Thang đo mức độ si tình khi yêu của bạn
![]() |
![]() |
![]() |
| Đốt trên ngắn hơn đốt dưới | Đốt trên dài hơn đốt dưới | Đốt trên và đốt dưới dài bằng nhau |
Alexandra V (theo vonvon)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
![]() |
![]() |
![]() |
| Đốt trên ngắn hơn đốt dưới | Đốt trên dài hơn đốt dưới | Đốt trên và đốt dưới dài bằng nhau |
Alexandra V (theo vonvon)
Các sao yểu mệnh và trường thọ của người lớn trong lá số tử vi:
Sự nghịch lý của Âm Dương: gây trục trặc căn bản và đa diện, tạo một yếu tố bất lợi cho cuộc đời nói chung và sự yểu nói riêng.
Sự đối khắc giữa Bản Mệnh và Cục: rất quan trọng, tuy không hẳn là quyết định.
Sự đối khắc giữa cung Mệnh và Bản Mệnh: trong trường hợp Mệnh vô chính diệu thì xấu.
Sự đối khắc giữa cung Mệnh, chính tinh của Mệnh và Bản Mệnh: nếu cung Mệnh có chính tinh, cung an Mệnh khắc chính tinh đó rồi chính tinh đó khắc lại Bản Mệnh một lần nữa thì trực tiếp hại cho Bản Mệnh.
Trường hợp bại địa và tuyệt địa của cung an Mệnh: rất bất lợi.
Cung Phúc xấu: làm dễ yểu hơn nữa. Cung Phúc xấu trong những trường hợp sau:
– có chính tinh tốt, đắc địa mà bị Tuần hay Triệt hoặc cả Tuần lẫn Triệt. Chỉ có một ngoại lệ duy nhất là Âm, Dương đắc địa ở Sửu, Mùi cần gặp Kỵ, Tuần, Triệt mới sáng lại;
– có chính tinh (tốt hoặc xấu, nhất là xấu) mà bị sát tinh nghịch cách xâm phạm. Số lượng sát tinh càng nhiều thì càng bất lợi. Nếu gặp hung, hao, hình, bại tinh thì đỡ hơn.
– không có chính tinh mà thiếu Tuần, Triệt trấn đóng;
– không có chính tinh mà thiếu Tuần, Triệt, Địa Không, Thiên Không hội chiếu;
– không có chính tinh mà bị xung chiếu bởi chính tinh hãm địa;
– cung Phúc ở bại địa và tuyệt địa;
– chính tinh của Phúc bị hành của cung khắc, chính tinh này lại khắc hành của Bản Mệnh;
Cần lưu ý rằng những bất lợi trên bổ túc thêm các bất lợi ở các mục trước. Nếu chỉ gặp riêng những trường hợp xấu của cung Phúc thì trước hết là yểu, hoặc là thọ mà nghèo hèn, hoặc là bị bệnh tật và họa nặng, hết sức bất lợi cho sự sống, hoặc có thể vì bệnh, họa, tật và nghèo đói mà tự tử.
Cung Mệnh, cung Thân, cung Hạn cùng xấu: Gặp thêm ba cung này xấu, càng dễ yểu hơn. Cái xấu của ba cung này tương tự như cái xấu của Phúc. Hạn nào xấu nhất thì dễ yểu trong thời gian đó. Nếu Mệnh tốt, Thân xấu gặp Hạn xấu sẽ yểu trong thời gian của Thân và của Hạn. Nếu Mệnh xấu, Thân tốt gặp Hạn xấu có thể đỡ khổ hơn: nếu không yểu trong thời hạn của Mệnh thì có thể qua khỏi và sẽ hanh thông sau 30 tuổi, chỉ hiềm phải hết sức vất vả trong vòng 30 tuổi đầu, đặc biệt là trong vòng hạn xấu (cụ thể như nghèo, thất nghiệp, bệnh, họa, tang khó, mồ côi, tự lập ...)
Cung Tật xấu: cá nhân bất hạnh về sức khỏe, về yểu dù có phú, có quý. Trong trường hợp này, ba cung Phúc, Mệnh, Thân phải đặc biệt tốt mới quân bình ít nhiều cái xấu của Tật.
Yểu cách của chính tinh:
Tử Vi: đi chung với Tham Lang thì giảm thọ, với Phá Quân thì phải ly hương mới sống lâu, với Tuần hoặc Triệt thì yểu, với Kình Đà Không Kiếp thì bị hãm hại. Yểu cách càng rõ nếu Tử Vi ở những vị trí bình hòa như Hợi, Tý, Mão, Dậu.
Liêm Trinh: đi với Thất Sát hoặc Tham Lang, Liêm Trinh chẳng những yểu mà họ hàng cũng có người chết sớm, bằng không cũng bị ác bệnh, tù tội, nghèo hèn, tha phương cầu thực. Đi với Phá Quân thì phải xa quê và vất vả mới thọ.
Thiên Đồng: đóng ở Dậu, Thìn, Tuất có nghĩa giảm thọ và xa cách họ hàng. Đồng cung với Cự Môn cũng yểu, hay bị quan tụng và tranh chấp nhau trong gia đình. Đồng cung với Thái Âm ở Ngọ cũng kém thọ và cô độc.
Vũ Khúc: giảm thọ nếu đồng cung với Thất Sát hay Phá Quân. Ngoài ra còn cô độc, rời tổ. Họ hàng cũng nghèo và yểu.
Thái Dương: đóng ở những cung ban đêm thì xấu: yểu và chết bi thảm, nhất là đối với người sinh về đêm. Ngoài ra, Âm Dương cùng hãm địa phối chiếu với nhau hoặc xung chiếu nhau cũng là yếu tố đối khắc vận mệnh quan trọng.
Thiên Cơ: xấu nếu đồng cung với Thái Âm ở Dần, đặc biệt là đối với phụ nữ.
Thiên Phủ: ở Sửu, Mùi, Mão, Dậu thì không hay. Đồng cung với Tuần, Triệt, Không, Kiếp, Thiên Không càng bất lợi hơn vì những sao này giảm thọ.
Thái Âm: đóng ở những cung ban ngày với người sinh ban ngày, Thái Âm hãm địa kém thọ, nhất là đối với nữ. Nếu Âm đồng cung với Thiên Đồng ở Ngọ hay Thiên Cơ ở Dần thì cũng có nghĩa tương tự.
Tham Lang: bất lợi ở Tý, Ngọ hoặc khi nào đồng cung với Tử Vi, với Liêm Trinh (ở Tỵ, Hợi).
Cự Môn: không tốt ở Thìn, Tuất vì giảm thọ, hay bị quan tụng. Đi với Thiên Đồng cũng có ý nghĩa tương tự.
Thiên Tướng: xấu ở Mão, Dậu lúc thiếu thời, chỉ khi về già mới có may mắn.
Thiên Lương: giảm thọ ở Tỵ Hợi hoặc đồng cung với Thái Dương ở Dậu.
Thất Sát: đóng ở Thìn, Tuất hoặc đồng cung với Liêm Trinh, Vũ Khúc thì yểu và chết vì binh đao, hình ngục. Riêng ở Tý Ngọ, tuy kém Phúc, ly hương nhưng cũng còn có ít nhiều cơ may thọ.
Tất cả các sao ở những vị trí kể trên mà gặp thêm sáu sát tinh Kình, Đà, Không, Kiếp, Hỏa, Linh thì tuổi thọ nhất định giảm. Nếu cung Mệnh, Thân cùng xấu, yểu cách càng dễ đoán.
Địa Không, Địa Kiếp: hết sức tai hại lúc hãm địa, có hiệu lực quân bình hay lấn át cả Tử, Phủ. Lúc hãm địa, hai sao này có ý nghĩa xấu toàn diện có liên quan đến cái chết, cái nghèo, cái họa, cái bệnh, cái tật, tóm lại nó tượng trưng cho sự đổ gãy nặng nề, mau chóng và bất khả kháng (nếu thiếu cát và giải tinh). Đóng ở những cung Phúc, Mệnh, Thân, tác họa toàn diện đó sẽ kéo dài suốt đời, dưới nhiều hình thái hoặc một trong các hình thái kể trên. Con người càng lớn tuổi, hai sao này mạnh thêm với thời gian để gây họa, bệnh, tật hoặc đồng loạt trên nhiều phương diện, có thể xem như là họa vô đơn chí. Nếu đóng ở cung cường khác như Quan, Tài, Di, Phu Thê, hai sao này tác họa trên những lãnh vực này một cách không chối cãi. Đi với sát tinh hãm địa khác, Kiếp Không càng sát hại mạnh mẽ hơn. Đi với Đào hay Hồng cũng yểu.
Hỏa Tinh, Linh Tinh: là "đoản thọ sát tinh", có hiệu lực làm giảm thọ, nhất là ở hãm địa. Nếu đắc địa thì mức thọ cao hơn. Đi chung với Kình, Đà hãm địa thì phải chết thảm, với Kiếp Không thì càng nguy kịch hơn.
Kình Dương, Đà La: giảm thọ nếu hãm địa và ly hương lập nghiệp vất vả. Đặc biệt ở Tý, Ngọ, Mão, Dậu, Kình Dương ở Mệnh thì chết non. Đi với sát tinh kể trên, tai họa càng khủng khiếp. Riêng ở Ngọ, Kình thủ Mệnh ví như gươm kề cổ ngựa, rất dễ nguy kịch. Nếu gặp thêm Thất Sát, Thiên Hình, chắc chắn phải yểu tử và chết tang thương. Được cát tinh đi chung thì may rủi đi liền với nhau.
Kiếp Sát: chỉ khi nào thủ Mệnh, Kiếp Sát mới nguy kịch, có ý nghĩa giống như sao Địa Kiếp, chỉ giảm thọ, đặc biệt là vì một bệnh hiểm nghèo, sau một cuộc giải phẫu.
Ngoài những sát tinh kể trên, yểu cách còn do bại tinh góp phần tăng hiệu lực. Đó là các sao: Tang Môn, Bạch Hổ - Đại Hao, Tiểu Hao - Thiên Khốc, Thiên Hư - Bệnh, Bệnh Phù - Suy, Tử, Tuyệt - Thiên Thương, Thiên Sứ nhập hạn.
Hóa Kỵ, Đà La, Thiên Riêu: giảm thọ nếu đồng cung hoặc hội chiếu hoặc ở vị trí tam ám liên hoàn (Mệnh có một sao, hai bên giáp hai sao) hoặc đi cùng với Thái Âm, Thái Dương (sáng hay mờ). Hóa Kỵ chỉ tốt khi đồng cung với cả Âm Dương ở hai cung Sửu và Mùi.
Cô Thần, Quả Tú: đi với sao xấu, Cô Quả chỉ giảm thọ hoặc là cô độc.
Giải Thần nhập hạn: nếu cả đại tiểu hạn cùng gặp Giải Thần cùng với các sao xấu khác thì chắc chắn phải chết một cách nhanh chóng. Sao này chỉ hóa giải được nạn nhỏ. Gặp đại nạn, đại bệnh, Giải Thần là tử thần, làm chết một cách nhanh chóng. Sao xấu dù đắc địa hội với Giải Thần ở đại tiểu hạn cũng không cứu gỡ được nguy cơ này.
Xương, Khúc: báo hiệu chết non nếu ở Nô hoặc đồng cung với Liêm ở Tỵ, Hợi, Sửu, Mùi, Mão, Dậu; với Phá ở Dần. Yểu cách lệ thuộc vào hai lý do: tại họa nặng nề và bất kỳ xảy ra; bệnh hoạn nặng nề mà có.
Cách thọ của người lớn:
Một cáchtổng quát, cát tinh đắcđịa nói chung đều cónghĩa thọ. Những cát tinhđó đóng ở Phúc vàThân thì càng hay.
Thọ cách của chính tinh:
Tử Vi: thọ nhất là Tử Vi ở Ngọ và khi Tử Vi đồng cung với Thiên Phủ hoặc Thiên Tướng. Tử Vi với Thất Sát thì kém hơn, nghĩa là cũng thọ nhưng phải ở xa quê cha đất tổ.
Liêm Trinh: thọ ở Dần, Thân, hoặc khi nào đồng cung với Thiên Phủ hoặc Thiên Tướng.
Thiên Đồng: thọ ở Mão hoặc khi nào đồng cung với Thiên Lương hoặc Thái Âm (ở Tý) hay Tràng Sinh.
Thái Dương: chỉ thọ khi tọa thủ ở các cung ban ngày như Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, nhất là đối với những người sinh ban ngày và tuổi dương. Tại Sửu, Mùi, đồng cung với Thái Âm, cần phải có Tuần, Triệt, Hóa Kỵ đồng cung mới thọ.
Thiên Cơ: thọ ở Tỵ, Ngọ, Mùi và khi đồng cung với Thiên Lương hoặc Thái Âm (ở Thân) hoặc Cự Môn.
Thiên Phủ: thọ ở Tỵ, Hợi hoặc đồng cung với Tử Vi, Liêm Trinh, Vũ Khúc.
Thái Âm: chỉ thọ khi đóng ở các cung ban đêm như Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tý nhất là đối với người sinh ban đêm, đặc biệt vào giờ có trăng lên và người tuổi Âm. Tại Sửu, Mùi cần có Tuần, Triệt hay Hóa Kỵ đồng cung.
Tham Lang: thọ ở Thìn, Tuất hoặc khi đồng cung với Vũ Khúc hay Tràng Sinh, ở Dần Thân thì kém hơn.
Cự Môn: thọ ở Hợi, Tý, Ngọ hoặc đồng cung với Thái Dương ở Dần, với Thiên Cơ ở Mão Dậu.
Thiên Tướng: thọ ở Tỵ, Hợi, Sửu, Mùi hoặc đồng cung với Tử Vi, Liêm Trinh, Vũ Khúc.
Thiên Lương: thọ ở Tý, Ngọ, Sửu, Mùi hoặc đồng cung với Thiên Đồng, Thái Dương (ở Mão) và Thiên Cơ.
Thất Sát: chỉ thọ ở Dần, Thân, nhưng với điều kiện phải ly hương; hoặc khi đồng cung với Tử Vi.
Phá Quân: thọ ở Tý, Ngọ nhưng phải xa quê.
Những phụ tinh có thọ cách độc lập gồm: Lộc Tồn, Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Thiên Mã, Long Trì, Phượng Các, Ân Quang, Thiên Quý, Thiên Quan, Thiên Phúc, Tràng Sinh, Đế Vượng, Thiên Giải, Địa Giải, Giải Thần, Long Đức, Nguyệt Đức, Phúc Đức, Thiên Đức, Thiên Thọ.
Những sao thọ liên đới tức là cần có sao tốt khác đi kèm, gồm có: Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt, Tả Phù, Hữu Bật, Cô Thần, Quả Tú, Đào Hoa, Hồng Loan và Đà La ở Dần Thân vô chính diệu, không có Tuần Triệt đồng cung.
Tất cả sao, chính hay phụ tinh, kể trên muốn toàn nghĩa phải có thêm điều kiện: không bị Tuần, Triệt trấn thủ, không bị sát tinh đồng cung. Nếu phạm những cấm kỵ này, tuổi thọ bị giảm. Đặc biệt tại cung hạn của tuổi già - hoặc là cung Thân, hoặc là cung đại hạn, tiểu hạn - cách thọ phải vẹn toàn, đông đảo thì mới mong sống lâu được.
Đĩa gồm 7 quả cầu với 7 màu sắc (hoặc chất liệu) khác nhau, trong đó quả ở giữa thường lớn hơn 6 quả xung quanh. Thông thường được chế tác bằng các loại đá quý như thạch anh, đá mắt mèo, hắc ngà, ngọc Đông Linh…

Một trong những bí quyết cải biến Phong Thuỷ chính là kích hoạt cát khí của sao Bát Bạch trong phòng khách, văn phòng. Vượng khí của sao Bát Bạch trong vận 8 sẽ mang lại quan hệ gia đình thuận hoà, thăng tiến về công danh tài lộc và may mắn.
Ở bàn trà hoặc bàn làm việc rất cần có đĩa ngọc Thất tinh gồm 7 viên đá quý thạch anh trên đĩa tròn. Những viên đá tròn mang lại cát khí rất lớn, xua được tà khí, âm khí vốn là mầm mống phát sinh tai hoạ, bệnh tật. Đặt ở bàn khách, bàn trà giúp cho chủ nhân quan hệ rộng rãi, nhiều quý nhân giúp đỡ về công danh tài lộc, tránh kẻ tiểu nhân.
![]() |
Li kỳ hành trình tìm kiếm cây thánh giá chúa Giê - su bị hành quyết![]() |
![]() |
![]() |
Hành: KimLoại: Sát TinhTên gọi tắt thường gặp: Đà
Phụ tinh. Thuộc bộ sao đôi Kình Dương và Đà La. Gọi tắt là bộ Kình Đà.
- Phân loại theo tính chất là Kỵ Tinh, Hung Tinh.
- Cũng là một trong 6 sao của bộ Lục Sát Tinh gồm các sao Kình Dương, Đà La, Địa Không, Địa Kiếp, Linh Tinh, Hỏa Tinh (gọi tắt là Kình Đà Không Kiếp Linh Hỏa).
- Nếu sao Đà La tọa thủ trong cung Vô Chính Diệu (như trường hợp Cung Mệnh Vô Chính Diệu và Cung Phụ Mẫu Vô Chính Diệu của lá số mẫu) được gọi là cách Hung Tinh độc thủ hoặc Đà La độc thủ.
Vị Trí Ở Các Cung
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
|
| (Hình vẽ Ngưu Lan, Chức Nữ) |
Theo quan niệm dân gian thì rằm tháng 7 ở dưới âm phủ, Diêm Vương mở ngục, xá tội cho một số linh hồn và mọi vong nhân có thể thoát khỏi ngục hình trong một hôm để trở về dương thế với gia đình. Do vậy, ngày này nhà nào cũng đốt vàng mã và làm cỗ cúng gia tiên.
Bên cạnh đó, một số gia đình còn làm lễ cúng các cô hồn, còn gọi là cúng cháo. Lễ vật cúng cháo thường có cháo hoa, cơm vắt, chuối, ổi, bánh kẹo, ngô rang, xôi, chè, giấy tiền, quần áo giấy… Cúng cháo để bố thí cho các cô hồn không nơi thờ cúng. Tục lệ này mang đậm tính nhân đạo, thể hiện tình yêu thương đồng loại của dân tộc Việt Nam.
Vào ngày rằm tháng 7, ở các chùa cũng tổ chức lễ cúng thập loại chúng sinh để cầu cho các linh hồn được về nơi cực lạc.
Dâng hương lễ Trung Nguyên phải cúng từ trong nhà ra ngoài trời: Cúng gia thần, gia tiên và cuối cùng là cúng chúng sinh. Khi đã khấn xong sẽ đốt tiền vàng đồng thời rắc gạo, rắc muối ra các hướng.
(Theo Nghi lễ thờ cúng của người Việt)
![]() |
| Ảnh minh họa |

Nếu có phòng ăn riêng, tốt nhất bạn nên xem xét kỹ lưỡng vị trí, không gian và màu sắc. Chúng tôi xin chỉ ra 4 điều cần lưu tâm sau đây:
1. Nguy hiểm: Phòng ăn đối diện cửa phòng tắm

Phòng ăn là nơi phục vụ hoạt động ăn uống cho cả gia đình, trong khi đó, nhà vệ sinh/phòng tắm lại là nơi chứa nguồn năng lượng bẩn thỉu, ô uế, hôi hám. Theo phong thủy, hai căn phòng này đối diện với nhau là cách bố trí sai lầm, rất xấu.
Trường hợp này có thể sinh ra bệnh tật cho người cư trú, đặc biệt là các bệnh phát sinh từ đường miệng nên phải tránh tuyệt đối.
2. Phòng ăn, phòng bếp cần tách biệt

Tránh kết hợp phòng bếp và phòng ăn trong cùng một không gian. Bởi vì, khi nấu nướng, các loại khói bụi, mùi thức ăn... sẽ tích tụ lại, lâu dần sẽ ảnh hưởng đến vấn đề vệ sinh và từ đó gây hại tới sức khỏe của bạn và người thân.
Dân gian có câu "Mở cửa thấy bếp, tiền bạc tiêu tán", có nghĩa rằng nếu cửa ra vào (cửa chính) và phòng bếp tạo thành đường thẳng (bạn có thể nhìn thấy bếp trực tiếp từ cửa ra vào), nó có thể khiến của cải, tiền bạc thất thoát và sức khỏe suy giảm, nhất là đường tiêu hóa.
3. Phòng ăn không nên dùng màu sắc tươi sáng

Những gam màu trung tính như màu gỗ, màu cà phê và đen rất được khuyến khích sử dụng cho bàn ăn. Không chọn màu sắc quá rực rỡ và tươi sáng. Nếu đã sắm sửa 1 bộ bàn ăn đắt tiền nhưng lại có màu sắc quá chói sáng thì bạn cũng không cần bận tâm, lo lắng. Vấn đề này có thể được khắc phục dễ dàng bằng cách trải một lớp khăn trải bàn màu trung tính lên trên bề mặt bàn ăn là được.
4. Không nên thiết kế xà nhà trong phòng ăn

Trần phòng ăn tốt hơn hết nên có hình dạng bằng phẳng và đơn giản, không thiết kế thêm xà nhà... Nếu thiết kế trần nhà nghiêng kèm theo những thanh xà nhà nặng nề, nó sẽ gây ra các vấn đề về sức khỏe cho các thành viên trong gia đình.
Có nhiều ảnh hưởng khác nhau và điều này phục thuộc vào vị trí của thanh xà nhà. Ví dụ, nếu thanh xà nhà ở trên bàn ăn, nó sẽ cản trở khả năng tiêu hóa của con người và theo thời gian, nó có thể dẫn đến bệnh tật về đường tiêu hóa.
(Theo Eva)
Theo thuyết phong thủy, nhà ở vuông vắn là đẹp nhất. Nếu nhà dài và hẹp hoặc không theo qui tắc thì đều bị coi là không tốt.

Nhưng các tòa nhà trong thành phố hiện nay đều thiết kế theo hình dài, hẹp hoặc không theo qui tắc, thường là do không còn cách lựa chọn nào khác mà phải mua, tuy nhiên trong lòng chủ nhà luôn bất an, khó sống yên ổn. Đầu tiên phải nói đến phòng khách dài, hẹp. Dài, hẹp tức là chiều dài lớn gấp 2 lần chiều rộng. Nếu chiều dài dài 10m mà chiều rộng chỉ có 4m thì được coi là dài và hẹp. Như vậy không những không phù hợp với phong thủy mà còn khó thiết kế các phòng trong nhà. Cách giải quyết tốt nhất là dùng tủ thấp, bàn trang điểm chia phòng khách thành hai phần, chia khoảng dài thành hai khoảng nhỏ hình vuông, như vậy không những phù hợp với phong thủy mà còn thay đổi được cảm quan, không còn cảm giác chật hẹp nữa. Tuy nhiên, khi làm như vậy cần chú ý vài điểm sau:
Chỗ chia cắt nên tối đa để gần đường trung tuyến, vì làm như vậy thì hai phần sau khi chia ra mới thành hình vuông, nếu không sẽ không còn ý nghĩa ban đầu nữa. Nên cố gắng dùng đồ dùng trong nhà để phân chia, ví dụ như tủ hoặc bàn trang điểm dưới 3 thước là lý tưởng nhất, vì như vậy mới khiến cho không khí ở hai phòng mới chia lưu thông với nhau. Nếu dùng tủ cao hoặc tường ván phân cách thì lại trở thành cắt xén. Đồ dùng để phân cách không được để đốì diện với cửa lớn. Làm như vậy sẽ có ảnh hưởng không tốt đến người trong nhà, đặc biệt là về sức khỏe. Do đó cũng không nên để tủ hướng về phía cửa phòng của trẻ. Nếu thực sự không thể tránh được thì chỉ còn cách đặt cạnh tủ một chậu cây để hóa giải. Trên đây đã trình bày về, phòng khách dài, hẹp, phòng ngủ dài, hẹp cũng có thể áp dụng cách làm như phòng khách, chia phòng ngủ làm hai phần. Nếu nằm trên giường nhìn căn phòng dài và hẹp sẽ có cảm giác cô đơn lạnh lẽo, những người có thần kinh hạy cảm sẽ hay nghĩ ngợi tưởng tượng lung tung, tự tạo ra ảo giác. Nhưng nếu dùng tủ thấp chia phòng ngủ làm hai, một nửa dùng làm phòng trang điểm hoặc phòng đọc sách, một nửa dùng để ngủ và nếu để vô tuyến trên nóc tủ thì khi nằm trên giường có thể xem được cả chương trình truyền hình. Sau khi thay đổi thì phòng ngủ không còn cảm giác trống rỗng nữa, mà cảm thấy yên lòng hơn rất nhiều.
Có một số điều cần chú ý, có người dùng gương để ngăn phòng ngủ, thực ra làm như vậy là không thích hợp. Nếu gương hướng về phòng trang điểm hay phòng đọc sách thì không vấn đề gì nhưng nếu gương hướng về phòng ngủ thì lại phạm vào điều tối kỵ trong phong thủy, thường sẽ khiến người trong phòng sinh bệnh.
Đây là quẻ Quan Âm thứ 87 được xây dựng trên điển cố: Giảo Kim thám Địa Huyệt hay Giảo Kim xem huyệt đất.
Thử quái đào sa kiến kim nhân xừ hiểm cảnh chi tượng. Phàm sự hữu quý nhân chi triệu dã.
Quẻ trung bình thuộc cung Thân. Tượng này là muốn xẻ đá tìm ngọc, đào cát đãi vàng thì phải bỏ công sức lớn, tuy nhiên đây là việc hao tâm tổn sức trong lúc này.
Giảo Kim tức Trình Giảo Kim (589 – 665), là người Đông A, Tế Châu. Trình Giảo Kim gia nhập quân Ngõa Cương, đầu quân cho Vương Thế Sung, sau lại đầu hàng nhà Đường. Năm Trinh Quán thứ 17 (tức năm 643), Đường Thái Tông phong cho ông làm Lư Quốc Công, là một trong số hai mươi bốn vị công thần của Lăng Yên các.
Câu chuyện “Giảo Kim xem huyệt địa” bắt nguồn từ tác phẩm “Tùy Đường diễn nghĩa“.
Các hảo hán của trại Ngõa Cương mờ yến tiệc trong phủ nguyên soái, trong lúc đang ăn uống, bỗng nhiên nghe một tiếng vang động, chỉ thấy trong phòng luyện võ nứt ra một địa huyệt lớn. Địa huyệt đen ngòm, không biết là sâu bao nhiêu. Quân sư Từ Mậu Công nói: “Hãy lấy ba mươi bảy tấm giấy, ba mươi sáu tấm viết “bất khứ” (không đi), một tấm viết chữ “khứ” (đi), người nào bốc được tấm giấy có chữ “khứ” thì đi xuống!” Mọi người đều cho là có lý. Không may, Trình giảo Kim lại rút được tấm giấy có chữ “khứ”. Trình Giảo Kim giở trò: “Tôi không biết chữ, các anh lừa tôi nên mới bảo là tôi bắt được chữ “khứ”.
Mậu Công nói: “Bất khứ” là hai chữ, còn “khứ” là một chữ, lẽ nào ngươi không biết?”
Trình Giảo Kim nhìn những người khác đều là hai chữ, chỉ có mình lại là một chữ, liền kéo Vưu Tuấn Đạt nói: “Này anh trai, đều là do anh hại tôi. Lúc đó tôi làm nghề bán củi, anh lại lôi tôi làm đông đảng để cướp Vương Cương, phản Sơn Đông. Nay phải xuống địa ngục lạnh giá, chắc rằng khó mà sống sót, tôi và anh có quan hệ thân thiết, còn mẹ già mong anh sớm chiều chăm sóc!”
Vưu Tuấn Đạt nói: “Người anh em, cậu nói gì thế? Cậu cứ xuống đi, đảm bảo không có vấn đề gì đâu!”
Trình Giảo Kim không biết làm sao, đành mang theo cây búa lớn, ngồi vào trong chiếc sọt, để mọi người thả xuống dưới huyệt, chẳng bao lâu thì tới đáy. Trình Giảo Kim trèo ra khỏi sọt, cầm bủa trên tay, nhưng tối om không nhìn thấy tia sáng nào, cứ sờ tay mà đi, đi qua hai khúc quanh, bỗng thấy phía trước có luồng ánh sáng, Trình Giảo Kim cho rằng đó là yêu quái gì đó, liền chạy lên phía trước, bố xuống một búa, chỉ nghe một tiếng rầm, thì ra đó là hai cánh cửa bằng đá.
Trình Giảo Kim đi vào trong cửa đá, chỉ thấy phía trên cũng có bầu trời, bên dưới là một dòng sông lớn, ở giữa có một cây cầu đá. Đi qua cây cầu, lại là ba gian đại điện, nhưng không có người nào. Trình Giảo Kim tiến vào giữa đại sảnh, chỉ thấy trên bàn có bày một chiếc mũ bằng vàng có hai cánh hướng lên, một bộ long bào màu vàng, một dây đai bằng ngọc bích, một đôi giày “vô ưu”. Trình Giảo Kim nhìn thấy, rất lấy làm lạ, liền bỏ chiếc khăn vải tía trên đầu đi, đội chiếc mũ bằng vàng có hai cánh lên đầu, mặc bộ long bào màu vàng vào người, thắt dây đai bằng ngọc bích, tháo giầy da, đi đôi giày vô ưu. Lại thấy ờ bên bàn có một chiếc hộp quý, mở ra xem thì thấy có một viên ngọc khuê màu đen, một tờ giấy có chữ viết, nhưng Giảo Kim lại không biết đọc. Liền cất chiếc hộp vào trong bụng, đi ra đại sảnh.
Trình Giảo Kim vừa ra khỏi cửa đá, cánh cửa đá lại kêu rầm một cái, đóng lại như cũ. Giảo Kim sợ quá, vội vàng ngồi vào trong chiếc sọt, lắc mạnh sợi dây. Những người phía trên vội vàng kéo Giảo Kim lên, ra khỏi địa huyệt.
Trình Giảo Kim vừa mới ra khỏi chiếc sọt, lại nghe ầm một tiếng lớn, địa huyệt liền đóng chặt lại. Trình Giảo Kim nói: “Đúng là tạo hóa kỳ diệu, chậm một chút là bị chôn sống rồi!” Mọi người thấy Giảo Kim ăn mặc như vậy, đều cảm thấy kỳ lạ. Trình Giảo Kim kể lại tỉ mỉ sự việc, lấy chiếc hộp quý ra cho Từ Mậu Công xem. Mậu Công cầm tờ giấy đoc, chỉ thấy trên đó viết rằng:
“Trình Giảo Kim trọng nghĩa dấy binh, làm Hỗn Thế Ma Vương ba năm, nhiễu loạn thiên hạ”.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Theo các chuyên gia mệnh lý, dựa vào nguyên tắc "tương sinh, tương khắc" có thể phân chia phong thủy điện thoại theo 3 yếu tố: màu sắc, số điện thoại và hình dạng. Chọn điện thoại di động theo phong thủy phù hợp với con giáp của bản thân sẽ mang lại vận khí tốt cho chủ nhân sở hữu nó.
|
| (Ảnh minh họa) |
Nên chọn điện thoại màu trắng. Ngoài ra, Thủy với Thủy trong ngũ hành có thể sinh vượng khí. Màu đen cũng là màu đại diện cho hành Thủy. Do vậy, chọn điện thoại màu này cũng tốt cho chủ nhân tuổi Tý.
Tam hợp của người tuổi Tý là tuổi Thân. Vì vậy nên chọn dây đeo điện thoại có liên quan đến con khỉ.
Số khai vận tốt nhất là: 4, 9, 1, 6. Số kỵ: 0, 5.
Nên chọn điện thoại hình vuông, màu vàng, cà phê, trắng, kim, bạc. Kỵ màu xanh lá cây. Dây đeo điện thoại có thạch anh màu vàng.
Số khai vận: 0, 5. Số kỵ: 3, 8.
Nên chọn điện thoại hình chữ nhật, màu xanh lá cây kết hợp dây đeo có thạch anh. Kỵ điện thoại màu trắng.
Số khai vận: 2, 7. Số kỵ: 4, 9.
Phù hợp với điện thoại hình chữ nhật, màu xanh lam. Dây đeo nên chọn màu xanh lá cây.
Số khai vận: 1, 6, 3, 8. Số kỵ: 4, 9.
Sẽ hợp với điện thoại hình vuông, màu trắng, kim hoặc bạc. Nếu chọn màu xanh lam hay lá cây thì vận may sẽ dần dần xa rời chủ nhân.
Số khai vận: 4, 9. Số kỵ: 3, 8.
Nên dùng điện thoại hình vuông kết hợp các phụ kiện: dây đeo, túi đựng màu vàng để tăng cơ hội may mắn. Kỵ màu đen.
Số khai vận: 0, 5. Số kỵ: 1, 6.
Người tuổi Ngọ muốn thu hút vận tốt thì nên sử dụng điện thoại màu đỏ, cam, tím hồng, xanh lá cây. Kỵ màu đen.
Số khai vận: 2, 7. Số kỵ: 1, 6.
Dùng điện thoại cùng các vật trang trí kèm theo màu đỏ. Màu này sẽ tác động mạnh mẽ đến vận thế. Kỵ màu trắng.
Số khai vận: 7. Số kỵ: 4, 9.
Muốn tăng vượng khí thì nên dùng điện thoại màu trắng, kim, bạc.
Số khai vận: 4, 9.
Hợp với điện thoại màu vàng, trắng, bạc, kim. Kỵ màu đỏ.
Số khai vận: 0, 5, 4, 9. Số kỵ: 2, 7.
Người tuổi Tuất nên dùng điện thoại màu đỏ, vàng. Kỵ màu đen.
Số khai vận: 2, 7. Số kỵ: 1.
Nên dùng điện thoại và các phụ kiện kèm theo màu đen. Kỵ màu vàng, vì màu vàng đại diện cho Thổ. Theo ngũ hành, Thổ khắc Thủy có thể sinh sát khí.
Số khai vận: 1, 6. Số kỵ: 0, 5.
Các bài viết sau cùng chủ đề, có thể bạn quan tâm:
(Theo Phong thủy sức khỏe kiện toàn)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
1. Cửa chính đối diện cửa sau
Trong phong thủy nhà ở, nơi đón khí chính, cũng là đón nguồn tài lộc thịnh vượng vào nhà chính là cửa cổng, cửa chính, cửa sổ…Tuy nhiên, các loại cửa này cần được bố trí hài hòa về số lượng và tổng thể ngôi nhà.
![]() |
| Bố trí cửa chính đối diện cửa sau ảnh hưởng xấu tới sức khỏe |
Trường hợp cửa chính đối diện với cửa sau khiến luồng khí và tài lộc lưu thông quá mạnh và chạy ra ngoài chứ không tụ lại được trong nhà, gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe. Điều này tối kị trong quan niệm của phong thủy.
Ngoài ra, nếu bố trí cửa đón khí đối diện với nhà vệ sinh, cửa bếp hay cầu thang đều khiến tài khí bị thất thoát, của cải tiêu tan và ảnh hưởng xấu tới sức khỏe.
2. Thanh xà ngang chạy qua phòng khách
Nhiều gia đình không để ý khi thi công ngôi nhà khiến thanh xà ngang chạy qua phòng khách tạo sát khí xấu từ trên đi xuống. Điều này không những tạo cảm giác bức bối, chật hẹp mà còn ngăn cản sự phát triển tài lộc của gia chủ. Đây là lỗi phong thủy nhà ở rất dễ mắc phải nếu chủ nhà không tinh ý.
Phòng khách là không gian sinh hoạt chung của cả gia đình nên cần tích tụ nhiều dương khí. Sát khí từ xà ngang sẽ tạo thế đối kháng với dương khí, ảnh hưởng đến sức khỏe của mọi thành viên trong nhà.
3. Phòng ngủ tối tăm, đầu giường dựa cửa
Không ít người nhầm tưởng rằng phòng ngủ cần phải thiết kế gam màu càng trầm càng tốt. Thực ra, phòng ngủ là nơi cần tụ nhiều dương khí, điều đó giúp cuộc sống vợ chồng thêm mặn nồng. Cách dùng sơn màu tối hoặc bố trí nội thất với gam màu ảm đạm sẽ gây u uất, bất lợi cho cuộc sống vợ chồng.
![]() |
| Cuộc sống hôn nhân sẽ bị bất lợi nếu phòng ngủ quá tối tăm |
Ngoài ra, một số gia đình vẫn bố trí hướng đầu giường dựa cửa hoặc quay ra cửa. Cách làm này hoàn toàn gây bất lợi cho sức khỏe của gia chủ. Đầu giường dựa cửa bếp, nhà vệ sinh đều là nơi trường khí thấp, không ổn định nên dễ gây đau đầu, mệt mỏi, ngủ mê…
4. Bếp ăn đối diện với cửa chính, phòng tắm
Bếp ăn trong phong thủy nhà ở cũng quan trọng, bởi nó ảnh hướng đến sức khỏe và tinh thần của gia chủ. Bố trí bếp ăn đối diện với cửa chính gây ra hiện tượng đối xung khí, không tốt về mặt sức khỏe và tài lộc. Nếu đối diện với phòng tắm, sẽ xung khắc vì nước và lửa tương xung, gây bất hòa và tinh thần bất ổn.
5. Phòng tắm tích trữ nước
![]() |
| Tích trữ nước trong nhà tắm khiến tiền tài ứ đọng |
Nhiều gia đình quan niệm rằng càng nhiều nước trong nhà (yếu tổ thủy) sẽ thu hút lợi nhuận và tài lộc. Do đó, họ tích trữ nước trong chai rồi để ở khắp vị trí trong nhà. Điều này hoàn toàn phản khoa học. Yếu tố thủy mạnh nhất khi nguồn chảy của nó được thông suốt. Việc tích trữ nước khiến tiền tài ứ đọng, không sinh sôi nảy nở và phát triển được.
ST
Hành: Hỏa
Loại: Bại Tinh
Đặc Tính: Phá tán
Tên gọi tắt thường gặp: Hao
Là một sao phụ tinh, một trong những sao bộ đôi Tiểu Hao và Đại Hao. Gọi tắt là Song Hao. Cũng là Sao thứ 10 trong 12 sao thuộc vòng sao Bác Sĩ theo thứ tự: Bác Sĩ, Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ.
Phân loại theo tính chất là Hao Tinh, Bại Tinh. Cũng là một trong 6 sao của bộ Lục Bại Tinh gồm các sao Tiểu Hao, Đại Hao, Tang Môn, Bạch Hổ, Thiên Khốc, Thiên Hư (gọi tắt là Song Hao Tang Hổ Khốc Hư).
Đắc địa: Dần, Thân, Mão, Dậu.
Hãm địa: Tý, Sửu, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Tuất, Hợi.
Ý Nghĩa sao Đại Hao Ở Cung Mệnh:
Tướng Mạo: Cung Mệnh có sao Đại Hao, thì lùn, đẹt, ốm.
Tính Tình: Người thường hay thay đổi chí hướng, nghề nghiệp, tính hào phóng, thích tiêu pha, ăn xài lớn, hay ly hương lập nghiệp, thích đi đây đi đó hoặc làm các nghề lưu động, di chuyển.
Sao Đại Hao, Tiểu Hao, Cự Môn, Thiên Cơ: Rất giàu có, tiền bạc thừa thãi vô cùng.
Sao Đại Hao gặp Hỏa, Linh: Bị nghiện (ghiền).
Sao Đại Hao với Tuyệt đồng cung: Xảo quyệt. Nếu Mệnh vô chính diệu thì càng giả trá và rất keo kiệt, tham lận.
Sao Đại Hao gặp Tham Lang đồng cung hay xung chiếu: Hiếu sắc, dâm dật nhưng rất kín đáo.
Sao Đại Hao gặp Hóa Kỵ: Vất vả, túng thiếu.
Sao Đào, Hồng, Đại, Tiểu Hao: Tốn tiền nhân tình.
Ý Nghĩa sao Đại Hao Ở Cung Phụ Mẫu:
Cha mẹ không được sống gần quê cha đất tổ, phải thay đổi nơi ăn chốn ở, nghề nghiệp.
Đại Hao, Hóa Kỵ thì cha mẹ vất vả.
Ý Nghĩa sao Đại Hao Ở Cung Phúc Đức:
Đại Hao ở cung Phúc Đức có nghĩa là bần hàn, giòng họ ly tán, tha hương lập nghiệp. Đại Hao rất kỵ ở cung này.
Ý Nghĩa sao Đại Hao Ở Cung Điền Trạch:
Không có điền sản (nếu thêm Không, Kiếp càng chắc).
Dù có cũng phải bán, hoặc phải hao tốn tài sản.
Gặp Không, Kiếp đắc địa thì điền sản được mua đi bán lại rất mau.
Hao tổn vì dọn nhà cửa, thay đổi chỗ ở, hoặc một kiểng hai hoa.
Ý Nghĩa sao Đại Hao Ở Cung Quan Lộc:
Làm việc có tính cách lưu động, thường hay thay đổi chỗ làm hay đổi nghề nghiệp.
Đại Hao gặp Hóa Quyền: Người dưới khinh ghét.
Ý Nghĩa sao Đại Hao Ở Cung Nô Bộc:
Bị tôi tớ trộm cắp, làm hao tốn của cải hoặc bị người dưới, bạn bè ăn chận.
Ý Nghĩa sao Đại Hao Ở Cung Thiên Di:
Sao Đại Hao ở cung Thiên Di có nghĩa là khi ra ngoài tốn tiền, thường phải tha hương lập nghiệp, thay đổi chỗ ở nhiều lần.
Ý Nghĩa sao Đại Hao Ở Cung Tật Ách:
Giải trừ được tai nạn, nhưng nếu có thêm các sao xấu như Kình Dương, Đà La, Địa Không, Địa Kiếp, Hóa Kỵ thì vì đam mê một thứ nào đó mà sinh ra bệnh tật.
Ý Nghĩa sao Đại Hao Ở Cung Tài Bạch:
Trừ phi đắc địa, vì bản chất của Đại Hao là hao tán, cho nên đóng ở cung nào làm giảm cái tốt của cung đó. Đặc biệt Đại Hao rất kỵ những cung Tài, Điền, Phúc. Về điểm này, Đại Hao nghịch nghĩa với Đẩu Quân.
Sao Đại Hao ở cung này có nghĩa là tán tài, hao tài, nghèo túng, có dịp phải ăn tiêu luôn.
Đại Hao gặp Đào, Hồng: Tốn tiền vì gái.
Nếu Đại Hao gặp Phá hay Tuyệt thì bị phá sản. Đại Hao gặp Không, Kiếp cũng bị phá sản.
Ý Nghĩa sao Đại Hao Ở Cung Tử Tức:
Sinh nhiều nuôi ít.
Con cái không được ở gần cha mẹ.
Ý Nghĩa sao Đại Hao Ở Cung Phu Thê
Đi xa mà gặp duyên nợ, việc cưới xin dễ dàng.
Đà La, Thiên Hình, Thiên Riêu thì người hôn phối phong lưu, tài tử.
Ý Nghĩa sao Đại Hao Ở Cung Huynh Đệ:
Anh chị em ly tán, mỗi người một chí hướng.
Sao Đại Hao Khi Vào Các Hạn:
Có dịp hao tài tốn của hoặc vì tang khó, bệnh tật hay bị mất trộm.
Có sự thay đổi hoặc nghề nghiệp, hoặc chỗ làm, hoặc chỗ ở, hoặc đi ngoại quốc.
Nếu có ốm đau, thì mau hết bệnh.
Họ tin rằng gió và nước sẽ mang ước nguyện của họ ra đại dương, giúp họ tìm được những chàng trai khôi ngô, tuấn tú. Quả cam tượng trưng cho vàng, một biểu tượng của sự thịnh vượng. Điều này là do quả cam phát âm giống chữ “Kim” có nghĩa là vàng. Khi ném cam xuống nước, người ta thường chọn những quả cam chín ngọt và thơm ngon, bởi chúng tượng trưng cho địa vị xã hội và tài sản của người chồng tương lai. Ngày nay, tập tục này vẫn còn được lưu truyền. Theo phong thủy, năng lượng của mặt trăng có thể mang đến cho gia đình bạn một chàng rể xứng đáng. Vì thế muốn nhận được may mắn về đường hôn nhân, bạn có thể kích hoạt năng lượng của mặt trăng trong phòng ngủ bằng cách treo một bức tranh có hình trăng sáng.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
| ► Tham khảo thêm: Giải mã những giấc mơ và điềm báo hung cát theo tâm linh |
![]() |
| Mơ thấy cam là hòan cảnh đang biến đổi, dù có hơi chậm |
Việc nhìn thấy những trái cam trong mơ, biểu thị một sự cải thiện chậm nhưng vững chắc về hoàn cảnh của bạn.
Mơ thấy mình ăn cam hoặc uống nước cam ép báo hiệu chuyện tình yêu ngắn ngủi nhưng đáng nhớ sắp diễn ra.
Mơ thấy hoa cam, dự báo về một đám cưới đang đến gần.
Chanh
Thấy một trái chanh trong mơ, biểu thị cái gì đó có phẩm chất tầm thường.
Ăn chanh hoặc uống nước chanh trong mơ, được cho là bạn có nhu cầu thanh lọc và chữa bệnh.
Thấy những trái chanh nhăn nheo trong mơ, báo trước bạn và người yêu hoặc vợ (chồng) bạn sẽ đến việc chia cách/ly hôn cay đắng.
Thấy một trái chanh lá cam trong mơ, ám chỉ rằng bạn sẽ trải qua giai đoạn khó khăn tạm thời, nhưng bạn sẽ vượt lên và sẽ giàu sang, thịnh vượng.
Cherry
Thấy những trái cherry trong mơ, biểu tượng cho tính thật thà, lương thiện hoặc tính ngọt ngào và vận may.
Chà là
Mơ thấy những quả chà là căng mọng trên cây, nghĩa là trong vài ngày tới bạn sẽ có những cơ hội vui vẻ. Hãy tận dụng thời gian này để thư giãn và tìm sự bình an trong tâm hồn.
Mơ thấy bạn đang ăn những quả chà là đồng nghĩa với sự đau khổ. Bạn chưa bao giờ hạnh phúc với những gì bạn có. Bạn luôn băn khoăn trước những cái mà bạn mong muốn và cố đạt được nó.
Dâu
![]() |
| Thật tuyệt nếu nằm mơ thấy mình ăn dâu tây |
Trong giấc mơ, bạn nhìn thấy hoặc đang ngồi thưởng thức những trái dâu tây chín đỏ căng mọng thật là ngon miệng thì còn gì tuyệt bằng. Đáng chú ý, những trái dâu thơm ngon này còn tượng trưng cho những ham muốn thể xác và những cám dỗ từ cuộc sống có ảnh hưởng trực tiếp tới bạn.
Giấc mơ về dâu tây thường có liên quan đến giới tính và sinh hoạt tình dục của phái nữ. Ngoài ra, nó còn mang ý nghĩa là những mục tiêu của bạn sẽ sớm được thực hiện trong tương lai gần.
Nếu trong giấc mơ, bạn đang ăn những quả dâu tằm chín đen mọng, ngọt lịm thì sao? Gặp giấc mơ này thì bạn nên thận trọng bởi nó báo trước những khó khăn mà bạn có thể gặp phải.
Nếu nhìn thấy những quả dâu tằm thì bạn cần chú ý đến sức khỏe của mình bởi bệnh tật là nguyên nhân chính khiến bạn bị thất bại trong công việc.
Mơ thấy đang bẻ lá dâu thường là điềm báo công cuộc làm ăn của bạn sẽ gặp nhiều thuận lợi. Nếu nam giới mơ thấy mình nô đùa với một cô gái trên cánh đồng trồng dâu, đây là điềm báo anh chàng sẽ cưới được người vợ đảm đang.
(còn nữa)
Tổng hợp
![]() |
| Ảnh minh họa |
![]() |
| Ảnh minh họa |
![]() |
Bí kíp phong thủy “ thoát FA” mới nhất 2016| ► Tra cứu tử vi năm 2016 của bạn theo Lịch vạn sự |
Trong Phong thủy học, ba yếu tố là Chủ – Môn – Táo ( phòng chủ nhà, bếp, cửa ra vào) luôn là yếu tố đặc biệt cần coi trọng. Những yếu tố này không chỉ đựoc thừa nhận như những yếu tố tiên quyết trong trường phái Dương Trạch Tam Yếu mà trong Huyền không học hay Bát trạch Phong thủy đều dựa vào và coi đó là yếu tố then chốt để luận đoán cát hung trong một căn nhà, hay một đối tuợng xem xét của Khoa Phong thủy. Trong kiến trúc hiện đại, Chủ – Môn- Táo đã có nhiều thay đổi khác trước. Vì vậy mà những quan niệm về Chủ- Môn-Táo trong Phong thủy xưa cũng nên nhìn nhận thấu đáo hơn trước khi ứng dụng cụ thể vào thực tiễn cuộc sống. Bài viết sau đây sẽ xem xét các yếu tố PHÒNG NGỦ, BẾP VÀ HƯỚNG NHÀ trong cái nhìn so sánh giữa Phong thủy cổ truyền và Kiến trúc hiện đại cùng với những biến đổi của Phong thủy trong sự thích nghi với xã hội hiện đại.

Có tới một phần ba cuộc đời con người trôi qua trong giấc ngủ. Giấc ngủ giúp chúng ta nghỉ ngơi, thư giãn và tái tạo lại nguồn năng lượng sau những giờ làm việc căng thẳng, mệt nhọc. Không chỉ vậy, chiếc giường ngủ trong phòng còn là nơi gắn bó tình cảm vợ chồng nồng ấm, nơi khởi nguồn những giấc mơ nuôi dưỡng tâm hồn mỗi thành viên trong gia đình. Chính vì vậy, cùng với lịch sử của môn Phong thủy từ hơn hai ngàn năm trước, và cho đến cả những năm đầu của thế kỉ thứ 21 vai trò và ý nghĩa của phòng ngủ không hề thay đổi. Nó được coi là yếu tố có quan hệ mật thiết tới sức khỏe của chủ nhân, thậm chí theo các phong thủy gia, nó còn có vai trò nhất định tới hưng, suy, thành, bại của con người. Do vậy việc sắp đặt không gian phòng ngủ luôn được coi trọng là thế để tạo nên một môi trường hoàn hảo cho sự thư giãn tối ưu nhất.
Trong thuật Phong thủy, hướng và vị trí là hai yếu tố quan trọng hàng đầu. Phòng ngủ là không gian cần sự yên lành tất yếu phải tuân theo nguyên tắc bố trí ở những cung tốt và huớng tốt so với bản mệnh của gia chủ hay còn gọi là “tọa cát hướng cát”. Đối với hướng giường ngủ thì hiện nay có hai ý kiến khá khá mâu thuẫn người lấy hướng chân để tính Phong thủy, người chọn hướng đầu để tính cát, tính hung. Tuy nhiên, nếu xem xét toàn bộ cơ thể con người ta thấy rõ ràng ở đầu con ngưới ta luôn tập trung nhiều cơ quan quan trọng. Có thể kể ra như trung khu thần kinh, bách hội huyệt đều là những cơ quan trọng yếu của cơ thể và hệ thần kinh thì ảnh hưởng lớn thế nào đối với giấc ngủ. Do đó, việc nhìn nhận hướng giường trong Phong thủy với phương án tính hướng đầu giường sẽ hợp lý hơn cả.
Trong một ngôi nhà, gian bếp có vai trò rất đáng kể, đó không chỉ nơi diễn ra các hoạt động liên quan đến ăn uống, không gian bếp còn là nơi giao lưu, gặp mặt của các thành viên trong gia đình. Dưới góc độ Phong thuỷ, gian bếp tượng trưng cho tài lộc và cũng là nơi mang dưỡng khí cho gia đình, cổ nhân xưa có câu “Hoạ tòng khẩu xuất, bệnh tòng khẩu nhập” nên chuyện ăn uống hay khâu chế biến, nấu nướng mà cụ thể là tổng thể của một gian bếp toàn diện phải được coi trọng dẫu là thời kì nào, chế độ nào đều không đổi. Bếp quan trọng vậy do đó hướng bếp và vị trí bếp là những yếu tố then chốt để cấu thành nên tính của một gian bếp là cát hay hung vậy!
Xã hội hiện đại phát triển, những tri thức mới và công nghệ mới kéo theo nhiều kiểu bếp ra đời. Thơi xa xưa thầy Phong thủy với phuơng thức bếp than bếp củi, họ vẫn tính hướng bếp theo hướng của đường đưa nhiên liệu vào bếp. Có vẻ như tri thức của khoa Phong thủy vẫn chưa theo kịp tiến trình này của xã hội tân tiến. Những lý thuyết về đường đưa nhiên liệu thật khó có thể tìm ra hướng bếp đối với những trường hợp đường dẫn năng lượng là dây ga, nếu đường có uốn éo thì việc xác định đúng là nhiệm vụ bất khả thi. Từ đó khiến cho người muốn tìm hiểu về phong thủy cảm thấy rất lúng túng để tìm ra một hướng bếp đúng đắn cho mình. Một số quan niệm khuyên tính hướng bếp là hướng của nút vặn công tắc ga. Nhưng khi gặp trường hợp nút điều khiển nằm ngay trên mặt bếp hướng thẳng lên trời thì lại chưa tìm được lời giải thích hợp lý.
Để có được lời giải, trước hết chúng ta nên hiểu sự vận hành chính là quá trình nạp khí cho bếp. Trong Phong thủy, sự tương tác vận động, hay giao tiếp giữa con người với khu bếp tạo nên khí, bếp được nạp khí chính là do con người. con người như vật thể sống truyền năng lượng cho căn bếp vậy. Vì vậy có thể coi hướng bếp là hướng nhận thao tác của người nấu, tức là hướng ngược lại với mặt người nấu. Nói cách khác, hướng bếp là hướng lưng của người nấu. Khi đã nắm bắt rõ khái niệm hướng bếp thì cho dù bếp thay đổi đến đâu, có hiện đại đến thế nào, ta vẫn có thể tìm ra hướng một cách dễ dàng.
Trong sách Bát trạch minh cảnh- một tác phẩm kinh điển và coi là sách gối đầu giường của các Thày Phong thủy cho rằng bếp nên “tọa hung hướng cát”, nghĩa là phải đặt ở vị trí xấu và nhìn ra hướng tốt. Tuy nhiên, quan niệm này hiện nay cần phải có những điểu chỉnh cho phù hợp với thời đại.
Từ xa xưa, con người ta thường sử dụng các nhiên liệu như rơm rạ, than, củi để đun nên khu bếp thường là không gian nhiều khói bụi, ô nhiễm. Điều này khiến cho bếp thường được đặt ở những vị trí xấu. Vì lẽ đó lý thuyết phong thủy cho rằng những thứ gì xấu, ô nhiễm nên đặt ở vị trí xấu đối với gia chủ để lấy xấu để chế ngự xấu hay còn gọi là “dĩ độc trị độc”!
Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại công nghệ hiện đại và cả thói quen sống nữa khiến cho tính chất khu bếp đã thay đổi không còn như xưa nữa. Khoa học hiện đại và công nghệ tiên tiến đã khiến gian bếp trở nên sạch sẽ, gọn gàng và không còn ô nhiễm như xưa. Chính vì vậy, mà ngày nay bếp nên được đặt ở những phương vị tốt để nghênh đón điều lành sẽ hợp lý hơn, tức là bếp luôn phải “tọa cát hướng cát”. Ngoài ra có thể sử lí đường thoát mùi hay ống thông hơi cho nhà bếp khi thoát ra phía ngoài đặt tại những phương vị xấu hay cuối hướng gió để trừ khử cái xấu.
Khí là một khái niệm đặc thù trong khoa Phong thủy hay những bộ môn khác của nền Văn hóa Phương đông. Phong thủy của một quốc gia người ta đề cập tới khí sông khí núi, phong thủy của một thành phố đặc biệt quan trọng bởi các con đường bởi nó là yếu tố then chốt làm nên cấu trúc của một thành phố cũng như vai trò dẫn khí phân bổ tới từng khu vực trong nội đô, tới ngôi nhà hay từng công trình. Đối với một đối tượng nghiên cứu cụ thể như một ngôi nhà, cửa chính hay còn gọi là Đại môn là không gian giao tiếp đầu tiên, đó là nơi liên hệ giữa hai yếu tố nội và ngoại, ngoài ra nó còn là vai trò then chốt trong việc nạp khí cho ngôi nhà. Ngoài cửa chính các hành lang cầu thang và các cửa phòng, cửa hậu chính là những nơi có nhiệm vụ giúp điều tiết luồng năng lượng trong căn nhà của chúng ta. Vì thế, không thể bàn cãi vai trò cực kì quan trọng của cửa trong một ngôi nhà. Ngoài ra, cửa là một trong những yếu tố giúp định vị hướng nhà một yếu tố tối quan trọng theo Phong thủy cổ truyền.
Kiến trúc hiện đại phát triển lên tầm cao cùng với đó là xu huớng tất yếu của đô thị hóa và loại hình nhà chung cư. Việc xác định hướng cho một ngôi nhà nói chung và căn hộ chung cư nói riêng là một việc cần làm và có ý nghĩa quan trọng theo Phong thủy. Nhiều người cho rằng, hướng của căn hộ chính là hướng cửa sổ, cửa ra ban công nơi có nhiều nắng, gió do khoảng không gian tiếp xúc trực tiếp ngoại cảnh. Qua thực tế và kinh nghiệm cá nhân, cách tính này không chính xác. Những quan niệm trên đã nhầm lẫn khi coi những yếu tố về nắng về gió hay không khí là yếu tố tạo nên “khí” trong Phong thủy. Thực tế không phải vậy. “Khí” được tạo thành bởi sự vận động và tương tác của con người với căn nhà. Một giả định đơn giản cũng chỉ rõ điều này. Nếu chúng ta bịt tất cả cửa sổ, sử dụng cửa chính thì vẫn có thể sinh hoạt được, dù thật bất tiện, khó khăn. Nhưng nếu chúng ta bịt cửa chính thì chắc chắn căn hộ đó không thể vận hành được. Vì vậy, hướng của căn hộ phải được tính bởi hướng cửa ra vào của căn hộ. Phong thủy xưa có câu “Khai môn lập huớng” chính là nói về ý này.
Bên cạnh việc xác định phương vị, thì việc xác định số đo hướng của căn hộ chung cư bằng la bàn là điều mà thực tế khác nhiều so với lý thuyết, đôi khi sử dụng la bàn để đo hướng đối với nhà chung cư lại cho ra những kết quả không dùng được! Nhà chung cư với những đặc thù do kết cấu thường rất nhiều lõi cốt thép với từ tính cao hơn các nhà biệt thự hoặc đất phân nền gấp nhiều lần, do vậy dễ làm sai lệch kim la bàn dẫn đến việc xác định hướng không chính xác. Kinh nghiệm là không chỉ đo ở nhiều vị trí khác nhau, cả ở trong lẫn bên ngoài căn hộ và toà nhà mà những công cụ như bản đồ vệ tinh là những công cụ không thể bỏ qua để quyết xác một thông số đầu vào chính xác.
Trong suy nghĩ của phần đông những người có nhu cầu chọn đất làm nhà hay mua nhà xây sẵn, thường vẫn muốn biết hướng của miếng đất hay căn nhà ấy có hợp với tuổi của mình hay không và đôi khi bỏ qua những yếu tố khác. Với Phong thủy học chân chính đây là một quan niệm khá cứng nhắc. Hướng nhà chỉ là một trong rất nhiều yếu tố cần được quan tâm, xem xét. Bởi lẽ, hướng nhà có tốt nhưng không hay về cấu trúc bên trong, ngoại cảnh hay thời vận không tốt thì căn nhà đó cũng không phải đã chuẩn theo Phong thủy học. Bên cạnh đó, đối với căn nhà hướng nhà xấu thuật Phong thủy luôn có những phương án để hóa giải những bất lợi đó. Chẳng hạn như có thể sắp đặt được hướng bếp, hướng ban thờ, hướng giường ngủ tốt sẽ khắc chế được hướng nhà xấu. Hướng cửa chỉ là một trong ba yếu tố làm nên cái gọi là CHỦ-MÔN-TÁO là những yếu tố cần thiết và tối quan trọng trong Phong thủy. Xấu một thứ ta dùng các thứ khác để hóa giải. Phong thủy gọi là “đa cát chế thiểu hung” hay nói theo nghĩa hiện đại một người xấu chơi với một tập thể tốt… cũng sẽ thành tiến bộ! Rõ ràng trong quá trình chọn lựa nơi định cư không nên vì lý do “không hợp hướng” để rồi kén chọn quá đà mà bỏ lỡ những cơ hội để có một nơi an cư lạc nghiệp.

Dưới ánh sáng của khoa học hiện đại, môn Phong thủy ngày càng gần gũi và cụ thể hơn với cuộc sống con người. Tuy nhiên, chúng ta không chỉ ứng dụng mà phải biết kế thừa và phát triển bộ môn khoa học cổ xưa này. Những yếu tố cũ kỹ và lạc hậu cần phải loại bỏ đồng thời cần phải tiếp tục nghiên cứu, bổ sung những kiến thức mới để nâng cao tính ứng dụng của Phong thủy cũng như hoàn thiện hơn cho phù hợp với công nghệ, với thời đại. Phong thủy là một khoa duợc sinh ra trong lòng cuộc sống và vị cuộc sống nên nó cũng biến hóa và phải biến hóa sao cho phù hợp với xã hội. Đó chính tiêu chí lấy bất biến ứng vạn biến của khoa Phong thủy nói riêng và Dịch học nói chung.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)

Xuất hành đầu năm là phong tục được người Việt rất coi trọng, sau việc chọn tuổi xông nhà. Cùng ## tìm hiểu kiến thức tử vi và khám phá xem Tết Giáp Ngọ xuất hành hướng nào để gặp may nhé!
Theo quan niệm dân gian, nếu xuất hành đầu năm đúng giờ tốt, hướng tốt sẽ giúp cả năm may mắn trong công việc, tiền tài. Thậm chí, đối với người đang đi tìm “một nửa”, hướng xuất hành đầu năm cũng được coi là giúp họ cầu duyên như ý.
Bước chân ra cửa cầu may
Trong cuộc sống hàng ngày, mỗi khi gặp chuyện không được như ý mọi người thường có câu cửa miệng: “Không hiểu sáng nay ra cửa bước chân trái hay chân phải mà xui thế!”. Thậm chí, có hẳn một chuyên đề bàn luận trên các diễn đàn của các trang web về chuyện buổi sáng nên bước chân nào ra trước.
Với quan niệm như vậy, nhiều người cho rằng đầu năm bước chân ra khỏi cửa vào giờ tốt, đi về hướng tốt thì cả năm công việc, tiền tài sẽ hanh thông, vạn sự may mắn.
## thì còn ít ngày nữa mới đến Tết Nguyên đán, song có rất nhiều người đã quan tâm tới tuổi xông nhà, ngày hoàng đạo và hướng xuất hành để chuẩn bị đón tài lộc. Mọi người thường chọn giờ Hoàng đạo vào lúc sớm để xuất hành. Có hai hướng để xuất hành là hướng Tài Thần và Hỷ Thần. Tuy nhiên, nhiều người vẫn thích xuất hành về hướng Hỷ Thần, là vị Thần mang lại nhiều may mắn và niềm vui. Với những ai chú trọng đến tài lộc sẽ thường chọn hướng Tài Thần.
Hướng tốt cho việc cầu tài (Tài Thần) ngày mùng Một năm Giáp Ngọ, theo các chuyên gia về phong thủy và các nhà nghiên cứu Kinh dịch, là hướng Tây Bắc và hướng xuất hành tốt cho việc cầu tình (Hỷ Thần) là hướng chính Nam. Có một số người, như TS Nguyễn Văn Vịnh – Chủ Tỵch Hội Phong thủy Việt Nam thì gợi ý, hướng Tài Thần ngày mùng Một Tết là Tây Nam.
Lý giải cho việc tại sao hướng Tài Thần trong ngày đầu năm Giáp Ngọ là Tây Bắc, nhà nghiên cứu và dự báo Nguyễn Bá Minh – Viện Nghiên cứu và ứng dụng tiềm năng con người cho hay: Mùng Một Tết Giáp Ngọ là ngày Nhâm Dần, theo sách cổ của triết học Phương Đông thì hướng Tài Thần của ngày này là Tây Bắc, hướng Hỷ Thần là chính Nam. “Bạn quan tâm đến hướng xuất hành đầu năm thì nên biết, muốn cầu tài, cầu lộc cho năm mới, từ sau Giao thừa đến hết ngày mùng Một Tết, ra khỏi nhà (lần đầu tiên) đi về hướng Tây Bắc, sau đó đi đâu mới đi tiếp. Những ai cầu hôn hay kết bạn thì ra khỏi nhà lần đầu trong ngày mùng Một Tết thì đi về hướng chính Nam trước rồi sau đó mới đi tiếp”, ông Minh nói.
Theo đó, các giờ hoàng đạo trong ngày mùng Một Tết được một số nhà phong thủy và nhà nghiên cứu đưa ra là giờ Tý (23g-1g), Sửu (1g-3g), Thìn (7g-9g), Tỵ (9g-11g), Mùi (13g-15g), Tuất (19g-21g). Riêng nhà nghiên cứu Nguyễn Bá Minh đưa ra giờ tốt trong ngày mùng Một Tết là các giờ 8g-10g, 12g-14g, 16g-18g.
Chọn ngày tốt để khai trương, động thổ
Có thể thấy, sau phong tục chọn tuổi xông nhà, người Việt rất coi trọng việc xuất hành đầu năm, cùng đó là chọn ngày khai trương và chọn ngày xây sửa nhà để cầu may mắn, tài lộc, tránh hung tìm cát.
Theo ông Nguyễn Vũ Tuấn Anh – Giám đốc Trung tâm lý học Đông Phương, những ngày tốt trong tháng Giêng năm Giáp Ngọ là ngày mùng 2, 6, 9, 15, 26. Chuyên gia phong thủy Phạm Cương – Giám đốc Công ty cổ phần Nhà Xuân thì cho rằng, trong tháng Giêng ngày mùng 1, 2, 4, 6, 10 là ngày tốt.
Theo ## thì với cách tính lịch dựa theo sách cổ của triết học Phương Đông, nhà nghiên cứu Nguyễn Bá Minh đưa ra cách tính: Ngày mở hàng đầu năm có thể ngày mùng Một, mùng Hai Tết, hai ngày đó tuy không tốt ngày nhưng không xấu. Mùng Ba là ngày “Tam nương”, sao Hư rất xấu. Mùng Bốn là ngày Sát Chủ. Hai ngày này không nên mở hàng, động thổ hay cưới xin.
Ngày 6 tuy sao tốt (sao Bích) nhưng lại là ngày “Không vong” nên là ngày xấu. Ngày 7 tuy sao tốt (sao Khuê) và ngày Đại an, nhưng lại là “Tam nương” nên cũng là ngày không tốt cho các việc mở hàng, động thổ hoặc cưới gả. Ngày 8, 9 và ngày 11 tháng Giêng năm nay là những ngày rất tốt và các ngày 14, 17, 20 và 26 trong tháng này cũng là những ngày tốt.
Bên cạnh việc chọn ngày đẹp trong tháng, trong năm để xây, sửa nhà năm Giáp Ngọ, ông Minh cũng lưu ý những tuổi không nên xây sửa nhà trong năm 2014 này theo vòng vận hạn 18 năm một lần – “Thập bát cục” của triết học Phương Đông (đã được đề cập trong bài viết “Chọn tuổi xông nhà năm Giáp Ngọ ở số báo trước). Theo đó, những người gặp cung “Sinh li tử biệt” hoặc cung “Bệnh phù, tuyệt mệnh” trong năm Giáp Ngọ là các tuổi: Nhâm Thân 1932, Tân Tỵ 1941, Ất Dậu 1945, Đinh Hợi 1947, Giáp Ngọ 1954, Ất Mùi 1955, Đinh Dậu 1957, Tân Sửu 1961, Ất Tỵ 1965, Mậu Ngọ 1978, Mậu Thìn 1988, Ất Hợi 1995, Canh Thìn 2000, Tân Tỵ 2001, Ất Dậu 2005, Đinh Hợi 2007, Tân Mão 2011.
Theo nhà nghiên cứu và dự báo Nguyễn Bá Minh, các tuổi trên nên cẩn thận trong năm tới, tránh gặp nhiều điều không may mắn, dễ đau ốm, tai nạn, dễ gặp những bất hòa chia ly về tình cảm và thường báo hiệu trong gia tộc có tang tóc xảy ra. Do đó, những tuổi này không nên xông đất, xông nhà cho ai vào năm mới và không nên xây dựng, sửa sang nhà cửa (không kỵ mua bán hay chuyển đổi), trừ trường hợp người có cung đó nhưng lại không ở trong căn nhà sẽ xây hoặc sẽ sửa thì vẫn làm được.
![]() |
| ► Lấy lá số tử vi và xem vận mệnh cuộc đời, công danh, tình duyên của bạn |
nước và ngoài nước. Cho nên việc đặt tên facebook hay cũng trở nên rất quan trọng. Cũng giống như việc đặt tên cho con, rất quan trọng. Bởi lẽ tên nick facebook hay của bạn sẽ là điểm nhấn, gây ấn tượng cho tất cả bạn bè trên mạng. Hiện nay facebook không đơn thuần chỉ giao lưu kết bạn, học hỏi. Ngoài ra còn là nơi để buôn bán trao đổi. Vì vậy đặt tên facebook là một trong những việc đầu tiên mình phải làm khi tạo một tài khoản trên mạng xã hội.Có rất nhiều những cái tên hay trên facebook đã được đánh giá và chọn lọc. Hãy cùng tham khảo bài viết những tên facebook hay ý nghĩa, ngắn gọn nhất của chúng tôi để chọn cho mình 1 cái tên nick facebook hay và ý nghĩa nhé.
Nội dung
Buồn thì sao
Bong Bóng Xà Phòng
Buồn cũng phải cố
Giả vờ thôi nhé
Con lật đật
Mưa bong bóng
Gai xương rồng
Mắt lạnh
Bibi Buồn
Nước mắt buồn

“Giang hồ du khách”,
“Đoạn kiếm khách”,
“Độc bá thiên hạ”, nhằm nêu bật cá tính, lại có những cái tên rất thú vị như
“Không tâm nguyệt lượng” (mặt trăng rỗng)
“Vũ thiên tinh thìn” (sao ngày mưa)
“Thấu minh phong” (gió trong suốt)
“Phong trung chi chúc” (cây nến trong gió)
“Thuần tình sơn thủy” (Núi non tình yêu thuần khiết) hay
“Tôi yêu bầu trời”
“Hoa nở xem hoa tàn”
Tên Ruby: Chỉ những người phụ nữ giỏi giang đầy tự tin.
Tên Vincent: thường chỉ những quan chức cấp cao.
Tên Larry: chỉ người da đen kịt.
Tên Jennifer: thường chỉ kẻ miệng mồm xấu xa.
Tên Jack : xem ra đều rất thật thà.
Tên Dick: chỉ người buồn tẻ và rất háo sắc.
Tên Irene: thường chỉ người đẹp.
Tên Claire: chỉ người phụ nữ ngọt ngào.
Tên Robert : chỉ người hói(thường phải đề phòng)
Tên Kenny: thường chỉ kẻ nghich ngợm.
Tên Scotl: Ngây thơ, lãng mạn.
Tên Catherine: thường chỉ người to béo.
Tên Anita: thường chỉ người mắt nhỏ mũi nhỏ.
Tên Terry: chỉ người hơi tự cao.
Tên Ivy: thường chỉ kẻ hay đánh người.
Tên Rita: luôn cho mình là đúng
Tên Jackson: thường chỉ kẻ luôn cho mình là đúng.
Tên Eric: Chỉ người quá tự tin.
Tên Simon: chỉ người hơi kiêu ngạo
Tên James: chỉ kẻ hơi tự cao.
Tên Sam: chỉ chàng trai vui tính.
Tên Hank: chỉ những người ôn hòa, đa nghi.
Tên Sarah: chỉ kẻ ngốc nghếch
Tên Kevin: chỉ kẻ ngang ngược
Tên Angel: chỉ người nữ bé nhỏ có chút hấp dẫn
Tên Golden: chỉ người thích uống rượu.
Tên Jimmy: chỉ người thấp béo.
Tên Docata: thường chỉ người tự yêu mình.
Tên Tom: chỉ người quê mùa.
Tên Jason: chỉ có chút tà khí
Tên Paul: chỉ kẻ đồng tính luyến ái, hoặc giàu có
Tên Gary: chỉ người thiếu năng lực trí tuệ
Tên Michael: Thường chỉ kẻ tự phụ, có chút ngốc nghếch
Tên Jessica: thường chỉ người thông minh biết ăn nói
Tên Vivian: thường chỉ kẻ hay làm địu(Nam)
Tên Vivien: thường chỉ kẻ hay làm địu(Nữ)
Aki : mùa thu
Akira: thông minh
Aman (Inđô): an toàn và bảo mật
Amida: vị Phật của ánh sáng tinh khiết
Aran (Thai): cánh rừng
Botan: cây mẫu đơn, hoa của tháng 6
Chiko: như mũi tên
Chin (HQ): người vĩ đại
Dian/Dyan (Inđô): ngọn nến
Dosu : tàn khốc
Ebisu: thần may mắn
Garuda (Inđô): người đưa tin của Trời
Gi (HQ): người dũng cảm
Goro: vị trí thứ năm, con trai thứ năm
Haro: con của lợn rừng
Hasu: hoa sen
Hatake : nông điền
Ho (HQ): tốt bụng
Hotei: thần hội hè
Higo: cây dương liễu
Hyuga : Nhật hướng
Isora: vị thần của bãi biển và miền duyên hải
Jiro: vị trí thứ nhì, đứa con trai thứ nhì
Kakashi : 1 loại bù nhìn bện = rơm ở các ruộng lúa
Kalong: con dơi
Kama (Thái): hoàng kim
Kané/Kahnay/Kin: hoàng kim
Kazuo: thanh bình
Kongo: kim cương
Kenji: vị trí thứ nhì, đứa con trai thứ nhì
Kuma: con gấu
Kumo: con nhện
Kosho: vị thần của màu đỏ
Kaiten : hồi thiên
Kamé: kim qui
Kami: thiên đàng, thuộc về thiên đàng
Kano: vị thần của nước
Kanji: thiếc (kim loại)
Ken: làn nước trong vắt
Kiba : răng , nanh
KIDO : nhóc quỷ
Kisame : cá mập
Kiyoshi: người trầm tính
Kinnara (Thái): một nhân vật trong chiêm tinh, hình dáng nửa người nửa chim.
Itachi : con chồn (1 con vật bí hiểm chuyên mang lại điều xui xẻo )
Maito : cực kì mạnh mẽ
Manzo: vị trí thứ ba, đứa con trai thứ ba
Maru : hình tròn , từ này thường dùng đệm ở phìa cuối cho tên con trai.
Michi : đường phố
Michio: mạnh mẽ
Mochi: trăng rằm
Naga (Malay/Thai): con rồng/rắn trong thần thoại
Neji : xoay tròn
Niran (Thái): vĩnh cửu
Orochi : rắn khổng lồ
Raiden: thần sấm chớp
Rinjin: thần biển
Ringo: quả táo
Ruri: ngọc bích
Santoso (Inđô): thanh bình, an lành
Sam (HQ): thành tựu
San (HQ): ngọn núi
Sasuke: trợ tá
Seido: đồng thau (kim loại)
Shika: hươu
Shima: người dân đảo
Shiro: vị trí thứ tư
Tadashi: người hầu cận trung thành
Taijutsu : thái cực
Taka: con diều hâu
Tani: đến từ thung lũng
Taro: cháu đích tôn
Tatsu: con rồng
Ten: bầu trời
Tengu : thiên cẩu ( con vật nổi tiếng vì long trung thành )
Tomi: màu đỏ
Toshiro: thông minh
Toru: biển
Uchiha : quạt giấy
Uyeda: đến từ cánh đồng lúa
Uzumaki : vòng xoáy
Virode (Thái): ánh sáng
Washi: chim ưng
Yong (HQ): người dũng cảm
Yuri: (theo ý nghĩa Úc) lắng nghe
Zinan/Xinan: thứ hai, đứa con trai thứ nhì
Zen: một giáo phái của Phật giáo Tên nữ:
Aiko: dễ thương, đứa bé đáng yêu
Akako: màu đỏ
Aki: mùa thu
Akiko: ánh sáng
Akina: hoa mùa xuân
Amaya: mưa đêm
Aniko/Aneko: người chị lớn
Azami: hoa của cây thistle, một loại cây cỏ có gai
Ayame: giống như hoa irit, hoa của cung Gemini
Bato: tên của vị nữ thần đầu ngựa trong thần thoại Nhật
Cho: com bướm
Cho (HQ): xinh đẹp
Gen: nguồn gốc
Gin: vàng bạc
Gwatan: nữ thần Mặt Trăng
Ino : heo rừng
Hama: đứa con của bờ biển
Hasuko: đứa con của hoa sen
Hanako: đứa con của hoa
Haru: mùa xuân
Haruko: mùa xuân
Haruno: cảnh xuân
Hatsu: đứa con đầu lòng
Hidé: xuất sắc, thành công
Hiroko: hào phóng
Hoshi: ngôi sao
Ichiko: thầy bói
Iku: bổ dưỡng
Inari: vị nữ thần lúa
Ishi: hòn đá
Izanami: người có lòng hiếu khách
Jin: người hiền lành lịch sự
Kagami: chiếc gương
Kami: nữ thần
Kameko/Kame: con rùa
Kané: đồng thau (kim loại)
Kazu: đầu tiên
Kazuko: đứa con đầu lòng
Keiko: đáng yêu
Kimiko/Kimi: tuyệt trần
Kiyoko: trong sáng, giống như gương
Koko/Tazu: con cò
Kuri: hạt dẻ
Kyon (HQ): trong sáng
Kurenai : đỏ thẫm
Kyubi : hồ ly chín đuôi
Lawan (Thái): đẹp
Mariko: vòng tuần hoàn, vĩ đạo
Manyura (Inđô): con công
Machiko: người may mắn
Maeko: thành thật và vui tươi
Mayoree (Thái): đẹp
Masa: chân thành, thẳng thắn
Meiko: chồi nụ
Mika: trăng mới
Mineko: con của núi
Misao: trung thành, chung thủy
Momo: trái đào tiên
Moriko: con của rừng
Miya: ngôi đền
Mochi: trăng rằm
Murasaki: hoa oải hương (lavender)
Nami/Namiko: sóng biển
Nara: cây sồi
Nareda: người đưa tin của Trời
No : hoang vu
Nori/Noriko: học thuyết
Nyoko: viên ngọc quí hoặc kho tàng
Ohara: cánh đồng
Phailin (Thái): đá sapphire
Ran: hoa súng
Ruri: ngọc bích
Ryo: con rồng
Sayo/Saio: sinh ra vào ban đêm
Shika: con hươu
Shina: trung thành và đoan chính
Shizu: yên bình và an lành
Suki: đáng yêu
Sumi: tinh chất
Sumalee (Thái): đóa hoa đẹp
Sugi: cây tuyết tùng
Suzuko: sinh ra trong mùa thu
Shino : lá trúc
Takara: kho báu
Taki: thác nước
Tamiko: con của mọi người
Tama: ngọc, châu báu
Tani: đến từ thung lũng
Tatsu: con rồng
Toku: đạo đức, đoan chính
Tomi: giàu có
Tora: con hổ
Umeko: con của mùa mận chín
Umi : biển
Yasu: thanh bình
Yoko: tốt, đẹp
Yon (HQ): hoa sen
Yuri/Yuriko: hoa huệ tây
Yori: đáng tin cậy
Yuuki : hoàng hôn
Thịt thủ lợn
Đang tắm mất nước
Chỉ yêu một lần trong đời
Chỉ yêu người lạ
Đợi anh khô nước mắt 9 củ cà rốt
Thiên sứ già Em bị ế
Tham ăn tục uống
cầy con lon ton
Lò Thị Mẹt
Thượng đế chết rồi
Hoa quả sơn
Ngụy Khánh kinh
Tiêu thập nhất lang…
Tìm bạn trên mạng
Bán máu trên mạng
Hương bay kiếm múa
Cà phê trong suốt
Sói không ăn thịt
Đườngđời Đưađẩy Đi ĐủĐường
Chúngmàykhóc Chắcgìđãkhổ Taotuycười Nhưnglệđổvàotim
Tên đẹp thật
Họ Và Tên
Linh lạnh lùng lầm lỳ lắm lúc lỳ lợm
Ngân Ngây Ngô
Củ Chuối Vô Tình
Đơ như nitơ
Kẹo cực đắng
ChảBiếtTênNàoChoĐẹp
gétnhữngthằngthíchđặtênnickdàidằngdặc
Đọclàmgìcógmàđọc
NgâyThơ Trongsáng dễtinngười
Thủy Thoi Thóp
Nhinh Nhô Nhí
7 love ( thất tình)
Teo Hẳn Mông Bên Phải
Cai Hẳn Thôi Không Đẻ
Lòng Non Ngon Hơn Lòng Già
Lần Thị Lượt
Đang Bóc Lan
Vừa Chặt que
Đang Chấm Diêm
Cô Bốc xô
Phạm Chị Chắt
Lê Ổng Viên
Văn Cô Thêm
Lò Văn Tôn
Cú Có Đeo
Lừa Song Phắn
Tòng Văn Tánh
Lửa Không Cháy
Lượn Cho Nhanh
Lòng Không Thối
Tôn Không Rỉ
Alexandra – “người trấn giữ”, “người bảo vệ”
Edith – “sự thịnh vượng trong chiến tranh”
Hilda – “chiến trường”
Louisa – “chiến binh nổi tiếng”
Matilda – “sự kiên cường trên chiến trường”
Bridget – “sức mạnh, người nắm quyền lực”
Andrea – “mạnh mẽ, kiên cường”
Valerie – “sự mạnh mẽ, khỏe mạnh”
Adelaide – “người phụ nữ có xuất thân cao quý”
Alice – “người phụ nữ cao quý”
Bertha – “thông thái, nổi tiếng”
Clara – “sáng dạ, rõ ràng, trong trắng, tinh khiết”
Freya – “tiểu thư” (tên của nữ thần Freya trong thần thoại Bắc Âu)
Gloria – “vinh quang”
Martha – “quý cô, tiểu thư”
Phoebe – “sáng dạ, tỏa sáng, thanh khiết”
Regina – “nữ hoàng”
Sarah – “công chúa, tiểu thư”
Sophie – “sự thông thái”
Amanda – “được yêu thương, xứng đáng với tình yêu”
Beatrix – “hạnh phúc, được ban phước”
Hele – “mặt trời, người tỏa sáng”
Hilary – “vui vẻ”
Irene – “hòa bình”
Gwen – “được ban phước”
Serena – “tĩnh lặng, thanh bình”
Victoria – “chiến thắng”
Vivian – “hoạt bát”
Ariel – Chúa
Dorothy – “món quà của Chúa”
Elizabeth – “lời thề của Chúa / Chúa đã thề”
Emmanuel – “Chúa luôn ở bên ta”
Jesse – “món quà của Yah”
Azure – “bầu trời xanh”
Esther – “ngôi sao” (có thể có gốc từ tên nữ thần Ishtar)
Iris – “hoa iris”, “cầu vồng”
Jasmine – “hoa nhài”
Layla – “màn đêm”
Roxana – “ánh sáng”, “bình minh”
Stella – “vì sao, tinh tú”
Sterling – “ngôi sao nhỏ”
Daisy – “hoa cúc dại”
Flora – “hoa, bông hoa, đóa hoa”
Lily – “hoa huệ tây”
Rosa – “đóa hồng”;
Rosabella – “đóa hồng xinh đẹp”;
Selena – “mặt trăng, nguyệt”
Violet – “hoa violet”
Diamond – “kim cương” (nghĩa gốc là “vô địch”, “không thể thuần hóa được”)
Jade – “đá ngọc bích”,
Kiera – “cô gái tóc đen”
Gemma – “ngọc quý”;
Melanie – “đen”
Margaret – “ngọc trai”;
Pearl – “ngọc trai”;
Ruby – “đỏ”, “ngọc ruby”
Scarlet – “đỏ tươi”
Sienna – “đỏ”
Abigail – “niềm vui của cha”
Aria – “bài ca, giai điệu”
Emma – “toàn thể”, “vũ trụ”
Erza – “giúp đỡ”
Fay – “tiên, nàng tiên”
Laura – “vòng nguyệt quế” (biểu tượng của chiến thằng)
Zoey – “sự sống, cuộc sống”
Alfred – Alfred – “lời khuyên thông thái”
Hugh – Hugh – “trái tim, khối óc”
Oscar – Oscar – “người bạn hòa nhã”
Ruth – Ruth – “người bạn, người đồng hành”
Solomon – Solomon – “hòa bình”,
Wilfred – Wilfred – “ý chí, mong muốn”
Blake – Blake – “đen” hoặc “trắng”
Peter – Peter – “đá”
Rufus – Rufus – “tóc đỏ”
Douglas – “dòng sông / suối đen”;
Dylan – “biển cả”,
Neil – “mây”, “nhà vô địch”, “đầy nhiệt huyết”
Samson – “đứa con của mặt trời”
Alan – Alan – “sự hòa hợp”
Asher – Asher – “người được ban phước”
Benedict – Benedict – “được ban phước”
Darius – Darius – “người sở hữu sự giàu có”
David – David – “người yêu dấu”
Felix – Felix – “hạnh phúc, may mắn”
Edgar – Edgar – “giàu có, thịnh vượng”
Edric – Edric – “người trị vì gia sản” (fortune ruler)
Edward – Edward – “người giám hộ của cải” (guardian of riches)
Kenneth – Kenneth – “đẹp trai và mãnh liệt” (fair and fierce)
Paul – Paul – “bé nhỏ”, “nhúng nhường”
Victor – Victor – “chiến thắng”
Albert – Albert – “cao quý, sáng dạ”
Donald – Donald – “người trị vì thế giới”
Frederick – Frederick – “người trị vì hòa bình”
Eric – Eric – “vị vua muôn đời”
Henry – Henry – “người cai trị đất nước”
Harry – Harry – “người cai trị đất nước”
Maximus – Maximus – “tuyệt vời nhất, vĩ đại nhất”
Raymond – Raymond – “người bảo vệ luôn đưa ra những lời khuyên đúng đắn”
Robert – Robert – “người nổi danh sáng dạ” (bright famous one)
Roy – Roy – “vua” (gốc từ “roi” trong tiếng Pháp)
Stephen – Stephen – “vương miện”
Titus – Titus – “danh giá”
Andrew/Andrew/ – “hùng dũng, mạnh mẽ”
Alexander – “người trấn giữ”, “người bảo vệ”
Arnold/Arnold/ – “người trị vì chim đại bàng” (eagle ruler)
Brian/Brian/ – “sức mạnh, quyền lực”
Chad/Chad/ – “chiến trường, chiến binh”
Drake/Drake/ – “rồng”
Harold/Harold/ – “quân đội, tướng quân, người cai trị”
Harvey/Harvey/ – “chiến binh xuất chúng” (battle worthy)
Leon/Leo/ – “chú sư tử”
Leonard/Leonard/ – “chú sư tử dũng mãnh”
Louis/Louis/ – “chiến binh trứ danh” (tên Pháp dựa trên một từ gốc Đức cổ)
Marcus – dựa trên tên của thần chiến tranh Mars
Richard/Richard/ – “sự dũng mãnh”
Ryder/Rider/ – “chiến binh cưỡi ngựa, người truyền tin”
Charles/Charles/ – “quân đội, chiến binh”
Vincent/Vincent/ – “chinh phục”
Walter/Walter/ – “người chỉ huy quân đội”
William/William/ – “mong muốn bảo vệ” (ghép 2 chữ “wil – mong muốn” và “helm – bảo vệ”)
![]() |
![]() |
Những “chàng giáp” có thời gian cuồng yêu siêu ngắn
Chàng trai tuổi nào đáng tin cậy trong 12 con giáp? Ưu điểm lớn nhất của chàng trai tuổi Mùi là vô cùng lương thiện. Bất kể là bạn bè hay người yêu, họ đều tốt bụng, vô tư. Còn những chàng trai tuổi khác thì sao? chúng ta cùng đọc bài viết sau để hiểu thêm vấn đề trên nhé!
Nội dung
Những chàng trai tuổi Thìn có tinh thần trách nhiệm rất cao. Họ sở hữu tính tình ôn hoà, vận may làm giàu và luôn sẵn sàng giúp đỡ người khác. Họ hơi độc đoán với người yêu, rất nghiêm túc trên phương diện tình cảm. Ngoài ra, họ còn rất coi trọng gia đình. Nếu kết hôn với chàng trai tuổi Thìn, cuộc sống sau này của bạn sẽ vô cùng hạnh phúc. Vì thế, khi nói đến người đàn ông đáng tin cậy, những chàng trai tuổi Thìn sẽ luôn được xếp hạng đầu.
Những chàng trai tuổi Sửu luôn đối xử chân thành với người thân, bạn bè xung quanh, thậm chí còn dốc hết sức mình để bảo vệ người họ yêu quý. Ưu điểm này khiến cho những chàng trai tuổi Sửu được cộng thêm rất nhiều điểm và thu hút ánh nhìn từ phái nữ. Sau khi kết hôn, gia đình sẽ là tất cả đối với những chàng trai này. Dù cuộc sống đầy rẫy những cám dỗ, họ sẽ không bao giờ rời xa người thân trong gia đình. Nếu trong cuộc đời có được một người đàn ông như vậy, bạn thực sự hạnh phúc đấy.

Có trách nhiệm với gia đình chính là đặc điểm nổi bật nhất của những chàng trai tuổi Hợi. Khiến gia đình có cuộc sống sung túc, tốt đẹp hơn là mục tiêu phấn đấu cả đời của họ. Những chàng trai này nhìn thì có vẻ rất trầm mặc, không được lãng mạn lắm với người yêu và thường xuyên lao đầu vào công việc, nhưng họ dồn hết sức lực như vậy cũng chỉ muốn cho đối phương một cuộc sống tốt đẹp hơn. Bạn có thể nói họ vô cảm, nhưng không thể phủ nhận rằng họ là những chàng trai rất đáng tin cậy.
Ưu điểm lớn nhất của những chàng trai tuổi Mùi là vô cùng lương thiện. Bất kể là bạn bè hay người yêu, họ đều rât tốt bụng, vô tư. Dù xảy ra cãi nhau, họ sẽ tự kiểm điểm lại bản thân, sau đó sửa chữa, đền bù lỗi lầm mình gây ra. Những người đàn ông như vậy rất đáng để chị em phó thác cả đời. Đặc biệt, họ cũng rất tỉnh táo, không bao giờ để bạo lực gia đình hay bi kịch gia đình xảy ra.
Kết hôn với những chàng trai tuổi Ngọ thì chắc chắn cuộc sống hai người sẽ bách niên giai lão. Bởi lẽ, sức khoẻ của họ rất tốt, đa số đều thọ. Những chàng trai này chân thành và hay giúp đỡ người khác một cách vô tư. Trong xã hội ngày nay, những người con trai như vậy quả thật hiếm hoi. Hơn nữa, trong tương lai, đường quan lộ của họ tương đối sáng lạn, sau khi kết hôn sẽ không phải lo đến vấn đề tài chính. Muốn tìm một ông chồng đáng tin cậy thì những chàng trai tuổi Ngọ là một sự lựa chọn tuyệt vời đấy các nàng.