Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

Những câu nói hay về tình yêu tuổi học trò dễ thương trong sáng

Những câu nói hay về tình yêu tuổi học trò dễ thương trong sáng. Tuổi học trò hồn nhiên, thơ mộng nên tình yêu ở tuổi này thật dễ thương

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Những câu nói hay về tình yêu tuổi học trò dễ thương trong sáng. Tuổi học trò hồn nhiên, thơ mộng nên tình yêu ở tuổi này thật dễ thương và đáng nhớ. Đó là những rung động đầu đời đầy trong sáng, đáng yêu với nhiều cảm xúc trộn lẫn.

Nếu bạn đang ở tuổi này thì chúc mừng bạn vì bạn đang ở tuổi đẹp nhất của đời người. Bạn hãy xem những câu nói hay về tình yêu tuổi học trò dễ thương này nhé.

Những câu nói hay về tình yêu tuổi học trò dễ thương trong sáng

1. Nếu có 1 ngày…

Cậu vô tình nhìn thấy tớ bên ai đó

Thì cậu hãy nhớ

Tớ từng thật lòng yêu cậu.

Những gì khoảng thời gian đó tớ nói hoàn toàn thật,

Nhưng là cậu cứ đẩy tớ đi xa…

Là cậu làm mọi cố gắng của tớ trở thành vô vọng.

———

2. Có một đứa ngốc!

Bề ngoài – Mạnh mẽ – Vô tư – Hay cười.

Nhưng thực ra, trái tim nó hay buồn và rất dễ bị tổn thương.

3. Nếu có thể:
Bạn đừng nên thức khuya…
Rồi đợi, rồi nhớ đến người ta nữa.
– Bởi vì :
• Nếu người ta thương bạn.
• Thì người ta đã không để bạn một mình.
• Trong đêm và cô đơn nhớ mong đến vậy đâu.

4. Tập ngủ sớm đi nhé…!!
“Nếu biết trước là nhất định sẽ phải chia tay, tại sao vẫn còn yêu đương sớm thế làm gì? Thế chẳng phải vô nghĩa lắm à?”, “Cậu biết rõ đời này rốt cuộc cũng phải chết, thế tại sao giờ không chết trước luôn đi?

5. “Tớ yêu Cậu”

Là khi trái tim tớ thắt chặt lại thật nhẹ nhàng, thật dịu dàng và kèm theo một dư vị ngọt tê tê kéo dài sau cái thắt tim ấy khi tớ bất chợt nghĩ về cậu dù đó chỉ là 1 giây mà thôi …

Là khi tớ mĩm cười vu vơ về hình ảnh của cậu, nó cứ xuất hiện trong tâm trí của tớ, ngay cả khi tớ không muốn suy nghĩ về cậu, hay tớ đang giận cậu đi chăng nữa …

“Tớ yêu Cậu” được dùng trong một hoàn cảnh đặc biệt nhất, đắt nhất và lãng mạng nhất …

Là khi trái tim tớ thắt chặt lại thật nhẹ nhàng, thật dịu dàng và kèm theo một dư vị ngọt tê tê kéo dài sau cái thắt tim ấy khi tớ bất chợt nghĩ về cậu dù đó chỉ là 1 giây mà thôi …

Là khi tớ mĩm cười vu vơ về hình ảnh của cậu, nó cứ xuất hiện trong tâm trí của tớ, ngay cả khi tớ không muốn suy nghĩ về cậu, hay tớ đang giận cậu đi chăng nữa …

nhung-cau-noi-hay-ve-tinh-yeu-tuoi-hoc-tro-de-thuong-trong-sang3

6. Trong mỗi chàng trai đều có một cô gái mà bạn không được đụng đến. Cô gái ấy mang tên Mối tình đầu

Hy vọng Những câu nói hay về tình yêu tuổi học trò dễ thương trong sáng sẽ gợi cho bạn một thời kỷ niệm đáng yêu tuổi học trò. Hãy lựa chọn cho mình một câu nói hay nhất để thể hiện tình cảm của mình, một tình yêu trong sáng và vu vơ nhất nhé. Chúc bạn thành công và đừng quên ghé ## mỗi ngày ủng hộ chúng tôi cùng khám phá những điều hay và rất thú vị chờ bạn !!!


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những câu nói hay về tình yêu tuổi học trò dễ thương trong sáng

GIAI THOẠI VỀ TƯỚNG MŨI

Tướng mũi, và câu chuyện thời xưa về tướng mũi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Thời trước có một thanh niên danh sĩ tên là Hứa Doãn, cưới người con gái họ Nguyễn về làm vợ . Nguyễn thị vốn giòng dõi thư hương, thuở nhỏ được ăn học nên rất giỏi văn học, nhưng thân hình thật là quê kệch, xấu xí chỉ được mỗi bộ phận tuyệt đẹp là Mũi. Mũi cô này vưà đẹp lại vừa phối hợp với lưỡng quyền. Trái lại, với nhan sắc thuộc loại Chung Vô Diệm của vợ, Hứa Doãn vừa học giỏi, vừa đẹp trai, chỉ có mỗi một khuyết điểm là cái Mũi không mấy thanh nhã, vì vừa thấp lại vừa nhỏ không tương xứng với các bộ vị khác của khuôn mặt. 

 


     Thời xưa người ta thường có lệ hứa hôn ngay từ thuở lọt lòng và việc ả chồng lấy vợ cho con cái tùy thuộc hoàn toàn vào cha mẹ đôi bên. Hai họ Nguyễn và Hứa quen nhau từ lâu lắm, nhưng bên đàn trai thấy gái họ Nguyễn qúa xấu xí đã hơi chán, nên trước khi quyết định chung cuộc có nên xem ngày tốt để làm lễ thành hôn hay không đã nhờ một nhà tướng thuật nổi tiếng đến quan sát kỹ càng diện mạo cô dâu tương lai. Thầy tướng quan sát xong nói cho cha mẹ Hứa Doãn biết rằng cô con gái đó có tướng giúp đỡ, phò tá chồng một cách đắc lực cả trong lẫn ngoài. Nghe lời qủa quyết của thầy tướng, họ Hứa yên tâm cử hành hôn lễ cho đôi trẻ. 

      Theo tập quán, nam nữ thọ thọ bất thân thời đó, Hứa Doãn và Nguyễn thị chỉ biết tiếng đồn về nhau chứ chưa từng được gặp mặt hay có dịp chuyện trò. Sau khi thành hôn, Hứa Doãn thấy vợ thật là xấu xí, còn mình thì đẹp trai, học giỏi, con nhà giàu, bèn tự nghĩ là con gái họ Nguyễn lấy được mình là phúc lớn lắm rồi. Nhớ lại lời thầy tướng nói là phải nhờ có cô gái xấu xí kia chăn dắt, giúp đõ mình mới mong thành đạt được, Hứa Doãn rất lấy làm hoài nghi, không biết ông ta căn cứ vào đâu mà dám nói như vậy. 

       Do đó, một hôm trong chốn phòng the, Hứa Doãn mới hỏi vợ rằng : “Tôi nghe thầy tướng nói mình có tướng dạy được chồng, mình có tin như thế không ?”. (Nguyên là chữ “Tướng” phu chi tướng có nghĩa là dẫn dắt, điều khiển chồng hầu đạt đến thành công. Nói rộng ra là chồng phải nhờ có tay vợ mới nên người) 

       Ngày xưa, vợ rất trọng chồng nên nghe chồng hỏi như vậy, Nguyễn thị tủm tỉm cười đáp rằng: 

--“Thiếp không tin rằng mình lại có tướng dạy chồng, nhưng thiếp tin chắc rằng mình là kẻ có phúc”. Hứa Doãn hỏi : “Mình có phúc gì ?” Nguyễn thị đáp: “Thiếp có cái phúc trời ban là khiến chồng”. Người chồng nghe thấy hai chữ “khiến chồng” lấy làm thắc mắc bèn hỏi : “Khiến chồng là gì ?” Vợ đáp : “Ðó là khiến cho chồng yêu mình, nể mình, khiến cho chồng phú quý vinh hoa. Một cô gái xấu xí như thiếp nếu trời không ban cho phúc đó thì làm sao sánh duyên với người tài mạo như chàng.” 

       Dẫu không biết tướng học, nhưng là kẻ lanh lợi, học thức nên nghe vợ đối đáp một cách thông minh như vậy, Hứa Doãn thấy quả nàng cũng có điểm khiến cho mình tâm phục. Tuy nhiên, vì vẫn chưa giải được nghi ngờ nên Hứa Doãn hỏi tiếp : 
-- “Mình có nghe thấy ông thầy tướng nói quý tướng của mình ở chỗ nào không ? Cái quý tướng đó có phải là ở chỗ mắt đẹp, mũi tốt không ? Có phải trời sinh ra toàn thân xấu xí là qúy tướng khiến cho chồng phải yêu chiều mình không ? Hoặc giả quý tướng đó là cái gì khác nữa chăng ?” 

    Nguyễn thị thấy rằng qua những điều chồng thắc mắc rõ ràng là chàng ta không ưng ý về dung mạo của mình nhưng không dám tỏ vẻ bất bình chỉ nhỏ nhẹ đáp lại :
-- “Thiếp có nghe thầy tướng nói, thiếp cũng tự biết là mình không được xinh đẹp nhưng thiếp có một điểm tướng rất tốt đó là Phu tinh cực tốt.” 
-- “Phu tinh ? Phu tinh của mình chính là tôi, giữa cái đó và diện mạo của mình có quan hệ gì ?” 
-- “Thầy tướng nói rằng : Mũi là cung thê của đàn ông, là cung phu, chủ về người chồng của đàn bà. Ông ta nói trong Ngũ quan của thiếp hầu hết đều không tốt, nhưng Mũi lại cực tốt, ngay thẳng, cao, mập, lỗ Mũi không lộ cho nên mới gọi là phụ tình cực tốt. Bây giờ quả là đúng. Hiện giờ chàng chẳng phải là Phụ tình của thiếp hay sao ? Sách tướng có câu : “Coi tướng đàn bà không cần coi mệnh của họ, chỉ cần coi Phụ tình của họ” cho nên muốn biết số kiếp thiếp tốt hay xấu chỉ cần coi cách đối xử của chàng đối với thiếp tốt xấu ra sao là đủ.” 

      Nghe vợ nói đến Mũi, Hứa Doãn tiện tay lấy gương soi mặt để quan sát chính khuôn mặt của mình thấy Mũi tuy khá thẳng nhưng lỗ Mũi hơi lộ và sơn căn nhỏ, thấp so với vợ thì kém xa lắm, bèn quay sang nói với vợ : 
-- “Nếu nói như mình, thì Mũi của mình mới được xem là tốt thì quả là Mũi tôi không tốt bằng Mũi của mình phải không? Như thế thì tôi cần phải nương dựa vào mình chứ gì ?” 

        Nói xong, Hứa Doãn tỏ vẻ bực dọc và không tin rằng mình tướng cách lại thua vợ vì thấy rõ là vợ xấu xí còn mình vừa đẹp trai vừa học giỏi. 

       Người vợ thấy chồng không hiểu rõ bèn tủm tỉm cười nói rằng: 
--“Thiếp thấy chàng cái gì cũng sáng suốt thế mà đối với phép xem tướng chàng có một điểm hết sức tối tăm chẳng thông minh chút nào cả !” 

    Hứa Doãn nói : 
-- “Tại sao lại tối tăm? Tôi dựa theo điều mình nói cả mà. Mình nói rằng mũi của mình tốt như thế này thế nọ, còn Mũi tôi so với Mũi mình không tốt bằng, như thế có gì gọi là không thông minh?” 

    Vợ đáp: 
--“Chàng không thông minh chính là ở điểm đó. Thiếp đã chẳng từng nói rõ là thầy tướng nói rằng Mũi của vợ chính là ngôi sao chủ về chồng, còn Mũi của chồng chính là ngôi sao chủ về vợ. Mũi thiếp cực tốt nghĩa là chồng thiếp sẽ là một văn nhân tài mạo song toàn, được hưỡng vinh hoa phú quý, còn Mũi chàng không được hoàn toàn tốt đẹp có nghĩa là cung thê của chàng không được hoàn toàn. Nói khác đi là thiếp xấu xí, vô tài. Thực tế quả là đúng như vậy, cho nên chàng đừng thắc mắc bực mình vì cả chỉ thêm vô ích.” 
      Sau lời bàn luận với vợ về tướng học, Hứa Doãn cảm thấy vợ mình không còn là một cô gái đáng chê một cách ghê gớm như trước vì Doãn thấy vợ là người thông minh, hiền thục. Hơn nữa vợ xấu là bởi cái Mũi của mình không được đẹp, cái đó là số mạng tiền định, đâu phải vô lỗi của nàng. “Cái nết đánh chết cái đẹp”, nghĩ như vậy, nên trong lòng không còn ấm ức và đối với vợ, mối hảo cảm ngày càng một gia tăng. Càng chung sống với nhau lâu ngày, Hứa Doãn càng thấy vợ mình quả là có tướng làm xếp mình thật. 
     Một hôm, hai vợ chồng đàm luận về việc vợ chồng hổ tương phối hợp, Hứa Doãn hỏi vợ: 
--“Ðàn bà có tứ đúc là công, dung, ngôn, hạnh. Mình tự xét xem có được mấy đức?”
     Nguyễn thị nghe hỏi biết ngay là chồng nhạo báng mình xấu xí nên đáp lại: 
--“Ðàn bà có bốn đức thì thiếp đây chỉ thiếu có một đức về dung mạo không được xinh đẹp mà thôi. Nhưng xấu đẹp là do trời xếp đặt chẳng phải cha mẹ hay bản thân muốn mà được, nên việc thiếu sót về dung mạo không phải tội lỗi của thiếp và cũng chẳng lấy thế làm nhục.” 
    Hứa Doãn nói: 
--“Ðàn bà phải có đủ tứ đức thì mới gọi là hoàn toàn. Thế mà mình thiếu mất một đức tức là chỉ được ¾ , có phải vậy không?” 
   Vợ đáp: 
--“Ðúng vậy, nhân vô thập toàn. Thiếp được tới ¾ đức tính của phụ nữ, cũng đã được kể là nhiều rồi chứ quả là không được hoàn toàn đầy đủ.” 
   Doãn nói: 
--“Nhưng mà tôi lại thích người đàn bà đẹp vì vậy cần phải có người vợ đầy đủ tứ đức mới hoàn toàn thỏa nguyện. Mình nghĩ xem, nguyện vọng của tôi như vậy có đúng không? Có nên có tư tưởng đó không?” 
    Nghe chồng nói như vậy, Nguyễn thị nhịn hết nổi, nàng nhận thấy chồng kêu ngạo, vô lễ, không còn giữ được truyền thống “tương kính như tân” của kẻ sĩ. Nàng tự nhủ, cần phải cho anh chàng kêu ngạo, háo sắc này một bài học đạo lý để anh ta bớt lố lăng, bởi thế nàng bèn đáp: 
--“Ðúng, chàng nói đúng, nghĩ đúng, nguyện vọng cũng chính đáng luôn nhưng chàng cũng nên tự xét xem mình có phải là người hoàn toàn hay, hoàn toàn tốt không đã ?” 

   Nghe vợ vặn lại, Hứa Doãn có vẻ không được vui, nhưng ý đã quyết răn chồng, Nguyễn thị giả bộ như không thấy, lại tiếp tục hỏi bồi thêm: 
--“Ðàn bà có tứ đức, thiếp tự biết mình thiếu một đức. Vậy xin phép được hỏi chàng là kẻ sĩ có cả trăm nết tốt, chẳng hay chàng có được bao nhiêu nết?” 
    Hứa Doãn vênh váo đáp ngay tức khắc: 
--“Ta đây có đủ trăm nết.” 
    Vợ hỏi thêm: 
--“Chàng cho phép thiếp hỏi thêm một câu nữa được chăng?” 

    Hứa Doãn đáp: 
--“Ðưọc lắm chứ! Mình có gì cứ việc nói ra ngay đi” 
 Lúc đó, Nguyễn thị mới thủng thỉnh nói: 
--“Trong trăm nết tốt của kẻ sĩ thì đúc độ là nết tốt đứng đầu, trong muôn ngàn nết xấu thì dâm xếp vào số một. Vậy mà giờ đây chàng nói ra miệng là rất trọng đàn bà có sắc đẹp, chứng tỏ rằng chàng là kẻ rất háo sắc. Như thế rất là tai hại cho nết tốt số một trong 100 nết rồi thì làm sao có thể nói là mình có đủ cả trăm đức tính cần thiết của kẻ sĩ ? Thiếp chỉ khuyết có phần dung mạo là phần phụ thuộc nên chỉ dám nhận là mình chỉ có ¾ đức tính đàn bà, chứ không dám nói là mình có đủ nết na. Nay chàng thiếu mất ngay cái nết số một của kẻ sĩ thì chẳng hiểu trong số 100 nết hay đó chàng còn thiếu những gì nữa ?”

    Nghe vợ nói đến đây thì Hứa Doãn chết điếng, đúng ngay như bị trời trồng, vô phưong chống chế. Từ đó hết sức nể nang vợ và gần như thần phục bà vợ vậy. 

    Theo truyền thuyết còn lưu lại thì trong lúc thầy tướng khuyên cha mẹ Hứa Doãn hãy cưới kỳ được con gái họ Nguyễn cho con trai mình, nếu muốn cho Hứa Doãn nên người, vì cô con gái đó có tướng “Tướng phu chi tướng”, nhiều bà con bên trai đều nghi hoặc cho là đứa con gái xấu xí như ma lem lấy được trai họ Hứa là có phúc rồi chứ làm gì lại mang phúc đến cho chồng. Bị gạn hỏi qúa gắt, thầy tướng buộc phải giải thích. : “Ngôi sao vợ của Hứa Doãn đã không đẹp mà cái tính Hứa Doãn lại là đứa thiếu niên háo sắc, nếu lấy một người con gái bình thường thì sau khi cưới vợ rồi sẽ không dứt được thói trăng hoa, khiến cho gia đình sinh tai tiếng hoặc mình bị mang vạ đào hoa. Nếu phối hợp với con gái họ Nguyễn là kẻ có bản lỉnh, đủ sức kềm hãm chồng, không cho sa đọa vào con đường hư hỏng thì hắn mới nên người và gia đình mới có hạnh phúc.” 

Trích "Nhân Tướng Học" của Hy Trương


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: GIAI THOẠI VỀ TƯỚNG MŨI

Sai lầm khi để tủ bát bên trên bếp

Trong thiết kế các phòng bếp hiện nay thì có một quan niệm hết sức sai lầm và làm ảnh hưởng trầm trọng đến sức khỏe của mọi người sống trong ngôi nhà, đó là việc thiết kế kệ để bát, đĩa, đồ dùng bên trên mặt bếp, thậm chí có nhà còn để khoảng cách từ mặt bếp đến tủ bát cao chưa được 1m. chính vì cữ nghĩ là để tủ bát bên trên sẽ tiện lợi cho việc sử dụng, nhưng đây lại là phạm kỵ trong phong thủy.
Sai lầm khi để tủ bát bên trên bếp

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Theo Ngành Năng lượng trong phong thủy thì khí xấu hay còn gọi là "tà khí" được hình thành và phát sinh từ những nơi có lực hút mạnh, nơi có nhiều góc cạnh, dầm nhà, góc tường, tủ quàn áo, kệ đồ...

Bếp trong phong thủy được coi là cái thần, là nơi mang lại tài lộc cũng như sức khỏe cho gia đình, do đó cát thần phải được thờ và đặt tại một nơi trang trọng nhất, tránh bị các xạ khí hay còn gọi là tà khí bay đến.

Trên thực tế, không phải ai cũng nhận ra điều này, nên trong thiết kế đã tạo ra một sai lầm trong phong thủy phòng bếp và hậu quả là không thể lường trước được.

Khi bếp bị các "xạ khí" từ các góc nhọn của tủ bếp chiếu xuống thì ta cần phải chuyển tủ bếp sang vị trí khác, tạo cho bếp một không gian thoáng ở phía trên, không bị các "tà khí" bay đến.

Chính vì vậy theo lời khuyên của chuyên gia phong thủy nhất nam là không được để tủ bếp hay bất cứ vật gì có góc cạnh bên trên bếp.

Nên đặt ống hút mùi trên cao hoặc bên cạnh bếp, tránh đặt gần bếp.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sai lầm khi để tủ bát bên trên bếp

Cách làm lễ hóa vàng tiễn ông bà, tổ tiên khi hết Tết cho đúng

Theo truyền thống xưa, sau khi mời Tổ tiên về dự 3 ngày Tết với con cháu vào ngày 30 Tết (nếu tháng thiếu thì vào ngày 29 Tết), đến ngày mùng 3 Tết hoặc ngày khai hạ mồng bảy Tết, là ngày cuối cùng, tiệc xuân đã mãn, con cháu lại cáo lễ để tiễn đưa Tổ tiên trở về âm cảnh.
Cách làm lễ hóa vàng tiễn ông bà, tổ tiên khi hết Tết cho đúng

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Năm mới 2017 của bạn như thế nào? Hãy xem ngay TỬ VI 2017 mới nhất nhé!

Theo truyền thống xưa, sau khi mời Tổ tiên về dự 3 ngày Tết với con cháu vào ngày 30 Tết (nếu tháng thiếu thì vào ngày 29 Tết), đến ngày mùng 3 Tết (Âm lịch) hoặc ngày khai hạ mồng bảy Tết, là ngày cuối cùng, tiệc xuân đã mãn, con cháu lại cáo lễ để tiễn đưa Tổ tiên trở về âm cảnh.

Hành động đốt hóa vàng mã là một trong các nghi lễ, mà nghi lễ nào cũng có cơ sở nhận thức và được thực hiện trên một nền tảng quan niệm vững chắc, trở thành một tập quán xã hội. Tín ngưỡng chính là việc người ta tin vào một lực lượng siêu nhiên, như hiện tượng linh hồn chẳng hạn. Người ta tìm mọi cách để liên hệ với cái siêu nhiên đó. Vì thế, con người đốt hương và tin rằng, những lời cầu khấn sẽ theo khói hương bay lên tới linh hồn tổ tiên, thần, Phật. Đồ vàng mã cũng vậy, dân gian quan niệm, chết không phải đã hết mà linh hồn tồn tại ở một thế giới siêu nhiên nào đó nên họ tư duy “trần sao âm vậy”, có nghĩa là người sống cần có gì, người âm cũng cần có cái đó. Bằng rất nhiều cách người sống cố gắng liên hệ với thế giới linh hồn. Họ đốt tiền, vàng mã là để tin rằng người chết cũng có được cuộc sống đủ đầy. Vì thế, đồ vàng mã khó có thể tách rời khỏi văn hóa tín ngưỡng của người Việt.

Ý nghĩa của tục hóa vàng

Hầu hết mọi người đều cho rằng: lễ tết là ngày vui của con cháu thì ông bà dưới âm cũng phải được hưởng. Hoá vàng chính là việc con cháu gửi đồ dùng, tiền vàng đã chuẩn bị trên bàn thờ gia tiên trong dịp Tết cho người cõi âm.

Có những gia đình chỉ làm hết tết gói gọn trong gia đình. Nhưng cũng có những người còn mời thông gia, hàng xóm thân thiết tới dùng cơm lễ hoá vàng, coi như là dịp gặp mặt nhau ngày đầu xuân. Hóa vàng tiễn các cụ xong ai cũng có cảm giác Tết đã hết. Người kinh doanh lại bắt đầu mở hàng kinh doanh như mọi ngày. Người làm công việc khác cũng vậy. Nhưng dù làm bất cứ nghề gì đi chăng nữa, ai ai cũng hy vọng lòng thành của mình được các cụ chứng giám và phù hộ cho làm ăn suôn sẻ cả năm.

Tục hoá vàng dựa trên tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, vật hoá vàng thường gắn với đời sống thường nhật, để thấy con người ở thế giới bên kia sống gần với dương gian. Tục này nhằm cung cấp cho người đã khuất tiền, quần áo (giấy), gậy đi đường (cây mía).

Người dân thường mang vàng hương ra trước cửa nhà để đốt. Sau khi đốt, gia chủ thường đổ một chén rượu cúng vào đống tro vàng mã để đồ cúng được chuyển đến đúng người nhận. Một số nhà còn hơ cây mía trên ngọn lửa hóa vàng để người cõi âm có gậy chống.

Nhiều gia đình đốt hàng chồng vàng mã như giấy vàng, giấy bạc, vàng thoi tiền cùng quần áo, giày dép, nhà cửa, xe..., thậm chí có người còn gửi người hầu, tỳ thiếp... có giá trị hàng trăm nghìn đồng cho người cõi âm.

Sau khi lễ, các gia chủ sẽ hóa vàng. Phần tiền, vàng của gia thần phải hóa trước, tiền vàng, đồ dùng của tổ tiên hóa sau. Tục xưa, tại nơi đốt vàng mã, người ta thường đặt vài cây mía dài. Dân gian cho rằng đây là đòn gánh để các linh hồn dùng làm gậy chống, hay mang hàng hóa.

Việc chọn ngày làm lễ hóa vàng tùy thuộc vào mỗi gia đình, chủ yếu từ mùng 3 đến khoảng mùng 10 Tết Nguyên đán. Điều quan trọng nhất là phải có lễ tạ gia tiên, gia thần và chư vị thánh thần, phật. Theo quan niệm dân gian, có lễ tạ thì tấm lòng của chủ nhà mới được người âm chứng giám.

Theo nhiều tài liệu sử học thì mùng 3 vẫn là ngày Tết thầy nên để tổ tiên vẫn ở lại ăn Tết với con cháu. Mùng 4 và mùng 5 mới là ngày tiễn các cụ về cõi vĩnh hằng là hợp lí hơn cả.

Nguồn gôc của tục hóa vàng

Nói về nguồn gốc của tục hóa vàng, TS Nguyễn Mạnh Cường, Viện Nghiên cứu Tôn giáo, cho rằng: “Tục hóa vàng  mã là do ảnh hưởng của người Trung Hoa. Tích kể rằng:  vào đời Hán có đôi vợ chồng là Thái Mạc và Tuệ Nương học nghề làm giấy chưa thạo đã về quê mở xưởng. Giấy làm ra xấu và khó viết chữ nên bị ế không bán được. Tuệ Nương bèn giả chết để thực hiện phương kế bán giấy. Ngày thứ 3, trước khi đi chôn, Thái Mạc đem một ôm giấy ra đốt bên cạnh quan tài vợ. Sau khi Thái Mạc đốt giấy xong thì Tuệ Nương ở trong quan tài kêu to gọi chồng, đẩy nắp quan tài bước ra hát rằng: “Dương gian tiền năng hành tứ hải. Âm gian chỉ tại tố mãi mại. Bất thị trượng phu bả chỉ thiêu. Thùy khẳng phóng ngã hồi gia lai”.

Nghĩa là: “Trên dương gian đồng tiền có thể làm được mọi việc ở mọi nơi, dưới âm phủ giấy cũng có thể dùng để mua bán. Nếu không phải chồng đốt cho giấy thì ai lại cho tôi quay về dương gian”. Nói rồi lại mang thêm 2 bó giấy nữa để đốt. Những người chứng kiến đều tin là đốt giấy thành tiền cho người âm phủ rất có lợi nên ai nấy đều về nhà lấy tiền đến nhà Thái Mạc mua giấy về đốt hóa vàng. “Tin lành” đồn xa, người các nơi tranh nhau đến nhà Thái Mạc mua giấy. Không đến 2 ngày, bao nhiêu giấy ế của hai vợ chồng Tuệ Nương đã hết sạch”.

>>> Năm mới 2017 AI xông đất nhà bạn? Sẽ mang lại nhiều may mắn tài lộc?

Xem ngay XEM TUỔI XÔNG ĐẤT 2017 mới nhất>>>

Tục hóa vàng mã theo quan điểm phật giáo

Thượng tọa Thích Thanh Duệ, Phó Trưởng ban Nghi lễ Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam khẳng định: “Trong giáo lý nhà Phật không có việc HÓA VÀNG mã cúng tế người chết. Quan điểm của đạo Phật hoàn toàn bác bỏ tục lệ mê tín này. Phật giáo chỉ khuyên trong ngày Lễ vu lan (báo hiếu cha mẹ) thì nên ăn chay niệm Phật để tưởng nhớ. Và làm Lễ xá tội vong nhân (cúng chúng sinh) – cúng những vong hồn lưu lạc một mâm cỗ chay để bố thí siêu sinh. Đồng thời, giúp đỡ những người nghèo khổ chốn trần gian, ăn chay niệm Phật và phóng sinh tích đức để siêu độ vong linh”. Đồng thời người trần cũng nhờ vào công đức đó mà được bình yên, hóa giải được vận hạn

Còn Thượng toạ Thích Thanh Nhã, trụ trì chùa Trấn Quốc (Hà Nội) cũng khẳng định rằng, kinh Phật không dạy hóa vàng mã cho người quá cố. Bản thân trụ trì cũng thường xuyên nhắc nhở Phật tử nên hạn chế hóa vàng mã. Theo ông thì nên dùng tiền mua vàng mã đốt để làm việc thiện cho đời sẽ tốt hơn rất nhiều.

Đại đức Thích Thiện Hạnh, trụ trì chùa Vinh Phúc (thôn Quang Độ, xã Văn Môn, huyện Yên Phong, Bắc Ninh) cũng cho rằng, việc đốt hóa vàng mã là mê tín dị đoan và sai hoàn toàn. Đại đức Thích Thiện Hạnh giải thích: “Chúng ta vẫn có câu: Dương sao âm vậy. Nhưng vàng mã của chúng ta về dưới đó có tiêu được không ?

Quần áo chúng ta đốt về có vừa với kích cỡ của ông bà chúng ta nữa không? Xe cộ, đồ dùng... có được gửi đúng địa chỉ không? Thành thực trả lời những câu hỏi đó cũng đủ thấy đốt vàng mã là mê tín dị đoan, không hề phù hợp hay có cơ sở. Nếu cha mẹ cõi âm chỉ mong chờ ngày này để được miếng cơm, manh áo, căn nhà... thì những tháng ngày còn lại, tổ tiên ông bà, cha mẹ ăn, mặc, ngủ, nghỉ ở đâu?

Chúng ta vẫn thường nói “Dương thịnh âm siêu”. Người dương biết làm phúc, để người âm siêu thoát. Tôi nghĩ, chúng ta nên lên chùa, thành tâm cầu nguyện hồi hướng tâm đức. Nếu có tiền để mua sắm vàng mã đốt hóa vàng cho cha mẹ, thì nên dùng tiền đó để chia sẻ cho những người nghèo khó. Bởi “Cứu một người dương gian bằng ngàn người âm phủ”. Còn cầu nguyện, chỉ cần tấm lòng thành, nếu không thành tâm thì làm gì cũng vô ích”.

Hóa vàng mã thế nào cho đúng cách

Ngày lễ tiễn ông bà, tổ tiên này rất quan trọng với người Việt. Người xưa quan niệm rằng, trong dịp Tết, các bậc gia thần, tổ tiên luôn ngự trên bàn thờ, vì thế đèn hương không bao giờ được tắt, các đồ dâng cúng như mâm ngũ quả, bánh kẹo… phải đợi đến này hóa vàng mới được đem xuống (trừ các đồ mặn, dễ thiu như thịt xôi…). Nếu đèn hương tắt, nhất là việc hạ lễ trước khi hóa vàng sẽ phạm phải điều bất kính.

Sau khi lễ, việc hóa vàng cũng phải làm riêng. Phần tiền vàng của gia thần phải hóa trước của tổ tiên để tránh nhầm lẫn. Tục xưa, tại nơi đốt vàn mã, người ta thường đặt vài ba cây mía dài để làm “đòn gánh” cho các linh hồn mang hàng hóa theo.

Chính vì ngày hóa vàng vô cùng quan trọng với người Việt cho nên mâm cơm cúng hóa vàng cũng rất đầy đủ như mâm cỗ chính của ngày Tết. Trong mâm cơm hóa vàng, con gà cúng phải to, tròn, chắc nịch, có đôi chân đẹp và được bày biện cẩn thận. Mâm cơm cúng cũng phải đủ món luộc, xào, canh, miến, cùng với bình rượu, li nước, lọ hoa, trầu cau, bánh kẹo và mâm ngũ quả để tiễn chân ông bà. Trong đó, nếu cúng mặn không thể thiếu con gà trống. Tiền âm, vàng mã cũng phải được chuẩn bị chu đáo để ông bà có hành trang, lộ phí để lên đường.

Ở nhiều nơi, việc đốt vàng mã đang bị người ta thực hiện một cách thái quá vì cho rằng, dâng cúng càng nhiều thì càng được thánh thần hay người âm phù hộ. Thực chất, đây chỉ là sự “phô trương” với người trần, hơn thế nữa là để thỏa mãn thói thường “con gà tức nhau tiếng gáy”, dẫn đến sự lãng phí tiền của một cách không cần thiết, điều này đáng phê phán.

Đồ mã ngày xưa đều làm nhỏ nhỏ xinh xinh, mỗi lễ gồm những loại tiền gì, bao nhiêu đều quy định rất cụ thể, chứ không phải cứ như bây giờ sính hoành tráng, phải to như thật là không đúng, là tốn kém lãng phí. Khi khách đến mua, đồ lễ đã được sắp sẵn theo đúng phong tục. Bộ đồ lễ cúng ông công ông táo gồm 3 chiếc mũ nhỏ, 3 đinh tiền, 3 thếp tiền vàng; hay lễ cúng giao thừa gồm 2 mũ áo cho quan hành khiển của năm cũ và năm mới và 2 lễ tiền; hoặc như lễ giải sao cũng chỉ vài nghìn.

“Mỗi khi một người thân bốc mộ, chuyển về nhà mới thì mới hóa nhà cho họ. Nhà cũng nho nhỏ tượng trưng thôi, chứ không phải làm to như thật. Còn nữa, chỉ cần dâng cúng tiền vàng, tiền vàng đó có thể trao đổi và mua được các vật dụng cần thiết trong thế giới bên kia, chứ không phải hóa tủ lạnh, tivi, xe máy, ô tô như người ta vẫn làm. Như vậy là không đúng!”

Văn khấn lễ hoá vàng

NAM-MÔ A-DI-ĐÀ PHẬT ! (3 lần) 
Kính lạy: 
- Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn Thần. 
- Ngài Đương niên, Ngài Bản Cảnh Thành Hoàng, các Ngài Thổ Địa, Táo Quân, Long Mạch Tôn Thần.
- Các Tổ Khảo, Tổ Tỷ, nội ngoại tiên linh. 
Hôm nay là ngày mồng ... tháng Giêng năm ...
Tín chủ chúng con .......................... 
Ngụ tại .......................................... 
Thành tâm sửa biện hương hoa phẩm vật, phù tửu lễ nghi, cúng dâng trước án. 
Kính cẩn thưa trình: Tiệc xuân đã mãn, Nguyên Đán đã qua, nay xin thiêu hoá kim ngân, lễ tạ Tôn Thần, rước tiễn tiên linh trở về Âm giới.
Kính xin : Lưu phúc lưu ân, phù hộ độ trì, dương cơ âm mộ, mọi chỗ tốt lành. Cháu con được chữ bình an, gia đạo hưng long thịnh vượng.
Lòng thành kính cẩn, lễ bạc tiến dâng, lưiợng cả xét soi, cúi xin chứng giám. 
Nam mô Chứng Minh Sư Bồ Tát (3 lần).
(Theo Văn khấn cổ truyền Việt Nam - NXB Văn hóa Thông tin)

>> Đã có VẬN HẠN 2017 mới nhất. Hãy xem ngay, trong năm 2016 vận mệnh bạn như thế nào nhé! >>


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cách làm lễ hóa vàng tiễn ông bà, tổ tiên khi hết Tết cho đúng

Những câu nói hay nhất về hạnh phúc trong cuộc sống

Những câu nói hay nhất về hạnh phúc trong cuộc sống. Qua bài viết này các bạn sẽ đọc được những câu nói hay nhất về hạnh phúc
Những câu nói hay nhất về hạnh phúc trong cuộc sống

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Những câu nói hay nhất về hạnh phúc trong cuộc sống. Qua bài viết này các bạn sẽ đọc được những câu nói hay nhất về hạnh phúc của các tác giả, nhà triết học nổi tiếng trên thế giới, những quan điểm về hạnh phúc đời sống hay nhất.

Cuộc sống của mỗi người thì ít nhiều gì cũng sẽ có hạnh phúc về vật chất cũng như tinh thần. Các bạn hãy đọc và suy ngẫm những câu nói nổi tiếng, câu nói hay về hạnh phúc trong đời sống dưới đây nhé.

Những câu nói hay nhất về hạnh phúc trong cuộc sống

1. Khi tôi ở một mình, tôi hạnh phúc.
When I am alone I am happy.
William Carlos Williams

———-

2. Người ít hiểu biết về bản chất con người tới nỗi muốn đi tìm hạnh phúc bằng cách thay đổi bất cứ thứ gì khác ngoài tâm tính của chính mình sẽ chỉ phí hoài cuộc đời trong những nỗ lực vô vọng.
He who has so little knowledge of human nature as to seek happiness by changing anything but his own disposition will waste his life in fruitless efforts.
Samuel Johnson

3. Hạnh phúc không có nghĩa là mọi việc đều hoàn hảo. Nó có nghĩa là bạn đã quyết định nhìn xa hơn những khiếm khuyết.
Being happy doesn’t mean that everything is perfect. It means that you’ve decided to look beyond the imperfections.
Khuyết danh

4. Nhiều người có ý tưởng sai lầm về điều sản sinh ra hạnh phúc đích thực. Nó không đạt được qua sự tự thỏa mãn mà qua sự trung thành với một mục đích đáng giá.
Many persons have a wrong idea of what constitutes true happiness. It is not attained through self-gratification but through fidelity to a worthy purpose.
Helen Keller

5. Không dễ để tìm hạnh phúc trong bản thân mình, và không thể tìm thấy nó ở đâu khác.
It is not easy to find happiness in ourselves, and it is not possible to find it elsewhere.
Agnes Repplier

6. Hạnh phúc là người thầy hà khắc, đặc biệt là hạnh phúc của người khác.
Happiness is a hard master, particularly other people’s happiness.
Aldous Huxley

7. Thu nhập cao là công thức tốt nhất cho hạnh phúc mà tôi từng biết.
A large income is the best recipe for happiness I ever heard of.
Jane Austen

8. Hãy kiên quyết đừng để mình trở nên nghèo túng: hãy sử dụng ít hơn bạn có. Sự nghèo túng là kẻ thù lớn đối với hạnh phúc của con người; nó phá hủy tự do, và nó khiến một vài đức hạnh trở thành không thực tế, và số còn lại cực kỳ khó khăn.
Resolve not to be poor: whatever you have, spend less. Poverty is a great enemy to human happiness; it certainly destroys liberty, and it makes some virtues impracticable, and others extremely difficult.
Samuel Johnson

9. Làm thế nào để có, để giữ, và để tìm lại hạnh phúc thực ra đối với hầu hết người đời ở mọi thời đại là động lực bí mật của tất cả những gì họ làm, và tất cả những gì họ sẵn sàng chịu đựng.
How to gain, how to keep, how to recover happiness is in fact for most men at all times the secret motive of all they do, and of all they are willing to endure.
William James

10. Hãy dừng bước để chắc chắn mọi điều bạn đang làm lúc này thực sự là điều sẽ khiến bạn hạnh phúc. Bạn không thể chỉ sống vì một vài mục tiêu nào đó trong tương lai và để nó trở thành tất cả. Bởi đó là điều một số người làm. Họ bước lên con đường và có vô số tấm biển nói, ‘Đường này. Đường đó.’ Nhưng sẽ ra sao nếu bạn tới nơi, bạn đạt được đúng những điều mình muốn, cũng như họ, chỉ có điều tất cả những gì không ổn thì vẫn không ổn. Nếu thế thì sao?
Stop and make sure that everything you are doing right now is really what makes you happy. You can’t just live for some goal in the future and have that be everything … have that be it. Because that is what some people do. They get on this road and there are all these signs saying, ‘This way. That way.’ But what if you get there, you get exactly what you wanted, like some people do, except all the things that were wrong, are still wrong. Then what?
Khuyết danh

11. Hành động có thể không mang tới hạnh phúc, nhưng không có hạnh phúc nào lại thiếu hành động.
Action may not bring happiness but there is no happiness without action.
William James

12. Sự tồn tại là cuộc mặc cả lạ lùng. Đời nợ chúng ta thì ít mà chúng ta thì nợ đời tất cả. Hạnh phúc thực sự duy nhất đến từ việc cống hiến hết bản thân vì một mục tiêu nào đó.
Existence is a strange bargain. Life owes us little; we owe it everything. The only true happiness comes from squandering ourselves for a purpose.
William Cowper

13. Anh không thể nói anh hạnh phúc nếu anh không thắng cuộc.
You cannot say that you are happy when you don’t win.
Arsene Wenger

14. Cả giàu sang lẫn sự vĩ đại đều không thể mang cho chúng ta hạnh phúc.
Neither wealth or greatness render us happy.
La Fontaine

15. Anh không bao giờ nên hướng con người về hạnh phúc, bởi hạnh phúc cũng chỉ là sự sùng bái của thị trường. Anh nên hướng con người tới sự yêu thương lẫn nhau. Dã thú giày vò con mồi cũng có thể hạnh phúc, nhưng chỉ loài người có thể yêu thương lẫn nhau, và đây là thành tựu cao nhất con người có thể mơ ước đạt tới.
One should never direct people towards happiness, because happiness too is an idol of the market-place. One should direct them towards mutual affection. A beast gnawing at its prey can be happy too, but only human beings can feel affection for each other, and this is the highest achievement they can aspire to.
Aleksandr Solzhenitsyn

16. Niềm hạnh phúc to lớn nhất của mọi cuộc đời là sự cô độc bận rộn.
The happiest of all lives is a busy solitude.
Voltaire

17. Hạnh phúc của một người là kết quả nỗ lực của chính anh ta, một khi anh ta đã biết nguyên liệu cần thiết của hạnh phúc chỉ là một ít can đảm, sự tự chối bỏ ở mức độ nhất định, tình yêu công việc, và trên hết, một lương tâm trong sạch.
One is happy as a result of one’s own efforts once one knows the necessary ingredients of happiness simple tastes, a certain degree of courage, self denial to a point, love of work, and above all, a clear conscience.
George Sand

18. Tiền bạc chưa bao giờ và sẽ không bao giờ khiến con người hạnh phúc, trong bản chất nó không có gì có thể tạo ra hạnh phúc. Một người càng có nó nhiều bao nhiêu càng muốn nó nhiều bấy nhiêu.
Money has never made man happy, nor will it, there is nothing in its nature to produce happiness. The more of it one has the more one wants.
Benjamin Franklin

19. Bạn được tha thứ cho hạnh phúc và thành công của mình chỉ khi bạn sẵn sàng hào phóng chia sẻ chúng.
You are forgiven for your happiness and your successes only if you generously consent to share them.
Albert Camus

20. Để hạnh phúc, chúng ta không được để tâm quá nhiều đến người khác.
To be happy, we must not be too concerned with others.
Albert Camus

21. Cuộc sống đồng điệu giữa những người yêu nhau là hạnh phúc lý tưởng.
Life in common among people who love each other is the ideal of happiness.
George Sand

22. Hạnh phúc của xã hội là kết thúc của sự cai trị.
The happiness of society is the end of government.
John Adams

23. Chỉ có một khát khao, khát khao hạnh phúc.
There is only one passion, the passion for happiness.
Denis Diderot

24. Những người thật sự yêu nhau không viết ra niềm hạnh phúc của mình.
Lovers who love truly do not write down their happiness.
Anatole France

25. Hạnh phúc giống như một nụ hôn… bạn phải chia sẻ nó để tận hưởng nó.
Happiness is like a kiss…you must share it to enjoy it.
Khuyết danh

26. Chiếc bàn, cái ghế, bát hoa quả và cây đàn vi ô lông; còn cần gì hơn cho hạnh phúc?
A table, a chair, a bowl of fruit and a violin; what else does a man need to be happy?
Albert Einstein

27. Bạn sẽ không bao giờ hạnh phúc nếu bạn tiếp tục tìm kiếm thành phần của hạnh phúc. Bạn sẽ không bao giờ sống nếu bạn vẫn tìm kiếm ý nghĩa của cuộc đời.
You will never be happy if you continue to search for what happiness consists of. You will never live if you are looking for the meaning of life.
Albert Camus

28. Thế giới đầy những kẻ mà quan điểm về một tương lai thỏa mãn thực chất là sự quay trở lại quá khứ đầy lý tưởng.
The world is full of people whose notion of a satisfactory future is, in fact, a return to the idealised past.
Robertson Davies

29. Hạnh phúc không phụ thuộc vào điều kiện bên ngoài, thái độ tinh thần của chúng ta điều khiển nó.
Happiness doesn’t depend on any external conditions, it is governed by our mental attitude.
Dale Carnegie

30. Không ai hạnh phúc nếu không nghĩ mình hạnh phúc.
No man is happy who does not think himself so.
Publilius Syrus

31. Một nửa thế giới không thể hiểu hạnh phúc của người khác.
One half of the world cannot understand the pleasures of the other.
Jane Austen

32. Để sống, chúng ta phải tranh đấu không ngừng, chúng ta phải có lòng can đảm để hạnh phúc.
To live we must conquer incessantly, we must have the courage to be happy.
Henri Frederic Amiel

33. Hạnh phúc giống như những lâu đài trong chuyện cổ tích với cổng được rồng canh gác: chúng ta phải chiến đấu để chinh phục nó.
Happiness is like those palaces in fairy tales whose gates are guarded by dragons: we must fight in order to conquer it.
Alexandre Dumas

34. Hạnh phúc trong cuộc đời không phụ thuộc nhiều vào điều xảy ra với bạn bằng cách mà bạn đón nhận nó.
The happiness of this life depends less on what befalls you than the way in which you take it.
Elbert Hubbard

35. Hạnh phúc là khi điều bạn nghĩ, điều bạn nói và điều bạn làm hài hòa với nhau.
Happiness is when what you think, what you say, and what you do are in harmony.
Mahatma Gandhi

36. Hạnh phúc đúng là món quà của thượng đế.
Le bonheur est bien un présent divin.
Aristotle

37. Chính là một dạng màu mè học đòi về tinh thần khiến người ta nghĩ rằng mình có thể thiếu tiền mà hạnh phúc.
It is a kind of spiritual snobbery that makes people think they can be happy without money.
Albert Camus

38. Tôi không tự hào, nhưng tôi hạnh phúc; và hạnh phúc mùa lòa, tôi nghĩ vậy, còn hơn lòng tự hào.
I am not proud, but I am happy; and happiness blinds, I think, more than pride.
Alexandre Dumas

39. Hạnh phúc không phải đích đến; nó là phụ phẩm.
Happiness is not a goal; it is a by-product.
Eleanor Roosevelt

40. Tôi không biết số phận anh sẽ thế nào, nhưng tôi biết rằng những người duy nhất trong các anh sẽ thực sự hạnh phúc là những ai đã tìm được cách để phụng sự.
I don’t know what your destiny will be, but one thing I know: the only ones among you who will be really happy are those who will have sought and found how to serve.
Albert Schweitzer

41. Đôi lúc cũng cần thiết dừng chân trong cuộc hành trình theo đuổi hạnh phúc, và chỉ đơn giản là cảm thấy hạnh phúc.
Now and then it’s good to pause in our pursuit of happiness and just be happy.
Guillaume Apollinaire

42. Thực sự thì tôi cho rằng không gì thực hơn hạnh phúc và không gì hạnh phúc và ngọt ngào hơn sự thật.
Indeed in general I hold that there is nothing truer than happiness, and nothing happier and sweeter than truth.
Gottfried Wilhelm Leibniz

43. Nhưng hạnh phúc còn là gì ngoài sự hài hòa giản đơn giữa một người và cuộc sống của anh ta?
But what is happiness except the simple harmony between a man and the life he leads?
Albert Camus

44. Để giữ được niềm vui bạn phải chia sẻ nó. Hạnh phúc chào đời đã là anh em sinh đôi.
To have joy one must share it. Happiness was born a twin.
Lord Byron

45. Hạnh phúc luôn luôn được tính toán.
Le bonheur est toujours compté.
Yoram Kaniuk

46. Dù chúng ta có lang thang tới đâu, hạnh phúc cũng được tìm thấy trong phạm vi hẹp, và ở giữa những điều trong tầm với của chúng ta.
What ever our wandering our happiness will always be found within a narrow compass, and in the middle of the objects more immediately within our reach.
Edward Bulwer Lytton

47. Chỉ kẻ ngu xuẩn mới hy vọng lúc nào cũng hạnh phúc.
Only a fool expects to be happy all the time.
Robertson Davies

48. Hạnh phúc và sự phi lý là hai đứa con của cùng một mẹ đất. Chúng không thể tách rời.
Happiness and the absurd are two sons of the same earth. They are inseparable.
Albert Camus

49. Điều chúng ta gọi là hạnh phúc là điều chúng ta không biết.
What we call happiness is what we do not know.
Anatole France

50. Con đường hạnh phúc có thể là con đường quên lãng.
La route du bonheur est peut-être la route de l’oubli
Yasmina Reza

Dù thế nào đi chăng nữa, bạn hãy luôn mỉm cười với cuộc sống hiện tại của mình, hãy tin rằng thế giới này còn bao điều tốt đẹp đang chờ bạn khám phá.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những câu nói hay nhất về hạnh phúc trong cuộc sống

6 chòm sao có vận trình tình cảm tốt nhất tháng 5

Tình cảm là thứ khó dự đoán mà đời sống tình cảm của mỗi người cũng khó lường, thần bí. Cùng điểm danh 6 chòm sao có vận trình tình cảm tốt nhất tháng 5.
6 chòm sao có vận trình tình cảm tốt nhất tháng 5

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tình cảm là thứ khó dự đoán mà đời sống tình cảm của mỗi người cũng khó lường, thần bí. Tuy rằng, ai cũng khát khao có được tình yêu ngọt ngào say đắm nhưng nếu vận trình không tốt, bản thân không cố gắng thì chắc chắn sẽ không được như ý nguyện. Cùng điểm danh 6 chòm sao có vận trình tình cảm tốt nhất tháng 5 này nhé

6 chom sao co tinh yeu thang hoa no ro nhat thang 5 hinh anh 2
 

Hạng 1: Xử Nữ - chỉ số tình cảm: ★★★★★

  Tiến vào tháng 5, chòm sao Xử Nữ có Mặt Trời và sao Thổ cùng hiện ra ở góc hoàn mỹ nhất, mà trung tâm là cung ái tình của chòm này. Vì lẽ đó mà vận trình tình cảm vô cùng tốt đẹp, vô cùng thăng hoa, có nhiều may mắn.   Mặt Trời chủ về quý nhân nên tháng này bạn có người giúp đỡ, trung gian giúp cho tình cảm ngày càng thêm chặt chẽ. Người đang yêu tránh được hiểu lầm, có những cuộc gặp gỡ thuận lợi; người độc thân nhờ mai mối giới thiệu mà gặp người xứng lứa hợp đôi, phát triển xa hơn.
Xem thêm bài viết: Giải mã sức hấp dẫn và quyến rũ của đàn ông Xử Nữ
 

Hạng 2: Kim Ngưu – chỉ số tình cảm: ★★★★★

  Ở tháng này, sao Thiên Vương tiến vào phạm vi chòm sao Kim Ngưu mang tới nhiều điều tốt lành, mà trong đó tốt nhất, đẹp nhất chính là cung tình ái. Nhờ vậy mà Ngưu chan trở thành một trong những chòm sao có vận trình tình cảm tốt nhất tháng 5 Những người độc thân bắt đầu chính thức mở rộng cánh cửa tâm hồn, đối với chuyện yêu đương đã cởi mở và mong chờ hơn rất nhiều, thấy có người phù hợp sẽ dũng cảm theo đuổi hoặc có người ngỏ ý cũng tự nhiên mà tiếp xúc nhiều hơn. Người đang yêu hoặc đã kết hôn chủ động đối xử tốt với nửa kia của mình để rút ngắn khoảng cách, tăng thêm sự gần gũi.  

Hạng 3: Song Tử - chỉ số tình cảm: ★★★★★

  Tiến vào tháng 5 xinh đẹp, chòm sao lý trí Song Tử sẽ trở nên đặc biệt cảm tính, thiếu hẳn những suy nghĩ cứng nhắc hay những đắn đo không cần thiết. Điều này khiến bạn trở nên ngọt ngào, nhẹ nhàng, đáng yêu và vô cùng lãng mạn trong các mối quan hệ.   Vì muốn người mình yêu cảm động mà Song Tử sẵn sàng chuẩn bị rất nhiều điều bất ngờ, ví dụ như hẹn hò ngoài trời, ví dụ như món quà tự làm hay một chuyến du lịch chỉ có hai người. Người còn độc thân nếu muốn theo đuổi hạnh phúc thì lại càng phải tranh thủ thời điểm này, mạnh dạn tiến lên tỏ tình. Để tăng cường hơn nữa vận may tình ái, hãy tham khảo bài viết: Cung Song Tử hợp màu gì để tiền đầy túi tình đầy tim?  

Hạng 4: Nhân Mã – chỉ số tình cảm: ★★★★


6 chom sao co tinh yeu thang hoa no ro nhat thang 5 hinh anh 2
 
Tháng này sao Kim thuận lợi tiến vào chòm Nhân Mã mang tới rất nhiều điểm sáng, đặc biệt là trên phương diện tình cảm, được xếp vào hàng những chòm sao có vận trình tình cảm tốt nhất tháng 5. Quan hệ giữa bạn và người đó sẽ trở nên ổn định, không phát sinh mâu thuẫn cuộc sống.   Với chòm sao ham chơi như Nhân Mã thì đây quả thực là một tháng rất tốt để bạn bồi dưỡng sự chín chắn, trưởng thành trong mối tình của mình. Người còn độc thân muốn đạt được hạnh phúc thì phải nỗ lực rất nhiều, bạn bỏ ra bao nhiêu sẽ thu về bấy nhiêu, yêu là không hối tiếc.  

Hạng 5: Hổ Cáp – chỉ số tình cảm: ★★★★

  Tháng 5 là tháng may mắn của cung hoàng đạo Hổ Cáp bởi sao Kim và sao Mộc cùng tới, mang tới cho bạn nhiều sự hỗ trợ. Tuy rằng phương diện tình cảm không ảnh hưởng quá lớn nhưng cũng sẽ giúp Cáp Cáp có thêm dũng khí và cơ hội để thể hiện tình cảm với người mình yêu mến.   Tình yêu của bạn phát triển theo hướng ổn định, chậm mà chắc, có nhiều thời gian cùng nhau hưởng thụ cuộc sống ngọt ngào, lãng mạn, thấu hiểu và đồng cảm sâu sắc, từ đó tự nhiên bền vững, không cần phải đao to búa lớn.  

Hạng 6: Bạch Dương – chỉ số tình cảm: ★★★★

  Là một trong những chòm sao có vận trình tình cảm tốt nhất tháng 5, Bạch Dương đã biết cách tiết chế bản thân. Khi xảy ra mâu thuẫn, xung đột bạn có thể tìm thấy cách giải quyết thích đáng, dùng phương thức dịu dàng nhất hóa giải những nguy cơ tiềm ẩn để tình cảm phát triển lớn mạnh, sâu sắc hơn.   Tháng này Bạch Dương gặp không ít khó khăn trong tình cảm riêng nhưng chính nhờ cách suy nghĩ và xử lý thấu đáo như vậy mà bạn có duyên kì ngộ, bao nhiêu sóng gió qua đi, mây mù tan hết, chỉ còn lại ánh sáng rực rỡ của tình yêu chân thành. Điển hình là trường hợp cô nàng Nhân Mã chàng trai Bạch Dương - cặp đôi "quẩy" tưng bừng
Tử vi tháng 5 của 12 cung hoàng đạo Xem bói tháng 5: Con giáp công danh sự nghiệp thăng tiến ầm ầm Xem bói tháng 5: Kẻ tiểu nhân đang chực chờ hãm hại những con giáp này

Trình Trình

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 6 chòm sao có vận trình tình cảm tốt nhất tháng 5

Xem lông mày trước khi kết thân để không chọn nhầm người

Tướng lông mày là một trong những nét tướng cách phản ánh tính cách, bản chất mỗi người. Trước khi kết thân với ai đó, hãy nhìn xem họ thuộc kiểu lông mày nào dưới đây để không chọn nhầm người nhé!

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Kiểu 1   Đây được coi là tướng lông mày sáng tạo. Chủ nhân của kiểu lông mày này sở hữu sức sáng tạo vô biên, thường đưa ra những ý tưởng khác người, không bị trùng lặp. Trong mọi hoàn cảnh, họ luôn thích ứng rất nhanh nhạy, do đó luôn ở thế chủ động, làm chỗ dựa cho mọi người xung quanh.   Kiểu 2   Nếu ai đó nói bạn “nghịch như quý sứ”, ắt hẳn bạn sẽ có kiểu lông mày này. Bạn biết cách cân bằng cuộc sống, luôn điềm tĩnh trong mọi tình huống, kể cả đó là tình huống cấp bách hay gian nguy.    Nhìn chung, người này tính tình vui vẻ, hoạt bát, đôi khi có chút khờ khạo nhưng vô cùng đáng yêu. Họ thích thích đi du lịch biển, tới những nơi có thời tiết ấm áp.   Kiểu 3   Chủ nhân của tướng lông mày này có lối suy nghĩ thực tế và rất hợp lý, thấu đáo. Họ chín chắn, luôn là người đưa ra lời khuyên bổ ích cho mọi người xung quanh. Tuy nhiên, người này lại quá cẩn trọng trong giao tiếp, đôi khi lo lắng rằng điều đó sẽ khiến mọi người cảm thấy nhàm chán.   Tuy nhiên, trong mắt mọi người, bạn thuộc tuýp thú vị, có đời sống tình cảm phong phú. Ngoài ra, bạn thích nuôi chó hơn nuôi mèo.   Kiểu 4   Đây đích thực là tuýp người khả ái, thân thiện và dễ mến. Bạn biết đồng cảm với mọi người và hay động lòng trắc ẩn, cao thượng.   Chính vì thế, không ít người có kiểu lông mày này thích hoặc có xu hướng ăn chay (hoặc ít nhất là cố gắng trở thành người ăn chay ở một số thời điểm trong cuộc sống).   Ngoài ra, bạn thích đi bộ, thưởng thức trà nóng và đọc sách. Dù là chó, mèo hay thỏ, bạn đều thích nuôi chúng làm thú cưng.   Kiểu 5   Bạn tự tin nhưng đôi khi lại thái quá nên biến thành cao ngạo, hách dịch. Bạn luôn hiểu được những gì mình muốn và cố gắng để đạt được nó bằng mọi giá.    Trong tập thể, bạn luôn tỏ ra là người năng động, chủ động xử lý tình huống. Bạn cũng không hề che giấu sở thích làm quản lý, lãnh đạo của mình. Điều đó không có gì sai nếu như bạn không quá phô trương.  

Xem tuong long may truoc khi ket than de khong chon nham nguoi hinh anh 2
 
Kiểu 6   Chủ nhân của kiểu lông mày này là sự tổng hòa của cả lối sống hướng nội và hướng ngoại. Lúc thì bạn nhút nhát, nhưng khi lại vô cùng cởi mở, tùy vào tình hình giao tiếp.   Với bạn, việc thưởng thức các chương trình truyền hình một mình là điều không gì tuyệt vời bằng. Bạn ghét việc bị ai đó làm gián đoạn sở thích ấy của mình.   Kiểu 7   Bạn trung thực, đúng rồi, không ai phủ nhận điều đó. Nhưng trung thực quá thành ra người khác lại bảo bạn ngốc nghếch.    Với bạn, câu cửa miệng bao giờ cũng rất thật thà. Bạn thường thốt ra sự thật trước khi dành thời gian để cân nhắc việc sẽ tạo ra một lời nói dối từ trong suy nghĩ. Điều này có mặt tốt nhưng cũng có mặt hạn chế, nên học cách thay đổi vẫn tốt hơn.   Kiểu 8   Tính tình người có kiểu lông mày này khá dễ chịu, điềm đạm và tự chủ. Bên cạnh đó, lối sống phóng khoáng khiến bạn kết giao được rất nhiều bạn bè tốt.    Thêm nữa, bạn có giác quan tuyệt vời, gout thẩm mĩ tinh tế, nên thường được bạn bè ngưỡng mộ về phong cách ăn mặc cũng như trang trí nội thất trong gia đình.    Kiểu 9   Có kiểu lông mày này, bạn đích thị thủy chung, trọng tình nghĩa và rất trung thành. Dù bạn làm gì, chứ “tín” vẫn được đặt lên hàng đầu. Đó là “vũ khí bí mật” giúp bạn gặt hái hết thành công ngày tới thành quả khác.    Trong mắt mọi người, chủ nhân của nét tướng cách này là người bạn tuyệt vời, đáng tin cậy và có thể chia sẻ bất cứ điều gì trong cuộc sống, kể cả là bí mật riêng tư nhất.   Ngân Hà  
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem lông mày trước khi kết thân để không chọn nhầm người

Những bệnh về bộ máy bài tiết và sinh dục

Về mặt cơ thể không có sao nào chỉ những bộ phận bài tiết cho rõ ràng. Nhưng về bộ phận sinh dục, có sao Kình Dương chỉ dương vật, sao Thai chỉ âm hộ.
Những bệnh về bộ máy bài tiết và sinh dục

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

- Thiên riêu hay Thiên Hư: bệnh suy thận, dương hư.
- Tham, Riêu
- Đào, Hồng, Không, Kiếp
- Riêu, Cái
Ba bộ sao kể trên chỉ bệnh phong tình.
- Đào Hồng, Kỵ, Mộc
- Đào Hình, Thai, Mộc
Theo Thái Thứ Lang. 2 bộ sao này chỉ bệnh phạm phòng nhưng không được mô tả rõ ràng.
- Đào Hồng, Riêu, Hỷ
- Mộc Cái
Hai bộ sao này chỉ bệnh mộng tinh, di tinh.
- Thai, Không, Kiếp
Bộ sao này chỉ bệnh đau tử cung lệch hay sa tử cung.
- Cự, Kình, Hoả
- Tham ở Tý, Ngọ (có thể đi kèm với Đà La


  Hai bộ sao này chỉ bệnh do tửu sắc, sinh dục quá độ. Tất cả các sao trên có thể đi chung với Sát Tinh, hình tinh, hao bại tinh, ám tinh. Đi với Không Kiếp thường là nặng và có máu mủ, với Thiên Hình, Kiếp Sát có thể bị mổ xẻ .v.v...


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những bệnh về bộ máy bài tiết và sinh dục

Kết hợp Bát trạch với Huyền Không phi tinh để nạp khí cổng –

Khí nạp vào ở cổng chia làm hai loại cát, hung chủ quản vấn đề họa phúc của cả một gia trạch. Cổng quan trọng bởi lẽ nó quyết định đầu vào của khí, giống như sự hít thở hô hấp rất quan trọng của con người thông qua mũi miệng. Phương pháp xem xét phải

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Khí nạp vào ở cổng chia làm hai loại cát, hung chủ quản vấn đề họa phúc của cả một gia trạch. Cổng quan trọng bởi lẽ nó quyết định đầu vào của khí, giống như sự hít thở hô hấp rất quan trọng của con người thông qua mũi miệng.

av

Phương pháp xem xét phải lấy phi tinh Huyền Không làm cơ bản cốt yếu, lấy khí sinh vượng của đương vận. Ví dụ như vận 8 sao Bát Bạch vượng tinh, lấy khí của sao Bát Bạch hoặc Cửu Tử, Nhất Bạch thì khí được sinh vượng. Tránh khí suy tử, khí Ngũ Hoàng, Bệnh Phù Nhị Hắc tối độc.

av

Kết hợp phi tinh Huyền Không vói Bát trạch làm yếu tố bổ trợ. Cổng cửa ở phương vị cát lành, tránh phương xấu như Tuyệt Mệnh, Ngũ Quỷ, Lục Sát, Họa Hại.

Nếu kết hợp một yếu tố xấu với một yếu tố tốt thì có thể bổ trợ tránh được phần nào hung họa.

“Bảo chiếu kinh” nói:

“Thiên cơ diệu quyết bổn bất đồng
Bát quái chích hữu nhất quái thông
Càn Khôn Cấn Tốn triền hà vị
Ất Tân Đinh Quý lạc hà cung
Giáp Canh Nhâm Bính lai hà địa
Tinh thần lưu chuyển yếu tương phùng
Mạc bả thiên cương xung diệu quyết
Thác tương Bát quái tác tiên tông”.

Cổng cửa ví như xương sống, đường đi ví như gân cốt, nếu xương tốt nhưng gân cốt không tốt thì không thể đem lại sự tốt lành cho ngôi nhà.

Đường đi dẫn khí phải tính toán sao cho việc dẫn khí đảm bảo tối đa hiệu quả, tránh những xung sát như cách xuyên tâm sát, liêm đao sát, thiên trảm sát.

Xét cổng cửa, đường đi theo cửu cung Bát quái, lấy phương sinh vượng, tránh phương suy tử, lấy việc bài trí phong thủy xem như việc dưỡng sinh cho một cơ thể khỏe mạnh.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Kết hợp Bát trạch với Huyền Không phi tinh để nạp khí cổng –

Xem bói tử vi tuổi Tỵ

Xem bói tử vi tuổi Tỵ qua tính cách, tình yêu theo nhóm máu, các cột mốc sự nghiệp của tuổi Tỵ, bói tử vi theo tháng sinh & giờ sinh, hợp khắc 12 con giáp

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Chuyên đề tử vi 12 con giáp tuần này bàn về xem bói tử vi tuổi Tỵ qua tính cách, tình yêu theo nhóm máu, các cột mốc sự nghiệp của tuổi Tỵ, sự xung khắc của tuổi Tỵ với các con giáp còn lại. Chi tiết vận mệnh của Giáp Tý, Bính Tý, Mậu Tý, Canh Tý và Nhâm Tý theo tháng sinh và giờ sinh.

Một con rắn có thể xuất hiện thật lạnh lẽo và trơn trượt, nhưng bạn đừng để mình bị đánh lừa, vì người tuổi Tỵ gây ấn tượng, bí ẩn, khôn ngoan, hấp dẫn và khá lãng mạn. Người sinh năm Tỵ có khả năng đưa mọi thứ trở về trạng thái tĩnh, nhờ đó, gieo rắc sự tĩnh lặng qua chuyển động đầy gợi cảm, khiến người khác thấy lúng túng và bị quyến rũ.

1. Tính cách người tuổi Tỵ

Con Rắn có thể được xem như là một thứ tiêu khiển, nhưng phải cẩn thận, vì theo tử vi của người Việt Nam, con Rắn là biểu tượng chính của sự xấu xa. Vì thế, quan trọng là phải lưu ý đến người tuổi Tỵ, và không bao giờ đặt niềm tin tuyệt đối vào họ bởi vì họ có thể nhanh chóng phản lại bạn.

Khôn ngoan và kiên nhẫn, Rắn biết cách quan sát và chờ đợi. Họ không thuộc tuýp người bốc đồng, mà ngược lại, rất kín đáo, bình tĩnh, bảo thủ, và bí ẩn. Hơn nữa, ẩn sau đôi mắt tinh ý đó là một bộ óc luôn phân tích, giúp cho những ai thuộc cung mệnh này có được tính tinh tế, cẩn trọng và khả năng phán đoán đúng đắn để tìm ra mấu chốt cho từng vấn đề cũng như giải quyết chúng một cách ổn thỏa. Những người hay lo nghĩ này còn được phú cho sự thông thái và hiểu biết triết học một cách sâu sắc về những đổi thay của cuộc đời. Đó là tài năng và thực tế cũng là do họ cần có một cuộc sống bảo đảm về tài chính, vì thế mà Rắn còn được xem là những người canh giữ kho báu.

Một cuộc sống đầy xung đột và hỗn loạn không dành cho người tuổi Tỵ, bởi lẽ họ yêu hòa bình và thích tĩnh lặng. Họ hướng về tinh thần hơn là vật chất. Rắn thích ngồi suy ngẫm và ghét bị quấy rầy. Rắn thiên về chất hơn là lượng. Phong cách tao nhã, dễ chịu nhưng không kém phần sang trọng là những gì mà Rắn muốn trang trí tổ ấm thân yêu của mình.

Người sinh năm Tỵ có thể trở thành nhà triết học, thần học, nhà chính trị và cũng có thể là một nhà tư tưởng cực kì sâu sắc. Anh ta là nhân vật bí ẩn nhất trong số mười hai con giáp. Anh ta có trí tuệ đặc biệt bẩm sinh, ngoài ra còn là một người theo chủ nghĩa thần bí. Người tuổi Tỵ nho nhã, lịch sự, rất thích đọc sách nghe nhạc, thích ăn ngon và xem kịch. Anh ta bị thu hút trước mọi thứ đẹp đẽ của cuộc sống. Những cô gái xinh đẹp nhất, nổi bật nhất, các chàng trai cá tính mạnh mẽ thường sinh vào năm Tỵ, cho nên nếu bạn sinh năm Tỵ, chắc hẳn bạn sẽ có một vận mệnh tốt đẹp.

Người tuổi Tỵ thường dựa vào chính bản thân để phán đoán và hành sự. Anh ta hoặc là có tính tôn chỉ cao, hoặc là người theo chủ nghĩa hưởng thụ, bất luận thế nào, anh ta thà tin vào sự mù quáng của mình, chứ không muốn nhận lời khuyên của người khác. Nhưng thông thường, sự lựa chọn của anh ta luôn chính xác.

Giống như rồng, Rắn cũng tượng trưng cho vận mệnh của anh ta, cuộc đời anh ta hoặc ca khúc khải hoàn hoặc kết thúc một cách bi đát. Đằng sau vẻ ngoài đầy kinh nghiệm, từng trải, ẩn giấu sự nghi kị sâu sắc, dù anh ta phủ nhận điều này. Người thuộc các con giáp khác có lẽ đều muốn để kiếp sau trả nốt món nợ còn thiếu nhưng người tuổi Tỵ nhất định phải trả hết nợ nần trước khi rời cõi đời. Vì thế người sinh năm Tỵ thường nhiệt tình, chăm chỉ khi làm việc, anh ta luôn để tâm thanh toán bằng hết các khoản nợ.

Người tuổi Tỵ không bao giờ phải phiền muộn vì thiếu tiền. Anh ta thật hạnh phúc khi có đầy đủ mọi thứ mình cần. Nếu thiếu tiền, anh ta có thể nhanh chóng xoay ngược cục diện. Tuy nhiên người tuổi Tỵ không nên đi đánh bạc, nếu không anh ta sẽ mất trắng tay. Nếu như đã chịu thiệt hại nặng một lần, không bao giờ anh ta để điều đó tiếp tục xảy ra, anh ta sẽ tỉnh ngộ rất nhanh, cấp tốc hồi phục lại. Nói chung, anh ta thận trọng và nhạy bén trong kinh doanh. Người tuổi Tỵ vốn thông minh nên họ rút kinh nghiệm khá nhanh và không bao giờ bị thất bại đến lần thứ hai. Tuy vậy họ lại là người cực đoan, điều gì họ đã cho là đúng thì họ sẽ không nhường một ai cả.

Một người đã từng chịu cảnh nghèo nàn khi còn trẻ sẽ không bao giờ quên cảnh ngộ ngày nào, có thể anh ta sẽ dành dụm, tích lũy từng ly từng tí, trở thành con người tham lam, coi tiền như sinh mạng mình.

Xét về bản tính, người tuổi Tỵ rất đa nghi dù bề ngoài luôn tỏ vẻ tin tưởng tuyệt đối, nhưng khác với tuổi Dần, anh ta giấu kín lòng đa nghi, kể cả bí mật riêng tư cũng giấu thật kĩ trong lòng.

Người tuổi Tỵ rất thích lối thể hiện ngược, đó là dù trong lòng cực kì giận dữ, nhưng ngoài mặt lại rất thản nhiên, lạnh lùng. Họ thích biểu lộ sự bất mãn bằng thái độ, cử chỉ lạnh nhạt hơn là dùng lời nói chua cay, họ sẽ âm thầm chờ đợi thời cơ để báo thù.

Do nói năng lịch sự, cử chỉ nho nhã, nên người tuổi Tỵ không muốn chìm đắm vào những câu chuyện vô bổ hoặc vặt vãnh. Anh ta có thể hất đổ bất cứ ai cản đường mà không chút hối hận. Có một số người tuổi Tỵ nói năng chậm rãi, từ tốn, nhưng đó không phải là tốc độ tư duy và hoạt động của anh ta. Họ thích suy tư, tính toán và có thể trình bày quan điểm của mình một cách hệ thống. Nói chung, anh ta nói năng rất cẩn thận.

Nếu dự đoán người tuổi Tỵ sẽ thay đổi ra sao hoặc sẽ phát triển đến trình độ nào thì quả không đáng tin đâu, cái đầu óc luôn vận động, tính toán của anh ta sẽ chẳng nghỉ ngơi, mà không ngừng hoạch định sách lược, hơn nữa còn ghi nhớ rất lâu. Anh ta thuộc con giáp ngoan cường nhất trong số mười hai con giáp.

Trong mối quan hệ với mọi người, anh ta ưa thích chiếm hữu và yêu cầu người khác rất cao. Với bạn bè anh ta vẫn giữ thái độ thiếu tin tưởng ở một mức độ nhất định. Anh ta không tha thứ cho người nào lỡ hẹn. Khi anh ta cảm thấy sợ hãi hoặc nghi ngờ chuyện gì, thần kinh rất dễ bị kích động, thậm chí trở nên điên cuồng. Khi bị chọc giận anh ta căm tức nghiến răng nghiến lợi, nhưng hành động đối địch của anh ta lại âm thầm, lặng lẽ và để bụng rất dai. Anh ta thích biểu đạt sự bất mãn bằng vẻ chống đối lạnh lùng chứ không mỉa mai cay nghiệt hoặc cãi vã nặng lời. Người tuổi Tỵ thích đánh cho kẻ địch một đòn chí mạng, rồi tiêu diệt đến tận gốc rễ. Bản thân dòng tư duy của anh ta đã là một kiểu tính toán, và có thể đợi thời cơ báo thù sau. Với những kẻ chẳng may chọc giận anh ta, có trốn sang tận Siberia cũng chưa phải là chuyện quá bi đát.

Nữ giới tuổi Tỵ vốn là một mỹ nữ, gương mặt bình thản, an lành và xinh đẹp của cô khiến người ta ngây ngất. Cô tự tin, ung dung và thong thả. Tuy cô thường đi nhàn tản khắp nơi, tạo cho người ta ấn tượng rằng cô lười biếng, trốn việc công đi ở việc chùa, nhưng tuyệt đối không phải vậy, đầu cô luôn bận rộn đấy.

Làn da của người tuổi Tỵ rất đẹp, không nổi mụn hay tàn nhang, thậm chí ngay cả lúc không chú ý giữ gìn cũng vẫn vậy. Cứ như thể sự bực tức, lo lắng chỉ ảnh hưởng đến hệ thống tiêu hóa và thần kinh thôi còn chẳng hề hấn gì đến ngoại hình anh ta cả. Nhiều người tuổi Tỵ dễ qua đời vì bệnh dạ dày, đường ruột hoặc suy sụp tinh thần… những bệnh tật này đều do phiền muộn tạo nên.

Nữ giới tuổi Tỵ yêu thích thời trang, ăn mặc đúng mốt. Cô ưa thích trang sức châu báu, rất tỉ mỉ khi lựa chọn trang phục. Nếu điều kiện kinh tế cho phép, cô sẽ mua viên kim cương hay ngọc đẹp nhất. Sau khi kết hôn, cô sẽ trở thành người tiêu xài như nước. Chỉ cần chồng cô vẫn còn tiềm lực, cô sẽ tìm mọi cách giúp anh đạt được thành công. Cô sẽ trang điểm rực rỡ để làm một bà chủ hòan mỹ, đồng thời có thể chỉ ra cho chồng từng cơ hội trong cuộc sống một cách sắc sảo. Với một người vợ hết lòng hết sức ủng hộ vợ như vậy, anh chỉ có thể tiếp bước chứ còn cách nào khác nữa đâu.

Phụ nữ tuổi Tỵ không mấy quan tâm đến vấn đề bình đẳng nam nữ, cô chẳng khi nào đau buồn vì vấn đề quyền lực cho phái yếu. Khi cô dễ dàng dẫn dắt cánh đàn ông làm việc theo chủ ý của mình, cô cần gì phải tranh giành với họ nữa nhỉ? Về vấn đề nữ quyền, cô chỉ suy nghĩ mà thôi. Cho nên khi cô mụ cả đầu óc vì bị cuốn vào chuyện tranh cãi bình đẳng nam nữ, xin đừng trách cô. Vì cô vẫn luôn cho rằng các cô gái sinh ra đã là loại người nhất đẳng, tại sao phải vứt bỏ sự sắp đặt ổn thỏa, hợp lí đó chứ? Chỉ cần họ phục tùng ý nguyện của cô, cô sẽ vỗ về những anh chàng ấy, khiến họ mãn nguyện, vui lòng.

Nói chung người tuổi Tỵ ưa thích hài hước, song cũng có trường hợp ngoại lệ. Một số người lãnh đạm, lạnh lùng, một số khác lại thường trêu đùa, chế giễu người khác. Thời cơ tốt nhất để quan sát hết thảy điều này là khi anh ta hoặc cô ta đang ở trong tình thế bức bách. Lúc nguy cấp người tuổi Tỵ có thể hâm nóng bầu không khí bằng cách pha trò vui vẻ, ngay cả khi anh ta chịu áp lực nặng nề cũng chẳng chút hốt hoảng.

Một số người cho rằng rắn thâm hiểm, không thể nắm bắt. Tuổi thọ của nó kéo dài vì mỗi lần thay da là một lần được sống lại. Cái phẩm chất đặc biệt này tượng trưng rằng nó có năng lực tái sinh. Ngay sau trận chiến ác liệt, anh ta có thể nhanh chóng phục hồi sinh lực. Đến đây hẳn bạn đã biết đối phó với người tuổi Tỵ không phải là chuyện dễ như trở bàn tay rồi chứ? Thực tế, điều khó đối phó nhất chính là vẻ bề ngoài và trong lòng anh ta không thống nhất, đằng sau vẻ điềm nhiên, bình thản còn ẩn chứa một trái tim nhanh nhạy, cảnh giác từng giờ từng phút, hơn nữa vui buồn, yêu giận cũng không để lộ ra ngoài. Trước khi chuẩn bị hành động, anh ta đã sắp đặt kế hoạch tỉ mỉ, cặn kẽ từ lâu rồi. Ý chí kiên cường giúp anh ta bám chắc trận địa. Anh ta rất giảo hoạt, ngay cả khi bạn tưởng chừng đã nắm chặt được rồi, anh ta vẫn có thể tháo thân rút chạy. Khi anh ta đã quyết tâm làm chuyện gì dù trời có sập anh ta cũng chẳng bận lòng.

Người Trung Quốc cho rằng tuổi Tỵ sinh vào hai mùa xuân hạ là lợi hại nhất. Tuổi Tỵ sinh vào mùa đông thì hiền lành, điềm tĩnh. Vì mùa đông là thời kỳ Rắn ngủ. Người nào sinh vào lúc thời tiết đẹp thì vui nhộn, dễ thỏa mãn hơn ai sinh ra trong lúc trời xấu. Người tuổi Tỵ có thời niên thiếu và thanh niên khá êm đềm, mang bao mơ ước trong sáng bước vào đời và trưởng thành trong hoàn cảnh êm ả. Còn đến thời kì trung niên, rất nhiều phiền muộn không như ý dần dần xuất hiện, nhưng sẽ không ảnh hưởng lớn đến cuộc sống bằng phẳng. Thế nhưng Tỵ phải đặc biệt chú ý đến tuổi già của mình. Vì bản tính vô cùng mẫn cảm, thêm vào đó còn ưa thích mạo hiểm, nên tuổi già của tuổi Tỵ gặp phải những trắc trở không cần thiết.

Người tuổi Tỵ đa tình, cặp mắt họ luôn ngầm sóng sánh làn thu ba. Nếu bạn cho rằng anh ta đang yêu thì hố to rồi. Do họ rất mẫn cảm trước bất cứ chuyện gì, nên khi khao khát hòan thành một vụ làm ăn lớn, mắt họ cũng nồng nàn như vậy, cứ như thể đó là mối tình đầu của họ vậy.

Người tuổi Tỵ thường sống rất sôi động, luôn luôn biến đổi và ngày đêm vắt óc suy nghĩ, tính tóan, đặc biệt là những ai thích nổi đình nổi đám, tranh quyền đoạt lợi. Trong cơn lao đao hay hoàn cảnh khó khăn, người tuổi Tỵ vẫn kiên cường, vững chắc, có thể lâm nguy mà chẳng hề run sợ, đương đầu với mọi thử thách cam go. Anh ta có tinh thần trách nhiệm cao. Mục tiêu rõ ràng. Một lí tưởng cao xa kết hợp với ưu thế bẩm sinh giúp anh ta đạt đến đỉnh cao của quyền lực.

Stress là một khó khăn lớn đối với vài con vật trong mười hai con giáp, bao gồm cả con Rắn. Người tuổi Tỵ dễ bị rơi vào căng thẳng khi cuộc sống của họ không theo đúng thứ tự. Họ thích một cuộc sống bình yên, họ chọn sự yên tĩnh chứ không chọn sự náo nhiệt và thích loại công việc dễ xử lý hơn là loại công việc bận rộn.

2. Tình yêu của người tuổi Tỵ

Rắn là người bạn chơi tốt nhưng rất nguy hiểm khi là kẻ thù. Những gì mà họ làm, họ đều cố gắng dành hết thời gian hoàn thành thật hiệu quả mà không cần sự giúp đỡ nào cả. Trong chuyện tình cảm, chắc chắn một điều Rắn luôn dành sự quan tâm và tình yêu sâu sắc dành cho người ấy. Nhưng phải thừa nhận một điều là Rắn rất ghen tuông và có tính sở hữu dù là một người yêu tuyệt vời. Dù tình cảm đã rạn nứt, không còn yêu đối phương, nhưng vẫn muốn chiếm hữu họ, vậy nên thường tạo ra nhiều rắc rối.

Những người tuổi Tỵ là người chịu trách nhiệm trong các mối quan hệ và họ sẽ là người quyết định xem có nên tiếp tục mối quan hệ đó hay không. Một khi đã lựa chọn được người bạn đời, họ sẽ không ngại công khai điều đó. Người bạn đời của họ sẽ giống như một phần thưởng mà họ giành được sau bao lâu mong ước, họ trở nên ghen tuông và thậm chí là bị ám ảnh khi họ bảo vệ người ấy. Quan trọng là không bao giờ được phản bội người tuổi Tỵ, vì một con rắn bị phản bội sẽ trả thù rất ghê gớm.

Nói chung nam giới tuổi Tỵ thường lãng mạn, hấp dẫn, có khiếu hài hước. Nữ giới tuổi Tỵ thường xinh đẹp, quyến rũ, luôn thành công trong sự nghiệp. Bất kể nam hay nữ, người tuổi Tỵ đều chú trọng ăn mặc và ngoại hình, có sức thu hút, song cũng tạo cho người ta một cảm giác hư vinh, phù phiếm.

Tuổi Tỵ rất giàu lòng trắc ẩn, thích giúp đỡ người khác nhưng ít khi giúp bằng tiền bạc. Đương nhiên, không kể đến những người họ thật lòng yêu mến, vì người tuổi Tỵ rất coi trọng tiền bạc.

Bất luận trong tình yêu hay cuộc sống gia đình, mọi chuyện của bạn đều suôn sẻ, hạnh phúc. Nhưng bạn nên chuẩn bị sẵn tâm lý để ứng phó với những bất trắc ngoài dự tính. Sau khi kết hôn, bề ngoài bạn tỏ vẻ yêu thương vô hạn nửa kia của mình, nhưng mặt khác bạn lại thường cảm thấy không hài lòng với tình trạng hôn nhân hiện nay, vì thế có lẽ sẽ tìm kiếm niềm an ủi ở bên ngoài. Hành động này dường như có thể thỏa mãn tâm trạng khó hiểu của bạn. Nhưng vẫn xin khuyên bạn một câu: Quay đầu là bờ! Nếu bạn đang yêu, cũng có thể sẽ chịu nhiều nỗi muộn phiền, trắc trở trong chuyện tình cảm. Nhưng đừng sợ, muốn tháo chuông phải tìm người buộc chuông, hết thảy đều do bạn và đối phương quyết định.

Nhìn bề ngoài, nữ giới tuổi Tỵ có số đào hoa rất cao. Nhưng trên thực tế, họ lại thường xuyên rơi vào tình cảnh đơn lẻ. Họ hay nhận được sự giúp đỡ của đồng nghiệp khác giới trong công việc. Những người này lại có tình cảm với họ. Lời khuyên cho những người phụ nữ tuổi Tỵ là nên mở rộng tấm lòng đón nhận tình cảm của người xung quanh. Nếu không, họ sẽ mất đi nhiều cơ hội để có được tình yêu đẹp. Sức hấp dẫn của người tuổi Tỵ thường ít thể hiện qua trang phục mà bằng ánh mắt và lời nói. Ánh mắt chăm chú, thân thiện của họ trong cuộc giao tiếp tạo ấn tượng mạnh cho người khác giới.

Nữ giới tuổi Tỵ hiền lương, thẳng thắn, trong sáng, thuần khiết, lễ phép. Tự đáy lòng, bạn luôn muốn có được một mối tình nồng nàn, lãng mạn; chưa bao giờ đòi hỏi người ta phải đền đáp gì cho bạn, có người tiếp nhận tình yêu của bạn, thế là đủ rồi. Tuy nom vẻ ngoài bạn rất vui tươi nhưng kì thực trong lòng bạn cũng chất chứa bao nỗi cô đơn, muộn phiền và cảm giác thất bại. Bạn hi vọng có thể tìm được người yêu thương suốt đời trong đám con trai quen biết, nhưng điều đó quả thực chẳng mấy dễ dàng. Có lúc bạn bỏ ra nhiều chỉ để đổi lại nỗi thất vọng sâu sắc. Trong cuộc sống gia đình, với chủ nghĩa “cái tôi” mạnh mẽ, có thể sắp xếp nhà cửa đâu ra đấy, bạn được chồng và người nhà nhất mực yêu mến. Bạn cũng có thể vì gia đình vứt bỏ tất cả, chỉ ở nhà giúp chồng dạy con, khi rảnh rỗi thì học cắm hoa, vẽ tranh, làm một người vợ hiền đảm đang.

Nam giới tuổi Tỵ thường hướng tới cuộc tình cháy bỏng, mãnh liệt. Vì vậy, trong suốt cuộc đời, bạn luôn được phái nữ vây quanh, là một mẫu phong lưu điển hình. Quan điểm tình yêu của bạn có tính công kích khá mạnh. Bạn rất biết cách biểu đạt tình ý bằng hành động, và giỏi nắm bắt tâm lí phái nữ, nói bạn là sát thủ tình trường cũng chẳng quá lời. Nhưng tuy biết hành động, song bạn không để lộ tâm sự, người khác không sao hiểu được nội tâm của bạn, nên bạn khó mà tìm được người yêu – một hồng nhan tri kỷ. Trong cuộc sống gia đình bạn có một quan điểm khá khắt khe, thường làm trụ cột gia đình và yêu cầu vợ và con cái phải tin tưởng, tôn trọng bạn. Nhưng bạn hay cảm thấy trống rỗng, biết rõ mình có lỗi song vẫn không xin lỗi người nhà. Hễ lời qua tiếng lại với vợ, bạn liền muốn ra ngoài tìm sự an ủi, vì vậy thường bị người nhà hiểu lầm.

Theo phong thủy, những vật dụng sau đây đem lại cho người tuổi Tỵ may mắn và tình yêu: hoa lan lưỡi rồng, quả nhót, đá ruby.

Tình yêu của người tuổi Tỵ nhóm máu B

Những người cầm tinh con rắn thuộc nhóm máu B luôn kiên trì với mục tiêu mà mình đã đề ra. Tình yêu với họ cũng không là ngoại lệ. Không ít người vì muốn nhanh chóng giành được tình cảm của người mình thương yêu mà trở nên thiếu tế nhị. Họ không biết rằng sự rung động của con tim bắt nguồn từ những cảm nhận rất tinh tế mà sâu lắng. Sự nhiệt tình của họ đôi khi lại trở nên phản tác dụng, khiến đối phương cảm thấy mệt mỏi và chán nản. Tuy vụng về khi chinh phục tình yêu nhưng khá nhiều người trong số họ biết cách giữ người yêu. Lòng chung thủy là mong ước và cũng là đòi hỏi lớn nhất đối với người bạn đời của họ. Nó bắt nguồn từ mong muốn giữ gìn hạnh phúc gia đình nhưng cũng một phần từ tính cách hay ghen của họ. Những mối quan hệ giao tiếp với người khác giới của chồng hay vợ mình luôn khiến người tuổi Tỵ thuộc nhóm máu B không thoải mái, thậm chí họ trở nên cáu gắt. Tuy nhiên, không khí đầm ấm của gia đình sẽ nhanh chóng được tạo dựng trở lại bởi lẽ họ là những người rất yêu gia đình. Nữ giới tuổi Tỵ thuộc nhóm máu này nên chọn bạn đời là những người vui vẻ, chín chắn và bao dung. Nam giới rất hợp với những phụ nữ hiền thục, dịu dàng. Đó sẽ vừa là người vợ đảm vừa là người bạn tốt, giúp ích rất nhiều cho chồng trong công việc, sự nghiệp.

Tình yêu của người tuổi Tỵ nhóm máu A

Kiên trì theo đuổi mục tiêu là tính cách nổi bật của người tuổi Tỵ nhóm máu A. Thành công trong công việc và sự nghiệp của họ cũng bắt nguồn từ tính cách đó. Trong tình yêu, điều này cũng được thể hiện một cách rõ ràng. Tuy nhiên với họ, con đường tình không phải lúc nào cũng bằng phẳng. Với vẻ ngoài hấp dẫn, họ thường tạo được ấn tượng tốt đối với người khác giới. Đây có thể là lợi thế nhưng cũng có khi gây cho họ khá nhiều rắc rối trong chuyện tình cảm, tình yêu. Mặc dù đã có ý trung nhân nhưng trước tình cảm của nhiều đối tượng khác nhau, không ít người tuổi Tỵ thuộc nhóm máu A trở nên lúng túng hoặc con tim trở nên xao xuyến, lỗi nhịp. Tuy nhiên cuối cùng, họ cũng cân bằng được tình cảm của mình và hướng đến cuộc sống hôn nhân.Với người tuổi Tỵ thuộc nhóm máu A, cuộc sống gia đình là tất cả. Họ luôn cảm thấy hạnh phúc khi được ở bên người bạn đời của mình và luôn vui sướng khi ngắm nhìn những đứa con tươi cười, đùa giỡn trong ngôi nhà ấm cúng.

Tình yêu của người tuổi Tỵ nhóm máu AB

Người tuổi Tỵ thuộc nhóm máu AB thường có vẻ ngoài ưa nhìn cùng sự thông minh nên họ thu hút được sự chú ý của nhiều người khác giới. Trong công việc hay trong cuộc sống, để tạo dựng các mối quan hệ họ luôn dành thời gian để tìm hiểu kỹ. Trong tình yêu, sự thận trọng lại càng thể hiện rõ hơn. Những phút xao xuyến hay những ánh nhìn đầu tiên không đủ để tạo dựng tình yêu. Tuy nhiên điều đáng tiếc là không ít người trong số họ do quan niệm của bản thân đã không nhận thấy được giá trị đích thực của mái ấm gia đình. Với họ, đó có thể chỉ là sự gò bó với những phiền phức và khoảng trời riêng mà họ luôn ao ước là không có được. Chính vì không đặt nhiều kỳ vọng vào hôn nhân nên họ ít khi thực tâm muốn tạo dựng cuộc sống gia đình.Với một số người, có khi là tiếng chuông của tuổi tác, có khi là sức ép từ người thân hay cha mẹ mà họ bằng lòng bước vào khoảng trời thiếu tự do. Chính vì quan niệm sống như thế nên họ rất cần ở người bạn đời của mình tình yêu chân thành cùng nhiệt huyết xây dựng mái ấm gia đình. Sự hài hước và lòng cảm thông cũng là điều không thể thiếu.

Tình yêu của người tuổi Tỵ nhóm máu O

Với người tuổi Tỵ thuộc nhóm máu O, tình yêu là sự cố gắng không mệt mỏi. Họ có thể vượt qua mọi khó khăn, thử thách để chinh phục người mình yêu thương. Họ yêu bằng cả trái tim và cũng không ít người đã vô tình biến tình yêu thành sự chiếm hữu. Những giận hờn giúp hai người hiểu rõ tình cảm của nhau hơn nhưng đôi khi sự ghen tuông quá mức khiến mối quan hệ tình cảm trở nên căng thẳng. Tình yêu của họ có thể đứng trước nguy cơ tan vỡ nếu không biết cách tạo sự cảm thông và hòa hợp. Cuộc sống hôn nhân của người tuổi Tỵ nhóm máu O thường rất hạnh phúc bởi họ biết dành tâm sức chăm lo cho mái ấm gia đình. Do luôn dành tình cảm lớn cho người bạn đời của mình nên nền tảng để duy trì hạnh phúc lứa đôi của người tuổi Tỵ nhóm máu O là sự chung thủy tuyệt đối. Với họ, tình yêu không có sự lạc bước và cũng không có sự thứ tha sai lầm.

3. Sự nghiệp của người tuổi Tỵ

Người tuổi Tỵ thường có phong cách làm việc rất độc đáo. Họ kiên định với kế hoạch đã đề ra, luôn cố gắng hoàn thành tốt chúng và ít khi quan tâm đến những lời đàm tiếu bên ngoài. Sự nhạy cảm và cá tính độc lập đó cũng khiến họ bị bỏ qua không ít lời khuyên bổ ích của những người xung quanh trong việc lựa chọn ngành nghề.

Người tuổi Tỵ phù hợp với công việc cần sự tập trung tinh thần. Họ ghét làm những việc nặng nề, thô kệch, những công việc lặp đi lặp lại một cách cứng nhắc. Nhìn chung họ dễ đạt được danh lợi, nhưng nếu để có được sự nổi tiếng thì họ sẽ gặp phải rất nhiều khó khăn, vất vả. Lời khuyên dành cho người tuổi Tỵ là nên chọn lựa những ngành nghề như chính trị, giáo viên, nhà tâm lý học. Nếu thử sức ở lĩnh vực kinh doanh thì họ cũng sẽ trở nên thành công và giàu có.

Người tuổi Tỵ có thái độ thụ động khiến họ dễ bị lầm tưởng là kẻ lười nhác, nhưng sự thật không phải vậy. Những người sinh năm Tỵ rất giàu tính sáng tạo và làm việc chăm chỉ vô cùng. Họ đặc biệt giỏi về giải quyết vấn đề và tự hạn định thời gian cho mình rất chặt chẽ.

Người tuổi Tỵ thường giải quyết sự việc theo trực giác. Dường như trong Rắn có một chút xảo quyệt. Họ ngấm ngầm làm việc, và khi gần đến phút cuối, họ mới giở ra lá bài cuối cùng. Đây là những người rất tâm lý, sáng suốt, họ có thể nhìn thấu tâm hồn bạn. Ngoài ra, họ còn có khả năng thu thập thông tin, nắm bắt một cách vững vàng, hiểu thấu suốt về nhiều vấn đề.

Về mặt vận tài, quả thực bạn khá tốt số, nói chung, bạn hay gặp may, có quí nhân phù trợ, thường được nhiều tài lộc bất ngờ. Tuy nhiên, thu nhập của bạn không phải nhờ vào sức của bản thân hay tri thức phong phú mà chỉ do vận may thôi. Nhưng vận may như vậy không phải lúc nào cũng đến. Nếu không nắm chắc thời cơ, thì là có lỗi với bản thân. Thông thường, nguồn tiền tài của bạn không phải do kết quả vất vả kinh doanh mà là nhờ vào một số lần đầu tư mang tính chất đầu cơ. Bạn chẳng bao giờ rầu rĩ về chuyện tranh giành tiền bạc, dường như bạn luôn có vận may trời ban về tài lộc.

Từ nhỏ bạn đã hình thành thói quen xa xỉ, bạn chẳng thèm liếc mắt tới những vật phẩm “đại hạ giá” ngoài đường phố, vì bạn cho rằng, loại hàng xa xỉ đắt tiền mới đủ tư cách biểu hiện giá trị bản thân bạn. Muốn xây dựng cơ sở kinh tế ổn định, cách đáng tin duy nhất là tiết kiệm chi tiêu, và đầu tư tiền bạc vào những hạng mục có lợi.

4. Vận mệnh người tuổi Tỵ với tháng sinh

Sinh tháng giêng

Tiết Đầu xuân, dương khí sa vượng, sinh sôi nảy nở, nhiều cơ hội phát triển, nhưng phải qua khó khăn vất vả và sương gió, khó tránh hơi váng vất, mỏi mệt, tâm sự rối như tơ vò, muốn một bước lên đến tận trời nhưng thời cơ chưa đến.

Sinh tháng hai

Tiết Kinh trập, giật mình tỉnh giấc mơ màng u mê, tính tình nhu nhược, ý chí không cao, mưu việc khó thành, thanh cao cũng là hàn nho, ít lộc, có được phúc thì phải qua nhiều gập ghềnh, trắc trở vòng vèo.

Sinh tháng ba

Tiết Thanh minh, thông minh giỏi giang, là người chí cao liên khoa cập đệ, nhất cả thành danh, vì dân vì nước, danh vọng bốn phương, lộc khắp tứ hải, có thể thành sự đại nghiệp, vất vả thì nhiều công lao, tinh thần hăng say, vui vẻ, mưu sự đều toại nguyện, phúc lành không ai bằng.

Sinh tháng tư

Tiết Lập hạ, tôi thần phù trợ quân vương, tướng hộ giá, binh lực dồi dào, uy danh vang bốn phương, nho nhã, đôn hậu, bản tính thông minh, địa vị quyền quí cao sang, có chí lớn, tài cao, nghĩa hiệp can trường, mọi người kính trọng, hưởng phúc trời ban, tinh thông kỹ nghệ, thuận buồm xuôi gió, có chí lớn ắt thành đại sự.

Sinh tháng năm

Tiết Mang chủng, đảm lược, mưu trí hơn người, có thể khắc phục mọi hoạn nạn, công danh lợi lộc hiển đạt, nhìn xa trông rộng, biết đoán thời thế, có trí tuệ tài năng đầu óc của kẻ triết luận. Một đời bình an, cốt cách cao sang, phúc lộc dài lâu, vận thế hưng thịnh, tiến thoái như ý, tốt lành hơn người.

Sinh tháng sáu

Tiết Tiểu thử, vạn sự như ý, có phúc trời ban, sẽ có ngày thành công, hợp mưu cùng làm, tương trợ lẫn nhau, vợ chồng vinh đạt, con cháu hiển quí, tài đức kiêm toàn, quyền thế cao sang, nhiệt thành trung hậu, hiền từ đức độ, biết phát huy tài năng, cát tường tột đỉnh, danh tiếng cao quí, thông minh, giỏi giang, kiện toàn mà có đức vọng, danh lợi vẹn cả đôi đường.

Sinh tháng bảy

Tiết Lập thu, an hưởng lộc trời, tiêu dao tự tại, dựng quốc ắt thành, lập nghiệp tất được, thỏa chí, vạn sự như ý, trí dũng song toàn, văn võ tinh thông, thi cử đỗ đạt, mẫn tiệp thông minh hơn người, kinh doanh có lộc, tài lợi dồi dào, tính tình ôn hòa, đức độ, cao thượng, công thành danh toại, người người ngưỡng mộ, có số xuất ngoại, tay trắng gây dựng tất cả.

Sinh tháng tám

Tiết Bạch lộ, trung hậu cương trực, tính tình hòa đồng, được người thân vị nể, xóm giềng quí mến, anh em bạn hữu kính trọng, tiếng tăm lẫy lừng, mỹ đức mỹ thiện, nức lòng tổ tông, nhẫn nại ôn hòa, nhã nhặn đôn hậu, có tài năng, xây dựng cơ nghiệp, giá thuộc hữu duyên, sự nghiệp thuận lợi, hưởng phúc tự nhiên.

Sinh tháng chín

Tiết Hàn lộ, trí lực không đủ, ăn cây nào rào cây nấy, kịp thời thu hoạch thành quả canh tác của mình, dĩ hòa vi quí, mong điều bình an, khắc có ngày thành công, áo gấm vinh qui.

Sinh tháng mười

Tiết Lập đông, xương cứng da thô, phu thê hiền minh, sức khỏe không đủ, hoạt động bất tiện, có chí cao, thích giúp đỡ người, giỏi giao tiếp, ít tiền tài.

Sinh tháng mười một

Tiết Đại tuyết, khắp nơi băng tuyết phủ dày, ra vào không có đường, thiếu ăn thiếu mặc, mọi việc trắc trở, “bần cư trung thị vô nhân vấn,” thanh nhàn đạm bạc, tự tại an nhiên cũng là điều quí vậy.

Sinh tháng mười hai

Tiết Tiểu hàn, băng phủ giá lạnh, tuyết lất phất rơi, không thể ra khỏi hang, càng ít cơ hội xuất đầu lộ diện, rời xa trần thế, tu được hữu công, áo không đủ che thân, bữa no bữa đói, hoạn nạn trắc trở, vạn sự khó phát đạt, có người cứu giúp. Tuy vất vả buồn phiền, song về già được hạnh phúc.

5. Vận mệnh của người tuổi Tỵ

Sinh năm Kỷ Tỵ: Rắn phúc khí (thuộc mệnh Mộc trong ngũ hành)

Nhiệt tình, hào phóng và luôn sẵn sàng giúp đỡ mọi người là điểm riêng của họ so với người tuổi Tỵ thuộc các mệnh khác. Đa số họ thường có vẻ ngoài ưa nhìn, dễ tạo được thiện cảm với người xung quanh. Đây cũng là người khá hoạt bát, năng động. Tuy nhiên, có khi họ tỏ ra nóng vội, dễ dẫn đến bất lợi trong công việc. Là người tuổi Tỵ, họ không tránh khỏi tính cách đa nghi cũng như luôn đặt ra những yêu cầu cao đối với người khác. Ngoài ra, họ cũng có khát vọng lớn về tiền bạc, danh tiếng và quyền lực. Giống người tuổi Tỵ mệnh Thủy, họ luôn kiên trì với mục tiêu đã lựa chọn. Một số người có tính cách bảo thủ, ít chịu lắng nghe mà chỉ thường áp dụng các nguyên tắc, phương thức hành động của bản thân vào việc đánh giá, phê bình người khác. Chính vì điều đó nên họ đã vô tình tự cô lập bản thân. So với nam giới, nữ giới tuổi Tỵ mệnh Mộc thường dễ phát tài, có thể giúp đỡ chồng con về cả sự nghiệp và cuộc sống.

Sinh năm Tân Tỵ: Rắn tránh đông ( thuộc mệnh kim trong ngũ hành)

Đây là người mưu lược, biết cách tùy cơ ứng biến, có chí khí hơn người. Cuộc đời họ không phải lo lắng nhiều đến việc mưu sinh. Họ cũng thường được quý nhân phù trợ nên ở vào tuổi trung niên dễ có sự thay đổi lớn lao trong cuộc đời, về già thường phát tài phát lộc và sống thọ. Họ thường thông minh, lanh lợi nên rất biết cách nhìn nhận đánh giá sự vật, sự việc và con người nên có thể đảm nhận tốt vai trò của một vị quân sư trong tập thể. Mọi người thường cho rằng họ túc trí đa mưu, bởi trong khi tất cả vẫn chưa rõ ràng thì họ đã đạt được những thành công nhất định. Những người thường xuyên tiếp xúc với Người tuổi Tỵ mệnh Kim đều cho rằng, họ là người có tấm lòng bao dung, rộng mở và nhân ái. Họ không phải là người thích nói nhiều và chỉ thích hành động 1 mình. Cách làm này của họ có thể mang lại cả điều lợi cũng như những điểm bất lợi, đặc biệt là việc chiếm được lòng tin và sự ủng hộ của bạn bè, đồng nghiệp.

Sinh năm Quý Tỵ: Rắn trong cỏ (thuộc mệnh Thủy trong ngũ hành)

Đây là người có tính cách mạnh mẽ, có năng lực quản lý tài chính. Sự thông minh, lanh lợi cùng tính kiên trì giúp họ luôn giữ vững mục tiêu trong công việc và cuộc sống. Với tầm nhìn xa trông rộng, họ biết gạt bỏ lợi ích trước mắt để hướng tới lợi ích lâu dài. Đa số Người tuổi Tỵ mệnh Thủy sống rất thực tế. Đôi khi, khát khao theo đuổi lợi ích vô cùng mãnh liệt ở họ khiến những người xung quanh có cảm giác sợ hãi. Bề ngoài, có khi họ tỏ ra thờ ơ với mọi việc nhưng thực tế thì ngược lại, họ luôn quan sát, nắm bắt mọi việc một cách tỉ mỉ. Người tuổi Tỵ mệnh Thủy có cuộc sống khá sung túc nhờ cách chi tiêu hợp lý và biết tích lũy tiền bạc. Đến tuổi trung niên, một số người có thể gặp khó khăn, tuy nhiên không phải là họ không đạt được những thành công đáng kể trong sự nghiệp. Nữ giới tuổi Tỵ mệnh Thủy khi về già thường được an nhàn, hạnh phúc.

Sinh năm Ất Tỵ: Rắn xuất hang (thuộc mệnh Hỏa trong ngũ hành)

Họ ham mê quyền lực và danh vọng, thường thích kết thân, gần gũi với người quyền cao chức trọng. Khả năng chịu đựng gian khổ bền bỉ, kiên cường giúp họ có được những thành công nhất định trong sự nghiệp. Khác với người mệnh Hỏa thuộc sinh tiêu khác, người tuổi Tỵ mệnh Hỏa không bao giờ nóng vội mà luôn bình tĩnh và khách quan khi nhìn nhận, giải quyết công việc. Giống người tuổi Tỵ mệnh Thủy, họ là người khá tiết kiệm. Việc chi tiêu của họ luôn được cân nhắc hết sức kỹ lưỡng. Đối với công việc, họ cũng thường tính toán rất kỹ, từ chi tiết đến toàn cục, từ cái lợi trước mắt đến cái lợi lâu dài. Chính vì thế họ có cơ hội thành công trong ngành tài chính hoặc bất động sản. Nữ giới tuổi Tỵ mệnh Hỏa thường có vẻ ngoài khá xinh đẹp. Họ có cuộc sống gia đình hạnh phúc và thường không phải bận tâm nhiều về vấn đề kinh tế.

Sinh năm Đinh Tỵ: Rắn trong đầm (thuộc mệnh Thổ trong ngũ hành)

Họ thông minh, lanh lợi và có khả năng lập nên nhiều thành tựu sự nghiệp. Trong tình yêu, người này rất nhiệt tình và sâu sắc, đặc biệt là rất có sức hấp dẫn với người khác giới. Đời sống hôn nhân của họ khá thuận lợi. Nữ giới thường sống thân thiện, hòa đồng với mọi người và không phải lo lắng nhiều về chuyện kinh tế gia đình. Nam giới thì rất tài giỏi, mưu lược hơn người, năng động và cũng khá mẫn cảm. Đa số người tuổi Tỵ mệnh Thổ có khả năng dự cảm rất tốt. Họ cần có một không gian hoàn toàn tự do, riêng tư để suy ngẫm và cũng biết cách tốt nhất để biểu đạt suy nghĩ của mình. Họ thường rất nhạy cảm với thông tin và cũng có khả năng phán đoán tốt. Nếu có cơ hội, họ sẽ trở thành những nhà giám sát hoặc nhà đầu tư tài ba. Họ luôn mong muốn được người khác khen ngợi. Có thể nói, lời khen đối với họ giống như 1 động cơ, khích lệ họ tiến lên không ngừng và thể hiện mình ngày càng tốt hơn.

6. Tương hợp và xung khắc giữa người tuổi Tỵ và các tuổi khác

Tuổi Tỵ và Tuổi Tý

Chuột nhanh chán Rắn vì chậm chạp và thiếu hoài bão, bởi trên thực tế Chuột nhanh nhẹn và sắc sảo hơn. Ngược lại, tuổi Rắn sẽ không hài lòng lắm với tuổi Chuột quá khôn ngoan và theo suy nghĩ của Rắn, Chuột thường tự cho mình là suy nghĩ sâu sắc hơn người.

Mặc dù vậy, hai tuổi này vẫn có thể là một đôi uyên ương khá hợp nhau. Họ thực sự có sức hút và biết cách làm người kia say mê. Tuổi Rắn hút hồn tuổi Chuột thông minh nhanh nhẹn bằng sự đằm thắm và trí tuệ. Còn Chuột luôn biết cách để bảo vệ Rắn. Thường thường, tuổi Rắn có máu hoạn thư hoặc có tư tưởng sở hữu với người mình yêu. Mặc dù vậy, cặp đôi này vẫn như hình với bóng và khá chung thủy với nhau.

Khi là đối tác kinh doanh, họ cũng rất “hợp cạ”. Họ chỉ có vấn đề khi Rắn muốn đảo ngược vị trí, đó là muốn mình trở thành trung tâm của sự chú ý. Rắn rất nhanh chán những người không có năng lực và làm việc kém hiệu quả nhưng Chuột không phải là mẫu người này. Tuổi Tị đánh giá rất cao sự thông minh và năng lực của tuổi Tí. Còn tuổi Tí lại có cách giải quyết vấn đề rất tuyệt và luôn giữ vai trò trụ cột khi làm ăn với tuổi Tị. Vì vậy, hai “hành tinh” này sẽ cùng kết hợp để xây dựng một tập thể khá vững mạnh.

Tuổi Tỵ và Tuổi Sửu

Tuổi Trâu và tuổi Rắn có nhiều điểm chung hơn là sự khác biệt: Cả hai đều chăm chỉ, sâu sắc và coi trọng chất lượng hơn số lượng và vẻ hào nhoáng bề ngoài. Hai “hành tinh” này đều đặt gia đình ở ví trí hết sức quan trọng. Họ coi ngôi nhà của mình là nơi bình yên và thoải mái nhất sau những giờ phút mệt mỏi và thăng trầm trong cuộc sống. Người ngoài cuộc có thể coi đây là cặp đôi nhút nhát và có phần nhạt nhòa trong cuộc sống sôi động nhưng thực chất, bên trong con người của họ vẫn cháy lên sự nhiệt huyết, đam mê công việc trong đời sống thường ngày.

Khi là một cặp uyên ương, hai con giáp này thực sự rất “hút” nhau. Vẻ quyến rũ của tuổi Rắn sẽ kéo tuổi Trâu ra khỏi vỏ ốc thường ngày để năng động hơn và hấp dẫn dẫn hơn. Tuy vậy, người cầm tinh con Rắn rất mực khâm phục tấm lòng luôn hướng về gia đình của tuổi Trâu. Tuổi Trâu “kết” tuổi Rắn bởi sự thông thái và tư duy tốt. Trên thực tế, hai con giáp này luôn học hỏi và bổ sung cho nhau để không khí luôn hài hòa. Mỗi người có cách tiếp cận riêng nhưng quan trọng là họ biết người kia cần gì. Tuổi Sửu sẽ biết cách xoa dịu tính hay ghen và sở hữu của người yêu. Sống với tuổi Sửu đáng tin cậy, tuổi Tị chẳng có lý do gì mà cảm thấy mất an toàn hay đáng nghi ngờ.

Nếu là đối tác kinh doanh, Sửu và Tị khá “hợp cạ”. Phương pháp tiếp cận vấn đề hết sức thực tế và thận trọng của tuổi Sửu sẽ bổ sung cho tuổi Tị ở chỗ: Tị thường nhanh chóng và khá trực giác khi đưa ra quyết định. Rắn khá thông thái và linh hoạt trong chuyện kiếm tiền. Bên cạnh đó, Rắn còn khéo giao tiếp và khá nổi bật trong công việc. Điều này chính là niềm mong đợi của Trâu vì tuổi này thường hợp với vị trí hậu phương hơn.

Tuổi Tỵ và Tuổi Dần

Không cùng chung lý tưởng, vì cả hai đều không có một điểm chung nào. Bạn khó có thể sống hạnh phúc nếu đã không hòa hợp. Sẽ là một cuộc tình bi đát, thế nên hãy tìm kiếm một đối tượng khác. Dần dũng cảm, thích tự do, suy nghĩ thoáng và đặc biệt rất thích làm theo ý mình. Vốn có năng khiếu lãnh đạo bẩm sinh, tuổi Dần có năng lực và cơ thể luôn dồi dào năng lượng. So với Dần, Tỵ có phần nhẹ nhàng hơn. Nhưng vấn đề là ở chỗ, cả hai đều muốn hút người khác và làm theo những điều mình thích. Vì vậy, dần dần, họ rất khó tìm thấy điểm chung.

Hai “hành tinh” này nếu là đối tác kinh doanh thì tốt hơn là một cặp yêu nhau. Bởi sẽ có rất nhiều lý do tiềm ẩn để cặp đôi này nảy sinh mâu thuẫn. Rắn có tính sở hữu và rất hay ghen trong tình yêu. Rắn cần một bờ vai để dựa khi thấy buồn hoặc thích người yêu mình đưa đi đây đi đó. Tất cả những điểm trên đều rất khó tìm thấy trong con người Hổ bởi Hổ vốn là người thích tự do và thích làm theo cách riêng của mình.

Tuy vậy, họ lại cùng nhau làm ăn khá tốt. Tuổi Rắn vốn rất may mắn trong chuyện kiếm tiền nhờ khả năng đối ngoại và giao tiếp tốt. Bên cạnh đó, tuổi Hổ dũng cảm và tính tình khá thoáng sẽ biết cách để thúc đẩy sự nghiệp kinh doanh phát triển mạnh mẽ. Vậy nhưng vấn đề mấu chốt là hai con giáp này cần hiểu và hỗ trợ cho nhau.

Tuổi Tỵ và Tuổi Mão

Nếu Mão và Tỵ yêu nhau, mối quan hệ của họ sẽ gắn bó nếu cả hai biết cách cùng nhau xây dựng, biết nhún nhường đúng lúc. Mão và Tỵ có cách tiếp cận cuộc sống khác nhau, quan điểm cũng khá khác biệt nhưng họ vẫn có thể cùng nhau xây dựng một mối quan hệ khá thân thiết. Về mặt xã hội, hai con giáp này có nhiều điểm đối lập: Trong khi Mão nhút nhát, thích tận hưởng cảm giác ở nhà với người thân hoặc bạn bè thì Tỵ lại rất sôi nổi trước đám đông. Vẻ thông minh, hóm hỉnh và tài ăn nói khiến Tỵ thường xuyên nổi bật. Tuy nhiên, cả hai hành tinh này đều ứng xử theo trực giác hơn là lý trí. Bởi vậy, ở một chừng mực nào đó, họ có thể giao tiếp và kết hợp được với nhau, ít nhất là tại những thời điểm ban đầu.

Nếu Mão và Tỵ yêu nhau, mối quan hệ của họ sẽ gắn bó nếu cả hai biết cách cùng nhau xây dựng, biết nhún nhường đúng lúc. Mão với người ngoài hơi nhút nhát nhưng khi mối quan hệ của hai người thân thiết, Mão sẽ trở nên mạnh dạn hơn. Tuy vậy, mối quan hệ giữa Mão và Tỵ có thể xảy ra mâu thuẫn bởi Mão rất cần sự hỗ trợ từ người thân, đặc biệt là người mình yêu thương để cảm thấy tâm lý luôn bình an. Trong khi đó, tuổi Tỵ lại thấy rất khó khăn để mang lại sự bình yên và an toàn cho tuổi Mão bởi chính Tỵ cũng có những nỗi bất an riêng. Đó là vì Tỵ hay ghen và có tính sở hữu. Bởi vậy, cả hai cùng phải lựa nhau và cùng đảm nhiệm tốt nhiệm vụ của mình thì mối quan hệ của họ mới lâu bền được.

Khi là đối tác kinh doanh, hai con giáp này sẽ kết hợp rất tốt với nhau. Tỵ sẽ đóng vai trò làm người lãnh đạo. Bên cạnh đó, Tỵ nhờ giao tiếp tốt sẽ chịu trách nhiệm về ngoại giao và khách hàng. Trong khi đó, Mão sẽ lo chuyện hậu phương trong tập thể của hai người, đồng thời đảm nhiệm các việc liên quan đến tài chính.

Tuổi Tỵ và Tuổi Thìn

Thìn và Tỵ có thể trở thành một cặp ăn ý nếu người này biết được thói quen và động lực của người kia. Hai hành tinh này đều sexy và cuốn hút nhưng theo cách khác nhau. Tuổi Thìn thường nổi bật trước đám đông và giàu năng lượng hơn tuổi Tỵ. Cách tiếp cận của hai con giáp này với cuộc sống khá khác nhau nhưng không hoàn toàn là trái ngược hẳn nhau. Người cầm tinh con Rắn thường dựa vào trực giác hơn là các hiện tượng khách quan để đánh giá sự vật hiện tượng. Còn người cầm tinh con Rồng thường dựa nhiều vào may mắn và biết cách tận dụng lợi thế và cơ hội.

Khi yêu nhau, hai tuổi này sẽ tạo cho nhau lực hút rất lớn. Họ đều là những người khá thông minh và biết cách mang lại niềm vui cho nhau. Tuy nhiên, thỉnh thoảng giữa họ vẫn xảy ra mâu thuẫn. Tuổi Thìn thích đi đó đi đây, trong khi đó tuổi Tỵ thường lười đi và tự thỏa mãn với những gì mình có. Những câu hỏi mà tuổi Tỵ thường đặt ra là: Ở đây thật thoải mái, đi chơi chỗ khác làm gì? Điều này sẽ ăn mòn sự kiên nhẫn của tuổi Thìn. Bên cạnh đó, trong tình yêu, tuổi Rắn thường hay ghen và có tính sở hữu. Bởi vậy, cả hai tuổi đều cần kiên nhẫn và hiểu nhau hơn để đảm bảo mối quan hệ của họ luôn bền vững.

Nếu là đối tác kinh doanh, Thìn và Tỵ rất hợp nhau. Tuổi Tỵ sẽ là người tổ chức, lập kế hoạch và khá may mắn trong chuyện tiền bạc. Trong khi đó tuổi Thìn là người thích hợp nhất để biến những kế hoạch của tuổi Tỵ thành hiện thực. Bởi vậy, tổ chức mà hai tuổi này cùng tham gia sẽ làm ăn rất hiệu quả.

Tuổi Tỵ và Tuổi Tỵ

Hai người tuổi Tị có mối quan hệ khá mật thiết với nhau bởi họ có nhiều điểm chung. Người tuổi Tị thường hay lo lắng và thấy bất ổn, bởi vậy sự ổn định và tin tưởng lẫn nhau là hết sức quan trọng với con giáp này. Dù quan hệ của họ thân thiết hay chỉ dừng ở mức xã giao thì họ luôn vui vẻ và hài hước khi gặp nhau. Hai người tuổi Tị sẽ hấp dẫn nhau ngay từ thời điểm đầu, mặc dù có đôi lúc họ cạnh tranh nhau để giành vị trí trung tâm của sự chú ý.

Nếu là một cặp uyên ương, hai người tuổi Tị sẽ rất gắn bó. Họ biết cách tạo sức hút để luôn gợi cảm trong con mắt của nhau. Nếu hai người cùng con giáp này sống chung, ngôi nhà của họ sẽ rất thoải mái nhưng ít tiếng ồn, bởi cả hai đều sống có phần khép mình. Người tuổi Rắn hay ghen và có tính sở hữu trong tình yêu nhưng họ kết hợp với nhau lại không có sự mâu thuẫn. Người cầm tinh con Rắn trung thực và đáng tin, bởi vậy cả hai chẳng tìm ra lý do gì để nghi ngờ lẫn nhau.

Khi hai người tuổi Tị kết hợp cùng làm ăn với nhau, họ sẽ cùng tỏa sáng. Họ khá may mắn với chuyện tài chính và trực giác của họ khá phù hợp với công việc kinh doanh. Họ chỉ tin vào những điều có tính logic để chỉ ra hướng đi đúng. Bên cạnh đó, người tuổi Rắn khá thận trọng và sẽ không mạo hiểm với những tình huống không chắc chắn. Tuổi Tị khá năng động trong các cuộc họp và các cuộc gặp gỡ đối tác, bởi vậy, công việc kinh doanh của họ có chiều hướng phát triển. Vấn đề xảy ra khi một trong hai người tuổi Tị muốn cạnh tranh để trở thành sự trung tâm của sự chú ý. Do đó, cả hai cùng phải học cách tạo ra một mối quan hệ hài hòa, không có chiến tranh.

Tuổi Tỵ và Tuổi Ngọ

Theo con giáp thì hai tuổi này không hợp nhau, bởi tính cách họ khá khác biệt. Nếu như tuổi Ngựa lúc nào cũng tràn trề sinh lực, lúc nào cũng sẵn sàng cho mọi cuộc vui thì tuổi Tị lại có sức ì khá cao và là người hướng nội.

Nếu yêu nhau, đôi uyên ương có thể cãi cọ hàng ngày. Ban đầu, bởi tuổi Rắn khá cuốn hút và gợi cảm, nên tuổi Ngựa rất dễ bập vào. Nhưng sức hút của tuổi Rắn chỉ nằm ở ngoại hình, và nếu không có “chiêu” mới, thì tuổi Ngựa rất dễ chán và đi tìm “đồng cỏ” khác. Tệ hơn, tuổi Rắn có xu hướng thích chiếm hữu khi yêu, mà điều này là tối kỵ với người tuổi Ngựa.

Nếu hợp tác làm ăn, đôi bạn này có thể sẽ không cặp với nhau lâu dài. Tuổi Ngựa cả thèm chóng chán, bất kể ai thân thiết cũng có thể nhận thấy rõ điều này ở họ. Họ sẽ lao phăm phăm vào công việc khi mọi thứ còn mới mẻ, nhưng đừng chờ đợi sự hào hứng đó trong khoảng thời gian dài. Rõ ràng, tuổi Ngựa sẽ thấy tuổi Rắn có phần nhạt nhẽo vô vị, trong khi tuổi Tị bực mình vì sự thờ ơ, thiếu tập trung của Ngựa.

Tuổi Tỵ và Tuổi Mùi

Cả hai con giáp này đều cần giao tiếp với những người năng động hơn để cho cuộc sống thêm sôi động và có ý nghĩa. Tị có vẻ như năng động hơn Mùi, có sức hút, được nhiều người biết đến hơn Mùi. Tuy nhiên, về cơ bản, Tị sống khá khép mình và cũng thích nghỉ ngơi. Trong suy nghĩ, Mùi năng động và có nhiều suy nghĩ tiến bộ và sáng tạo nhưng Mùi lại cần không gian tĩnh lặng để giữ cân bằng về mặt tình cảm trong cuộc sống thường ngày.

Có thể nói, trong tất cả các mối quan hệ giữa hai “hành tinh” này thì họ kết hợp ăn ý nhất trong tình yêu. Tâm hồn họ gặp nhau ở chỗ, họ cùng rất nhạy cảm. Người cầm tinh con Rắn rất duyên dáng, gợi cảm và hấp dẫn. Con giáp này có thể tạo sức hút với rất nhiều đối tượng. Khi yêu, Rắn có tính sở hữu vì đôi khi họ cảm thấy bất an. Mùi ngại những cuộc khẩu chiến nên thường chiều Tị. Bên cạnh đó, họ hợp nhau ở chỗ: Mùi thích được người yêu đánh giá cao và tôn trọng. Bởi vậy, tính hay ghen và sở hữu của Tị lại làm Mùi thấy vui vì Mùi nghĩ rằng đó là cách thể hiện tình yêu nồng nàn của Tị. Nếu hai con giáp này sống chung trong một ngôi nhà, họ sẽ trang trí tổ ấm của mình rất đẹp, đặc biệt là nơi để đọc sách.

Khi là đối tác làm ăn, Tị và Mùi sẽ tạo thành một đế chế khá vững mạnh và có nhiều ý tưởng sáng tạo, với điều kiện: Khi họ có chung mục tiêu. Tị rất nhiệt tình trong công việc mà mình tin tưởng và Mùi rất tuyệt vời trong việc xây dựng các ý tưởng. Tị sẽ người ở ngoài “chiến tuyến” để mở rộng khách hàng và góp mặt trong các cuộc họp. Tuy nhiên, Mùi cũng thích đứng ở vị trí lãnh đạo. Bởi vậy, nếu tình huống này xảy ra, cả hai con giáp này sẽ rất vất vả khi cùng làm ăn.

Tuổi Tỵ và Tuổi Thân

Tị và Thân có rất nhiều những điểm trái ngược nhau hoặc những điểm chung không hề bổ sung cho nhau. Họ đều thích có nhiều thời gian vui chơi. Cả hai đều duyên dáng và khá nổi bật trước đám đông. Tuy nhiên, tuổi Tị có phần sống khép mình hơn tuổi Thân. Tị muốn dành nhiều thời gian ở nhà và đọc ngấu nghiến một quyển sách hay ho nào đó. Tuổi Thân thì lúc nào cũng muốn vui chơi, chạy theo hoài bão và ước mơ của mình.

Nếu là một cặp đôi, Tị và Thân sẽ có nhiều thời gian vui vẻ bên nhau cùng với bạn bè. Về thể xác, hai con giáp này cũng rất hấp dẫn nhau. Tuy nhiên, bản chất của người tuổi Tị là rất hay ghen và có tính sở hữu trong tình yêu. Bởi vậy, Thân sẽ rất khó để không để cho Tị có lý do “gây chuyện”. Thân vốn là con giáp khá chung tình và khó có thể trở thành kẻ phản bội trong tình yêu. Tuy nhiên, Thân vẫn thường đi chơi đêm với nhiều tầng lớp khác nhau. Điều này làm cho Tị hết sức lo lắng mặc cho Thân có trung thành tới đâu.

Khi là đối tác làm ăn, hai “hành tinh” này có thể cùng hợp tác, cùng phát triển nếu họ biết cách tự điều chỉnh. Nếu họ biết cách tránh những mâu thuẫn, những tính cách trái ngược nhau có thể trở thành những điểm bổ sung. Tuổi Thân vốn ưa thích những điều mạo hiểm. Tuổi Tị khá cẩn thận và chăm chỉ khi họ tin vào mục tiêu mình đề ra. Tuổi Tị khá may mắn với chuyện tiền bạc nhưng đôi khi thấy ngán ngẩm bởi tính cách ham vui của Thân. Hai con giáp này rất dễ cạnh tranh giành vị trí “người dẫn đường”. Trong hai tuổi này, Tị làm việc nhiều hơn Thân.

Tuổi Tỵ và Tuổi Dậu

Tuổi Tị hấp dẫn, quyến rũ và thích sự nổi tiếng. Còn tuổi Dậu thì rất thích rong chơi cùng bạn bè. Tuy nhiên, cả hai đều thích làm cho không khí gia đình thoải mái và an lành. Hai “hành tinh” này dù là bạn, người yêu, đối tác làm ăn hay các thành viên trong gia đình thì mối quan hệ của họ đều có sơ sở rất vững chắc và bền chặt.

Nếu là một cặp uyên ương, tình yêu của họ rất bền vững. Họ sẽ sống rất hòa thuận với nhau không chỉ vì sự bốc đồng mà vì điều đó có thể củng cố mối quan hệ giữa hai người. Người tuổi Dậu hay chú ý tới chi tiết của sự việc và thích giữ cho không khí gia đình luôn ấm cúng và thoải mái. Tuổi Dậu cũng đôi khi thích nhiều lời hoặc mặc cả. Người tuổi Tị lại hết sức may mắn với chuyện tiền bạc. Với Dậu, Tị chính là người mang thành công và của cải về gia đình chung của họ. Người tuổi Tị thường hay ghen và có tính sở hữu vì Tị hay cảm thấy bất an. Tuy nhiên, điều này chẳng ảnh hưởng gì tới mối quan hệ của hai người. Dậu trung thành và tận tâm sẽ chẳng để cho Tị có lý do gì để ghen cả.

Khi Tị và Dậu là đối tác làm ăn, công ty của họ sẽ phát triển thịnh vượng và có trật tự. Người cầm tinh con Gà hay chú ý đến tiểu tiết có thể đảm nhiệm tốt nhiệm vụ quản lý tài chính. Bên cạnh đó, tuổi Gà còn giúp công ty lập ra những kế hoạch ít mạo hiểm. Cả Tị và Dậu đều thích những phương thức thực tế, ít mạo hiểm hơn là các phương thức mới có tính rủi ro cao. Bởi vậy, có thể nói rằng, hai “hành tinh” này khá đồng nhất quan điểm trong chuyện làm ăn.

Tuổi Tỵ và Tuổi Tuất

Điều tuyệt vời là nhờ có mối quan hệ chung này mà cả Tị và Tuất đều có thêm sức mạnh, nghị lực và trở thành chỗ dựa vững chắc của bạn bè, đồng nghiệp. Có thể nói rằng, hai hành tinh này không có nhiều điểm tương đồng nhưng cũng không xung khắc. Người tuổi Tuất tốt tính và hay chiều người khác nhưng đa sầu đa cảm. Trong khi đó, người tuổi Tị rất cuốn hút, hấp dẫn nhưng có phần sống khép mình, thích sự yên tĩnh, ổn định hơn là sự ồn ã, náo nhiệt.

Khi là một cặp uyên ương, Tị và Tuất sẽ được tận hưởng cảm giác thật thoải mái, an toàn bên nhau. Mối quan hệ của họ khá bền chặt. Họ cũng có một số điểm khác nhau nhưng có thể dung hòa được. Vốn là tuổi Tị rất hay ghen và có tính sở hữu trong tình yêu. Còn tuổi Tuất thì rất trung thành và tận tâm. Bởi vậy, Tuất chẳng để cho Tị có lý do gì để ghen tuông cả. Khi Tuất lo âu hoặc cảm thấy bất an thì Tị sẽ là người động viên để người bạn đồng hành của mình có thêm nghị lực. Nếu hai con giáp này sống chung trong một mái nhà, căn phòng của họ sẽ luôn ấm cúng và thoải mái.

Tị và Tuất cũng sẽ tạo thành một tập thể vững mạnh và liên tục đi lên nếu cùng làm văn với nhau. Cả hai hành tinh này đều giỏi giao tiếp. Người tuổi Tuất phân biệt phải trái rất rõ ràng. Bên cạnh Tuất là Tị rất thông minh. Tị không chỉ tin vào logic mà còn dựa vào cả trực giác để phán đoán công việc. Bởi vậy, rất ít khi Tị mắc sai lầm trong kinh doanh. Hơn thế nữa, tuổi Tị còn rất may mắn với chuyện kiếm tiền. Do đó, chuyện làm ăn của họ liên tục phát triển, trong đó Tị sẽ đóng vai trò làm người ở “tiền tuyến”.

Tuổi Tỵ và Tuổi Hợi

Mâu thuẫn nằm ở chỗ giữa Tị và Hợi thiếu những cuộc hội thoại mang tính chất xây dựng. Tuổi Tị thường hay sống bằng trực giác hơn là dựa vào lô gíc của sự việc. Bởi vậy nên con giáp này thường hay đưa ra ý kiến chủ quan và hay nói vòng vo mà không đi thẳng vào vấn đề. Còn Hợi thì nhút nhát nhưng khá rộng lượng trong các mối quan hệ. Nhưng khi có hiềm khích xảy ra, ngôn từ của Hợi khá thâm hiểm.

Khi là một cặp yêu nhau, hai “hành tinh” có quan điểm chung về bạn bè thân, về cuộc sống gia đình. Đây là điều mà cả Tị và Hợi đều rất quan tâm. Bên cạnh đó, cả hai con giáp này đều làm việc rất chăm chỉ khi cần. Nhưng cả hai đều thích nghỉ ngơi trong điều kiện thoải mái và xa xỉ. Tị rất cuốn hút và hấp dẫn, còn Hợi sẽ là một người tình lý tưởng. Do đó, họ kết hợp với nhau khá ăn ý.

Trong tình yêu, Tị hay ghen vì thường cảm thấy bất an nhưng Hợi thì có quan niệm rất trung thành với người mình yêu. Tuy nhiên, đôi khi Hợi giữ những bí mật riêng cho mình, điều này luôn làm cho Tị nghi ngờ.

Nếu Tị và Hợp cùng hợp tác làm ăn với nhau, Tị thông minh, nhanh nhẹn sẽ đóng vai trò làm “tiền tuyến” và là trung tâm của sự chú ý. Điều này rất hợp với ý của Hợp vì tuổi này vốn thích hợp với công việc của “hậu phương”. Nơi làm việc của Tị và Hợi sẽ được trang trí theo kiểu cổ điển. Những bữa ăn cùng nhau của hai người tại các nhà hàng sẽ rất thường xuyên và trang trọng.

Tình yêu hôn nhân của người tuổi Tỵ với các tuổi khác

Tử vi Lục thập hoa giáp

Xem tử vi năm mới


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem bói tử vi tuổi Tỵ

Tướng người sống thọ –

Sống thọ và khỏe mạnh là ước muốn chung của tất cả mọi người. Tuy nhiên, không phải ai cũng có được may mắn đó. Dưới đây là những đặc điểm giúp nhận biết tướng người như thế nào là trường thọ hay non yểu. Tướng người sống thọ Tướng người trường thọ p
Tướng người sống thọ –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tướng người sống thọ –

Sao Hồng Loan

Hành: Thủy Loại: Dâm Tinh Đặc Tính: Đẹp đẽ, khoái lạc, mau mắn, tốt lành, cưới hỏi Tên gọi tắt thường gặp: Hồng Phụ tinh. Một tro...
Sao Hồng Loan

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Hành: ThủyLoại: Dâm TinhĐặc Tính: Đẹp đẽ, khoái lạc, mau mắn, tốt lành, cưới hỏi
Tên gọi tắt thường gặp: Hồng

Phụ tinh. Một trong nhóm sao Đào Hoa, Hồng Loan, Thiên Hỷ. Gọi tắt là bộ Tam Minh (Đào Hồng Hỷ)

Ý Nghĩa Hồng Loan Ở Cung Mệnh
Tướng Mạo
Hồng Loan có nghĩa là hình tướng, tức là nhan sắc bề ngoài của mỗi phái (hình dáng, diện mạo, thể xác và sự hấp dẫn của hình tướng), tâm tướng, tức cái duyên của mỗi phái (nết hạnh, sắc đẹp bên trong). Nếu đắc địa thì nhan sắc và có duyên, nếu hãm địa thì kém hơn.
Tính Tình
Sao Hồng Loan ở Mệnh là người đẹp đẽ, khéo léo về chân tay, tính tình vui vẻ, duyên dáng, có nét thu hút, quyến rũ người khác.
Công Danh Tài Lộc
Nếu Hồng Loan đóng ở bốn cung Di, Quan, Tài và Nô thì có sự may mắn về công danh, tài lộc do người khác phái mang đến, cũng như có thể bất lợi về công danh tài lộc vì đặc tính đào hoa của mình.
Sự hay dở còn tùy thuộc việc hội tụ với cát hay hung, sát tinh. Đi với cát tinh, Hồng Loan mang lại nhiều may mắn nhờ ở người khác phái giúp đỡ. Ngược lại, nếu gặp hung hay sát tinh thì sẽ bị liên lụy bởi ái tình vì người khác phái.
Phúc Thọ Tai Họa
Cung Mệnh có Đào hay Hồng tọa thủ, gặp nhiều Sát tinh hội hợp tất không thể sống lâu được.
Ý Nghĩa Hồng Loan Ở Cung Quan Lộc
Sao Hồng Loan ở cung Quan Lộc có nghĩa như hoa sớm nở ở quan trường sự nghiệp, chủ việc ra đời sớm, sớm có công ăn việc làm, lập thân từ lúc trẻ tuổi.
Có sự may mắn về công danh do người khác phái mang đến, được người khác phái giúp đỡ.Đồng cung với sao Đào Hoa ở Cung Tý, người tuổi Tý, tuổi Dậu làm ăn phát tài sớm nhưng không bền.Gặp sao Đào Hoa, Thiên Hỷ, làm nên công danh lớn lao, dễ dàng.
Ý Nghĩa Hồng Loan Ở Cung Nô Bộc

  • Có sức thu hút quyến rũ người khác phái, được bè bạn, đồng nghiệp thương mến.
  • Gặp các sao Tử Vi, Thiên Phủ, Thái Dương, bè bạn nể phục, kính trọng vì sự đoan chính, ngay thẳng, nết hạnh của mình.
Ý Nghĩa Hồng Loan Ở Cung Thiên Di
  • Ra ngoài giao thiệp dễ thuyết phục được người khác, có nhiều lợi lộc do người khác phái đem lại
Ý Nghĩa Hồng Loan Ở Cung Phu Thê
  • Vợ hay chồng là người có nhan sắc, quyến rũ.
  • Vợ hay chồng là người đa tình, lãng mạn, hoặc làm các nghề có liên quan đến nghệ thuật, thời trang.
  • Vợ hay chồng có ngoại tình hoặc chấp nối, nhiều lần lập gia đình, nếu gặp các sao xấu, hung hay sát tinh.
Hồng Loan Khi Vào Các Hạn
  • Hạn có sao Hồng Loan, Đào Hoa, Thất Sát, Phá Quân, Liêm Trinh, Tham Lang, là hạn có hỷ sự, thành gia thất.
  • Hạn gặp sao Địa Kiếp, là hạn duyên nghiệp long đong trắc trở.
  • Hạn gặp sao Cự Môn, Hóa Kỵ, là hạn tơ duyên rắc rối.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sao Hồng Loan

Sưu tầm về Dịch thuyết

Một bài viết tổng hợp về Kinh Dịch của cụ Hà Uyên. Rất hay!
Sưu tầm về Dịch thuyết

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Dịch dĩ đạo âm dương

"Dịch dĩ đạo âm dương" chỉ rõ nét đặc sắc của Kinh Dịch, trình bày về lý âm dương. Câu này, có xuất xứ trong Trang Tử - Thiên hạ luận, nguyên văn cả câu là: "Thi bày tỏ cái chí, Thư là để thuật lại công việc, Lễ là để hướng dẫn hành động, Nhạc là để dẫn dắt chí tuệ. Dịch nói về lý âm dương, Xuân Thu chỉ rõ danh phận".

Trang Tử - Thiên hạ thiên viết: "Dịch là để nói về âm dương". Sử ký - Thái Sử công tự tự viết: "Dịch làm sáng tỏ trời đất, âm dương, tứ thời, ngũ hành. Cho nên Dịch sở trường ở chỗ biến". Những lời đó đều nói về tôn chỉ căn bản của Dịch, là vạch rõ quy luật tự nhiên biến hóa của âm dương. Hàn Khang Bá - Hệ từ truyện chú kế thừa Vương Bật lấy Lão Trang để giải thích tông chỉ của Dịch, viết: "Đạo nhất âm nhất dương gốc ở Hư vô. Lại nói: Đạo là gì? Đó gọi là Vô. Không có gì không thông, không có gì là không bắt nguồn từ đó, cái đó gọi là Đạo. Đã là tịch nhiên vô thể, thì không thể là Tượng, phải vận dụng hết "Hữu" thì "Vô" mới hiển dụng. Cho nên đến như "Thần vô phương nhi Dịch vô thể", thì Đạo có thể thấy được vậy. Bởi thế, cùng biến thì tận thần, nhân thần mà minh đạo, âm dương tuy khác nhau, nhưng đồng nhất ở Vô. Ở âm mà vô âm, âm do đó sinh ra; ở dương mà vô dương, dương do đó mà hình thành, cho nên nói 'nhất âm nhất dương' vậy".

Tư Mã Thiên, người thời Tây Hán nói "Dịch dĩ đạo hóa". Ông cho rằng, nội dung đặc sắc của Kinh Dịch là ở chỗ nó nêu lên cái lý biến hóa của sự vật, cho nên ông nói: "Lễ là để ước chế lòng người, Nhạc là để khởi phát cái hòa, Thư là để hướng dẫn công việc, Thi là để biểu đạt tâm trạng, Dịch là để chỉ ra sự biến hóa, Xuân Thu là để chỉ ra cái 'nghĩa'. Kéo đời loạn đưa trở về ngay chính, không gì hơn là đọc Xuân Thu".

Hệ Từ - Hạ truyện viết: "Thần diệu biến hóa, khiến cho dân noi theo"; và, "Thấu hiểu được lẽ thần diệu, biết được lẽ biến hóa, đức sẽ lớn mạnh vậy".

Sử ký - Hoạt kê liệt truyện tự Khổng Tử nói: "Lục nghệ, quy về nói từng thứ một thì, Lễ là để chế ước con người, Nhạc là để khởi phát cái 'hòa', Thư là để hướng dẫn công việc, Thi là để diễn đạt tâm trạng, Dịch là để tỏ rõ thần kỳ biến hóa, Xuân Thu nói về cái nghĩa. Thái sử công nói: Đạo trời lồng lộng, chẳng lớn lắm sao? Trong cái lời nói vi diệu ấy, cũng có thể hiểu được".

Hệ Từ - Thượng truyện viết: "Ôi, đạo của Dịch rộng thay, lớn thay! Lấy nó mà nói về việc ở xa thì không bao giờ cùng, lấy nó mà nói về việc ở gần thì bình thản chính đính, nó bao gồm đầy đủ cả mọi việc trong trời đất". (Phù dịch quảng hĩ, đại hĩ! Dĩ ngôn hồ viễn tắc bất ngự. Dĩ ngôn hồ nhĩ tắc tỉnh nhi chính. Dĩ ngôn hò thiên địa chi gian tắc bị hỉ). Việc lập ra quẻ, từ gốc đến thân, từ thân ra cành, tự nhiên thuận hành, đủ trời đất người, có phân có hợp, có tiến có thoái, có ngang có dọc, có thuận có nghịch, v.v...nhưng không có gì, đi mà không lại, tới mà không lui, thấu hiểu tự nhiên.

Khổng Dĩnh Đạt - Chu Dịch chính nghĩa nói: "Câu trên là muốn chỉ rõ tầm vóc quảng đại của Dịch lý. Lẽ biến hóa của Dịch thông khắp bốn phía xa, cho nên gọi là 'quảng'; nó thông tới tận trời, cho nên gọi là 'đại". Lại nói: "cái lẽ biến hóa của Dịch cùng cực u thâm, không bao giờ ngừng nghỉ", "cái lẽ biến hóa của Dịch, ở nơi gần, thì giữ được bình thản yên tĩnh mà chính đính, không hỗn loạn vậy".

Du Diễm - Chu Dịch tập thuyết nói: "Đạo Dịch rất quảng đại. Từ việc gần, việc xa, cho đến mọi việc trong trời đất này, không có gì không phải là Dịch. Lấy Dịch mà suy việc xa thì lý thông suốt, không hề trở ngại. Lấy Dịch mà bàn việc gần, thì lý đầy đủ rõ ràng ngay trước mắt, thản nhiên mà chính đính.Lấy Dịch mà bàn luận mọi việc trong vòng trời đất, thì lý lẽ của mọi sự mọi vật đều đủ cả trong đó. Có thể gọi là quảng đại vậy".

Lễ ký - Kinh giải viết: "Khiết tịnh tinh vi, Dịch giáo dã" (Trong sạch thuần khiết, tinh vi, đó là cái giáo lý của Dịch vậy). Chú giải cho câu nói này, Khổng Dĩnh Đạt - Lễ ký chính nghĩa viết: "Dịch cho rằng, đạo làm người ngay chính gặp điều lành, tà vạy ắt sẽ gặp điều dữ, không dâm lạm thái quá, như vậy gọi là 'khiết tịnh'; cùng lý tận tính, lời lẽ vi nhiệm thì gọi là 'tinh vi' vậy".

Dịch chi thất tặc

Câu nói này được viết trong Lễ Ký - Kinh giải. Ý nghĩa câu "dịch chi thất tặc" cho rằng nghiên cứu Dịch, nếu không biết tự tiết chế trong lời dạy của Dịch, thì sẽ có mối lo làm tổn thương tới Lý, làm hại tới vật. Làm người mà cung kính, không cẩu thả thì đủ để giúp cho nội tâm được chính trực. Hành vi thích hợp cũng đủ để giúp cho vẻ ngoài được đoan phương. Trịnh Huyền - Lễ Ký chú viết: "Thất, có nghĩa là không có khả năng tiết chế trong lời dạy của Dịch", lại nói "Dịch tinh vi, ái ố tương công, viễn cận tương thủ, tác bất năng dung nhân, cận vu thương hại". Nghĩa là: Đạo Dịch rất tinh vi, yêu ghét đối chọi nhau, xa gần chấp thủ nhau, vậy thì nó không thể chứa người khác ý, nếu không sẽ dẫn tới tai hại.

Khổng Dĩnh Đạt - Lễ Ký chính nghĩa viết: "Dịch chủ ở sự thuần tĩnh nghiêm chỉnh, xa gần chấp thủ nhau, yêu ghét đối chọi nhau, nếu không biết tiết chế, ắt sẽ bị tai hại". Khổng Dĩnh Đạt lại phân tích lời chú giải của Trịnh Huyền "Dịch tinh vi", ý muốn nói Dịch lý rất vi diệu sây sắc, cầu tránh xác đáng, không dung chứa người khác mình. Dịch nói "ái ố tương công" là để chỉ sáu hào của quẻ Dịch, hoặc hào âm cưỡi hào dương, hoặc hào dương nén hào âm, kề cạnh nhau mà không có sở đắc, gọi là "ái ố tương công". Nói "viễn cận tương thủ", là chỉ bỉ thủ có ứng là xa gần hợp nhau. Hoặc nếu xa mà không có ứng, gần mà không hợp nhau, thì không thể hòa hợp đến với nhau được.

Câu "tác bất năng dung nhân, cận vu thương hại", là ý muốn nói, nếu ý hợp nhau thì dù xa mà vẫn yêu nhau; nếu ý xa nhau, thì có gần mà vẫn ghét nhau, tức là không nên cùng với người không giống mình, nếu không sẽ bị tổn hại như bị giặc làm hại vậy.

Dịch khí tòng hạ sinh

Chu Dịch Càn tạc độ có câu: "Dịch khí tòng hạ sinh", nghĩa là Dịch lý thuyết minh quá trình phát sinh của sự vật, đều xuất phát từ sự vận động của "Khí"; mà sự sinh - thành của Khí đều thuận từ dưới lên trên, từ vi tế đến hiển hiện rõ ràng. Do vậy, 6 hào của các quẻ trong Dịch, đều được liệt theo thứ tự từ dưới lên trên.

Chu Dịch Càn tạc độ viết: "Vật do cảm nhau mà động, các vật cùng loại thì ứng với nhau, Khí của Dịch được sinh ra từ dưới". "Khí của trời đất tất có đầu có cuối. Vị trí của sáu hào đều từ dưới lên trên. Cho nên, Dịch bắt đầu từ cái Một, một phân ra hai, hai thông ở ba,... ở bốn, thịnh ở năm, kết thúc ở trên cùng".

Trịnh Huyền chú: "Dịch vốn không có hình, từ vi tế mà hiển hiện ra, khí từ dưới sinh ra, nên lấy hào dưới cùng làm khởi đầu vậy". "Dịch vốn không có hình thể, do Khí biến mà sinh ra cái Một, cho nên Khí từ dưới mà sinh ra".

Bàng thông

Điều lệ dịch học do Ngu Phiên đề xướng. Ý nói hai quẻ sáu hào so sánh với nhau, thể của hào âm dương khác nhau, tức là đây là dương thì kia âm, đây là âm thì kia dương, bàng thông với nhau từng cặp một. Ngu Phiên nói: "Quẻ Tỵ bàng thông với Đại hữu, quẻ Đại hữu bàng thông với quẻ Tỵ". Các quẻ khác giống như vậy.

Bàng thông là một trong những điều lệ quan trọng trong Dịch thuyết của Ngu Phiên. Xét, Văn ngôn truyện quẻ Càn nói: "Lục hào phát huy, bàng thông tình dã", ý nói hào của Dịch biến động chẳng dừng. Ngu Phiên đã căn cứ vào đây mà lấy danh từ "bàng thông", nhưng biến đổi ý nghĩa mà sáng tạo thành Dịch lệ của mình. Tới đời Minh thì Lai Tri Đức phát minh ra Tổng quái, Thác quái, được người đương thời gọi là "tuyệt học", trong đó Thác quái tức là áp dụng lệ Bàng thông của Ngu Phiên.

Trích dẫn

Sáu Hào phát huy biến động, biến thông tình - lý sự vật. Hào ở quẻ này là Âm, thì hào tương ứng của quẻ kia là Dương. Ở quẻ này là hào Dương, thì hào tương ứng ở quẻ kia là Âm.

Một sự vật nếu có thành tựu, thì sự vật ấy ắt phải đắc vị - đắc thời - đắc trung. Muốn duy trì một sự vật gì (?), thì chớ để nó phát triển tối đa, mà phải luôn cảnh giác phòng bị mặt trái của nó. Có như vậy, mới không nhận lấy mặt trái của nó.

Cho nên nói tình dã

Thành Ký tế định

Một trong những điều lệ Quái biến do Ngu Phiên đề xướng, nói rằng các hào vị bất chính đều sẽ biến thành chính, quẻ thành Ký tế, hào vị mới định.

CHI CHÍNH

"Chi" giống như nói "biến". "Chính", là chỉ hào âm cư âm vị - ngôi vi chẵn, hào dương cư dương vị - ngôi vị lẻ. Đây là một trong những điều lệ do Ngu Phiên đề xướng.

Trong quẻ, phàm hào vị nào bất chính đều cần phải biến cho thành chính, tức là điều mà Dịch truyện cho là "chính" và "đáng vị", cũng gọi là "chi biến". Theo điều lệ này, thì hào Sơ phải là dương, hào Nhị phải là âm, hào Tam phải là dương, hào Tứ phải là âm, hào Ngũ phải là dương, hào Thượng phải là âm. Khi quẻ sáu hào đều "chính", thì quẻ thành Ký tế, hào vị đã định, bởi vậy còn gọi là "thành Ký tế định". Ngu Phiên dùng thể lệ này để thuyết giải nhiều thể lệ biến của Dịch. Như quẻ Truân lời hào Lục Nhị là "Thập niên nãi phu", ông giảng là: "Khôn số thập, tam động phản chính, Ly nữ đại phúc, cố thập niên phản thường nãi phu, vi thành Ký tế định dã". Có nghĩa là: quẻ Truân, Chấn hạ Khảm thượng, duy có hào Tam bất chính, biến động đến chính, thành Ký tế mà hạ thể là Ly, thì mới có lời giải thích như trên". Lại như tượng truyện hào Cửu Nhị quẻ Vị tế viết: "Vị Sơ dĩ chính, Nhị động thành Chấn, cố thành chính", hào Cửu Tứ nói: "Động chính, đắc vị", hào Lục Ngũ nói: "Chi chính tắc cát", hào Thượng Cửu nói: "Chung biến chi chính, cố vô cữu". Nghĩa là quẻ Vị tế sáu hào đều thất chính, Ngu Phiên thuyết giải năm hào đều nên biến đến chính. Duy thiếu chỉ có một hào Lục Tam thì cũng theo lệ ngày mà suy ra.

Tam biến thụ thượng

Ngu Phiên đề xuất điều lệ Dịch học, chỉ hào thứ Ba biến, thì đổi vị trí cho hào Thượng, còn gọi là "Quyền" hay là "Quyền tượng". Chu dịch tập giải khi bàn về quẻ Gia nhân, dẫn lời Ngu Phiên nói: "Hào Tam đã biến, thì đổi vị trí cho hào Thượng. Đổi thì được đắc vị. Cuối cùng sẽ tốt". Lại dẫn Tượng truyện nói: "Chỉ hào Tam động. Hào Thượng đổi vị trí với hào Tam thành Ký tế định". Đây là nói quẻ Gia nhân chỉ có hào Thượng Cửu là thất chính, thì lấy hào Cửu Tam đã chính, biến thành hào âm, đổi vị trí với hào Thượng Cửu, thì sau hào đều chính mà thành Ký tế.

Xét thấy, lệ này của Ngu Phiên, lời chú ở sách Chu dịch tập giải đã dẫn, chỉ thấy có hai quẻ Gia nhân và Tiệm, đều thuộc quẻ mà hào Tam và hào Thượng là hào dương. Hào Tam là dương, vốn đã được chính, lại biến thành hào không chính, sau đó đổi ngôi vị với hào Thượng Cửu, khiến hai hào đều được chính. Phép này ngược với lệ: "Chi chính thành Ký tế". Bởi vậy, Ngu Phiên mới tự đặt tên là phép Quyền nghi.

Chu dịch tập giải ở hào Thượng Cửu quẻ Tiệm dẫn chú Ngu Phiên, nói: "Hào Tam đã đắc vị, lại biến nhận với hào Thượng là quyền. Khổng Tử nói: có thể hợp đạo, không thể quyền nghi, cũng không lạ vậy".

Phản quái

Điều lệ Dịch học do Ngu Phiên đời Tam quốc đề xướng. Nghĩa là lấy 6 hào của quẻ 6 vạch đảo ngược lại thành quẻ khác. Như quái tượng quẻ Quán, đảo ngược lại thì thành quái tượng quẻ Lâm. Quẻ Quán và quẻ Lâm hỗ nhau, thành quẻ phản quái.

Người đời sau cũng gọi là quẻ "phản đối", gọi như vậy thấy không chính đính với học thuyết của Ngu Phiên, do vì chữ "đối" theo nghĩa âm đối dương hay dương đối âm, ví như quẻ Quán có quẻ đối là quẻ Đại quá.

Nhưng trong 64 quẻ của Kinh, có 8 quẻ gồm Càn, Khôn, Khảm, Ly, Di, Trung phu, Tiểu quá, Đại quá có hình quẻ đặc biệt, đảo ngược cũng không biến đổi, nên không có "phản quái".

Lý Đỉnh Tộ - Chu dịch tập giải ở phần quái từ quẻ Di, dẫn lời Ngu Phiên nói: "Phản phục không suy, cũng như Càn Khôn Khảm Ly Di Trung phu Tiểu quá Đại quá". Trong Dịch thuyết của Ngu Phiên, dùng rất nhiều thí dụ về "phản quái". Như Chu dịch tập giải, ở quái từ quẻ Thái, dẫn lời Ngu Phiên nói: "Phản là Bĩ. Ở quái từ quẻ Minh di lại nói: phản là Tấn. Ở quái từ quẻ Tiệm nói: phản thành Quy muội, v.v..." Xét, thể lệ phản quái, hoặc phản đối, thực ra là một trong những đặc trưng vốn có của hình thái 64 quẻ trong Kinh.

Tuân Sảng

Tuân Sảng (128 - 190), người Dĩnh Xuyên, Dĩnh Âm, này là thành phố Hứa Xương, tỉnh Hà nam, thời Đông Hán, tự là Từ Minh, còn có tên là Tư. Thủa nhỏ ham học, 12 tuổi đã đọc được Xuân Thu, Luận Ngữ, ông đam mê kinh truyện, không chúc mừng thăm viếng ai, được người đương thời gọi là "Tuân thị bát long, Từ Minh vô song", và được Thái úy Đỗ Kiều khen rằng "có thể làm thầy người khác".

Hậu Hán thư - Tuân Sảng truyện, thì trước tác rộng khắp các loại kinh, tử, sử cộng hơn trăm thiên của ông đều thất truyền. Về Dịch học theo cổ văn Dịch của Phí Trực, lấy Thập dực giải thích nghĩa Kinh, ông đã sáng tạo nghĩa lệ đặc trưng "Càn Khôn thăng giáng", kết hợp dùng cả thể lệ quái biến, tiêu tức để giải thích yếu chỉ của Kinh, tác phẩm Dịch giải của ông đã thất truyền.

Hậu Hán thư - Nho lâm truyện viết: "Vào thời Kiến Vũ, Phạm Thăng truyền bá Mạnh thị Dịch để dạy cho Dương Chính, còn Trần Nguyên và Trịnh Chúng đều truyền bá Phí thị Dịch, về sau Mã Dung cũng truyền dạy cho Trịnh Huyền. Trịnh Huyền soạn Dịch chú, từ đó Dịch học họ Phí thịnh hành, mà Dịch học họ Kinh suy yếu".

Quái biến, thể lệ Dịch học của Tuân Sảng, có thể thấy được đại cương phép quái biến thông qua phép Càn Không thăng giáng, nhưng còn có biệt lệ:

1- Có loại từ Càn Khôn mà biến ra, như Thoán truyện quẻ Khiêm dẫn lời Tuân Sảng nói: "Càn lai chi Khôn" (Khôn từ Càn mà biến ra), lại dẫn trong Thoán truyện quẻ Giải: "Càn động chi Khôn, Càn Khôn giao động, động nhi thành Giải" (Càn động biến thành Khôn, Càn Khôn giao động, do động mà biến thành Giải).

2- Có loại từ Lục tử biến ra, như Thoán truyện quẻ Truân nói: "Đây vốn là quẻ Khảm. Xét, hào Sơ thăng lên Nhị, hào Nhị giáng xuống Sơ, đó là cương nhu bắt đầu giao nhau". Lại dẫn Thoán truyện quẻ Mông nói: "Đây vốn là quẻ Cấn. Xét, hào Nhị tiến lên (thăng) chiếm ngôi hào Tam, hào Tam lùi xuống (giáng) hào Nhị, cương nhu đắc trung cho nên thông".

3- Có loại từ tiêu tức quái biến ra, như quái từ quẻ Tụng dẫn lời Tuân Sảng nói: "Dương đến chiếm ở hào Nhị mà phu động ở hào Sơ". Tiêu Tuần cho rằng ở đây nói quẻ Tụng là gốc ở quẻ Độn. Lại như Thoán truyện quẻ Bĩ dẫn: "Đây vốn là quẻ Thái chỉ âm từ trên xuống, ở vào giữa quẻ Càn".

Dịch thuyết của Tuân Sảng nói đến quái biến còn lại không nhiều, lệ ấy có phải chỉ chừng ấy không, thì chưa rõ. Đến khi Dịch học của Ngu Phiên ra đời, thì thể lệ quái biến càng trở nên tỉ mỉ và có hệ thống.

THẬP NHỊ TÍCH QUÁI

Các nhà Dịch học thời Hán lấy 12 hình quẻ đặc thù trong 64 quẻ, phối hợp với khí hậu từng tháng của 12 tháng trong một năm, biểu thị ý nghĩa "âm dương tiêu tức" của vạn vật trong thế giới tự nhiên, gọi là Thập nhị tích quái, hay còn gọi là Nguyệt quái, Hậu quái, Tiêu tức quái.

Nguồn gốc của Thập nhị tích quái rất cổ. Thuyết này đầu tiên thấy ở Quy Tàng: "Tý Phục, sửu Lâm, dần Thái, mão Đại tráng, thìn Quải, tị Càn, ngọ Cấu, mùi Độn, thân Bĩ, dậu Quan, tuất Bác, hợi Khôn" (Mã Quốc Hàn - Ngọc hàm sơn phòng tập dật thư). Thượng Bỉnh Hòa cho rằng, Tả truyện - Thành công năm thứ 16 chép chuyện Tấn Hầu bói việc đánh nước Sở, được quẻ Phục, nói: "Năm quốc kiển, xạ kỳ nguyên, Vương trung quyết mục, dĩ Phục cư Tý". là dẫn chứng rõ nhất về việc vận dụng Thập nhị tích quái để nói về Dịch.

Chữ "Tích" còn có nghĩa là Vua (quân), "chủ" là nói 12 quẻ này làm chủ 12 tháng. Nay dựa vào bộ Hán thượng dịch truyện - Chu Chấn truyền lại Quái khí thất thập nhị hậu đồ của Lý Cái vẽ Thập nhị tích quái đồ biểu thị rõ tôn chỉ: dương đầy là "tức", âm hư là "tiêu". Sáu quẻ từ Phục đến Càn là tức quái, là Phục nhất dương sinh thuộc cung Tý, quẻ tháng 11; Lâm nhị dương sinh thuộc Sửu quẻ tháng 12; Thái tam dương sinh thuộc Dần quẻ tháng Giêng; Đại tráng tứ dương sinh thuộc Mão thuộc tháng 2; Quải ngũ dương tức, thuộc Thìn quẻ tháng 3; đến Càn lục dương tức, thuộc Tị quẻ tháng 4. Sáu quẻ từ Cấu đến Khôn là "tiêu" quái, là Cấu nhất âm tiêu, thuộc Ngọ, quẻ tháng 5; Độn nhị âm tiêu, thuộc Mùi, quẻ tháng 6; Bĩ tam âm tiêu, thuộc Thân, quẻ tháng 7; Quan tứ âm tiêu, thuộc Dậu, quẻ tháng 8; Bác ngũ âm tiêu, thuộc Tuất, quẻ tháng 9; đến Khôn là quẻ lục âm tiêu, thuộc Hợi, quẻ tháng 10.

Hai quẻ Càn Khôn là mẹ của "tiêu - tức", Dịch vĩ - Càn tạc độ viết: "Thánh nhân nhân âm dương mà nêu ra tiêu tức, lập Càn Khôn để thống nhất Thiên Địa", lại chép: "Quẻ tiêu tức, thuần là Đế, không thuần là Vương".

Dịch vĩ - Càn nguyên tự chế ký viết: "Tích quái, ôn khí không theo 6 quẻ, vật dương không sinh, khí đất sẽ dấy lên", Trịnh Huyền chú: "sáu quẻ là chỉ quẻ Thái, Đại tráng, Quải, Càn, Cấu (dưới Cấu còn có Độn, ghi chép sót), hàn khí không theo 6 quẻ, không dẫn đến đông vinh, vật thực không thành", Trịnh Huyền chú "Sáu quẻ là nói các quẻ Bĩ, Quan, Bác, Phục, Lâm". Các nhà Dịch học từ Mạnh Hỷ, Kinh Phòng thời Tây Hán; Mã Dung, Trịnh Huyền, Tuân Sảng, Ngu Phiên thời Đông Hán, cho đến các học giả đời Thanh, chẳng ai không dùng Thập nhị tích quái để lập thuyết, ảnh hưởng rất lớn. Thượng Bỉnh Hòa nói: "Người hậu Hán chú Dịch thường dùng Nguyệt quái nhưng không nói rõ, cho rằng Nguyệt quái mọi người đều biết, bất tất phải nói kỹ, điều đó cho thấy tính quan trọng của Nguyệt quái".

Hệ từ - Hạ truyện viết: "Cương nhu tương thôi, biến tại kỳ trung hỹ", Chu dịch tập giải dẫn lời chú của Ngu Phiên nói: "Nói về tiêu tức của 12 tháng, cửu lục tương biến, cương nhu tương thôi mà sinh biến hóa, cho nên bên trong có biến đổi vậy".

TRỊNH HUYỀN VÀ DỊCH VĨ CHÚ

Trịnh Huyền là Kinh học gia, Dịch học gia nổi tiếng đời Hán. Cống hiến quan trọng đối với Dịch học của ông là: chú thích kiệt xuất công trình Dịch Vĩ, với trước tác đồ sộ và sắc bén, Trịnh Huyền đã trở thành tập đại thành của Tượng - Số dịch học đời Hán.

Trịnh Huyền (127 - 200) người đất Cao Mạt, thời Đông Hán, tự là Khang Thành, ông nổi danh là một đại sư về Dịch học, tinh thông Ngũ hành, là người kế thừa đầu tiên của Kinh thị dịch học.

Trịnh Huyền nghiên cứu Phí thị dịch học, sau đó ông theo nhà kinh học nổi tiếng Mã Dung nghiên cứu Cổ văn kinh. Học xong, ông về làng giảng dạy ngũ kinh. Do chính biến giữa Hoạn quan với Đại thần thời Hán Linh Đế, ông bị bắt giam; Ra tù ông đóng cửa không đi đâu, ở nhà viết sách.

Ông trước tác nhiều về Ngũ kinh, hậu như chú giải toàn bộ, như Chu dịch chú - Tùy thư - Kinh tịch chí được chép thành 9 quyển, Dịch tán, Dịch luận, tác phẩm nổi tiếng nhất của Ông là Dịch vĩ chú được chép trong Tứ khố toàn thư. Đặc biệt của sách này là hào thần, thần ở đây có nghĩa chỉ về ngôi sao, vì Trịnh Huyền coi 12 hào của Càn và Khôn là 12 'thần' tức 12 ngôi sao, ông dùng Dịch để lập thuyết về Thiên văn học. Trịnh Trần đời Thanh có soạn 4 quyển Trịnh học lục, đây là tư liệu quan trọng để nghiên cứu về Trịnh học. Ngoài ra, Vương Ứng Lân thời Nam Tống biên soạn Chu dịch Trịnh Khang thành chú; Mã Quốc Hàn biên soạn Tân bản Trịnh thị Chu dịch; Viên Quân đời Thanh biên soạn Trịnh thị di thư.

Trịnh Huyền là đệ tử của Mã Dung, quan điểm học thuật giống như Mã Dung, trên cơ sở kế thừa Kinh thị dịch học mà phát huy Phí thị học.

Chu dịch chú của Trịnh Huyền đã thất lạc. Tùy thư - Kinh tịch chí đã sao chép được 9 quyển, đời sau có biên soạn Chu dịch Trịnh Khang thành chú một quyển, sách tương đối có tính đại biểu. Những tư liệu trong Tứ khố toàn thư còn lưu giữ đều là những tư liệu nghiên cứu về Trịnh Huyền với Dịch học.

Sách Dịch vĩ được Trịnh Huyền chú giải có trình độ lý luận rất cao. Trên cơ sở của Kinh Phòng về bát quái, hào vị tương kết tương hợp, Trịnh Huyền đã xây dựng thêm số Ngũ hành thành Đại biến số để giải thích số Đại diễn và số Trời Đất của Dịch.

Dịch nói: 天一地二。天三地四。天五地六。天七地八。天九地十。Thiên nhất Địa nhị, Thiên tam Địa tứ, Thiên ngũ Địa lục, Thiên thất Địa bát, Thiên cửu Địa thập”. Số lẻ là dương thuộc Thiên; số chẵn là âm thuộc Điạ. Cho nên ta mới có 10 số thiên-nhiên, dàn thành 5 cặp âm-dương: (1, 2), (3, 4), (5, 6), (7, 8), (9, 10). Trịnh Huyền chú giải: 河以通乾出天。洛以流坤吐地符。河龍圖發。洛龜書成。河圖有九篇。洛書有六篇。(Hoàng-hà để thông hiểu quẻ Kiền suy ra từ trời. Lạc-thủy để lưu hành quẻ Khôn nhả địa-phù. Hoàng-hà Long-đồ phát-xuất, Lạc-thủy Quy-thư hoàn thành. Hà-đồ gồm 9 thiên, Lạc-thư gồm 6 thiên).

Tiêu Diên-Thọ 焦延壽, tự Cống, là sư phụ của Kinh Phòng, đã truyền lại cho Kinh Phòng nguyên lý Hào thần. Sách có chép "Bát-quái Lục-Vị-Đồ 八卦六位圖", lấy ngũ-hành, 10 can (nạp-giáp), 12 chi (trang chi) phổ vào các hào của bát-quái. Đó chính là một thuật của Kinh Phòng. Phép Hào thần sau này đã được Trịnh Huyền sử dụng lấy làm hào âm dương để giải thích Dịch, được ghi lại trong sách Dịch Hán Học 易漢學 của Huệ-Đống 惠棟, Quyển IV, có chép Đồ này.

Số Ngũ hành được xuất hiện sớm nhất ở Thượng thư - Hồng phạm viết: "Đầu tiên là ngũ hành. Thủy nhuận hạ, hỏa viêm thượng, mộc khúc trực, kim tùng cách, thổ viên giá sắc" (Nước thấm xuống làm nên vị mặn, lửa bốc lên làm ra vị đắng, gỗ cong thẳng làm nên vị chua, kim theo thay đổi làm nên vị cay, đất để gieo cấy làm nên vị ngọt). Thông qua đây, Trịnh Huyền lấy số Ngũ hành để chú giải về số trời đất trong Dịch, viết: "Khí của trời đất mỗi thứ có 5. Theo thứ tự ngũ hành, 1 là thủy đó là số trời, 2 là hỏa đó là số đất; 3 là mộc đó là số trời; 4 là kim đó là số đất; 5 là thổ đó là số trời". Ông lại nói: "Số trời đất là 55, với ngũ hành khí thông. Phàm ngũ hành giảm 5, đại diễn lại giảm 1 cho nên thành 4".

Trịnh Huyền chú thích Dịch vĩ rất rõ ràng khúc triết, ông phát triển "Hào thần thuyết" của Dịch vĩ lấy 6 hào của quẻ, tương phối với 12 thần trong 1 năm. Cứ 2 quẻ Dịch đối, ứng trực cho 1 năm, 64 quẻ ứng trực cho một vòng 32 năm, khởi đầu từ hai quẻ Càn Khôn, kết thúc ở hai quẻ Ký tế và Vị tế. Mục địch của Trịnh Huyền là cho quái và hào tương ứng với nội hàm của Thời gian, dẫn tới hiệu quả Thời gian tương ứng với Tiết khí. Hào Thần đối ứng tương tự như với phương pháp Nạp giáp vào quẻ vào hào với vận trình thời gian cho từng năm mới. Tức là: đối với quẻ dương thì đi theo chiều thuận, đối với quẻ âm thì đi theo chiều nghịch. Ta lấy quẻ Càn Khôn làm ví dụ:

Càn vận hành theo chiều trái:

- Hào Thượng: tháng Chín - kiến Tuất

- Hào Ngũ: tháng Bảy - kiến Thân.

- Hào Tứ: tháng Năm - kiến Ngọ

- Hào Tam: tháng Ba - kiến Thìn

- Hào Nhị: tháng Giêng - kiến Dần

- Hào Sơ: tháng Một - kiến Tý.

Khôn vận hành theo chiều phải:

- Hào Thượng: tháng Tư - kiến Tị

- Hào Ngũ: tháng Hai - kiến Mão

- Hào Tứ: tháng Chạp - kiến Sửu

- Hào Tam: tháng Mười - kiến Hợi

- Hào Nhị: tháng Tám - kiến Dậu

- Hào Sơ: tháng Sáu - kiến Mùi

Trịnh Huyền dùng thuyết Hào thần để chú giải quẻ Dịch, chính là do Hào thần đã phản ánh được quy luật âm dương tiêu trưởng, khi Hào thần kết hợp với âm dương khí hóa, đã giải thích được sự thuận nghịch, thành bại của sự - vật, phát huy đầy đủ nguyên lý của Dịch về sự tương ứng giữa con người với thế giới tự nhiên.

Đặc điểm của Trịnh Huyền là lấy Kinh để chú giải Nghĩa, có nghĩa là lấy Dịch kinh chú giải Dịch truyện, cũng như lấy Kinh để giải Vĩ, đây là ông căn cứ vào thuyết lấy âm dương ngũ hành làm cơ sở, Ông đã đề xuất tăng cường ý - nghĩa cho âm dương của Tượng hào, đồng thời dùng Âm dương hào, để giải thích Dịch. Ông cũng đề xuất xây dựng quan điểm của Lão Tử để giải Dịch, như Trịnh Huyền chú Dịch vĩ với Dịch tam nghĩa, lấy tư tưởng vô vi vô vật của Lão để trình bầy mọi điều, Ông viết: "Noi theo Dịch mà vô vi, thì tính của thiên hạ không thể không tự hình thành. Với điều đó, ta có thể nói Dịch đạo là vô vi. Cho nên, trời đất, vạn vật, tất cả đều biến thông".

THUYẾT GIẢI DỊCH CỦA KINH PHÒNG

Kinh Phòng là người khai sáng phái tượng - số Hán dịch, cống hiến chủ yếu về Dịch học của ông là phát triển tượng số học của Dịch học, sự phát hiện ra những điều mới trong Dịch của ông, đã gây được những ảnh hưởng sâu sắc. Đời sau đã coi ông với Mạnh Hỷ là đại biểu cho các nhà Dịch học đời Hán, điều này đã khẳng định vị thế của ông trong Dịch học.

Kinh Phòng (77 - 37 tr.CN) người Tây Hán, người đất Đốn Khâu Đông quận, tự là Quân Minh, ông vốn họ Lý. Ông học dịch ở Tiêu Diên Thọ, rất thích âm luật, sau chết trong tay Trung thư lệnh Thạch Hiển.

Ông biên soạn rất nhiều, nhưng theo Hán thư - Nghệ văn chí, thì nay chỉ còn 11 thiên Tai dị Mạch thị Kinh Phòng, 2 thiên Ngũ lộc xung Phòng lược thuyết, Kinh thị đoạn gia. Trừ 3 quyển Kinh thị dịch truyện ra, thì toàn bộ trước tác khác của ông đều thất lạc.

Kinh Phòng là riêng một học phái, đặc điểm về học thuật của ông là nhấn mạnh thuyết "thiên nhân cảm ứng", do làm rõ được về tai dị trong thiên nhiên, rồi từ đó Ông chiêm nghiệm khí số cho xã hội, nên được nhà vua ban thưởng. Kinh Phòng là mở đầu của phái tượng - số Dịch học. Tập Kinh thị dịch truyện là gốc của tượng - số, là ông tổ của chiêm nghiệm Dịch học.

THẾ - ỨNG

Thế - Ứng là điều lệ Dịch học của Kinh Phòng thời Tây Hán. "Thế" là chỉ quẻ nào đó, trong hệ thống bát cung quái, thuộc thế quái thứ mấy của Cung nào đó, như vậy có nghĩa là hào thứ mấy tức là hào "Thế".

"Ứng" là chỉ sau khi xác định hào của Thế quái, hào này nếu là Sơ thì ứng với hào Tứ, nếu là Tam thì ứng với hào Thượng. Ngược lại cũng như vậy.

Thế - Ứng trong Dịch thuyết của họ Kinh là rất quan trọng, là một trong những phương pháp cơ bản để đoán quẻ khi chiêm sự. Thượng Bỉnh Hòa bàn tới hàm nghĩa của Thế - Ứng và phương pháp suy tìm Thế - Ứng, Thế hào, Ông chỉ rõ: "Thế - Ứng là chủ trong quẻ, là chỗ dựa để suy đoán lành dữ, đại để như Trinh - Hối (tức là nội quái và ngoại quái). Thế là ta, Ứng là nó. Song Thế - Ứng xét ra gặp hào nào, vẫn vốn lấy gốc từ bản cung của quẻ Ngộ quái".

Do đó, tìm hiểu căn nguyên của Thế - Ứng của bất cứ một quẻ nào đó, đều phải khảo cứu Bản cung quái thuộc trong Bát cung quái. Lấy cung Càn làm ví dụ, hào Sơ biến là Nhất thế quái Thiên Phong Cấu, vì quẻ Cấu là từ hào Sơ quẻ Càn biến mà ra. Cho nên Cấu: Thế tức tại hào Sơ, Ứng tại hào Tứ. Hào Nhị của Càn lại biến, thì hào Nhị Thế quái Thiên Sơn Độn, vì Độn từ hào Nhị của quẻ Càn biến mà ra, nên Thế của quẻ Độn là hào Nhị, còn Ứng tại hào Ngũ. Hào Tam quẻ Càn lại biến thì thành Tam thế quái Thiên Địa Bĩ, vì quẻ Bĩ do hào Tam của quẻ Càn biến mà thành. Cho nên Thế của Bĩ là ở hào Tam, còn Ứng thì tại hào Thượng. Hào Tứ của Càn lại biến thì thành Tứ thế quái Phong Địa Quan, vì quẻ Quan là do hào Tứ quẻ Càn biến mà ra. Cho nên Thế của quẻ Quan là ở hào Tứ, còn Ứng thì ở tại hào Sơ. Hào Ngũ quẻ Càn lại biến thì thành Ngũ thế quái Thiên Địa Bác, vì quẻ Bác là do hào Ngũ quẻ Càn biến mà ra, cho nên Thế của quẻ Bác là ở hào Ngũ, Ứng tại hào Nhị. Hào Thương quẻ Càn chẳng thể biến đổi, nếu biến thì xuất cung. Sau khi do hào Ngũ của Ngũ thế quái Bác thoái lùi, thì hào Tứ lại biến thành Dương, thành ra Du hồn quái Hỏa Địa Tấn, Thế của Tấn lùi ở hào Tứ (giống với Tứ thế quái Quan), còn Ứng tại hào sơ. Lại do Tứ của Du hồn quái Tấn thoái lùi, hoàn toàn biến đổi ba hào ở dưới, thì thành Quy hồn quái Hỏa Thiên Đại hữu, Thế của quẻ Đại hữu lại lùi ở hào Tam (giống với Tam thế quái Bĩ), còn ứng tại hào Sơ. Còn như bản cung quái Càn là Thiên, thì Thế tại hào Thượng, Ứng tại hào Tam. Bảy cung còn lại cũng giống như vậy.

Khi tìm hiểu quy luật ở trong của Thế - Ứng, thì thấy Thế vị của Nhất thế quái cho đến Ngũ thế quái, lần lượt ở tại hào Sơ cho đến hào Ngũ, bản cung quái tại hào Thượng, thì Du hồn quái giống Tứ thế quái tại hào Tứ, Quy hồn quái giống Tam thế quái tại hào Tam. Xác định Thế hào rồi thì vị trí của Ứng hào sẽ rất dễ thấy. Cho nên Thượng Bỉnh Hòa nói: "Thế đã định thì cách hai hào là Ứng hào", nói cách hai hào là Ứng hào là cách nói giản tiện về sáu ngôi - vị chẵn lẻ âm dương tương ứng của các quẻ trong Dịch.

Kinh thị dịch truyện - về quẻ Quy hồn Đại hữu của cung Càn,Kinh Phòng nói: "Tam công lâm Thế, Ứng Thượng cửu vi Tông miếu". Từ Ngang nói: "Quy hồn đảm đương chức Tam công, Thế vị thì tại hào thứ ba, thế hào Thìn thổ tương ứng với Tông miếu hào Tị hỏa, (đó tức là hào Thượng, Thượng cư quái cực là tông miếu), Hỏa có khả năng sinh Thổ".

Phép Thế - Ứng mà các nhà bói toán đời sau vận dụng, là do Dịch học của Kinh Phòng mà ra. Các nhà dịch học Hán Ngụy, lưỡng Tấn như Tuân Sảng, Can Bảo,... thì lại thường lấy điều lệ "thế - ứng" để giải thích nghĩa của Dịch.

PHI – PHỤC

Điều lệ Dịch học do Kinh Phòng đời Hán đề xướng. "Phi" là chỉ Quái tượng của hào thế đã hiện rõ của một quẻ nào đó, của một cung nào đó. "Phục" là để chỉ Quái tượng đang ẩn phục chưa hiện rõ do hào thế, hoặc hào tương ứng với nó biến thành.

Phàm là tượng "phi - phục", thì phải có âm dương đối nhau, dương phi thì âm phục, âm phi thì dương phục. Chu Chấn - Hán thượng dịch truyện viết: "Phàm quẻ hiện rõ gọi là phi, quẻ chưa hiện rõ gọi là phục. Phi là mới đến. Phục là đã qua".

Kinh thị Dịch truyện trình bày thể lệ được thâu tóm như sau:

1. Bản cung quái trong Bát cung quái lấy âm dương đối nhau để hỗ thành "phi - phục". Như quẻ Càn và quẻ Khôn đối nhau, Càn là "phi" thì Khôn là "phục", Khôn là "phi" thì Càn là "phục". Tượng làm chủ là hào thế (hào Thượng Cửu Thượng Lục). Các cặp quẻ dịch đối Chấn - Tốn, Khảm - Ly, Cấn - Đoài cũng vậy.

2. Quẻ do Bát cung hóa sinh ra từ nhất thế đến ngũ thế, ba quẻ trước là "phi - phục" đối với nội quái, hai quẻ sau là "phi - phục" đối với ngoại quái. Như quẻ Cấu nhất thế quái của cung Càn, hào thế Sơ Lục đã hiển hiện mà cư ở nội Tốn, hào Sơ Cửu quẻ Càn được hóa sinh ra liền ẩn phục mà cư ở nội Càn, bởi vậy quẻ Cấu phi ở nội Tốn mà phục ở nội Càn, hào Sơ là chủ tượng. Cũng với lý đó, quẻ Độn nhị thế quái, phi ở nội Cấn phục ở nội Càn, hào Nhị là chủ tượng. Cũng với lý đó, quẻ Bĩ tam thế quái, phi ở nội Khôn phục ở nội Càn, hào Tam làm chủ tượng. Quẻ Quán tứ thế quái, phi ở ngoại Tốn phục ở ngoại Càn, hào Tứ là chủ tượng. Quẻ Bác ngũ thế quái, phi ở ngoại Cấn phục ở ngoại Càn, hào Ngũ là chủ tượng. Bản cung còn lại theo đó mà suy.

3. Quẻ Du hồn là "phi - phục" với ngoại quái của ngũ thế quái bản cung. Quẻ quy hồn là "phi - phục" với nội quái của quẻ Du hồn bản cung. Như quẻ Tấn là quẻ Du hồn của cung Càn, hào thế Cửu Tứ đã hiển hiện mà cư ở ngoại Ly, hào Lục Tứ của quẻ ngũ thế quái Bác do quẻ Du hồn phục biến, liền ẩn mà cư ngoại Cấn, hào Tứ là chủ tượng. Quẻ Quy hồn cung Càn là Đại hữu, hào Cửu Tam là hào thế, đã hiển hiện ra mà cư ở nội Càn, ba hào âm dưới quẻ Du hồn Tấn, phản quy phục biến, liền ẩn mà thành nội Khôn; bởi vậy quẻ Đại hữu phi ở nội Càn phục ở nội Khôn, hào Tam là chủ tượng. Bảy cung còn lại theo đây mà suy.

4. Khi chiêm quẻ, gặp hai hào động của bản quái, ba hào động của bản quái trở lên, thì lấy hào động trên cùng làm chủ tượng, xét từ trên xuống dưới, từ ngoài vào trong, cũng đều căn cứ vào Quái từ Quái tượng và Hào từ Hào tượng để định cát hung.

Xét, về thể lệ "phi - phục", thực chất Kinh Phòng vận dụng nguyên lý đầy vơi, tiêu tức trong mâu thuẫn đối lập âm dương của Dịch, sau đó suy rộng phát triển mà thành. Từ Ngang trong Kinh thị Dịch truyện tiên nói: "Âm dương tiêu trưởng mà có phi-phục. Hiển là phi, ẩn là phục. Đã phi thì từ hiển mà ẩn; đã phục thì từ ẩn mà hiển. Trong phi có phục, trong phục có phi, tiêu tức tuần hoàn không cùng".

Hán thư - Kinh Phòng truyện viết: "Tiêu quái gọi là Thái âm. Tức quái gọi là Thái dương". Nhan Sư Cổ chú: "Tiêu quái gồm Cấu, Độn, Bĩ,Quán, Bác, Khôn. Tức quái gồm Phục, Lâm, Thái, Đại tráng, Quải, Càn". Chu Hy chép ở đầu sách Chu dịch bản nghĩa có nói: "Thái dương sinh hai quẻ Càn Đoài. Thái âm sinh hai quẻ Cấn Khôn".

Kinh Phòng đã kết hợp, vận dụng cả Ngũ hành, Can Chi, Ngũ tinh, Tứ khí, Lục thân, Cửu tộc, Phúc đức, Hình sát, v.v...để giúp vào việc chiêm nghiệm. Các nhà bốc phệ đời sau đều lấy phép "phi-phục" của Kinh Phòng để xin âm dương chiêm đoán tai dị. Những nhà Dịch học thời Hán Ngụy như Tuân Sảng, Ngu Phiên lại thường dùng lý luận "dương hạ phục âm, âm hạ phục dương" trong thể lệ phi-phục để giải thích nghĩa của Dịch. Về câu "Lý sương kiên băng chí" trong Văn ngôn truyện quẻ Khôn, Tuân Sảng nói: "Sương là mệnh lệnh của Trời, dưới Khôn có Càn ẩn phục. 'Lý sương kiên băng', đó là nói đạo thuận tòng. Càn khí thêm vào, tính biến thành cứng. Như bề tôi thuận theo mệnh vua mà hoàn thành đạo làm tôi". Hoặc câu "Quân tử dĩ trí mệnh toại chí" trong Đại tượng truyện quẻ Khôn, Ngu Phiên nói: "Quân tử là chỉ hào Tam, dương đang ẩn phục".

Kinh Phòng kiên trì thuyết "quái khí" để bình nghị âm dương tai biến, cho nên di thuyết của ông truyền ở đời rất sâu rộng. Đầu quyển Thượng là: Càn cung bát quái, thứ đến Chấn cung bát quái, Khảm cung bát quái, Cấn cung bát quái. Đầu quyển Trung là: Khôn cung bát quái, thứ đến Tốn cung bát quái, Ly cung bát quái, Đoài cung bát quái. Đầu quyển Hạ bàn về Thánh nhân làm Dịch, phép đếm cỏ thi bày quẻ, rồi bàn về phép Nạp Giáp, sau đó bàn về 24 khí hậu phối hợp với 64 quẻ, và Tứ Dịch: Thiên dịch - Địa dịch - Nhân dịch - Quỷ dịch. Thiên quan, Địa quan và Ngũ hành sinh tử. Phép bói dùng đồng tiền đời sau thực ra xuất phát từ đây. Cách dùng Hỏa châu lâm cựu truyền cũng khởi đầu từ sách của Kinh Phòng.

DU HỒN

Du hồn là quẻ thuần bản cung của mỗi cung, khi biến đến hào thứ năm, thì hào trên không biến, mà lại đi xuống, biến ở hào thứ tư đã biến, quẻ được hình thành như vậy, thì gọi là quẻ Du hồn. Kinh thị Dịch truyện, đó là Du hồn". Lục Tích chú thích: "Khi âm đã bóc hết dương, nhưng dương đạo không thể bị diệt hết, vì vậy phản dương phục đạo. Nhưng không quay về ngôi bản vị, thì gọi là Du hồn theo "lệ" của Bát quái". Nói về quẻ Tấn: "Khí tinh túy thuần"

Xét, gọi tên Du hồn, vốn gốc từ Hệ từ - Thượng truyện "Tinh khí vi vật, du hồn vi biến". Kinh Phòng đã tiếp thu, lấy làm tên gọi cho quẻ hình thành bởi lần biến thứ sáu của Bản cung quái. Can Bảo chú giải về quẻ Tụng nói: "Quẻ Tụng là du hồn của quẻ Ly. Ly là binh qua, thiên khí hình sát, là quẻ mà vương công phải dùng tới quân đội".

QUY HỒN

Quy hồn là quẻ bản cung của mỗi cung, đã biến đổi tới lần thứ 6 thành quẻ Du hồn, thì đồng thời biến đổi 3 hào đã biến ở dưới quẻ, như vậy thì thành quẻ, gọi là quẻ Quy hồn. Kinh thị Dịch truyện trong mục quẻ Đại hữu nói: "Quẻ trở về bản cung gọi là Đại hữu, tượng trong thấy Càn là bản vị". Gọi là "Bản cung", hay "Bản vị" là chỉ cung Càn biến tới quẻ Quy hồn, thì ba hào dưới lại biến nữa mà trở về Càn. Như vậy, hào Sơ, hào Nhị, hào Tam đều biến hai lần. Hào Tứ biến lần hai thì được quẻ Du hồn.

Lục Tích chú thích rằng: "Tám quẻ vốn khởi từ cung Càn, tới Đại hữu là Quy hồn. Gọi là Quy hồn là nói về tượng của quẻ đó biến, mà quay trở về bản vị Hạ quái của bản cung". Tuân Sảng nói: "Tùy là quy hồn của Chấn, Chấn trở về (quy) từ Tốn (chỉ hạ thể quẻ tam thế Chấn thành Tốn, tới quẻ quy hồn mới hồi phục bản thể thành Chấn), cho nên rất thông thuận. Vì Tốn là khiêm tốn, hòa thuận, nên có nghĩa là Thông.

Kinh thị Dịch truyện nói: "Dịch của Khổng Tử chép: Có tứ dịch. Nhất thế Nhị thế là Địa dịch. Tam thế Tứ thế là Nhân dịch. Ngũ thế Bát thuần là Thiên dịch. Du hồn Quy hồn là Quỷ dịch". Lại nói: "Du hồn, Quy hồn là Quỷ dịch. Quỷ là lại quay về. Quẻ Du hồn từ hào thứ năm, thì quay về mà biến ở hào thứ tư; quẻ Quy hồn từ hào thứ tư, lại quay về mà biến ở ba hào ở dưới quẻ. Thể lệ này đều bao hàm cả tôn chỉ của sự 'quay về' (phục quy)".

Thế quái khởi Nguyệt lệ

Điều lệ Dịch học của Kinh Phòng. Phép này đem Bát cung quái chia ghép với 12 tháng. Không giống với thể chế đem quẻ ghép với tháng, trong Quái khí đồ của Mạnh Hỷ.

Khởi Nguyệt lệ:

- Nhất thế quái: âm làm chủ tháng Năm, vì một âm tại Ngọ. Dương làm chủ tháng Một, vì một dương tại Tý.

- Nhị thế quái: âm làm chủ tháng Sáu, vì hai âm tại Mùi, Dương làm chủ tháng Chạp, vì hai dương tại Sửu.

- Tam thế quái: âm làm chủ tháng Bảy vì ba âm tại Thân, dương làm chủ tháng Giêng, vì ba dương tại Dần.

- Tứ thế quái: âm làm chủ tháng Tám vì bốn âm tại Dậu, dương làm chủ tháng Hai vì bốn dương tại Mão.

- Ngũ thế quái: âm làm chủ tháng Chín vì năm âm tại Tuất, dương làm chủ tháng Ba vì năm dương tại Thìn.

- Bát thuần Thượng, âm làm chủ tháng Mười vì sáu âm tại Hợi, dương làm chủ tháng Tư vì sáu dương tại Tị.

- Du hồn do Tứ thế làm chủ, giống với Tứ thế quái.

- Quy hồn do Tam thế làm chủ, giống với Tam thế quái.

Âm dương nói ở đây, là chỉ hào Thế của thế Quái cùng Du hồn quái, Quy hồn quái, thuộc quẻ nào đó, thuộc cung nào đó, là hào âm hay hào dương. Căn cứ vào thuyết này mà lập "Thế quái khởi nguyệt lệ biểu".

Tất cả 12 tiêu tức quái, đều hợp với 12 tháng phối thuộc, còn 52 quẻ khác, vì hào Thế của chúng hợp với tiêu tức hào của 12 tiêu tức quái, nên cũng phân biệt liệt vào 12 tháng. Cho nên, khởi Nguyệt lệ của Kinh Phòng chính là do 12 tiêu tức quái mở rộng ra mà thành. Sự vận dụng lệ này, vốn là để bói toán chiêm nghiệm.

- Nguyệt kiến Tý - quẻ đời một (nhất thế quái): Phục, Bí, Tiết, Tiểu súc

- Nguyệt kiến Sửu - quẻ đời hai (nhị thế quái): Lâm, Đại súc, Giải, Đỉnh

- Nguyệt kiến Dần - quẻ đời ba (tam thế quái) Thái, Ký tế, Hằng, Hàm.

- Quẻ Quy hồn: Đại hữu, Tiệm, Cổ, Đồng nhân

- Nguyệt kiến Mão - quẻ đời bốn (tứ thế quái) Đại tráng, Khuê, Cách, Vô vọng.

- Du hồn quái: Tấn, Đại quá, Tụng, Tiểu quá

- Nguyệt kiến Thìn - quẻ đời năm (ngũ thế quái) Quải, Lý, Tỉnh, Hoán.

- Nguyệt kiến Tị - quẻ Bát thuần (Bát thuần quái) Càn, Cấn, Tốn, Ly

- Nguyệt kiến Ngọ - nhất thế quái: Cấu, Dự, Lữ, Khốn

- Nguyệt kiến Mùi - nhị thế quái: Độn, Truân, Gia nhân, Tụy

- Nguyệt kiến Thân - tam thế quái: Bĩ, Tổn, Ích, Vị tế

- Quẻ Quy hồn: Tùy, Sư, Tỵ, Quy muội

- Nguyệt kiến Dậu - tứ thế quái: Quán, Thăng, Mông, Kiển

- Du hồn quái: Minh di, Trung phu, Nhu, Di

- Nguyệt kiến Tuất - ngũ thế quái: Bác, Phong, Phệ hạp, Khiêm

- Nguyệt kiến Hợi - Bát thuần quái: Khôn, Chấn, Khảm, Đoài.

Sở Tử Huy viết lời bạt cho sách Khải mông tiểu truyện, đã làm rõ nghĩa của Chu Tử còn thiếu, lập luận của Ông có căn cứ, lý lẽ có hệ thống chặt chẽ. Đã làm rõ nghĩa “Càn Khôn nạp Giáp”, quẻ Càn từ Giáp đến Nhâm, quẻ Khôn từ Ất đến Quý, số của nó đều là 9. Tuy nhiên Ông ngờ thuyết cho rằng, số 9 của quẻ Càn có khả năng kiêm cả số 6 của quẻ Khôn. Nhưng Khôn âm không thể bao hàm Càn dương. Tử Huy cho rằng, trong số 6, có số 1, 3, 5 (là các số dương), như vậy thì số 9 dương cũng có thể chứa trong số 6 âm. Thực ra học thuyết về số không ngoài chẵn - lẻ, chỉ có một nghĩa đó mà rất nhiều thuyết bàn tới, càng suy luận càng nẩy sinh những luận lý mới, thuyết nào cũng đúng cả.

Xét, một quẻ sinh 3 con, 3 con sinh 9 cháu. Phép Bát phong của họ Kinh, mỗi quẻ có 3 hào là “sinh”, có 3 hào ngoài là “hành”. Một quẻ sinh 3 cho nên 8 quẻ “biệt sinh” ra 24 “tử tức” (con cháu), 8 quẻ còn “hoà sinh” 24 “tử tức” nữa. Ngoại quái đều có 1 người hành ở một hào. 3 người “hành” vào trong (nội quái) làm khách, cho nên nói: “có ba người khách từ từ đến”. Nhân lấy phép một hào biến của Tả Thị, mỗi quẻ có 6 biến hào làm thành một quẻ, lại hợp 6 lần biến thành 36 quẻ

Nguồn:

- Kinh thị Dịch truyện - Từ Ngang

- Từ điển Chu dịch - Trương Thiện Văn.

THUYẾT VỀ DỊCH SỐ

Số là sự thăng hoa của Tượng, Dịch số bắt nguồn từ Dịch tượng, hào số trong Dịch là tổ của vạn số. Nói là tổ của vạn số, là từ sau khi Phục Hy họa vẽ bát quái, hào âm "- -" (2 số) và hào dương "-" (1 số), số tổng của hai số (3 số) đã trở thành tổ của vạn số.

Dịch số bao gồm Thiên số và Địa số - số của Đại diễn, số của kỳ - ngẫu (số lẻ - chẵn), và nội dung của tứ đại sinh thành số (bốn số lớn sinh thành). Trong đó Dịch số Hà Lạc có nội hàm quan trọng trong khoa học sinh mệnh.

Sự kết hợp giữa Dịch tượng và Dịch số có ý nghĩa quan trọng về phương diện đi sâu làm sáng tỏ Dịch lý. Số là điểm cơ bản của Khoa học tự nhiên, khi ứng dung về mặt chiêm phệ của tượng - số còn được gọi là "thuật số học", là hạt nhân của văn hóa chiêm phệ, sự tương bổ tương thành giữa tương - số và thuật số đều là hạt nhân của Dịch học.

Đặc điểm tượng - số của Dịch là thông qua tượng - số, phân tích làm sáng tỏ Dịch lý. Trong quá trình từ Tượng đến Số, từ Số đến Lý, về khách quan đã thúc đảy tư duy hình tượng đến tư duy trừu tượng, còn được gọi là Huyền học của tư duy Cổ đại. Dịch số không những có tác dụng quan trọng đối với sự phát triển của Dịch tượng, mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của Dịch lý. Quy luật phát triển giữa hai bộ môn đó với nhau là: Dịch số bắt nguồn từ Tượng lại phát triển Tượng lên; Dịch số ra đời từ Lý lại thúc đẩy cho Lý phát triển. Ba bộ môn Số - Tượng - Lý tương phản tương thành, cùng chung kích thích sự phát triển của Dịch học và Khoa học tự nhiên.

THIÊN SỐ VÀ ĐỊA SÔ CỦA DỊCH

Nội hàm số Thiên Địa của Dịch là lấy số thiên địa để chứng minh nguyên lý hợp nhất của Thiên Địa, mục đích dùng để chứng minh quy luật tự nhiên của Vũ trụ, như viết: "Thiên nhất, địa nhị, thiên tam địa tứ; thiên ngũ địa lục, thiên thất địa bát; thiên cửu địa thập".

Khái niệm 'cực' trong Dịch là nói đến cái bản nguyên của Thiên Địa, như Dịch truyện - Hệ từ nói: "Hữu thiên địa, nhiên hậu vạn vật sinh yên" (Có trời đất, sau mới sinh ra vạn vật), nên Dịch bàn về số là chủ ý lấy Số để chứng minh sự biến hóa vận động của Thiên Địa. Dịch truyện - Hệ từ viết: "Thiên số ngũ, địa số ngũ, ngũ vị tương đắc nhi các hữu hợp. Thiên số nhị thập hữu ngũ, địa số dĩ thành biến hóa nhi hành quỷ thần dã".

Lấy Thiên số và Địa số làm tiêu chí trong quá trình tiêu trưởng của Dịch, đặc biệt là lấy sự nghịch - thuận của âm dương của số, để làm tiêu chí mất còn của âm dương thiên địa, như Dịch - Thuyết quái viết: "Số vãng giả thuận, tri lai giả nghịch, thị số dịch số nghịch dã".

Gọi là nghịch - thuận của Số, là chỉ vãng - lai của Số; "vãng" là số tả huyền (xoay sang trái), thuận thiên nhi hành nên viết thuận; "lai" là số xoay chuyển song hữu (phải) nghịch thiên nhi hành nên viết nghịch. Cho nên, thuận số tượng trưng cho dương sinh âm trưởng, nghịch số tiêu chí âm trưởng dương tiêu. Như trong Tiên thiên bát quái phương vị đồ của Phục Hy, các quẻ Càn Đoài Ly Chấn của nửa vòng bên trái, thì lấy tả huyền vi thuận, tượng trưng cho dương trưởng âm tiêu. Ngược lại, với nửa vòng tròn bên phải, các quẻ Tốn Khảm Cấn Khôn dịch chuyển về bên phải, thể hiện dấu hiệu âm trưởng dương tiêu. Đúng như Chu Hi đã viết: "thiên tả hành, hữu địa tuyền" (Trời đi về phía trái, đất xoay về phía phải).

Thứ tự thuận của Bát quái là từ phải sang trái, tức do: Khôn, Cấn, Khảm, Tốn, Chấn, Ly, Đoài, Càn; cho nên dương sinh xoay vòng sáng trái (tả) theo thiên thời, âm trưởng đi theo sang vòng bên phải (hữu), tương phản đúng hướng tốt. Bởi vậy Dịch viết: "dịch chi số do nghịch như thành hĩ" (số của Dịch do ngược lại mà thành). Vậy tức là 'Dịch' lấy sự nghịch thuận của số, để chứng minh giải thích mối quan hệ mật thiết giữa bát quái định vị với thiên địa vận hành, phản ánh bối cảnh thiên văn của bát quái.

Dịch lấy Thiên số Địa số để tượng trưng cho Tứ tượng lão dương, lão âm, thiếu dương, thiếu âm là Thái cực tứ tượng. Căn cứ theo nguyên lý thái cực thái cực âm dương tiêu trưởng, số tứ tượng tiêu chí cho bốn giai đoạn của thiên địa âm dương tiêu trưởng. Tức lấy 6 làm số lão âm, tượng trưng cho cực của địa âm; lấy '7 số' làm số thiếu dương đại biểu số khởi đầu của thiên dương; lấy '9 số' làm số lão dương tiêu chí cho cực của thiên dương, lấy 8 làm số thiếu âm tượng trưng cho số khởi đầu của địa âm. Dịch truyện lại tiến thêm một bước ứng hợp giữa tứ tượng số và hào số với nhau, để dùng trong chiêm phệ bói toán.

Thiên số và Địa số trong quá trình phát triển, quan trọng nhất là Trần Đoàn thời Bắc Tống, ông lập thuyết chủ yếu lấy Thiên số và Địa số của Dịch, làm cơ sở để thông biến với Hà đồ và Lạc thư. Trong "Long đồ tam biến" nổi tiếng, Trịnh Huyền đã xây dựng học thuyết sáng tỏ về sự diễn biến của Hà đồ - Lạc thư, tức là ông đã dung hòa và kết hợp được giữa Thiên số và Địa số của Dịch, thêm nữa là Kỳ số và Ngẫu số với Ngũ hành sinh thành số, có nghĩa là đệ nhị biến, đem số của 'ngôi vị' hợp với thiên số và địa số trong đệ nhất bất biến, thành số dĩ hợp thiên địa, đã thể hiện ý nghĩa sâu xa sự tượng hợp thiên địa, hàm ẩn số thiên địa của Dịch, đúng như trong Tống văn giám - Long đồ tự - Đồ tam biến đã nói: "Hậu ký hợp dã; thiên nhất cư thượng vị đạo chi tông, địa lục cư hạ vị địa chi bản; thiên tam địa nhị địa tứ vi chi dụng. Tam nhược tại dương tắc tỵ (tránh) cô âm, tại âm tắc tỵ quả (thiếu, ít) dương". (Sau đã được tổng hợp lại: trời là số 1 làm tôn chỉ của đạo. Đất làm số 6 đặt làm gốc của quả đất. Thiên 3, địa 2, địa 4 đều vận dụng vào. Số 3 nếu ở tại dương thì số âm tránh được sự sô độc, còn ở tại âm thì số dương tránh được cô quả".

Lưu Mục trên cơ sở của Trần Đoàn, lại tiến hành tái tạo thêm, phát triển số thiên địa thành ngũ hành sinh thành số. Có nghĩa là phân biệt Long đồ thiên số địa số với ngũ hành sinh thành số tương kết hợp, sáng tạo nên 'Hà Lạc ngũ hành sinh thành số' nổi tiếng. Như viết: "Đó là số ngũ hành sinh thành. Thiên nhất sinh thủy, địa nhị sinh hỏa, thiên tam sinh mộc, địa tứ sinh kim, thiên ngũ sinh thổ. Đó là số sinh vậy. Như vậy thì số dương không có số để hợp, số âm sẽ không gặp may. Cho nên, địa lục thành thủy, thiên thất thành hỏa, địa bát thành mộc, thiên cửu thành kim, địa thập thành thổ. Dẫn đến là số âm dương đều có sự hòa hợp và may mắn, như vậy vật sẽ đắc thành, nên được gọi là thành số".

Số thiên địa của Dịch là mẫu của vạn số, có mối quan hệ mật thiết với ngũ hành sinh thành số, âm dương kỳ ngẫu số, đại diễn phệ số. Thiên số và Địa số là cơ sở của ngũ hành sinh thành số, là sản vật kết hợp giữa thiên địa số và ngũ hành của Dịch, Dịch truyện - Hệ từ viết: "Thiên nhất địa nhị, thiên tam địa tứ, thiên ngũ địa lục, thiên thất địa bát, thiên cửu địa thập". Hán thư - Ngũ hành chí viết: "Thiên dĩ nhất sinh thủy, địa dĩ nhị sinh hỏa, thiên dĩ tam sinh mộc, địa dĩ tứ sinh kim, thiên dĩ ngũ sinh thổ". Dịch số câu ẩn đồ viết: "Thiên nhất sinh thủy, địa nhị sinh hỏa, thiên tam sinh mộc, địa tứ sinh kim, thiên ngũ sinh thổ, địa lục thành thủy, thiên thất thành hỏa, địa bát thành mộc, thiên cửu thành kim, địa thập thành thổ".

Hơn nữa sự tương hợp của số thiên địa trong "Long đồ tam biến" của Trần Đoàn, cũng bắt nguồn từ Dịch truyện - Hệ từ viết: "Thiên số ngũ, địa số ngũ, ngũ vị tương đắc như các hữu hợp, biến hóa nhi hành quỷ thần dã". Lại viết "Trên trời là số 1, dưới đất là số 5, vị trí số 5 tương đắc sẽ có sự hòa hợp nhau, sẽ có sự biến hóa mà làm thành quỷ thần vậy".

Dịch lấy thiên số làm kỳ số là dương số; lấy địa số làm ngẫu số là âm số, từ đó mà đặt cơ sở cho kỳ ngẫu âm dương số. Như trong thiên địa số của Dịch truyện - Hệ từ viết: "Phàm thiên số đều là kỳ số, địa số đều là ngẫu số. Lấy thiên làm đương, lấy địa làm âm", qua đây ta thấy mối quan hệ sâu xa giữa kỳ ngẫu âm dương số của Dịch với thiên địa số.

Số 50 của Đại diễn là số diễn giả, dùng để chiêm phệ Dịch, đồng thời cũng có mối quan hệ mật thiết với số thiên địa của Dịch. Bởi vì số Đại diễn là cơ sở để lấy thiên số và địa số hợp ngũ phương mà diễn giả vạn số. Hơn nữa số Đại diễn cũng thoát thai từ số thiên địa của Dịch. Đúng như Dịch truyện - Hệ từ viết: "Đại diễn chi số ngũ thập... thiên số nhị thập hữu ngũ, địa số tam thập. Phàm thiên địa chi số ngũ thập hữu ngũ, thử số dĩ thành biến hóa nhi hành quẻ thần dã".

Lấy kỳ số và ngẫu số tượng trưng thiên địa, được khởi nguồn từ tứ tượng pháp thiên địa mà có, từ phản ánh bắt nguồn ở tượng của số, nói rõ tính vật chất của Dịch số. Như Dịch - Thuyết quái viết: "Tham thiên lưỡng địa nhi ỷ số", tham tức là số 3 là kỳ số (số lẻ); lưỡng tức là số 2 là ngẫu số, 'tham thiên lưỡng địa' tức là để gọi thiên kỳ địa ngẫu, thiên dương địa âm, cũng có nghĩa là để giám sát cả trời đất. Ý tứ của toàn câu là lấy số âm dương kỳ ngẫu để nắm chắc độ số của thiên địa, thông qua Ngũ âm làm số đo trời, cụ thể là lấy âm dương của số, làm thước đo âm dương của trời đất. Cho nên nói đây là nội hàm chủ yếu của kỳ ngẫu số trong Dịch.

Kỳ số và ngẫu số làm tiêu chí cho số âm dương, được bắt nguồn gốc ở hào âm hay dương, trong đó Hào dương là kỳ số, là 'dương số chi phụ' (cha của số dương); Hào âm là ngẫu số, là 'âm số chi mẫu' (mẹ của số âm). Từ đây đặt nên mối quan hệ vững chắc giữa kỳ ngẫu số và âm dương.

Kỳ số và ngẫu số cũng biểu thì cho sự 'hư - thực', vẫn bắt nguồn từ hào âm dương, trong đó ngẫu số là 'hư', kỳ số là 'thực'. Nội hàm hư thực của kỳ ngẫu số cũng được phản ánh ở Bát quái, như quẻ Ly là trung hư, quẻ Khảm là trung mãn. Cho nên trong Thái cực đồ, điểm trắng kỳ số tượng trưng cho thực, điểm đen ngẫu số tượng trưng cho hư.

Đối với triết lý, được phản ánh trong mối quan hệ giữa Dịch truyện và Lão Tử. Thứ nhất, là từ góc độ của Ngẫu số tiến hành phân tích rõ sự sinh thành của Vũ trụ, như "Dịch hữu thái cực, thị sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái". Cụ thể là sự sinh thành của Bát quái và vạn vật, thông qua kỳ số và ngẫu số của Dịch, đã phản ảnh triết lý 'nhất phân vi nhị' (một chia làm đôi), nhờ sự gợi mở của triết lý này mà người đời sau đã sáng lập nên 'Tiên thiên bát quái thứ tự đồ', và 'Thiên thiên lục thập tứ quái thứ tự đồ'. Hai đồ hình này đã bao hàm rõ nét nguyên lý 'nhất phân vi nhị', đã ảnh hưởng lớn đến thế hệ sau.

Ngoài ra, trên cơ sở 3 hào làm nhất quái của Dịch kinh, thì Dịch truyện còn đề xuất tư tưởng 'tam tài quan' của thiên địa nhân nhất thể. Trên cơ sở này, mà người đời sau đã xây dựng lập thuyết 'hàm tam vi nhất' (bao hàm 3 làm 1), như trong Tam thống lịch đời Ngụy, Mạnh Khang chú giải: "Thái cực nguyên khí, hàm tam vi nhất", có nghĩa là lấy hai con cá mầu đen trắng đại biểu cho thiên địa, đường phân giới tuyến hình chữ 's' đại biểu cho Nhân, từ đồ hình đã chỉ rõ hợp nhất tam tài thiên địa nhân.

Lão Tử đã phát triển nổi bật Kỳ số của Dịch, chủ yếu là lấy Kỳ số giải thích sự sinh thành của Vũ trụ: "Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật". Dịch truyện nhấn mạnh Ngẫu số 'nhị', đó là Thái cực sinh lưỡng nghi. Lão Tử phát huy 'tam' Kỳ số, tích cực đề xuất rằng 'tam' sinh vạn vật. Dịch truyện sáng lập bộ môn sáng trói về "nhất phân vi nhị", còn Lão Tử đề xướng "nhất phân vi tam". Thuyết minh Dịch truyện và Lão Tử lấy 'tham' và 'lưỡng' để giải thích vũ trụ thông qua hình đồ triết lý diễn sinh như sau:

......................[Hào âm --> ngẫu số 2 --> nhất phân vi nhị

Tham thiên [Hào số 3 --> hàm tam vi nhất --> Trung hòa quan

Lưỡng địa [Hào dương -->Kỳ số 1 --> nhất phân vi tam

.....................(nhị hợp vi nhất)

Dịch lấy hào dương làm Kỳ số, hào âm làm Ngẫu số, Dịch ghép lấy hào ba của Kỳ số 'tổ' thành kinh quái, lấy Ngẫu số lưỡng kinh quái 'hợp' thành trọng quái. Kỳ Ngẫu số của Dịch đã xác lập định luật lấy đơn số làm 'lẻ', lấy song số làm 'chẵn', đặt cơ sở cho luật kỳ - ngẫu cổ đại. Đặc biệt là căn theo luật Kỳ số là hào dương, Ngẫu số là hào âm, đã quy định Kỳ là số dương Ngẫu là số âm, từ đây xác định nội hàm âm dương của luật Kỳ - Ngẫu, đã có ảnh hưởng rất lớn đối với hậu thế cho đến tận này nay. Như trong Bạch hổ thông - Giá tụ Ban Cố viết: "Dương số Kỳ, âm số Ngẫu", đã nói rõ kỳ ngẫu của Dịch có quan hệ mật thiết đối với sự hình thành của luật kỳ ngẫu âm dương.

Luật kỳ ngẫu âm dương đã có ảnh hưởng sâu sắc đối với nhiều bộ môn: lịch pháp, thuật số, chiêm phệ, vận khí học,... của thời cổ đại. Như thời tính Can chi kỷ (12 năm), lấy kỳ số làm dương Can, ngẫu số làm âm Can, học thuyết Vận khí trong Hoàng đế nội kinh cũng như vậy. Lại như các thuật số Thái ất, Kỳ môn, Lục Nhâm cũng đầu lấy âm dương kỳ ngẫu làm tiền đề: hào âm tượng trưng cho 'nhất phân vi nhị', hào dương có ý chỉ 'hợp nhị vi nhất'.

Dịch truyện dựa trên cơ sở Dịch kinh, đã xác minh rõ quan niệm về sự thống nhất đối lập ẩn tàng trong luật kỳ ngẫu của các hào âm và hào dương, hoàn toàn phù hợp với số sinh tượng, tượng sinh lý, có nghĩa là quy luật tư duy trìu tượng sản sinh ở tư duy hình tượng, tiến thêm một bước chứng thực quan điểm 'tham thiên lưỡng địa nhi ỷ số'. Từ đây mà tư tưởng biện chứng được xác lập.

Gọi là luật chính phản, có nghĩa là chỉ hướng chính và hướng phụ của sự vật. Bất cứ sự vật nào trong vũ trụ đều tồn tại hai mặt chính phản (phải trái), tức có chính hướng tất có phản hướng, bao gồm hư thực u ẩn, khai hợp (khép mở), minh ám (sáng tối), trú dạ (ngày đêm), tử sinh,... Hào dương và hào âm của Dịch kinh, có hắc ngư và bạch ngư trong Thái cực đồ, rồi tới hắc điểm và bạch điểm của Hà đồ Lạc thư, tất cả đều tàng ẩn chứa đựng nguyên lý thư thực chính phản, mà còn đều lấy Kỳ làm chính hướng làm thực, lấy Ngẫu làm phản hướng làm hư; đối với Hà Lạc cũng vậy: Kỳ số là chính là thực, Ngẫu số là phản là hư.

Luật chính phản là luật đặc hữu của Dịch, là sự phát triển đặc thù của quy luật mâu thuận của Dịch, mà chủ yếu chỉ tính chất hư thực, u hiện (kín lộ), khai hợp (đóng mở), để làm sáng tỏ quy luật chính phản của sự vật. Cụ thể như hào âm của bát quái là hư số, còn Hào là thực số vậy. Cũng như số ẩn (độn số) của Kỳ môn độn Giáp, các hào trong Kỳ môn gồm: Độn - Giả - Mộ - Tỵ (tránh) - Huyệt - Phục thì đều thuộc ẩn thuộc hư, còn Kỳ - Môn - Tiến - Du - Phi - Sư thì đều là các hào hiển lộ rõ, là thực. Sau đó Kỳ môn dựa vào đó suy diễn hư thực, chiêm đoán cát hung, đạt đến mục đích tránh được họa, được hưởng phúc.

SỐ ĐẠI DIỄN

Số Đại diễn là thành phần chủ yếu của Dịch số. Đại diễn tức là diễn ngữ, diễn dịch, là chỉ về phương pháp dùng thẻ bằng cỏ Thi để diễn dịch xem đoán vận số. Số Đại diễn là tổng hòa của thiên số và địa số trong Dịch: "Thiên nhất địa nhị, thiên tam địa tứ, thiên ngũ địa lục, thiên thất địa bát, thiên cửu địa thập".

Số Đại diễn sở dĩ lấy 'ngũ thập' là do thời cổ đại, lấy 'ngũ thập' làm cực số tự nhiên quan trọng, nguyên nhân là do số 'ngũ thập' có đầy đủ nội hàm với vũ trụ thiên văn. Như trong Hoàng đế nội kinh nói: "nhân khí hành Kinh mạch ngũ thập doanh", nhấn mạnh 'ngũ thập doanh' là số thọ của phép dưỡng sinh. Linh Khu - Ngũ thập doanh viết: "ngũ thập doanh bị, đắc tân thiên chi thọ hỉ" (được số thọ của cả trời đất). Chu dịch chính nghĩa - Khổng Dĩnh Đạt dẫn lời Kinh Phòng nói: "Ngũ thập giả, vị thập nhật, thập nhị thìn, nhị thập bát tú dã". Mã Dung cũng nói: "Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh nhật nguyệt, nhật nguyệt sinh tứ thời, tứ thời sinh ngũ hành, ngũ hành sinh thập nhị nguyệt, thập nhị nguyệt sinh nhị thập tứ khí, phàm ngũ thập" (khái quát lại là năm mười)

Số Đại diễn 'ngũ thập hữu ngũ', còn có thuyết là số căn cứ để vua Đại Vũ trị thủy thời cổ đại, như trong Chu bễ toán kinh nói "Vũ trị hồng thủy, bắt đầu mở rộng vận dụng và bỏ lược đi phần huyền hoặc nên gọi là số đại diễn".

Số Đại diễn là điển phạm lấy Số mà nghiên cứu Tượng, tuy là số chiêm toán, nhưng lại có mối tương quan mật thiết với vũ trụ sinh thành, lý luận này bắt nguồn từ ở Thái Nhất (Bắc Thìn) ở trong bất động, là bối cảnh thiên văn vũ trụ xoay chuyển của 49 ngôi sao bắc đẩu tinh tọa, Mã Dung viết: "Hợp thái cực, lưỡng nghi, tứ thời, ngũ hành, thập nhị nguyệt, nhị thập tứ khí vi ngũ thập, nhi giảm khứ bắc thìn chi nhất vi dụng tứ thập cửu. Dịch hữu thái cực vị bắc thìn dã. Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh nhật nguyệt, nhật nguyệt sinh tứ thời, tứ thời sinh ngũ hành, ngũ hành sinh thập nhị nguyệt, thập nhị nguyệt sinh nhị thấp tứ khí. Bắc thìn cư vị bất động. Kỳ dư tứ thập cửu, chuyển vận nhi dụng dã". Giảm bớt đi số 1 của bắc thìn, xem như giảm một ngày để dùng số 49. (Dịch có thái cực gọi là bắc thìn. Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh nhật nguyệt, nhật nguyệt sinh 4 mùa, bốn mùa sinh 5 hành, 5 hành sinh ra 12 tháng, 12 tháng sinh ra 24 khí. Sao ở Bắc cực ở vị trí bất động, ngoài ra còn lại 49, được chuyển vận mà sử dụng)

Số Đại diễn ngoài hàm chứa tính thiên văn ra, thì cũng hàm chứa cả số âm dương, cụ thể là số "dư" từ số Đại diễn sau khi kinh qua tam biến của chiêm phệ, lấy đó trừ đi 4 thì được 9 là lão dương số, được 6 là lão âm số, được 7 là thiếu dương số, được 8 là thiếu âm số, bốn số này cũng tức là âm dương tứ tượng. Ngoài ra, số lão dương và số lão âm được lấy làm tiêu chí của hào dương và hào âm trong Dịch.

Số Hà Lạc là sự hợp nhất của số thiên địa, số đại diễn và số sinh thành. Tổng số của Hà đồ là "ngũ thập hữu ngũ" (năm mươi dư năm), đây là số tổng hòa trong Dịch, mà Lạc thư tổng số là "tứ thập hữu ngũ" (bốn mươi dư năm). Hai số đại diện cho chính - phản, trái phải của số Đại diễn.

Thổ khí là nguyên cớ của vạn vật. Được gọi là số 'sinh' gồm các số 1, 2, 3, 4, 5 là số tượng trưng cho thủy, hỏa, mộc, kim, thổ; trong đó số của Thổ là nguyên cớ cho bốn số đứng ở ngôi vị trước mà ỷ vào (nhi ỷ số: số dựa vào) mà được thành số 6, 7, 8, 9, 10. Tổng hòa của Hà đồ sinh thành số cũng là 'ngũ thập hữu ngũ'.

Phệ số tức là số bói quẻ bằng cỏ Thi 'kỳ dụng tứ thập hữu cửu' (dùng số bốn mươi dư chín). Thi số là chỉ phệ số của 'tứ thập hữu cửu' rút ra trong 'ngũ thập' của số Đại diễn một "can rễ" không dùng, thông qua sự biến hóa của bói toán (phệ biến), thì thấy được sự dung nhất giữa ba bộ môn số - tượng - lý.

Sách số là chỉ Càn Khôn sách số có nguồn gốc từ lấy số 4 đại diện cho tứ doanh nhân với 9 là số 'dụng cửu' của hào dương mà thành 36, tiếp theo lại nhân với 6 của hào dương mà thành 216 sách số của Càn. Số 4 của tứ doanh nhân với số 6 là số 'dụng lục' của hào âm thành thành 24, lại nhân tiếp với 6 của hào âm thì được 144 là sách số của Khôn, tổng hòa của sách số là 'tam bách hữu lục thập', đây là chỉ số của một vòng quay mặt trời thời xưa. Cho nên, Càn Khôn sách số là tiêu chí chỉ sự vận hành của thiên địa, cũng tức là Càn Khôn sách số của 28 vì sao quanh bầu trời vòng quay hết 64 quái 384 hào.

Số chỉ vạn vật là số 11520, là một khí số quan trong thời cổ đại, được tổ hợp từ sách số của Càn là 36 nhân với 192 hào dương được 6912, sách số của Khôn là 24 nhân với số hào âm được 4608, cộng lại thành số 11520. Phệ số và số phi ức có sự tương quan mật thiết giữa số chỉ vạn vật với khí số thiên văn (số phi ức: số không ức đoán hoặc số không phán đoán được).

Thiệu Ung đã phát triển phệ số, lấy bát quái tự số (số thứ tự) và lục hào số làm cơ sở của phệ số, để tiến hành bói toán diễn dịch, và trên cơ sở của Càn Khôn sách số và số chỉ vạn vật, xây dựng thuyết "vạn vật giai số". Chỉ ra số chung thủy của thiên địa là số 1.216.192.320, số trước sau của trời đất.

Trần Đoàn kết hợp giữa số Đại diễn và số hà lạc, mà sáng chế ra "Hà lạc lý số". Tức là sự đối ứng giữa việc lấy năm tháng ngày giờ sinh ra con người, với số can chi Hà đồ Lạc thư và bát quái, từ đây mà chiêm nghiệm mệnh số của con người. Với đặc điểm có đủ diễn biến thừa tiếp của tiên thiên quái và hậu thiên quái, lấy Giờ sinh của con người định ra vị trí hào động của tiên thiên quái, sau lại biến thành hậu thiên quái, để xét mệnh vận lâu dài.

Số bát quái do số đại diễn của Dịch bao quát, được Đại Tử Bình phát triển thành phương pháp xem Bát tự, tức tứ trụ mệnh học, cụ thể là phối ứng giữa can chi của năm-tháng-ngày-giờ sinh, kết hợp với quy luật âm dương ngũ hành sinh khắc, để tiến hành chiêm nghiệm vận mệnh nhân sinh.

Huệ Đống nói: "Hư ngũ nhi hữu diễn, hư nhất nhi khả dụng, nhất dữ ngũ giai đạo chi bản dã" (Số 5 hư mà có thể diễn dịch, số 1 hư mà có thể khả dụng, số 1 và số 5 đều là gốc của đạo vậy".

THUYẾT VỀ PHỆ PHÁP

Phệ pháp là phương pháp xem bói theo Dịch. Hệ từ thượng truyện nói: "Dịch là đạo của thánh nhân, gồm bốn phương diện, mà thứ nhất là chiêm bói". Bài 'Đại diễn chi số' cũng là bài riêng trình bầy chi tiết về yếu chỉ của phép bói. Thiên Phệ nghi trước là do Chu Hi soạn ở đầu quyển Chu dịch bản nghĩa đã trình bầy rõ về phép bói.

Trước hết, chuẩn bị 50 thẻ cỏ thi đựng vào trong ống. Phía nam ống đặt một khay gỗ, chia làm hai ô to, ô to bên trái lại được chia làm 3 ô nhỏ. Khi bói, hai tay cầm 50 sợi cỏ thi, tay phải nhặt ra một thẻ đặt vào trong ống (đây là điều mà Hệ từ truyện gọi là: Số đại diễn 50, sử dụng có 49, còn gọi là 'hư nhất bất dụng'). Rồi lấy cả hai tay tùy ý chia đôi 49 thẻ đặt vào hai ô to bên trái và bên phải của khay gỗ. Đây gọi là 'doanh thứ nhất' (doanh có nghĩa là kinh doanh), cũng tức là điều mà Hệ từ gọi là: chia ra làm hai để tượng trưng cho lưỡng nghi. Tiếp đó, dùng tay trái cầm lấy số thẻ trong ô to bên trái, tay phải nhặt lấy 1 thẻ trong ô to bên phải, rồi cài vào khe ngón tay út trái. Đây tức là 'cài 1 để tượng trưng cho tam tài: trời đất người'. Tiếp theo, dùng tay phải đếm 4 thẻ một số thẻ ở tay trái. Đây tức là nửa trước 'của doanh thứ ba', cũng là điều mà Hệ từ gọi là 'đếm bằng số 4 để tượng trưng tứ thời'. Tiếp đó, lấy số thẻ sau khi đếm 4 còn thừa, hoặc 1 thẻ, 2 thẻ, 3 thẻ, 4 thẻ, kẹp vào khe ngón tay vô danh của tay trái. Đây tức là nửa trước của 'doanh thứ tư', cũng tức là điều mà Hệ từ gọi là: 'quy số lẻ về chỗ kẹp để tượng trưng cho nhuận'. Tiếp theo, dùng tay phải trả lại số thẻ đã đếm vào ô lớn bên trái, rồi cầm lấy số thẻ trong ô lớn bên phải, và dùng tay trái đếm 4 thẻ một. Đây tức là nửa sau của 'doanh thứ ba'. Tiếp theo, lại lấy số thẻ, sau khi đếm 4 còn thừa, hoặc 1 thẻ, 2 thẻ, 3 thẻ, 4 thẻ, như trước kẹp vào khe ngón tay giữa của tay trái. Đây tức là nửa sau của 'doanh thứ tư', đây cũng là điều mà Hệ từ gọi là 'kẹp lần hai để tượng trưng cho hai lần nhuận'.

Bây giờ, những thẻ thừa ra trong hai lần đếm đã kẹp được, ô lớn bên trái thừa 1 thẻ, thì ô lớn bên phải thừa 3 thẻ; Bên trái thừa 2 thẻ thì bên phải thừa 2 thẻ; Bên trái thừa 3 thẻ thì bên phải thừa 1 thẻ; Bên trái thừa 4 thẻ thì bên phải cũng thừa 4 thẻ. Lấy số thẻ thừa của hai lần đếm, nhập vào số thẻ của một lần cài, thì được không phải là 5 thẻ thì 9 thẻ. Bốn doanh thế là xong. Dùng tay phải, lấy số thẻ đã đếm, đưa trở lại vào ô to bên phải, gộp với số thẻ đã qua 1 lần cài 2 lần kẹp, đặt vào ô nhỏ thứ nhất bến trái khay gỗ. Đó là hoàn thành một lần biến. Tổng số thẻ thừa có được sau lần biến thứ nhất 'không 5 thì 9'.

Sau lần biến thứ nhất, dùng hai tay lấy số thẻ đã đếm xong 1 lần biến, ở hai ô to bên trái và bên phải khay gỗ, gộp lại làm một, rồi theo trình tự 4 doanh ở lần biến thứ nhất, lấy số thẻ 1 cài 2 kẹp đặt vào ô nhỏ thứ hai bên trái. Đó là hoàn thành 2 lần biến. Tổng số thẻ thừa sau lần biến thứ hai là 'không 4 thì 8'.

Sau lần biến thứ hai, đêm số thẻ đã đếm của lần biến thứ hai, ở trong 2 ô to bên trái và bên phải, gộp lại làm một, rồi theo trình tự 4 doanh như lần biến thứ nhất, thứ hai, mà lấy số thẻ 1 cài 2 kẹp đặt vào ô nhỏ thứ ba bên trái. Đó là hoàn thành ba lần biến. Tổng số thẻ thừa có được lần biến thứ ba là 'không 4 thì 8' (giống lần biến thứ hai).

Xong ba lần biến, thì mới xem số thẻ đã đếm của lần biến thứ ba, và số thẻ cài kẹp thu được của 3 lần biến, mà vạch thành từng hào. Số thẻ cài kẹp thu được sau ba lần biến là 5, 4, 9, 8. Các số 4, 5 là lẻ (trong hai số này, đều chỉ chứa một số 4, nên gọi là lẻ). Các số 9, 8 là chẵn (trong hai số ngày, đều chứa hai số 4, nên gọi là số chẵn). Tổng hợp lại số 1 cài 2 kẹp và số chẵn hay lẻ như sau: gọi là 3 số lẻ, tức là 5, 4, 4 thì gọi là 'tam thiểu', gộp lại là 13, thì số thẻ đã đếm là 36 (49 - 13), đem chia cho 4 được 9, gọi là Lão dương, phép bói gọi là "trùng".

Nếu số cài kép thu được sau 3 lần biến là 2 số lẻ 1 số chẵn (tức 5, 4, 8 hoặc 9, 4, 4), thì gọi là 'lưỡng thiểu nhất đa', gộp là là 17 thẻ, thì số thẻ đã đếm là 32 (tức 49 - 17), đem chia 4 được 8, là Thiếu âm, còn gọi là "sách".

Nếu số cài kẹp thu được sau 3 lần biến là 2 số chẵn 1 số lẻ (tức 9, 8, 4 hoặc 5, 8, 8), thì gọi là 'lưỡng đa nhất thiểu', gộp lại là 21 thẻ, vậy là số thẻ đã đếm là 28 (tức 49 - 21), đem chia cho 4 được 7, là Thiếu dương, còn gọi là "đơn".

Nếu số cài kẹp thu được sau 3 lần biến là 3 số chẵn, tức là 9, 8, 8, thì gọi là 'tam đa', gộp lại là 25 thẻ, thì số thẻ đã đếm là 24 (tức 49 - 25), đem số thẻ đã đếm chia 4 được 6, là Lão âm, còn gọi là "giao".

Bốn doanh thành một biến, ba lần biến thì được một hào, 18 lần biến thì được 6 hào mà thành quẻ. Hào thu được trong 3 lần biến đầu gọi là Sơ hào. Hào thu được của lần biến thứ 4 đến thứ 6 là Nhị hào. Hào thu được của lần biến thứ 7 đến thứ 9 là Tam hào. Hào thu được của lần biến thứ 10 đến thứ 12 là Tứ hào. Hào thù được của lần biến thứ 13 đến thứ 15 là Ngũ hào. Hào thù được của lần biến thứ 16 đến thứ 18 là Thượng hào.

Quẻ bói được gọi là "bản quái", quẻ biến thành gọi là "chi quái". Phép bói thời cổ dựa vào tình hình biến và bất biến của Bản quái (quẻ chiêm được), mà chiêm đoán cát hung lợi hại. Sách Chu dịch khải mông của Chu Hi quy nạp thành 7 điều như sau:

1. Một hào biến thì xem ở lời hào biến của Bản quái.

2. Hai hào biến thì xem ở lời của hai hào biến của Bản quái, nhưng vẫn lấy hào trên làm chính.

3. Ba hào biến thì xem ở Thoán từ của Bản quái và Chi quái, đồng thời lấy Bản quái làm "Trinh" (trong), Chi quái làm "Hối" (ngoài).

4. Bốn hào biến thì xem hai hào bất biến ở Chi quái, vẫn lấy hào dưới làm chính.

5. Năm hào biến thì xem ở hào bất biến của Chi quái.

6. Sáu hào biến thì xem ở hai hào Dụng ở quẻ Càn và quẻ Khôn, những quẻ còn lại xem ở Thoán từ và Chi quái.

7. Sáu hào đều không biến thì xem ở Thoán từ của Bản quái.

Trong quá trình bói Dịch, được một quẻ sáu hào, nếu có một, hai, hoặc mấy hào biến động, thì hào ấy gọi là "động hào", cũng gọi là "biến hào". Sách Chu dịch khải mông của Chu Hy có bàn về quy định của các lệ này. Đời sau, các nhà Dịch học có người coi đó là Pháp thức, nhưng cũng có người chỉ trích.

Thượng Bỉnh Hòa soạn sách Chu dịch cổ phệ khảo căn cứ vào thuyết sẵn có của Chu Hi, và chỉ ra rằng: "Quẻ có nhất hào động, nhị hào động, tam hào động, thậm chí tứ hào, ngũ hào, lục hào toàn động. Ta gặp quẻ này thì suy đoán thế nào? Nay xét thành lệ của người xưa, cùng những điều bàn luận quy định của Chu Tử lấy đó làm pháp thức. Song chẳng thể câu nệ. Vì Dịch quý ở chỗ chiêm nghiệm sự biến dịch. Sự thông biến của Tượng và Từ, cùng sự ứng hợp với sự thực, sự gợi ý của thần minh, đều là thiên biến vạn hóa, có những điều chẳng thể nghĩ bàn, cho nên không thể cố chấp. Cần phải căn cứ vào Sự mà chọn lấy Từ, quan sát Tượng mà ấn chứng với Ta, bỏ chỗ sơ mà dùng chỗ thân".

Thượng Bỉnh Hòa còn tập hợp các lời bói trong Sử truyện làm chứng cứ, nói rõ những tình huống mà Chu Hi nêu ra, và chỉ ra rằng, khi bói Dịch đều phải kết hợp quái tượng của Bản quái và Chi quái để suy đoán cát hung, ông chỉ trích mạnh thuyết "Càn Khôn chiêm nhị dụng" của Chu Hi, cho rằng Nhị dụng chỉ chứng tỏ phép bói Dịch dùng Cửu - Lục, không dùng Thất - Bát, quyết không phải là lời chiêm đoán của quẻ Càn và Khôn, và chỉ rõ: "Đặt ra cái đó, mà lời chiêm đoán của sáu hào đều biến, thì 62 quẻ còn lại, đều nên có lời chiêm đoán của sáu hào biến, thế mà sao lại không có? Hơn nữa, trong Dịch, nhất, nhị, tam, tứ, ngũ hào biến đều chưa xem tới, mà đột ngột xem tới lục hào biến, về nghĩa khó thông, về lệ cũng không thỏa đáng".

Lại nói: "Xét, phép cũ của cổ nhân, thường xem lời Thoán truyện mà đoán. Nhưng Thoán truyện thường không sát với ta, thì xem cái gì phù hợp mà suy đoán, thế thì quan sát Tượng quẻ là hơn".Có nghĩa là, vừa phải dựa vào Quái từ, vừa phải coi trọng việc phân tích hàm nghĩa của Quái tượng".

"Dịch vốn là dùng để bói, không nắm được phép bói, ý nghĩa của "cửu - lục", thì không biết vì sao lại như vậy, và càng khó lý giải về chương Đại diễn của Hệ từ. Ngay sách Xuân Thu nói "mỗ quái chi mỗ quái" là cũng chưa nắm được duyên do. Vì vậy, người học Dịch trước hết phải nắm vững phương pháp của phép bói. Nay ta sử dụng Phệ nghi do Chu Tử lưu truyền lại. Vậy thì Phệ nghi là do Chu Tử chế định ra, hoặc có thể do tiên nho truyền lại, Chu Tử không nói gì, bất tất phải bàn luận gì thêm".

ĐƠN SÁCH TRÙNG GIAO

Từ sau đời Hán, người bói dùng đồng tiền thay cho 50 cọng cỏ Thi. Bói được hào Thiếu dương, thì gọi là "Đơn", tức giống như đếm cỏ Thi mà gặp "lưỡng đa nhất thiểu", số của nó là 7, vẽ thành phù hiệu --(vạch dương); Bói được hào Thiếu âm, thì gọi là "Sách", tức khi đếm cỏ Thi gặp "lưỡng thiểu nhất đa", số của nó là 8, vẽ thành phù hiệu - - (vạch âm). Bói được hào Lão dương, thì gọi là "Trùng", tức là đếm cỏ Thi gặp "Tam thiểu", số của nó là 9, vẽ phù hiệu (hình vuông); Bói được hào Lão âm, thì gọi là "Giao", tức là khi đếm cỏ Thi gặp "Tam đa", số của nó là 6, vạch thành phù hiệu X (dấu nhân).

Trịnh Huyền chú Nghi lễ - Sĩ quan lễ có đoạn "phệ dữ tịch" kể đến phép lấy tiền thay cỏ Thi như sau: "Lấy 'tam thiểu' làm "trùng tiền", trùng tiền thì 9; 'tam đa' làm "giao tiền", giao tiền thì 6; "lưỡng đa nhất thiểu" làm "đơn tiền", đơn tiền thì 7; "lưỡng thiểu nhất đa" làm "sách tiền", sách tiền thì 8".

Bói Dịch, ba lần biến mà được số [9 - 8 - 8] thì gọi là Tam đa. Tức là biến lần đầu được 9, lần thứ hai và thứ ba đều được 8, thì được hào Lão âm. Ba lần biến của việc bói Dịch khi được số [5 - 4 - 4] thì gọi là Tam thiểu, có nghĩa là lần biến thứ nhất được số 5, lần biến thứ hai và thứ ba đều được số 4, thì được hào Lão dương. Sau ba lần biến được số [9 - 8 - 4] hay [5 - 8 - 8] thì gọi là Lưỡng đa nhất thiểu, có nghĩa là lần biến thứ nhất được 9 hoặc 5, lần biến thứ hai được 8, lần biến thứ ba được 4 hoặc 8, thì được hào Thiếu dương. Sau ba lần biến được số [5 - 4 - 8 (5-8-4)] hoặc [9 - 4 - 4] thì gọi là Lưỡng thiểu nhất đa, thì được hào Thiếu âm.

Số thẻ cài kẹp được "Tam cơ", ví như [5 - 4 - 4], cộng là 13 thẻ, là số đã qua gọi là số "phục". Số còn lại là 36 thẻ, là Lão dương, là số hiển hiện hay số "phi". Do vậy, số cho hào "phục" gồm số Tam cơ là 13 - 25 và số Tam ngẫu là 17 - 21.

Lý Lâm Phủ chú: "Dùng 49 thẻ, chia ra mà đếm. Về biến có 4 loại: một là hào Đơn, hai là hào Sách, ba là hào Giao, bốn là hào Trùng. Tất cả 18 lần biến mà thành quẻ".

Hệ từ - Thượng truyện viết: "Tam ngũ dĩ biến, thác tổng kỳ số; Thông kỳ biến, toại thành thiên địa chi văn; Cực kỳ số, toại đinh thiên hạ chi tượng". = Năm ba lần biến hóa, đan xen tổng hợp các số. Biến đã thông, thì thành vẻ đẹp của trời đất; Số đã cực, thì định được tượng của thiên hạ. Lý Đỉnh Tộ dẫn lời Ngu Phiên nói: "Số là số của sáu vạch. Sáu hào biến động, đạo tam cực sinh, vì vậy mà tạo thành tượng cát hung trong thiên hạ".

Khổng Dĩnh Đạt giải thích: "Cực kỳ số, chỉ sự tính toán cùng cực số âm dương, để định ra tượng muôn vật trong thiên hạ, như là tính toán cùng cực 216 thẻ để định ra tượng Lão dương của Càn. Tính toán cùng cực 144 thẻ để định ra tượng Lão âm của Khôn. Nêu ra Càn Khôn, thì những cái khác là có thể biết được vậy".

Thượng Bỉnh Hòa giải thích "Tam ngũ dĩ biến" trong Chu dịch thượng thị học nói: "Số hào đến 3, nội quái đến đó là cuối. Cho nên, nói hẳn phải biến đổi" (Hào số chí tam, nội ngoại chung hỉ cố viết tất biến". Đây là nói theo Tam tài, còn nói theo Ngũ hành, thì đến năm là đủ, cho nên quá năm là phải biến đổi.

Khổng Dĩnh Đạt - Chu dịch chính nghĩa khi nói về hào Sơ Cửu quẻ Càn viết: "Số 7 là Thiếu dương, số 8 là Thiếu âm, số 9 là Lão dương, số 6 là Lão âm".

Nhà sư Nhất Hạnh đời Đường cho rằng, khi đếm cỏ thì bói quẻ, ba lần biến đều là lẻ, tức là "Tam cơ", còn gọi là Tam thiếu, được số 9 tức là tượng quẻ Càn; Đều là chẵn, tức là Tam ngẫu, cũng gọi là Tam đa, được số 6, là tượng của quẻ Khôn. Càn Khôn là Cha Mẹ, nên gọi Cửu Lục là Lão dương Lão âm. Ba lần biến, hai chẵn một lẻ, tức "lưỡng đa nhất tiểu", được số 7, là tượng của các quẻ Chấn Khảm Cấn. Còn trong ba lần biến được hai lẻ một chẵn, tức "lưỡng thiểu nhất đa", được số 8, là tượng các quẻ Tốn Ly Đoài. Sáu quẻ này là ba trai ba gái mà Càn Khôn sinh ra, nên gọi Thất Bát là Thiếu âm Thiếu dương.

Thuyết của Nhất Hạnh nói:

Ba lần biến đều là thiểu là tượng của quẻ Càn, Càn là Lão dương, mà số dư của phép đếm 4 được 9 nên gọi là Cửu.

Ba lần biến đều là đa là tượng của quẻ Khôn, Khôn là Lão âm, mà số dư của phép đếm 4 được 6, nên gọi là Lục.

Ba lần biến mà một lần thiểu là tượng các quẻ Chấn Khảm Cấn, ba quẻ này là Thiếu dương, mà số dư phép đếm 4 được 7, nên gọi là Thất.

Ba lần biến mà một lần đa là tượng của các quẻ Tốn Ly Đoài, ba quẻ này là Thiếu âm, mà số dư của phép đếm 4 được 8, nên gọi là Bát.

Cho nên, những số Thất Bát Cửu Lục là do số dư mà đặt tên là Âm Dương. Âm Dương sở dĩ là Lão Thiếu không phải vì điều đó, mà vì là tượng của Bát quái trong ba lần biến.

Hệ Từ - Hạ truyện viết: "Dịch cùng tắc biến, biến tắc thông, thông tắc cửu". Triết lý của Dịch cho rằng, quy luật của sự vật khi phát triển đến cùng cực thì sẽ biến hóa, khi đã biến hóa thì sẽ thông suốt, khi đã thông suốt thì sẽ lâu bền.

Khổng Dĩnh Đạt - Chu Dịch chính nghĩa viết: "Đạo của Dịch khi cùng thì tùy theo thời mà biến đổi, khi đã biến đổi thì có sự khai thông, khai thông thì được lâu bền, cho nên nói 'thông' tất 'bền' vậy".

Du Diễm - Chu dịch tập thuyết viết: "Đến thời biến, thì phải biến, nếu không biến sẽ cùng, đó là đạo có biến tất có thông của Dịch. Có biến sẽ có thông, tức là tùy theo thời. Dân hãy còn hăng hái, chưa thấy mệt mỏi chán ghét, Thánh nhân không được bắt họ từ bỏ cái chí hăng hái đó; dân chưa được yên ổn Thánh nhân không được bắt buộc họ phải hăng hái làm việc. Chỉ đến khi số đã cùng, thời đã biến, lúc đó Thánh nhân nhân đó mà biến thông thúc đẩy, có như vậy dân mới không mệt mỏi. Nếu không dân sẽ cảm thấy phiền nhiễu, chán ghét, làm sao không mệt mỏi được? Cứ như vậy mà thuận theo, không cần biết lý do tại sao, như vậy là "thần"; thuận hành dần dần biến cải, không cần câu thúc vào ngôn từ để hướng dẫn hành động, như vậy là "hóa". Theo đạo "thần hóa", đó là đạo dạy dân, dưỡng dân của Thánh nhân đấy, nếu không theo đạo đó, tất dân không chịu theo.

Đạo của Dịch không có cùng, chỉ có số mới cùng. Số dương cùng ở số 9, số âm cùng ở số 6. Cùng thì biến, biến thì thông, thông thì lâu dài, lâu dài thì lại cùng. Do vậy, "nếu được trời giúp thì tốt, không có cái gì không lợi vậy".

Theo nghĩa "Dịch biến" và "Dịch bất biến" làm chuẩn mực để sáng tỏ về lẽ động tĩnh của nhân sự: Số cơ ngẫu là 7 - 8 vậy; giao trùng là 6 - 9 vậy. Quẻ vạch theo số 7 - 8 là "Dịch bất biến", hào vạch theo số 6 - 9 là "Dịch biến" vậy. Quẻ tuy là "dịch bất biến", mà trong lại có "dịch biến", thì có nghĩa là 'hanh'. Hào tuy là "dịch biến", mà trong lại có cái "dịch bất biến", thì gọi là 'trinh'. Phép xem Hồng Phạm dùng hai chữ "trinh - hối", "trinh" tức là tĩnh, "hối" tức là động. Cho nên, nếu thấy tĩnh cát mà động hung thì chớ dùng; Thấy động cát mà tĩnh hung thì chớ xử; Thấy động tĩnh đều tốt thì mọi việc đều tốt; Thấy động tĩnh đều hung, thì trong vòng trời đất không thể trốn đâu cho thoát được.

Tiên Nho khi nói Quái biến thì chưa có sự chuyển dịch về cương nhu âm dương, đảo ngược vị trí trên dưới. Nay lấy Càn làm Khôn, lấy Thủy làm Hỏa, lấy trên làm dưới, làm rối ren chìm đắm, thường thì tượng Dịch từ đây mà nhầm lẫn vậy. Du Việt theo thể lệ Bàng thông "thành Ký tế định" của Ngu Phiên, và phép "thăng - giáng" của Tuân Sảng, bàn chung về cái lý "cùng tất biến, biến tất thông" của các quẻ Dịch.

Trong Dịch, có 192 hào âm và hào dương "đắc chính", cũng đồng thời tồn tại 192 hào âm và hào dương "thất chính"; Được chính tức là Ký tế định, thất chính sẽ hóa thất chính thành chính, rồi sau đó mới có thể định. Cho nên đối với những quẻ Bàng thông, bỉ thử giao dịch lẫn nhau, thì trong 192 hào, có 96 hào âm gặp hào dương; hoặc 96 hào dương gặp hào âm, do vậy có thể biến dịch được. Có 96 hào âm gặp hào âm, hoặc hào dương gặp hào dương, do vậy không biến dịch. Có thể biến dịch, thì gọi là "thông", không thể biến dịch, thì gọi là "cùng"; Cùng tất sẽ có biến và có phép của sự biến thông, biến tất sẽ có hóa, hóa tất sẽ chuyển từ bất chính thành chính.

Lại nói rằng, muốn biết Lý "cùng - thông", thì trước hết phải biết lý "thăng - giáng" của âm dương, đây là thuyết của Tuân Từ Minh, muốn biết cái lý "thăng - giáng", trước hết phải biết cái lý "cùng - thông", đây là thuyết của Ngu Trọng Phiên. Tham nhập hai thuyết làm một, đó là do Tiêu Lý Đường.

Tóm lại, hào quẻ có thể thông với các quẻ khác, thì gọi là "thông", khi hào quẻ không thông với các quẻ khác thì gọi là "cùng". Cùng, mà tự biến đổi âm dương của mình, tức là hóa bất chính thành chính, thì gọi là "biến hóa".

THUYẾT VỀ "KHÍ" CỦA TRƯƠNG TẢI

HÀM NGHĨA CHUNG VỀ KHÍ

Khí là nguồn gốc hoặc là bản thể của vạn vật trong thế giới tự nhiên. Khí là thứ vật chất tinh vi, chuyển động không ngừng, Khí là cơ sở thống nhất của Thiên Địa vạn vật, là nguồn gốc sinh thành vạn vật. Lý luận này có liên quan đến thuyết sinh – thành vũ trụ cổ đại. Khí là nguyên nhân sự tồn tại của thiên địa vạn vật, cho nên Khí không là hình thái vật chất cụ thể nào, nó không có hình thể, không có âm thành và hình thái. Như vậy, những người đưa ra và theo thuyết Khí bản thể luận đã loại bỏ ý kiến cho rằng Lý, Thái cực, Đạo có trước Khí, và chúng ngự ở trên Khí để chi phối Khí; họ chỉ rõ: Khí là bản thể cao nhất. Mặt khác, họ thuyết minh mối liên kết giữa Khí với Thái hư, và nêu rõ: Khí là phạm trù thông thường mang nội dung trừu tượng.

Khí là nguyên tố hoặc chất liệu của tồn tại khách quan. Chất liệu này, nguyên tố này hoặc hữu thể, hữu hình, có thể thấy được, có thể nghe được; hoặc là vô hình, vô thể, không thấy được, không nghe được. Khí là hiện tượng vật chất vi nhỏ, là thứ hỗn độn chưa có hình chất, sau khi ngưng tụ mới trở thành có hình có tượng. Nghiên cứu Khí sẽ nhận thấy tính thống nhất của vạn vật trên thế giới, nghĩa là thấy được bản chất chung của những hiện tượng và của vạn vật. Những học gia theo quan điểm Khí bản thể luận, thì coi Khí là phạm trù cao nhất của kết cấu logic triết học lý luận mà họ tin theo. Các học gia theo quan điểm Lý học bản thể luận và Tâm thức bản thể luận cũng cho rằng: Khí có tính vật chất và tính năng động, Khí nhập vào Đạo, vào Lý, vào Thái cực, và vào Tâm, đó là nguyên tố, chất liệu hoặc khâu trung gian để cấu tạo nên thế giới muôn vật.

Khí là thực thể khách quan có động thái công năng. Khí không ngừng chuyển động biến hóa, lúc thì tụ vào, lúc thì tản ra, nghi ngút, khi bay bổng, khi trầm lắng, lúc co đặc, lúc dàn mỏng, … Chuyển động biến hóa chính là hình thức và điều kiện tồn tại của Khí. Nếu Khí không có công năng động thái này thì Khí không tồn tại và chẳng có giá trị gì. Khí hàm chứa cặp âm dương đối lập thống nhất, Khí là bản chất của vật, cho nên Khí chuyển động biến hóa không ngừng thì mọi vật luôn chuyển động và biến hóa. Vai trò của Khí trong một hệ thống được xem như thứ vật chất trung gian môi giới, chuyển động biến hóa của Khí mà tạo tác nên muôn vật, thuộc tính của Khí cũng ảnh hưởng đến muôn vật.

Khí là sinh mạng của con người. Con người sống thọ hay chết yểu, đức tính con người thiện hay ác, đời sống vật chất giầu hay nghèo, sang hay hèn, địa vị tôn quý hay ti tiện, đều liên quan đến Khí. Khí chuyển động ở cơ thể con người thực hiện đạo dẫn thần khí, đấy chính là công pháp nhằm điều chỉnh cơ năng sinh lý cơ thể con người, đẩy nhanh quá trình trao đổi chất, tăng cường sinh lực và khả năng miễn dịch, trị bệnh kiện thân, kéo dài tuổi thọ. Vì thế Khí là đồng hồ sinh học mang nội dung những thông tin về sinh mệnh cơ thể người, bởi vì con người bẩm thụ khí mà sinh ra. Khí có Khí trong sạch và Khí vẩn đục, Khí u ám, Khí quang minh, Khí thành hiền, Khí thô bỉ, do bẩm thụ Khí khác nhau mà từng con người có tư chất, thọ yểu, quý tiện khác nhau.

Khí là vật chất môi giới hoặc môi thể đầy ắp trong vũ trụ. Trong khoảng không vũ trụ, các hành tinh như nhật nguyệt trăng sao, cùng chuyển động trong một trật tự hài hòa, mọi sự vật tương hỗ cùng tồn tại trong một hệ thống, giữa các sự vật đó có một dòng Khí quán thông với nhau, làm cho các vật thể có sức hút để giữ lấy nhau, và có lực đẩy để khỏi va chạm vào nhau. Sức hút ấy, lực đẩy ấy, gọi là “ái cự lực”. Nó làm cho mọi vật trong vũ trụ vừa cự nhau vừa dựa vào nhau mà tồn tại. Khí chính là môi giới hoặc môi thể làm cho ánh sáng, âm thanh được phát ra và truyền đi lan tỏa rộng khắp. (Khí hút nhau gọi là “ái lực”, khí đẩy nhau gọi là “cự lực”, cái gọi là “ái cự lực” tạo nên sự chuyển động trong mâu thuẫn tự thân của Khí)

Khí là phẩm cấp đạo đức. Khí là do tụ nghĩa mà sinh thành một lý tưởng đạo đức, Khí này đầy ắp giữa khoảng trời đất, nó quán thông với Khí của đất trời. Thứ Khí này, không phải thứ huyết khí cụ thể, mà là tri Khí, thần Khí, là một loại tinh thần, ý thức hoặc ý chí, đó cũng là sự tu dưỡng đạo đức.

Khí hàm nghĩa vừa là thực thể của tồn tại khách quan, vừa là tinh thần đạo đức của chủ thể. Khí là phàm trù bao trùng cả thế giới tự nhiên cùng toàn bộ đời sống xã hội, sự sống của con người, Khí cũng là phạm trù mà mọi dòng phái, mọi học phái triết học cùng sử dụng chung trong suốt chặng đường phát triển của lịch sử. Khí có hàm nghĩa rất sâu rộng, khó mà lý giải một cách phiến diện và đơn nhất.

THÁI HƯ TỨC LÀ “KHÍ”

Trương Tải (1020-1077) là triết gia thời Bắc Tống, Ông sáng lập ra học phái Quan học, với tư tưởng Khí là bản thể của vũ trụ, xây dựng logic kết cấu Khí nhất nguyên luận, ông cho rằng: Thái hư vô hình là trạng thái bản nhiên (vốn có) của Khí, Khí là nguồn gốc và quá trình biến hóa của muôn vật trong vũ trụ. Khí với hư, hữu với vô, âm với dương, coi Khí hóa là Đạo, Đạo với Lý gắn bó chặt chẽ với nhau, quan điểm Lý khách thể thật rõ ràng.

Trương Tải cho rằng, Khí tức là hư, hư tức là Khí; Khí tụ thành hình, Khí tan biến thì hình mất, Khí trở về nguồn, quay về Thái hư. Thái hư là tên gọi khác của Khí, hàm nghĩa của Khí và Thái hư tương đương nhau, chúng khác nhau ở chỗ, Thái hư là Khí vô hình, trạng thái hữu hình là muôn vật. Thái hư không có thuộc tính của hữu hình. Chính mông - Thái hòa, Trương Tải chỉ rõ: "Thái hư không thể không có Khí, Khí không thể không tụ thành muôn vật, muôn vật không thể không tản ra thành Thái hư, theo đó mà quay vòng không bao giờ dứt". Thái hư vô hình và muôn vật hữu hình là quá trình chuyển hóa lẫn nhau, bởi vì chúng cùng chung nguồn gốc là Khí.

Từ quan điểm "Thái hư vô hình là bản thể của Khí", Trương Tải cho rằng Thái hư cũng là bản nguyên của vũ trụ. Trương tử ngữ lục - trung viết: "Hư là tổ tông của trời đất, trời đất sinh từ hư không" (Hư giả, thiên địa chi tổ, thiên địa tòng hư trung lai). Quan điểm "hư có thể sinh ra khí", coi hư là bản nguyên của vũ trụ, coi Khí do Thái hư sinh ra, quan điểm này trái ngược với lý luận "Thái hư tức là Khí" của Trương Tải. Ông chỉ rõ, quan điểm "Hư sinh Khí" thực chất là quan điểm "Hữu sinh ra từ Vô" của Lão Tử, đó là lối tư duy hư cấu, một thứ bản thể mang tính quan niệm, thoát ly thế giới vật chất, sau đó lại từ cõi "Hư" hoặc "Vô" sinh ra thế giới vật chất. Trương Tải kiên trì quan điểm: Khí là gốc, khẳng định vật chất là tính bản nguyên và là tính chất thứ nhất của Khí. Thật rõ ràng!

Đạo thể hiện quy luật mang tính cương lĩnh định hướng; Lý thể hiện quá trình mang tính nguyên tắc thực thi. Đạo và Lý thể hiện sự chuyển động biến hóa của Khí, chúng không phải bản thể ở trên Khí, mà thống nhất trong hệ thống triết học Khí bản thể luận. Ông nói: "Bởi Thái hư nên mới có tên gọi là Thiên, bởi Khí hóa nên mới có tên gọi là Đạo". Trương Tải cho rằng Đạo là "Do Khí hóa mà có tên là Đạo", tức là quá trình chuyển động biến hóa của Khí mang tính vật chất, xa rời Khí là xa rời chuyển động của Khí, như vậy sẽ không có cái gọi là Đạo. Khi nói về phạm trù Lý, ông viết: "Khí trời đất tuy hàng trăm ngả tụ và tản, được và mất, nhưng chúng vẫn thuận theo Lý, không rối loạn", đều tuân theo quy luật và trật tự, đó chính là Lý. Đạo và Lý không thể tách rời khỏi Khí mà tồn tại riêng.

"Thái hư là thể của Khí" đã giải quyết đúng mối quan hệ Thái hư với Khí, Thái hư vô hình và muôn vật hữu hình được đặt thống nhất trong Khí.

Trên cơ sở "Thái hư tức là Khí", Trương Tải nêu quan điểm Khí vừa là 'hữu' vừa là 'vô'. "Khí năng nhất hữu vô" tức là Khí có thuộc tính thống nhất 'hữu - vô' ngay trong bản thân Khí. Chính mông - Thái hòa viết: "Nếu nói vô vàn tượng là sự vật thấy được trong Thái hư, thì đó là vật với hư không tồn tại mối liên hệ trợ giúp nhau. Hình độc lập với Hình, Tính độc lập với Tính. Hình và Tính, trời và người không tồn tại mối qua hệ qua lại với nhau; kiến giải như vậy là sa vào thuyết sai lầm, coi trời đất núi sông là hệ quả ảo hóa". Thái hư là vô hình, muôn tượng là hữu hình, tuy Trương Tải xây dựng mối liên hệ giữa chúng, thông qua thuyết Khí tụ tán, nhưng giữa chúng vốn có sự khác biệt. Ông chỉ rõ, nếu không nhận ra sự khác biệt đó, sẽ không thể hiểu được muôn vật sinh ra như thế nào, tách rời bản nguyên với muôn vật, coi chúng là tồn tại độc lập riêng rẽ, không liên quan với nhau, thì sa vào quan điểm sai lầm của Phật giáo, coi thế giới Càn Khôn là ảo hóa.

Trương Tải nói: "Biết hư không tức là Khí, hữu vô, ẩn hiện, thần hóa, tính mệnh quan hệ trong sự thống nhất vô nhị. Nhìn vào những chuyển động tụ tán, xuất nhập, có hình và không có hình, có thể biết được gốc sinh ra chúng, hiểu biết đó chính là đi sau vào Dịch".

"Bản" tức là lấy Khí làm gốc, hữu vô, ẩn hiện, tụ tản, có hình hoặc không có hình đều bắt nguồn ở Khí, chúng là hai loại hình thái biểu hiện khác nhau của Khí bản thể. Khi Khí tản, chúng là Thái hư vô hình, biểu hiện của chúng là: vô, ẩn, u tối, không có hình, hư. Khi Khí tụ, chúng là muôn vật hữu hình, biểu hiện của chúng là: hữu, hiển, minh, hình, và thực. Đạo và Dịch phản ánh chuyển động biến hóa của Khí.

Hoành cừ dịch thuyết - Hệ từ thượng viết: "Khí tụ lại, hiện ranh giới rõ ràng thì đó là hữu hình. Khí tản ra, không thấy ranh giới rõ ràng thì đó là vô hình. Vậy, khi mà Khí tụ lại, sao lại không gọi chúng là Hữu? Khi mà Khí tản ra, sao lại không theo đó gọi chúng là Vô?". "Từ vô sinh ra hữu, biểu hiện thành vật. Từ hữu chuyển thành vô, đó là quá trình ẩn mà biến đi...đại ý là không vượt quá giới hạn hữu vô, vật tuy là thực mà gốc của thực ở cõi vô" (vật tuy thị thực, bản thị hư lai). Trương Tải cho rằng, Khí kiêm hai thuộc tính hữu và vô, đây là thuộc tính của tự nhiên. Hai thuộc tính của tự nhiên dựa vào nhau, trợ giúp nhau, không thể khuyết một trong hai thuộc tính đó. Chính mông - Càn xưng viết: "Những gì có thể tạo nên hình dạng đều là Hữu, mọi cái là Hữu đều là Tượng, mọi Hình Tượng đều là Khí".

Từ Khí hóa nên Tượng, từ Tượng hóa thành Hữu. Khi Khí tản chưa tụ lại thì đó là Vô. "Thái Hư là gốc của Khí, thì trong suốt vô hình". Từ Khí hóa hư, hư thì vô hình. Thuộc tính "vô" của Khí không phải tuyệt đối hư vô, đó chính là chỉ về Thái hư vô hình, mắt không nhìn thấy được, khi so sánh với muôn vật hữu tượng hữu hình thì Thái hư là vô hình, cho nên gọi đó là Vô, nhưng Thái hư vô hình không phải tuyệt đối hư vô, mà trong cái "hư" hàm chứa cái "thực", trong cái "vô" hàm chứa cái "hữu".

Trương tử ngữ lục - trung - Trương Tải nói: "Đạo của trời đất lấy cực hư làm thực, con người cần tìm lấy cái thực trong cái hư" (Thiên địa chi đạo vô phi dĩ chí hư vi thực, nhân tu hư trung cầu xuất thực). Muôn vật hữu hình tuy là thực hữu, nhưng sự vật cụ thể chung quy phải tiêu vong.

So sánh với sự vật cụ thể biến hóa mất đi, thì Thái hư vô hình là vĩnh hằng. Hữu và Vô luôn chuyển hóa lẫn nhau, sự vật hữu hình chuyển hóa thành Thái hư vô hình, Thái hư vô hình chuyển hóa thành sự vật hữu hình. Thế giới vật chất biến hóa theo quy luật Khí hóa tụ tán, hữu và vô liên hệ với nhau. Vô không phải tuyệt đối hư vô, mà chỉ là vô hình của Thái hư. Trương tử ngữ lục - Trung viết: "Kim loại sắt thép cũng đến lúc phải mục ruỗng, núi đồi cũng đến lúc phải đổ nát. Mọi vật hữu hình đều dễ hoại, chỉ có Thái hư là không lay chuyển, cho nên, Thái hư là thực nhất". Chính mông - Thái hòa - Trương Tải nhấn mạnh: "Biết Thái hư là Khí, không phải là Vô". Trong hư không mênh mông vô cùng vô tận, đâu đâu cũng là Khí mịt mù. Bản thân Thái hư chính là Khí, Khí của Thái hư là vô hình. Hiểu được đạo lý này, thì không có cái gọi là Vô; Dịch - Hệ từ: "Thánh nhân ngẩng lên và cúi xuống, rồi nói biết hàm nghĩa của 'u minh', mà không nói biết hàm nghĩa của 'hữu vô'. 'U' tức là 'vô', 'minh' tức là 'hữu'. Dùng khái niệm 'u' thay thế cho khái niệm 'vô', để tránh ngộ nhận 'vô' là khẳng định tuyệt đối hư vô vậy".

Khí là thứ vật chất mang tính liên tục, tính tự có khiêm thuộc tính hữu và vô. Đây thuộc về phạm trù tính hữu hạn và tính vô hạn, tính tạm thời với tính vĩnh hằng, tính gián đoạn với tính liên tục trong sự tồn tại của thế giới vật chất. Sự cầu thị trong thế giới Càn Khôn.

Trương Tải cho rằng, mâu thuẫn tồn tại trong nội bộ của sự vật là căn nguyên làm cho sự vật chuyển động. Khí âm dương cảm ứng nhau, biến hóa co dãn không ngừng, sự chuyển động này ở trong nó hàm chứa biến hóa, là tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý chí của con người. Sự biến hóa đó gọi là "Thần", có nghĩa là biến hóa thần diệu khôn lường. Khí âm và Khí dương tác động lẫn nhau là căn nguyên của mọi biến hóa. Như vậy, sự biến hóa tồn tại trong cả âm lẫn dương, tồn tại ngay trong cả động và tĩnh, tồn tại trong cả thực và hư; đó là thuộc tính cố hữu của Khí, thuộc tính này được bộc lộ ra muôn vàn sự vật cụ thể, Khí chỉ là một mà biến hóa của Khí có nhiều vẻ khác nhau. Khí là bản nguyên của "vô" và sự vật, Khí là một, bản nguyên của vô vàn sự vật cũng chỉ là một. Nhưng nhất Khí phân chia âm dương, âm dương đối lập thể hiện trong muôn vàn sự khác biệt. Cho nên, Trương Tải đề xuất quan điểm biện chứng "nhất vật lưỡng thể".

Hoàng cừ dịch thuyết - Hệ từ hạ viết: "Khí Thái hư là một vật có âm có dương, nhưng lại có lưỡng thể thuận trong sự thống nhất" (Thái hư chi Khí, âm dương nhất vật dã, nhiên hữu lưỡng thể kiện thuận nhi dĩ). Khí Thái hư là một, Khí có âm có dương, đó là hai. Hai tồn tại trong cái một, biểu hiện thành hai mặt đối lập, "nhất" (một) là chỉ sự thống nhất của hai mặt đối lập.

Khí là bản nguyên của vũ trụ, là sự đối lập thống nhất của âm dương. Nếu không có đối lập sẽ không có thống nhất. Nếu không thống nhất thì không có đối lập, "nhất" và "lưỡng" cùng dựa vào nhau, chuyển hóa lẫn nhau, muôn vật trong trời đất giao cảm cùng biến hóa, sinh sôi và phát triển. Hoành cừ dịch thuyết - Thuyết quẻ viết: "Nhất vật lưỡng thể" là quy luật phổ biến trong vũ trụ, tất cả mọi sự vật đều tồn tại hai mặt vừa đối lập vừa thống nhất. "Nhất" đó là "Thần"; "lưỡng" nghĩa là biến hóa khôn lường, có "lưỡng" cho nên tự nó biến hóa phát triển cái "nhất", có nghĩa là trời cùng tham dự trong quá trình biến hóa".

Hư thực, động tĩnh, tụ tản, trong đục là biểu hiện cụ thể của hai mặt đối lập, cũng là nội hàm cụ thể của nhất Khí âm dương, hai mặt đối lập âm dương cùng hợp thành thể thống nhất của Khí, chúng là căn nguyên của mọi biến hóa chứa đựng trong sự chuyển động, đồng thời mọi vật cũng được sinh ra trong quá trình biến hóa đó. Trương Tải viết: "Nếu không có hai mặt đối lập thì không thấy sự thống nhất, nếu không thấy sự thống nhất thì không có sự sống của hai mặt đối lập. Biểu hiện của lưỡng thể trong sự thống nhất hư thực, động tĩnh, tụ tản, trong đục" (Lưỡng bất lập tắc nhất bất khả biến, nhất bất khả biến tắc lưỡng chi dụng tức. Lưỡng thể giả, hư thực dã, động tĩnh dã, tụ tán dã, thanh trọc dã, kỳ cứu nhân chi dĩ).

"Khí có âm dương, chuyển động dần đó là biến hóa, hợp nhất khôn lường thì gọi là thần" (Khí hữu âm dương, thôi hành hữu tiệm vi hóa, hợp nhất bất trắc vi thần). Trong quá trình chuyển động biến hóa, "có biến thì có tượng" (hữu biến tắc hữu tượng).

Hoành cừ dịch thuyết - Hệ từ thượng viết: "Trời chuyển động nhất Khí làm cho muôn vật sinh sôi". Khí chuyển động sinh ra muôn vật, mặt khác, muôn vật là thể vật chất chứa đựng quá trình chuyển động. Quá trình biến hóa được chia làm hai giai đoạn: biến hóa dần dần và biến hóa rõ rệt: "Biến là mô tả sự chuyển hóa rõ rệt, hóa là mô tả sự chuyển hóa dần dần". Cái bên ngoài thực hữu thấy được, thì đó là sự biến; cái bên trong thực có mà không thấy được sự chuyển hóa dần dần, đó là sự hóa. Nên nói: "trong hóa ngoài biến, trong chậm ngoài nhanh, trong âm ngoài dương, trong hư ngoài thực". Trương Tải cho rằng, sự vật chuyển hóa dần dần, để đạt tới chuyển hóa nhanh rõ rệt. Biến và Hóa chuyển hóa lẫn nhau. Chính mông - Thần hóa viết: "Biến chuyển lên hóa, chuyển từ thô đến tinh. Hóa để mà sắp xếp, chọn lọc thì gọi là biến, biến rõ rệt tinh tế" (Biến tắc hóa, dẫn thô nhập tinh dã. Hóa nhi tài chi vị chi biến, dĩ trữ hiển vi dã). Tư tưởng nhận thức về quá trình biến hóa trong chuyển động của vạn vật thật sâu sắc!

Hoành cừ dịch thuyết - Thượng kinh Quan viết: "Có âm dương thì nhất định chúng cảm ứng nhau. Vậy, cảm ứng của trời có liên quan gì đến tư duy? Đó là tự nhiên". Cảm ứng nghĩa là ảnh hưởng lẫn nhau, tác động lẫn nhau, có khác nhau thì có cảm ứng, những điều này đã xác định mối liên hệ giữa các sự vật với nhau, khi có cảm ứng âm dương. Sự cảm ứng âm dương phát sinh một cách tự nhiên, không liên quan đến tư duy của con người. Chính mông - Càn xưng viết: "Muôn vật vốn có cùng một nguồn gốc, cho nên một gốc có thể gắn hợp những mặt khác nhau, hiện tượng có gọi là cảm, âm dương cảm ứng lẫn nhau, vì chúng có cùng một nguồn gốc. Muôn vật do trời đất sinh ra, tuy chúng thụ Khí khác nhau nhưng đều luôn cảm ứng lẫn nhau".

"Ham muốn của con người giảm đi theo tuổi già, đấy là sự việc cảm ứng nhau. Cảm cũng như ảnh hưởng, không có lặp lại trước sau, có chuyển động là có cảm ứng, tất cả mọi cảm đều ứng, vậy nói mọi cảm ứng đều diễn ra nhanh chóng". Muôn vật trong vũ trụ cảm ứng lẫn nhau, bất kể cùng loại hay khác loại, sự vật của thế giới tự nhiên hay của xã hội loài người, chúng đều cảm ứng có mối liên hệ với nhau một cách phổ biến; đó là quy luật phổ biến của vũ trụ.

Trương Tải trình bày mô thức tồn tại "nhất vật lưỡng thể", khẳng định Khí âm dương cảm ứng lẫn nhau, và chuyển động biến hóa cấu tạo nên Khí hóa lưu hành. Nguyên nhân làm cho sự vật chuyển động biến hóa là nội lực bản thân của sự vật. Chính mông - tham lưỡng viết: "Tất cả mọi chuyển động quay tròn nhất định phải có động cơ, đã gọi là động cơ thì không thể từ bên ngoài đưa tới". Động cơ, đó chính là tác động tương hỗ của nhị Khí âm dương. Biến hóa vô cùng tận của Khí âm dương thúc đẩy cả vũ trụ biến hóa.

Mối liên hệ giữa Thái hư với Khí, chỉ rõ Thái hư là trạng thái vô hình và bản nhiên của Khí, Khí là bản thể của vũ trụ, Khí có thuộc tính tương phản: hữu vô, hư thực, ẩn hiện. Khí âm dương tác động lẫn nhau, làm cho thế giới vật chất không ngừng chuyển động và biến hóa. Đối với Trương Tải, Khí là phạm trù cao nhất. Mệnh đề Khí có âm dương, nhất vật lưỡng thể, có ảnh hưởng sâu rộng với hậu thế. Ông nói: "Rất khó nhận ra đâu là mối tiếp giáp cái hữu với cái vô; tiếp giáp hữu hình với vô hình. Cần hiểu là Khí bắt đầu từ đây, thì Khí kiêm cả hữu và vô, vô thì Khí sinh ra một cách tự nhiên, sự sống của Khí tức là Đạo là Dịch".

Trương Tải nói: “Khí năng nhất hữu vô. Hữu sinh hình, vô sinh dụng.”

THUYẾT VỀ THẬP NHỊ TÍCH QUÁI

Các nhà Dịch học thời Hán lấy 12 hình quẻ đặc thù trong 64 quẻ, phối hợp với khí hậu từng tháng của 12 tháng trong một năm, biểu thị ý nghĩa "âm dương tiêu tức" của vạn vật trong thế giới tự nhiên, gọi là Thập nhị tích quái, hay còn gọi là Nguyệt quái, Hậu quái, Tiêu tức quái.

Nguồn gốc của Thập nhị tích quái rất cổ. Thuyết này đầu tiên thấy ở Quy Tàng: "Tý Phục, sửu Lâm, dần Thái, mão Đại tráng, thìn Quải, tị Càn, ngọ Cấu, mùi Độn, thân Bĩ, dậu Quan, tuất Bác, hợi Khôn" (Mã Quốc Hàn - Ngọc hàm sơn phòng tập dật thư). Thượng Bỉnh Hòa cho rằng, Tả truyện - Thành công năm thứ 16 chép chuyện Tấn Hầu bói việc đánh nước Sở, được quẻ Phục, nói: "Năm quốc kiển, xạ kỳ nguyên, Vương trung quyết mục, dĩ Phục cư Tý". là dẫn chứng rõ nhất về việc vận dụng Thập nhị tích quái để nói về Dịch.

Chữ "Tích" còn có nghĩa là Vua (quân), "chủ" là nói 12 quẻ này làm chủ 12 tháng. Nay dựa vào bộ Hán thượng dịch truyện - Chu Chấn truyền lại Quái khí thất thập nhị hậu đồ của Lý Cái vẽ Thập nhị tích quái đồ biểu thị rõ tôn chỉ: dương đầy là "tức", âm hư là "tiêu". Sáu quẻ từ Phục đến Càn là tức quái, là Phục nhất dương sinh thuộc cung Tý, quẻ tháng 11; Lâm nhị dương sinh thuộc Sửu quẻ tháng 12; Thái tam dương sinh thuộc Dần quẻ tháng Giêng; Đại tráng tứ dương sinh thuộc Mão thuộc tháng 2; Quải ngũ dương tức, thuộc Thìn quẻ tháng 3; đến Càn lục dương tức, thuộc Tị quẻ tháng 4. Sáu quẻ từ Cấu đến Khôn là "tiêu" quái, là Cấu nhất âm tiêu, thuộc Ngọ, quẻ tháng 5; Độn nhị âm tiêu, thuộc Mùi, quẻ tháng 6; Bĩ tam âm tiêu, thuộc Thân, quẻ tháng 7; Quan tứ âm tiêu, thuộc Dậu, quẻ tháng 8; Bác ngũ âm tiêu, thuộc Tuất, quẻ tháng 9; đến Khôn là quẻ lục âm tiêu, thuộc Hợi, quẻ tháng 10.

Hai quẻ Càn Khôn là mẹ của "tiêu - tức", Dịch vĩ - Càn tạc độ viết: "Thánh nhân nhân âm dương mà nêu ra tiêu tức, lập Càn Khôn để thống nhất Thiên Địa", lại chép: "Quẻ tiêu tức, thuần là Đế, không thuần là Vương". Dịch vĩ - Càn nguyên tự chế ký viết: "Tích quái, ôn khí không theo 6 quẻ, vật dương không sinh, khí đất sẽ dấy lên", Trịnh Huyền chú: "sáu quẻ là chỉ quẻ Thái, Đại tráng, Quải, Càn, Cấu (dưới Cấu còn có Độn, ghi chép sót), hàn khí không theo 6 quẻ, không dẫn đến đông vinh, vật thực không thành", Trịnh Huyền chú "Sáu quẻ là nói các quẻ Bĩ, Quan, Bác, Phục, Lâm". Các nhà Dịch học từ Mạnh Hỷ, Kinh Phòng thời Tây Hán; Mã Dung, Trịnh Huyền, Tuân Sảng, Ngu Phiên thời Đông Hán, cho đến các học giả đời Thanh, chẳng ai không dùng Thập nhị tích quái để lập thuyết, ảnh hưởng rất lớn.

Hệ từ - Hạ truyện viết: "Cương nhu tương thôi, biến tại kỳ trung hỹ", Chu dịch tập giải dẫn lời chú của Ngu Phiên nói: "Nói về tiêu tức của 12 tháng, cửu lục tương biến, cương nhu tương thôi mà sinh biến hóa, cho nên bên trong có biến đổi vậy". Ngụy thư - Luật lịch chí chép từ Chính Quang lịch - Cầu tứ chính thuật ghi thứ tự tiếp nhau của 60 quẻ như sau:

- Tháng Một: Vị tế, Kiển, Di, Trung phu, Phục [18 âm - 12 dương]

- Tháng Chạp: Truân, Khiêm, Khuê, Thăng, Lâm [19 âm - 11 dương]

- Tháng Giêng: Tiểu quá, Mông, Ích, Tiệm, Thái [17 âm - 13 dương]

- Tháng Hai: Nhu, Tùy, Tấn, Giải, Đại tráng [14 âm - 16 dương]

- Tháng Ba: Dự, Tụng, Cổ, Cách, Quải [13 âm - 17 dương]

- Tháng Tư: Lữ, Sư, Tỵ, Tiểu súc, Càn [14 âm - 16 dương]

- Tháng Năm: Đại hữu, Gia nhân, Tỉnh, Hàm, Cấu [10 âm 20 dương]

- Tháng Sáu: Đỉnh, Phong, Hoán, Lý, Độn [11 âm - 19 dương]

- Tháng Bảy: Hằng, Tiết, Đồng nhân, Tổn, Bĩ [13 âm - 17 dương]

- Tháng Tám: Tốn, Tụy, Đại súc, Bí, Quan [15 âm - 15 dương]

- Tháng Chín: Quy muội, Vô vọng, Minh di, Khốn, Bác [17 âm - 13 dương]

- Tháng Mười: Cấn, Ký tế, Phệ hạp, Đại quá, Khôn [18 âm - 12 dương]

18 + 19 + 17 + 14 + 13 + 14 = 95 hào âm

12 + 11 + 13 + 16 + 17 + 16 = 85 hào dương

10 + 11 + 13 + 15 + 17 + 18 = 84 hào âm

20 + 19 + 17 + 15 + 13 + 12 = 96 hào dương

Thứ tự này là theo cách nói của sách Dịch vĩ - Kê lãm đồ. Căn cứ theo thuyết: "Nhu tại nội nhi cương đắc trung" lấy quẻ Trung phu làm khởi đầu. Đây là nêu hào Ba hào Bốn có đức "âm hư" ở giữa 6 hào, và hai hào Nhị Ngũ có đức "dương thực" nằm giữa thượng quái và hạ quái, để nói rõ hàm nghĩa "trung hư" là thành, "trung thực" là tín, biết hồi chuyển mà quay trở lại. Dịch vĩ - Kê lãm đồ viết: "Khí dương của trời đất, vũ trụ bắt đầu sinh ra từ quẻ Trung phu". Lại viết: "Giáp Tý, khí của quẻ khởi từ Trung phu, 6 ngày 7/80 ngày". Tức là chỉ hào Năm quẻ Trung phu có số thứ tự là 365, tương đương với số ngày của một Năm.

Phép 'Cầu tứ chính thuật', là do Mạnh Hỷ người thời Tây Hán đề xuất, tự là Trường Khanh, là người khai sáng Mạnh thị học về Kinh Dịch kim văn, thành tài và có trước thư lập ngôn. Dịch Hán học - Huệ Đống đã nói về đặc điểm về Mạnh thị học như sau: "Quái khí đồ của họ Mạnh lấy các quẻ Khảm Chấn Ly Đoài làm bốn quẻ chính, 60 quẻ còn lại, mỗi quẻ chủ 6 ngày 7 phân (lục nhật thất phân) hợp với số vòng trời 12 Nội tích quái, gọi là tiêu-tức. Càn đầy là tức, Khôn rỗng là tiêu, kỳ thực Càn Khôn là 12 vạch". Lại nói: "Bốn quẻ chỉ bốn mùa, mỗi hào chủ 24 khí, 12 quẻ chủ 12 giờ, mỗi hào chủ 72 hậu, 60 quẻ chủ 6 ngày 7 phân, mỗi hào chủ 365 ngày 1/4 ngày. Tích quái là Quân. Tạp quái là Thần. Tứ chính là phương bá. Hai ngày 'chí', hai ngày 'phân', hàn, ôn, phong, vũ, đều lấy ứng quái làm tiết. Ngoài ra, trong 48 quẻ còn lại, quẻ Dương có 24 quẻ, gọi là Thiếu dương, quẻ Âm có 24 quẻ, gọi là quẻ Thiếu âm. Cho nên 60 quẻ này còn được gọi là Tạp quái, cũng giống như nói rằng: vua tôi chung sức liên hợp, giao tạp để thành hình quái khí, để mà chỉ rõ cái lý âm dương tiêu tức". Dịch vĩ - Càn tạc độ có câu: "Lục thập tứ quái tam bách bát thập tứ hào giới", Trịnh Huyền chú giảng là: "Tiêu tức ở tạp quái là tôn quý, mỗi tháng ví như một quẻ mà ngôi thuộc vào đấy, đều có nơi hệ thuộc".

Chu dịch Thượng thị học - Thượng Bỉnh Hòa nói: "Người đời Hậu Hán chú Dịch, thường dùng Nguyệt quái mà không nói rõ ra, vì Nguyệt quái mọi người đều biết, không nhất thiết phải chỉ ra. Tầm quan trọng của nó có thể bết vậy". Tức là 12 Tích quái, vì 12 quẻ này dùng để biểu thị quy luật âm dương tiêu-tức của 12 tháng, cho nên gọi là Nguyệt quái.

TÍNH LIÊN TỤC THỜI GIAN THEO THUYẾT KINH PHÒNG

Thuyết quái viết: Thiên địa định vị

...........CÀN.........................KHÔN

........G.Tuất......Hỏa...........A.Dậu..........Thủy

........G.Thân.....Thủy..........A.Hợi...........Hỏa

........G.Ngọ.......Kim...........A.Sửu..........Kim

........G.Thìn......Hỏa...........A.Mão..........Thủy

........G.Dần......Thủy..........A.Tị..............Hỏa

........G.Tý.........Kim...........A.Mùi............Kim

- Giáp Tý - Ất Sửu = hào 1 - hào 4

- Giáp Tuất - Ất Hợi = hào 6 - hào 5

- Giáp Thân - Ất Dậu = hào 5 - hào 6

- Giáp Ngọ - Ất Mùi = hào 4 - hào 1

- Giáp Thìn - Ất Tị = hào 3 - hào 2

- Giáp Dần - ẤT Mão = hào 2 - hào 3

Thuyết quái viết: Sơn Trạch thông khí

............CẤN............................ĐOÀI

...........B.Dần......Hỏa.............Đ.Mùi..........Thủy

...........B.Tý........Thủy............Đ.Dậu..........Hỏa

...........B.Tuất.....Thổ..............Đ.Hợi...........Thổ

...........B.Thân.....Hỏa.............Đ.Sửu.........Thủy

...........B.Ngọ......Thủy............Đ.Mão.........Hỏa

...........B.Thìn......Thổ..............ĐTị.............Thổ

- Bính Dần - Đinh Mão = hào 6 - hào 2

- Bính Tý - Đinh Sửu = hào 5 - hào 3

- Bính Tuất - Đinh Hợi = hào 4 - hào 4

- Bính Thân -Đinh Dậu = hào 3 - hào 5

- Bính Ngọ - Đinh Mùi = hào 2 - hào 6

- Bính Thìn - Đinh Tị = hào 1 - hào 1

Thuyết quái viết: Lôi Phong tương bạc

...............CHẤN..............................TỐN

..............C.Tuất.......Kim................T.Mão........Mộc

..............C.Thân......Mộc.................T.Tị...........Kim

..............C.Ngọ.......Thổ.................T.Mùi.........Thổ

..............C.Thìn.......Kim.................T.Dậu........Mộc

..............C.Dần.......Mộc.................T.Hợi.........Kim

..............C.Tý..........Thổ.................T.Sửu........Thổ

- Canh Tuất - Tân Hợi = hào 6 - hào 2

- Canh Thân - Tân Dậu = hào 5 - hào 3

- Canh Ngọ - Tân Mùi = hào 4 - hào 4

- Canh Thìn - Tân Tị = hào 3 - hào 5

- Canh Dần - Tân Mão = hào 2 - hào 6

- Canh Tý - Tân Sửu = hào 1 - hào 1

Thuyết quái viết: Thủy Hỏa bất tương xạ

..............KHẢM..........................LY

.............M.Tý.......Hỏa...............K.Tị.........Mộc

.............M.Tuất....Mộc...............K.Mùi......Hỏa

.............M.Thân...Thổ................K.Dậu.....Thổ

.............M.Ngọ.....Hỏa...............K.Hợi.......Mộc

.............M.Thìn....Mộc...............K.Sửu......Hỏa

.............M.Dần.....Thổ...............K.Mão......Thổ

- Mậu Tý - Kỷ Sửu = hào 6 - hào 2

- Mậu Tuất - Kỷ Hợi = hào 5 - hào 3

- Mậu Thân - Kỷ Dậu = hào 4 - hào 4

- Mậu Ngọ - Kỷ Mùi = hào 3 - hào 5

- Mậu Thìn - Kỷ Tị = hào 2 - hào 6

- Mậu Dần - Kỷ Mão = hào 1 - hào 1

Bài Tây Minh của Trương Hoành Cừ tức Trương Tái là một áng văn quan trọng của Đạo học gia. Bài này, vốn là đoạn văn đầu của thiên Càn Xưng trong Chính Mông.

Trương Tái chép đoạn đầu thiên này vào vách tường phía Tây nơi thư phòng, ông đặt tên là Đính Ngoan, rồi chép đoạn cuối của thiên này vào vách tường phía Đông, ông đặt tên là Biếm Ngu. Trình Di thấy thế, đổi Đính Ngoan thành Tây Minh, và đổi Biếm ngu thành Đông Minh. Về sau, Chu Hi tách bài Tây Minh này ra thành một bài độc lập và chú giải nó. Bài Tây Minh của Trương Tái và Thái Cực Đồ Thuyết của Chu Liêm Khê là hai áng văn bất hủ của Tống Nho. Bài Tây Minh như sau:

Càn là cha, Khôn là mẹ; tấm thân nhỏ nhoi của ta tương hợp với trời đất mà đứng ở giữa. Cho nên cái Khí lấp đầy trời đất là thân thể của ta. Cái thống lĩnh trời đất là bản tính của ta. Người dân là đồng bào của ta. Vạn vật là bạn bè của ta. Nhà vua là con cả của cha mẹ ta (tức trời đất). Quan đại thần là người quản lý việc nhà của con cả. Hãy tôn trọng bậc trưởng thượng, vì họ là bậc trưởng thượng (của trời) đáng cho mình tôn trọng.; hãy thương xót kẻ mồ côi yếu đuối, vì chúng là trẻ thơ ấu (của trời) đáng cho mình thương. Thánh nhân hợp nhất với đức (của trời). Hiền nhân là bậc ưu tú (của trời). Trong thiên hạ những kẻ già yếu, tàn tật, không anh em, già không con, già không vợ, già không chồng, đều là anh em của ta, họ chật vật khốn khổ mà không biết than thở cùng ai. (Kẻ khá giả) Tùy thời mà bao bọc những kẻ đáng thương ấy, đó là thể hiện lòng tôn kính (cha trời mẹ đất). (Kẻ khốn đốn) vui với mệnh trời, không lo buồn tủi phận, đó là thể hiện lòng chí hiếu (với cha trời mẹ đất). Làm trái lệnh cha mẹ là phẩm hạnh của đứa con ngỗ nghịch. Kẻ làm hại điều nhân gọi là tặc. Kẻ gây ác là hạng bất tài. Ai giữ được nguyên hình sắc như thủa ban đầu mới là giống hệt cha trời mẹ đất. Ai hiểu được sự biến hóa của sự vật tức là nối được sự nghiệp của cha trời. Ai nghiên cứu đến tận cùng cái thần diệu của sự vật, là nối được chí lớn của cha trời. Cẩn thận khi ở một mình, dù ở chỗ̃ khuất vắng mà không làm điều hổ thẹn với lương tâm, đó là một hiếu tử không làm nhục cha trời. Luôn gìn giữ tâm và nuôi dưỡng tính, đó là hiếu tử không biếng lười của cha trời. Ghét riệu (vì riệu làm loạn tâm tính), đó là sự quan tâm ông Vũ đến cong lao dưỡng dục của cha trời mẹ đất. Nuôi dưỡng anh tài là ban ân đức cho đồng loại (thể hiện đạo hiếu) của Dĩnh Khảo Thúc (đối với cha trời mẹ đất). Tận tâm chí hiếu để cha mẹ vui lòng, đó là công của Thuấn. Không chạy chốn (số mệnh) mà chỉ đợi bị giết, đó là Thân Sinh cung kính (thiên mệnh). Giữ gìn toàn vẹn thân thể do cha mẹ sinh ra cho đến lúc chết, đó là Tăng Sâm. Một mực vâng lời cha, đó là Bá Kỳ. (Cha trời mẹ đất cho ta) phú quý hạnh phúc, là làm dày dạn cuộc sống của ta; cho ta nghèo hèn lo buồn, tức là cho ngọc quý để ta mài giũa vậy. Khi còn sống ta cứ thuận theo trời mà hành sự; khi ta chết, ta cảm thấy thanh thản an bình.

Nho gia cuối thời Chiến Quốc đều chịu ảnh hưởng của Đạo gia. Trong số Nho gia thời đó, Tuân Tử là một bậc đại sư, tuy chịu ảnh hưởng của Đạo gia, đạt được chủ nghĩa tự nhiên của Đạo gia. Như chữ thiên theo Khổng Tử là ông Trời, tức đấng chủ tể vũ trụ. Theo Mạnh Tử thì chữ thiên này là số mệnh hay vận mệnh. Còn theo Tuân Tử thì chữ thiên này là cõi tự nhiên.

Giải Tế - Tuân Tử viết: "Cho nên từ phương diện thực dụng mà nói, Đạo rốt cuộc là Lợi [...] Từ phương diện ngôn từ mà nói, Đạo rốt cuộc là luận biện. Từ phương diện trời mà nói, Đạo rốt cuộc là nguyên nhân. Các thứ ấy chỉ nói lên một góc của Đạo. Đạo có bản thể thường hằng nhưng (ứng dụng) thì luôn biến đổi. Biết một góc thì không đủ gọi là biết. Kẻ thiên kiến thì chỉ thấy một góc của Đạo chưa thể xem là biết được. Nhưng hắn tự cho mình biết hết, còn tô điểm vẽ vời cho cái biết của mình, thế là bên trong thì loạn bên ngoài thì gạt người, trên che lấp dưới, dưới bưng bít trên, đó là cái họa của che lấp

(Cố do dụng vị chi, đạo tận lợi hĩ. [...] Do từ vị chi, đạo tận luận hĩ. Do thiên vị chi, đạo tận nhân hĩ. Thử sổ cụ giả, giai đạo chi nhất ngung dã. Phù đạo giả, thể thường nhi tận biến, nhất ngung bất túc dĩ cử chi. Khúc tri chi nhân, quan ư đạo chi nhất ngung, nhi vị chi năng thức dã, cố dĩ vi túc sức chi, nội dĩ tự loạn, ngoại dĩ hoặc nhân, thượng dĩ tế hạ, hạ dĩ tế thượng, thử tế tắc chi họa dã).

Đối với những học thuyết của các nhà thời đó, Tuân Tử cũng có nhận thức rõ ràng và phê bình xác đáng!

Thiên luận - Tuân Tử nói: "Lão Tử có thấy chỗ co mà không thấy chỗ duỗi. Mặc Tử có thấy chỗ bằng nhau mà không thấy chỗ khác nhau" (Lão Tử hữu kiến ư khuất, vô kiến ư tín. Mặc Tử hữu kiến ư tề, vô kiến ư kỵ).

Giải Tế - Tuân Tử nói: "Mặc Tử bị dụng che lấp nên không biết văn" (Mặc Tử tế ư dụng nhi bất chi văn).

Ông lại nói: "Huệ Tử bị lời nói che lấp nên không biết cái thực. Trang Tử bị trời che lấp nên không biết người (Huệ Tử tế ư từ nhi bất tri thực. Trang Tử tế ư thiên nhi bất tri nhân).

Đại sư Tuân Tử nòng cốt vẫn là Nho gia, chịu ảnh hưởng lớn từ Khổng Tử. Thời ông có thể nói là loạn, nên dân chúng tìm niềm tin vào đồng cốt và cúng tế. Tư tưởng Nho gia và nghề nghiệp làm Quan Cai trị của ông ảnh hưởng chủ đạo ở sách ông viết. Do vậy Tuân Tử cũng “Thiên Kiến” trong phê bình Lão học và âm dương gia…(có thể thiên kiến cả về đẳng cấp xã hội). Còn Đạo và thấy của Tuân Tử là cái thấy của nhà cai trị và Thầy dậy người đi cai trị.

Quan niệm Đạo đức của Tuân Tử ngược với Mạnh Tử và cho con người bản tính vốn ác, quan điểm này có thể cũng xuất phát từ quan điểm Cai trị, hoặc hoàn cảnh thời ông sống hỗn loạn, cái ác nhiều. Do vậy, Tuân Tử phản kích kịch liệt Mạnh Tử và các Đạo gia, Âm dương gia.

Ông lại có quan niệm kỳ quặc về Thánh nhân, Thánh nhân là phải cố hết sức tự cầu cho có nhiều phúc và chiếm nhiều tài nguyên, chỉ biết súc tích tài vật và lợi dụng trời đất - phải chăng quan điểm này có ảnh hưởng hậu duệ sau này..??

Vì tư tưởng Nho gia cố hữu và là nhà Cai trị vậy, nên có thể nhận định Tuân Tử không thâm nhập được vào Lão Trang học và học phái Âm dương gia. Tuy Tuân Tử có nhắc đến Tự Nhiên nhưng là Tự Nhiên theo đại sư Tuân Tử.

(Tham khảo Lịch Sử Triết Học Trung Quốc – Tg Phùng Hữu Loan ; NXB Khoa Học xã Hội)

Quái từ: Khuê, tiểu sự cát.

Lời quẻ: Quẻ Khuê tượng trưng cho sự ngang trái chia lìa, biết thận trọng xử sự thì thu được tốt lành.

Tự quái truyện giải thích Khuê là quai = ngang trái. Thuyết văn giải tự - Hứa Thận giải thích là "Mục bất tương thích", tức là hai mắt không nhìn nhau, có nghĩa là chống trái, không hòa thuận với nhau.

Tiểu, chỉ về âm nhu, hàm nghĩa cẩn thận, thận trọng. Lời quẻ chỉ ra rằng: phàm sự vật ở vào thời chống trái nhau, thì phải dùng phương pháp mềm mỏng, nhu thuận, thận trọng tìm ra cách xử lý thích hợp, thì mới có thể chuyển mâu thuẫn thành hài hòa được. Nếu cứ cương cứng một cách thái quá, khiên cưỡng mong cầu hòa hợp, thì khó mà vượt qua khuê ly được. Vì vậy, Lời quẻ mới nói là Tiểu sự cát.

Cổ nhân nói:

Trịnh Khang Thành giảng: "Khuê tức là đối lập nhau, lửa thì muốn bay lên, (nước) ao hồ thì muốn thấm xuống, cũng như con người đồng cư tâm ý khác nhau, nên gọi đó là Khuê" (Khuê, quai dã. Hỏa dục thướng, Trạch dục hạ. Do nhân đồng cư nhi chí dị dã, cố vị chi Khuê).

Ngu Phiên chú giảng: "Hai quái Ly Đoài tượng trưng cho hai thiếu nữ vậy" (Nhị nữ Ly Đoài dã).

Quách Dương chú giảng: "Tám quẻ Văn Vương lập ra, Ly là con gái giữa, Đoài là con gái út. Cả hai đều là tượng âm nhu, cho nên đối lập nhau chứ không tương ứng. Ly ở trên, là tượng dính bám vào trời. Đoài ở dưới là hồ nước, tượng trưng cho khả năng dung hòa. Lấy nhu tiến lên phía trên, đến hào Ngũ đắc vị. Trên ứng với Thượng, nên gọi là đắc trung ứng cương. Lại thêm hào âm nhu chiếm vị trí ngôi tôn, là bề tôi mà chiếm vị của vua, cùng tương ứng với Nhị, là vuâ phải ứng theo bề tôi, cho nên chỉ thành tựu được việc nhỏ" (Văn Vương bát quái, Ly vi trung nữ, Đoài vi thiếu nữ, gia vị âm tượng, cố tương khuê nhi bất tương ứng. Đoài tại hạ, Ly tại thượng. Ly giả, lệ vu thiên chi tượng, Đoài giả, trạch tại hạ năng dung chi tượng. Dĩ nhu nhi thượng tiến, chí lục ngũ đắc vị, thượng ứng thượng cửu, cố xưng vi đắc trung ứng cương. Hựu nhân âm hào lục ngũ chiếm cửu ngũ chi vị, vi thần chiếm quân vị; dữ cửu nhị tương ứng, vi quân ứng vi thần, chỉ năng thành tựu tiểu sự).

Chu dịch tập giải dẫn lời Ngu Phiên nói: "Tiểu là chỉ hào Ngũ. Âm cũng gọi là tiểu. Hào này đắc trung ứng cương nên được tốt".

Chu dịch chiết trung dẫn lời Hà Khải nói: "Việc đã chống trái nhau rồi, thì không thể lấy cái tâm nóng giận mà giải quyết được. Chỉ có cực kỳ bình tĩnh, từ từ chuyển hóa. Đó là mẹo hay để hòa hợp vậy. Cho nên mới nói Tiểu sự cát. Tiểu sự là chỉ việc xử sự mềm mỏng. Không phải đại sự là không tốt, mà chỉ sự thận trọng thì được tốt vậy".

Chu dịch chính nghĩa - Khổng Dĩnh Đạt nói: "Một khi vật tình đã chống trái nhau, thì không thể làm việc đại sự được. Làm việc đại sự là phải huy động nhiều người, việc đó chỉ có ở thời đại đồng mới làm được. Tiểu sự là những việc như ăn uống, quần áo, không phải đợi sức đông, tuy chống trái mà vẫn có thể làm được".

(Bài viết sưu tầm của cụ Hà Uyên)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sưu tầm về Dịch thuyết

Thảm án Bình Phước và lời cảnh tỉnh về lòng tham của con người

Vụ thảm án Bình Phước vừa được xét xử tuần vừa qua lại một lần nữa khiến dư luận sôi sục. Giữa cuộc sống bộn bề, dường như nhiều người đã quên đi lời Phật dạy
Thảm án Bình Phước và lời cảnh tỉnh về lòng tham của con người

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Vụ thảm án Bình Phước được xét xử tuần vừa qua lại một lần nữa khiến dư luận sôi sục. Và thêm một lần nữa, tội ác và lòng tham của con người được mang ra bàn luận. Giữa cuộc sống bộn bề, dường như nhiều người đã quên đi lời Phật dạy từ bỏ lòng tham.

 
►Lịch ngày tốt gửi đến quý độc giả kho: Danh ngôn cuộc sống, những lời hay ý đẹp đáng suy ngẫm

Tham an Binh Phuoc va loi canh tinh ve long tham cua con nguoi hinh anh
 
Cách đây 6 tháng, cả nước rúng động khi hay tin gia đình 6 người bị chết thảm dưới tay kẻ thủ ác. Vụ án trở thành tâm điểm chú ý bởi tính chất tàn độc và dã man. Và càng đáng lưu ý hơn, khi hung thủ chính là người yêu của cô con gái trong gia đình. Dù vì tình hay vì tiền thì lòng tham của một con người đã khiến cả một gia đình bỏ mạng, khiến một đứa trẻ chưa đầy 2 tuổi phải mồ côi, khiến hai thanh niên đầy sức trẻ phải vướng vào vòng lao lý.
  Không cần bàn thêm về độ hiểm ác của hung thủ trong vụ án, không cần tranh luận thêm về bản án tử hình dành cho đối tượng là xứng đáng hay quá nặng, chúng ta chỉ bàn tới lòng tham của con người qua thảm án Bình Phước. Khi lòng tham trỗi dậy, dường như lý trí, nhân tính và tình người đều phải lùi lại một bước.   Nhu cầu của con người về vật chất, về nâng cao cuộc sống là hoàn toàn tự nhiên và chính đáng. Nhưng muốn ăn mà không muốn làm, muốn hưởng thụ mà không chịu lao động, muốn chiếm của người khác thành cái của mình thì không còn là nhu cầu nữa mà đã trở thành dục vọng, lòng tham. Nếu ai cũng biết chế ngự lòng tham, làm việc siêng năng để đạt được thứ mình muốn, nếu ai cũng hiểu rằng, chỉ có lao động chân chính mới tạo ra cuộc sống tốt đẹp hơn, thì chắc chắn rằng những vụ án đau lòng như ở Bình Phước sẽ không bao giờ có cơ hội xảy ra.
 
Muốn biết bản chất cuộc đời, hãy nghe lời Phật dạy
Đức Phật bàn về bản chất cuộc đời chỉ bằng 3 luận đề, ngắn gọn, súc tích và sâu sắc.
Phật dạy từ bỏ lòng tham rằng: “Người biết đủ dù nằm trên đất cũng thấy an lạc, con người không biết đủ dù được ở thiên đường cũng không vừa ý”. Vậy mới nói, tội ác không bắt nguồn từ con người, tội ác khởi đầu từ dục vọng. Trong kinh Đại Khố Uấn, Đức Phật đã chỉ rõ chiến tranh, xung đột hay các tệ nạn xã hội khác của con người xảy ra là do lòng tham dục. Lòng tham càng lớn thì ý niệm càng mạnh, hành động càng nghiệt ngã. Đó là động cơ, là bàn đạp và là cội rễ của mọi thói hư tật xấu, mọi tội ác trên đời.
  Người ta trộm cướp, đánh nhau, giết người, chiến tranh, buôn ma túy, tham nhũng,… đều bởi lòng tham, lòng tham vật chất, lòng tham quyền lực, lòng tham danh vọng. Tham, sân, si là nguồn gốc mọi phiền não của con người nên Phật chỉ đường thoát khổ, chỉ có cách buông bỏ, kiềm chế dục vọng.   Những ham muốn chỉ đẩy con người khỏi giới hạn an toàn, lấn sâu vào tội lỗi. Tham ăn, tham uống, tham tiền, tham bạc, tham hưởng thụ, sẽ giết chết bản ngã thiện lương, thay bằng con người toan tính. Chỉ nghĩ tới lòng tham thì sẽ thành nô lệ cho nó.   Bằng lòng với thứ mình đang có, thanh nhàn với nếp sống giản dị và cố gắng nhiều hơn cho tương lai. Muốn sống hạnh phúc hơn, tự bản thân ta phải biết buông bỏ. Sống lành mạnh, thanh thản, trân trọng từng giây từng phút, sống để yêu thương, lấy nhu cầu làm mục tiêu, lấy phấn đấu làm lẽ sống.   Vụ thảm án Bình Phước một lần nữa gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh toàn xã hội về lối sống vật chất, chạy đua theo giá trị đồng tiền mà bỏ quên tất cả. Và cũng là lời nhắc nhở tới những người làm cha làm mẹ, những nhà giáo dục trong việc vun đắp tâm hồn, sự nhân văn cho trẻ. Trước khi trở thành một công dân, một người thành đạt hay bất cứ ai, hãy dạy cho trẻ trở thành một con người, một con người văn minh, với lòng nhân ái và sự tử tế.   Theo Blogphatgiao


Xem Clip Điều đáng sợ nhất trong cuộc đời con người
 

 
 
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Thảm án Bình Phước và lời cảnh tỉnh về lòng tham của con người

Xem cổ biết bệnh

Người ta thường dựa vào cổ to hay nhỏ để nhận xét sự kiện mỹ của con người, nếu cổ của nam giới quá nhỏ làm cho người ta cảm thấy thiếu khí phách của một đấng nam nhi vững vàng tràn đầy sinh khí. Thể hiện rõ anh chàng này không có khí thế gây cho nữ nhi cảm giác tin cậy là chỗ dựa có thể đảm bảo được an toàn cho gia đình. Ngược lại, nữ giới thì coi cổ ngọc thon thon làm cái đẹp, đương nhiên nếu cổ mảnh mai dài ngoẵng như cái sào thì làm cho người ta cảm thấy yếu ớt đến nỗi gío thổi bay và như vậy sẽ mất đi cái vẻ đẹp và sức hấp dẫn của nữ giới.
Xem cổ biết bệnh

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nhưng, cái cổ của người ta không những là một tiêu chí của vẻ đẹp cơ thể con người, mà nó còn là cái gương phản chiếu sức khoẻ con người. Điểm này có lẽ người biết không nhiều. Người có cái cổ thô, đem lại cảm giác thân thể cường tráng khoẻ mạnh cho con người, sức đề kháng của những người này rất tốt, khó bị lây bệnh; Những người có cái cổ dài, vì lượng hoạt động của nó vượt xa những người có cổ ngắn và thô, tính đàn hồi và tính dẻo dai của cơ bắp ở bộ phận cổ đều bị cường hoá, nên tương đối ít bị trúng phong. Đương nhiên, cái gọi là cổ thô, nhỏ, dài, ngắn, chủ yếu là nói về sự so sánh với thân thể người đó, giữa hai cá thể khác nhau, không thể so sánh một cách cứng nhắc, chỉ cần tương xứng với cơ thể bản thân mình, thì đó đều là chuyện bình thường. Ngoài ra, mối quan hệ giữa cổ dài, ngắn, to, nhỏ hữu quan nói trên với sức khoẻ con người, chẳng qua chỉ là một loại thống kê theo dõi hiện tượng mà thôi, tính chính xác của nó, còn đợi khoa học chưnbgs minh. Hiện nay, điều mà chúng ta nói ở đây là, quan hệ giữa khối u ở cổ với bệnh tật được chứng minh quan thực tiễn lâm sàng.

Khối u ở cổ là chỉ khối u lớn khác thường với hạch limphô ở cổ, hoặc khối bọc khác thường ở cổ. Bộ phận cổ là nơi phát hiện ra nhiều khối u của cơ thể. Theo tin trong nước, trong các khối u được làm sinh thiết để kiểm tra bệnh lý, khối u ở cổ chiếm8,07%. Bộ phận cổ dễ sinh ra khối u vì cổ là chỗ hội tụ limphô ở đầu vàở các nơi của toàn cơ thể, là đầu mối trong yếu của đường hô hấp và đường tiêu hoá, cũng là cửa khẩu quan trọng ngăn cản các vi sinh vật có hại như vi khuẩn chui vào cơ thể. Ngoài ra, bộ phận cổ là do ba loại tổ chức lớp phôi phát dục tạo thành, dễ phát ra các dị hình bẩm sinh và các khối u. Vì thế, hiểu được phương pháp kiểm tra khối u ở cổ và nguyên nhân bệnh có khả năng phát ra là rất có ích cho việc phát hiện sớm bệnh tật và bảo vệ sức khoẻ.

Phương pháp kiểm tra là: thông qua quan sát và sờ mó để kiểm tra có khối u hoặc cái gì khác thường hay không. Quan sát như thế nào? Người được kiểm tra phải lựa chọn nới có ánh sáng đầy đủ và đều đặn, cởi khuy áo cổ ra, để cho lộ hết cổ, ngồi hoặc đứng thẳng trước gương, đầu ngẩng lên, quan sát kỹ xem ở cổ có khối u khác thường nổi lên không, chú ý cả hai bên cổ xem có cân xứng hay không. Trên cổ người bình thường ở chính giữa có xương mềm giáp trạng lồi lên, gọi là hạch hầu; Ở hai bên, mỗi bên có một đường cơ bắp từ phía  trên ngoài hướng xiên vào phía dưới ở bên trong, gọi là cơ núm vú ôm lấy ngực (hung toả nhũ đột cơ) sau đó, quay đầu sang bên trái kiểm tra phía bên phải cổ, quay đầu sang bên phải, kiểm tra phía bên trái cổ. Cuối cùng, dùng một cái gương nhỏ đặt ở sau đầu, chiếu vào cái gương lớn kiểm tra ở một bộ phận phái sau gáy.

Sờ mó kiểm tra như thế nào ? Người được kiểm tra có thể dùng mặt của hai bàn tay theo trình tự trước sau, trên dưới, sờ mó vào các khu vực ở cổ. Sau khi phát hiện có khối u thì cần chú ý đến vị trí nông sâu, mầu da, độ di động, hình dạng, tính chất, độ to nhỏ, số lượng, cảm giác ấn đau của khối u ...

Khi người được kiểm tra quan sát hoặc sờ mó được các khối uở cổ, tiếp đó có thể căn cứ theo độ lớn bé, tính chất của khối u để có nhận xét sơ bộ đối với bệnh tật, để quyết định xem có cần phải đi bệnh viện để kiểm tra kỹ hay không. Ví dụ:

Khi bạn sờ dưới hàm, dưới cằm hoặc bên cạnh cổ thấy khối u hình tròn dẹp, tính trung bình, bề mặt nhẵn bóng, có thể di động, lúc to, lúc nhỏ, khi có khối u ấn nhẹ đau hoặc không đau (đồng thời chỗ miệng, họng, hầu v.v... thường có chứng viêm) thì thường là viêm hạch limphô mạn tính. Nếu khối u đỏ sưng, nóng, đau rõ rệt, thì thường là viêm hạch limphô cấp tính, sau khi bệnh nguyên phát mất đi, thì viêm hạch limphô cấp, mạn tính đều theo đó mà mất đi.

Khi bạn phát hiện  mới đầu là hạch limphô sưng to không đau, sau dần dần bị vỡ loét, hình thành từng vết sẹo chi chít và luôn luôn kéo dài ra xung quanh (giống như chuột đào, luôn luôn dưới da hình thành ngòi mụn nhọt, đường hang hốc, lở loét) đó là lao hạch limphô. Bệnh này thấy nhiều ở trẻ em sơ sinh và trẻ em ở tuổi mẫu giáo, những người trên 30 tuổi rất ít bị.

Khi bạn sờ mó vào hai bên khí quản phía dưới trước cổ khi khối u phần lớn là đơn chiếc, có đường ranh giới rõ ràng, bề mặt bóng nhẵn (đặc điểm của nó là có thể di động lên xuống theo họng khi nuốt vào thì phần nhiều là khối u của tuyến giáp trạng).

Khi bạn sờ mó vào  tuyến giáp trạng một bên to lên, trở nên cứng, bề ngoài nhấp nhô cao thấp khong phẳng. Khi gần đó còn sờ thấy hạch limphô sưng to, thì phải cảnh giác với khả năng bị ung thư tuyến giáp trạng.

Khi bạn sờ thấy khối u nằm ở chính giữa cổ phía trên hạch hầu, phần nhiều thấy hình tròn, bóng nhẫy (đặc điểm chủ yếu  là khi thè lưỡi ra thường thấy nó di chuyển theo lên phía trên), cái đó phần nhiều là sưng cái bọc xương lưỡi giáp trạng.

Khi bạn sờ thấy khối u hình tròn nằm dưới hàm, bóng nhẫy và mềm (đặc điểm là dùng tay ấn có thể làm nó biến dạng, những sau khi nới tay ra thì dần dần lại trở lại nguyên dạng), đó phần nhiều là sưng cái bọc ở dưới  da dưới hàm.

Khi bạn sờ thấy khối u cứng rắn nằm ở phía dưới dái tai, có ranh giới rõ ràng, to nhỏ không đều, đó thường là u nhọt hỗn hợp của tuyến nước bọt. Đó là một loại u lành, nhưng có khả năng trở nên xấu.

Khi bạn sờ thấy khối u cứng rắn nằm ở phía dưới dái tai, có ranh giới rõ ràng, to nhỏ không đều, đó thường là u nhọt hỗn hợp của tuyến nước bọt. Đó là một loại u lành, nhưng có khả năng trở nên xấu.

Khi bạn sờ thấy ở cổ có hạch limphô không đau, sưng to, nhiều nhóm, vả lại da bên ngoài bình thường, thì phải cảnh giác với khả năng ung thư tuyến dịch limphô.

Khi bạn ở thấy cổ có hạch limphô sưng to mà không đau, thường thường có kèm theo sốt, gan và lá lách sưng to, da có điểm xuất huyết, chân răng xuất huyết ... thì phải cảnh giác với khả năng bị bệnh máu trắng.

Khi bạn sờ thấy phía trên bên cổ, chỗ lõm trên xương quai xanh, tính chất khối u cứng rắn, bắt đầu là đơn chiếc, ấn không đau, có thể di động, theo sự tăng to tiến triển của khối u, có thể có nhiều u khác nữa hợp thành cụm, thành chuỗi, cố định, mặt ngoài khối u không thấy huyết quản đập thì cần phải cảnh giác với khả năng sưng hạch limphô di chuyển của khối u ác tính.

Mục đích của việc tự kiểm tra bộ phận cổ là để sớm phát hiện ra các khối u, người bình thường có thể 3 tháng kiểm tra kỹ một lần. Người trung niên và người già nếu không trở ngại, nên luyện thành thói quen: sau mỗi ngày ngủ dậy, dùng hai tay sờ nắn vào mặt và cổ, vừa làm cho đầu óc tỉnh táo, tăng thêm tuần hoàn máu ở mặt, lại vừa như là tự kiểm tra một lần đơn giản. Mới đầu, người kiểm tra đối với trường hợp bình thường của cổ có thể không hiểu được, nhưng sau lâu ngày thành quen, hễ thấy có khối u khác thường thì có thể rất nhạy cảm phát hiện ngay và kịp thời mời bác sĩ khám và điều trị.

Qua tự kiểm tra nghi có khối u ở cổ, không cần phải lo sợ, có thể đến bệnh viện tìm bác sĩ chuyên khoa khám và điều trị. Theo tin thức tài liệu cho hay, khối u ở cổ có thể do hơn 60 loại bệnh gây ra, dù là u nhọt gây ra, cũng có rất nhiều loại u lành. Nhưng thái độ coi thường khối u ở cổ, coi nó chỉ là viêm hạch limphô thôi và không cho là can hệ gì, điều đó cũng là không đúng. Nếu bạn thấy cổ có mọc khối u lớn nhanh, tính chất cứng rắn, bề ngoài không phẳng, có dạng khớp đốt, độ hoạt động kém, ranh giới không rõ, ấn không đau (khi chèn ép vào thần kinh thì có thấy đau), trường hợp đó thì nhất thiết không được bỏ qua mà phải cảnh giác với khả năng ung thư, phải nhanh chóng đến bệnh viện, kiểm tra xác định rõ tính chất để kịp thời điều trị.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem cổ biết bệnh

Nhà đâm ngõ ảnh hưởng đến tài vận và sức khỏe

Địa hình bên ngoài ngôi nhà là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tài vận và sự thịnh vượng của gia chủ. Theo phong thủy, khi nhà của bạn ở vào
Nhà đâm ngõ ảnh hưởng đến tài vận và sức khỏe

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Địa hình bên ngoài ngôi nhà là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tài vận và sự thịnh vượng của gia chủ. Theo phong thủy, khi nhà của bạn ở vào trường hợp bị đâm ngõ sẽ rất xấu.

Hình minh họa thế nhà đâm ngõ

Mọi chuyển động như xe chạy trên đường, người đi bộ, dòng sông chảy… đều kéo theo vận khí. Khi ngôi nhà nằm trên hướng lao tới của vận khí thì sẽ bị ảnh hưởng. Cho dù là loại vận khí tốt thì ngôi nhà cũng như người bị “bội thực”, nếu vận khí xấu thì càng tệ hại hơn. Tuy nhiên, độ xấu sẽ giảm đi hoặc không còn khi nhà quá lớn và bề thế so với con đường.

Xét mức ảnh hưởng của con đường với ngôi nhà: xấu nhất khi đường hướng vào trung tâm nhà, tiếp đến là hướng vào cửa; đường hướng vào phía bên phải ngôi nhà sẽ xấu hơn là hướng vào bên trái.

Nếu con đường dài và lớn, các vật chuyển động trên đó nhiều, tốc độ cao thì rất xấu. Nếu đường vắng vẻ, chỉ có người đi bộ thì mức độ ảnh hưởng tới ngôi nhà sẽ giảm đi.

Thông thường, cách khắc phục hiện tượng nhà đâm ngõ là sử dụng bình bình phong án ngữ hoặc dựng trước nhà một hòn non bộ giả sơn… nếu đất rộng và có khoảng sân.

Nếu có thể thì nên di chuyển cửa để đường không đâm thẳng vào cửa.

Các nhà có phong thủy chưa tốt thường dùng gương gắn trước nhà để phản bớt vận khí. Đó là một cách phần nào hạn chế được điều xấu.

(Theo Nhadat)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nhà đâm ngõ ảnh hưởng đến tài vận và sức khỏe

Phong tục Xông đất và cách chọn người hợp tuổi năm 2017

Xem tuổi xông đất năm 2017 để chọn tuổi xông nhà năm 2017 đúng mệnh của Gia chủ, tìm hiểu nguyên tắc cơ bản lựa chọn tuổi xông nhà tuổi xông đất người xưa

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

xem tuổi xông nhà năm 2017

Văn hóa của người Á Đông nói chung và người Việt nói riêng, ngày mùng Một đầu năm mới hết sức thiêng liêng và quan trọng. Mọi người đều giữ gìn từ lời ăn, tiếng nói cho đến việc đi lại, thăm hỏi lẫn nhau. Ngay sau thời khắc chuyển giao giữa năm cũ với năm mới, vận thế của mỗi người và ngôi nhà mà họ sống trong đó được coi là hoàn toàn đổi mới, người bước chân vào nhà sẽ là sứ giả mang theo những điều tốt lành cho gia chủ và những thành viên trong nhà. Đó gọi là tục xông đất, xông nhà hay đạp đất.

Người Việt tin rằng việc xông đất ảnh hưởng sâu sắc tới vận mệnh, công việc làm ăn của gia đình trong cả năm. Bởi vậy, các bậc cao niên rất thận trọng đối với người đầu tiên đến nhà. Việc chọn người đến xông đất đầu năm được lựa chọn kỹ càng, tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể. Nếu có nhiều điều kiện để lựa chọn, người chủ nhà thường xem xét nhiều yếu tố như: hợp tuổi với gia chủ, vận hạn năm nay tốt đẹp, có nhân cách tốt, tính tình vui vẻ, hòa hiếu. Hoặc năm nay những người quen không được tuổi, người chủ nhà sẽ lựa người đức cao, tính tốt, hiền lành là được. Cẩn thận hơn, không tìm được người phù hợp, gia chủ có thể tự mình xông đất trong năm nay.

Cách chọn tuổi xông đất xông nhà thích hợp

Có nhiều cách để tính tuổi xông đất, nhưng cơ bản nhất thì mọi người hay tìm người tam hợp hoặc lục hợp với tuổi của mình. Dưới đây là bảng 12 con giáp và bảng tra tam hợp, lục hợp

Sửu Dần Mão Thìn Tỵ Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi
Lục hợp Sửu Hợi Tuất Dậu Thân Mùi Ngọ Tỵ Thìn Mão Dần
Tam hợp Thân Tỵ Ngọ Hợi Thân Dậu Dần Hợi Tỵ Dần Mùi
Thìn Dậu Tuất Mùi Sửu Tuất Mão Thìn Sửu Ngọ Mão

Hàng trên cùng là tuổi của gia chủ theo Địa Chi, hàng thứ 2 và thứ 3 là tuổi của khách lục hợp hoặc tam hợp với gia chủ.

Ví dụ: tuổi gia chủ là Tý, lục hợp là tuổi Sửu, tam hợp là tuổi Thân và Thìn. Những người khách hợp với gia chủ tuổi Tý là tuổi Sửu, tuổi Thần và tuổi Thìn.

Cách xem thủ công chỉ xét có một yếu tố Địa Chi trong những yêu tố liên quan đến Âm Dương Ngũ Hành và không thay đổi theo từng năm. Ngoài ra khi chọn cũng cần phải xem những tuổi kỵ với mình. Để chính xác và chi tiết theo ngày tháng năm sinh gia chủ và năm 2017 Đinh Dậu, bạn có thể sử dụng tiện ích Xem tuổi Xông đất 2017 trên trang web tra cứu của Xem Tướng chấm net

Chọn người xông đất xông nhà cho công việc quan trọng

Năm mới đến, mỗi nhà đều có những công việc quan trọng cần phải làm trong năm như cưới hỏi, nhận chức, có thêm con, thêm cháu hoặc con em trong nhà chuẩn bị thi vượt cấp, thi đại học v.v.v Với những nhà Phong thủy, áp dụng các triết lý về Âm Dương và Ngũ Hành có thể chọn tuổi Xông Đất để giúp chủ nhà cầu phúc đức, cầu tài lộc, cầu quan lộc hay cầu khoa bảng.

– Cầu phúc đức: chọn tuổi xông đất giúp gia chủ năm nay thêm nhiều phúc phận. Những gia đình có con cháu trong nhà nay đã thành đạt hết, muốn vun đắp cây phúc để mang lại những điều tốt lành, bình an thường sử dụng cách này.

– Cầu tài lộc: chọn tuổi xông nhà giúp gia đình năm nay có thêm của cải, vật chất. Những gia đình mong muốn năm nay tài chính được tốt hơn, có của ăn của để, buôn bán thuận buồm xuôi gió thường sử dụng cách này,

– Cầu quan lộc: xem tuổi xông đất giúp con cháu trong nhà năm nay đường công danh, sự nghiệp được tươi tốt, hưng thịnh.

– Cầu khoa bảng: xem tuổi đất giúp con cháu trong nhà năm nay liên quan đến việc thi cử, khoa bảng đều hanh thông, không gặp phải những chắc trở không đáng có.

– Đón lộc đầu năm: Xác định hướng đặt cây cảnh, cây đào, cây quất, cây mai ngày Tết để rước lộc đầu năm vào nhà theo tuổi Gia chủ

Văn hóa Việt và những câu chúc đầu xuân

Câu chúc Tết là lời mở đầu khi mọi người gặp nhau vào những ngày Tết. Đối với những bậc cao niên, lời chúc thường là “Bách niên giai lão”, đối với cha mẹ là “sức khỏe và bình an”, đối với anh chị em thì “hạnh phúc, may mắn” và với cháu chắt là “chăm ngoan, học giỏi”. Câu chúc đầu xuân tùy đối tượng mà áp dụng cho phù hợp. Đối với những người đi xông đất, thường đã biết trước ý muốn của gia chủ mà chuẩn bị những câu chúc tết đúng ý của chủ nhà.

Câu chúc tết thì muôn hình muôn vẻ, có thể chỉ là những câu nói bình thường như:

“Chúc mừng năm mới. Chúc toàn gia năm nay mạnh khỏe, làm ăn phát đạt, mọi sự đều như ý.”

Hoặc những câu có vần hơn:

“Chúc mừng năm mới. Đa lộc, đa tài, đa phú quý. Đắc thời, đắc thắng, đắc nhân tâm.”

Người hay văn thơ thì đọc thơ chúc tết cho gia chủ:

Cung kính mời nhau chén rượu nồng. 
Chúc mừng năm đến, tiễn năm xong. 
Tân niên phúc lộc khơi vừa dạ. 
Xuân mới tài danh khởi thỏa lòng. 
Vạn chuyện lo toan thay đổi hết. 
Sự gì bế tắc thảy hanh thông. 
Như anh, như chị, bằng bè bạn. 
Ý nguyện, duyên lành, đẹp ước mong.

Anh chị em, bạn bè đã có gia đình, câu chúc cũng mang nét trẻ trung

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua. 
Phúc lộc đưa nhau đến từng nhà. 
Vài lời cung chúc tân niên mới. 
Vạn sự an khang vạn sự lành.

Hoặc những câu vui vẻ, hiện đại:

“Chúc mọi người năm mới, tiền vào bạc tỉ, tiền ra rỉ rỉ, miệng cười hi hi, vạn sự như ý, cung hỉ, cung hỉ!” 

Còn những bạn trẻ chúc nhau bằng những câu vui nhộn, dí dỏm như:

“Chúc bạn: 12 tháng phú quý, 365 ngày phát tài, 8760 giờ sung túc, 525600 phút thành công 31536000 giây vạn sự như ý”

Và đầy ẩn ý, hóm hỉnh:

Năm mới, chúc bạn 4 chữ vàng để sống:
Sống cho lẽ PHẢI
Sống cho chân THẬT
Sống biết kiên NHẪN
Sống bằng lương TÂM

Hay theo nét văn hóa cổ truyền, tặng cho chủ nhà những câu đối tết hay:

• 1
Lộc biếc, mai vàng, xuân hạnh phúc
Đời vui, sức khoẻ, tết an khang

• 2 
Trời thêm tuổi mới, người thêm thọ
Xuân khắp dương gian, phúc khắp nhà

• 3 
Già trẻ gái trai đều khoái Tết
Cỏ cây hoa lá cũng mừng xuân

• 4 
Tết trong nhà, Tết ra ngoài phố
Lộc trên trời, lộc xuống nhân gian

• 5 
Xuân sang cội phúc sinh nhành lộc
Tết về cây đức trổ thêm hoa

• 6 
Mai vàng nở rộ mừng năm mới
Đào hồng khoe sắc đón xuân sang

• 7 
Cạn ly mừng năm qua đắc lộc
Nâng cốc chúc năm mới phát tài

• 8 
Tối Ba mươi đá thằng Bần khỏi cửa
Sáng mồng một nghênh ông Phúc vào nhà

• 9 
Xuân an khang đức tài như ý
Niên thịnh vượng phúc thọ vô biên

• 10 
Xuân đáo bình an tài lợi tiến
Mai khai phú quý lộc quyền lai

• 11 
Chúc Tết đến trăm điều như ý
Mừng xuân sang vạn sự thành công

• 12 
Tăng phúc tăng quyền tăng phú quý
Tấn tài tấn lộc tấn vinh hoa

• 13 
Xuân sang hạnh phúc bình an đến
Tết tới vinh hoa phú quý về

• 14 
Tân niên tân phúc tân phú quý
Tấn tài tấn lộc tấn bình an

• 15 
Ngoài ngõ mừng xuân nghênh phúc lộc
Trong nhà vui Tết đón bình an

• 16 
Trai gái cười vui mừng đón Tết
Trẻ già hoan hỉ đón xuân sang

• 17 
Tết đến gia đình vui sum họp
Xuân về con cháu hưởng bình an

(Xem Tướng chấm net)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phong tục Xông đất và cách chọn người hợp tuổi năm 2017

8 mẹo nhỏ phong thủy giúp bạn sớm tăng lương

Sỏi tuy đẹp nhưng không tốt cho phong thủy văn phòng. Nhiều người thích đặt những hòn đá, viên sỏi xinh xắn lên bàn làm việc nhưng không biết rằng âm khí của đá rất nặng. Tốt nhất hãy loại bỏ chúng.
8 mẹo nhỏ phong thủy giúp bạn sớm tăng lương

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Thật tuyệt với nếu được nhận mức lương cao và ngày càng cao! Ngoài sự nỗ lực của bản thân, phong thủy có thể giúp bạn qua một vài bí kíp sau:

1. Đặt cây xanh trong phòng làm việc

Cạnh chỗ ngồi hoặc trên bàn làm việc, bạn có thể đặt chậu cây nhỏ. Nên chọn loại cây lá to, với ý nghĩa cầu mong tài lộc sinh sôi.

8 mẹo nhỏ giúp tăng lương nhanh chóng

2. Treo tranh

Không gian văn phòng luôn cứng nhắc hơn so với ngôi nhà thân yêu của bạn. Bởi vậy, hãy làm “mềm” bằng cách treo bức tranh tươi sáng, ấm cúng. Nó sẽ giúp bạn giảm áp lực và hoàn thành công việc một cách hiệu quả. Điều này đồng nghĩa với việc bạn dễ dàng đạt mục tiêu tăng lương.

3. Đặt đồ đạc phía bên trái

Tránh đặt đồ vật phía bên tay phải của bạn vì nếu bị cản trở sẽ ảnh hưởng đến cơ hội nắm bắt tiền tài. Vì vậy, nên bài trí đồ vật bên phía tay trái của bạn.

4. Quạt gió

Không khí lưu thông tốt khiến con người cũng dễ chịu hơn. Hãy đặt lên bàn làm việc chiếc quạt nhỏ. Sự dễ chịu khiến bạn luôn cởi mở với đồng nghiệp và có nhiều mối quan hệ tốt, điều đó sẽ thu hút sự chú ý của sếp.

5. Đèn

Hãy chọn loại đèn đế cao để có thể chiếu rọi chỗ bạn ngồi, nhiệt lượng tỏa ra từ sẽ đó tạo không gian ấm cúng. Nơi này cũng sẽ thu hút được nhiều người. Chỗ nhiều người tìm đến cũng chính là chỗ tiền tài đến.

6. Tránh vật sắc nhọn

Những vật sắc nhọn thường mang lại “ám khí”, tốt nhất hãy loại bỏ chúng khỏi bàn làm việc.

7. Tránh đặt đá trên bàn làm việc

Sỏi tuy đẹp nhưng không tốt cho phong thủy văn phòng. Nhiều người thích đặt những hòn đá, viên sỏi xinh xắn lên bàn làm việc nhưng không biết rằng âm khí của đá rất nặng. Tốt nhất hãy loại bỏ chúng.

8. Không đối diện với góc nhọn

Điều này có lẽ không còn xa lạ với nhiều người, nếu đối diện với góc nhọn (góc bàn, góc tường, góc tủ…), cơ hội tiền tài khó "mỉm cười" với bạn.

Theo Phong Thủy Đời Sống


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 8 mẹo nhỏ phong thủy giúp bạn sớm tăng lương

Văn khấn trước khi lau dọn bàn thờ

Vào ngày 23 tháng Chạp hàng năm, người Việt có tục lệ lau dọn bàn thờ.Tuy nhiên, trước khi thực hiện, phải thắp hương xin phép các cụ, xin phép tổ tiên.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Vào ngày 23 tháng Chạp hàng năm, người Việt có tục lệ lau dọn bàn thờ, rút chân hương, sửa sang lại bàn thờ để chuẩn bị cúng lễ Tết. Tuy nhiên, trước khi thực hiện công việc này, ít người nghĩ tới việc phải thắp hương xin phép các cụ, xin phép tổ tiên.

van-khan-lau-ban-tho

Lưu ý.

Khi lau dọn bàn thờ, bạn nên dùng nước ấm, rượu hoặc nước gừng để lau chùi đồ thờ cúng và trước khi làm việc này thì cần phải thắp hương và cúng khấn xin phép gia tiên.

Bài khấn:

Nam mô a di Đà Phật!
Nam mô a di Đà Phật!
Nam mô a di Đà Phật!

Con xin tấu lạy Chín phương Trời, Mười phương chư Phật, chư Phật Mười phương

Con xin tấu lạy vua cha Ngọc Hoàng thượng đế, Hoàng thiên hậu thổ, ngũ phương ngũ thổ, long mạch thổ, thần Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân.

Tín chủ con là:………………

Ngụ tại:………………….

Con xin tấu lạy vong linh các cụ gia tiên cửu huyền thất tổ, bà tổ cô và các bà cô các đời, ông mãnh, cô bé đỏ, cậu bé đỏ dòng họ .... tại…… (địa chỉ nhà ở, quê).

Hôm nay là ngày 23 tháng Chạp năm … ,con xin phép được bao xái lại bàn thờ gia tiên để cho sạch sẽ để tiễn năm cũ,đón năm mới tới, mong chư vị Phật Thánh, các cụ gia tiên tiền tổ, bà tổ cô, ông mãnh, cô bé đỏ, cậu bé đỏ của họ … chấp thuận.

Nam mô a di Đà Phật!
Nam mô a di Đà Phật!
Nam mô a di Đà Phật!

Sau hơn nửa tuần nhang thì bạn có thể tiến hành vệ sinh bát nhang và ban thờ.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Văn khấn trước khi lau dọn bàn thờ

Văn Khấn Động Thổ dùng khi làm nhà

Văn Khấn Động Thổ dùng khi làm nhà - việc quan trọng. Để những người sống trong ngôi nhà mới xây cất được khỏe mạnh, gặp mọi sự may mắn tốt lành
Văn Khấn Động Thổ dùng khi làm nhà

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Văn Khấn Động Thổ dùng khi làm nhà. Theo ông bà ta xưa làm nhà là một trong những việc quan trọng nhất của một đời người. Để những người sống trong ngôi nhà mới xây cất được khỏe mạnh, gặp mọi sự may mắn tốt lành thì khi tiến hành làm nhà nhất thiết phải tuân thủ một số nghi thức quy định về mặt phong thuỷ như:

  • chọn ngày tốt (Hoàng đạo, Sinh khí, Lộc mã, Giải thần. …)
  • tránh ngày xấu (Sát chủ, Thổ cấm, Trùng tang, Hùng phục…..)
  • và phải chọn giờ tốt để làm lễ động thổ (lễ cúng Thần Đất) để xin được làm nhà trên mảnh đất đó.

Sắm lễ cúng Động Thổ

Trong lễ động thổ ngày xưa phải cúng tam sinh, ngày nay đơn giản hơn, nhưng phải là con gà, đĩa xôi, hương, hoa quả, vàng mã… Sau khi làm lễ gia chủ là người cầm cuốc bổ những nhát đầu tiên, trình với Thổ thần xin được động thổ, tiếp sau đó, mới cho thợ đào. Trước khi khấn phải thắp nén nhang vái bốn phương, tám hướng rồi quay mặt vào mâm lễ mà khấn.

Văn Khấn Động Thổ

Nam mô A Di Đà Phật!
Nam mô A Di Đà Phật!
Nam mô A Di Đà Phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

– Con kính lạy Hoàng thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

– Con kính lạy Quan Đương niên.

– Con kính lạy các Tôn phần bản xứ.

Tín chủ (chúng) con là:……………. Ngụ tại:……………

Hôm nay là ngày… tháng….năm….. tín chủ con thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương, dâng lên trước án, có lời thưa rằng:

Hôm nay tín chủ con khởi tạo…. (nếu cất nóc thì đọc là cất nóc, nếu xây cổng thì đọc là xây cổng, nếu chuyển nhà thị đọc là chuyển nhà) ngôi đương cơ trụ trạch để làm nơi cư ngụ cho gia đình con cháu.

Nay chọn được ngày lành tháng tốt, kính cáo chư vị linh thần, cúi mong soi xét và cho phép được động thổ (hoặc cất nóc).

Tín chủ con lòng thành lễ vật dâng lên trước án thành tâm kính mời: ngài Kim Niên Đường Thái tuế chí đức Tôn thần, ngài Bản cảnh Thành hoàng Chư vị Đại vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài định phúc Táo quân, các ngài Địa chúa Long Mạch Tôn thần và tất cả các vị Thần linh cai quản trong khu vực này.

Cúi xin các Ngài giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho chúng con được vạn sự tốt lành, công việc hanh thông, Chủ thợ được bình an, ngày tháng hưởng phần lợi lạc, âm phù dương trợ, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm. Tín chủ lại xin phổ cáo với các vị Tiền chủ, Hậu chủ và các vị Hương linh, cô hồn y thảo phụ mộc, phảng phất quanh khu vực này, xin mời các vị tới đây thụ hưởng vật, phù trì tín chủ, cũng như chủ thợ đôi bên khiến cho an lạc, công việc chóng thành, muôn sự như ý.

Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Văn Khấn Động Thổ dùng khi làm nhà

Những lưu ý phong thủy nhà ở tốt cho bà bầu

Hoài thai chín tháng mười ngày là quá trình dài dằng dặc, ngoài chế độ dinh dưỡng và tập luyện, còn cần lưu tâm tới phong thủy nhà ở tốt cho bà bầu.
Những lưu ý phong thủy nhà ở tốt cho bà bầu

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Hoài thai chín tháng mười ngày là quá trình vừa hạnh phúc vừa dài dằng dặc, ngoài chú ý chế độ dinh dưỡng và tập luyện, còn cần lưu tâm tới phong thủy nhà ở tốt cho bà bầu để mẹ khỏe con ngoan. Hoàn cảnh sống, bố cục trong nhà sẽ có tác động rất lớn tới phụ nữ mang thai nên không thể chủ quan được.

Nhung luu y phong thuy nha o tot cho ba bau hinh anh 2
 

1. Phong thủy nhà ở tốt cho bà bầu

  Phụ nữ có thai coi trọng nhất là nạp khí nên khi bố trí phong thủy nhà ở thì trọng điểm nhất chính là đón khí lành, hứng dương khí và vượng khí. Nhà có người mang thai phải đầy đủ ánh mặt trời, duy trì nhiệt độ và ánh sáng thích hợp, không nên để nhà âm u, tối ám, ẩm thẩm. Xem thêm bài viết Đón cát tránh hung với những lưu ý phong thủy nhà ở năm 2017 (phần 1)   Mặt khác, nhà ở nói chung và phòng của bà bầu nói riêng nhất định phải có nhiều cửa sổ để thoáng đãng, duy trì không khí thông suốt. Đặc biệt trong mùa hè, bà bầu không nên vì ngại không khí nóng bức ngoài trời mà ở trong phòng điều hòa khép kín thời gian dài, rất bất lợi đối với sức khỏe.   Những phương vị mấu chốt trong phong thủy nhà ở tốt cho bà bầu là hướng chính Đông và hướng Tây Nam. Ở hướng chính Đông bày ra đồ vật trang trí có màu xanh lục sẽ thúc vượng hỉ khí, để thai nhi càng thêm khỏe mạnh thông minh. Ở hướng Tây Nam đặt chậu cây thủy sinh hoặc bể cá trang trí có thể nâng cao năng lượng tốt trong nhà, thuận lợi cho việc ra đời của đứa trẻ.  

2. Cấm kị phong thủy nhà ở cho bà bầu


Nhung luu y phong thuy nha o tot cho ba bau hinh anh 2
 
Đối với phụ nữ mang thai, phong thủy nhà ở giống như thân thể, không thể dễ dàng thay đổi, xáo trộn. Để loại trừ những nhân tố bất lợi, không gây ra những sự việc đáng tiếc thì tốt nhất là duy trì nguồn năng lượng ổn định trong nhà. Thông thường, ngôi nhà mà chủ nhân có thể thụ thai thành công thì sẽ không tồn tại vấn đề gì quá lớn nên đừng đột ngột sắp xếp lại để tránh phiền phức không đáng có.    Nhà có phụ nữ mang thai không nên trang trí lại, cải tạo, động thổ hoặc thay đổi phòng ốc thậm chí là di chuyển giường, đặt lại vòi nước cũng hết sức hạn chế. Quan trọng hơn là nhiều phụ nữ khi mang thai muốn di chuyển vị trí, trở về quê hoặc về nhà mẹ đẻ dưỡng thai. Xem thêm bài viết Hướng giường ngủ cho mẹ bầu khỏe mạnh   Thực tế, thai nhi đã quen với hoàn cảnh thai nghén, trưởng thành trong môi trường đó mà nay tùy tiện thay đổi hoàn cảnh mới không tránh khỏi xáo động về năng lượng. Thai nhi chưa thích nghi được với môi trường mới, chưa kể phong thủy nơi ở mới chưa chắc đã phù hợp, có thể mang tới những nguy hiểm cho đứa trẻ.  

3. Trang trí nhà ở cho bà bầu theo phong thủy


Nhung luu y phong thuy nha o tot cho ba bau hinh anh 2
 
Không ít người thích bày những vật trang trí trong nhà để làm đẹp, tăng mĩ quan hoặc đón cát tránh hung, mang ý nghĩa phong thủy. Tuy nhiên không phải thích gì bày nấy, tùy tiện ném loạn, bày sai đồ hoặc sai vị trí thì ngược lại đẹp đâu, tốt đâu không thấy mà sẽ gây hại. Đặc biệt với nhà có phụ nữ mang thai thì bày bất cứ đồ vật gì cũng nên hết sức thận trọng.   Phong thủy nhà ở tốt cho bà bầu nên ưu tiên bày trí những sản phẩm đơn giản, tươi sáng, mang tới cảm giác tích cực, tươi vui. Ví dụ như bức tranh, bức ảnh phong cảnh đẹp, tranh mặt trời mọc, tranh trẻ nhỏ mỉm cười. Màu sơn tường tốt nhất cũng chọn những màu nhã nhặn và hài hòa như hồng nhạt, vàng nhạt, trắng, xanh da trời,… Tránh tuyệt đối các yếu tố liên quan tới động vật như tranh động vật, sừng, da, xương động vật trong nhà. Xem thêm bài viết Chọn tranh phong thủy cát tường đúng chuẩn, phúc lộc lâm môn   Mặt khác, tỳ hưu, sư tử, hổ, voi, kiếm, chuông gió tuy là vật phẩm phong thủy cát tường nhưng lại không thích hợp bày trong nhà của thai phụ. Không những khiến mẹ bất an, khó chịu mà còn ảnh hưởng bất lợi tới thai nhi, có thể tạo thành sát khí đối với đứa trẻ.
5 kiểu người cần tránh giao tiếp khi bạn đang bầu bí Thuận theo phong thủy sinh con năm 2017, ắt sinh quý tử Đinh Dậu Giúp vợ chồng hiếm muộn cầu tự thành công với 4 mẹo phong thủy
Trần Hồng
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những lưu ý phong thủy nhà ở tốt cho bà bầu

Đủ mẹo ‘trục xuất’ ngay nguồn năng lượng tiêu cực khỏi nhà bạn

Bởi không còn điều gì tồi tệ hơn việc cảm thấy tù túng trong chính ngôi nhà của mình!

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Mọi người đôi khi phải trải qua những ngày chủ nhật đầy buồn chán và tẻ nhạt trong nhà. Nhưng nếu bạn cảm thấy mái ấm của mình thường xuyên đắm chìm trong không khí ảm đạm, u sầu, thì đây là thời gian để rũ bỏ những xúc cảm tiêu cực, buồn rầu và tuyệt vọng mà có thể gây ảnh hưởng sâu sắc tới tâm trạng của bạn và những thứ khác. Hãy tin chúng tôi, bạn sẽ muốn thử những kĩ thuật này tại nhà.

1. Hãy để không khí vào trong nhà.

Bước đầu tiên để nói tạm biệt với luồng khí xấu đó là: “Mở tất cả các cửa sổ và tạo cơ hội cho không khí có thể lùa vào, ngay cả khi ngoài trời đang đóng băng.” theo Silvia Christmann, một chuyên viên thuộc trung tâm Growth and health and happiness. “Không khí trong lành là tất cả” Cùng lúc đó, bạn có thể giũ chăn và gối để xua đi những bụi bẩn cũng như sự xấu xa, xui xẻo.

2. Đốt hương.

Mùi khói hương bấy lâu nay đã gắn liền với tâm linh và thiền định - vậy tại sao chúng ta lại không thử nó ở nhà? Christmann nói rằng điều đó sẽ giúp gia tăng năng lượng tốt. “Nag champa (một loại hương thơm có nguồn gốc từ Ấn Độ) được sử dụng bởi nó giúp tạo ra một bầu không khí yên tĩnh và thanh tịnh.” - Cô ấy nói.

du meo ‘truc xuat’ ngay nguon nang luong tieu cuc khoi nha ban - 1

Khói hương mang lại bầu không khí thanh tịnh (Ảnh minh hoạ)

3. Hãy kịp thời sửa chữa hoặc vứt bỏ những đồ dùng hỏng.

Mặc dù có thể bạn đã từng phải cất công sửa chiếc ghế bị hỏng, điều đó thực sự không đáng chút nào. “Những thứ bị hỏng mang lại năng lượng tù túng và tiêu cực cho căn nhà của bạn.” - theo Anjie Cho, chuyên gia về phong thuỷ và sinh hoạt, người sáng lập ra Holistic Spaces.

4. Xịt tinh dầu cam khắp ngôi nhà.

Bạn đã từng liên tưởng đến những nụ cười và ánh nắng mặt trời khi ngửi thấy hương cam? Điều này xảy đến với rất nhiều người. “Nó không chỉ xoá bỏ các năng lượng tiêu cực, mà còn giúp nâng cao tinh thần cho bạn.” - Anjie Cho nói. “Bạn có thể nhỏ vài giọt tinh dầu vào nước hoặc sử dụng bình xịt tinh dầu.”

5. Dọn dẹp đống bừa bộn càng sớm càng tốt.

Chắc hẳn sau khi dọn dẹp đống lộn xộn, bạn cảm thấy thật thoải mái? Lý do bởi “Các vật chất giữ lại rất nhiều năng lượng và chất, tinh thần, tình cảm và yếu tố tâm linh chặn ‘đường tiến’ của chúng ta về phía trước.” - theo Maureen Calamia, cố vấn về phong thuỷ. Và như đã đề cập, thực sự đống bừa bộn khiến bạn vô cùng mệt mỏi và căng thẳng đúng không?

6. Đốt cây xô thơm.

Một kĩ thuật của người dân Mỹ bản địa để xua đuổi khí xấu là đốt cây xô thơm, sau đó thổi tắt ngọn lửa. “Khói là những gì bạn cần để làm trong sạch căn nhà.” -Trích lời Calamia. “Tôi luôn bắt đầu tại cửa trước và di chuyển khắp xung quanh nhà theo chiều kim đồng hồ.” Sau khi ‘hun khói’ toàn bộ ngôi nhà, hãy tưởng tượng rằng mọi ngóc ngách trong căn nhà đều được ‘dọn dẹp’ bởi làn khói.

 du meo ‘truc xuat’ ngay nguon nang luong tieu cuc khoi nha ban - 2

Cây xô thơm giúp xua đuổi khí xấu (Ảnh minh hoạ)

7. Bảo vệ ngôi nhà bằng những viên pha lê.

Điều đáng tiếc là bạn không thể tự ý lựa chọn màu sắc cho chúng. “Black Touraline được biết tới như giúp tiêu hủy và ngăn ngừa những nguồn năng lượng tiêu cực,” - Theo lời Christmann. “Trong khi đó Rose Quartz thay thế những cảm xúc và suy nghĩ tiêu cực bằng những thứ tích cực.” Cô gợi ý hãy giữ những viên pha lê lại gần những thiết bị điện tử nếu có thể.

8. Hãy rung những chiếc chuông trong căn phòng.

Nghe thì thật đơn giản phải không ? “Chỉ cần đặt một chiếc chuông nhỏ nơi các góc phòng và lối đi” - Theo lời chuyên gia tâm linh Melissa Mattern. “Tiếp đó, tập trung các suy nghĩ trong đầu vào những tiếng chuông để khiến tâm hồn thanh tịnh, giúp đuổi các vận xui, khí xấu và đón nhận những điều tốt đẹp, may mắn.”

9. Sơn tường màu vàng.

Màu sắc đóng vai trò nòng cốt trong ngôi nhà của bạn. Và theo ý kiến của nhà thiết kế nội thất Ana Zuravliova, màu vàng giúp triệt tiêu những năng lượng xấu. “Từ quan điểm của một nhà thiết kế nội thất, màu này sẽ khiến không gian trở nên thoáng đãng cũng như giúp căn phòng có một tông màu ấm.” - Cô chia sẻ.

10. Rắc muối ở mỗi góc phòng.

Để hấp thụ những năng lượng xấu từ người chủ trước, những chuyên gia của Energy Muse khuyên bạn nên sử dụng muối để rải tại bốn góc mỗi phòng, sau đó để yên. Sau 48 giờ, sử dụng máy hút bụi hoặc chổi để lau sạch các căn phòng cùng bụi bẩn.

11. Luôn bắt đầu bằng công việc dọn dẹp.

Khi một ai đó mua nhà mới, Colin T.McDonald, một người bán hàng tại NYS Licensed Real Estate, luôn luôn đưa ra lời khuyên rằng hãy lau dọn ngôi nhà sạch sẽ trước khi chuyển đồ đạc tới. “Điều này giúp tiêu trừ những vận xui từ người chủ cũ” - Ông nói.

12. Cất những đồ dùng sắc nhọn.

Một trong những luật quan trọng nhất trong phong thủy là cất giữ càng nhiều các vật góc cạnh, sắc nhọn xung quanh ngôi nhà càng tốt. Zuraviliova chấp nhận rằng điều này không bao giờ là dễ, nhưng chúng đáng công để thực hiện. “Sử dụng những bóng đèn hình cầu hoặc trang trí nhà cửa bằng những vật dụng hình tròn, như những bình hoa, hộp đựng trang sức và những chiếc bàn tròn, sẽ khiến việc hấp thụ năng lượng tốt của ngôi nhà trở nên nhanh chóng và thuận lợi hơn.” - Cô chia sẻ.

13. Sử dụng nhiều gương hơn.

Để gia tăng nguồn năng lượng tích cực (được biết tới với cái tên Khí), hãy đặt gương xung quanh nhà - nhưng hãy cẩn thận với những chiếc có góc cạnh. “Bằng cách này, không chỉ ngôi nhà bạn đón nhận nhiều Khí hơn, mà đầu óc cũng trở nên thanh thản”. Theo lời của Zuravliova.

14. Luôn sử dụng những loại màu sắc trung lập.

Hãy nghĩ về điều đó: những tông màu tối, hoặc giàu màu sắc thể hiện nhiều cá tính khác nhau. Nhưng đôi khi, khi mà bạn đã hoàn toàn mất kiểm soát bởi những thứ xảy ra trong cuộc sống, những thứ màu sắc đó sẽ làm hại bạn bằng cách gây ra stress và cảm giác không thoải mái. “Hãy loại bỏ bất cứ thứ gì tối màu mà có thể mang cảm giác tiêu cực và khiến không gian trở nên nhỏ hơn so với thực tế.” - Trích lời McDonald.

 du meo ‘truc xuat’ ngay nguon nang luong tieu cuc khoi nha ban - 3

Màu sắc trung lập giúp tạo cảm giác thoải mái (Ảnh minh hoạ).

15. Bảo vệ các lối ra vào.

Cửa ra vào và cửa sổ đóng vai trò như những lối đưa nguồn năng lượng tốt vào ngôi nhà. Để giữ những nơi này thoáng đãng và sạch sẽ, những chuyên gia tại Energy Muse khuyên hãy sử dụng một chiếc xô (hoặc chậu) chứa đầy hỗn hợp nước và nước chanh, muối cùng giấm, sau đó vẩy lên tay nắm cửa và cửa sổ. Sau đó, rải muối tinh lên các cửa ra vào và cửa sổ, có thể dùng thảm chùi chân để che đậy (lý do là để ngăn chặn những điều xui xẻo bén mảng tới ngôi nhà).


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đủ mẹo ‘trục xuất’ ngay nguồn năng lượng tiêu cực khỏi nhà bạn

Những tướng ngồi bộc lộ cá tính và con người phái đẹp

Dáng đi, đứng, tướng ngồi của mỗi người cũng phần nào bộc lộ cá tính, con người cũng như dự đoán về vận mệnh, tương lai.
Những tướng ngồi bộc lộ cá tính và con người phái đẹp

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

– Dáng đi, đứng, ngồi của mỗi người cũng phần nào bộc lộ cá tính, con người cũng như dự đoán về vận mệnh, tương lai. Bạn có thể đối chiếu các kiểu ngồi dưới đây để hiểu thêm về bản thân mình nhé.


► Xem nốt ruồi trên mặt phụ nữ đoán tính cách chuẩn xác
  1. Ngồi khép hai chân, 1 chân hơi nghiêng   Chủ nhân của tướng ngồi này khá dịu dàng, thanh lịch. Thêm nữa, bạn có tố chất nghệ thuật và phong cách nghệ sĩ. Dù xuất thân trong hoàn cảnh như thế nào đi nữa, mọi người vẫn cảm thấy vẻ quý phái toát lên ở bạn.    Bạn có khá nhiều bạn bè, thậm chí cả những người không ưa bạn vẫn chẳng thể phủ nhận sức cuốn hút ở bạn.  
Nhung tuong ngoi boc lo ca tinh va con nguoi phai dep hinh anh
 
2. Ngồi khép hai chân vào nhau kín đáo   Nhìn là thấy ngay chủ nhân của tướng ngồi này có tính cách hướng nội, khá rụt rè, thuộc tuýp cổ điển, đẹp dịu dàng, nữ tính.    Trong công việc, bạn có thể là một cô gái năng động, nhanh nhẹn và nhí nhảnh, nhưng trong tình yêu bạn lại vô cùng dịu dàng, đằm thắm. 
Nhung tuong ngoi boc lo ca tinh va con nguoi phai dep hinh anh 2
 
3. Ngồi hai chân mở thành hình chữ “V”   Đây là kiểu ngồi thường thấy ở những cô nàng ngây thơ, trong sáng và rất đáng yêu. Chính vì điều đó mà họ rất phù hợp với người đàn ông mạnh mẽ, có thể nương tựa cuộc đời, thậm chí gia trưởng một chút cũng không sao.   4. Ngồi vắt chéo chân   Nữ giới có thói quen ngồi vắt chéo chân thuộc tuýp cá tính. Trong suy nghĩ của người này, bản thân mình lúc nào cũng là trung tâm của mọi sự chú ý. Nếu muốn chinh phục được nàng, đòi hỏi đối phương phải vô cùng mạnh mẽ, phong độ và đặc biệt phải rất bao dung.
Nhung tuong ngoi boc lo ca tinh va con nguoi phai dep hinh anh 3
 
5. Ngồi duỗi hai chân một cách thoải mái
  Điều này chứng tỏ bạn rất mạnh mẽ, chủ động và quyết đoán trong cuộc sống. Bạn luôn muốn làm những điều mình thích, không bị hạn chế, gò bó và cũng yêu theo cách riêng của chính mình.   Trong mắt đàn ông, bạn là nửa kia thủy chung chứ không phải là mẫu người tình nóng bỏng, quyến rũ.    Cuộc sống hôn nhân của bạn cũng trải qua không ít thăng trầm vì tính cách bướng bỉnh, sáng nắng chiều mưa của bạn. Tuy nhiên, mọi thứ không đến nỗi quá tệ khi mà bạn luôn thông minh, tỉnh táo để xử lý khéo léo từng vấn đề.
Ngân Hà
Luận bàn con người qua tướng ngồi
Ngồi là một dạng biến tướng của đi đứng. Tướng ngồi thuộc về Âm nhưng trong Âm có Dương, nên khi ngồi tinh thần vẫn hoạt động nhiều hơn cả khi đi lại hay trò

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những tướng ngồi bộc lộ cá tính và con người phái đẹp

Top 3 chòm sao đa nhân cách, khó hiểu bậc nhất

Ai cũng có cá tính riêng, nhưng có những người thực sự khó để có thể hiểu được. Cùng xem trong 12 chòm sao, ai là chòm sao đa nhân cách, hiếm người hiểu được
Top 3 chòm sao đa nhân cách, khó hiểu bậc nhất

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

nhé.
Con người ta sinh ra ai cũng có ý thức tự bảo vệ mình, ngụy trang bản thân để không bị nguy hiểm. Khi đối mặt với những sự vật, sự việc khác nhau, chúng ta cũng sẽ có những cách ứng xử khác nhau. 

top 3 chom sao da nhan cach
 
  Có nhiều người đặc biệt linh hoạt trong giao tiếp ứng xử, giải quyết vấn đề, thể hiện sự khôn khéo của mình một cách rõ rệt. Nhưng trong số 12 chòm sao thì ai là người có khả năng ấy? Cùng Lịch ngày tốt khám phá top 3 chòm sao đa nhân cách nhé. Không có việc gì thì chớ gây thù chuốc oán với những chòm sao này.  

No. 3 Bảo Bình


bao binh it noi
 
Trước mặt bạn bè, Bảo Bình là một người rất vui vẻ nhiệt tình, phóng khoáng hào sảng, song khi chỉ có một mình thì chòm sao này như biến thành một người khác. Họ có tính cách rất phức tạp, khó lòng nắm bắt, chẳng ai có thể biết được suy nghĩ thực sự của họ là gì, càng không thể nào hiểu được tính cách thực sự trong con người Bình Nhi ra sao.   Mọi người thường chỉ thấy Bảo Bình là người rất có sức hút, quyến đoán và phong độ, luôn để lại ấn tượng sâu sắc cho mọi người. Nhưng sau này, khi quen thân hơn, bạn sẽ khám phá ra con người họ rất chân thành, cũng có trái tim vô cùng ấm áp. Bình Nhi là người cực kì yêu quý động vật, nhất là những con vật nhỏ bé xinh xinh. Phía sau vẻ ngoài thông minh tinh tường là tấm lòng bao la rộng lớn, cũng rất dịu dàng nhân ái. Đó chính là điều khiến cho chòm sao này trở nên khác biệt, vừa ẩn chứa chút gì thần bí, vừa khiến cho người khác tò mò không ngừng tìm hiểu về mình.  

No. 2 Hổ Cáp


ho cap lanh lung
 
Có lẽ mọi người chỉ thấy Hổ Cáp là người lạnh lùng vô cảm mà tưởng rằng đó là người rất khó tiếp cận, cũng khó lòng nói chuyện kết thân. Hổ Cáp không nói nhiều mà thường xử lý bằng hành động, dứt khoát quyết đoán, không có điều gì thừa thãi.   Họ không dễ bắt chuyện cùng người khác, cũng không thể hiện nhiều tình cảm, song nếu hiểu về con người Hổ Cáp, bạn sẽ thấy ẩn dưới lớp vỏ lạnh lùng là con người có trái tim tràn đầy nhiệt huyết. Họ nhiệt tình, tốt bụng, dễ mềm lòng, đôi khi lòng tốt của họ còn bị người khác lợi dụng, bản thân họ cũng chịu nhiều thiệt thòi vì nhường nhịn người khác.   Theo Mật ngữ 12 chòm sao, con người Cáp Nhi rất coi trọng tình cảm, với những người thân thiết hay bạn bè xung quanh, họ thường không giữ được vẻ cứng rắn như bình thường mà rất dễ bị tình cảm làm cho dao động. Trong con người tồn tại cả nóng và lạnh, Hổ Cáp quả là chòm sao đa nhân cách và vô cùng khó hiểu.  

No.1 Song Tử


song tu khi nong khi lanh
 
Trong tâm hồn Song Tử tồn tại cả thiên thần và ác quỷ. Họ có thể không hẳn là người hoàn toàn lương thiện, song cũng tuyệt đối không phải kẻ tàn nhẫn. Là chòm sao đa nhân cách điển hình trong số 12 chòm sao, sự trái ngược trong tính cách của họ được thể hiện rõ ràng qua trạng thái cảm xúc thay đổi thất thường. Chỉ mới phút trước còn cười nói vui vẻ, ngay sau đó Song Tử có thể trở nên u sầu.   Họ thường che giấu những cảm xúc, những suy nghĩ thực sự của bản thân, giỏi ngụy trang trước mặt người đối diện. Song Tử quen với việc dùng nụ cười để che giấu những tổn thương mà mình đang phải chịu đựng. Họ kiên cường và không muốn ai phải thương xót cho mình. Chỉ có những người thân thiết nhất mới hiểu được con người thực sự của họ.   Song Tử vô cùng trân trọng tình bạn, họ là người bạn mà ai cũng nên có cho mình trong cuộc đời này. Chòm sao này có dũng khí để mỉm cười dù phải đối mặt với khó khăn lớn lao đến đâu, giúp cho bạn có thêm nghị lực để chống đỡ lại sóng gió cuộc đời.    Tanny
  
Trung Thu 2017: Chòm sao nào say trong hạnh phúc, chòm sao nào ôm nỗi cô đơn? 12 chòm sao lựa chọn tình yêu hay ước mơ, ai lý trí ai cảm tính?
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Top 3 chòm sao đa nhân cách, khó hiểu bậc nhất

Mơ thấy chết đuối: Tử có lành?

Bạn hoảng hồn tỉnh dậy sau một cơn mơ dài? Bạn thấy mình bị nghẹt thở trong nước, không thể ngoi lên và cảm thấy cơ thể đang yếu dần. Bạn bị chết đuối trong mơ?
Mơ thấy chết đuối: Tử có lành?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


► ## giải mã giấc mơ theo tâm linh chuẩn xác

Mơ thấy mình bị chết đuối thường phản ánh một phần cuộc sống của chính bản thân mỗi người. Đó có thể là những khó khăn trong công việc, trong tình yêu hay một vấn đề nào đó. Bạn cảm thấy thất vọng vì không có khả năng để giải quyết những khó khăn đó và càng không thể đảm nhận trọng trách mới. Có thể bạn đang cần sự giúp đỡ của ai đó. Những lời động viên, khích lệ, sự chỉ bảo... của người thân và bạn bè sẽ giúp ích cho bạn rất nhiều.
 
Mo thay chet duoi tu co lanh hinh anh
Ảnh minh họa
 
Dòng nước biểu thị cho tiềm thức, còn "chết đuối" biểu thị cho tình cảnh bị nhấn chìm. Giấc mơ này cũng biểu thị cho những cảm xúc trong chính tâm hồn chúng ta. Sự khủng hoảng về tinh thần hay có khi đơn giản chỉ là cảm giác bị lấn át trong tình yêu cũng có thể đưa đến giấc mơ hãi hùng này.    Nếu bạn nằm mơ thấy một người nào đó bị chết đuối trong giấc mơ của bạn, điều này ám chỉ rằng bạn đang tham gia quá sâu vào vấn đề gì đó mà nó hoàn toàn nằm ngoài tầm kiểm soát của bạn. Ngoài ra, giấc mơ này còn đại diện cho một sự thay đổi trong con người của bạn, bạn đã đánh mất một phần nào đó trong bản chất của bạn và bạn không thể phân biệt mình là ai nữa.   Nếu trong giấc mơ bạn nằm mơ thấy mình đang cứu vớt một người bị chết đuối, điều này thể hiện việc bạn đã thừa nhận những cảm xúc và tình cảm của bạn mà bạn từng bỏ mặc nó.    Nếu trong giấc mơ bạn nằm mơ thấy mình thấy người bị ngạt nước nhưng bạn lại không cứu họ, điều này ám chỉ cảm xúc tê liệt vì sợ hãi ở hiện tại của bạn. Hãy xem xét một tình huống trong cuộc sống thực tại của bạn, nỗi sợ hãi đã kìm hãm những hành động của bạn. Mơ thấy mình vớt một người chết đuối  thường là điềm phát tài.   Mơ thấy chết ở dưới nước, nếu trôi nằm, thường là điềm trúng vé số, nếu trôi đứng thường là điềm được tiền của rơi dọc đường.

Mơ vợ bị chết đuối là điềm lành, thân thể vợ bạn rất khoẻ mạnh.


Mơ em trai bị chết đuối cũng là điềm lành, sức khoẻ của em bạn rất ổn.


Mơ bạn bè bị chết đuối ngụ ý bạn xử lý các mối quan hệ rất tốt.

Tổng hợp

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mơ thấy chết đuối: Tử có lành?

Phong thủy màu sơn nhà –

Trong bài viết này sonnha.dep.asia sẽ giới thiệu tới quý vị cách chọn màu sơn nhà sao cho phù hợp với phong thủy hướng tới một không gian sống hài hòa, cân bằng ánh sáng và tạo cảm giác thoải mái cho mỗi gia đình. 1. Cách lựa chọn màu sắc sơn nhà the

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Trong bài viết này sonnha.dep.asia sẽ giới thiệu tới quý vị cách chọn màu sơn nhà sao cho phù hợp với phong thủy hướng tới một không gian sống hài hòa, cân bằng ánh sáng và tạo cảm giác thoải mái cho mỗi gia đình.

1. Cách lựa chọn màu sắc sơn nhà theo mệnh.

+ Mệnh Kim: Nên sử dụng sơn màu trắng hoặc sơn màu vàng.
+ Mệnh Mộc: Sơn màu xanh hoặc màu đen.
+ Mệnh Thủy: Sơn màu đen, xanh lam, màu trắng.
+ Mệnh Hỏa: Sơn màu hồng, màu dam cam, màu đỏ.
+ Mệnh Thổ: Sơn màu vàng đất, màu nâu, màu vàng xám.

Sở dĩ có sự lựa chọn trên là do quy luật ngũ hành:
•Thổ sinh Kim
•Kim -> Thủy
•Thủy -> Mộc
•Mộc -> Hỏa
•Hỏa -> Thổ

Căn cứ vào tuổi gia chủ (thường lấy tuổi người chồng)

mau-son-nha-phu-hop-phong-thuy

 

2. Chọn màu sơn theo hướng nhà:

+ Hướng Đông: sơn màu xanh
+ Hướng Tây: sơn màu trắng, sữa.
+ Hướng Nam: sơn màu đỏ, hồng..
+ Hướng Bắc: sơn màu ghi, xám, xanh dương

3. Mẹo chọn màu sơn theo hướng hài hòa với khí hậu

+ Nhà hướng Nam (Tây Nam, Đông Nam):
Có thể tự do lựa chọn màu sắc sơn nhà theo ý muốn vì hướng này khí hậu thuận.
+ Nhà hướng Bắc (Đông Bắc):
Nên chọn màu sơn sáng, màu ấm.
+ Nhà hướng Tây (hoặc Tây Bắc):
Nên sử dụng màu sơn lạnh, mát như trắng, sữa, xanh lá cây, xanh da trời….


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phong thủy màu sơn nhà –

Đặt tên hay theo tiếng vàng tiếng ngọc

Tiếng vàng tiếng ngọc là âm thanh du dương, êm ái. Tên gọi đặt theo tiếng vàng tiếng ngọc nghe trong trẻo, thanh cao, quý phái. Đặt tên hay theo tiếng vàng tiế
Đặt tên hay theo tiếng vàng tiếng ngọc

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tiếng vàng tiếng ngọc là âm thanh du dương, êm ái. Tên gọi đặt theo tiếng vàng tiếng ngọc nghe trong trẻo, thanh cao, quý phái. Âm điệu được thể hiện ở 2 mặt:


Đặt tên hay - Biểu thị âm thanh


Trường Minh, Kim Thanh, Ngân Thanh, Chấn Ngọc, Minh Hà, Nguyệt Cầm, Phụng Minh, Kiếm Tiêu, Hạc Thanh, Kim Ngân, Thanh Ngân, Hạ Ngân, Thanh Dương, Cẩm Dương, Dương Cầm, Thanh Nga... 

Đặt tên hay - Ngữ âm có tính nhạc


Vương Khắc Cần (bằng - trắc - bằng, âm hưởng trung - cao- trung) Lưu Chí Đan (bằng - trắc- bằng, âm hưởng thấp - cao - thấp) Tôn Chiếm Nguyên (bằng - trắc - bằng) Dương Khắc Băng (bằng - trắc - bằng) Trương Tuấn Trường (bằng - trắc - bằng) Lý Huệ Minh (trắc - trắc - bằng).

Những tên gọi cùng âm điệu bao gồm những yếu tố: 2 chữ đi đôi với nhau có thanh điệu khác nhau, tạo nên chuỗi âm thanh biến hóa như những nốt nhạc trong bài hát; Âm hưởng của 2 chữ liền nhau luôn khác nhau tạo nên âm thanh trầm bổng khác nhau; Đa số những từ ở giữa tên có âm nhẹ, ngữ âm của chữ cuối cùng hơi mạnh.

Cách đặt tên như vậy làm cho nghĩa và âm của tên gọi mang nhạc điệu vàng ngọc. Dưới đây là một số tên gọi cụ thể:

- Lâm Thấu Tuyền: dòng suối trong chảy từ trong rừng, xuyên qua núi, tưới mát có cây

- Dương Hải Thanh: rừng dương mênh mông, gió mạnh thổi như tiếng sóng rì rầm

- Kim Ngọc Minh: tiếng ngọc du dương, đánh động lòng người

- Tần Ca Hồng: bài hát dân ca cao vút, vang xa...

Các bài viết cùng chủ đề, có thể bạn quan tâm:

Đặt tên tốt để cải thiên đổi vận, thúc đẩy tài lộc Cách đặt tên ở nhà cho bé thật ngộ nghĩnh và may mắn Muốn đặt tên hay tên đẹp cho con, nhớ ngay 7 điều cấm kị


Theo Khoa học và nghệ thuật đặt tên...


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đặt tên hay theo tiếng vàng tiếng ngọc
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd