Mơ thấy mặt trăng: Tượng trưng tâm lý, tình yêu và tình cảm lãng mạn của con người –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
| ► Lịch ngày tốt gửi đến độc giả công cụ Bói tình yêu và Xem ngày cưới chuẩn xác |
![]() |
| Ảnh minh họa |
![]() |
| Ảnh minh họa |
![]() |
![]() |
1. Giường ngủ phải đủ dài và đủ rộng, hơn nữa phải đẹp và tốt, thoải mái khi sử dụng. Giường cao quá cũng không tốt mà thấp quá cũng bất tiện. Giường là nơi để ngủ nên cần sạch sẽ, gọn gàng, không để đồ đạc bừa bãi, nếu không sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe như các bệnh về xương sống, thắt lưng…
![]() |
3. Đầu giường không nên để quay ra cửa, nếu không gian không cho phép mà đặt giường ngủ như vậy thì gia chủ cùng gia đình sẽ gặp nhiều xui xẻo, điều này là tối kỵ trong phong thủy.
4. Giường ngủ tốt nhất là nên quay về hướng Bắc hoặc
5. Đầu giường nên dựa vào tường và phải có thành giường vững chắc, phía sau đầu giường cũng không nên là phòng bếp hoặc phòng vệ sinh.
6. Giường ngủ không nên đối diện với cửa ra vào để người ngoài dễ dàng nhìn thẳng vào giường, mất đi tính an toàn, ảnh hưởng tới sự nghỉ ngơi của người trong phòng. Nếu lỡ kê giường như vậy, có thể dùng bình phong để ngăn cách, vừa để hóa giải phong thủy xấu vừa tạo tính riêng tư cho phòng ngủ.
![]() |
8. Giường không nên đối diện với gương, bời người trong lúc nửa tỉnh nửa mê, đêm khuya rời giường dễ bị hình ảnh trong gương làm cho kinh sợ, tinh thần bất an, đầu óc choáng váng, hoa mày chóng mặt. Hơn nữa, khi con người chìm vào giấc ngủ cũng là lúc dương khí yếu nhất, mà gương lại có tác dụng phản xạ lại, nó sẽ phân tán năng lượng của con người ra ngoài. Đặc biệt là vợ chồng trẻ tuổi, dễ bị họa huyết quang hoặc hiếm muộn chuyện con cái.
Nếu trong phòng ngủ có gương đối diện với giường thì buổi tối nên quay nó hướng vào tường. Biện pháp tốt nhất là lắp gương ở bên trong cánh cửa tủ quần áo, khi mở cửa tủ thì sẽ lộ ra gương, không cần thì đóng cửa tủ lại.
9. Tủ đầu giường nên cao hơn giường, có lợi cho chất lượng giấc ngủ cũng như trí tuệ của người nằm trên giường.
10. Hai bên thành giường không nên để đối diện với các góc khiến cho người ngủ bị các cơn đau nửa đầu hành hạ. Thực vật hoặc những đồ vật hình vuông hoặc hình chữ nhật thì không nên để gần gường ngủ.
11. Tường trong phòng ngủ không nên dựng bằng các chất liệu như thủy tinh, kim loại hoặc đá. Mà nên sử dụng tường gạch vôi bình thường và dùng các loại màu sơn nhẹ nhàng để tạo cảm giác an bình, tốt cho việc nghỉ ngơi, thư giãn.
12. Căn cứ theo nguyên lý ngũ hành thì phương vị phòng ngủ và màu sắc cần có sự kết hợp hài hòa:
Phòng ngủ hướng Đông hoặc Đông
Phòng ngủ hướng
Phòng ngủ hướng Tây thì sơn màu phấn hồng, trắng, vàng nhạt hoặc xám.
Phòng ngủ hướng Bắc thì sơn màu xám trắng, vàng nhạt, phấn hồng hoặc đỏ.
Phòng ngủ hướng Tây Bắc thì sơn màu xám trắng, phấn hồng, vàng hoặc đen.
Phòng ngủ hướng Đông Bắc thì sơn màu vàng hoặc màu nâu.
Phòng ngủ hướng Tây
13. Đồ đạc trong phòng ngủ nên là đồ phù hợp với sở thích cá nhân, tốt nhất là phù hợp với kích thước phòng.
| ► Xem thêm: Phong thủy phòng ngủ giúp vợ chồng hòa thuận, con cái khỏe mạnh |
Phương Thùy
![]() |
![]() |
| ► Mời bạn đọc: Những câu nói hay về tình yêu và suy ngẫm |
Trong Phật giáo, Thập Bát La Hán là 18 vị tu luyện tới cực hạn, vĩnh viễn giải thoát khỏi luân hồi, còn được gọi là Vô Cực Quả hoặc Giả Vô Học Quả. Xin giới thiệu cụ thể về 18 vị để bạn đọc có thêm thông tin.
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
| ► Mời các bạn xem hướng nhà theo tuổi để không phạm phải đại kị |
| ► Tra cứu ngày âm lich hôm nay chuẩn xác theo Lịch vạn sự |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
6 điều tích vận phúc trong Tết Đoan Ngọ
![]() |
| Ảnh minh họa |
Nếu có được người bạn như những con giáp này, chắc chắn cuộc sống của bạn sẽ vui vẻ, không phải lo lắng về vật chất.
![]() |
![]() |
![]() |
Người xưa có câu : “Con gái sợ chọn lầm chồng. Con trai sợ chọn lầm nghề”. Thật vậy, vì cuộc sống của con gái ngày xưa, phụ thuộc nhiều vào vấn gia đạo, chồng con. Còn con trai, là trụ cột gia đình, là người sản xuất, và nuôi sống cả gia đình, nên chuyện lựa chọn nghề nghiệp là rất quan trọng. Ngày nay, chuyện công việc, nghề nghiệp thì cả con trai lẫn con gái đều quan trọng như nhau. Thành công hay không, phụ thuộc vào đam mê và quyết tâm. Môn Tử vi đẩu số có thể tư vấn hướng nghiệp rất hữu ích
SAO TỬ VI
Tính chất công việc
Người có sao tử vi tọa thủ cung quan lộc phần lớn thích hợp với một hoặc vài loại công việc dưới đây:
Công việc liên quan tới châu báu, trang sức
Các loại công việc có tính đại biểu. Tính đại biểu có thể là người đứng đầu của các tổ chức, hoặc tự sáng tạo tạo ra phong cách làm việc của riêng mình.
Các loại công việc, cần ra mệnh lệnh
Các loại công việc liên quan đến độ cao. Như công việc trên núi, trồng cây, mở đường, xây nhà cao.
Môi trường làm việc.
Người có Tử vi tọa thủ cung quan lộc, phần lớn có một số hiện tượng dưới đây
Không nhất định sẽ làm việc trong cơ quan rất lớn nhưng dễ được tiếp xúc với tầng lớp cao nhât trong môi trường làm việc.
Tự mình là lãnh đạo cao nhất của mình, là nhân viên, cũng là ông chủ. Ví dụ thành lập một phòng làm việc riêng.
Bất luận làm gì gì cũng đều có khả năng ở chức cao, địa vị luôn được mọi người khẳng định và cung kính. Khi nhắc đến môi trường làm việc sẽ rất tự hào
SAO THIÊN PHỦ
Tính chất công việc
Người có sao Thiên phủ tọa thủ cung quan lộc, phần lớn có một vài hiện tượng như sau:
Công việc thường cần một mình độc lập. Ví dụ thiết lập một đơn vị nhỏ, trong công ty lớn, một mình phụ trách công việc độc lập.
Tự phụ trách cung cấp tài liệu cho công việc của mình, phụ trách công việc hoàn thành. Như mở một phòng làm việc, tự mua vải để thiết kế cho khách
Các ngành nghề tự do
Các công việc liên quan tới tài chính, ngân sách như kế toán, ngân hàng, tín dụng.
Thiên phủ còn có ý nghĩa là nông sản, nên làm kinh tế trang trại cũng rất lý tưởng.
Môi trường làm việc
Người có sao Thiên phủ tọa cung quan lộc thường có biểu hiện như sau :
Đơn vị làm việc độc lập trong đoàn thể lớn
Môi trường làm việc liên quan đến nhiều người khác
Tuy có liên quan tới nhiều người khác cũng có môi trường làm việc độc lập. Ví dụ làm việc trong quỹ xây dựng của doanh nghiệp lớn có rất nhiều xưởng sản xuất nhỏ
Trở thành tổ chức doanh nghiệp độc lập mà bản thân cũng làm việc trong đó.
Tự mình là ông chủ như thành lập một phòng làm việc cá nhân, bất luận môi trường làm việc thế nào cũng đều không bị ảnh hưởng
SAO VŨ KHÚC
Tính chất công việc
Người có sao Vũ Khúc tọa thủ ở cung quan lộc phần lớn có một vài hiện tượng dưới đây
Công việc có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến mỏ
Các loại nghề thủ công mỹ nghệ
Các loại công việc cần không ngừng khai thác. Ví dụ khai thác thị trường trong công ty thương mại, không ngừng khai thác các sản phẩm mới.
Công việc đòi hỏi sự thúc đẩy về phía trước. Thường thúc đẩy bản thân và thúc đẩy cả người khác.
Công việc có hai tính chất khai thác và thúc đẩy. Ví dụ quản lý nhà máy hoặc máy móc, cũng có thể là công việc có tính chất kỹ thuật đơn thuần cần liên tục đốc thúc chế tạo xong máy móc
Công việc liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến tiền tệ, tài chính, ngân sách
Chính trị bán quân sự
Môi trường làm việc
Người có Vũ khúc tọa thủ cung quan lộc, phần lớn có các biểu hiện
Môi trường làm việc liên quan tới mỏ, khoáng sản, các ngành công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ. Ví dụ làm nhân viên trong công ty về gang thép, hoặc làm kế toán trong các công ty châu báu
Tính chất công việc là môi trường làm việc lớn thúc đẩy phát triển khai thác. Ví dụ làm việc trong nhà máy, công ty sáng chế
Làm việc trong cơ quan ngân hàng, cơ cấu chính phủ hoặc lực lượng vũ trang.
SAO THIÊN TƯỚNG
Tính chất công việc
Người có Thiên tướng tọa thủ cung quan lộc, phần lớn có các hiện tượng dưới đây:
Công việc cần lên kế hoạch, điều chỉnh
Công việc cần cân bằng, giao tiếp
Công việc cần phụ trách về người nào đó
Công việc cần giao tiếp, cân bằng hài hòa giữa nhóm người này, và nhóm người khác.
Công việc cần chịu trách nhiệm cân bằng, hài hòa giữa các ý niệm
Môi trường làm việc:
Làm việc trong môi trường lớn, có chế độ
Làm việc trong môi trường lý tưởng, có sự hài hòa, trao đổi, cân bằng
Trích từ sách Tử vi đẩu số.
1. Tuổi Thân
Những người sinh vào năm của tuổi này thường gặp được may mắn về tiền bạc trong cuộc sống bộn bề này. Họ là những người khát vọng sở hữu một khoản tài chính lớn, khi có cơ hội, họ sẽ nhanh tay nắm bắt, và việc kiếm tiền sẽ trở nên rất dễ dàng với họ so với những con giáp khác. Chỉ cần đừng tiêu xài hoang phí, không nên keo kiệt và chịu khó tiết kiệm tiền bạc, thì nguồn tài chính của họ sẽ luôn dồi dào và chắc chắn.
2. Tuổi Hợi
Người tuổi Hợi luôn điềm tĩnh và sáng suốt dù có xảy ra bất kì vấn đề gì. Đối với những "trục trặc" trong đời sống, họ sẽ xem xét chu đáo và có những giải pháp hợp lý, điều này giúp họ gặt hái thêm thành công và tiền tài. Sẽ có nhiều người ghen tỵ với họ vì họ vừa may mắn vừa "rước" được nhiều tài lộc. Đồng thời, bản tính cởi mở, thân thiện trong các mối quan hệ giúp họ càng kiếm được thêm nhiều tiền.
3. Tuổi Dần
Thực ra, người tuổi Dần thường không quan tâm nhiều đến tiền bạc, họ ít khi "sống chết" để nhất định kiếm nhiều tiền. Tuy nhiên, họ luôn may mắn trong việc thu chi tài chính. Người tuổi Dần khi đã dùng tiền vào việc nào đó thì sẽ cố gắng làm việc để thu lại số tiền tương đương, may mắn luôn theo họ trong khoản này và giúp họ tận hưởng những điều họ mong muốn.
4. Tuổi Mùi
Sự may mắn đến với túi tiền người tuổi Mùi luôn chứa đựng nhiều điều bất ngờ. Khi họ túng thiếu, lập tức sẽ có người quen giàu có đến giúp đỡ và hỗ trợ. Còn khi họ nghèo khó, thì sẽ bất ngờ nhận được món quà đặc biệt từ người thân hay cha mẹ. Về mặt tài chính, sẽ có nhiều điều tốt đẹp luôn chờ đợi người tuổi Mùi.
5. Tuổi Thìn
Người tuổi Thìn luôn có ý chí phấn đấu rất mạnh mẽ, đặc biệt họ đặt sự nghiệp lên hàng đầu. Vì thế, sự thăng tiến trong địa vị cũng như tiền tài đến với họ rất dễ dàng. Tuy nhiên, người tuổi Thìn lưu ý không nên nóng vội, bốc đồng trong công việc, nhất là những khoản làm ăn đầu tư, nếu không sẽ dễ gây mất mát, tổn thất tiền bạc.
| Tên sao | Đẩu phận | Âm dương ngũ hành | Hóa | Chủ | Khả năng | Tứ hóa |
| Thiên đồng | Nam đẩu (thứ 4) | Dương thủy | Phúc | Phúc đức | Giải ách, kéo dài tuổi thọ, chế hóa | Bính: Lộc, Đinh: Quyền, Canh: Kị |
Thuộc tính âm dương ngũ hành của sao Thiên đồng là dương thủy. Là chòm sao thứ tư trong chòm sao Nam Đẩu. Hóa khí là phúc, cung chủ là cung phúc thọ, có khả năng kéo dài tuổi thọ, giải ách, chế hóa. Nếu miếu vượng thì không sợ kiếp sát xâm hại, không sợ nằm đồng cung với các hung tinh, Thiên đồng nằm ở 12 cung đều chủ phúc thọ. (Tuổi trẻ chủ về Phúc, tuổi già chủ về Thọ, phúc nhiều thì Thọ ít, phúc ít thì Thọ nhiều.)
Sao Thiên Đồng có phúc, nên không cần phải nỗ lực cũng có thể hóa giải được hung hại của sáu sát tinh Hỏa Linh Kình Đà Không Kiếp một cách tự nhiên, hơn nữa, lực xung sát của các sát tinh lại có thể tăng cường sức sáng tạo của sao Thiên đồng, nhưng lại dẫn đến cảm giác "có phúc không biết hưởng" hay "số vất vả".
Sao Thiên đồng có khả năng tăng tuổi thọ, bảo vệ sinh mệnh, là sao hưởng phúc, chủ về cuộc đời bình yên, coi trọng hưởng thụ vật chất. Mệnh nam gặp sao này sẽ thiếu ý chí, thiếu quyết tâm, thường chỉ biết nói mà không biết làm, không có nỗ lực phấn đấu vươn lên, không có quyết tâm sáng tạo đổi mới, bởi vậy, sao này hợp với mệnh nữ không hợp với mệnh nam.
Thiên đồng hóa Lộc là tốt, chủ về hưởng thụ, có "khẩu phúc" (được ăn ngon), nhưng tính cách dễ lười biếng uể oải. Sao Thiên đồng hóa Quyền chủ về vất vả, không được hưởng phúc. Nếu đồng thời gặp sao Khoa và Quyền, thì không những không lười biếng, mà còn là người lạc quan, tích cực tiến thủ. Thiên đồng hóa Kị chủ về bận rộn vất vả, kỵ nhất lại gặp hai sao Văn xương và Văn khúc, vì hai sao này đều là sao Giờ, nên tính hung của chúng (kém hài hòa, gặp nhiều bất mãn, hoặc mất vân bằng chức năng cơ thể) sẽ ập đến rất nhanh, khiến cho những phúc đức của Thiên đồng sẽ nhanh chóng tiêu biến.
Sao Thiên Đồng gặp cát tinh sẽ tốt lành, gặp Tả phụ, Hữu bật, Văn xương, Văn khúc, Thiên lương, chủ về hiển quý. Hợp với người sinh năm Nhâm Ất, miếu vượng mà trấn mệnh tại cung Tị, Hợi, không hợp với người sinh năm Canh. Đóng tại cung Thìn, Mão không tốt, đóng tại cung Dậu Tuất chủ về oán hận, không nên rơi vào cung mệnh, thân. Gặp bốn sát tinh Kình Đà, Hỏa Tinh trấn tại Tị Hợi là hình và hãm, dễ bị tàn tật cô độc.
Sao Thiên đồng chủ về hài hòa, dễ tính, có phúc, nhưng đến trung niên hoặc về già mới được hưởng phúc, tuổi nhỏ và lúc trẻ phải vất vả nỗ lực. Nếu như sao Thiên đồng chỉ chủ về sống để hưởng phúc, thì thời trẻ không thể tự lập nghiệp, vận thế dễ gặp trở ngại.
Sao Thái âm và Thiên Đồng nếu trấn tại cung mệnh, hoặc cung Điền Trạch tại Tý, là cách cục "Nguyệt sinh thương hải" (trăng mọc trên biển) chủ về sẽ có được chức quan cao quý. Nếu bốn sao Thiên cơ, Thái âm, Thiên đồng, Thiên lương tập hợp lại ba cung Mệnh - Tài - Quan là cách "Cơ Nguyệt Đồng Lương" có lợi cho sự nghiệp giáo dục, văn hóa, truyền thông đại chúng. Nếu Thiên Đồng và Thái âm trấn mệnh tại Ngọ, lạc hãm lại gặp sát tinh, tạo thành cách "Nguyệt Đồng ngộ sát", chủ về thân hình gầy gò hư nhược, gặp nhiều chuyện không như ý.
Thai Tọa cần Xương Khúc,Quang Quí, Long Phượng, Thai Phụ, Phong Cáo và tựa vào Tử Vi, Thiên Phủ, Thái Dương (cho người sinh ban ngày), Thái Âm (cho người sinh ban đêm). Thai Tọa gặp lưu niên Thái Tuế tạo ra thanh thế cho năm ấy.
Tam Thai hội hợp cùng cát diệu
Thời một phen dưỡng dục nên người
Giáp Thai giáp Tọa thanh phận tảo vinh
(Mệnh giáp Thai Tọa thành công sớm, câu này không lấy gì làm chính xác)
- Thai Tọa Phong Cáo hiển ấm thừa quang
(Mệnh có Thai Tọa Phong Cáo thì được hưởng phúc lộc của tổ phụ)
Ngoài ra còn hai câu phú:
a. Mộ trung Thai Tọa văn mưu vũ lược kiêm ưu (Thai Tọa đứng thủ Mệnh ở các mộ cung thì văn võ song toàn)
b. Bát Tọa hướng Dương, thị tụng ư cung cấm (Bát Tọa gặp Thái Dương ở Mệnh là người phục dịch nơi cung cấm)
Hai câu này không mang một luận cứ nào vững chắc, qua kinh nghiệm thấy không đúng.
1.Hội Đền Trèm (Chèm):
Thời gian: tổ chức vào ngày 14 tới ngày 16 tháng 4 âm lịch.
Địa điểm: Đền Trèm nằm ở vị trí bên tả ngạn sông hồng, ngay trên con đê thuộc xã Thụy Phương, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: nhằm suy tôn Lý Ông Trọng và phu nhân của ông.
Nội dung: ở đầu là lễ rước nước sáng sớm ngày 15. Nước được lấy ở giữa dòng sông để phục vụ cho lễ tắm tượng. Sau đó là lễ rước văn (rước bài văn tế từ nhà người trưởng văn ra đình), cuối cùng là lễ tụng kinh cầu siêu do thầy chùa phụ trách tiến hành trong đêm Rằm.
Khi các nghi lễ tiến hành xong cũng là thời điểm dân làng và khách thập phương chung vui không khí hội hè: thả chim bồ câu, chèo thuyền, đánh cờ, đấu vật... Trong đó hấp dẫn nhất vẫn là hội thi thả chim và chèo thuyền. Với sự tham dự của nhiều chủ chim có khi tới dăm chục thậm chí hàng trăm đàn chim chờ đợi mở lồng tung cánh, đua tài cao thấp trong ngày hội càng làm cho không khí hội đền Trèm thêm náo nhiệt.
Từ những nghi thức và tập tục: rước nước, tắm tượng, chèo thuyền, thả chim... là hình ảnh mờ nhạt của các lễ nghi nông nghiệp xa xưa, qua đắp đổi của thời gian và các dòng văn hoá cho đến nay chỉ còn hiện diện như một thú chơi tao nhã và tinh thần thượng võ. Tất cả tạo nên sự hấp dẫn riêng của một làng quê nông nghiệp ven đô.
Thời gian: tổ chức vào ngày 14 tháng 4 âm lịch và ngày 27 tháng 4 âm lịch.
Địa điểm: làng Thượng Phúc, xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh trì, thành phố Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: nhằm suy tôn hoàng tử Lý Thầm, thiền sư Hồ Bà Lam.
Nội dung: Thi bơi thuyền trên sông, năm thì bơi thuyền gỗ, năm bơi thuyền thúng. Thổi cơm thi, đôi nam nữ vừa đi vừa thổi cơm, vừa múa. Buổi tối có hát trống quân trên thuyền.
Thời gian: tổ chức vào ngày 14 tháng 4 âm lịch và ngày 14 tháng 6 âm lịch (chính hội là ngày 14 tháng 4).
Địa điểm: Làng Quang Lang, xã Thụy Hải, Huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
Đối tượng suy tôn: nhằm suy tôn ông Đùng - Bà Đà, bà Chúa Mối (Nguyệt Ánh) đễ tam cung phi của vua trần thánh tông.
Nội dung: Lễ hội đặc sắc với điệu múa ông Đùng, bà Đà mang đậm chất folklore - nhằm cầu mong sự sinh sôi, thịnh vượng. Hình ông Đùng, bà Đà được đan bằng tre mỏng, đan theo kiểu mắt cáo. Thân hình cao tới 1,5m - 2m, hình chóp nón, đường kính phía dưới rộng, đủ cho một người chui lọt vào. Sáng sớm ngày 14/4 âm lịch, các thôn trong làng mang các hình nộm ông Đùng, bà Đà vào Đền thờ bà chúa Muối để tiến hành các nghi thức tế lễ một cách nghiêm trang thành kính.
Tục chính của lễ hội là múa Đùng được diễn ra vào lúc nhập nhoạng tối cùng ngày. Trong khi múa người ta xướng vang những câu tụng ca công đức của bà chúa Muối như: "Lạy chúa! Muối của chúa năm nay được mùa lắm! Lạy chúa, lạy chúa…".
Trong lễ hội các hình nộm mang cả dáng dấp ông Đùng và bà Đà. Khi múa lúc nghiêng ngả, quay sang phải, sang trái, cho ông bà có cơ hội "bày tỏ" tình cảm vui mừng với nhau. Các vai ông Đùng, bà Đà phải phối hợp sao cho những lần giáp mặt, thân chập vào nhau. Người Quang Lang giải thích đó là lúc ông bà đang "ăn nằm" với nhau. Sau đó, đoàn múa ra khỏi Đền và đi quanh làng, các Đùng con quấn quýt xung quanh Đùng bố mẹ. Dân làng đi theo nhộn nhịp, vừa đi vừa hát múa. Lúc đám rước quay về tới Đền thì dân làng vội vã xô nhau vào để lấy cho được một nan nứa trên hình nộm hai ông bà về cắm vào ruộng, vào vườn, trên thuyền để lấy may.
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
| Tý | Sửu | Dần | Mão |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
| Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
| Thân | Dậu | Tuất | Hợi |
Mr.Bull (theo Dyxz)
| ► Lấy lá số tử vi và xem vận mệnh cuộc đời, công danh, tình duyên của bạn |
![]() |
ếu không có nó thì không gian riêng tư này sẽ “quá sáng” làm người sử dụng cảm thấy khó chịu. Cho nên, việc bố trí, phối hợp nguồn sáng khi chỉnh trang phòng tắm và phòng vệ sinh rất quan trọng, cần chủ ý những điểm dưới đây:

Đầu tiên có thể chọn dùng đèn tường cho phòng tắm và phòng vệ sinh rộng, gián tiếp dùng ánh sáng từ đèn chiếu qua tường để làm sáng cho phòng.
Phía trên chậu rửa mặt, bệ vệ sinh, bồn tắm, bình hoa có thể bố trí một bóng đèn tuýp, làm cho mỗi vị trí đều có đủ ánh sáng. Ngoài ra, không cần thiết phải lắp đèn nóc, nếu không sẽ gây cảm giác loá mắt.
Nếu phòng tắm và phòng vệ sinh có không gian tương đối rộng thì có thể lắp cửa mi ca; nếu không gian hẹp thì dùng rèm kéo, hoặc lắp một máng lõm trên nóc chỗ bồn tắm, chọn dùng ở đó một đèn chiếu sáng mà mình ưa thích. Nhưng tốt nhất hãy tránh màu sắc kích thích làm chói mắt.
Thứ hai, phòng tắm và phòng vệ sinh có diện tích nhỏ nên lắp đèn ở vị trí trung tâm trần nhà, như vậy ánh sáng sẽ bao chùm được hết không gian, làm rộng và thoáng phòng.
Phòng tắm và phòng vệ sinh có diện tích rộng có thể lắp đèn phía trên bồn tắm và chậu rửa mặt, xung quanh gương bố trí đèn trang điểm, tạo sự thanh tao và ấm áp. Đèn ở vị trí của gương nên lắp bên trên tầm mắt, cũng có thể lắp đối xứng hai bên. Chiếu sáng tổng thể có thể dùng đòn vách, đèn trần. Ngoài ra, đèn phải đảm bảo tính phòng chông nước, đảm bảo an toàn. Tạo hình và màu sắc bên ngoài chọn theo sở thích bản thân, nhưng phải hài hoà với tổng thể.
Vấn đề cuối cùng là tính kín đáo. Ngoài phòng ngủ ra, phòng tắm và phòng vệ sinh là hai không gian rất cần sự kín đáo trong gia đình, quá trình chỉnh trang cần lưu ý đến vấn đề này.
Nhìn chung, cấu tạo không gian phòng tắm và phòng vệ sinh rất quan trọng, làm sao để vừa đảm bảo tính tiện dụng, vừa vận dụng được màu sắc và ánh sáng một cách hợp lý. Khi chọn chủng loại đèn, thường về tổng thể nên chọn đèn trắng, bên cạnh gương trang điếm nên lắp đèn độc lập. Có gia đình xung quanh gương trang điểm lắp một dây các bóng đèn nhỏ, tuy dẹp nhưng khả năng chống nước kém, loại đèn này chỉ thích hợp với những nơi khô ráo.
Ngoài ra, cần đặc biệt chú ý thiết bị thông gió và diện ở nhà vệ sinh. Thiết bị thông gió có thể dùng quạt thông gió kinh tế mà thực dụng, nhà vệ sinh có lắp bình nước nóng, khi sử dụng phải đề phòng rò gas. Chú ý công tắc, ổ cắm điện của nhà vệ sinh đều phải lắp bên ngoài, đề phòng rò điện do ẩm ướt, phòng tránh xảy ra sự cố.
Theo thuyết Ngũ hành, tùy thuộc vào mệnh, tuổi của gia chủ sẽ có những hướng mở cổng phù hợp, đồng thời tránh được những hướng không phù hợp.

Người mệnh Hỏa không nên mở cổng hướng Bắc. Theo phong thủy, hướng Bắc thuộc hành Thủy, Thủy khắc Hỏa, gây nhiều bất lợi cho người trong nhà.
Người mệnh Kim không nên mở cổng hướng Nam. Vì phong thủy quan niệm hướng Nam thuộc Hỏa, Hỏa khắc Kim, gây nhiều bất lợi cho người trong nhà.
Người mệnh Thủy không nên mở cổng hướng Đông Bắc, Tây Nam vì hai hướng này thuộc Thổ. Thổ khắc Thủy cũng rất xấu nếu mở 2 hướng này.
Ngưòi mệnh Mộc không nên mở cổng về phía Tây Bắc, Tây. Hai hướng này thuộc Kim, Kim khắc Mộc cũng rất xấu nếu mở 2 hướng này.
Người mệnh Thổ không nên mở cổng hướng Đông Nam, Đông. Hai hướng này thuộc Mộc, Mộc khắc Thổ cũng không nên.
Bài viết của tác giả Anh Việt
Những người giỏi Tử Vi thường nhìn qua lá số là thấy ngay độ tốt xấu, đó là vì họ xét qua một số những yếu tố chính và cũng vì kinh nghiệm của mỗi người. Kinh nghiệm là do sự so sánh giữa lời đoán của mình và các biến cố xảy ra trong đời, rồi tùy theo đó mà biết mình đoán đúng trật ở chỗ nào.
Một lá số toàn mỹ
Một lá số toàn mỹ thường gặp những yếu tố chính như sau:
Tuy kể ra như vậy và rồi giải thích thì sẽ thấy nhiều việc phải làm, nhưng những người quen chỉ cẩn thận xét sơ qua trong dăm phút là thấy ngay. Sự khó khăn lớn nhất là xét xem những cách tốt có bị những cách xấu nào phá đi không.
Những lá số kém
Nhưng dễ gì có được lá số toàn mỹ. Ngay 4, 5 điểm đầu, có người có điểm này lại hỏng những điểm khác. Được hai ba cái trúng, cũng đã vào hàng thượng cách, nếu những nét sau được tốt. Mỗi cái sai lệch là một cái “kém”, cứ tùy vậy mà xuống.
Nhiều người không coi hai điểm đầu, hoặc không chú ý, vì không chắc gì gặp được lá số toàn bích, một lá số đế vương, mà lại được ở ngôi lâu dài cho đến lúc chết vẫn giữ nguyên vinh dự.
Trên đời này có những trường hợp như vậy. Như những người được cách thật tốt, làm tới bậc nguyên thủ quốc gia, thế mà có người chỉ nổi danh mấy năm rồi lu mờ; có người không vợ, không con, chấm dứt cuộc đời bằng một cái chết thảm. Có những người lên thật cao, nhưng lại không có Phúc Đức tốt làm nền, thành ra lên cao mà không được bền, hay là trèo cao mà té thật đau, khi xuống dốc là gặp những trường hợp buồn thảm.
Xem đại cương đời sướng khổ cũng phải xem cả 12 cung, là vì con người sướng khổ chẳng phải chỉ vì công danh (Quan-Lộc) hay vì tiền bạc (Tài Bạch) mà thôi. Có người được công danh và tiền bạc tốt, nhưng lại kém về đường vợ con, bạn bè, và khả năng giải tai ách. Ngược lại, có người công danh kém, ít tiền, nhưng được vợ con tốt, bạn bè giúp đỡ, sống không tai nạn, như vậy cũng có khi được kể là vào hàng hạnh phúc, cái đó là tùy quan niệm.
Bởi thế, tuy gọi là số thượng cách, trung cách hay hạ cách, mà không thể biết rõ đường hạnh phúc như thế nào. Đúng là hạnh phúc còn tùy cả 12 cung số mà cũng tùy ở quan niệm mỗi người.
(Để rút tỉa những kinh nghiệm, rồi đây chúng tôi sẽ xin trình bày với quý bạn đọc những lá số tiêu biểu của các hạng người khác nhau: Thượng cách, Trung cách và Hạ cách. Thượng cách, Trung cách hay Hạ cách là chỉ về đường công danh và nếp sống ở đời, chứ không phải chỉ về hạnh phúc, như đã nói, người Thượng cách có thể bỗng nhiên gặp tai nạn mà chết hoặc là hỏng về đường vợ con, còn người Hạ cách có thể lại được đường vợ con tốt mà sung sướng).
Sau đây, xin trình bày về những điểm mà ai cũng có thể cân nhắc không cần giở sách (hai điểm đầu khó đoán, là vì còn phải có sách, như sách Tinh Mệnh Vạn Niên Lịch, mới biết được ngày sinh thuộc về ngày gì, Hành nào.
Yếu tố tương sinh giữa Cục-Mệnh
Xin nhắc lại: Ngũ Hành tương sinh: Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim. Ngũ Hành tương khắc: Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim.
Trên lá số, đã có ghi Mệnh gì và Cục gì, theo Ngũ Hành. Thí dụ: Thiên thượng Hỏa, và Thủy nhị Cục. Như vậy tức là Mệnh Hỏa và Cục Thủy. Thủy khắc Hỏa, tức là Cục khắc Mệnh, đó là một yếu tố giảm kém.
Mệnh sinh Cục: tốt. Thí dụ: Mệnh Kim sinh Thủy Cục.
Cục sinh Mệnh: tốt vừa. Thí dụ: Cục Kim sinh Mệnh Thủy.
Cục khắc Mệnh: xấu, yếu tố giảm.
Mệnh khắc Cục: xấu nhiều, yếu tố giảm.
Lá số dù thật tốt mà bị Mệnh Cục tương khắc là có sự giảm kém đi một phần.
Yếu tố về cung an Mệnh có thuận về Âm, Dương với năm sanh
Mỗi cung trên lá số là cung Dương hay là cung Âm (đã có ghi). Các cung Tí, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất là cung Dương, các cung Sửu, Mão, Tị, Mùi, Dậu, Hợi là cung Âm.
Mỗi người lại sẵn có mạng Âm hay Dương. Sinh các năm Tí, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất là mạng Dương. Sinh các năm Sửu, Mão, Tị, Mùi, Dậu, Hợi là mạng Âm.
Mạng Dương, cung Mạng đóng ở cung Dương là tốt. Mạng Âm, cung Mạng đóng ở cung Âm là tốt. Thí dụ: người tuổi Kỷ Mùi, mạng Âm, cung Mạng tại Sửu là cung Âm, là tốt.
Trái lại, mạng Dương mà cung Mạng đóng tại Âm, hoặc mạng Âm mà cung Mạng đóng tại Dương, là yếu tố bị giảm kém.
Yếu tố về các chính tinh thủ Mệnh.
Trừ những số Mệnh vô chính diệu (tức là cung Mệnh không có chính tinh tọa thủ), còn lá số nào cũng có 1 hoặc 2 chính tinh thủ Mệnh.
Chính tinh thủ Mệnh phải là chính tinh tốt, nghĩa là đạt hai yếu tố:
1- Vừa là chính tinh ở đất tốt (miếu địa, đắc địa). Không phải là ở hãm địa. Có ở miếu địa hay đắc địa thì mới có tất cả ảnh hưởng tốt. Chính tinh bị hãm địa thì lại có những tính chất xấu. Còn chính tinh cũng có thể ở đất không ảnh hưởng, thì chẳng có ảnh hưởng gì, chẳng tốt cũng chẳng xấu, y như ông Cò về hưu trí (theo ngôn từ của cụ Hoàng Hạc).
2- Vừa là chính tinh hợp với Mệnh, tức là sinh được Mệnh chứ không phải là khắc Mệnh. Nên hiểu rằng mỗi chính tinh mang một tánh chất theo Hành (sao Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ). Hành của sao phải sinh Hành của Mệnh là tốt. Nếu Hành của sao khắc Hành của Mệnh, là xấu.
Nếu Hành của Mệnh, ngược lại sinh Hành của chính tinh, là Mệnh bị tiết chế, đã chẳng những không được hưởng gì của chính tinh, còn bị xấu.
Phải có đủ tánh chất của các chính tinh rồi tùy theo các cách trên mà xét, rồi “chấm son” vào các chính tinh đó. Chấm son thì phải chấm cho thật đúng, sự giải đoán mới có thể đúng. Trong kỳ sau, chúng tôi sẽ lập thành một bảng các chính tinh với tất cả tánh chất và với miếu địa, hãm địa để các bạn sử dụng.
Theo tạp chí Khoa Học Huyền Bí
Sao Vũ khúc tại cung Mão, Dậu, cung Mệnh là sao Tử vi nhập miếu và sao Phá quân thế vượng, chủ có đặc điểm những năm trẻ tuổi thì tự phụ quật cường, không nghe theo những lời nói thật, tự cho mình là đúng, trung niên và cuối đời thì thay đổi hoàn toàn, thận trọng hay suy nghĩ, bình tĩnh, nhìn xa trông rộng và quyết đoán, thiết thực, chịu vất vả. Mặc dù không tránh khỏi vất vả khó nhọc nhưng lao động có thu hoạch. Thế nên mới nói tuổi này tiền tài thăng trầm, dễ phát tài cực thịnh nhưng cũng phá tài cực nhiều
Sao Vũ khúc tại cung Mão, Dậu là thế lợi tất có sao Thất sát thế vượng cùng tọa thủ, sao Thiên phủ tại cung Phúc đức triều chiếu (cung Dậu là thê vượng, cung Mão là thế địa). Cung Mệnh là sao Tử vi nhập miếu và sao Phá quân thế vượng, cung Quan lộc là sao Liêm trinh, Tham lang rơi vào thế hãm; cung Điền trạch là sao Thái âm (cung Tuất là thế vượng, cung Thìn là rơi vào thế hãm), cung Thiên di là sao Thiên tướng (cung Sửu là nhập miếu, cung Tý là thế địa).
Sao Vũ khúc mạnh mẽ quyết đoán, bảo thủ chín chắn, điềm tĩnh, vững vàng. Sao Thất sát dứt khoát dũng mãnh, hào phóng hấp tấp, thích hoạt động có thể thành công. Hai sao cùng tọa thủ cung Tài bạch, thẳng thắn, có thành tích, bảo thủ, mục tiêu và tầm nhìn xa, có thể đảm đương trọng trách.
Tài vận không tồi, giỏi việc quản lý tiền nong, kiếm tiền nhiều, tiêu tiền nhanh, hành động mang tính tùy tiện, thích đầu cơ mạo hiểm, tự mình lập nghiệp, làm theo ý mình, công việc trong cuộc đời thay đổi nhiều, tiền tài thăng trầm lớn, có lúc gặp trắc trở nhiều, dễ phát tài cực thịnh, phá tài cực nhiều. Những năm trẻ tuổi thì tiền đến rồi lại đi, trung niên và cuối đời thì có thể lập nghiệp từ hai bàn tay trắng, thành tích tốt.
Khi sao Vũ khúc tại cung Mão tọa cung Tài bạch, sao Thái âm tại cung Tuất tọa cung Điền trạch, là thế vượng, sao Thái dương thế vượng ở cung đối diện chiếu vào là mệnh cách Nhật nguyệt chiếu bích, tài vận thông thuận, vận bất động sản tốt, gia nghiệp phong phú.
Tử vi đế tinh gặp Phá quân điện tiền tướng quân, những năm trẻ tuổi thì tự phụ quật cường, không nghe theo những lời nói thật, tự cho mình là đúng, trung niên và cuối đời thì thay đổi hoàn toàn, thận trọng hay suy nghĩ, bình tĩnh, nhìn xa trông rộng và quyết đoán, thiết thực, chịu vất vả. Mặc dù không tránh khỏi vất vả khó nhọc nhưng lao động có thu hoạch.
Sao Thiên phủ tọa cung Phúc đức, tấm lòng lương thiện, hài lòng với hiện tại, thu nhập không tồi, sống hưởng thụ, về tiền tài cần tránh dính líu đến bạn bè. Sao Thái âm tọa cung Điền trạch, nhà ở thường thích trang nhã thanh tịnh, thích nơi điền viên sơn lâm hoặc đặt những cây cối hoa cỏ. Cung Tuất sao Thái âm thế vượng tọa cung Điền trạch, sao Thái dương thế vượng tại cung đối diện chiếu vào, là mệnh cách Nhật nguyệt chiếu bích, tài vận thông thuận, vận bất động sản tốt, nên đề phòng đào hoa kiếp.
Sao Thái âm tọa cung Điền trạch, nhà ở thường thích trang nhã thanh tịnh, thích nơi điền viên sơn lâm hoặc đặt những cây cối hoa cỏ. Cung Tuất sao Thái âm thế vượng tọa cung Điền trạch, sao Thái dương thế vượng tịa cung đối diện chiếu vào, là mệnh cách Nhật nguyệt chiếu bích, tài vận thông thuận, vận bất động sản tốt, nên đề phòng đào hoa kiếp.
Sao Liêm trinh, Tham lang cùng tọa thủ cung Quan lộc, làm việc chăm chỉ, có biểu hiện tốt, giỏi việc giao tiếp xã giao, không thích công việc ràng buộc khuôn phép.
Sao Thiên tướng tọa cung Thiên di, quan hệ xã giao mạnh tốt nhân duyên tốt, xuất ngoại có quý nhân phù trợ, vui khi giúp đỡ người khác, được người khác hoan nghênh, được đánh giá tốt.
1) Khoa Tử – Vi bị Âm Dương hóa và Ngũ hành hóa
a) Về tuổi có tuổi Âm, tuổi Dương. Vì tuổi gồm 2 yếu tố Can và Chi, nên Can, Chi cũng bị Âm Dương hóa. Chẳng hạn như:
- Dương gồm 5 can: Giáp, Bính, Mậu, Danh, Nhâm, và 6 chi Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất.
- Âm gồm có 5 can: Ất, Đinh, Kỷ, Tây, Quý, và 6 chi: Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi.
Mỗi tuổi có một hành riêng như Giáp Tý, Ất Sửu thuộc hành Kim, Bính Dần, Đinh Mão thuộc hành Hỏa v.v…
b) Ngày, tháng, giờ cũng có can, chi riêng. Ví dụ sinh vào ngày 8 tháng 8 giờ Dần thì là ngày Tân Sửu, tháng Mậu Thân, giờ Canh Dần. Như vậy, ngày sinh này cũng có cả Âm Dương Ngũ Hành pha trộn nhau.
c) Cục cũng có hành riêng. Vì mỗi hành trấn ngự một số cung và theo một phương hướng riêng, nên hành của cục cũng bị qui tắc ngũ hành chi phối.
d) Mệnh của mỗi người đóng một cung được Âm Dương hóa. Ví dụ ở cung Dần là Dương, Mão là Âm, cả 2 thuộc Mộc.
e) Chính tinh và Trợ tinh, mỗi sao có một hành riêng. Ví dụ cung Mệnh ở Dần (Dương Mộc) có Liêm Trinh (Hỏa) tọa thủ thì sẽ gặp sự chi phố của cung Dương Mộc đối với sao Hỏa này.
2) Tương quan quá ư phức tạp giữa các đối tượng của hệ thống Âm Dương Ngũ Hành
Sự kiện năm tháng ngày giờ, can, chi, mệnh, cục, chính tinh, phụ tinh và các cung bị Âm Dương và Ngũ hành chi phối đồng loạt đã gây lên một hệ thống tương quan phức tạp giữa các đối tượng. Điều này làm cho người giải đoán Tử – Vi lâm vào một mê hồn trận hầu như không có lối thoát.
Thật vậy, người ta thấy ít nhất phải có sự cân nhắc giữa các chiều hướng chi phối sau:
- Sự chi phối giữa Bản Mệnh và Cục về mặt ngũ hành.
- Sự chi phối giữa tuổi Dương, tuổi Âm đối với Mệnh ở Dương hay Âm cung.
- Sự chi phối giữa cung an Mệnh với chính tinh thủ Mệnh. Trong trường hợp chính tinh thủ Mệnh có 2 ngôi khác hành nhau, sự chi phối càng thêm phức tạp.
- Sự chi phố giữa chính tinh thủ mệnh và hành của Bản Mệnh.
- Sự chi phối giữa chính tinh và phụ tinh thủ Mệnh với hành của cung an Mệnh.
Đó là chưa kể các sự chi phối của cung Phúc Đức. Cung này được xem như rất quan trọng vì có hiệu lực chi phối trên 2 cung khác.
Nếu phải quan tâm cân nhắc tất cả các mối liên hệ chằng chịt đó, sự luận đoán chắc chắn sẽ rơi vào chỗ võ đoán, vì không có một nguyên tắc nào ưu thắng: tất cả đều có tầm quan trọng hầu như ngang nhau. Mỗi yếu tố chi phối là hàm số của yếu tố khác. Thành thử, ta có một hệ thống hàm số vô cùng phức tạp đến nỗi khó lòng tìm được một phương trình chung. Điều này làm cho khoa Tử – Vi tối nghĩa, khó hiểu, làm giảm đi giá trị của môn học này. Cho đến nay, chưa thấy sách vở nào khai phá được phương trình hàm số bách biến đó. Nếu chỉ tìm được một phương trình tổng quát thì sự luận đoán không cụ thể, làm giảm giá trị khoa bói toán.
Tuy nhiên, dù không tìm được phương trình bách biến đó, ta vẫn có thể suy diễn được vài nguyên tắc căn bản hướng dẫn việc luận đoán.
a) Quan trọng nhất là qui luật Âm Dương
Theo đúng lý thuyết thì 2 khí Âm Dương là động cơ nguyên thủy phát sinh ra 4 mùa và 5 hành. Luật biến hóa của Âm Dương thế thất phải quan trọng hơn luật biến hóa của ngũ hành. Nói khác đi, luật biến hóa của ngũ hành là luật nhỏ, bị đóng khung trong qui luật Âm Dương. Điểm này có nhiều hệ luận trong khoa Tử – Vi.
- Mệnh ai tương hợp với luật Âm Dương thì lợi lộc hơn. Chẳng hạn con trai có tuổi Dương, mệnh đóng ở cung Dương, sinh vào ban ngày (thời gian ảnh hưởng của Thái Dương), được các dương tinh tọa thủ, sẽ có nhiều tương hợp thuận lý, lợi cho lá số.
- Hai sao Thái Âm và Thái Dương càng sáng sủa thì càng đắc cách. Thái Dương biểu tượng cho bên nội, cho cha, cho chồng, Thái Âm biểu tượng cho bên ngoại, cho mẹ, cho vợ. Hai sao Nhật Nguyệt mà sáng sủa thì nguyên lý Âm Dương tương thuận: đương số sẽ ảnh hưởng được dương phúc và âm phúc của 2 giòng họ, của cha và mẹ, của vợ và chồng, chưa kể ảnh hưởng tốt đẹp đến con trai, con gái. Như vậy, tác dụng của Âm Dương có tính cách di truyền khá mạnh và khá rộng. Vì vậy, quan niệm người xưa cho rằng qui tắc Âm Dương mà thuận lợi thì nhân sinh quan của đương số sẽ hương vượng. Như thế, ý niệm phúc đức nhân sinh liên hệ chặt chẽ với ý niệm tương thuận của nguyên lý Âm Dương của vũ trụ. Nhân sinh quan và vũ trụ quan liên đới mật thiết với nhau. Phần phúc đức của con người gắn liền với sự tương hợp của yếu tố Âm Dương trong vũ trụ. Có lẽ hàm số hạnh phúc nhân loại tùy thuộc vào biến số hợp vị của nguyên lý vũ trụ này.
b) Qui luật ngũ hành quan trọng nhì
Ngũ Hành là hậu quả của sự tác hóa Âm Dương, giống như cái ngọn phát sinh từ cái gốc. Do đó, qui luật ngũ hành tất phải kém quan trọng hơn qui luật Âm Dương.
Sự đi đôi của Âm Dương và Ngũ Hành được thể hiện trong hầu hết các sao, nhất là chính tinh. Ví dụ như Thái Dương là Dương tinh thuộc hành Hỏa, Phá quân là Âm tinh thuộc hành thủy, Văn Xương là Dương tinh hành Kim.
Nhưng, có một số lớn phụ tinh có ngũ hành mà lại thiếu Âm Dương. Ví dụ như Địa không, Địa kiếp không có Âm Dương mà chỉ có hành Hỏa. Chưa có tác giả nào cắt nghĩa được sự thiếu sót này. Chính sự thiếu sót này đã mâu thuẫn với lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành song đôi. Thật vậy, Ngũ Hành không tự sinh mà phải thoát thai từ Âm Dương, cho nên Ngũ Hành là phải có Âm Dương đi kèm. Không hiểu tại sao Trần Đoàn lại bỏ sót việc Âm Dương hóa một phụ tinh. Phải chăng, các tác giả hậu sinh đã bỏ sót?
Dù sao sự thiếu sót đó làm cho lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành chưa được hoàn bị. Vấn đề đặt ra là, về mặt thực dụng, sự thiếu sót đó có di lụy nào cho việc giải đoán?
Trước hết, ta thiếu yếu tố để cân nhắc tinh vi.
Thứ đến mà ta không đối chiếu được 2 loại sao có và không có Âm Dương tinh. Chung cuộc chỉ còn các xét các sao về mặt ngũ hành mà thôi, tức là phải bỏ gốc xét ngọn, dù biết đó là một thiếu sót.
Riêng về mặt ngũ hành, qui tắc chi phối giữa các sao vẫn là qui tắc lý thuyết. Qui tắc này gồm 5 điểm:
- Hai Hành kế tiếp nhau thì tương sinh.
Thứ tự kế tiếp là Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy. Như vậy, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy và Thủy sinh Mộc.
- Hai hành đứng cách nhau một hành thì tương khắc.
Như thế Mộc khắc Thổ, Hỏa khắc Kim, Thổ khắc Thủy, Kim khắc Mộc.
- Sự tương sinh hay tương khắc chỉ theo một chiều.*
Cụ thể là Mộc sinh Hỏa chớ hỏa không sinh Mộc, Kim khắc Mộc chứ Mộc chẳng khắc được Kim. Không khắc được dĩ nhiên không có nghĩa là sinh. Trong việc sinh khắc, co một hành tích cực (sinh, khắc) và một hành tiêu cực (được sinh, bị khắc).
- Hành sinh tiêu cực được lợi hơn
Mộc sinh Hỏa thì Hỏa được phù trợ, trong khi Mộc bị hao tán.
- Hành khắc tích cực ưu thế hơn
Kim khắc Mộc vị tất Kim phải ưu thắng, Mộc bị thiệt.
Nói theo nhãn quan Tử – Vi thì ngũ hành các sao càng tương sinh nhiều thì càng lợi cho người đó. Ngược lại, nếu có nhiều tương khắc thì càng bất lợi.
c) Tương thuận, tương nghịch giữa Âm Dương và Ngũ Hành
Qui luật sinh khắc giữa các sao về Âm Dương Ngũ Hành rất phức tạp. Càng có nhiều sao can dự, càng rắc rối. Sự sinh khắc qua lại giữa nhiều sao chắc chắn đưa đến một mê hồn trận cho người giải đoán, nhất là khi chúng ta chưa tìm được công thức phức tạp về sinh khắc.
Đây là một sự phức tạp cố hữu, không thể giản lược. Mọi nỗ lực giản dị hóa đều bao hàm nhiều sai số. Cho nên, tuy ta không tìm được công thức sinh khắc chung, chúng ta cũng sẽ không thể giản dị hóa qui luật sinh khắc. Nhưng, có thể có 4 trường hợp sinh khắc tổng quát, giản dị nhất giữa 2 sao, về mặt Âm Dương lẫn Ngũ Hành. Đó là các trường hợp:
- Thuận Âm Dương, thuận Ngũ Hành.
- Nghịch Âm Dương, nghịch Ngũ Hành.
- Thuận Âm Dương, nghịch Ngũ Hành.
- Nghịch Âm Dương, thuận Ngũ Hành.
Nếu chỉ căn cứ vào đó mà đánh giá hay dở, thì trường hợp đầu tiên là lý tưởng nhất. Hai trường hợp sau lợi hại tương đương. Nhưng tác giả cho rằng trường hợp thứ 3 (thuận Âm Dương, nghịch Ngũ Hành) tương đối tốt hơn trường hợp chót. Dự đánh giá đó căn cứ vào thứ tự ưu tiên chi phối của Âm Dương trên ưu tiên chi phối của Ngũ Hành.
Tác giả không tìm được công thức cho 3 sao trở lên.
d) Ngũ hành của chính tinh với phụ tinh
Tử – Vi học chi thành chính tinh và phụ tinh. Tính chất chính hay phụ, tự nó quyết định thứ tự quan trọng rồi: chính tinh phải xem như quan trọng hơn phụ tinh.
Vì vậy, về mặt ngũ hành, theo thiển ý hành của chính tinh phải trội yếu hơn hành của phụ tinh. Trong trường hợp có tương khắc, phải đánh giá sự hay dở theo thứ tự quan trọng đó.
Nếu 1 phụ tinh khắc hành với chính tinh, sự khắc chế này không quan trọng lắm. Nhưng, nếu 1 trong cung có quá nhiều phụ tinh khắc hành với chính tinh, thì chính diệu này bị nghịch cảnh lớn. Rất khó xác định số lượng phụ tinh trong trường hợp này.
e) Ngũ hành của các cung và sao
Cung là môi trường sinh trưởng của sao. Vì vậy, hành của cung ảnh hưởng trực tiếp đến hành của sao. Theo thiển ý, hành cung quan trọng hơn hành sao, vì làm cho hành sao tăng hay giảm giá trị. Chẳng hạn sao Hỏa đóng ở cung Thủy sẽ mất nhiều tác dụng. Ngược lại, sao Hỏa đóng cung Mộc sẽ thịnh hơn. Giữa cung và sao chỉ có tác dụng bị ảnh hưởng: không có sự chi phối ngược lại.
Nếu đi tìm một hình ảnh, thì cung ví như đất, sao ví như cây cối. Đất xấu làm cây xấy, đất tốt sinh cây tốt.
Vì vậy, hành của cung rất quan trọng và quan trọng hơn hành sao vì chi phối vào hành sao theo một chiều nhất định. Việc luận đoán Tử – Vi không nên bỏ qua yếu tố này.
Ngũ hành của cung được quy định như sau:
- Cung Mộc ở 2 ô Dần và Mão.
- Cung Hỏa ở 2 ô Tỵ và Ngọ.
- Cung Kim ở 2 ô Thân và Dậu.
- Cung Thủy ở 2 ô Hợi và Tý.
- Cung Thổ ở 4 ô Thìn, Tuất, Sửu và Mùi.
Chỉ riêng Thổ chiếm đến 4 cung và xen kẽ với các cung khác Hành.
f) Vị trí quan trọng của cung hành Thổ
Trong khi mỗi hành Mộc, Hỏa, Kim, Thủy, Thổ chiếm 2 cung liền nhau thì hành Thổ chiếm 4 cung, mà vị trí ở xen kẽ 2 cung khác hành.
Sự bố trí này dường như bắt nguồn từ quan niệm cho rằng đất ở rải rắc khắp nơi và chứa đựng 4 nguyên hành khác. Theo Đổng Trọng Thư thì “Thổ ở giữa gọi là Thiên nhuận. Thổ là chân tay của Trời, đức là Thổ tươi tốt không thể dựa vào công việc riêng của một mùa mà mệnh danh cho Thổ được: cho nên có ngũ hành mà chỉ có Tứ Thời là vì Thổ kiêm cả Từ Thời”.
Bốn cung Thổ được gọi là 4 cung Mộ (hay Tứ Mô hoặc Tứ Quí) đệm ở giữa 2 hành tương sinh. Theo Nguyễn Mạnh Bào thì trong khoảng 2 hành sinh nhau lại có Tứ Quí thuộc Thổ, tức con đệm ở trong để dung hòa đều đặn, tránh những gì quá sức động mà có hại cho sự sinh tồn”.
Có tác giả dựa vào đó mà cho rằng người nào cung Mệnh an tại Tứ mộ là có thiên phước, được dành cho chỗ vừa ý, lại có tính đảm đang, thích ứng được với nhiều hoàn cảnh. Tuy nhiên, nhận định hãy còn nhiều phiến diện và tổng quát, chưa hẳn có giá trị quyết định.
g) Tương quan giữa Mệnh, chính tinh thú Mệnh và cung an Mệnh
Trên mặt ngũ hành phải đặc biệt quan tâm đến tương quan giữa 3 yếu tố quan trọng của lá số là Bản Mệnh, chính tinh thủ mệnh và cung an Mệnh. Trong 3 yếu tố này, Bản Mệnh bao giờ cũng quan trọng hơn hết.
Nếu Bản Mệnh được hưởng sự phù sinh càng nhiều thì càng đắc lợi. Qui tắc phù sinh lý tưởng nhất là:
Cung an Mệnh sinh được chính tinh thủ Mệnh, chính tinh thủ Mệnh lại sinh được Bản Mệnh. Ví dụ như cung Mệnh an tại Mão thuộc Mộc, có Thái Dương thuộc Hỏa tọa thủ, Bản Mệnh lại thuộc Thổ. Nhờ vậy, Thổ mệnh được phù sinh ở 2 hệ cấp: cung an Mệnh phù sinh chính tinh, rồi chính tinh phù sinh Bản Mệnh.
Nếu có 1 tương khắc thì kém tốt, nếu có đến 2 cấp khắc thì xấu cho Bản Mệnh. Ngoài ra, nếu Bản Mệnh sinh chính tinh hay khắc chính tinh, hoặc khắc cung an Mệnh thì bất lợi cho Mệnh.
h) Tương quan giữa Bản Mệnh và Cục
Như đã trình bày Mệnh phải được Cục phù sinh thì mới tốt, bằng không, nếu Mệnh sinh Cục, nhất là Cục khắc Mệnh thì xấu, cần được cứu gỡ lại bằng Phúc tốt mới quân bình được.
Tóm lại, về ngũ hành trong Tử – Vi, một hàm số Bản Mệnh chỉ tốt khi gặp nhiều tương thuận về Âm Dương Ngũ Hành. Càng có nhiều trục trặc, độ số tốt càng giảm đi.
i) Ngũ hành của 10 can và 12 chi
Tuổi hay năm sinh của người Đông Phương được xem như sự kết hợp giữa 2 yếu tố can và chi.
Có tất cả 10 can: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quí.
Có tất cả 12 chi: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.
Như đã trình bày 10 can và 12 chi cũng bị âm dương hóa và ngũ hành hóa.
Về can, thì sự phân định Âm Dương và Ngũ Hành như sau:
Vậy, trên mặt Âm Dương Ngũ Hành của can, có sự tế phân chi tiết rõ rệt. Có tuổi Dương Mộc, có tuổi Âm Mộc, cũng có tuổi Dương Thủy và Âm Thủy. Có tác giả căn cứ vào đó mà tìm thêm ý nghĩa uẩn khúc của can trong tuổi. Chẳng hạn như cho rằng tuổi Bính là Dương Hỏa thì người tính nóng như lửa, dễ giận, dễ nguội… Nhưng, thiết tưởng lối suy diễn này chỉ vì căn cứ trên 1 yếu tố duy nhất nên ít giá trị.
Về 12 chi, ngoài sự phân định Âm Dương, Ngũ Hành khoa Tử – Vi còn định cung và định hướng, cũng như cho cả màu sắc tương ứng với ngũ hành đồng thời vị trí hóa trong hệ đồ bát quái.
Sự phân định trên đây rất đầy đủ. Nhưng, đáng tiếc là khoa Tử – Vi không nêu rõ qui tắc chi phối tinh vi đối với hàm số Âm Dương Ngũ Hành phúc tạp của Can Chi. Ví dụ người tuổi Giáp (Dương Hỏa), Tý (Dương Thủy) sẽ có vận số như thế nào căn cứ trên sự kết hợp Dương Hỏa với Dương Thủy? Tác dụng của việc định hướng ra sao đối với vận số? Quẻ Khảm có nghĩa gì đối với đương sự?
Đó là những ẩn số và những mâu thuẫn chưa có giải đáp. Trên bảng này chỉ có phương hướng là có ít nhiều tác dụng cắt nghĩa được. Như sao Thái Dung sẽ thuận vị ở các cung hướng Đông, sao Nam Đẩu lợi địa ở cung hướng Nam, Bắc đẩu ở hướng Bắc.
Phong (峰): Ngũ hành thuộc Thổ; chỉ đỉnh núi cao lớn và nhọn; còn có hàm nghĩa chỉ cảnh giới tối cao. Dùng làm tên người biểu đạt hy vọng bé yêu sau này trở thành nhân tài tuấn kiệt.
Đại (岱): Ngũ hành thuộc Thổ; là tên gọi khác của núi Thái Sơn, tượng trưng cho sự vững bền, vững như Thái Sơn.
Ý (懿): Ngũ hành thuộc Thổ; Chỉ sự thiện lương, kiệt xuất, hòa nhã.
Kính (敬): Ngũ hành thuộc Thổ; chỉ người có đạo đức, nhân từ.
Viễn (远): Ngũ hành thuộc Thổ; chỉ cự ly xa.
Văn (文): Ngũ hành thuộc Thủy; chỉ văn minh, văn hóa; dùng làm thên người chỉ sự thông minh; là tên thường dùng khi chọn theo hành Thủy.
Giang (江): Ngũ hành thuộc Thủy; nghĩa là sông.
Lan (澜): Ngũ hành thuộc Thủy; nghĩa là sóng lớn.
Thông (聪): Ngũ hành thuộc Thủy; Dùng làm tên người chỉ sự thông tuệ, nhanh nhẹn trong tư duy.
Duệ(睿): Ngũ hành thuộc Thủy; Dùng làm tên người chỉ sự thông tuệ, sáng suốt.
Huệ (惠): Ngũ hành thuộc Thủy; Dùng làm tên người có ý nghĩa nhân ái, khoan dung.
Hàm (涵): Ngũ hành thuộc Thủy, chỉ sự bao dung.
Trí (智): Ngũ hành thuộc Hỏa; Dùng làm tên người chỉ sự thông minh, trí tuệ, kiến thức.
![]() |
| Chữ Minh chỉ sự sáng rõ, thanh sạch |
Minh (明): Ngũ hành thuộc Hỏa; Dùng làm tên người chỉ sự sáng rõ, thanh sạch.
Ngữ (语): Ngũ hành thuộc Hỏa; Dùng làm tên người chỉ sự đám luận, biện luận.
Mẫn (敏): Ngũ hành thuộc Hỏa; Dùng chỉ sự linh hoạt, nhanh chóng, thông minh, trí tuệ
Đạt (达): Ngũ hành thuộc Hỏa; Nghĩa cơ bản chỉ sự đạt đến còn có nghĩa chỉ sự đắc chí, hiển quý.
Chương (章): Ngũ hành thuộc Hỏa; Dùng làm tên người chỉ nhân tài.
Phi (飞): Ngũ hành thuộc Hỏa; Dùng làm tên người chỉ sự hy vọng về tài năng, phát triển thành công.
Đằng (腾): Ngũ hành thuộc Hỏa; chỉ sự bay nhảy, lên cao.
Vân (云): Ngũ hành thuộc Hỏa; chỉ đám mây.
Tài (才): Ngũ hành thuộc Mộc; chỉ tài năng.
Hiền (贤): Ngũ hành thuộc Mộc; ý chỉ người có tài có đức.
Cung (恭): Ngũ hành thuộc Mộc; Chỉ sự cung kính, có lễ độ.
Gia (嘉): Ngũ hành thuộc Mộc; chỉ sự tốt đẹp, hạnh phúc.
Tinh (精): Ngũ hành thuộc Mộc; chỉ sự tinh tế, chuyên tâm, thông minh, thanh sạch.
Thư (书) Ngũ hành thuộc Kim; Dùng làm tên người chỉ sách bút, ghi chép.
Theo Qiming
Không chỉ là nơi phơi quần áo, lấy thoáng cho căn hộ, ban công còn là nơi bạn có thể đặt một vài chậu cây cảnh để làm tăng thêm màu xanh tươi mát cho căn nhà.
Hơn nữa, trồng hoa ở ban công còn liên quan đến phong thủy. Dưới đây là những lưu ý khi trồng hoa ở ban công:
Ban công hướng về phía nam: Đón được nhiều ánh sáng, thích hợp trồng các loại hoa cỏ thích được ánh sáng chiếu thẳng vào như: tía tô cảnh(hay còn gọi cây lá gấm, thái diệp thảo), vạn tuế, chuối hoa, hoa hướng dương,… Tùy nhu cầu ánh sáng của mỗi loài hoa, có thể trồng những loài hoa phù hợp với mỗi mùa. Ví dụ, mùa xuân và mùa thu khí hậu mát mẻ, dễ chịu, nên phần lớn các loại hoa đều rất dễ trồng, dễ chăm. Mùa hè nóng bức cần che nắng cho cây, cũng có thể trồng những loại cây không sợ nóng như: cây hoa giấy, hoa súng, sen, mào gà, hoa hướng dương, cúc vạn thọ,… Mùa đông, có thể trồng lan quân tử.

Ban công hướng về phía tây: Thường có nhiệt độ khá cao, có nhiều ánh nắng vào buổi chiều, nên rất phù hợp trồng hoa vào mùa đông. Còn mùa hè thích hợp với các loại cây ưa ánh sáng, chịu được nhiệt độ cao.
Ban công hướng về phía đông: Thường có nhiều ánh sáng vào buổi sáng, thích hợp trồng những loại cây sợ ánh sáng mạnh như: cây phát tài, thiết mộc lan, trúc mây,…
Ban công ở phía bắc: Không bị ánh sáng mạnh chiếu rọi trong cả bốn mùa, nên chỉ thích hợp trồng những loại cây ưa bóng râm, mát như: trầu bà, thường xuân, nhất diệp lan,…
Những điều kiêng kỵ và cần tránh khi trồng, trang trí hoa ở ban công:
Không nên trồng loại hoa có mùi hương thơm nồng hoặc kích thích khứu giác như: hoa hồng, bách hợp, dạ lai hương,… Vì mùi hương quá nồng sẽ bay vào phòng, nếu diện tích ban công nhỏ hẹp, kín sẽ càng kích thích, làm hưng phấn thần kinh. Nếu hít phải quá nhiều có thể gây mất ngủ. Khí phát ra từ cây trạng nguyên, vạn niên thanh không tốt cho sức khỏe; những hạt nhỏ li ti của hoa tú cầu có thể gây ngứa da, dị ứng,…
Không nên trồng, đặt quá nhiều hoa ở ban công. Ban đêm, rất nhiều loài hoa nhả ra khí CO2, tranh khí O2 của con người. Nếu chất kín các chậu hoa ở ban công, không khí bên ngoài cũng khó lưu thông vào phòng. Nếu trong phòng cũng có nhiều chậu hoa, sẽ làm giảm mật độ không khí trong phòng vào ban dêm, gây ảnh hưởng đến chất lượng không khí trong phòng, khiến căn phòng trở nên ngột ngạt, người ngủ trong căn phòng đó dễ gặp ác mộng.
Không nên trồng những loài hoa có độc như: trúc đào, đỗ quyên, thủy tiên, thiên điểu, hồng môn,… dù bạn có thấy chúng đẹp thế nào đi nữa.
Hoa vươn hẳn ra ngoài, cần phải chú ý đề phòng gió to hoặc vô ý làm đổ, làm rơi chậu hoa xuống đất, vì rất có thể sẽ rơi trúng người đi đường. Khi tưới hoa cần chú ý không nên tưới nhiều, tránh để nước rỏ xuống đất gây bẩn nền nhà hoặc rớt vào quần áo, đặc biệt không để nước bẩn rớt xuống nhà hàng xóm ở tầng dưới.
Chùa Bà Thiên Hậu còn được gọi là chùa Bà Chợ Lớn, tên chữ Hán là Thiên Hậu miếu, người Hoa gọi là Phò Miếu (tức miếu Đức Bà). Chùa tọa lạc tại số 710 đường Nguyễn Trãi, quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh. Do bên cạnh chùa có Tuệ Thành Hội quán là nơi quy tụ của nhóm người Hoa Quảng Đông, nên chùa còn được gọi Tuệ Thành Hội quán. Đây là một trong những ngôi chùa cổ nhất của người Hoa đã gây dựng trên đất Đề Ngạn xưa. Chùa Bà được công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia ngày 7 tháng 1 năm 1993.
Chùa Bà Thiên Hậu được nhóm người Hoa gốc Tuệ Thành (tức Quảng Châu thuộc tỉnh Quảng Đông) di dân sang Việt Nam góp vốn và góp công xây dựng vào khoảng năm 1760 và được trùng tu nhiều lần. Chùa nằm trong khu trung tâm của những người Hoa đầu tiên đến tạo lập nên Chợ Lớn sau này.
Chùa xây theo hình ấn, là kiểu kiến trúc đặc trưng của người Hoa, đây là tổ hợp 4 ngôi nhà liên kết nhau tạo thành mặt bằng giống hình chữ “khẩu” hoặc chữ “quốc”. Ba dãy nhà ở giữa tạo thành tiền điện, trung điện và hậu điện. Giữa các dãy nhà này có một khoảng trống gọi là thiên tỉnh (giếng trời), giúp không gian chùa thoáng đãng, đủ ánh sáng cho hậu cung và có chỗ thoát khói hương.
Trang trí ở các điện là hình hoa lá, chim thú và hoành phi, câu đối, biển tự thường là màu đỏ, vàng tạo sự ấm áp, tin tưởng. Chùa còn có các bức tranh đắp nổi liên hoàn, các con vật thuộc “tứ linh”. Chùa có gắn các tượng tròn, phù điêu bằng gốm dày đặc từ trên nóc chùa, mái, hiên chùa cho đến các bàn thờ, vách tường… do 2 lò gốm Bửu Nguyên và Đồng Hòa sản xuất vào năm 1908.
Tiền điện là hai trang thờ hai bên: Phúc Đức Chánh thần (phải) và Môn Quan Vương Tả (trái). Tại đây có bia đá ghi truyền thuyết về Thiên Hậu Thánh Mẫu và các bức tranh lớn vẽ cảnh bà đang hiển linh trên sóng nước. Trung điện đặt bộ lư có năm món (ngũ sự) đúc năm Quang Tự thứ 12 (1886). Chính điện, được gọi là Thiên hậu Cung, gian giữa thờ Bà Thiên Hậu, hai bên thờ bà Kim Hoa Nương Nương (phía phải) và Long Mẫu Nương Nương (phía trái).
Pho tượng Bà Thiên Hậu tạc từ một khối gỗ nguyên cao 1m, có từ khá lâu, trước khi xây chùa, vốn được thờ ở Biên Hòa và đến năm 1836 mới di chuyển về đây. Hai pho tượng còn lại bằng cốt giấy sơn màu. Các pho tượng đều được khoác áo thêu lộng lẫy. Gian phụ nằm hai bên chính điện thờ Quan Thánh, Địa Tạng, Thần Tài.
Chính điện chùa còn 2 đại đồng chung niên hiệu Càn Long năm thứ 60 (1796) và Đạo Quang năm thứ 10 (1830). Trung điện có bộ lư phát lam lớn niên hiệu Quang Tự thứ 12 (1886). Trong tủ kính lớn ở chính điện là tượng Bát Tiên và tướng lịnh của D’Ariès vào năm 1860 cấm các binh sĩ Pháp và Y-Pha-Nho phá phách. Hai bên bộ lư là kiệu sơn son thiếp vàng, bằng gỗ tốt, dành rước Bà vào ngày vía Bà với chiếc thuyền rồng chạm hình nhân, rước theo cùng với kiệu Bà.
Ngoài ra, chùa còn khoảng 400 đồ cổ, trong đó có 7 pho tượng thần, 6 tượng đá, 9 bia đá, 2 chuông nhỏ, 4 lư hương đồng, 1 lư hương đá, 10 bức hoành phi, 23 câu đối và 41 tranh nổi… Tất cả những cổ vật này đều được chế tác rất công phu, tỉ mỉ với những đường nét tinh tế.
Chùa Bà Chợ Lớn hàng ngày vẫn đón tiếp những người đến cúng lễ khá đông. Nhưng đông hơn là vào các ngày mùng một và rằm hàng tháng, các ngày lễ Tết trong năm của người Hoa như Tết Nguyên đán, Tết Nguyên tiêu, Tết Đoan ngọ… Đặc biệt, ngày 28 Tết, chùa tiến hành lễ cúng Bà và Lễ khai ấn, cầu mong Bà phò trợ cho “Hộ quốc an dân” và “Hợp cảnh bình an”. Riêng ngày vía Bà (23 tháng 3 [âm lịch]) được xem là ngày hội chính của chùa.
Chùa Bà Thiên Hậu là một trong những ngôi chùa miếu, có lịch sử lâu đời nhất của người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh. Bên cạnh giá trị về nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, hiện vật cổ, nơi đây còn có một giá trị khác, đó không chỉ là nơi đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng mà còn là nơi qui tụ và tương trợ lẫn nhau của bà con người Việt gốc Hoa (Quảng Đông).
Khi hội tụ đủ bộ tứ sát lại đoán khác và gặp Địa Không Địa Kiếp lại đoán khác. Kình Dương hóa khí là “Hình”, Đà La hoá khí là “Kỵ”. Hình từ Kình Dương biểu hiện sự phá hoại lực, có thể gây ra thất bại, có thể gây ra thị phi sau khi đã thành công. Kỵ từ Đà La biểu hiện ngăn trở trì trệ, có thể tạo nên những khó khăn bất ngờ, có thể khiến cho đương sự vào mê hồn trận. Phá hoại lực của Kình Dương thường rõ ràng dễ nhận thấy. Ngăn trở trì trệ của Đà La thường ngấm ngầm quỷ quyệt.
Kình Dương phá hãm ví như một chân tiểu nhân. Đà La phá hãm ví như ngụy quân tử. Bởi vậy khi Kình Dương hội Hỏa Tinh gây thành sức mạnh phản kháng như cách “Mã đầu đới tiễn” nơi cung Ngọ, vượt qua những khó khăn gian tân mà đến với thành công.
Nhưng nếu Đà La hội với Hỏa Tinh lại thành ra thứ trở ngại không vượt được rồi thất bại. Hung họa đến từ Kình Đà xem như thế còn tùy thuộc vị trí chúng đứng và hội tụ với sao nào để mà tìm ra đầy đủ ý nghĩa.
Kình Dương là một tình trạng phát triển thái quá. Còn mang tên gọi khác là “dương nhẫn” đầu mũi gươm xung kích tiền phong. Kình Dương vào Mệnh làm việc xông xáo, không do dự, đã quyết thì làm. Sở đoản của Kình Dương là khó tiếp thụ ý kiến người khác, hiếu thắng, cao ngạo, ăn nói sắc nhọn dễ gây thù oán. Khuynh hướng cực đoan, tình cảm yêu với hận rõ ràng ân với oán phân minh.
Đà La ngược lại, làm việc âm thầm, gan góc, tiến chậm nhưng không ngừng tiến, không vội vã nhưng không phải không có phản ứng mau. Thường nuốt để bụng và cực kỳ cố chấp, khả năng nhẫn nại cao.
Đến đây ta hãy bàn về vị trí của sao Kình Dương. Kình Dương bao giờ cũng đứng trước Lộc Tồn gọi bằng Tiền Kình Hậu Đà. Không thể đặt ngược vị trí của nó thành Tiền đà Hậu Kình.
Như trên đã nói Dương nhẫn là một tình trạng phát triển cao độ. Giáp Lộc đóng Dần thì sự phát trểin cao độ của Giáp Mộc phải vào mộc cung là Mão. Bính Hỏa Lộc tại Tỵ thì tình trạng phát triển mạnh cũng phải ở nơi cung hỏa Dương nhẫn tất phải đóng Ngọ.
Ất mộc Lộc tại Mão thì dương nhẫn Thìn là thủy mộc khố. Đinh Kỷ Lộc ở Ngọ thì Dương nhẫn đóng Mùi hỏa khố. Tân kim Lộc tại Dậu thì Dương nhẫn đóng Tuất kim khố…
Sách Tinh Bình Hội Hải viết “Giáp Lộc đáo Dần, Mão vi Dương nhẫn, Ất Lộc đáo Mão, Thìn vi Dương nhẫn…” Lộc tiền nhất vi vi “Nhẫn” vi vạn vật chi lý giai ố cực thịnh. Lộc quá Nhẫn sinh công thành đương thoái, bật thoái tắc quá việt kỳ nhân (Nghĩa là trước Lộc Tồn một cung là Dương nhẫn bởi lẽ cái lý của vạn vật không thuận được với tình trạng thái qua, Lộc lên cực điểm thành hoại, công thành rồi hay từ tồn lại, cứ tiếp tục quá khích tất sẽ bại.
Ở số Tử Bình không có sao Đà La, nhưng Dương nhẫn rất quan trọng. Tử vi căn cứ vào lý luận trên, không cách gì mà đổi ra tiền Đà hậu Kình, đổi như vậy lý ngũ hành mất đất đứng.
Lấy trường hợp tuổi Bính Mậu có Đồng Âm tọa thủ tại Mệnh, Đồng Âm ấy được Kình Dương mới hay, nếu như lại sao Đà La nằm chềnh ềch ở đây thật khôi hài. Câu phú Thiên Đồng Thái Âm cư Ngọ vị, Bính Mậu trấn ngự biên cương. Phải tiền Kình tuổi Bính Mậu mới có Dương nhẫn tại Ngọ được.
Kình Dương đắc địa thủ Mệnh thân tài chắc chắn, xương lớn nhưng không lộ cốt. Kình Dương hãm thân tài gầy guộc xương lộ da như cam sành. Kình Dương hợp với các cung mộ (Thìn Tuất Sửu Mùi) vì mộ cung có khả năng thuần hóa được tính phát triển quá mức dủa sao này. Kình dương ở mộ tuy đắc địa nhưng vẫn phải có cuộc đời phiêu lưu bôn ba ly hương và xa cách người thân.
Kình Dương đóng vào tứ bại địa (Tí Ngọ Mão Dậu) nếu không kết hợp thành một cách riêng biệt như hội hợp với Đồng Âm, tính chất hình khắc nặng hơn, đáng ngại nhất là Dậu rồi đến Mão.
Riêng với nữ Mệnh có Kình Dương dù miếu địa cũng phải xem là “mỹ trung bất túc” vì nữ mệnh đều an định êm đềm trong đời là chủ yếu. Kình Dương gặp Nhật Nguyệt trai khắc vợ, gái khắc chồng. Kình Dương gặp Liêm Trinh Hỏa Tinh ắt có ám tật hoặc tứ chi bị thương.
Sách vở Trung Quốc có mấy câu đáng để ta suy ngẩm: Thiên Tứơng hãm phùng Dương Mẫn, nữ nhân thi lụy nghĩa là nam mạng Thiên Tướng đóng hãm địa gặp sao Kình Dương thường bị đàn bà làm khổ (vì tình mà khổ). Hồng Loan Dương Nhẫn vì tình đoạn trường nghĩa là số gái Hồng Loan gặp Kình Dương dễ đi vào cảnh buồn đoạn trường vì tình.
Đà La thủ Mệnh biểu hiện qua đôi mắt lớn, lồi, đắc địa ánh mắt từ tường, hãm ánh mắt mờ đục, răng dễ bị hư nếu vào hãm địa. Đà La đắc địa ở các cung mộ (Thìn Tuất Sửu Mùi) làm việc giỏi dắn, dám làm và thành công.
Đà La hãm nơi Dần Thân Tỵ Hợi tính giảo quyệt ưa phá hoại, cô đơn. Đà đắc địa tứ mộ can đảm thâm trầm, lắm mưu mô thủ đoạn.
Đà la gặp Riêu Cái Tuế ở Mệnh có tật nói ngọng, nóilắp. Đà hãm gặp Linh hỏa Không Kiếp Kỵ Hình, đau yếu tật nguyền dễ lâm vào cùng khốn.
Đà La Kình Dương hội Thất Sát thường gặp tai hoạ lớn. Đà gặp Thiên hình ở vận hạn đưa đến kiện tụng, ẩu đả. Đà gặp Hỏa ở vận hạn đau ốm. Đà gặp Thiên Mã tại Mệnh rất không ngoan nhưng cũng rất mưu mô.
Đà La Sửu Mùi tốt nhất, thứ đến Mùi, Thìn vượng địa, Tuất bình hòa. Đà La hội với Tham Lang dễ biến thành con người ham mê chơi bời rượu chè.
Đà La gặp Hỏa Tinh hay bị thương tật hoặc bệnh lâu không khỏi. Đà La Mệnh, Kình Dương Thân thì hình khắc dữ dội hơn nữa.
Đà La vào Tật ách có bệnh phổi, xuất huyết ở phổi, mặt có sẹo, tê thấp, bệnh ngứa làm lột da. Kình Đà vào cung Tật ách của số nữ phải để phòng bệnh bướu tử cung đưa đến giải phẩu.
Kình với Đà kể về mặt hung họa tác hại ngang nhau. Nhưng với Kình thì rõ rệt, mọi người có thể biết. Còn với Đà La thì ngấm ngầm ít ai hay. Đó là điểm khác biệt giữa Kình với Đà cũng như “Hỏa Minh Linh Ám” vậy.
Đà La đứng bên Tham Lang khi Tham Lang ở cách ‘phiếm thủy đào hoa” tức Tham Lang đóng Hợi có thể đưa đến tình trạng “mê hoa luyến tửu dĩ vong nhân” chết vì trác táng do nghèo hay bệnh.
Đà La đứng với Tham Lang ở Dần cách gọi bằng “phong lưu thái trượng” lại là con người hào hoa phong nhã dễ bị lừa gạt bởi đam mê, không trác táng. Cách “phiếm thủy đào hoa” với “phong lưu thái trượng” khác nhau như vậy.
Kình Đà có một cách nhất định gây họa hại, ấy là khi Lộc Tồn đứng với hóa Kị, đương nhiên Kình Đà hiệp Mệnh, cổ nhân gọi bằng cách Kình Đà hiệp Kị. Cách này đưa đến cái họa bần bệnh giao gia (vì bệnh tật mà nghèo túng, đã nghèo túng còn bệnh tật). Sao Lộc Tồn đứng với Hóa Kị như thế thật xấu.
Kình Đà cũng không hợp với Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang, Cự Môn, Vũ Khúc, nhưng Kình Đà mà hiệp sao Thiên Tướng hạm thì họa hại mạnh hơn hết. Cách Tham Hỏa là cách tốt nhưng có Đà Kình vào hỏng đi.
Cự Môn Kình Dương không hại lắm, hể có thêm Hỏa Tinh vào thì phiền. Nhưng Kình đắc địa đứng với Hỏa lại hay.
Ngoài ra không phải cứ thấy Kình Đà xuất hiện là tuyệt đối xấu. Kình Đà hung hiểm nhưng mặt khác nó cũng tạo nên điều cát lợi mạnh mẽ không kém.
Đà La đứng với sao Thái Âm tại Mệnh, số nữ tính dục cực vượng thịnh đến mức loại dâm bất kể Thái Âm đắc địa hay hãm địa. Trường hợp hãm thì loạn kèm theo tiện, trường hợp đắc sang trọng phong lưu.
Có một thuyết cho rằng Kình Dương tượng trưng bộ sinh thực khí của đàn ông và Đà La tượng trưng bộ sinh thực khí của đàn bà. Từ thuyết này mà Thái Âm Đà La mới loạn dâm, ý chí sức mạnh tình dục lên đến cực điểm. Cổ nhân không nhắc đến sự kiện Kình Dương gặp sao nào thì sức mạnh tình dục vượng, dĩ nhiên không phải là Thái Dương rồi.
Qua kinh nghiệm cho thấy Kình Đà vào Mệnh cung thường là con người thông minh. Kình Đà đi cùng Xương Khúc khiến cho cái chất văn của Xương Khúc tăng lên gấp bội. Như vậy thì Kình Đà liên quan tới sức mạnh tình dục là đúng.
Qua phân tâm học của Frued thì sức mạnh tình dục (pulsion sexuelle) đưa lên cao thành văn chương, đẩy xuống thấp thành trác táng, truy hoan. Đà La đứng cùng Thiên Hình Đào Hoa vì tình mà mang họa cũng là bởi sự liên quan đến tình dục nói trên.
Kình Đà còn một cách cục khác mà sách Tử Vi Đẩu Số không nói riêng ra là: Kình Dương độc thủ và Đà La độc thủ. Mệnh không có chính tinh (mệnh vô chính diệu) có Đà Kình tọa thủ là Kình Đà độc thủ.
Kình Dương độc thủ có thể ở Tí Ngọ Mão Dậu có thể ở Thìn Tuất Sửu Mùi. Kình Dương độc thủ chỉ tốt khi nó đứng ở Thìn Tuất Sửu Mùi và Sửu Mùi đẹp hơn Thìn Tuất, còn Tí Ngọ Mão Dậu kể là xấu gây hung họa.
Kình Dương độc thủ vào số trai hợp cách hơn số nữ. Đà La độc thủ vào số nữ hợp cách hơn số trai. Tuy nhiên số nữ mà Kình Đà độc thủ theo quan niệm của người xưa đều không coi như một cách cục tốt đẹp. Thời bây giờ thân phận nữ đã khác đi nhiều thì Đà La độc thủ được kể như cách cục hay nhưng không xem là tốt .
Tại sao hay mà không tốt? Hay chỉ khả năng giỏi dắn, thành công khi toan tính việc gì. Nhưng không tốt vì cuộc sống bôn ba thăng trầm gay go quyết liệt, thiếu an định êm đềm. Kình Dương độc thủ với nam mạng hễ đã thành công lớn vượt thiên hạ, nhưng lúc chưa đạt vất vả và gian lao cũng dữ dội. Kình Dương độc thủ vào binh nghiệp, kinh doanh lớn, chính trị để sáng tạo sự nghiệp.
Đà La độc thủ với nam mạng đắc địa sự thành công thường không qua chánh đạo mà hễ đã bại thì xuống đến tận cùng, cơ sự nghiệp mất, thanh danh cũng tiêu luôn. Trong khi Kình Dương độc thủ có bại vẫn giữ được danh thơm.
Số nữ Đà La độc thủ đắc địa có thể thành công to, nhưng tình duyên dang dở, bất mãn và luôn luôn là con người cô đơn vì quá giảo quyệt nên bị xa lánh. Đà La độc thủ chỉ tốt khi đứng cung Thìn Tuất Sửu Mùi, độc thủ Dần Thân Tỵ Hợi kể như xấu.
Những câu phú về Kình Dương Đà La:
- Kình Dương cư Tí Ngọ Mão Dậu hãm địa, tác họa hưng ương hình khắc thậm
(Kình Dương đóng Tí Ngọ Mão Dậu gây ra tai họa hình khắc)
- Kình Dương nhập miếu gia cát, phú quí thanh dương
(Kình Dương miếu địa gặp cát tinh, giàu sang dương thanh)
- Kình Dương Hỏa Tinh hãm vi hạ cách
(Kình Dương đứng cùng Hỏa Tinh ở hãm địa là hạ cách)
- Kình Dương thủ mệnh, Thất Sát Phá Quân xung chủ hình khắc
- Dương Đà Hỏa Linh phùng cát phát, hung tắc kị
(Dương Đà Hỏa Linh với cát tinh phấn phát thêm hung tinh rất xấu)
- Kình Dương đối thủ tại Dậu cung, tuế điệt Dương Đà Canh mệnh hung
(Kình Dương đóng Thiên Di, gặp hạn lưu Kình Đà người tuổi Canh nguy biến)
- Dương Đà hiệp Kị vi bại cục
(Kình Dương Đà La hiệp Hóa Kị là cách thất bại)
- Kình Dương trùng phùng lưu niên, Tây Thi vẫn mệnh
(Kình Dương mệnh gặp lưu niên hạn Kình Dương Tây Thi uổng mạng)
- Dương cư Đoài Chấn, lục Mậu lục Giáp phúc nan toàn
(Kình Dương xung chiếu Mệnh tư Dậu hoặc Mão, người tuổi Mậu Giáp cuộc đời lắm tai ương)
- Kình Dương gặp Âm Đồng (Tí hay Ngọ) thêm Phượng Các, Giải Thần uy danh lừng lẫy
- Dương Đà Quan Phủ ư hãm địa loạn thuyết chi nhân
(Mệnh có Kình Đà hãm địa đứng bên Quan Phủ ưa nói bậy, nói quá kỳ thực, nói lung tung)
- Dương Linh tọa mệnh, lưu niên Bạch Hổ tai thương
(Mệnh Kình Dương Linh Tinh, vận lưu niên gặp Bạch Hổ tai họa)
- Thân nội Tuế phùng Đà Kị mạc đạo phồn hoa
(cung Thân có Thái Tuế đi với Đà La Hóa Kị là người thô lỗ quê mùa)
- Tật Ách kiêu Đà Nhẫn phản mục tật sầu
(cung Tật Ách bị Kình Đà dễ đau mắt)
- Đà La lâm phụ vi, bất tu Quả Tú diệc tăng bi
(Phu cung xuất hiện sao Đà hãm không cần Quả Tú cũng thành chia xa)
- Mệnh Dương Đà gia Kiếp thọ giảm
(Mệnh Kình Đà thêm Địa Kiếp không thọ hung)
- Kình Hư Tuế Khách gia lâm, mãn thế đa phùng tang sự
(Mệnh Kình Dương, Thái Tuế, Điếu Khách hội tụ cuộc đời lắm tang tóc buồn rầu)
- Luận Mệnh tất suy tính thiện ác
Cự Phá Kình Dương tính tất cương
(Cự Môn Kình Dương, Phá Quân Kình Dương tính tình cứng rắn)
- Dương Nhẫn bất nghi Nhật Nguyệt bệnh tật triền miên
(Kình Dương gặp Nhật Nguyệt lâm bệnh trong người hoặc có bệnh lưu cứu không khỏi)
- Riêu Đà Kị kế giao họa vô đơn chí
(Mệnh hội tụ Diêu, Đà, Kị lận đận tai ương hoài)
- Đà Kị Nhẫn thủ ư Phu vị
Hại chồng con chước quỉ ghê thay
- Dương Hình Riêu Sát cung Phu
Lại gia Linh Hỏa vợ lo giết chồng
- Dương Đà bệnh ấy phòng mòn
Tuế Đà vạ miệng xuất ngôn chiêu hiềm
- Đà ngộ Kị chẳng lành con mắt
Kỵ phùng Dương mắt hẳn thanh manh
- Đà Không lâm thủ Điền Tài
Luận rằng số ấy sinh lai nghèo hèn
- Dương Nhẫn phùng Tuyệt Linh chốn hãm
Công cù lao bú mớm như không
(Cung Tử Tức có Tuyệt Linh Tinh và Dương Nhẫn, khó nuôi con, hoặc con cái có cũng bằng không)
- Kình Riêu Hoa Cái Thai Đà
Vận phùng năm ấy đậu hoa phải phòng
- Tứ hung ngộ quí nơi Thân Dậu
Đến Phật Đài cầu đảo mới xong
(Vận đến Dậu Kình Đà Hỏa Linh gặp Tử Vi, Thiên Phủ phải làm việc thiện để mà tránh tai họa)
- Đào Hồng mặt mũi xinh tươi
Kỵ, Hình, Đà, Nhẫn là người tật thương
- Thái Dương đóng chốn thủy cung
Gặp Kình hay Kỵ yểu vong hoặc mù
(Thái Dương ở Hợi Tí Kị Hình. Theo kinh nghiệm thì chỉ bị tật ở mắt, mắt kéo màng, chứ không phải yểu vong với mù)
- Hỏa Dương Tham Tướng Tị cung
Hoặc là tứ mộ nổi danh tướng tài
- Sát Phá Liêm Tham lâm vào
Kình Đà Kị ấy trách nào bạo hung
- Ngọ cung tam Hóa hợp Kình
Người sinh Bính Mậu biên đình nổi danh
- Dương Linh thủ Mệnh mấy ai
Lại gặp Bạch Hổ họa tai đao hình
- Kị Đà Thái Tuế họp bài
Cảnh đời nào được mấy người thong dong
- Tuế Đà Cự Kị vận nghèo
Một thân xuống thác lên đèo chẳng yên
- Kiếp Không Hình Kị Đà Dương
Gian nan bệnh tật mọi đường khảm kha.
- Phủ Đà Tuế đóng Tỵ cung
Cuồng ngôn loạn ngữ nói rông tháng ngày
- Hình Kình cư Ngọ đồng gia
Sát Kiếp lại chiếu ắt là ngục trung
- Thìn Tuất Thất Sát xem qua
Hình Kình hội ngộ ắt là đảo điên
- Nguyệt hãm Đà Hổ Tuế xung
Hại thay điềm mẹ thoát vòng trần gian
- Dương Đà Thất Sát phải hay
Chiếu thủ Thân Mệnh tháng ngày khổ đau
(Tâm tư không mấy vui, bi quan)
- Mấy người đông tẩu tây trì
Phá Quân Thiên Việt hợp về Kình Dương
- Thất Sát hãm thật đáng kinh
Vận niên gặp phải lưu Kình sợ thay
- Kỵ Liêm Phá Vũ xấu xa
Giáp cùng Không Kiếp Kình Đà sao nên
- Hóa Kị thi rớt lắm khi
Dương phùng Kiếp Sát học gì cho xong
- Đà Tham tửu sắc la đà.
Tuế Đà miệng lưỡi ắt là sai ngoa
(Đà La Tham Lang vào Thê ăn chơi. Tuế Đà vào Thê cung vợ chua ngoa)
- Dương Đà Kỵ Nhật Nguyệt xung
Chim cưu thói ấy vợ chồng chán nhau
(Dương Đà Kị vào cung Phối vợ chồng khó ăn ở trọn vẹn)
- Kình Dương mà gặp Thiên Hư
Hữu sinh vô dưỡng âu lo một đời
(Kình Dương Thiên Hư ở cung tử tức)
- Kình Đà Không Kiếp Khốc Hư
Sinh con điếc lác ngẩn ngơ thêm buồn
- Đà Không nghèo khó tai ương
Lưỡng hao tài tán bốn phương thêm phiền
(Đà La Thiên Không ở cung Tài Bạch)
- Đà La độc thủ tốt sao
Phúc cung chánh diệu đệ bào tiệm hưng
(Đà La độc thủ ở cung Huynh Đệ không bị các hung sát tinh khác)
- Đà La Không Kiếp án ngăn
Đẹp gì trong họ ắt rằng suy hao
Hỏa Linh hình khắc cô đơn
Kình Đà cha mẹ cùng con bất đồng
(Kình Đà đóng vào cung Phụ Mẫu mà là Kình Đà hãm địa)
- Kình Dương Tham Lang đồng cung tại Ngọ thủ mệnh uy chấn biên cương
(Kình Tham đóng Ngọ có quyền có thế)
- Kình Dương Nhật Nguyệt đồng cung nam khắc thê nhi nữ khắc phu
(Kình Dương đứng cùng Thái Âm Thái Dương, trai khắc vợ gái khắc chồng)
- Kình Dương Mão Dậu thủ Mệnh yểu triết hình thương
(Mệnh đóng Dậu Mão có Kình Dương thủ hay bị tai nạn)
- Kình Dương thủ mệnh, Hóa Kị Kiếp Không xung phá ly tổ khắc thân
(Kình Dương thủ Mệnh nơi đất hãm gặp Kị Hỏa Linh xung phá lưu lạc cô đơn)
- Kình Đà Linh Hỏa phùng cát phát tài, hung tắc kị
(Kình Đà Linh Hỏa đắc địa, gặp sao tốt thì phát bị hung lại kém hay)
- Kình Dương trùng phùng lưu niên hung
(Kình Dương ở đại hạn, lưu niên gặp Kình Dương là hung)
- Đà La hội Nhật Nguyệt Kị tinh nam nữ đa khắc, hữu mục tật
(Đà La đứng với Hóa Kị và Nhật Nguyệt khắc vợ khắc chồng, bị tật nơi mắt)
- Đà La hãm hội Cự Môn Thất Sát hình khắc lục thân
(Đà La đóng hãm cung gặp Cự Môn Thất Sát khó gần người thân)
Phòng bếp là trái tim của ngôi nhà, nhất là trong lĩnh vực phong thủy. Không gian nấu nướng chính là nơi giúp bạn nuôi dưỡng và duy trì cuộc sống bằng cách chuẩn bị các bữa ăn từ ngày nay qua ngày khác.
Khi nghĩ về cách thiết kế phòng bếp mới hoặc cải tạo căn phòng hiện tại, phong thủy có thể giúp bạn tạo ra một không gian hài hòa, hỗ trợ sức khỏe và hạnh phúc. Màu sơn hợp phong thủy là một phần quan trọng trong việc tạo ra căn bếp tiện dụng, nơi "các đầu bếp" trong gia đình có thể phát triển mạnh mẽ.
Màu trắng, vàng, xanh da trời, xanh lá cây, nâu, be, đỏ và cam đều là những màu sắc phù hợp với bếp theo phong thủy. Tuy nhiên, bạn cần hiểu rõ làm thế nào để sử dụng chúng một cách hiệu quả nhất. Cụ thể:
Trắng là màu sắc được sử dụng phổ biến nhất cho hầu hết các phòng bếp, và là gam màu tuyệt vời để bắt đầu khi áp dụng phong thủy trong ngôi nhà của bạn.
Tượng trưng cho sự sạch sẽ và tinh khiết, màu trắng đánh thức mọi giác quan trong không gian bạn chuẩn bị thức ăn. Nhờ ưu điểm kết hợp rất tốt với tất cả các màu sắc khác, nó có thể trở thành lớp phông nền hoàn hảo cho các sắc thái màu ấm hơn, giữ cho căn phòng không quá lạnh lẽo, mờ nhạt.
Bạn nên sơn màu trắng trên tường, tủ bếp và thêm điểm nhấn thông qua quầy bếp, phụ kiện cửa sổ...
Các gam màu trung tính như màu be, kaki và nhóm màu đất cũng thích hợp trong phong bếp. Dựa vào nguyên tắc phong thủy, chúng có thể mang đến sự ổn định cho gia đình bạn và sự hài hòa cho khu vực nấu ăn. Ấm áp và sung túc, chúng ăn nhập với rất nhiều màu sắc khác nhau và sẽ làm cho gian bếp của bạn cảm thấy ấm cúng hơn.
Màu vàng là lựa chọn lý tưởng khác dành cho phòng bếp. Được đánh giá là có khả năng thúc đẩy sự xã hội hóa, màu vàng tạo ra không gian nâng cao tinh thần và sự vui vẻ cho bạn cũng cả gia đình khi thưởng thức bữa ăn cùng nhau. Bạn nên chọn màu vàng nhạt hoặc màu vàng trang sức nhẹ nhàng, tránh xa những màu quá rực rỡ, khiến bầu không khí căng thẳng, dễ nóng giận.
Nhiều người tin tưởng rằng màu xanh da trời giúp kiềm chế cơn đói nên nó luôn là lựa chọn thông minh cho các gia đình gặp vấn đề về cân nặng. Ở cấp độ nhạt, màu xanh da trời kiềm chế bớt sự nhộn nhịp, bận rộn trong bếp, định hình cảm giác thư thái. Nhưng bạn chỉ nên sử dụng màu này với liều lượng nhỏ. Các chuyên gia phong thủy cho rằng, quá nhiều màu xanh da trời sẽ lấn át vẻ đẹp, sức hấp dẫn của đồ ăn.
Màu xanh lá cây cũng có mặt trong danh sách những màu sắc hợp phòng thủy nên dùng cho phòng bếp vì tác dụng thúc đẩy tiêu hóa rất tốt. Chọn màu xanh lá cây mềm mại, gần với sắc thái đất để giúp hình thành không gian thư giãn. Nếu muốn tăng cường những tông màu đất, cố gắng trang trí tối thiểu 1 - 2 chậu cây cảnh tươi tốt trong phòng bếp.
Mặc dù xuất hiện khá nhiều trong phòng bếp, nhưng một số chuyên gia phong thủy đánh giá màu đỏ có thể gây mất cân bằng nếu được sử dụng quá nhiều. Bạn nên chọn lấy một màu sắc trung tính hơn làm chủ đạo và điểm xuyết màu đỏ nhằm tạo ấn tượng, thu hút sự chú ý của mọi người.