bình, bát, cốc thủy tinh đựng nướctrên bàn nhé.
![]() |
Những người tuổi Tuất ở nơi làm việc nên chọn chỗ ngồi tọa Bắc hướng Nam hoặc tọa Đông Bắc hướng Tây Nam. Nữ giới thì chọn chỗ tọa Tây hướng Đông sẽ tốt hơn, đặc biệt là những cô gái chưa chồng.
Người tuổi Tuất mệnh khuyết Kim, đa phần sinh từ ngày 19 tháng 2 đến ngày 4 tháng 5, tức mùa xuân, bát tự Mộc vượng Kim suy. Vị trí bàn làm việc tọa Đông Bắc hướng Tây Nam, tọa Tây Bắc hướng Đông Nam sẽ hỗ trợ thêm cho bản mệnh trong sự nghiệp.
Nam giới mệnh khuyết Kim nên đặt đồng xu Như ý hoặc quả cầu thạch anh màu trắng, tiền xu Như ý tượng trưng cho thăng tiến trong công việc, còn quả cầu thạch anh có thể triệu hồi quý nhân. Nữ giới có thể bày tượng Phật nhỏ bằng đá thạch anh hoặc bằng đồng.
Người tuổi Tuất mệnh khuyết Mộc, đa phần sinh từ ngày 8 tháng 8 đến ngày 7 tháng 11, tức mùa thu, bát tự Kim vượng Mộc suy. Người này nên chọn chỗ ngồi tọa Đông hướng Tây. Trên bàn nam giới nên bày 4 cuốn sách, còn nữ giới bày 4 tượng Mèo phong thủy để vừa chiêu tài vừa cầu duyên.
Người tuổi Tuất mệnh khuyết Hỏa, đa phần sinh từ ngày 8 tháng 11 đến ngày 18 tháng 2, tức mùa đông, bát tự Thủy vượng Hỏa suy. Nam giới ngồi vị trí tọa Nam hướng Bắc, nữ giới thì tọa Tây hướng Đông sẽ thêm phần cát khí. Bàn làm việc của nam nên đặt tượng Heo, Ngựa phong thủy, còn nữ thì bày tượng Chó, Voi hoặc Gấu mèo.
Bạn đã biết Người tuổi Tuất hợp với tuổi gì trong tình yêu hôn nhân hay chưa?
![]() |
Người tuổi Hợi nên chọn chỗ ngồi tọa Đông hướng Tây để hợp với phong thủy văn phòng, tài lộc dồi dào, công danh thịnh vượng. Ngoài ra, nam giới có thể chọn vị trí tọa Đông Nam hướng Tây Bắc, nữ giới thì tọa Đông Bắc hướng Tây Nam, tọa Tây Nam hướng Đông Bắc để Thiên Tài vượng phát.
Người tuổi Hợi mệnh khuyết Kim, đa phần sinh từ ngày 19 tháng 2 đến ngày 4 tháng 5, tức mùa xuân, bát tự Mộc vượng Kim suy. Bàn làm việc của người này nếu ở vị trí tọa Tây Bắc hướng Đông Nam sẽ tốt nhất. Trên bàn có thể bày tháp đồng hoặc tượng Mèo phong thủy bằng đồng.
Riêng nữ giới mệnh khuyết Kim, chỗ ngồi tọa Tây hướng Bắc sẽ thích hợp hơn, cũng nên đặt tượng Dê đồng hoặc hồ lô đồng hay quả cầu thạch anh phong thủy.
Chìa khóa vàng bài trí phong thủy thịnh phát, bạn đã biết chưa?
Người tuổi Hợi mệnh khuyết Thủy, đa phần sinh từ ngày 5 tháng 5 đến ngày 7 tháng 8, tức mùa hạ, bát tự Hỏa vượng Thủy suy. Trên bàn làm việc bày tượng Chuột vàng hoặc bể cá nuôi 4 con cá màu trắng sẽ tốt cho bản mệnh. Tọa Bắc hướng Nam là vị trí chỗ ngồi lý tưởng đối với họ.
Người tuổi Hợi mệnh khuyết Mộc, đa phần sinh từ ngày 8 tháng 8 đến ngày 7 tháng 11, tức mùa thu, bát tự Kim vượng Mộc suy. Bàn làm việc tọa Đông hướng Tây sẽ hợp với phong thủy văn phòng. Nên đặt chậu cây nhỏ hoặc bình hoa tươi để bổ sung khuyết thiếu cho bản mệnh.
Người tuổi Hợi mệnh khuyết Hỏa, đa phần sinh từ ngày 8 tháng 11 đến ngày 18 tháng 2, tức mùa đông, bát tự Thủy vượng Hỏa suy. Người này nên ngồi vị trí tọa Nam hướng Bắc, bày trên bàn tượng Quan Công cưỡi ngựa, vừa triệu quý nhân vừa chiêu tài chiêu lộc, lại vượng phát nhân duyên. Đồ dùng văn phòng nên dùng màu đỏ là chủ yếu để bổ sung hành Hỏa cho bản mệnh.
An An
Áp dụng phong thủy để công việc lên như diều gặp gió Phong thủy trái cây thu hút sự thịnh vượng và may mắn như thế nào? Muốn tăng lương thăng chức chớ bỏ qua 8 bí kíp phong thủy này
| ► Tham khảo thêm những thông tin về: Phong thủy phòng ngủ và những ảnh hưởng đến gia chủ |
![]() |
![]() |
![]() |
| ► Xem thêm: Ngũ hành tương sinh và những ảnh hưởng đến cuộc đời, vận mệnh |