Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

Ý nghĩa của số hạt châu trên tràng hạt niệm Phật

Số lượng hạt châu trong tràng hạt niệm Phật là những con số có ý nghĩa nhất định, biểu đạt những mục đích và điển tích khác nhau.
Ý nghĩa của số hạt châu trên tràng hạt niệm Phật

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Ngày càng nhiều người tin rằng, tràng hạt niệm Phật mang tới may mắn, bình an và nếu mang theo người thì mọi chuyện sẽ thuận buồm xuôi gió. Số lượng hạt châu trong tràng hạt là những con số có ý nghĩa nhất định, biểu đạt những mục đích và điển tích khác nhau.


Y nghia cua so hat chau tren trang hat niem Phat hinh anh
 
Tràng hạt niệm Phật có 108 hạt châu là phổ biến nhất, đại biểu cho 183 mê muội, đoạn trừ 108 loại phiền não, cả thể xác và tinh thần đạt tới trạng thái tĩnh tại.   Tràng hạt niệm Phật có 1080 hạt châu dựa theo lý luận Ấn Thiên Thai Tông, mười giới đều có đủ thiện ác, 108 phiền não ở mười giới, hợp thành 1080 loại phiền não. Mười giới tức 1. Địa Ngục giới, 2. Ngạ Quỷ giới, 3. Súc Sinh giới, 4. Tu La giới, 5. Nhân Gian giới, 6.Thiên Thượng giới, 7. Thanh Văn giới, 8. Duyến Giác giới, 9. Bồ Tát giới, 10. Phật giới.   Cũng có những tràng hạt chỉ có 54 hạt châu, đại diện cho quá trình tu hành 54 cấp bậc của Bồ Tát: thập tín, thập trụ, thập hành, thập hồi hướng, thập địa và 4 thiện căn.   7 nguyên tắc phong thủy tối cần thiết khi đặt cây hoa trong nhà
Sử dụng thực vật trong phong thủy nhà ở không chỉ giúp vận khí của ngôi nhà tốt lên mà còn tạo môi trường sống đẹp, trong lành. Nhưng việc

Tràng hạt 42 hạt châu đại diện cho quá trình tu hành 42 cấp bậc của Bồ Tát: thập trụ, thập hành, thập hồi hướng, thập địa, đẳng giác và diệu giác.
  Tràng hạt 36 hạt châu có ý nghĩa giống như tràng hạt 108 hạt châu, vì 1/3 của 108 là 36, ẩn chứa hàm nghĩa lấy tiểu gặp đại. Loại này nhỏ gọn nên dễ mang theo người. Tràng hạt 27 hạt châu hàm ý tu hành tứ hướng, tứ quả là 27 vị hiền thánh, tức thập bát La Hán cùng 9 vị đệ tử của La Hán.  
Y nghia cua so hat chau tren trang hat niem Phat hinh anh
 
Tràng hạt 18 hạt châu đại diện cho 18 giới, tức lục căn, lục trần, lục thức.  Lục căn: 1. nhãn giới, 2, nhĩ giới, 3. tị giới (mũi); 4, thiệt giới (lưỡi), 5. thân giới, 6. ý giới. Lục trần: 1.sắc trần, 2. thanh trần, 3. hương trần, 4. vị trần, 5. xúc trần, 6. pháp trần. Lục thức: 1. nhãn thức, 2. nhĩ thức, 3. tị thức, 4. thiệt thức, 5. thân thức, 6. ý thức.
Tràng hạt 14 hạt châu đại diện cho 14 vô úy của Bồ Tát, được thập phương, tam thế, lục đạo đều ngưỡng mộ.
=> Xem thêm: Ngũ hành tương sinh và những ảnh hưởng đến cuộc đời, vận mệnh

Tâm Lan  
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Ý nghĩa của số hạt châu trên tràng hạt niệm Phật

Tử Vi Lý Số: Tử vi theo quan điểm khoa học (tiến sĩ Hứa Hưng Trí, Đài Loan)

Một bài viết về vấn đề Tử vi theo quan điểm triết học của TS Hứa Hưng Trí. Mời bạn đọc tham khảo.
Tử Vi Lý Số: Tử vi theo quan điểm khoa học (tiến sĩ Hứa Hưng Trí, Đài Loan)

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Quan điểm khoa học về mệnh vận

Tác giả: Tiến sĩ Hứa Hưng Trí, Đài Loan

VDTT phỏng dịch

(nguyên tác “Mệnh vận đích khoa học quan”, trang 186-195, sách “Tùng khoa học quan điểm khán tử vi đẩu số”, Hứa Hưng Trí, nxb Thời Báo Văn Hóa, Đài Bắc, 1995).

LỜI ĐẦU: Tiến sĩ Hứa Hưng Trí người huyện Cao Hùng, Đài Loan, sinh năm 1934, du học Mỹ và Nhật Bản, tốt nghiệp tiến sĩ dược khoa. Là giáo sư dược, đồng thời là chuyên gia nổi tiếng của Đài Loan về dược liệu và các vấn đề kỹ thuật.

Mặc dầu thuộc giới khoa bảng được huấn luyện trong môi trường khoa học tân tiến, tiến sĩ Trí lại nghiên cứu Tử Vi (dĩ nhiên bằng nhãn quan khoa học) và đạt nhiều thành tựu đáng kể. Bài dưới đây của ông vì thế không chỉ đơn thuần là chỉ trích, mà còn có tính điều chỉnh, sửa sai nhằm giúp khoa tử vi có chỗ đứng khoa học vững chắc hơn.

Để tránh những hiểu lầm đáng tiếc có thể xảy ra, dịch giả xin chú thích tại chỗ hai điểm sau:

Thứ nhất: Bài này là quan điểm của tiến sĩ Hứa Hưng Trí. Cá nhân dịch giả mặc dù đồng ý trên đại thể nhưng cũng có nhiều điểm bất đồng. Viết rõ thế để nhấn mạnh rằng bài này được đăng không phải vì dịch giả muốn xiển dương quan điểm của tiến sĩ Hứa Hưng Trí, mà chỉ cốt giúp độc giả biết thêm một quan điểm của giới khoa học ở Đài Loan, nơi mà khoa tử vi vừa trải qua một giai đoạn trăm hoa đua nở kéo dài hơn 20 năm.

Thứ hai, về danh từ “người Trung quốc” xuất hiện vài lần trong bài này. Tình hình chính trị của Đài Loan những năm gần đây rất phức tạp. Có một số khá lớn người Đài Loan không xem mình là người Trung Hoa (mà là người Đài Loan, bản xứ hoặc hậu duệ của người Mân Việt, tức một chi của Bách Việt cổ). Quan điểm này dẫn đến phong trào đòi Đài Loan độc lập và mối họa bị hoa Lục xâm lăng. Để tránh né phần nào hoàn cảnh nóng bỏng này, tiêu chuẩn của chính phủ Đài Loan cũng như giới truyền thông (trong đó có sách báo) là cường điệu ba chữ “người Trung quốc”. Ngắn gọn, khi thấy một người Đài Loan xưng mình là “người Trung quốc” trước công chúng hoặc trên giấy mực, ta đừng vội cho rằng họ nói thật lòng mình.

MỘT

Hai chữ “mệnh vận” trong miệng người Trung quốc thật ra là một danh từ cổ cực kỳ trừu tượng, khó mà định nghĩa rõ ràng.

Thông thường, hơn nửa cho rằng (mệnh vận) do đời trước chủ định, diễn trình hoàn toàn có tính bị động chẳng thể cưỡng lại được; ta vừa sinh ra đã bị an bài trong quỹ đạo của đời sống, không có sự chọn lựa, trượt đi trên con đường độc đạo ngoài sự điều khiển của bản thân, cho đến tận điểm cuối cùng là sự chết, rồi lại đợi khi tiếp tục luân hồi.

Nhận định sai lầm này chẳng qua là một nhân sinh quan ngu xuẩn (chú 1) do tinh tượng mệnh quan của thời cổ đại (chú 2) kết hợp với tôn giáo huyễn hư tạo thành.

Tiến sĩ Lý Ước Sắt (chú 3) cho rằng, trong các hệ tư tưởng cổ đại của Trung quốc thì nho gia và đạo gia tiếp thụ thế giới tương đối có lý tính, còn Phật giáo và đạo giáo (chú 4) thì ức chế sự phát triển của khoa học đông phương. Tạm chưa luận lời phê bình của Lý tiến sĩ là đúng hay sai; ta không thể phủ nhận trong thời cổ đại với sinh hoạt bất an, nơi nơi dẫy đầy tật bệnh tử vong thống khổ sợ hãi, tôn giáo đã cho người dân dưới các chế độ chính trị hà khắc một nguồn hy vọng, một nơi ký thác. Đồng thời ta cũng không thể hoàn toàn bỏ qua tác dụng là khiến người ta trốn chạy thế giới, gây ra ý niệm tiêu cực không dám đối diện thực tế; rốt ráo dẫn đến sự lạc hậu về khoa học.

Trong xã hội quốc tế hiện đại hóa, chúng ta thấy rõ các địa khu càng mê tín thì khoa học càng lạc hậu, xã hội càng nghèo khó, quốc gia càng biến động loạn lạc. Nếu bình thản kiểm thảo đời sống con người, các yếu tố ảnh hưởng đến sự biến hóa của “tinh thần”, “nhục thể”, và “vật chất” đại ước có thể phân làm ba loại chính:

1. Điều kiện khởi từ ta: Bao quát các điều kiện có tính tiên thiên như tinh thần, tâm lý, nhục thể do thiên phú bẩm sinh, di truyền v.v… và các điều kiện có tính hậu thiên như học tập, nỗ lực, học lực, công việc, kinh nghiệm, cùng với khả năng thích ứng hoàn cảnh v.v…

2. Điều kiện quan hệ nhân tế: Trong thì có lục thân, dòng tộc, gia đình; ngoài thì có điều kiện liên hệ xã hội như bạn học, bạn bè, bạn làm việc, cấp trên, cấp dưới, khách hàng v.v…

3. Điều kiện hoàn cảnh xã hội, hệ thống bên ngoài: Các quy phạm của chế độ như thời đại, tập tục xã hội, văn hóa, khoa học kỹ thuật, chính trị, kinh tế v.v… ảnh hưởng đến vấn đề cơm áo đi lại, và điều kiện hơn thắng kém thua.

“Mệnh” là khái niệm mang nặng tính tiên thiên của những điều kiện “khởi từ ta”: Thân ta không do ta quyết định, mọi điều kiện bất bình đẳng đã có từ lúc ta sinh ra… “Vận” diễn tả sự phát huy, tiêu trưởng biến hóa của điều kiện tiên thiên, là tiết tấu hoặc hình sóng của những ưu điểm hiện rõ hoặc khuyết điểm bạo lộ, những nhân tố chủ yếu tùy mỗi giai đoạn thời gian biến hóa ảnh hưởng đến ý nguyện, tâm thái của cá nhân.

Mười hai cung Tử Vi chưa lường đến các điều kiện hậu thiên “khởi từ ta” như ý hướng thăng cao, nỗ lực, chọn lựa đường hướng v.v… cũng không có công năng trù tính các điều kiện thời đại, hoàn cảnh. Muốn hiểu rõ đời sống của một người, đầu tiên phải biết phối hợp các điều kiện tiên thiên và hậu thiên, biến chúng thành điều kiện cá nhân xem ra sao đã; sau đó lại phải xét xem cá nhân với các điều kiện ngoại tại như thời đại, hoàn cảnh v.v… hợp nhau thế nào, phát sinh những tình huống nào. Ấy bởi vì tiêu chuẩn giá trị vốn tùy theo hoàn cảnh mà khác nhau, điều kiện hơn được kém thua cũng theo đó mà biến hóa. Hai người tư chất giống nhau có thể vì đường đi định bởi ý nguyện, nỗ lực khác nhau mà gặp may mắn hoặc bất hạnh khác nhau; cũng có thể vì hoàn cảnh sinh hoạt khác nhau mà thành tựu cao thấp khác nhau.

Con người hiện đại không thể không nhận biết sự thật cực kỳ trọng yếu là “Con người là sinh vật của hoàn cảnh”. Điều kiện cá nhân như hạt giống, hoàn cảnh như đất đai khí hậu. Trong hoàn cảnh tốt đẹp cho sự phát triển học thuật ở Hoa Kỳ, các Hoa kiều với tư chất đặc biệt đã có bốn vị được giải Nobel. Chẳng ai dám nói nếu ở lại Đài Loan họ cũng thành tựu tương tự. Sinh hoạt trong cảnh học thuật èo uột của xã hội “quan lớn học vấn cũng lớn” nhất định có nhiều người thông minh tài trí chẳng thua gì bốn vị kể trên nhưng vì thiếu hoàn cảnh nghiên cứu tốt đẹp nên rốt cuộc mai một; đây cũng ví như trong thế kỷ 20 mang hạt lê đến Ả Rập Saudi mà trồng, tuyệt đối chẳng thể kỳ vọng khai hoa kết trái cho được.

HAI

Tìm hiểu mệnh vận chẳng qua là nỗ lực “tri kỷ” (biết ta), với mục đích là phối hợp với “tri bỉ” (hiểu rõ những điều kiện ngoại tại “không phải ta”) để chọn lựa và quyết định con đường thích hợp nhất. Bói toán (chú 5) truyền thống đã diễn giải sai quan hệ này, ru ngủ thường dân, gây ra tai hại hết sức to lớn cho sức sống của dân tộc. Lỗi lầm này không thể tiếp tục dung dưỡng mãi được. Tệ hại nhất là những trò “cải mệnh”, “cải vận” của bói toán. Một số thuật sĩ giang hồ lợi dụng tâm lý bất an, sợ hãi của dân chúng, và nhược điểm của con người là không chịu nhọc công mà muốn được hưởng quả, đặt ra chuyện hối lộ quỷ thần để cải vận. Hành vi tệ hại này một khi tích lũy, bói toán trở thành một loại sinh hoạt hạ tiện xa rời kiến thức hiện đại, không thể không nói là một lỗi sai đáng nhục.

Mệnh vận chẳng qua là điều kiện nội tại của một cá nhân, lực không mạnh bằng điều kiện quần thể của xã hội. Điều kiện quần thể của xã hội lại không mạnh bằng lực tự nhiên của phép tắc khoa học. Xã hội tiến bộ, sự chọn lựa đa dạng hóa, chế độ phép tắc xác định rõ ràng, nghĩa chung của xã hội mở rộng; trong hoàn cảnh khách quan đó mà ỷ lại vào thủ thuật bất thường “quậy nước mò cá” thì khả năng thành công càng ngày càng giảm. Cho nên, chỉ khi nào điều kiện trong ngoài phối hợp tốt đẹp, cát hung trong việc đoán mệnh mới có ý nghĩa. Như một em bé thiên tư thông huệ được thầy giỏi chỉ dạy, gia đình tài bồi, thêm hoàn cảnh xã hội giúp cho thi triển, thì mới có thể sáng tạo bùng vỡ; lại như một nhân viên công chức trừ phi lạm dụng đặc quyền phạm pháp tham ô không kể, khi đến tài vận chẳng thể nào có “tài” gì để phát, tài vận thêm tốt cũng chỉ là chuyện nói chơi thôi; (lại như) một vị học giả kiên trì nghiên cứu, gặp cung tài hóa ba Kỵ (chú 6) thì có “tài” gì để mà phá?

Trong đời sống hiện thực, tuyệt nhiên không có chuyện giản dị là “vào hạn tốt nhất định tốt, vào hạn xấu nhất định xấu”. Trong xã hội Đài Loan bảo thủ khép kín, năng lực của một người không quan trọng bằng quan hệ giao tế; muốn thăng chức đầu tiên phải nói đến quan hệ, kế đó mới đến năng lực. Một phần của quan hệ đến từ yếu tố tiên thiên (như con nhà gia thế chẳng hạn), một phần đến từ yếu tố hậu thiên do ta kinh doanh; nhưng trừ phi cố gắng tu trì, biến cải tâm thái, không nhiều thì ít cũng bị yếu tố tiên thiên lấn áp.

BA

Trong xã hội khác nhau, hoàn cảnh sinh tồn khác nhau, cách định giá mệnh cách tốt xấu cũng có nặng nhẹ khác nhau, đó chính là cái lý “thích ứng sinh tồn, hơn thắng kém thua”. Hiểu rõ thực tế ấy thì mới đào sâu được cái lợi ích tích cực của mệnh vận, chứ không phải là dùng mệnh vận làm nguồn an ủi, trốn chạy cái cảm giác thất bại. Có một số sinh viên đại học nghiên khảo tử vi chủ trương đặt giá trị của mệnh lý vào tầng diện tiêu cực, coi quan điểm cho rằng số mệnh không cưỡng được như một loại tôn giáo tín ngưỡng dựa trên tâm lý bình thường. Tôi thấy đây chẳng phải là điều hay, phản lại e là tăng cái nguy của họa ngu dân.

Cách cải vận chân chính là gặp điều kiện ứng với hoàn cảnh bất lợi thì dùng phép tắc khoa học, suy luận tri thức và công phu cá nhân để giảm thiểu những cảm tính, tâm thái khuyết hãm, bất lợi đến tự chính ta; cơ bản là điều chỉnh lực điểm của điều kiện chủ quan đến từ ta, rồi lại tái điều chỉnh cho đến khi điều hòa với hoàn cảnh bất khả kháng. Bởi thế, cải vận chẳng phải là chuyện nhẹ nhàng dễ làm, càng không phải là chuyện hối lộ các quỷ thần có tiếng huyền diệu; mà là đi thuyền trên giòng nước ngược, là nỗ lực phản lại cái ý đến từ ta, và khắc phục cái xung động của cảm tính, thêm vào với việc vận dụng tri thức khoa học và hoàn cảnh xã hội để tự giúp ta phát triển.

Người Trung quốc rất trọng “quý nhân”. Họ bị hấp dẫn hơn hết bởi tình tiết “anh hùng cứu mỹ nhân” trong ca, kịch, sách, tiểu thuyết, theo công thức “mưa đúng lúc”, giữa lúc hiểm nguy đột nhiên quý nhân xuất hiện. Thanh Thiên đại nhân một lúc thành kẻ chịu hàm oan, không người giúp đỡ, ký thác tâm linh… Muốn thâm cứu mệnh học, không thể để rơi vào loại bệnh thái kỳ cục này.

Người Trung quốc cũng rất thích nói đến “duyên phận”. “Duyên” căn bản là ngôn ngữ tôn giáo nhưng đã thấm sâu vào cái ý niệm trừu tượng đầy tính bị động, không-thể-cưỡng-lại-hoàn-cảnh của họ. Hơn nghìn năm nay, quan điểm này đã thấm sâu vào mô thức suy nghĩ, thành một cách trốn thoát khỏi trách nhiệm: Sinh ly tử biệt thì nói là duyên tận, hôn nhân thành bại tất (nói) là do tiền thế chi phối.

Người bạn tôi có cô con gái đã ba mươi tuổi chưa lập gia đình. Cha mẹ mười phần nóng nẩy, muốn biết khi nào mới gả con đi được. Sau khi phân tích ra týp tâm lý của tiểu thư (chú 7), tôi phát hiện cô là người cẩn thận, nội hướng lại nghiêm túc. Tôi bảo với người bạn rằng, giả như chờ quý thiên kim (chú Posted Image tự đi tìm đối tượng, đợi lương duyên, rất có thể sẽ lỡ hết thời xuân. Như quả muốn tính chuyện hôn nhân, cha mẹ phải tích cực động viên thân bằng quyến thuộc giới thiệu đối tượng, tạo cơ hội cho con gái mình, cho con mình được tiếp xúc nhiều, có nhiều sự lựa chọn. Riêng bản thân cô con gái cũng cần biết khuyết điểm của mình, chú ý lựa chọn người phù hợp, không thể quá phần khó tính.

Đây chỉ là chuyện thường thức đơn giản, (vậy mà) vợ chồng người bạn tôi nghe qua như nằm mộng bừng tỉnh dậy, cám ơn tôi liền ba bốn bận. Hiện trạng loại này khiến ta cảm khái, tự hỏi những huyền thoại (chú 9) truyền thống đã hại bao nhiêu người Trung quốc rồi!

BỐN

Tóm lại, trong ba điều kiện lớn ảnh hưởng đến đời người đã trình bày ở trên, mệnh vận mặc dù có tùy cá nhân mà khác biệt, song không phải là yếu tố quyết định duy nhất. Cho nên, lấy tất cả những tế ngộ của đời người quy về mệnh vận là một loại chạy trốn hiện thực, một hành động co rụt lìa xa thường thức.

Nhiều trường hợp tế ngộ, có một số cái nhân khởi từ ta hoặc cái nhân dính líu đến ta đóng vai trò quan trọng thì thuộc phạm trù tham thảo của mệnh vận. Nhưng cũng có chẳng ít trường hợp tế ngộ do nguyên nhân ở ngoài ta (vượt quá ta) tạo thành, thì chẳng thể nào dùng mệnh vận mà nghị luận được.

“Mệnh vận” và “tao ngộ” tuyệt nhiên không phải là hai từ đồng nghĩa; sự phân biệt này hết sức quan trọng. Người xưa vì không biết mà cuồng vọng, vọng tưởng; giảng ra rằng đời sống nhất luật là quan hệ nhân quả; như có người sinh ra đã lắm bệnh, khiến gia đình hao hết gia tài, rồi chết đi ở tuổi ấu thơ; người xưa bảo “Đó là chủ nợ kiếp trước, kiếp này lại đòi nợ!” Ai mà biết chuyện kiếp trước? Ước đoán quá nhiều cốt cho phù hợp với thần thoại chẳng phải là văn hóa lành mạnh. Thiên tai nhân họa chẳng phải mệnh vận, có người bị chết, có người được cứu, nhất định nguyên nhân chẳng phải là điều kiện đến từ ta hết cả, mà còn có một phần do xác xuất, ngẫu nhiên nữa. Mệnh vận rốt ráo chỉ là những điều kiện cá nhân bao hàm trong 12 cung tử vi mà thôi, không hơn và không kém.

Hình vuông lớn bằng bốn cung ở giữa lá số (ứng với) cái lớn của “thái nguyên thuật”, “thái” ám chỉ cấp tuyệt đối, thuộc điều kiện ngoại tại ngoài tầm tay của ta (chú 10); cộng với giáo dục, cảnh ngộ là những yếu tố hậu thiên. Lý này phải được tôn trọng, không thể tùy ý thổi phồng thành sai hỏng, tạo ra sự siêu việt vô lý. Lên lớp, đi thi rõ ràng là cạnh tranh dựa vào trí lực và nỗ lực tích lũy lâu năm; giải quần vợt rõ ràng là loại tỉ thí đòi hỏi công trình tập luyện dài lâu về kỹ thuật cũng như thể lực; tưởng rằng có thể mang lý tiêu trưởng của lưu niên ra dự đoán thắng thua là tự căn bản đã rời xa cái phép tắc của kinh nghiệm là “phải có nhân trước rồi mới bàn đến quả”.

Không chịu nhìn thẳng vào cái giới hạn của mệnh vận, lầm lẫn cho rằng mệnh vận quyết định tất cả; tìm hiểu mệnh vận như thế thì biến thành một người đầu óc chất phác giải đáp một câu đố khó, so với chuyện chơi xổ số ở Đài Loan nào có khác gì (xem thêm phần chú thích của tác giả ở cuối bài).

Một người bạn nghiệp dư (chú 11) trình độ đại học bảo tôi rằng những lý luận mà tôi đề ra đều đúng, các xã hội dân chủ pháp trị quả như thế, nhưng mà nhiều lá số ông đã xem qua lại chẳng hoàn toàn như thế, bởi vì nhiều hoàn cảnh thực tế không tuân theo diễn biến thường tình, có khi ở chỗ không bảng mà đưa bảng ra -tức là làm ngược- lại thành ra có kết quả. Vì vậy ông hoài nghi, chẳng biết đoán mệnh có thuộc loại thuật dự đoán không dựa trên lý lẽ hay không. Tôi thì chẳng thấy như vậy. Thuật đoán mệnh đáng tin cậy tất phải có căn cứ và phương pháp, tuyệt chẳng thể đoán loạn xạ như người đánh bạc. Xã hội có một số sự kiện dị thường, đó là do những chuyện kỳ cục phát triển mà thành, như theo pháp luật lẽ ra bị xử thua, nhờ tặng hồng bao (chú 12) mà được xử thắng, đó chỉ là luật thường của hoàn cảnh, chẳng thể coi là việc không lường được. Ở một số quốc gia lạc hậu, giết người “có lý do” có thể được miễn tội, với các xã hội văn minh đây quả là chuyện kỳ cục, nhưng ở các quốc gia ấy lại là chuyện thường tình.

Luận mệnh phải suy tư tận lẽ về hiệu ứng của các nhân tố này, bởi chúng và 12 cung tử vi là hai loại dữ kiện khác nhau, thiên vạn không thể trộn vào nhau thành một chuyện. Những việc mà 12 cung tử vi diễn tả toàn thuộc về điều kiện cá nhân, và thiên về các hình loại bẩm sinh, chỉ là tín hiệu về các hình loại có tính lịch sử đã được biết rồi. Nếu muốn căn cứ vào đó mà đoán con người trong một hoàn cảnh nào đó, trong một cảnh ngộ hoặc thất bại nào đó sẽ phản ứng ra sao, qua một diễn trình lịch duyệt, tập luyện sẽ thành tựu thế nào thì tất phải nghiên khảo xem các nhân tố nội ngoại hỗ ứng ra sao, lại phải thêm ý nguyện, nỗ lực cá nhân vào mà cân nhắc định lượng; những yếu tố này tuyệt chẳng đơn thuần nằm hết trong mệnh lý. Phép luận này đòi hỏi học thức cao thâm, kinh nghiệm dạn dày, lịch duyệt quảng đại, bác học tinh thông nhân tình thế thái mới mong làm nổi. Lời bàn thống hợp cũng chỉ là một tấm địa đồ dùng để tham khảo, không thể bảo đảm nhất định phải ra như vậy.

Đời sống con người là một kết quả của nhiều biến số kết hợp chồng chéo phức tạp với nhau. Những gì chúng ta lấy hết sức bình sinh ra tìm hiểu được chẳng qua chỉ là những phần hiện ra ngoài, những mạch thô sơ chính yếu mà thôi. Tuyệt đối chẳng thế nào nắm vững các tình tiết li ti. (Thế nhưng) Lấy kinh nghiệm ấy làm kim chỉ nam cho đời sống, nói chung vẫn hơn kẻ mù mò mẫm rất nhiều. Giá trị của việc tìm hiểu mệnh lý chính là như vậy.

Đối với sự kiện mệnh lý không chính xác lắm, chỉ có thể họa cho ta những nét chấm phá các bạn trẻ chắc chắn cảm thấy vô cùng thất vọng. Chúng ta khát vọng một phép dự đoán tương lai có tính khẳng định, rõ ràng mà lại chính xác. Khoa học hiện đại không thỏa mãn được khát vọng ấy. Phép đoán mệnh truyền thống mạnh miệng bảo đảm là thỏa mãn được, nên (các bạn ấy) mới nguyện ý tin tưởng mệnh vận. (Thiết nghĩ các bạn ấy) cần phải điều chỉnh tâm lý này lại cho phù hợp với tri thức trưởng thành. Thế gian vốn có rất nhiều sự thật chúng ta không thích mà chẳng thể nào thay đổi được./ &n bsp;

Hứa Hưng Trí, 1995

VDTT phỏng dịch

5 tháng 8, 2005

Phần chú thích của tác giả Hứa Hưng Trí

Nếu chỉ đơn thuần dựa vào mệnh vận cá nhân mà xác định được thành bại; rõ hơn nếu sự thành bại trong sự nghiệp, việc sống chết của con người đều do mệnh vận quyết định mà không cần biết đến yếu tố khách quan nào khác, thì ta có thể tiến hành một cuộc thí nghiệm phản chứng. Chúng ta kiếm một người có mệnh cách vinh hoa phú quý, tại lưu niên có ba Lộc giao trì (chú 6), rồi bảo người ấy nằm trên đường rầy xem thử có bị xe lửa cán chết không. Nếu cán không chết thì quả đúng là vận tốt xe lửa cán không chết. Tôi dám lấy hết tài sản đánh cuộc với bất cứ ai là người ấy sẽ bị cán dẹp vụn, máu thịt bầy nhầy.

Đài Loan có câu tục ngữ “tiền không có hai đồng không kêu”, mọi hiện tượng muốn phát sinh tối thiểu phải có nội nhân tố và ngoại nhân tố; toán học gọi là điều kiện cần và điều kiện đủ. Mệnh vận là nội nhân tố, điều kiện khách quan và phép tắc khoa học là ngoại nhân tố. Ngoại nhân tố mạnh hơn nội nhân tố nhiều (người xưa nói là “hình thế mạnh hơn người”, dân Đài Loan thì nói “chiếm được địa vị tốt thì thắng Đổng chưởng pháp”). Cho nên chỉ có nội nhân tố không thể xem là tất nhiên được. Thành công tương đối khó khăn là vì nội ngoại nhân tố phải phối hợp hoàn mỹ. Thất bại tương đối giản dị vì chỉ cần -hoặc nội nhân tố hoặc ngoại nhân tố- một trong hai có vấn đề. Chẳng hạn như muốn xe hơi chạy được tất nhiên công năng của mỗi bộ phận đều phải ở trong tình trạng chính thường; nhưng muốn chạy không nổi chỉ cần tháo bỏ vít lửa hoặc gỡ một bánh mang đi là xe phải dừng ngay. Ngoại nhân tố vượt quá sức của cá nhân, chẳng thể khống chế hoặc đối kháng. Chúng ta chỉ có thể nắm vững và khống chế được nội nhân tố. Phương sách là hiểu rõ và điều chỉnh nội nhân tố, rồi phối hợp với ngoại nhân tố mà tranh thủ cơ hội, giảm thiểu tai hại. Nhận rõ được quan hệ này thì nghiên cứu mệnh vận mới có giá trị./

VDTT phỏng dịch

Phần chú thích của dịch giả

  1. Lời phê bình này khá nặng nề. Dịch giả không đồng ý, nhưng quyết định giữ nguyên ý để độc giả rộng đường luận xét.
  2. “Tinh tượng mệnh quan” rất khó dịch xuôi, đại khái là khái niệm về số mệnh khởi từ những hiện tượng thiên văn mà người xưa quan sát thấy và cho là có liên hệ mật thiết với đời sống.
  3. Tác giả Hứa Hưng Trí cũng không chú thích nên dịch giả không rõ tiến sĩ Lý Ước Sắt là nhân vật nào.
  4. Tiến sĩ Lý Ước Sắt có vẻ phân biệt đạo gia và đạo giáo, không hiểu dựa trên cơ sở nào. Người Việt ta nói chung đều coi là một, thuộc hệ suy tư Lão Trang cả.
  5. Nguyên văn là “Túc mệnh”; rất khó dịch. Hai chữ “bói toán” chỉ là phỏng dịch mà thôi.
  6. Đây là cách xem dựa trên lưu tứ hóa khá thông dụng ở Đài Loan. Như sinh năm Giáp ở Tuất có Thái Dương hóa Kỵ, khi đại hạn vào Tuất thì Thái Dương bị thêm đại hạn Kỵ, trong đại hạn ấy lưu niên vào năm Giáp tất lưu niên hóa Lộc cũng ứng vào Thái Dương, là thêm một Kỵ nữa, thành ba Kỵ (nguyên thủy, đại hạn, lưu niên). “Ba Lộc giao trì” là ba sao hóa Lộc cùng cung hoặc xung chiếu.
  7. Cách phân tích này nói chung phối hợp hai phái phân tâm của Adler và Jung. Ở Hoa Kỳ được xử dụng khá nhiều để nhận định cá tính con người.
  8. Con gái người ta, mình tỏ ý trọng thì gọi là “quý thiên kim”. “Quý thiên kim” đây tức cô gái 30 tuổi đã đề cập ở trên.
  9. Tác giả dùng chữ “mê tư” là chữ phiên âm có nghĩa của danh từ Anh ngữ “myth”. Myth nghĩa là huyền thoại nên đây chỉ dịch là “huyền thoại”.
  10. Đoạn này ngắn nhưng rất khó hiểu. Dịch giả không chắc đã dịch đúng nghĩa mong muốn của tác giả. Âm Hán Việt nguyên văn là “Tại mệnh bàn cách thức trung ương đích đại tứ phương cách – ‘Thái nguyên thuật’ đích đại ‘Thái’ đích tuyệt đối hạng”. (Vì ở phần khác của sách ông Trí cho rằng Tử Vi được gợi ý từ thuật Thái Nguyên, một phép tính đại số do toán học gia Chu Thế Kiệt đời Nam Tống nghĩ ra) dịch giả phỏng đoán ý của ông Trí là: Hình vuông lớn ở giữa lá số tử vi vì lớn bằng 4 cung nên phải ứng với những yếu tố tối quan trọng, nhưng cung này tử vi không an sao, có nghĩa đây là yếu tố quan trọng mà khoa tử vi không biết nổi.
  11. “Bạn nghiệp dư” đây ắt hẳn là bạn nghiên cứu tử vi. Vì có nghề nghiệp khác, nên tử vi chỉ là “nghiệp dư” thôi (tác giả, tức tiến sĩ Hứa Hưng Trí, cũng thế).
  12.  “Hồng bao” nguyên là bao giấy đỏ đựng tiền lì xì, ở Đài Loan khi tặng tiền người ta cũng hay dùng phong bì đỏ, nên “tặng hồng bao” là tiếng lóng thông dụng, ám chỉ việc hối lộ.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tử Vi Lý Số: Tử vi theo quan điểm khoa học (tiến sĩ Hứa Hưng Trí, Đài Loan)

Các giờ xấu cho từng việc cụ thể –

2.1. Giờ “Sát chủ” rất xấu, tránh động thồ, khởi công làm nhà Tháng Giêng và tháng Bảy: giờ Tý (23 giờ đến 1 giờ sáng). Tháng Hai và tháng Tám: giờ Sửu (1 giờ đến 3 giờ sáng). Tháng Ba và tháng Chín: giờ Dần (3 giờ đến 5 giờ sáng). Tháng Tư và tháng

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

be tong

2.1. Giờ “Sát chủ” rất xấu, tránh động thồ, khởi công làm nhà

  1. Tháng Giêng và tháng Bảy: giờ Tý (23 giờ đến 1 giờ sáng).
  2. Tháng Hai và tháng Tám: giờ Sửu (1 giờ đến 3 giờ sáng).
  3. Tháng Ba và tháng Chín: giờ Dần (3 giờ đến 5 giờ sáng).
  4. Tháng Tư và tháng Mười: giờ Mão (5 giờ đến 7 giờ sáng).
  5. Tháng Năm và tháng Mười một: giờ Thìn (7 giờ đến 9 giờ sáng).
  6. Tháng Sáu và tháng Mười hai: giờ Tị (9 giờ đến 2 giờ sáng).

2.2. Giờ “Thọ tử” đặc biệt xấu, kiêng làm mọi việc quan trọng

  1. Tháng Giêng – Hai: giờ Mão
  2. Tháng Ba – Bảy: giờ Sửu
  3. Tháng Tư – Tám: giờ Thìn
  4. Tháng Năm – Sáu: giờ Tý
  5. Tháng Chín – Mười: giờ Dậu
  6. Tháng Mười một – Chạp: giờ Thân

2.3. Giờ “Trùng tang”

  1. Tháng Giêng – Bảy: giờ Thân và Canh
  2. Tháng Hai – Tám: giờ Mùi và Tân
  3. Tháng Ba – Chín: giờ Tý và Mậu
  4. Tháng Tư – Mười: giờ Bính và Nhâm
  5. Tháng Năm – Mười một: giờ Tị và Đinh
  6. Tháng Sáu – Chạp: giờ Tý và Mậu

2.4. Giờ “Thiên la – Địa võng” xấu

  1. Tháng Giêng – Hai – Ba: giờ Sửu và Mùi
  2. Tháng Tư – Năm – Sáu: giờ Thìn và Tuất
  3. Tháng Bảy – Tám – Chín: giờ Ngọ và Dần
  4. Tháng Mười – Mười một – Chạp: giờ Sửu và Dậu

2.5. Giờ “Tránh khâm liệm” người quả cố

  1. Người chết thuộc các tuổi Thân – Tý – Thìn: tránh giờ Tị
  2. Người chết thuộc các tuổi Dần – Ngọ – Tuất: tránh giờ Hợi
  3. Người chết thuộc các tuổi: Tị – Dậu – Sửu: tránh giờ Dần
  4. Người chết thuộc các tuổi: Hợi – Mão – Mùi: tránh giờ Thân

* Lưu ý:
– Giờ “Khâm liệm” tránh cả chôn cất vào ngày và giờ giống nhau. Ví dụ: các tuổi Hợi – Mão – Mùi tránh cả ngày Thân và giờ Thân. Song tránh giờ là chủ yếu.
“Năm không hằng tháng Tháng không bằng ngày Ngày không hằng giờ”
Ý này dùng cho cả tốt và xấu.

2.6. Giờ “Bạch hổ nhập miếu”, tránh làm việc lớn

  1. Ngày Mậu Thìn: tránh giờ Giáp Tý
  2. Ngày Giáp Tuất: tránh giờ Đinh Sửu và Giáp Thân
  3. Ngày Bính Tuất: tránh giờ Giáp Ngọ
  4. Ngày Kỷ Mùi: tránh giờ Giáp Thìn
  5. Ngày Quý Mão: tránh giờ Nhâm Tuất và Giáp Dần

* Lưu ý:
Muốn biết các giờ này có thể xem ở lịch hàng năm hoặc có thể tự tính theo cách tính can giờ từng ngày: Can giờ bắt đầu từ giờ Tý, căn cứ can giờ Tý (23 – 1 giờ sáng) để tính tiếp.

Cụ thể:

  1. Ngày Giáp và Kỷ đầu giờ là Giáp Tý
  2. Ngày Ất và Canh đầu giờ là Bính Tý
  3. Ngày Bính và Tân đầu giờ là Mậu Tý
  4. Ngày Đinh và Nhâm đầu giờ là Canh Tý
  5. Ngày Mậu và Quý đầu giờ là Nhâm Tý

Ví dụ: ngày Giáp và ngày Kỷ thì giờ đầu là Giáp Tý (23-1 giờ sáng), các giờ tiếp theo là Ất Sửu (1-3 giờ sáng), Bính Dần (3-5 giờ); Đinh Mão (5-7 giờ); Mậu Thìn (7-9 giờ)…

2.7. Giờ “Lôi đả” (giờ sét đánh) cẩn thận trọng khi trời mưa

Ngày Giáp

Giờ Sửu và Ất

Ngày Kỷ

Giờ Tuất – Nhâm – Giáp

Ngày Ất

Giờ Ngọ và Nhâm

Ngày Canh

Giờ Dần – Mậu – Canh

Ngày Bính

Giờ Dậu – Tân – Đinh

Ngày Tân

Giờ Dần – Mậu Canh

Ngày Đinh

Giờ Tý – Canh

Ngày Nhâm

Giờ Tý – Canh

Ngày Mậu

Giờ Tuất – Nhâm – Giáp

Ngày Quý

Giờ Dậu – Tân – Đinh

* Lưu ý: Ngoài các giờ cho Chi còn có các giờ cho Can. Các giờ Chi kết hợp với can phù hợp để có 5 giờ Can Chi. Các giờ cho Can phải tính thêm 6 giờ Can Chi. Do đó có những ngày có tới 17 giờ “Thiên lôi đả”.

2.8. Giờ đặc biệt xấu tính theo ngày

Giờ rất xấu trong ngày

Giờ không vong

Giờ sát chủ

Ngày Giáp – Kỷ

Ngày Ất – Canh

Ngày Bính – Tân

Ngày Đinh – Nhâm

Ngày Mậu – Quý

Giờ Thân và giờ Dậu

Giờ Ngọ và giờ Mùi

Giờ Thìn và giờ Tị

Giờ Dần và giờ Mão

Giờ Tý và giờ Sửu

Giờ Ngọ

Giờ Tị

Giờ Sửu

Giờ Hợi

Giờ Ty


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Các giờ xấu cho từng việc cụ thể –

Đôi môi tiết lộ tình yêu phái nữ

Con gái có đôi môi đầy đặn thì tề gia nội trợ tốt; khóe miệng hướng lên trên thì tính tình lạc quan, thân thiện...
Đôi môi tiết lộ tình yêu phái nữ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

- Khóe miệng hướng lên trên: tính tình lạc quan, thân thiện, ai gặp cũng mến, là người nồng nhiệt trong tình yêu.

- Khóe miệng hướng xuống dưới: trầm lắng u sầu, lãnh đạm đa nghi, đa sầu đa cảm, tình yêu hay gặp cản trở, khó thành.

- Khuôn miệng rộng lại hay cười nói: có tướng hại chồng, dễ yêu đương lăng nhăng. 

- Khóe môi hạ xuống: thái quá trong tình yêu, dễ oán hận người khác, tâm địa không tốt, hay bị người yêu cũ oán hận.

moi-day-goi-cam-1-2687-1414573399.jpg

- Khuôn miệng như chiếc cung: quanh họ ngập tràn tình yêu.

- Xương hàm lớn: có ham muốn mạnh mẽ trong tình yêu, thích mạo hiểm. Tuýp người này không biết lùi bước nên hay gặp thất bại trong tình yêu.

- Đôi môi đầy đặn: tề gia nội trợ tốt, tài lực ổn.

- Môi trên đè môi dưới: người biết yêu thương, trân trọng người xung quanh mình.

- môi dưới đè môi trên: không tôn trọng chồng, hay tư lợi.

- Môi thâm dày: tình yêu hỗn loạn và phức tạp.

- Miệng nhỏ nhưng môi đầy đặn, hơi nhô lên: tình yêu không như ý, môi mỏng dẹt và thẳng thì cả đời không hiểu về tình yêu.

- Khuôn miệng tròn, môi lớn: rất coi trọng bản thân.

- Miệng rộng, môi mỏng: tình yêu không thuận lợi

Kunie (theo lnka)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đôi môi tiết lộ tình yêu phái nữ

Nghi thức trong lễ ăn hỏi của người Việt

Lễ ăn hỏi còn gọi là lễ đính hôn là một nghi thức trong phong tục hôn nhân truyền thống của người Việt. Đây là sự thông bá về việc hứa gả giữa hai họ.
Nghi thức trong lễ ăn hỏi của người Việt

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Lễ ăn hỏi còn được gọi là lễ đính hôn là một nghi thức trong phong tục hôn nhân truyền thống của người Việt. Đây là sự thông báo chính thức về việc hứa gả giữa hai họ.

Lễ ăn hỏi là giai đoạn quan trọng trong quan hệ hôn nhân tình yêu: cô gái trở thành “vợ sắp cưới” của chàng trai, và chàng trai sau khi mang lễ vật đến nhà gái là đã chính thức xin được nhận làm rể của nhà gái và tập gọi bố mẹ xưng con.

Trong lễ ăn hỏi, nhà trai mang lễ vật tới nhà gái. Nhà gái nhận lễ ăn hỏi tức là chính danh công nhận sự gả con gái cho nhà trai, và kể từ ngày ăn hỏi, đôi trai gái có thể coi là đôi vợ chồng chưa cưới, chỉ còn chờ ngày cưới để công bố với hai họ.

  • Nhà trai: Chú rể, bố mẹ, ông bà, gia đình,bạn bè và một số thanh niên chưa vợ bê tráp. Thường thì người bê tráp là nữ nhưng do mâm quả bây giờ khá nặng nên có thể thay thế bằng nam. Số người bê tráp là số lẻ, 3, 5, 7, 9 hoặc 11.
  • Nhà gái: Cô dâu, bố mẹ, ông bà, gia đình và một số nữ chưa chồng để đón lễ ăn hỏi, số nữ đón lễ vật tương ứng với số nam bưng mâm.
  • Lễ vật: Những gia đình xưa thường dùng bánh cặp nghĩa là gồm hai thứ bánh tượng trưng cho âm dương. Những cặp bánh thường dùng trong lễ ăn hỏi là bánh phu thê và bánh cốm, bánh phu thê tượng trưng cho Dương – bánh cốm tượng trưng cho Âm. Hoặc bánh chưng và bánh dày, bánh chưng vuông là Âm – bánh dày tròn là Dương. Thường thường cùng kèm với bánh chưng và bánh dày thường có quả nem. Bánh cốm, bánh xu xê, bánh chưng, bánh dày và quả nem dùng trong lễ ăn hỏi đều được đựng trong hộp giấy màu đỏ hoặc bọc trong giấy đỏ, màu đỏ chỉ sự vui mừng. Cũng có gia đình thay vì các thứ bánh trên, dùng xôi gấc và lợn quay.

Đó là những lễ vật tối thiểu theo tục lệ cổ truyền; Tất nhiên, chất lượng và số lượng thêm bớt thì tùy thuộc vào năng lực kinh tế của từng gia đình. Theo phong tục Hà Nội truyền thống thường có lợn sữa quay, còn theo phong tục miền Nam có thể có một chiếc nhẫn, một dây chuyền hay bông hoa tai đính hôn. Tuy nhiên, số lượng lễ vật nhất thiết phải là số chẵn tượng trưng cho có đôi có lứa, nhưng lễ vật đó lại được xếp trong số lẻ của tráp – Số lẻ tượng trưng cho sự phát triển.

Lễ vật dẫn cưới thể hiện lòng biết ơn của nhà trai đối với công ơn dưỡng dục của cha mẹ cô gái. Nói theo cách xưa là: Nhà trai bỗng dưng được thêm người, còn nhà gái thì ngược lại, “Con gái là con người ta”. Mặt khác, lễ vật cũng biểu thị được sự quý mến, tôn trọng của nhà trai đối với cô dâu tương lai.

lễ xin dâu
Lễ vật dẫn cưới thể hiện lòng biết ơn của nhà trai đối với công ơn dưỡng dục của cha mẹ cô gái.

Trong một chừng mực nào đó, đồ dẫn cưới cũng thể hiện thiện ý của nhà trai: Xin đóng góp một phần vật chất để nhà gái giảm bớt chi phí cho hôn sự. Tuy nhiên, điều này ngày nay càng lúc càng trở nên mờ nhạt xét về vai trò, vì dễ dẫn đến cảm giác về sự gả bán con, thách cưới.

Rước lễ vật: Tất cả các lễ vật phải được sắp xếp gọn gàng và thẩm mỹ. Và nhất thiết phải được bày vào quả sơn son thếp vàng (hay mâm đồng đánh bóng, phủ vải đỏ). Có như thế mới nhấn mạnh được tính biểu trưng của lễ vật. Xưa, người đội lễ phải khăn áo chỉnh tề, thắt dây lưng đỏ. Nay, các cô gái đội lễ đã có áo dài đỏ thay thế nên không cần phải dùng thắt lưng đỏ nữa. Dù dùng phương tiện đi lại là: Ô tô, xích lô, xe máy, hay đi bộ thì đoàn ăn hỏi cũng nên dừng lại cách nhà gái khoảng l00m, sắp xếp đội hình, rồi mới đội lễ vào nhà gái. Đây thực sự là một hình thái văn hóa dân tộc.

Tiếp khách: Vì đây là một lễ trọng nên nhà gái phải chuẩn bị chu đáo hơn lễ chạm mặt. Tuy nhiên, do nội dung chủ yếu của lễ này là sự bàn bạc cụ thể, chính thức của hai gia đình về việc chuẩn bị lễ cưới, nên nhà gái không bày tiệc mặn mà chỉ bày tiệc trà. Ngày nay hầu hết các gia đình gái đều chuẩn bị tiệc mặn để thết đãi gia đình trai mong tạo hòa khí gắn bó và hàn huyên.

Nhà gái: Nhà gái nhận lễ rồi đặt một phần lên bàn thờ gia tiên. Khi lễ ăn hỏi xong, bánh trái, cau, chè được nhà gái “lại quả” (chuyển lại) cho nhà trai một ít, còn nhà gái dùng để chia cho họ hàng và người thân. (Lưu ý: đối với cau thì phải xé chứ không được dùng dao để cắt. Khi nhà trai nhận lại tráp để bê về thì phải để ngửa, không được úp tráp lại).

Cô dâu: Phải ngồi trong phòng cho đến khi nào chú rể vào đón hoặc cha mẹ gọi mới được ra. Ra mắt tổ tiên bằng cách thắp hương lên bàn thờ. Sau đó cô dâu sẽ cầm ấm trà đi từng bàn để rót nước mời khách.

Biếu trầu: Đại diện nhà gái chuẩn bị đón tiếp nhà trai trong lễ ăn hỏi, các cô gái nhận tráp lễ vật mặc áo dài màu đỏ.

Xưa, sau lễ ăn hỏi, nhà gái dùng các lễ vật nhà trai đã đưa để chia ra từng gói nhỏ để làm quà biếu cho họ hàng, bè bạn, xóm giềng,… Ý nghĩa của tục này là sự loan báo: Cô gái đã có nơi có chỗ.

Trong việc chia bánh trái, cau, chè phải chia theo số chẵn, nhưng kiêng chia hai quả, nghĩa là mỗi nơi từ bốn quả cau, bốn lá trầu trở lên. Con số chẵn là số dương, số lẻ là số âm dùng trong việc cúng lễ.

Theo lối mới bây giờ, cũng chia bánh trái, thường có kèm theo những tấm thiếp của đôi bên hai họ báo tin đính hôn của đôi trẻ. Nếu ngày nghênh hôn không xa ngày hỏi, trong thiếp sẽ ghi rõ lễ cử hành vào ngày nào. Trong trường hợp này có khi cùng với thiếp “báo hỷ” lại có thiếp mời tiệc cưới.

Trang phục: Trang phục cho cô dâu: một bộ áo dài, vừa có thể mặc trong lễ cưới, vừa có thể mặc ở những dịp lễ hội sau này. Có thể sắm cho cô dâu tương lai những đồ trang sức sau: Xuyến, vòng, hoa tai. Chú rể mặc comple, cà vạt.

Chia lễ: Nhà gái thường nhờ các cô gái trong họ hoặc bạn bè chia giúp. Khi nhà trai dẫn lễ ăn hỏi tới nhà gái, nhà gái thường làm cơm thiết đãi. Sau lễ ăn hỏi đôi bên kể là giao kết gắn bó với nhau rồi. Tuy vậy, ngày xưa các cặp vị hôn phu và hôn thê cũng không được phép gặp nhau, trừ trường hợp đặc biệt lắm đôi bên cha mẹ mới cho phép. Phong tục ngày nay đổi khác, sau lễ ăn hỏi đôi trai gái thường gặp nhau luôn. Từ lễ ăn hỏi đến lễ cưới, xưa kia có khi hàng hai ba năm, nhưng ngày nay thời gian đó thường được rút ngắn, có khi chỉ vài ba ngày.

Các cụ xưa vẫn khuyên các chàng trai đã hỏi vợ thì cưới ngay để tránh sự bất trắc của thời gian. Nhưng vẫn có những trường hợp nhà gái đã nhận ăn lễ hỏi của nhà trai cũng không cho cử hành lễ nghênh hôn sớm, có khi vì cô gái còn quá nhỏ tuổi, có khi vì cha mẹ thương con không muốn con phải về nhà chồng quá sớm.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nghi thức trong lễ ăn hỏi của người Việt

Nét đẹp phong tục truyền thống trong Tết Trung Thu đất Việt

Tết Trung thu hay còn gọi là Tết trông trăng là ngày tết của trẻ em. Đây là ngày lễ cổ truyền dân tộc, diễn ra vào ngày rằm tháng 8 âm lịch hàng năm.
Nét đẹp phong tục truyền thống trong Tết Trung Thu đất Việt

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tết Trung thu hay còn gọi là Tết trông trăng là ngày tết của trẻ em. Đây là ngày lễ cổ truyền dân tộc, diễn ra vào ngày rằm tháng 8 âm lịch hàng năm.   Tết Trung thu là một trong những ngày lễ lớn, là ngày tết của trẻ em theo truyền thống dân gian. Các bé rất mong đợi đến ngày này bởi được người lớn dành cho biết bao món quà, lại được chơi nhiều trò chơi thú vị.


phong tuc truyen thong ngay Tet Trung thu
 
  Vào ngày rằm trung thu, người ta lại tổ chức bày cỗ trông trăng. Có rất nhiều phong tục cổ truyền được diễn ra trong ngày lễ này. Tết Trung Thu mỗi quốc gia lại có một nét riêng, cùng Lịch ngày tốt khám phá những phong tục truyền thống trong ngày Tết Trung thu ở Việt Nam nhé.  

Cúng trăng (tế nguyệt) và ngắm trăng (thưởng nguyệt)

  Hàng năm, vào đêm rằm tháng 8, các gia đình sẽ tổ chức lễ tế thần mặt trăng khi trăng rằm tỏa sáng trên cao. Người dân dâng hoa quả, bánh trung thu có hình mặt trăng lên bàn thờ. Đây cũng là dịp để cả gia đình quây quần bên nhau nên tết Trung Thu còn được gọi là tết Đoàn viên, các thành viên cùng ngồi bên nhau thưởng trà, ăn bánh, ngắm ánh trăng rằm.


uong tra thuong trang
 
  Tục ngắm trăng thưởng nguyệt bắt nguồn từ tục cúng trăng. Đây là phong tục dành cho người lớn, bên cạnh những trò vui dành cho con trẻ vào ngày rằm tháng 8. Mọi người ngồi quanh mâm cỗ giản đơn, có trà có bánh, có thêm ánh trăng rằm sáng lung linh, cùng chuyện trò, tâm sự những chuyện vui buồn. Các cụ xưa còn có lệ ngắm trăng thưởng trà làm thơ đối nữa.

Rước đèn

  Hàng năm, cứ đến dịp Trung Thu là các bé con lại được người thân sắm sửa cho những chiếc đèn lồng thật đẹp để tối đêm rằm cùng nhau rước đèn. Trước kia, đèn lồng thường được tự làm bằng những vật liệu đơn giản như tre, giấy… mãi sau này mới có thêm đèn lồng bằng nhựa chạy pin.    Ngày xưa, khi đời sống còn khốn khó, trước tết Trung Thu tầm 2-3 tuần, người ta còn gom hạt bưởi lại, bóc vỏ ngoài rồi xâu thành từng xâu dài, phơi khô. Đến đêm rằm, từng xâu hạt bưởi được đem ra đốt, mang lại ánh sáng lung linh diệu kì cùng hương thơm ngan ngát.


ruoc den trung thu
 
  Trẻ em sẽ có những cuộc rước đèn, nhiều nơi còn mở cuộc thi xem đèn lồng của ai làm đẹp và khéo nhất. Nào đèn xếp, đèn lồng, đèn ông sao, đèn con giống, đèn kéo quân… rực rỡ cả một góc trời cùng tiếng cười trẻ thơ hòa cùng tiếng trống múa lân vô cùng náo nhiệt.   Ở một số nơi đã khôi phục lại lễ hội rước đèn đêm rằm Trung Thu như Tuyên Quang, được ví là lễ hội Trung Thu lớn nhất Việt Nam. Đèn được làm thành mô hình lớn, lễ rước kéo dài từ đầu tháng 8 âm lịch cho tới chính rằm. Ở Phan Thiết (Bình Thuận), chính quyền cũng tổ chức lễ rước đèn với sự tham gia của hàng ngàn học sinh, rước đèn rực rỡ khắp các phố phường.  

Hát trống quân

  Đây là phong tục đón tết Trung Thu ở miền Bắc. Khi hát trống quân, đôi bên nam nữ sẽ vừa hát đối đáp với nhau, vừa đánh nhịp vào sợi dây gai hay dây thép căng trên chiếc thùng rỗng, lấy nhịp cho câu hát.    Tục hát trống quân có từ thời vua Lạc Long Quân đời Hồng Bàng, là phong tục của riêng Việt Nam trong ngày rằm tháng 8 này. Trai gái hát đối với nhau vừa để vui chơi, cũng vừa là để tìm bạn trăm năm, tìm người nên duyên đôi lứa.  

Múa sư tử (múa lân)


mua lan
 
Múa sư tử còn được gọi với tên khác là múa lân. Khác với người Hoa hay tổ chức múa lân vào dịp Tết Nguyên Đán, người Việt ta lại tổ chức vào dịp tết Trung Thu, góp vui cho con trẻ, cũng là cầu những điều lành theo con lân mà đến, mang đậm ý nghĩa ngày lễ Trung Thu truyền thống.   Người ta thường tổ chức múa vào hai ngày 14 và 15 tháng 8. Đám múa lân có một người dẫn đầu đội chiếc đầu lân bằng giấy, múa những điệu của con vật này theo nhịp trống. Đám múa lân đi trước, trẻ con người lớn lũ lượt theo sau, náo nhiệt vui vẻ vô cùng.  

Bày cỗ Trung Thu

  Ngày tết Trung Thu được diễn tả trong cuốn “Việt Nam phong tục” như sau: “Ban ngày làm cỗ cúng gia tiên, tối đến bày cỗ thưởng Nguyệt. Đầu cỗ là bánh mặt trăng, và dùng nhiều thứ bánh trái hoa quả, nhuộm các màu sắc sặc sỡ xanh, đỏ, trắng, vàng. Con gái hàng phố thi nhau tài khéo, gọt đu đủ thành các thứ hoa nọ hoa kia, nặn bột làm con tôm con cá coi cũng đẹp.”


mam co trung thu
 
  Mâm cỗ ngày rằm Trung Thu thường có con chó bưởi, gắn thêm 2 hạt đậu đen làm mắt, nhìn rất sinh động, được các bé vô cùng yêu thích. Cùng với hình ảnh đèn lồng, bánh Trung Thu, có lẽ chú chó bưởi là thứ đủ làm sống dậy không khí Trung Thu trong lòng mỗi người con đất Việt.   Xung quanh chú chó bưởi, các chị các mẹ lại bày thêm nhiều loại hoa quả cùng các loại bánh nướng, bánh dẻo. Hoa quả ngày rằm này thường là bưởi, na, hồng đỏ căng mọng và hồng xanh giòn ngọt.   Khi trăng lên tới đỉnh đầu, sáng rực rỡ chiếu rọi khắp mọi nơi, các bé cũng đã vui đùa, rước đèn chán chê, mọi người sẽ cùng nhau phá cỗ, thưởng thức trọn vẹn hương vị ngày tết Trung Thu.   An An

Tìm hồn văn hóa Việt trong những chiếc bánh Trung Thu độc lạ Trung Thu ngắm trăng, bái vọng đản sinh Nguyệt Quang Bồ Tát Mâm cỗ Trung Thu chuẩn truyền thống, nối dài văn hóa tình thân
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nét đẹp phong tục truyền thống trong Tết Trung Thu đất Việt

Ngày nguyệt kỵ là ngày gì, tốt hay xấu?

Gốc rễ của ngày nguyệt kỵ bắt nguồn từ truyền thống khoa học huyền bí của phương tây. Ngày nguyệt kỵ của phương tây cũng trùng với ngày tam nương trong lịch vạn niên của ta, vì thế ngày này càng được coi là xấu, là xui xẻo.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Chắc hẳn tất cả mọi  người đều đã từng được nghe câu “mồng 5, 14, 23, đi chơi còn lỗ nữa là đi buôn”. Các ngày này chính là các ngày nguyệt kỵ. Theo lời khuyên của các cụ ta trong ngày này mọi người không nên làm bất cứ việc gì quan trọng. Để tìm hiểu rõ hơn về ngày nguyệt kỵ, những điều cần chú ý trong ngày này, chúng ta sẽ cùng Phong thủy số tham khảo ngay sau đây.

Ngày nguyệt kỵ là ngày gì, tốt hay xấu?

1. Ngày nguyệt kỵ là gì?

Theo phong tục từ trước tới nay, khi làm bất cứ làm các công việc quan trọng nào đặc biệt như cưới hỏi, ma chay, nhập trạch, động thổ, cất nóc...tất cả đều cần xem ngày giờ, nếu vào ngày hoàng đạo, giờ hoàng đạo thì là tốt. Còn rơi vào ngày hắc đạo, giờ hắc đạo thì cần tuyệt đối tránh xa.

Các ngày kiêng kỵ mà mọi người cần tránh bao gồm ngày nguyệt kỵ, ngày hoang vu, ngày sát chủ...

Việc xem ngày trước là trọn vẹn về mặt tâm linh, sau là để gia chủ yên tâm thực hiện cong việc. Một năm có 12 tháng, mỗi tháng đều có 3 ngày nguyệt kỵ rơi vào ngày mùng 5, 14 và 23. Theo quan niệm, trong 1 tháng luôn có 3 ngày cộng vào bằng 5 đó là ngày 14 (1+4), ngày 23 (2+3). Các cụ ta gọi đây là ngày nửa đời nửa đoạn, xuất hành, đi đâu, làm gì cũng sẽ gặp khó khăn, vất vả, mất việc, mất tiền, mất công, mất sức...

Xem thêm: Ngày sát chủ là gì?

2. Nguồn gốc ngày nguyệt kỵ

Gốc rễ của ngày nguyệt kỵ bắt nguồn từ truyền thống khoa học huyền bí của phương tây. Ngày nguyệt kỵ của phương tây cũng trùng với ngày tam nương trong lịch vạn niên của ta, vì thế ngày này càng được coi là xấu, là xui xẻo.

3. Các ngày nguyệt kỵ trong năm 2017

Hãy cùng liệt kê các ngày nguyệt kỵ mỗi tháng trong năm 2017 theo dương lịch sau đây để mọi người tiện theo dõi, ghi chép lại để từ đó tránh làm việc quan trọng.

Tháng 1 có ngày, 02, 11, 20

Tháng 2 có ngày, 01, 10, 19

Tháng 3 có ngày, 02, 11, 20

Tháng 4 có ngày, 01, 10, 19, 30

Tháng 5 có ngày, 09, 18, 30

Tháng 6 có ngày, 08, 17, 28

Tháng 7 có ngày, 07, 16, 27

Tháng 8 có ngày, 05, 14, 26

Tháng 9 có ngày, 04, 13, 24

Tháng 10 có ngày, 03, 12, 24

Tháng 11 có ngày, 02, 11, 22

Tháng 12 có ngày, 01, 10, 22, 31

4. Cần tránh làm gì trong ngày nguyệt kỵ

Trong ngày nguyệt kỵ, tất cả các công việc quan trọng như xuất hành, động thổ, đổ bê tông mái, nhập trạch, cất nóc, khai trương, ký kết hợp đồng, ăn hỏi, rước dâu, hộ niệm, di quan, hạ huyệt...đều cần tránh.

Bên trên là một vài điều cần biết về ngày nguyệt kỵ, mọi người hãy tham khảo và ghi nhớ nhé bởi những thông tin này chẳng bao giờ là thừa.

Xem thêm những ngày tốt khác tại: Xem ngày tốt xấu


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Ngày nguyệt kỵ là ngày gì, tốt hay xấu?

Mơ thấy cầu vồng: Hạnh phúc như ý –

Cầu vồng tuy đẹp nhưng ngắn ngủi, tượng trưng cho hạnh phúc của con người. Nam giới đã kết hôn mơ thấy cầu vồng, có nghĩa cuộc sống sẽ hạnh phúc, tình cảm vợ chồng ngọt ngào sâu đậm. Nam giới chưa kết hôn mơ thấy cầu vồng, với hàm ý không bao lâu sau
Mơ thấy cầu vồng: Hạnh phúc như ý –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mơ thấy cầu vồng: Hạnh phúc như ý –

Mất ngủ vì đặt gương chiếu vào giường

Ngày nay, người ta sử dụng gương không chỉ với mục đích là để soi ngắm, mà gương còn được dùng để trang trí nội thất, do nó tạo ra cảm giác không gian rộng
Mất ngủ vì đặt gương chiếu vào giường

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

rãi, thoải mái hơn.


► Xem phong thủy nhà ở cầu tài lộc, tránh tai ương

Tuy nhiên, khi chọn vị trí để treo gương thì bạn nên chú ý tới vấn đề phong thủy. Tuyệt đối không đặt gương trong phòng ngủ, lại càng cấm kỵ việc để gương hướng trực tiếp về phía giường nằm. 

Mat ngu vi dat guong chieu vao giuong hinh anh
Tuyệt đối không nên đặt gương chiếu trực tiếp vào giường

Đặt gương hướng về phía giường sẽ làm cho bạn ngủ không được sâu giấc vì sự phản chiếu của gương sẽ thu hết ánh sáng và khuếch tán âm thanh. Việc ngủ không ngon giấc khiến cho sức khỏe về lâu dài sẽ bị suy giảm. 
 
Cách hóa giải:

1. Loại bỏ tất cả gương ra khỏi phòng ngủ nếu có thể.
 
2. Đặt gương lệch hướng so với giường.
 
3. Bạn cũng có thể sử dụng một tấm vải để phủ lên gương khi không sử dụng để ngăn sự chiếu xạ từ gương. 

8 mẹo dạy con ngoan theo phong thủy
Con bạn có cư xử không tốt, học kém hay thiếu tôn trọng người lớn tuổi? Hãy thử áp dụng một số phương pháp phong thủy trong phòng học và phòng ngủ của chúng
Không chỉ riêng phòng ngủ, bạn cũng cần tìm hiểu tất cả những cách đặt gương trong nhà chuẩn phong thủy để tránh vận xui nhé.    Phạm Yến (Theo Fengshui Beginner)  
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mất ngủ vì đặt gương chiếu vào giường

Những điều phải chú ý trước khi luận đoán lá số Tử Vi

Bài viết lấy từ cuốn Tử Vi Đẩu Số Tân Biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang trình bày những điều cần chú ý trước khi luận đoán lá số tử vi.
Những điều phải chú ý trước khi luận đoán lá số Tử Vi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1.Thuận lý - Nghịch lý

Thuận lý hay nghịch lý giữa năm sinh với tháng sinh, giữa ngày sinh với giờ sinh.

Thí dụ: Năm sinh thuộc âm, tháng sinh cũng thuộc âm là thuận, ngày sinh thuộc dương, tháng sinh lại thuộc âm là nghịch. Nếu năm sinh, tháng sinh, ngày sinh và giờ sinh đều thuộc dương cả hay âm thì rất tốt.

2. Tương sinh - Tương khắc

Tương sinh hay tương khắc giữa năm sinh với tháng sinh, giữa ngày sinh với giờ sinh.

Thí dụ: Năm sinh thuộc Mộc, tháng sinh thuộc Hỏa là năm tháng tương sinh. Ngày sinh thuộc Thủy, giờ sinh thuộc Hỏa là ngày, giờ tương khắc. Nếu năm sinh tháng, tháng sinh ngày, ngày sinh giờ, như năm thuộc Hỏa sinh tháng thuộc Thổ, tháng thuộc Thổ sinh ngày thuộc Kim, ngày thuộc Kim sinh giờ thuộc Thủy, như vậy số rất quý.

3. Tương hợp - Tương phá

Hợp hay phá giữa năm sinh với tháng sinh, giữa ngày sinh với giờ sinh. Cần phải xem Can, Chi của năm, tháng và ngày giờ.

4. Bản Mệnh - Cục

Tương sinh hay tương khắc giữa Bản Mệnh và cục

Thí dụ: Kim Mệnh, Thủy Cục là tương sinh, vì Kim sinh Thủy. Nếu ngược lại, Cục sinh Bản Mệnh, như Kim Mệnh, Thổ Cục, cũng được tốt đẹp nhưng không bằng Bản Mệnh sinh Cục. Bản Mệnh khắc Cục: rất xấu dù toàn thể lá số có tốt chăng nữa, độ số cũng bị chiết giảm một phần.

5. Năm sinh - Cung Mệnh

Thuận lý hay nghịch lý giữa năm sinh và cung an Mệnh

Thí dụ: Sinh năm Tý thuộc Dương, an Mệnh tại cung Dần cũng thuộc Dương là thuận lý.

6. Chính tinh cung Mệnh

Chính diệu thủ Mệnh (các sao thuộc Tử Vi tinh hệ và Thiên Phủ tinh hệ)

- Miếu địa? Vượng địa? Đắc địa? Hãm địa?

- Có hợp Mệnh không? Sinh Mệnh hay Khắc Mệnh?

Nếu cung an Mệnh không có Chính diệu, gọi là Mệnh vô Chính diệu, cần phải xem đến Chính diệu xung chiếu và trung tinh, bàng tinh tọa thủ, hội hợp.

Thí dụ: Kim Mệnh, Chính diệu thủ Mệnh, cũng thuộc Kim là hợp. Kim Mệnh, Chính diệu thủ Mệnh thuộc Thổ là Chính diệu sinh Mệnh rất tốt. Nếu ngược lại, Kim Mệnh, Chính diệu thủ Mệnh thuộc Thủy là Mệnh sinh Chính diệu, rất xấu. Kim Mệnh, Chính diệu thủ Mệnh thuộc Hỏa là Mệnh khắc Chính diệu, lại càng xấu hơn nữa.

7. Cung Mệnh - Cung Thân

Tốt hay xấu của Mệnh và Thân. Cân nhắc xem cung an Mệnh và cung an Thân, để biết cung nào tốt cung nào xấu.

8. Cung Phúc Đức

Tốt hay xấu của Phúc Đức. Xem cung Phúc Đức có nhiều sao tốt hay có nhiều sao xấu.

9. Chính tinh các cung

Vị trí của các Chính diệu trên 12 cung: Miếu địa? Vượng địa? Đắc địa? Hãm địa? Có đúng chỗ không?

(Tài tinh ở cung Tài, Qúy tinh ở cung Quan, Phúc tinh ở cung Phúc,... thế là đúng chỗ).

10. Tứ Hóa

Vị trí của Tứ Hóa trên 12 cung: Có được việc không?

(Hóa Quyền ở cung Quan, Hóa Lộc ở cung Tài,... thế là được việc).

11. Lục Sát

Vị trí của Lục Sát (Kình, Đà, Hỏa, Linh, Không, Kiếp) trên 12 cung.

12. Vận hạn

Đại hạn mười năm vận hành trên 12 cung. Xem lần lượt từng đại hạn một, để biết đại hạn nào tốt, đại hạn nào xấu.

(Tham khảo từ cuốn Tử Vi Đẩu Số Tân Biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những điều phải chú ý trước khi luận đoán lá số Tử Vi

Hóa giải phong thủy căn hộ chung cư

Những người có sao bản mệnh giống nhau được cho là có những nét tương đồng về tính cách. Việc xem xét một cá nhân có phù hợp với một yếu tố nào đó về phong thủy vì thế cũng được căn cứ theo địa chi. Đối với nhà chung cư vốn có thiết kế hàng loạt thì việc chọn một căn hộ có hướng phù hợp với tuổi chủ nhà chỉ mang tính tương đối và có thể dựa theo địa chi.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Dưới đây là những hướng căn hộ tốt đối với các nhóm tuổi cụ thể:

Chủ nhà tuổi Tý: 

Hướng Bắc được cho là có vị trí quan trọng cũng như có tác dụng rất lớn với người tuổi Tý. Trong nhà mà để khu vực hướng Bắc bị ô nhiễm (chẳng hạn nhà vệ sinh, bể nước ẩm ướt...) sẽ gây ảnh hưởng xấu đến người tuổi Tý.

Hóa giải: Hãy đặt một số cây xanh ở khu vực phía Bắc để làm sạch và tạo không khí trong lành.

Ngoài hướng Bắc, hướng Đông Nam và Tây Nam cũng có ảnh hưởng nhất định với gia chủ tuổi Tý. Như vậy, người tuổi Tý cần lưu ý luôn giữ gìn vệ sinh 3 hướng là Bắc, Đông Nam và Tây Nam để có sự thuận lợi về tài vận.

hướng căn hộ
Nếu khu vực chức năng trong căn hộ không hợp với hướng tốt hãy dùng các cách đơn giản để
hóa giải như đặt chậu cây, tạo bình phong...và luôn giữ cho không gian sạch sẽ, thoáng mát

Chủ nhà tuổi Sửu:

Đối với những người tuổi Sửu, hướng quỉ môn ở Đông Bắc có vai trò vô cùng quan trọng. Nếu khu vực này đặt nhà vệ sinh, phòng tắm, hoặc có nguồn nước ô nhiễm sẽ gây tác động xấu đến tuổi Sửu. Nếu chẳng may căn hộ đã bố trí cố định như trên thì cần khắc phục kịp thời để giảm tác hại.

Hóa giải: Nhanh chóng đánh bay những thứ mùi hôi trong nhà vệ sinh của bạn đồng thời giữ gìn cho các không gian ở khu vực Đông Bắc luôn luôn sạch sẽ, thoáng đãng.

Chủ nhà tuổi Sửu cũng cần giữ cho khu vực hướng Tây và Đông thật sạch sẽ để giúp khí vận tốt.

Chủ nhà tuổi Dần:

Tương tự như tuổi Sửu, với người tuổi Dần, hướng Đông Bắc cũng rất quan trọng. Đông Bắc được gọi là hướng quỷ môn, vì thế khi bố trí khu chức năng, nội thất ở hướng này cần đặc biệt cẩn trọng.

Hóa giải: Rất may là khu vực này chỉ cần chú ý giữ gìn vệ sinh sạch sẽ, không khí trong lành là đủ. Chủ nhà cần chú ý, không đặt nhà bếp hoặc phòng tắm, nhà vệ sinh ở đây vì có thể gây ra sự xáo trộn trong cuộc sống, hoặc những tác động không tốt.

Với người tuổi Dần, hướng Tây và Tây Nam cũng có mối quan hệ sâu sắc, nên hãy chú ý giữ vệ sinh khu vực này.

Chủ nhà tuổi Mão

Các gia chủ tuổi Mão nên đặc biệt chú ý đến hướng Đông, đây là hướng quan trọng nhất với họ. Thế vận người tuổi Mão sẽ không tốt nếu chẳng may hướng này bị ô uế, ẩm ướt, thậm chí những vết lõm, khuyết góc cũng không tốt.

Hóa giải: Hãy luôn giữ cho không gian chức năng tại khu vực này sạch sẽ, thoáng đãng.

Tây Nam và Tây Bắc cũng là hai hướng khá quan trọng với những chủ nhà tuổi Mão. Trường hợp hướng Đông gặp bất lợi mà không thể khắc phục thì hai hướng này sẽ giúp bổ khuyết cho hướng Đông.

Chủ nhà tuổi Thìn:

Đông Nam được cho là hướng có ảnh hướng nhiều nhất với gia chủ tuổi Thìn. Nếu hướng Đông Nam được xử lý tốt thì chủ nhà tuổi Thìn sẽ gặp nhiều may mắn, vạn sự như ý. Ngược lại, mọi việc sẽ trắc trở, khó thành.

Hóa giải: Không bao giờ để không gian ở phía Đông Nam bị ô nhiễm, đồng thời chủ nhà cũng nên lưu ý hướng Tây Nam và Bắc.

Chủ nhà tuổi Tỵ:

Tương tự người tuổi Thìn, những người sinh năm Tỵ cũng rất nên chú ý đến hướng Đông Nam. Khu vực Đông Nam của căn hộ không được đặt nhà vệ sinh, nhà tắm hoặc để những nguồn nước ô nhiễm, nếu không nhẹ thì ảnh hưởng đến tài vận, nặng có thể gặp tai họa lớn.

Hóa giải: Nếu không thể thay đổi vị trí công năng các phòng, bạn hãy cố gắng giữ gìn cho không khí khu vực này luôn thuần khiết, khô ráo. Nếu đặt nguồn nước tại đây thì phải giữ cho nó luôn trong sạch.

Với người tuổi Tỵ, hai hướng khác là Tây và Đông Bắc cũng rất quan trọng, có thể được dùng để bổ khuyết trong trường hợp hướng Đông Nam có điểm dữ không thể khắc phục.

(Theo CafeLand)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Hóa giải phong thủy căn hộ chung cư

Đặc tính sao Hóa Quyền - Quyền thế, năng lực

Cung Mệnh có sao Hóa Quyền thì thông minh, có tài chỉ huy, được nhiều người kính nễ, tùng phục, cương quyết, tháo vát, có quyền hành hoặc có thế lực.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đặc tính sao Hóa Quyền - Quyền thế, năng lực

Đặc tính sao Hóa Quyền - Quyền thế, năng lực

Tìm hiểu về đặc tính của sao Hóa Quyền trong Tử Vi

Thuộc tính âm dương ngũ hành của sao Hóa Quyền là dương mộc, hóa khí là quyền thế, chưởng quản việc sinh sát, chủ về quyền thế, tháo vát. Hóa Quyền còn có hàm nghĩa mở rộng là kiên định, hiển lộ là quan quý, có thể cụ thể hóa quyền thế.

Sao Hóa Quyền Thuộc mộc, ưa gặp Cự Môn, Vũ Khúc, chủ về hiển đạt nghiệp võ, nắm giữ binh quyền. Hóa Quyền trấn tại cung mệnh, cung thân, nếu gặp Hóa Lộc, Hóa Khoa thì sẽ làm quan to. Nếu gặp Hóa Khoa, sẽ có tài văn chương xuất chúng, nếu gặp thêm các sao Văn Xương, Văn Khúc, thi cử sẽ đỗ đạt cao.

Trong ba sao Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, chỉ có sao Hóa Quyền là không sợ bị sao Hóa Kỵ xung phạm, gặp Hóa Kị chỉ làm tăng thêm phần khó khăn vất vả, nhưng sau cùng có thể khắc phục được, nhất là khi chính tinh miếu vượng Hóa Quyền thì càng không dễ bị sao Hóa kị gây ảnh hưởng.

Nam mệnh trong vận hạn gặp ba sao Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, ắt sẽ có biểu hiện tiến bộ. Có điều nữ mệnh thì do giỏi giang tháo vát quá mức, lấn át cả đàn ông, nên ảnh hưởng tới chuyện tình cảm và đời sống hôn nhân.

Sao Hóa Quyền nhập miếu tại cung Sửu (thuần hậu và không bị sát tinh); đắc địa tại cung Mão và cung Thìn (là phúc, sợ sát tinh); miếu tại hai cung Dần, Mùi (phúc đến chậm, sợ sát tinh), bình hòa tại bốn cung Thìn, Ngọ, Tỵ, Hợi; không đắc địa tại ba cung Thân, Dậu, Tý.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đặc tính sao Hóa Quyền - Quyền thế, năng lực

Thế núi tốt cho huyệt mộ

Cự Môn là ngọn núi cát. Gia chủ và con cháu ngụ tại đây sẽ hưng vượng, hưởng phúc lộc lâu dài.
Thế núi tốt cho huyệt mộ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Núi Cự Môn là một trong cửu tinh kết huyệt. Núi có hình dáng không nhọn không tròn mà rất vuông vức, mặt trước như cái cổng khổng lồ nên có tên gọi là Cự Môn.

The nui tot cho huyet mo hinh anh
Huyệt mộ

Thế núi cao lớn, ngay ngắn, ít chi cước (ít khe, hẻm), xung quanh có nhiều núi bảo vệ.

Sách “Hám Long Kinh” viết: “Bên dưới núi vuông có núi bảo vệ như đàn dê”. Long mạch đến núi Cự Môn tươi tốt, đây là dãy núi cao, tôn quý nên không thể thiếu núi bao bọc. Nếu hình thế cô độc thì không cát, không nên xây nhà, đặt mộ ở đây.

Sách còn cho biết thêm: "Nếu núi Cự Môn độc hành không có núi bao bọc, hộ  vệ chỉ nên xây đền miếu thờ thần phật". Núi này rất kị hình thể nghiêng vẹo, mất tôn quý. Nếu trên đỉnh có nhiều vết nứt gãy, hình như ngọn lửa thì hóa thành Liêm Trinh ác hình.

Đây là ngọn núi cát, ngũ hành thuộc Thổ nên gia chủ và con cháu ngụ tại đây là những người trung lương, chính trực. Thế núi đầy đặn, con cháu lại càng hưng vượng, hưởng phúc lộc lâu dài.

Dương trạch nhà vuông, ngay ngắn, hiên nhà đều bằng phẳng, tường không khuyết là hình núi Cự Môn. Chủ nhà sẽ làm ăn phát đạt, giàu có.

Trong một vài trường hợp, thế núi ngắn nhọn, gia chủ sa sút, thất bại.

Theo Bí ẩn thời vận

 

 

 


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Thế núi tốt cho huyệt mộ

Cô nàng mắt sắc sảo có tính cách như thế nào? –

Ánh mắt sắc sảo là ánh mắt góc cạnh, sắc như dao, thông minh, lanh lợi và có phần “ghê gớm”. Chủ nhân của ánh mắt sắc sảo là người có giác quan nhạy bén, trực giác nhanh. Với bản tính linh hoạt, họ xoay chuyển các tình thế để đạt được mục đích 1 cách
Cô nàng mắt sắc sảo có tính cách như thế nào? –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cô nàng mắt sắc sảo có tính cách như thế nào? –

10 tác phẩm tử vi hiện đại

Một bài viết của tác giả Võ Văn Châu trình bày giới thiệu về 10 cuốn sách Tử Vi kinh điển thời hiện đại. Bài viết rất hay, giúp bạn một cách nhìn trong việc lựa chọn sách học Tử Vi.
10 tác phẩm tử vi hiện đại

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

BÀI VIẾT CỦA TÁC GIẢ VÕ VĂN CHÂU

Khoa Tử vi xuất hiện ở VN không phải mới mẻ gì nhưng thử tính đến nay có được bao nhiêu tác phẩm xuất hiện trước công chúng? Chỉ vỏn vẹn hơn 10 cuốn.

Với số lượng ít ỏi đó, người đang học hỏi, nghiên cứu tử vi lúc nào cũng cảm thấy không thỏa mãn, mặc dù các quyển lý số này từa tựa nhau trên căn bản lập số, đoán số nhưng cũng có những điểm đặc thù thích thú.

Trong tinh thần học hỏi để tiến bộ, người viết sẽ lần lượt phân tích dưới nhãn quan của người hậu học 10 tác phẩm sau đây:

  1.     Tử vi chỉ nam của Song An Đỗ Văn Lưu
  2.     Tử Vi bổ túc của Nguyễn Mạnh Bảo
  3.     Tử vi Đẩu số tân biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang
  4.     Tử vi áo bí Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm Tử
  5.     Tử vi hàm số của Nguyễn Phát Lộc
  6.     Tự tìm hiểu đời mình của Nguyễn Mạnh Long
  7.     Tử vi nghiệm lý của Thiên Lương
  8.     Tử vi Đẩu số toàn thư của Vũ Tài Lục
  9.     Tử vi phú giải của Thái Vân Trình
  10.     Tử vi dưới mắt khoa học của Vu Thiên Nguyễn Phát Lộc

Và cũng vì khuôn khổ hạn hẹp của tờ báo, người viết sẽ chỉ ghi lại những nét đại cương của từng tác phẩm với hậu ý tóm tắt toàn bộ vấn đề hầu quý độc giả thưởng lãm trong mùa xuân Ất mão 1 cách trọn vẹn.

Đó là điều mong muốn của mọi người, ở năm này, các nhà Tử vi lẫy lừng phổ biến các bí quyết, các kinh nghiệm, các tuyệt chiêu cho dàn hậu bối thụ hưởng qua các soạn phẩm tử vi mà các vị còn ôm ấp, còn luyến tiếc, còn mơ màng thời vàng son rực rỡ.

1. TỬ VI CHỈ NAM – SONG AN ĐỖ VĂN LƯU

Đây là quyển sách lâu đời, ra đời năm 1934 và tái bản lần thứ 3 năm 1957, đến nay kể như tuyệt tích trên thương trường.

Tác giả kể lại hoàn cảnh tin số mệnh, tìm hiểu số mệnh để rồi biết số mệnh và long nhiệt thành, quyển sách này mới ra đời.

Toàn bộ Tử vi chỉ nam gồm có 3 quyển, có tất cả 236 trang. Với số trang khiêm nhượng trên, độc giả không phải thất vọng vì được tác giả hướng dẫn cách thức an sao lập số, cách đoán tử vi trên các cung số rõ ràng, đầy đủ, trọn vẹn. Và với 32 lá số mẫu, tác giả giúp cho ta thấm nhuần phương pháp giải đoán thông thường mà mỗi người học số đều phải vượt đến.

Ở tác giả, ta thấy tác phẩm có lời văn bình dị, mộc mạc mà người đọc cũng thâu nhận dễ dàng, tuy rằng sự xếp đặt thứ tự các mục chưa được khúc chiết cho lắm, còn nhiều lẫn lộn. Điều đó không đáng kể vì người ta chỉ cần cha đẻ của đứa con tinh thần đó thật tâm truyền thụ cho đứa con xứng đáng, danh dự phô trương với đời. Có lẽ trong kinh nghiệm tìm kiếm thầy hay mà tác giả cay đắng gặp phải nên ở tác phẩm này, các tinh hoa của nền học thuật Đông phương cổ cộng với kinh nghiệm hành nghề, được cụ dốc hết tâm ý giãi bày cho hậu thế thưởng lãm. Vì vậy, sách TVCN đã tiết lộ thêm nhiều tình tiết Thái tuế từng năm (trang 170), xem số trẻ con (trang 121) nhất là bang bạc các trang của quyển thứ 3.

Dẫu biết rằng các cách đặc thù kể trên đều được tiền nhân kê cứu sẵn nhưng thử hỏi các tác phẩm Tử vi hiện thời đã có mấy quyển “xì” các bí quyết đó ra?

Thế cho nên, với số sách hạn chế trong Tử vi, ta sẽ còn phải đắn đo chọn lựa và chắc hẳn rằng sách xem được dung nghiên cứu được sẽ không vượt quá số đầu ngón tay.

Một dịp nào thuận tiện, chúng ta sẽ phân tích tận tường các nguyên nhân thúc đẩy đến tình trạng nghèo nàn nhất, bi thảm nhất của làng Tử vi VN.

2. TỬ VI BỔ TÚC – NGUYỄN MẠNH BẢO

Tôi được biết 1 sĩ quan QLVNCH đã thuộc làu các bài thơ trong quyển Tử vi bổ túc này, mặc dù ông không biết tử vi là gì. Được hỏi lý do, ông cho biết rằng tại thể thơ hợp với sở thích, vì vậy ông đọc tới đọc lui lâu ngày nên thuộc

Nói như vậy để độc giả thấy rằng quyển TVBT ít ra đã làm hài lòng giới hâm mộ thi phú và người học hỏi tử vi sẽ thích thú khi đọc qua tác phẩm này. Các câu phú trên do Ma Y lão tổ trước tác và cụ Lê Quý Đôn diễn giải ra quốc âm với hơn 400 cách lý đoán mà phần nhiều đề cập đến các bàng tinh.

Nhiều lúc gặp thầy giải đoán chuyên chú, má sát vào các chính tinh, tôi đâm ra nghi ngời sự diệu dụng của khoa Đẩu số vì với 14 chính tinh vận hành trên 12 cung số dĩ nhiên sự khác biệt sẽ bị thu hẹp rất nhiều, sự trùng hợp do đó sẽ xảy ra. Tôi cùng các bạn hữu bèn quay qua quan sát các sao nhỏ, tuy gọi là không quan trọng nhưng thật ra chúng đã từng làm đảo lộn thế cờ giải đoán. Quyển sách này đã trợ giúp chúng tôi đắc lực và trong 183 trang, chúng ta được đọc qua phần Tử vi tổng luận phú, các sao đắc hãm tại 12 cung, luận Mệnh viên nam nữ….tạm gọi khá đầy đủ để bổ túc them kiến thức đẩu số toàn vẹn, nhất là bổ túc cho quyển tử vi đẩu số cùng tác giả
Công cuộc sưu tầm của tác giả thật tỉ mỉ và quan trọng với sở nguyện khoa học hóa môn tử vi, đemmôn lý học này phổ biến cho ngoại quốc, thì với ấn bản trên làm vững niềm tin cho đám hậu học chúng ta khá nhiều, xem như là 1 tài liệu khả tín, ứng dụng chính xác vào bản số.

Tiếc thay, trong giờ phút này, người thừa kế không tiếp tục toàn vẹn hóa khoa Tử vi như ý nguyện của tác giả mà hình như hững hờ trước việc làm của tác giả khiến cho người thích nghiên cứu phải dò dẫm trở lại từ con số 0.

3. TỬ VI ĐẨU SỐ TÂN BIÊN – VÂN ĐẰNG THÁI THỨ LANG

Chúng ta dành 1 phút để tưởng niệm linh hồn cụ Vân Đằng Thái Thứ Lang đã tử nạn lưu thông, trước khi xem lại Tử vi của người.

Ta thấy tác phẩm của cụ từng ghi “Tham Lang ngộ Bạch hổ: phải phòng cá thú cắn”. Đối với ngày nay, ác thú của loài người không phải cọp beo vô uy lực trong các chuồng ở vườn Bách thú mà chính là các xe cộ qua lại như mắc cửi hung hãn hơn vị hung thần.

Thành ra những quan niệm xưa áp dụng vào thực tế ngày nay phải thay đổi theo từng thế hệ, từng thời đại trên chiều hướng tiến bộ của loài người. Khi đọc tác phẩm này, trong tinh thần mới đó, chúng ta sẽ dễ dàng thâu nhận các tinh hoa của khoa Tử vi vậy.

Sách phân là 3 phần: Lập thành; Luận đoán tổng quát; và Luận đoán vận hạn.

- Ở phần 1, chắc rằng mọi người đều đã rõ. Chỉ riêng đại mục lý giải ngũ hành, Can chi, biên giả cũng như hầu hết các tác giả khác ghi ra lấy lệ chứ không nói rõ công dụng của nó sinh, khắc, hòa hợp với nhau như thế nào trong tử vi. Một dịp nào đó, ta sẽ bàn chi tiết hơn vấn đề này

- Trong phần 2, ta sẽ lưu ý đến phần hướng dẫn của tác giả khi luận đoán 1 lá số. Đây là căn bản nhập môn mà í tai chịu hướng dẫn rạch ròi, đầy đủ mà áp dụng khá chính xác. Nói về tính lý các sao, biên giả sắp xếp thật phân biệt, kỹ lưỡng và phối hợp khá đầy đủ 1 cách đơn giản (kết hợp 1 số ít sao để luận) cũng như phụ luận các cung số qua kinh nghiệm của cụ, đã rộng mở đường hiểu biết của độc giả không phải nhỏ.

- Tại phần 3, phần quan trọng khả dĩ hướng dẫn 1 bộ óc thông minh trung bình tạm thời giải đoán khá ổn thỏa, đúng phương pháp sau 1 thời gian ngắn theo dõi tác phẩm này.

“Tôi học ít. Sự suy xét còn nông cạn…Nhưng với tấm long thành muốn góp 1 phần nhỏ vào công việc phổ biến tử vi đẩu số, tôi mạo muội biên soạn và đưa xuất bản cuốn sách này”. Ai lại không phục lời nói khiêm cung, hòa nhã của cụ Vân Đằng? Trước 1 nhiệt tình đầy dẫy, trước 1 người hữu công đã khuất, tôi mạo muội dừng bút nơi đây mà chưa vội lạm bàn đến các khiếm khuyết của tác phẩm.

4. TỬ VI ÁO Bí – HÀ LẠC DÃ PHU VIỆT VIÊM TỬ

Nhìn qua quyển sách dày như quyển tự điển, với tên đề, ta thấy tử vi sẽ ảo diệu bao nhiêu, sẽ ngăn chùn bước chân chập chững vào vườn hoa lý số của bao người.

May mắn thay, nhìn vào trang cuối, ta thấy tác giả để địa chỉ liên lạc hầu giải quyết các thắc mắc của độc giả ham tìm tòi. Tôi chưa có dịp tìm đến cụ Hà Lạc, tuy nhiên tôi cảm thấy vui sướng khi tác giả làm việc đó mà các tác giả khác, các soạn giả, biên giả khác chưa hoặc quên làm. Tôi có cảm tưởng họ buông thả đứa con tinh thần của họ, mặc sống chết ra sao, cũng chả cần biết đến hậu quả hành động của chúng hữu ích hay tác hại (?) để gánh lấy 1 phần hãnh diện hay trách nhiệm.

Trở về nội dung của tác phẩm, ta thấy tác giả thực sự chỉ dẫn độc giả phương pháp lập thành lá số, nhưng lại dài dòng ở chương 2. Nhưng ta phải thành tâm nhận xét rằng, với chương 3, chương đặc biệt hơn tất cả, tác giả đã phân tích các quan niệm an sao của các hệ phái để cuối cùng dứt khoát nên chọn con đường nào hợp lý nhất để đi, nhất là cách an Vòng Tràng Sinh. Tại chương 8 và 9, tác phẩm giúp ta nắm vững các cách của đẩu số, vận hành và tương quan 12 cung đối với mệnh viên.

Nhìn chung, quyển Tử vi áo bí có 1 trình độ cao hơn các quyển đồng loại khác: độc giả muốn nghiên cứu thông đạt ắt hẳn phải có 1 kiến thức dồi dào về môn lý số này vì có nhiều chủ đề (ví như Ngũ hành) tác giả quảng diễn thiếu khúc chiết, mạch lạc và chân thực, từng gây lung túng cho độc giả không ít. Sự chủ quan của cụ hà Lạc trong các cách giải thích rườm rà hẳn phát sinh trong đầu óc người xem những nghi vấn cần được giải tỏa
Và cũng như đa số tác giả khác, những “tại sao như thế này…” không được cụ hướng dẫn kỹ càng, thành ra đọc xong, ta chấp nhận như là 1 kết quả thực tế kinh nghiệm chứng minh chứ không thể tìm đến chân lý của vấn đề.

5. TỬ VI HÀM SỐ - NGUYỄN PHÁT LỘC

Non 500 trang, do Khoa học Nhân Văn xuất bản năm 1972, Tử vi hàm số được sắp xếp thật khoa học, giúp cho người nghiên cứu nắm vững các vấn đề phiền toái của môn tử vi học.

Đặc biệt, tác giả nêu ra qui tắc luận đoán 1 lá số thật cầu kỳ, tỉ mí, đầy đủ khiến cho ta cảm thấy rằng khoa lý học này rất toàn vẹn, toàn bích và đâm ra ngỡ ngàng trước kiến thức hạn hẹp của mình. Thật vậy, tôi đã từng nhìn thấy 1 nhà tử vi thiết lập lời giải đoán dài 100 trang giấy học trò, cũng chưa đủ các yếu tố cần thiết như tác giả đã trình bày. Thế mới biế, tử vi là bao la, rộng lớn đến dường nào?

Trong phần luận thuyết về Hàm số tử vi được xem như 1 chủ đề mới mẻ, trong đó, bao giờ tác giả cũng lưu ý đến cung Phúc đức, 1 cung có giá trị tột độ ảnh hưởng mật thiết với các yếu tố khác. Đây là phần có giá trị thiết thực như 1 tài liệu tham khảo mà mọi người không thể bỏ qua được.

Tiếc thay, đôi lúc tác giả tự mâu thuẫn với mình vì quá mê say phối hợp các hệ phái tử vi khi chứng minh rằng tử vi không thần quyền mà tại phần tính lý các sao, ông lại rơi vào các điều thần bí mà ông bài bác ở trên.

Tiếp đến là phần ý nghĩa các chính và phụ tinh, ta thấy tác giả đã công phu sưu tầm, biên khảo với kinh nghiệm dồi dào, sắp xếp mạch lạc, giúp cho những ai muốn rạch ròi phân biệt khi nghiên cứu, học hỏi tử vi.

Tác phẩm TVHS có 1 giá trị khá cao trong làng sách hiện hành và người muốn tham khảo môn này, ít nhất phải có quyển sách này làm căn bản tối thiểu để tiến tới, tuy rằng nó có khuyết điểm cố hữu ở sự gán ép của tác giả khiến cho ta không nắm vững vấn đề hoặc làm thừa thãi ở sự phối hợp các sao.

Dù sao, quyển TVHS vẫn còn thiếu sót như tác giả mặc nhiên thú nhận: phải có quyển Tử vi tổng hợp (chưa xuất bản) mới định rõ giá trị thật sự của tác phẩm này được

6. TỰ TÌM HIỂU ĐỜI MÌNH – NGUYỄN MẠNH LONG

Sách do hương Giang ấn hành năm 1971 với giá đề 400 đồng, dày 350 trang, khổ nhỏ. Đây là quyển sách có thể gọi là tiêu chuẩn sơ cấp cho những ai mới có dịp tìm hiểu tử vi đẩu số, vì với lối hành văn giản dị, dễ hiểu, với cách an sao rút gọn thành hệ thống đồ bản sẽ giúp hoàn thành 1 lá số rất dễ.

Tác giả hướng dẫn cách luận đoán tạm thời bản số tử vi qua các cách cục xấu tốt, thuận nghịch, sinh khắc giữa ngũ hành bản mệnh, cục, sao cung. Tác giả bàn qua đặc tính tổng quát của các sao chính, phụ ứng chon am mệnh, nữ mệnh và vận hạn kèm theo 1 bản phụ giải về phú đoán, căn bản cố truyền của các nhà lý số dung trong việc đoán số.

Có thể nói, tác phẩm bao gồm đầy đủ các yếu tố cần thiết cho các truyền nhân của lão tổ Trần Đoàn.

Như đã nói trên, quyển sách này là căn bản sơ đẳng của người mới nhập môn nên dĩ nhiên còn thiếu sót rất nhiều từ cách kết hợp các sao đến việc trưng bày lá số mẫu. Muốn tiến hơn, người học cần phải trau dồi them ở các quyển tử vi khác, ở các kinh nghiệm bằng hữu, ở chiêm nghiệm thường xuyên, ở sự tiếp thu chân thành của mình.

Đó là chưa kể các vấn đề cần xét lại (tương sinh giữa mệnh và cục – trang 47 – hành mệnh và hành sao – trang 48-) hoặc thiếu sót (tính lý các sao tại các cung, ảnh hưởng ngũ hành Can chi ứng dụng vào tử vi,,ục lục…) hoặc cẩu thả (in sai, thứ tự sắp xếp các trang, sự sắp xếp các đại tiểu mục…).

Được thừa hưởng di sản của nhà tử vi tăm tiếng 1 thời, GS Nguyễn Mạnh Long hẳn đã góp phần vun vén, tái bồi cho khoa mệnh học chưa được xứng ý cho lắm.

7. TỬ VI NGHIỆM LÝ – THIÊN LƯƠNG

Chúng ta chưa thấy quyển tử vi nào được giới thiệu nhiều, bàn luận nhiều như quyển Tử vi nghiệm lý của cụ Thiên Lương, kể cả các quyển ấn hành đồng thời hoặc trước đó.

Không phải là ân sủng, đặc quyền. Quyển sách có 1 điểm đặc dị: phát kiến vòng Thái Tuế để nghiên cứu tính tình con người qua lý số. tương lai, những nhà nghiên cứu con người ắt hẳn không thể bỏ qua việc phối hợp tử vi vào các phương pháo và phương tiện khảo cứu sẵn có được.

Tuy rằng trên căn bản, các phát kiến của Thiên Lương không có gì sai lạc ý hướng cổ nhân, nhưng phải coi rằng nó mới lạ và giản dị, dễ hiểu và dễ ứng dụng vào các lá số không sai chạy. Kinh nghiệm đó tác giả không bắt buộc ta phải chấp nhận như 1 tín điều. Sự kiện này nếu có dịp tiếp xúc với tác giả, ta sẽ thấy ngay ý tưởng chân thành biểu lộ sự thanh cao, bất vụ lợi của tác giả. Nhưng khi đọc xong, ta vẫn khả chấp như 1 tin tưởng rằng Tử vi không đến nỗi mù mờ, dành đặc quyền cho 1 hạng người nào và cho ta thấy tính lý con người, thời vận hưng khởi hoặc suy tàn để tri thiên mệnh, để biết người biết ta. Hay ho là chỗ đó! Thâm thúy là nơi đó!

Tác giả đã không minh chứng các điều phát minh 1 cách rõ ràng làm đa số độc giả khó thâu nhận kịp thời các nguyên tắc lý số, nhưng bang bạc các lá số danh nhận ở phần thứ nhì của tác phẩm vừa giúp kinh nghiệm giải đoán, vừa áp dụng tức thời các nguyên tắc tìm thấy ở phần thứ nhất.

Ước mong rằng quyển TVNL ra đời là nguồn phấn khởi cho bao người còn nặng mang “bí kiếp” hãy mau mau cống hiến cho đời kẻo mai một – sự mai một đã được chứng minh cụ thể cho nền học thuật tử vi ngày nay – cho bao người đang lăm le hoặc đã nhúng tay vào nghiệp dĩ lý số có dịp ngắm các khám phá thực tiễn, các nguyên lý tối vi, các kinh nghiệm quý giá để nân cao đất đứng cho môn tử vi, để cởi bỏ lớp áo huyền vi của khoa đẩu số.

8. TỬ VI ĐẨU SỐ TOÀN THƯ – VŨ TÀI LỤC

Ngay lời dẫn, dịch giả đã giúp ích nhiều cho kiến thức của chúng ta về môn Tử vi học và đi đến kết luận rằng, con người dù sao cũng bị số mệnh chi phối và biết số mệnh không phải là vô bổ, là huyễn hoặc, là hạ cấp vì “bất tri mệnh vô dĩ vi quân tử”.

Ở đây ta thấy Vũ Tài Lục dịch và bình chú cuốn TVĐSTT của Trần Đoàn do La Hồng Tiên biên soạn, cùng bổ túc thêm vào ít khám phá mới của các tác giả khác. Vì thế ta có dịp biết tử vi qua truyền thuyết dân gian mà các sao được gán ghép qua các nhân vật truyện Phong Thần (nhưng nguyên bản Phong Thần, các sao được hình dung qua các nhân vật khác với của dịch giả). Dù là huyền thoại nhưng xem qua cũng thấy hay hay: ta có thể suy nghiệm kết quả các cuộc đấu chiến của các nhân vật trong truyện để luận đoán sao thủ Mệnh gặp sao nào ở vận hạn là khắc chế, thắng bại, tiền hung hậu kiết…

Dịch giả đưa ra 1 nghi vấn cho rằng trong TVĐSTT chỉ có 85 sao trong khi Tử vi Việt có đến 104 vị. ông cho rằng chỉ sao Đào hoa là có giá trị, còn các sao kia là gượng ép trong khi ông không rõ do đâu có sự sai biệt lượng số các sao. Thành ra ta phải dung thực tế, dung sự thật để chứng tỏ rằng các sao của Tử vi Việt không phải không có giá trị,chứ không thể căn cứ vào 1 quyển sách nhập cảng để bác bỏ đồ nội hóa vì luật sinh tồn từng hung hồn minh chứng rằng cái gì vô giá trị sẽ bị thải hồi qua thời gian như 1 số sao ta từng thấy, như các sao Mệnh chủ, Thân chủ.

Thiết tưởng sách TVĐSTT ra đời cũng chỉ góp phần vào vườn hoa tử vi thêm 1 loài hoa mới. Chúng ta phải áp dụng để chiêm nghiệm hơn là mặc nhiên chấp nhận như 1 chân thư. Đừng vì 1 lời nói, đừng vì 1 nhãn hiệu mà bài bác, phá hủy công trình nghiên cứu của làng tử vi Việt. “Thức đêm mới biết đêm dài”, “đường dài mới biết ngựa hay” có lẽ áp dụng được vào các mâu thuẫn của quyển sách này với các soạn phẩm tử vi của người Việt.

9. TỬ VI PHÚ GIẢI – THÁI VÂN TRÌNH

Hầu hết các quyển tử vi hiện hành, không nhiều thì ít, cũng có ghi ở phần phụ lục các câu phú của cổ nhân. Tất nhiên các câu phú được sao lục lại đó có thiếu sót.

Và quyển TVPG ra đời nhằm mục đích kết hợp các câu phú của mọi hệ phái lý học, giúp cho độc giả đỡ công tìm tòi, truy lục.

Sở dĩ tôi ke quyển TVPG này vào 1 trong 10 quyển sách tử vi hiện đại là vì căn bản xem số của các nhà tử vi đều lấy các câu phú làm tiêu chuẩn ứng dụng vào bản số. Tất cả cho rằng các sách vở hoặc bị ngoại nhân cướp đoạt nên các nguyên tắc về tử vi khó long ghi chép được đầy đủ để lưu tuyền đến nay. Do đó, đa số còn bám víu, tin tưởng vào chiếc phao cuối cùng do sự giáo luyện truyền khẩu các bí quyết lý số bằng những bài văn dễ nhớ, dễ thuộc: các câu phú vì lẽ ấy được các vị sư phụ chiếu cố kỹ cảng, tìm hiểu thâm sâu để truyền lại cho môn đệ có những miếng nghề tin tưởng hơn các lò khác.

Tuy nhiên, tin vào các câu phú cũng y như sử dụng con dao 2 lưỡi: lợi cũng nhiều mà hại cũng không ít (Cụ Phong Nguyên đã dẫn giải khá nhiều trên KHHB về các câu phú). Nói như thế để cho độc giả ước định được sự thật của vấn đề không có gì tuyệt đối cả. Cùng 1 câu phú, nhưng 2 ông thầy sẽ giảng giãi khác tùy theo kinh nghiệm giải đoán cũng như trí linh mẫn của mỗi người khác nhau. Điều này chúng ta sẽ nhận thấy rõ ràng trong quyển sách trên với lối ghi chú gượng ép, mơ hồ, đôi khi tối nghĩa.

Thái độ dè dặt của ta khi dung sách là điều cần có trước tiên, vì áp dụng phú vào mỗi lá số không phải công việc thay các con số vào công thức của toán học được.

Sách có giá trị ở công trình sao lục chứ chưa bày tỏ được quan điểm của soạn giả.

10. TỬ VI DƯỚI MẶT KHOA HỌC – VU THIÊN NGUYỄN ĐẮC LỘC

Thiếu quyển sách này là 1 thiếu sót trầm trọng cho kiến thức hạn hẹp về tử vi của ta hiện tại chỉ thuần về huyền bí, vì chưa có ai giải thích tại sao con người lại chịu ảnh hưởng mật thiết của các dữ kiện được gọi là “Sao” đó, tại sao ông sao này lại an thế này, ông sao kia lại an thế kia…?

Sử dụng tử vi ngày hôm nay cũng giống như mình sử dụng chiếc xe hơi, sử dụng hột gạo để nấu cơm, sử dụng căn nhà để ở chứ không quay về nguồn xem cách thức cấu thành chiếc xe hơi thế nào, xem các giai đoạn trồng trọt cây lúa ra sao…

Tác giả Vu Thiên đơn phương làm công việc về nguồn đó sao cho hợp với quan điểm của Hi Di Trần Đoàn mà không xa rời khoa học hiện đại. ông đã thành công 1 phần công trình nhiêu khê trên.

Việc chấp nhận hay không sẽ là 1 đề tài dài làm tốn bao nhiêu giấy mực của người ham học hỏi, thích nghiên cứu trước vấn đề mới mẻ này. Tại tác phẩm, tác giả có những quan niệm về an sao lập số đặc dị hơn các sách mà ta có trong tay. 1 cuộc cách mạng tử vi để thay đổi quan niệm lỗi thời, cũ rích ắt không phải là con đường xa lộ dẫn đến mục tiêu. Bởi 1 vấn đề nho nhỏ là ngũ hành các sao của các môn phái tử vi đương thời còn là 1 hố cách biệt thay huống hồ là công tác trọng đại này.

Tuy nhiên, năm này ta chưa cải cách được thì 10 năm, 20 năm sau giới trẻ chúng ta sẽ lại bắt tay vào công cuộc khám phá nối tiếp công trình của tác giả để khoa học hóa môn tử vi, đưa nó vào chương trình giáo dục văn hóa đặc thù của dân tộc Việt. âu cũng là 1 phương thức cải cách đời sống tinh thần của người VN cho hợp lẽ tự nhiên của tạo hóa mà tác giả đã bắt đầu gieo cuống nó 1 hạt giống rồi vậy.

Qua 10 tác phẩm tử vi, chúng ta vừa phớt qua trên căn bản tổng quát, ta thấy 10 tác giả là 10 quan niệm khác nhau do kinh nghiệm, do bí truyền, do sáng kiến của cá nhân. Thành ra khoa Tử vi thật sự chỉ cống hiến cho đời 1-2 khía cạnh tầm thường nặng về quyền lợi vật chất, nặng về danh quyền khoa bảng, nặng về cá nhân phù du (ba vạn sáu nghìn ngày là mấy?), và dưới nhãn quan của dân chúng, thầy tử vi được đồng hóa …

Theo tạp chí Khoa Học Huyền Bí


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 10 tác phẩm tử vi hiện đại

Định tính cụ thể của 10 số biểu lý âm dương ngũ hành mệnh vận –

Số 1 biểu thị Dương Mộc Thuộc hành Mộc chủ về “nhân” Số 1 - Dương Mộc chỉ người tính tình hòa nhã, ôn từ. Người có ý chí mạnh mẽ, có nghị lực kiên cường, quyết tâm cao. Người vượt mọi khó khăn và nhanh chóng thích nghi với hoàn cảnh thay đổi. Người c

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Số 1 biểu thị Dương Mộc

Thuộc hành Mộc chủ về “nhân”

Số 1 – Dương Mộc chỉ người tính tình hòa nhã, ôn từ. Người có ý chí mạnh mẽ, có nghị lực kiên cường, quyết tâm cao. Người vượt mọi khó khăn và nhanh chóng thích nghi với hoàn cảnh thay đổi. Người có lòng bác ái nhân từ, quan tâm đến mọi người, song lại không kiêng nể kẻ đối địch. Người năng động và ưa hoạt động, nhưng hành động thận trọng, chắc chắn nên chậm.

Số 2 biểu thị Âm Mộc

Vẫn là người thuộc hành Mộc chủ về “nhân”. Song thuộc tính Âm nên tính tình khiêm nhường, ngay thẳng. Bản tính là nhân hậu, ít thổ lộ. Người có bề ngoài mềm mỏng, nhưng bên trong lại cứng cỏi và có tính bảo thủ, cố chấp. Người này có tính đố kỵ. Tuy vậy với ý trí và lòng quyết tâm bền bỉ nên là người có nghị lực thích nghi mọi hoàn cảnh và vẫn phát triển tốt.

Số 3 biểu thị Dương Hỏa

Hành Hỏa chủ về “Lễ”. Thuộc hành Hỏa, người có tính cách nóng vội, gấp gáp, ưa hoạt động. Song là người thiếu kiên trì, chóng chán nên hay bỏ dở giữa chừng mọi thứ. Người này khí huyết cường thịnh. Người nhanh nhẹ, thích danh lợi, thích tiếng tăm. Tuy là người năng động và mưu trí, nhưng sự thành công không bền lâu.

Nhược điểm của Dương Hỏa là không khoan nhượng hiếu thắng, nhỏ nhen và không nhận sai lầm của mình. Họ cương quyết thực hiện bằng được mục tiêu ngắn hạn.

Số 4 biểu thị Âm Hỏa

Người có số biểu lý Mệnh vận 4 thuộc hành Hỏa. số 4 là số chẵn thuộc Âm. Liên kết hai yếu tố lại, người có số biểu lý 4 là Âm Hỏa. Tuy và âm thuộc tính khác dương, song vẫn thuộc hành Hỏa, nên người này tính tình cũng gấp gáp, nóng nảy. Đó là vì thuộc hành Hỏa; hành Hỏa lại chủ về “lễ đạo” nên người này có tính cách nghiêm nghị, nóng, gay gắt, nguyên tắc. Hành và đặc tính cơ bản của nó ảnh hưởng mạnh tới nhân cách. Bởi vậy người có số biểu lý 4 – Âm Hỏa là người bề ngoài bình thường có vẻ lạnh nhạt (tính Âm), nhưng thực chất bên trong lại nóng vội. Họ có nhiều ước vọng, ý muốn, nhưng là người không muốn thổ lộ. Người này rất khéo ăn nói và biết dấu kín sở nguyện. Vì vậy có thể nói là người nham hiểm, khó chơi. Người Âm Hỏa tức lửa âm ỉ, không bùng. Bởi vậy có thể nói người này không mạnh khỏe, cường tráng, hạnh phúc không suôn sẻ và hiếm muộn (về xây dựng gia đình và con cái).

Số 5 thuộc hành Dương Thổ

Số 5 là số lẻ nên thuộc tính là Dương Thổ, Hành Thổ chủ về “Tín”. Chủ về tín nên tính người nghiêm trang, bình ổn, thư thái, đĩnh đạc.

Người có số biểu lý Mệnh vận là 5 – Dương Thổ thì bị hành Thổ chi phối, nên tính tình thiện lương, ôn hòa, trầm lặng. Là Dương Thổ, người này trọng danh dự, giữ chữ tín trên hết. Người có lòng bao dung, cảm thông lớn. Người trọng tín nghĩa, coi thường vật chất, hiểu biết và cư xử ân tình. Người này không để lộ lòng mình cho người ngoài biết và họ ít để ý đến mọi sự nên có vẻ lãnh đạm, không thể hiện thân mật.

3075_1257315528

Số 6 cũng thuộc hành Thổ

Số 6 là số chẵn nên mang thuộc tính Âm. Như vậy số 6 thuộc Âm Thổ. Người có số biểu lý Mệnh vận Âm Thổ tất mang đặc tính chung của hành Thổ là chủ về “Tín” nên tính người bình ổn, nghiêm trang, đức độ. Là Âm Thổ, người có số biểu lý này là người rất hiền và dịu dàng, bên ngoài nghiêm khắc mà bên trong lại thiện lương (ảnh hưởng chữ tín của hành Thổ) và là người nghĩa hiệp, thích làm việc nghĩa, người xả thân vì nghĩa lớn. Người này thích kiến thức chuyên sâu chứ không thích lan man. Họ thích đi sâu vào một lĩnh vực, một chuyên môn hay một nghề nghiệp. Vì vậy có thể nói là người có tính đam mê. Vì là Âm Thổ, nên là người ham muốn tình cảm và sức khỏe không tốt.

Số 7 thuộc hành Kim

Số 7 là số lẻ nên thuộc tính Dương. Như vậy số 7 là Dương Kim. Người có số biểu lý Mệnh vận là 7 – Dương Kim chủ về “Nghĩa”, thì cứng cỏi, hành xử quyết liệt, mạnh mẽ, sắc sảo.

Người này có ý trí kiên cường, quật khởi. Người ưa tranh đấu, không sống luồn cúi, a dua. Người có dũng khí, không sợ gian nguy đến tính mạng. Người quả cảm nên có nhược điểm là lòng tự ái cao, thích tranh biện, cãi lý không kiêng nể, không khuất phục. Vì vậy mà cuộc đời của họ nhiều thăng trầm, lao khổ, trôi nổi, đổi thay nhiều.

Số 8 thuộc hành Kim

Số 8 là số chẵn thuộc tính Âm. Như vậy liên kết lại ta có số 8 là Âm Kim. Cũng thuộc hành Kim, chủ về “Nghĩa”, nên người có số biểu lý Mệnh vận là số 8 sẽ có tính tình ngang ngạnh, bướng bỉnh (thuộc Kim tính rắn). Người này có sức chịu đựng mọi nhẽ. Tính tình vì thế mà bảo thủ, cố chấp. Họ không nhận sai sót của mình bao giờ và lại hay chấp nhặt. Người này cũng thích tranh đấu, có nhiều tham vọng, là người có thể sẽ là nhân vật lỗi lạc và là người được thiên hạ kính trọng.

Số 9 thuộc hành Thủy

Số 9 là số lẻ thuộc tính Dương. Như vậy số 9 là số Dương Thủy (nước cường, đại dương). Hành Thủy chủ về “trí”, nghĩa: trí tuệ, xét đoán, uyển chuyển. Vì vậy người có số biểu lý Mệnh vận là số 9 – Dương Thủy sẽ là người thông minh, khôn khéo. Người ưa hoạt động. Họ không thích “ăn không, ngồi dồi”. Họ lấy công việc làm sở thích. Họ sống bằng lý trí chứ không bằng cảm tính. Người này cư xử có phán xét cẩn thận, người sống tình cảm và giao thiệp chân thành, rộng. Người này có nhiều tham vọng và thích danh tiếng. Họ thích ngao du đó đây và có óc quan sát tinh tế.

Số 10 thuộc hành Thủy

Số 10 là số chẵn thuộc tính Âm, liên kết lại ta có số 10 là Âm Thủy. Thuộc hành Thủy tính Âm (nước đọng) vì vậy vẫn chủ về “trí”. Người có số biểu lý Mệnh vận là số 10 –

Âm Thủy, sẽ có những nét cơ bản như tính người ưa tĩnh lặng, đơn độc. Người này nhạy cảm, nhưng thụ động. Người sống thiên về cảm tính, song lại có nhiều tham vọng lớn. Người có tính thụ động không tự chủ việc gì song lại là người dễ bị kích động.

Nhận định: Mệnh vận là phần số biểu lý quan trọng nhất. Nó cho biết những đặc tính cơ bản nhất, là vận thế mà có thể giúp ta dự đoán sơ bộ bản chất và nhân cách của một ai đó khi biết họ và tên của họ. Một phương pháp đơn giản không cầu kỳ như thuật số, dịch số, tứ trụ v.v… và các môn dự đoán khác mà người Trung Quốc xưa và nay vẫn dùng. Với việc số hóa họ tên ta có thể tìm ngay được số biểu lý của Mệnh vận. Từ đó ta tham chiếu vào tính tình đã diễn giải qua 10 số biểu lý Âm Dương và Ngũ Hành mà nắm bắt nhanh nhất nhân cách của một ai đó.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Định tính cụ thể của 10 số biểu lý âm dương ngũ hành mệnh vận –

Đôi nét về thuyết âm dương –

Đôi nét Học thuyết âm dương ra đời từ Trung Quốc cổ xưa. Nó đã trở thành một quan niệm triết học của cả một thời gian dài. Đến nay, thời đại mà triết học duy vật biện chứng thịnh hành cùng với các trường phái triết học khác thì thuyết Âm dương vẫn đư

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đôi nét

Học thuyết âm dương ra đời từ Trung Quốc cổ xưa. Nó đã trở thành một quan niệm triết học của cả một thời gian dài. Đến nay, thời đại mà triết học duy vật biện chứng thịnh hành cùng với các trường phái triết học khác thì thuyết Âm dương vẫn được nhiều học giả Trung Quốc ứng dụng. Các sách về dự đoán vẫn được mọi người đón nhận và hoan nghênh như dự đoán theo tứ trụ, chu dịch với dự đoán học, thiên địa nhân.

(Đàm thiên thuyết địa luận nhân). Đặc biệt là kinh dịch đã được hẳn một viện nghiên cứu ứng dụng đảm trách. Kinh dịch được Châu Âu nghiên cứu chuyên sâu. Các tác phẩm trên đều dựa trên thuyết Âm dương và thuyết Ngũ hành.

am-duong

Các quan niệm

Hãy cứ tạm gọi như các học giả Trung Quốc và Âu Mỹ rằng thuyết Âm Dương là một học thuyết triết học: “Duy vật sơ khai” một cách gượng ép mang sắc thái chính trị, thì thuyết âm dương vẫn là cái gốc để suy luận, là nền tảng của sự ra đời nhiều môn khoa học, nó được luận giải nhiều hiện tượng, nhiều chuyên ngành với những thực tế ứng dụng hiệu quả như: dự báo, đông y, hình sự, quân sự, thế biến, địa biến, thiên biến v.v…

Thuyết Âm Dương cho thấy sự hình thành và biến hóa, phát triển của mọi vật đều do sự vận động của hai khí âm và dương. Thuyết này quy tụ các quy luật âm dương thống nhất và đối lập, sinh và huỷ cùng nhập và tách của âm dương. Nó thật đơn giản mà sâu xa, kỳ bí biết chừng nào.

Ứng dụng thuyết âm dương

Thuyết âm dương không chỉ được ứng dụng rộng rãi ở Trung Quốc từ hơn hai nghìn năm trước công nguyên mà trường tồn đến ngày nay, nó được lan truyền khắp Á châu sang Âu châu và ngay cả Mỹ châu, Úc châu… Cũng say sưa nghiên cứu.

Thật kỳ lạ, nếu cứ suy xét kỹ càng thì nhiều hiện tượng của giới tự nhiên đều trở nên dễ hiểu, dễ lý giải mà không cần phải có học thức cao siêu gì. Một người dân bình thường cũng dễ dàng trả lời trước một hiện tượng nào đó. Ví dụ giải thích về sự chết là “thoát dương – lạnh” tức sự tách giữa khí âm và khí dương đã xảy ra. Và như vậy là đã xảy ra quá trình huỷ. Sự sống có sinh và có huỷ, sinh là quá trình kết hợp âm và dương, huỷ là quá trình tách ra của âm và dương.

Sự mất cân bằng âm dương

Sự mất cân bằng âm dương tạo ra biến loạn. Ví như trong cơ thể người khi có sự cân bằng âm dương con người sẽ khoẻ mạnh, bệnh tật khó xâm phạm, lục phủ ngũ tạng yên ổn. Tam bảo (tinh, khí, thần) sẽ hùng mạnh, khi sự cân bằng bị suy giảm làm cho các chuyển hoá cơ bản bị rối loạn thì sức đề kháng yếu đi, bệnh tật có cơ hội phát sinh xâm phạm trong cơ thể.

Trời đất mất cân bằng âm dương thì: hoặc mưa nhiều gây lũ lụt, gió bão, sấm chớp, hoặc nắng lắm gây khô kiệt tạo hạn hán, hỏa hoạn khô héo v.v…

Thuyết lý vô cùng đơn giản mà giải thích lại hợp đạo, hợp tình. Ai hiểu sơ qua âm dương cũng giải thích như một nhà khoa học uyên thâm.

Chẳng thế mà ông Thiệu Vĩ Hoa (TQJ, một dự đoán gia tài ba của thế kỷ 20-21 nay vẫn thường nói thuyết âm dương là do tầng lớp lao động sáng tạo ra: “Học thuyết âm dương là nhân dân lao động Trung Quốc thông qua sự quan sát các hiện tượng, sự vật mà chia mọi vật trong vũ trụ thành hai loại âm dương. Từ đó xây dựng nên tư tưởng duy vật biện chứng sơ lược….”.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đôi nét về thuyết âm dương –

Mách bạn cách chọn con số may mắn

Theo phong thủy, mỗi con số tương ứng với một chòm sao. Muốn chọn được con số may mắn cho mình, phải hiểu được ý nghĩa của chúng.
Mách bạn cách chọn con số may mắn

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Mach ban cach chon con so may man hinh anh
 
Số 1 là Nhất Bạch Thủy Tinh, gọi là sao Văn Xương, chủ công danh, thi cử. Nếu Nhất Bạch sinh vượng thì vượng đinh, vượng tài, công danh hiển đạt, thi cử đắc lợi, tốt cho sự nghiệp.
 
Số 2 là Nhị Hắc Thổ Tinh, gọi là sao Bệnh Phù. Khi nó sinh vượng thì gia đạo an khang, phát về gia trạch.
 
Số 3 là Tam Bích Mộc Tinh, tức sao Lộc Tồn. Sao này sinh vượng thì an khang, phú quý.
 
Số 4 là Tứ Lục Mộc Tinh, sao Văn Khúc. Nó mang ý nghĩa phát về thi cử, công danh, đỗ đạt đường văn chương chữ nghĩa.
 
Số 5 là Ngũ Hoàng Thổ Tinh, gọi là sao Chính Quan. Ngũ Hoàng là ngôi vua tôn quý, chỉ đóng ở Trung tâm là tốt (vua chính ngôi).
 
Số 6 là Lục Bạch Kim Tinh, tức sao Vũ Khúc. Khi sinh vượng là sao tốt, chủ phát tài, phát quan, công danh tài lộc đầy đủ.
 
Số 7 là Thất Xích Kim Tinh, gọi là sao Phá Quân vượng đinh, vượng tài, phát về võ chức.
 
Số 8 là Bát Bạch Thổ Tinh, là sao Tả Phụ. Nó sinh vượng thì công danh phú quý.
 
Số 9 là Cửu Tử Hỏa Tinh, tức sao Hữu Bật, sinh vượng thì thi cử đỗ đạt, công danh xán lạn. 
 
Khi các con số đứng riêng rẽ có ý nghĩa khác nhau bao hàm cả tốt, xấu, may mắn hay đen đủi (phụ thuộc vào sao sinh vượng hay không). Nhưng khi kết hợp với nhau sẽ có sự bổ trợ, tương tác hình thành tính chất tốt xấu của dãy số. Các số vượng khí, tốt lành nên có nhiều trong dãy là 1,8,9,0.  
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mách bạn cách chọn con số may mắn

100 lời khuyên lúc lâm chung của vị Thầy thuốc Trung y 112 tuổi

Một bài viết hay không liên quan tới Tử Vi Lý Số, nhưng lại rất có ích cho chúng ta tử bảo vệ sức khỏe của mình.
100 lời khuyên lúc lâm chung của vị Thầy thuốc Trung y 112 tuổi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Một bài viết hay không liên quan gì tới Tử Vi, tuy nhiên cũng là một bài viết hay mà mình đăng lên đây để tham khảo

1. Hãy nhớ kỹ: Ngủ là yếu tố quan trọng nhất của dưỡng sinh. Thời gian ngủ nên từ 21h đến 3h sáng. Vì thời gian này là mùa đông trong ngày, mùa đông chủ yếu là ẩn náu, mùa đông mà không ẩn náu thì mùa xuân, hạ sẽ không thể sinh trưởng, sang ngày hôm sau sẽ không có tinh thần.

2. Hết thảy các vị thuốc dùng để trị bệnh cho dù là Trung y hay là Tây y đều chỉ là trị phần ngọn, không trị tận gốc. Tại vì hết thảy bệnh tật đều bắt nguồn từ những nguyên nhân sai lầm mà sản sinh ra hậu quả sai lầm. Nguyên nhân sai lầm mà không trừ dứt, thì hậu quả sẽ không thể bỏ tận gốc. Nguồn gốc căn bản của sức khỏe là tại tâm. Hết thảy pháp từ tâm sinh ra. Tâm tịnh thân sẽ tịnh. Vì thế khi bị bệnh rồi, không được hướng ngoại cầu, phải dựa vào hệ thống phục hồi của bản thân để chữa trị bệnh của chính mình. Kỳ thực con người và động vật là giống nhau, bệnh của động vật đều là tự dựa vào bản thân mà tự hồi phục, và con người cũng có khả năng đó.

3. Quan niệm đúng đắn có tác dụng giúp người bệnh tiêu trừ bệnh tật tốt hơn nhiều so với sử dụng biệt dược đắt đỏ và phẫu thuật. Có được quan niệm đúng đắn, bạn sẽ có quyết định đúng đắn, bạn sẽ có hành vi đúng đắn, và bạn sẽ có thể phòng ngừa rất nhiều bệnh tật phát sinh.

4. Con người vốn hội tụ hết thảy trí huệ, tuyệt đối không phải là học từ trong sách vở, mà là từ tâm chân thành, tâm thanh tịnh của bản thân, từ trong [thiền] định mà sinh ra.

5. Trong giới sinh vật con người là linh thể có cấu tạo hoàn mỹ nhất, khi con người được sinh ra là đã có một cơ thể khỏe mạnh; sự điều chỉnh trạng thái khỏe mạnh của con người là dựa vào chính hệ thống điều tiết phục hồi của bản thân để hoàn thành, chứ không phải dựa vào nhân tố bên ngoài, các nhân tố bên ngoài chỉ có tác dụng phụ trợ.

6. Đại đa số hiện tượng bệnh tật của con người là hiện tượng biểu hiện khi cơ thể đang điều tiết, thanh lọc những thứ không tốt trong thân thể, là trạng thái biểu hiện ra khi cơ thể tự động điều tiết trở lại trạng thái cân bằng, vì thế chúng ta nên coi đó là hiện tượng sinh lý bình thường, chứ không nên coi đó là căn bệnh để tiêu diệt. Vì vậy khi con người bị bệnh, nhất định không nên có tâm thái oán trách và giận giữ, tâm lý phải ổn định, tâm định thì khí sẽ thuận, khí thuận thì máu sẽ thông, khi thuận huyết thông thì trăm bệnh đều sẽ tiêu tán.

7. Sức khỏe của con người không thể xa rời hai nhân tố: 1) Khí huyết đầy đủ; 2) Kinh mạch thông suốt ( bao gồm huyết quản và đường thông bài tiết những thứ cặn bã).

8. Khí huyết đầy đủ dựa vào: sự đầy đủ về thức ăn + dịch mật + bắt buộc trong khoảng thời gian (sau khi trời tối đến 1h40 sáng) có thể ngủ ngon giấc (thời gian này đại não hoàn toàn không làm việc, đều do thần kinh thực vật làm chủ đạo) + có thói quen sinh hoạt lành mạnh.

9. Kinh mạch thông suốt cần: Tâm thanh tịnh. Hết thảy thất tình lục dục đều có thể phá hoại tâm thanh tịnh, từ đó phá hoại sự lưu thông bình thường của kinh mạch.

10. Duy trì một cơ thể khỏe mạnh khỏe mạnh không chỉ cần “tăng thu” (gia tăng khí huyết), mà còn cần “tiết chi” (giảm thiểu sự hao tổn khí huyết).

11. Ăn uống quá độ không những không thể gia tăng khí huyết, mà còn trở thành những thứ cặn bã mang gánh nặng cho cơ thể, hơn nữa còn bị tiêu hao khí huyết để thanh lọc chúng đi. Lục phủ ngũ tạng là một xưởng gia công khí huyết, thức ăn là nguyên vật liệu, năng lực gia công là hữu hạn, còn thức ăn là vô hạn, cho nên số lượng thức ăn nhất thiết phải được khống chế.

12. Vận động thích hợp có thể giúp cho khí huyết lưu thông, nhưng đồng thời cũng tiêu hao đi khí huyết. Sự tuần hoàn của cơ thể tại vi mô chủ yếu dựa vào trạng thái lỏng và tĩnh mà đạt được, đây cũng là điều không thể thiếu cho một cơ thể khỏe mạnh.

13. Chất cặn bã trong cơ thể càng nhiều sẽ cần càng nhiều khí huyết để thanh lọc chúng, nhưng khi chất cặn bã nhiều lên và làm tắc huyết mạch sẽ làm giảm thiểu khí huyết, cái đó sẽ dẫn đến sự tuần hoàn ác tính, cũng chính là cơ lý khiến con người già yếu đi. Vì vậy nếu con người muốn khỏe mạnh không già yếu thì phải: 1) Giảm thiểu chất cặn bã trong cơ thể; 2) Tăng cường sự thông suốt của các đường kinh mạch; 3) Tăng cường khí huyết trong cơ thể.

14. Tin tưởng vào thuốc, tin tưởng vào số liệu kiểm tra, không bằng tin tưởng vào cảm giác của bản thân, tin tưởng rằng chính mình có đầy đủ năng lực để điều tiết. Nhưng trước hết bạn cần phải là người đắc đạo (trí huệ đã khai mở), mới có thể phân biệt được hết thảy những điều này.

15. Sự khỏe mạnh, khởi đầu từ việc điều hòa tâm tính. Vì sức khỏe của bạn, bạn hãy tu Phật. Tu Phật đạt được sự vui vẻ đó là sự hưởng thụ tối cao của đời người.

16. Đối với người có bệnh cũ mà nói, chỉ khi có khí huyết đầy đủ (một là thông qua phương pháp bổ sung khí huyết như đã giới thiệu ở đây, hai là thông qua việc đi tản bộ để đánh thông khí cơ), bệnh tình mới có thể hiển hiện ra. Vì thế người luyện công sau khi công phu đã đạt đến một trình độ nhất định đều xuất hiện một vài hiện tượng “bệnh”. Đến lúc đó phải vững vàng kiên định, tâm thần phải tĩnh lại và luyện nhiều tĩnh công hơn để gia tăng khí huyết của bản thân, để mau chóng vượt qua giai đoạn này.

17. Con người làm trái với quy luật dưỡng sinh, mặc dù không nhất định sẽ bị bệnh ngay lập tức, nhưng một khi đã hình thành thói quen, liền gia tăng nguy cơ mắc bệnh. Điều này giống với luật lệ giao thông, bạn vi phạm luật lệ giao thông, không nhất định sẽ xảy ra sự cố, nhưng tình trạng nguy hiểm là có thể thấy rất rõ ràng.

18. Tại sao con người nhất thiết phải duy trì trạng thái đói khát nhất định thì mới có lợi cho dưỡng sinh? Kỳ thực đây chính là sự vận dụng tuyệt diệu của chữ “Hư”. Đạo gia giảng, hư thì linh. Chính cái đó cùng với sự khiêm tốn khiến cho con người tiến bộ, giống như tự mãn khiến con người lạc hậu, vì thế con người nhất thiết phải thường xuyên duy trì trạng thái “hư linh”, mới có thể luôn luôn duy trì sự thanh tỉnh, duy trì sự khỏe mạnh.

19. Con người muốn khỏe mạnh, thì nhất thiết phải làm cho bên trong cơ thể có đầy đủ “khí” để “khí hóa” những thức ăn đi vào. Chỉ có như thế, thì bên trong thân thể bạn mới không tích tụ chất cặn bã, sẽ không có thức ăn thừa bị phóng thích và phân tán “hư hỏa” gây tổn hại các cơ quan nội tạng trong cơ thể bạn. Cái “hư hỏa” còn làm tổn hại “khí” của bạn. Vì thế, từ trên ý nghĩa đó có thể thấy, con người hiện đại bị bệnh, đại đa số là do ăn uống không điều độ mà thành.

20. “Nằm lâu hại khí”, “Ngồi lâu hại thịt”, “Nhàn hạ ắt khí ứ đọng”, lại dưỡng tĩnh quá độ, sẽ khiến công năng tiêu hóa của tì vị bị hạ thấp, chức năng của tạng phủ ì trệ, khí huyết lưu chuyển ứ tắc không thông thuận, lực đề kháng giảm, khả năng miễn dịch bị tổn hại, lượng đường, mỡ, axit uric, huyết áp tăng cao, dần dần lâu ngày, con người sẽ sinh bệnh, hơn nữa đa phần đều là thân thể yếu nhiều bệnh, ví dụ như cảm mạo thường xuyên, không muốn ăn, thần trí mỏi mệt, sốt ruột căng thẳng v.v…

21, Tục ngữ có câu “Linh cơ nhất động, kế thượng tâm lai” (nhạy bén hễ động, nảy ra sáng kiến). Chữ “cơ” nếu như có thể thực sự hiểu được thấu, thế thì ngộ tính của bạn được tính là đã khai mở rồi. Thầy giáo dạy người, bác sỹ trị bệnh, kỳ thực chính là đang chỉ ra cái “cơ” này của bạn, khiến cái “cơ” này của bạn khai mở. cái “cơ” này có lúc cũng gọi là “then chốt”. Đương nhiên cái “cơ” này khởi tác dụng là có điều kiện, cũng giống như khinh khí chỉ khi đạt đến nồng độ nhất định, thì gặp lửa mới có thể bùng cháy. Hãy nhớ kỹ, tác dụng của người khác đều là nhân tố bên ngoài, bản thân bạn mới thực sự là nguyên nhân bên trong.

22. Kỳ thực, rất nhiều sự phát hiện và phát minh chân chính, điều cần thiết [để sáng tạo ra chúng] không phải là cái gọi là hệ thống kiến thức trên sách vở; mà hoàn toàn ngược lại, một người chưa từng thông qua bất kể sự giáo dục nào một cách hệ thống, nhưng ngộ tính rất cao, là người có tư duy cởi mở, họ thường thực sự ngộ ra được chân tướng.

23. Con người tối kỵ nhất là loạn chữ, loạn tâm, khi đối ngoại có thể làm hỏng việc, đối nội có thể ảnh hưởng đến khí huyết, làm mất đi sự hoạt động thông thường. Phàm là khi vui buồn, tức giận, hoài nghi, lo lắng, đều là loạn, là căn nguyên của bệnh tật và đoản thọ, không chỉ khi dưỡng bệnh mới không nên loạn, mà khi bình thường cũng rất kỵ tâm loạn.

24. Giận nhiều hại gan, dâm nhiều hại thận, ăn nhiều hại ruột, ưu tư hại lá lách, phẫn nộ hại gan, sầu muộn hại tinh thần.

25, Khi đổ bệnh, đều do tâm suy yếu, ngoại tà thừa cơ xâm nhập. Mà khi tâm yếu khí nhược, mỗi khi do tâm tình hỗn loạn, thân thể không sung mãn, xuất hiện đủ loại bất an, Tham ăn, tham thắng, tham đạt, tham vui an dật, đều đủ để dẫn đến bị bệnh. Khi tham mà không được, thì dễ dẫn đến giận dữ. Hay giận dữ khiến tâm khí hỗn loạn, gan mật rối loạn, sáu mạch chấn động, ngũ tạng sôi trào, ngoài tà cùng lúc đó mà thừa cơ xâm nhập, đó là nguyên nhân của bệnh tật.

26, Người thường mong cầu trường thọ, trước tiên phải trừ bệnh. Mong cầu trừ bệnh, phải biết dụng khí. Muốn biết dụng khí, trước hết phải dưỡng sinh. Phương pháp dưỡng sinh, trước hết phải điều tâm (điều hòa tâm thái).

27, Con người do khí trong ngũ hành mà sinh, nhục thân lấy khí làm chủ. Khí bị hao tổn ắt sinh bệnh, khí ứ động không thông cũng sinh bệnh. Muốn trị bệnh này, ắt phải trị khí trước tiên.

28. Khí để thông huyết, huyết để bổ khí, tuy hai mà như một vậy. Phàm là người nhìn nhiều (sử dụng mắt nhiều) ắt tổn thương huyết, nằm nhiều tổn thương khí, ngồi nhiều tổn thương thịt, đứng nhiều tổn thương xương, đi nhiều tổn thương gân, thất tình lục dục quá độ ắt tổn thương nguyên khí, hại tới tâm thận. Như ngọn lửa cháy mạnh mẽ, bị hao tổn dương khí.

29. Trị bệnh về ngũ tạng, đầu tiên cần bổ khí. Thận là cấp bách nhất. Bổ khí nghiêm cấm động tâm, động tâm ắt nóng gan, các mạch bị chấn động, chân thủy sẽ hao tổn. Tâm bị động, sẽ dẫn khởi phong. Phong động ắt hỏa vượng, hỏa vượng ắt thủy can, thủy can ắt địa tổn.

30. Tâm định thần nhất, người được chữa bệnh cần tín tâm kiên định chuyên nhất, lưỡng tâm tương hợp, có thể trị khỏi bách bệnh, không cần dùng thần dược.

31. Bệnh của con người có thể chia thành 2 loại: một là kinh lạc cơ bản thông suốt nhưng khí không đủ. Biểu hiện là thường xuyên đau chỗ này chỗ kia, đó là vì khí của anh ta không đủ để khí hóa thức ăn, từ đó sản sinh ra tương hỏa (cũng gọi là hư hỏa), thuận theo kinh lạc di chuyển hỗn loạn trong thân thể, chỗ nào thông thì chạy qua chỗ đó, gặp phải chỗ bị tắc nghẽn, chỗ đó ắt sẽ bị đau. Những người như vậy uống một chút thuốc liền lập tức thấy công hiệu. Hai là kinh lạc không thông, khí không có chỗ nào để lưu lại trong thân thể. Biểu hiện bề ngoài không có chút dấu hiệu nào của bệnh tật, nhưng một khi đã phát bệnh thì rất nặng, hơn nữa loại người này dù uống thuốc gì thì hiệu quả cũng rất chậm, hoặc căn bản không có tác dụng gì.

Chủ phát gọi là cơ. Mũi tên muốn bay ra từ cánh cung, bắt buộc phải có cái cơ này để phát động. Bất kỳ sự tình nào cũng đều như thế, đều có một cái cơ, chỉ khi nào kích động cái cơ này, thì sự tình mới phát sinh, nếu chẳng kích động được cái cơ này, các điều kiện khác dẫu có nhiều đến mấy, cũng không có cách nào dẫn khởi sự việc. Vậy rốt cuộc cơ nó là cái thứ gì, nó chính là nhân tố then chốt để phát sinh mọi sự việc. Nó là điểm, không phải là diện. Thế nhưng nếu kích động được điểm này, thì có thể kéo theo cả một diện. Cho nên bệnh cơ là nhân tố then chốt nhất trong sự phát sinh, phát triển và biến hóa của bệnh, (cũng có thể nói, bệnh cơ một khi khai mở, bệnh trạng của người đó sẽ hiển hiện ra, người đó sẽ tiến nhập vào trạng thái tuần hoàn ác tính của bệnh, đối lập với bệnh cơ là “sinh cơ”. Khi sinh cơ mở ra, người đó sẽ tiến nhập vào trạng thái thuần tốt đẹp của quá trình hồi phục. Thực tế bệnh cơ và sinh cơ là hai phương diện của cùng một thứ, là một cặp âm dương. Khi bệnh cơ mở ra, sinh cơ sẽ đóng lại; khi sinh cơ mở ra, bệnh cơ tự nhiên cũng sẽ đóng. Đây gọi là pháp biện chứng).

32. Cảnh giới cao nhất của Trung y là dưỡng sinh, cảnh giới cao nhất của dưỡng sinh là dưỡng tâm. Cho nên, đối với dưỡng sinh mà nói, hạ sỹ dưỡng thân, trung sỹ dưỡng khí, thượng sỹ dưỡng tâm. Nhìn một cá nhân cũng giống như thế, nhìn tướng không bằng nhìn khí, nhìn khí không bằng nhìn tâm.

33. Tâm thần bất an, tâm tình nóng vội, là căn nguyên dẫn đến bị bệnh và tử vong. Phương pháp giữ tâm bình an, là bí quyết số một trong việc bảo vệ sinh mệnh. Tâm có thể chủ động tất cả. Tâm định ắt khí hòa, khí hòa ắt huyết thuận, huyết thuận ắt tinh lực đủ mà thần vượng, người có tinh lực đủ thần vượng, lực đề kháng nội bộ sẽ khỏe, bệnh tật sẽ tự tiêu tan. Cho nên để trị bệnh đương nhiên cần lấy dưỡng tâm làm chủ [yếu].

34. Phong hàn âm dương mùa hạ nóng ẩm, đều có thể khiến cho con người mắc bệnh. Ngộ nhỡ lực đề kháng yếu, [bệnh tật] sẽ thừa cơ xâm nhập. Người có thân thể yếu nhược thường nhiều bệnh, chính là cái lý này. Người giàu có điều kiện bảo hộ tốt, như ăn-mặc-ở v.v… Người nghèo có lực đề kháng, nếu như khí đủ thần vượng, lỗ chân lông dày khít, không dễ bị [bệnh tật] xâm nhập v.v… Người giàu ăn nhiều đồ béo ngọt, hại dạ dày hại răng. Người nghèo hay phải chịu đói, thức ăn không phức tạp, nhờ đó mà không bị bệnh ở ruột. Người giàu thường nhàn hạ, vì thế mà nhiều phiền muộn. Người nghèo lao động nhiều, nhờ đó mà bệnh tật ít. Người giàu không tạo phúc mà chỉ hưởng phúc, chỉ toàn tiêu phúc, tiêu cạn ắt nghèo. Người nghèo có thể cần kiệm, đó chính là tạo phúc, khi quả chín sẽ giàu có. Phàm là điều kiện bảo hộ ăn-mặc-ở đầy đủ thì lực đề kháng về tinh khí thần sẽ yếu. Điều kiện bảo hộ kém, lực đề kháng ắt sẽ mạnh.

35. Mới khỏi bệnh nặng, cần tránh cắt tóc, rửa chân, tắm gội

36. Con người đều muốn cầu trường thọ vô bệnh, thân thể luôn khỏe mạnh. Muốn thân thể khỏe mạnh, đương nhiên cần điều tiết tinh khí thần. Muốn điều tiết tinh khí thần, đương nhiên cần cự tuyệt sự can nhiễu của những thứ tà. Muốn chặn đứng tà, đầu tiên cần phải dưỡng tâm. Muốn dưỡng tâm, cần phải hóa giải tam độc tham-sân-si. Muốn hóa giải tam độc này, bắt buộc phải học tâm giới. Nhưng muốn giữ được giới về ngôn từ lời nói, không nói không làm những việc vô ích, cần phải khai [trí] huệ, vứt bỏ đi những điều ngu muội, và bắt buộc phải đạt được định trước tiên. Muốn đạt được định, tất phải học tản bộ.

37. Có thể tĩnh ắt phải là người nhân [nghĩa], có nhân [nghĩa] ắt sẽ thọ, có thọ chính là hạnh phúc thực sự.

38. Tất cả những pháp môn tu thân tu tâm, chỉ có bí quyết gồm 2 từ: một là phóng hạ, hai là quay đầu. Phóng hạ đồ đao, lập địa thành Phật; Biển khổ vô biên, quay đầu là bờ. Chỉ cần phóng hạ, quay đầu, người bệnh lập tức khỏi, người mê lập tức giác ngộ. Đây mới thực sự là người có vô lượng thọ.

39. Người mà tâm quá lao lực, tâm trí mệt mỏi thì gan sẽ vượng, tâm quá lao lực chính là tâm quá đầy, không rỗng. Tâm đầy, ắt không thể dung nạp can (mộc) sinh chi hỏa, tâm không dung nạp can sinh chi hỏa, khí trong gan ắt sẽ tích tụ lại nhiều. Gan là mộc khắc thổ, nên tì vị sẽ mắc bệnh, tiêu hóa sẽ không tốt, dinh dưỡng không đủ, tối ngủ sẽ không yên. Mộc lại khắc thủy, từ đó mà thận thủy bị thiếu, thủy không đủ ắt hỏa càng vượng, tâm thận có liên hệ tương hỗ, nên tâm khí càng yếu, bệnh phổi sẽ hình thành. Nội bộ có mối liên quan tương hỗ, một thứ động sẽ kéo theo toàn bộ đều động, một chỗ bị bệnh sẽ khiến toàn cơ thể bị bệnh. Người có cái tâm nhiễu loạn, chính là do cái tâm ngông cuồng đầy tham vọng, cho nên muốn trị bệnh cần làm an cái tâm này lại, an cái tâm này lại chính là chấm dứt vọng tưởng, để chấm dứt vọng tưởng cần có tâm sáng, tâm sáng chính là tự giác ngộ, mà để đạt được khỏe mạnh thì công hiệu nhất lại là ở tản bộ.

40. Tản bộ là phương pháp điều hòa tâm, tâm điều hòa ắt thần an (tinh thần an lạc), thần an ắt khí đủ, khí đủ ắt huyết vượng, khí huyết lưu thông, nếu có bệnh có thể trừ bệnh, nếu không đủ có thể bồi bổ, đã đủ rồi có thể gia tăng. Bệnh hiện tại có thể trừ, bệnh tương lai có thể phòng tránh. Điều tâm còn khiến cho thần minh (tinh thần minh mẫn sáng suốt), thần minh ắt cơ linh, người có tâm thanh tĩnh thật tuyệt diệu biết bao, họ có cái nhìn biện chứng, tác phong bề ngoài linh hoạt, thấu hiểu các nguyên lý một cách chính xác, liệu sự nhìn xa trông rộng, gặp loạn bất kinh, thấy cảnh đẹp không bị mê hoặc, có thể thông đạt mọi thứ, bản thân không có những ý kiến chủ quan sai lệch, đại cơ đại dụng, chính là từ đó mà ra.

41. Con người khi bị bệnh kỵ nhất là khởi tâm oán giận. Lúc này nhất định phải giữ sự bình an hòa ái, khiến cho tâm an định. Sau đó dần dần điều chỉnh, sức khỏe sẽ rất nhanh hồi phục. Tâm an thì khí mới thuận, khí thuận mới có thể trừ bệnh. Nếu không ắt tâm sẽ gấp hỏa sẽ thăng, can khí sẽ phải chịu hao tổn, làm bệnh tình càng thêm nặng. Tâm thân yên nhất, khí huyết toàn thân ấy, sẽ tự phát huy tác dụng khôi phục sức khỏe.

42. Giờ Tý (từ 11 giờ đêm đến 1 giờ sáng) mất ngủ, thủy thận tất thiếu, tâm thận có liên hệ tương hỗ, thủy thiếu ắt hỏa vượng, rất dễ tổn hại tới [tinh] thần.

43. Trong khi ngủ nếu có tư tưởng, tâm không thể an, không được vừa nằm vừa suy nghĩ trăn trở, rất dễ hao tổn [tinh] thần.

44. Giờ Ngọ (từ 11 giờ đến 13 giờ) thuộc về tâm, giờ này có thể tản bộ 15 phút, nhắm mắt dưỡng thần, tâm khí ắt khỏe mạnh.

45. Dậy sớm trong khoảng giờ Dần từ 3 giờ đến 5 giờ, giờ này kỵ nhất buồn giận, nếu không ắt hại phổi tổn thương gan, hy vọng mọi người hết sức chú ý.

46. Tất cả sự nghiệp trong cuộc đời, đều lấy tinh thần làm căn bản, sự suy vượng cường thịnh của tinh thần, đều dựa vào sự tĩnh định bất loạn của tâm và thần, một chữ loạn, cũng đủ để làm trở ngại tới công việc.

47. Nhân sinh lấy khí huyết lưu thông làm chủ, khí ứ đọng có thể ngăn trở huyết, máu huyết bị ngăn trở có thể tích độc thành nhọt thành bệnh, thành u thành ung thư, tất cả đều là do huyết khí không thông tạo thành. Khí lấy thuận làm chủ, huyết lấy thông làm suôn sẻ. Căn nguyên bách bệnh đầu tiên đều do khí tắc, khí bị tắc bên trong, gan sẽ bị thương tổn trước tiên. Cách cứu chữa, chính là ở bí quyết hóa giải. Mà bí quyết hóa giải lại gồm có 2 loại: Một là tìm căn nguyên của nó, căn nguyên này chính là ở tâm, tâm không ắt tất cả tự động được hóa giải. Hai là dùng thuốc và châm cứu, trợ giúp hóa giải thêm bằng mát xa, sẽ giúp cho khí huyết lưu thông.

48. Dưỡng bệnh trị bệnh không thể đòi hỏi nhanh. Bởi vì nóng vội sẽ trợ giúp hỏa, hỏa vượng sẽ tổn khí, gây tác dụng ngược lại. Ngoài ra không thể tham nhiều, tham lam ắt tâm không kiên định mà nóng vội, huống hồ bách bệnh đều do tham mà ra, nên không thể lại tham mà làm cho bệnh tình càng thêm nặng là vậy.

49. Tâm thuộc tính Hỏa, Thận thuộc tính Thủy, Tâm Thận liên hệ tương hỗ. Hỏa cần giáng hạ, Thủy cần thăng lên, Thủy Hỏa tương tề, ắt khí trong thân thể sẽ bộc phát. Các bộ phận cơ thể vận động, có thể được mạnh khỏe. Điều này qua việc quan sát lưỡi có thể biết được. Lưỡi không có nước ắt không linh hoạt, vì chữ hoạt (活) là do bộ Thủy và chữ lưỡi (舌) ghép thành. Lưỡi có thể báo cáo tình trạng nặng nhẹ của các loại bệnh bên trong thân thể, từ đó mà phán đoán việc sinh tử.

50. Phương pháp tự cứu khi lâm đại bệnh: Một là không được sợ chết, tin tưởng rằng bệnh của mình, không những có thể khỏi, mà thân thể có thể trở nên đặc biệt khỏe mạnh, sống lâu trường thọ. Bởi vì bản thân cơ thể bản chất đã có năng lực này, không phải chỉ là suy nghĩ để tự an ủi. Hai là tin tưởng không cần dùng thuốc hoặc dựa vào bất kỳ thực phẩm dưỡng sinh nào, nhất định bản thân tự có khả năng trừ bệnh kéo dài tuổi thọ. Ba là bắt đầu từ hôm nay, phải quyết định không được lại động tới thân bệnh của bản thân, không được nghĩ tới bệnh của bản thân là bệnh gì, tốt hay xấu đều không được suy tính về nó, chỉ làm một người vô tư. Bốn là trong khoảng thời gian chữa trị, không được nghĩ tới công việc, cũng không được hối hận về công việc và thời gian đã mất, chuyên tâm nhất trí, nếu không sẽ lại chậm trễ có khi hỏng việc.

51. Phương pháp dưỡng tĩnh: an tọa (nằm) trên giường, đặt thân tâm nhất tề hạ xuống, toàn thân như hòa tan, không được phép dùng một chút khí lực nào, như thể không có cái thân thể này vậy, hô hấp tùy theo tự nhiên, tâm cũng không được phép dùng lực, một niệm khởi lên cũng là đang dùng lực. Để tâm đặt xuống tận dưới bàn chân, như thế có thể dẫn hỏa đi xuống, dẫn thủy đi lên, tự nhiên toàn thân khí huyết sẽ thông thuận.

52. Yếu quyết tu luyện: tĩnh lặng theo dõi, tránh dùng lực

Yêu cầu cụ thể: Không cho phép bất cứ bộ phận nào dùng khí lực dù chỉ một chút, bao gồm ý niệm, hô hấp, tứ chi, cần làm được: mắt không nhìn, tai không nghe, mũi không ngửi, lưỡi không nếm, miệng không nạp (ăn), tâm không nghĩ. Đó là điều kiện duy nhất. Nếu có bất cứ hành vi tư tưởng, nghe, cảm giác nào đều là đang dùng khí lực, thậm chí cử động ngón tay cũng là dùng khí lực. Thở mạnh cũng lại là dùng khí lực. Không bao lâu hơi thở sẽ tự nhiên trở nên an hòa, như thể không phải ra vào từ lỗ mũi, mà như thể 8 vạn 4 ngàn lỗ chân lông trên toàn cơ thể đều có động tác, hoặc nở ra hoặc khép lại, lúc này sẽ là trạng thái vô ngã vô thân vô khí vô tâm, tự nhiên tâm sẽ quy hồi vị trí bản nguyên. Cái gọi là dẫn hỏa quy nguyên, hay còn gọi là thủy hỏa ký tế, chính là bí quyết chung để điều trị bách bệnh.

53. Trường hợp chăm chút dưỡng sinh nhưng lại chết sớm, chiếm đến ba phần mười, vậy rốt cuộc là thế nào? Đó là vì quá yêu quý thân thể của mình. Vì cái thân xác này, sợ phải chịu xấu hổ, sợ bị nuông chiều, sợ chịu thiệt, sợ bị mắc lừa, lo trước lo sau, nhìn ngang nhìn dọc, lo lắng hốt hoảng, tính toán thiệt hơn … như thế, trái tim đó của anh ta cả ngày giống như quả hạch đào bị chó gặm đi gặm lại, làm sao mà có thể không chết chứ. Càng sợ chết, càng chết nhanh. Nếu bạn muốn dưỡng sinh, thì phải không sợ chết. Chỉ có không sợ chết, mới có thể cách xa cái chết.

Người thực sự không sợ chết, đi đường sẽ không gặp phải hổ, nếu có gặp phải, hổ cũng không ăn thịt anh ta. Đánh nhau không gặp phải đao súng, nếu có gặp, đao súng cũng sẽ không làm anh ta bị thương. Tại sao? Bởi vì anh ta không coi cái chết là gì, không sợ chết, cái chết cũng không có cách nào. Dưỡng sinh, mặc dù không phải là mục đích của việc tu đạo, nhưng người tu đạo đã nhìn thấu được sinh tử, cho nên sẽ không sợ chết nữa, vì đã không sợ chết nữa, nên cái chết cũng không còn là vấn đề. Quan sinh tử đã qua rồi, còn gì mà không thể vượt qua nữa? Vì thế, người tu đạo có thể trường sinh. Không nghĩ đến trường sinh, trái lại lại có thể trường sinh. Tâm luôn nghĩ muốn trường sinh, trái lại càng nhanh chết. Trường sinh không phải là mục đích của tu đạo, nó chỉ là hiện tượng đi kèm của tu đạo.

54. Người có bệnh, lại không cho rằng mình có bệnh, đây chính là bệnh lớn nhất của con người. Người mà biết bản thân mình có bệnh liệu có được bao nhiêu?

55. Người mà ngày nào nửa đêm canh ba cũng vẫn còn ở trên mạng, bản thân đó chính là điều đại kỵ của dưỡng sinh. Bao gồm cả một số người gọi là danh y cũng thế. Ngoài ra, tâm của họ còn luôn tính toán so đo, thử hỏi người như vậy thì đến bản thân còn không giữ nổi, thì làm sao chữa bệnh cho người khác đây?

56. Đừng tham những cái lợi nhỏ nhặt, cái lợi lớn cũng đừng tham. Một từ tham nhưng bao hàm cả họa. Tham lam, suy tính thiệt hơn sẽ khiến cho người ta mắc các bệnh về tim. Tham lam, suy hơn tính thiệt là biểu hiện của việc không hiểu Đạo Pháp về cái lý tự nhiên.

57. Đừng có ngày nào cũng nghĩ xem ăn cái gì để bổ âm, ăn cái gì để tráng dương. Hãy nhớ kỹ, vận động là có thể sinh dương; tản bộ thì có thể sinh âm. Âm là mẹ của dương, dương là được vận dụng bởi âm.

58. Người ta khi khí không đầy đủ, không được mù quáng mà bổ khí, nếu không ắt sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe. Nếu như vì huyết không đủ, thì cần phải bổ huyết trước, bởi vì huyết là mẹ của khí, nếu không ắt sẽ thành dụng cụ thiêu đốt, làm cho nội tạng bị đốt cháy; nếu là vì kinh lạc không thông, thì có thể gia tăng khí huyết, đồng thời bồi bổ khí huyết. Như vậy mới có thể đạt được tác dụng của bổ khí.

59. Hoàn cảnh đối với người dưỡng sinh có tính trọng yếu là điều vô cùng rõ ràng. Đây chính là đạo lý mà vì sao người ở những vùng không khí trong lành nơi rừng sâu núi thẳm, có thể dưỡng khỏi những bệnh tật khó chữa. Bởi vì những vật chất tinh vi nơi rừng sâu núi thẳm (ion điện âm) sẽ thông qua trạng thái thả lỏng của con người trong khi hít thở sâu mà hấp thụ vào trong nội bộ nhân thể, từ đó mà tưới đều lục phủ ngũ tạng, khiến cho người ta có được sức sống mới. Ngoài ra còn có một điểm mà người thường không hề biết, đó chính là con người không chỉ hô hấp thông qua lỗ mũi, mà mỗi một lỗ chân lông trên thân thể con người đều có thể hô hấp, hơn nữa những gì chúng hấp thụ chính là tinh hoa của trời đất.

60. Con người trong trạng thái thả lỏng và tĩnh, hít thở sâu và chậm có thể cảm nhận được sự giao hoán những tinh khí của con người với trời đất: Trong khi hấp thụ khí, thực tế ngoại trừ lúc phổi đang hít khí vào, toàn bộ thân thể đều đang bài trừ khí bên trong thân thể ra ngoài, và đem khí của người phóng thích ra ngoài trời đất; còn khi phổi đang thải khí ra, thực tế con người đang hấp thụ tinh khí của đất trời thông qua các lỗ chân lông. Điều này đại khái chính là điều mà Lão Tử đã nói “Thiên địa chi gian, kỳ do thác dược hồ”.

61. Khi vận động có hai điểm cấm kỵ: một là không được vận động khi khí huyết không đủ; hai là không được vận động trong môi trường bị ô nhiễm.

62. Vận động có hai tác dụng: một là gia tăng tốc độ vận hành của khí huyết, thúc tiến quá trình bài xuất chất cặn bã trong thân thể ra ngoài; hai là khai mở lỗ chân lông trên da, để hấp thụ tinh khí của trời đất.

63. Ngộ tính là gì? Trí huệ là gì? Ngộ tính và trí huệ chính là sử dụng những phương pháp đơn giản nhất để xử lý, xem xét tất cả các sự vật. Nhưng có một số người thường hay gây nhiễu loạn luôn nhìn những sự việc đơn gian thành phức tạp, làm thành phức tạp. Phức tạp và đơn giản kỳ thực là một thứ, là hai mặt của một thứ. Điều người thông minh nhìn thấy là mặt đơn giản, điều người ngu xuẩn nhìn thấy là mặt phức tạp.

64. Con người không trị được bệnh, thì cần phải nhờ Thần trị; Thần trị không khỏi bệnh thì phải nhờ Phật trị. Phật giảng điều gì? Điều Phật giảng là tâm.

65. Bệnh viện và tòa án ngày nay đều như nhau, có động tới hay không cũng đều đưa cho bệnh nhân giấy thông báo phán quyết tử hình. Mà trong nhiều tình huống, phán tử hình cho nhiều người đáng lẽ không bị tử hình. Tại sao lại nói như thế? Lấy “ung thư” làm ví dụ, trong tâm con người ngày nay ung thư đồng nghĩa với tử hình. Kỳ thực nếu như chúng ta không gọi nó là ung thư, thế thì đối với bệnh nhân mà nói, chính là mang cho bệnh nhân một tia hi vọng, bằng như lưu lại cho họ một cơ hội sống. Cho nên tôi mới nói, bệnh nhân ung thư ngày nay có đến hơn một nửa là bị dọa chết, là bị áp lực tinh thần dày vò đến chết. Đồng thời cũng chính là bị bệnh viện hành hạ đến chết.

Bởi vì một khi bạn bị chẩn đoán thành bệnh ung thư, họ sẽ có thể không kiêng nể gì cả mà tùy ý xử lý bạn, điều trị mà không chết coi như mệnh của bạn lớn, điều trị mà chết, thì là do bệnh của bạn là ung thư. Sự thực mà nói, không có bệnh gì là trị không khỏi, chỉ là xem cái tâm của bạn có thể buông xuống được không, tất cả bệnh tật đều từ tâm sinh, tất cả bệnh tật cũng đều từ tâm mà trị. Chỉ cần bạn vẫn còn sống, bạn vẫn còn cơ hội. Tìm thấy được cơ hội này, áp dụng nó đối với việc trị bệnh ung thư, bạn sẽ khỏe mạnh trở lại.

66. Hiện nay ngoài xã hội đều nói về cạnh tranh, việc này đã khiến cho mọi trật tự bị đảo loạn, khiến cho con người bị dẫn dụ vào ma đạo. Cạnh tranh là gì? Cạnh tranh chính là khiến người ta bị cuốn vào cảnh giới tham dục vô hạn. Một mặt bạn đề xướng cạnh tranh, một mặt bạn nói về những gì là xây dựng và ổn định xã hội, đây chẳng phải là điển hình của việc tự lừa mình dối người sao.

67. Căn cứ vào nguyên lý âm dương tương hỗ mà xét, thanh khiết và vẩn đục là hấp dẫn lẫn nhau. Cho nên con người ăn vào những thứ tươi mới tất sẽ có tác dụng tương hợp với những vật chất bẩn trong cơ thể, từ đó mà bài trừ những thứ ấy ra ngoài.

68. Những vật chất vẩn đục sinh ra là do ăn vào những thực phẩm không sạch, nhưng chủ yếu là do ăn quá nhiều, cơ thể không thể tiêu hóa được khiến đống thức ăn thừa đó biến thành cặn bã.

69. Tùy kỳ tự nhiên là cảnh giới cao nhất của dưỡng sinh. Một người khi sinh ra, vận mệnh của anh ta căn bản là đã có định số rồi. Anh ta nên làm gì, không nên làm gì, nên ăn gì, không nên ăn gì, nếu như có thể thuận theo vận số của bản thân mà làm, thì sẽ có thể được bình an vô sự. Người có ngộ tính sẽ phát hiện ra được, sẽ biết được vận mệnh của bản thân, biết được họ nên làm cái gì, không nên làm cái gì. Cho nên dưỡng sinh tuyệt đối không đơn giản là bắt trước, bảo sao làm vậy.

Không cần hâm mộ người khác, cần tìm ra ngộ tính của bản thân từ trong tâm của chính mình. Vậy con người làm thế nào mới có thể phát hiện bản thân đã đạt được tùy kỳ tự nhiên hay chưa? Kỳ thực điều này quá dễ, khi bạn có bệnh, bạn cảm thấy không thoải mái, bạn thấy không được tự tại, chứng tỏ bạn đã đi ngược lại tự nhiên rồi. Cần làm được thuận theo tự nhiên của đại tự nhiên bên ngoài, ngoài ra còn phải thuận theo lẽ tự nhiên của vận mệnh bên trong bản thân, hai điều này đều không thể thiếu được.

70. Rất nhiều người khi nghe thấy bác sỹ tuyên bố bản thân bị mắc trọng bệnh, thường đều sẽ biểu hiện ra dáng vẻ không vui, hi vọng có thể dùng phương pháp cắt, gọt, độc, giết v.v… để loại bỏ căn bệnh đó, tuy nhiên, bệnh tật thực sự không phải sản sinh từ đó? Trên thế gian tuyệt đối không có hiện tượng “đang khỏe mạnh đột nhiên sinh bệnh”. Lấy cảm mạo làm ví dụ, nếu thực sự yêu cầu bệnh nhân tự làm kiểm điểm, thông thường bệnh nhân sẽ cho biết, bản thân trước khi cảm mạo, đã trải qua vài lần thức thâu đêm; có người sẽ nói rằng bản thân bị trúng gió lạnh, bị dính mưa ướt; có một số người lại nói do áp lực công việc quá lớn, thường xuyên đau đầu, mất ngủ. Kỳ thực, những hiện tượng như thế, đều có thể là nhân tố dẫn tới cảm mạo, nói thêm nữa, nếu như độ mẫn cảm và tính cảnh giác của con người đầy đủ, tự nhiên sẽ có thể đạt được mục đích “đề phòng tai họa”.

71. Khoa học chân chính là gì? Chính là nhân duyên quả báo. Không tin nhân quả, thì không phải là khoa học chân chính.

72. Cái tâm không sợ chịu thiệt, không sợ bị người khác chiếm lấy lợi ích. Hay nói một cách khác là bạn có thể chịu thiệt, người khác muốn lấy mạng của bạn mà bạn vẫn có thể buông xả, bạn đều có thể cho họ hết, hơn nữa tự bản thân trong bất kỳ hoàn cảnh nào đều không ham lợi ích, khi đó cái tâm của bạn có thể sẽ không định (tĩnh lặng) sao? Con người trên thế gian có ai làm được? Nhưng Phật là có thể làm được.

73. Sau khi con người nắm vững được phương pháp về sức khỏe, họ sẽ thực sự hưởng thụ được một trạng thái tự tin khi không còn lo sợ mắc bệnh. Cái loại cảm giác này thật tuyệt, hy vọng rằng bạn và chúng tôi đều có thể có được trạng thái tự tin đó.

74. Khi học vấn thâm sâu ý chí sẽ bình lặng, tâm định ắt khí sẽ yên. Cho nên đối với một người đắc Đạo mà nói, quan sát một người, không phải là một việc quá khó khăn, đây cũng là kết quả của tướng tùy tâm chuyển.

75. Danh là điều khó phá vỡ nhất trong ngũ dục, sắc đứng thứ hai, tiếp theo là tài, sau đó là ăn và ngủ. Tâm về danh không bỏ, thì không có cách nào nhập Đạo.

76. Khởi nguồn của bách bệnh, đều bắt nguồn từ việc bị gió độc thừa cơ xâm nhập. Nếu như thân thể khí suy nhược, khả năng phòng vệ kém, hoặc ưu tư sợ hãi, đắm chìm trong tửu sắc, làm việc quá lao lực, chân khí sẽ bị hao tổn từ đó tà ngoại thừa cơ tấn công.

77. Trị bệnh về ngũ tạng, đầu tiên cần phải bổ khí. Khi bổ khí cấm động tâm, tâm động ắt gan vượng, gây chấn động mạch, chân thủy sẽ hao tổn. Tâm là quạt, sẽ dẫn khởi gió. gió động ắt hỏa vượng, hoặc vượng ắt thủy can, thủy can ắt địa tổn.

78. Đối với bác sỹ mà nói, tâm định thần nhất, người được chữa bệnh có tín tâm kiên định, lưỡng tâm tương hợp, có thể trị được bách bệnh.

79. Qua trường hợp Hitler đi vòng qua phòng tuyến kiên cố Maginot của quân đội liên minh, tôi ngộ ra rằng: để đối phó với một số bệnh cứng đầu, không thể tấn công cứng nhắc từ chính diện, cần đột phá từ những phương diện khác có liên quan. Chẳng hạn như việc điều trị các bệnh cứng đầu như bệnh thận, bệnh gan, có thể đạt được hiệu quả thông qua việc điều chỉnh phổi và lá lách v.v…

80. Trung Dung, là nguyên tắc căn bản của dưỡng sinh. Khí huyết trong cơ thể người cũng là một cặp âm dương, huyết là âm là thể, khí là dương là dụng. huyết là mẹ của khí, khí là chủ tướng của huyết. Khí không đủ, dễ mắc các bệnh do ứ trệ tạo nên như mọc u, tắc động mạch; khí quá độ; dễ mắc các bệnh về xuất huyết não. Cho nên, chỉ khi khí huyết cân bằng, con người mới có thể khỏe mạnh.

81. Con người chỉ khi ngộ ra được cái gì là “tự nhiên”, mới được coi là đắc đạo. Biết được tự nhiên, sau đó mới có thể tùy kỳ tự nhiên. người này chính là Thần nhân. Hiểu được âm dương, hiểu được tùy kỳ tự nhiên, bạn nhất định sẽ trở thành lương y đại đức.

82. Cái gì là tự nhiên, tự nhiên chính là bất kỳ sự vật gì đều có hai mặt âm dương, bất kỳ sự vật nào đều cần trải qua quá trình Sinh (sinh sản), Trưởng (tăng trưởng), Thu (thu hoạch), Tàng (tàng trữ). Bạn thuận theo quá trình này, sử dụng nguyên lý tương sinh tương khắc của ngũ hành để điều tiết sự cân bằng của bệnh nhân, làm sao mà không trị được khỏi bệnh chứ.

83. Đơn giản và phức tạp là một cặp âm dương, sự tình càng phức tạp, thường thường sử dụng biện pháp đơn giản nhất lại có thể giải quyết. Cũng đồng dạng như thế, một vấn đề nhìn tưởng chừng đơn giản, để giải quyết nó bạn sẽ thấy thật không dễ dàng, bạn phải phó xuất nỗ lực rất lớn cũng không nhất định giải quyết được. Điều này giống cương nhu vậy, cực nhu có thể khắc chế cương, cực cương thì nhu cũng không thể chống. Cho nên, chúng ta khi giải quyết vấn đề cần có lối suy nghĩ rằng, gặp phải vấn đề phức tạp nên tìm biện pháp đơn giản để giải quyết, gặp phải vấn đề đơn giản đừng vội coi thường nó, cần phải chú trọng đủ mức tới nó.

84. Chúng ta hãy thử xem trong thế giới này có phải là có tồn tại đạo lý đó hay không. Liệu có được mấy người có thể tùy kỳ tự nhiên trong việc ăn ngủ, có được mấy người có thể tuân thủ tự nhiên. Bạn tuân thủ không được, vì sao? Bởi vì nó quá đơn giản, chính vì quá đơn giản, cho nên bạn không dễ mà có thể tuân thủ. Đây gọi là phép biện chứng.

85. Cái gì là cân bằng? Cân bằng chính là sự tồn tại dựa vào nhau và khắc chế nhau của âm dương, phương diện nào quá độ hoặc quá kém cũng sẽ khiến mất đi sự cân bằng. Tổn thương nguyên khí là gì, mất đi sự cân bằng chính là tổn thương nguyên khí. Thường xuyên ở trong trạng thái cân bằng, nguyên khí ắt sẽ được bảo trì tốt, con người sẽ lão hóa chậm.

86. Đạo về âm dương chính là sự tương hỗ dựa vào nhau và chuyển hóa lẫn nhau của hai phương diện mâu thuẫn đối lập. Bất kỳ một cặp mâu thuẫn nào, nếu một bên thoát ly khỏi bên kia, không còn chịu sự ức chế của đối phương nữa, thì thời điểm mà nó bị diệt vong cũng không còn xa. Bạn thử nhìn xem, xã hội ngày nay, các lãnh đạo đều không thích bị khống chế, thích được độc lập tự do, thích làm theo ý mình, tham ô hối lộ, thế thì kết quả là gì đều có thể tưởng tượng ra được. Âm và dương chính là như thế. Trong đại tự nhiên, khi một sự vật xuất hiện, đều có mang theo nhân tố do nó sinh ra, nhưng đồng thời cũng sẽ xuất hiện một nhân tố để khắc chế nó. Đó chính là đạo lý ngũ hành tương sinh tương khắc, cũng là đạo lý dựa vào nhau, ức chế lẫn nhau của âm dương. Cho nên đạo lý dưỡng sinh cũng vậy, khi bạn bị bệnh, luôn tồn tại một nhân tố khiến bạn sinh bệnh, đồng thời cũng sẽ có một nhân tố ức chế nó, có thể giúp bạn tiêu trừ nhân tố gây bệnh. Tương tự như thế trong thế giới tự nhiên, tại chỗ có tồn tại rắn độc, chắc chắn khu vực xung quanh sẽ có tồn tại loại thảo dược có thể giải độc.

87. Cái gì gọi là đắc ý vong hình (vì đắc ý mà quên đi dáng vẻ vốn có của mình)? Anh ta đã mất đi sự khống chế, mất đi sự ức chế của mặt âm, cho nên kết quả nhất định là …. cũng như thế con người không nên để tinh thần sa sút, vì như thế sẽ mất đi sự ức chế của mặt dương đối với họ.

88. Làm thế nào để có đại trí huệ? Nếu không có tấm lòng quảng đại, ở đâu mà có đại trí huệ chứ.

89. Tục ngữ có nói, sống đến già, học đến già. Học tập cũng cần phải hợp thời, đến tuổi nào thì học những điều mà ta nên học vào giai đoạn ấy, nếu không ắt sẽ không hợp thời, không tùy kỳ tự nhiên. Nhưng hãy xem sự giáo dục của chúng ta ngày nay, từ nhà trẻ đến đại học, có bao nhiêu điều là đáng để học. Lúc còn nhỏ nên học cái gì. nên học đạo đức, học hiếu đạo, tiếp theo là học nhận biết chữ, dấu chấm câu, tiếp theo là học cách làm việc. Đến tuổi thanh niên thì học cách làm sao để sống tốt giáo dục con cái tốt, làm cho gia đình hạnh phúc. Đến tuổi trung niên, học tập đạo dưỡng sinh. Đến những năm tuổi già, học cách buông bỏ tâm thái, an hưởng tuổi già. Ngành giáo dục cần học gì, chính là học những thứ này.

90. Tình chí (7 loại tình cảm của con người) đối với bệnh tật có mối tương quan mật thiết với nhau, có một số bệnh tật là do tình chí gây ra, bạn dùng thuốc trị liệu, trị mãi mà vẫn không khỏi, đối với loại bệnh tật này, muốn cởi chuông thì phải tìm người buộc chuông. Ngũ chí có thể gây bệnh, ngũ chí cũng có thể giải trừ bệnh.

91. Dưỡng sinh có một điều rất trọng yếu, đó là không được sợ chết. Người sợ chết dương khí không đủ, dương khí không đủ, tử thần sẽ tìm ra được bạn. Đây chính là điều mà đạo gia giảng, người tu luyện cần có một khí chất anh hùng. Nhân, trí, dũng không thể thiếu một trong ba.

92. Khi nào bạn lấy học vấn lý giải được nó là vô cùng đơn giản và bình dị, lúc này bạn mới là chân chính đạt được một trong tam muội. Nếu như bạn vẫn còn cảm thấy nó là bác đại tinh thâm, thâm sâu không thể đo lường, chứng tỏ bạn vẫn chưa nắm được tinh túy của nó, mới chỉ nhìn thấy phần tươi tốt của lá cây, mà vẫn chưa nhìn thấy được căn bản của nó, lúc này bạn mới chỉ ở giai đoạn “có”, vẫn chưa đặt được cảnh giới của “vô”. Tất cả đều không thoát được âm dương, vạn sự vạn vật đều không thoát khỏi được âm dương. Căn bản của điều này chính là âm dương. Biết được một điều này, mọi sự đều có thể hoàn thành.

93. Tập trung tinh thần định khí, quên đi cả bản thân và mọi sự vật. Đó là cốt lõi của dưỡng sinh

94. Chủ minh ắt hạ an, theo đó để dưỡng sinh ắt sẽ thọ, tình thế sống chết cũng không nguy hiểm, thiên hạ ắt sẽ hưng thịnh. Chủ bất minh ắt thập nhị quan gặp nguy, khiến cho đạo tắc nghẽn không thông, thực thể liền bị thương tổn, theo đó để dưỡng sinh ắt sẽ mang họa, người trong thiên hạ, và gia tộc này sẽ gặp đại nguy, nghiêm cấm nghiêm cấm!

95. Ứng dụng của ngũ hành tương sinh tương khắc: Phàm là do ngũ tạng hoạt động thái quá sẽ gây ra bệnh tật, đều có thể dùng phương pháp ngũ hành tương sinh tương khắc để trị. Giống như thế, phàm là vì ngũ hành không đủ dẫn khởi bệnh tật thì đều có thể dùng phương pháp ngũ hành tương sinh tương khắc để giải quyết. Đây là nguyên tắc căn bản của phép vận dụng ngũ hành.

96. Người hiện đại thường chú trọng vào phương diện truy cầu đề cao chất lượng cuộc sống, hậu quả của loại truy cầu này rất đáng sợ. Cần biết, dục vọng của con người đối với vật chất là không có giới hạn. Khi mà loại dục vọng này không được khống chế, cũng tương đương sự thống khổ không có giới hạn của chúng ta. Kỳ thực, vật chất có thể đem lại sự hưởng thụ, thì tinh thần cũng có thể; thuốc có thể trị bệnh, thì phương pháp trị liệu tâm lý cũng có thể làm được. Cho nên, chúng ta dùng cả cuộc đời để truy cầu tài phú, thì chi bằng hãy dùng quãng thời gian ấy để bồi dưỡng một loại tâm thái tốt, khiến cho tinh thần của chúng ta đạt tới một loại cảnh giới siêu phàm.

97. Sau khi con người nắm vững được phương pháp về sức khỏe, họ sẽ thực sự hưởng thụ được một trạng thái tự tin khi không còn lo sợ mắc bệnh. Cái loại cảm giác này thật tuyệt, hy vọng rằng bạn và chúng tôi đều có thể có được trạng thái tự tin đó.

98. Thân thể của chúng ta là một cơ thể có đầy đủ trí tuệ và chức năng, thân thể của chúng ta có rất nhiều “lính gác” như: răng, ruột thừa, a-mi-đan v.v… Khi thân thể chúng ta có hiện tượng dị thường (thông thường là “thăng hỏa”), những lính canh này sẽ lập tức phản ứng thông báo tới đại não. Người thông minh lúc này nên điều tiết lại tâm thái, kiểm điểm bản thân, để thân thể cân bằng hài hòa trở lại. Vậy mà hiện nay Tây y đều làm những việc gì? Bạn bị đau đúng không, tôi sẽ cắt bỏ bộ phận bị đau của bạn. Hiện nay thậm chí còn có người, phát minh ra một loại máy, bạn bị viêm mũi dị ứng sẽ phải hắt xì hơi đúng không? Vậy tôi sẽ đốt cháy khu vực thần kinh mẫn cảm trong mũi của bạn, như thế sau này mũi bạn có bị kích thích gì đi nữa cũng sẽ không bị hắt hơi. Hậu quả của những việc làm như thế của Tây y chính là sau này nếu chúng ta lại tiếp tục bị bệnh, thì bộ phận bị cắt bỏ chính là lục phủ ngũ tạng của chúng ta.

99. Hãy nhớ kỹ, khi chúng ta ngẫu nhiên bị đau bụng, hắt hơi, ho, phát sốt v.v… đều là hệ thống phục hồi thân thể của chúng ta đang hoạt động, đừng có quá lạm dụng thuốc khi vừa mới xuất hiện bệnh trạng, nếu không chính thuốc ấy sẽ phá hoại chức năng phục hồi thân thể của bạn, khi mà chức năng phục hồi của bạn bị suy yếu hoặc mất đi, thế thì bạn đã giao vận mệnh của mình cho thuốc rồi. Nên nhớ rằng, nếu bệnh trạng không nghiêm trọng, biện pháp tốt nhất là dưỡng tĩnh, an tâm tĩnh khí có thể khiến hệ thống sữa chữa của bản thân hoàn thành được công tác phục hồi. Cho nên, mỗi một người trong chúng ta cần thận trọng khi dùng thuốc, để cho hệ thống hồi phục chức năng của cơ thể được khôi phục, đây mới chính là đạo chân chính trong việc giữ gìn sức khỏe.

100. Rất nhiều trọng bệnh hoặc bệnh hiểm nghèo, đều chỉ bắt nguồn từ một lý do: Hận. Khi mà cái hận này biết mất, bệnh ắt cũng theo đó mà tiêu trừ. Trong thế gian này điều khó giải quyết nhất chính là hận thù kéo dài, chính vì không hóa giải được cái hận đó, mới có những bệnh không thể trị khỏi được.

Nguồn: NTDTV


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 100 lời khuyên lúc lâm chung của vị Thầy thuốc Trung y 112 tuổi

7 nốt nốt ruồi giàu sang phú quý trên cơ thể phụ nữ

Theo Nhân tướng học, nốt ruồi ở các vị trí khác nhau thì có những ý nghĩa khác nhau. Trong đó có những nốt ruồi phú quý mà chỉ cần nhìn vào bạn đã có thể biết được chủ nhân của chúng có tương lai như thế nào

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Theo Nhân tướng học, nốt ruồi ở các vị trí khác nhau thì có những ý nghĩa khác nhau. Trong đó có những nốt ruồi phú quý mà chỉ cần nhìn vào bạn đã có thể biết được chủ nhân của chúng có tương lai như thế nào?

7 nốt nốt ruồi giàu sang phú quý trên cơ thể phụ nữ

1. Nốt ruồi ở cằm:

Nhắc đến nốt ruồi giàu sang phú quý thì phải nhắc đến nốt ruồi ở cằm. Với phụ nữ có nốt ruồi ở cằm thường là người có số hưởng điền sản, nghĩa là nhiều ruộng đất, nhà cửa, bất động sản nói chung. Kinh nghiệm đúc rút cộng với nhiều nhà Nhân tướng học cho biết, những người phụ nữ có nốt ruồi vị trí này bao giờ cũng có cuộc sống giàu sang, ấm no và hạnh phúc.

Tuy nhiên không phải nốt ruồi mọc ở cằm nào cũng là nốt ruồi giàu sang phú quý. Yêu cầu da dẻ phải mịn màng, nốt ruồi không quá to, không phải là bớt và không mọc lông. Có như vậy thì người phụ nữ ấy mới may mắn về điền sản, gặp nhiều tài lộc.

2. Nốt ruồi ở môi:

Nhiều người cho rằng không nên cho nốt ruồi ở môi xếp vào một trong những nốt ruồi phú quý. Bởi có câu nói: nốt ruồi ở môi ăn trôi cả nhà. Nhưng trên thực tế và nhân tướng học thì phụ nữ có nốt ruồi ở khóe môi là những người được hưởng phúc lớn. Dù học có sinh ra trong gia đình bần hàn thì sau này họ sẽ nỗ lực để có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

3. Nốt ruồi ở tai:

Đây là nốt ruồi giàu sang phú quý được nhiều người biết đến. Người có nốt ruồi ở tai thường có sức khỏe tốt, không ốm đau bệnh tật, gia cảnh khấm khán vật chất đủ đầy hơn mọi người.

Nếu là đàn ông thì giàu có, là trụ cột gia đình, cuộc sống xa hoa, đại gia

Còn nếu là phụ nữ thì với nốt ruồi ở tai - một trong những nốt ruồi phú quý sẽ là đối tượng theo đuổi của nhiều người, vượng phu ích tử. Họ đảm đang, giỏi quán xuyến, nhanh nhẹn trong kinh doanh.

4. Nốt ruồi ở trước cổ:

Cô gài nào sở hữu nốt ruồi ở trước cổ, đặc biệt là ở phía bên phải thì cả đời không phải lo chuyện tiền nong. Ví tiền lúc nào cũng như ví thạch sanh, hết lain có, ập đến liên tục.

Nhưng nếu nốt ruồi mọc sang bên trái thì không còn là nốt ruồi giàu sang phú quý nữa mà lại là nốt ruồi xui không mang lại tiền tài, may mắn cho chủ nhân.

5. Nốt ruồi ở hõm nách:

Đây được cho là một trong những nốt ruồi phú quý hay còn gọi là Nốt ruồi Kim Quỹ nghĩa là nhiều tiền tài, tài vận. Đa phần họ được sinh trưởng trong gia đình giàu sang, phú quý nên cuộc sống không mấy khi phải lo toan đến chuyện tiền nong. Ngoài ra, phụ nữ có nốt ruồi ở nách cũng là người rất đào hoa và thường là đào hoa tốt.

6. Nốt ruồi ở bắp tay:

Những cô gái có nốt ruồi ở bắp tay trước, đặc biệt càng gần khuỷu tay thì chúc mừng các bạn, các bạn đã và đang ở hữu nốt ruồi giàu sang phú quý mà nhiều người mơ ước. Các bạn có duyên trong chuyện tiền bạc, nhiều khoản tiền từ trên trời rơi xuống. Về trung và hậu vận thì họ càng nổi tiếng, giàu có, cuộc sống viên mãn.

7. Nốt ruồi ở bụng:

Những người phụ nữ có nốt ruồi ở bụng thì không cần phải lo lắng về tài chính, kinh tế và kể cả là ẩm thực. Nốt ruồi ở bụng không chỉ là một trong những những nốt ruồi phú quý mà còn biểu hiện cho việc ăn uống no đủ, gia đình sung túc.

Nốt ruồi càng mọc gần rốn thì tài lộc càng nhiều gấp bội phần. Mọc giữa rốn thì ăn sung mặc sướng cả đời, không bận tâm chuyện tiền nong.

Trên đây là những nốt ruồi phú quý ở trên cơ thể phụ nữ. Nếu bạn tinh tế nhận ra những nốt ruồi này thì có thể thấy được vận mệnh của mình. Còn những chàng trai, có thể kén chọn các cô gái sở hữu một trong các nốt ruồi giàu sang phú quý này nhé!

Những bài viết liên quan:

Ý nghĩa nốt ruồi ở lưng đàn ông

+ Nốt ruồi ở bụng nói lên điều gì?

+ Đoán tài vận thông qua nốt ruồi ở nách

+ Xem bói nốt ruồi đoán tương lai, vận mệnh


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 7 nốt nốt ruồi giàu sang phú quý trên cơ thể phụ nữ

Mèo mới - tiếng gà và bao lì xì

Tân Mão năm nay là năm con gì? Là năm con mèo mới chứ gì nữa! Không phải thế thì mới đố chứ. Chuyện lạ là em đã xơi 4 cái Tân Mão rồi mà năm nay mới thấy các vị trí giả bàn om lên chuyện Tết ta khác Tết TQ.
Mèo mới - tiếng gà và bao lì xì

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nhật thì đã bỏ Tết mặt trăng chỉ còn Trung Quốc và Hàn Quốc ăn Tết con Thỏ. Ta lại ăn Tết con Mèo. Mèo-Thỏ thì liên quan gì đến nhau? Nghe nói tiếng Quan thoại Thỏ đọc là “thủ”. Tiếng Quảng Đông đọc là “Miao”. Ta đọc theo giống “meo” nên con Thỏ ra con mèo! Đó là thuyết Bắc xuống Nam, tức 12 con giáp là ta học của TQ, vì phiên dịch sai mà ngàn năm đón lộn con Mèo. Thuyết Nam lên Bắc thì cho rằng 12 con giáp từ ta lên. Mèo của ta người Quảng Đông đọc là “miao”, đồng âm cho cả Thỏ lẫn Mèo. Người TQ phía Bắc theo âm ấy nhầm mèo thành thỏ! Bằng chứng là người Bắc Kinh đọc thỏ là “thủ” nhưng Tân Mão họ đọc là “xínmiao” chứ không là “xinthủ”. Tử vi người mình thấy con mèo có tính cách hơn, gần gũi với người hơn chứ con thỏ thì chả có cốt cách, cá tính gì ráo.

Có vị khẳng định chữ Tân ở đây cũng không phải là mới nên chúc năm Tân nhiều đổi mới là nói sàm. Tân có thể là cay, là khổ cực... gì đó cơ. Tục xin chữ ngày Tết đang được khôi phục, các ông đồ mới bán chữ Nho và quốc ngữ “hai trong một” không biết viết và đọc Tân Mão thế nào! Tốt nhất là chơi từ Hán-Việt viết La-tinh ta hiểu và đồng thuận với nhau là tiện. Viết theo abc Tân Mão và hiểu là con mèo mới, tinh khôn, đổi mới, thân thiện, duyên dáng, an nhàn, ăn ít tiết kiệm, uyển chuyển, ngã cũng không đau… Đến các vị “giả” mà còn lần không ra thì chuyện phục hưng Hán-Nôm là không tưởng. Cứ luyện từ và câu Hán-Việt là được. “Cứu cánh” là mục đích nhưng 80% dân ta viết và hiểu là đôi cánh cứu chúng ta thì đã làm sao nào!

Tôi thì thấy có cái lạ nhất Tết này là giữa phố thị mà nghe xao xác tiếng gà gáy suốt cả tuần. Đêm gà gáy bất kể giờ giấc, chắc là các cậu bị nhốt ở những nơi đèn sáng choang, nhầm đèn điện với mặt trời. Tiếng gà gáy lệch giờ nghe nao núng bất thường. Lúc bình minh nghe tiếng gà bên building mà nhớ miệt vườn quê da diết. Não nùng nhất là tiếng gà gáy buổi trưa bên café bốn sao. Chị thật là người vẫn còn giữ được tâm hồn lãng mạn. Thì đúng là cái tiếng gà râm ran làm cả siêu đô thị này lãng mạn chứ riêng gì tôi. Lãng mạn có lẽ là cái thiếu nhất trong công cuộc CNH-ĐTH cô ạ! Lãng mạn là ẻo lả đi, mềm hoá đi. Tiếng gà năm nay hoà nhịp tuyệt vời với sương mù thành phố. Đường sá, kêng, sông, nhà cửa xa xăm, vời vợi thật trữ tình. Tinh mơ và chiều muộn trời se se rét nhìn mặt trời thẹn thùng ửng má đào sau làn sương thật đẹp chả kém băng tuyết, đồng hoa trên rẻo cao miền Bắc.

Lại còn có cái thú mấy chục năm không có là được bôi thuốc nẻ. Da khô, mẩn đỏ, môi nứt và gót sen cũng thế… Đó cái thú của tôi Tết qua là vậy. Có nhẽ là dân tình khá giả lên mua tuyền gà ta, chạy bộ về nuôi cúng Tết cùng với thực phẩm sạch-hữu cơ, rau sạch tự trồng trên sân thượng. Dấu hiệu của chuyển đổi sang hướng phát triển bền vững, thân thiện với môi trường. Lối sống gấp với stress cũng chuyển hướng sang sống thung dung vừa phải thôi không tăng trưởng bằng mọi giá nữa? Bà chị khéo suy diễn. Nhưng biết đâu… lại đúng.

Cái lạ nữa của em Tết này là bao lì xì. Tiếng Quảng Đông lì xì là “lợi thị”. Nhiều nơi khác kêu bằng hồng bao, tức phong bì đỏ. Năm nay chống tham nhũng mạnh nên không thấy các phóng sự gắt gao về “văn hoá phong bì” như mọi năm. Có nhà văn khẳng định lì xì là văn hoá quyền lực chứ chả phải chuyện tình cảm gì hết. Một nhà văn khác thì khẳng định muốn lo lót gì thì họ đã làm trước Tết rồi, thiếu gì cách, vả lại phong bì cũng đã trở nên quá bé với các món lo lót thời nay lên tới bạc tỉ! Nhà văn hiện thực cũng giàu tưởng tượng, kệ họ cô ạ. Có vẻ như mọi người năm nay chỉ lì xì cho trẻ nhỏ, trong gia đình và 10 ngàn, 50 ngàn là “kịch” không cho vung vít người ngoài và ra oai bằng những tờ 50-100 đô Mỹ nữa. Tiền lẻ mới - chỉ cho trẻ con và - trong gia đình là ba nguyên lý lì xì cổ điển, chân chính. Có vẻ truyền thống đó đang phục hưng. Còn tệ đút lót, tham nhũng đã chuyển sang các hình thái hoạt động khác cao cấp hơn. Dẫu sao ngày Tết cũng sạch hơn, bóng ma tham nhũng bớt lộ liễu hơn.

Nguyễn Bỉnh Quân

Nguồn: Lao Động Online
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mèo mới - tiếng gà và bao lì xì

Nhìn tướng mũi đoán tính cách, tài vận

Theo tướng số, mũi cần đầy đặn đoan chính, sống mũi thẳng, xương sống mũi không được gãy. Người có phần giữa sống mũi hơi nhô lên có thể trường thọ.
Nhìn tướng mũi đoán tính cách, tài vận

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1. Dáng mũi đoan chính: Người có mũi thẳng, không xiêu vẹo gãy khúc, đầu mũi đầy đặn, là người chính trực. Nếu mũi không quá to, quá dài hay phá cách, tức là người đó sẽ không dễ dàng có hành vi lệch lạc, là người đáng tin cậy.

2. Đàn ông có sống mũi cao, cánh mũi dày thì rất tự tin vào bản thân, thông minh cơ trí, có tài nắm bắt cơ hội kiếm tiền, đồng thời biết cách quan tâm săn sóc người khác giới.

3. Sống mũi hơi thẳng, chóp mũi hơi tròn và đầy đặn: Nữ giới có tướng mũi này thường mang lại tiền tài cho nhà chồng.

4. Người có mũi dài thì tính cách chăm chỉ, làm việc có trình tự, suy nghĩ thấu đáo, có đầu óc tư duy, biết cách kiếm tiền. Tuy nhiên, loại người này cũng ngoan cố, thiếu sự mềm dẻo và khoan dung.

5. Người có mũi ngắn thì tính tình vui vẻ, nhưng khuyết thiếu tự tin, rất hay ỷ lại, tính cách có nhiều mặt phức tạp như hấp tấp, dễ giận dỗi, không thành thật.

mui-8849-1407612728.jpg

Sống mũi thẳng, dáng mũi đoan chính hài hòa với khuôn mặt là điểm quan trọng trong việc xem tướng mũi. (Ảnh minh họa)

6. Mũi đại diện cho tài vận. Người có sống mũi và cánh mũi thẳng, nở nang, không có vết tích hay đốm đen, là người có thể nắm tài lực và quyền lực, đồng thời cũng có tướng trường thọ.

7. Người có mũi không thẳng, xiêu vẹo trái phải thì tính cách cực đoan ích kỷ. Người có đầu mũi nhọn, nhỏ mà lệch thì tính tình khá ác độc.

8. Mũi khoằm hay còn gọi là mũi chim ưng, là loại mũi có sống mũi hẹp, hơi nhô cao lên và trơ xương, chóp mũi dài và nhọn, cong quặp xuống như mỏ chim ưng. Người có tướng mũi khoằm thường có lòng dạ hiểm độc, nên tránh xa.

9. Mũi kiếm là loại mũi mỏng, xương xẩu, sống mũi thẳng và sắc như dao, chóp mũi không có thịt. Người có tướng mũi kiếm khó chung sống với người khác, cả đời lận đận, vất vả mà không thành công.

10. Lỗ mũi hẹp biểu thị người khá coi trọng tiền bạc. Lỗ mũi hẹp và dáng mũi nhìn chính diện không lộ lỗ mũi thì là người thực tế, tiết kiệm, hơi keo kiệt. Người có lỗ mũi to, rộng thì khá thoải mái, hào phóng. Nếu lỗ mũi to thì chỉ cần mũi có bề ngang rộng thì vẫn có thể tiết kiệm tiền, giữ được tiền tài.  

Tuệ Anh


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nhìn tướng mũi đoán tính cách, tài vận

Sau Rằm tháng 7 có nên kiêng kỵ?

Rất nhiều người mua đồ được quảng bá là “chống tà” về nhưng không biết xử lý thế nào sau tháng cô hồn. Nhiều người cũng băn khoăn sau rằm có phải kiêng tới hết tháng không? Nên làm thế nào mới đúng?
Sau Rằm tháng 7 có nên kiêng kỵ?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Xử trí các đồ chống tà khi không dùng

Thạch anh

Theo ông Doãn Phú (Bộ môn Phong thủy, Viện Nghiên cứu và Ứng dụng tiềm năng con người), các vòng thạch anh, đồ thạch anh đúng đeo vào người năng lượng của đá sẽ hỗ trợ cho sức khỏe của người đeo, cảm thấy mạnh mẽ và thoải mái hơn. Đá tự nhiên màu sắc thường không hoàn hảo, nhưng sáng long lanh hơn đá nhân tạo, đặc biệt vòng tay đá tự nhiên không hạt nào giống hạt nào, không chiếc vòng nào giống chiếc vòng nào. Đeo một thời gian vòng và đồ đá quý tự nhiên càng đẹp hơn, đặc biệt là trang sức vòng tay, mặt dây chuyền luôn đeo thì lên nước sáng đẹp hơn (vì đá thạch anh hút năng lượng vũ trụ và cộng hưởng năng lượng với chủ nhân). Nếu đeo đá mà thấy người khỏe đẹp ra thì là đá quý. Nhưng nếu đeo đá mà da dẻ, sức khỏe xuống sắc thì đá không tốt (các thầy phong thủy gọi là đá có âm khí), cần nhờ thầy làm sạch năng lượng của đá rồi hãy đeo tiếp.

Các vòng gỗ

Với các loại vòng gỗ đắt tiền như vòng gỗ sưa, vòng trầm… thường thơm, ngừa được một số bệnh da liễu, tránh côn trùng đốt, có thể xua đuổi tà khí… thì vẫn nên đeo. Nhưng các loại vòng gỗ, vòng dâu tằm thì không có tác dụng tâm linh, chỉ mang tính thương mại, lợi dụng tháng 7 (Âm lịch) để đồn thổi và bán kiếm lời. Nếu trót mua những chiếc vòng đó thì nên bỏ, không nên đeo.

Bùa chống tà

Nếu mang một lá bùa về nhà, hay đeo trong người mà không có tác dụng như ý muốn, có khi còn tệ hơn thì xử lý thế nào? Các nhà tâm linh cho rằng, phần lớn bùa thị trường, bùa phôtô thương mại không phát ra năng lượng, hay có tác dụng rõ ràng gì dù có đóng dấu xanh đỏ. Lý do là hình vẽ lá bùa cũng không chuẩn cự ly giữa các nét vẽ, lời chú truyền miệng đọc không chuẩn và không phải ai cũng sử dụng được câu chú. Còn những người tu luyện thực sự có khả năng sẽ không sa đà vào việc làm bùa chú thương mại, thị trường. Các đồ vật trấn yểm cũng không thể dùng tùy tiện, mà chỉ do người buôn bán trục lợi lan truyền.

Với các nhà tâm linh, bùa thường kèm lời chú. Nếu lời chú chưa được giải, đốt bùa đi sẽ tệ hơn, vứt đi cũng không được. Tốt nhất là mang lá bùa trả lại cho thầy.

Chỉ nên kiêng tới Rằm

Theo các nhà tâm linh, việc kiêng không khởi công, tân gia, cưới hỏi, mở cửa hàng kinh doanh… trong tháng cô hồn chỉ nên kiêng tới Rằm, không phải kiêng hết tháng. Bởi những kiêng kị dân gian có cái kiêng đúng, có cái sai, có cả những việc không đáng kiêng bởi sẽ có ngày tốt với việc này, xấu với việc kia, tốt với người này, xấu người khác...

Ông Doãn Phú cho rằng, những kiêng kỵ tháng cô hồn chỉ tương đối theo quan điểm của từng vùng miền hay cá nhân, chứ khoa học chưa chứng minh được là không kiêng những điều cấm kỵ tháng 7 sẽ gặp họa. Cũng chưa ai chứng minh nếu kiêng được những điều cấm kỵ sẽ gặp an lành. Đừng vì sợ ma quỷ mà gò bó mình, bởi cũng có người có thể gặp tai họa vì kiêng quá mức. Ai cũng có thể có đức tin của mình, song không nên sa đà vào mê tín vì sẽ có thể vuột mất cơ hội tốt, vận may tốt.

Các nhà tâm linh đều cho rằng, lễ Vu Lan chủ yếu và chỉ có 3 ngày 14, 15, 16 tháng 7 Âm lịch, chứ không kéo dài cả tháng. Còn lễ “xá tội vong nhân” thì sau 3 ngày các vong linh được về dương gian, nhưng vẫn có trật tự và có quỷ giám sát để vong linh không làm bừa. Thời gian chỉ có 3 ngày, chứ không kéo dài cả tháng như rất nhiều người nhầm tưởng.

Sau Rằm tháng 7 nên làm gì?

Theo ông Hà Thanh (Viện Nghiên cứu và Ứng dụng tiềm năng con người), sau Rằm tháng 7 hoặc cuối tháng 7 (hoặc tốt nhất là sau hôm cúng chúng sinh) nên dùng bột trừ tà ma tiêu khử, tránh âm linh phảng phất tụ lại. Nên dùng nước thơm tẩy uế ngôi nhà để cân bằng lại sinh khí trong nhà.
Cuối tháng 7, nếu bát hương đầy nên tỉa bớt chân hương. Không nên để chân hương quá nhiều, vừa khó cắm hương, lại dễ bị hóa bát hương. Lau dọn bàn thờ chu đáo đúng cách, thắp hương hàng ngày, đèn trên bàn thờ luôn sáng để thu hút năng lượng tốt, rước may mắn về nhà.
Ngoài ra, cũng nên “lợi dụng” tháng 7 kiêng kị để chụp ảnh cưới, mua đồ cưới, nhẫn cưới… vì dịp này nhiều chiêu khuyến mại, giảm giá.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sau Rằm tháng 7 có nên kiêng kỵ?

Phong thủy văn phòng: Chớ dại đặt xương rồng trên bàn làm việc

Phong thủy văn phòng. Dân văn phòng ngày càng có xu hướng đặt xương rồng trên bàn làm việc, điều này sẽ ảnh hưởng xấu tới sức khỏe và sự nghiệp.
Phong thủy văn phòng: Chớ dại đặt xương rồng trên bàn làm việc

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Dân văn phòng ngày càng có xu hướng đặt các chậu cây cảnh nhỏ nhắn trên bàn làm việc nhằm mục đích giảm bức xạ máy tính, các loại khí độc hại và chấn phong thủy. Nhưng chớ dại mà đặt cây xương rồng vì sẽ gây phản tác dụng.
 

Với tác dụng hút tia bức xạ máy tính, làm giảm các chất độc hại cho con người nên cây xương rồng thường là lựa chọn hàng đầu của dân văn phòng nếu có ý định trưng bày cây cảnh trên bàn làm việc.
 
Tuy nhiên, nhìn từ góc độ phong thủy, những loài cây có gai nhọn như xương rồng sẽ chĩa các mũi nhọn thẳng vào người đối diện và tạo ra khí xấu, lâu dần sẽ gây ra những ảnh hưởng không tốt đến trạng thái tinh thần, sức khỏe của con người. 

Phong thuy van phong Cho dai dat xuong rong tren ban lam viec hinh anh
Các mũi gai nhọn của xương rồng chĩa thẳng vào người gây ốm đau, bệnh tật

Ngoài ra, gai nhọn chi chít trên thân cây sẽ khiến nó bị bao bọc bởi sát khí. Việc xương rồng nở hoa thường được cho là sẽ mang đến điềm lành (vì hoa của nó mang năng lượng tốt). Tuy nhiên, điều đó cũng không đủ sức để lấn át nguồn năng lượng xấu đến từ những chiếc gai nhọn.
 
Bên cạnh đó, xương rồng là loài cây có hình dáng đặc biệt, thân phát triển theo hướng đi lên giống như xương của con rồng nhỏ với ý nghĩa mang đến sức mạnh nên có tác dụng hóa giải hình sát mạnh bên ngoài.
 
Theo quan điểm phong thủy thì “hình nào khí nấy”. Những cây xanh tốt, dáng khỏe khoắn và vươn cao thường tạo ra nhiều sinh khí. Ngược lại, những cây dáng thấp nhỏ, ủ rũ, gai góc hoặc xù xì sẽ mang đến sát khí hoặc ám khí. Do đó, nếu bày xương rồng trong văn phòng sẽ khiến bản thân không khỏe mạnh, dễ mắc bệnh tật, công việc không thuận lợi, thậm chí công ty khó phát triển.
 
Theo phong thủy văn phòng, tốt nhất bạn không nên bài trí cây xương rồng trong văn phòng hoặc nhà ở, đặc biệt là phòng ngủ để tránh rước bệnh tật, tai họa vào thân. Nếu yêu thích loài cây này, bạn có thể trồng ở những khu vực xấu như góc nhọn của tường hoặc các mũi tên sắt từ hàng rào của nhà hàng xóm để chống lại sát khí và những nguồn năng lượng tiêu cực.
 
► Tham khảo thêm những thông tin về: Lịch vạn niên và Lịch âm dương chuẩn xác nhất

ST
   
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phong thủy văn phòng: Chớ dại đặt xương rồng trên bàn làm việc

Chị em mê mẩn với đèn xông tinh dầu - phụ kiện trang trí nhà vừa đẹp vừa thơm

Đèn xông tinh dầu là sự kết hợp hoàn hảo giữa đèn chiếu sáng và máy xông tinh dầu, mang đến cho không gian nhỏ sự ấm áp, hương thơm dễ chịu và là phụ kiện trang trí bắt mắt.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đèn xông tinh dầu đang là sản phẩm được các chị em phụ nữ tìm kiếm để sử dụng trong ngôi nhà nhỏ của mình. Loại đèn này không chỉ mang lại hương thơm, cảm giác ấm áp cho mùa đông mà còn trở thành một phụ kiện trang trí cho không gian sống thêm đẹp và ấn tượng.
  Đèn xông tinh dầu - sự kết hợp hoàn hảo giữa đèn chiếu sáng và máy xông tinh dầu. 
Đèn xông tinh dầu là sự kết hợp hoàn hảo giữa đèn chiếu sáng và máy xông tinh dầu. Bạn có thể đặt nó ở bất cứ đâu trong ngôi nhà, đặc biệt là phòng ngủ, phòng làm việc,... Ánh sáng dịu nhẹ, mùi hương thoang thoảng giúp thanh lọc không khí, xua đuổi côn trùng và đặc biệt an toàn với sức khỏe người sử dụng. So với lọ nước xịt phòng quen thuộc thì lựa chọn này đem lại cảm giác tự nhiên, dễ chịu hơn rất nhiều. 
 
đẻn 3
 
Loại đèn này không chỉ mang lại hương thơm, cảm giác ấm áp cho mùa đông...     ... mà còn trở thành một phụ kiện trang trí cho không gian sống thêm đẹp và ấn tượng.
Đèn xông tinh dầu có cấu tạo gồm hai phần: phần bên dưới là vị trí của hệ thống chiếu sáng, phần bên trên là nơi nhỏ các giọt tinh dầu (khoảng 5-7 giọt vào nước ấm). Về chất liệu, đèn xông tinh dầu có thể chiều lòng cả những chị em khó tính nhất bởi độ phong phú của mình. Người yêu nét mộc mạc giản dị có thể chọn mẫu đèn bằng gốm sứ hoặc gỗ (phần đĩa trên bằng thủy tinh), người thích sự lấp lánh sang trọng sẽ chọn cho mình loại bằng pha lê nhiều màu hay thủy tinh đẹp mắt, phong cách vintage với đèn bằng kim loại đồng, sắt. Hoa văn của đèn có thể được vẽ, in chìm, khắc nổi,…với các hình ảnh quen thuộc của làng quê Việt Nam, chữ thư pháp, hoa lá, chim muông từ đơn giản đến cầu kỳ, nổi bật.
    Đèn xông tinh dầu được tạo nên từ nhiều vật liệu như gốm sứ, gỗ, thủy tinh, pha lê...
 Với nhiều kiểu dáng từ đơn giản, ngộ nghĩnh đến sang trọng, quý phái.
Bên cạnh chức năng của một chiếc đèn chiếu sáng, sưởi ấm, đèn xông tinh dầu còn là điểm nhấn thu hút cho căn phòng nhỏ của bạn. So với các loại đèn thông thường, mẫu sản phẩm này đa năng và ấn tượng hơn rất nhiều. Ngay cả khi không sử dụng tinh dầu, bạn cũng có thể sắp xếp chúng trang trí nơi phòng khách, hành lang hay các bậc cầu thang cho không gian huyền ảo và lấp lánh.        
đèn 1
Đèn xông tinh dầu mang lại sự ấm áp, hương thơm và vẻ đẹp huyền ảo cho không gian.

Hiện nay, trên thị trường có hai loại chính là: loại xông tinh dầu nến và loại xông tinh dầu điện. Loại thứ nhất khá đơn giản, chi phí rẻ, nến tạo lửa được sử dụng là mẫu tealight, không mùi, hình tròn, nhiều màu. Tuy nhiên, loại thứ hai lại được ưa chuộng hơn bởi sự đa dạng về mẫu mã cũng như tính an toàn và thuận tiện. Với bóng đèn, bạn sẽ không lo lắng về vấn đề lửa khi nhà có trẻ nhỏ, nó vẫn hoạt động an toàn ngay cả khi bạn đi vắng.  Xông tinh dầu nến có cấu tạo đơn giản và cách sử dụng dễ dàng.  Bạn có thể chọn cho mình mẫu xông tinh dầu bằng nến tealight thông dụng.  đen 2
Hoặc sử dụng mẫu đèn xông tinh dầu cho cảm giác sang trọng và an toàn.

Tinh dầu có rất nhiều loại để cho bạn lựa chọn theo sở thích. Chẳng hạn như một số loại đang được ưa chuộng hiện nay như: Tinh dầu chanh sảng khoái, tinh dầu bạc hà, tinh dầu khuynh diệp giúp giảm đau đầu, tinh dầu cam, tinh dầu bưởi hương nhẹ nhàng, tinh dầu hoa hồng, hoa ly thơm ngát, tinh dầu oải hương lãng mạn, tinh dầu quế, gừng, sả giúp xua tan mệt mỏi, căng thẳng, khử trùng không khí hiệu quả, vân vân… Các loại tinh dầu này được đóng thành từng chai nhỏ, với các dung tích 10ml, 20ml, 30ml, 50ml và 100ml, giá thành dao động từ 70.000 - 350.000 đồng/ lọ.  Tinh dầu giúp chủ nhân thư thái, xua tan mọi căng thẳng cho cảm giác dễ chịu.

Trên thị trường hiện nay có rất nhiều nhà sản xuất cũng như nhập khẩu đèn xông tinh dầu. Nổi bật phải kể đến các mặt hàng thủ công của làng nghề gốm sứ Bát Tràng, với mẫu mã tinh tế, đường nét sắc sảo. Bên cạnh hàng Việt Nam có có các cửa hàng nhập khẩu đèn Đài Loan, Trung Quốc với kiểu dáng sang trọng. Bạn cần lựa chọn các hãng uy tín cả về đèn xông lẫn tinh dầu để đảm bảo an toàn sức khỏe, tránh mua tinh dầu trôi nổi không rõ nguồn gốc xuất xứ. Những mẫu đèn xông tinh dầu có giá từ vài trăm ngàn đến hàng chục triệu đồng tùy vào kiểu dáng, kích thước, chất liệu và giá trị thẩm mỹ. 

Bạn có thể mua đèn xông tinh dầu tại các cửa hàng chuyên kinh doanh nội thất, phụ kiện trang trí nhà ở hoặc tham khảo trên các trang web bán hàng online uy tín trong và ngoài nước.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chị em mê mẩn với đèn xông tinh dầu - phụ kiện trang trí nhà vừa đẹp vừa thơm

Đại cát đại lợi 3 chòm sao may mắn trong tháng 12

Những chòm sao may mắn trong tháng 12 dưới đây là toại nguyện nhất, làm gì cũng hanh thông, không có chướng ngại vật.
Đại cát đại lợi 3 chòm sao may mắn trong tháng 12

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Cuối năm là thời điểm mọi người đều vô cùng bận rộn nên ai cũng mong rằng trăm sự như ý, không có rắc rối gì. Những chòm sao may mắn trong tháng 12 dưới đây là toại nguyện nhất, làm gì cũng hanh thông, không có chướng ngại vật.


Dai cat dai loi 3 chom sao may man trong thang 12 hinh anh
 

Hổ Cáp

  Vận trình của Hổ Cáp cực kì tốt nên nếu xếp hạng chòm sao may mắn trong tháng 12, chắc chắn vị trí đầu tiên không thể thoát khỏi tay họ. Thời điểm trăm việc dồn lại khiến người ta căng thẳng, áp lực như thế này thì Hổ Cáp đặc biệt vượng, càng cuối năm càng vượng, càng cuối năm càng phất.   Giữa tháng 12, Hỏa tinh tới chòm Song Ngư, Hổ Cáp được lợi, mọi phương diện đều hoàn hảo, thêm nỗ lực cá nhân nữa thì không chỉ trời giúp mà người cũng giúp, làm gì cũng đạt kết quả mĩ mãn, không ai dám cản bước tiến hay gây khó dễ cho Hổ Cáp.  

Bảo Bình

  Chòm sao may mắn trong tháng 12 gọi tên Bảo Bình ở vị trí thứ 2. Cái gọi là thuận buồm xuôi gió, an nhiên tự tại chính ở đây chứ nào có đâu xa, không ai không ghen tị với họ vì quá thuận lợi, phăm phăm mà tiến lên hoàn thành mục tiêu thôi.   Vận trình thăng cấp nhanh, Mộc Tinh quý nhân để mọi chuyện đều hài lòng, đồng thời có Hỏa Tinh siêu cường giúp cho năng lực hành động mạnh và chuẩn xác. Trăm sự đều thuận theo Bảo Bình, bạn chỉ việc phát huy sức mạnh của bản thân, thể hiện năng lực cá nhân nữa thôi.
Dai cat dai loi 3 chom sao may man trong thang 12 hinh anh
 

Xử Nữ

  Tháng 12 này Xử Nữ có thể hài lòng ở cả phương diện tài vận lẫn hôn nhân, các mặt khác xem như không có trở ngại, bình an như ý nguyện. Số trời cho bạn gặp được tình yêu chân thành hoặc cùng người thương tiến vào thánh đường hôn nhân, tạo nên cái kết đẹp cho chuyện tình thơ mộng.   Mộc tinh tiến vào cung tiền tài của Xử Nữ nên chòm sao may mắn trong tháng 12 này hiếm khi gặp tình huống thất thoát hay thiếu thốn, đếm tiền mỏi tay, tiêu tiền không phải nghĩ, cơ hội đến tới tấp, chỉ sợ bạn không có sức mà kiếm tiền thôi. 
Đáng ngưỡng mộ 3 chòm sao có gia đình hạnh phúc Các chòm sao sinh ra có phú quý mệnh
Trình Trình

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đại cát đại lợi 3 chòm sao may mắn trong tháng 12

Làm thế nào để suy đoán cát hung cho các tòa nhà theo Bát vận? –

Khi suy đoán cát hung cho những căn nhà khác nhau, cần phải dùng tới cách “âm dương thuận nghịch”. Nguyên lý chủ yếu của cách tính này là dựa theo âm dương tọa hướng của toàn bộ vật kiến trúc mà quyết định trình tự thuận nghịch của căn nhà và đơn v

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

ị. Dưới đây, chúng tôi đưa ra ví dụ thực tế để giới thiệu cách tính cát hung cho nhà chung cư.

Giả thiết ta có một toà nhà cao 5 tầng, toạ hướng của nó là toạ Mùi hướng Sửu, Mùi sơn là âm, âm dùng nghịch suy. Hiện tại đang là Bát vận, cho nên tầng thấp nhất của toà nhà đó chính là Bát, tầng thứ hai là nghịch suy của Bát tức là Thất, tầng thứ ba là Lục, tầng thứ tư là Ngũ, tầng thứ năm là Tứ. Chúng ta phát hiện thấy phong thuỷ của tầng một là tốt nhất, bởi vì vận thế là Bát vận, nó thuận theo Bát vận nên tốt. Còn phong thuỷ của bốn tầng còn lại nằm vào thế thoái vận, không phải là sự lựa chọn tốt.

p26

Nếu tọa hưóng của toà nhà này là toạ Tý hướng Ngọ, Tý sơn là dương, dương dùng thuận suy. Vậy tầng 1 là Bát, tầng 2 là thuận suy của Bát tức là cửu, tầng 3 là Nhất, tầng 4 là Nhị, tầng 5 là Tam. Khi đó chúng ta sẽ thấy phong thuỷ từ tầng 1 đến tầng 3 là tốt, bởi vì tầng 1 là đương thời đắc lệnh, tầng 2 và tầng 3 là Cửu và Nhất là vị lai tinh (sao tương lai). Nếu ta định dùng một tầng làm nơi vui chơi giải trí như câu lạc bộ, quán bar thì tốt nhất nên chọn tầng 2. Vì tầng 2 là Cửu, Cửu là Đào hoa. Nơi vui chơi giải trí vượng Đào hoa ắt sẽ vượng tài lộc.

Ví dụ trên chỉ là toà nhà 5 tầng, nhưng hiện nay đất chật người đông, nhà càng ngày càng cao. Giả thiết ta phải tính toán cát hung cho mỗi tầng của một khu chung cư cao 28 tầng thì làm thế nào? Nếu tính toán theo cách thuận suy : Thế vận là Bát, tầng dưới cùng là Bát, tiếp theo là Cửu, Nhất, Nhị, Tam,…, Cửu, Nhất, Nhị, Tam …cứ tiếp tục như vậy. Ta cũng có thể tìm con số đại diện của từng tầng. Nếu dùng nghịch suy, tầng 1 là Bát, tầng 2 là Thất, tầng 3 là Lục, Ngũ, Tứ, Tam, Nhị, Nhất, Cửu,…

Chúng ta cần tính toán Phi Tinh của từng năm rồi tìm vận trình mỗi năm của từng tầng và từng đơn vị. Trong quá trình tính toán, âm dương thuộc tính của toạ sơn rất quan trọng vì nó quyết định cách tính tầng của chúng ta là thuận hay là nghịch. Trên la bàn đánh dấu rất rõ âm dương của 24 sơn: Màu đen là âm; màu đỏ là dương. Nhìn vào là chúng ta biết ngay.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Làm thế nào để suy đoán cát hung cho các tòa nhà theo Bát vận? –
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd