Đời vua Hán cảnh Đế có người bán dầu tên Bùi Độ nghèo khổ lang thang, được thầy xem tướng số cho biết sẽ chết đói vì coi tướng, trên mặt có hai đường chỉ chạy xéo từ cằm lên mép miệng.
Ngày kia Bùi Độ gặp một thiếu nữ ngồi khóc bên giếng sâu. Hỏi ra sự tình mới biết thiếu nữ mang vàng đi để chuộc tội oan của cha, chẳng may bị đánh rơi xuống giếng. Ai cũng nói dưới giếng có con trăn to, thiếu nữ đang tuyệt vọng muốn quyên sinh. Bùi Độ thương tình, nghĩ mình trước sau cũng chết đói nên liều mạng leo xuống tìm được vàng cho thiếu nữ. Nhờ đó gia đình thiếu nữ được phục hồi danh dự và quyền thế.
Một lần gặp lại, nhà tướng số kia kinh ngạc nói rằng tướng chết đói của Bùi Độ đã biến mất mà thay vào đó là tướng công khanh phú quý rực rỡ!
Đúng vậy, sau này thiếu nữ tên Ngọc Hà đền ơn, đem Bùi Độ về dạy học và giao ước vợ chồng rồi mới thưa với phụ thân. Cha nàng gửi gắm Bùi Độ sang một người bạn khác để nhờ tiến cử. Thời gian xa cách Ngọc Hà, Bùi Độ đã lạc lòng với những hình bóng giai nhân khác.
Trên bước đường tiến quan, Bùi Độ ghé vào thăm nhà tướng số cũ để tạ ơn, nhưng ông bảo Bùi Độ đã hiện lại tướng chết đói. Bùi Độ tức giận bỏ đi.
Sau khi được làm quan, Bùi Độ đánh mất nhân cách, chỉ lục lạo, cưỡng bức các cô gái đẹp, bị triều đình hạ lệnh bắt về kinh trị tội. Bùi Độ sợ hãi trốn vào rừng rồi chết đói cạnh một mỏm đá!
Cuộc đời số mệnh của mỗi con người được ẩn hiện qua tướng số, tử vi, phong thủy. Tuy nhiên, những điều này hoàn toàn có thể thay đổi theo thời gian, phúc đức của mỗi con người. Chính vì thế đừng ỷ vào việc mình có một số mệnh tốt mà làm những điều thị phi, bởi bạn sẽ không lường trước được vận hạn xấu sẽ đến khi nào.
Hướng dẫn xem tuổi vợ chồng hợp hay xung khắc với nhau - Xem tuổi vợ chồng - Xem Tử Vi
Hướng dẫn xem tuổi vợ chồng hợp hay xung khắc với nhau, Xem tuổi vợ chồng, Xem Tử Vi, xem bói, xem tử vi Hướng dẫn xem tuổi vợ chồng hợp hay xung khắc với nhau, tu vi Hướng dẫn xem tuổi vợ chồng hợp hay xung khắc với nhau, tu vi Xem tuổi vợ chồng
Hướng dẫn xem tuổi vợ chồng hợp hay xung khắc với nhau
Xem tuổi vợ chồng có hợp hay xung khắc nhau thì trong thực tế dựa vào tự luận khoa học. Có nhiều cách để xem tuổi vợ chồng hợp khắc. Webtuvi hướng dẫn xem tuổi vợ chồng hợp hay xung khắc với nhau.
Để xem tuổi vợ chồng hay bạn bè có xung khắc nhau không thường thì dựa vào 3 điểm chính sau : 1.Tuổi gồm có 12 tuổi Tý, Sửu, Dần, v.v….gọi là THẬP NHỊ CHI. 2. Mệnh gồm có 5 Mệnh :Kim, Hoả,Thuỷ, Mộc, Thổ gọi là NGŨ HÀNH. 3. Cung mỗi tuổi có 2 cung, gồm có cung chính và cung phụ. Cung chính gọi là cung sinh cung phụ gọi là cung phi.
Cùng tuổi thì nam nữ có cung sinh giống nhau nhưng cung phi khác nhau. Hai tuổi khắc nhau vẫn có thể ăn ở với nhau được nếu như cung và Mệnh hoà hợp nhau. Ngoài ra người ta còn dựa vào thiên can của chồng và tuổi của vợ để đoán thêm.
Thiên can: là 10 can gồm có Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ ,Canh, Tân, Nhâm, Quý.(Tính theo 12 Con Giáp)
Nếu tuổi bạn với ai đó không hợp nhau thì cũng đừng lo vì còn xét đến Mệnh của mỗi người (Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ) Bạn nhớ nguyên tắc này : Tuổi chồng khắc vợ thì thuận (tốt); Vợ khắc chồng thì nghịch (xấu) Thí dụ vợ Mệnh Thuỷ lấy chồng Mệnh Hoả thì xấu, nhưng chồng Mệnh Thuỷ lấy vợ Mệnh Hoả thì tốt. Vì Thuỷ khắc Hoả, nhưng Hoả không khắc Thuỷ mà Hoả lại khắc Kim. Các bạn lưu ý nhé!
Ngũ hành tương sinh.(tốt) Kim sinh Thuỷ; Thuỷ sinh Mộc; Mộc sinh Hoả; Hoả sinh Thổ; Thổ sinh Kim (tốt) Như vậy chồng Mệnh Thuỷ lấy vợ Mệnh Mộc thì tốt; vợ được nhờ vì Thuỷ sinh Mộc. Vợ Mệnh Hoả lấy chồng Mệnh Thổ thì chồng được nhờ vì Hoả sinh Thổ
Ngũ hành tương khắc (xấu) Kim khắc Mộc; Mộc khắc Thổ; Thổ khắc Thuỷ; Thuỷ khắc Hoả; Hoả khắc Kim (xấu) Thí dụ vợ Mệnh Kim lấy chồng Mệnh Mộc thì không tốt do Kim khắc Mộc nhưng chồng Mệnh Kim lấy vợ Mệnh Mộc thì tốt vì theo nguyên tắc ở trên là tuổi chồng khắc vợ thì tốt, vợ khắc chồng thì xấu.
Về cung thì mỗi tuổi có một cung khác nhau. Sau đây tôi kê trước cho các bạn có tuổi Đinh Tỵ (1977) đến Đinh Mão (1987). Nên nhớ cung phi của nam nữ khác nhau còn cung sinh thì giống nhau Đinh Tỵ (1977) Mệnh Thổ_ cung sinh : khảm_ cung phi Khôn (nam), Khảm (nữ) Mậu Ngọ (1978) Mệnh Hoả-cung sinh : chấn_ cung phi :tốn (nam),Khôn (nữ) Kỷ Mùi (1979) Mệnh Hoả_ cung sinh : Tốn_ cung phi: chấn (nam), chấn (nữ) Canh Thân (1980) Mệnh Mộc_ cung sinh: Khảm_ cung phi :Khôn (nam), Tốn (nữ) Tân Dậu (1981) Mệnh Mộc _cung sinh : Càn_ cung phi : Khảm (nam), Cấn (nữ) Nhâm Tuất (1982) Mệnh Thuỷ _cung sinh : Đoài_ cung phi : Ly (nam), Càn (nữ) Quý Hợi (1983) Mệnh Thuỷ _cung sinh :Cấn_ cung phi : Cấn(nam), Đoài (nữ) Giáp Tý (1984) Mệnh Kim_ Cung sinh :Chấn _ cung phi :Đoài (nam), Cấn (nữ) Ất Sửu (1985) Mệnh Kim_ cung sinh : Tốn_ cung phi : Càn (nam), Ly (nữ) Bính Dần (1986) Mệnh Hoả_cung sinh : Khảm_ cung phi :Khôn (nam), khảm (nữ) Đinh Mẹo (1987) Mệnh Hoả_ cung sinh: Càn_ cung phi; Tốn (nam), Khôn (nữ)
Người ta có câu nói “Vợ chồng cùng tuổi ăn rồi nằm duỗi”. Về cung là phần rắc rối khó nhớ nhất nên mới đầu không quen ta ghi lại trên một tờ giấy để tiện tra cứu sau này. Lại phải nhớ những từ cổ này Sinh khí, Diên Niên (phước đức), Thiên y, Phục Vị (qui hồn) Đó là nhóm từ nói về điều tốt Ngũ quỉ, Lục sát (du hồn), hoạ hại (tuyệt thể), tuyệt Mệnh Đó là nhóm từ nói về điều xấu. Sau đây là tám cung biến tốt xấu , không cần học thuộc mà khi nào xem thì ta đem ra tra cứu. Sẽ cho thí dụ để các bạn hiểu cách xem tuổi cụ thể Bây giờ nói về tám cung biến hoá Khi tôi viết tắt Càn-Càn thì hãy hiểu là người thuộc cung Càn lấy người thuộc cung Càn, hoặc tôi viết Cấn- chấn thì hãy hiểu là người có cung Cấn lấy người thuộc cung chấn v.v….
Giờ âm lịch theo tháng âm lịch) Tháng 2 và tháng 8: từ 3h 40 đến 5h 40 là giờ Dần. Tháng 3 và tháng 7: từ 3h50 đến5h50 là giờ Dần Tháng 4 và tháng 6: từ 4h đến 6h là giờ Dần Tháng 5 : từ 4h10 đến 6h10 là giờ Dần Tháng 10 và tháng chạp: Từ 3h20 đến 5h20 là giờ Dần Tháng 11: từ 3h10 đến 5h10 là giờ Dần Biết được giờ Dần ở đâu rồi thì các bạn tính lên là biết giờ khác. Ví dụ vào tháng 7 âm lịch từ 3h50 đến 5h50 là giờ Dần thì giờ Mão phải là từ 5h50 đến 7h50. Cứ thế tính được giờ Thìn, Tỵ….. Bây giờ tử vi số cho thí dụ cách xem như thế này. Thí dụ nữ tuổi Nhâm tuất (1982) lấy nam Mậu Ngọ (1978) thì tốt hay xấu. Xem bảng cung Mệnh tử vi số ghi từ 1977 đến 2007 ở trên thì thấy.
Xét về tuổi Hai tuổi này thuộc về nhóm Tam Hợp, như đã nói ở trên, nên xét về tuổi thì hợp nhau. Xét về Mệnh: Mậu ngọ có Mệnh Hoả, trong khi đó Nhâm Tuất này có Mệnh Thuỷ. Xem phần ngũ hành thì thấy Thuỷ khắc Hoả tức là tuổi vợ khắc tuổi chồng, vậy thì xấu không hợp.
Xét về cung: Mậu Ngọ có cung Chấn là cung sinh (cung chính) còn Nhâm Tuất này có cung sinh là Đoài. Xem phần Tám cung biến thì thấy chấn-Đoài là bị tuyệt Mệnh, quá xấu không được Lại xét về cung phi để vớt vát xem có đỡ xấu không thì thấy Mậu Ngọ về nam thì cung phi là Tốn, Nhâm Tuất cung phi của nữ là Càn mà ở phần Tám cung biến thì tốn-Càn bị hoạ hại, tuyệt thể Như vậy trong 3 yếu tố chỉ có hợp về tuổi còn cung, và Mệnh thì quá xung khắc, quá xấu.
Kết luận có thể xẻ đàn tan nghé. Hai tuổi này còn có thể kiểm chứng lại bằng phép toán số của Cao Ly (Hàn Quốc, Triều Tiên ngày nay).
Tử vi số sẽ trình bày sau phần này, đây là một cách xem dựa vào thiên can và thập nhị chi của người Hàn Quốc xưa.
Sau đây tử vi số đưa 1 thí dụ khác lạc quan hơn thí dụ trước Bây giờ giả sử nữ Kỷ Mùi (1979) lấy nam tuổi Mậu Ngọ (1978) thì tốt hay xấu. Ta thấy: Mậu ngọ (1978) Mệnh Hoả, cung sinh Chấn, cung phi Tốn (nam) Kỷ Mùi (1979) Mệnh Hoả, cung sinh Tốn, cung phi Chấn (nữ) a) Xét về tuổi hai tuổi hợp nhau vì cùng thuộc Lục Hợp, đã nói ở trên b) Xét về Mệnh hai tuổi cùng Mệnh Hoả nên hợp nhau, khỏi bàn. c) Xét về cung sinh thì xem tám cung biến ta thấy Chấn-tốn được diên niên (phước đức) như vậy là rất tốt Thật ra chỉ cần hai cái tốt thì chắc hai tuổi lấy nhau là tốt rồi không cần xem cái ba Tóm lại hai tuổi này lấy nhau rất tốt, đến đầu bạc răng long. Tại sao tử vi số quả quyết như vậy, bởi tử vi số còn dựa vào phép toán của Hàn Quốc nữa, sẽ nói sau sau đây là BÀI TOÁN CAO LY.
Xem cái này phải kết hợp thêm cung, Mệnh, tuổi.
*Nam GIÁP-KỶ lấy vợ tuổi Tý Ngọ được tam Hiển Vinh Sửu Mùi bị nhì Bần Tiện Dần Thân được nhất Phú Quý Mão Dậu được bị ngũ Ly Biệt Thìn Tuất được tứ Đạt Đạo Tỵ Hợi được tam Hiển Vinh
*Nam tuổi ẤT CANH lấy vợ tuổi Tý Ngọ bị nhì Bần Tiện Sửu Mùi được nhất Phú Quý Dần Thân bị ngũ Ly Biệt Mão Dậu được tứ Đạt Đạo Thìn Tuất được tam Hiển Vinh TỴ Hợi bị Nhì Bần Tiện
*Nam tuổi BÍNH TÂN lấy vợ tuổi Tý Ngọ được nhất Phú Quý Sửu Mùi bị ngũ Ly Biệt Dần Thân được tứ Đạt Đạo Mão Dậu được tam Hiển Vinh Thìn Tuất bị nhì Bần Tiện Tỵ Hợi được nhất Phú Quý
*Nam tuổi ĐINH NHÂM lấy vợ tuổi Tý Ngọ bị ngũ Ly Biệt Sửu Mùi được tứ Đạt Đạo Dần Thân được tam Hiển Vinh Mão Dậu bị nhì Bần Tiện Thìn Tuất được nhất Phú Quý Tỵ Hợi bị ngũ Ly Biệt
*Nam tuổi MẬU QUÝ lấy vợ tuổi Tý Ngọ được tứ Đạt Đạo Sửu Mùi được tam Hiển Vinh Dần Thân bị nhì Bần Tiện Mão Dậu được nhất Phú Quý Thìn Tuất bị ngũ Ly Biệt Tỵ Hợi được tứ Đạt Đạo
Ví dụ: Nam tuổi Giáp Dần lấy vợ tuổi Thìn hay Tuất thì được Đạt Đạo (gia đạo an vui) Bần Tiện là nghèo khổ, bần hàn. Đây là nghĩa tương đối có ý nói không khá được sau này ( có thể 15 hay 20 năm sau mới ứng). Bởi con nhà đại gia lấy con nhà đại gia thì dù có bị Bần Tiện cũng là đại gia, nhưng về sau thì kém lần không được như cũ).
Người có tướng mũi mà lỗ mũi cao nhưng không lộ, cộng thêm với hai cánh mũi đầy đặn thường có số mệnh phú quý. Tuy nhiên, nếu lỗ mũi lộ thiên thì khó giữ được tiền của.
► Lịch ngày tốt gửi tới bạn đọc công cụ xem tướng và xem bói tử vi để biết tính cách, số mệnh của mình
1. Lỗ mũi cao nhưng không lộNgười có tướng mũi mà lỗ mũi cao nhưng không lộ, cộng thêm với hai cánh mũi đầy đặn thường có số mệnh phú quý. Tuy nhiên, nếu lỗ mũi lộ thiên thì khó giữ được tiền của.2. Mũi nhẵn bóngChủ nhân của chiếc mũi nhắn bóng, đầy đặn thường có sức khỏe tốt và sống rất thọ.Ngược lại, nếu phần da vùng mũi xuất hiện hắc tố, mũi gầy không thịt thì sức khỏe kém, dễ mắc nhiều bệnh tật và tuổi thọ không cao.
Xem vận mệnh tốt xấu qua tướng mũi
3. Sống mũi thẳng và mịnNgười có sống mũi thẳng và mịn, không có khuyết hãm thì cuộc sống no đủ, không phải lo vấn đề tiền bạc, vật chất.4. Sơn căn liền mạch lên tránNhững ai có Sơn căn đầy đặn, khi nhìn có cảm giác nối liền với trán thường dễ gặt hái được thành công trong sự nghiệp vì được cấp trên trọng dụng.5. Mũi dàiĐa phần những người có dáng mũi dài đều chăm chỉ làm việc, tư duy linh hoạt, rất biết cách kiếm tiền và có số sống thọ. Tuy nhiên, người này tính tình bướng bỉnh, ngoan cố, thiếu sự mềm dẻo và tấm lòng bao dung.6. Mũi ngắnChủ nhân của chiếc mũi ngắn có tính tình vui vẻ, hòa đồng nhưng lại thiếu tự tin, hay ỷ lại vào người khác và đặc biệt rất hấp tấp, không chịu suy nghĩ kĩ càng trước khi hành động.7. Lỗ mũi hẹpĐây là biểu hiện của người coi trọng tiền bạc, vật chất hơn tình cảm. Nếu mũi hẹp nhưng lỗ mũi không lộ thì là người sống thực tế, tiết kiệm quá mức nên dễ bị cho là keo kiệt. Ngược lại, người có lỗi mũi to, rộng lại chi tiêu hào phóng. Nếu cộng thêm đặc điểm là bề ngang của mũi rộng thì người này vẫn có thể giữ được tiền của để tích lũy khi về già.8. Mũi nhỏ và nhọnPhần lớn người có mũi nhỏ và nhọn tính tình gian xảo, thích gây chuyện thị phi, cuộc sống nghèo khó, vất vả. Nếu có thêm đặc điểm Sơn căn bị gãy thì số mệnh càng bần hàn.9. Sống mũi cong vẹoNgười có sống mũi cong vẹo, không thẳng thì tính cách cực đoan, ích kỉ. Nếu có thêm đặc điểm là đầu mũi nhọn và lệch thì tâm địa độc ác.Ngược lại, người có sống mũi thẳng, không xiêu vẹo hay gãy khúc lại vô cùng chính trực, hay làm việc thiện giúp người.Việt Hoàng (Theo DYXZ) Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Yến Nhi (##)
– Trong Nhân tướng học, Sơn Căn là vị trí ở giữa hai phần mắt, vùng dưới Ấn Đường (khoảng cách giữa hai mắt) và là nơi cao nhất trên sống mũi.
1. Vị trí của Sơn CănTrong Nhân tướng học, Sơn Căn là vị trí ở giữa hai phần mắt, vùng dưới Ấn Đường (khoảng cách giữa hai mắt) và là nơi cao nhất trên sống mũi.
Vị trí của Sơn Căn cũng chính là cung Tật Ách, chủ về bệnh tật. Vậy nên, qua tướng Sơn Căn có thể đoán biết được sức khỏe xấu tốt, triệu chứng của bệnh, lục phủ ngũ tạng khỏe hay yếu, tuổi thọ của con người. Theo một vài quan điểm khác, ngoài biểu thị về sức khỏe, Sơn căn còn có mối liên hệ với phong thủy âm trạch (mộ phần) và dương trạch (nhà ở).2. Đặc điểm tướng cách của Sơn CănSơn Căn thấp lõm Chủ nhân khó có thể gặt hái được thành công trong sự nghiệp, gia cảnh bần cùng, thường có nhiều bệnh tật. Nữ giới thường rất phóng túng trong hành vi tình dục, trong họ dường như không tồn tại quan niệm đạo đức truyền thống. Nếu có thêm lông mày rậm là tướng dâm loạn, chuyện tình cảm rất tùy tiện, đa phần đều làm gái làng chơi.Nam giới có Sơn Căn thấp lõm thường không có chủ kiến, dục vọng “ái ân” lớn, vì thế dễ dàng phản bội vợ con, bạn bè. Đa phần những người có Sơn Căn thấp lõm đều rất tự ti, tiêu cực, bi quan, 70% bệnh tật đều đến từ tâm lý của chính họ.
Sơn Căn đứt đoạnChủ nhân hay có bệnh tật, thường gặp phải những chuyện ngoài ý muốn, đa phần đều liên quan đến sự an nguy của tính mạng, không nhận được ân phúc của tổ tiên. Những người này nên đi xa quê hương lập nghiệp thì mới phát tài. Sơn Căn nhỏ hẹpChủ nhân của tướng Sơn Căn nhỏ hẹp là người ích kỷ, tính cách hung bạo, kém kiên nhẫn, dễ vì nóng nảy mà dẫn đến những hành động sai lầm. Sơn Căn có nếp nhănSơn Căn có nếp nhăn thẳng thì cả đời không có con cháu, phải nhận con nuôi hoặc làm con nuôi người khác. Người này phải cẩn thận đối với những tai nạn ngoài ý muốn, đặc biệt là chuyện xe cộ. Nếp nhăn chạy thẳng từ ấn đường đến chuẩn đầu là điềm báo của việc chết không toàn thây, cẩn thận với những tai nạn.Nếu nếp nhăn nằm ngang thì phải cẩn thận với bệnh tật ẩn trong người và những trở ngại trong hôn nhân, đến 35 - 36 tuổi thì sự nghiệp gặp trắc trở, có thể dẫn đến phá sản. Là nam giới sẽ có vợ phẫu thuật vùng bụng, là nữ thì bị phẫu thuật vùng bụng. Có bao nhiêu nếp nhăn ngang thì chủ bị bấy nhiêu lần nguy hiểm. Nếp nhăn sâu thì mức độ nguy hiểm lớn và ngược lại, nếp nhăn nông thì nguy hiểm vừa phải.Sơn Căn có nếp nhăn nằm ngang mà cùng lúc đường Sinh đạo trong lòng bàn tay bị đứt đoạn hoặc có đường cắt ngang thì chủ bị tai nạn xe. Bất kể là nam hay nữ, vào khoảng 41 tuổi sẽ gặp phải chuyện thị phi và phá tài.Sơn Căn có 1 nếp nhăn nằm ngang là điềm báo phải đi xa nơi quê cha đất tổ mới lập nên sự nghiệp. Nếu có 2 nếp nhăn thì cha mẹ mâu thuẫn, anh em không hòa thuận. Có 3 nếp nhăn thì chủ nhân lập nghiệp từ 2 bàn tay trắng, hôn nhân trắc trở một đôi lần, có bệnh về dạ dày.Nếu Sơn Căn có xương nhô lên, nhĩ quách lật ra ngoài thì chủ nhân có lối sống hời hợt, phóng túng quá độ, trái với quan niệm đạo đức truyền thống, dễ rơi vào những chuyện tình yêu chị em, cha con… Sơn Căn có xương nhô lên và tạo thành đốtSự nghiệp và chuyện hôn nhân của người này gặp nhiều trắc trở. Nếu có nốt ruồi hoặc khí ngưng tụ không thông thoát thì chủ nhân sức khỏe kém, nhiều bệnh tật. Là nam giới, dễ bị phụ nữ lôi kéo. Là nữ, dễ bị đàn ông lừa gạt và khó tránh khỏi bệnh tật. Sơn Căn có nốt ruồi Cuộc sống gia đình không thuận buồm xuôi gió, nữ 2 đời chồng, nam 2 đời vợ. Nếu nốt ruồi xuất hiện tại niên thượng, thọ thượng thì chủ sẽ chết vì tai nạn, cả đời sẽ gặp nhiều họa nạn tù ngục; nốt ruồi ở bên trái - phải cánh mũi thì đa phần đều mắc bệnh dạ dày hoặc dạ dày bị ảnh hưởng xấu do uống thuốc…Việt Hoàng
Trong dòng sông dài lịch sử, vô số câu chuyện đã được lưu giữ lại, truyền lại từ đời đời. Phảng phất đâu đó là hiện thực cuộc sống, những câu chuyện này mang đến một bức tranh thế giới cổ xưa làm say đắm lòng người.
Thời Xuân Thu, Tần Mục Công nước Tần có một cô con gái; lúc cô bé mới được sinh ra, có người đem dâng Tần Mục Công một viên đá ngọc bích, ông sai thợ đẽo dũa đi, thành một viên ngọc xanh biếc trông rất đẹp.
Ðến hôm con gái Mục Công tròn 1 tuổi, trong cung bày bàn tiệc tổ chức ngày lễ “chọn đồ vật đoán tương lai” cho cô bé. Đây là một tập tục của người xưa, đến ngày tròn 1 tuổi, cha mẹ sẽ bày lên một cái đĩa bao gồm các đồ vật để con tự do lựa chọn theo sở thích của mình. Lúc này, người con gái nhặt ngay viên ngọc, rồi ngắm nghía mãi, bởi vậy Mục công đặt tên cho con là Lộng Ngọc.
Lộng Ngọc lớn lên, nhan sắc tuyệt trần, lại sẵn tính thông minh trời ban, rất có tài thổi sáo, không cần học ai cả, mà tự thành âm điệu, hơn nữa nàng không cứng nhắc theo chỉ dạy của nhạc sỹ, mà tự thả hồn theo âm nhạc, tiếng sáo nghe rất tuyệt diệu. Mục công sai thợ làm một cái sáo bằng ngọc để cho nàng thổi. Nàng thổi cái sáo ấy, tiếng trong như tiếng chim phượng.
Mục Công rất yêu quý con gái, lại lập một cái lầu cho nàng ở, đặt tên là “Phượng lâu”, trước lầu có xây một cái đài cao gọi là “Phượng đài”. Năm Lộng Ngọc mười lăm tuổi, Tần Mục công muốn kén rễ cho nàng, Lộng Ngọc nói với cha rằng:
“Con muốn tìm người có tài thổi sáo và có thể họa xướng cùng với con, khi đó con sẵn lòng lấy người ấy làm chồng, còn không thì con cũng chẳng thiết tha gì”.
Mục Công sai người đi tìm nhưng chẳng được một người nào vừa ý. Một hôm, Lộng Ngọc ở trên lầu cuốn rèm lên ngắm cảnh, thấy trời tạnh mây trong, trăng sáng như gương, nàng gọi thị nữ đốt lên một nén hương, rồi đi lấy cái sáo bằng ngọc bích, đến bên cửa sổ mà thổi. Tiếng sáo véo von vọng lên vòm trời, gió hây hây thổi, bỗng nghe như có người họa lại, khi gần khi xa. Lộng Ngọc không khỏi băng khoăn, bèn ngừng lại không thổi nữa, cố ý để nghe xem sao. Tiếng họa bỗng im đi, nhưng dư âm còn vang vọng không dứt.
Lộng Ngọc bâng khuâng trước gió, như một ngưới vừa đánh mất vật gì. Chốc đã nửa đêm, trăng xế hương tàn, nàng đem ống sáo để trên đầu giường, gắng gượng đi nằm. Nàng đang thiêm thiếp, bỗng thấy về phía tây nam trên trời, cửa mở rộng ra, hào quang ngũ sắc, rực rỡ như ban ngày, có một chàng trai trẻ tuổi, mũ lông áo hạc, cưỡi con chim phượng ở trên trời xuống, đứng trước Phượng đài bảo nàng rằng:
“Ta đây làm chủ ở núi Họa Sơn, Ngọc Hoàng thượng đế cho ta kết duyên với nàng, đến ngày trung thu này thì đôi ta gặp nhau, ấy là duyên số định sẵn như vậy!”
Chàng trai trẻ tuổi ấy nói xong, lấy tay cởi bỏ ống ngọc tiêu đeo bên hông xuống, rồi đứng dựa lan can mà thổi. Con chim phượng đứng bên, cũng vươn cánh ra, vừa kêu vừa múa.
Tiếng phượng cùng với tiếng ngọc tiêu xướng họa, cùng nhịp với nhau như một, theo điệu cung thương, nghe rất êm ái. Lộng Ngọc mê mẩn tâm hồn, hỏi rằng: “Ca khúc này là gì?”
Lộng Ngọc lại hỏi: “Ca khúc này có học đưọc không?”
Chàng trai ấy nói: “Khi ta đã kết duyên với nàng rồi thì khó gì mà ta không dạy nàng được”.
Chàng trai trẻ tuổi ấy đến gần trước mặt, cầm lấy tay của Lộng Ngọc; Nàng giật mình tỉng dậy, thì ra một giấc chiêm bao. Sáng hôm sau, Lộng Ngọc thuật lại chuyện chiêm bao cho Mục Công nghe. Mục công sai Mạnh Minh cứ theo như hình tượng người trong mộng mà đến dò tìm ở núi Họa Sơn. Người nông phu ở đấy trỏ lên núi mà bảo Mạnh Minh rằng:
“Hôm rằm tháng bảy mới rồi, có một người lạ mặt, đến làm nhà ở trên núi này, ngày nào cũng xuống mua rượu uống, đến buổi chiều lại thổi chơi khúc ngọc tiêu, ai nghe cũng lấy làm thích lắm, không rõ là người ở đâu”.
Mạnh Minh lên núi, quả nhiên thấy có một người mũ lông áo bạc, trông như một vị thần tiên. Mạnh Minh biết là không phải người thường, mới đến trước mặt vái chào, mà hỏi họ tên người ấy. Người ấy nói:
“Tôi họ Tiêu, tên Sử, chẳng hay ngài là ai? Ðến đây có việc gì?”
Mạnh Minh nói:
“Tôi là đại thần nước này, tên gọi Mạnh Minh. Chúa công tôi có một người con gái yêu, còn đang kén chồng. Người con gái chúa công tôi, tài thổi sáo, muốn tìm một người như thế nữa mà kết duyên, nay nghe ngài am hiểu âm nhạc, vậy chúa công sai tôi đến đón!”
Tiêu Sử nói: “Tôi không có tài cán gì, chỉ gọi là có biết đôi chút về nhạc điệu mà thôi, tôi đâu dám vâng mệnh”.
Mạnh Minh nói: “Xin ngài cứ đi cùng tôi xuống yết kiến chúa công”.
Khi về đến kinh thành, Mạnh Minh vào tâu Mục Công trước, rồi sau đưa Tiêu Sử vào. Mục Công ngồi ở trên Phượng đài, Tiêu Sử sụp lạy mà tâu rằng: “Chúng thần ở nơi dân giã chưa biết lễ nghi, có điều gì sơ suất, xin chúa công miễn thứ cho”.
Mục Công thấy Tiêu Sử dung mạo thanh tú, không phải là người thường, trong lòng đã có mấy phần vui vẻ, mới cho ngồi ở bên cạnh mà nói rằng: “Ta nghe nhà ngươi có tài thổi tiêu, chắc là cũng tài thổi cả sáo nữa!”
Tiêu Sử nói: “Thần chỉ biết thổi tiêu, không biết thổi sáo”.
Mục công nói: “Ta định tìm một người có tài thổi sáo, nếu chỉ biết thổi tiêu thì không sánh đôi với con ta được!”
Tần Mục công nói xong, bảo Mạnh Minh đưa Tiêu Sử đi ra. Lộng Ngọc sai nội thị tâu với Mục Công rằng:
“Tiêu với sáo cũng là một loài, người ta đã có tài thổi ống tiêu thì sao chúa công không bảo dạo chơi một khúc để cho người ta được phô tài”.
Mục Công lấy làm có lý, bèn bảo Tiêu Sử thổi tiêu. Tiêu Sử mới dạo một khúc thì thấy có gió mát hây hây; thổi đến khúc thứ hai thì mây che bốn mặt, đến khúc thứ ba thì có đôi hạc trắng múa lượn trên không, lại có mấy đôi khổng tước bay về, và các giống chim kêu ríu rít; một lúc lâu rồi mới tan đi. Mục Công rất lấy làm hài lòng.
Khi thổi đến khúc thứ ba thì chợt xuất hiện một đôi hạc trắng múa lượn trên không,
truyền thuyết, tiêu sử, tiêu, tiếng sáo, mục công, lộng ngọc, chuyện tình,
Bấy giờ Lộng Ngọc đứng ở trong rèm trông thấy, cũng bằng lòng mà nói rằng: “Người ấy thật xứng làm chồng ta!”
Mục Công lại hỏi Tiêu Sử rằng: “Nhà ngươi biết sáo và tiêu làm ra từ đời nào không?”
Mục Công nói: “Nhà ngươi hãy thử kể rõ nguồn gốc cho ta nghe”.
Tiêu Sử tâu rằng:
“Kỹ năng của thần là ở ống tiêu, vậy thần xin kể nguyên lai của ống tiêu: Ngày xưa vua Phục Hi ghép trúc làm ống tiêu, chế theo hình chim phượng, tiếng thổi cũng giống tiếng chim phượng. Thứ lớn gọi là nhã tiêu, ghép liền hai mươi ba ống, dài một thước bốn tấc, thứ nhỏ gọi là tụng tiêu, ghép liền mười sáu ống, dài hai thước một tấc. Cả hai thứ gọi chung một tiếng là tiêu quản, còn thứ không có đáy thì là đồng tiêu.
Về sau vua Hoàng Ðế sai Linh Luân lấy trúc ở Côn Khê, chế làm ống địch, ống địch có bảy lỗ, cầm ngang mà thổi, cũng giống tiếng chim phượng, trông giản dị lắm! Người đời sau thấy tiêu quản nhiều ống quá, mới chỉ dùng một ống địch rồi cầm mà thổi dọc. Thứ dài gọi là tiêu, thứ ngắn gọi là địch, bởi vậy ống tiêu đời nay, không phải như ống tiêu đời xưa”.
Mục Công lại hỏi: “Sao nhà ngươi thổi ống tiêu mà lại có giống chim bay đến?”
Tiêu Sử nói:
“Ống tiêu dẫu mỗi đời một khác, nhưng tiếng thổi bao giờ cũng vẫn giống tiếng chim phượng. Chim phượng là dẫn đầu các giống chim, bởi vậy các giống chim nghe tiếng phượng, đều kéo nhau đến cả. Ngày xưa vua Thuấn chế ra khúc “Tiêu Thiều” mà chim phượng còn hay bay đến, huống chi là các giống chim khác!”
Tiêu Sử ứng đối trôi như nước chảy, tiếng nói lại sang sảng. Mục Công càng thấy bằng lòng lắm, bảo Tiêu Sử rằng:
“Ta có một người con gái, tên gọi Lộng Ngọc, cũng có biết âm nhạc, không muốn gã cho người ngu ngốc, vậy xin cùng với nhà ngươi kết duyên”.
Tiêu Sử nghe nói, nghiêm nét mặt lại, rồi sụp lạy hai lạy mà từ chối rằng:
“Thần vốn là người thôn giã, có đâu dám sánh với bậc tôn quý!”
Mục Công nói:
“Con gái ta vốn có lời thề nguyện, có chọn được người nào tài thổi sáo thì mới lấy làm chồng. Nay nhà ngươi mới thổi tiêu mà lại cảm động được đến trời đất và muôn vật, như vậy thì lại hơn người thổi sáo nhiều lắm. Vả lại con gái ta khi trước đã có điềm mộng, ngày nay lại chính là tiết trung thu rằm tháng tám, duyên trời định sẵn, nhà ngươi chớ nên chối từ”.
Tiêu Sử lạy tạ. Mục Công sai quan thái sử chọn ngày để làm lễ cưới. Quan thái sử nói:
“Hôm nay là ngày trung thu, trăng vừa tròn bóng, xin chúa công cho làm lễ cưới, để hợp cái nghĩa ân ái vẹn tròn”.
Tần Mục Công truyền cho Tiêu Sử tắm gội, thay mũ áo mới, rồi sai người đưa đến Phượng lâu, để cùng với Lộng Ngọc kết duyên. Ngày hôm sau, Tần Mục Công phong cho Tiêu Sử làm trung đại phu. Tiêu Sử dẫu làm trung đại phu, nhưng không dự gì đến quyền chính cả, ngày nào cũng vui chơi ở chốn Phượng lâu, lại không ăn cơm, chỉ thỉnh thoảng uống mấy chén rượu mà thôi. Lộng Ngọc học được thần thái của Tiêu Sử, cũng không ăn cơm.
Tiêu Sử lại dạy nàng thổi ống tiêu. Vợ chồng ở với nhau chừng được nửa năm thì một đêm, bóng trăng vằng vặc, hai vợ chồng đem ống tiêu ra thổi, bỗng thấy một con phượng xuống đậu ở bên tả, và một con rồng xuống phục ở bên hữu.
Tiêu Sử bảo Lộng Ngọc rằng:
“Ta vốn là người tiên trên trời, Ngọc Hoàng thượng đế thấy sử sách ở trần gian, nhiều chỗ tán loạn, vậy nên giáng sinh ta xuống làm họ Tiêu nhà Chu để sửa sang lại. Người nhà Chu thấy ta có công về sử sách, mới gọi là Tiêu Sử, đến nay đã hơn trăm năm rồi. Ngọc Hoàng thượng đế cho ta làm chủ ở núi Họa Sơn. Vì ta cùng nàng có tiền duyên với nhau, nhưng không nên ở mãi chốn trần gian này. Nay rồng cùng phượng đã đến đón ở đây, chúng ta nên cùng đi”.
Lộng Ngọc toan vào từ biệt với cha. Tiêu Sử can rằng: “Không nên ! Ðã là thần tiên thì chớ nên quyến luyến chút tình riêng!”
Bấy giờ Tiêu Sử cưỡi con rồng, Lộng Ngọc cưỡi con Phượng cùng bay lên trời. Ngày hôm sau, nội thị vào báo với Mục Công. Mục Công thở dài mà than rằng:
“Giả sử bây giờ rồng phượng đến đón ta thì ta cũng chẳng thiết gì ngôi vị nữa !”
Mục công liền sai người đến núi Họa Sơn để tìm, nhưng chẳng thấy Tiêu Sử đâu cả, mới truyền lập đền thờ, gọi là đền Tiêu Nữ. Mục công bấy giờ chán việc chiến tranh, giao hết quốc chính cho Mạnh Minh, rồi ngày nào cũng ham mê đường tu luyện. Chẳng bao lâu, công tôn chỉ cũng mất, Mạnh Minh tiến dẫn ba con Tử Xa Thị là Yêm Tức, Trọng Hàng và Kiểm Hồ, Mục Công đều cho làm quan đại phu.
Một hôm, Mục công ngồi ở trên Phượng đài, ngắm cảnh trăng sáng, lại nhớ đến Lộng Ngọc, bỗng chợp mắt ngủ đi, trông thấy Tiêu Sử và Lộng Ngọc đem một con phượng đến đón. Mục Công cưỡi phượng lên chơi cung trăng, khí lạnh buốt vào tận xương. Ðến lúc tỉnh dậy, liền bị bệnh cảm hàn, sau mấy ngày thì tạ thế. Ai cũng cho là Tần Mục Công đã đắc đạo thành tiên.
Đường đâm chếch vào cửa Cửa chính là một thành phần rất quan trọng của ngôi nhà trong thiết kế kiến trúc, thẩm mỹ và chịu ảnh hưỏng tốt xấu của phong thủy (cửa chính là yếu tố quan trọng nhất trong dương trạch). Cửa sẽ là nơi truyền dẫn luồng khí đến
Cửa chính là một thành phần rất quan trọng của ngôi nhà trong thiết kế kiến trúc, thẩm mỹ và chịu ảnh hưỏng tốt xấu của phong thủy (cửa chính là yếu tố quan trọng nhất trong dương trạch). Cửa sẽ là nơi truyền dẫn luồng khí đến ngôi nhà, từ đó luồng khí được phân tán đến từng ngóc ngách của căn nhà và thoát ra ngoài qua những ô thoáng được nghiên cứu một cách chặt chẽ và khoa học, là sự kết họp giữa kiến trúc (hình dáng đẹp, xấu) và phong thủy (vị trí tốt, xấu).
Đường cái đâm vào cửa chính là một hiện tượng kiêng kị trong thuật phong thủy. Trong trường hợp nhà bạn, con đường thẳng đâm vào chính hướng cửa, vô tình đã mang theo luồng ác khí (ác khí đi theo đường thẳng, sinh khí đi theo đường vòng). Nhưng cũng không vì thế mà bạn phải lo lắng. Theo phong thủy, bạn có thể hóa giải được. Tuy nhiên, để có thể áp dụng đúng nguyên tắc của thuật phong thủy:
– Theo những cuốn sách cổ và người xưa, bạn có thể dùng tấm bia đá (bùa) chôn sâu dưới lòng đất ngay trước cửa chính hoặc cũng có thể dùng lá bùa của người làm phong thủy treo phía trên cửa. Bia đá hay lá bùa sẽ hóa giải được những điều xấu. Tuy nhiên, đây là việc không dễ làm và không được ứng dụng nhiều trong đời sống hiện đại ngày nay.
– Trồng cây, hoa có màu sắc hợp vói bản mệnh phía trước cửa theo hình dạng uốn lượn sẽ rất tốt, có khi “biến hung thành cát” với điều kiện phải có khoảng không phía trước rộng tương đối để có thể tạo được một số hình theo thuật phong thủy.
– Tạo tấm bình phong phía trước (xây cao tương đối và phải có khoảng cách tới cửa chính một cách hợp lý) nhằm ngăn cản hay làm lệch hướng lưu chuyển của dòng khí đó.
– Chuyển đổi vị trí cửa chính sang cung vị khác nhằm tránh hoàn toàn hướng con đường đâm tới.
– Biến cửa hiện tại (bị con đường chiếu tới) thành cửa giả, qua một khoảng rộng và có thể bố trí cửa trong khoảng chính vào nhà trong khoảng đó cũng sẽ tránh được sự đâm thẳng của con đường.
– Treo chuông gió, sáo trúc tại vị trí cửa ra vào có con đường đâm vào. Chuông gió hay sáo trúc được áp dụng và sử dụng rất rộng rãi. Nó có tác dụng đón lành tránh dữ, báo động và xua đi những luồng khí dữ, mòi chào những luồng khí trong lành dẫn tới ngôi nhà.
– Treo gương Bát quái, gương cầu lồi phía trên cửa chính quay về hướng con đường đâm tới, gương Bát quái, gương cầu lồi có tác dụng phản hồi những tà khí có chiều chiếu vào nó một cách mạnh mẽ.
– Dùng tấm thảm hợp với cung bản mệnh đặt phía trong của cửa chính, tấm thảm có tác dụng chọn lọc khí tốt trong thiên nhiên tiếp thêm luồng khí lành đó cho ngôi nhà của bạn.
Qua một số phưong pháp mà thuật phong thủy thường áp dụng, chúng ta có thể khéo léo kết hợp nhiều phương pháp, ví dụ chuyển dịch cửa và treo chuông gió kết hợp trải tấm thảm… Được sự chỉ dẫn đúng cách của những người hiểu biết phong thủy, bạn sẽ hóa giải được sự bất lợi mà con đường mang lại.
Cửa chính đối diện cửa phụ
Cửa chính của ngôi nhà là nơi phân cách giữa thế giới riêng của mỗi gia đình với xã hội bên ngoài. Là lối ra vào của tất cả mọi người trong gia đình, khi cửa chính đặt đúng vào cát phương thì gió và không khí từ cửa chính thổi tới đều mang theo may mắn. Nếu cửa chính hướng ở hướng hung sẻ gây bất lợi cho những người sống trong ngôi nhà đó.
Theo phong thủy, cửa chính và cửa phụ tránh đặt đối diện vói nhau bởi như thế khi khí đi vào sẽ lập tức thoát ra theo cửa phụ mà không có sự luân chuyển trong nhà. Trong trường hợp này, bạn có thể đặt một chậu cây cao hay thiết kế tấm chắn giữa hai cửa để ngăn khí đi theo đường thẳng thoát ra ngay khi vừa vào nhà.
Nếu cửa chính thông với cửa phụ và cửa giữa (nếu có) thì tạo thành thế ba cửa thông nhau. Khí vào sẽ bị thất tán hết, chủ tiền tài không vượng, hao tổn tiền tài, không cầm giữ được tài lộc. Trường hợp này cũng cần sửa lại cửa hoặc đặt bình phong chắn ở giữa để cửa chính và cửa phụ không nhìn thấy nhau nữa. Dùng quả cầu thủy tinh treo ở vị trí thông giữa hai cửa, dùng tượng rùa đầu rồng hoặc tượng Tam Đa che chắn ở phía cửa phụ.
Nếu cửa chính đối diện cửa sổ trong trường hợp cửa sổ không quá nhiều thì ảnh hưởng cũng không quá lớn. Nhưng giả sử cửa sổ vừa nhiều vừa lớn thì sẽ ngăn không cho những cát khí này tụ lại trong ngôi nhà. Do đó sẽ ảnh hưởng đến vận mệnh của ngôi nhà, bất lợi đối với tài vận. Rất nhiều ngôi nhà hiện đại khi thiết kế đều phạm lỗi này, phương pháp hóa giải đơn giản nhất là gia chủ trồng một vài cây trước cửa sổ (loại cây không có gai) là có thể ngăn không cho cát khí phát tán ra ngoài. Nếu tài vận của chủ nhà thật sự xấu đi vì lí do này thì sau khi trồng cây một thời gian, tài vận tự khắc sẽ có những chuyển biến tốt đẹp.
Cửa chính hai nhà đối nhau
Kinh Lỗ Ban ghi rằng: “Cửa chính hai nhà không thể đối diện nhau vì như thế sẽ có một chủ bị suy. Hai nhà không thể đối nhau vì như thế có một nhà bị dữ”. Nhưng ngày nay, thành phố chật hẹp, người đông, nhiều nhà cao tầng chuyện đối cửa khó tránh khỏi, nếu phạm vào điều kiêng kị này thì sẽ hóa giải bằng cách nào?
Có không ít người quan tâm tới điều này, có người treo gương: Tam xoa, Bát quái, Bạch hổ để hóa giải, nhưng làm như vậy lại gây lo lắng cho nhà đối diện nên cần hai bên cùng tìm cách hóa giải.
Cũng có một số gia đình, vì muốn nhà mình được tốt mà làm ảnh huởng tới nhà đối diện, gia chủ không nên dùng các cách hóa giải như: dùng bùa ngải, dùng gương phản, tượng đá, treo đầu thú… vì các cách này đều làm cho việc hóa giải của hai gia đình không bao giờ kết thúc, li bên cùng tìm cách hóa giải, không ai chịu kém ai, gây nên bất hòa. Ví dụ, một nhà dùng đầu sư tử để hóa giải, nhà đối diện lại dùng hai anh kiếm đan chéo nhau hóa giải. Như thế sẽ có một nhà bị lụi. Bởi thanh kiếm có nguy cơ gây hại cho chiếc đầu sư tử. Vì thế mà việc hóa giải của hai gia đình sẽ kéo dài mãi.
Tuy nhiên, việc hai cửa đối nhau không quá nghiêm trọng và khó hóa giải như vậy. Do đó gia chủ không nên quá lo lắng nếu chẳng may ngôi nhà bị rơi vào thế cửa xấu này.
Muốn xóa bỏ sự uy hiếp về tâm lý “Hai cửa đối nhau” lại vừa không để hàng xóm có cửa đối cửa với mình bị mặc cảm, cách làm tốt nhất để giải quyết là trên dạ cửa treo 4 chữ “Thiên Quan Tứ Phúc” (Ông trời ban phúc bốn phương). Có thể bàn với nhà hàng xóm cùng treo bốn chữ này lên cửa chính là điều vô cùng lý tưởng. Như thế cả hai nhà cùng có phúc lớn trời ban.
Cửa chính nhìn thẳng vào cửa một phòng khác
Đôi khi cửa chính mở thẳng đến cửa nhà kho hoặc cửa của một phòng khác. Kiểu thiết kế này mang nghĩa là căn phòng này sẽ tiếp nhận tất cả khí qua cửa chính. Đây cũng được xem là điều không nên vì khí sẽ không luân chuyển được trong nhà và bị kẹt lại ngay trong phòng trước cửa chính.
Cửa chính hướng thẳng vào phòng bếp
Phòng bếp là một trong những nơi quan trọng nhất cho cuộc sống gia đình. Mọi điều bí mật của gia đình đều ở đây. Xưa người ta thường coi thực phẩm, đồ ăn là vật tượng trưng cho sự giàu có sung túc, chúng được cất kỹ trong bếp không thể trưng bày một cách công khai trước mặt khách hay hàng xóm láng giềng, vì vậy mà khi bố trí cửa chính không nên hướng thẳng vào nhà bếp.
Cách hạn chế: Có thể sửa cửa bếp hay đặt một tấm chắn hoặc tủ bếp vào giữa cửa chính và bếp.
Cửa chính và cửa nhà vệ sinh xung nhau
Trong phong thủy học, cửa chính được gọi là “khẩu tử”, được so sánh với miệng của con ngưòi. Những thực phẩm mà con người ăn không đảm bảo thì bản thân sẽ không có được sức khỏe tốt. Cũng giống như vậy, cửa có vấn đề thì phong thủy sẽ không tốt và ảnh hưởng tới vận quý của tất cả mọi người trong gia đình. Khí của cửa thuộc về dương thuần, khí của nhà vệ sinh thuộc về âm độc. Nếu cửa chính và cửa nhà vệ sinh xung khắc nhau sẽ khiến âm dương không được hài hòa, dẫn đến hao tổn tài sản.
Phương pháp hóa giải của điều này là treo ở cửa nhà vệ sinh một tấm mành dạng hạt, giúp ngăn cản sự xung sát của cửa chính và cửa nhà vệ sinh, làm ảnh hưởng xấu giảm xuống mức thấp nhất.
Một số nhà có phòng hay góc tường của phòng nằm ngay trước cửa chính. Đây là một dạng sát khí hướng thẳng đến cửa chính.
Cách hạn chế: Yêu cầu người thiết kế nội thất kéo dài bức tường. Nhưng nếu không muốn phiền phức, tốt nhất là tránh không chọn nhà có bản thiết kế này.
Cột điện ngay trước cửa chính
Nếu từ trong nhà nhìn ra ngoài gặp ngay một cột điện, có thể bạn đã rơi vào trường hợp Xuyên tâm sát. Nếu đó là một cây cột, một cây xanh hay một cây sào từ một loại vật liệu nào đó thì cũng rơi vào trường hợp này. Xuyên tâm sát là điều không tốt vì nó vừa ảnh hưỏng đến sức khỏe của những người trong nhà lại vừa làm cản trở con đường sự nghiệp trong tương lai.
Khi thẩm định những hình thể xấu tác động đến cửa chính, luôn phải hình dung kéo dài đường ranh từ hai bên cửa ra ngoài và xem vật cản có nằm trong đường biên không. Một vật cản xấu chỉ tác động đến cửa chính nếu nó nằm trong đường biên của cửa.
Để xác định có đúng là Xuyên tâm sát hay không, bạn phải hình dung kéo dài đường ranh từ hai bên cửa ra ngoài hướng đến vật cản. Nếu vật cản nằm trong 2 đường biên của cửa chính, thì đó chính là Xuyên tâm sát. Nếu nó không nằm trong đường biên thì không sao.
– Khi tìm đến “chùa online”, các Phật tử vẫn có chung cảm giác hệt như đi lễ chùa thực ngoài đời bởi không gian thiết kế 3D vô cùng chân thật.
Với những Phật tử có quỹ thời gian eo hẹp, cơ hội để đi lễ chùa hay vãn cảnh chùa chiền, chiêm bái trước Tam bảo không nhiều. Nhưng giờ đây, dân văn phòng, những người bận rộn vẫn có thể trải nghiệm cảm giác như đi lễ chùa thật ngoài đời chỉ bằng một thao tác click chuột đơn giản. Tại đây có đầy đủ các nghi thức, từ việc di chuyển lần lượt ban thờ tới nghi lễ thắp hương, đọc kinh...
Chỉ cần di chuột là có thể “lên chùa”
Tuy hình thức đi lễ chùa qua mạng ra đời chưa lâu nhưng lại có tốc độ lan truyền chóng mặt, được nhiều người biết đến, đặc biệt là dân văn phòng.
Hàng ngày, số lượt người truy cập vào các trang chùa online để thăm viếng ngôi “chùa ảo” càng tăng. Điều đó chứng tỏ nhu cầu tìm sự thanh thản, bình yên nơi cõi tâm linh của một bộ phận người bận rộn là khá lớn.
Theo phần đông các Phật tử, dù là lần đầu hay nhiều lần “lên chùa ảo”, họ đều có cảm giác gần gũi, thân quen với không gian bài trí, hình ảnh chân thực y như thật. Từ ban chính diện với hình ảnh quen thuộc 5 pho tượng lớn tọa trên đài sen trong khung cảnh được chính điện cổ kính cho đến bài vị, lư hương bằng đồng được trạm khắc hoa văn tinh xảo cùng những ngọn nến lấp lánh... Tất cả đều toát lên vẻ tôn kính trang nghiêm, khiến bất cứ ai ghé thăm cũng đều kính cẩn mỗi khi chiêm bái.
Khách thập phương ghé thăm chùa được chào đón với những âm thanh đặc trưng của tiếng chuông chùa,bài niệm Phật, tụng kinh. Chúng cũng được cài đặt sẵn khiến không gian càng tăng thêm phần tôn nghiêm.
Không gian ngôi chùa ảo được thiết kế 3D gồm 7 ban thờ khác nhau, được đánh dấu thứ tự theo từng trang. Theo đó, các Phật tử online lần lượt click chuột vào từng trang để mở ra những phòng thờ cần làm lễ. Những ban thờ này đều được thiết kế 3D với những hình ảnh động nên đem đến cho khách thập phương cảm giác y như thật về cả chiều rộng lẫn chiều sâu.
Mọi nghi lễ được đơn giản hóa như nghi lễ thắp hương quen thuộc cũng được gói gọn bằng một thao tác kích chuột vào hai chữ “thắp hương” ở ngay dưới giao diện của ngôi chùa. Chỉ cần làm theo đúng chỉ dẫn lập tức những đốm đỏ trên đầu que hương bật sáng, kèm theo đó là khói hương tỏa ra nghi ngút.
Không giống như chùa thật ngoài đời, lượng người truy cập để viếng thăm chùa thường tranh thủ vào giờ nghỉ, đặc biệt vào những ngày tuần (rằm hoặc mồng 1), lượng khách ghé thăm tăng đột biến. Hầu hết dân văn phòng, công sở do quá bận rộn công việc, gia đình đều chọn cách đi chùa tiết kiệm thời gian này.
Lễ chùa - những điều nên biết Lẽ chùa là một nét đẹp văn hóa và tâm linh trong đời sống tín ngưỡng của người Việt. Nhưng sắm lễ thế nào cho đúng, thứ tự khấn các ban khi đi lễ chùa thì Đi lễ chùa ảo nhưng giảm lãng phí “thật”
Do công việc quá bận rộn nên mọi người thường tranh thủ giờ nghỉ trưa hay buổi chiều để đi chùa online. Dù không có không gian yên tĩnh để tụng kinh, nhưng mọi người chọn cách sau khi thắp hương hết một lượt thì nán lại ở thư viện của ngôi “chùa ảo” để tìm hiểu về những cuốn sách giảng đạo, kinh Phật..., hiểu về triết lý nhân sinh, hướng thiện ở đời.
Một số người cho rằng cứ mạng là ảo, nhưng ngôi chùa điện tử này được duyệt bởi cổng thông tin Phật giáo Việt Nam. Do đó, các Phật tử vẫn có cảm giác yên tâm khi ghé thăm và chiêm bái từ xa.
Đối với dân văn phòng, đặc biệt là các chị em, ngoài áp lực công việc còn hàng tá những công việc vụn vặt trong gia đình như đi chợ, đón con, nấu ăn... Họ luôn trong trạng thái “vắt chân lên cổ” sau giờ tan tầm, cho nên không phải ai cũng có thời gian đến chùa thành tâm kính bái trước ban Tam bảo.
Vì thế, việc tranh thủ ghé thăm ngôi chùa online chính là "cứu cánh" cho những Phật tử có quỹ thời gian eo hẹp nên không có điều kiện đến chùa thường xuyên mà vẫn thể hiện được lòng thành kính tới đức Phật.
5 ngôi chùa cầu được ước thấy nên đi lễ đầu năm Năm mới lễ chùa cầu may là nét đẹp văn hóa truyền thống của người Việt. Cùng điểm danh 5 ngôi chùa cầu được ước thấy trên đất nước Việt Nam. Một số người còn cho rằng, cách đi chùa độc đáo này rất an toàn, tiện lợi vì không phải chen lấn xô đẩy hay bị kẻ gian móc túi. Bên cạnh đó, không phải ai cũng thực hiện đúng những quy định của nhà chùa, hương khói nghi ngút, tràn lan khiến mỗi lần đi chùa cay sè mắt.
Bên cạnh đó, đi chùa bình thường luôn kèm theo vàng mã, hoa quả, rượu cúng, đèn nhang... nhưng khi lễ chùa online được đơn giản hóa, những thủ tục này không được đề cập đến. Điều này giúp giảm tải chi phí cũng như giúp các Phật tử hình thành thói quen lãng phí không cần thiết như đốt quá nhiều vàng mã...
Đi lễ chùa online để việc hướng thiện được phổ biến rộng rãi
Theo sư thầy Thích Thanh Nguyên, trụ trì chùa Linh Ứng (Hà Nội), chùa online là một trong những cơ hội để các Phật tử thành tâm hướng đến Phật khi chưa có điều kiện đi chùa. Đó cũng là một hình thức truyền bá tính hướng thiện đặc trưng của đạo phật tới nhiều người hơn nữa.
► Tra cứu ngày âm lịch hôm nay chuẩn xác theo Lịch vạn sự
An Nhiên
Xem thêm video: Làm phước hướng thiện, không ai không thấu
Một trong 14 Chính Tinh. Sao thứ 2 trong 6 sao thuộc chòm sao Tử Vi theo thứ tự: Tử Vi, Thiên Cơ, Thái Dương, Vũ Khúc, Thiên Đồng, Liêm Trinh. Vị Trí Ở Các Cung
Miếu địa ở các cung Thìn, Tuất, Mão, Dậu.
Vượng địa ở các cung Tỵ, Thân.
Đắc địa ở các cung Tý, Ngọ, Sửu, Mùi.
Hãm địa ở các cung Dần, Hợi.
Ý Nghĩa Thiên Cơ Ở Cung Mệnh Tướng Mạo Cung Mệnh có Thiên Cơ đắc địa thì thân hình cao, xương lộ, da trắng, mặt dài nhưng đầy đặn.Thiên Cơ hãm địa thì thân hình nở nang, hơi thấp, da trắng, mặt tròn. Tính Tình Thiên Cơ đắc địa là người nhân hậu, từ thiện, rất thông minh, khôn ngoan, có óc xét đoán, có nhiều mưu trí, làm việc gì đều có chiến lược, chiến thuật hẳn hoi. Thiên Cơ hãm địa thì có óc kinh doanh, kém thông minh nhưng cũng là người nhân hậu, tài ba. Công Danh Tài Lộc Phúc Thọ Thiên Cơ đắc địa thì được hưởng giàu sang và sống lâu, nhất là khi hội tụ với nhiều cát tinh. Đặc biệt ở Thìn, Tuất thì khả năng nghiên cứu rất cao, nhất là trong ngành chính trị, chiến lược, tham mưu giỏi. Ở Mão Dậu, đồng cung với Cự Môn, người đó có tài tham mưu, kiêm nhiệm cả văn lẫn võ. Tài năng và phú quý rất hiển hách. Riêng với người nữ thì đảm đang, khéo léo, lợi chồng ích con, được hưởng phú quý và phúc thọ song toàn. Nếu Thiên Cơ hãm địa thì lận đận, bôn ba, làm nghề thủ công. Riêng với người nữ thì vất vả, muộn gia đạo, hoặc gặp nghịch cảnh chồng con, đau đớn vì tình. Nếu gặp sát tinh như Hóa Kỵ, Thiên Hình, thì tai họa, bệnh tật rất nặng và chắc chắn không thọ. Những Bộ Sao Tốt
Thiên Cơ, Thiên Lương ở Thìn, Tuất: Có tài năng, đức độ, mưu trí, phú quý song toàn, có năng khiếu về chiến lược, chính lược.
Thiên Cơ, Cự Môn ở Mão Dậu: Có tài năng, đức độ, mưu trí, phú quý song toàn, có năng khiếu về chiến lược, chính lược; nhưng nổi bật nhất ở chỗ rất giàu có, duy trì sự nghiệp bền vững.
Thiên Cơ, Vũ Khúc, Hồng Loan (nữ mệnh): Có tài năng về nữ công, gia chánh (thợ may giỏi, khéo tay, chân).
Thiên Cơ, Thái Âm, Thiên Đồng, Thiên Lương (Cơ Nguyệt Đồng Lương): Nếu đắc địa cả thì người đó có đủ đức tính của một bậc nho phong hiền triết. Nếu có sao hãm thì thường làm thư lại, công chức.
Những Bộ Sao Xấu
Thiên Cơ, sát tinh đồng cung: Trộm cướp, bất lương.
Thiên Cơ, Thiên Lương ở Thìn Tuất gặp Tuần Triệt hay sát tinh: Gặp nhiều gian truân, trắc trở lớn trên đường đời, có chí và có số đi tu. Nếu gặp Kình, Đà, Linh, Hỏa hội họp, có Tướng xung chiếu thì là thầy tu hay võ sĩ giang hồ.
Ý Nghĩa Thiên Cơ Ở Cung Phụ Mẫu
Đơn thủ tại Tỵ, Ngọ, Mùi: Cha mẹ khá giả.
Đơn thủ tại Hợi, Tý, Sửu: Cha mẹ bình thường. Cha mẹ và con không hạp tính nhau. Có cha mẹ nuôi, hoặc cha mẹ chắp nối.
Thiên Cơ, Thái Âm đồng cung tại Thân: Cha mẹ khá giả.
Thiên Cơ, Thái Âm đồng cung tại Dần: Cha mẹ khá giả, nhưng sớm có sự xa cách cha mẹ.
Thiên Cơ, Thiên Lương đồng cung: Cha mẹ giàu sang và sống lâu.
Thiên Cơ, Cự Môn đồng cung: Cha mẹ xa cách, thiếu hòa khí.
Ý Nghĩa Thiên Cơ Ở Cung Phúc Đức
Tại Hợi, Tý, Sửu: Bạc phúc, họ hàng ly tán.
Tại Tỵ, Ngọ, Mùi: Có phúc, họ hàng khá giả.
Cự Môn, Thiên Lương đồng cung hay Thiên Cơ, Nguyệt tại Thân: được hưởng phúc, sống lâu, họ hàng khá giả.
Tại Dần: không được hưởng phúc đồi dào nên suốt đời chẳng được xứng ý toại lòng. Họ hàng bình thường, người nữ hay trắc trở về chồng con.
Ý Nghĩa Thiên Cơ Ở Cung Điền Trạch
Thiên Cơ, Thiên Lương đồng cung, Cự Môn, Nguyệt ở Thân hay Cự Môn.
Thiên Cơ ở Mão: Có nhiều nhà đất.
Tại Hợi Tý Sửu Dần: Nhà đất bình thường.
Tại Tỵ Ngọ Mùi: Tự tay tạo dựng nhà đất.
Thiên Cơ, Cự Môn tại Dậu: Phá sản hay lìa bỏ tổ nghiệp, nhà đất ít.
Ý Nghĩa Thiên Cơ Ở Cung Quan Lộc Vì Thiên Cơ chủ sự khéo léo, tinh xảo chân tay, lại có mưu trí, tháo vác, thêm sự khôn ngoan học rộng, cho nên Thiên Cơ ở Quan thường rất có lợi.
Thiên Cơ đơn thủ tại Tỵ, Ngọ, Mùi: Phú quý. Nhưng không được rực rỡ hiển hách. Nên chuyên về kỹ nghệ, máy móc.
Thiên Cơ tại Hợi, Tý, Sửu: công danh muộn màng, chật vật. Nên chuyên về doanh thương hay kỹ nghệ.
Thiên Cơ, Thiên Lương đồng cung: công danh hiện đạt. Bất cứ làm việc gì cũng cẩn thận, hay suy xét xa gần. Thích đàm luận về chính trị và quân sự. Có năng khiếu về chính trị, quân sự, tham mưu, dạy học, thủ công, doanh thương, kỹ nghệ, cơ khí. Đây là bộ sao đa nghệ nhất.
Thiên Cơ, Cự Môn đồng cung: Được hưởng phú quý vững bền. Có nhiều mưu trí và rất ưa thích máy móc.
Thiên Cơ, Thái Âm ở Dần, nên chuyên về y khoa hay sư phạm. Buôn bán cũng phát đạt. Nhưng muộng màng và gặp nhiều trở ngại.
Thiên Cơ, Thái Âm ở Thân, nên chuyên về y khoa hay sư phạm. Buôn bán cũng phát đạt.
Thiên Cơ, Riêu, Tướng: Làm bác sĩ rất mát tay.
Ý Nghĩa Thiên Cơ Ở Cung Nô Bộc Thiên Cơ, Thiên Lương, Tả Phù, Hữu Bật: Có tôi tớ, bạn bè tốt, hay giúp đỡ mình, có công lao với mình. Ý Nghĩa Thiên Cơ Ở Cung Thiên Di
Tại Tỵ, Ngọ, Mùi hay Cơ Lương đồng cung hay Cơ Nguyệt đồng cung ở Thân: nhiều may mắn về buôn bán ở xa, được quý nhân phù trợ, trong số đó có người quyền quý (Lương) hay chính vợ (Nguyệt) giúp đỡ mình rất nhiều.
Thiên Cơ, Cự Môn: Cũng giàu nhưng bị tai tiếng, khẩu thiệt vì tiền bạc.
Tại Hợi, Tý, Sửu: Bất lợi khi xa nhà.
Thiên Cơ, Tả Phù, Hữu Bật: Được người giúp đỡ.
Ý Nghĩa Thiên Cơ Ở Cung Tật Ách Sao Thiên Cơ tượng trưng cho bệnh ở ngoài da, bệnh tê thấp, hạ bộ, chân tay bị yếu gân, da có bớt, tỳ vết, có sẹo, dễ bị tai nạn xe cộ, hoặc bị tai nạn đi đường, khó ngủ, hoặc nằm mà đầu óc hay phải suy tính, dễ bị lao tổn đến sức khỏe, hệ thống thần kinh, hệ thống hô hấp, gan, mật.
Cự Môn, Thiên Cơ đồng cung: Bệnh tâm linh, khí huyết.
Thiên Cơ,Thiên Lương đồng cung: Bệnh ở hạ bộ.
Thiên Cơ, Thái Âm: Có nhiều mụn nhọt.
Thiên Cơ, Kình hay Đà: Chân tay bị yếu gân.
Thiên Cơ, Thiên Khốc, Thiên Hư : Bệnh phong đàm, ho ra máu.
Thiên Cơ, Thiên Hình, Không Kiếp: Bệnh và tai nạn bất ngờ.
Thiên Cơ, Tuần, Triệt: Cây cối đè phải chân tay, bị thương.
Ý Nghĩa Thiên Cơ Ở Cung Tài Bạch
Thiên Cơ, Cự Môn hay Thiên Cơ, Lương hay Thiên Cơ ở Ngọ Mùi: Phát tài, dễ kiếm tiền và kiếm được nhiều tiền. Riêng với Cự Môn thì phải cạnh tranh chật vật hơn.
Ở các cung khác: Làm ăn chật vật, thất thường. Duy chỉ có đồng cung với Thái Âm ở Thân thì tự lực lập nên cơ nghiệp khá giả. Nếu có Lộc Mã thì đại phú.
Ý Nghĩa Thiên Cơ Ở Cung Tử Tức
Thiên Cơ, Lương hay Nguyệt Đức là người có từ 3 đến 5 con. Nếu Thiên Cơ đơn thủ thì ít con.
Cự Môn, Thiên Cơ (hay Cơ Nguyệt ở Dần Thân): Có con dị bào.
Thông thường bộ sao Cơ Nguyệt Đồng Lương ở cung Tử là chỉ dấu về con dị bào, dù không đủ bộ. Ý Nghĩa Thiên Cơ Ở Cung Phu Thê
Tại Tỵ, Ngọ, Mùi: Sớm lập gia đình, vợ chồng lấy nhau lúc còn ít tuổi, hoặc người hôn phối nhỏ tuổi hơn mình khá nhiều.
Tại Hợi, Tý, Sửu: Vợ chồng khắc tinh, thường chậm gia đạo.
Thiên Cơ, Thiên Lương đồng cung: Lấy con nhà lương thiện, vợ chồng hòa hợp, thường quen biết trước hoặc có họ hàng với nhau. Gia đạo thịnh.
Thiên Cơ, Cự Môn đồng cung: Vợ chồng tài giỏi có danh chức. Nhưng vì ảnh hưởng của Cự Môn nên hai người thường bất hòa, thường phải hai lần lập gia đình.
Thiên Cơ, Thái Âm ở Dần, Thân: Gia đạo tốt. Nhưng trai thì sợ vợ trong trường hợp Thái Âm ở Thân.
Thiên Cơ, Thiên Lương, Tả Phù, Hữu Bật: Gái kén chồng, trai kén vợ. Cả hai rất ghen tuông.
Ý Nghĩa Thiên Cơ Ở Cung Huynh Đệ
Cự Môn, Thiên Cơ đồng cung: Có anh chị em dị bào, thường là cùng mẹ khác cha.
Thiên Cơ đơn thủ: Ít anh chị em.
Thiên Cơ Khi Vào Các Hạn
Thiên Cơ, Thương Sứ: Đau ốm, tai nạn, đánh nhau.
Thiên Cơ, Tang Khốc: Tang thương đau ốm.
Thiên Cơ Lương Tang Tuế: té cao ngã đau.
Thiên Cơ, Khốc Hỏa Hình: Trong nhà thiếu hòa khí.
Thiên Cơ, Kỵ Hỏa Hình Thương Sứ: Tang thương đau ốm, khẩu thiệt quan tụng.
Đây là quẻ Quan Âm thứ 87 được xây dựng trên điển cố: Giảo Kim thám Địa Huyệt hay Giảo Kim xem huyệt đất.
Thử quái đào sa kiến kim nhân xừ hiểm cảnh chi tượng. Phàm sự hữu quý nhân chi triệu dã.
Quẻ trung bình thuộc cung Thân. Tượng này là muốn xẻ đá tìm ngọc, đào cát đãi vàng thì phải bỏ công sức lớn, tuy nhiên đây là việc hao tâm tổn sức trong lúc này.
Điển cố quẻ Quan Âm: Giảo Kim Thám Địa Huyệt
Giảo Kim tức Trình Giảo Kim (589 – 665), là người Đông A, Tế Châu. Trình Giảo Kim gia nhập quân Ngõa Cương, đầu quân cho Vương Thế Sung, sau lại đầu hàng nhà Đường. Năm Trinh Quán thứ 17 (tức năm 643), Đường Thái Tông phong cho ông làm Lư Quốc Công, là một trong số hai mươi bốn vị công thần của Lăng Yên các.
Câu chuyện “Giảo Kim xem huyệt địa” bắt nguồn từ tác phẩm “Tùy Đường diễn nghĩa“.
Các hảo hán của trại Ngõa Cương mờ yến tiệc trong phủ nguyên soái, trong lúc đang ăn uống, bỗng nhiên nghe một tiếng vang động, chỉ thấy trong phòng luyện võ nứt ra một địa huyệt lớn. Địa huyệt đen ngòm, không biết là sâu bao nhiêu. Quân sư Từ Mậu Công nói: “Hãy lấy ba mươi bảy tấm giấy, ba mươi sáu tấm viết “bất khứ” (không đi), một tấm viết chữ “khứ” (đi), người nào bốc được tấm giấy có chữ “khứ” thì đi xuống!” Mọi người đều cho là có lý. Không may, Trình giảo Kim lại rút được tấm giấy có chữ “khứ”. Trình Giảo Kim giở trò: “Tôi không biết chữ, các anh lừa tôi nên mới bảo là tôi bắt được chữ “khứ”.
Mậu Công nói: “Bất khứ” là hai chữ, còn “khứ” là một chữ, lẽ nào ngươi không biết?”
Trình Giảo Kim nhìn những người khác đều là hai chữ, chỉ có mình lại là một chữ, liền kéo Vưu Tuấn Đạt nói: “Này anh trai, đều là do anh hại tôi. Lúc đó tôi làm nghề bán củi, anh lại lôi tôi làm đông đảng để cướp Vương Cương, phản Sơn Đông. Nay phải xuống địa ngục lạnh giá, chắc rằng khó mà sống sót, tôi và anh có quan hệ thân thiết, còn mẹ già mong anh sớm chiều chăm sóc!”
Vưu Tuấn Đạt nói: “Người anh em, cậu nói gì thế? Cậu cứ xuống đi, đảm bảo không có vấn đề gì đâu!”
Trình Giảo Kim không biết làm sao, đành mang theo cây búa lớn, ngồi vào trong chiếc sọt, để mọi người thả xuống dưới huyệt, chẳng bao lâu thì tới đáy. Trình Giảo Kim trèo ra khỏi sọt, cầm bủa trên tay, nhưng tối om không nhìn thấy tia sáng nào, cứ sờ tay mà đi, đi qua hai khúc quanh, bỗng thấy phía trước có luồng ánh sáng, Trình Giảo Kim cho rằng đó là yêu quái gì đó, liền chạy lên phía trước, bố xuống một búa, chỉ nghe một tiếng rầm, thì ra đó là hai cánh cửa bằng đá.
Trình Giảo Kim đi vào trong cửa đá, chỉ thấy phía trên cũng có bầu trời, bên dưới là một dòng sông lớn, ở giữa có một cây cầu đá. Đi qua cây cầu, lại là ba gian đại điện, nhưng không có người nào. Trình Giảo Kim tiến vào giữa đại sảnh, chỉ thấy trên bàn có bày một chiếc mũ bằng vàng có hai cánh hướng lên, một bộ long bào màu vàng, một dây đai bằng ngọc bích, một đôi giày “vô ưu”. Trình Giảo Kim nhìn thấy, rất lấy làm lạ, liền bỏ chiếc khăn vải tía trên đầu đi, đội chiếc mũ bằng vàng có hai cánh lên đầu, mặc bộ long bào màu vàng vào người, thắt dây đai bằng ngọc bích, tháo giầy da, đi đôi giày vô ưu. Lại thấy ờ bên bàn có một chiếc hộp quý, mở ra xem thì thấy có một viên ngọc khuê màu đen, một tờ giấy có chữ viết, nhưng Giảo Kim lại không biết đọc. Liền cất chiếc hộp vào trong bụng, đi ra đại sảnh.
Trình Giảo Kim vừa ra khỏi cửa đá, cánh cửa đá lại kêu rầm một cái, đóng lại như cũ. Giảo Kim sợ quá, vội vàng ngồi vào trong chiếc sọt, lắc mạnh sợi dây. Những người phía trên vội vàng kéo Giảo Kim lên, ra khỏi địa huyệt.
Trình Giảo Kim vừa mới ra khỏi chiếc sọt, lại nghe ầm một tiếng lớn, địa huyệt liền đóng chặt lại. Trình Giảo Kim nói: “Đúng là tạo hóa kỳ diệu, chậm một chút là bị chôn sống rồi!” Mọi người thấy Giảo Kim ăn mặc như vậy, đều cảm thấy kỳ lạ. Trình Giảo Kim kể lại tỉ mỉ sự việc, lấy chiếc hộp quý ra cho Từ Mậu Công xem. Mậu Công cầm tờ giấy đoc, chỉ thấy trên đó viết rằng:
“Trình Giảo Kim trọng nghĩa dấy binh, làm Hỗn Thế Ma Vương ba năm, nhiễu loạn thiên hạ”.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Hương Giang (##)
Cuộc sống hôn nhân gia đình hạnh phúc hay không phần lớn phụ thuộc vào tính cách và thái độ của mỗi người. Nếu không kiểm soát tốt cảm xúc, quá nóng vội hoặc
► Bói tình yêu theo ngày tháng năm sinh để biết hai bạn có hợp nhau không
Dưới đây là những dấu hiệu cho thấy người có hôn nhân không hạnh phúc hoặc có thể sẽ phải li hôn hoặc tái hôn. 1. Lông mày đứt giữaTrong Nhân tướng học, lông mày dày, mau và liền mạch đại diện cho vận thế sự nghiệp tốt và là người có tinh thần trách nhiệm trong công việc cũng như cuộc sống gia đình.
Ngược lại, nếu lông mày đứt giữa là người có tính tình nóng nảy, cổ quái, quá cầu toàn vào sự hoàn hảo trong hôn nhân nên thường không cảm thấy hạnh phúc với cuộc sống gia đình. Theo đó, người này có tỉ lệ li hôn khá cao.
cãi nhau
2. Sơn Căn có nếp nhăn ngangNếu Sơn Căn có nếp nhăn ngang (còn gọi là Hoành văn), là dấu hiệu cho thấy hôn nhân gặp trục trặc hoặc có sóng gió trong cuộc sống gia đình. Ngoài ra, số lượng của nếp nhăn ngang này còn đại diện cho sóng gió hôn nhân. Nếu là 1 đường thì dễ li hôn, 2 đường dễ tái hôn.3. Sống mũi có đốt nhô lênNgười có tướng mũi mà phần giữa sống mũi có đốt hoặc tật nhô lên thì tính tình kì quái, không có chủ kiến cá nhân mà a dua theo phong trào. Người này không biết cách ứng xử khéo léo và hài hòa khiến cuộc sống gia đình căng thẳng, đi vào bế tắc, li hôn là điều khó tránh.4. Trán cao và hóiĐa phần những người trán cao và hói hói đều có tâm lí thiên về sự nghiệp, coi công việc trên tất cả. Khi vướng vận cuộc sống gia đình, họ cảm thấy thiếu thời gian cũng như không gian để phát triển sự nghiệp, từ đó hay cáu bẳn, giận hờn vô cớ khiến chuyện “cơm không lành, canh chẳng ngọt” thường xuyên xảy ra. 5. Ấn Đường có nếp nhăn hình chữ Bát (八)Ấn Đường là vị trí giữa hai đầu lông mày. Nếu trên đó có nếp nhăn hoặc vân hình chữ Bát là biểu hiện kém thuận lợi trong sự nghiệp và trục trặc về tình duyên, hôn nhân. Nếu thấy nếp nhăn này xuất hiện, mệnh chủ phải cẩn trọng suy xét lại tình cảm đôi bên, cố gắng cứu vãn tình thế trước khi quá muộn.Linh Lan (Theo MGSP) Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Ngọc Sương (##)
Thuộc tính âm dương ngũ hành của sao Cự Môn là âm thủy, là sao thứ 2 trong chòm sao Bắc Đẩu, hóa khí là ám, chủ về thị phi, đa nghi, tại chưởng quản vạn vật, tại số củ về thị phi.
Cự Môn là sao nói năng, chủ về tài ăn nói, phần nhiều thích hợp với những ngành nghề cần giao tiếp, nói năng, có sở trường xử lý các mối quan hệ công cộng, có khả năng trờ thành nhân tài ngoại giao. Nhưng cũng vì nói nhiều nên thất thố, dễ chuốc điều tiếng thị phi, lại khó tránh được canh tranh. Không thích hợp với nữ mệnh, trừ khi theo những nghề như giáo viên, biểu diễn, ngoại giao, marketing, nếu không, rất dễ trở thành hạng ngồi lê đôi mách.
Sao Cự Môn hóa ám, chủ về lo lắng buồn phiền, cũng chủ về vất vả. Ở bất kì cung vị nào, bất kể có cát tinh hội chiếu hay không, đều chủ về tuổi trẻ vất vả, phải phấn đấu gian khổ để có thu hoạch.
Sao Cự Môn rất ưa gặp Hóa Quyền, có thể tăng thêm lí tính và sức mạnh của lời nói, tính quyền uy. Nếu sao Cự Môn miếu vượng gặp Hóa Quyền, gặp lại lục cát tinh, phần nhiều đều nhờ có tài ăn nói mà trở thành nhà ngoại giao đảm đương những chức vụ quan trọng. Nếu sao Cự Môn ở cung miếu vượng mà gặp được sao Hóa Quyền, cũng có thể là bậc thầy nổi tiếng, có nhiều học trò.
Sao Cự Môn ưa gặp Hóa Lộc tại cung miếu, vượng địa, chủ về có khẩu phúc (được ăn ngon), đồng thời tăng thêm cảm tính và tài hùng biện, nếu gặp thêm các sao cát tinh chắc chắn sẽ có sự nghiệp về nghề nghiệp. Nếu như Hóa Lộc lại gặp Hồng Loan, Thiên hỷ, Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Diêu, Hóa Khoa, rất thích hợp trong lãnh vực biểu diễn, diễn xuất, rất có khả năng sẽ trở thành nghệ sĩ nổi tiếng. Cự Môn, Hóa Lộc, Hóa Quyền có tửu lượng tốt, khẩu phúc tốt.
Sao Cự Môn không có sức đề kháng đối với lục sát tinh và sao Hóa Kị, và rất sợ gặp sao Kình Dương và Đà La, vì dễ khiến tình cảm trắc trở, gặp nhiều sóng gió. Nếu gặp các sao Hỏa tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp thì chủ về sự vất vả, trắc trở. Sao Cự Môn Hóa Kị thì ăn nói khó nghe nhưng lại rất thích nói, dễ gây phản cảm cho người khác, mà sinh ra điều tiếng thị phi, có khuynh hướng bất mãn với hiện thực, nếu gặp lại sát tinh, cần chú ý miệng lưỡi, dễ gây vạ đến kiện tụng thị phi.
Sao Cự Môn nếu gặp sao Thái Dương thì cát hung lẫn lộn. Gặp sao Thất Sát, chủ về sát thương, Gặp Tham Lang, Phá Quân, vì gian dâm mà tù tội. Gặp Đế Tọa (Tử Vi) thì khắc chế được tính ngoan cố của Cự Môn. Gặp Lộc Tồn thì giải trừ tai ách. Gặp Kình Dương, Đà La thì trai làm giặc cướp, gái làm xướng kĩ. Nếu đối cung có sao Hỏa Tinh, Linh Tinh, Bạch Hổ, mà không có Tử Vi trấn áp hay Lộc Tồn hóa giải, thì dễ bị đày ải hoặc xung quân đến phương xa. Tam hợp với Sát, Tấu dễ gặp hỏa hoạn, cố cô độc, là thân hà khắc, trừ khi theo nghiệp cửu lưu hoặc làm tăng đạo mới tránh được vất vả, hai hạn gặp hung tinh, nạn tai không nhẹ.
Sao Cự Môn và sao Thái Dương thủ mệnh tại cung Dần, Thân là cách "Cự Nhật đồng cung", có tài hùng biện, trước vất vả sau thành công. Sao Cự Môn thủ mệnh tại cung Tý, Ngọ, cung vị tam phương tứ chính có thêm Hóa Lộc, Hóa Quyền hoặc hóa khoa, là cách cục "Thạch trung ẩn ngọc" (ngọc ẩn trong đá), chủ về bất khuất kiên cường, lúc trẻ vất vả trung niên trở lên đạt thành tựu. Sao Cự Môn lạc hãm tại cung thân (Thìn, Tuất), lại gặp thêm tứ sát Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh tại cung mệnh là cách "Cự phùng tứ sát", nếu không có cát tinh ứng cứu thì sẽ dễ vì trốn tội mà phải lưu lạc nơi xa. Sao Cự Môn, sao Thiên Cơ cùng thủ mệnh tại cung Dậu có Hóa Kị đồng cung, hoặc tam phương tứ chính lại gặp Hóa Kị, là cách "Cự Cơ hóa dậu", chủ về làm việc gì cũng không thành, nữ mệnh ắt phá bại, khó tránh phiêu bạt.
Các ngày “Xích tòng – Giáng hạ” kỵ làm nhà, mai táng, cưới hỏi –
Tháng Giêng kỵ ngày 7 và 11 âm Tháng Hai kỵ ngày 9 và 19 âm Tháng Ba kỵ ngày 15 và 16 âm Tháng Tư kỵ ngày 9 và 22 âm Tháng Năm kỵ ngày 9 và 14 âm Tháng Sáu kỵ ngày 10 và 20 âm Tháng Bảy kỵ ngày 8 và 23 âm Tháng Tám kỵ ngày 18 và 29 âm Tháng Chín kỵ
Chùa Linh Ứng Ngũ Hành Sơn đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia. Chùa Có vị trị thuận lợi là nằm trong khu Ngũ Hành Sơn
Chùa Linh Ứng Ngũ Hành Sơn là 1 trong 3 chùa có cùng tên Linh Ứng tại Đà Nẵng: Chùa Linh Ứng Bãi Bụt và Chùa Linh Ứng Bà Nà. Ngũ Hành Sơn là một thắng cảnh bậc nhất ở miền Trung xưa nay. Vua Minh Mạng đặt tên các núi này là Ngũ Hành Sơn: Kim Sơn, Mộc Sơn, Thủy Sơn, Hỏa Sơn, Thổ Sơn.
Chùa cách trung tâm thành phố Đà Nẵng khoảng 8 km về phía Đông Nam. Chùa còn được gọi là chùa Ngoài (chùa Trong là Chùa Tam Thai). Tọa lạc trên một khu đất rộng, bằng phẳng phía đông hòn Thủy Sơn thuộc quần thể khu di tích danh thắng Ngũ Hành Sơn, bên phải là Vọng Hải Đài, bên trái là hang Ngũ Cốc. Chùa thuộc hệ phái Bắc tông.
Chùa Linh Ứng Ngũ Hành Sơn là một ngôi chùa cổ, có giá trị lịch sử cao. Vào đời Gia Long, chùa được xây và đặt tên Ứng Chân. Vào đời Vua Lê Hiển Tông, ncó Hòa thượng Quang Chánh (hiệu Bảo Đài) đến tu tại động Tàng Chân. Ngài dựng am Dưỡng Chân, sau sửa chữa lại gọi là Dưỡng Chân đường. Đến đời Gia Long, Dưỡng Chân đường được đổi thành chùa Ứng Chân. Sau khi Vua Minh Mạng đến vãng cảnh chùa đầu tiên vào năm 1825 thì các ngôi chùa tranh tre ở đây mới được thay bằng gạch ngói. Vua đã ban cho chùa tấm biển có ghi Ngự chế Ứng Chân Tự, Minh Mạng lục niên. Đến đời Thành Thái, do kỵ húy tên một vị vua nhà Nguyễn nên chùa được đổi tên là Linh Ứng. Chùa còn tấm biển ghi Cải tứ Linh Ứng Tự, Thành Thái tam niên.
Chùa cũng đã qua trùng tu nhiều lần nhưng ngôi chùa vẫn giữ được những nét cổ kính và hài hòa với quan cảnh thiên nhiên. Đường lên sân chính thẳng hướng gian Tam Bảo chùa Linh Ứng, là tôn tượng Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni bằng đá trắng nguyên khối.
Ngài an tọa kiết già, hướng nhìn thẳng đường lên từ những bậc thang đá, phía trước là một hồ nước nhân tạo nhỏ xinh, xung quanh xanh mướt cỏ cây, sắc núi… Tới khoảng sân trước gian Chính điện chùa Linh Ứng Ngũ Hành Sơn, phía bên trái là Vườn tháp nhuốm đậm màu thời gian, rêu phong bám đầy. Lối đi bên hông phải gian Chính điện, chếch bên trái Vườn tháp dẫn đến Động Tàng Chơn. Chánh điện chùa được xây kiểu chữ “Nhất”, bên phải là nhà tổ, giảng đường, nhà khách, nhà thiền và nhà trù. Điện Phật được bài trí tôn nghiêm.
Từ nơi tôn tượng Đức Phật Bổn Sư, theo phía tay phải, đi chừng vài chục mét dẫn tới một hang nhỏ, nơi có tôn tượng Đức Phật A Di Đà đứng trên đài sen, tay trái Ngài bắt kiết ấn hướng lên trời, cánh tay phải buông nhẹ với bàn tay để mở hướng xuống đất.
Chùa Linh Ứng Ngũ Hành Sơn đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử – văn hóa quốc gia. Chùa Có vị trị địa lý thuận lợi là nằm trong khu danh thắng Ngũ Hành Sơn, chùa Linh Ứng và Tam Thai đã đón tiếp đông đảo du khách, Phật tử đến tham quan, chiêm bái hằng ngày.
Các chữ thuộc bộ Kim, Dậu, Đoài, Mãnh, Điểu, Nguyệt không phù hợp khi dùng để đặt tên cho người tuổi Thân, bởi những chữ đó đều chỉ phương Tây (thuộc hành Kim). Theo ngũ hành, Thân thuộc hành Kim; nếu dùng những chữ thuộc các bộ trên để đặt tên cho người tuổi Thân sẽ khiến Kim tụ lại quá nhiều, dễ dẫn đến hình khắc và những điều không tốt. Theo đó, những chữ cần tránh gồm: Quân, Cẩm, Ngân, Xuyến, Minh, Nhuệ, Phong, Cương, Chung, Ích, Mạnh, Thịnh, Bàn…
Khỉ thích phá hoại các loại ngũ cốc trên đồng ruộng. Vì vậy, những chữ thuộc bộ Hòa, Mạch, Tắc, Mễ, Điền, Cốc như: Do, Giới, Thân, Nam, Đương, Phan, Khoa, Thu, Đạo, Chủng, Tùng, Tú, Bỉnh, Đường, Tinh, Lương, Lượng… không nên dùng để đặt tên cho người tuổi Thân.
Dần và Thân xung nhau, Thân và Hợi (Trư) thuộc lục hại. Do vậy, khi chọn tên cho người tuổi Thân, bạn cần tránh những chữ có liên quan tới các con giáp trên. Vì dụ như: Dần, Xứ, Hổ, Báo, Lư, Hiệu, Hợi, Tượng, Gia, Duyên, Hào, Mạo…
Những chữ thuộc bộ Khẩu cũng nên tránh ví dụ như: Huynh, Cát, Hòa... vì mang ý nghĩa bị kìm hãm. Các chữ như Quân, Tướng, Đao, Lực cũng nên tránh khi đặt tên cho người tuổi Thân.
Dân gian có câu: “Mùng 5, 14, 23, đi chơi cũng lỗ nữa là đi buôn” ngụ ý nhắc nhở chúng ta không nên làm những việc quan trọng vào các ngày Nguyệt Kỵ. Vậy ngày Nguyệt Kỵ là ngày gì, ngày Nguyệt Kỵ năm 2017 gồm những gì? Hãy cùng ## tìm hiểu vấn đề này.
1. Tìm hiểu ngày Nguyệt Kỵ là ngày gì?
Dân gian thường quan niệm “Có thờ có thiêng, có kiêng có lành”. Trước giờ khi khởi sự quan trọng nào nhất là việc cưới hỏi, động thổ, xuất hành, nhập trạch, cất nóc... tất cả đều cần chọn ngày tốt, giờ lành để tiến hành. Nếu vào ngày Hoàng đạo, giờ Hoàng đạo thì càng tốt. Còn rơi vào ngày Hắc đạo, giờ Hắc đạo thì nên tránh.Việc xem ngày tốt xấu như vậy trước là nhằm mục đích trọn vẹn về tâm linh, sau là yên tâm tư tưởng để tiến hành công việc một cách thuận lợi.
Theo quan niệm dân gian, ngày Nguyệt Kỵ kiêng khởi sự trọng đại như kết hôn, động thổ, xuất hành...
Theo quan niệm người xưa, các ngày kiêng kỵ cần tránh bao gồm ngày Nguyệt Kỵ, ngày Tam Nương, ngày Sát Chủ, ngày Hoang Vu, ngày Thập Ác Đại Bại...Một năm có 12 tháng, mỗi tháng đều có 3 ngày Nguyệt Kỵ rơi vào các ngày mùng 5, 14 và 23. Theo quan niệm, trong 1 tháng luôn có 3 ngày cộng vào bằng 5 (cụ thể là: ngày mùng 5, ngày 14 gồm 1 + 4 = 5, ngày 23 gồm 2 + 3 = 5), dân gian thường gọi là ngày "nửa đời, nửa đoạn" nên làm gì cũng chỉ giữa chừng, vất vả, khó đạt được mục tiêu, mất công, mất sức. Thông thường sẽ tránh xuất hành, khởi công xây dựng, động thổ... Xem thêm những kiêng kỵ trong việc xuất hành để biết thêm chi tiết.
2. Nguồn gốc và lý giải ngày tốt xấu 5, 14, 23
Nguồn gốc của ngày Nguyệt Kỵ bắt nguồn từ truyền thống khoa học huyền bí của Trung Quốc. Theo sách lịch của Trung Quốc, 3 ngày mùng 5,14, 23 là ba ngày kỵ trong mỗi tháng nên được gọi là "ngày Nguyệt Kỵ".
Trong Cửu cung phi tinh gồm: Nhất bạch, nhị hắc, tam bích, tứ lục, ngũ hoàng, lục bạch, thất xích, bát bạch, cửu tử. Trong số cửu tinh thì Sao Ngũ hoàng (thuộc trung cung, lấy số 5 làm biểu hiện) được cho là xấu nhất, vận sao Ngũ hoàng bay tới đâu mang hoạ tới đó. Cứ theo phi tinh 9 cung lại quay trở về Ngũ hoàng : Ngũ hoàng 5, 5 + 9 = 14, 14 + 9 = 23. Đó chính là ngày Nguyệt Kỵ.
Xem thêm: Cửu cung phi tinh năm Đinh Dậu 2017
Cửu cung phi tinh năm Đinh Dậu 2017 (Cửu cung phi tinh có sự thay đổi vị trí hàng năm)
Ngoài ra, theo quan niệm khác coi đây cũng là những ngày ''con nước'' (tức là ngày triều cường, thường sinh ra những dòng hải lưu bất thường gây nguy hiểm cho thuyền bè). Theo đó, những ngày này thường đem đến xui xẻo cho mọi người nhất là khi đi xa, do người xưa chủ yếu đi lại bằng đường thủy.Xét ở góc độ khoa học, những ngày trên, con người bị tác động mạnh nhất của lực tương hỗ với mặt trăng. Nó làm ảnh hưởng tới sức khỏe, thần kinh dễ làm con người mất tự chủ dễ xảy ra sai lầm trong tính toán, hành động. Đã có nghiên cứu về hiện tượng gia tăng tai nạn, rủi ro vào trung tuần trăng. Và cũng vào những ngày trên chó sói thường tru gọi bầy, chó nhà thường hay ''cắn hóng''.Đặc biệt nhất là ngày 5 tháng 5 (trùng lặp Ngũ hoàng thổ), người ta thường nói "nen nét như rắn mùng 5". Vào ngày này rắn không ra khỏi hang mà bởi vì thời gian đó phương lực ly tâm từ Trái Đất kết hợp với lực hấp dẫn từ Mặt Trăng, hướng tâm từ Mặt Trời và vũ trụ không bình thường gây cho rắn run sợ, ù tai, hoa mắt không dám ra ngoài. Tương truyền từ xa xưa ai chặt được đầu rắn mùng 5 ra đường sẽ gặp nhiều may mắn.Ngày nay nhiều người không còn đặt nặng vào tục kiêng kỵ như trước đây. Với họ, mùng 5, 14, 23 cũng là một ngày bình thường và nhiều người vẫn chọn để làm những việc quan trọng. Và thực tế cuộc sống cho thấy rằng, không phải cứ câu dân gian nào cũng áp dụng vào đời sống hiện đại, nhất là lại áp dụng máy móc lại càng không hợp.Trong tử vi, ngày Nguyệt Kỵ và ngày Tam Nương không được cho là quan trọng so với các sao chính tinh và ngày kiêng kỵ khác như : Sát chủ, Thụ tử, Thập ác đại bại, Trùng tang, Trùng phục, Không sàng, Không phòng, Thiên tai địa hoạ, Trời nghiêng đất lở, Hoang ốc, Thiên hình hắc đạo, Chu tước hắc đạo, Bạch hổ hắc đạo, Thiên lao hắc đạo, Huyền vũ hắc đạo, Câu trận hắc đạo, Dương công kỵ, Lục nhật phá quần...
3. Các ngày Nguyệt Kỵ năm 2017
Ngày Nguyệt Kỵ năm 2017 tương ứng với các ngày trong từng tháng (dương lịch) như sau:
Tháng 1 có ngày, 02, 11, 20Tháng 2 có ngày, 01, 10, 19Tháng 3 có ngày, 02, 11, 20Tháng 4 có ngày, 01, 10, 19, 30Tháng 5 có ngày, 09, 18, 30Tháng 6 có ngày, 08, 17, 28Tháng 7 có ngày, 07, 16, 27Tháng 8 có ngày, 05, 14, 26Tháng 9 có ngày, 04, 13, 24Tháng 10 có ngày, 03, 12, 24Tháng 11 có ngày, 02, 11, 22Tháng 12 có ngày, 01, 10, 22, 31T.HNgày Lục Đinh Lục Giáp và thuật pháp hô mưa gọi gió của đạo giáo Thiên Can bắt nguồn từ Giáp, địa chi bắt nguồn từ Tý, vậy ngày Lục Đinh Lục Giáp có ý nghĩa gì? Cùng tìm hiểu tri thức này để ứng dụng vào xem ngày tốt Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Thanh Vân (##)
Chi tiết câu hỏi Tôi sinh năm 1985 vợ tôi sinh 1989. Xin hỏi cách xem hướng nhà thế nào là đúng. - Nếu nhà tôi hướng Đông Nam (Họa hại) thì cách hóa giải là thế nào? - Bếp hướng tây có tốt không? - Phòng ngủ vợ chồng hướng Tây có tốt cho 2 vợ chồng k
Chi tiết câu hỏi Tôi sinh năm 1985 vợ tôi sinh 1989. Xin hỏi cách xem hướng nhà thế nào là đúng. – Nếu nhà tôi hướng Đông Nam (Họa hại) thì cách hóa giải là thế nào? – Bếp hướng tây có tốt không? – Phòng ngủ vợ chồng hướng Tây có tốt cho 2 vợ chồng ko?
Trả lời: Theo như thông tin bạn cung cấp: – Năm sinh dương lịch: 1985 – Năm sinh âm lịch: Ất Sửu – Quẻ mệnh: Càn Kim – Ngũ hành: Hải Trung Kim (Vàng trong biển) – Thuộc Tây Tứ Mệnh, nhà hướng Đông Nam, thuộc Đông Tứ Trạch – Hướng tốt: Tây Bắc (Phục Vị); Đông Bắc (Thiên Y); Tây Nam (Diên Niên); Tây (Sinh Khí); – Hướng xấu: Bắc (Lục Sát); Đông (Ngũ Quỷ); Đông Nam (Hoạ Hại); Nam (Tuyệt Mệnh);
Lời khuyên cho việc bài trí nội thất trong nhà:
1. Cửa chính:
Cửa chính là một yếu tố rất quan trọng tác động đến phong thuỷ.
Nếu hai mảng nghiên cứu của phong thuỷ là dương trạch (phần phía trên mặt đất) và âm phần (phần phía dưới mặt đất) thì “Dương trạch tam yếu” (ba yếu tố quan trọng của Dương trạch) là Cửa chính, phòng ngủ của chủ nhà và bếp nấu.
Quan niệm phong thuỷ cho rằng, môn mệnh phải tương phối (nghĩa là hướng cửa chính và mệnh của chủ nhà phải hợp với nhau, thì vượng khí mới tốt, gia chủ mới phát tài.
Rất tiếc, hướng cửa chính (quay về hướng Đông Nam) không hợp với tuổi của quý khách. Nhưng xin chớ quá lo lắng, có thể khắc phục bằng các cách sau:
Cách thứ nhất: Chuyển hướng cửa hoặc thêm cửa phụ thứ hai ở trong nhà theo hướng Tây Bắc (Phục Vị); Đông Bắc (Thiên Y); Tây Nam (Diên Niên); Tây (Sinh Khí);
Cách thứ hai: Dùng màu sắc của thảm trải trước cửa để hoá giải tà khí theo quy luật ngũ hành tương sinh, tương khắc: Nhà quay về hướng Đông Nam, có tà khí của Mộc. Có thể trải thảm màu Trắng, Xám tượng trưng cho hành Kim tương khắc với hành Mộc
2. Bếp nấu:
Bếp nấu cũng là một yếu tố rất quan trọng, vì mọi bệnh tật, vệ sinh đều sinh ra từ đây. Hướng bếp nên đặt ở hướng xấu, và nhìn về hướng tốt, theo quan niệm Toạ hung hướng cát. Hướng bếp có thể hiểu là hướng cửa bếp đối với bếp lò, bếp dầu, hướng công tắc điều khiển đối với bếp điện, bếp gas.
Trong trường hợp này, có thể đặt bếp tọa các hướng Bắc (Lục Sát); Đông (Ngũ Quỷ); Đông Nam (Hoạ Hại); Nam (Tuyệt Mệnh); , nhìn về các hướng tốt Tây Bắc (Phục Vị); Đông Bắc (Thiên Y); Tây Nam (Diên Niên); Tây (Sinh Khí);
Ngoài ra, bếp nên tránh đặt gần chậu rửa, tủ lạnh, tránh có cửa sổ phía sau, tránh giáp các diện tường hướng Tây.
Chậu rửa, cũng như khu phụ, được hiểu là nơi xả trôi nước, tức là xả trôi những điều không may mắn, nên đặt tại các hướng xấu như hướng Bắc (Lục Sát); Đông (Ngũ Quỷ); Đông Nam (Hoạ Hại); Nam (Tuyệt Mệnh);
Cửa của bếp nấu không được để thẳng với cửa chính của nhà, hoặc nhìn thẳng vào cửa phòng ngủ, người nằm ngủ sẽ gặp tai ương tật ách.
3. Phòng ngủ:
Con người luôn giành 30% cuộc đời mình cho việc ngủ, nên phòng ngủ chiếm một vai trò đặc biệt quan trọng.
Vị trí phòng ngủ trong nhà và vị trí giường ngủ trong phòng ngủ nên ưu tiên ở hướng tốt (các hướng Sinh Khí, Thiên Y, Diên Niên, Phục Vị)
Gia chủ mang mệnh Kim, Thổ sinh Kim, nên hướng giường nên quay về hướng thuộc Thổ, là hướng Đông Bắc; Tây Nam;
Nếu tính cho các phòng ngủ của các thành viên khác trong gia đình, thì cần tính hành ứng với mỗi thành viên.
Màu sơn trong phòng ngủ, màu sắc rèm cửa nên sử dụng màu Vàng, Nâu, đây là màu đại diện cho hành Thổ, rất tốt cho người hành Kim.
Tủ quần áo nên kê tại các góc xấu trong phòng để trấn được cái xấu, là các góc Ngũ Quỷ, Hoạ Hại, Lục Sát, Tuyệt Mệnh.
Giường ngủ cần tránh kê dưới dầm, xà ngang, đầu giường tránh thẳng với hướng cửa mở vào, thẳng với hướng gương soi.
► Xem thêm: Những yếu tố phong thủy nhà ở ảnh hưởng đến tài vận gia đình bạn
Trong phong thủy, các nguồn năng lượng được chia thành hai loại là sinh khí và tà khí. Sinh khí được coi là nguồn năng lượng tích cực, mang lại nhiều vận may cho con người. Ngược lại, tà khí chỉ mang đến sự xui xẻo, bất ổn. Và một trong những nguồn tà khí được sinh ra từ mũi tên độc. Thế nào là mũi tên độc?Mũi tên độc có thể là tự nhiên hoặc những cấu trúc nhân tạo. Nó là các góc nhọn hướng về phía bên ngoài hoặc bên trong ngôi nhà, từ đó sản sinh luồng tà khí, mang đến những điều xui xẻo cho mọi thành viên sống trong nhà.Cách hóa giải mũi tên độc bên ngoài ngôi nhà Những mũi tên độc bên ngoài thường thấy như đất đai, các kiến trúc, đường xá bên ngoài tạo thành góc nhọn chiếu thẳng vào ngôi nhà hoặc cửa trước nhà. Dưới đây là các loại mũi tên độc và cách hóa giải nó.
Ảnh minh họa
- Góc nhà, góc tòa nhà đối diện cửa trước: Hóa giải bằng cách sử dụng cửa khác làm cổng chính vào nhà hoặc trồng nhiều cây lớn chắn trước cửa nhà nhằm ngăn chặn luồng tà khí thoát ra từ mũi tên độc đối diện. - Đối diện ngõ hẻm hoặc giữa hai tòa nhà lớn: Có thể dùng gương bát quái lồi treo ở cửa trước nhà để hóa giải sát khí. - Đường đâm thẳng vào nhà: Xây hàng rào, tường hoặc trồng hàng cây ngăn giữa đường và nhà sẽ hóa giải phần nào sát khí từ mũi tên độc này. - Nhà đối diện với phần đường cong: Kiêng kị mua nhà hoặc đất có thể như vậy. Ảnh hưởng của mũi tên độc này quá lớn, không chỉ khiến công danh sự nghiệp khó phát mà sức khỏe, tính mạng còn bị đe dọa. - Nhà ở gần hoặc ngay dưới chân cầu: Tương tự với trường hợp nhà đối diện với đường cong, nên tránh mua nhà ở vị trí này. - Nhà nằm trên đường dốc: Cần xây phòng ngủ ở tầng cao hơn để tránh tà khí chiếu thẳng khi ngủ say, ảnh hưởng đến sức khỏe.
Ảnh minh họa
Bên cạnh đó, có thể hóa giải tà khí của mũi tên độc bằng cách dựa vào hướng chúng chĩa vào nhà. Có thể treo những vật phẩm phong thủy để hóa giải luồng sát khí đó, cụ thể như sau: Bài trí tiểu cảnh với thác nước đổ mạnh ở hướng Nam. Treo quả cầu pha lê đa diện ở hướng Bắc. Treo chuông gió ở hướng Đông hoặc Đông Nam. Lắp đèn sáng ở hướng Tây hoặc Tây Bắc. Làm hàng rào cây gai góc ở hướng Tây Nam hoặc Đông Bắc.
Ảnh minh họa
Cách hóa giải mũi tên độc bên trong ngôi nhà Những mũi tên độc bên trong ngôi nhà như góc cạnh của các loại tủ, kệ; cột, trụ; dầm nhà; góc tường nhô ra; cầu thang đâm thẳng ra cửa.- Góc tủ hoặc kệ: Dùng rèm che hoặc treo chuỗi tràng hạt lên giá tủ hoặc kệ. - Cột, trụ: Đặt chậu cây xanh cạnh cột, trụ. - Dầm nhà (xà ngang): Treo chuông gió bằng tre, tránh kê giường ngủ ngay dưới dầm. - Góc tường nhô ra: Đặt chậu cây xanh hoặc treo quả cầu pha lê. - Cầu thang đâm thẳng ra cửa: Dùng rem che hoặc đặt chậu cây xanh. ST Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Đoan Trang(##)
Để các đức lang quân ngoan ngoãn nghe lời vô điều kiện, các bà vợ nên áp dụng một số mẹo phong thủy dưới đây.
Lấy được một người chồng giỏi giang, biết lo toan cho sự nghiệp lại không bỏ bê gia đình, luôn tôn trọng ý kiến của vợ là điều mà mọi phụ nữ đều mong muốn. Không ít người tỏ ra thắc mắc là tại sao người kia có ngoại hình không bằng mình nhưng lại được chồng hết mực yêu thương, chiều chuộng… hoặc những thắc mắc tương tự.
Ngoài đặc trưng tính cách, cách cư xử khéo léo tạo ra sự khác biệt, yếu tố phong thủy cũng có sức ảnh hưởng không ít. Do đó, chỉ cần đôi chút thay đổi về phong thủy nhà ở, bạn có thể cải thiện tình trạng hôn nhân của mình. Bạn có thể áp dụng một số mẹo phong thủy dưới đây, đảm bảo ông xã sẽ nghe lời răm rắp. 1. Cách bố trí giường ngủ
Xét theo góc độ phong thủy, hai phía bên trái và phải của giường ngủ là Thanh Long và Bạch Hổ. Nếu tường phía bên phía trái (Thanh Long) dày hơn, cao hơn hoặc áp sát vào giường hơn là phía phải (Bạch Hổ) tạo ra cục diện nam quyền, tức nam giới nắm quyền hành, chồng bảo đâu vợ nghe đấy, lời nói của người vợ không được xem trọng trong gia đình.
Do đó, nếu muốn bản thân được coi trọng, lời nói của mình có trọng lượng hơn thì cần bố trí tường phía bên phải phải dày hơn và có địa thế cao hơn bên trái. Như vậy người vợ mới đứng ở thế thượng phong, làm việc gì cũng được chồng bàn bạc kĩ càng và xem trọng lời nói.
Tuy nhiên, cần lưu ý chỗ kê giường ngủ càng bằng phẳng, vuông vắn thì việc nắm giữ quyền hành sẽ được chia đều cho cả hai. Nếu bên phía mà người vợ hay nằm cao hơn một chút sẽ xuất hiện tình trạng vợ có tính cách mạnh mẽ hơn chồng.
Lưu ý cách xác định hướng trái phải của giường ngủ: Bạn đứng ở giữa phòng, mặt hướng ra ngoài cửa và nhìn xem phía trái là Thanh Long, phía phải là Bạch Hổ. 2. Bài trí nhà bếp
Trong phong thủy, nhà bếp tượng trưng cho vận thế của người vợ. Do đó, các bà vợ có thể thay đổi vận thế của mình bằng cách tuân thủ những nguyên tắc dưới đây.
Bàn ăn: Bạn nên chọn bàn ăn hình tròn mang ý nghĩa đoàn tụ, sum họp bên nhau. Nên tránh những bàn có nhiều góc nhọn, cạnh hoặc hình dáng kì dị để hạn chế những rắc rối hoặc mâu thuẫn không đáng có trong gia đình. Vị trí đặt bàn ăn lí tưởng nhất là ở góc khuất trong nhà, tránh đặt gần cửa ra vào sẽ rước họa thị phi.
Bếp nấu ăn: Không nên đặt bếp nấu ăn nhìn thẳng ra cửa chính hoặc gần phía cửa sổ vì nơi đây có gió thổi mạnh vừa khiến việc nấu ăn bị gián đoạn lại không an toàn cho mọi người trong nhà. Dù là phòng bếp nhưng cũng cần đảm bảo đủ ánh sáng. Bạn có thể dùng đèn tuýp hoặc đèn chùm để giữ cho gian bếp sáng sủa cũng như khiến tình cảm vợ chồng thêm hòa hợp.
Phòng bếp sạch, gọn: Một gian bếp sạch sẽ, gọn gàng, ấm cúng với nhiều món ăn hấp dẫn sẽ là động lực để các ông chồng quay trở về mái ấm gia đình dù công việc có bận rộn hay áp lực tới đâu. Điều đó cũng giúp gia đình thêm hạnh phúc, đầm ấm.
3. Kê đồ nội thất trong nhà
Trong phong thủy nhà ở, phía Đông và bên trái đại diện cho người đàn ông còn phía Tây và bên phải đại diện cho phụ nữ trong ngôi nhà.
Nếu người vợ muốn nắm giữ quyền lực gia đình trong tay nên tập trung kê các đồ nội thất sang phía bên tay phải (xác định theo vị trí ở giữa phòng, mặt hướng về cửa chính) hoặc kê nhiều đồ ở phía Tây. Khi vị trí hoặc hướng này có “trọng lượng” hơn, quyền lực trong ngôi nhà sẽ nghiêng về phía bạn.
Chào hỏi là hành động thể hiện tự kính trọng, sự tôn kính giữa mọi người với nhau, đây cũng là họat động giao tiếp gắn kết mọi người gần nhau hơn. Mơ thấy
Chào hỏi là hành động thể hiện tự kính trọng, sự tôn kính giữa mọi người với nhau, đây cũng là họat động giao tiếp gắn kết mọi người gần nhau hơn. Mơ thấy mọi người chào hỏi nhau giấc mơ là cát mộng, giấc mơ này sẽ đem lại nhiều điều tốt đẹp, may mắn.
Ảnh minh họa
Theo phong tục của người Nhật, khi chào, càng cúi đầu thấp thì càng bày tỏ ý nghĩa tôn trọng người khác, trong giấc mơ cũng vậy, nếu bạn mơ thấy mình chào gập đầu trước người khác thì điều này thể hiện bạn là người nghiêm túc, khiêm tốn và tôn trọng lễ nghĩa.
Giấc mơ này còn ám chỉ trong tương lai không xa, bạn sẽ thành công trong sự nghiệp, được thăng chức hoặc bạn sẽ có thêm những những người bạn mới vô cùng thú vị đấy nhé.
Chiêm bao thấy người khác cúi chào mình thì điều này ngụ ý rằng bạn là người có uy tín và bạn rất được mọi người nể trọng.
Chỉ cần thấy một cái gật đầu nhẹ hay một động tác chào hỏi trong mơ thì dự báo mọi việc sẽ diễn ra thuận lợi, theo đúng ý bạn muốn.
Nếu mơ thấy người thân hay bạn bè gật đầu chào mình là điềm báo hạnh phúc đang đến gần với bạn. Hoặc cuộc sống của bạn luôn cát tường, thuận buồm xuôi gió.
► ## giải mã giấc mơ theo tâm linh chuẩn xác
Tổng hợp Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Cát Phượng (##)
Những lời chúc buổi tối vui vẻ và hài hước nhất. Buổi tối là khoảng thời gian nghỉ ngơi, thư giãn sau một ngày dài mệt mỏi. Thật ý nghĩa khi bạn gửi cho ai đó những lời chúc vui vẻ, hài hước. Hãy đem đến cho người mà bạn yêu quý “những thang thuốc bổ”. Chắc chắn là họ sẽ cảm kích và không bao giờ quên được bạn.
Những lời chúc buổi tối vui vẻ và hài hước nhất
Em biết không lúc này có 3,7 triệu người đang ngủ 2,3 triệu người đang yêu 4,1 triệu người đang ăn Và chỉ có một người trên thế giới nay đang đọc tin nhắn của anh. Chúc em ngủ ngon nhé gấu
——–
Tin nhắn chúc ngủ ngon không chỉ là một lời chúc. Mà nó con im lặng nói rằng, gấu là người mà anh nghĩ đến cuối cùng trong đêm. Chúc em ngủ ngon, gấu!!!!
——–
Một đêm yên bình. Sớm mai thức dậy với niềm hy vọng Đi khắp mọi nơi với niềm vui Mang theo sự ủng hộ của mọi người Và chúc ngủ ngon nhé
Em là lí do mà có đêm anh ko ngủ được Em là lí do mà anh ôm chặt gối vào ban đêm Và em cũng là lí do mà anh không thể ngủ khi chưa nói “chúc em ngủ ngon” Ngủ ngon nha cô bé….
Một ngày kết thúc, và anh mong đợi một ngày mới, Nhưng tình bạn thực sự thì không bao giờ kết thúc, cho dù là bất cứ khoảng thời gian nào. Ngủ ngoan nhé, bạn của tôi!!!!!!
Đêm là một cơ hội tuyệt vời để Nghỉ ngơi Để tha thứ ( tha lỗi cho anh nhé ) Để ước mơ Để mỉm cười Và để sẵn sàng cho một ngày mới. Chúc em ngủ ngon.
Một khuôn mặt đặc biệt Một nụ cười đặc biệt Một người bạn đặc biệt, anh tìm thấy ở em Ngủ ngon và có những giấc mơ đẹp nhé, cô bạn của anh!!!!!
Chúc ngủ ngon không chỉ để chấm dứt một ngày. Mà nó còn nói rằng, anh nhớ gấu!!!! Hy vọng em có thể cảm thấy được điều đó!!!! Chúc ngủ ngon, bạn gấu của tui!!!!
Một ngày nữa lại trôi qua. Thật tuyệt khi có một người bạn như bạn. Bạn làm mỗi ngày của tôi trở nên tuyệt vời Cám ơn bạn. Ngủ ngon với những giấc mơ đẹp.
Em là người CUTE nhất thế giới. Chờ chút, đừng hiều lầm ý anh. CUTE nghĩa là: C : Creating U : Useless T : Troubles E : Everywhere Em làm những điều vô dụng và gây phiền hà khắp mọi nơi =)).
Anh bị té từ trên giường xuống Khi cố với lấy cái điện thoại của mình để nói với em rằng Chúc em ngủ ngon và có những giấc mơ đẹp!!!!
Bất cứ khi nào có một ước mơ trong tim em. Hãy giữ lấy nó, bởi nó là hạt giống nhỏ Sẽ nảy mầm vào một buổi sớm tươi đẹp Chúc em có một giấc mơ tuyệt vời đêm nay. Ngủ ngon nhé gấu!!!!!
Khi anh không thể chạm đến mọi người Những người ở gần trái tim anh Anh sẽ ôm lấy với lời cầu nguyện. Cầu cho em có được những gì em muốn, Và xin cho em luôn hạnh phúc Chúc em ngủ ngon!!!!
Đừng bao giờ than phiền về một ngày Ngày tốt đem lại niềm hạnh phúc Ngày xấu cho bạn kinh nghiệm Cả hai đều thiết yếu cho cuộc sống!!! Chúc em ngủ ngon!!!!
Ngày của anh có thể bận rộn Mọi thứ có thể bù đầu Nhưng anh sẽ không bao giờ để hết ngày mà không nói :”Chúc em ngủ ngon”
Tin nhắn ngủ ngon cho một người buồn ngủ Từ một người bạn buồn ngủ Tại lúc buồn ngủ Trong một ngày buồn ngủ Với tâm trạng buồn ngủ Để nói rằng ”Chúc ngủ ngon!!!!”
Một số trận chiến phải tranh đầu một mình Một vài con đường phải tự mình vượt qua Vì vậy đừng bao giờ gắn cảm xúc của mình vào bất cứ ai
Bởi bạn sẽ không bao giờ biết, khi nào bạn phải đi một mình Một ngày bộ não của anh hỏi anh:” anh gởi tin nhắn cho một người không hề nhắn tin lại cho anh ư??? Nhưng trái tim anh nói với bộ não rằng “anh cần tin nhắn, nhưng tôi cần tình bạn” Chúc em ngủ ngon nhé ^^.
Gửi câu chúc buổi tối vui vẻ và hài hước cho người khác, chính là đem lại niềm vui cho chính mình. Hôm nay bạn đã gửi lời chúc ấy cho ai chưa? Cầm điện thoại lên và nhắn tin ngay bạn nhé.
Nữ mệnh thủy: Ngũ hành tương sinh: Kịm sinh Thủy: Kim thuộc về chất rắn, sau khi được làm nóng chảy sẽ từ thể rắn chuyển sang thể lỏng, chất lỏng thuộc Thủy. Thủy sinh Mộc: Thủy là nguồn sinh trưởng của cây cối. Ngũ hành tương khắc: Thổ khắc Thủy: Nư
Kịm sinh Thủy: Kim thuộc về chất rắn, sau khi được làm nóng chảy sẽ từ thể rắn chuyển sang thể lỏng, chất lỏng thuộc Thủy. Thủy sinh Mộc: Thủy là nguồn sinh trưởng của cây cối.
Ngũ hành tương khắc:
Thổ khắc Thủy: Nước đến đất ngăn. Thủy khắc Hỏa: Nước dập tắt lửa.
Nếu bạn mệnh Thủy thì nên xăm những tông màu như màu đen, xanh da trời. Ngoài ra người mệnh Thủy có thể kết hợp với các tông màu trắng và những sắc ánh kim (Màu trắng, Kim sinh Thuỷ)
Bạn tránh dùng những màu sắc kiêng kị như màu vàng đất, màu nâu (Hoàng thổ khắc Thuỷ).
Những chủ đề hình xăm bạn nên chọn : cá, dơi, uyên ương…
Dưới đây mời bạn tham khảo một số mẫu hình xăm hợp với mệnh Thủy:
Cách tra Kiếp Sát là lấy chi ngày (hoặc chi năm sinh) làm cơ sở để tra các địa chi khác trong tứ trụ. Nếu tứ trụ nào ở vào một trong các trường hợp dưới đây là có sao Kiếp Sát nhập mệnh.
(Ảnh chỉ mang tính minh họa)
- Chi ngày (hoặc chi năm) là Dần, Ngọ, Tuất thấy chi Hợi
- Chi ngày (hoặc chi năm) là Thân, Tý, Thìn thấy chi Tỵ
- Chi ngày (hoặc chi năm) là Tỵ, Dậu, Sửu thấy chi Dần
- Chi ngày (hoặc chi năm) là Hợi, Mão, Mùi thấy chi Thân
Ví dụ: Người sinh vào 22 giờ ngày 3/9/1982 (âm lịch) có tổ hợp tứ trụ là: giờ Đinh Hợi, ngày Ất Hợi, tháng Canh Tuất, năm Nhâm Tuất.
Theo trường hợp 1, chi năm Tuất (Nhâm Tuất) gặp chi Hợi của giờ (Đinh Hợi), do vậy tổ hợp này xuất hiện Kiếp Sát.
Người tuổi Ngọ không bao giờ hài lòng với những gì họ đã làm và luôn sợ rằng tài năng của mình sẽ bị mai một. Tuy nhiên, mọi người không thể phủ nhận rằng mỗi
Về tài vận, người tuổi Ngọ ít khi phải lo lắng đến vấn đề tiền bạc. Họ có tài ngoại giao, khả năng ăn nói khéo léo. Chính vì vậy mà những người này thường kiếm tiền và trở nên giàu có dựa trên các mối quan hệ chứ không phải bằng một công việc ổn định cụ thể nào cả. Họ thường làm các công việc mang tính dao động, không chắc chắn. Do vậy, nguồn thu nhập của họ cũng không ổn định, thường là “được ăn cả, ngã về không”.
Cuộc đời những người này thường có nhiều thành công nhưng cũng không ít thất bại. Con đường tài vận của họ cũng giống như vậy. Nếu làm kinh doanh họ có thể lãi to và cũng có thể thua lỗ lớn. Người tuổi Ngọ cần nắm bắt được yếu điểm này để có sự điều chỉnh phù hợp.
Ở tuổi trung niên, họ có thể sẽ được hưởng rất nhiều tài lộc ngoài sự mong đợi như được hưởng thừa kế hoặc trúng số độc đắc.
Tính cách hơi kiêu ngạo, luôn xem mình như “nữ hoàng” và rất rộng lượng với bản thân. Những chuyện phải đụng tay vào thứ không sạch sẽ hay mệt mỏi đều khiến bạn khó chịu. Bạn cho rằng cả ngày ru rú trong nhà để làm những chuyện không tên không phải bổn phận của bậc cao quý như bạn, bạn thích cuộc sống hưởng thụ hơn. Có thể nói, bạn luôn đòi hỏi được chăm sóc chứ không phải mình chăm sóc người khác.
Top 2: Tuổi Thân
Tính cách không chịu an phận nên bạn không thích làm một người phụ nữ của gia đình, nhất là phải động tay vào việc sinh hoạt trong nhà. Bạn thích những cuộc tụ tập bên ngoài hơn là ở nhà. Cho dù miễn cưỡng phải làm cô gái đảm đang thì bạn cũng sẽ khiến mọi thứ rối tung lên mà thôi.
Top 1: Tuổi Ngọ
Làm chuyện gì cũng đòi hỏi nhanh mà không cần chất lượng nên bạn thật sự khó đảm đương tốt chuyện nhà. Bạn có thể xắn tay làm nhưng lại làm qua loa và hỏng hóc, hậu quả còn lại để người khác dọn dẹp và vô tư nghĩ rằng mình “đã có làm” là được rồi. Nếu ai đó chê trách bạn không đảm đang, thậm chí bạn còn tỉnh bơ phản ứng lại rằng người đó ghét mình.
Tuổi Thân và tuổi Hợi có hợp nhau không? Thân và Hợi có nhiều niềm vui khi ở bên nhau. Cả 2 đều là mẫu người vui vẻ, có suy nghĩ tiến bộ và khá nhạy cảm.
Thân và Hợi có nhiều niềm vui khi ở bên nhau. Cả 2 đều là mẫu người vui vẻ, có suy nghĩ tiến bộ và khá nhạy cảm.
Tuổi Thân và tuổi Hợi có hợp nhau không? Hợi thích những đồ ăn ngon, thích tán tỉnh. Những việc rất đơn giản như được ngủ trong 1 chiếc giường thoải mái, hay được đi tắm hơi cũng dễ làm cho Hợi cảm thấy vui vẻ. Thân thì chơi bời và cầu kì hơn Hợi. Sở thích của người tuổi Thân không phải ở nhà mà là đến những bữa tiệc lớn, vui nhộn nơi họ có thể tự do vui đùa. Trong khi Hợi quan niệm gia đình và bạn thân là những thứ quan trọng nhất thì Thân lại đặt sự vui vẻ lên hàng đầu.
Khi yêu nhau, với bản tính ham chơi, người tuổi Thân sẽ tiêu tốn phần lớn thời gian để thuyết phục Hợi đi chơi đó đây. Là người có nhiều ham muốn về “chuyện ấy” nhưng Thân lại không thích trải qua hàng giờ trên giường ngủ. Đôi lúc Thân sẽ cảm thấy chán việc cố gắng thay đổi Hợi và muốn bỏ ra ngoài chơi cho thoải mái. Khi đó, Hợi sẽ phải chấp nhận sự thật vì bản tính của Thân là như vậy. Tốt nhất, Hợi nên rộng lượng và chấp nhận nếu muốn cuộc sống lứa đôi hạnh phúc. Tuy nhiên, đặc điểm này cũng dễ khiến Hợi trở thành người dễ dãi.
Trong làm ăn kinh doanh, nếu biết kết hợp sức mạnh của nhau, Thân và Hợi sẽ xây dựng được sự nghiệp vững chắc và thịnh vượng. Thân thích lãnh đạo, thường là người đại diện cho công ty đi giao thiệp với khách hàng, thuyết phục mọi người vì có kinh nghiệm và khá bạo dạn. Hợi làm việc chăm chỉ theo sự chỉ dẫn của người khác. Tuy nhiên, Hợi cần biết cách để giúp Thân tránh khỏi những rủi ro không đáng có.
Mỗi người khi sinh ra đều có 4 thông tin là năm, tháng, ngày và giờ sinh. 4 thông tin này khi chuyển sang lịch can chi được gọi là tứ trụ . Tứ trụ này quyết định vận mệnh của người đó . Lịch Can Chi không giống với dương lịch hay âm lịch mà chúng ta vẫn thường sử dụng.
I - Tứ trụ Mỗi người khi sinh ra đều có 4 thông tin là năm, tháng, ngày và giờ sinh. 4 thông tin này khi chuyển sang lịch can chi được gọi là tứ trụ . Tứ trụ này quyết định vận mệnh của người đó . Lịch Can Chi không giống với dương lịch hay âm lịch mà chúng ta vẫn thường sử dụng, nên ở đây thống nhất mọi thông tin về lịch phải dùng dương lịch để tính toán cho tiện lợi và tháng 1 dương lịch được gọi là tháng 13 của năm trước đó.
1 – Cách xác định Trụ năm - Tức năm sinh Theo bảng nạp âm 60 năm Giáp Tý thì năm nay 2008 là năm Mậu Tý, năm 2009 là năm Kỷ Sửu,........ . Các năm trước đây hay sau này cứ theo bảng này tra là ra hết. Nhưng năm của lịch Can Chi thường bắt đầu vào ngày 4/2 hoặc ngày 5/2 dương lịch, khác với dương lịch bắt đầu vào ngày 1/1, và càng khác so với Âm lịch tính năm mới theo lịch mặt Trăng. Muốn xác định chính xác năm mới hay các tháng theo lịch Can Chi bạn đọc phải tra theo bảng xác định lệnh tháng phía dưới. Bảng này xác định tháng, ngày, giờ và chính xác tới phút bắt đầu năm mới cũng như tháng mới (lệnh tháng) của lịch Can Chi từ năm 1898 đến năm 2018 (phần này được trích ra từ cuốn sách Lịch Vạn Niên)
Bảng xác định lệnh tháng của lịch Can Chi . (Từ năm 1898 đến năm 2018 theo giờ Bắc Kinh)
……………………………………………………
(Chú ý: Bảng xác định lệnh tháng này của Trung Quốc nên nó được tính theo giờ Bắc Kinh, còn “Ngày giờ Sóc (New Moons) và Tiết khí (Minor Solar Terms) từ 1000 đến 2999“ trên Google là của Việt Nam theo giờ Hà Nội nên giờ giao lệnh ít hơn của Trung Quốc 60’. Hiện giờ tôi chưa biết xác định lệnh tháng theo giờ Bắc Kinh hay Hà Nội là đúng. Phải chăng căn cứ theo múi giờ quốc tế thì cứ ít hơn múi giờ Bắc Kinh bao nhiêu múi thì lệnh tháng phải giảm đi từng ấy tiếng, cũng như cứ nhiều hơn múi giờ Bắc Kinh bao nhiêu múi thì phải cộng thêm từng ấy tiếng theo bảng xác định lệnh tháng ở trên ?) .
Ví dụ : Ngày 4/2 /1968 theo lịch can chi thuộc năm nào? Nó vẫn thuộc năm Đinh Mùi (1967) nhưng tới 2,08’ (1,08’ theo giờ Hà Nội) ngày 05/2/1968 nó mới thuộc năm Mậu Thân (1968). Ví dụ : Lúc 7,59’ngày 04/2/1969 dương lịch thuộc năm nào của lịch can chi ? Đã thuộc năm Kỷ Dậu (1969), còn trước 7,59’ vẫn thuộc năm Mậu Thân (1968). Qua đây chúng ta thấy theo lịch Can Chi thì năm mới được tính chính xác tới phút khi trái đất quay hết một vòng xung quanh mặt trời (không như chúng ta thường tính lúc 0,00’ của đêm giao thừa).
Nghĩa là chúng ta đã có một trụ đầu tiên, đó là trụ năm (tức năm sinh).
2 – Cách xác định Trụ tháng - Tức tháng sinh (lệnh tháng) Theo lịch Can Chi thì tháng đầu tiên của một năm luôn luôn là tháng Dần sau đó là tháng Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất và Hợi. Tháng trong lịch can chi được xác định khác với dương lịch. Muốn xác định chính xác tháng sinh (lệnh tháng) theo lịch can chi bắt buộc bạn đọc phải tra theo bảng xác định lệnh tháng ở trên. Ví dụ : Ngày 07/10/1968 thuộc tháng nào của lịch can chi? Tra bảng ta thấy nó thuộc tháng Dậu, còn từ ngày 08/10/1968 nó mới sang tháng Tuất.
Khi đã biết địa chi của một tháng thì cách xác định can của tháng đó hoàn toàn phụ thuộc vào can của năm đó như sau: Các năm có can là Giáp và Kỷ thì các tháng của năm đó lần lượt là : Bính Dần, Đinh Mão, Mậu Thìn, Kỷ Tị, ...... Đinh Hợi (tức là các can chi phải tuân theo đúng quy luật của vòng tròn đã nói ở trên). Các năm Ất và Canh các tháng là : Mậu Dần, Kỷ Mão, .........., Kỷ Hợi. Các năm Bính và Tân ------------- : Canh Dần,........................., Tân Hợi. Các năm Đinh và Nhâm ----------- : Nhâm Dần, ......................, Quý Hợi. Các năm Mậu và Quý ------------- : Giáp Dần, ........................, Ất Hợi.
Bảng tra can tháng theo can năm
Ví dụ : Can của tháng Thìn của năm 1968 là gì? Tra theo bảng xác định lệnh tháng thì năm 1968 là năm Mậu Thân, vì vậy nó thuộc năm tra theo các can Mậu và Quý. Các tháng của nó lần lượt là : Giáp Dần, Ất Mão, Bính Thìn, Đinh Tị, ........ Do vậy tháng Thìn là Bính Thìn. Đến đây ta có trụ thứ hai, đó là trụ tháng.
3 - Cách xác định Trụ ngày - Tức ngày sinh Trong một năm có các ngày 1/3, 30/4, 29/6, 28/8, 27/10, 26/12 và ngày 24/2 của năm sau có các can chi giống nhau. Cho nên chúng ta thấy can chi của ngày 24/2 và ngày 1/3 trong cùng một năm dương lịch là khác nhau bởi vì thường chúng chỉ cách nhau 5 ngày, còn đối với năm nhuận chúng cách nhau 6 ngày (bởi vì tháng 2 có ngày 29). Dựa vào yếu tố này nếu biết trước can chi của 1 ngày bất kỳ của 1 năm thì qua bảng 60 năm Giáp Tý chúng ta có thể tính được can chi của ngày 1/3 của năm đó, sau đó chúng ta tính được can chi của ngày 24/2 cùng năm và nó chính là can chi của ngày 1/3 của năm trước liền với năm đó. Cứ như vậy ta có thể biết được can chi ngày 1/3 của tất cả các năm (chú ý tháng 2 của năm 1900 mặc dù là năm nhuận nhưng nó chỉ có 28 ngày).
Ví dụ : Ngày 14/7/1968 theo lịch can chi có can chi là gì? Ngày 1/3 của năm 1968 tra theo bảng là ngày Canh Ngọ. Vậy ngày 29/6/1968 cũng là ngày Canh Ngọ (ta chọn nó bởi vì nó gần nhất với ngày cần phải tìm), từ ngày 29/6 đến 14/7 cách nhau đúng 15 ngày, vì vậy theo bảng nạp âm 60 năm Giáp Tý, ngày Canh Ngọ (29/6) sau 15 ngày sẽ đến ngày Ất Dậu (14/7) . Đến đây ta có trụ thứ ba, đó là trụ ngày .
Bảng tra can chi của ngày 1/3 trong các năm từ 1889 đến năm 2008
Dấu * trong bảng là năm nhuận, tức tháng 2 của các năm đó có 29 ngày.
4 – Cách xác định Trụ giờ - Tức giờ sinh Theo lịch Can Chi này họ đã xác định giờ đầu tiên trong một ngày của lịch Can Chi luôn luôn là giờ Tý và các giờ sau tuân theo thứ tự như sau : Từ 23 giờ đến 1 giờ là giờ Tý . Từ 11 giờ đến 13 giờ là giờ Ngọ: Từ 1 --------3 ------------ Sửu Từ 13 --------15 ---------- Mùi Từ 3 ---------5 ----------- Dần Từ 15 ------- 17 ---------- Thân Từ 5 ---------7 ----------- Mão Từ 17 --------19 -----------Dậu Từ 7 ---------9 ----------- Thìn Từ 19 --------21 -----------Tuất Từ 9 --------11 ----------- Tị Từ 21 --------23 ----------Hợi Tức là cứ 120 phút (hai tiếng) tương ứng với một giờ của lịch can chi.
Ví dụ : 23 giờ 18 phút ngày 16/5 thuộc về ngày nào của lịch can chi? Theo lịch can chi thì từ 23,00’ ngày 16/5 trở đi thuộc về ngày hôm sau, tức là phải thuộc ngày 17/5. Khi đã biết Địa chi của giờ rồi thì hàng Can của nó hoàn toàn phụ thuộc vào Can của trụ ngày như sau : Các ngày có can là Giáp và Kỷ có các giờ lần lượt là : Giáp Tý, Ất Sửu, Bính Dần, Đinh Mão, Mậu Thì , ............. , Ất Hợi (các can tuân theo quy luật vòng tròn như đã nói ở trên) . Các can ngày là Ất và Canh có các giờ lần lượt: Bính Tý,.............., Đinh Hợi. Các................... Bính và Tân............................. : Mậu Tý,..............., Kỷ Hợi. Các ...................Đinh –Nhâm ........................... : Canh Tý,.............., Tân Hợi. Các ...................Mậu – Quý ............................. : Nhâm Tý,............., Quý Hợi.
Ví dụ : Các can của giờ Mão và Ngọ của ngày Đinh Dậu theo lịch can chi là gì ? Can của ngày Đinh theo như trên ta có các giờ lần lượt là : Canh Tý, Tân Sửu, Nhâm Dần, Quý Mão, Giáp Thìn, Ất Tỵ, Bính Ngọ, Đinh Mùi, ..... Vì vậy can của giờ Mão là Quý Mão và giờ Ngọ là Bính Ngọ.
Đến đây ta có trụ thứ tư, đó là trụ giờ
Chúng ta đã có đủ bốn trụ của một người.
Ví dụ 1 : Một người sinh ngày 12/11/1965, lúc 8,00 am, có tứ trụ : Năm Ất Tị - tháng Đinh Hợi - ngày Canh Ngọ - giờ Canh Thìn.
Ví dụ 2 : Nữ sinh ngày 5/2/1968 lúc 2,07’ có tứ trụ: Đinh Mùi - Quý Sửu - ngày Ất Tị - Đinh Hợi.
Ví dụ 3 : Nữ sinh ngày 5/2/1968 lúc 2,08’ có tứ trụ : Mậu Thân - Giáp Dần - ngày Ất Tị - Đinh Hợi.
Qua ví dụ 2 và 3 chúng ta thấy hơn nhau 1 phút là sang năm khác, tháng khác và tứ trụ sẽ khác nhau. Cho nên giờ và phút để xác định lệnh tháng là vô cùng quan trọng trong việc xác định tứ trụ. Nếu theo cách xác định mặt trời ở đúng đỉnh đầu tại địa điểm nơi người đó được sinh là 12,00’ thì cách xác định giờ sinh ở bảng trên chỉ đúng với những người được sinh ở vị trí đúng giữa múi giờ đó, còn những người được sinh trong cùng một múi giờ mà ở càng xa điềm giữa của múi giờ đó về hai bên thì sai số về phút càng lớn (có thể từ -60’ tới +60’). Cho nên trong các trường hợp này tốt nhất là lấy cả hai tứ trụ để dự đoán. Đến khi trong thực tế xẩy ra các sự kiện phù hợp với tứ trụ nào thì tứ trụ đó mới được xem là chính xác cho người đó.
Bảng tra can giờ theo can ngày
Theo tôi chỉ khi nào con người xác định được trụ thứ 5, tức trụ phút này thì môn dự đoán theo Tứ Trụ mới thật sự là hoàn hảo. Bởi vì như chúng ta thấy bốn trụ không có tính đối xứng mà trụ ngày phải ở giữa và mỗi bên phải có hai trụ mới hợp lý. Hơn nữa chúng ta thấy cách xác định trụ tháng và trụ giờ giống nhau bởi đơn vị 12 (12 tháng, 12 giờ), còn cách xác định trụ năm và trụ ngày giống nhau bởi đơn vị 60 (tuân theo bảng nạp âm 60 năm Giáp Tý) thì không có lý do gì để không sử dụng trụ phút cũng được xác định theo đơn vị 60 (cứ hai phút bình thường được tính thành một phút theo lịch Can Chi và nó cũng tuân theo bảng nạp âm 60 năm Giáp Tý).
Theo sự suy luận của tôi thì cách xác định phút nó cũng giống như cách xác định năm và ngày của lịch can chi, nhưng chúng ta không biết Họ đã dựa vào nền tảng nào để xác định chúng. Bởi vậy muốn xác định phút theo lịch can chi, chúng ta phải có một vài ví dụ của những cặp sinh đôi chỉ cách nhau vài phút. Dùng phương pháp suy luận ngược, chúng ta dựa vào những sự kiện lớn đã phát sinh ra của các cặp sinh đôi này như tai nạn, ốm đau, ... , nhất là cái chết của họ và nếu chúng ta sử dụng phương pháp tính điểm hạn này để tính các điểm hạn thì may ra có thể xác định được chính xác can chi của phút sinh của mỗi người này. Sau đó các phút khác sẽ được xác định theo bảng nạp âm 60 năm Giáp Tý, hoàn toàn tương tự như xác định năm và ngày. Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Ngọc Sương (##)