Đà La, Kình Dương: chỉ sự ngăn trở quan trọng vì ganh đua, cạnh tranh gay gắt. Tại vị trí hãm địa, đương số là nạn nhân của chia rẽ, phân hóa trong nghề nghiệp, làm việc nặng nhọc, gánh trách nhiệm mà bị tội vạ, hiểu lầm, khiển phạt. Những bạc bẽo của nghề thường do hai sao này quảng diễn.
Cự Môn hãm địa: đồng nghĩa với Hóa Kỵ nhưng nặng nề hơn. Con người Cự Môn cũng như Hóa Kỵ lúc nào cũng bất mãn, mưu tìm sự canh cải theo ý mình, không bảo thủ mà đấu tranh thay đổi thành phần bảo thủ. Nếu đắc địa thì việc đấu tranh có cơ hội thành công, trái lại, Cự Kỵ sẽ là nạn nhân của thái độ cấp tiến của mình, gánh lấy hậu quả của sự kìm chế, đè nén, cô lập. Đi chung với các sao ám khác như Thiên Không, Kình Dương, Đà La, Phục Binh, là những người hay kết bè kết đảng để đấu tranh. Nếu có sát tinh đi kèm thường có đổ máu, hình ngục, thanh toán, trả thù qua lại.
Tuế, Đà, Kỵ: tượng trưng cho những xui xẻo liên tiếp trong quan trường, trong nghề nghiệp, trong đó có sự đè nén, thị phi, gièm pha, đố kỵ.
Đại Hao, Tiểu Hao: đi chung với quyền, quý, dũng tinh, Nhị Hao thường chỉ sự sa sút hậu thuẫn, sự sút kém tín nhiệm, sự mất mát thế lực. Viên chức có Song Hao ở Quan, ngoài ý nghĩa hư danh, hư quyền, bị tổn thương uy tín, thất sủng, từ đó làm việc gì cũng không lâu bền, ở với ai cũng khó hòa hợp, có thể ngồi xơi chơi nước hay được giao những công việc chạy vặt, liên lạc, kém quan trọng. Về mặt tâm lý, Đại Tiểu Hao ở Quan còn chỉ những người đứng núi này trông núi nọ, bất mãn không khí đang sống, lúc nào cũng chực hờ, tìm chỗ tốt, chỗ bở, hay thay đổi chức vụ mà chũng chẳng hiển vinh gì bao nhiêu. Tính tình của Nhị Hao thường bất nhất, không bền chí, không kiên tâm tiến thủ trên cái gì đã có mà chỉ lo đổi chỗ để tìm lợi lộc, tìm thăng tiến. Nếu được đắc địa thì Nhị Hao có lợi hơn về mặt tài lộc, kinh nghiệm.
Thiên Khốc, Thiên Hư hay Tang Môn, Bạch Hổ: Trừ phi đắc địa ở Tý Ngọ, Khốc Hư ở Quan biểu tượng cho những ưu tư, lo buồn, hoang mang, sợ sệt khi hành nhiệm. Ngoài ra, còn có đặc tính bị khinh ghét, chê bai vì bất lực, bất hòa. Người có Khốc Hư ở Quan không thoải mái trong công việc, phải quan tâm lo lắng nhiều mối, vì nhiều lý do, có khi phải gánh chịu nhục nhã, xấu hổ bởi tai tiếng, bởi thị phi. Nếu đắc địa, các sao này chỉ uy tín và hoạt động chính trị cũng như năng tài hùng biện, giáo khoa, tâm lý chiến.
c. Bất dụng, sai dụng, thiểu dụng:
Lực Sỹ, Kình Dương: tượng trưng cho sự bỏ quên, việc ngồi chơi xơi nước, việc nghỉ giả hạn. Lực Sỹ chỉ tài năng, sự tháo vát, linh hoạt, lanh lợi đồng thời cũng ám chỉ thành tích, công lao, chiến tích. Kình Dương chỉ sự ngăn cản, trở lực, trục trặc trong công danh. Cả hai hội ý chỉ sự thi thố không hết mức tài năng, sự đãi ngộ bất xứng với thành tích, sự thiểu dụng, từ đó nảy sinh sự bất mãn, bất đắc chí. Kình Lực không nhất thiết ngụ ý người có tài mà lắm khi ngụ ý người tự cho rằng mình có tài, vì bị bạc đãi nên bất mãn. Kình Lực đôi khi chỉ tham vọng, sự cậy tài, sự ỷ lại quá đáng làm cho quần chúng ghét bỏ, xa lánh.
Thiên Mã, Tràng Sinh ở Hợi: Thiên Mã thông thường chỉ tài năng. Gặp thêm Tràng Sinh là có cơ may tiến đạt. Nhưng hiềm vì ở cung Hợi cho nên năng tài này bị chìm trong bóng tối. Đây là hạn người kém may, không có cơ hội thi thố được, hoặc chỉ có danh mà không có quyền, chỉ có hư vị hơn là thế lực, hoặc bị đặt vào chỗ tượng trưng để lợi dụng uy tín chứ không phải để hành sử quyền binh. Công lao của Mã Sinh ở Hợi thường chỉ ở trong bóng mờ, hay bị người khác lấn át. Nếu gặp Phục Binh, ngụ ý người có tài mà bị ruồng bỏ, bị gièm xiểm, bị đào thải ...
Thiên Mã, Tuần, Triệt: không chỉ tai nạn xe cộ mà chỉ sự bất dụng, sự thiếu may mắn trong nghề nghiệp, làm cái gì cũng thất bại, tai ương, xui xẻo khiến cho thượng cấp mất dần tín nhiệm, không dám giao phó đại sự. Cho nên, công danh của Mã, Tuần, Triệt tương đối nhỏ.
Đứng trước bất kỳ hiện tượng nào đó của thiên nhiên, thậm chí ngay cả những hiện tượng rất bình thường của cuộc sống, ví như tiếng chó sủa, lửa reo, hay sự hồi hộp, lo âu của con người thì tín ngưỡng dân gian đều cho rằng đó là điềm ứng báo
Năm mới 2016 của bạn như thế nào? Hãy xem ngay TỬ VI 2016 mới nhất nhé!
Đứng trước bất kỳ hiện tượng nào đó của thiên nhiên, thậm chí ngay cả những hiện tượng rất bình thường của cuộc sống, ví như tiếng chó sủa, lửa reo, hay sự hồi hộp, lo âu của con người thì tín ngưỡng dân gian đều cho rằng đó là điềm ứng báo
Vậy điềm báo là gì? ý nghĩa của điềm báo cụ thể ra sao? Sự phi lý và nhảm nhí như thế nào?
Xin lược soạn để bạn đọc tham khảo như sau:
1. Các hiện tượng “bỗng dưng”:
- Vô tình mặc áo trái là điều may mắn, là điềm báo sắp nhận được tin vui hoặc vận may từ trên trời rơi xuống. Nếu vận đang xui xẻo, sẽ xoay chuyển được tình thế.
- Khi tai bị ngứa là điềm báo chủ nhân đang là tâm điểm của sự bàn luận. Nếu ngứa tai trái là đang được mọi người nói tốt, còn ngứa tai phải là đang bị mọi người nói xấu. Khi tai đang bị ngứa, cố đoán xem ai đang nói về mình và đọc lớn tên người đó lên, nếu đoán đúng, cơn ngứa sẽ không còn.
- Khi tay bị ngứa ran: Nếu ngứa tay trái, hoặc tay trái ngứa trước tay phải, tình hình tài chính sẽ rất khả quan. Ngược lại, nếu ngứa tay phải, hoặc tay phải ngứa trước, báo hiệu sắp tới sẽ bị hao tài. Nếu ngứa ở 4 ngón tay trái, đây là dấu hiệu vận may lớn về tiền bạc sắp đến.
- Vào nhà thấy người trong nhà đầu bù tóc rối, áo quần xốc xệch, vẻ mặt tối ám là điềm ưu sầu, suy sụp.
- Trong nhà có người ngủ ngày ngủ đêm liên miên là triệu trứng suy vong, hao tán, không phát đạt.
- Bức tranh trong nhà tự nhiên rơi xuống là điềm xấu. Nếu tranh đó là tranh vẽ hay ảnh chụp người trong nhà thì đó là dấu hiệu bất ổn đối với người đó.
- Trước mặt nhà rêu phong, cây cối rủ kín hoặc vách tường đổ nát là điềm báo gia đạo đến hồi suy vi sầu thảm.
- Cá dưới nước tự nhiên nhảy lên bờ nằm (trừ cá quả vì nó nhảy lên bờ bắt kiến) trước mặt mình là nghịch cảnh, điềm báo sẽ gặp chuyện bất thường.
- Chim đang khỏe mạnh, bất ngờ bị thương hoặc tai nạn gì đó rơi xuống trước mặt mình (theo câu thành ngữ "chim sa cá nhảy") là điềm gở, cảnh báo sắp có chuyện đau buồn, nghịch cảnh.
- Gà mái nhà nuôi mà tự nhiên cất tiếng gáy là điềm báo gia đạo sắp có xáo động.
- Chim sẻ nhẩy nhót kêu trên mái nhà là điềm báo sắp có tin vui, có người ở xa đến.
- Nếu chuột kéo nhau bỏ chạy ra khỏi nhà nào đó là điềm báo nhà đó sẽ có bất hạnh, tang tóc.
- Tự nhiên có chuột reo trong nhà là có tin vui.
- Chuột xuất hiện trong nhà vào ban trưa là điềm gia chủ bị hao tài.
- Tự nhiên có bầy chim bay đến cắn mổ nhau loạn xạ là điềm có tranh cãi trong nhà.
- Chim, quạ hoặc bồ câu kéo đến làm tổ trong nhà là điềm báo vận may đang đến, đem theo những thành công về sự nghiệp, tài chính như mong đợi.
- Chim bồ câu tới đầy sân và làm tổ trên mái nhà là điềm báo gia đình hưng thịnh giầu sang.
- Chó lạ đến nhà, nhất là ở lại nhà mình là điềm đại cát, báo hiệu gia đình bước vào giai đoạn hưng thịnh.
- Tự nhiên chó cái ở đâu đến đẻ trong nhà là điều may mắn về tài, lộc sẽ đến..
- Tự nhiên con chó trong nhà đứng giữa nhà mà tru lên từng hồi là điềm hung, rất xấu.
- Tự nhiên con chó rên rỉ dưới cửa là điềm báo sắp có sự không may.
- Tự nhiên con chó đến nằm dài trước cửa ra vào, mặt quay ra trước cửa là dấu hiệu có người trong nhà sẽ rời khỏi gia đình.
- Mèo lạ đến nhà, nhất là đuổi mà không chịu đi là điềm gở, báo hiệu cho sự buồn bực, sa sút. - Dơi làm tổ trong nhà là tốt, báo hiệu sự nghiệp, kinh tế của gia đình ngày càng khấm khá, thịnh vượng.
- Tự nhiên dơi bay đụng vào cửa hay bay vào trong nhà là điềm xấu.
- Tự nhiên mèo dùng chân chùi mặt và cào móng lên tai 3 lần, là dấu hiệu có khách quý đến nhà.
- Khi lái xe gặp phải con mèo đen chạy ngang qua đường hoặc mới bước ra cửa ngõ mà gặp mèo đen là điềm “xui xẻo”.
- Gặp rắn: Cho dù gặp rắn ở đâu, trong nhà hay ngoài đường, rắn luôn là điềm báo sẽ có một việc hoặc một người quan trọng sắp xuất hiện trong cuộc đời.
- Bướm bay vào nhà là điềm báo sắp đón vị khách quan trọng. Nếu bướm có màu sáng, người khách sẽ mang đến những tin tức tốt, liên quan đến chuyện tình cảm, hạnh phúc. Nếu bướm màu tối, nhất là màu đen, điềm báo sẽ nhận được những tin tức tốt lành liên quan đến công việc, sự nghiệp.
- Cào cào nhảy vào nhà là điềm báo sắp đón tiếp một vị khách cao quý.
- Bọ rùa vào nhà là dấu hiệu sắp có người đến thăm..
- Cóc vào nhà là điềm may mắn về tiền tài sắp đến.
2. Thịt giật
Người xưa cho rằng: Tự nhiên một vài nơi trong người, nhất là các bắp thịt giật nổi phồng lên, hoặc máy động. Đó là điềm ứng báo, được gọi là thịt giật hay còn gọi là thịt máy. Căn cứ vào thời gian sảy ra hiện tượng thịt giật mà luận đoán ý nghĩa của may, rủi.
Cổ nhân thường lấy can chi, âm dương ngũ hành làm cơ sở để lý giải mọi vấn đề. Cách tính giờ của văn hóa dân gian cũng không ngoài quy tắc: Căn cứ vào can chi - âm dương - ngũ hành làm chuẩn. Mỗi ngày được cổ nhân quy định gồm 12 giờ, mỗi giờ gồm 120 phút (theo giờ đồng hồ hiện hành), có tên gọi và thứ tự theo thập nhị chi: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Văn hóa dân gian quy định bắt đầu của một giờ từ khoảng thời gian nào, kết thúc vào thời gian nào cũng không đồng nhất và khá rối rắm, phức tạp, nhất là khi đem cách tính giờ của Tử vi so với cách tính giờ của Tử Bình, hoặc cách tính giờ phổ thông của dân gian. Như vậy, rất khó khăn cho những ai khi tiếp cận, muốn tìm hiểu về văn hóa dân gian, nhất là văn hóa tín ngưỡng, vì thế, theo thiển nghĩ của người viết, khoảng cách giữa giờ này với giờ kia tạm quy ước là 01 phút, theo cách tính giờ phổ thông của tín ngưỡng dân gian.
Ví dụ: Giờ Tý được tính thời gian bắt đầu từ 23 giờ đến 01 giờ kém 01 phút, giờ Sửu được tình từ 01 giờ đến 03 giờ kém 01 phút ... các giờ khác cũng tính như vậy.
Cụ thể, người xưa luận giải:
- Giờ Tý (Từ 23 giờ đến 01 giờ): Có tin chia gia tài hoặc bạn sắp được hưởng lộc bất ngờ.
- Giờ Sửu (Từ 1 giờ đến 3 giờ): Con cái từ xa mang lại vui vẻ cho gia đình của bạn.
- Giờ Dần (Từ 3 giờ đến 5 giờ): Chuyện nhỏ hóa ra chuyện lớn. Nên nhường nhịn, ôn hòa để tránh chuyện kiện tụng có thể sảy ra cho bạn.
- Giờ Mão (Từ 5 giờ đến 7 giờ): Có người mang quà đến tặng để nhờ vả bạn một công việc gì đấy.
- Giờ Thìn (Từ 7 giờ đến 9 giờ): Đề phòng tai nạn xảy ra bất ngờ với con cái trong nhà. Tốt nhất không nên cho con cái ra ngoài đường và nên để mắt thường xuyên tới chúng.
- Giờ Tỵ (Từ 9 giờ đến 11 giờ): Có khách lạ tìm đến nhà bạn để bàn bạc, trao đổi công việc, và công việc đó sẽ có lợi cho bạn.
- Giờ Ngọ (Từ 11 giờ đến 13 giờ): Có người đang cố tình tìm cách dèm pha, nói xấu bạn. Tốt hơn hết, bạn nên đề phòng sự phản trắc của bạn bè, người quen ngay từ bây giờ.
- Giờ Mùi (Từ 13 giờ đến 15 giờ): Là điềm báo có của đến bất ngờ.
- Giờ Thân (Từ 15 giờ đến 17 giờ): Có tài lộc đến với bạn nhưng cũng có chuyện lôi thôi nhỏ kèm theo.
- Giờ Dậu (Từ 17 giờ đến 19 giờ): Bạn sắp có chuyện hao tài, và mang nhiều tai tiếng. - Giờ Tuất (Từ 19 giờ đến 21 giờ): Con cái ở xa về, gia đình vui vẻ.
- Giờ Hợi (Từ 21 giờ đến 23 giờ): Công việc của bạn đã có những dấu hiệu chuyển biến tốt đẹp, tài lợi cũng sắp đến với bạn khá nhiều.
3. Hồi hộp
Tự nhiên người hồi hộp, như lo sợ một chuyện gì đó, hoặc tim đập mạnh, tâm trạng lâng lâng khó tả.... Người xưa cho rằng đó là điềm báo, căn cứ vào thời gian sảy ra để luận giải, cũng có điềm lành, điềm dữ.
Cụ thể, cổ nhân cho rằng:
- Giờ Tý (Từ 23 giờ đến 01 giờ): Có người đang chờ mong một cuộc ân tình với bạn.
- Giờ Sửu (Từ 1 giờ đến 3 giờ): Đây là điềm báo tai họa từ đâu sẽ bất ngờ ập đến với bạn. Vì thế bạn nên cẩn trọng đề phòng chuyện thị phi, đàm tiếu, bị vu oan, làm danh dự của bản thân bị tổn thương, bôi nhọ.
- Giờ Dần (Từ 3 giờ đến 5 giờ): Điềm báo có lộc về ăn uống. Tuy nhiên, bạn cũng cẩn thận kẻo gặp lôi thôi từ chuyện ăn uống.
- Giờ Mão (Từ 5 giờ đến 7 giờ): Có khách sang trọng tìm đến, đem lại tài lộc dồi dào cho bạn.
- Giờ Thìn (Từ 7 giờ đến 9 giờ): Điềm báo có tin vui về tài lộc đến với bạn, tuy nhiên, bạn nên tu tâm tích đức để giữ được tài lộc.
- Giờ Tỵ (Từ 9 giờ đến 11 giờ): Bạn đang có chuyện tâm tình, thầm kín và chuyện tình cảm đó dễ có cơ thành tựu.
- Giờ Ngọ (Từ 11 giờ đến 13 giờ): Có chuyện hồi hộp ngẫu nhiên, tiền của vào nhà thật bất ngờ. Bạn cần phải tích đức để tránh được tai họa có thể đến sau niềm vui may mắn được tài lộc.
- Giờ Mùi (Từ 13 giờ đến 15 giờ): Chuyện tình duyên bất ngờ đến với bạn. Chuyện tình đầy thơ mộng nhưng kết quả sẽ không như bạn mong đợi.
- Giờ Thân (Từ 15 giờ đến 17 giờ): Có tin vui từ xa về, bạn rất vui vẻ với tin vui đó.
- Giờ Dậu (Từ 17 giờ đến 19 giờ): Là điềm báo người thân của bạn sẽ đến thăm hỏi và cậy nhờ sự giúp đỡ của bạn vào ngày sắp tới.
- Giờ Tuất (Từ 19 giờ đến 21 giờ): Có người rủ rê bạn hùn vốn làm ăn. Bạn đừng chối từ lời đề nghị của họ vì sự hợp tác đó sẽ đem lại nhiều tài lộc cho bạn.
- Giờ Hợi (Từ 21 giờ đến 23 giờ): Bạn nên cẩn thận đề phòng tai nạn có thể sảy ra.
>>> Năm mới 2016 AI xông đất nhà bạn? Sẽ mang lại nhiều may mắn tài lộc?
Xem ngay XEM TUỔI XÔNG ĐẤT 2016 mới nhất>>>
4. Ù tai
Tự dưng không động chạm tới tai, không để nước lọt vào tai mà có hiện tượng ù tai như khi ta tắm. Đó là điềm ù tai. Người xưa cũng căn cứ vào thời gian sảy ra để lý giải cho thời gian tới sẽ như thế nào. Tuy nhiên, ở điềm ù tai này, cổ nhân phân biệt giữa tai trái, tai phải có ý nghĩa khác nhau chứ không giống nhau.
Cụ thể, người xưa cho rằng:
Tai trái:
- Giờ Tý (Từ 23 giờ đến 01 giờ): Có người khác phái đang mong nhớ, tương tư tới bạn. Họ đang hy vọng sẽ xây dựng được mối ân tình sâu nặng với bạn.
- Giờ Sửu (Từ 1 giờ đến 3 giờ): Có việc hao tài sắp đến với bạn nhưng sự hao tài đó không đáng kể.
- Giờ Dần (Từ 3 giờ đến 5 giờ): Là điềm báo có kẻ gian đang rình rập quanh bạn. Nên cẩn trọng đề phòng chuyện mất cắp sẽ đến với bạn.
- Giờ Mão (Từ 5 giờ đến 7 giờ): Có chuyện vui xen lẫn chuyện buồn. Bạn cần cẩn thận giữ mình là tốt nhất.
- Giờ Thìn (Từ 7 giờ đến 9 giờ): Bạn sắp có việc phải đi xa. Tốt nhất, bạn nên cẩn thận trong lời ăn tiếng nói.
- Giờ Tỵ (Từ 9 giờ đến 11 giờ): Tai biến nặng nề, đề phòng cẩn thận khi đi đường.
- Giờ Ngọ (Từ 11 giờ đến 13 giờ): Có niềm vui của sự xum họp sắp đến gần bạn.
- Giờ Mùi (Từ 13 giờ đến 15 giờ): Có lộc về chuyện ăn uống, tuy nhiên, bạn nên đề phòng điều lôi thôi sẽ đến sau khi bạn được tận hưởng lộc ăn uống đó.
- Giờ Thân (Từ 15 giờ đến 17 giờ): Có người rủ bạn đi du lịch. Bạn nên nhận lời vì chuyến du lịch này sẽ đem lại cho bạn nhiều niềm vui.
- Giờ Dậu (Từ 17 giờ đến 19 giờ): Đề phòng mất cắp đồ đạc, tài sản trong nhà.
- Giờ Tuất (Từ 19 giờ đến 21 giờ): Là điềm báo bạn có lộc về ăn uống.
- Giờ Hợi (Từ 21 giờ đến 23 giờ): Sẽ nhận được tin vui trong vài ngày tới và may mắn sẽ đến với bạn khá nhiều.
Tai phải:
- Giờ Tý (Từ 23 giờ đến 01 giờ): Đây là điềm xấu, báo việc bạn sắp phải tốn tiền vì chuyện không đâu mà còn bị tai tiếng, cười chê.
- Giờ Sửu (Từ 1 giờ đến 3 giờ): Có chuyện kiện tụng, lành ít dữ nhiều. Bạn nên cẩn thận.
- Giờ Dần (Từ 3 giờ đến 5 giờ): Là điềm báo có chuyện cãi vã trong gia đình, họ hàng. Bạn nên nhường nhịn kẻo sẽ đổ vỡ hạnh phúc gia đình, hoặc mất đi tình cảm họ hàng, thân thuộc.
- Giờ Mão (Từ 5 giờ đến 7 giờ): Có khách quý sắp đến thăm nhà, đem lại cơ hội tốt cho bạn về công việc, tình cảm, hoặc chuyện đại hỷ của bạn đang đến gần.
- Giờ Thìn (Từ 7 giờ đến 9 giờ): Có người cầu cạnh, nhờ vả bạn giúp đỡ một việc quan trọng với họ mà bạn có khả năng, điều kiện để giúp đỡ.
- Giờ Tỵ (Từ 9 giờ đến 11 giờ): Tài lộc đến với bạn thật bất ngờ, niềm vui đầy nhà.
- Giờ Ngọ (Từ 11 giờ đến 13 giờ): Có người thân trong quyến tộc đến thăm bạn ngày một ngày hai.
- Giờ Mùi (Từ 13 giờ đến 15 giờ): Là điềm báo có tin vui từ xa đang đến.
- Giờ Thân (Từ 15 giờ đến 17 giờ): Người thân của bạn đi xa từ lâu, nay bỗng trở về xum họp.
- Giờ Dậu (Từ 17 giờ đến 19 giờ): CLà điềm báo cát tường, báo sẽ có người tìm đến bạn, mời bạn hợp tác làm ăn với họ. Bạn hãy nhận lời đề nghị của họ vì sự hợp tác này sẽ đem lại cho bạn nhiều tài lộc.
- Giờ Tuất (Từ 19 giờ đến 21 giờ): Bạn sẽ được lộc về tiền của bất ngờ.
- Giờ Hợi (Từ 21 giờ đến 23 giờ): Đây cũng là điềm lành. Bạn sắp có lộc về ăn uống.
5. Mặt nóng
Tự nhiên, không phải vì lý do bệnh tật, hoặc đứng bếp nấu nướng,.. mà mặt nóng bừng lên, cảm giác ngứa ngáy khó chịu. Hiện tượng đó được người xưa cho đấy là điềm báo. Lối báo ứng tự nhiên này cũng có điềm tốt, điềm xấu.
Cụ thể:
- Giờ Tý (Từ 23 giờ đến 01 giờ): Đây là điềm lành, báo hiệu công việc đang trù tính của bạn sắp được thành tựu, tài lộc sắp về với bạn.
- Giờ Sửu (Từ 1 giờ đến 3 giờ): Có chuyện bực mình đến với bạn, nhất là chuyện gia đạo của bạn sẽ gặp trắc trỏ, không được thuận hòa.
- Giờ Dần (Từ 3 giờ đến 5 giờ): Có người sắp đến rủ rê bạn chuyện hợp tác làm ăn.
- Giờ Mão (Từ 5 giờ đến 7 giờ): Có người sắp mời bạn tham dự tiệc. - Giờ Thìn (Từ 7 giờ đến 9 giờ): Có người từ xa mang đến tin vui cho bạn.
- Giờ Tỵ (Từ 9 giờ đến 11 giờ): Người tình cũ của bạn đang tưởng nhớ tới bạn, mong sớm gặp mặt để nhờ sự giúp đỡ của bạn...
- Giờ Ngọ (Từ 11 giờ đến 13 giờ): Có chuyện xích mích trong gia đình, nhất là anh em, họ hàng. Bạn nên nhường nhịn kẻo chuyện nhỏ mà hóa ra to chuyện.
- Giờ Mùi (Từ 13 giờ đến 15 giờ): Bạn phải đề phòng chuyện cãi vã, nên đề phòng để tránh từ chuyện nhỏ hóa thành chuyện to.
- Giờ Thân (Từ 15 giờ đến 17 giờ): Có người giới thiệu khách quý đến kết hợp làm ăn với bạn, hoặc bạn được nhờ vả sự giúp đỡ của họ.
- Giờ Dậu (Từ 17 giờ đến 19 giờ): Có người để ý, dòm ngó đến bạn. Nên cẩn thận vì sự để ý, dòm ngó này không có thiện ý với bạn. Tốt nhất, bạn nên đề phòng, tránh xa con người đó.
- Giờ Tuất (Từ 19 giờ đến 21 giờ): Đây là điềm báo tài lợi dồi dào sắp đến, và hơn nữa may mắn đó đến với bạn cũng không hề nhỏ.
- Giờ Hợi (Từ 21 giờ đến 23 giờ): Có kẻ đang vu cáo, dèm pha, tìm cách để hãm hại bạn. Bạn nên cẩn thận kẻo bị oan sai, dẫn đến chuyện kiện tụng chốn công đường.
6. Máy mắt
Tự dưng bị máy mắt, không thể nào khống chế được, thì đó là điềm máy mắt. Về ứng nghiệm này thì mỗi người có một cách luận giải, không tập trung một ý. Có người thì cho rằng máy mắt bên trái chỉ ứng nghiệm cho con trai, máy mắt bên phải chỉ ứng nghiệm cho con gái; có người lại cho rằng máy mắt bên trái là tin dữ, máy mắt bên phải là tin lành, nhưng lành dữ thế nào thì không thấy có lời giải thích.
Người viết căn cứ vào nội dung được trình bày trong nhiều cuốn sách được xuất bản từ trước năm 1975 và sưu tầm trong dân gian để tổng hợp.
Bất luận là nam hay nữ, khi có triệu chứng máy mắt, đều có nghĩa như sau:
Mắt trái:
- Giờ Tý (Từ 23 giờ đến 01 giờ): Có bạn bè ở xa về. Bạn sẽ có nhiều niềm vui về tình cảm.
- Giờ Sửu (Từ 1 giờ đến 3 giờ): Bạn sẽ có chuyện buồn bực do người thân đem lại. Nên giữ thái độ ôn hoà để giữ được tình cảm.
- Giờ Dần (Từ 3 giờ đến 5 giờ): Có người sẽ mang đến tài lộc cho bạn.
- Giờ Mão (Từ 5 giờ đến 7 giờ): Đây là điềm báo có người đang âm thầm giúp đỡ bạn. Trong một vài ngày tới, bạn sẽ nhận được tin vui.
- Giờ Thìn (Từ 7 giờ đến 9 giờ): Bạn sắp có chuyện bực mình do kẻ khác đến quấy rầy.
- Giờ Tỵ (Từ 9 giờ đến 11 giờ): Bạn vui vì sắp có lộc về ăn uống. Tuy nhiên, bạn cũng cần cẩn trọng kẻo sẽ gặp chuyện phiền phức không đáng có.
- Giờ Ngọ (Từ 11 giờ đến 13 giờ): Có người sẽ đem tin vui đến cho bạn.
- Giờ Mùi (Từ 13 giờ đến 15 giờ): Có tin vui nho nhỏ sắp đến với bạn.
- Giờ Thân (Từ 15 giờ đến 17 giờ): Bạn sắp gặp chuyện bất ngờ về tình cảm, tuy nhiên, niềm vui đó cũng không kéo dài.
- Giờ Dậu (Từ 17 giờ đến 19 giờ): Có khách quý đến nhà, đem lại niềm vui lớn cho bạn.
- Giờ Tuất (Từ 19 giờ đến 21 giờ): Việc suy tính trong lòng bạn từ lâu sắp được thành tựu.
- Giờ Hợi (Từ 21 giờ đến 23 giờ): Đây là điềm báo sắp có khách quý chuẩn bị đến thăm và đem đến cho bạn những niềm vui về tài lộc.
Mắt phải:
- Giờ Tý (Từ 23 giờ đến 01 giờ): Điềm báo bạn sắp có lộc về ăn uống.
- Giờ Sửu (Từ 1 giờ đến 3 giờ): Có chuyện nhắc nhở từ người thân với bạn làm bạn bực mình, khó xử..
- Giờ Dần (Từ 3 giờ đến 5 giờ): Điềm báo sắp có tin tốt lành đến.
- Giờ Mão (Từ 5 giờ đến 7 giờ): Điềm báo thời gian tới tài lộc sẽ bất ngờ đến.
- Giờ Thìn (Từ 7 giờ đến 9 giờ): Bạn phải thật cẩn thận lời ăn tiếng nói, đề phòng chuỵên cãi vã mà phải đưa nhau tới chốn công đường.
- Giờ Tỵ (Từ 9 giờ đến 11 giờ): Có chuyện xô xát với bạn do có kẻ cố tình gây rối, chọc phá.
- Giờ Ngọ (Từ 11 giờ đến 13 giờ): Đề phòng tai nạn hoặc mất cắp sảy ra với bạn.
- Giờ Mùi (Từ 13 giờ đến 15 giờ): Bạn sắp bị hao tài nhưng sự thiệt hại đó không đáng kể.
- Giờ Thân (Từ 15 giờ đến 17 giờ): Có người khác phái đang tơ tưởng tới bạn.
- Giờ Dậu (Từ 17 giờ đến 19 giờ): Có người bà con ở xa đến thăm gia đình bạn.
- Giờ Tuất (Từ 19 giờ đến 21 giờ): Có người rủ rê bạn đi du lịch. Bạn nên nhận lời đề nghị đó, vì chuyến du lịch đó sẽ đem lại nhiều niềm vui cho bạn.
- Giờ Hợi (Từ 21 giờ đến 23 giờ): Điềm báo bạn sắp có chuyện rắc rối do lời ăn tiếng nói gây ra. Nên cẩn thận, giữ gìn lời ăn tiếng nói ngay từ bây giờ, kẻo danh dự của bạn bị ảnh hưởng xấu.
7. Nhảy mũi
Không bị cảm sốt mà bỗng dưng bị nhảy mũi liên tiếp một hay nhiều cái, hoặc nhiều lượt thì đó gọi là điềm nhảy mũi. Thông thường thì nhảy mũi một hoặc hai cái đều được coi là điềm tốt, điềm lành. Tuy nhiên, nhảy mũi không phải lúc nào cũng một hoặc hai cái, mà có khi nhảy mũi liền vài ba bốn cái, do vậy, tín ngưỡng dân gian căn cứ vào thời gian sảy ra hiện tượng nhảy mũi để suy luận việc cát hung.
Cụ thể:
- Giờ Tý (Từ 23 giờ đến 01 giờ): Điềm báo bạn có lộc về ăn uống sắp đến.
- Giờ Sửu (Từ 1 giờ đến 3 giờ): Có người khác phái rủ bạn làm một việc có lợi cho mình nhưng công việc đó lại gây thiệt hại cho người khác.
- Giờ Dần (Từ 3 giờ đến 5 giờ): Điềm báo bạn sắp có chuyện hẹn hò.
- Giờ Mão (Từ 5 giờ đến 7 giờ): Có người sắp mang quà đến tặng cho bạn.
- Giờ Thìn (Từ 7 giờ đến 9 giờ): Điềm báo bạn sắp có lộc về ăn uống
- Giờ Tỵ (Từ 9 giờ đến 11 giờ): Đây là điềm lành, báo bạn có quý nhân giúp đỡ, đáp ứng sự mong muốn trong lòng bạn từ lâu.
- Giờ Ngọ (Từ 11 giờ đến 13 giờ): Có thân nhân từ xa về, đem đến niềm vui về tài lợi cho bạn.
- Giờ Mùi (Từ 13 giờ đến 15 giờ): Có niềm vui nho nhỏ về tài lộc cho bạn.
- Giờ Thân (Từ 15 giờ đến 17 giờ): Đây là điềm xấu, báo sẽ có tin bất lợi đến với bạn, nhưng bạn hãy bình tĩnh để tìm cách giải quyết, đừng hốt hoảng, lo sợ mà làm rối tung rối mù mọi chuyện.
- Giờ Dậu (Từ 17 giờ đến 19 giờ): Có người khác phái tìm đến nhờ sự giúp đỡ của bạn. Tất nhiên, bạn sẽ được lợi cả tiền bạc lẫn tình cảm trong chuyện này.
- Giờ Tuất (Từ 19 giờ đến 21 giờ): Có người khác phái đang tương tư bạn, người đó sẽ viết thư hoặc điện thoại cho bạn trong vài ngày tới.
- Giờ Hợi (Từ 21 giờ đến 23 giờ): Điềm báo có chuyện rắc rối về tiền bạc nhưng bạn bình tĩnh cân nhắc, sẽ giải quyết được.
8. Lửa cười
Lửa trong bếp lò không có gió, không cao ngọn mà tự dưng phì phì như có người thổi hoặc tiếng lách tách như tiếng reo. Đó là điềm lửa báo, được gọi là lửa cười. Tín ngưỡng dân gian cũng căn cứ vào thời gian sảy ra điềm lửa cười để luận giải về sự may, rủi trong thời gian tới sẽ như thế nào?
Cụ thể:
- Giờ Tý (Từ 23 giờ đến 01 giờ): Đây là điềm báo không tốt cho bạn. Vợ (nếu là nam giới) hoặc chồng (nếu là nữ giới) của bạn có chuyện ngoại tình.
- Giờ Sửu (Từ 1 giờ đến 3 giờ): Con cái trong nhà có thể bỏ nhà theo người yêu.
- Giờ Dần (Từ 3 giờ đến 5 giờ): Có người đang muốn đến để cầu thân với bạn.
- Giờ Mão (Từ 5 giờ đến 7 giờ): Bạn sắp có lộc về tiền tài và tình cảm.
- Giờ Thìn (Từ 7 giờ đến 9 giờ): Điềm báo bạn có chuyện buồn phiền sắp đến. Nên cố gắng thu xếp sao cho ổn thỏa để được yên thân.
- Giờ Tỵ (Từ 9 giờ đến 11 giờ): Điềm báo có người mời bạn đi dự tiệc.
- Giờ Ngọ (Từ 11 giờ đến 13 giờ): Có kiện tụng đến với bạn, nên ôn hòa để giải quyết mới mong tránh được những phiền nhiễu sau này.
- Giờ Mùi (Từ 13 giờ đến 15 giờ): Có người nâng đỡ, việc trù liệu của bạn bấy lâu sẽ có cơ hội thành tựu.
- Giờ Thân (Từ 15 giờ đến 17 giờ): Đây là điềm báo gặp lộc về tiền của bất ngờ, tuy nhiên, bạn nên thật cẩn thận và chú ý khi đi ngoài đường.
- Giờ Dậu (Từ 17 giờ đến 19 giờ): Có chuyện tai biến trong nhà bạn, đề phòng việc tang khó sắp sảy ra.
- Giờ Tuất (Từ 19 giờ đến 21 giờ): Đây là điềm báo người tình cũ sẽ tìm đến, tình yêu thơ mộng lại bắt đầu, đem lại niềm vui cho bạn.
Là hiện tượng chó nuôi tự nhiên chõ mõm vào người mà sủa, hoặc tru dài. Tín ngưỡng dân gian cho rằng: Chó tru hoặc sủa cũng có điềm xấu điềm tốt, nhưng nhìn chung, điềm tốt không nhiều nên điềm chó tru, hoặc chó sủa thường đem lại cho con người sự bực dọc, lo lắng.
Người xưa cũng căn cứ vào thời gian sảy ra điềm chó tru (hoặc chó sủa) để luận đoán về may, rủi trong thời gian tới sẽ như thế nào?
Cụ thể:
- Giờ Tý (Từ 23 giờ đến 01 giờ): Điềm báo vợ hoặc chồng có tư tình bên ngoài, hôn nhân của bạn đang có nguy cơ bị đổ vỡ..
- Giờ Sửu (Từ 1 giờ đến 3 giờ): Nguy hiểm sắp đến với bạn, nên cẩn thận giữ mình kẻo bị hàm oan, tai bay vạ gió, phải chịu oan ức, tù đày.
- Giờ Dần (Từ 3 giờ đến 5 giờ): Gặp lại người yêu cũ, tình xưa được nối lại. Bạn cần phải đề phòng chuyện ghen tuông sẽ dẫn đến sự đổ vỡ hạnh phúc gia đình.
- Giờ Mão (Từ 5 giờ đến 7 giờ): Tiền bạc của bạn đã bị mất lâu ngày, nhưng khả năng bạn sẽ tìm lại được.
- Giờ Thìn (Từ 7 giờ đến 9 giờ): Có tin vui về tiền bạc do công việc làm ăn sắp đến với bạn.
- Giờ Tỵ (Từ 9 giờ đến 11 giờ): Có người thân trong gia đình đến báo hung tin cho bạn.
- Giờ Ngọ (Từ 11 giờ đến 13 giờ): Có người đến mời bạn đi ăn uống.
- Giờ Mùi (Từ 13 giờ đến 15 giờ): Tai nạn có thể sảy ra với vợ hoặc chồng của bạn, vì thế nên đề phòng, nhất là việc đi đứng.
- Giờ Thân (Từ 15 giờ đến 17 giờ): Điềm báo sẽ có xích mích nhỏ với người hàng xóm hoặc đồng nghiệp lân cận, từ chuyện rất nhỏ mà thành ra to chuyện. Bạn nên giữ thái độ ôn hòa để tránh chuyện lôi thôi.
- Giờ Dậu (Từ 17 giờ đến 19 giờ): Đây là điềm báo sẽ có người nâng đỡ bạn vào một địa vị mới, tốt đẹp hơn cho công việc hiện tại rất nhiều.
- Giờ Tuất (Từ 19 giờ đến 21 giờ): Có kẻ rắp tâm hãm hại bạn, nên cẩn thận, đề phòng kẻo sẽ bị thân tàn danh bại.
- Giờ Hợi (Từ 21 giờ đến 23 giờ): Có chuyện kiện tụng đến với bạn, đã tốn tiền còn bị tai tiếng.
10. Quạ kêu
Quạ bay ngang qua nhà và kêu lên những tiếng dài không dứt, đó là chuyện bình thường. Vậy mà không ít người lấy đó làm căn cứ để phán đoán sự may rủi cho thời gian tới. Người ta cho rằng đó cũng là một điềm báo của thiên nhiên. Căn cứ vào thời gian sảy ra điềm quạ kêu, người xưa cũng đưa ra những lời luận đoán về sự may, rủi.
Cụ thể:
- Giờ Tý (Từ 23 giờ đến 01 giờ): Đây là điềm báo tốt lành về tình cảm, báo hiệu người thân của bạn ở xa sắp về xum họp cùng gia đình.
- Giờ Sửu (Từ 1 giờ đến 3 giờ): Có người sắp mang tin vui đến cho bạn.
- Giờ Dần (Từ 3 giờ đến 5 giờ): Có chuyện kiện tụng nhưng không nguy hại cho bạn. Dù sao, bạn vẫn nên cẩn thận, đề phòng những rắc rối không nên có.
- Giờ Mão (Từ 5 giờ đến 7 giờ): Có người đến mời bạn đi dự tiệc, và buổi tiệc ấy sẽ đem lại cho bạn khá nhiều tài lộc nếu bạn biết đón thời cơ.
- Giờ Thìn (Từ 7 giờ đến 9 giờ): Đây là điềm báo thời gian tới, tài lợi vào tới tấp. Bạn nên lo làm việc thiện để giữ được tài lộc dài lâu.
- Giờ Tỵ (Từ 9 giờ đến 11 giờ): Điềm báo có may mắn đến với bạn.
- Giờ Ngọ (Từ 11 giờ đến 13 giờ): Đề phòng chuyện sức khỏe, bệnh tật không tốt đến với bạn.
- Giờ Mùi (Từ 13 giờ đến 15 giờ): Bạn đề phòng chuyện mất trộm, hoặc thất thoát tài sản có thể sảy ra.
- Giờ Thân (Từ 15 giờ đến 17 giờ): Có người rủ bạn làm ăn. Bạn đừng thoái thác lời đề nghị của họ mà hãy nhận lời, vì chuyện hợp tác này sẽ đem lại lợi lộc khá lớn cho bạn sau này.
- Giờ Dậu (Từ 17 giờ đến 19 giờ): Có chuyện lo âu, phiền muộn đang đến với bạn.
- Giờ Tuất (Từ 19 giờ đến 21 giờ): Tài lợi dồi dào, may mắn không nhỏ đang đến với bạn.
- Giờ Hợi (Từ 21 giờ đến 23 giờ): Bạn sắp gặp phải chuyện khẩu thiệt ngoài đường. Tốt nhất, bạn nên cẩn thận, để tránh điều đó sảy ra.
>> Đã có VẬN HẠN 2016mới nhất. Hãy xem ngay, trong năm 2016 vận mệnh bạn như thế nào nhé! >>
Hướng kê giườngTuổi 1975 Ất Mão Quẻ mệnh: Đoài Kim - Ngũ hành: Đại Khe Thủy (Nước khe lớn) - Thuộc Tây Tứ Mệnh, nhà hướng Tây Bắc, thuộc Tây Tứ Trạch Hướng tốt: Tây Bắc (Sinh Khí); Đông Bắc (Diên Niên); Tây Nam (Thiên Y); Tây (Phục Vị); Hướng xấu: Bắ
16 điều nên tránh khi sắp đặt nhà cửa để tránh hao tài theo phong thủy
Theo phong thủy, nếu bạn thiết kế, trang trí nhà cửa phạm vào những điều cấm kỵ sẽ làm hao tổn sức khỏe và tiền của. Đó là lý do khiến bạn làm mãi mà không giàu.
Gương thường dùng để trị tà trong phong thủy, nhưng nếu đặt để không đúng chỗ nó có thể sinh ra tà khí hay thu hút hung khí. Một trong những vị trí xấu để đặt gương là để gương đối diện với cửa ra vào. Vị trí này không chỉ ảnh hưởng đến tài vận mà còn cả sức khỏe của gia chủ.
Cẩn thận khi đặt gương trong nhà. Nếu bạn đã lỡ đặt một tấm gương cố định tại vị trí không thuận lợi này thì hãy cải thiện bằng cách đặt trước gương 1 chiếc bình phong để che đi. Hoặc bạn cũng có thể treo rèm châu ở cửa chính để chắn tầm nhìn lại.
2. Cửa sổ phòng khách đối diện cửa chính
Cửa sổ đối diện với cửa chính sẽ tạo nên thế tiền bạc vào cửa này và đi ra cửa kia. Thường gia chủ dễ bị phá sản nếu cấu trúc nhà theo lối này. Để hóa giải bạn có thể thêm một cửa phụ giữa cửa chính và cửa sổ hoặc đặt một đồng tiền khai quang ngũ đế ở dưới thềm cửa chính.
Nhà ở thì không nên làm cửa quá to. Với cửa sổ bạn cũng nên chú ý đến khung cảnh bên ngoài. Được ví như đôi mắt của ngôi nhà, nếu trong tầm nhìn của cửa sổ có các hình ảnh xuất hiện như hình cây thập giá thì không tốt. Dấu hiệu chữ thập càng rõ ràng thì càng xấu cho gia chủ.
Ngoài ra, cửa sổ cũng không nên mở đối diện với con đường dài và thẳng. Vị trí này của cửa sổ cũng khiến co gia chủ không những gặp các vấn đề về sức khỏe mà còn khó tích lũy được tiền tài.
3. Từ cửa chính có thể nhìn xuyên bếp
Theo phong thủy, nếu bạn xây nhà bếp và cửa chính trên một trục và có thể nhìn thấy nhà bếp từ cửa chính thì chắc chắn sẽ hao tài tốn của. Quan niệm cho rằng nhà bếp chính là kho tài sản của gia đình và chúng cần được cất giấu đi.
Nếu nhà bạn đã xây như vậy thì hãy treo rèm châu, đặt bình phong hay tốt nhất là lắp thêm cửa chắn lại để hóa giải.
4. Mở cửa chính nhìn thấy vòi nước
Một điều cũng không nên để thấy từ cửa chính nữa là vòi nước. Theo phong thủy nước giữ tài và vì vậy nó cũng mang ý nghĩa như một kho báu cần cất giấu. Do đó, nếu lỗi trên xảy ra gia chủ sẽ bị hao tài, tốn của. Vì vậy hãy hạn chế điều này. Đồng thời nếu trong gia đình bạn có rò rỉ nước thì cũng khắc phục nhanh đi nhé.
5. Trên tường xuất hiện vết nứt
Nên nhanh chóng sữa chữa các vết nứt trong nhà. Các vết nứt trên tường xuất hiện ở những ngôi nhà lâu năm. Lúc này nên sữa chữa lại càng nhanh càng tốt. Bởi vết nứt này khiến gia chủ bị lọt tài, hao hụt sức khỏe và với các cặp vợ chồng hiếm muộn thì càng nên chú ý sữa chữa hơn.
Ngoài ra, các vật dụng trong nhà bị nứt mẻ cũng khiến cho gia chủ hao tài. Vì thế bạn hãy quyết định sắm sửa vật dụng mới hay vứt đi và sắm cái mới nhé.
6. Nhà tắm và phòng bếp liền kề nhau
Nhà tắm biểu thị cho nguyên tố “nước” còn nhà bếp lại biểu thị cho nguyên tố “lửa”. Nếu đặt cạnh nhau nước lửa xung khắc không chỉ tổn hao tài vận mà còn tổn hao đến sức khỏe của gia đình. Cách hóa giải cho kiến trúc nhà thế này là đặt bình bình an ở trước cửa nhà tắm hoặc đặt bạn có thể một đôi kỳ lân ở sau cửa nhà bếp.
7. Trong nhà lộn xộn và u ám
Để có thể tích tài vận bạn nên lắp đủ ánh sáng cho phòng, tránh chồng chất đồ dùng hay để chúng lộn xộn, không sạch sẽ. Nếu bạn không giữ được ngăn nắp cho nơi ở của mình thì nguy cơ hao hụt tiền tài tự nhiên đến đấy.
8. Cửa chính đối diện cầu thang hoặc thang máy
Một điều khác cũng khiến bạn hao tài tốn của là đặt cửa chính đối diện với cầu thang hoặc thang máy. Không chỉ vậy nó còn làm xuất hiện tà khí ảnh hưởng đến gia vận của bạn.
Cách khắc phục lúc này là nên đặt đồng tiền khai quang lục đế ở dưới bục cửa hoặc đặt một chậu cây lá rộng ở trước cửa để hóa giải xung đột các luồng khí.
9. Giường đặt dưới cửa sổ hoặc đối diện cửa chính
Giường cũng là vật không nên đặt đối diện với cửa chính và cả dưới cửa sổ nữa. Để giải quyết điều này bạn nên treo rèm hoặc đóng cửa phòng ngủ để giảm ảnh hưởng.
10. Để tiền lung tung trong nhà
Tiền bạc để lung tung sẽ gây tản khí tài. Để tiền lung tung khiến cho tài khí không tụ được. Do đó dù không bị mất hay không ai lấy thì bạn cũng không nên để tiền bạc lung tung nhé.
Một lưu ý nữa là bạn không nên không nhận lại tiền lẻ khi mua sắm. Vì đó là tiền của bạn, dù không đáng là bao nhưng nếu không nhận thì tài vận sẽ về tay người khác.
11. Áp lực từ những ngôi nhà xung quanh
Một trong những điều khiến cho bạn có thể gặp khó khăn về tài vận là nhà nằm ở vị trí bất lợi như gần các nhà cao tầng, cầu vượt hoặc khách sạn… Để hóa giải hãy đặt một hòn non bộ nhỏ trong sân nhà hay đơn giản hơn là đặt một hòn đá cẩm thạch nhỏ trong phòng khách.
12. Màu sắc trong nhà không hợp lý
Thường mỗi màu sắc trong ngũ hành cũng có ảnh hưởng đến bổn mạng của gia chủ. Ví dụ màu xanh dành cho mạng mộc nhưng lại kỵ mạng kim… Do đó, nếu bạn không biết chắc về điều này hãy sử dụng màu trắng trung tính trong thiết kế nhà mình.
13. Đối diện cửa với nhà khác
Cửa nhà đối diện với nhà người khác sẽ ảnh hưởng đến các mối quan hệ và mang may mắn đi mất. Kiểu thiết kế này điển hình của các chung cư hiện nay. Lúc này bạn nên treo một cái rèm nơi cửa phòng để ngăn chặn bớt các tác động xấu nhé.
14. Sống dưới tầng hầm
Một số nhà xây phòng dưới tầng hầm. Nhưng chính thiết kế này khiến cho kinh tế sa sút, tình cảm vợ chồng trục trặc. Để hóa giải, bạn nên tạo điều kiện để cho ánh nắng có thể chiếu rọi vào phòng nhé.
15. Lưu trữ nước quá nhiều
Nước được ví như nơi tích tài thế nhưng dự trữ quá nhiều nước trong nhà lại tạo nên sự ứ đọng và điều này mang hàm nghĩa tiền bạc không lưu thông và không sinh sôi, nảy nở. Vì vậy đừng vận dụng sai biểu tượng này trong phong thủy trong nhà nhé.
16. Di chuyển cóc phong thủy
Không nên di chuyển linh vật nhiều lần. Cóc ngậm tiền là một linh vật mà nhiều người dùng để cầu tài lộc. Thế nhưng một số gia chủ lại thường bày cóc ở bàn thờ thổ địa, thần tài, sau đó lại xoay cóc ra cửa vào buổi sáng và xoay hướng vào cửa buổi tối. Cách này khiến làm động đến linh vật và thay vì chiêu tài thì linh vật sẽ xua tài.
Do đó, chỉ nên đặt cóc linh vật hướng vào nhà và hướng vào bàn thờ ông địa, thần tài để mang ý có chiêu tài nhảy vào nhà là được.
Yeutre.vn (Tổng hợp) Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Ngọc Sương (##)
NAM: Cung Khảm sao Vân-Hớn, hạn Thiên-La và đầu Tam Tai: Mẫu người có mưu lược, chí khí khẳng khái, ngay thẳng và hào hiệp. Rất trọng tình nghĩa, thích giúp người qua công tác xã hội. Làm người có ba điều đáng tiếc: Một là việc làm được hôm nay lại bỏ qua. Hai là hiện tại bây giờ không lo học. Ba là thân này bê tha. Một người dù thông minh tài giỏi tới đâu mà không nắm lấy cơ hội học hành cho đúng lúc sẽ phải ân hận suốt đời. Ngay cả thiên tài cũng chỉ là những cố gắng lâu dài. Cha mẹ không thể sống mãi để lo cho mình suốt đời. Chỉ cần chăm chỉ 4 năm đại học thôi cũng có thể thảnh thơi 40 năm trong cuộc đời sau này.
“ Tuổi trẻ hôm nay rán học hành
Ngày mai rạng rỡ bước công danh
Chuyên cần chăm chỉ lo đèn sách
Hiếu thảo đền ơn đấng sinh thành.”
Năm nay đúng chương trình là lên học lớp 8 bậc trung học. Con đường tiếp theo còn dài. Mỗi cánh cửa đều mở cho bạn một chân trời mới. Con đường càng lên cao, càng hứa hẹn nhiều hoa thơm cỏ lạ. Chúc bạn thăng hoa cuộc sống với những khám phá mới trong biển học mênh mông.
NỮ: Cung Cấn sao La-Hầu, hạn Diêm-Vương và đầu Tam Tai: Mẫu người đầy nghị lực, hết lòng lo cho sự nghiệp công danh. Tánh tình hiền lương đạo đức, thích công tác xã hội, sẵn sàng làm việc thiện. Tiền vận khó khăn, nhưng từ trung vận về sau thì phước lộc đong đầy. Ở đời có ba điều đáng tiếc: Một là việc làm được hôm nay lại bỏ qua. Hai là hiện tại bây giờ không lo học. Ba là thân này lở hư. Một người dù thông minh tài ba lỗi lạc tới đâu mà không biết nắm lấy cơ hội học hành cho đúng lúc, sẽ phải ân hận suốt đời. Ngay cả thiên tài cũng do những cố gắng lâu dài. Cha mẹ không thể sống mãi để lo cho mình suốt đời. Chỉ cần chăm chỉ học hành 4 năm đại học thôi, cũng có thể thảnh thơi 40 năm trong cuộc đời sau này.
“ Sáng suốt chơi chung với bạn hiền
Học hành chăm chỉ mới an yên
Đừng nên vương vấn tình yêu sớm
Cố gắng nên người lo bút nghiên”
Tạm gác lại chuyện yêu đương sớm để khỏi mất thì giờ qúi báu. Đường vào tình yêu không phải luôn là gấm hoa mà đôi khi có cả hố thẳm chông gai. Nếu lở bước sa chân vào hố thẳm thì cuộc đời sẽ trôi nổi về đâu? Đường còn dài và xa xôi lắm! Giờ nào việc ấy, hãy dồn mọi nỗ lực để tốt nghiệp đại học rồi sẽ tính sau.
ĐINH-MÃO 26 TUỔI: (Sinh từ 29/1/1987 đến 16/2/1988)
Mệnh: Lộ Trung Hỏa (Lửa trong lò).
NAM: Cung Tốn, sao Mộc-Đức, hạn Hùynh-Tuyền và đầu Tam Tai: Mẫu người rộng rãi, và thận trọng, dễ gặp thời may để thăng tiến công danh. Tuy nhiên tính tình lãng mạn hào hoa khiến từ tình duyên cho tới công danh đều gặp trở ngại trong hồi tiền vận. Lúc nhỏ hay bị ốm đau lặt vặt khó nuôi. Tương lai của ta được tạo dựng bằng những cố gắng và khó nhọc trong hiện tại. Hạp màu đỏ, tối kỵ màu đen, đi xe đen. Nhà cửa và làm ăn trên hướng Bắc, Nam và Đông Nam. Lập gia đình hợp với những tuổi Kỷ-Tỵ (1989), Mậu-Thìn (1988), Ất-Hợi (1995), Kỷ-Mão (1999), Canh-Ngọ (1990) và Nhâm-Thân (1992).
“Nhỏ thời đau ốm khó nuôi
Tình duyên gia đạo nổi trôi cũng nhiều
Công danh sự nghiệp bao nhiêu
Là nhờ nỗ lực trăm chiều mới nên”
Năm nay thành công như ý trên mọi lãnh vực: Đi thi thì đậu, tốt nghiệp sẽ có việc làm như ý. Tốt nhất là tháng 10 và 12. Tuy nhiên, lái xe đi xa phải bảo trì xe cộ lỹ lưỡng mới khỏi bị nằm đường. Hạn chế tối đa việc đi xa xuất ngoại là giảm thiểu sự hao tán thất bại với những tốn kém không ngờ trước. Tất cả mọi việc nên giữ nguyên tình trạng cũ, không nên thay nhà đổi cửa hay công việc làm ăn.
NỮ: Cung Khôn, sao Thủy-Diệu, hạn Tán-Tận và đầu Tam Tai: Mẫu người thông minh mưu lược, nhanh nhẹn, ứng xử được với nghịch cảnh. Thiếu thời sóng gió, thay đổi vất vả nếu lấy chồng không hạp tuổi. Hậu vận sang giàu nhờ rộng rãi, lạc quan và bao dung. Nhiều người thành công về thương mãi. Tương lai của ta được tạo dựng bằng những gì ta đang làm trong hiện tại. Lấy chồng hạp với tuổi Tân-Dậu (1981), Canh-Thân (1980), Đinh-Mão (1987), Mậu-Thìn (1988), Quý-Sửu (1973), Đinh-Tỵ (1977) hay Mậu-Ngọ (1978). Làm ăn thuận với hướng Tây và Tây Bắc. Hạp màu đỏ, tối kỵ màu đen và đi xe đen. Khi lấy chồng bất luận năm nào, luôn luôn chọn ngày giờ cưới hỏi trong các tháng 1, và 7 âm lịch là tốt nhất.
“ Trời sinh Đinh-Mão quang minh
Thông minh mưu lược hiển vinh sang giàu
Dẫu cho nghịch cảnh là bao
Tương lai tươi sáng trước sau thỏa tình”
Năm nay hạn chế tối đa việc đi xa hay xuất ngoại mới tránh khỏi thất bại, rủi ro, hao tán. Phải bảo trì xe cộ kỹ lưỡng trước khi lái đi xa mới khỏi bị nằm đường. Hơn nữa, giấy phạt giao thông, hay tai nạn xe cộ rất dễ xảy ra. Xấu nhất là tháng 4 và 8. Cũng trong 2 tháng này, trong gia đình có người bệnh hoạn ốm đau hay tang chế bà con. Nếu muốn sinh con, thì nên có thai sau tháng 6, để đẻ con năm Giáp-Ngọ, có thể giúp cha mẹ phát đạt 20 năm.
ẤT-MÃO 39 TUỔI: (Sinh từ 11/2/1975 đến 30/1/1976).
Mệnh: Đại Khê Thủy (Nước dưới khe lớn).
NAM: Cung Đoài, sao Thủy-Diệu, hạn Thiên-Tinh và đầu Tam Tai: Mẫu người thông minh, có tư cách nhưng lại bảo thủ, không thích canh tân đổi mới. Số tự lập và ly hương sẽ thành đại nghiệp. Thiếu niên vất vả nhưng nhờ sự kiên trì mà thành công vẻ vang trên sự gian nan tân khổ. Chọn bạn trăm năm trong các tuổi Giáp-Tí (1984), Canh-Thân (1980), Kỷ-Mùi (1979) , Quý-Sửu (1973) và Giáp-Dần (1974), đại kỵ Mậu-Ngọ (1978). Hướng nhà cửa và kinh doanh tốt nhất là Đông Bắc, Tây Nam và chánh Tây. Hạp màu trắng, đi xe trắng.
“ Làm trai chèo chống với phong ba
Thành danh cơ nghiệp ở phương xa
Gian nan tân khổ đều qua hết
Duyên phận rỡ ràng số đào hoa”
Năm nay bàn tay Kim-Lâu nhằm “Lục Hoang Oc” không tốt cho việc xây cất hay chỉnh trang nhà cửa cơ sở thương mãi. Tuy nhiên nếu có phải thay đổi chỗ ở hay chỗ làm, lại là cơ hội tốt, dễ được thăng quan tấn chức. Bạn nào kinh doanh thương mãi cũng được phát đạt thịnh vượng. Làm công chức sẽ được thăng quan tấn chức. Muốn đi xa xuất ngoại cũng thực hiện được.
NỮ: Cung Cấn, sao Mộc-Đức, hạn Tam-Kheo và đầu Tam Tai: Mẫu người đa năng đa hiệu, thích thời trang, chuộng hình thức bên ngoài, rất đam mê nên tình cảm bất định. Tánh tình ngay thẳng, hay làm chuyện bao đồng giúp người, nhưng ít khi được người đền đáp. Nếu ly hương tự lập thì đỡ thăng trầm vất vả. Yêu là đau khổ nhưng ai cũng phải trải qua, chỉ có thể nhận hạnh phúc của người làm hạnh phúc của mình mới bớt đau khổ mà thôi. Nếu tuổi chồng không đúng vào những tuổi Canh-Tuất (1970), Tân-Hợi (1971), Đinh-Mùi (1967), Tân-Sửu (1961) và Canh-Tí (1960) thì tình cảm gia đạo không được hạnh phúc vững bền! Nếu lấy chồng nhằm tuổi At-Tỵ (1965) thì gia đạo lủng củng, dạ sầu chất ngất, niềm đau thấm thấu can trường, bèo mây tan vỡ đôi đường ly tan! Kinh doanh tốt nhất trên hướng chánh Tây và Tây Bắc.
“Tánh người ngay thẳng vui tươi
Giúp người chẳng quản được người trả ơn
Trải bao đau khổ chẳng sờn
Trời ban hạnh phúc vuông tròn mai sau.”
Năm nay bàn tay Kim-lâu nhằm “Lục Hoang Oc”; không tốt khi xây cất nhà cửa và cơ sở kinh doanh. Tuy nhiên bạn nào kinh doanh thương mãi sẽ phát đạt thịnh vượng. Bạn nào làm công chức cũng được thăng quan tấn chức. Nếu có sự thay đổi chỗ ở chỗ làm, hay đi xa xuất ngoại đều là những cơ hội đem lại thành công. Có người đề nghị hợp tác, hùn hạp làm ăn, nên đồng ý. Tốt nhứt là tháng 10, 12. Nếu muốn sinh con út, thì nên có thai sau tháng 6, để đẻ con Giáp-Ngọ, có thể giúp cha mẹ phát đạt 20 năm.
QÚY-MÃO 51 TUỔI: (Sinh từ 25/1/1963 đến 12/2/1964).
Mệnh: Kim Bạch Kim (Vàng pha kim khí trắng).
NAM: Cung Khảm, sao Vân-Hớn, hạn Thiên-La và đầu Tam Tai: Mẫu người hùng biện, biết tính toán cân nhắc nặng nhẹ. Tuy nhiên hay thay đổi lập trường, chí hướng, công việc. Từ đó cuộc đời thăng trầm, tiền bạc tụ tán bất thường. Ngược lại, lấy vợ hợp tuổi cuộc đời sẽ sung túc, làm chủ đất đai nhà cửa và cơ sở kinh doanh thương mãi. Lấy vợ hợp tuổi giống như mua bảo hiểm, dẫu có gặp nghịch cảnh cũng có thể chịu đựng được nghịch cảnh mà lòng dạ giữ được sắc son, khỏi phải thay chồng đổi vợ. Các tuổi tốt là Bính-Ngọ (1966), Kỷ-Dậu (1969), Nhâm-Dần (1962), Tân-Sửu (1961), Canh-Tí (1960), Nhâm-Tí (1972), Giáp-Dần (1974) và Quý-Sửu (1973). Hạp màu vàng, kỵ màu đỏ. Hướng nhà cửa và kinh doanh tốt nhất là Đông Nam và chánh Bắc.
”Qúy thay cái số an nhàn
Suốt đời sung túc bình an vuông tròn
Vợ chồng chung thủy sắc son
Công danh thịnh vượng các con thuận hòa“
Năm nay bàn tay Kim Lâu phạm “Lục Hoang Oc” không thích hợp cho việc xây cất hoặc chỉnh trang nhà cửa. Đầu năm không nên đầu tư chứng khoán. Cuối năm hay bị ngộ nhận, hiểu lầm, tạo ra miệng tiếng mất công đôi co. Phải bảo trì xe cộ kỹ lưỡng trước khi lái đi xa, tránh trục trặc xe cộ phải nằm đường hay bị phạt giao thông. Tình trạng tài chánh trung bình.
NỮ: Cung Cấn, sao La-Hầu, hạn Diêm-Vương và đầu Tam Tai: Số người dễ thành công về thương mãi, ngoại giao. Rất đam mê, ưa mềm mỏng ngọt ngào và hay thay đổi sở thích. Tuy nhiên đây cũng là người công dung ngôn hạnh vẹn toàn, nghĩa tình sâu nặng, hiếu thảo, chịu gian khổ hy sinh cho chồng con, nên Trời Phật đã dành sẵn cho bạn một thứ hạnh phúc. Người có đạo đức và một tình yêu cao thượng thì hạnh phúc sẽ vĩnh cửu và là một thứ chân hạnh phúc. Hạp màu vàng, kỵ màu đỏ. Tuổi chồng hạp với Canh-Tí (1960), Tân-Sửu (1961), Quý-Mão (1963), Đinh-Mùi (1967), Quý-Tị (1953) và Đinh-Dậu (1957). Kỵ tuổi Giáp-Thìn (1964) và Kỷ-Hợi (1959). Hướng làm ăn tốt nhất là chánh Tây và Tây Bắc.
“ Đẹp người đẹp nết tánh thật thà
Đời chưa trang điểm cuộc tình ta
Phong ba bão táp chừng yên lặng
Hạnh phúc đong đầy tựa mưa sa”
Năm nay bàn tay Kim Lâu phạm “Lục Hoang Oc”; không nên xây cất, chỉnh trang nhà cửa. Lái xe phải cẩn thận, dễ bị phạt hay tai nạn xe cộ, trúc trắc nằm đường. Xấu nhất là tháng 1, 7. Cũng trong 2 tháng này, có thể gia đình có người bệnh hoạn ốm đau, hay có tang chế bà con xa. Mọi việc làm ăn, nhà cửa, rán giữ nguyên tình trạng cũ mọi thay đổi đều bất lợi.
TÂN-MÃO 63 TUỔI :(Sinh từ 6/2/1951 đến 26/1/1952).
Mệnh: Tùng Bách Mộc (Gỗ cây tùng bách).
NAM: Cung Tốn, sao Mộc-Đức, hạn Hùynh-Tuyền và đầu Tam Tai: Mẫu người nóng tánh tự ái cao, nên hay hành sự đơn độc. Tuy nhiên nhạy cảm, hùng biện và sống nhiều về nội tâm. Nếu không ly hương cũng xa cách cha mẹ anh chị em. Tiền vận ba chìm bảy nổi, nhưng rốt cuộc cũng thành công vừa ý toại lòng. Tình cảm rất đam mê nhưng mau chán nản, dễ đổi thay khiến hôn nhân đầy trở ngại khó khăn. Tuy nhiên vợ chồng sẽ hài hòa nếu bà nội tướng nhằm vào những tuổi sau đây: Nhâm-Thìn (1952), Đinh-Dậu (1957), Giáp-Thìn (1964), Ất-Tị (1965), Canh-Tí (1960), Tân-Sửu (1961), hoặc Quý-Tị (1953) và Canh-Dần (1950). Hướng nhà cửa và làm ăn tốt nhất là chánh Bắc, chánh Nam và Đông Nam.
“ Người thường nóng tính tự cao
Cũng nhiều tự ái tự hào khó khăn
Hôn nhân trắc trở lắm phen
Ba chìm bảy nổi, hậu căn vuông tròn”
Năm nay bàn tay Kim-Lâu nhằm “Tam Địa Sát”; bất lợi cho công cuộc xây cất nhà cửa hay chỉnh trang cơ sở thương mãi. Tuy nhiên, nếu có sự thay đổi nhà cửa chỗ ở, chỗ làm, hay đi xa xuất ngoại đều là những cơ hội thăng tiến. Qúy ông làm việc hãng xưởng sẽ được thăng quan tiến chức. Kinh doanh thương mại phát đạt, tiền vô nhanh như ngựa chạy. Tốt nhất là trong mùa Đông.
NỮ: Cung Khôn, sao Thủy-Diệu, hạn Tán Tận và cuối Tam Tai: Mẫu người sáng trí thông minh, dễ có khoa bảng, nhiều tự ái, sâu sắc, gan dạ, thích tự lập, nên dẫu không ly hương cũng xa cách cha mẹ anh em. “Tân” là khổ nên từ tình duyên cho tới công danh đều lận đận thăng trầm. Thường ít con, tuy nhiên, đôi khi ít con là ít nợ không vướng mắc vào hệ lụy biết đâu cuộc đời sẽ thong dong hơn. Tuổi Tân thường gặp gian nan trên tình trường nhưng gia đạo vẫn đầm ấm nồng nàn, nếu lấy chồng tuổi Canh-Dần (1950), Tân-Mão (1951), Đinh-Sửu (1937), Đinh-Dậu (1957), Mậu-Tí (1948), Tân-Tị (1941) và Canh-Thìn (1940). Kỵ tuổi Bính-Tuất (1946). Hướng làm ăn tốt nhất là chánh Tây và Tây Bắc.
“ Dẫu bước công danh có thăng trầm
Với nhiều hệ lụy biết bao năm
Giờ vui gia đạo tình đầm ấm
Nhờ số thông minh chẳng lạc lầm”
Năm nay bàn tay Kim-Lâu nhằm “Tam Địa Sát” là không tốt khi xây cất nhà cửa hay chỉnh trang cơ sở kinh doanh. Tháng 4, tháng 8 gia đình có người đau ốm bệnh hoạn hay tang chế bà con. Tuy nhiên công việc làm ăn rất tốt đẹp. Qúy bà làm công chức sẽ thăng quan tấn chức. Qúy bà kinh doanh thương mãi được phát đạt, tiền tài vào nhanh như ngựa chạy. Nếu muốn đi xa xuất ngoại cũng có cơ hội để thực hiện.
Nguồn Vietstar
Xin Lưu ý: Đây chỉ là tài liệu tham khảo, nếu Quý khách hàng muốn có bài luận giải tử vi đúng của chính mình, xin vui lòng đóng phí ở dịch vụ Xem tử vi trọn đời để được chuyên gia gửi bài luận giải qua địa chỉ email.
– Trên các đốt ngón tay xuất hiện nhiều vân dọc, bạn nên coi chừng về phương diện tiền bạc hay công việc sẽ gặp phải không ít khó khăn, phiền toái. Không vay người khác tiền thì cũng bị người khác vay tiền mà không trả lại.
1. Trên bàn tay không có vân Tài khố
Vân Tài khố nằm ở trên ngón tay cái, là đường vân có nhiều hình dạng khác nhau nối giữa hai đốt ngón tay cái. Xem tướng tay có thể biết được số phận của bạn một cách tương đối.
Đường vân này chủ quản về tiền bạc. Nếu không có nó, ít gặp may mắn về tiền bạc, thậm chí có quãng thời gian trong đời còn vay mượn, nợ nần chồng chất.
Ảnh minh họa
2. Đường chỉ tay Vận mệnh có vân đảo
Đường chỉ tay Vận mệnh còn gọi là đường Sự nghiệp hay vân Ngọc trụ (vì nó giống như trụ cột giữa lòng bàn tay). Đường này đại diện cho thành tựu trong công việc đạt được là lớn hay nhỏ, các mối quan hệ xã giao mở rộng ở phạm vi nào, công danh sự nghiệp phát triển đến mức độ nào.
Xem tướng tay nợ nần cho thấy, nếu trên vân Vận mệnh có hình vân đảo (có hình dáng trông như hòn đảo) là điềm không may mắn. Khi nó xuất hiện, chủ nhân nên đề cao cảnh giác trong việc mất mát tiền bạc, thậm chí phải chạy vạy khắp nơi để vay mượn, khó mà nở mày nở mặt.
Ảnh minh họa
3. Đốt ngón tay nhiều vân dọc
Trên các đốt ngón tay xuất hiện nhiều vân dọc, bạn nên coi chừng về phương diện tiền bạc hay công việc sẽ gặp phải không ít khó khăn, phiền toái. Không vay người khác tiền thì cũng bị người khác vay tiền mà không trả lại.
Nhìn chung, nếu sở hữu tướng tay này, tình hình tài chính, thu chi của chủ nhân dễ bị mất cân đối. Từ đó gây ra nhiều phiền toái về tinh thần, làm đảo lộn cuộc sống của bạn. 4. Lòng bàn tay dẹt và mỏng
Trong nhân tướng học, lòng bàn tay cũng được coi như là tài khố. Nếu nó càng dày, đầy đặn thì càng tốt, có thể giữ được tiền tài. Ngược lại, nếu lòng bàn tay dẹt và mỏng lại không được coi là tốt, nhiều lắm cũng chỉ đủ ăn, còn không thì nghèo khó, nợ nần chồng chất.
Ngân Hà
Soi tướng tay của quý cô có nguy cơ ế dài Những quý cô sở hữu tướng tay dưới đây tuy khá thành đạt trong sự nghiệp nhưng đường tình duyên trắc trở và thường kết hôn khá muộn. Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Khánh Linh (##)
Để chuẩn bị đặt tên cho em bé sinh vào năm Giáp Ngọ, trước hết các bậc phụ huynh cần tìm hiểu đặc tính của loài ngựa thì mới có thể lựa chọn cho con yêu của mình một cái tên hay. Con ngựa thích sống nơi hang động, có thể khoác được áo màu thì càng tố
Để chuẩn bị đặt tên cho em bé sinh vào năm Giáp Ngọ, trước hết các bậc phụ huynh cần tìm hiểu đặc tính của loài ngựa thì mới có thể lựa chọn cho con yêu của mình một cái tên hay.
Con ngựa thích sống nơi hang động, có thể khoác được áo màu thì càng tốt. Giống ngựa có thể được vương quyền lại có thể truyền lệnh, càng hiển đạt cao quý. Ngựa mà được người cưỡi chứng tỏ được quan tâm, chiếu cố. Tên nên chứa đựng những hàm ý liên quan đến lương thực, hoa màu, có lửa hoặc thái dương, có thể liên quan đến vũ khí, hoặc cũng có thể liên quan đến rừng, thảo nguyên, bình địa. Nên có hình chữ liên quan đến chạy, phi. Tên mà có liên quan đến hổ, chó là thuộc về tam hợp, còn nếu liên quan đến rắn, dê là thuộc về tam hội. Cụ thể như sau:
1. Trong tên nên có những chữ liên quan đến Thảo (艸), bởi vì ngựa là động vật ăn cỏ, nếu có cỏ ăn thì sức khỏe dồi dào, thân mình tráng kiện. Lương thực càng đầy đủ thì thế giới nội tâm càng phong phú. Trong tên là có bộ “Thảo” nhất định là tên hay.
2. Trong tên mà có bộ Long (龍) thì cũng rất tốt, bởi nó đại diện cho “Long mã tinh thần”, mang ý nghĩa tích cực, sinh khí, đầy sức sống, tài năng, dễ đạt được thành công.
3. Tên cũng có thể phối hợp với các bộ có liên quan đến lương thực như Hòa (禾), Mạch (麥), Tắc (稷), Đậu (豆), Thúc (叔), Túc (粟), Lương (梁). Bởi vì ngoài việc thích ăn cỏ thì ngũ cốc hoa màu cũng là món ăn chính của loài ngựa, mang hàm ý cả đời áo ăn no đủ.
4. Tên của người sinh năm Ngựa cũng thích hợp với những chữ có bộ Mộc (木), bởi ngựa có thể đi lại tự do tự tại trong rừng cây, có cây cối là có thể che mưa nắng, lại thích hợp với sự tự do phóng khoáng, có thể thích ứng với các loại môi trường sống.
5. Trong tên cũng nên có các hình chữ hoặc bộ như Miên (宀), Mịch (冖), Quảng (广), Môn (門), Sách (冊), đại diện cho mái hiên, hang động có thể che mưa tránh gió, mang hàm ý có một nơi trú ngụ ấm áp.
6. Tên đặt cũng thích hợp với các bộ thủ như Hệ (系), Cân (巾), Sam (彡), Y (衣), Sơ (疋), Thái (采), có ý rằng một con ngựa hay thì mới được người ta quan tâm, khoác lên mình bộ áo quý. Ngoài ra, có thể dùng các bộ thủ đại diện cho mũ như Đầu (亠), Trảo (爫), biểu thị sự cao quý, đem lại cảm giác được tôn kính.
7. Tên người cầm tinh con ngựa cũng thích hợp với các tự căn có liên quan đến tam hợp như Dần (寅), Tuất (戌), Hổ (虎), Khuyển (犬). Ngoài ra cũng thích hợp với các tự căn liên quan đến tam hội như Tị (已), Mùi (未), Xà (蛇), Dương (羊), biểu thị có nhiều quý nhân phù trợ.
Bên cạnh những yếu tố tốt đẹp, bổ trợ cho tên hay thì chúng ta cũng cần tìm hiểu những yếu tố mà ngựa kỵ để tránh không đặt phải tên xấu. Ví dụ như những người sinh năm ngựa không nên đặt tên có bộ Nhục (肉), hoặc nếu có liên quan đến con Chuột thì phạm phải lục xung, gặp Ngưu, Sửu thì thành lục hại. Nếu tên mà có nước thì sẽ thành thủy hỏa tương khắc. Tốt nhất là tên không nên có bộ Sơn, sẽ khiến người ta có cảm giác mệt mỏi (vì leo núi). Phân tích cụ thể như sau:
1. Người cầm tinh con ngựa không nên dùng 2 bộ Nhân (人) hoặc bộ Xích (ㄔ) mang hình 2 người, vì ngựa tốt không thể khoác 2 bộ yên cương. Nếu phạm phải sẽ khiến cho ngựa mất đi phẩm chất trung thành, không có tiết tháo, thậm chí lạm tình, sầu tình…
2. Trong tên cũng không nên có những bộ như Tâm (心, 忄), Nhục (月, 肉) bởi vì nó đại diện cho thức ăn mặn, trong khi đó ngựa là động vật ăn chay, thành ra sẽ tạo ra cảm giác có đồ ăn mà không được ăn, cả đời vất vả, đói khát.
3. Những người sinh năm ngựa cũng không nên đặt tên có các bộ thủ hoặc chữ như Tý (子), Nhâm (壬), Băng (冫), Quý (癸), Bắc (北) vì dễ tạo ra thế thủy hỏa tương xung. Bởi vì, ngựa thuộc hành hỏa, các bộ chữ kia đều thuộc hành thủy, không thể kết hợp với nhau, nếu không sẽ gặp rất nhiều xung đột, trắc trở trong cuộc sống.
4. Trong tên không nên có bộ thủ hoặc chữ như Điền (田), Phủ (甫), Xa (車) vì nó mang hàm ý những con ngựa bị đào thải có sự ấm ức, cầu toàn, còn bị người ta hiềm nghi, chỉ là công cụ để canh tác trồng trọt, thành ra vất vả cả đời.
5. Trong tên cũng không nên có bộ Sơn (山) vì ngựa mà phải chạy đường đồi núi sẽ rất vất vả mệt mỏi, cả đời lao đao mà thu hoạch không đáng kể.
6. Trong toàn bộ họ và tên không được thấy có 2 chữ Khẩu (口) hoặc chữ Nhật (日), bởi chữ Mã (馬) mà thêm hai chữ Khẩu sẽ thành chữ Mạ (罵 – mắng chửi), dễ bị người ta hiềm nghi, nhiều thị phi, vận suy liên miên, làm việc không thuận lợi.
7. Người cầm tinh con ngựa cũng không nên đặt tên có bộ chữ Ngưu (牛), Sửu (丑) vì từ cổ đến nay, thanh ngưu gặp bạch mã, không đánh mà chạy, như có tiểu nhân phá hoại.
8. Người sinh năm ngựa cũng không nên dùng chữ có tự hình như Hựu (又), Nhập (入), Nhi (ㄦ) sẽ gây ra cảm giác tâm viên ý mã (đầu óc không sáng suốt, rối loạn), hoặc chân bị bẻ giạng ra như là ngựa ốm, mang hàm ý phúc đức bất định. Cần lưu ý thêm là, các chữ và bộ chữ nói trên chỉ có ý nghĩa tham khảo nhất định. Để chọn được tên hay tên đẹp còn cần phải xem xét nhiều yếu tố khác nữa như âm dương, ngũ hành, âm vận…chứ không đơn giản chỉ vận dụng yếu tố con giáp vào đặt tên, đổi tên.
Angelina Jolie và Brad Pitt ly hôn: Nhân quả báo ứng?
Mối tình tưởng chừng đẹp như mơ kéo dài 12 năm, cặp đôi quyền lực Hollywood Angelina Jolie và Brad Pitt ly hôn bất ngờ trong sự bàng hoàng của nhiều người.
– Mối tình tưởng chừng đẹp như mơ kéo dài 12 năm của cặp đôi quyền lực Hollywood Angelina Jolie và Brad Pitt kết thúc trong sự ngỡ ngàng và tiếc nuối của triệu trái tim. Nhân đây xin mạn phép bàn luận về vấn đề đang trở thành điểm nóng của báo giới và dư luận.
► Bói tình yêu theo ngày tháng năm sinh để biết hai bạn có hợp nhau không
1. Angelina Jolie và Brad Pitt ly hôn là nhân quả báo ứng?
Thế là cuộc hôn nhân kéo dài 12 năm của cặp đôi vàng Hollywood đã đến hồi kết thúc. Angelina Jolie và Brad Pitt đã chính thức ly hôn vào ngày 15/9. Nguyên nhân chính là sự bất đồng trong quan điểm nuôi dạy con cái. Nhưng cũng có tin đồn rằng, người thứ ba xuất hiện đã cướp Brad Pitt khỏi tay Angelina Jolie. Từ đó, không ít ý kiến cho rằng, mối tình tưởng chừng đẹp như mơ của cặp “Brangelina” huyền thoại đổ vỡ tương ứng với luật nhân quả. Bởi trước đó chính Angelina Jolie là nguyên nhân khiến Brad Pitt và vợ Jennifer Aniston ly dị.Sau khi chính thức hẹn hò, Angelina Jolie từng bị gắn cho cái mác “giật chồng” người khác. Và nay, minh tinh màn bạc lại chịu kết cục tương tự, bị người khác “giật mất chồng”, dù đó là tin đồn đoán hay sự thật đi chăng nữa.
2. Nhân quả báo ứng dưới góc nhìn Phật giáo
Xét về góc độ tôn giáo chuyện Angelina Jolie và Brad Pitt ly hôn, nhất là Phật giáo, hiểu một cách đơn giản, nhân quả báo ứng chính là làm thiện được quả báo thiện, làm điều ác bị quả báo ác, cũng như “gieo nhân nào gặp quả ấy”. Còn nói rộng hơn, mỗi hành vi xấu ác đều phải chịu nghiệp báo tương xứng với hành vi ấy. Căn cứ vào những hành vi xấu ác nặng nhẹ mà có quả báo khác nhau.Làm mười điều ác, sau khi chết chắc chắn phải thọ khổ trong địa ngục, còn tạo ác nhẹ hơn, sau khi chết chuyển sinh thọ khổ trong loài ngạ qủy, nếu tạo ác nhẹ hơn nữa, thọ khổ trong loài súc sinh. Sau khi thọ hết tất cả thống khổ trong các nghiệp đường này rồi, sẽ được chuyển sinh trở lại làm người, và tiếp tục bị thọ các quả báo tương ứng. Nếu tà dâm, ngoại tình, phá vỡ hạnh phúc gia đình người khác thì sớm muộn mọi thứ tốt đẹp của mình cũng sẽ mất vào tay người khác...Lời Phật dạy, Nhân – Duyên – Quả báo luôn song hành với nhau. Nhân cần phải có Duyên, mới sinh ra Quả. Quả báo có Hiện Báo, Sinh Báo và Hậu Báo. Tất cả đều tùy theo cái Duyên của mỗi người.Hiện Báo là tạo nhân đời này, hưởng luôn quả báo trong đời này.Sinh Báo là đời này tạo nghiệp, đời sau, hai hoặc ba đời sau mới bắt đầu hưởng.Hậu Báo là đời này tạo nghiệp, sau bốn đời, hoặc trăm đời, hoặc ngàn đời, hoặc vô lượng đời kiếp sau mới hưởng.Nhân – Duyên – Quả tất cả đều ở trong tâm. Người có tâm vui tươi, thiện lành, an nhàn, thanh tịnh... thì sẽ dễ hợp với các Nhân tốt và dễ hưởng Quả tốt trong đời, còn những Nhân xấu cứ để nó nằm đó nhưng rồi cũng chịu nghiệp báo tương xứng. Nghe lời Phật dạy, yêu thương thủy chung, tiễu trừ sân hận, hướng tới nghiệp lành, tu thân tích đức, sống đời an lạc, vô ưu vô sầu.An Nhiên Nhân quả báo ứng là có thật: Nghiệp báo thiện ác nhân quả Phần lớn con người chúng ta phạm lỗi vì không hiểu luật Nhân quả. Nếu thông tỏ rồi ắt sẽ không dám phạm tội. Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Quỳnh Như (##)
Lý luận của phong thủy đối với việc xanh hóa là “làng quê có cây cối, như người có y phục, quá mỏng thì sợ lạnh, quá dày thì nóng nực, dựa trên nền tảng đó,
Lý luận của phong thủy đối với việc xanh hóa là “làng quê có cây cối, như người có y phục, quá mỏng thì sợ lạnh, quá dày thì nóng nực, dựa trên nền tảng đó, âm dương phải trung hòa”.
Phòng khách
Phòng khách cần phải kỹ lưỡng hơn một chút, có thể lựa chọn các loại như trúc phú quý, cây lan đuôi hổ, xương rồng, cây thủy tùng, sen bảy lá, cây cọ, cây phát tài, cây lan quân tử, cây lan cầu, hoa lan, hoa anh thảo, tắc, cây dương xỉ, cây huyết dụ …, các hoa này là “vật may mắn” trong phong thủy học, hàm ý như ý cát tường, tụ tài phát phúc.
Cây phát tài
Phòng ngủ
Phòng ngủ cần tràn đầy không khí yên tĩnh, khoan thai và ấm áp, có thể chọn xương rồng, cây lê gai, điếu lan, hoa hồng, uất kim hương, cây hoa huệ, hoa bách hợp, liên chân ngựa (mã đế liên) …, để tạo không khí hòa thuận, nhẹ nhàng thích hợp cho việc nghỉ ngơi.
Phòng đọc sách
Phòng đọc sách cần phải tràn ngập hơi hướm của sách, hoa cảnh cần phải đặt ở vị trí văn xương của chủ nhân, có thể sử dụng hoa sơn trúc, cây văn trúc, trúc phú quý, dây thường xuân … Các hoa này có thể làm cho tư duy trở nên linh hoạt, rất có lợi cho việc học tập. Trên bàn học có thể đặt chậu diệp thảo, xương bồ … , có tác dụng ninh thần thông khiếu, ngăn chặn ngủ gật.
Cây trúc phú quý
Phòng ăn
Phòng ăn cần phải sạch sẽ, thống nhất, bạn có thể sử dụng hoa hồng vàng, hoa cẩm chướng vàng, hoa lài vàng … để gây thèm ăn, tăng thêm khẩu vị nhằm vảo vệ sức khỏe của cơ thể.
Ban công
Bạn nên chọn các loại hoa cảnh thích hợp với điều kiện của ánh nắng mặt trời như: hoa nhài, hoa cúc, cây hà lan, hoa hải đường, hoa lạc tiên, cây lan văn trúc, cây thạch trúc, hoa hải đường, hoa hướng dương, cây mễ lan, hoa quế, hoa giải lan (lan cua) … Khi xếp đặt các loại hoa phải đem dương tính đặt gần ánh nắng mặt trời, âm tính đặt ở sau nó; mỗi loại đều phải có chỗ riêng.
Cổng chính
Cổng chính nếu đối diện với cầu thang thì có thể đem hoa huệ tây, cây móc, cây co … đặt ở nơi tương xung để hóa giải sát khí. Nếu đối diện cửa sổ ban công có sát khí thì có thể sử dụng xương rồng, hoa hồng, cây ngọc kỳ lân hoặc trồng chậu bầu để hóa giải sát khí.
Tóm lại, bố cục xanh hóa trong nhà không thỏa đáng, tuyển chọn loại hoa cảnh không đúng đều ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và sự nghiệp của người ở trong nhà. Hoa cảnh có thể trị bệnh, điều tâm dưỡng tính, đem may mắn đến cho con người, cũng có thể hại người, giết người, cho nên khi chúng ta bố trí hoa cảnh trong nhà nhất định phải suy nghĩ kỹ lưỡng.
Theo Sách Hoa cảnh ứng dụng trong phong thủy Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Ngọc Sương (##)
LTS: Sau khiKH&ĐS đăng 2 kỳ liên tiếp trên các số báo 127 và 128 lý giải hiện tượngtrùng tang, đã có nhiều chuyên gia, độc giả chia sẻ với tòa soạn về vấn đề này.Lương y Vũ Quốc Trung (tập thể Sông Đà, Mỹ Đình, Hà Nội), người đã có nhiều nămnghiên cứu về trùng tang cũng đã có bài viết gửi tới tòa soạn về vấn đề này.Chúng tôi xin trích đăng để bạn đọc tham khảo (bài viết thể hiện quan điểmriêng của chuyên gia).
Từ xa xưa, dựa trên dịch lý, cổ nhân đã xây dựng cách tính (xác định) trùng tang. Người xưa cho rằng đối với người quá cố khi chết phải xem tình trạng ra đi có được "yên ổn" hay không? Có gì oan khuất hay không, được thể hiện qua 3 nhóm biểu hiện trạng thái vong linh của người đã khuất, đó là:
1. Nhập mộ: Yên ổn, đúng số, không có điều gì băn khoăn, oan ức... đóng ở các cung THÌN - TUẤT - SỬU - MÙI. 2. Trùng tang: Chết thiêng, chết oan, còn vương vấn ở trần gian đóng ở các cung DẦN - THÂN - TỴ - HỢI. 3. Thiên Di: Có ảnh hưởng xấu đến người thân đang còn sống ở các cung TÝ - NGỌ - MÃO - DẬU. Theo sách "Tam Giáo Chính Hội": Nam nhất thập khởi Dần thuận liên tiến, Nữ nhất Thập khởi Thân, nghịch liên tiến, Niên hạ sinh nguyệt, Nguyệt hạ sinh Nhật, Nhật hạ sinh Thời. Ngộ Tý - Ngọ - Mão - Dậu Thiên di. Dần - Thân - Tỵ - Hợi Trùng tang. Thìn - Tuất - Sửu - Mùi Nhập mộ cát dã. Cụ thể như sau: Cách tính: Phải tính cả năm, tháng, ngày, giờ (niên, nguyệt, nhật, thời). Người quá cố phải được ít nhất 1 nhập mộ mới có thể xem là giờ ổn. Nếu được càng nhiều nhập mộ càng tốt (nhiều nhất là 4 nhập mộ).
Niên (năm): Người quá cố là nam, khởi từ cung Dần, đi theo chiều thuận kim đồng hồ. Gọi cung Dần là 10 tuổi, cung Mão là 20 tuổi, cung Thìn là 30 tuổi... cứ thế mỗi cung là 10 tuổi cho đến số hàng chục của tuổi thọ người quá cố, rồi cứ tiếp mỗi cung là 1 tuổi cho đến hết số tuổi người quá cố. Người quá cố là nữ, khởi từ cung THÂN, đi theo chiều ngược kim đồng hồ. Gọi cung Thân là 10 tuổi, cung Mùi là 20 tuổi... cứ thế mỗi cung 10 tuổi cho đến số hàng chục của tuổi thọ của người quá cố, rồi tiếp mỗi cung là 1 tuổi cho đến số hàng chục của tuổi thọ của người quá cố. Nếu số đó trùng vào các cung THÌN - TUẤT - SỬU - MÙI thì được niên nhập mộ, nếu các cung DẦN - THÂN - TỴ - HỢI thì bị trùng tang, vào các cung TÝ - NGỌ - MÃO - DẬU thì bị thiên di. Trường hợp người quá cố dưới 10 tuổi là nam thì cung Dần là 1 tuổi, cung Mão là 2 tuổi, cung Thìn là 3 tuổi... cho đến tuổi mất của người quá cố. Trường hợp người quá cố dưới 10 tuổi là nữ thì cung Thân là 1 tuổi, cung Mùi là 2 tuổi, cung Ngọ là 3 tuổi.. cho đến tuổi mất của người quá cố.
Nguyệt (tháng): Tháng giêng tiếp ngay vào sau cung tuổi. Thí dụ: Tuổi dừng ở cung Ngọ thì tháng giêng ở cung Mùi (đối với nam) và tháng giêng ở cung Tỵ (đối với nữ) cứ thế mỗi tháng tiếp 1 cung cho đến tháng mất của người quá cố.
Nếu vào THÌN - TUẤT - SỬU - MÙI thì được nhập mộ; Nếu vào DẦN - THÂN - TỴ - HỢI thì bị trùng tang. Nếu gặp TÝ - NGỌ - MÃO - DẬU thì bị thiên di. Nhật (ngày): Ngày mùng 1 tiếp vào ngay sau cung tháng, cứ thế tiếp mỗi ngày 1 cung cho tới ngày người quá cố qua đời và xem rơi vào nhập mộ, trùng tang hay thiên di như trên.
Thời (giờ): Giờ Tý tiếp ngay sau cung ngày và mỗi cung là 1 giờ cho đến giờ người quá cố qua đời và xem rơi vào nhập mộ, trùng tang hay thiên di như trên.
Nói chung được 1 nhập mộ trở lên là yên tâm, vì "nhất mộ sát tam trùng" (một nhập mộ xoá được 3 trùng tang). Hoặc được 2 thiên di thì cũng không lo vì "nhị thiên di sát nhất trùng" (2 thiên di xoá được 1 trùng tang). Nếu không có nhập mộ nào thì phải xem ngày mất của người quá cố có phạm vào tam sa sát hay không? Theo người xưa và sách vở ghi chép lại thì: Trùng tang Ngày là nặng nhất. Trùng tang Tháng là nặng nhì. Trùng tang Giờ là nặng thứ ba. Trùng tang Năm là nhẹ nhất.
Quan niệm cổ về trùng tang Nếu căn cứ vào phép tính trùng tang như trên thì cả nam và nữ những người chết vào các tuổi (âm lịch): 10, 13, 16, 19, 22, 25, 28, 31, 34, 37, 40, 43, 46, 49, 52, 55, 58, 61, 64, 67, 70, 73, 76, 79, 82, 85, 88, 91... sẽ rơi vào trùng tang. Từ đó quy nạp ngược lại theo hệ can - chi thì những người có tuổi: Tý, Ngọ, Mão, Dậu nếu chết vào một trong các năm TÝ - NGỌ - MÃO - DẬU thì rơi vào trùng tang; Hoặc: Dần, Thân, Tỵ, Hợi nếu chết vào một trong các năm DẦN - THÂN - TỴ - HỢI thì rơi vào trùng tang; Thìn, Tuất, Sửu, Mùi nếu chết vào một trong các năm THÌN - TUẤT - SỬU - MÙI có nghĩa là chết vào các năm "xung (tứ hình xung) sẽ bị TRÙNG TANG.
Dưới góc độ của Dịch lý, trên cơ sở học thuyết Âm - Dương và Ngũ hành: Đồng khí (đồng cực) thì đẩy nhau, khác khí (khác cực) thì hút nhau. Tương sinh thì tốt, tương khắc thì xấu, đồng hành thì tị hoà. Vậy thì người chết vào những năm xung (tứ hình xung) thì rất xấu nên bị TRÙNG TANG. Ví dụ: Người tuổi Mão (thuộc Mộc, ở phương Đông) chết năm Dậu (thuộc Kim ở phương Tây) sẽ bị trùng tang vì Kim khắc Mộc, Tây đối lập với Đông; Hoặc người tuổi Ngọ (ở phương Nam thuộc Hoả) chết năm Tý (ở phương Bắc, thuộc Thuỷ) sẽ bị TRÙNG TANG vì Thuỷ khắc Hoả, Bắc với Nam đối lập... Các trường hợp khác cũng tương tự như vậy. Như vậy, việc xác định trùng tang là dựa trên nguyên lý của dịch với học thuyết Âm dương - Ngũ hành chứ không phải sự mê tín, tuỳ tiện. Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Đoan Trang(##)
Vì sao có tục kiêng hốt rác đổ đi trong ba ngày tết ?
Trong "Sưu thần ký" có chuyện người lái buôn tên là Âu Minh đi qua hồ Thanh Thảo được thủy thần cho một con hầu tên là Như Nguyệt, đem về nhà được vài năm thì giàu to. Một hôm, nhân ngày mồng một Tết, Âu Minh đánh nó, nó chui vào đống rác mà biến mất, từ đó nhà Âu Minh lại nghèo đi. Kể từ đó kiêng không dám hót rác ngày Tết.
Tục kiêng hốt rác ba ngày Tết nên ngày 30, dầu bận rộn đến đâu cũng phải dọn dẹp nhà cửa sạch sẽ và những ngày Tết thì mọi người phải hết sức giữ gìn nhà cửa không vứt rác bừa bãi. Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Minh Tuyết (##)
Nàng Giả thị, vợ của thủ lĩnh cấm vệ quân Vũ Thành Hầu Hoàng Phi Hổ vốn là người nhân hiền thục, đức hạnh đảm đang, được người cả nước biết tiếng khen ngợi. Sao Thái Âm trong tử vi được lấy từ hình tượng Giả phu nhân.
Theo quy tắc của triêu đình, vào dịp tết Nguyên đán, bá quan văn võ phải nhập cung chúc mừng Thiên tử, còn phu nhân của các quan cũng phải đến hậu cung chúc mừng Hoàng hậu. Tết Nguyên đán năm Trụ Vương thứ 21, Giả thị cùng phu quân Hoàng Phi Hổ đều nhập cung chúc Tết.
Đát Kỷ lúc này đã là Hoàng hậu. Từ khi các chị em đồng môn trong huyệt mộ Hiên Viên bị Tỷ Can và Hoàng Phi Hổ thiêu chết, Đát Kỷ vẫn luôn ôm hận trong lòng, rắp tâm chờ thời cơ báo oán. Tuy Tỷ Can đã chết, nhưng Hoàng Phi Hổ vẫn là cái gai trong mắt ả. Thời cơ rốt cục cũng đã đến. Khi các đại thần đều tập trung tại điện Hiên Khánh dự yến, các vị phu nhân cũng rủ nhau đến chúc mừng Hoàng hậu. Đát Kỷ liền kiếm cớ giữ Giả phu nhân ở lại hàn huyên. Một lát sau, Trụ Vương tàn tiệc quay về, thấy Giả phu nhân xinh đẹp hơn người, thì nổi lòng tham dục, bèn gọi Giả phu nhân đến tiếp rượu. Thấy tình hình có vẻ bất thường, Giả phu nhân vội vàng xin phép cáo lui.
Nhưng Đát Kỷ và Trụ Vương đều không buông tha, nhất định bắt Giả phu nhân phụng mệnh. Giả phu nhân thấy Trụ Vương tham dâm hiếu sắc, phóng túng đến mức độ đó thì giận dữ không kìm nén được mà mắng rằng: "Nhà vua không nhìn vợ bề tôi, đây vốn là quy tắc trong cung. Thân là vua một nước, sao có thể tuỳ tiện vi phạm quy định? Huống chi phu quân của tôi vốn tận tâm, tận lực với quốc gia, không tiếc thân mình lập bao công lao cho giang sơn của ông. Nay nhà vua lại đi nghe lời xúi bẩy của Đát Kỷ mà làm nhục vợ của bề tôi, chẳng phải là kẻ hôn quân ư? Rồi hai người sẽ không có được kết cục tốt đẹp!".
Nói rồi bà cầm chum rượu ném vào mặt Trụ Vương. Trụ Vương nổi cơn thịnh nộ quát gọi vệ sĩ bắt Giả phu nhân lại. Giả phu nhân quát: "Ta không phạm vương pháp, kẻ nào dám bắt ta!". Rồi than rằng: "Phu quân, thiếp vì chàng mà bảo toàn danh tiết!". Nói xong liền lao người qua lan can, gieo mình xuống lầu Trích Tinh tuẫn tiết.
Tây cung Hoàng phi (là em gái của Hoàng Phi Hổ) biết chị dâu vào cung vấn an, nhưng mãi không thấy đến gặp, trong lòng lúc một bồn chồn. Đang lúc trông đợi, thì có người vào báo Giả phu nhân đã gieo mình xuống lầu Trích Tinh để bảo toàn danh tiết. Tây cung Hoàng phi nghe tin hết sức bàng hoàng, nhưng vẫn đủ tỉnh táo để đoán rằng chuyện này ắt hẳn có bàn tay của Đát Kỷ, bèn đích thân đến lầu Trích Tinh tìm hiểu.
Sau khi biết rõ thực hư, Tây cung Hoàng phi bèn tìm lên lầu chỉ mặt vua Trụ mắng rằng: "Anh trai tôi Hoàng Phi Hổ hết mình bảo vệ giang sơn cho ông! Cha tôi cũng vì ông mà ngày đêm trông giữ ải Giới Bài. Vậy mà kẻ hôn quân như ông lại không biết giữ lễ, tham dâm hiếu sắc, lăng nhục vợ của bề tôi, bức Giả phu nhân đến chỗ chết! Rồi ông biết ăn nói ra sao với Hoàng tướng quân đây?"
Rồi lại mắng Đát Kỷ: "Ngươi mê hoặc nhà vua, nay lại xúi bẩy làm hại chị dâu ta!". Rồi không kìm chế được nỗi tức giận, bà lao về phía Đát Kỷ, đẩy ả ngã lăn xuống đất, rồi tay đâm tay tát liền mấy chục cái.
Trụ Vương cũng biết mình quá đáng, bèn chỉ đến khuyên can tách hai người ra. Nhưng Hoàng phi đang trong cơn giận dữ, lỡ tay đánh lầm vào mặt Trụ Vương. Bản tính hung bạo nổi lên, Trụ Vương một tay túm tóc, một tay túm áo Hoàng phi, nhấc bổng bà lên ném từ trên lầu cao xuống, tan xương nát thịt.
Hoàng Phi Hổ đợi mãi không thấy phu nhân trở ra, thì quay về phủ trước chờ đợi. Đang lúc đứng ngồi không yên, thì thị nữ hớt hải chạy đến báo tin: "Phu nhân vì bảo toàn danh tiết, đã nhảy xuống lầu Trích Tinh tự vẫn. Hoàng phi nương nương cũng đã bị nhà vua ném xuông dưới lầu!". Hoàng Phi Hổ nghe tin chết đứng, căm giận đến cực điểm, liền thống lĩnh toàn bộ gia tướng và binh lính, rời khỏi Triều Ca, đầu quân về với Tây Bá hầu Cơ Xương.
Hồn phách của Giả phu nhân bay đến trước đài Phong Thần. Do bà một đời thanh khiết, hiền thục, lại tuẫn thân vì bảo toàn danh tiết, nên được phong làm chủ nhân sao Thái Âm, chủ về nhân từ, hiền thục, đức hạnh, danh tiết.
Thái Âm là một trong 14 Chính Tinh trong Lá số Tử vi, sao thứ 2 trong 8 sao thuộc chòm sao Thiên Phủ theo thứ tự: Thiên Phủ, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát, Phá Quân. Thái Âm là phú tinh nên có nhiều ý nghĩa tài lộc nhất.
Sau khi đã có sơ đồ phi tinh, tiến hành luận đoán tốt xấu để có phương án bài trí cho phù hợp. Hai cung quan trọng nhất đó là toạ và hướng, bởi hướng là nơi nạp Thiên khí vào nhà chủ quản hoạ phúc. Toạ là nơi nạp Địa khí chủ về nhân đinh, hậu vận. Mỗi cung toạ và hướng có các Phi Tinh Sơn và Hướng, căn cứ vào Sơn Tinh và Hướng Tinh kết hợp để luận đoán tốt xấu. Sau đây luận các cách kết hợp của Sơn Tinh và Hướng Tinh.
Nhất Bạch 11 : Đào hoa, vượng ứng với quan tinh, chủ văn xương, độc thư, thông minh, văn tài xuất chúng. Suy ứng với tai máu thận suy, di tinh tiết huyết, dâm đãng, x ảy thai, bất đắc chí. 12 : Dễ mắc bệnh dạ dày, ruột, bệnh thận, tai máu, nữ mắc phụ khoa, đẻ non, sảy thai. Trung nam không thuận phải ly tổ bôn ba, quan lộc bị x âm hại. 13 : Tranh chấp, quan phi, đạo tặc, phá tài 14 : Ra ngoài có lợi, dễ thăng chức, văn chương phát quý nổi danh, tài vượng, phụ nữ sang quý. Nếu suy sinh dâm đãng. 15 : Tổn hại nhân đinh, dễ mắc bệnh thận, tai máu, trung nam bị tổn hại. 16 : Phú quý cát lợi, văn tài thông minh, hãm thì dâm loạn 17 : Đào hoa, ra ngoài cát lợi. Nếu hãm thì thương tích, thị phi, tham luyến tửu sắc. 18 : Phạm bệnh tật tai máu, trung nam bất lợi tha hương lưu lạc. 19 : Thuỷ hoả không dung, phạm bệnh tật mắt, tinh thần, trước tốt sau xấu.Nhị Hắc 21 : Nữ bệnh phụ khoa, tràng vị, nam mắc bệnh tai máu thận, trung nam tổn hại. 22 : Bệnh tật, nữ bệnh phụ khoa, nam mắc bệnh đường ruột. Đắc v ận thì giàu có. 23 : Cách Đấu Ngưu sát chủ quan phi, kiện tụng, khẩu thiệt. Mẹ già tổn hại. 24 : Bất hoà, bệnh phong hàn, khẩu thiệt, kiện tụng, sinh nở khó, hại mẹ già. 25 : Tổn thất nhân đinh, cô quả, mẹ nhiều bệnh. 26 : Đất đai vượng phát, tăng tài, buôn bán phát đạt. 27 : Tiến tài, nhiều hỷ sự, nếu hãm phạm đào hoa, khẩu thiệt, tán tài. 28 : Cách hợp thập chủ cát lợi, dễ đi xa 29 : Sinh đẻ nhiều, nếu v ượng chủ văn tài, thất v ận phòng bệnh tật, sinh người ngu đần.
Tam Bích 31 : Thị phi khẩu thiệt tranh đấu phá tài. Nếu đắc lệnh thì phát quý. 32 : Cách Đấu Ngưu sát chủ thị phi tranh đấu đạo tặc, hại mẹ già, bệnh đường ruột. 33 : Quan phi, thị phi, đạo tặc, đắc lệnh thì phú quý. 34 : Đào hoa, kiếp tặc hại cho nữ. Đắc lệnh văn tài phú quý nổi danh. 35 : Hại tì vị, chủ nhân bất an, hại cho trưởng nam. 36 : Trưởng nam bất lợi, quan phi, thương tích chân tay, đắc lệnh thì quyền uy, phát văn tài. 37 : Phá tài, kiếp đạo, dâm đãng, hại trưởng nam 38 : Bất lợi nhiều bệnh tật, phá tài, tuyệt hậu 39 : Thông minh tiến tài, sinh quý tử
Tứ Lục41 : Đào hoa dâm đãng, nếu sinh vượng thì xuất ngoại thành danh, v ăn tài xuất chúng 42 : Bệnh tật tỳ vị, hại mẹ già. 43: Dâm loạn, đạo tặc, hại thiếu nữ 44 : Đào hoa, ly tổ, sinh v ượng thì có quý nhân phù trợ, văn tài thành danh. 45 : Nhiều bệnh tốn tài. Sinh vượng thì nhà cửa hưng v ượng 46 : Trước lành sau x ấu, khó sinh, bất lợi trưởng nữ 47 : Cô qủa bất hoà, nạn đao thương thổ huyết, hại trưởng nữ. Sinh vượng thì xuất hiện giai nhân tài sắc 48 : Tổn tài, hại thiếu nam, bệnh phong tật thấp khớp, đào hoa. Tốt lành tiến tài, lợi điền sản. 49 : Sinh quả phụ, đào hoa. Sinh vượng thì Mộc Hoả thông minh, xuất hiện danh sĩ.
Ngũ Hoàng 51 : Tổn nhân đinh, hại trung nam nhiều bệnh tật, bệnh tai máu thận. 52 : Sinh cô quả phụ, nhiều bệnh, bệnh tỳ vị. 53 : Hại trưởng nam, phá tài, nhiều bệnh tật 54 : Phá tài, hại nhân khẩu, bệnh tật 55 : Rất x ấu chủ bệnh tật, hao người tốn của 56 : Nếu sinh vượng thì rất tốt 57 : Bệnh tật, kiếp đạo, đắc thì tiến tài nhiều hỷ sự 58 : Bất lợi thiếu nam, đắc thì cát chủ hoạnh phát tài 59: Sinh nở khó, bệnh tật, thương vong, ăn chơi phá tài
Lục Bạch 61 : Đào hoa dâm loạn, sinh nở khó. Đắc thì quan lộc hanh thông 62 : Bệnh tật, phụ khoa, tổn tài 63 : Tai nạn, bất an, hại trưởng nam 64 : Ly tán, tai nạn, bất an, hại trưởng nữ 65 : Bệnh tinh thần, đắc thì phát tài 66 : Hại trưởng nam, người già, đắc thì quan vận tốt, quyền hành, văn tài xuất hiện. 67 : Đao kiếm sát phạm đao thương, tổn tài, thị phi quan tụng 68 : Đại cát nhiều hỷ sự, lợi quan lộc 69 : Bệnh phế huyết hoả tai, hại cho cha già
Thất Xích 71 : Kim thuỷ đa tình đào hoa, ly hương xuất ngoại, tổn hại lục súc 72 : Khẩu thiệt thị phi hoả tai. đắc vận thì hợp thành Hoả tiên thiên lợi nhị hắc nên phát tài. 73 : Thương trưởng nam, bội nghĩa, thị phi, bệnh tật, quan phi 74 : Hại trưởng nữ, đao thương, bệnh thần kinh 75 : Nhiều bệnh bất an, tửu sắc phá tài 76 : Đao kiếm sát, tổn tài, sinh nhiều nữ 77 : Tổn tài, thị phi. Sinh vượng thì hỷ sự phát tài, sinh nhiều nữ 78 : Cầu tài danh đều lợi, nam nữ đa tình 79 : Tai nạn bệnh tâm khí, hại cho nữ nhỏ
Bát Bạch 81 : Hại trung nam, bệnh tai máu thận 82 : Bệnh tật, hại mẹ già, thiếu niên lao khổ, sinh vượng thì phát tài chủ tốt 83 : Bất lợi, ly hôn, hại thiếu nam 84 : Cô quả, khó sinh nở, hại thiếu nam 85 : Bệnh tật, tai nạn, hại thiếu nam 86 : Văn tài, thông minh cát lợi, sinh quý tử 87 : Sinh v ượng thì tốt cho thiếu nam, thiếu nữ, tài lộc vượng 88 : Đại cát, sinh nhiều con trai 89 : Đinh tài đều vượng nhiều hỷ sự
Cửu Tử 91 : Cách Thuỷ Hoả Ký Tế lợi văn chương, có nhiều danh vọng, công danh tốt. 92 : Phạm bệnh tật, bệnh mắt, phụ khoa 93 : Quan phi khẩu thiệt. Nếu sinh vượng sinh văn sĩ 94 : Đào hoa, hao tài 95 : Nhiều bệnh tật, hoả tai 96 : Sinh bệnh tật, bệnh não, thổ huyết, quan hình 97 : Phá tại, hại thiếu nữ, quan phi khẩu thiệt 98 : Cát lành hỷ sự 99 : Bệnh mắt bệnh thần kinh, sinh vượng thì tốt
Ngoại trừ chế độ mẫu hệ, còn như trong chế độ phụ hệ người đàn bà chẳng mấy khi có chồng cả, chồng lẽ; ngược lại đàn ông năm thê bảy thiếp là chuyện thường, càng quyền quí cao sang càng lắm vợ: Minh Mạng có 142 con, "Nhất dạ ngũ giao, tam hữu dựng" (trong một đêm ngủ với năm bà thì ba bà có thai) còn bao nhiêu vợ thì không thể thống kê được. Nguyễn Công Trứ 73 tuổi, lấy vợ lẽ thứ 10, đêm tân hôn cảm tác:
"Tân nhân dục vấn: Lang niên kỷ? - Ngũ thập niên tiền nhị thập tam"
(Dịch nghĩa: Nàng muốn hỏi anh: chàng mấy tuổi - Năm mươi năm trước mới hăm ba) Đạo Thiên chúa chỉ cho phép con chiên một vợ một chồng. Thông thường vợ cả lấy trước, vợ lẽ lấy sau. Nhưng có trường hợp người con trai làm ăn xa nhà, tự ý lấy vợ, chưa được cha mẹ và họ hàng chấp nhận, ở quê nhà cha mẹ đã dạm hỏi sẵn cho một cô vợ khác bắt về cưới. Người vợ do cha mẹ cưới hỏi, dẫu rằng lấy sau vẫn là vợ cả. Người vợ tự ý chọn, nếu sau này được cha mẹ chấp thuận, mặc dù con gái con trai đều đã lớn, vẫn phải chịu phận làm em. Con vợ bé dẫu nhiều tuổi hơn vẫn phải chào đứa con bà cả đang ăm ngửa bằng anh bằng chị. Trường hợp vợ cả chết sớm, không có con trai thì con trai vợ kế đẻ sau vẫn là trưởng nam, là đích tôn thừa trọng chứ con trai vợ lẽ vì phận thiếp không môn đăng hộ đối , không phải do ông bà trực tiếp cưới hỏi nên không đủ quyền kế vị. Muốn cho gia đình êm thấm, người chồng phải khéo đối xử để vợ cả đi hỏi vợ lẽ cho chồng, thì người vợ lẽ và bố mẹ cô ta mới yên tâm. Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Hương Giang (##)
Nếu là Mệnh hay nếu là thân, Mệnh ứng vào trọn cuộc đời, thânứng vào lúc tuổi 3 trở đi. Nếu là Cung Mệnh sinh nhập hay sinh xuất với Cungnhị hợp sự giải đoán theo Cung nhị hợp do đó ứng trọn vào cuộc đời. Nếu là thânsinh xuất hay sinh nhập với Cung nhị hợp ứng vào đương số lúc lớn tuổi.
Mệnh Thân và cung Bào : thế của Mệnh thân sinh cho Cung bào nhị hợp, đương số giúp cho anh em hay chăm sóc cho anh em hay ít ra biết lo lắng đến anh em. Thế của Cung Bào sinh cho Cung Mệnh hay Thân là anh em của đương số trợ giúp và săn sóc cho đương số, lo lắng cho đương số.
Mệnh thân và tử tức : thế của Mệnh thân sinh cho Cung tử tức nhị hợp, đương sự săn sóc nhiều cho con cái và lo âu cho con cái đủ mọi chuyện. Thế của Cung tử tức sinh cho Cung Mệnh thân tức là con cái của đương số chăm sóc lo toan nhiều cho đương số, nói cách khác là đương số được con cái chăm sóc lo toan đầy đủ vì có con hiếu tử.
Mệnh thân và giải ách : thế của Mệnh và thân sinh cho Cung giải ách nhị hợp thì có nghĩa là đương số mất nhiều sức lực vì bệnh tật, phải bận tâm nhiều đến vấn đề sức khỏe, vóc người gầy ốm vì bệnh tật. Ngược lại Cung giải ách nhị hợp sinh cho Cung Mệnh thân tức là đương số được tật ách nuôi, cũng phải bận tâm nhiều đến vấn đề bệnh tật nhưng lại được cái may là tai nạn được qua khỏi dễ dàng.
Mệnh thân và nô bộc : thế của Mệnh thân sinh cho Cung nô bộc nhị hợp nghĩa là đương số giúp đỡ nhiều cho bạn hữu và người làm công nghĩa là lo toan chăm sóc tận tâm cho những người đó. Cung nô bộc nhị hợp ở thế tam hợp sinh cho Mệnh thân : đương số được hưởng nhiều về bè bạn và người làm, những người này hết lòng lo toan chăm sóc cho đương số.
Mệnh thân và điền trạch : thế của Mệnh thân sinh cho điền trạch nhị hợp, đương số phải lo toan thắc mắc nhiều về điền trạch, phải đuổi theo các vấn đề về nhà cửa ruộng vườn đến mệt người, gặp nhiều chuyện bực mình tán tài hoặc kiện tụng vì nhà cửa ruộng vườn. Cung điền trạch nhị hợp sinh cho Mệnh thân đương số được yên ổn về vấn đề nhà cửa ruộng vườn, nhà cửa được yên vui.
Mệnh thân và phụ mẫu : thế của Mệnh thân sinh cho Cung phụ mẫu nhị hợp, đương số biết lo toan chăm sóc và để tâm vào việc phục vụ cha mẹ tức là đương số là người con có hiếu. Cung phụ mẫu nhị hợp sinh cho Cung Mệnh thân đương số được cha mẹ lo toan chăm sóc xây dựng cho đầy đủ.
Những trường hợp đặc biệt : trong bản giải đoán lá số ông Tạ Thu Thâu cụ Thiên Lương có viết : còn nội cảnh của Mệnh thân (ở nhị hợp ta thấy Mệnh ở mùi là cảnh trí sinh xuất cho bào, thân ở tỵ sinh xuất cho phụ mẫu) người này nặng óc gia đình dù ở hoàn cảnh nào cũng muốn trợ lực cha mẹ và nâng đỡ anh em chứ không phải vì vợ giỏi quán xuyến đảm đang (thiên tướng ở thê, thân cư thê).
Lá số Mệnh tại Cung thân, thân cư quan lộ tại tý. Mệnh tại thên thuộc tam hợp thân tý thìn (thủy). Tử tức nhị hợp tại tỵ thuộc tam hợp tỵ dậu sửu (kim), kim sinh thủy, đương số có những người con có hiếu chăm sóc cho mình. Thân cư quan lộc tại tý (thủy), nhị hợp là nô bộc tại sửu thuộc tam hợp tỵ dậu sửu là kim, kim sinh thủy, đương số được bạn bè hết lòng giúp đỡ và năng lui tới.
Lá số Mệnh tại sửu nhị hợp là Cung bào tại tý, thế tam hợp Mệnh là kim sinh cho thế tam hợp bào là thủy, kim sinh thủy, người năng chăm sóc từng ly từng tí cho anh em. Nhưng Cung Mệnh lại quá kém vì nghèo còn Cung bào lại tốt vì anh em giàu có. Như thế làm sao đương số giúp đỡ bảo bọc được cho anh em. Đây là một yếu tố để phối kiểm thêm và nếu không có khả năng giúp đỡ anh chị em về vấn đề tiền bạc nhưng vẫn nghĩ đến anh chị em và cố gắng giúp đỡ trong phạm vi có thể làm được trong những việc thông thường.
Lại một người có Mệnh tại sửu, thân cư thê tại hợi, tam hợp hợi mão mùi thuộc mộc, nhị hợp là phụ mẫu tại dần, tam hợp dần ngọ tuất thuộc hỏa, mộc sinh hỏa. Vậy đây là trường hợp con có hiếu với cha mẹ nhưng nếu cha mẹ người này đã chết làm sao phụng dưỡng. Tất phải luận là dù đương số mồ côi cha mẹ nhưng vẫn một lòng nhớ đến cha mẹ, cúng giỗ cẩn thận và chân thành tưởng niệm công ơn người đã khuất.
VÒNG THÁI TUẾ
Có lẽ đây là vòng sao quan trọng nhất đối với người nghiên cứu Tử Vi bởi vì vòng sao này diễn tả tính khí phẩm hạnh của đương số cũng như nó cho biết chu kỳ thăng trầm của cuộc đời cho nên một lần nữa ta lại phải phân tích hành của tam hợp : dần ngọ tuất là hỏa, thân tí thìn là thủy, tỵ dậu sửu là kim, hợi mão mùi là mộc.
Vòng thái tuế có 12 sao là thái tuế, thiếu dương, tang môn, thiếu âm, quan phù, tử phù, tuế phá, long đức, bạch hổ, phúc đức, điếu khách và trực phù ; 12 sao đó chia thành 4 nhóm Mệnh danh như sau :
+ Nhóm chính phái : thái tuế, quan phù, bạch hổ.
+ Nhóm tả phái : tuế phá, điếu khách, tang môn.
+ Nhóm thiên hữu : thiếu âm, long đức, trực phù.
+ Nhóm thiên tả : thiếu dương, tử phù, phúc đức.
Những người tuổi dần ngọ tuất, các Cung Mệnh tài quan đóng ở 3 Cung dần ngọ tuất tức là có nhóm sao chính phải đóng ở 3 Cung dần ngọ tuất tức là có nhóm sao chính phải đóng thì là những người đảm lược, anh hùng quảng đại. Tiếp tục luận như tên thì những người thuộc tuổi tỵ dậu sửu, thân tý thìn hợi mão mùi mà 3 Cung Mệnh tài quan đóng ở 3 Cung trên đều là chính phải cả. Giai đoạn tuổi ở 1 trong 3 Cung thái tuế, quan phù, bạch hổ đến là thời vận tốt nhất cho đương số. Khi Cung Mệnh của đương số thuộc nhóm tả phái tức là có những sao tuế phá điếu khách tang môn ở Cung Mệnh tài quan thì đó là những người bất mãn và hay gặp chuyện trái ý phật lòng. Cung Mệnh thuộc nhóm thiên hữu tức là ở Cung Mệnh tài quan có sao thiếu âm long đức trực phù là những người bản chất hiền lành nhu nhược hay bị lợi dụng. Cung Mệnh thuộc nhóm thiên tả tức là ở Mệnh tài quan có các sao thiếu dương tử phù phúc đức là những người khôn vặt lanh lợi hay toan tính chuyện lấn lướt người khác.
Ta cần ghi nhận rằng Tử Vi được hình thành trong cơ cấu của dịch lý qua 2 động lực căn bản âm dương và ngũ hành do đó cần tìm nguồn tương quan lý học để từ đó có thể dò dẫm ra bước đường sáng tạo của cổ nhân. Sau khi nguồn căn bản đã có việc cần nêu lên cho chúng ta là phải giản dị khi áp dụng một cách trực tiếp từ dịch học sang Tử Vi, vì vậy ta không thể quá câu nệ vào các câu phú để rồi nhiều khi mâu thuẫn nhau vào những lời giải đoán phức tạp.
Tương quan của vòng thái tuế qua Cung Mệnh, nhị hợp và xung chiếu, để đề cập vào phạm vi này cần lưu ý đến liên hệ trên biểu kiến (bề ngoài) và nội tại (bên trong) cũng như xét qua lại vòng thái tuế ứng dụng vào sự tiêu biểu mặt trái ở đó so với Cung nhị hợp, Cung chính (xung) chiếu, ngoài ra để do áp dụng xin trình bày vài ví dụ điển hình dưới đây :
+ Tính tình bề ngoài và nội tâm : hàng ngày chúng ta được tiếp xúc với nhiều hạng người, tính tình mà chúng ta thấy họ biểu lộ hàng ngày không hẳn là đích thực tình trạng bên trong nội tâm của họ. Đó cũng là một hiện tượng ý nghĩ tương phản lời nói. Hai trạng thái ngoại biểu (hay biểu kiến) và nội tại sẽ được phơi trần ra trước ánh sáng của vòng thái tuế và mới là điều phúc lợi. Ví dụ : Mệnh ở tý có quan phù, hợp là sửu (phụ mẫu) ta thấy về phương diện nội tại đương số được cha mẹ bảo bộc nuông chiều giúp đỡ, do bởi căn nguyên là sự khôn ngoan lời nói lễ phép dè dặt (đặc tính của quan phù) mà đương số được hưởng phúc này. Thế tam hợp Mệnh và thiên di cũng như thế, nhược điểm chính yếu chính là số ngoại biểu và nội tâm chưa được ai đề cập đến vì khái niệm vòng thái tuế chưa được triển khai rộng rãi theo khoa tâm lý học, vòng thái tuế cần phải phân tích ra hai trạng thái tĩnh và động, tĩnh trong động và động trong tĩnh. Phương diện tĩnh tượng trưng cho tư tưởng tính tình hoặc tinh thần qua vòng thái tuế ở Mệnh, động là phương diện cần an bài đúng vị thế. Do đó vòng thái tuế ở Mệnh chỉ nói riêng về tư tưởng còn là nói thái độ được sắp xếp theo 12 sao của vòng thái tuế theo tiêu chuẩn sau đây :
1. Thái tuế : Mệnh có thái tuế là người có tư tưởng tự tôi theo lý tưởng ngay chính nghiêm nghị, tự cho mình có thiên Mệnh để thi hành. Do đó thường cảm thấy không có ai xứng với mình về những phương diện tư cách hòai bão. Ý nghĩa trên xuất phát từ người thái tuế tượng trưng cho ngôi vua là thiên, tử là con trời, vì ở xa dân ngay cả đến quần thần nên người có thái tuế thường cảm thấy cô độc ít tri kỷ.
2. Quan phù : tính chất quan phù ở Mệnh mang lại cho đương số một sự khôn khéo biết tiến thóai tùy lúc mà vẫn không mất tư cách ngay thẳng chính trực của mình. Đó là một điểm khó khăn ít người dung hòa được. Người có quan phù thủ Mệnh rất giỏi lý luận, biết người biết ta nên rất tế nhị, chinh phục người khác bằng tư tưởng chính phái của mình.
3. Bạch hổ : tính tình có vẻ sắt đá gan dạ, nóng nảy với hậu thuẫn là mình thuộc chính phái. Người có bạch hổ thủ Mệnh dễ làm mất lòng người khác vì lời nói thật hay mất lòng. Nhưng nếu cứ ở miếu địa (đậu) là cách bạch hổ khiếu tây phương thì lời nói thẳng nhưng rất có oai làm người khác nể sợ.
4. Thiếu dương : là tùy tinh mang tính chất của sự biến dịch của tứ tượng bát quái, tuy sáng suốt nhưng là sự sáng suốt sa chân vào hố sâu, cần có nghị lực siêu phàm mới sử dụng được nó. Trước tiên nếu có đồng Cung hay chính chiếu với hồng loan thì nó có đặc tính quên mình bỏ cái ta đi để gánh vác việc đời. Ngược lại nếu nó đi với đào hoa thì trở nên vị kỷ chỉ nghĩ đến mình, vì mình tất cả. Còn vị trí thiếu dương thiên không ở tứ mộ thì phần hay ít dở nhiều, tuy nhiên cũng có trường hợp ngoại lệ. Tóm lại người mang cá tính thiết dương dù vị kỷ hay vị tha cũng là một người sáng suốt hơn người, vượt lên trên mọi người.
5. Phúc đức : cũng nằm trong tam hợp thiếu dương nên âm hưởng của sao này đem lại cho đương số sự sáng suốt hơn người nhưng dù sao tính tình vẫn giữ được chữ đức làm đầu. Người có sao phúc đức là người thích vươn lên với đời trong sự sòng phẳng tương quan đổi chác song phương hưởng lợi.
6. Tử phù : không như hai sao thiếu dương và phúc đức, thế của sao tử phù cũng là sáng suốt nhưng là thứ sáng suốt để lừa lọc người ta với tính tình ma mãnh dám làm điều xằng bậy nếu có dịp, vì từ lời nói tư tưởng đến hành động đối với những người này cách nhau không xa.
7. Trực phù : do tính chất của địa chi thì vòng trực phù long đức thiếu âm bị sinh xuất hoặc bị khắc xuất do đó nhóm này bị nhiều thua thiệt ở đời vì thế tương quan trong thế tam hợp thì chịu nhiều thiệt thòi nhưng riêng vị thế trực phù thì cá biệt mà nói mang sao này trong các công việc dù công hay tư không được đãi ngộ tương xứng với khả năng của mình.
8. Long đức : tuy cùng chi phối với trực phù nhưng cũng như phúc đức, vị thế long đức còn chịu sự chi phối của nhóm tứ đức. Vì vậy thua thiệt người long đức thường hiền hậu an phận không thích mạo hiểm bon chen, cuộc đời thụ động quá mức đến bi quan.
9. Thiếu âm : là vị thế của vòng trực phù nhưng cũng nằm trong chu trình tiến hóa của dịch lý và tương phản với thế thiếu dương nên người thiếu âm thường bị thua thiệt để quan niệm chủ quan lắm lúc tự lừa dối mình. Quá hiền hậu, quá hào phóng hoặc quá tự tin người khác để trở nên khờ dại dễ mắc lừa.
10. Tang môn : có người cho rằng thế tang môn phải được ghép với thế bạch hổ hoặc ngược lại vì đó là một cặp trong lục bại tinh. Nếu luận theo lẽ biến dịch ngũ hành với 12 Cung so với ý nghĩa các Cung như tam hợp nhị hợp chính chiếu hoặc giáp xung thì sẽ không lạ gì có sự phân cách riêng biệt giữa từng cặp sao dù là một bộ như tang hổ, song hao, tướng binh. Vị thế của tam hợp tang môn điếu khách tuế phá là vị thế đối nghịch hoàn toàn của tam hợp tuổi ; chính đây là một điểm xung sát để tạo thành. Thời thế tạo anh hùng gây dựng nên thời cuộc là sự biến ảo của mấu chốt này. Cá biệt sao tang môn cho thấy người có sao này thường gánh nhiều mối ưu tư phiền tóai bận tâm ; nếu suy luận thì bất cứ làm việc lớn hay nhỏ người này cũng suy tư lo lắng. Người này không thích đùa với ai và cũng không thích ai đùa với mình, trong tâm trạng suy bụng ta ra bụng người làm người này trở nên dè dặt tế nhị.
11. Điếu khách : khóac lên mình một gánh nặnt chống đối việc ở đời, người có sao điếu khách thường thích đả kích người khác, thích tranh luận bàn cãi và thuyết phục người khác. Vì thế có người đã không ngần ngại gán cho những người có sao điếu khách là sẽ làm nghề thầy cãi (luật sư) vì mã khốc khách, cũng như đã không nề hà gì mà gán chức vị thẩm phán cho những người có quan phù thủ Mệnh thân. Đành rằng sự gán ghép này có căn bản riêng của nó nhưng về nghề nghiệp là có một sự phức tạp vì nó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố không phải chỉ đơn thuần ở vòng sao thái tuế.
12. Tuế phá : cũng tương tự như đặc tính sao điếu khác nhưng ở đây sao tuế phá là một nét dị biệt, một trạng thái của sao đối lập (chống đối người khác) có thể làm được những việc phi thường nếu được thêm vài yếu tố ở thân.
Vài ví dụ thực tế :
Người có bạch hổ thủ Mệnh ở dậu, nhị hợp là giải ách ở thìn thiên di ở mão, chỉ cần mấy yếu tố này chúng ta sẽ phác họa ra bề mặt và bề sau của tâm hồn một người. Như đã trình bày trên qua hai yếu tố biểu kiến và nội tại mà ta gọi giản dị hơn một bề ngoài bề trong đã có sơ lược giải khái quát về tính tình đương số : Bề trong lúc nào cũng canh cánh trong lòng về những bất trắc ở đời, nhiều khi quá bận tâm về hậu quả của một mình làm dù việc này không có gì đáng bận tâm (Mệnh sinh xuất cho giải ách). Bề ngoài có vẻ sắt đá gan lì với hậu thuẫn chính nghĩa lẽ phải của mình. Tổng kết lại là dù bề trong có e dè nhưng khi giới hạn e dè đã bị vượt qua thì người này dám bất chấp làm bất cứ việc gì không cần nghĩ đến hậu quả với niềm tin là lẽ phải về phần mình mà coi thường đối phương.
Mệnh có tang môn ở tuất, nhị hợp là nô ở mão, thiên di ở thìn : Bên trong : đương số thích được bạn bè yêu mình, thích được người khác chiều chuộng nể vì mình. Bề ngoài : mang tâm trạng tế nhị, mang một mối lo âu, có nhiều sự bận tâm không thích những trò đùa dai. Do đó đương số dễ mang nét âu sầu trên gương mặt hay bi quan trước cuộc sống.
Tương quan của vòng thái tuế qua Cung thân nhị hợp xung chiếu :
Mới trông qua cũng giống như chương I nhưng nếu xét kỹ thì thấy có điểm khác biệt duy nhất mà ta đã xét khái lược ở trên, đó là vòng thái tuế chỉ về tư tưởng ngược lại thì ở thân vòng thái tuế lại chỉ về hành động vật chất. Nội dung của phần hai đã vạch sẵn như vậy ta có thể xét theo từng mục hành vi biểu kiến mặt trái ở đời. Những thí dụ điển hình :
+ Hành động biểu kiến về tiềm ẩn : ở đây phương cách lý luận cũng như phần 1 nhưng đổi vị trí lại, một đàng là Cung Mệnh và Cung nhị hợp của nó, một đàng là hành động tiềm ẩn, tức là cứu cánh khác với phạm vi nội tâm. Cứu cánh sau cùng của hành vi là do Cung nhị hợp thân sinh nhập hay sinh xuất với Cung an thân, phải được sinh nhập mới tốt. Thí dụ : thân có quan lộc ở sửu có điền trạch nhị hợp ở tý thì hành động cứu cánh của đương số chính thức là do về nhà cửa hay nói bao quát hơn là lo về việc nhà việc gia đình.
+ Bên ngoài có phối hợp Cung số mà thân cư với vị thế vòng thái tuế thì mới hiểu rõ hành động bên ngoài chịu ảnh hưởng gì và đặc điểm gì ? Trước tiên ta phải xét thân cư Cung số nào trong các Cung số : Mệnh (thân Mệnh đồng Cung phú quan di tài phối) để từ đó ta có thể biết hành động bên ngoài chịu ảnh hưởng gì trong 6 Cung số trên. Về điều này không có gì mới lạ, các sách đều có nêu ra. Sau khi đã được rõ Cung an thân ta mới so sánh với Cung số nhị hợp xem sinh nhập hạn sinh xuất cho Cung an thân. Cần phải biế rằng hành vi bên ngoài là phương tiện còn hành vi tiềm ẩn là cứu cánh biện minh cho phương tiện. Ví dụ thân cư quan lộc ở sửu nhị hợp Cung điền trạch là Cung tý, có thái tuế chính chiếu ở mùi, ta có thể phối hợp các dữ kiện bên ngoài và bên trong để xét hành vi một cá nhân :
* Bên ngoài : thân có thái thuế chính chiếu thuộc thế mộc thuộc thế tam hợp của thân thuộc nhóm kim (tỵ dậu sửu) do đó bề ngoài đương số có vẻ tự cao tự đại. Nếu có nhiều nhóm sao quá khích như hỏa linh kình đà thì sẽ biến ra kiêu căn kênh kiệu bề ngoài, khi bắt tay vào việc đương số dễ dàng thắng hoàn cảnh vượt qua trở ngại để đạt mục tiêu.
* Bên trong : thế tam hợp là kim bị sinh xuất cho thế nhị hợp thế thủy của Cung điền trạch đương số là người biết lo cho gia đình nhà cửa. Tổng kết có thể phối hợp như sau : người năng hành động thường tỏ ra tự tôn, không có bạn tri kỷ tri bỉ, thường hành động một mình trong mọi vấn đề liên quan đến nghề nghiệp và những thắng lợi về khoa cử công danh. Và phương diện biểu kiến có vẻ háo danh, cố tìm phương tiện nhưng tất cả nhắm tới hành động sau cùng (cứu cánh) là cho nhà cửa ruộng đất cho gia đình mình.
Vòng thái tuế và hành động của mỗi cá nhân : 12 sao của vòng thái tuế được ghi nhận ở Cung an thân như là một thế động mà tĩnh ứng với nguyên lý âm dương của biến dịch. Trong phần trên đã viết về vòng thái tuế trong trạng thái tĩnh, do đó phần này chỉ viết trong phạm vi động.
Thí dụ : Mệnh có bạch hổ thì tính tình có vẻ sắt đá nóng nảy dễ làm mất lòng người khác. Thân có bạch hổ thì hành động dũng mãnh đôi lúc hành động làm thiệt hại hay làm người khác sợ hãi vì hành vi ngang tàng của mình.
Thí dụ thực tế : thân có tuế phá ở ngọ cư quan lộc, nô bộc cư Cung mùi, phối ở Cung tý, Mệnh ở dần có tang môn nhị hợp là tử tức ở hợi, thiên di đóng ở Cung thân. Ơ trường hợp này ta phải phối hợp hai phần 1 và 2 để tổng luận đương số là người hay lo lắng bất cứ điều gì nhưng trong thâm tâm rất yêu thương con cái. Ngoài ra đương số ở trong môi trường chống đối mới tạo lập được cuộc sống hợp với bản tính tế nhị, chăm sóc con cái cẩn thận, lúc nào cũng nghĩ đến đàn con dại nhưng bề ngoài đương số lại phải chống cự với hoàn cảnh, cần phải ghi rằng các thế nhị hợp chính chiếu vòng thái tuế có thể bị suy giảm ý nghĩa do sự hiện diện của tuần triệt hay hung tinh. Nhưng dù thế nào ý nghĩa chính cũng vẫn tập trung bao gồm những điểm bao quát trên. Thân đương số đóng ở Cung quan lộc có tuế phá lại được Cung nô bộc sinh nhập là một dịp gỡ gạc cho đương số, tuy rằng Cung phối cũng lấn lướt nhưng nhẹ nhàng. Mệnh và thân đương số cùng một phe lý thuyết đi đôi với việc làm thì còn gì tốt cho bằng. Đương số bắt tay vào việc do tính tình tế nhị của mình và hành động đả phá của mình, tuy không đạt đến tuyệt đỉnh, hơi muộn màng nhưng cũng đã thành công trên đường đời. Sự thành công này bắt nguồn từ bạn bè, người dưới giúp đỡ. Đây là một chứng minh quan niệm vòng thái tuế quan trọng nhất với cá tính, nhờ cá tính mà đi đến thành công.
Ví dụ : thân Mệnh đồng Cung tại ngọ có bạch hổ, nhị hợp là phụ mẫu ở mùi, thiên di ở tý (lá số Hàn Tín) đương số là người lời nói đi với việc làm, có nhiều hoài bão to lớn, tính tình lỳ lợm, hành vi cũng không kém phần lỳ lợm. Hành động dũng cảm chỉ có người trí dũng ôm ấp nhiều giấc mộng đạp đất và trời để từ đó tùy cơ hội mà dựng nên nghiệp lớn. Thái độ và hành động đầy chính nghĩa dù có đôi chút vị kỷ vì có sao hóa lộc thủ Mệnh hội cùng đẩu quân được bà phiếu mẫu hiểu thấy và bao bọc trong lúc hoàn cảnh cơ hàn (được phụ mẫu ở họ nhị hợp). Tiếc thay một tài hoa hiếm có như Hàn Tín mà bị trời đặt cho một Cung thiên di thua sút cho nên ra đời đã gặp nhiều hoàn cảnh thử thách, may mà thân và Mệnh đồng Cung mới đủ sức chống chọi để vươn lên với đời, nhưng rồi chung cuộc vùng vẫy cho lắm để rồi cũng thất bại với hoàn cảnh (chết vì tay mụ Lã Hậu).
Tam hợp Mệnh tài quan phối hợp qua vòng thái tuế : thế tam hợp luôn luôn đóng vai trò chủ chốt trong khoa Tử Vi, thế tam hợp kết hợp ra ngũ cục (kim mộc thủy hỏa thổ cục) cho đến các vị trí tiểu hạn an theo từng tam hợp tuổi. Rõ rệt hơn cả là thế tam hợp Mệnh tài quan là câu nói đầu tiên của người biết xem Tử Vi. Đó là một bình diện của yếu tố địa chi trong 4 yếu tố : can chi, tuổi, Mệnh, cục của 2 thành tố gia đình và xã hội. Trong lãnh vực tâm lý học với vòng thái tuế vai trò của tam hợp rất quan trọng, nó đã cho ta các vị thế để biết bề mặt trái của các vấn đề. Ơ Mệnh thân đồng Cung thái tuế tác động nhiều ở trong thế tam hợp Mệnh tài quan sự kiện này đặt cho ta một vài dữ kiện phải giải quyết như : thân Mệnh đồng Cung thân cư tài bạch hay quan lộc.
Thân Mệnh đồng Cung : tư tưởng và hành động cùng là một, lời nói đi đôi với việc làm. Người thân Mệnh đồng Cung dù ở vị thế nào của vòng thái tuế cũng vậy, luôn luôn cố phấn đấu với hoàn cảnh. Vì vậy trong trường hợp này vòng thái tuế có ý nghĩa : trời cho cha, cho hình hài để hồn nhập vào, mẹ cưu mang những đặc thái của một cá nhân, đặt để ra trong môi trường mà kể từ lúc mới sinh cho đến lúc nhắm mắt lìa đời. Hành động tức cái ta lúc nào cũng đối kháng môi trường (hoàn cảnh) sẵn có của ta. Là người quyết tâm chống lại hoàn cảnh dù thành hay bại.
Thân an tại tài bạch hay quan lộc ở đây cũng cùng một thế tam hợp với Mệnh cũng như về vòng thái tuế có vị thế đặc biệt cần ghi lại. Nếu vị thế đặc biệt tức Cung thiên di thì vị thế tam hợp Mệnh hay thân ở vị thế lấn lên hay chống đối thì mới đủ khả năng hành động vươn lên với đời. Về các điểm này xin xem các ví dụ dẫn giải ở trên và nên áp dụng một cách linh động trong tương quan bề ngoài hay nội tâm thì mới nắm được yếu quyết của vòng thái tuế. Thiệt ra mối quan hệ về vòng thái tuế qua các mối liên hệ giữa các Cung số nói trên được dẫn giải bằng đường lối dung hòa hai quan niệm dùng dịch lý trở về nguyên khoa Tử Vi và khoa học hóa cho dễ diễn đạt thích ứng vào đời sống hiện đại.
Sau hết vòng thái tuế tức là hạn, các cụ thầy bói cao niên từ xưa vẫn thường nói : hạn thái tuế. Có thể nói rằng theo lối nhận xét trên đây cho nên trong nhiều lá số ngày xưa để lại người ta thấy rằng khi an sao trên 12 Cung thì 3 vòng sau tràng sinh thái tuế và lộc tồn đều an ở phía bên dưới như tràng sinh ở giữa, thái tuế bên phải, lộc tồn bên trái.
Ý niệm về vòng thái tuế và vòng Mệnh thân : vòng thái tuế tượng trưng cho các chính thống của mình, vòng Mệnh tượng trưng cho tư tưởng của mình, vòng thân tượng trưng cho hành động của mình. Vòng thái tuế là tên của tam hợp ba Cung có tên giống địa chi năm sinh. Vòng Mệnh là tam hợp 3 Cung Mệnh tài quan. Vòng thân là tên tam hợp 3 Cung có liên quan đến Cung thân.
Sau đó ta ghi nhận ngũ hành của mỗi vòng : thân tý thìn thủy, dần ngọ tuất hỏa, tỵ dậu sửu kim, hợi mão mùi mộc.
Vòng Mệnh cùng hành với vòng thái tuế, còn vòng thân ở thế ngũ hành xung khắc là người ngụy quân tử nói ngon lành mà hành động ác độc. Vòng Mệnh và vòng thân căn cứ trên luật tam hợp. Khi Cung Mệnh đóng ở vị trí nào so với vòng thái tuế là phải nhìn vào thế tam hợp của Cung an Mệnh như vòng tha nhân đối với vòng bản tính của đương số là vòng thái tuế. Tam hợp của Cung an thân là vòng hành động của đương số biện chứng quy luật ngũ hành ta vạch trần được tác phong đương số một cách rõ ràng. Thí dụ người tuổi tỵ (vòng thái tuế là tỵ dậu sửu), Cung an Mệnh đóng ở tuất vòng tha nhân là dần ngọ tuất là hỏa, Cung an thân đóng ở tý vòng hành động là thân tý thìn là thủy. Ta lý giải ngay số người này là mẫu người ra đời bị chèn ép ngược đãi (hỏa đốt kim), chịu nhiều thua thiệt vất vả (kim sinh thủy). Vòng Mệnh cùng hành với vòng thân nhưng được vòng thái tuế sinh xuất là người hiền lành nhu nhược an phận. Vòng Mệnh sinh nhập vòng thái tuế và vòng thái tuế lại sinh xuất vòng thân là người nói hay như làm dở, nói nhiều làm ít, nhiều lý thuyết ít thực hành, dốt hay nói chữ. Nếu trong vòng thái tuế không có địa không địa kiếp đà la là người chính nhân quân tử. Nếu trong vòng thái tuế có thêm kỵ đà không kiếp là người số phận hẩm hiu, có tài mà không có thời. Nếu hai sao tả hữu đứng ở thế đối lập vòng thái tuế hay ở thế sinh nhập vòng thái tuế là hạng hữu tài vô hạn làm điều khuấy đảo thiên hạ. Thí dụ tuổi ngọ vòng thái tuế là hỏa có hai sao tả hữu đồng Cung ở mùi thì dù có không kiếp địa kỵ hay không cũng là hạng lưu manh lừa đảo.
Chữ thời với vòng thái tuế : vòng thái tuế ngoài ý nghĩa cho biết thời may vận tốt 10 năm, nó còn Cung cấp một đức tính quí báu là tìm biết tính của con người, cũng như thử thách đương số trong sinh hoạt hàng ngày. Ta cần để ý về tuổi âm nam dương nữ như sau : trước khi tới thời kỳ 10 năm của thái tuế thì đã gặp 10 năm của vòng thiếu dương phúc đức tử phù. Tuổi dương nam và âm nữ lại gặp 10 năm của vòng thiếu dương sau khi đã được hưởng 10 năm của vòng thái tuế quan phù bạch hổ.
Cả hai cách cùng cho ta thấy : xét luật ngũ hành thì vòng thiếu dương phúc đức tử phù ở thế lấn so với vòng thái tuế quan phù bạch hổ. Thí dụ tuổi tuất dương nam thì vòng thái tuế là hỏa, còn vòng của thiếu dương là mộc, mộc sinh hỏa có nghĩa là mình đang gặp thuận lợi để lấn tới, lấy thời gian mộc để dưỡng cái ta, hỏa lợi thì có lợi thật nhưng luật thừa trừ đã xuất hiện để ổn định sự bất công. Cho nên ai bước vào thời kỳ này (vòng thiếu dương) sẽ gặp phải sao thiên không ở đồng Cung với thiếu dương, đó là một nét thâm thúy và đầy nhân văn tính nhất của khoa Tử Vi. Ở đời không nên tham vọng điều gì quá đáng vì sẽ gặp thiên không ở cuối đường hầm (hạn thiên không ai biết xem Tử Vi đều biết rõ tác dụng khủng khiếp của nó).
Cụ Thiên Lương đã triển khai vòng thái tuế về tầm quan trọng của nó giúp cho người xem cũng như người học Tử Vi nhận biết đại vận hên xui. Đại cương Cung nào chứa vòng tam hợp của thái tuế quan phù bạch hổ thì đại hạn 10 năm của Cung đó là thời vận tốt.
Thí dụ như Mệnh tại dậu, tuổi mão âm nam kim cục thì theo chiều nghịch Cung dậu từ 4 – 13, Cung thân 14 – 23, Cung mùi 24-33 (vòng thái tuế), do đó 10 năm đại vận 24 – 33 là lúc thịnh thời gặp nhiều may mắn. Tuy nhiên tùy theo tam hợp của vòng thái tuế, nếu gặp đầu Cung có thái tuế là đắc thời một cách chính đáng, quan phù là đắc thời trong sự tính toán và bạch hổ là đắc thời trong sự làm việc vất vả. Cho nên người có số Tử Vi thấy đến đại vận của vòng thái tuế kể như đến hồi thái lai thoải mái. Nhưng có một đặc điểm ly kỳ là nếu tiểu vận tới cung chứa vòng thái tuế lại phải đề phòng sự thiệt thòi đưa tới : tiểu vận đến Cung chứa sao quan phù đề phòng thị phi miệng tiếng ; tiểu vận đến Cung chứa sao bạch hổ đề phòng đau ốm tai nạn.
Nói tóm lại đại vận của vòng thái tuế là hên, tiểu vận là xui.
Chị ơi em có sự việc này rất lạ, ông ngoại em đã mất cách đây 36 năm trong thời kỳ đi học tập cải tạo. Vừa rồi ông đã trở về, nhập vào em của mợ dâu và xin gia đình làm lễ quy y Tam bảo cho ông.
Gia đình em có hỏi: Xác ông ở đâu để người nhà đem về lập mộ và tại sao ông lại trở về xin được quy y Tam bảo?
Ông trả lời: Không cần tìm xác ông để chôn cất làm gì. Ông thấy mình nghiệp rất nặng và đang phải đối diện với những gì mình đã gây ra. Vì vậy, ông muốn gieo nhân Phật để khi tái sanh trở lại kiếp người, gặp Phật pháp ông có thể phát tâm tu.
Gia đình em đã tìm thầy Thích Giác Hạnh – chùa Hội Phước, Bà Rịa – Vũng Tàu để xin Thầy quy y cho ông và Thầy đã đồng ý.
Vài ngày sau cô bạn lại gọi điện thoại tới và hỏi tôi có muốn đi cùng cô đến gặp thầy Giác Hạnh không? Tôi đồng ý.
Sáng hôm sau trên đường đến gặp Thầy, cô nói hôm qua ông ngoại em lại về và nói ngoài việc tìm Thầy quy y Tam Bảo, nhớ lập trai đàn cúng cầu siêu cho ông và những người cùng thời làm việc với ông hồi hướng để tạo công đức giúp ông và mọi người được siêu thoát.
Thầy Thích Giác Hạnh là vị Tăng sĩ khá nổi tiếng trong việc hóa giải các vong linh nhập vào người dương thế. Thầy hiểu khá rõ về thế giới người cõi âm.
Sau khi gặp thầy Giác Hạnh, tôi có ý định sẽ trực tiếp được gặp ông (người cõi âm) để phỏng vấn, trò chuyện về thế giới mà hiện ông đang tồn tại.
Điều quan trọng nhất tôi muốn hỏi là vì sao ông lại quay trở lại thế giới dương để được quy y Tam Bảo khi mà lúc còn sống ông chưa từng tiếp cận được với kiến thức Phật giáo. Nhưng rồi do bận công việc nên tôi đã không thể trực tiếp tiếp cận và phỏng vấn ông đúng như dự định. Cũng may trước đó tôi đã trao đổi với cô bạn đồng nghiệp về một số những vấn đề mà tôi muốn hỏi.
Vì cũng là một đệ tử mới quy y nên cô bạn (cháu ngoại của người cõi âm) đã đưa ra những những vấn đề mà tôi nói trước đó để hỏi ông. Thật là may mắn cuộc trò chuyện đó đã được ghi băng lại.
Để bạn đọc hiểu và tin sâu hơn nữa về Phật pháp tôi xin ghi lại cuộc trò chuyện dưới đây.
Vì được tiếp xúc nhiều lần khi ông trở về nên cuộc phỏng vấn ghi lại dưới đây là tổng hợp nhiều cuộc trò chuyện. Có nhiều thông tin trong cuộc phỏng vấn vì vấn đề tế nhị trong gia đình nên tôi không đưa ra, nhưng sẽ nói trong phần hai của bài viết – Luận về cuộc phỏng vấn.
Thông qua cuộc trò chuyện này chúng ta sẽ thấy những điều đức Phật đã nói trong các Kinh sách là chính xác. Lòng từ bi của Ngài thông qua các giáo lý không chỉ cứu vớt nỗi khổ của con người mà của tất cả các chúng sinh trong các cõi giới.
Cuộc trò chuyện với ông ngoại
Trước khi vào nội dung cuộc trò chuyện, tôi xin đưa ra lời thuyết giảng của ông Huỳnh Văn Lương trong cuộc gặp mặt cuối cùng với gia đình tại Rạch Kiến. Do đã thông hiểu Phật pháp, ông Lương (một người lính quân đội Việt Nam Cộng hoà) đã đưa các vong linh của những người lính cả hai phía (Bộ đội cụ Hồ và Lính Cộng hoà) đứng trước mâm cơm chay tuyên bố.
Hôm nay, tôi Huỳnh Văn Lương – Pháp danh Minh Tâm (chính xác là tối ngày 27/7 năm Tân Mão) tôi cùng mấy đứa con tôi xin thỉnh chư vị 2 bên cùng dân chúng ở đây (nhưng vong linh ở quê) nghe tôi thuyết giảng một lời.
Hôm nay, tôi đã quy y trước Tam Bảo. Cái thời của chúng tôi đã chấm dứt rồi, cho nên chúng tôi hạ vũ khí… Chúng ta cùng là dân nước Việt, đều là con người. Ai vì chủ nấy, chúng ta nên thương lượng hoà hảo, kết oan trái lại hạ vũ khí… Chúng ta cùng nhau quy về một đường.
Chúng ta là những con người … do nghiệp sát mà đầu thai thành người lính. Tôi đã ngộ được con đường của Phật đạo cho nên tôi mong mỏi các ông và dân chúng ở đây cùng tôi về với Phật…
Chúng ta hãy tỉnh giấc ngộ lại… Bỏ hết chắp tay như tôi đây này, Nam Mô A Di Đà Phật (3 lần). Các ông đã nghe lời như vậy tôi rất mang ơn.
Hôm nay cháu tôi cùng bằng hữu đã có mặt ở đây trợ duyên. Các ông hãy linh hiển nhận mâm cơm chay này để các chư Tăng hồi hướng công đức đưa chúng ta về thế giới Tây Phương Cực Lạc. Các ông chứng cho lòng thành thật của tôi… Nam Mô A Di Đà Phật (3 lần)… Các ông đã quỳ xuống hết rồi, đã chắp tay niệm Phật rồi. Minh Tâm đã thành công rồi. Dân ở đây người ta rất hoan hỉ rồi.
Hỏi: Nhân duyên gì mà ông đã gặp được Phật và phát tâm tu tại cõi giới âm?
Trong quá khứ tiền kiếp, khi còn trẻ ông có vào chùa Phật nhưng chủ yếu là quậy phá vui chơi. Nhờ phúc báo nên đã gieo được chủng tử Phật trong tâm thức. Sau khi mất ông vẫn thường về nhà nhưng không tiếp cận được với ai, do người thân không nhớ đến ông. Ngày giỗ ông cũng không ăn được gì, vì trên giấy báo tử không đúng với ngày mất của ông. Ông phải chịu sự đói khát, lạnh lẽo trong suốt những năm qua. May nhờ bà mợ dâu khi ăn thường mời cơm nên ông theo bà về quê nhân dưới quê có giỗ. Ông ở luôn dưới quê (Rạch Kiến). Tại đây ông thường nghe kinh Phật mỗi tối do hai cô em gái đầu là Phật tử tụng kinh mỗi ngày. Vì nghiệp sát nặng nên ông không thể vào chùa được. Sau khi quy y ông có thể vào chùa để nghe giảng kinh từ các vị Tăng.
Hỏi: Vì sao ông không quy y Tam Bảo ở cõi âm mà lại mượn thân xác lên dương trần quy y?
Muốn quy trước Tam Bảo phải tam quy (quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng), ngũ giới (không sát sinh, không uống rượu, không nói dối, không tà dâm, không trộm cắp). Tam quy thì có thể thực hiện được, nhưng ngũ giới thì không, vì còn thân xác đâu mà thực hiện ngũ giới.
Hỏi: Chúng sinh cõi âm có tu được không? nghĩa là có ngồi thiền tụng kinh niệm Phật được không?
Không thể tu được, còn thân xác đâu mà tu. (Các vọng tưởng trỗi dậy không ngừng, không thể dẹp bỏ được). Thân người quý lắm. Thần thức ở trong thân người mới tu được. Nếu ai còn thân người thì cố gắng mà tu. Tái sanh kiếp sau ông sẽ tu. Ông quy y lần này là để gieo chủng tử vào tâm thức, kiếp sau tái sanh lên kiếp người gặp Phật pháp là ông tu liền. Ông có duyên thầy trò với thầy Thích Giác Hạnh trong tiền kiếp.
Hỏi: Ông có thể nói rõ hơn về nhân duyên thầy trò giữa ông với thầy Thích Giác Hạnh được không?
Trong một kiếp quá khứ, ông là một thanh niên ngang ngược vào chùa chơi. Lúc đó thầy Giác Hạnh là một vị Tăng tu ở trong chùa. Thầy có khuyên ông nên quy y Tam Bảo. Ông nói là chỉ khi nào ông không còn thân xác ông mới quy y. Từ nhân duyên này mà duyên thầy trò đã hình thành.
Hôm nay Thầy đã quy y cho ông. Nhưng vì ông không có thân xác nên duyên thầy trò mới chỉ 50%. Thông thường duyên thầy trò phải gặp nhau 3 kiếp. Trong tương lai thầy Thích Giác Hạnh sẽ là một vị Tăng một kiếp nữa khi đó ông sẽ là một đệ tử 100% của Thầy.
Hỏi: Điều đó có nghĩa là trong kiếp này thầy Giác Hạnh vẫn chưa được vãng sanh về Tây Phương Cực lạc?
Chưa, vì Phật Tổ còn muốn Thầy ở lại để tiếp tục độ chúng sinh trong một kiếp nữa sau đó mới vãng sanh được.
Hỏi: Ông đã mất thân xác được 36 năm. Ông tiếp cận được Phật pháp lâu chưa? Bao giờ ông tái sanh?
Mới tiếp cận được gần đây thôi, nhưng sức xoay chuyển nghiệp báo rất nhanh, trong từng sát na. Ông sắp sửa có thể siêu thoát và tái sanh trở lại. Khoảng trong ba tháng nữa, khi nào cháu nằm mộng thấy Phật là ông tái sanh.
Hỏi: Tâm trạng của ông sau khi chết (tức là mất thân xác) như thế nào? Tại sao người chết không ra đi luôn mà còn quay trở lại dương trần làm gì ?
Con người có 2 phần, phần hồn và phần vật chất. Phần hồn nhà Phật gọi là vong linh. Khi đưa vong linh vào thờ thì gọi là hương linh. Con người có 2 cách chết. Một là, chết đột ngột vì tai nạn, vì bệnh tật hay một lý do nào đó không có sự chuẩn bị trước. Hai là, chết già, mọi thứ đã buông bỏ và có sự chuẩn bị trước. Những người chết trẻ hay chết đột ngột đều có nhiều uẩn khúc nên bám chấp vào cuộc sống hiện tại. Tâm trạng khi chết vẫn còn lưu giữ đến bây giờ. Vì vậy mà ông mới quay trở lại gặp gia đình.
Hỏi: Vì sao ông không về sớm hơn mà bây giờ mới quay trở về?
Ông không thể về sớm hơn là vì người cho ông mượn thân xác chưa đủ công đức và chưa phát nguyện độ chúng sanh. Bây giờ người ấy đã phát nguyện “Bỏ ác, làm thiện cứu độ tất cả chúng sanh” họ đã đủ công đức. Vì người cho ông mượn thân xác có căn lành, tu sâu nên mới nhìn thấy ông khi ông quay trở về.
Hỏi: Sau khi mất thân ông thấy những gì diễn ra xung quanh ông?
Ông thấy xung quanh ông chỉ toàn một màu đen đỏ tối om. Ông thấy mình khổ sở vô cùng không thấy cái gì ở phía trước. Ông phải sống trong cảnh giới đói khát, lạnh lẽo và không thể trở về nhà được. Không ai cho vào. Ông hiều đó là do nghiệp sát ông phải trả.
Sau khi tiếp cận Phật pháp (sám hối, trì chú Đại Bi) ông thấy xung quanh ông dần dần sáng ra, thân tâm nhẹ dần và thấy rõ con đường đi của mình.
Hỏi: Còn những người xung quanh ông?
Họ cũng có những sắc mầu gần giống như vậy. Chỉ có những người trì tụng kinh Phật thường xuyên và những người tu mới có màu sáng trắng sau khi rời bỏ thân xác. Ông đã nhìn thấy màu sáng trắng đó quanh đầu Ni Sư trưởng Thích nữ Như Vân ở chùa Long Hoa Ni Tự – Rạch Kiến.
Hỏi: Những người quay trở về dương thế như ông có nhiều không?
Nhiều lắm. Nếu người dương không giữ đầu óc trong sáng là bị họ nhập liền. Vì họ cũng đang rất muốn có thân xác. Chỉ cần tham, sân, si…khởi lên là họ biết liền. Vọng tưởng càng mạnh thì họ càng dễ nhập.
Hỏi: Khi được thân người thì phải tu như thế nào để sau khi mất thân xác được vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc?
Muốn vãng sanh được về Tây phương Cực Lạc thì phải trì 6 chữ Nam Mô A Di Đà Phật thường xuyên, liên tục. Phải ăn chay, niệm Phật, làm công đức. Tu thập thiện trì ngũ giới. Khi lâm chung phải niệm 10 tiếng. Nếu có cơ duyên tốt có người hộ niệm thì nhất định sẽ vãng sinh được về Tây Phương Cực Lạc.
Hỏi: Trước đây nghe bà ngoại nói ông không bao giờ dạy bảo ai điều gì? Sao bây giờ khi trở về gặp ai, ông cũng khuyên mọi người nên tu và niệm Phật? Còn các đạo giáo khác thì như thế nào?
Đừng nghĩ sau khi chết là hết. Cuộc đời ở trần thế chỉ là một giấc chiêm bao vô thường và ngắn ngủi. Ông muốn thức tỉnh mọi người. Vì khi mất thân người rồi xuống đây chẳng còn gì ngoài tâm thức biến hiện của mình. Khi chỉ còn tâm thức thì mới biết đạo Phật là chánh pháp, chỉ có đạo Phật mới có thể cứu thoát con người ra khỏi cảnh khổ và siêu thoát được. Những nghiệp mà mình đã tạo trước đây sẽ đeo bám mình suốt không biết bao giờ mới thoát ra được.
Nam Mô A Di Đà Phật! Nếu ai đọc xong cuộc phỏng vấn này bỗng phát tâm tu hoặc đã tu tự nhiên cảm thấy tinh tấn hơn thì xin hồi hướng công đức này cho ông Huỳnh Văn Lương cùng các cộng sự của ông và những người lính của cả 2 bên để họ được siêu thoát.
Nam Mô A Di Đà Phật! Nam Mô A Di Đà Phật! Nam Mô A Di Đà Phật! Tác giả: Hồng Vân (báo Phật tử VN)
Luận cát, hung của sao Tam Bích khi kết hợp trong Cửu tinh
Sao Tam Bích là sao đứng hàng thứ 3 trong Cửu tinh. Tìm hiểu về sự kết hợp giữa Tam Bích và các sao khác để vận dụng khi lập tinh bàn chọn đất xem nhà.
► Xem bói ngày sinh để biết tình yêu, hôn nhân, vận mệnh, sự nghiệp của mình
Sao Tam Bích là sao Lộc Tồn, tính thích đấu đá nên còn gọi làXi Vưu. Nếu vượng thì tài lộc đầy đủ, chấn hưng gia tộc, cơ nghiệp vững vàng. Con cái dòng trưởng đại hưng vượng. Nếu suy tử thì người nhà dễ bị điên hoặc hen suyễn, chân tàn tật, góa vợ, kiện tụng thị phi hoặc trở thành trộm cướp. Tam Bích gặp Nhất Bạch là sinh nhập. Nếu vượng thì con trưởng được quyền quý, đinh tài đều đại phát, thi cử đỗ đạt. Nếu suy thì con cháu ngành trưởng lụn bại, tính khí ngổ ngáo, có thể dẫn tới họa quan tụng, hoặc vì bất hòa với xóm giềng mà phải dọn nhà đi xa. Việc làm phần lớn không thuận lợi, hơn nữa còn dễ bị thương tật ở tay chân. Tam Bích gặp Nhị Hắc là khắc xuất. Nếu vượng thì được giàu có về nhà cửa ruộng vườn, con trưởng tài đinh đại phát. Nếu suy thì dễ có sát khí chống đối nhau, gia đạo bất hòa, vợ chồng không êm ấm. Thường vì tranh chấp với cấp trên mà gặp điều tai tiếng. Dễ mắc chứng đau dạ dày, khó tiêu hóa, hoặc vì đánh nhau mà chân bị thương tật; nói chung là gia đình gặp nhiều vất vả, trở ngại mà vẫn thất bại tan vỡ. Tam Bích gặp Tam Bích là tỵ hòa. Nếu vượng thì thanh danh hiển hách, hưng gia lập nghiệp, tiền của tương đối khá giả. Nếu suy thì trong nhà sinh ra trộm cướp hoặc bị trộm cướp, dễ bị thương tật ở chân tay, hoặc vì đánh nhau với người mà bị tù tội. Sao Tam Bích gặp Tứ Lục là tỵ hòa. Nếu vượng thì Tam và Tứ là chính phối, sinh nhiều quý tử, sự nghiệp và tài vận phát triển hanh thông. Nếu suy thì trong nhà sinh ra trộm cắp hoặc ăn xin, thường mắc chứng dị ứng hoặc bị thương ở tay chân, đau gan, đau mật. Nếu gặp Thái Tuế e rằng gặp kiếp nạn vì tình hoặc bị rắn cắn. Tam Bích gặp Ngũ Hoàng là khắc xuất. Nếu vượng thì tiền tài khá giả và quyền quý, có thể làm quan to. Nếu suy thì dễ bị các chứng độc như bọ cạp, rắn, rết cắn; tâm tư uất kết dễ mắc bệnh gan, hoặc thương tật ở chân. Tam Bích gặp Lục Bạch là khắc nhập. Nếu vượng thì quan trường lao đao vất vả nhưng sự nghiệp ắt thành, trở thành người phụ tá đắc lực cho cấp trên. Nếu suy thì bị quan tụng hoặc tai họa binh đao, dễ bị thương tật ở chân tay do kim loại gây nên; đôi khi mắc bệnh gan, gia đạo thường xảy ra tranh chấp. Tam Bích gặp Thất Xích là khắc nhập. Nếu vượng thì nguồn tiền của tăng tiến, có chức quyền cả văn lẫn võ. Nếu suy thì là “xuyên tâm sát”, thường mắc các chứng bệnh ở tay chân, gan mật; hoặc bị quan tụng thị phi. Nếu phương Đoài bị khắc phá thì gan bị thương tổn hoặc mắc chứng thổ huyết. Trong nhà có kẻ đam mê tửu sắc, bị trộm cướp trèo tường khoét vách phá hoại danh tiết con gái trong gia đình, chốn phòng the không hòa thuận, các tai họa thường do con trưởng chịu. Tam Bích gặp Bát Bạch là khắc xuất. Nếu vượng thì xuất hiện văn tài bậc nhất, lại phát cả tài lẩn đinh. Nếu suy thì con thứ gặp nhiều tai họa, dễ bị thương gân cốt hoặc bị chó cắn. Anh em trong nhà bất hòa hoặc vì tranh giành gia sản mà gây ra kiện tụng. Sao Tam Bích gặp Cửu Tử là sinh xuất. Nếu vượng thì phát như sấm dậy, con cháu thông minh, văn tài hiếm thấy, hưởng giàu sang được nhiều năm. Nếu suy thì tai tiếng thị phi chồng chất liên tiếp, thường mắc các chứng đau mắt, đau đầu; ngoài ra còn dễ gặp hỏa hoạn. ST
Lão Tử nói: “Hợp bão chi mộc, sinh vu hào mạt, cửu tầng chi dài, khởi vu lũy thổ, thiên lý chi hành, thủy vu túc hạ”. Chân tuy ở dưới cùng của thân thể nhưng khả năng chống đố lớn nhất, có thể giúp chúng ta đội trời đạp đất. Do đó, xem bói tướng thuật Trung Quốc truyền thông cũng chú trọng tới đặc trưng của bộ phận này để đoán vận thế.
Tương truyền, gian thần đời Tống là Tần Cối có chân dài. Một nhà xem bói tướng pháp nhìn thấy Tần Cối liền nói: “Người này phá nước hại dân, e thiên hạ đều chịu họa, nhiều quân tướng chịu chết dưới tay ông ta”, Về sau lời nói của nhà tướng pháp quả nhiên ứng nghiệm.
Thông thường mà nói, chân nên dài, đoan chính, rộng, nhỏ, mềm mại mới là tướng phú quý. Chân lệch, gầy, hẹp ngang, thô cứng là tướng bần tiện. Chân tuy to rộng nhưng lại gầy và mỏng cả đời bần tiện. Tuy chân mập dày nhưng rộng và ngắn thì cả đời cùng khổ. Người có gót chân hồng thì con cháu đươc nhờ phúc. Gót chân bằng phẳng thì ngu đần, nghèo khổ. Ngón chân nhỏ dài thì lương thiện trung thành. Ngón chân đoan chính và đều thì tính tình hào phóng. Chân mập và vuông vắn thì có nhiều gia tài. Tóm lại, chân quý nhân nên nhỏ và dày, chân tiện nhân thì mỏng và to.
Xem bói tướng pháp thường cho rằng, gan bàn chân không có đường vân thì sự sang hèn khác biệt rất lớn. Gan bàn chân không có đường vân là tướng ngu đần, hạ tiện. Gan bàn chân mềm mịn và nhiều đường vân là phú quý. Nếu lòng bàn chân thô cứng và ít đường vân là bần cùng. Tướng thuật cũng phân loại đường vân dưới chân, đồng thời gắn cho nó những ngụ ý khác nhau. Dưới chân có vân rùa thì phải gánh vác trọng trách, dưới chân có vân hình chim thì giữ chức quan trọng
Dưới chân có vân như thêu gấm thì nhiều lộc. Gan bàn chân có đường vân như hình cây thì nhiều gia tài, có vân như hình chiếc kéo thì nhiều của cải. Ngược lại, nếu 10 ngón chân không có đường vân chủ về người phá hại gia tài.
Nhờ được chủ nhân chăm chút tỉ mỉ và khéo léo từ khu vực chế biến, nấu nướng, quầy bar ăn sáng cho đến nơi ăn uống...phòng bếp này trở nên cực kỳ ấn tượng mà vẫn nhẹ nhàng.
Phòng bếp này được thiết kế theo phong cách đồng quê nhẹ nhàng, mộc mạc. Chính vì thế, không khó để bạn nhận ra gỗ là vật liệu được lựa chọn sử dụng nhiều hơn cả tại đây. Chiếc bàn ở khu vực chuẩn bị thức ăn được làm bằng gỗ tự nhiên, không sơn vẽ bỗng trở nên nổi bật bên cạnh chiếc tủ gỗ sơn đen. Việc phân chia hai khu vực chuẩn bị và chế biến tách biệt như thế này cũng góp phần làm cho nơi nấu nướng gọn gàng, đỡ rối mắt hơn.
Khu vực nấu nướng tiện ích với phong cách mộc mạc.
Góc ăn uống nên thơ, quyến rũ
Đây được xem là khu vực quyến rũ nhất của căn bếp này, bởi nó được tạo nên từ nhiều yếu tố khiến người ta cảm thấy vô cùng thích thú. Chiếc bàn gỗ sơn trắng, bộ ghế mây kết hợp gối tựa đặc trưng cho phong cách vintage. Lọ hoa thuỷ tinh cùng chân nến xuất hiện duyên dáng trên bàn ăn, ngoài ra, chủ nhân còn đầu tư thêm chiếc đèn chùm màu đen sang trọng với chữ LOVE đầy ý nghĩa nữa đấy.
Góc ăn uống nên thơ, quyến rũ nhờ nội thất và phụ kiện...
Quầy bar ăn sáng đầy màu sắc
Tuy chỉ chiếm một diện tích rất nhỏ nhưng quầy bar dành cho bữa điểm tâm này được chủ nhân ưu ái khá nhiều. Từ việc dùng gỗ sồi thay thế mặt bàn bằng đá granite cũ để tạo nên điểm nhấn, hai chiếc ghế sắc màu hồng - xanh nổi bật cho đến những chậu hoa nhỏ đầy tươi mới… Ngoài ra, trên bức tường trắng còn được tô điểm bằng chiếc đồng hồ tự chế thật sáng tạo cùng chiếc bảng đen ghi chú xinh xắn nữa.
Quầy bar ăn sáng tuy nhỏ nhưng đầy màu sắc.
Tủ bếp tông màu đen cổ điển
Màu đen không phải là màu sắc phổ biến trong phòng bếp nhưng nếu dám sử dụng, màu sắc này sẽ đem đến sự sang trọng đồng thời đảm bảo cái nhìn sạch sẽ, tinh tươm cho không gian nấu nướng. Ở đây, tủ bếp bằng gỗ sơn màu đen pha xám nhạt kết hợp những đường vân tự nhiên trông rất đẹp mắt. Trên tay nắm của hộc tủ còn được treo một trái tim bọc vải xinh xinh, góp phần làm cho chiếc tủ bếp vốn cứng nhắc trở nên mềm mại hơn…
Tủ bếp gỗ sơn đen sạch sẽ và sang trọng.
Những ngăn kéo tiện ích
Một chiếc tủ hoàn hảo, bên cạnh tính thẩm mỹ về hình dáng, màu sắc, kích thước… thì còn phải kể đến tính năng mà nó mang lại. Những món đồ, phụ kiện bếp núc đa dạng đòi hỏi nhiều không gian lưu trữ bởi vậy chiếc tủ nhiều ngăn kéo khác nhau sẽ được ưu tiên trong phòng bếp. Nên chọn loại tủ mà bên trong mỗi ngăn lại được chia thêm những hộc nhỏ để việc lưu trữ thêm ngăn nắp và khoa học.
Tiện ích hơn với nhiều hộc lưu trữ trong ngăn kéo.
(Theo TTVN) Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Khánh Linh (##)
Thiên Khôi và Thiên Việt đều là Nam Đẩu Tinh, nhưng khác nhau một chút là Khôi thì Dương Hỏa đới Kim, còn Việt là Âm Hỏa đới Mộc.
Về biểu tượng thân thể thì Thiên Khôi là đầu, Thiên Việt là hai vai. Mệnh hay hạn có nhiều sao xấu hội họp thì bộ Thiên Khôi Thiên Hình (tượng là dao, kiếm) đồng cung chỉ việc đầu bị gươm dao chém phải, đầu thường có tì vết hoặc có sẹo. Nếu Mệnh có Thiên Việt Song Hao đồng cung hay Thiên Hình đồng cung thì dễ bị lệch vai, so vai. Về biểu tượng vật dụng thì Khôi chỉ văn bằng, nghị định, giấy khen, còn Việt thì chỉ bút nghiên. Trong tang chế thì Khôi Việt chỉ thầy cúng, ông sư, ông cha, người làm lễ tang
Khôi Việt vừa là văn tinh, vừa là quí tinh, chủ về khoa giáp, văn chương, quyền hành chức tước. Khôi Việt còn được gọi là Thiên Ất Quí Nhân. Cả hai sao đều không an ở hai cung Thìn Tuất (La Võng).
Cả hai sao đều miếu vượng ở cung ban ngày từ Dần đến Ngọ, hãm địa tại cung Thủy (Hợi Tí) và cung Thổ (Sửu Mùi), còn lại thì bình thường (tại cung Thân Dậu hành Kim). Ở vị trí cung ban ngày thì Khôi Việt giống như bằng cấp được đem ra cho công chúng xem, là người lãnh đạo được mọi người biết đến. Nếu xét về ngũ hành, khi ở cung ban ngày thì hoặc được cung sinh sao hoặc đồng hành với sao. Ở cung ban đêm hoặc tại Sửu Mùi thì ví như bằng cấp không được treo ra ngoài nên ít được người biết đến, là người có uy quyền ngấm ngầm. Nếu xét về ngũ hành thì ở cung ban đêm, hành sao khắc hành cung (Hỏa khắc Kim) hoặc hành cung khắc hành sao (Thủy khắc Hỏa) hoặc hành sao sinh hành cung (Hỏa sinh Thổ). Khôi Việt miếu vượng không nên gặp Tuần Triệt, giống như bằng cấp bị rách nát nên khoa trường thi cử bị lận đận hoặc không đỗ đạt cao được, hoặc học hành dang dở nhưng khi hãm địa thì rất cần Tuần Triệt, nhưng cũng phải lận đận ban đầu mới có được bằng cấp
Khôi Việt rất cần cho lá số quí cách bởi vì thiếu Khôi Việt thì giống như thiếu thiên uy, không được người kính nể, đặc biệt là mệnh Tử Phủ hoặc Nhật Nguyệt gặp Khôi Việt rất thích hợp (Hỏa sinh Thổ).
Khôi Việt thủ Mệnh là cách ư gia quốc vi nhân trưởng, cho dù có hãm địa cũng là cách trội hơn người bình thường. Có Khôi Việt thủ chiếu Mệnh thì được mọi người nể phục, có uy, luôn đứng đầu cho dù là hạng người nào (trùm du đãng hay vị lãnh tụ), ở nhà thì đứng đầu, được cha mẹ thương yêu hoặc có tiếng nói trong gia đình, hoặc là con trưởng, đoạt trưởng. Ra ngoài thì tùy theo lá số tốt xấu và vị tri đắc hãm mà luận đoán, tốt thì lãnh đạo thiên hạ, trưởng cơ quan ban ngành, xấu thì cũng được người nể phục, tiếng nói có trọng lượng và dễ kề cận lui tới với thượng cấp hoặc người có danh có chức quyền, được tin tưởng giao cho những việc quan trọng. Khôi Việt thủ chiếu Mệnh thì thông minh, có năng khiếu đặc biệt nên thường giỏi về một điều gì đó, có mưu cơ, quyền biến, có tài lãnh đạo, tổ chức, chỉ huy và có đầu óc không chịu thua người, muốn hơn người, có óc lãnh tụ, tính thích chỉ huy. Khôi Việt thủ chiếu mệnh thì tự ái rất cao, không thích bị nói nặng nhẹ và không chịu được lời nói nặng nhẹ. Người có Khôi Việt thì không có tính thù dai, chấp nhất, nhỏ mọn, là người dễ tha thứ, khoáng đạt, cao thượng, trừ khi gặp Không Kiếp,đặc biệt hãm địa thì dễ ăn miếng trả miếng do bị chạm tự ái. Tuy vậy cũng không phải là hạng người nhỏ mọn. Khôi Việt đặt nặng uy tín cá nhân, khi giao du với người lớn tuổi hoặc có chức quyền tiếng tăm thường có lợi, được giúp đỡ. Mệnh có Khôi Việt gặp hạn xấu thì được người giúp đỡ, thông thường là người có chức có quyền nên Khôi Việt giải hạn xấu cũng mạnh. Chú ý rằng Khôi Việt đủ bộ mới mạnh, nếu đứng một mình và bị hãm địa thì giảm thiểu rất nhiều ý nghĩa. So sánh giữa Khôi và Việt, nếu cùng đắc hãm như nhau thì tài năng quyền uy của Khôi mạnh hơn Việt, về vai vế trong gia đình thì Khôi thường là con trưởng, còn Việt là thứ đoạt trưởng. Theo nghĩa Hán Việt thì kẻ làm đầu sỏ cả một đảng gọi là "khôi".
"Chúc" là lời dặn dò, phó thác. "Chúc thư" hay "Di chúc" là lời dặn dò của người chủ gia đình, người lãnh đạo đất nước trước khi mất. Chúc thư, di chúc viết thành văn bản có giá trị hành chính, pháp lý. Nếu không biết chữ, hoặc yếu quá không viết được nữa thì nhờ người khác viết, đọc lại cho nghe rồi ký tên hoặc điểm chỉ vào dưới. Di chúc của nhà vua thì gọi là di chiếu.
Nội dung chính của chúc thư thường là việc chia gia tài. Nhà có bao nhiêu ruộng đất, nhà cửa, chia cho con trai con gái, ai được hưởng khoảnh nào, mấy mẫu, mấy sào ở đâu, còn lại bao nhiêu dành cho mẹ làm của dưỡng lão, giao người nào chăm nom. Nếu còn bao nhiêu nợ làng, nợ họ cũng giao phó cho con nào phải đòi, phải trả. Quy định giành bao nhiêu làm ruộng hương hỏa, giao cho con trưởng hoặc cháu đích tôn. Di chiếu của nhà vua giao cho ai là đại thần có mệnh phò thái tử lên ngôi. Nếu ngôi thái tử chưa định thì chuyền chỉ cho hoàng tử nào nối ngôi...
Thời nay, nam nữ bình quyền, nếu cha mất trước đã có mẹ nắm toàn bộ quyền hành. Thời trước, người mẹ, người vợ sau 3 năm tang chồng nếu muốn tái giá thì đi tay không, nếu ở lại nuôi con cũng không được nắm toàn quyền, còn phải lệ thuộc các ông chú, ông bác trong họ. Nếu còn có nợ thì phải trả hết.
Thế nên, có những gia đình giàu có nhưng vô phúc, bạc đức: Cha mẹ nằm xuống anh em đùn đẩy nhau, chưa lo việc chôn cất, chỉ chăm chú tranh giành tài sản, để thiên hạ xỉ vả. Vì vậy, khi còn khoẻ, các cụ đã phải lo xa: Chia gia tài trước, định trách nhiệm sẵn, mua sắm bộ hậu sự (áo quan) có người còn dặn trước cả việc chôn cất, tang chế, cỗ bàn, đình đám..
Trích di chúc của Chủ Tịch Hồ Chí Minh:
"...Suốt đời tôi hết lòng phục vụ Tổ quốc, phục vụ Cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa. Sau khi tôi qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thời giờ và tiền bạc của nhân dân..."
Ngày 10-5-1969
Di chúc của Tam nguyên Yên Đổ:
"Kém hai tuổi xuân đầy chín chục Số thầy sinh phải lúc dương cùng Đức thày đã mỏng mòng mong Tuổi thầy lại sống hơn ông cụ thầy Học chẳng có rằng hay chi cả Cưỡi đầu người kể đã ba phen Tuổi là tuổi của gia tiên Cho nên thầy được hưởng niên lâu ngày. ấy thủa trước ông mày chẳng đỗ Hoá bây giờ cho bố làm nên Ơn vua chửa chút báo đền Cúi trông hổ đất, ngửng lên thẹn trời Sống không để tiếng đời ca thán Chết được về quê quán hương thôn Mới hay trăm sự vưông tròn Sống lâu đã trải chết chôn chờ gì? Đồ khâm niệm chớ nề xấu tốt Kín chân tay đầu gót thời thôi Cỗ đừng to lắm con ơi Hễ ai chạy lại con mời người ăn
Tế đừng có viết văn mà đọc Trướng đối đừng gấm vóc làm chi Minh tinh con cũng bỏ đi Mời quan đề chủ con thì không nên Môn sinh chớ bỏ tiền đạt giấy Bạn của thầy cũng vậy mà thôi Khách quen chớ viết thiếp mời Ai đưa lễ phúng con thời chớ thu Chẳng qua nợ để cho người sống Chết đi rồi còn ngóng vào đâu Lại mang cái tiếng to đầu Khi nay bày biện, khi sau chê bàn Cờ biến của vua ban ngày trước Khi đưa thày con rước đầu tiên Lại thuê một lũ phường kèn Vừa đi vừa thổi mỗi bên dăm thằng Việc tống táng nhung nhăng qua quýt Cúng cho thầy một chút rượu hoa Đề vào mấy chữ trong bia, Rằng: "Quan nhà Nguyễn cáo về đã lâu"
Tết Nguyên Đán hay còn gọi là Tết Cả, là lễ hội cổ truyền lớn nhất, lâu đời nhất, có phạm vi phổ biến rộng nhất, từ Nam Quan đến Cà Mau và cả vùng hải đảo, tưng bừng và nhộn nhịp nhất của dân tộc. Từ những thế kỷ xa xưa thời Lý, Trần, Lê, ông cha ta đã cử hành lễ Tết hàng năm một cách trang trọng.
Tết Nguyên Đán là khâu đầu tiên và quan trọng nhất trong hệ thống lễ hội Việt Nam, mà phần “lễ” cũng như phần “hội” đều rất phong phú cả nội dung cũng như hình thức, mang một giá trị nhân văn sâu sắc và đậm đà. Việc ông cha ta xác định Tết Cả đúng vào thời điểm kết thúc một năm cũ, mở đầu một năm mới theo âm lịch, là một chu kỳ vận hành vũ trụ, đã phản ánh tinh thần hòa điệu giữa con người với thiên nhiên (Đất-Trời-Sinh vật), chữ NGUYÊN có nghĩa là bắt đầu, chữ ĐÁN có nghĩa là buổi ban mai, là khởi điểm của năm mới. Đồng thời, Tết cũng là dịp để gia đình, họ hàng, làng xóm, người thân xa gần sum họp, đoàn tụ, thăm hỏi, cầu chúc nhau và tưởng nhớ tri ơn ông bà, tổ tiên.
Xét ở góc độ mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên. Tết – do tiết (thời tiết) thuận theo sự vận hành của vũ trụ, biểu hiện ở sự chu chuyển lần lượt các mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông – có một ý nghĩa đặc biệt đối với một xã hội mà nền kinh tế vẫn còn dựa vào nông nghiệp làm chính. Theo tín ngưỡng dân gian bắt nguồn từ quan niệm “Ơn trời mưa nắng phải thì”, người nông dân còn cho đây là dịp để tưởng nhớ đến các vị thần linh có liên quan đến sự được, mất của mùa màng như thần Đất, thần Mưa, thần Sấm, thần Nước, thần Mặt trời… người nông dân cũng không quên ơn những loài vật, cây cối đã giúp đỡ, nuôi sống họ, từ hạt lúa đến trâu bò, gia súc, gia cầm trong những ngày này.
Về ý nghĩa nhân sinh của Tết Nguyên Đán, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng trước hết đó là Tết của gia đình, Tết của mọi nhà. Người Việt Nam có tục hằng năm mỗi khi Tết đến, dù làm bất cứ nghề gì, ở bất cứ nơi đâu, kể cả những người xa xứ cách hàng ngàn kilômét, vẫn mong được trở về sum họp dưới mái ấm gia đình trong 3 ngày Tết, được khấn vái trước bàn thờ tổ tiên, nhìn lại ngôi nhà thờ, ngôi mộ, giếng nước, mảnh sân nhà, nơi mà gót chân một thời bé dại đã tung tăng và được sống lại với bao kỷ niệm đầy ắp yêu thương ở nơi mình cất tiếng chào đời. “Về quê ăn Tết”, đó không phải là một khái niệm thông thường đi hay về, mà là một cuộc hành hương về nơi cội nguồn, mảnh đất chôn nhau cắt rốn. Theo quan niệm của người Việt Nam, ngày Tết đầu xuân là ngày đoàn tụ, đoàn viên, mối quan hệ họ hàng làng xóm được mở rộng ra, ràng buộc lẫn nhau thành đạo lý chung cho cả xã hội: tình gia đình, tình thấy trò, con bệnh với thầy thuốc, ông mai bà mối đã từng tác thành đôi lứa, bè bạn cố tri, con nợ và chủ nợ…
Tết cũng là dịp “tính sổ” mọi hoạt động của một năm qua, liên hoan vui mừng chào đón một năm với hy vọng tốt lành cho cá nhân và cho cả cộng đồng. Nhưng rõ nét nhất là không khí chuẩn bị Tết của từng gia đình. Bước vào bất cứ nhà nào trong thời điểm này, cũng có thể nhận thấy ngay không khí chuẩn bị Tết nhộn nhịp và khẩn trương, từ việc mua sắm, may mặc đến việc trang trí nhà cửa, chuẩn bị bánh trái, cỗ bàn, đón tiếp người thân ở xa về… Đối với các gia đình lớn, họ hàng đông, có quan hệ xã hội rộng, đông con cháu, dâu rể, thì công việc chuẩn bị càng phức tạp hơn.
Theo tập tục, đến ngày 23 tháng chạp là ngày đưa tiễn ông Táo về trời để tâu việc trần gian, thì không khí Tết bắt đầu rõ nét. Ngày xưa dưới thời phong kiến, từ triều đình đến quan chức hàng tỉnh, hàng huyện đều nghĩ việc sau lễ “Phất thức” (tức lễ rửa ấn, rửa triện). Ở cấp triều đình, trong lễ nầy có sự hiện diện của nhà vua, các quan đều mặc phẩm phục uy nghiêm. Xem thế đủ biết rằng ngày tết được coi trọng như thế nào. Sau đó, các quan cất vào tủ, niêm phong cẩn thận. Không một văn bản nào được kiềm ấn, mọi pháp đình đều đóng cửa. Con nợ không thể bị sai áp, các tội tiểu hình không bị trừng phạt, tội nặng thì giam chờ đến ngày mồng 7 tháng giêng (lễ khai hạ) mới tiến hành giải quyết. Như vậy, Tết Cả kéo dài từ ngày 23 tháng chạp (một tuần trước giao thừa) đến mồng 7 tháng giêng (một tuần sau giao thừa).
Không biết Tết cổ truyền của dân tộc xuất hiện từ bao giờ, nhưng đã trở nên thiêng liêng, gắn bó trong tâm hồn, tình cảm của mỗi người dân Việt Nam. Những tục lệ trò vui trong dịp Tết, chiếc bánh chưng xanh, mâm ngũ quả trên bàn thờ gia tiên, cành đào, chậu quất khoe sắc trong mỗi gia đình đã trở thành một phần hình ảnh của quê hương để mỗi người Việt Nam dù sống ở nơi đâu mỗi độ xuân về lại bồi hồi nhớ về đất nước với bao tình cảm nhớ nhung tha thiết. Làm sao quên được thuở ấu thơ cùng đám trẻ con ngồi vây quanh nồi bánh chưng sôi sùng sục chờ giờ vớt bánh! Làm sao có thể quên được những phiên chợ Tết rợp trời hoa!
Ngày Tết chính thức bắt đầu từ giao thừa. Đây là thời điểm thiêng liêng nhất trong năm, thời điểm giao tiếp giữa năm cũ và năm mới, thời điểm con người giao hòa với thiên nhiên, Tổ tiên trở về sum họp với con cháu. Cúng giao thừa xong cả nhà quây quần quanh mâm cỗ đã chuẩn bị sẵn, uống chén rượu đầu tiên của năm mới, con cái chúc thọ ông bà cha mẹ, người lớn cho trẻ em tiền quà mừng tuổi đựng trong những bao giấy đỏ. Sau lễ giao thừa còn có tục đi đến đền chùa làm lễ sau đó hái về một nhánh cây đem về gọi là hái Lộc, hoặc đốt một nén hương rồi đem về cắm trên bàn thờ gia tiên gọi là Hương Lộc. Họ tin rằng xin được Lộc của trời đất thần Phật ban cho thì sẽ làm ăn phát đạt quanh năm. Sau giao thừa người nào từ ngoài đường bước vào nhà đầu tiên là người “xông nhà”, là người “tốt vía” thì cả nhà sẽ ăn nên làm ra, gặp nhiều may mắn, vì vậy người xông nhà thường được chọn trong số những người bạn thân.
Tết là dịp để con người trở về cội nguồn. Ai dù có đi đâu xa vào ngày này, cũng cố trở về quê hương để được sum họp với người thân dưới mái ấm gia đình, thăm phần mộ tổ tiên, gặp lại họ hàng, làng xóm. Ngày Tết cũng làm cho con người trở nên vui vẻ hơn, độ lượng hơn. Nếu ai có gì đó không vừa lòng nhau thì dịp này cũng bỏ qua hết để mong năm mới sẽ ăn ở với nhau tốt đẹp hơn, hoà thuận hơn. Có lẽ đó là ý nghĩa nhân bản của Tết Việt Nam.
Biểu hiện của 12 con giáp khi thay lòng đổi dạ - Bói tình yêu - Xem Tử Vi
Biểu hiện của 12 con giáp khi thay lòng đổi dạ, Bói tình yêu, Xem Tử Vi, xem bói, xem tử vi Biểu hiện của 12 con giáp khi thay lòng đổi dạ, tu vi Biểu hiện của 12 con giáp khi thay lòng đổi dạ, tu vi Bói tình yêu
Biểu hiện của 12 con giáp khi thay lòng đổi dạ, tình yêu cũng có lúc ngọt ngào và chẳng ít cay đắng, nhất là 1 trong 2 người đã không còn tình cảm với người còn lại. Hãy cùng xem biểu hiện khi 12 con giáp thay lòng đổi dạ hết yêu là gì, để mỗi người tự tìm lấy lối ra cho riêng mình.Tuổi Tý: Tuyệt tìnhTử vi người tuổi Tý khi không còn yêu nữa thì sẽ trở nên rất tuyệt tình. Không kể đối phương khóc lóc buồn rầu hay khổ sở tự ngược đãi bản thân mình họ cũng nhất quyết phải ra đi. Không còn quan tâm săn sóc hay lo lắng chở che nữa, cách cắt đứt mọi quan hệ này khiến họ trở thành người dễ nhận biết nhất khi thay lòng đổi dạ.Tuổi Sửu: Lặng imXem tử vi người tuổi Sửu khá thành thực, trong tình yêu nếu thấy bản thân không còn tình cảm lưu luyến gì nữa, họ chỉ có một thái độ duy nhất là “lặng im”. Cảm thấy bản thân đã gây nên tội lỗi, phải có trách nhiệm nên không biết phải làm sao mới tốt, phải đối xử với người kia thế nào, cứ im lặng trầm mặc che giấu sự bối rối của mình. Những lúc thế này nếu người kia chủ động ra tay giải quyết có lẽ sẽ tránh được dây dưa làm nhau thêm đau khổ.Tuổi Dần: Thờ ơXem bói người tuổi Dần khi tình yêu đã cạn thường đưa ra tuyệt chiêu là thờ ơ. Tự nhủ để bản thân dần quên đi những ký ức tốt đẹp, ngày sinh nhật của nửa kia, những ngày kỷ niệm của cả hai. Những người nhạy cảm có thể nhận thấy ngay sự thay đổi thái độ này rồi căn cứ vào đó mà lựa chọn kết cục cho mối quan hệ của cả hai.Tuổi Mão: Mất tíchNgười tuổi Mão khi tình yêu đi đến hồi kết sẽ không để lại một cơ hội thay đổi nào cho cả hai, trực tiếp chơi trò chơi “mất tích”. Họ làm vậy mà chẳng hề quan tâm đối phương tan nát và đau đớn thế nào, hoang mang trong tâm trạng không hiểu chuyện gì xảy ra, bản thân người tuổi Mão cứ thế quay lưng bước đi chẳng hề suy nghĩ.Tuổi Thìn: Bận rộnNgười tuổi Thìn thường cũng khá bận rộn với công việc nhưng chưa đến nỗi không dành được chút thời gian cho người yêu. Thế nhưng khi đã không còn tình cảm gì nữa họ không ngại dùng đủ mọi lý do và bao biện cho hành động không muốn gặp gỡ và giữ liên lạc của mình. Người tuổi Thìn vướng phải căn bệnh do dự khi chọn lựa điển hình, họ muốn chia tay nhưng lại nuối tiếc nên muốn dần dần tách khỏi, xem không có nhau thì cuộc sống hai người sẽ ra sao?Tuổi Tỵ: Nói chuyện dứt khoát
Những người tuổi Tỵ thường khó đoán và mắc bệnh hoàn hảo tuyệt đối hóa mọi thứ. Họ thay lòng đổi dạ cũng ứng xử rất lí trí, nếu đã không còn yêu nữa thì việc gì phải ở bên nhau thêm tốn thời gian? Cứ dứt khoát nói lời chia tay để nhẹ lòng, hai người vẫn còn có thể nhìn nhau chào hỏi khách sáo.Tuổi Ngọ: Tức giậnNgười tuổi Ngọ có cá tính khá kiêu ngạo, khi đã không còn tình cảm với “nửa kia” thì họ chẳng hề ngần ngại che giấu, đương nhiên sẽ bộc lộ thái độ khó chịu nóng nảy. Cho dù khi đó bạn thấy tủi thân hay đau lòng, tất cả đã không còn liên quan đến người tuổi Ngọ kia. Khi còn bên nhau thì vui cười hạnh phúc, khi không còn tình cảm họ cũng chẳng còn nhẫn nại và bao dung nữa.Tuổi Mùi: Giả ngốcNgười tuổi Mùi hay mềm lòng giống như một đứa trẻ, tình cảm của họ từ đầu đến cuối đều thủy chung khó thay đổi. Nên chẳng may nếu có thay lòng, họ vẫn cứ giả ngây ngô lừa gạt chính mình rằng, bản thân vẫn còn đắm say yêu người kia lắm, chỉ là một chút xao lãng thiếu quan tâm thôi. Cứ dai dẳng day dứt nhau như vậy, đến lúc không thể tiếp nối nữa thì đã muộn.Tuổi Thân: Lừa gạtNgười tuổi Khỉ thường có mới nới cũ, họ luôn thích thủ theo đuổi những gì mới mẻ. Đến khi đã thay lòng đổi dạ họ nhất định sẽ gian dối đến tận cùng để đỡ mất thể diện. Không thể chống lại sự hấp dẫn của người mới, lại chẳng muốn mang tiếng là kẻ hai lòng, tuổi Thân đành phải nói dối để che đậy tất cả vậy.Tuổi Dậu: Ích kỷNgười trước nay chẳng bao giờ chỉ nghĩ cho bản thân như tuổi Gà khi thấy mình chẳng còn cảm giác gì với đối phương nữa sẽ trở nên rất ích kỷ. Họ làm gì cũng chỉ nghĩ đến mình, không còn những quan tâm lo lắng của ngày xưa nữa, từ suy nghĩ đến hành động dường như chẳng còn liên quan gì đến người kia nữa.Tuổi Tuất: Thẳng thắnXem bói tình yêu người tuổi Tuất, họ luôn là người ngay thật thẳng thắn, những người cầm tinh Tuất không bao giờ che giấu tình cảm của mình. Khi còn yêu đã vậy, chẳng còn tình cảm gì họ cũng thẳn thắn nói ra, cả hai hoặc là cùng tìm cách cứu vãn hoặc là ai đi đường nấy, không có thái độ sai trái đáng chê trách nào khác.Tuổi Hợi: Xa cáchNgười tuổi Hợi vốn lãng mạn dịu dàng nhưng cũng sẽ có ngày họ chán ngán. Khi đã thay lòng đổi dạ, mệt mỏi đến nỗi chẳng còn muốn làm gì nữa khoảng cách giữa cả hai sẽ dần dần xuất hiện, nhưng phần lớn có thể thấy nguyên nhân là do người tuổi Hợi. Những lúc thế này thường càng yêu thì càng chịu nhiều thương tổn, khi đã không còn tình cảm họ cố gắng giữ khoảng cách hy vọng bớt đi sầu đau khổ sở. Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Trúc Loan (##)
Trong tháng 7 Âm lịch những người sở hữu số di động có đuôi là 0 hoặc 8 thì tài vận sẽ vượng, may mắn liên tiếp đến.
4 đuôi số điện thoại may mắn cho chủ nhân trong tháng 7 Âm lịch:
Số 8
Mọi người đều biết 8 là con số may mắn, biểu thị sự “phát” trong “phát tài, phát lộc”. Điều này ám chỉ chủ nhân của dãy số điện thoại di động có đuôi là 8 thì trong tháng 7 này sẽ đại phát đại tài. Hơn nữa, số 8 mang ngũ hành Mộc, chỉ vạn vật hưng thịnh, sinh sôi nảy nở. Như vậy, những người sở hữu đuôi số điện thoại may mắn có đuôi là 8 thì sẽ phát tài phát lộc, vạn sự thuận buồm xuôi gió.Số 6 Giống như số 8, số 6 cũng là một con số may mắn, số 6 là “lục”, hài âm gần giống với “lộc”, chủ mọi sự đều thuận lợi và phát đạt. Bên cạnh đó, số 6 cũng mang ngũ hành Thủy mà Thủy là lợi tài. Vậy nên, những người sở hữu số điện thoại có đuôi là 6 thì trong tháng 7 này cũng đón nhận nhiều niềm vui, mọi sự thuận lợi, tài nguyên cuồn cuộn, bất kể là chính tài hay thiên tài thì đều có thu hoạch lớn. Số 0 Số 0 tượng trưng cho sự viên mãn, sự hoàn mỹ, vạn vật được như ý muốn, số 0 còn ám chỉ hiện tượng gặp dữ hóa lành, sinh ý đắc lợi. Những người có số đuôi điện thoại là 0 thường có một sự nghiệp tốt, một cuộc sống tốt, đặc biệt là trong tháng 7, những người sở hữu số điện thoại có đuôi là 00 (hai số 0) thì có nhiều cơ hội đầu tư thành công và gặt hái được những thành tựu lớn.Số 7 Số 7 trùng với số tháng – tháng 7. Số 7 cũng mang ngũ hành Hỏa, khi Hỏa vượng thì sẽ tạo ra sức mạnh rất lớn. Những người may mắn sở hữu đuôi số điện thoại may mắn là số 7 thì trong tháng này tới tấp đón nhận may mắn, tài vận hưng thịnh, luôn có quý nhân phù trợ.
► Lịch ngày tốt cung cấp công cụ tra cứu phong thủy sim hợp mệnh và tuổi của bạn
Cát Tường Chọn đuôi số điện thoại hợp mệnh, 12 con giáp tha hồ hốt bạcChọn sim số đẹp, thuận phong thuận thủyChọn smartphone chuẩn ngũ hành, sành điệu mà vẫn hợp phong thủy Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Thanh Vân (##)
Để chọn được bạn tốt, thì theo nhân tướng học, người lương thiện là người mang những dấu hiệu sau:
Khuôn mặt tròn, người có da có thịt là người hoạt bát, vui vẻ, cởi mở, dễ hòa đồng, không soi mói, không câu nệ tiểu tiết. Tuy nhiên, họ có nhược điểm là hơi cẩu thả, làm việc tùy hứng, không theo nguyên tắc. Lông mày hình vòng cung, mềm mại, thanh tú, nhất là khi cười, lông mày uốn cong rất cuốn hút. Người này thường nói năng nhẹ nhàng, ngọt ngào, đây là tuýp người có khiếu thẩm mỹ, có tấm lòng lương thiện và rất coi trọng tình cảm.
Người lương thiện là người có tâm trong sáng
Người có dái tai to là người có dái tai chiếm hơn một nửa tai và nửa dưới tai dài qua khóe miệng. Người này thường nhu mì, sẵn sàng giúp đỡ người khác. Họ chỉ nhìn nhận ưu điểm của người khác mà không bao giờ lưu tâm đến khuyết điểm. Tai hướng ra ngoài thì là những người hướng nội, họ khá nhiệt tình với những hoạt động xã hội. Nếu dái tai có nốt ruồi là thông minh, nhanh nhẹn, lễ phép, hiếu thuận với cha mẹ và là người có tài năng. Theo nhân tướng học quan sát thì các vĩ nhân thường có “thiên hình đầy đặn, địa các vuông tròn”. Ý nghĩa của câu nói này chỉ người làm nên việc lớn. Đây là quy luật mà người xưa đã đúc kết và để lại cho chúng ta. Nói cách khác, người có địa các và hàm dưới đầy đặn thì rất nồng hậu, trọng tình cảm, thường không có thói quen tranh chấp với mọi người và so bì tính toán, họ rất hiểu đạo lý dĩ hoà vi quý. Họ rất biết cách quan tâm tới người khác. Chính vì vậy, họ sẽ được hưởng may mắn khi về già.
► Tham khảo thêm: Xem tướng người đoán biết tính cách chuẩn xác
Theo Tuvisomenh Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Thanh Vân (##)
Một ngày nào đó, bạn mơ thấy những hồn ma cứ lởn vởn xung quanh khiến bạn hoảng sợ, tỉnh dậy và hét toáng lên, ngơ ngác tự hỏi không biết điều đó ám chỉ điều gì?
► ## giải mã giấc mơ theo tâm linh chuẩn xác
Mơ thấy ma thường là biểu tượng cho nỗi lo lắng, sự sợ hãi của bạn. Điều này có thể là một ký ức đau buồn, một tội lỗi hay những suy nghĩ đau khổ do kìm nén tình cảm mà thành. Đó cũng có thể là nỗi lo sợ về bệnh tật và cái chết.
Ngoài ra, hồn ma còn tượng trưng cho những điều ngoài tầm tay của chúng ta, không thể nào nắm bắt được. Nó biểu thị cho cảm giác đang tự tách mình ra khỏi cuộc sống của bạn. Giấc mơ này có thể là lời kêu gọi bạn tiến lên phía trước, từ bỏ những thói quen xấu hay kiểu suy nghĩ cũ mang tính tiêu cực.
Ảnh minh họa
Nếu bạn mơthấy mình đưa tay chạm vào một hồn ma nhưng nó lại tan biến đi biểu thị rằng bạn đang từng bước chấp nhận đối mặt với thực tại nhiều khổ đau của mình.Mơ thấy hồn ma của một người bạn hay bà con đang còn sống nghĩa là bạn đang rơi vào vòng nguy hiểm bởi những hành động của người đó. Bạn hãy cẩn trọng hơn với giấc mơ này. Còn mơ thấy oan hồn của một người bạn hoặc một người bà con đã chết ám chỉ tội lỗi và sự ân hận liên quan tới mối quan hệ của người đó trong quá khứ. Nằm mơ thấy bị hồn ma đuổi chứng tỏ con người bạn rất thuần khiết, nên dễ bị lừa gạt, dễ đi sai đường. Vì vậy, trước khi hành sự, bạn nên suy xét cẩn thận.Giải mã giấc mơ thấy ma: Đây là giấc mơ cực tốt, báo hiệu tài vận của bạn thời gian gần đây rất sáng sủa. Trước kia, tài vận của bạn vốn đã dồi dào, giờ càng tăng tiến. Nằm mơ thấy nói chuyện với hồn ma : Đây là điềm báo dữ, chứng tỏ bạn đã bị người khác lừa gạt. Hãy mau tỉnh táo, kẻo hối không kịp.
Nếu mơ thấy bạn chơi đùa với hồn ma, điều này cho thấy bạn dễ dàng bị cám dỗ vào những điều mà bạn không muốn làm.
Trong giấc mơ, bạn thấy mình chống lại ma quỷ, có nghĩa là bạn sẽ thành công trong việc đánh bại đối thủ.
Nếu bạn nằm mơ thấy hồn ma bóp cổ hoặc tìm cách giết mình thì ngụ ý rằng công việc của bạn đang bị cản trở.
Mơ thấy một thị trấn ma, điều này cho thấy bạn đang bị xã hội từ chối hoặc cô lập.
Tổng hợp Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Thanh Vân (##)