Tử vi 2015 cho tuổi DẦN: Giáp Dần, Bính Dần, Mậu Dần, Canh Dần, Nhâm Dần. –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Hiện tượng: Tủ lạnh chính đối với bếp ga. về bố cục cũng là tương khắc thủy hỏa bời vì tủ lạnh cũng thuộc thủy.

Phương pháp hóa giải: Bạn hãy rời vị trí tủ lạnh sang chỗ khác không để cho cửa tủ lạnh chính đối với bếp ga. cách càng xa càng tốt.
Hành: Thủy
Loại: Hung Tinh
Đặc Tính: Hao tán, tai nạn, trở ngại, thị phi, khẩu thiệt, quan tụng.
Sao Thiên Sứ đóng ở vị trí cố định là cung Tật. Sao này là hung tinh, chỉ dùng để xem hạn, đặc biệt là tiểu hạn, chớ không có ý nghĩa lắm trên toàn cuộc đời. Thành thử, bao giờ cần giải đoán vận hạn, thì mới nên lưu ý đến vị trí và sự hội tụ của Thiên Sứ với các sao khác.
Thiên Sứ có nghĩa là buồn thảm, xui xẻo, không may, ngăn trở mọi công việc, mang lại tang thương, bệnh tật, tai họa. Ý nghĩa này chỉ có khi xét vận hạn.
Sao Thiên Sứ, Kình Dương, Hỏa Tinh, Thiên Riêu, Cự Môn: Hại của, hại người.
Sao Thiên Thương, Thiên Sứ: Hay ốm đau (Thiên Sứ) hay rắc rối vì hạn.
Sao Thiên Sứ, Thiên Cơ, Cự Môn, Thiên Hình: Kiện tụng.
Sao Thiên Sứ, Thái Tuế: Chết nếu đại hạn xấu.
Sao Thiên Sứ, Thiên Không, Lưu Hà, Kình Dương đồng chiếu vào hạn: Chết.
Sao Thiên Sứ, Tang Môn, Bạch Hổ: Có tang. Ở cung nào tang có thể xảy ra cho người đó.
Sao Thiên Sứ ở Tý, Kình Dương, ĐàLa, Thái Tuế vào nhị hạn: Chết.
Sao Thiên Sứ gặp Lục Sát: Chết.
Sao Thiên Sứ ở Tý, Dần: Độc.
Sao Thiên Sứ, Kình Dương, Đà La: dữ (Tử, Đồng Lương giải được).
Sao Thiên Sứ , Văn Xương: Khoa trường, thi cử lận đận.
Theo Nguyễn Mạnh Bảo, năm hạn mà gặp sao này không chết thì cũng nguy mạng, nếu thiếu sao giải đủ mạnh.
Họa sẽ đến mau nếu Thiên Sứ ở Dần,Thân,Tỵ, Hợi.
Họa sẽ đến thật mau nếu: Thiên Sứ ở Tý, Mão, Thìn, Ngọ, Mùi; Thiên Thương ở Sửu, Mão, Thìn, Dậu, Tuất.
Chính Tinh: Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Lương, Thiên Đồng.
Bàng Tinh: Hóa Khoa, Hóa Lộc, Tả Phù, Hữu Bật, Quang Quý, Khôi Việt.
Thiên Giải, Địa Giải, Giải thần.
Thiên Quan, Thiên Phúc.
Tuần, Triệt.
Cung Phúc Tốt:
Ngoài ra nếu Phúc có nhiều sao tốt và mạnh thì sẽ chế giải khá mạnh và toàn diện.Tuy nhiên, việc chế giải ở đây không có nghĩa là sự việc đó hoàn toàn không xảy đến, mà là nếu có đến, chuyện chẳng may đó không tác họa đúng mức, nếu gặp sao giải hiệu lực.
Khi nghĩ về cách thiết kế phòng bếp mới hoặc cải tạo căn phòng hiện tại, phong thủy có thể giúp bạn tạo ra một không gian hài hòa, hỗ trợ sức khỏe và hạnh phúc. Màu sơn hợp phong thủy là một phần quan trọng trong việc tạo ra căn bếp tiện dụng, nơi "các đầu bếp" trong gia đình có thể phát triển mạnh mẽ.

Màu trắng, vàng, xanh da trời, xanh lá cây, nâu, be, đỏ và cam đều là những màu sắc phù hợp với bếp theo phong thủy. Tuy nhiên, bạn cần hiểu rõ làm thế nào để sử dụng chúng một cách hiệu quả nhất. Cụ thể:
Trắng là màu sắc được sử dụng phổ biến nhất cho hầu hết các phòng bếp, và là gam màu tuyệt vời để bắt đầu khi áp dụng phong thủy trong ngôi nhà của bạn.
Tượng trưng cho sự sạch sẽ và tinh khiết, màu trắng đánh thức mọi giác quan trong không gian bạn chuẩn bị thức ăn. Nhờ ưu điểm kết hợp rất tốt với tất cả các màu sắc khác, nó có thể trở thành lớp phông nền hoàn hảo cho các sắc thái màu ấm hơn, giữ cho căn phòng không quá lạnh lẽo, mờ nhạt.
Bạn nên sơn màu trắng trên tường, tủ bếp và thêm điểm nhấn thông qua quầy bếp, phụ kiện cửa sổ...

Các gam màu trung tính như màu be, kaki và nhóm màu đất cũng thích hợp trong phong bếp. Dựa vào nguyên tắc phong thủy, chúng có thể mang đến sự ổn định cho gia đình bạn và sự hài hòa cho khu vực nấu ăn. Ấm áp và sung túc, chúng ăn nhập với rất nhiều màu sắc khác nhau và sẽ làm cho gian bếp của bạn cảm thấy ấm cúng hơn.
Màu vàng là lựa chọn lý tưởng khác dành cho phòng bếp. Được đánh giá là có khả năng thúc đẩy sự xã hội hóa, màu vàng tạo ra không gian nâng cao tinh thần và sự vui vẻ cho bạn cũng cả gia đình khi thưởng thức bữa ăn cùng nhau. Bạn nên chọn màu vàng nhạt hoặc màu vàng trang sức nhẹ nhàng, tránh xa những màu quá rực rỡ, khiến bầu không khí căng thẳng, dễ nóng giận.

Nhiều người tin tưởng rằng màu xanh da trời giúp kiềm chế cơn đói nên nó luôn là lựa chọn thông minh cho các gia đình gặp vấn đề về cân nặng. Ở cấp độ nhạt, màu xanh da trời kiềm chế bớt sự nhộn nhịp, bận rộn trong bếp, định hình cảm giác thư thái. Nhưng bạn chỉ nên sử dụng màu này với liều lượng nhỏ. Các chuyên gia phong thủy cho rằng, quá nhiều màu xanh da trời sẽ lấn át vẻ đẹp, sức hấp dẫn của đồ ăn.

Màu xanh lá cây cũng có mặt trong danh sách những màu sắc hợp phòng thủy nên dùng cho phòng bếp vì tác dụng thúc đẩy tiêu hóa rất tốt. Chọn màu xanh lá cây mềm mại, gần với sắc thái đất để giúp hình thành không gian thư giãn. Nếu muốn tăng cường những tông màu đất, cố gắng trang trí tối thiểu 1 - 2 chậu cây cảnh tươi tốt trong phòng bếp.

Mặc dù xuất hiện khá nhiều trong phòng bếp, nhưng một số chuyên gia phong thủy đánh giá màu đỏ có thể gây mất cân bằng nếu được sử dụng quá nhiều. Bạn nên chọn lấy một màu sắc trung tính hơn làm chủ đạo và điểm xuyết màu đỏ nhằm tạo ấn tượng, thu hút sự chú ý của mọi người.

– Tương truyền, tháng 7 âm lịch là tháng quỷ. Từ mùng 1/7, quỷ môn quan bắt đầu mở, tới ngày 30/7 cửa địa ngục đóng lại. Trong ngày cổng địa ngục mở, âm hồn bị giam hãm quay trở lại dân gian, du đãng khắp nơi. Những người có thể trạng yếu, mệnh khí nhược cần hạn chế đi đêm trong tháng cô hồn, tránh gặp xui xẻo.
| ► Bạn cần biết: Những điều kiêng kị trong tháng cô hồn |
![]() |
![]() |
![]() |
Điều 12 con giáp cần làm để bình an vượt qua tháng cô hồn
Sau đó các tình nguyện viên làm một bài kiểm tra khả năng hiểu suy nghĩ của người khác, một kỹ năng quan trọng trong đời sống xã hội của con người. Kết quả cho thấy những người sở hữu não lớn có nhiều bạn hơn những người sở hữu não nhỏ, đồng thời khả năng duy trì các mối quan hệ của họ cũng tốt hơn. "Chúng tôi kết luận những cá nhân có nhiều bạn bè thực hiện các hoạt động thần kinh tốt hơn so với những người có ít bạn. Ngoài ra thể tích của vùng vỏ trán-ổ mắt của họ cũng lớn hơn", giáo sư Robin Dunbar, trưởng nhóm nghiên cứu, phát biểu. Vùng vỏ não trán-ổ mắt nằm ở phía trước hộp sọ và phía trên đôi mắt. Con người sử dụng vùng vỏ não này để tư duy bậc cao. "Hiểu biết về mối quan hệ giữa kích thước não của con người và số lượng bạn bè sẽ giúp chúng ta tìm ra những cơ chế khiến con người sở hữu hộp sọ lớn hơn các loài động vật linh trưởng khác", Dunbar giải thích. Nhóm nghiên cứu cho biết, kích thước của những vùng não phía trước hộp sọ người đã tăng mạnh trong nửa triệu năm qua. Dunbar nói thời gian dành cho các mối quan hệ xã hội, tính cách, giới tính, nơi sinh sống là những yếu tố tác động tới số lượng bạn bè của mỗi người. Tuy nhiên, các kỹ năng thần kinh cũng đóng vai trò quan trọng đối với khả năng duy trì các mối quan hệ xã hội. "Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng khả năng hiểu suy nghĩ của đồng loại sẽ giúp con người duy trì được nhiều mối quan hệ bạn bè", giáo sư nói.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Từ xa xưa cha ông ta đã lưu ý rất nhiều khi đặt tên cho con cháu mình, thời Phong Kiến, người xưa có quan niệm rằng kỵ đặt tên phạm huý, tức là tên trùng với tên họ của vua quan quý tộc, như thế sẽ bất lợi cho con cháu. Ngoài ra, cũng kỵ đặt những tên quá mỹ miều, sợ quỷ thần ghen ghét làm hại nên lúc nhỏ sẽ khó nuôi. Những người có học hành, chữ nghĩa thì đặt tên con cháu theo những ý nghĩa đặc trưng của Nho Giáo như Trung, Nghĩa, Hiếu, Thiện,…
Ngày nay việc đặt tên có xu hướng phóng khoáng hơn xưa nhưng cái tên vẫn có một ý nghĩa vô cùng quan trọng, không những chỉ mang yếu tố mỹ cảm mà về yếu tố Âm Dương, Ngũ Hành cái tên còn có vai trò rất quan trọng trong việc cải tạo vận mệnh của mỗi người.
Tổng quan những lý thuyết quan trọng cho việc đặt tên bao hàm những yếu tố sau:
Cái tên được đặt phải phù hợp với truyền thống của mỗi dòng họ. Từ xưa đến nay trong văn hoá Việt Nam nói riêng và văn hoá Á Đông nói chung đề cao vai trò của gia đình, dòng họ. Con cháu phải kế thừa và phát huy được những truyền thống của tổ tiên gia tộc mình. Điều này thể hiện trong phả hệ, những người cùng một tổ, một chi thường mang một họ, đệm giống nhau với ý nghĩa mang tính kế thừa đặc trưng của mỗi chi, mỗi họ như họ Vũ Khắc, Nguyễn Đức,…
Tên được đặt trên cơ sở tôn trọng cha, ông của mình, như tên kỵ đặt trùng với tên ông, bà, chú, bác…điều này rất quan trọng trong văn hoá truyền thống uống ước nhớ nguồn của Việt Nam ta.
Tên phải có ý nghĩa cao đẹp, gợi lên một ý chí, một biểu tượng, một khát vọng, một tính chất tốt đẹp trong đời sống. Như cha mẹ đặt tên con là Thành Đạt hy vọng người con sẽ làm nên sự nghiệp. Cha mẹ đặt tên con là Trung Hiếu hy vọng người con giữ trọn đạo với gia đình và tổ quốc.
Bản thân tên phải có ý nghĩa tốt lành, đã được đúc kết và nghiệm lý theo thời gian như tên Bảo, Minh thường an lành hạnh phúc. Kỵ những tên xấu như Lệ, Tài,…vì những tên này có ý nghĩa không tốt đẹp đã được kiểm chứng trong nhiều thế hệ.
Tên bao gồm 3 phần là phần họ, đệm và tên. 3 phần này trong tên đại diện cho Tam Tài Thiên - Địa – Nhân tương hợp. Phần họ đại diện cho Thiên, tức yếu tố gốc rễ truyền thừa từ dòng họ. Phần đệm đại diện cho Địa tức yếu tố hậu thiên hỗ trợ cho bản mệnh. Phần tên đại diện cho Nhân tức là yếu tố của chính bản thân cá nhân đó. Thiên - Địa – Nhân phối hợp phải nằm trong thế tương sinh. Mỗi phần mang một ngũ hành khác nhau, việc phối hợp phải tạo thành thế tương sinh, kỵ tương khắc. Ví dụ như Thiên = Mộc, Địa = Hoả, Nhân = Thổ tạo thành thế Mộc sinh Hoả, Hoả sinh Thổ, Thổ sinh Kim là rất tốt. Nếu Thiên = Mộc, Địa = Thổ, Nhân = Thuỷ tạo thành thế tương khắc là rất xấu. Yếu tố này cũng có thể nói gọn là tên phải cân bằng về Ngũ Hành.
Tên phải cân bằng về mặt Âm Dương, những vần bằng thuộc Âm, vần trắc thuộc Dương. Trong tên phải có vần bằng, trắc cân đối, kỵ thái quá hoặc bất cập. Ví dụ như Thái Phú Quốc quá nhiều vần trắc, Dương cường, Âm nhược nên luận là xấu. Tên Thái Phú Minh luận là Âm Dương cân bằng nên tốt hơn.
Yếu tố rất quan trọng của tên ngoài việc cân bằng về Âm Dương, Ngũ Hành còn phải đảm bảo yếu tố hỗ trợ cho bản mệnh. Ví dụ, bản mệnh trong Tứ Trụ thiếu hành Thuỷ thì tên phải thuộc Thuỷ để bổ trợ cho mệnh, vì thế tên phải đặt là Thuỷ, Hà, Sương,…
Tên còn cần phối hợp tạo thành quẻ trong Kinh Dịch, quẻ phải tốt lành như Thái, Gia Nhân, Càn, tránh những quẻ xấu nhiều tai hoạ rủi ro như quẻ Bĩ, Truân, Kiển,…Quẻ cũng cần phối hợp tốt với Âm Dương Bát Quái của bản mệnh.
Ví dụ về đặt tên : nữ sinh năm Giáp Thân, trong Tứ Trụ mệnh thiếu Kim, nên dùng tên bổ trợ hành Kim cho bản mệnh. Tên đặt Nguyễn Thái Ngọc Nhi. Sau đây phân tích những yếu tố tốt của tên này:
1. Ngũ Hành tương sinh : Họ Nguyễn = Mộc sinh Thái = Hoả sinh Ngọc = Thổ sinh Nhi = Kim. Ngũ Hành tạo thành vòng tương sinh hỗ trợ cho bản mệnh thiếu Kim 2. Tên này Âm Dương cân bằng vì hai vần bằng trắc cân đối ngụ ý một đời sống an lành, tốt đẹp 3. Ý nghĩa của tên trong Hán văn có nghĩa là viên ngọc quý, hàm ý một đời sống sang trọng, đầy đủ 4. Phối quẻ được quẻ Dự là một quẻ tốt cho nữ số.
Những người có tên không tốt hoặc vận mệnh đang gặp khó khăn trở ngại thì đổi tên là một trong những phương pháp hiệu quả để cải tạo vận mệnh của chính mình.
Tóm lại, đặt tên tốt là một việc rất khó khăn, bao hàm rất nhiều yếu tố phối kết hợp để tạo thành một tên đẹp theo nghĩa mỹ cảm lẫn Âm Dương, Ngũ Hành, hầu đem lại cho người mang tên đó một sự hỗ trợ cần thiết cho cuộc sống tốt lành trong tương lai, để rạng danh được dòng họ của mình, mang lại sự nghiệp tốt đẹp cho bản thân và xã hội.
Trân trọng cảm ơn quý vị đã tín nhiệm và tin tưởng dịch vụ của chúng tôi!
Trích từ: TUANKIET.COM.VN
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thanh Vân (##)
Phương Vị: Bắc Đẩu Tinh
Hành: Kim
Loại: Bại Tinh
Đặc Tính: Hình thương, tai nạn, bệnh tật, thị phi, khẩu thiệt, hùng dũng.
Tên gọi tắt thường gặp: Hổ
Phụ tinh. Sao thứ 9 trong 12 sao thuộc vòng sao Thái Tuế theo thứ tự: Thái Tuế, Thiếu Dương, Tang Môn, Thiếu Âm, Quan Phù, Tử Phù, Tuế Phá, Long Đức, Bạch Hổ, Phúc Đức, Điếu Khách, Trực Phù.
Một trong 4 sao của bộ Tứ Linh là Long Trì, Phượng Các, Bạch Hổ, Hoa Cái. Gọi tắt là bộ Long Phượng Hổ Cái.
Cũng là một trong 6 sao của bộ Lục Bại Tinh gồm các sao Tiểu Hao, Đại Hao, Tang Môn, Bạch Hổ, Thiên Khốc, Thiên Hư (gọi tắt là Song Hao Tang Hổ Khốc Hư). Phân loại theo tính chất là Bại Tinh.
Đắc địa: Dần, Thân, Mão, Dậu.
Hãm địa: Tý, Sửu, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Tuất, Hợi.
Ý Nghĩa sao Bạch Hổ Ở Cung Mệnh:
Tính Tình: Bạch Hổ đắc địa: Người can đảm, quả cảm, có nghị lực, tài giỏi, quyền biến, ứng phó được với mọi nghịch cảnh, khả năng xét đoán, lý luận giỏi, có tài hùng biện. Riêng với người nữ thì người có khí phách, có ý chí mạnh như đàn ông, có tâm tính của nam giới.
Bạch Hổ hãm địa: Người ương ngạnh, ngoan cố, cứng đầu, bướng bỉnh. Tính ưu tư, hay lo lắng, phiền muộn, cô độc. Thích ăn ngon mặc đẹp, không nặng về gia giáo.
Công Danh Tài Lộc: Bạch Hổ đắc địa, khi đi với các bộ sao tốt thì rất hiển đạt về công danh, sự nghiệp, tài năng sắc sảo, can đảm, nghị lực, ứng phó được với mọi nghịch cảnh. Đối với người nam thường hiển đạt về chính trị nếu được nhiều văn tinh hội chiếu, hiển đạt về quân sự nếu được võ tinh đi kèm.
Phúc Thọ Tai Họa: Sao Bạch Hổ bất lợi cho cả cha mẹ, gia đạo và con cái, chưa kể ảnh hưởng xấu đối với chính mình về mặt tâm lý, tính tình, vận số. Đặc biệt nếu đi với sát tinh thì tai họa rất nhiều và ảnh hưởng đến nhiều phương diện, cụ thể như:
Khổ cực, cô độc.
Khắc vợ, chồng, góa bụa, cô đơn.
Bị bắt bớ, giam cầm.
Bị bệnh tật trầm kha.
Bị tai nạn nguy hiểm đến tính mạng.
Yểu tử.
Riêng phái nữ thì gia đạo, hôn nhân thường bị trắc trở, phải muộn chồng, phải cưới chạy tang nếu không thì góa bụa hoặc đau khổ ưu phiền vì chồng con. Đây là sao bất lợi nhất cho đại gia đình (mồ côi) và tiểu gia đình (xung, khắc, ly cách). Mặt khác, vì Bạch Hổ cũng bất lợi cho sự sinh nở. Phải cần sao giải mạnh mới chế giảm được bất lợi đó.
Bạch Hổ, Tấu Thư: Cả hai sao này hợp nghĩa nhau về khoa ngôn ngữ, tài hùng biện. Đây là người có khả năng diễn thuyết hùng hồn, lời lẽ lưu loát và khích động, có sức quyến rũ bằng ngôn ngữ rất sâu sắc. Các chính khách, ứng viên tranh cử, giáo sư, quan tòa, luật sư rất cần đến bộ sao này. Nếu đi chung với các sao hùng biện khác như Lưu Hà, Lưu Thiên Khốc, Lưu Thiên Hư, Văn Xương, Văn Khúc thì tài hùng biện đạt mức quốc tế.
Bạch Hổ, Phi Liêm đồng cung (gọi là hổ mọc cánh): chủ sự vui vẻ, nhanh nhẹn, tháo vác, cũng lợi ích cho việc thi cử, cầu danh, đạt quyền chức, may mắn nói chung.
Hổ, Cái, Long, Phượng (gọi là Tứ Linh): cũng rất hiển đạt về uy danh, sự nghiệp, uy tín, khoa giáp.
Hổ Kình hay Hổ Hình đồng cung hay hợp chiếu: người có chí khí hiên ngang, có mưu lược, có tài quyền biến, rất đắc lợi về võ nghiệp và văn nghiệp.
Hổ ở Dần (gọi là Hổ cư hổ vị): ví như cọp ở rừng núi, có thể vùng vẫy tung hoành như ý muốn. Có nghĩa như gặp được thời, gặp vận hội may mắn, có thể phát huy tài năng, đạt chức quyền cao. Vị trí này rất hợp với hai tuổi Giáp và Kỷ, thường lỗi lạc về võ nghiệp, lưu danh hậu thế. Rất độc với tuổi Bính, Mậu.
Sao Bạch Hổ, Tham Lang: Bị thú dữ cắn chết.
Tang, Hổ, Điếu, Binh (gọi là Tứ Hung): rất độc, báo hiệu cho tang tóc, tai nạn chết người, họa lớn. Nếu có Thiên Đồng thì hóa giải được.
Bạch Hổ gặp Lưu Tang Môn, Lưu Bạch Hổ: tang tóc liên tiếp, ưu phiền rất nặng, đại tang.
Ý Nghĩa sao Bạch Hổ Ở Cung Phụ Mẫu:
Cha mẹ mồ côi, nếu không thì cũng gặp chuyện phiền lòng về làm ăn, cực nhọc, vất vả.
Ý Nghĩa sao Bạch Hổ Ở Cung Phúc Đức:
Bị giảm thọ.
Gia đình không toàn vẹn.
Trong họ có người chết non, vất vả, nghèo khổ, cô độc.
Ý Nghĩa Sao Bạch Hổ Ở Cung Điền Trạch:
Hay thay đổi nơi ăn chốn ở, hoặc có nhà mà thường phải đi xa, hoặc nội bộ gia đình hay có chuyện bất hòa, tranh chấp về đất đai, nhà cửa.
Ý Nghĩa sao Bạch Hổ Ở Cung Quan Lộc:
Đi với sao tốt thì công danh hiển đạt, đi với sao xấu thì tai họa rất nhiều, bất lợi.
Sao Bạch Hổ, sao Phi Liêm, chủ sự vui vẻ, nhanh nhẹn, tháo vác, cũng lợi ích cho việc thi cử, đạt quyền chức, may mắn nói chung.
Sao Bạch Hổ ở Dần, gặp thời vận tốt, cơ hội may mắn, phát huy được tài năng, đạt chức quyền cao, tốt cho tuổi Giáp, tuổi Kỷ, xấu cho tuổi Bính, tuổi Mậu.
Gặp bộ sao Bạch Hổ, Hoa Cái, Long Trì, Phượng Các (gọi là Tứ Linh ), rất hiển đạt về uy danh, sự nghiệp, khoa bảng.
Sao Bạch Hổ, Kình Dương hoặc sao Thiên Hình đồng cung hay hợp chiếu, người có chí khí hiên ngang, có mưu lược, có tài quyền biến, rất đắc lợi về võ nghiệp và văn nghiệp.
Bạch Hổ, Tấu Thư, có tài hùng biện, văn học.
Ý Nghĩa sao Bạch Hổ Ở Cung Nô Bộc:
Bè bạn, người giúp việc ương ngạnh, bướng bỉnh, dũng mãnh, hay có sự lấn lướt.
Ý Nghĩa sao Bạch Hổ Ở Cung Thiên Di:
Ra ngoài hay gặp nguy hiểm, vất vả mới tranh đoạt được danh lợi.
Ý Nghĩa sao Bạch Hổ Ở Cung Tật Ách:
Sao Bạch Hổ chỉ máu, xương trong cơ thể con người. Bạch Hổ là bại tinh cho nên báo hiệu hai loại bệnh tật:
Bệnh về tinh thần, biểu hiệu bằng sự âu sầu, u buồn, uỷ mị, bi quan.
Bệnh về vật chất, cụ thể là máu huyết, gân cốt như hoại huyết, áp huyết cao, đau gân, đau tim, nhức xương, tê thấp. Vì vậy, đối với phụ nữ, tình trạng khí huyết kém hay đưa đến sự đau yếu về kinh nguyệt, về tử cung, có ảnh hưởng đến sự sinh nở.
Ý Nghĩa sao Bạch Hổ Ở Cung Tài Bạch:
Kiếm tiền cực nhọc, tự tay tạo dựng tiền bạc.
Ý Nghĩa sao Bạch Hổ Ở Cung Tử Tức:
Có một trong các ý nghĩa sau:
Khó sinh, sinh non ngày tháng
Sinh con khó nuôi hoặc sinh con nhưng không được nuôi.
Gặp Kình Dương, Thất Sát, có thể không con.
Gặp Địa Không, Địa Kiếp, sinh nhiều nuôi ít.
Gặp Thai, sẩy thai, con chết non.
Gặp Địa Không, Địa Kiếp, sao Thai, có thể phá thai. Nếu thêm sao Thiên Hình, có mổ xẻ lúc sinh nở, con chết trong bụng mẹ, khó sinh, phá thai.
Ý Nghĩa sao Bạch Hổ Ở Cung Phu Thê:
Có những ý nghĩa hoặc một trong những ý nghĩa sau:
Cưới chạy tang.
Có tang chồng hay vợ hoặc ly thân, ly hôn.
Ở góa (nếu Phúc, Mệnh, Thân xấu).
Lấy vợ hay chồng có tật, mù lòa mới tránh được hình khắc, chia ly.
Ý Nghĩa sao Bạch Hổ Ở Cung Huynh Đệ:
Anh chị em chết non.
Bạch Hổ, Tang Môn, Thái Tuế, anh chị em bất hòa, xung khắc, khắc khẩu, không hợp tính nhau.
Bạch Hổ, Tang Môn, Thiên Mã, anh chị em ly tán, xa cách.
Bạch Hổ Khi Vào Các Hạn
Có tang trong các trường hợp sau:
Bạch Hổ, Bệnh, Khách.
Gặp Lưu Tang, Lưu Hổ, Lưu Khốc, Lưu Hư (có nhiều tang liên tiếp, có đại tang).
Bạch Hổ, Khốc Mã (súc vật chết vì bệnh tật).
Bị ác thú cắn nếu gặp:
Hổ Riêu hay Hổ Đà Kỵ Nhật.
Hổ Đà Hình hay Hổ Khốc Riêu.
Hổ ở Dần, Địa Kiếp ở Tuất.
Bị kiện tụng, khẩu thiệt, ốm đau nếu gặp:
Hổ, Phục.
Hổ, Tuế, Phù, Phủ.
Đại Tiểu Hạn cần lưu ý xem kỹ Bạch Hổ và Lưu Tang, Lưu Hổ. Nếu đồng cung thì sự hung hiểm càng nhiều.
Văn Khấn Tân gia (Cáo yết Táo quân Thổ thần) dùng sau lễ Nhập trạch. Theo tục xưa sau lễ Nhập trạch dọn về nhà mới, gia chủ phải làm lễ Tân Gia. Lễ Tân Gia thường được tổ chức Long trọng.
Trước tiên dâng lễ: Hương, hoa, vàng mã, trầu, rượu và mâm cỗ mặn thịnh soạn để cúng Táo quân, Thổ thần, Gia Tiên.
Tiếp đó mời: bạn bè, họ hàng, người thân, hàng xóm đến dự lễ Tân Gia- ăn mừng nhà mới. Những người được mời thường mang lễ vật đến như: các bức đại tự, câu đối, trầu cau, quà kỷ niệm… và nói lời chúc mừng gia chủ.
– Văn khấn yết cáo Táo quân Thổ thần
Con lạy chín phương trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.
Hôm nay là ngày…. tháng………. năm ………..
Tại thôn……. xã…… huyện…….. tỉnh………..
Tín chủ con là ……….
Thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương dâng lên truởc án toạ Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân. Kính cẩn tâu rằng:
Ngài giữ ngôi nam thái
Trừ tai cứu hoạ, bảo vệ dân lành
Nay bản gia hoàn tất công trình
Chọn ngày lành gia đình nhóm lửa
Nhân lễ khánh hạ, kính cẩn tâu trình:
Cầu xin gia đình, an ninh khang thái
Làm ăn tấn tới, tài lộc dồi dào
Cửa rộng nhà cao, trong êm ngoài ấm
Vợ chồng hoà thuận, con cháu sum vầy
Cúi nhờ ân đức cao dày
Đoái thương phù trì bảo hộ.
Chúng con lễ bạc têm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ bảo trì
hàng tương đối cao thuận lợi chuyển nhượng cừa hàng để lấy lãi. Tiền thuê cửa hàng không thể nói là không quan trọng. Nhưng nếu đơn thuần cho rằng những cửa hàng có giá tiền thuê cao đáng để đầu tư, những cửa hàng có giá tiền thuê thấp không có giá trị đầu tư thì thật là có sự thiên lệch lớn, ở đây, nhà đầu tư nên tránh những sai lầm đối với tiền thuê thường thấy dưới đây:

Đầu tiên, tiền thuế cao không nhất thiết đáng để đầu tư, tiền thuế thấp cùng không nhất thiết là “cửa hàng rác rười”. Tiền thuê đắt thì giá bán cũng đắt, yêu cầu hiệu quả kinh doanh càng cao, vì thế mà rủi ro cũng lớn, cần cân nhắc tổng hợp rồi quyết định. Mã các cửa hàng có tiền thuế thấp giá bán cũng thấp, yêu cầu của ngành nghề cũng thấp, để thuê, tuy lợi nhuận không cao, nhưng rủi ro thấp, nếu lựa chọn hợp lý thì hiệu quả vẫn cao.
Thứ hai, mức độ cao thấp khác nhau của tiền thuế không phải là do bản thân cửa hàng quyết định, mà phần lớn là những nhân tố ngoài quyết định như: môi trường kinh doanh, vị trí địa lý, định vị ngành nghề, lượng khách lớn nhở, không khí kinh doanh, mức độ cạnh tranh… Cho nên nói sự thay đổi của tiền thuê cũng là sự nắm bắt nhanh nhất, khó nhất, chúng ta quyết không thể dùng mức độ tiền thuê hiện tại mà cân nhắc giá trị đầu tư cửa hàng, nhất định phải đo đếm một cách toàn diện những nhân tố ảnh hưởng, hơn nữa tính toán những nhân tố có lợi lâu dài, tất nhiên tốt nhất là đến các cơ quan tư vấn đầu tư để được thẩm định và tư vấn chính xác.
Thứ ba, khi thuê cửa hàng, ngành kinh doanh có tiền thuê cao lại không nhất thiết là chủ ngành kinh doanh thích hợp nhất. Nếu đưa tiền thuê cửa hàng cao cho ngành nghề không chịu được mức tiền thuê đó, ví dụ như cửa hàng hoạt động lĩnh vực đơn giản là ngành ăn uống, vậy cho dù tạm thời có thể lấy được hoàn vốn, thời gian dài hộ kinh doanh không chịu được gánh nặng mà phải thoái lui, dẫn đến vị trí cửa hàng bỏ không, ảnh hương đến lợi nhuận lâu dài của các nhà đầu tư. Cho nên, khi thuê một cửa hàng không phải tìm ra hộ thuê thích hợp nhất, mà là hộ đưa ra giá cao nhất.
Độ dài các đốt của ngón cái
Yếu tố đầu tiên cần quan sát là ngón cái. Cụ thể hơn là quan sát đốt trên và dưới của ngón cái. Đốt trên tượng trưng cho “ham muốn” và đốt dưới tượng trưng cho “lý trí”.
Nếu đốt trên dài hơn đốt dưới, đây là kiểu phụ nữ có ham muốn rất mạnh mẽ. Cô nàng này thích kiểm soát và quyết định mọi chuyện.
Tính cách này thoạt đầu có thể khiến “chuyện ấy” hấp dẫn hơn, tuy nhiên, về lâu dài sẽ khiến bạn cảm thấy khó chịu. Suy cho cùng, bạn phải ép bản thân mình chiều lòng nàng dù không muốn.
Trong khi đó, nếu đốt dưới dài hơn, trước mặt bạn là một người phụ nữ luôn hành động theo lý trí. Nhược điểm của cô nàng này là thiếu sự liều lĩnh. Điều mà bạn thấy hài hước và thú vị có thể sẽ bị nàng cho là phi lý hoặc ngớ ngẩn.
Đầu ngón tay
Sau khi đã khám phá “ham muốn” và “lý trí” của nàng, mục tiêu tiếp theo chính là hình dạng của đầu ngón tay. Có nhiều cách phân loại khác nhau nhưng nhìn chung, cách phân loại đơn giản nhất là đầu ngón tay nhọn và vuông.
Đầu ngón tay nhọn cho biết bạn đang gặp gỡ một cô nàng mơ mộng, luôn nhìn thế giới bằng màu hồng. Nàng biết thưởng thức cái đẹp và luôn giữ thái độ lạc quan với mọi chuyện. Kiểu phụ nữ này thường không có dự tính lâu dài cho tương lai và muốn tìm kiếm một người đàn ông có cùng tư tưởng sống với mình.
Ngược lại, đầu ngón tay vuông là một dấu hiệu rõ nét cho thấy nàng thuộc mẫu phụ nữ thực tế. Đừng cố chơi trò “mèo vờn chuột” với họ. Ngoài ra, những chiêu trò lãng mạn với nàng cũng chỉ là một sự nhạt nhẽo và lố bịch.
Đường chỉ tay
Đường trái tim (đường nằm ngang cao nhất) tiết lộ chiều sâu cảm xúc và ham muốn tình dục của một người. Phụ nữ với đường trái tim dài và đậm có xu hướng trải nghiệm những cung bậc cảm xúc cao nhất của “yêu” và “hận”, trong khi người có đường trái tim ngắn hoặc gãy lại biết cách kiểm soát cảm xúc của mình và kiềm chế tình cảm rất tốt.
Người với đường trái tim ngắn và thẳng có ham muốn tình dục cao và đặc biệt hứng thú với “tình một đêm”, thay vì gắn bó với một mối quan hệ lâu dài.
Cảm giác khi chạm vào bàn tay
Yếu tố cuối cùng cần để tâm chính là cảm giác khi chạm vào bàn tay của nàng. Có hai loại cảm giác chính là mềm mại và thô ráp.
Bàn tay mềm mại cho biết trước mặt bạn là một tín đồ của nghệ thuật. Nói đến đây chắc hẳn trong đầu bạn đang nghĩ có thể lấy lòng nàng bằng một bữa tối lãng mạn và một bộ phim tình cảm đằm thắm. Tuy nhiên, sự thật là cô nàng sẽ ấn tượng hơn với một chuyến đi tham quan quanh viện bảo tàng, nhất là những viện bảo tàng đẹp. Để chiều lòng mẫu phụ nữ này, đàn ông phải có tính sáng tạo cao.
Nếu bàn tay bạn đang chạm vào cho cảm giác thô ráp, bạn cần phải tiếp cận nàng một cách thận trọng. Đây là kiểu phụ nữ có cá tính hết sức mạnh mẽ. Khi yêu, họ sẽ yêu hết mình, yêu điên cuồng nhưng đến lúc tức giận cũng sẽ hết sức khủng khiếp.
Ngoài ra, bạn sẽ thấy cô nàng thiếu sự khéo léo, tinh tế trong cách cư xử, thậm chí khiến bạn suốt ngày phải lạy trời mong cô ấy đừng thẳng tính quá như vậy. Nhìn chung, sự thẳng thắn, trung thực của cô nàng sẽ khiến bạn choáng ngợp.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Yến Nhi (##)
Trong Tử Vi Đẩu số, Hoàng Thiên Hoá là nhân vật tượng trưng cho sao Đà La. Nàng Giả thị, phu nhân của Hoàng Phi Hổ vì không cam tâm chịu nhục trước Trụ Vương, nên đã nhảy lầu Trích Tinh tuẫn tiết. Hoàng Phi Hổ phẫn uất nhẫn nhịn dẫn gia tướng, gia binh rời khỏi Triều Ca, vượt qua trùng trùng quan ải về với Tây Kỳ, quy thuận Tây Bá hầu Cơ Xương.
Tại ải Đồng Quan, ông bị tướng giữ thành là Trần Đồng dùng hoả long tiêu đánh trúng ngực mà mất mạng. Ngày hôm đó, Thanh Hư Đạo Đức chân quân tại động Tử Dương núi Thanh Long chợt thấy thắc thỏm không yên, bèn bấm độn tính toán, biết rằng Hoàng Phi Hổ ngộ nạn nguy đến tính mạng, liền cho gọi đệ tử Hoàng Thiên Hoá đến căn dặn: "Cha người Hoàng Phi Hổ đang gặp nạn, ngươi hãy mau lên đường đi cứu cha!" Rồi ban cho Hoàng Thiên Hoá thanh bảo kiếm Mạc Da, một chiếc làn báu và viên tiên đan cải tử hoàn sinh đồng thời dạy cách thức phá trận.

Hoàng Thiên Hoá vốn dĩ là người con cả thất lạc đã nhiều năm của Hoàng Phi Hổ. Năm xưa khi Hoàng Thiên Hoá mới ba tuổi, hai cha con đang chơi đùa trong vườn hoa thì từ trên đỉnh đầu Hoàng Thiên Hoá rọi ra một luồng sát khí, chắn mất đường mây của Thanh Hư Đạo Đức chân quân. Chân quân vốn mang lòng từ bi, không nỡ để đứa be phải chết yểu, bèn bí mật đưa về động Tử Dương núi Thanh Phong tu luyện. Ngày tháng thoi đưa, thấm thoắt đã mười ba năm qua, Hoàng Thiên Hoá đã tu thành rất nhiều pháp thuật.
Hoàng Thiên Hoá vâng mệnh thầy, dùng phép độn thổ nhanh chóng đến thành Đồng Quan, thấy cha đã tắt thở, bèn vội sai người mang nước đến, hoà tan tiên đan vào trong nước cậy răng đổ cho Hoàng Phi Hổ uống, rồi dùng thuốc tiên đắp lên vết thương. Sau đó lại tiếp tục cứu những người bị thương khác. Khi trời vừa hửng sáng, chỉ nghe Hoàng
Phi Hổ hét lớn "Đau chết ta mất thôi!". Rồi mở bừng mắt vùng dậy, từ cõi chết trở về.
Cha con gặp nhau mừng vui khôn xiết, ôm nhau mà khóc cho thoả lòng mong nhớ suốt mười mấy năm trời. Hoàng Phi Hổ bèn thuật lại đầu đuôi sự việc cho Hoàng Thiên Hoá nghe. Nghe tin mẹ và cô đều đã chết thảm dưới tay bạo chúa Trụ Vương và Đát Kỷ, Hoàng Thiên Hoá vô cùng uất hận, ngã lăn ra bất tỉnh nhân sự.
Lúc này, tướng giữ thành Đồng Quan là Trần Đồng lại dàn trận khiêu chiến, hai cha con Hoàng Phi Hổ lập đưa quân nghênh chiến. Hoàng Thiên Hoá theo lời Thanh Hư Đạo Đức chân nhân, phá vỡ trận của Trần Đồng, lại cướp được cả hoả long tiêu của ông ta. Hoàng Thiên Hoá trở về phục mệnh sư phụ, còn Hoàng Phi Hổ tiếp tục đột phá trùng vây, chạy đến Tây Kỳ quy thuận Cơ xương, được Cơ Xương phong cho tước cũ là Vũ Thành hầu.
Được sự ủng hộ và hiệp lực của các chư hầu lớn nhỏ, khí thế của Chu Vũ Vương Cơ Phát ngày càng lớn mạnh, ông quyết định thuận ứng lòng dân, đảm nhiệm trọng trách thảo phạt Trụ Vương đế cứu muôn dân khỏi lầm than khổ cực.
Hoàng Thiên Hoá là con cả của Hoàng Phi Hổ, đệ tử của Thanh Hư Đạo Đức chân quân tại động Tử Dương núi Thanh Phong, thân cao chín thước, mặt trắng, mắt lộ hung quang, thân hình như hổ, dáng di như báo, tóc búi cao, lưng thắt dây gai, chân đi dép cọ, được Khương Tử Nha phong làm tướng tiên Phong trong quân đội phạt Trụ.
Trong thời gian thảo phạt Trụ Vương, Hoàng Thiên Hoá giữ chức tướng tiên phong, cùng Dương Tiễn (sao Kình Dương), Na Tra (sao Hoả), Lôi Chấn Tử (sao Linh) làm tướng tiên phong mở đường, lập nên vô số chiến công. Sau khi qua đời, Hoàng Thiên Hóa được phong làm chủ nhân của sao Đà La, chủ về tàn nhẫn, dũng cảm, trí tuệ.
Dân gian truyền tai nhau những bí ẩn phong thủy không thể không tin, dù chưa được khoa học chứng minh. Dưới đây là 18 điều cấm kị phong thủy mà nữ giới cần tránh.
1. Thường xuyên sử dụng những vật dụng không chắc chắn như giường ọp ẹp, ghế lung lay không ổn định, ngăn kéo bàn bị kẹt… sẽ khiến tinh thần nữ giới bất ổn, tình cảm đi xuống, vận khí phong thủy chẳng thể tăng lên. 2. Viết tên mình lên giấy, nhưng sau đó dùng giấy bọc đồ ăn, đồ linh tinh, như vậy dễ khiến tiểu nhân đeo bám. Đây là một trong những cấm kị phong thủy cần tránh.
![]() |
![]() |
![]() |
cực không? Hay chúng càn trở bạn đạt mục tiêu và thực hiện giấc mơ của mình? Dưới đây là một số khía cạnh cụ thể mà sự bừa bộn trong nhà có thể khiến bạn buồn phiền, lo lẳng.

Cách bạn chăm sóc phòng bếp là đâu mối cho biết liệu bạn có đặc biệt quan tâm tối sự nuôi dưỡng chính mình và nguồn sung túc của mình hay không. Khi phòng bếp bừa bộn, đó là dấu hiệu cho thấy đã đến lúc phải cân bằng nhà cửa, công việc và cuộc sống gia đình tốt hơn.
Sự bừa bộn có thế biến những không gian của gia đình như phòng khách và phòng ăn thành “hang ổ” của sự cô lập, nhất là nấu tình trạng bừa bộn trầm trọng tới mức bạn không dám mời bạn bè đến ăn tối Nếu bàn ăn có nhiều thứ bừa bãi tới mức gia đình bạn không bao giờ ăn ở đó, điêu đó có thể góp phần làm cho các thành viên trong gia đình thiếu sự giao tiếp kết nối với nhau
Sự bừa bộn trong phòng ngủ có thế khiến bạn khó khởi động vào buổi sáng. Tất cả năng lượng bị mắc kẹt đó sẽ khiến bạn khó lôi mình ra khói giường.
Sự bừa bộn trong văn phòng khiến bạn khó tập trung và hoàn thành công việc, làm chậm các dự án và ngăn các cơ hội đến vối bạn. Bạn đang hy vọng tháng tiến? Hãy xóa tất cả thông tin cũ trong ngăn hồ sơ và ố cứng máy tính, điều đó sẽ tạo ra không gian cho những trách nhiệm mới mà bạn muốn chứng mình là có thể đảm nhận.
![]() |
| Phật Di Lặc |
![]() |
| Tượng Phật Phúc Lộc Thọ |
| ► Lịch ngày tốt gửi đến độc giả những câu chuyện về thế giới tâm linh huyền bí có thật? |
Theo trực giác, hãy chọn ra một hình bạn thấy ấn tượng nhất và click vào hình để xem đáp án:
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
Maruko (theo Sina)
Thời gian: tổ chức vào ngày 12 tháng 10 âm lịch.
Địa điểm: phường Tứ Liên, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: nhằm suy tôn Bảo Trung, Minh Khiết, Úy Hạnh và Mai Hoa.
Nội dung: lễ hội có rước kiệu mà múa rồng đặc sắc.
Thời gian: tổ chức vào ngày 12 tháng 10 âm lịch.
Địa điểm: xã Bột Xuyên, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây Cũ nay thuộc Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: nhằm suy tôn thành hoàng làng là 3 anh em họ Cao (là tướng của Hai Bà Trưng).
Nội dung: Có lễ dâng hương cúng thành hoàng làng với lễ vật dâng cúng là thịt lợn sống và gạo nếp.
Chùa An Ninh nằm tại thôn 4, xã Tân Hương, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương, được trụ trì bởi Đại đức Thích Tục Phương. Chùa An Ninh có tên chữ là Vĩnh Khánh tự, tên thường gọi là Chùa Trăm Gian xứ Đông, ở Vạn Lộng trang sau đổi thành làng An Ninh rồi An Đông thuộc xã An Bình, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Theo hệ thống bia ký, chùa Trăm gian có quy mô khá lớn và độc đáo vào bậc nhất ngày từ đầu thế kỷ XVII.
Lịch Sử: Chùa An Ninh được xây dựng từ đầu thế kỷ XVII đến năm Chính Hòa (1691) đời vua Lê Hy Tông sửa thượng điện, năm Vĩnh Thịnh thứ 1 (1705) đời vua Lê Dụ Tông vua tiếp tức sửa thượng điện, các năm 1740 và 1809 tư sửa và tôn tạo khá nhiều công trình trong chùa.
Thế kỷ XIX – XX chùa Trăm gian được trùng tu lớn. Đường vào chùa qua một cầu gỗ xây dựng theo kiểu “thượng gia hạ kiều” vào năm Cảnh Hưng thứ 1 (1740). Năm 1795, “thượng gia hạ kiều” bị giải hạ và thay vào đó là một cầu đá 9 nhịp. Đến khoảng năm 1938-1939, cầu đá bị sông ngòi vùi lấp . Đến nay cầu chỉ còn 3 hàng cột nhô lên mặt nước.
Kiến Trúc: Các công trình chính của chùa hiện nay nằm tập trung trong một quần thể kiến trúc gần như khép kín. Từ phía đông, mở đầu là công trình gác chuông, có quy mô lớn và độc đáo. Trên gác chuông ở gian trung tâm treo quả chuông đồng đúc vào năm Thành Thái thứ 2 (1890), đây là quả chuông hiếm có của tỉnh Hải Dương.
Chùa có kiến trúc kiểu chữ Đinh, được xây dựng vào năm Chính Hòa thứ 12 (1691) nhưng đã được trùng tu nhiều lần, kiến trúc hiện nay mang phong cách thời Nguyễn thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Gần đây, thượng điện đã được tu sửa lại.
Tiền đường 7 gian, kết cấu các vì kèo theo kiểu chồng rường đấu sen. Các chi tiết như cột cái, cột quân, bẩy hiên, xà nách, các con thuận, câu đầu, trụ, con vành, đấu gòi được chế tạo rất công phu. Các xà thượng, xà hạ, hoành, rui đều được soi chỉ. Kết cấu hệ thống giằng ngang và giằng dọc hợp lý, chặt chẽ. Trong tiền đường có một số bức chạm hoa lá “long quần”, chạm khắc rất tinh vi. Phần ngõa cũng được tạo dựng khá chắc chắn, tường, móng xây dựng bằng gạch Bát Tràng đe lộ bắt mạch, mái lợp ngói mũi cổ, kỹ thuật lợp phẳng.
Nối liền gian tiền đường với 3 gian thượng điện là hai máng xối. Tường xây bằng gạch Bát Tràng, bên trong trát vữa, ngoài đe mộc bắt mạch nõn dong, mái lợp ngói mũi. Bên trái thượng điện là 7 gian nhà thờ mẫu. Các vì kèo kết cấu theo kiểu kèo cầu, đơn giản. Bên phải là hai nhà khách. Hai nhà khách nối liền nhau như một hành lang. Sau thượng điện là nhà tứ ân, kết cấu theo kiểu kẻ chuyền, chồng chóp, các con chồng, đấu sen, các bức chạm lá lật chạm trồ tinh vi. Nhà thờ tổ nằm phía sau nhà tứ ân.
Sau nhà tổ là nhà cung 9 gian, kết cấu theo kiểu kèo cầu trụ đấu, mái thấp, gian hẹp, được tu sửa năm 2002. Phía bắc chùa có sân rộng chừng 1.000m², có một số công trình quay ra sân là nhà tháp nhà tăng, am trong, am ngoài cùng nhiều công trình phụ khác. Phía sau chùa là một vườn tháp gồm 10 ngôi, trong đó có 9 ngôi được xây dựng vào thời Nguyễn, một ngôi được xây dựng năm 2003.
Đầu thế kỷ XX, chùa Trăm gian còn đủ 100 gian, nhưng hiện nay chùa chỉ còn 85 gian. Chùa còn lưu giữ hệ thống cổ vật phong phú gồm 57 pho tượng Phật có niên đại thời Lê và thời Nguyễn, trong đó có tượng Trúc Lâm tam tổ, 12 bức đại tự, 12 đôi câu đối các loại, 738 bản khắc kinh Phật, 7 bia đá có niên đại thời Lê và thời Nguyễn, nhiều cổ vật có chất liệu gỗ, gốm, đồng và khá nhiều đồ tế tự mới.
Chùa An Ninh (Chùa Trăm Gian) đã được công nhận di tích năm 1990. Đến nay chùa thu hút nhiều lượt du khách tham quan. đặc biệt là vào ngày lễ chính: Ngày 13 tháng 9 âm lịch hàng năm.
Trong mục trên đã nói việc tính giờ của mỗi ngày là lấy giờ tí tức 23 giờ làm ranh giới. Mỗi giờ trong âm lịch gồm hai tiếng đồng hồ, nên một ngày chỉ có 12 giờ. Đại thể như sau:
Giờ tí : 23 giờ – trước 1 giờ;
Giờ sửu : 1 giờ – trước 3 giờ;
Giờ dần : 3 giờ – trước 5 giờ;
Giờ mão : 5 giờ – trước 7 giờ;
Giờ thìn : 7 giờ – trước 9 giờ;
Giờ tị : 9 giờ – trước 11 giờ;
Giờ ngọ : 11 giờ – trước 13 giờ;
Giờ mùi : 13 giờ – trước 15 giờ;
Giờ thân : 15 giờ – trước 17 giờ;
Giờ dậu : 17 giờ – trước 19 giờ;
Giờ tuất : 19 giờ – trước 21 giờ;
Giờ hợi : 21 giờ – trước 23 giờ;
Phương pháp tra bảng lấy giờ theo ngày, kết hợp với giờ đồng hồ sẽ tìm ra can chi của giờ. Cách tra là: mỗi lần gặp can ngày sinh là ngày giáp, ngày kỉ, nếu sinh từ 23 giờ đến 1 giờ thì đó là giờ tí, can chi giờ là giờ tí. Ta có bài ca truyền miệng như sau:
Giáp, Kỷ còn thêm giáp; ất canh bính làm đầu.
Bính, tân tính từ mậu; đinh nhâm tính từ canh.
Mậu quí tính từ nhâm tí.
Ví dụ muốn tính ngày kỉ sửu can chi giờ mão là gì, ta cứ căn cứ câu “ Giáp, kỷ còn thêm giáp” thì có thể biết được ngày kỉ, giờ tí là giáp tí. Khi tính dùng ngón tay cái của bàn tay trái đặt lên ngôi tí, đọc là giáp tí, thuận đếm đến sửu là ất sửu, dần là bính dần, mão là bính mão. Đinh mão chính là can chi giờ của ngày kỷ sửu.
Trái cây chắc chắn là một yếu tố không thể thiếu trong các mâm cỗ, bàn thờ ngày Tết của gia đình người Việt.
Hoa quả ngày Tết tượng trưng cho cho thành quả sau một năm lao động miệt mài của những người nông dân. Ngoài ra nó mang một ý nghĩa chung sâu sắc, thể hiện lòng hiếu thảo và ước mong những điều tốt lành cho một năm mới sắp tới.
Theo Holidappy, các loại trái cây, nhất là trái cây có hình tròn tượng trưng cho đồng tiền, tiền bạc nếu được trưng trong ngày Tết là một dấu hiệu của sự thịnh vượng, may mắn và sự phong phú cho gia đình.
Dưới đây là 12 loại trái cây tượng trưng cho 12 tháng trong một năm sẽ mang lại may mắn, tiền tài cho gia chủ nên được lựa chọn chưng ngày Tết.
Dưới đây là 12 loại trái cây tượng trưng cho 12 tháng trong một năm sẽ mang lại may mắn, tiền tài cho gia chủ nên được lựa chọn chưng ngày Tết.
Xem tuổi hợp khắc, xung khắc để lấy vợ, lấy chồng hay xem tuổi hợp khắc để làm ăn là điều rất quan trọng quyết định đến sự thành hay bại, hạnh phúc hay chia ly mà nhiều người chưa biết khi xem tuổi hợp nhau hay không ?.
Trong cuộc sống hiện đại, những tưởng mọi thứ đều có thể giải thích được bằng khoa học và không còn đất cho những điều mê tín dị đoan hay những niềm tin tâm linh. Nhưng thật ra, cứ ngẫm từ sự vật, sự việc của cuộc đời thì quả là có nhiều tự nhiên hay ngẫu nhiên đến khoa học cũng không thể giải thích hoặc giải thích không thấu đáo được. Đối với đa số người Á Đông nói chung và Việt Nam nói riêng, đức tin vào tâm linh và thần thánh dường như luôn hiện hữu trong cuộc sống.
Dẫu sao các cụ ta cũng đã dạy “có thờ có thiêng, có kiêng có lành”. Đó đâu phải vô cớ.
Đối với các bạn trẻ ngày nay, trước khi kết hôn, lập gia đình việc xem tuổi hợp chồng vợ, xem tuổi cưới là điều không thể thiếu vì đa số có một đức tin rằng, vợ chồng có hợp tuổi, hợp mệnh thì làm ăn mới phát đạt, mới gặp nhiều may mắn, hạnh phúc và tránh được những tai ương trong cuộc sống.
Về quan điểm cá nhân, tôi không phủ nhận mỗi người có một số mệnh riêng, có người thì gặp may mằn, có người thì bất hạnh trong cuộc sống nhưng suy cho cùng thì sự thành đạt, hạnh phúc phần lớn do chúng ta gây dựng, vun đắp và nuôi dưỡng, vận mệnh nằm trong tay chúng ta, còn cái gọi là “số mệnh” chỉ là rất nhỏ vậy nên đừng bao giờ khi thất bại hay đau khổ lại đi lấy cái “ngẫu nhiên để quy cho tự nhiên”.
Sau đây là một tài liệu sưu tầm được, bạn nào nghiên cứu thấy thích thì mừng. Nếu không, thì cũng đừng bận tâm nhé… Cái này chỉ là giải trí xem để biết không mang ý nghĩa là truyền bá hay cổ súy cho mê tín dị đoan.
Để xem tuổi hợp vợ chồng hay bạn bè có xung khắc nhau không thường thì thầy bói dựa vào 3 điểm chính sau :
1. Tuổi gồm có 12 tuổi Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi gọi là Thập nhị chi.
2. Mệnh gồm có 5 Mệnh: Kim, Hoả, Thuỷ, Mộc, Thổ gọi là Ngũ hành.
3. Cung mỗi tuổi có 2 cung, gồm có cung chính và cung phụ. Cung chính gọi là cung sinh cung phụ gọi là cung phi. Cùng tuổi thì nam nữ có cung sinh giống nhau nhưng cung phi khác nhau.
Khi xem tuổi hợp khắc, hai tuổi khắc nhau vẫn có thể ăn ở với nhau được nếu như cung và mệnh hoà hợp nhau.
Ngoài ra người ta xem tuổi hợp khắc còn dựa vào thiên can của chồng và tuổi của vợ để đoán thêm. Thiên can là 10 can gồm có Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ ,Canh, Tân, Nhâm, Quý.
Bây giờ ta xét về tuổi trước.
Lục Xung: Sáu cặp tuổi xung khắc nhau.
Tý xung Ngọ; Sửu xung Mùi; Dân xung Thân; Mão xung Dậu; Thìn xung Tuất; Tỵ xung Hợi. Xung thì xấu rồi.
Lục Hợp: Sáu cặp tuổi hợp nhau.
Tý Sửu hợp; Dần Hợi hợp, Mão Tuất hợp, Thìn Dậu hợp, Tỵ Thân hợp, Ngọ Mùi hợp.
Tam Hợp: Cặp ba tuổi hợp nhau.
Thân Tý Thìn; Dần Ngọ Tuất; Hợi Mão Mùi; Tỵ Dậu Sửu.
Lục hại : Sáu cặp tuổi hại nhau (không tốt khi ăn ở, buôn bán…với nhau)
Tý hại Mùi; Sửu hại Ngọ; Dần hại Tỵ; Mão hại Thìn; Thân hại Hợi; Dần hại Tuất.
Nếu tuổi bạn với ai đó không hợp nhau thì cũng đừng lo vì còn xét đến Mệnh của mỗi người (Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ)
Bạn nhớ nguyên tắc này: Tuổi chồng khắc vợ thì thuận; Vợ khắc chồng thì nghịch (xấu)
Thí dụ vợ Mệnh Thuỷ lấy chồng Mệnh Hoả thì xấu, nhưng chồng Mệnh Thuỷ lấy vợ Mệnh Hoả thì tốt. Vì Thuỷ khắc Hoả, nhưng Hoả không khắc Thuỷ mà Hoả lại khắc Kim.
Sau đây là ngũ hành tương sinh (tốt):
Kim sinh Thuỷ; Thuỷ sinh Mộc; Mộc sinh Hoả; Hoả sinh Thổ; Thổ sinh Kim (tốt)
Như vậy chồng Mệnh Thuỷ lấy vợ Mệnh Mộc thì tốt; vợ được nhờ vì Thuỷ sinh Mộc. Vợ Mệnh Hoả lấy chồng Mệnh Thổ thì chồng được nhờ vì Hoả sinh Thổ.
Sau đây là ngũ hành tương khắc (xấu):
Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thuỷ, Thuỷ khắc Hoả, Hoả khắc Kim (xấu)
Thí dụ vợ Mệnh Kim lấy chồng Mệnh Mộc thì không tốt do Kim khắc Mộc nhưng chồng Mệnh Kim lấy vợ Mệnh Mộc thì tốt vì theo nguyên tắc ở trên là tuổi chồng khắc vợ thì tốt, vợ khắc chồng thì xấu.
Về cung thì mỗi tuổi có một cung khác nhau. Sau đây tôi kể trước cho các bạn có tuổi Đinh Tỵ (1977) đến Đinh Mão (1987).Nên nhớ cung phi của nam nữ khác nhau còn cung sinh thì giống nhau khi xem tuổi hợp khắc.
Đinh Tỵ (1977) Mệnh Thổ – cung sinh: khảm – cung phi: khôn (nam), khảm (nữ)
Mậu Ngọ (1978) Mệnh Hoả – cung sinh: chấn – cung phi: tốn (nam), khôn (nữ)
Kỷ Mùi (1979) Mệnh Hoả – cung sinh : Tốn – cung phi: chấn (nam), chấn (nữ)
Canh Thân (1980) Mệnh Mộc – cung sinh: Khảm – cung phi :Khôn (nam), Tốn (nữ)
Tân Dậu (1981) Mệnh Mộc – cung sinh : Càn – cung phi : Khảm (nam), Cấn (nữ)
Nhâm Tuất (1982) Mệnh Thuỷ – cung sinh : Đoài – cung phi : Ly (nam), Càn (nữ)
Quý Hợi (1983) Mệnh Thuỷ – cung sinh :Cấn – cung phi : cấn(nam), đoài (nữ)
Giáp Tý (1984) Mệnh Kim – Cung sinh :Chấn – cung phi :Đoài (nam), Cấn (nữ)
Ất Sửu (1985) Mệnh Kim – cung sinh : Tốn – cung phi : Càn (nam), Ly (nữ)
Bính Dần (1986) Mệnh Hoả – cung sinh : Khảm – cung phi :Khôn (nam), khảm (nữ)
Đinh Mẹo (1987) Mệnh Hoả – cung sinh: Càn – cung phi; Tốn (nam), Khôn (nữ)
Muốn biết hai cung có xung khắc nhau hay không thì các bạn xem cách trình bày sau.
Còn các bạn nào cùng tuổi thì tất phải hợp nhau rồi. Người ta có câu nói “Vợ chồng cùng tuổi ăn rồi nằm duỗi”.
Về cung là phần rắc rối khó nhớ nhất nên mới đầu không quen ta ghi lại trên một tờ giấy để tiện tra cứu sau này.
Lại phải nhớ những từ cổ này
Sinh khí, diên niên (phước đức), thiên y, phục vị (qui hồn). Đó là nhóm từ nói về điều tốt.
Ngũ quỉ, Lục sát (du hồn), hoạ hại (tuyệt thể), tuyệt mệnh. Đó là nhóm từ nói về điều xấu.
Sau đây là tám cung biến tốt xấu , không cần học thuộc mà khi nào xem thì ta đem ra tra cứu. Sẽ cho thí dụ để các bạn hiểu cách xem tuổi cụ thể
Bây giờ nói về tám cung biến hoá.
Khi tôi viết tắt càn-càn thì hãy hiểu là người thuộc cung càn lấy người thuộc cung càn, hoặc tôi viết cấn- chấn thì hãy hiểu là người có cung cấn lấy người thuộc cung chấn v.v….
1.càn-đoài : sinh khí, tốt; càn-chấn : ngủ quỉ, xấu; càn-khôn :diên niên, phước đức, tốt.; càn-khảm; lục sát (du hồn), xấu; càn-tốn: hoạ hại (tuyệt thể), xấu; càn-cấn: thiên y, tốt; càn-ly: tuyệt Mệnh, xấu; càn-càn: phục vì (qui hồn), tốt.
2.khảm-tốn: sinh khí, tốt. khảm-cấn: ngủ quỷ, xấu. khảm-ly: diên niên (phước đức), tốt. khảm_khôn: tuyệt Mệnh,xấu. khảm_khảm phục vì (qui hồn), tốt
3.cấn-khôn: sinh khí, tốt. cấn-khảm: ngủ quỷ, xấu. cấn-đoài: diên niên (phước đức). cấn-chấn: lục sát (du hồn), xấu. cấn-ly: họa hại (tuyệt thể), xấu. cấn-càn: thiên y, tốt. cấn -tốn: tuyệt Mệnh, xấu. cấn-cấn: phục vì (quy hồn), tốt.
4.chấn-ly: sinh khí, tốt. chấn-cấn: ngủ quỉ, xấu. chấn-tốn: diên niên (phước đức), tốt. chấn-cấn: lục sát (du hồn), xấu. chấn-khôn: họa hại (tuyệt thể), xấu. chấn-khảm: thiên y, tốt. chấn-đoài: tuyệt Mệnh, xấu. chấn-chấn: phục vì (qui hồn), tốt.
5.tốn-khảm: sinh khí, tốt. tốn-khôn: ngũ quỉ, xấu. tốn-chấn: diên niên (phước đức). tốn-đoài: lục sát (du hồn). tốn-càn: hoạ hại (tuyệt thể), xấu. tốn-ly: thiên y, tốt. tốn-cấn: tuyệt Mệnh, xấu. tốn-tốn: phục vì (qui hồn), tốt
6. ly-chấn: sinh khí, tốt. ly-đoài: ngũ quỉ, xấu. ly-khãm: diên niên (phước đức), tốt. ly-khôn:lục sát (du hồn), xấu. ly-cấn : hoạ hại (tuyệt thể),xấu. ly-tốn: Thiên y, tốt. ly-càn: tuyệt Mệnh, xấu. ly-ly: phục vì (qui hồn), tốt.
7. khôn-cấn: sinh khí, tốt. khôn-tốn: ngủ quỉ,xấu. khôn-càn: diên niên (phước đức), tốt. khôn-ly: lục sát (du hồn), xấu. khôn-chấn: hoạ hại (tuyệt thể), xấu. khôn-đoài: thiên y, tốt. khôn-khảm: tuyệt Mệnh, xấu. khôn-khôn: phục vì (qui hồn), tốt.
8. đoài-càn: sinh khí, tốt. đoài-ly: ngũ quỹ, xấu. đoài-cấn, diên niên (phước đức), tốt. đoài-tốn; lục sát (du hồn), xấu. đoài-khảm: hoạ hại (tuyệt thể), xấu. đoài-khôn: thiên y, tốt. đoài-chấn: tuyệt Mệnh, xấu. đoài-đoài: phục vì (qui hồn), tốt.
Bây giờ xin nói lại về giờ âm lịch cho chính xác.
(theo tháng âm lịch)
Tháng 2 và tháng 8: từ 3giờ 40 đến 5 giờ 40 là giờ Dần.
Tháng 3 và tháng 7: từ 3g50 đến5g50 là giờ Dần
Tháng4 và tháng 6: từ 4g đến 6g là giờ Dần
Tháng5 : từ 4g10 đến 6g10 là giờ Dần
Tháng 10 và tháng chạp: Từ 3g20 đến 5g20 là giờ Dần
Tháng 11: từ 3g10 đến 5g10 là giờ Dần
Biết được giờ Dần ở đâu rồi thì các bạn tính lên là biết giờ khác. Ví dụ vào tháng 7 âm lịch từ 3g50 đến 5g50 là giờ Dần thì giờ Mão phải là từ 5g50 đến 7g50. Cứ thế tính được giờ Thìn, Tỵ…..
Bây giờ tôi cho thí dụ cách xem như thế này
Thí dụ nữ tuổi Nhâm tuất (1982) lấy nam Mậu Ngọ (1978) thì tốt hay xấu.
Xem bảng cung Mệnh tôi ghi từ 1977 đến 2007 ở trên thì thấy.
1. Xét về tuổi: Hai tuổi này thuộc về nhóm Tam Hợp, như đã nói ở trên, nên xét về tuổi thì hợp nhau.
2. Xét về Mệnh: Mậu ngọ có Mệnh Hoả, trong khi đó Nhâm Tuất này có Mệnh Thuỷ. Xem phần ngũ hành thì thấy Thuỷ khắc Hoả tức là tuổi vợ khắc tuổi chồng, vậy thì xấu không hợp.
3. Xét về cung: Mậu Ngọ có cung Chấn là cung sinh (cung chính) còn Nhâm Tuất này có cung sinh là Đoài. Xem phần Tám cung biến thì thấy chấn-đoài là bị tuyệt Mệnh, quá xấu không được.
Lại xét về cung phi để vớt vát xem có đỡ xấu không thì thấy Mậu Ngọ về nam thì cung phi là Tốn, Nhâm Tuất cung phi của nữ là Càn mà ở phần Tám cung biến thì tốn-càn bị hoạ hại, tuyệt thể.
Như vậy trong 3 yếu tố chỉ có hợp về tuổi còn cung, và Mệnh thì quá xung khắc, quá xấu. Kết luận có thể xẻ đàn tan nghé.
Hai tuổi này xem tuoi hop còn có thể kiểm chứng lại bằng phép toán số của Cao Ly (Hàn Quốc, Triều Tiên ngày nay). Tôi sẽ trình bày sau phần này, đây là một cách xem dựa vào thiên can và thập nhị chi của người Hàn Quốc xưa.
Sau đây tôi đưa 1 thí dụ khác lạc quan hơn thí dụ trước
Bây giờ giả sử nữ Kỷ Mùi (1979) lấy nam tuổi Mậu Ngọ (1978) thì tốt hay xấu.
Ta thấy:
Mậu ngọ (1978) Mệnh Hoả, cung sinh Chấn, cung phi Tốn (nam)
Kỷ Mùi (1979) Mệnh Hoả, cung sinh Tốn, cung phi Chấn (nữ)
a) Xét về tuổi hai tuổi hợp nhau vì cùng thuộc Lục Hợp, đã nói ở trên
b) Xét về Mệnh hai tuổi cùng Mệnh Hoả nên hợp nhau, khỏi bàn.
c) Xét về cung sinh thì xem tám cung biến ta thấy Chấn-tốn được diên niên (phước đức) như vậy là rất tốt
Thật ra chỉ cần hai cái tốt thì chắc hai tuổi lấy nhau là tốt rồi không cần xem cái ba
Tóm lại hai tuổi này lấy nhau rất tốt, đến đầu bạc răng long. Tại sao tôi quả quyết như vậy, bởi tôi còn dựa vào phép toán của Hàn Quốc nữa, sẽ nói sau
Sau đây là BÀI TOÁN CAO LY.
Xem cái này phải kết hợp thêm cung, Mệnh, tuổi.
*Nam GIÁP-KỶ lấy vợ tuổi
Tý Ngọ được tam Hiển Vinh
Sửu Mùi bị nhì Bần Tiện
Dần Thân được nhất Phú Quý
Mão Dậu được bị ngũ Ly Biệt
Thìn Tuất được tứ Đạt Đạo
Tỵ Hợi được tam Hiển Vinh
*Nam tuổi ẤT CANH lấy vợ tuổi
Tý Ngọ bị nhì Bần Tiện
Sửu Mùi được nhất Phú Quý
Dần Thân bị ngũ Ly Biệt
Mão Dậu được tứ Đạt Đạo
Thìn Tuất được tam Hiển Vinh
TỴ Hợi bị Nhì Bần Tiện
*Nam tuổi BÍNH TÂN lấy vợ tuổi
Tý Ngọ được nhất Phú Quý
Sửu Mùi bị ngũ Ly Biệt
Dần Thân được tứ Đạt Đạo
Mão Dậu được tam Hiển Vinh
Thìn Tuất bị nhì Bần Tiện
Tỵ Hợi được nhất Phú Quý
*Nam tuổi ĐINH NHÂM lấy vợ tuổi
Tý Ngọ bị ngũ Ly Biệt
Sửu Mùi được tứ Đạt Đạo
Dần Thân được tam Hiển Vinh
Mão Dậu bị nhì Bần Tiện
Thìn Tuất được nhất Phú Quý
Tỵ Hợi bị ngũ Ly Biệt
*Nam tuổi MẬU QUÝ lấy vợ tuổi
Tý Ngọ được tứ Đạt Đạo
Sửu Mùi được tam Hiển Vinh
Dần Thân bị nhì Bần Tiện
Mão Dậu được nhất Phú Quý
Thìn Tuất bị ngũ Ly Biệt
Tỵ Hợi được tứ Đạt Đạo
Thí dụ: Nam tuổi Giáp Dần lấy vợ tuổi Thìn hay Tuất thì được Đạt Đạo (gia đạo an vui)
Bần Tiện là nghèo khổ, bần hàn. Đây là nghĩa tương đối có ý nói không khá được sau này ( có thể 15 hay 20 năm sau mới ứng). Bởi con nhà đại gia lấy con nhà đại gia thì dù có bị Bần Tiện cũng là đại gia, nhưng về sau thì kém lần không được như cũ , có thể suy)
Câu trả lời sau đây.
Đàn ông tuổi Tý lấy vợ kỵ năm Mùi. ( năm Mùi không nên lấy)
………….Sửu ………….Thân.
………….Dần…………..Dậu
………….Mão…………..Tuất
………….Thìn………….Hợi
………….Tỵ……………Tý
………….Ngọ…………..Sửu
………….Mùi…………..Dần
………….Thân………….Mão
………….Dậu…………..Thìn
………….Tuất………….Tỵ
………….Hợi…………..Ngọ
Đàn bà tuổi Tý kỵ năm Mão. (không nên đám cưói năm Mão)
……………..Sửu ……….Dần.
……………..Dần………..Sửu.
……………..Mão………..Tý.
……………..Thìn……….Hợi.
……………..Tỵ…………Tuất
……………..Ngọ………..Dậu.
……………..Mùi………..Thân.
……………..Thân……….Mùi.
……………..Dậu………..Ngọ.
……………..Tuất……….Tỵ.
……………..Hợi………..Thìn.
Thí dụ:
Nam tuổi Tý lấy vợ thì năm nào cũng được nhưng tránh làm đám cưới vào năm Mùi đi. Hay nữ lấy chồng, nếu cô ấy là tuổi Thìn chẳng hạn, thì tránh làm đám cưới vào năm Hợi.
P/S: Bà con lưu ý, đây chỉ là 1 trong số những điểm tham khảo mà tôi sưu tầm đc. Nhưng nghiệm cũng đúng với một số người nên tôi thấy có thể tin đc phần nào. Mọi người xem xong ai thấy đúng sai thì góp ý nhé.
Ví dụ khác:
Nam tuổi Quý Hợi (1983) kết hôn với nữ tuổi Đinh Mão (1987) thì tốt hay xấu:
1. Thứ nhất xét về Tuổi:
Ta thấy Quý Hợi và Đinh Mão thì tuổi Hợi và tuổi Mão thuộc Tam Hợp (cặp 3 tuổi hợp nhau: Hợi-Mão-Mùi)
Kết luận: Về tuổi là Tam hợp: Tốt
2. Thứ hai: Xét về Mệnh:
– Nguyên tắc: Tuổi Chồng khắc vợ thì thuận (tốt); vợ khắc Chồng thì nghịch (xấu): Ví dụ: Vợ Mệnh Thủy lấy chồng Mệnh Hỏa thì xấu nhưng chồng Mệnh Thủy lấy vợ Mệnh Hỏa thì tốt. Vì Thủy khắc Hỏa, nhưng Hỏa không khắc Thủy mà Hỏa lại khắc Kim.
– Về trường hợp trên: Nam Quý Hợi (1983) là Mệnh Thủy; Nữ Đinh Mão (1987) là Mệnh Hỏa.
– Kết luận: Theo nguyên tắc trên thì xét về Mệnh của cặp tuổi trên là thuận (tốt).
3. Thứ ba: Xét về Cung:
Nam Quý Hợi (1983): Cung Sinh: Cấn; Cung phi: Cấn
Nữ Đinh Mão (1987): Cung Sinh: Càn; Cung phi: Khôn
Căn cứ theo tám cung biến hóa thì:
– Về cung sinh kết hợp với nhau là: Cấn – Càn: Thiên Y (tốt)
– Về cung phi kết hợp với nhau là: Cấn – Khôn: Sinh Khí (tốt)
Nhân tướng học đã nghiên cứu và kết luận rằng, muốn biết một người có phúc khí hay không thì cần xem tai của người đó. Xem tướng tai không những có thể biết được vận mệnh thời niên thiếu, gia cảnh, tính tình, trình độ học thức của người này, mà còn có thể dự đoán được trong tương lai, người này có thể giàu sang phú quỷ, được hưởng vinh hoa, bổng lộc hay không. Có thể nói, kết quả lao động vất vả cả đời người đều được thể hiện rõ ràng và đầy đủ trên đôi tai. Nói cách khác, đôi tai đã ghi lại quá trình trưởng thành của một đời người.

Tai nhỏ: thận trọng rụt rè
Người tai hơi nhỏ thì khá nhút nhát, rụt rè, thiếu sự tự tin, dù rất có hứng thú với một việc nào đó xong lại không dám làm thử, thuộc về những người thận trọng cẩn thận. Làm việc gì, họ cũng cân nhắc, suy nghĩ rất lâu, hơn nữa còn lo những chuyện không đâu kiểu "lo bò trắng răng", do vậy, trong công việc cần phải trải qua nhiều thử thách, tôi luyện thì mới phát huy được tiềm năng, cần phải bồi dưỡng lòng tự tin mới có thể tự lập được.
Tai to: dám nghĩ dám làm
Người tai to thông minh, chín chắn, làm việc gì cũng động não suy nghĩ, khá lanh nhẹn. Họ dám nghĩ dám làm, đã nghĩ là làm ngay, hơn nữa đã làm thì làm hết sức mình. Họ thích đi du lịch để mở mang tầm hiểu biết, họ có chí tiến thủ, có hoài bão và có thể thực hiện dần dần từng bước. Trong quan hệ giao tiếp, họ vừa thích được người khác khen ngợi, lại vừa thích khen ngợi người khác, do vậy rất được mọi người yêu mến và đón nhận.
Vành tai ngoài nhô ra: tính tình ngỗ ngược
Người có vành tai ngoài nhô ra thuở nhỏ tính tính ngỗ ngược, ngang bướng, thích gây chuyện rắc rối, chơi bời lêu lổng, không chịu học hành, khiến bố mẹ và người lớn phải lo lắng. Họ không có vận "quý nhân phù trợ" nên không thể có đột phá trong sự nghiệp, mà chỉ có thể tiến dần từng bước. Tay trắng lập nghiệp là điều không dễ dàng, họ cần phải trải qua thời gian rèn giũa, tôi luyện, mới có thể tìm được vị trí trong xã hội.
Vành tai trong khuyết góc: vận mệnh trắc trở
Người có vành tai trong khuyết góc thường ốm yếu từ nhỏ, thường có vấn đề sức khoẻ, khiến người nhà phải lo lắng tiêu tốn rất nhiều tiền của chữa bệnh cho họ. Thời học sinh, họ dễ "lầm đường lạc lối" bị bạn bè xấu rủ rê, lôi kéo, hơn nữa khi chán học thì họ không muốn tiếp tục học nữa, vậy nên vận mệnh của họ trắc trở, gian truân.
Tai mềm: hoà đồng
Người có tai mềm sống rất hoà đồng với mọi người, dễ có được mối quan hệ giao tiếp tốt đẹp. Tuy nhiên, họ rất coi trọng không gian cá nhân, mong muốn được làn việc một mình mà không bị ai quấy rầy, gây ảnh hưởng. Tai mềm nên dễ tin người khác do vậy thường bị mắc lừa, đặc biệt là trong quản lý tài chính, thường xuyên bị thất thoát do cả tin.
Tai cứng: sự nghiệp thành công
Người có tai cứng tính tình mạnh mẽ, không chịu khuất phục, tuy nhiên đôi lúc lại rất độc đoán, chèn ép người khác, khiến mọi người bất bình, khó chịu. Người có tai cứng thường thích làm việc một mình, bảo thủ cố chấp, khó tiếp thu ý kiến của người khác, cũng chính vì vậy mà họ không được quý nhân giúp đỡ, làm việc gì ùng vô cùng vất vả. Tuy nhiên, dù vậy họ vẫn dần dần thực hiện được mục tiêu của mình và có được thành công trong sự nghiệp.
Tai mỏng: không có vận may
Người có tai mỏng xuất thân hèn kém, lúc nhỏ sống khổ cực, phải gánh vác trách nhiệm nuôi gia đình, bôn ba khắp mọi nơi. Người có tai mồng cũng không có vận quý nhân, không thể phát tài nhanh chóng, lúc về già mới được "mở mày mở mặt". Họ kiếm tiền rất vất vả, phải rất nỗ lực mới kiếm được tiền, không có "thu nhập ngoại ngạch", tuy nhiên lại có thể kiếm được tiền do làm ăn bất chính
Tai dày: coi trọng lợi ích chung
Người tai dày chuộng tín nghĩa, coi trọng lợi ích chung, thậm chí có thể hi sinh vì lợi ích chung mà không đòi hỏi bất cứ sự đền đáp nào. Họ tôn trọng bạn bè, song đôi khi lại rất cố chấp, không hiểu rằng tình cảm thường hay thay đổi, tuy nhiên, họ lại khá thuận lợi trong tình yêu, được người yêu quan tâm chăm sóc, sau khi kết hôn, sẽ ở thành người nắm quyền hành trong gia đình.
Vành tai phía trên nhọn, nhô ra: cô đơn lẻ loi
Người có vành tai phía trên nhọn, nhô thường phải sống cô đơn, một mình một ngựa, họ thông minh, lanh lợi, song lại luôn cảnh giác dè chừng, lúc nào cũng nghi ngờ người khác, hơn nữa còn hay bài xích mọi người, bởi vậy họ rất khó kết bạn với người khác ít bạn bè thân thiết. Trong sự nghiệp, họ luôn nỗ lực phấn đấu một mình mà không tìm tới sự giúp đỡ của người khác, họ cũng thường chỉ muốn hưởng thành quả một mình chứ không muốn chia sẻ cho người khác, điều này cho thấy rõ họ là những lười có phần ích kỷ.
Tai đầy đặn: vận may nối tiếp
Người tai đầy đặn có xuất thân cao quý, gia cảnh giàu sang phú quý, được nuôi nấng chăm sóc trong điều kiện tốt nên họ rất tài hoa, có niềm tin và mạnh khoẻ, luôn tràn đầy sức lực, họ sống khá thọ. Trong nmọi việc, họ thường được quý nhân giúp, hiếm khi gặp trở ngại trong công việc, cũng dễ đạt được vị trí cao trong xã hội, danh tiếng vang xa lẫy lừng.

Tai mọc lông tơ: danh tiếng tốt
Người có lông tơ mọc ở tai rất thông minh hiếu học, thích tìm kiếm tri thức mới thích mở mang tầm mắt, ham học hỏi, tầm nhìn của họ thường hơn hẳn người khác, họ có thể tạo dựng sự nghiệp thành công từ hai bàn tay trắng. Do được quý nhân giúp đỡ nên họ dễ dàng có được địa vị cao trong xã hội và liên tục được thăng tiến, vì thế mà danh tiếng của họ cũng không ngừng vang xa. Người có lông tơ mọc ở tai rất mạnh khoẻ thường sống thọ.
Tai ”gọi gió": dễ kích động
Người có tai "gọi gió" thích gây chuyện kỳ quái, thích thể hiện mình và thường thành tâm điểm chú ý của mọi người. Song chớ cho rằng họ là người hoà đồng thân thiện, sự thực thì họ rất bướng bỉnh, cố chấp, không chịu nhượng bộ, dễ kích động thích nghi ngờ người khác, không thích hoạt đồng với mọi người, hơn nữa họ nghĩ gì nói đấy, không khéo léo, bởi vậy dễ gây hiểu lầm và xung đột.
Tai áp sát đâu: sáng lập sự nghiệp
Người có tai áp sát đầu thường thông minh lanh lợi, trầm tính ít nói, làm việc nghiêm túc và rất có tinh thần trách nhiệm, họ sẽ không đùn đẩy việc cho người khác. Họ thành khẩn, trọng chữ tín
thường giúp đỡ bạn bè. Trong sự nghiệp họ thích được cạnh tranh, không chịu sự bó buộc của khuôn mẫu truyền thống, họ dũng cảm đột phá, luôn thay đổi quan niệm tư duy của mình. Họ là những người theo kịp thời đại, thường có thể sáng lập sự nghiệp thành công.
Tai cao: có tài lãnh đạo bẩm sinh
Người có tai cao bẩm sinh thông minh xuất chúng, có tài ăn nói, hùng biện, học giỏi, luôn đạt thành tích xuất sắc trong học tập. Hoặc là họ được kế thừa sự nghiệp cha ông để lại hoặc là họ tự sáng lập nên sự nghiệp cho riêng mình, song dù thế thì họ cũng chứng tỏ được khả năng nổi trội của mình. Họ rất giỏi thuyết phục người khác, cũng giỏi giao tiếp, do vậy, họ chính là nhà lãnh đạo trời sinh.
Tai thấp: phản ứng chậm chạp
Người có tai thấp phản ứng thường chậm chạp, suy nghĩ không nhanh nhạy, do không có hứng thú học tập. Họ thích kiếm tìm lợi ích vật chất, do đó sẵn sàng tốn sức lực vào việc làm giàu. Họ giỏi giao tiếp, do đó quan hệ xã hội khá rộng, khuyết điểm duy nhất ở họ chính là năng lực phán đoán kém, dễ đánh giá nhầm người, thường bị người khác lợi dụng, lừa tiền bạc.
Đền Lý Bát Đế nằm tại xóm Thượng, làng Đình Bảng (nay là phường Đình Bảng), thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Tại đây hàng năm sẽ tổ chức một lễ hội hoành tráng kéo dài 3 ngày bắt đầu từ ngày 14-16 tháng 3 âm lịch. Tuy ngôi đền này không có phong cảnh thiên nhiên tuyệt mĩ nhưng lại lưu lại nhiều nét văn hóa cổ kính, độc đáo.
Đền Lý Bát Đế hay còn có tên gọi khác là Đền Đô hay Cổ Pháp điện là một quần thể kiến trúc tín ngưỡng thờ tám vị vua đầu tiên của nhà Lý:
Đền nằm cách thủ đô Hà Nội gần 20 km về phía Bắc, thuộc địa phận hương Cổ Pháp, châu Cổ Pháp (làng Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh) nên còn gọi là đền Cổ Pháp (Cổ Pháp Điện). Năm 1991, Đền Lý Bát Đế công nhận là di tích lịch sử – văn hóa.
Từ xưa, Cổ Pháp được liệt vào làng “tam cổ”: “Thứ nhất Cổ Bi, thứ nhì Cổ Loa, thứ ba Cổ Pháp”. Đất Cổ Pháp là nơi thắng địa bậc nhất Kinh Bắc, vượng khí, linh thiêng. Làng Cổ Pháp được cho là nơi phát tích của triều đình nhà Lý, kéo dài hơn 200 năm.
Đền Lý Bát Đế được khởi công xây dựng từ ngày 3 tháng Ba năm Canh Ngọ 1030 bởi Lý Thái Tông khi vị hoàng đế này về quê làm giỗ cha. Sau này, đền được nhiều lần trung tu và mở rộng. Lần trùng tu lớn nhất là vào năm thứ hai niên hiệu Hoàng Định của vua Lê Kính Tông (tức năm 1602), khắc văn bia ghi lại công đức của các vị vua triều Lý.
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, quân Pháp đã phá hủy nhiều di sản văn hóa ở Cổ Pháp. Năm 1952, quân Pháp dội bom, phá hủy hoàn toàn đền. Đến năm 1989, đền đã được khởi công xây dựng lại, theo đúng hình dáng và kiến trúc phác thảo, căn cứ vào dấu tích còn lại và các tài liệu lưu trữ.
Đền Đô rộng 31.250 m², với hơn 20 hạng mục công trình, chia thành: nội thành và ngoại thành. Tất cả đều được xây dựng công phu, đắp vẽ chạm khắc tinh xảo.
Khu vực nội thành có kiến trúc theo kiểu “nội công ngoại quốc”. Cổng vào nội thành gọi là Ngũ Long Môn vì hai cánh cổng có trạm khắc hình năm con rồng. Trung tâm của Khu nội thành và cũng là trung tâm đền là chính điện. Chính điện gồm trước tiên là Phương đình (nhà vuông) 8 mái 3 gian rộng đến 70 m². Tiếp đến nhà Tiền tế 7 gian rộng 220 m². Tại đây có điện thờ vua Lý Thái Tổ. Phía bên trái điện thờ có treo tấm bảng ghi lại “Chiếu dời đô” của vua Lý Thái Tổ với đúng 214 chữ, ứng với 214 năm trị vì của 8 đời vua nhà Lý. Phía bên phải có treo tấm bảng ghi bài thơ nổi tiếng “Nam quốc sơn hà Nam đế cư…”. Sau cùng là Cổ Pháp điện gồm 7 gian rộng 180 m² là nơi đặt ngai thờ, bài vị và tượng của 8 vị vua nhà Lý. Gian giữa là nơi thờ Lý Thái Tổ và Lý Thái Tông; ba gian bên phải lần lượt thờ Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông và Lý Thần Tông; ba gian bên trái lần lượt thờ Lý Anh Tông, Lý Huệ Tông và Lý Cao Tông.
Trong nội thành còn có nhà chuyển bồng, kiến trúc theo kiểu chồng diêm 8 mái, 8 đao cong mềm mại, nhà tiền tế, nhà để kiệu thờ, nhà để ngựa thờ. Đặc biệt, phía Đông đền có nhà bia, nơi đặt “Cổ Pháp Điện Tạo Bi” (bia đền Cổ Pháp). Tấm bia đá này cao 190 cm, rộng 103 cm, dày 17 cm, được khắc dựng năm Giáp Thìn (1605), do tiến sĩ Phùng Khắc Khoan soạn văn bia, ghi lại sự kiện lịch sử nhà Lê xây dựng lại đền và ghi công đức của các vị vua triều Lý.
Khu ngoại thất đền Đô gồm thủy đình trên hồ bán nguyệt. Đây là nơi để các chức sắc ngày trước ngồi xem biểu diễn rối nước. Hồ này thông với ao Cả trên và ao Cả dưới và sông Tiêu Tương xưa. Thủy đình ở phía Bắc hồ rộng 5 gian có kiến trúc chồng diêm 8 mái, 8 đao cong. Thủy đình đền Lý Bát Đế từng được Ngân hàng Đông Dương thời Pháp thuộc chọn là hình ảnh in trên giấy bạc “năm đồng vàng” và là hình in trên đồng tiền xu 1000 hiện nay.
Nhà văn chỉ ba gian chồng diêm rộng 100 m² nằm bên trái khu nội thành thờ Tô Hiến Thành và Lý Đạo Thành, những quan văn đã có công lớn giúp nhà Lý. Nhà võ chỉ có kiến trúc tương tự nhà văn chỉ, ở bên phải khu nội thành thờ Lê Phụng Hiểu, Lý Thường Kiệt, Đào Cam Mộc, những quan võ đã có công lớn giúp nhà Lý. Ngoài ra, ở khu vực ngoại thành còn có nhà chủ tế, nhà kho, nhà khách và đền vua Bà (thờ Lý Chiêu Hoàng, còn gọi là đền Rồng), v.v…
Lễ hội Đền Đô được tổ chức vào các ngày 14, 15, 16 tháng 3 âm lịch nhằm kỷ niệm ngày Lý Công Uẩn đăng quang (ngày 15/3 năm Canh Tuất 1009), ban “Chiếu dời đô”. Đây là ngày hội lớn mang tính quốc gia, thu hút hàng vạn khách hành hương thể hiện lòng thành kính và nhớ ơn của người dân Việt đối với các vua Lý. Đó còn là lễ hội truyền thống có từ lâu đời và trở thành phong tục được nhân dân xã Đình Bảng tự nguyện lưu giữ, trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân.
Tổ chức lễ cưới thật lớn
Nghe thật lạ phải không? Trường Đại học Virginia đã thực hiện một dự án về vấn đề hôn nhân, cuộc khảo sát hướng tới các cặp đôi người Mỹ nhằm tìm ra mối quan hệ giữa các cặp đôi hạnh phúc và quá khứ của họ.
Một điều trùng hợp đó là về loại đám cưới họ tổ chức. Sau khi khảo sát 418 cặp đôi, các nhà nghiên cứu đã nhận thấy mối quan hệ giữa đám cưới và hạnh phúc có liên quan đến chất lượng của lễ cưới.
Đám cưới lớn trong nghiên cứu này có nghĩa là lớn so với số lượng khách đến tham dự.
Hàm lượng chất khoáng trong xương cao
Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng có sự liên quan giữa sự chắc khỏe của xương và chất lượng của hôn nhân.
Những chàng trai không bao giờ nói “để anh làm” thì hôn nhân của họ thường không suôn sẻ, và các chàng trai này thường có hàm lượng chất khoáng trong xương khá thấp.
Vậy có lẽ bạn nên uống sữa trong những ngày mới yêu đấy.

Người vợ hấp dẫn sẽ khiến hôn nhân tốt đẹp hơn (Ảnh minh họa)
Có một người vợ hấp dẫn
Điều này có ngạc nhiên không? Một nghiên cứu do nhà tâm lý học Andrea Meltzer thực hiện với 450 cặp đôi mới cưới khoảng 4 năm.
Đa số đàn ông trong cuộc nghiên cứu đều đồng ý rằng vợ hấp dẫn sẽ khiến hôn nhân tốt đẹp hơn, tuy nhiên đa số phụ nữ lại phản đối điều này.
Có một người chồng không hấp dẫn
Các nhà nghiên cứu tin rằng đàn ông càng kém quyến rũ thì càng đối xử với người vợ xinh đẹp của họ tốt hơn vì đàn ông đánh giá cao vẻ đẹp bên ngoài.
Thể hiện sở thích một cách riêng biệt
Một khi bạn cưới bạn luôn cảm thấy cần làm mọi thứ cùng nhau, tuy nhiên trong mối quan hệ nếu một người không đồng tình với sở thích đó thì tốt hơn hết bạn nên đi một mình.
Theo một nghiên cứu đăng trên tạp chí Hôn nhân và gia đình, các cặp đôi làm những điều họ thích một cách riêng biệt thì càng có sự thoải mái trong hôn nhân.
Thoát khỏi con cái
Khi bạn hỏi một ông bố, hay bà mẹ về việc con họ ảnh hưởng thế nào đến hôn nhân, thì chắc chắn họ nói rằng không gì có thể chia cách được họ với con cái, tuy nhiên một nghiên cứu gần đây nhận định rằng các cặp đôi trẻ hay không có con thường có mối quan hệ rất hạnh phúc.
Điều này không có gì là ngạc nhiên khi bạn nhận ra bạn đã dành bao nhiêu thời gian cho việc nuôi dậy con cái.
Một trong 14 Chính Tinh. Sao thứ 5 trong 6 sao thuộc chòm sao Tử Vi theo thứ tự: Tử Vi, Thiên Cơ, Thái Dương, Vũ Khúc, Thiên Đồng, Liêm Trinh.
Vị Trí Ở Các Cung
Mỗi vì sao trong Tử Vi Đẩu Số đều được hình tượng hóa từ các nhân vật của Phong thần diễn nghĩa. Bài viết này xin được tiếp tục với hình tượng thứ hai là Sao Tham Lang - Đát Kỷ
Sau khi Trụ Vương từ cung Nữ Oa trở về, ngày đêm tơ tưởng đến dung mạo tuyệt mỹ của Nữ Oa nương nương, nên muốn hạ lệnh tìm kiếm, tuyển lựa mỹ nữ khắp thiên hạ, nhưng bị Tể tướng Thương Dung cùng các đại thần khác cực lực can gián nên đành phải từ bỏ ý định.

Nhân vật đại diện cho sao Tham Lang trong "Phong thần diễn nghĩa" chính là Đát Kỷ (hoặc phiên âm khác là Đắc Kỷ).
Vào tháng 04 năm Trụ Vương thứ tám, tứ đại chư hầu thông lĩnh các chư hầu nhỏ dưới quyền tập hợp tại Triều Ca để chúc mừng Trụ Vương đăng cơ tròn tám năm. Các chư hầu khi dâng lễ vật lên Trụ Vương đều phải có thêm một phần biếu tặng cho sủng thần của Trụ Vương là Phí Trọng. Hôm đó, khi Phí Trọng xem lại danh sách tặng lễ vật của các chư hầu, chỉ thấy thiếu phần của Ký Châu hầu Tô Hộ, nên trong lòng ngấm ngầm nghĩ kế ám hại.
Khi Trụ Vương bày yến tiệc tại điện Hiển Khánh thiết đãi các đại thần và chư hầu lớn nhỏ, Phí Trọng liền tâu với Trụ Vương răng: "Thân nghe nói con gái của Ký Châu hầu Tô Hộ xinh đẹp như tiên giáng trần, không những nghiêng nước nghiêng thành, mà còn hiền thục nhu thuận, đúng là bậc mỹ nữ đệ nhất trong thiên hạ, bệ hạ hãy cho nàng nhập cung. Như vậy, vừa thoả mãn được mong ước tuyển lựa phi tần của bệ hạ, lại vừa không kinh động đến cả nước, không biết ý của bệ hạ ra sao?"
Trụ Vương nghe vậy thì vui mừng khôn tả, bèn triệu Ký Châu hầu vào yết kiến. Khi đó, Tô Hộ đã cả gan tranh biện với Trụ Vương, đồng thời khơi sâu thêm mối oán thù với Phí Trọng, đến nỗi suýt bị Trụ Vương cho giải ra Ngọ Môn chém đầu thị chúng.
Ký Châu hầu Tô Hộ nhiều lần vì kháng mệnh và phải hứng chịu đủ các loại cực hình, sau cùng nghe theo lời khuyên bảo của Tầy Bá hầu Cơ Xương, mà tạm thời từ bỏ ý định đối kháng, chấp nhận cho con gái là Đát Kỷ nhập cung.
Tô Hộ có 2 người con, một trai một gái. Người con trai trưởng là Tô Toàn Trung, văn võ song toàn, dũng mãnh vô song. Người con gái là Tô Đát Kỷ, 16 tuổi khi mới nhập cung, là một bông hoa đẹp tuyệt trần: mắt long lanh như sương mai, da mịn màng tựa nhung lụa, mũi cao thẳng, miệng hoa nhỏ, dáng đi thướt tha mà giọng nói lại trong trẻo.
Trụ Vương lập tức bị Đát Kỷ mê hoặc, bỏ bễ triều chính, phá hoại kỷ cương triều đình. Theo như tiểu thuyết "Phong thần diễn nghĩa", Đát Kỷ trước khi nhập cung thì cũng chỉ là một cô nương bình thường. Trên đường dâng nạp cho trụ vương đã bị yêu tinh do Nữ Oa nương nương phái xuống trần thế nhập vào thân xác để phá hoại cơ nghiệp của Trụ Vương, nhằm đẩy nhà Ân Thương đi đến chỗ diệt vong.
Trụ Vương thấy Đát Kỷ xinh đẹp tuyệt trần, thì vô cùng sủng ái, cho xây dựng cung Thọ Tiên cho Đát Kỷ ở, ngày đêm hưởng lạc, dâm loạn vô độ. Đát Kỷ đã dùng nhan sắc và tài nghệ khiến Trụ Vương thần hồn điên đảo, bỏ bê việc triều chính. Khương Hoàng hậu và các đại thần như Tể tướng Thương Dung, Á tướng Tỷ Can, trung thần Mai Bá, Đông Bá hầu Khương Hoàn... lần lượt đều bị hại chết về tay Đát Kỷ. Ngược lại, gian thần Phí Trọng nhờ có sự hậu thuẫn của Đát Kỷ mà giành được chức Tể tướng.
Từ khi nhập cung cho đến năm Trụ Vương thứ 28, Đát Kỷ đã mê hoặc Trụ Vương suốt hai mươi năm, cho đến tận khi Khương Tử Nha thống lĩnh các lộ chư hầu đánh vào Triều Ca, tiêu diệt Ân Thương, lập nên vương triều Chu.
Đát Ky bị giết, hồn phách bay đến đài Phong Thần tại Tây Kỳ, được phong làm sao Tham Lang (sói tham). Đó là do bên ngoài điện thần của Đát Kỷ có một đàn sói dữ canh cổng, nhằm canh giữ cho Đát Kỷ ở yên trong cung.