Tồn tại giữa thời hiện đại nhưng có những nơi vẫn mang đậm dấu ấn xưa cũ một cách huyền bí, lạ kì, thậm chí kinh dị. Ngôi làng ma hẻo lánh ở Hà Nam, Trung Quốc
dường như tách biệt hẳn với thế giới và chứa đựng nhiều điều chưa ai lý giải nổi.
► Lịch ngày tốt gửi đến độc giả những câu chuyện về giải mã giấc mơ, thế giới tâm linh huyền bí có thật?
Ngôi làng Phong Môn thuộc địa phận tỉnh Hà Nam, Trung Quốc nằm giữa hai thành phố sầm uất Thẩm Dương và Tấn Thành. Làng ẩn sâu trong rừng núi với cánh cổng luôn đóng kín, trải qua hàng trăm năm phong kiến từ đời Minh – Thanh với những câu chuyện thần bí đáng sợ. Người ta thường nói về làng Phong Môn (làng đóng cửa) là một ngôi làng ma, nơi người – ma sống lẫn lộn, nam nhân trong làng không được lấy vợ, nữ nhân trong làng không được sinh con, quanh năm suốt tháng đều phải đóng kín cửa nhà. Với kiến trúc cổ kính từ đời Minh – Thanh, tọa ngự ở nơi non xanh nước biếc, lại ẩn chứa biết bao điều thần bí nên làng Phong Môn là một điểm đến thu hút của rất nhiều nhà leo núi ưa phiêu lưu, khám phá. Tuy nhiên, rất nhiều nhà thám hiểm đều kể rằng, sau khi đi qua địa phận của làng, họ thường nghe thấy những âm thanh và giọng nói kỳ lạ. Nhiều người nói rằng họ cảm thấy choáng váng, uể oải ngay khi bước chân vào ngôi làng ma. Một số người khác còn cho biết, họ bị một thế lực thần bí nào đó trong ngôi làng dẫn dắt đến một ngôi nhà hoang trống không với chiếc quan tài ở giữa. Một nhà leo núi chia sẻ kỷ niệm khó quên của mình khi cắm trại bên cạnh bờ sông của làng: “Vì muốn dọa cho mấy người bạn đồng hành của mình một phen cho vui, anh đã gằn giọng gọi tên của họ trong bóng tối, thế nhưng đáp lại, một giọng nói xa lạ và u ám cất lên gọi lại tên anh. Cả anh và các chiến hữu của mình đều vô cùng sợ hãi và xác nhận rằng họ chưa bao giờ từng nghe một giọng nói nào như thế”.
Người ta đồn rằng, khi tới ngôi làng này, tuyệt đối không nên bắt chuyện, bắt tay hoặc ăn uống với bất kì ai. Bởi, ma đi lại quanh làng như người, và biết đâu, người mình vừa bắt chuyện đã không còn sống từ cách đây nhiều năm. Ban đêm, nếu bước chân ra đường thì dù không muốn cũng sẽ đi tới nghĩa trang. Ở đây, những hồn ma trò chuyện, lôi kéo và "tán tỉnh" người lạc đường để họ trở nên u mê. Nếu không tin vào ma quỷ hoặc các hiện tượng tâm linh kì bí, hãy thử đặt chân đến ngôi làng ma ở Trung Quốc này, biết đâu bạn sẽ thay đổi suy nghĩ. ST
Thông thường đường chỉ tay xuất ngoại nằm bên dưới đường tình duyên hoặc đường trí tuệ hay đường trí đạo. Các bàn tay đều khác nhau, nhưng nói chung những đường chỉ tay chạy song song bên cạnh bàn tay từ ngón út chạy xuống. Đường chỉ tay xuất ngoại Đ
Thông thường đường chỉ tay xuất ngoại nằm bên dưới đường tình duyên hoặc đường trí tuệ hay đường trí đạo. Các bàn tay đều khác nhau, nhưng nói chung những đường chỉ tay chạy song song bên cạnh bàn tay từ ngón út chạy xuống.
Đường chỉ tay xuất ngoại
Đường đi lên từ cổ tay Những đường bắt đầu từ đường vận mệnh Đường đi lên từ đường vận mệnh Đường song song với gò Thái Âm
Những đường song song dưới ngón tay út là các đường xuất ngoại. Nếu trên các đường này có thể những nhánh con rẽ ra thì tương lai bạn sẽ định cư ở nước ngoài.
Những đường dài từ rìa bày tay chạy vào trong lòng bàn tay và những đường dài không bị đứt đoạn ở cổ tay thì có nghĩa là bạn sẽ có nhiều tiền bạc và tài lộc trong chuyến xuất ngoại lần này.
Nếu bạn có một đường thẳng trong lòng bàn tay mà cắt ngang đường trí tuệ thì báo hiệu rằng bạn sẽ bị thương trong lần xuất ngoại lần này.
Nếu trên khu vực gò Thái Âm có những dấu Nhân “X” thì biểu hiện rằng bạn sẽ tốn nhiều tiền bạc cho việc làm giấy tờ, thủ tục, sẽ gặp khó khăn, thất bại nhiều lần thì mới thành công.
Trên đây là những giải đáp về đường chỉ tay xuất ngoại trên lòng bàn tay. Những đường chỉ tay này không xuất hiện từ khi còn nhỏ mà chỉ xuất hiện khi bạn trưởng thành, có dự định đi ra nước ngoài, hoặc một số đường chỉ tay xuất ngoại chỉ xuất hiện khi bạn đã xuất ngoài thành công.
Văn khấn Thần tài thổ địa vào ngày mùng 01 đầu tháng và 15 hàng tháng.
Theo tục lệ xưa để lại, cứ vào ngày mồng Một và chiều tối ngày Rằm hàng tháng, các gia đình người Việt Nam thường làm lễ cúng Thần Tài để cầu xin cho mọi người trong gia đình được khoẻ mạnh, bình an, may mắn, thành đạt… .
Lễ cúng vào ngày Mồng Một (lễ Sóc) và lễ cúng vào chiều tối ngày Rằm (lễ Vọng) thường là lễ chay: Hương, loa, trầu cau, quả, tiền vàng. Ngoài lễ chay cũng có thể cúng thêm lễ mặn vào ngày này gồm: Rượu, thịt gà luộc, các món mặn.
Sắm lễ ngày mồng một và ngày rằm chủ yếu là thành tâm kính lễ, cầu xin lễ vật có thể rất giản dị: hương, hoa, lá trầu, quả cau, chén nước.
Văn khấn Thần tài Thổ địa
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.
– Con kính lạy ngày Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân.
– Con kính lạy Thần tài vị tiền.
– Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.
Tín chủ con là…… Ngụ tại………
Hôm nay là ngày… tháng… năm…
Con chủ thành sửa biện, hương hoa, lễ vật, kim ngân, trà quả và các thứ cúng dâng, bầy ra trước án kính mời ngài Thần Tài tiền vị.
Cúi xin Thần Tài thương xót tín chủ, giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật phù trì tín chủ chúng con an ninh khang thái, vạn sự tốt lành, gia đạo hưng long thịnh vượng, lộc tài tăng tiến, tâm đạo mở mang, sở cầu tất ứng, sở nguyện tòng tâm.
Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ cúi xin được phù hộ độ trì.
Nam mô a di Đà Phật! Nam mô a di Đà Phật! Nam mô a di Đà Phật!
Cửa ra vào cần phải sạch sẽ, con người vốn đã không thích nhếch nhác, huống chi là ThầnNếu cửa ra vào nhà bạn bừa bộn lung tung, sẽ ảnh hưởng đến tài vận của những người trong gia đình. Vì vậy cửa ra vào luôn cần phải được vệ sinh sạch sẽ để không ảnh hưởng đến tài vận.2. Không để cho tủ lạnh và các ngăn tủ đựng đồ trong nhà bếp trống không
Trong phong thủy, nhà bếp chính là tài kho, là “thủ trưởng” trong tài vận. Tủ lạnh và những tủ cất trữ thực phẩm khác trong nhà bếp, phải luôn luôn không được ở trong tình trạng trống không. Tốt nhất là luôn có hơn phân nửa đồ ăn và thực phẩm ở trong tủ, điều này sẽ khiến tài vận sẽ tụ.
Nhà bếp chính là tài kho trong tài vận. (Ảnh: Internet)
3. Vị trí sinh tài vượng hay còn gọi là “tài vị” phải sạch sẽ sáng sủa
Tài vị là vị trí thịnh nhất trong ngôi nhà và cũng là điểm giao thoa giữa 2 dòng khí: tinh khí hướng lên trên và địa khí hướng xuống dưới.Tài vị thường nằm trong phòng khách, điều kiện chủ yếu là yên tĩnh, ổn định và không được nằm ở vị trí động. Thông thường tài vị nằm ở góc đối diện với cửa vào phòng khách, bao gồm 3 vị trí sau:– Nếu cửa của ngôi nhà thiết kế ở bên trái, thì tài vị nằm ở góc đối diện bên phải của cửa phòng khách.– Nếu cửa ngôi nhà thiết kế ở bên phải thì tài vị nằm ở góc đối diện phía bên phải của cửa phòng khách.– Nếu cửa của ngôi nhà thiết kế ở giữa thì tài vị nằm ở góc đối diện 2 bên.
Nói chung việc tạo ánh sáng cho “vị trí sinh tài vượng” ở trong nhà rất quan trọng, vị trí này sạch sẽ sáng sủa sẽ làm cho nguồn tài cuồn cuộn chảy về; nên đặt một cây cảnh có lá to màu xanh, tràn đầy sức sống vào vị trí này, ví như là cây vạn niên thanh, cây phát tài, cây hoàng kim cát, v.v…, như vậy có thể tăng thêm sinh khí cho “vị trí tài vượng”, sẽ làm cho tài vượng tốt đến nhiều hơn.
4. Treo tranh chữ có ngụ ý cát tường
Người hiện đại thường thích treo tranh chữ ở trong nhà với mục đích là để thưởng thức, trang trí cho ngôi nhà đẹp hơn. Từ góc độ phong thủy mà nói, ngụ ý của tranh chữ rất quan trọng, nếu những chữ này có ngụ ý cát tường, sẽ làm cho phong thủy của ngôi nhà như là thêu hoa trên gấm.
5. Dán chữ “Phúc” ở trên cửaTài vận tốt một phần là do phúc khí, nếu không có nó thì thật khó nói là người có phúc. Vì vậy, hãy dán chữ “Phúc” ở trên cửa ra vào, ngụ ý là phúc đến vận đến, chiêu tài nạp phúc, có tác dụng tốt trong phong thủy.
Lời kết: Từ xưa nay phong thủy luôn được coi là có thể ảnh hưởng đến tài vận, phúc khí của con người. Vậy nên, để tăng thêm tài vận cho bản thân và gia đình bạn, không nên ngại ngần sắp xếp lại ngôi nhà mình đang ở. Dọn dẹp, chỉnh chu lại chỗ ở trở nên sạch sẽ, thông thoáng hơn, điều này thật dễ dàng làm và có thể làm thường xuyên hằng ngày. Treo những bức tranh có ngụ ý tốt lành và những chữ như chữ “Phúc”, đây cũng là một việc làm tốt và có ý nghĩa cho ngôi nhà của bạn.
Cuối cùng, chính là thay đổi từ bản thân bạn. Nếu bạn cần cù chăm chỉ, làm việc chú tâm, trong cuộc sống cũng như công việc thì có thể thiện tâm mà sẵn sàng giúp đỡ mọi người xung quanh, như vậy điều mà bạn nhận lại được sẽ rất nhiều!
Theo Tinh Hoa Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thanh Vân (##)
► Xem bói tử vi 2016 để biết vận mệnh, công danh, tình duyên của bạn
Trường lưu Thủy cuồn cuộn bất tuyệt, tất quy về phương Đông Nam, xuôi dòng tự quy về Thìn, Tỵ. Thủy này nếu tọa cung Tài Bạch, một đời không được phú quý nhưng cũng không nghèo khổ. Tuy trong tay không có được số tiền lớn nhưng không bao giờ thiếu tiền dùng. Nhân Thìn là Chính ấn, mang đức trong sáng. Người mệnh này có lòng bao dung, tâm sáng như gương. Sinh vào mùa xuân, hạ, đại phú đại quý; sinh vào mùa thu, đông, gian trá thất đức. Nhâm Thìn là Thủy tự khố, nếu là hồ chứa nước đều ưa gặp Thủy. Duy có kỵ Nhâm Tuất, Quý Hợi Đại hải Thủy, Bính Tý Giản hạ Thủy, sinh vượng thái quá, là tượng tràn lan. Thủy này ưa Kim sinh dưỡng như Tân Tỵ Bạch lạp Kim, Tân Hợi Thoa xuyến Kim, cũng ưa Nhâm Thân, Quý Dậu Kiếm phong Kim và Nhâm Dần, Quý Mão Kim bạc Kim. Gặp Giáp Tý, Ất Sửu Hải trung Kim; Giáp Ngọ, Ất Mùi Sa trung Kim cũng vô dụng. Lục Thập Hoa Giáp của Nhâm Thìn kỵ Thổ làm tắc nghẽn khô cạn, nhưng Thổ lại có công đắp đê, chỉ lấy Canh, Tân, Bính, Đinh là tốt; Mậu, Kỷ là không tốt. Gặp Hỏa là tương hình, duy ưa gặp Đinh Mão Lư trung Hỏa, Đinh Dậu Sơn hạ Hỏa, ưa nhất gặp Ất Hợi Sơn đầu Hỏa. Gặp Mộc, lấy Quý Sửu Tang đố Mộc làm núi, Quý Mùi Dương liễu Mộc làm vườn, tọa thời trụ là Thủy nhiễu hoa đề cách, chủ hiển quý. Ưa Quý Hợi Đại hải Thủy, gọi là Long diệu thiên môn cách. Trụ khác nên gặp Kim là tốt, mệnh nữ dung mạo xinh đẹp, thông minh. Chi khác không ưa gặp Tuất, kỵ nhất Mậu Tuất là phạm hình xung, xung thì Thủy tất sẽ bị tràn lan, chủ hung tai. Mệnh nữ khắc chồng, mệnh nam một đời phiêu bạt, còn chủ con cái duyên mỏng. Chi khác có Thìn, phạm hình, chủ là người cố chấp thiên kiến, nông cạn, vợ chồng duyên mỏng. Nếu tọa thời chi nên nương nhờ cửa Phật. Nếu Địa chi của ngũ trụ có Thìn, nam khắc vợ, nữ khắc chồng. Nhâm lộc tại Hợi, ưa chi khác có Hợi, chủ phú quý. Nhâm quý tại Mão, ưa chi khác có Mão, chủ cát lợi. Người sinh năm Nhâm, Văn xương tại Dần, chi khác có Dần, có thể học mệnh lý, làm thầy giáo hoặc hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật. Người tuổi Nhâm Thìn gặp năm Thìn, Tuất, trong nhà không yên ổn, không hại đến bản thân cũng hại đến người nhà. Nếu Địa chi của ngũ trụ có Thìn, nam khắc vợ, nữ khắc chồng. Nhâm Thìn chọn bạn đời nên tìm người sinh năm Bính, Đinh. Không nên gặp người sinh năm Mậu, Kỷ.Theo Tử vi toàn tập Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Cát Phượng (##)
Tự thuật chấn động của một vị hòa thượng đã khai mở thiên mục
Trên đây là những sự thật khiến chúng ta phải giật mình chấn động trong lời kể sau đây của một vị hòa thường đã khai mở thiên mục, nói về lịch sử thuở xưa
Phát hiện những bí mật kỳ diệu của thân thể con người, sự thật kinh hoàng về thuyết tiến hóa của Darwin, hay tiết lộ về những phụ thể là động vật cáo, chồn … bám lên thân thể con người ngày nay. Đó là những sự thật khiến chúng ta phải giật mình chấn động trong lời kể sau đây của một vị hòa thường đã khai mở thiên mục.
Trước hết tôi xin được giới thiệu một chút, bản thân tôi năm nay đã 46 tuổi rồi, xuất gia làm tăng đã hơn 20 năm. Quê nhà của tôi ở tỉnh Vân Nam, nhưng tôi lại xuất gia ở một ngôi chùa của Miến Điện. Quê nhà chúng tôi rất kính ngưỡng Phật Pháp, gần như từng làng từng thôn, từng nhà từng hộ đều tín Phật, nếu như có người nào đó xuất gia làm tăng, toàn bộ gia tộc của người này đều sẽ cảm thấy rất tự hào.
Theo lời kể của mẹ tôi, lúc tôi vừa mới đầy tháng, thì đã được thọ giới, trở thành đệ tử của Phật. Tôi xuất gia vào năm 1990, lúc đó tôi 25 tuổi, lúc đó đứa con trai lớn của tôi đã được 8 tuổi. Vào ngày tôi xuống tóc, người dân trong thôn tôi đều đến chúc mừng tôi, vợ của tôi cũng rất vui mừng. Chỗ chúng tôi có phong tục như thế này, phàm là những người có gia đình xuống tóc xuất gia, vợ con của họ đều sẽ được cả làng chăm sóc tốt.
Ngôi chùa mà tôi xuất gia rất nhỏ, thêm tôi vào nữa thì cũng không đến mười người. Sư phụ của tôi là một hòa thượng rất già, những lúc bình thường không hay nói chuyện, nhưng mọi người dân trong làng gần đó lại rất tôn kính ông. Dưới sự dạy dỗ của sư phụ, tôi đã bắt đầu cuộc sống tu hành. Ngôi chùa chúng tôi thuộc về Phật giáo tiểu thừa, chỉ cung phụng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là tổ tôn, còn những vị Phật hay Bồ Tát khác, chúng tôi hết thảy đều không thừa nhận.
Cuộc sống tu hành cơ bản chính là như vậy: trồng trọt, ăn cơm, ngồi thiền tụng Kinh, ngoài ra cũng không có nội dung gì khác nữa, nhưng những điều này đối với tôi mà nói lại rất khó khăn, bởi vì tôi vốn không biết chữ, xem không hiểu kinh Phật, vậy nên chuyện tụng Kinh này tôi chính là làm không được. Tuy nhiên, sư phụ không cưỡng cầu tôi phải biết chữ, ông nói không biết chữ có khi trái lại còn là việc tốt, xem không hiểu kinh Phật cũng không hẳn là chuyện xấu, ông chỉ yêu cầu tôi nghiêm thủ giới luật, đả tọa tham thiền, vì vậy đã miễn việc tụng Kinh. Đương nhiên, sau này tôi lại biết chữ, nhưng đó là có cơ duyên khác dẫn đến.
Phật giáo tiểu thừa chúng tôi là thông qua trì giới nhiếp tâm, từ nhiếp tâm mà nhập định, từ nhập định mà khai mở trí huệ. Cũng không biết là tại sao, các sư huynh sư đệ thậm chí bao gồm cả sư phụ của tôi trong đó, nhập định đều rất khó khăn, trong khoảng một năm, khó mà thật sự nhập định được mấy lần, nhưng tôi thì lại khác, sau khi tu hành được ba tháng, tôi liền có thể nhập định trong lúc ngồi thiền.
Tôi biết, rất nhiều cư sĩ tại gia bản thân cũng từng ngồi thiền, nhưng lại không nhất định thể nghiệm qua cảm giác của việc nhập định. Thật ra nhập định chính là như vậy, các vị ngồi xếp bằng ở đó, khi tạp niệm dần dần diệt tận, mọi người sẽ tiến nhập vào một loại cảm giác tĩnh lặng hoàn toàn không còn một niệm, trong trạng thái tĩnh lặng này, công năng cảm quan của thân thế người toàn bộ đều mất hết, bản thân cảm thấy chỉ mới qua đi có mấy phút, thậm chí là mấy giây, nhưng khi xuất định xem lại thời gian, lại là đã trôi qua mấy tiếng đồng hồ rồi. Sư phụ nói tôi sở dĩ có thể nhập định mau chóng như vậy, thật ra chính là chỗ tốt do không biết chữ mang đến.
Thời gian mùa hè năm 1991, tôi xuất gia đã được hơn 1 năm rồi. Một buổi tối nọ, dưới sự dẫn dắt của sư phụ, toàn bộ hòa thượng trong chùa chúng tôi vây thành một vòng tròn ngồi thiền trước Pháp tượng của Đức Phật Thích Ca, bất giác tôi lại nhập định. Tuy nhiên, lần nhập định lần này không giống như những lần trước, lúc đó tôi tự mình cảm giác hẳn là đã nhập định được khoảng một giờ đồng hồ rồi, nhưng khi xuất định, các vị sư huynh nói với tôi rằng, tôi đã ở trước tượng Phật nhập định ròng rã suốt bảy ngày liền, hơn nữa trong bảy ngày này, phía trên đỉnh đầu của tôi cứ mãi có vầng sáng bảy màu lưu chuyển, ngày đêm không ngừng, cho dù những người bình thường dùng mắt thịt cũng có thể nhìn thấy được, nhưng vầng sáng này đến từ nơi nào, lại là điều ai cũng không nói rõ được.
Sau khi xuất định lại qua mấy ngày nữa, tôi ngẫu nhiên phát hiện, bản thân mình nhắm mắt lại cũng có thể nhìn thấy đồ vật, hơn nữa còn nhìn được rõ ràng hơn cả khi nhìn bằng con mắt. Tôi đi thỉnh giáo sư phụ rằng đây là chuyện như thế nào, ông nói tôi chính là đã khai mở thiên nhãn thần thông, là chuyện tốt. Từ đó, tôi càng cố gắng dụng tâm tu hành. Đến đầu năm 1992, có một buổi sáng sớm khi tôi bái lạy trước tượng Phật, tôi đột nhiên phát hiện Pháp tượng của Đức Phật Thích Ca phát ra ánh hào quang sáng chói, đồng thời cảm thấy có một luồng nhiệt giống như lửa từ đỉnh đầu của tôi tràn vào trong thân thể, dần dần tràn ngập ra khắp toàn thân, cả con người tôi cũng đã tiến nhập vào một loại trạng thái mơ hồ, tựa hồ như thời gian đều đã ngừng lại vậy. Cảm giác đó mĩ diệu phi thường, giống như là tắm nước nóng trong mơ vậy, tôi có một loại cảm giác đột nhiên đại ngộ, đồng thời thiên nhãn thần thông của tôi đã tăng tiến thêm một bước, ngay tại lúc đó, tôi đã nhìn thấy Pháp thân của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ở trên tượng Phật. Chỉ đây thôi vẫn còn chưa hết, tôi còn nhớ lại rất nhiều sự tình của những đời trước kiếp trước.
Thì ra, trong hai kiếp trước của quá khứ, tôi đều là hòa thượng xuất gia tu hành, nhưng vì nghiệp tội đời đời kiếp kiếp tích lũy quá nhiều, chướng ngại trùng trùng, đều không tu thành Chánh Quả. Ấy vậy, mỗi lần trước lúc viên tịch, tôi đều phát thệ nguyện rằng đời sau vẫn sẽ tiếp tục tu hành, vậy nên đời này lại đi vào cửa Phật tiếp tục duyên xưa. Bởi sự tu hành trong hai đời trước, nghiệp tội của tôi đã tiêu, lại tích lũy được vô lượng công đức, vậy nên lần tu hành này đã trở nên dễ dàng vô cùng, là điều mà những người tu hành bình thường vốn không có cách nào so sánh được.
Dựa vào căn cơ cùng với hồng nguyện ba kiếp của tôi, chỉ cần ý chí kiên định, đời này tu thành Chánh Quả là chuyện nhất định. Đáng buồn thay, tôi vừa mới nhớ lại những chuyện đời trước, Pháp thân của Đức Phật liền khai thị cho tôi, Phật Tổ nói Pháp mà Ngài truyền đã không còn được nữa rồi, vốn không còn có thể độ nhân được nữa, càng không thể khiến người ta tu thành Chánh Quả, hơn nữa Phật Tổ cũng sắp buông bỏ thế gian, không còn quản chuyện của nhân gian nữa.
Khi nghe tin dữ này, lòng tôi không khỏi đau đớn, lúc đó hai hàng nước mắt chảy mãi không ngừng, tôi nói Phật Tổ buông tay cõi người, như vậy ai sẽ trông coi độ hóa cho những đệ tử tín phụng Người như chúng tôi đây? Pháp thân của Đức Phật Thích Ca nói, người này đi rồi, tự nhiên sẽ có người khác đến thay, trong tám vạn bốn nghìn pháp môn, tự nhiên sẽ có con đường có thể độ hóa các con đến bờ bên kia của Niết Bàn. Nói xong, Pháp thân của Đức Phật Thích Ca liền biến mất không thấy đâu nữa. Tôi đem tình huống mà Đức Phật nói với tôi kể lại với sư phụ và những người khác, sư phụ hỏi tôi sẽ dự tính thế nào, tôi đã đắn đo suy nghĩ rất lâu, nói với sư phụ rằng tôi sẽ đi vân du, đi tìm Pháp, đi tìm con đường thông đến bờ bên kia của Niết Bàn.
Phần trên nói tôi có thiên nhãn thần thông, tôi biết rất nhiều người cảm thấy hứng thú đối với cái này, ở đây, không ngại thì nói một chút vậy. Cái được gọi là thiên nhãn (thiên mục), thật ra chính là thể tùng quả của con người, cũng chính là Nê Hoàn cung mà Đạo gia nói đến. Mỗi người đều có thể tùng quả, chỉ cần trải qua tu luyện, thông qua năng lượng gia trì, đều có thể mở được thiên nhãn, cái này không có gì là thần bí cả.
Đạo sĩ tu luyện 300 năm trong núi sâu vén mở bí mật về công năng đặc dị
Dùng thiên nhãn nhìn thế giới, hoàn toàn không phải là cùng một khái niệm với con mắt thịt này, không phải là điều mà người thường có thể tưởng tượng được. Chúng ta dùng mắt thịt để nhìn đồ vật, thì đứng ở một chỗ chỉ có thể nhìn được một phương hướng, một tầng mặt, đúng vậy không? Dùng thiên nhãn nhìn thì sao, là toàn bộ phương vị, lập thể, cho đến hết thảy tín tức. Chính là nói chỉ nhìn thoáng qua một cái thì bốn mặt tám hướng, trên dưới trái phải, từ trong đến ngoài, toàn bộ tín tức nhìn không sót cái gì cả. Ví như nhìn một người, các vị dùng mắt thịt chỉ có thể nhìn được một khía cạnh của anh ta, hơn nữa chỉ có thể nhìn được bề mặt, còn dùng thiên nhãn thì sao, mỗi một tế bào của người này tôi đều có thể nhìn được hết sức rõ ràng, ngay cả trong lòng anh ta đang nghĩ cái gì, đều có thể nhìn ra được.
Thiên nhãn thông là gì, vì sao có thể nhìn thấy trước tương lai?
Sau khi khai mở thiên nhãn, đặc biệt là sau khi nhớ lại những việc trước đây của tôi, tôi liền lại có thể biết chữ, nhưng đều là chữ phồn thể, chữ giản thể tôi cũng đọc được, những quyển sách khác, ngay cả lật cũng không cần lật, tôi đảo mắt một cái toàn bộ đều biết hết. Bây giờ những cái gọi là khoa học kỹ thuật cao, trong mắt của tôi, đều là rất đơn giản, nhìn một cái là xuyên qua toàn bộ.
Thiên nhãn trong Phật gia chia thành năm tầng thứ:
Nhục nhãn thông
Thiên nhãn thông
Huệ nhãn thông
Pháp nhãn thông
Phật nhãn thông.
Khi tôi vừa mới khai mở thiên nhãn là đã ở tầng thứ nhục nhãn thông, đợi đến khi bắt đầu vân du, chính là tầng thứ Pháp nhãn thông rồi. Đến bước Pháp nhãn thông này rồi, tôi không những có thể nhìn được toàn bộ tín tức của người và động vật, mà còn có thể nhìn được lịch trình ba đời quá khứ của một sinh mệnh, có thể nhìn được nhân duyên ba đời trong quá khứ. Chỉ đáng tiếc là, tôi nhìn không được con đường tương lai của một sinh mệnh. Thật ra, cái gọi là thiên nhãn này, không phải là mê tín gì cả, ngay cả dùng đạo lý của khoa học cũng có thể hoàn toàn giải thích được.
Ví dụ như, mắt thịt của người thường chỉ có thể nhìn thấy những ánh sáng nhìn thấy được, còn những tia X , tia gamma gì đó, con người không nhìn thấy chúng được. Mà những tia sáng có lực xuyên thấu còn mạnh hơn tia gamma thì nhiều không đếm hết, có thể nói là vô hạn, hơn nữa không đâu không có. Thể tùng quả có thể nhìn thấy, cảm nhận thấy những tia sáng này, vì vậy có thể nhìn xuyên qua thân thể người, có thể nhìn thấy những gì mà mắt thường không nhìn thấy được. Thể tùng quả của những người bình thường là bị phong bế, thông qua tu luyện, có thể dần dần đả khai loại phong bế này, khiến nó có thể nhìn được đồ vật.
Như vậy tại sao tôi lại biết được trong lòng người khác đang suy nghĩ những gì? Lại làm sao mà biết được nhân duyên ba đời của người khác? Cái này càng đơn giản hơn.
Rất nhiều người đều đã biết, đại não của con người, có khoảng 90% là bị phong bế, căn bản là không sử dụng được. Những người đần độn, bị phong bế nhiều một chút, có thể đến 95%, những người thông minh, thì bị phong bế ít hơn một chút, có thể đại não của anh ta chỉ bị phong bế 85%. Còn có những người, não bộ bị cắt bỏ nửa bên, chỉ số thông minh gì đó một chút cũng không bị ảnh hưởng, có thể sinh hoạt bình thường.
Gặp gỡ những người vẫn may mắn sống sót dù mất một phần não Như vậy điều này cũng làm nảy sinh một vấn đề, phần lớn đại não kia làm những gì? Tôi xin nói cho các vị rằng, đó là dùng để tồn trữ kí ức, hết thảy kí ức trong đời đời kiếp kiếp của các vị đều tồn trữ trong đó, thậm chí tín tức của toàn bộ vũ trụ này trong đó đều có cả, chỉ là bị phong bế, vậy nên các vị dùng không được mà thôi. Những tín tức này, dùng thiên nhãn mà nhìn, đều là hình ảnh rõ ràng hoàn chỉnh, hơn nữa còn có màu sắc, giống như là ti vi vậy, ngay cả âm thanh đều có cả. Trong lòng bạn nghĩ cái gì, cũng sẽ hình thành hình ảnh ở trong đại não, vậy nên người ta nghĩ cái gì, những trải nghiệm trong quá khứ hay đời trước của ai đó, thì người có thiên nhãn thần thông nhìn một cái là rõ hết.
Thiên nhãn mở rồi, ngoài việc có thể nhìn thấy những gì mà con người không thể thấy được ra, tôi còn có thể nhìn thấy một số Thần Tiên, quỷ quái và những linh thể, hơn nữa còn có thể câu thông với họ. Nhưng thông thường tôi không hiểu được họ, bởi tôi là người đã từng nghe qua Phật Pháp, không dễ lý giải được những Thần linh ở tầng thứ tương đối thấp này. Bạn chắc chắn sẽ hiếu kỳ, Thần Tiên, quỷ quái là một loại phương thức tồn tại như thế nào? Hình thức đó quá nhiều rồi, phương thức tồn tại các dạng các loại đều có, muôn màu muôn vẻ vậy, nhưng những thứ này mà so với các Đấng Giác Giả thì thật là kém xa, ngay cả so sánh cũng đều không thể nào so sánh được, vậy nên tôi cơ bản là không quan tâm đến họ.
Có người có thể biết rằng, động vật là không được phép nghe Pháp, cũng không cho phép chúng tu luyện. Tại sao lại như vậy? Bởi vì động vật không có các nhân tố thiết yếu cần phải có để tu luyện Phật Pháp, cũng chính là thân thể người. Vậy bản chất khác biệt của con người và động vật rốt cuộc là ở chỗ nào? Có hai điểm, một cái là đan điền, một cái khác chính là Nê Hoàn cung, cũng chính là thể tùng quả. Trong đan điền tồn trữ khí tiên thiên trong vũ trụ, loại khí này là siêu việt hơn cả hai khí âm dương, lại được gọi là nguyên khí, vô cùng trân quý. Còn thể tùng quả, nó chính là hình ảnh thu nhỏ của đại thiên thế giới, linh hồn của con người chính là bị phong ấn ở nơi này, bên trong có thụ ấn của Phật để lại cho con người trước khi các vị chuyển sinh vào cõi người, tại sao nói ai ai cũng đều có Phật tính, chính là nhờ vào cái thụ ấn này, đây cũng chính là nơi tồn tại bản tính lương thiện của con người. Có hai thứ như vậy, con người mới có thể tu luyện, mới xứng đáng được nghe Phật Pháp. Thân người sở dĩ trân quý như vậy, chính là trân quý ở chỗ này. Nói con người là anh linh của vạn vật, chính là bởi vì trên thân thể của con người có thụ ấn mà Phật để lại.
Động vật nó không có thể tùng quả, cũng không có đan điền, cũng chính là nó không có trang bị bản tính lương thiện, vậy nên không để nó nghe Pháp. Không tin bạn xem mẫu giải phẫu của một số động vật xem, bất luận là động vật nào, đảm bảo là không có thể tùng quả, thứ này chỉ có con người mới có. Nói đến đây, tôi nghĩ đến thuyết tiến hóa của Darwin, nói con người là khỉ dần dần tiến hóa mà thành, đây hoàn toàn là ăn nói xằng bậy. Các nhà khoa học, nhà y học hiện đại, giải thích đối với thể tùng quả là con mắt thứ ba đã bị thoái hóa của con người. Như vậy được thôi, tại sao con khỉ, tinh tinh, vượn, khỉ đầu chó cho đến hết thảy các loài động vật linh trưởng này, đều chỉ có hai con mắt vậy? Chúng sao không có ba con mắt? Hơn nữa khi người ta thử giải phẫu những con động vật này, chúng nó đều không có thể tùng quả, điều này giải thích thế nào đây?
Mục đích chính của tà thuyết xằng bậy của Darwin là đả kích vào tín ngưỡng của con người đối với Thần Phật, để mọi người tin rằng bản thân mình là con khỉ tiến hóa thành.
Xin nói rõ với các vị rằng, tôi thông qua thiên nhãn đã nhìn thấy được tình huống chân thật, Darwin thật ra là quỷ vương chuyển sinh vào cõi người, mục đích chính là làm loạn nhân gian, thuyết tiến hóa mà ông ta đưa ra, mục đích chính là đả kích vào tín ngưỡng của con người đối với Thần Phật, để mọi người tin rằng bản thân mình là con khỉ tiến hóa thành, mà con người lại thật sự đã tin vào cái tà thuyết của Darwin, đây quả thật là điều sỉ nhục nhất cũng là điều tức cười nhất của con người. Tại sao Đức Phật Thích Ca bỏ mặc thế gian con người rồi, một trong những nguyên nhân chính là đại bộ phận con người đều đã không tin vào sự tồn tại của Thần Phật nữa, Pháp mà Phật truyền lại cũng không độ hóa nổi những loại người này, vì vậy Đức Phật cũng chỉ có thể không còn quản nữa.
Thần Phật đại trí đại huệ, đại từ đại bi, có đủ Thần thông vô thượng, nhưng cũng có vấn đề mà Thần Phật không thể giải quyết được, đó chính là nhân tâm. Nhân tâm không biến đổi, Thần Phật cũng không còn cách nào.
Người hiện đại không còn tin vào Thần Phật, cũng không muốn tu luyện Phật Pháp, nhưng động vật thì lại không phải vậy. Động vật nó không có thể tùng quả, như vậy linh hồn và đại não của nó cũng chính là không có bị phong ấn, trí huệ hoàn toàn khai mở. Các vị tự mình cảm thấy bản thân thông minh hơn động vật, thật ra các vị thua xa nó nhiều lắm, động vật nó cái gì cũng đều minh bạch, vậy nên động vật chính là trăm phương nghìn kế muốn có được thân thể người, dùng để tu luyện. Đây chính là tình huống chân thật của hôm nay, rất nhiều người trên thế giới này, các vị đừng nhìn thấy họ có hình người, cũng nói tiếng người, nhìn vào chính là con người, nhưng họ từ sớm đã không còn là người nữa, mà thật ra chính là linh hồn của động vật bám lên thân thể người.
Những người chủ động đi làm kỹ nữ, 99% có phụ thể là cáo. Chúng dùng phương thức này để lấy cắp tinh huyết của con người. Một đoạn thời gian trước, Bắc Kinh không phải đã truy ra một kỹ viện gọi là “thiên đường chốn ở nhân gian” hay sao, những người phụ nữ bán dâm trong đó, toàn bộ đều là hồ yêu phụ thể, quả thật yêu khí ngất trời. Tại sao nói rằng đến chốn ăn chơi kỹ viện sẽ giảm phúc giảm thọ đây, chính là vì bên trong cơ thể của những kỹ nữ này có quá nhiều yêu quái, họ chính là dựa vào phương thức này để ăn cắp tinh khí của con người.
Mọi người chắc biết người sống thực vật chứ, nhục thể đó vốn không có tổn thương gì, các cơ quan chức năng đều bình thường, tại sao người thực vật lại không có ý thức tư tưởng? Bởi vì linh hồn của họ sớm đã tiến nhập vào luân hồi rồi, đã không còn ở đó nữa.
Có những người thực vật sau bao nhiêu năm lại tỉnh dậy, tuy nhiên ký ức bị mất đi quá nhiều, trí lực cũng giảm đi rất nhiều. Phàm là những tình huống này, phần lớn đều là động vật phụ thể.
Có một số động vật thời gian tu luyện ngắn ngủi, đạo hạnh còn kém cũng rất vô tri, nó không biết rằng bám lên thân thể người rồi, thì chính là không xuống được nữa, hơn nữa trí huệ của nó cũng sẽ bị phong bế
Vì vậy nó hễ bám lên thân thể người, người thực vật đó liền tỉnh dậy, nhưng trí lực lại rớt xuống trầm trọng.
Đương nhiên, có những con động vật đã tu luyện hơn cả trăm nghìn năm, có được thần thông rất lớn, lúc này nó dẫu có lên thân thể người đi nữa cũng sẽ không xuất hiện vấn đề này, xem ra thì thấy tất cả đều rất bình thường, những người bình thường căn bản vốn không phát hiện được.
Chuyện người tu luyện kể ra đây, mục đích cũng là khuyến thiện, tu tâm dưỡng tính, đừng bị tà ác dẫn dụ thành mê mờ, tâm sáng tỏ thì mới có thể nhìn ra chân tướng mọi việc thế gian. Chân tướng này vốn là điều khiến bất kì ai cũng có thể cảm thấy kích động, nhưng mong các bạn có thể tu khẩu nghiệp, đừng phỉ báng Thần Phật để rồi tự rước họa cho bản thân, cửa địa ngục chờ đón. Tin hay không tin là do bạn quyết định, phúc họa cũng theo đó mà thành.
Phong thủy biệt thự - những lưu ý không thể bỏ qua
Biệt thự là tổ hợp nhà phức tạp hơn nhà ở thông thường bởi diện tích rộng, kết cấu lớn. Vì vậy, phong thủy biệt thự cũng có những điểm cần thận trọng hơn.
Biệt thự là tổ hợp nhà phức tạp hơn nhà ở thông thường bởi diện tích rộng, kết cấu lớn. Vì vậy, phong thủy biệt thự cũng có những điểm cần lưu ý thận trọng hơn, hãy ghi nhớ để áp dụng cho đúng.
► Xem thêm: Phong thủy nhà ở chuẩn giúp phát tài phát lộc, tránh tai ương
1. Biệt thự có trước không sau là đặc biệt không hợp phong thủy. Khi thiết kế biệt thự nên bố trí cửa sau nhà, không chỉ có một cửa ra vào để hợp phong thủy biệt thự. Ngoại trừ yếu tố an toàn, thoát hiểm ra thì cửa sau còn có tác dụng về phong thủy, theo nguyên tắc có nạp khí cũng phải có thoát khí. Đây là đạo lý bỏ cũ lấy mới. Nơi ở không có cửa sau thì khí uế không thoát ra được nên khí mới không có chỗ dung nạp, giống như thân thể không có sự trao đổi chất, lâu dần dẫ tới hung hiểm. Ở biệt thự như vậy tình cảm vợ chồng kém hài hòa, bất lợi cho hôn nhân.2. Khi lựa chọn nơi xây dựng biệt thự, chủ nhân nên xem kĩ hình đồ địa thế, quan sát toàn độ khu đất, dựa theo Hậu Thiên Bát Quái để xác định phương vị. Phương Bắc là Khảm, phương Nam là quẻ Ly, phương Đông là quẻ Chấn, phương Tây là quẻ Đoài, Đông bắc là quẻ Cấn, Đông Nam là quẻ Tốn, Tây Nam là quẻ Khôn.3. Phong thủy biệt thự khuyết góc chính Nam thì tuy không đại họa nhưng ở lâu người nhà có nhiều tranh châp, cãi vã, không được hòa thuận yên ổn. Nếu vợ chồng mới cưới dọn tới ở thì đặc biệt không nên.
4. Biệt thự khuyết góc chính Bắc là đại hung, họa đến liên tục, không có tháng ngày bình an, tuyệt đối phải tránh.5. Biệt thự khuyết góc Tây Nam thì quẻ Khôn bị hao tổn. Trong ngũ hành, quẻ Khôn thuộc Thổ, đại diện cho ngũ tạng trong cơ thể nên khuyết góc này người nhà có bệnh về tiêu hóa, dạ dày và sự nghiệp cũng không thuận lợi.6. Biệt thự khuyết góc Tây là thế nhà đại hung, tuyệt đối người không thể ở. Thế nhà này phạm đủ loại hung hiểm, tai họa, không an ổn mà cư trú, tốt nhất là đổi nhà khác. Nếu chọn đất xây nhà hoặc chọn biệt thự để mua thì tránh xa trường hợp này. Cải thiện phong thủy nhà vệ sinh với những loại cây quen thuộcCách hóa giải thế nhà phạm sát cực kì hung hiểmChọn đúng hướng để phong thủy nhà ở cực đỉnhThái Vân Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Khánh Linh (##)
Theo phong thủy, mỗi năm sẽ có vài con giáp gặp năm tuổi (năm không tốt) hay còn gọi là xung Thái Tuế. Vì thế, bạn hãy tham khảo cách hóa giải hướng nhà để được sao Thái Tuế phù hộ bình an.
Phong thủy học cho rằng, Thái Tuế có ảnh hưởng rất lớn đến gia chủ nhưng ảnh hưởng đó lại không tốt. Khi Thái Tuế bay tới hướng nhà ta đang ở sẽ gây ra nhiều chuyện như kiện tụng, tranh chấp, thị phi, tai ương, tiểu nhân... mà người ta thường gọi là gặp thời vận xấu. Tuy nhiên, ít ai ngờ là hướng nhà mình đang sống gặp phải Thái Tuế sát.
Bạn có thể tham khảo vào sự sắp xếp như sau đây để biết hướng nhà của mình tới năm nào thì phạm Thái Tuế sát.
Nhà tọa lạc hướng Bắc thì tới năm Tý là phạm Thái Tuế.
Nhà tọa lạc hướng Đông Bắc thì tới năm Dần, Sửu là phạm Thái Tuế.
Nhà tọa lạc hướng Đông thì tới năm Mẹo là phạm Thái Tuế.
Nhà tọa lạc hướng Đông Nam thì tới năm Tỵ, Thìn là phạm Thái Tuế.
Nhà tọa lạc hướng Nam thì tới năm Ngọ là phạm Thái Tuế.
Nhà tọa lạc hướng Tây Nam thì tới năm Thân, Mùi là phạm Thái Tuế.
Nhà tọa lạc hướng Tây thì tới năm Dậu là phạm Thái Tuế.
Nhà tọa lạc hướng Tây Bắc thì tới năm Hợi, Tuất là phạm Thái Tuế.
Đặc biệt, trường hợp người tuổi Tý, nhà tọa lạc hướng Bắc mà gặp Thái Tuế sát vào năm Tý, vận hạn lại càng xấu hơn...
Cách hóa giải hướng nhà:
Để hóa giải khi gặp phải Thái Tuế sát, bạn chỉ cần đặt một chiếc gương bát quái trước cửa chính. Nhưng gương bát quái không phải lúc nào cũng phát huy tác dụng khi ta mua từ cửa hàng về để dùng. Vì thế, bạn phải làm thủ tục “khai quang” cho gương bát quái ở chùa thì mới sử dụng gương mới mang lại hiệu quả.
Đặc biệt, bạn cần lưu ý rằng việc đặt bất cứ vật phẩm nào để hóa giải sát khí trong phong thủy cũng đều phải xem giờ tốt và ngày Trực trừ.
(Theo CafeLand) Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Đoan Trang(##)
Xem chỉ tay đường con cái để biết bạn sinh con trai hay con gái
Xem bói đường chỉ tay con cái để biết đường bạn sinh bao nhiêu con, có sinh được con trai hay không, bao nhiêu trai và bao nhiêu gái. Hay bạn muốn biết đường chỉ tay con cái là đường nào, có ý nghĩa gì?
Xem bói đường chỉ tay con cái để biết đường bạn sinh bao nhiêu con, có sinh được con trai hay không, bao nhiêu trai và bao nhiêu gái. Hay bạn muốn biết đường chỉ tay con cái là đường nào, có ý nghĩa gì? Bài viết dưới đây của Phong thủy số sẽ giới thiệu tới bạn các xem bói đường chỉ tay con cái:
Vị trí của đường chỉ tay con cái:
+Đường chỉ tay con cái là những đường nhỏ nằm trên đường chỉ tay hôn nhân ở dưới ngón tay út.
Ý nghĩa của đường chỉ tay con cái:
Những đường vân dài, sâu mà thô đều là dấu hiện của việc sinh con trai.
Những đường vận ngắn, nhỏ, hẹp là dấu hiện của việc sinh con gái.
Bạn muốn biết được mình có bao nhiêu em bé thì có thể xem đường chỉ tay con cái. Nếu có 3 đường vân thì sẽ thụ được 3 thai nhi, số được vân thể hiện số lượng thai nhi mà bạn sẽ thụ được. Trong trường hợp số đường chỉ tay con cái ở tay phải và tay trái không bằng nhau thì sẽ lấy ở tay có số lượng ít hơn. Ví dụ tay phải có 5 đường vân mà tay trái chỉ có 2 đường cân thì bạn sẽ thụ được 2 con, còn 3 thai nhi còn lại có thể vì một lí do khách quan nào đó mà không thể chào đời.
Nếu đường con cái quá ngắn và nông thì cho thấy người này dễ sẩy thai hoặc đẻ non.
Trên đường chỉ tay con cái mà có những dấu hiệu đặc biệt như chữ y, hình tròn, chữ thập thì cho thấy sức khỏe con cái bạn có vấn đề.
Xem thêm những bài viết hữu ích khác:+ Xem bói đường chỉ tay đoán vận mệnh của bạn+ Xem ngấn cổ tay tiên đoán vận mệnh giàu sang của bạn+ Xem bói chỉ tay đường tình duyên của bạn Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Yến Nhi (##)
Những điều đại kỵ với nam giới tuyệt đối không được mắc phải
Những điều đại kỵ với nam giới: Theo phong thủy, nam giới muốn tài vận, tình cảm và muốn cuộc sống được như ý muốn thì nên chớ nên phạm phải 18 điều đại kị.
Tập hợp những điều đại kỵ với nam giới: Theo phong thủy, nam giới muốn tài vận, tình cảm và muốn cuộc sống được như ý muốn thì nên chớ nên phạm phải 18 điều đại kị.
1. Nam giới sống dưới tầng hầm hoặc sống trong một ngôi nhà được chu cấp bởi một người phụ nữ thì sẽ bị thiếu dương khí. 2. Tại phía Tây Nam của ngôi nhà đặt một chiếc giường, đầu giường hướng về phía Tây, nếu bạn vẫn độc thân thì sẽ tiếp tục tình trạng này trong vài năm nữa. Đây là một trong những điều đại kỵ với nam giới tuyệt đối không được phạm phải.
Ảnh minh họa
3. Những người có sở thích xăm mình nên chú ý: Hình xăm giống nhau sẽ khiến cho cả Tình và Tiền đều đi xuống, nhất là vị trí xăm ở ngực. Bạn nên tìm hiểu thêm: Hình xăm phong thủy và những điều cấm kị
4. Trong phòng kỵ bừa bộn, nhất là tới nửa tháng rồi không đụng tới cái chổi thì tài vận sẽ mịt mù. 5. Nuôi cá hoặc trồng hoa thường xuyên thất bại hoặc chỉ chơi theo cảm hứng thì “quý nhân” tuyệt nhiên sẽ không xuất hiện. 6. Trong phòng có treo nhiều ảnh người đẹp mà lại không phải ảnh người nhà, cũng chẳng phải ảnh người yêu thì tài vận sẽ liên lục rơi rớt, tình cảm cũng thường xuyên gặp trắc trở. 7. Nếu mua nhà hoặc thuê phòng mà bị khuyết góc Tây Bắc thì hoặc là bản thân không có sức thu hút phụ nữ hoặc sau khi kết hôn sẽ bị vợ quản chặt. Tham khảo thêm bài viết Tránh góc khuyết tại phương vị Tây Bắc của ngôi nhà để có cái nhìn đúng đắn. 8. Nếu giặt “quần nhỏ” không sạch hoặc không biết cách giặt sạch thì tài vạn sẽ ngày càng đi xuống. 9. Không có cốc uống nước hoặc chỉ dùng cốc giấy thì sự nghiệp của những người đàn ông mang ngũ hành Mộc sẽ gặp nhiều bất lợi, khó mà thăng tiến được. 10. Làm hỏng hoặc làm mất những món đồ mà người yêu tặng thì sẽ gặp những tình huống bất ngờ, không phải rủi ro thì cũng là tình cảm tan vỡ. 11. Thường xuyên “quan hệ” với nhiều người phụ nữ khác nhau mà không có tình cảm thật lòng, như vậy sinh lực sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng, cả đời không thể lấy lại được.
Ảnh minh họa
12. Thường xuyên trêu chọc, phá đám người khác thì sẽ gặp phải họa tiểu nhân. 13. Đàn ông đặt “đồ bảo hộ” ở vị trí bên trái của ngăn kéo ở văn phòng thì sẽ xuất hiện người thứ 3 xen vào phá đám chuyện tình cảm. 14. Trong văn phòng, vị trí làm việc ngồi sau một người phụ nữ hoặc bên cạnh nhà vệ sinh thì vận mệnh sẽ bị ảnh hưởng khá nhiều, nguyên tắc này đúng mọi lúc mọi nơi, nên chú ý. 15. Bất luận là tại văn phòng làm việc hoặc tại nhà mà chỉ đặt một chậu cây cảnh, mà lại là loại cây có gai thì sẽ nhanh chóng lâm vào cảnh khốn cùng, không chỉ tự mình đánh mất tình yêu mà vận thế cũng đi xuống. 16. Đàn ông làm cho phụ nữ sinh non khi thai nhi được 3 tháng mà không làm lễ siêu độ thì cuộc sống sẽ gặp nhiều phiền toái. 17. Lúc giàu có thì không biết tiết kiệm, lúc đói kém lại vay mượn khắp nơi, thậm chí là vay tiền của phụ nữ thì tài vận và sự nghiệp không thể phát triển được. 18. Tùy ý kết bạn, thậm chí là kết giao cả với những người xấu, khi nói chuyện cũng toàn dùng lời lẽ ác ý thì cả tài vận, tình cảm lẫn sức khỏe đều không được như ý muốn. Hãy ghi nhớ những điều đại kỵ với nam giới này để thuận buồm xuôi gió.
Không nên bỏ qua: 5 yếu tố phong thủy hủy hoại sự nghiệp đàn ông Phương Thùy Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Thanh Vân (##)
Các lễ hội ngày 4 tháng 12 Âm Lịch -Hội Làng Cốc tỉnh Quảng Ninh
Hội Làng Cốc
Thời gian: tổ chức từ ngày 4 tới ngày 5 tháng 12 âm lịch.
Địa điểm: Đình Phong Cốc nằm ở trung tâm xã Phong Cốc trên đảo Hà Nam thuộc huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh, cách bến phà Chanh 5km.
Đối tượng suy tôn: Nhằm suy tôn Càn Nương Đức Thánh.
Nội dung: mở đầu là lễ rước Thần từ miếu Cốc về đình Cốc để tế Yết và mở hội để người dân trong làng, trong xã và khách thập phương tế lễ và vui chơi. Ngày hôm sau là ngày mùng 5 tháng 12 lại rước Thần từ đình Cốc về miếu Cốc và tế giã hội. Thứ tự đoàn rước thần như sau: Đi đầu là người khênh chiêng, trống; tiếp theo là đoàn rước cờ thần (cờ ngũ phương); đến là hai hang chấp kích, bát bửu; đến hai hang người đội lễ vật là hoa quả, bánh, rượu, lợn quay của làng, lợn sống đã làm thịt của người vào đám; kế tiếp là đôi ngựa bạch bằng gỗ có bánh xe; đến kiệu long đình rước hộp sắc; tiếp đến là kiệu bát cống trên rước kiệu Càn Nương Đức Thánh; đi sau là các quan viên đoàn tế và nhân dân rước Thần.
Sinh khí ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của con người. Nhà có sinh khí tốt thì người sống trong đó cảm thấy bình an, ấm cúng và gắn bó. Còn nhà nhiều sát khí sẽ gây cảm giác bất an, căng thẳng, đau yếu do dễ gặp xui xẻo trong đời sống hàng ngày. Thự
Sinh khí ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của con người. Nhà có sinh khí tốt thì người sống trong đó cảm thấy bình an, ấm cúng và gắn bó.
Còn nhà nhiều sát khí sẽ gây cảm giác bất an, căng thẳng, đau yếu do dễ gặp xui xẻo trong đời sống hàng ngày.
Thực tế sát khí chia làm 3 loại :
1- Sát khí hữu hình: Loại sát khí có thể nhìn thấy bằng mắt, thậm chí có thể sờ thấy như đầu hồi nhà người khác, phá sơn (núi đổ nát), lộ xung (đường chọc vào nhà), tháp sắt, cột điện…
2- Sát khí vô hình: Sát khí của các sao theo quan niệm của phong thủy Phi Tinh, bao gồm:
– Nhị Hắc Cự Môn tinh: Là sao bệnh phù, ngũ hành thuộc Thổ, gia chủ bệnh tật, ốm đau.
– Tam Bính Lộc Tồn tinh: Ngũ hành thuộc Mộc, gia chủ cãi cọ, phân tranh.
– Ngũ Hoàng Liêm Trinh tinh: Ngũ hành thuộc Thổ, gia chủ hung, tai họa hoạn
– Thất Xích Phá Quân tinh: Ngũ hành thuộc Kim, gia chủ tai họa hình thương, đạo tặc (trộm cướp), kiện cáo, phẫu thuật.
Bốn loại sát khí trên có thể bị hạn chế hoặc tăng cường khi kết hợp với các phi tinh khác.
3- Hung sát cổng và cửa sổ: Cổng và cửa sổ gia chủ bị góc nhọn của kiến trúc trước nhà (đình, chùa) hoặc bị đường xiên thẳng vào, hoặc đúng hướng của 1 trong 4 loại phi tinh chiếu. Loại hung sát này nguy hiểm, cần phải được hóa giải.
Nếu ngôi nhà mắc vào một số điều gây sát khí như đã nêu trên thì sẽ gây cảm giác bất an, căng thẳng, đau yếu do dễ gặp xui xẻo trong đời sống hàng ngày, bạn nên nhờ các chuyên gia xử lý cho từng trường hợp cụ thể. Hoặc bạn có thể sử dụng vật liệu theo ngũ hành sát khí như sau:
Theo ngũ hành, mỗi hướng đều tương ứng với một hành xác định. Vì thế để tìm cách hóa giải sát khí bạn cần biết hướng mà chúng đang nhắm vào nhà bạn, đặc biệt là vào cửa trước.
Trước hết, cần nắm được chu kỳ ngũ hành tương khắc: Kim khắc Mộc; Mộc khắc Thổ; Thổ khắc Thủy; Thủy khắc Hỏa; Hỏa khắc Kim.
Dùng la bàn để xác định hướng của nguồn sát khí đó. Khi đã xác định được hành của sát khí, bạn sẽ xác định được hành có thể làm lệch ảnh hưởng có hại của sát khí.
– Khi sát khí ở hướng Nam, thuộc hành Hỏa, thì dùng đài phun nước để làm lệch hướng của năng lượng Hỏa.
– Khi sát khí ở hướng Bắc, thuộc hành Thủy, thì dùng 1 bức tường bê tông tượng trưng cho Thổ hút hết Thủy.
– Khi sát khí ở hướng Đông hoặc Đông Nam, thuộc hành Mộc, thì dùng hàng rào kim loại để làm lệch hướng năng lượng Mộc.
– Khi sát khí ở hướng Tây hoặc Tây Bắc, thuộc hành Kim, thì dùng đèn chiếu sáng để làm tan chảy năng lượng Kim.
– Khi sát khí ở hướng Tây Nam hoặc Đông Bắc, thuộc hành Thổ, thì dùng hàng rào cây hoặc bờ dậu tượng trưng cho năng lượng Mộc bao phủ Thổ.
Tuổi Tý – Kị số 5 và 0 Thần hộ mệnh của người tuổi Tý là Phật Quan âm nghìn tay – một trong 4 đại Bồ tát dân gian truyền thống cổ xưa. Con giáp này thông minh, dễ thích ứng với môi trường, thích giao thiệp rộng và có chí tiến thủ. Trong năm Ất Mùi, tài vận, sự nghiệp của người tuổi Tý ổn định và có phần khởi sắc ở những tháng cuối năm. Con số kiêng kị dành cho người tuổi Tý là số 5 và số 0. Tuổi Sửu – Kị số 3, 4 và 5 Vị thần hộ mệnh cho người tuổi Sửu là Phật Hư Không Tạng Bồ tát. Đây là vị Phật tượng trưng cho trí tuệ hơn người, công đức viên mãn. Người tuổi Sửu chân thành, nhiệt tình, đôn hậu và vô cùng chăm chỉ. Gặp năm Tý, Tỵ thì vận thế cực tốt, gặp năm Mùi, Dậu và Hợi lại xung nhiều hơn cát. Con giáp này kị số 3, 4 và 5. Tuổi Dần – Kị số 6 và 7 Cũng giống như người tuổi Sửu được Phật Hư Không Tạng Bồ tát hộ mệnh, người tuổi Dần quyết đoán, mạnh mẽ, có tài xã giao. Con giáp này gặp năm Tuất và Ngọ thì thuận lợi đủ đường, gặp năm Thìn, Thân, Dần xung nhiều hơn cát, nhưng nếu gặp năm Mão thì tài vận cực hưng thịnh. Họ kị số 6 và 7. Tuổi Mão – Kị số 1 và 7 Trong số các thần hộ mệnh của người tuổi Mão có Phật Văn Thù Bồ tát độ trì. Con giáp này có tính cách ôn hòa, nho nhã, lại vô cùng nhạy cảm và chăm học hỏi. Người tuổi Mão gặp năm Tý và Tuất có phúc tinh chiếu rọi, tình cảm và công việc đều thuận lợi. Ngược lại, nếu gặp năm Sửu, Thân và Tỵ thì lại bất lợi đủ đường. Bạn kị số 1 và 7. Tuổi Thìn – Kị số 3 và 8 Người tuổi Thìn được Phật Phổ Hiền Bồ tát độ trì. Đây là vị Phật tượng trưng cho chính đức. Con giáp này có tư tưởng chính nghĩa cao, dũng cảm xông lên phía trước, nhiệt tình hào phóng và có sức cạnh tranh rất mạnh mẽ. Người tuổi Thìn gặp năm Tý, Thìn, Hợi và Dậu thì tiền tài lên như diều gặp gió, còn gặp năm Mão, Ngọ và Dần lại không tốt. Con giáp này kị số 3 và số 8.
Tuổi Tỵ - Kị số 4 và 8 Vị Phật Phổ Hiền Bồ tát cũng phù hộ độ trì và là thần hộ mệnh cho người tuổi Tỵ. Con giáp này vô cùng cẩn trọng, tự đặt ra yêu cầu cao cho bản thân mình phấn đấu, đồng thời ở họ toát lên sự lôi cuốn khó tả. Trong năm Tý, Thìn, Dậu và Tuất vận thế của người tuổi Tỵ rất tốt. Nhưng gặp năm Dần và Sửu lại tổn thất nhiều trong sự nghiệp. Bạn kị số 4 và 8. Tuổi Ngọ - Kị số 1 và 7 Thần hộ mệnh cho người tuổi Ngọ là Phật Đại Thế Chí Bồ tát. Họ dũng cảm, nhiệt tình và có tinh thần trách nhiệm cao với công việc. Con giáp này tuyệt đối nên tránh hợp tác với những người thuộc lục xung, lục hại và tam hình. Họ lần lượt là người tuổi Tý, Sửu và Ngọ. Trường hợp người tuổi Ngọ vẫn bắt tay hợp tác với những người trên, nếu không gặp tổn hao về kinh tế thì cũng gặp vấn đề sức khỏe, bệnh tật. Con giáp này kị số 1 và 7. Tuổi Mùi – Kị số 2 và 7 Phật Như Lại Đại Nhật là vị thần hộ mệnh, độ trì cho người tuổi Mùi. Đây là vị Phật có quyền lực cao nhất trong Mật tông (giới Phật). Người tuổi Mùi có tính cách ôn hòa, điềm đảm và giàu lòng thương người. Nếu gặp năm Thìn và Hợi thì tài vận khởi sắc tốt lành và gặp năm Tý, Mão, Tuất, Tỵ lại có quan vận (thăng quan tiến chức). Con giáp này kị số 2 và 7. Tuổi Thân – Kị số 0 và 9 Người tuổi Thân cũng được Phật Như Lai Đại Nhật độ trì. Con giáp này thông minh, nhạy bén và luôn gặp nhiều vận may về tiền tài. Vận thế của người tuổi Thân trong những năm Tý, Mão, Ngọ, Dậu và Thìn vô cùng thịnh vượng, nhưng nếu gặp năm Tỵ, Hợi và Tuất thì lại hao thần tổn khí, lo lắng trăm bề. Bạn kị số 0 và 9. Tuổi Dậu – Kị số 5 và 6 Người sinh năm con gà sẽ được Phật Bất động Minh Vương phù hộ. Tính cách của con giáp này phóng khoáng, phản ứng nhanh nhạy, khả năng lĩnh hội kiến thức rất tốt, phần lớn đều là những người có tài hoa xuất chúng. Sự nghiệp của người tuổi Dậu thuận lợi muôn phần nếu gặp năm Dần, Thìn, Mùi và Tuất. Trái lại, gặp năm Tý, Sửu, Mão và Tỵ lại bị khắc vận, tài vận bất ổn. Con giáp này kị số 5 và 6. Tuổi Tuất – Kị số 1 và 6 Phật A Di Đà là vị thần hộ mệnh cho người tuổi Tuất. Con giáp này có sức khỏe cường tráng, chăm chỉ lao động, coi trọng tình cảm và nghĩa khí. Vận thế của người tuổi Tuất trong năm Mão, Hợi và Tỵ rất tốt, mọi chuyện đều đại cát đại lợi. Ngược lại, gặp năm Sửu tài vận ở mức trung bình. Bạn kị số 1 và 6. Tuổi Hợi – Kị số 5 và 0 Đức Phật A Di Đà cũng độ trì cho người tuổi Hợi. Con giáp này có tâm địa lương thiện, lạc quan và có chí tiến thủ cao. Công danh sự nghiệp của họ thuận lợi và tốt đẹp vào những năm Sửu, Mão, Thìn, Ngọ và Mùi. Còn trong những năm Dần, Dậu và Hợi lại không mấy thuận lợi. Người tuổi Hợi kị số 5 và 0. Theo Xingzuo Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Đoan Trang(##)
Phương Vị: Bắc Đẩu TinhHành: ThổLoại: Quý TinhĐặc Tính: Quyền Tước, Tài Lộc, Phúc Thọ
Ý Nghĩa Lộc Tồn Ở Cung Mệnh Tính Tình Người thông minh, học rộng, có tài tổ chức, sáng kiến, đứng đắn, tính nhân hậu, từ thiện. Công Danh Tài Lộc Lộc Tồn là sao phú, chủ sự dư về tiền bạc. Ý nghĩa công danh chỉ là thứ yếu. Sự giàu có thường do hai nguyên nhân:
Do di sản tổ phụ để lại: Người có Lộc Tồn ở Mệnh, Phúc bao giờ cũng được hưởng của tổ phụ, nhiều khi truyền kiếp, lưu truyền đến hai, ba đời.
Do người khác biếu xén: Lộc Tồn chỉ sự có "lộc ăn" được người khác ban tặng, giúp đỡ.
Lộc Tồn mang nặng ý nghĩa về tiền bạc, Lộc Tồn đi với các sao tài sẽ hết sức phát đạt. Đó là các sao:
Tùy theo sự hội tụ ít nhiều với các sao trên, thế lực tài phiệt sẽ gia tăng mức độ. Phúc Thọ Tai Họa
Sao Lộc Tồn chế ngự được tất cả các sao chủ dâm đãng, lả lơi, được hưởng của tiền nhân hoặc hay gặp quý nhân giúp đỡ.
Sao Lộc Tồn ở Mệnh thì vinh hiển, sống lâu.
Ý Nghĩa Lộc Tồn Với Các Sao Khác Đồng cung hay hội chiếu với các sao tài, Lộc Tồn chủ sự thịnh vượng về tiền bạc như đã nói ở mục tài lộc. Nếu gặp sao xấu, ý nghĩa tài lộc giảm hay mất đi nhiều.
Lộc Tồn, Tuần, Triệt hay Phá: Một trong ba sao này hầu như hóa giải gần hết hiệu lực của Lộc Tồn về mặt tài chánh.
Lộc Tồn, Không, Kiếp: Đồng nghĩa với cách trên ngoài ra còn có nghĩa có tiền được một thời gian ngắn rồi phá sản mau lẹ và khủng khiếp, bị tai họa tiền bạc.
Lộc Tồn, Kỵ, Tuế : Có tiền nhưng bị hao tán, bị ăn chận, bị dị nghị (trường hợp tham nhũng, hối lộ bị tai tiếng).
Lộc Tồn, Thiên Không: Tham nhũng hối lộ, bị chúng ghét, ích kỷ, hà tiện.
Lộc Tồn, Cự, Nhật đồng cung: Phá sức sáng của Lộc Tồn rất nhiều.
Lộc Tồn, Hóa Lộc: Tồn là Thổ, Lộc là Mộc, nếu đồng cung hai sao khắc hành nhau, tiền bạc bị giảm, bị lụy thân vì tiền.
Ý Nghĩa Lộc Tồn Ở Cung Phụ Mẫu Cha mẹ có của, có tài sản hoặc có nghề nghiệp truyền lại cho con nhưng cũng không giữ được, phải tự mình làm nên. Ý Nghĩa Lộc Tồn Ở Cung Phúc Đức Được tăng tuổi thọ, hưởng phúc, trong gia đạo hay có sự bất hòa, hoặc có người cô độc, đau bệnh, họ hàng khá giả nhưng mỗi người một nơi. Ý Nghĩa Lộc Tồn Ở Cung Điền Trạch Giữ của bền vững, được hưởng tài sản hoặc nghề nghiệp của cha mẹ, ông bà để lại, và mình phải gầy dựng thêm mới giàu có. Ý Nghĩa Lộc Tồn Ở Cung Quan Lộc Có danh vọng, chức vụ và tiền bạc, nhưng nếu có thêm các sao Địa Không, Địa Kiếp, thì công danh, sự nghiệp không bền và hay có tai họa. Ý Nghĩa Lộc Tồn Ở Cung Nô Bộc Bè bạn, người giúp việc nay ở mai đi, ít người tâm đầu ý hợp. Ý Nghĩa Lộc Tồn Ở Cung Thiên Di Ra ngoài dễ kiếm tiền, gặp may mắn. Ý Nghĩa Lộc Tồn Ở Cung Tật Ách Ít bệnh tật, nhưng nếu có thêm các sao Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình, Thiên Riêu, Hóa Kỵ, Linh Tinh, Hỏa Tinh, thì nhiều tai nạn hoặc có ám tật. Ý Nghĩa Lộc Tồn Ở Cung Tài Bạch Dễ kiếm tiền hoặc hay gặp quý nhân giúp đỡ. Ý Nghĩa Lộc Tồn Ở Cung Tử Tức Chậm con, ít con, con cái thường ở xa cha mẹ. Ý Nghĩa Lộc Tồn Ở Cung Phu Thê Muộn duyên nợ, nhưng vợ hoặc chồng rất đứng đắn, hay khắc khẩu. Ý Nghĩa Lộc Tồn Ở Cung Huynh Đệ Ít anh chị em, bất hòa, nhưng nếu có thêm các sao Tả Phù, Hữu Bật, Ân Quang, Thiên Quý, thì đông anh em hoặc hòa thuận. Lộc Tồn Khi Vào Các Hạn Hạn có sao Lộc Tồn thì mọi sự hanh thông, danh tài hưng vượng.
Lộc Tồn, Hóa Lộc: đại phát tài (Hóa Lộc chiếu mới thật tốt đẹp); nếu cùng Lộc Tồn nhập Hạn đồng cung, sự tốt đẹp bị chiết giảm.
Lộc Tồn, Mã: Mưu sự được toại lòng, danh tài hưng vượng.
Thuật xem tay là nghệ thuật tìm hiểu tương lai qua các đường chỉ tay. Đó là một thuật tiên đoán vận mạng. Hãy tìm hiểu thử thuật tiên đoán này nhé. Thuật xem tay là nghệ thuật tìm hiểu tương lai qua các đường chỉ tay. Đó là một thuật pháp (thuật tiên
Lâu nay, Gia Cát Lượng vẫn được truyền tụng như một nhà chính trị, quân sự lỗi lạc đồng thời cũng là một thầy phong thủy, tướng số có khả năng hô phong hoán
vũ, nhìn sao đoán mệnh, dự báo tương lai. Có lẽ chính vì vậy mà ngay cả với cái chết của vị quân sư họ Gia Cát này người ta cũng truyền tai nhau đủ chuyện phong thủy thần bí.
“Xác giả” đánh lui quân Tư Mã Ý
Năm Kiến Hưng thứ 12 nhà Thục Hán (tức năm 234), Gia Cát Lương dẫn quân Bắc phạt, đóng quân ở Ngũ Trượng Nguyên. Đó là vào giữa mùa hạ, trời nóng bức, chiến cuộc lại không có nhiều tiến triển khiến Gia Cát Lượng rất lo lắng, ưu phiền, cứ mở miệng nói là cáu gắt, một ngày chỉ ăn được chút cơm. Vì vậy mà không lâu sau, cơ thể suy kiệt nhanh chóng, nằm liệt giường trong doanh trại, đến tháng 8 nôn ra máu mà chết. Năm đó, Gia Cát Lượng mới 54 tuổi. Gia Cát Lượng xuống núi theo Lưu Bị năm 27 tuổi, 14 năm sau thì làm tới chức Thừa tướng nước Thục, 27 năm sau thì chết vì lo lắng phiền muộn. Người ta nói rằng, tất cả những sự kiện trọng đại xảy ra trong đời Gia Cát Lượng đều liên quan tới con số 7. Đây hoàn toàn không phải là ngẫu nhiên. 7 là con số định mệnh của Gia Cát Lượng. Con trai Lưu Bị là Lưu Thiện nghe tin dữ từ tiền tuyến báo về kinh hoảng vô cùng. Vì lẽ, xưa nay, mọi việc trong triều đình nhà Thục đều trông vào một tay Gia Cát Lượng, nay Lượng vì chuyện Bắc phạt mà chết, ai sẽ là người thay Lưu Thiện lo lắng chuyện quốc gia đại sự. Bởi thế, người ta nói rằng, Lưu Thiện sau khi nghe tin là khóc lóc chạy tới nơi chôn cất của Gia Cát Lượng, tự mình chủ trì nghi lễ chôn cất còn phong cho ông là “Trung Vũ hầu”. Người đời sau vẫn gọi Gia Cát Lượng là “Gia Cát Vũ hầu” là từ tước hàm này. Sách chép, trước khi chết, Gia Cát Lượng biết rằng sau khi mình nằm xuống, quân Thục không thể là đối thủ của quân đội Ngụy dưới sự chỉ huy của Tư Mã Ý. Vì vậy, mặc dù trong tình trạng bệnh tình nguy kịch vẫn cố gắng họp mặt các tướng lĩnh dưới quyền để bố trí thật chu đáo cho việc rút quân. Các tướng trung thành của Gia Cát Lượng là Dương Nghĩa, Khương Duy theo sắp xếp, sau khi ông chết không phát tang ngay mà chỉnh đốn binh mã, rút quân về Hán Trung thật thần tốc nhưng phải trật tự, không để quân Tư Mã Ý phát hiện. Tư Mã Ý biết chuyện quân Thục đang rút chạy, lập tức xua quân đuổi theo, quyết một phen tiêu diệt quân của Gia Cát Lượng. Dương Nghĩa ra lệnh cho binh lính rải đinh sắt trên đường rút quân để cản trở quân địch. Tư Mã Ý không phải tay vừa, ra lệnh cho hơn 2000 binh sỹ đi những đôi giày có đế làm bằng gỗ mềm chạy trước đoàn quân khiến đinh sắt do quân Thục rải trên đường găm hết vào đế giày. Quân đội Ngụy cứ theo đoàn quân giày gỗ này thuận lợi truy đuổi quân Thục. Tuy nhiên, khi quân Ngụy đuổi tới gần, quân Thục đột nhiên dựng cờ, gõ trống giống như chuẩn bị phản kích quân Ngụy. Quân Tư Mã Ý thấy vậy không dám truy đuổi nữa. Quân Thục nhờ vậy mà an toàn rút về Hán Trung. Vì sao một người thông minh như Tư Mã Ý lại không dám truy đuổi quân Thục? Nguyên nhân là vì, trước khi chết, dự liệu rằng khi quân Thục rút lui, Tư Mã Ý tất sẽ đuổi theo vì vậy Gia Cát Lượng đã cho người đẽo một bức tượng của mình rồi đặt lên xe. Đến khi quân của Tư Mã Ý đuổi theo đến gần thì đẩy xe có bức tượng của mình lên phía trước. Tư Mã Ý vốn nghe phong thanh Gia Cát Lượng bị bệnh mà chết, vì thế quân Thục mới rút quân. Nay khi đuổi sát tới nơi lại thấy Gia Cát Lượng vẫn điềm nhiên ngồi trước xe ra trước ba quân thì sợ rằng cả cái chết lẫn việc rút quân chỉ là kế sách của Gia Cát Lượng nên không dám manh động. Tư Mã Ý quá thông minh, do vậy cũng quá sức thận trọng vì thế đánh mất cơ hội tiêu diệt quân Thục. Người đời sau gọi sự kiện này là “Xác giả” Gia Cát Lượng đánh lui Tư Mã Ý. Quái chiêu “điểm huyệt” định phong thủy
Là một người trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, Gia Cát Lượng đương nhiên rất chỉn chu trong việc chọn nơi chôn cất cho chính mình. Theo di nguyện của Gia Cát Lượng, sau khi chết nơi đặt mộ của mình sẽ là núi Định Quân. Núi Định Quân nay nằm ở phía Nam huyện Miễn, thuộc tỉnh Thiểm Tây. Nó là một nhánh đâm theo hướng Tây Bắc của dãy Hệ Mỹ Thương. Vì trên đỉnh núi rất bằng phẳng, có thể đóng được cả vạn quân nên mới có tên là núi Định Quân. Một truyền thuyết khác nói rằng, khi Gia Cát Lượng dẫn quân Bắc phạt đã dùng ngọn núi này làm nơi tập Bát trận độ, luyện tập binh lính nên mới có tên là núi Định Quân. Vì sao Gia Cát Lượng lại chọn núi Định Quân mà không chọn chôn cất ngay tại quê nhà hoặc mang hẳn về kinh đô nước Thục? Người ta đã đưa ra nhiều giải thích khác nhau. Có người nói Gia Cát Lượng là vì quan niệm khi sống thì quản lý nước Thục, khi chết thì bảo vệ nước Thục. Một thuyết khác lại cho rằng, do việc Bắc phạt thất bại nên Gia Cát Lượng không muốn đưa xác mình về chôn tại kinh đô, sợ bị Lưu Thiện trả thù. Tuy nhiên, có lẽ nguyên nhân thuyết phục nhất vẫn là Gia Cát Lượng đã tính toán rất kỹ về phong thủy khi lựa chọn ngọn núi Định Quân này. Địa hình núi Định Quân rất phức tạp, các sườn núi uốn lượn, nhấp nhô được coi là một nơi cực tốt về phong thủy. Tuy nhiên, ngọn núi thì quá lớn, vậy nếu như chỉ nói rằng chôn cất ở núi Định Quân thì các tướng lĩnh biết chôn cất Gia Cát Lượng ở đâu? Người ta truyền rằng, chuyện này cũng đã được Gia Cát Lượng tính toán rất kỹ. Theo ghi chép, trước khi chết, nói về việc lo hậu sự của mình, Gia Cát Lượng nói với các tướng sỹ rằng, sau khi mình chết thì đem bỏ xác vào quan tài, lấy dây thừng buộc lại rồi cho quân sỹ khiêng theo đoàn quân rút về Hán Trung. Dây thừng đứt ở đâu thì lấy nơi đó làm mộ. Quân sỹ theo lời dặn của Gia Cát Lượng, buộc dây thừng vào quan tài rồi khiêng theo đoàn quân rút lui về phía Hán Trung. Cứ khiêng đi như vậy một thời gian rất lâu nhưng dây vẫn không đứt. Tuy nhiên, khi tới núi Định Quân thì đột nhiên sợi dây thừng rất chắc chắn bỗng dưng đứt bật ra, quan tài rơi xuống đất. Quân sỹ vội đặt quan tài xuống rồi tìm xẻng để đào huyệt hạ quan tài xuống. Nhưng khi binh lính vừa tản ra đất tại nơi đặt quan tại bỗng sụp xuống, vừa khít lấp trọn quan tài của Gia Cát Lượng. Tam Quốc là thời kỳ “mộ tặc” cực kỳ lộng hành. Vì vậy, ngoài việc chọn phong thủy cho ngôi mộ, việc đầu tiên cần nghiên cứu đối với các nhà phong thủy chính là làm cách nào để chống lại bọn mộ tặc này. Tào Tháo vốn là một chuyên gia trộm mộ, vì vậy cũng trở thành một người cực kỳ tài năng trong việc chống lại mộ tặc. Nghi án về 72 ngôi mộ của Tào Tháo cho tới tận ngày nay vẫn chưa có lời giải và người ta vẫn chưa thể nào tìm thấy ngôi mộ thật của nhà chính trị lừng danh thời Tam Quốc này. Về mặt phong thủy, Gia Cát Lượng có lẽ không thua gì Tào Tháo vì vậy, việc chống mộ tặc của Gia Cát Lượng cũng đặc sắc không kém. Gia Cát Lượng khi chọn mộ cũng đã nghĩ đến việc sẽ bị Tư Mã Ý hoặc những người đời sau đào và cướp mộ nên đã yêu cầu tướng lĩnh dưới quyền không chôn theo các vật tùy táng, mộ huyệt cũng không cần đào lớn, chỉ vừa đủ để đặt quan tài là được. Khu vực đặt mộ cũng không cần xây kín, cũng không trồng cây đánh dấu hay làm bất cứ thứ gì có thể bị phát hiện. Tuy nhiên, những người đời sau để tưởng nhớ công đức của Gia Cát Vũ Hầu đã quyết định xây dựng khu mộ cho ông, lại còn trồng cây để ghi nhớ vị trí đặt mộ. Tuy nhiên, khi quyết định làm điều này, họ cũng tính đến việc giúp ngôi mộ chống lại bọn mộ tắc. Họ đã xây dựng rất nhiều ngôi mộ giả xung quanh ngôi mộ thật. Ngôi mộ mà ngay nay người ta vẫn gọi là “Mộ thật của Gia Cát Vũ Hầu” thực tế không phải là mộ thật. Nhiều người cho rằng, ngôi mộ chỉ vẻn vẹn dòng chữ “Mộ Vũ Hầu” mới là mộ thật. Vì vậy mà người Trung Quốc đến nay vẫn còn lưu truyền câu tục ngữ: “Mộ thật thì không thật mà mộ giả lại không giả”. Ngôi mộ có tên là “Mộ Vũ Hầu” được đặt ở góc Tây Bắc của núi Định Quân, diện tích lên tới hơn 300 mẫu. Trên thực tế, nhiều chuyên gia lại cho rằng, ngay cả ngôi mộ có tên “Mộ Vũ Hầu” này cũng không phải là thực. Ngôi mộ này được coi là ngôi thật của Gia Cát Lượng chỉ mới bắt đầu từ năm 1799, do Đô đốc tỉnh Thiểm Tây là Tùng Quân khẳng định dựa trên những truyền thuyết lưu truyền trong dân địa phương thời đó. Vì vậy, cũng giống như Tào Tháo, cho tới nay người ta vẫn chưa thể xác định được mộ thật của Gia Cát Lượng nằm ở đâu. Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Trúc Loan (##)
Sao Cự Môn - Chỉ về lời ăn tiếng nói và ngôn ngữ thị phi
Sao Cự Môn thuộc chòm sao Bắc Đẩu Tinh, tên thường gọi là Cự (Thuộc tính Âm thủy).
Sao Cự Môn miếu địa tại cung Mão và Dậu.
Vượng địa tại cung Tý, Ngọ và Dần.
Đắc địa tại cung Thân và cung Hợi.
Và hãm địa tại cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi và Tỵ.
Cung mệnh có sao Cự Môn tọa thủ là người có thân hình đẫy đà, thấp da trắng, mặt vuông, đầy đặn, mắt hơi lộ.
Cự Môn vượng địa tại cung Tý, Ngọ được ví như viên ngọc trai quý được cất giấu trong đá, cần gặp Hỏa, Lộc đồng cung hay tuần, triệt án ngữ để để tăng vẻ sáng suốt và tốt đẹp, cũng như đá đã được phá vỡ lộ viên ngọc quý ra ngoài.
Sao Cự Môn hãm địa gặp Khoa: chẳng đáng lo ngại những chuyện chẳng lành. Khoa giải trừ được tính hung hãn của sao Cự bị hãm địa.
Sao Cự Môn miếu địa, vượng địa hay đắc địa gặp Xương, Khúc, Khôi, Việt, Khoa, Tuế hội họp là người có văn tài lỗi lạc, khẩu thuyết hùng hồn, thích hoạt động chính trị thường chuyên về ngành tư pháp và ngoại giao.
Cự Môn miếu địa, vượng địa hay đắc địa gặp Hổ, Tuế, Phù hội họp là người biết nhiều luật pháp, hay lý luận thường làm quan tòa hay thầy kiện.
Sao Cự Môn vượng địa tại Tý Và Ngọ là một người học rộng tài cao, có đức độ. Nếu gặp Tuần triệt, án ngữ và hóa lộc đồng cung thì được hưởng phú quý tột bậc. Trái lại nếu không gặp hóa lộc và tuần, triệt án ngữ mà gặp lộc tồn đồng cung thì chẳng khác nào, ngọc chìm sâu dưới biển, cung mệnh có cách này là người đa học, đa năng nhưng không gặp thời.
Sao Cự Môn hãm địa tại cung Thìn và Tuất rất mờ ám và xấu xa nhưng đối với tuổi Qúy, Tân mà cung mệnh nằm ở đây lại là người thông minh và được hưởng giàu sang, trong cuộc đời những chuyện xấu xảy ra chẳng đáng lo ngại.
Cự Môn hãm địa tại cung Thìn và Tuất đối với tuổi Đinh, Canh lại càng mờ ám xấu xa, vì có sự khắc, hãm vậy cho nên tuổi Đinh và Canh mà cung mệnh an tại đây thì khổ sở tới mức tột cùng.
Sao Cự Môn hãm địa tại cung Sửu và Mùi rất mờ ám và xấu xa nhưng đối với tuổi Ất và Bính, Tân lại thành sáng sủa tốt đẹp, vì có sự ứng hợp. Vậy cho nên tuổi Ất, Bính, Tân mà có cung mệnh an tại Sửu và Mùi có sao Cự Môn tọa thủ là người thông minh, học rộng, trong cuộc đời có gặp tai ương bệnh tật cũng chẳng phải lo ngại.
Cự hãm địa gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp như Xương, Khúc, Khôi, Việt, Tả, Hữu, Khoa, Quyền, Lộc là người hiểu biết sâu rộng có tài văn chương và ăn nói khôn ngoan và đanh thép thường người này sẽ làm về hoạt động chính trị, thầy giáo.
Sao Cự Môn hãm địa gặp sao Lộc, Tuế hội họp thì nên đi buôn.
Cự hãm địa gặp nhiều sao mờ ám xấu xa nhất là các sát tinh như Kỵ, Hình thì suốt đời túng quẩn, cô đơn phải lang thang phiêu bạt, gặp những bệnh tật khó chữa, Dễ xa vào xiềng xích và có thể bị yểu tử.
Dù Cự môn ở vị trí tốt mà gặp Hóa Kỵ đồng cung thì không thể tránh khỏi những tai nạn về sông nước hoặc xe cộ trong cuộc đời.
Cung mệnh có sao Cự Môn, Thái Dương tọa thủ và đồng cung tức từ đời ông cha đã có cuộc sống vinh hiển và liên tiếp ba đời đều danh giá.
Thân mệnh đồng cung có sao Cự Môn và Thái Dương tọa thủ đồng cung là người cũng khá giả, danh tài gồm đủ nhưng không được toàn mỹ, như trong trường hợp cung mệnh tại Dần có Cự, Nhật tọa thủ đồng cung.
Cung mệnh an tại Dần, Thân có sao Cự Môn và Thái Dương tọa thủ đồng cung rất tốt đẹp vì ở đây Thái Dương rất sáng sủa giống như mặt trời trên cao tỏa sáng xuống mặt đất, trong trường hợp này Cự, Nhật kị gặp sao Lộc Tồn đồng cung, cần gặp Hóa Quyền và Phượng các hội họp.
Cung mệnh an tại Mão, Dậu có Cự, Cơ đồng cung gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp chắc chắn sẽ làm chức lớn. Nhưng thích chơi bời và ăn tiêu hoang phí.
Tuổi Âm nữ Ất, Tân mà cung mệnh an tại Mão và Dậu có Cơ, Cự tọa thủ và đồng cung là người vượng phu ích tử, trong trường hợp này nếu Cự, Cơ không gặp Tuần, triệt án ngữ xung chiếu lại là người tài giỏi, đảm đang, có tài thao lược.
Cung mệnh an tại Mão và Dậu có Cơ, Cự tọa thủ và đồng cung gặp song hao hội họp tất có uy quyền hiển hách, danh tiếng lẫy lừng.
Cung mệnh an tại tứ mộ (Tý, Ngọ, Mão, Dậu) có sao Cự Môn tọa thủ hoặc có Cự, Đồng tọa thủ đồng cung gặp sao Kình, Kỵ hội họp thật khó có thể đề phòng được tai nạn về sông nước nhưng tuổi Bính, Tân mà cung mệnh có cách này thì lại không lo ngại.
Cung mệnh an tại Thìn, Tuất có sao Cự Môn tọa thủ hay có Thiên Đồng tọa thủ đồng cung gặp Thiên La, Địa Võng hội họp, gặp Hóa Khoa đồng cung hoặc xung chiếu là người có tài du thuyết như lịch sử đời Hàn.
Tuổi Tân ứng hợp với Cự và cần có Cự Môn thủ ở mệnh vậy cho nên tuổi Tân mà cung mệnh an tại tứ mộ, có Cự tọa thủ tuy ở đây Cự Môn mờ ám những vẫn khá giả. Trong trường hợp này nếu Cự môn gặp Tả, Hữu hội họp, lại thành một bộ sao cứu mệnh giải trừ được nhiều bệnh tật và tai họa xảy ra trong đời.
Cung mệnh có sao cự môn gặp Kình Đà và Hỏa Tinh hội họp thì rất mờ ám xấu xa có cách này thì suốt đời đau thương mắc nhiều bệnh tật và khó tránh khỏi nhiều tai họa dáng xuống.
Cung mệnh có sao Cự Môn tọa thủ và Đà La đồng cung tất trong mình có nốt ruồi kì lạ.
Cung mệnh hay cung thân có Cự Môn tọa thủ bị hãm địa gặp Kình, Đà đồng cung là người yếu đuối, mắc nhiều bệnh tật, sống khổ sở, nếu khỏe mạnh thì chỉ có thể là quân trộm cắp, ăn tàn phá hoại.
Cung mệnh có Cự tọa thủ gặp Hỏa, Kình, Đà hội họp tọa thủ cùng với những sao xấu xa mờ ám khác tất thắt cổ hoặc tự vẫn ở nơi sông nước.
Sao Vũ khúc tại cung Dần, Thân là thế địa, có sao Thiên tướng nhập miếu cùng tọa. Khi hai sao này kết hợp với nhau thì chủ yên tâm là thu nhập sẽ không tồi.
Sao Vũ khúc tại cung Dần, Thân là thế địa, tất có sao Thiên tướng nhập miếu cùng tọa thủ. Khi hai sao này kết hợp với nhau thì chủ yên tâm là thu nhập sẽ không tồi. Biết cách tích lũy tiền tài nhưng đối với bạn bè thì lại chi tiêu rất phóng khoáng.
BỐ CỤC SAO
Sao Vũ khúc tại cung Dần, Thân là thế địa, tất có sao Thiên tướng nhập miếu cùng tọa thủ, sao Phá quân thế địa triều chiếu tại cung Phúc đức. Cung Mệnh là sao Tử vi (cung Ngọ là nhập miếu, cung Tý là thế bình), cung Quan lộc là sao Liêm trinh thế lợi và sao Thiên phủ nhập miếu, cung Thiên di là sao Tham lang thế vượng.
PHÂN TÍCH TÀI VẬN
Sao Vũ khúc thuộc Kim, có thực lực, ổn định và có tinh thần trách nhiệm, có thể tĩnh cũng có thể động. Sao Thiên tướng thuộc Thủy, thích thể diện, tỉ mỉ và làm gì cũng chu toàn, vui vẻ khi giúp đỡ người khác. Hai sao kết hợp với nhau, có tài nghệ, thành khẩn thật thà, kỳ vọng cao vào bản thân, tôn trọng quy tắc, bảo thủ, thường tiến nhanh lùi cũng nhanh, biết giữ phép tắc và dừng lại đúng lúc.
Hai sao kết hợp với nhau thì thu nhập không tồi, có vận thiên tài, biết cách tích lũy tiền tài nhưng đối với bạn bè thì lại chi tiêu rất phóng khoáng, cuộc sống dư dả, không đầu cơ mưu lợi, có thể đầu tư ổn định, lập nghiệp từ hai bàn tay trắng. Những năm đầu đời thì có thể tích lũy được nhiều tiền nong, trung niên và cuối đời thì dư ăn thừa mặc.
Sao Tử vi độc tọa mệnh, ổn định thận trọng và kiên định, yêu cầu với bản thân cao, làm việc chăm chỉ, luôn cầu sự hoàn mỹ, có tham vọng và khả năng lãnh đạo ngự trị, có thể để ý một cách chu toàn. Tử vi đế tinh sợ nhất độc tọa, cô quân không có cát tinh phò tá thì dễ độc đoán chuyên quyền, có gian thần tiểu nhân bao vây, nhất nhất theo quy định, tự tìm phiền phức, thường cảm thấy cô độc hiu quạnh.
Sao Tử vi độc tọa nhập miếu cung Ngọ, Tam phương Tứ chính có các cát tinh tương hội Thiên phủ, Thiên tướng, Vũ khúc, nếu không có kỵ tinh Dương, Đà, Kỵ tinh tụ lại là mệnh cách Cực hướng li minh và Tử phủ triều viên, phong thái ung dung quan hệ xã hội tốt, xử sự linh hoạt. Sao Tử vi độc tọa cung Tý thường lãng mạn hoang tưởng, thường tự cảm thấy có tài nhưng không gặp thời.
Sao Phá quân tọa cung Phúc đức, quật cường ngang ngược, chủ quan, làm việc theo cảm tính, dễ bị xung động, tiền tài không ổn định, thăng trầm lớn.
Sao Liêm trinh, Thiên phủ cùng tọa thủ cung Quan lộc, vui vẻ, có trách nhiệm trong công việc, thích làm việc tập thể, có thành tích, bảo thủ, làm việc chuyên chú nhẫn nại, sau những năm trung niên thì ổn định, có thành tích.
Sao Tham lang tọa cung Thiên di, bốn biển là nhà, thích cuộc sống nơi đô thị, cuộc sống nhiều biến đổi, dễ có đào hoa phong hoa tuyết nguyệt.
Trong Tử vi sao Thái dương chủ về cha, chồng, do đó Thái dương ở miếu vượng chủ về người cha tốt, chồng tài, sự nghiệp thuận lợi, nhiều phúc khí, vợ hiền thục, có bất động sản.
-Sao Thái dương đóng tại Tý trong tử vi là mệnh lao lực, giàu tình cảm. Nếu cung Tử nữ cát lợi chủ về có quý tử, nên sớm rời xa quê nhà đến nơi khác phát triển, mệnh nữ nên làm vợ lẽ, mệnh nam dễ phạm đào hoa. Nếu chỗ Mùi không có sát tinh chủ về thất bại ít mà thành công nhiều. Nếu có sát tinh khó tránh gặp tai nạn xe, cơ thể gặp thương tổn, mắc bệnh lao, ung thư lại khó tránh họa kiện tụng tù ngục.
-Thái dương tại Sửu cóThái âm đồng cung, tính tình dễ thay đổi, cảm xúc bất định, lúc vui lúc buồn, lúc vui vẻ lúc u sầu, không dễ nắm bắt. Mệnh phạm đào hoa, sự nghiệp và tình cảm có trắc trở.
-Thái dương tại Dần chủ về có chí khí, có hoài bão, trước nghèo sau giàu, có nghề nghiệp chuyên sâu làm kế sinh nhai, có bất động sản, đa tài đa nghệ.
-Thái dương tại Mão chủ về tưống mạo đẹp, tấm lòng rộng mở, đa tài đa nghệ, có thanh danh tiền tài, có bất động sản, mẹ mẫu mực, kỵ uống rượu say. Mệnh nữ đoan chính, sớm lấy được chồng tài giỏi.
-Thái dương tại Thìn trong tử vi chủ về mệnh sinh ra trong gia đình danh giá, sớm được như mong muốn, thanh danh vang xa, có vợ hiền thảo, nhiều bất động sản, làm việc trở sau bình an. Mệnh nữ biết quản lý việc gia đình, cá tính đoan chính, sớm cưới chồng hiền, nên làm vợ lẽ, sau khi kết hôn không nên sống cùng mẹ chồng.Chỗ Hợi không nên có Dương nhẫn, Đà la, phạm Bạch hổ đề phòng phạm việc liên quan đến pháp luật, mệnh nữ lưu lạc phong trần.
-Thái dương tại Tỵ là ngưòi chí hướng cao xa, thích nổi trội, trước nghèo sau giàu. Chỗ Tuất có Hỏa tinh, Linh tinh tọa thủ chủ về có tài làm tướng, không sang thì giàu. Ngưòi sinh năm Ất dễ qua đời vì ung thư gan, mệnh nữ đoan trang sớm gả cho chồng hiền.Chỗ Hợi nếu có Dương nhẫn, Đà la tọa thủ chủ về tình cảm nhiều trắc trở (nam nữ cùng luận như nhau).
-Thái dương tại Ngọ là tượng mặt trời giữa trưa, chủ về ý chí cao xa, phúc lộc nhiều, nên sớm rời xa quê nhà, mệnh nữ nên làm vợ lẽ. Chỗ Dậu có Địa không, Địa kiếp nên hiến thân cho tôn giáo. Chỗ Sửu có sát tinh khó tránh gặp tai nạn xe, cơ thể gặp thương tổn, bệnh tật lại khó tránh họa lao ngục kiện tụng. Coi trọng đời sống tinh thần hơn đời sông vật chất, thích tĩnh lặng, giác quan thứ 6 nhạy bén, có thể học xem mệnh.
- Thái dương tại Mùi, nhật nguyệt cùng sáng, là người hào hiệp, tuy nhiên gia đạo dễ suy bại. Ngưòi sinh năm Đinh, năm Kỷ chủ về người ly tán, tiền tài hao tổn lại dễ mắc bệnh gan. Người sinh năm Quý dễ qua đời vì bệnh gan.
-Thái dương tại Thân là người học rộng, năng lực tốt, tuy nhiên quá trình làm việc nhiều trắc trở, cá tính trước chăm sau lười. Mệnh nam phạm đào hoa, mệnh nữ nên làm vợ lẽ. Nên học về xem mệnh, triết học, y học, máy tính.
-Thái dương tại Dậu trong tử vi là người làm việc có đầu không có cuối, có tài không gặp thời, phạm đào hoa. Thêm sát tinh dễ phạm việc liên quan đến pháp luật. Chỗ Tỵ có sát tinh dễ vì tình cảm mà ảnh hưởng đến công việc, cơ thể bị thương, kỵ uống rượu, không nên kinh doanh ngành chăn nuôi.
-Thái dương tại Tuất khó cầu danh, chỉ có cát tinh đồng cung mới có thể giàu. Là mệnh lao lực, người sinh năm Tân có thể qua đời vì ung thư gan, có tật ở mắt lại dễ phạm đào hoa. Chỗ Thìn có sát tinh là mệnh đam mê tửu sắc, đoản mệnh, cơ thế gặp thương tổn. Mệnh nữ gặp người không tốt, đa phần không biết quản lý gia đình, nên làm vợ lẽ, sau khi kết hôn không nên sống cùng mẹ chồng. Chỗ Dậu có sát tinh thường cơ thể dễ gặp thương tổn, chỗ Tỵ có sát tinh chủ về mệnh nữ lưu lạc phong trần.
-Thái dương tại Hợi ưa gặp Thiên mã, Lộc tồn, hóa lộc, Tam thai, Bát tòa, Văn xương, Tả phù, Hữu bật.
-Thái dương tại Mệnh đều chủ về duyên bạc với cha. Tại miếu vượng vì trợ lực của cha mà đội trời đạp đất, ở chỗ hãm là mệnh lao lực, cha mẹ không giúp đỡ. Mệnh nữ chủ về gặp ngưòi không tốt.
-Thái dương thêm sát tinh chủ về mắt bị thương lại chủ về cha cố chấp, chồng bảo thủ. Thái dương lạc hãm gặp Thiên hình chủ về phạm việc liên quan đến pháp luật. Thái dương đồng cung với Văn xương có thể học xem mệnh.
Từ xưa, việc hai nhà có cửa đối diện nhau được coi là không tốt về phong thủy. Nếu không thể đảo cửa thì có thể dùng bình phong, tủ kệ hoặc chậu cây để che chắn.
Đa số mọi người gọi tình huống này là phạm vào môn xung sát. Phạm vào "môn xung sát" chịu ảnh hưởng trực tiếp sẽ là người trong gia đình, gặp nhiều chuyện thị phi, mọi người rất dễ vì những chuyện nhỏ như "cây kim trong cọng chỉ" mà phát sinh tranh chấp, mâu thuẫn. Nghiêm trọng hơn là nảy sinh những mối bất hòa với những người khác trong công việc, mâu thuẫn với đồng nghiệp, với cấp trên…
Lưỡng môn đối diện vị tương mạ (hai cửa đối diện sẽ gây tranh cãi), thường gây ra sự bất hòa trong gia đình.
Nhưng, môn đối môn sẽ không gây ra vấn đề quá nghiêm trọng, trừ khi cửa chính vốn đã bị xung với một hành lang thẳng và dài, cộng thêm cửa đối diện cửa, khi đó mới thật là vấn đề đáng nói.
Phạm vào môn xung sát đồng thời cửa mở theo các hướng Đông, Đông Bắc, Tây Bắc và hướng Bắc thì người đàn ông trong gia đình sẽ gặp chuyện thị phi.
Nếu phạm vào môn xung sát đồng thời cửa mở theo các hướng Đông Nam, Tây Nam và hướng Tây thì những người trong gia đình dễ gặp chuyện thị phi.
Nếu phương vị của quẻ bát quái thuộc nam giới, phạm môn xung sát thì người đàn ông sẽ gặp bất lợi, nếu phương vị quẻ bát quái thuộc nữa giới phạm vào môn xung sát thì người nữ sẽ gặp bất lợi.
Quẻ bát quái của nam giới là Càn, Chấn, Khảm, Cấn.
Quẻ bát quái của nữ giới là Khôn, Tốn, Ly, Đoài.
Cách hóa giải:
“Kinh Lỗ Ban” ghi rằng: “Hai nhà không thể đối diện nhau vì như thế sẽ có một chủ bị suy. Hai nhà không thể đối nhau vì như thế sẽ có một nhà bị dữ”. Nhưng ngày nay, thành phố chật hẹp, người đông, nhiều nhà cao tầng chuyện đối cửa khó tránh khỏi, nếu phạm vào điều kiêng kỵ này thì sẽ hóa giải bằng cách nào?
Muốn xóa bỏ thế hai cửa đối nhau cách làm tốt nhất là treo 4 chữ “Thiên Quan Tứ Phúc” (Ông trời ban phúc bốn phương) trên cửa.
Có không ít người quan tâm tới điều này, có người treo gương: Tam xoa, bát quái, bạch hổ để hóa giải, nhưng làm như vậy lại gây lo lắng cho nhà đối diện nên cần hai bên cùng tìm cách hóa giải.
Cũng có một số gia đình, vì cố muốn nhà được tốt mà làm ảnh hưởng tới nhà đối diện, gia chủ không nên dùng các cách hóa giải như: dùng bùa ngải, dùng gương phản, tượng đá, treo đầu thú… vì các cách trên đều làm cho việc hóa giải của hai gia đình không bao giờ kết thúc, hai bên cùng tìm cách hóa giải, không ai chịu kém ai, gây nên bất hòa. Ví dụ, một nhà dùng đầu sư tử để hóa giải, nhà đối diện lại dùng hai thanh kiếm đan chéo nhau hóa giải. Như thế sẽ có một nhà bị lụi. Bởi thanh kiếm có nguy cơ gây hại cho chiếc đầu sư tử. Vì thế mà việc hóa giải của hai gia đình sẽ kéo dài mãi.
Tuy nhiên, việc hai cửa đối nhau không quá nghiêm trọng và khó hóa giải như vậy. Do đó gia chủ không nên quá lo lắng nếu chẳng may ngôi nhà bị rơi vào thế cửa xấu này.
Muốn xóa bỏ sự uy hiếp về tâm lý “hai cửa đối nhau” lại vừa không để hàng xóm có cửa đối cửa với mình bị mặc cảm, cách làm tốt nhất để giải quyết là trên dạ cửa treo 4 chữ “Thiên Quan Tứ Phúc” (Ông trời ban phúc bốn phương). Có thể bàn với nhà hàng xóm cùng treo bốn chữ này lên cửa chính là điều vô cùng lý tưởng. Như thế cả hai nhà cùng có phúc lớn trời ban.
Ngoài ra, nếu không thể đảo cửa thì nên lấy bình phong (bằng gỗ, tủ kệ hay thậm chí là chậu cây) làm giải pháp che chắn hữu hiệu. Nên xem xét lại việc gắn mảng lớn kính thuỷ lên đầu cửa, lên tường ngoài nhà như một số người vẫn làm để “phản khí”, vì gương có thể gây chói mắt và mang nhiều tính đối chọi.
Sao Văn Xương trong tử vi đẩu số có vai trò quan trọng, quản công danh sự nghiệp, học hành thi cử. Người mà bát tự có sao Văn Xương thì đường danh tốt.
Sao Văn Xương trong tử vi đẩu số nắm giữ vai trò quan trọng, quản chuyện công danh sự nghiệp, học hành thi cử. Người mà bát tự có sao Văn Xương thì số mệnh đoán định đường danh vô cùng tốt đẹp.
1. Tính cách
Sao Văn Xương cùng sao Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt hợp xưng là 6 cát tinh. Xưng là cát tinh bởi chúng có công năng phụ tá tốt, nếu gặp cách cục chính hoặc chủ tinh miếu vượng thì như gấm thêm hoa, tăng cường phát triển. Gặp phải sao lạc hãm thì như than sưởi ấm trong ngày đông, tăng thêm sức mạnh. 6 cát tinh này là lực cản mạnh nhất của 6 hung tinh Dương, Đà, Hỏa, Linh, Không, Kiếp, có thể trung hòa tính uy hiếp, thậm chí dẫn đường để chúng hướng về phát triển tốt hơn.Sao Văn Xương là ngôi sao khoa bảng, đứng đầu văn khôi, cần cù chăm chỉ sẽ nổi bật hơn người khác. Sao Văn Xương hoan hỉ nhất là gặp hóa khoa, nếu gặp miếu vượng lại hóa khoa thì tài về về học thuật, nghệ thuật nở rộ. Bát tự có sao Văn Xương ở các cung vị Mệnh, Tài, Quan, Thiên gặp ba sao Thái Dương, Thiên Lượng, Lộc Tồn, danh xưng là cách cục Dương Lương Xương Lộc, chủ về Tài Quan đều đẹp, tham gia thi cử nhất định có kết quả tốt.Sao Văn Xương miếu vượng là có tài hoa văn nghệ. Rơi vào lạc hãm thì tài năng không thể hiện ra ngoài, lạc hãm lại gặp hóa kị thì nghề chính không tốt, có chí mà bất lợi, thậm chí còn thất học, sinh tương tưởng bi quan buồn khổ. Gặp năm tiểu hạn mà sao Văn Xương hóa kị thì lưu ý giấy tờ công văn kẻo sơ suất sẽ đưa tới những quấy nhiễu, học sinh chú ý bài vở, thi cử kẻo kết quả không như ý.Sao Văn Xương lạc hãm gặp tứ sát tinh Dương, Đà, Hỏa, Linh thì là người khôn vặt, có tài ăn nói, có thể dùng tài nghệ để nuôi thân. Sao Văn Xương gặp sao Vũ Khúc thì văn võ song toàn.
2. Phương pháp xác định bát tự có sao Văn Xương
Sao Văn Xương là tứ trụ thần sát, xưng Văn Nhật quý nhân, là cát thần. Mệnh mang sao Văn Xương thì chủ nhân thông minh lanh lợi hơn người, nhạy cảm, tài hoa, đối với thi cử học hành rất có lợi, có thể gặp dữ hóa lành. Khẩu quyết để xác định bát tự có sao Văn Xương như sau:Giáp Ất Tị Ngọ báo quân biết, Bính Tuất Thân cung Đinh Kỷ Dậu.Canh Hợi Tân Tý Nhâm gặp Dần, Quý người thấy Mão trong mây thang.Có nghĩa là, can ngày Giáp Ất gặp địa chi Tị Ngọ là có sao Văn Xương. Can ngày Bính gặp địa chi Tuất Thân là có sao Văn Xương. Can ngày Canh gặp địa chi Hợi, can ngày Tân gặp địa chi Tý, can ngày Nhâm gặp địa chi Dần, can ngày Quý gặp địa chi Mão là có sao Văn Xương.
Văn Xương và Thực Thần có quan hệ mật thiết, ngày gặp địa chi Thực Thần Lộc Đường (tức Lâm Quan) là có Văn Xương. Ví dụ ngày Giáp Thực Thần là Bính, Bính lộc ở Tị, Tị là sao Văn Xương. Phương pháp tra bát tự có sao Văn Xương theo tứ trụ địa chi như sau:Can năm can ngày Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quý.Sao Văn Xương Tị Ngọ Thân Dậu Thân Dậu Hợi Tý Dần Mão.Sao Văn Xương trong xem tử vi chủ về quan chức, khoa bảng, là thần Lộc Tịch. Mỗi năm sao này đều có sự thay đổi về phương vị. Nếu có thể xác định phương vị Văn Xương mỗi năm và đặt thư phòng, bàn làm việc, bàn học ở đúng vị trí đó thì sẽ tăng cường vận trình sự nghiệp, học nghiệp. Xác định Văn Xương vị năm 2017 để sự nghiệp thành côngXác định phương vị Văn Xương tinh theo năm sinhTìm Văn Xương vị trong 5 năm tới để nhanh đỗ đạt vinh hiểnTrình Trình Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Trúc Loan (##)
- Tử vi tháng Hai của người tuổi Thân có quan hệ ám hợp với Nguyệt Lệnh nên vận trình tiếp tục thăng tiến. Tuy nhiên âm khí hưng thịnh sẽ gây ra nhiều áp lực trong công việc của bạn. Công việc bận rộn, sức ép từ lãnh đạo lại thêm Tiểu Nhân tinh hoành hành.
Tháng của mùa xuân, người tuổi Thân có quan hệ ám hợp với Nguyệt Lệnh nên vận trình tiếp tục thăng tiến. Tuy nhiên âm khí hưng thịnh sẽ gây ra nhiều áp lực trong công việc của bạn. Công việc bận rộn, sức ép từ lãnh đạo lại thêm Tiểu Nhân tinh hoành hành.
Lời khuyên: Nếu có điều kiện, bạn nên dùng đồ phong thủy may mắn cát tường để hưng thịnh vận trình, phối hợp với vị Bồ Tát, Chư Phật tọa mệnh để cầu bình an, gia trạch, sự nghiệp thuận lợi. Nên tu tâm dưỡng tính, cẩn trọng các mối quan hệ xã giao, đề phòng lời ăn tiếng nói.
BIỂU ĐỒ TỬ VI THÁNG 2
CÔNG VIỆC
Xem tử vi tháng Hai của người tuổi Thân thấy rõ khá nhiều khó khăn trong công việc, vì Bản mệnh là Dương Kim sẽ bị âm khí cả tháng nhũng nhiễu. Lãnh đạo yêu cầu công việc vừa nhiều vừa cao khiến bạn như đứng giữa ngã ba đường. Tiểu nhân hoành hành tạo khó khăn điều tiếng trong công việc.
Nhưng khó khăn thách thức sẽ chỉ như “gió thoảng mây bay” nếu bạn nhìn nhận như một bài học rèn luyện trong trường đời. Đầu tháng, những công việc khó khăn trước mắt dù bạn không muốn làm thì vẫn phải cố gắng hoàn thành. Nếu bạn không làm, người khác sẽ thay thế, điều đó càng khiến bạn dễ thiệt thân. Với chức vụ hiện tại, bạn nên chuyên tâm nâng cao tay nghề, bỏ ngoài tai những quan hệ không thực tế.
TÀI LỘC
Người tuổi Thân khá may mắn trong tháng này. Mặc dù công việc hiện tại không giúp bạn tăng số tiền trong tài khoản, nhưng nhờ quý nhân cao chiếu, có thể bạn sẽ được người thân hỗ trợ về mặt tài chính. Sự giúp đỡ nhỏ nhưng từ nhiều người cũng giúp bạn vượt qua được giai đoạn khó khăn. Nếu có điều kiện bạn nên thỉnh vài đồ phong thủy hợp mệnh để trợ giúp vận trình. Tiểu Nhân tinh xuất hiện, bạn phải đề phòng nạn trộm cướp lừa gạt.
TÌNH CẢM
Người độc thân có thể sẽ phải đưa ra nhiều quyết định hệ trọng trong tháng này như kết hôn, tỏ tình, chia tay hay hẹn hò. Nếu bạn đang chìm đắm trong tình yêu thì đây là cơ hội thích hợp nhất để đưa ra quyết định hệ trọng cả đời, ## tin rằng bạn sẽ hạnh phúc. Người đã có gia đình dễ bị vận đào hoa xấu xâm chiếm, nên tránh xa những địa điểm hay quan hệ dễ gây hiểu nhầm.
SỨC KHỎE
Vận trình sức khỏe của người tuổi Thân không được khả quan trong tháng nhiều âm khí. Thân thể cần được chú ý chăm sóc, ăn uống ngủ nghỉ đúng giờ, thường xuyên tập thể dục nâng cao sức đề kháng. Tiết xuân khá khô hạn, người miền Bắc nên dưỡng da thường xuyên, tránh để da bị khô ráp. Người hay sử dụng mỹ phẩm cần tránh các loại có thành phần dị ứng. Ra đường hẹn hò nên chú ý vấn đề vệ sinh ăn uống.
Nhìn chung, người tuổi Thân phải đối diện với nhiều thách thức trong tháng 2 âm lịch. Cuối tháng bạn sẽ có nhiều cuộc đối đầu nảy lửa với các đối thủ đồng nghiệp, thắng bại bất phân. Cùng nhiều biến động bất ngờ, quan hệ xã giao của người tuổi Thân trở nên căng thẳng. May nhờ vận tài lộc kéo lại nên tháng này vận trình của bạn vẫn có sự khởi sắc.
=> Theo dõi: Tử vi hàng ngày của bạn được cập nhật nhanh chóng, chính xác
12 Con giáp và những ngày sinh đem lại may mắn - Tử vi - Xem Tử Vi
12 Con giáp và những ngày sinh đem lại may mắn, Tử vi, Xem Tử Vi, xem bói, xem tử vi 12 Con giáp và những ngày sinh đem lại may mắn, tu vi 12 Con giáp và những ngày sinh đem lại may mắn, tu vi Tử vi
1. Người sinh ra vào ngày mùng 4 âm lịch của bất kì tháng nào trong năm Tý sẽ rất thông minh và hợp theo con đường nghiên cứu. Những người này sẽ tìm được một người bạn đời tốt và luôn trân trọng mình. Họ sẽ sống một cuộc sống ổn định ở tuổi thanh niên, có con cái hiếu thảo và của cải dồi dào ở độ tuổi trung niên, và sống một cuộc sống hạnh phúc khi về già.
2. Những người người sinh ra vào ngày 13 âm lịch trong năm Tý sẽ được ban phước lành vô hạn và may mắn. Họ rất dễ đạt được thành công lớn trong sự nghiệp của mình. Những người này cũng sống lâu với của cải dồi dào.
3. Người sinh ra vào ngày 30 âm lịch rất liêm chính và thông minh. Họ luôn muốn làm việc thiện, Cuộc đời của họ chẳng bao giờ phải chật vật lo nghĩ về cơm áo gạo tiền. Họ sẽ sống một cuộc sống giàu có ở độ tuổi trung niên. Những người sinh ngày 30 âm cũng sẽ tận hưởng tuổi già vui thú với con đàn cháu đống.
Tuổi Sửu
Ngày may mắn: 13 và 27 âm lịch.
1. Những đứa trẻ sinh ra vào ngày 13 âm lịch trong năm Sửu sẽ có một tương lai vô cùng hứa hẹn. Chúng và con cái đời sau không phải lo lắng về kinh tế. Khi gặp khó khăn sẽ luôn có quý nhân giơ tay ra cứu giúp họ vượt qua cơn khốn cùng.
2. Ngày 27 âm cực kì may mắn với người sinh vào năm Trâu. Người nam thì trung thực, thẳng thắn, hào phóng và luôn sẵn sàng làm tất cả mọi việc bất chấp khó khăn. Họ sẽ giàu có và cưới được người vợ đẹp. Người nữ sinh ngày 27 thì thông minh và lanh lợi. Họ sẽ có cuộc sống bình an trọn đời.
Tuổi Dần
Ngày may mắn: 16 và 27 âm lịch.
1. Những người tuổi Dần sinh vào ngày 16 âm lịch sẽ có một cuộc sống phong phú và đầy màu sắc. Họ sẽ đạt được cả danh tiếng và sự giàu có. Nhờ đó, họ dễ dàng có khả năng để tìm được một mối quan hệ hoàn hảo.
2. Nếu bạn tuổi Hổ và sinh vào ngày 27 thì không cần phải lo lắng về sự nghiệp của mình. Trong công việc, bạn luôn được quý nhân phù trợ. Bạn cũng sẽ có một cuộc hôn nhân hạnh phúc với nhiều con trai và cháu trai.
Tuổi Mão
Ngày may mắn: 26, 27, và 29 âm lịch.
1. Những người may mắn sinh ra vào ngày 26 âm lịch trong năm Mão hay đạt được địa vị cao và được mọi người tôn trọng. Kỹ năng chuyên môn mang lại cho họ thu nhập cao.
2. Sinh ra ngày 27 thì con người sẽ thông minh thiên về học thuật. Họ sẽ mang lại vinh dự cho tổ tiên. Họ cũng sẽ sống một cuộc sống giàu có và có thể trông đợi vào một cuộc hôn nhân hạnh phúc.
3. Những em bé chào đời vào ngày 29 cực kì may mắn. Lớn lên, các bé trai nên đi theo con đường kinh doanh vì có lộc về tiền tài. Các bé gái thông minh, tốt bụng, và có khả năng quản lý tiền bạc cực kì tốt.
Tuổi Thìn
Ngày may mắn: Mùng 1 và 16 âm lịch.
1. Những người tuổi Thìn vốn có cuộc đời sung sướng hơn các con giáp khác nhưng những người sinh ra vào ngày mùng 1 hàng tháng càng gặp nhiều may mắn. Họ sẽ có một sự nghiệp thuận lợi và có tiềm năng trở thành quan chức cấp cao.
2. Những người sinh ra vào ngày 16 âm lịch thông minh hơn những người bình thường. Họ đạt được cả danh tiếng và sự giàu có do sự siêng năng và sự ham học hỏi kiến thức mới.
Tuổi Tỵ
Ngày may mắn: Mùng 1 và 23 âm lịch.
1. Các bé sinh vào ngày mùng 1 trong năm Tỵ sẽ có một cuộc đời bình an và hạnh phúc.
2. Những người tuổi Rắn sinh vào đúng ngày 23 sẽ được ban cho lòng dũng cảm và trí tuệ. Trong suốt cuộc đời của mình, họ sẽ đạt được sự tôn trọng của nhiều người.
Tuổi Ngọ
Ngày may mắn: Mùng 5 và 20 âm lịch.
1. Những người sinh vào ngày mùng 5 có thiên phú về nghệ thuật. Dù cho có khó khăn, họ cũng sẽ vượt qua và đạt được thành công trong sự nghiệp.
2. Người tuổi Ngọ sinh ra vào ngày 20 có một cuộc sống phong phú. Về già, họ sẽ tận hưởng cuộc sống bình an bên con cháu.
Tuổi Mùi
Ngày may mắn: Mùng 7 và ngày 30 âm lịch.
1. ‘Những con dê’ sinh vào ngày mùng 7 rất hiền lành và khoan dung. Họ luôn nhận được sự quan tâm của hàng xóm và đồng nghiệp.
2. Những người sinh ra vào ngày 30 âm lịch trong năm con Dê rất may mắn và tài năng. Do đó, họ dễ dàng thành công trong cuộc sống.
Tuổi Thân
Ngày may mắn: 14 và 28 âm lịch.
1. Người tuổi Khỉ sinh vào ngày 14 sẽ sống một cuộc sống giàu có nhờ sự giúp đỡ từ cha mẹ và quý nhân.
2. Những em bé chào đời vào ngày 28 đã được sinh ra dưới một ngôi sao may mắn. Các bé sẽ có khả năng lãnh đạo thiên bẩm và hợp với những công việc chức quyền, người nổi tiếng.
Tuổi Dậu
Ngày may mắn: mùng 4 và 26 âm lịch.
1. Người sinh ra vào ngày mùng 4 sẽ tạo dựng được danh tiếng ngay từ khi còn trẻ. Cuộc sống xa hoa sẽ kéo dài đến tận tuổi trung niên.
2. Người tuổi Gà sinh ra vào ngày 26 được trời phú cho tài kinh doanh. Họ luôn tìm ra cách tốt nhất để đầu tư và làm số tiền có trong tay sinh sôi nảy nở.
Tuổi Tuất
Ngày may mắn: Mùng 7 và 28 âm lịch.
1. Những người tuổi Tuất sẽ sống lâu do sức khỏe hơn người khi được sinh ra vào ngày mùng 7.
2. Sinh ra vào ngày 28 âm lịch trong bất kì tháng nào của năm Tuất, mọi người đều sẽ được chòm sao may mắn chiếu mệnh, họ sẽ có địa vị xã hội cao và một gia đình lớn.
Tuổi Hợi
Ngày may mắn: 17 và 24 âm lịch.
1. Những người sinh ra vào ngày 17 vượt qua người bình thường cả về trí thông minh và lòng dũng cảm. Do đó họ sẽ nổi tiếng vì tính cách cao quý và uy tín của mình.
2. Người sinh ra vào ngày 24 đạt được sự tôn trọng của đủ mọi người từ các tầng lớp xã hội khác nhau. Nhờ vào khả năng chuyên môn của mình, cuộc sống của họ sẽ luôn dư dả.
em ngay sinh, 12 con giap, xem boi ngay sinh, boi ngay sinh 12 con giap Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Ngọc Sương (##)
Ngũ hành tương sinh là một trong hai mối quan hệ cơ bản nhất của quy luật ngũ hành tương sinh tương khắc của vạn vật, trong đó vật này nuôi dưỡng vật kia
Khi nghe nói Ngũ hành tương sinh, ví dụ như Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim thì hiểu nôm na là hành này bồi đắp, nuôi dưỡng cho hành kia được lớn mạnh và phát triển. Chẳng hạn hành Kim nuôi dưỡng và bồi đắp cho hành Thủy lớn mạnh và phát triển, hành Thổ nuôi dưỡng và bồi đắp cho hành Kim lớn mạnh và phát triển...
Quan hệ tương sinh của Ngũ hành được mô tả theo sơ đồ sau:
Giải thích về ý nghĩa của Ngũ hành tương sinh, có thể hiểu đơn giản như sau:
Mộc sinh Hỏa: Mộc là cây cối, có Hỏa ẩn phục bên trong, xuyên thủng Mộc sẽ sinh ra Hỏa. Vì thế mới nói Mộc sinh Hỏa.
Hỏa sinh Thổ: Hỏa đốt cháy cây cối thành tro, tức là Thổ. Vì thế mới nói Hỏa sinh Thổ.
Thổ sinh Kim: Kim bị vùi lấp trong đất đá nên có Thổ tất có Kim. Vì thế mới nói Thổ sinh Kim.
Kim sinh Thủy: Khí của Kim chảy ngầm trong núi, hoặc nhiệt độ làm kim loại nóng chảy. Vì thế mới nói Kim sinh Thủy.
Thủy sinh Mộc: Nhờ có nước mà cây cối sinh trưởng được nên mới nói Thủy sinh Mộc.
Khi tìm hiểu về nguyên lý của Ngũ hành, cũng cần lưu ý một điều: Không phải cứ tương sinh là được tốt, mà phải hiểu Ngũ hành tương sinh được coi như là tốt giữa hai hành đó với nhau.
Trong mối quan hệ tương sinh đó sẽ có hai tình trạng sinh xuất và sinh nhập chứ không thể cùng tình trạng là sinh xuất hay sinh nhập. Có nghĩa, sự tương sinh chỉ có tính chất một chiều.
Chẳng hạn: Kim sinh Thủy chứ Thủy không sinh Kim, Thổ sinh Kim chứ Kim không sinh Thổ.
Cũng có quan điểm cho rằng, sự tương sinh sẽ diễn ra hai chiều. Chẳng hạn: Mộc sinh Hỏa và Hỏa cũng có thể sinh Mộc. Quan điểm này được lập luận: Thủy sinh Mộc bởi nước đã giúp đất bớt khô, làm cho cây cối sinh trưởng tốt, còn Hỏa làm cho trời nóng, cây cối khỏi cóng rét nên cũng có thể nói Hỏa sinh ra Mộc. Quan điểm này không thực tế bởi cách lập luận như thế thật hết sức miên man, khiên cưỡng nên không thuyết phục.
Quan hệ sinh một chiều sẽ dẫn đến có sự khác biệt giữa hai hành trong mối tương sinh đó. Cái này sinh cho cái kia thì đó là sự sinh xuất, có nghĩa tình trạng sinh xuất sẽ thể hiện sự thua thiệt, vất vả để phù trợ cho cái được sinh (tình trạng sinh nhập). Cái này được sinh do cái kia sẽ được lợi, được phù trợ do cái kia đem lại. Hiểu nôm na, đơn giản: hành sinh xuất là cha mẹ, hành được sinh là con cái. Vì cha mẹ sinh ra con cái nên hết lòng vì con cái, bồi đắp và nuôi dưỡng cho con cái phát triển, còn con cái, được cha mẹ sinh thành, dưỡng dục nên người, sau này sẽ báo đền ơn nghĩa của cha mẹ, tuy nhiên, sự báo đáp đó không thể ngang bằng với công lao trời biển của bố mẹ.
So sánh như vậy để bạn đọc dễ hình dung về mối quan hệ Ngũ hành tương sinh, dễ đưa ra lời kết luận khi nghiên cứu về vấn đề này, đặc biệt là trong văn hóa tín ngưỡng như Tử vi, Lý số...
Trong quan hệ vợ chồng, sự tương sinh giữa hai bản mệnh là rất cần thiết vì có sự tương sinh thì vợ chồng mới yêu thương, hòa thuận, mới cùng nhau vun đắp cuộc sống gia đình được viên mãn. Tuy nhiên, bản mệnh của người vợ phải ở tình trạng sinh xuất cho bản mệnh của người chồng thì sự tương sinh ấy mới thật sự là tốt đẹp, hoàn mỹ. Sự sinh xuất đó sẽ giúp người chồng gặp nhiều may mắn, con đường công danh, sự nghiệp của người chồng sẽ ít gặp những trắc trở, hoặc nếu có gặp thì sẽ dễ dàng vượt qua. Trường hợp này, dân gian gọi là người có số vượng phu ích tử. Ngược lại, bản mệnh người vợ được sinh nhập từ bản mệnh của người chồng thì người vợ sẽ được người chồng yêu thương, chở che, bao bọc. Vì ở tình trạng sinh xuất nên người chồng không nhận được sự giúp đỡ của vợ, dù chỉ là “nhờ lộc tuổi của vợ” ... Dù sao, bản mệnh của hai vợ chồng rất cần có sự tương sinh về ngũ hành để cuộc sống gia đình được hạnh phúc.
Vì có tính chất Âm (-), Dương (+) của Ngũ hành nên khi nói đến tương sinh, cần chú ý đến nguyên tắc về Âm - Dương của 2 hành tương sinh đó. Sự tương sinh chỉ sảy ra khi hai hành đó có tính chất Âm (-), Dương (+) khác nhau, ví dụ:
Âm Kim sinh Dương Thuỷ (Đ)
Dương Thổ sinh Âm Kim (Đ)
chứ nhất quyết không có chuyện:
Âm Kim sinh Âm Thuỷ (S)
Dương Thổ sinh Dương Kim (S)
Có quan điểm cho rằng: Sự tương sinh chỉ sảy ra một chiều, theo hướng khí Âm (-) sinh khíĐương (+), chứ không thể khí Dương (+) sinh khí Âm (-). Chẳng hạn: cùng là Thổ và Kim nhưng chỉ có Âm Thổ sinh Dương Kim, chứ Dương Thổ không sinh được Âm Kim. Quan điểm này không chấp nhận được vì đã hiểu không đúng về nguyên lý Âm Dương trong dịch lý. Cổ nhân nói: Trong Âm có Dương và trong Dương có Âm, Âm cực sinh Dương và Dương cực sinh Âm. Ví dụ: Không khí là Dương, nước là Âm. Trong không khí (Dương) có hơi nước (Âm) và trong nước (Âm) có bọt khí (Dương).
Dịch lý cho rằng: Âm Dương thuận lý (tức là khí Âm (-) và khí Dương (+) dung nạp, hòa hợp nhau) để biến sinh ra vạn vật, con người. Triết lý Âm - Dương khẳng định: Âm và Dương là hai thực thể ngoại tại, tự thân chuyển hóa lẫn nhau. Ví dụ: Không khí khi gặp lạnh sẽ tạo thành mưa, nước khi gặp nóng sẽ bốc hơi tạo thành khí; hoặc hết ngày thì đến đêm, hết mưa thì sẽ nắng.... Vì thế, quan điểm cho rằng chỉ có khí Âm (-) mới sinh được khí Dương (+) còn khí Dương (+) không thể sinh được khí Âm (-) là sai với thuyết Âm Dương Ngũ hành.
Bên cạnh việc căn cứ vào Âm Dương của Ngũ hành, cần phải cân nhắc, xem xét đến yếu tố thứ 3 là bản chất lý tính của Ngũ hành (tức nạp âm thủ tượng, còn gọi nạp âm ngũ hành) của các hành đó để đưa ra kết luận: Thực chất mối quan hệ tương sinh của các hành đó như thế nào? Không thể cứ thấy đặc tính Ngũ hành tương sinh là khẳng định luôn các hành đó tương sinh, cũng không thể chỉ thấy thuận lý Âm (-) Dương (+) thì cho rằng như thế là được.
Biết rằng Thủy sinh Mộc nhưng phải biết đó là Thủy gì, Mộc gì ... chứ không thể cứ thấy Thủy với Mộc là khẳng định đó là tương sinh. Phải biết bản chất lý tính của các hành đó là gì để căn cứ mà luận giải. Chẳng hạn Bình Địa Mộc (Mậu Tuất - Kỷ Hợi: Cây đất bằng) rất cần có Thiên Hà Thủy (Bính Ngọ - Đinh Mùi: nước mưa trên trời) tưới xuống để tốt tươi, lớn mạnh, ngược lại, nếu Bình Địa Mộc gặp Đại Hải Thủy (Nhâm Tuất - Quý Hợi: Nước biển rộng) thì cây non mới đâm cành trổ lá làm sao mà tồn tại nổi.
Tương tự như vậy, khi nói Hỏa sinh Thổ cũng không thể hiểu Hỏa nào cũng sinh được Thổ, ví dụ, Thiên Thượng Hỏa (Mậu Ngọ - Kỷ Mùi: Lửa trên trời) không sinh được Bích Thượng Thổ (Canh Tý - Tân Sửu: Đất trên vách) mà còn làm cho Bích Thượng Thổ bị hủy diệt.
Ngay cả khi bản chất lý tính của Ngũ hành được tương sinh nhưng chắc chắn sẽ có ý kiến khác nhau, thậm chí còn trái ngược. Chẳng hạn, lấy tuổi Mậu Tuất với tuổi Bính Ngọ làm ví dụ.
Ý kiến thứ nhất cho rằng rất đẹp vì được tương sinh hai cấp độ (đặc tính và lý tính).
Ý kiến thứ hai cho rằng không được đẹp lắm vì không thuận lý Âm Dương.
Ý kiến thứ ba cho rằng bình thường, vì Ngũ hành từ khí mà ra nên Âm (-) Dương (+) là quan trọng. Dù được tương sinh ở 2 cấp độ nhưng sự nghịch lý Âm (-) Dương (+), coi như vứt bỏ.
Đây chính là sự phức tạp của thuyết Âm Dương Ngũ hành, làm cho người mới tìm hiểu, tiếp cận với Lý số học sẽ như lạc vào một trận đồ bát quái, khó tìm được đường ra.
Như vậy, mối quan hệ tương sinh của Ngũ hành không đơn giản như cách hiểu nôm na theo sơ đồ tương sinh đã nêu ở trang trước, mà khá phức tạp. Cũng lưu ý rằng, khi tìm hiểu về Ngũ hành tương sinh, bạn đọc nhất định phải chú ý đến 3 yếu tố sau:
Đặc tính của Ngũ hành và tình trạng sinh xuất - sinh nhập.
Tính chất Âm - Dương của Ngũ hành.
Bản chất lý tính của Ngũ hành (còn gọi là nạp âm Ngũ hành).
Trong dân gian, có quan điểm cho rằng chỉ cần yếu tố thứ (3) là đủ, không cần thiết phải thêm 2 yếu tố (1) và (2), vì như thế chỉ thêm phức tạp, rối rắm. Nhưng cũng có quan điểm lại chú trọng tới yếu tố (1) và (2), bỏ qua hoàn toàn yếu tố nạp âm của Ngũ hành vì cho rằng như thế chỉ tăng thêm sự rối ren không cần thiết. Theo quan điểm của chúng tôi, sự kết hợp cả 3 yếu tố là điều cần thiết, không nên coi nhẹ bất kỳ yếu tố nào.
Chúng ta đều biết nạp âm Ngũ hành là sự phân chia ra 30 hành chi tiết của 5 hành cơ bản, để giải thích những sự phức tạp của quá trình sinh - khắc một cách hợp lý hơn khi áp dụng năm sinh để dự báo sự xung - hợp của tính tình con người.
Chúng tôi nghĩ rằng: Trong các trường hợp, khi bản chất lý tính của ngũ hành được xác định rõ ràng (nạp âm ngũ hành), thì sự kết hợp cả 3 yếu tố để luận giải sẽ tăng thêm độ chính xác, tin cậy của lời giải đoán, nhưng trong các trường hợp khác, khi lý tính của ngũ hành không thể xác định thì việc cân nhắc 2 yếu tố (1) và (2) là điều tiên quyết. Chẳng hạn, khi luận giải về giá trị của các sao trong lá số tử vi, người luận giải đương nhiên phải căn cứ vào đặc tính ngũ hành của các sao và vị trí Âm Dương của các sao để đưa ra lời kết luận. Trong những trường hợp như vậy, chỉ chú trọng tới yếu tố thứ 3 sẽ làm cho người đoán giải hoàn toàn rơi vào bế tắc.
Chúng tôi đưa ra nguyên tắc hội tụ 3 yếu tố trên để bạn đọc linh hoạt trong từng trường hợp. Chúng tôi cũng sẽ không đề cập lại vấn đề này khi bàn về Ngũ hành tương khắc, tương hòa hay quy luật chế hóa của Âm Dương ngũ hành ở những trang sau.
(Trích trong TỬ VI KIẾN GIẢI của Đặng Xuân Xuyến, nxb Thanh Hóa)
Bài viết được tác giả gửi đến trang nhà Xem Tướng chấm net, tháng 9 năm 2015
Một số sách của tác giả Đặng Xuân Xuyến đã xuất bản như:
Tử Vi Kiến Giải - nxb Thanh Hóa
Tử Vi Vấn Đáp - nxb Thanh Hóa
Vào chùa lễ Phật, những điều cần biết - nxb Văn Hóa Thông Tin
Tìm hiểu văn hóa tín ngưỡng trong dân gian - nxb Thanh Hóa
Điềm báo và kiêng kỵ trong dân gian - nxb Lao Động - Xã Hội
Khám phá bí ẩn con người qua bàn tay - nxb Thanh Hóa
Thần tài là vị Thần cai quản về tiền bạc và của cải. Theo tín ngưỡng dân gian, Thần tài mang lại tiền bạc hay của cải cho mỗi gia đình, nên mỗi gia đình, nhứt là gia đình mua bán hay kinh doanh đều có bàn thờ Thần tài, đốt nhang nghi ngút để cầu xin Thần tài cho mua may bán đắt, trúng mối lời nhiều, đem lại nhiều tiền bạc sung túc.
Người đời rất quí trọng tiền bạc nên rất quí trọng Thần tài. Những nhà kinh doanh đều có lập bàn thờ Thần tài rất long trọng, đặc biệt bàn thờ Thần tài không được đặt trên cao mà phải đặt ngay trên mặt gạch nền nhà.
Tục thờ Thần tài được người Tàu truyền cho dân ta. Người Tàu sang nước VN làm nghề buôn bán trở nên giàu có, mỗi nhà người Hoa đều có thờ Thần tài nên người Việt thấy vậy bắt chuớc theo. Nhiều nhà không có thờ phượng Trời Phật chi hết mà lại thờ Thần tài.
Sự tích của Thần tài: có nhiều sự tích nhưng dân gian thường nhắc hai sự tích sau đây:
1. Thần tài là một cô gái tên là: Như Nguyện.
Ngày xưa, có một lái buôn tên là Âu Minh, khi đi thuyền qua hồ Thanh Thảo, được Thủy Thần tặng cho một cô hầu gái tên là Như Nguyện. Âu Minh đưa Như Nguyện về nuôi trong nhà. Sự buôn bán từ ngày đó trở đi càng ngày càng phát đạt, chỉ trong vòng vài năm mà Âu Minh trở thành một nhà giàu có lớn.
Một hôm, vào Tết Nguyên đán, Âu Minh tức giận đánh Như Nguyện làm nó sợ hãi, chui vào đống rác trốn mất.
Kể từ đó, việc buôn bán của Âu Minh bắt đầu thua lỗ sa sút, chẳng bao lâu thì sạt nghiệp, trở nên nghèo khổ.
Người ta cho rằng, Như Nguyện là Thần tài. Lúc Âu Minh nuôi Như Nguyện trong nhà thì Thần tài ủng hộ nên làm ăn phát đạt. Tới khi Như Nguyện bị đánh rồi bỏ đi thì Thần tài không còn chiếu cố Âu Minh nữa nên làm ăn sa sút, thất bại.
Do sự tích nầy, người ta có tục kiêng cử quét rác và hốt rác trong ba ngày Tết, sợ Thần tài không có chỗ ẩn trốn mà đi nơi khác thì việc làm ăn trong năm sẽ bị xui xẻo thất bại.
Cũng do sự tích nầy mà người ta lập bàn thờ Thần tài sát nền đất hay nền gạch, không đặt cao như các bàn thờ khác, và đặt ở góc nhà hay nơi hàng hiên.
Nhưng trong thực tế, người ta thường gọi là Ông Thần tài chớ không ai gọi là Bà Thần tài, nên sự tích Thần tài là cô gái Như Nguyện chưa hẳn là chính xác.
2. Thần tài là ông Triệu Công Minh
Ông Triệu Công Minh ở đây không phải là Triệu Công Minh trong truyện Phong Thần hay trong truyện Bắc Du Chơn Võ, mà là một người dân ở núi Võ Đang bên Tàu.
Truyện dân gian Trung quốc kể rằng: ở vùng núi Võ Đang có một ông già tên là Triệu Công Minh nhà rất nghèo. Ngày ngày, ông xách giỏ đi khắp nơi xin quần áo cũ để mặc và xin cơm cặn canh thừa để ăn. Nghèo đến thế nhưng ông lão có nuôi một con chó đen già và một con vịt lông vằn không đẻ trứng. Gần đấy có một ông phú hộ, gọi là Tiền Viên Ngoại, tánh rất xa xỉ và bất nhân, cơm ăn không hết thì đem đổ xuống cống, áo mặc cũ rồi thì bỏ vào đống rác. Ông lão nghèo họ Triệu thấy vậy mới lượm gom hết các quần áo cũ đem phân phát cho những người nghèo, hốt các canh thừa cơm cặn ấy về nuôi chó và vịt.
Bỗng một hôm, con vịt đẻ ra 10 quả trứng vàng, còn con chó già thì khạc ra 10 thoi bạc. Từ đó thành lệ, mỗi ngày vịt và chó đều đẻ và khạc ra vàng bạc cho lão Triệu. Lão Triệu trở nên rất giàu có, trong lúc Tiền Viên Ngoại thì càng lúc càng nghèo vì tánh xa xỉ. Một thời gian sau, Tiền Viên Ngoại phải đi ăn xin, khi gặp lại Triệu Công Minh, lão Viên cảm thấy rất xấu hổ. Họ Triệu thông cảm, giúp cho lão Viên một số tiền khá khá đủ làm vốn liếng làm ăn, nhưng Lão Viên quen tánh tiêu xài xa xỉ nên dần dần hết vốn, trở nên nghèo khổ. Lão Viên lại sanh ác tâm, thấy họ Triệu giàu lớn như vầy bèn tính giết Triệu Công Minh để chiếm đoạt tài sản. Lão Viên thừa lúc vắng vẻ, lén đốt nhà của Triệu cháy ra tro, nhưng họ Triệu không chết, con vịt biến thành chim Phụng bay vút lên trời, con chó già biến thành con cọp đen xông ra cắn chết lão Viên, tất cả vàng bạc của Triệu đều hóa thành đá, và Triệu Công Minh biến thành Thần Tài. Dân chúng lập miểu thờ Triệu Công Minh gọi là Thần tài miếu.
Chúng ta không thể xác định được người VN thờ Thần tài vào lúc nào, bởi vì như trên đã nói, việc thờ Thần tài là do người VN bắt chước các Hoa kiều, như thế những người VN thờ Thần tài chắc chắn là những người thường làm ăn buôn bán với các Hoa kiều.
Việc thờ Thần tài trong mỗi gia đình khiến cho người ta sáp nhập Thần tài vào các Thần bản gia như: Thổ địa, Ông Địa, Ông Táo.
Do đó, người Tàu làm ra một tấm bài vị gộp chung các danh hiệu của các vị Thần bản gia để thờ, mà người ta thường gọi là "bài vị Thần tài", và chúng ta thấy bài vị nầy được thờ ở hầu hết trong các tiệm quán, nhà buôn, ở các văn phòng công ty và xí nghiệp.
Bài vị Thần tài được vẽ trên một tấm kiếng, nền sơn đỏ, tất cả đều là chữ Hán màu nhũ vàng, vẽ một cái cổng mà hai trụ có rồng quấn, trên cổng có tấm bảng đề "TỤ BẢO ĐƯỜNG" nghĩa là ngôi nhà có tụ lại những thứ quí báu, phía dưới có vẽ một cái TỤ BẢO BỒN là cái chậu huyền diệu chứa của báu.