Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

Chòm sao nào được đề cử giải: Hàng xóm của năm –

Chòm sao nào được đề cử giải: Hàng xóm của năm? Trước tiên xin vinh danh Bạch Dương, tiếp đó là Cự Giải và Sư Tử. Còn những chòm sao khác thì như thế nào? cùng đọc bai viết sau để được giải đáp. Chòm sao nào được đề cử giải: Hàng xóm của năm Giải vàn

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Chòm sao nào được đề cử giải: Hàng xóm của năm? Trước tiên xin vinh danh Bạch Dương, tiếp đó là Cự Giải và Sư Tử. Còn những chòm sao khác thì như thế nào? cùng đọc bai viết sau để được giải đáp.

Nội dung

  • 1 Chòm sao nào được đề cử giải: Hàng xóm của năm
    • 1.1 Giải vàng thuộc về Bạch Dương
    • 1.2 Giải bạc thuộc về Cự Giải
    • 1.3 Giải đồng thuộc về Sư Tử

Chòm sao nào được đề cử giải: Hàng xóm của năm

Giải vàng thuộc về Bạch Dương

Nếu Bạch Dương là hàng xóm của bạn, bạn sẽ vô cùng yên tâm về tình hình an ninh quanh nhà. Hơn thế, chòm sao này còn vô cùng nhiệt tình, sẵn sàng giúp đỡ hàng xóm của mình một cách vô điệu kiện cả về vật chất và tinh thần. Ví như sửa cái bàn gãy, “viện trợ không hoàn lại” gia vị mà nhà bạn đang thiếu…Hoặc khi bạn cảm thấy lo lắng điều gì, Bạch Dương sẵn sàng hiến kế giúp bạn giải khuây.

Vì những lý do trên mà Bạch Dương được đề cử giải vàng cho danh hiệu hàng xóm tốt nhất.

bach-duong-2334-1397353687

Giải bạc thuộc về Cự Giải

Được làm hàng xóm láng giềng với Cự Giải bạn như vớ được người bạn hiền mang lại cảm giác ấm áp và yên bình. Cự Giải thường làm nhiều món ăn và không ngại ngần mang sang chia sẻ cho hàng xóm bên cạnh. Hơn thế, bạn còn rất quan tâm đến mọi chuyện nhà hàng xóm. Nếu năm bảy ngày mà không nhìn thấy họ đâu, bạn sẽ cảm thấy không vui, thậm chí là lo lắng cho họ.

cu-giai-5748-1397353687

Mọi người đều rất vui khi được người khác quan tâm và giúp đỡ. Nhưng quan tâm nhiều quá đôi khi khiến người khác cảm thấy không thoải mái đâu nhé. Cự Giải cần cân nhắc kỹ những việc nên và không nên làm với hàng xóm, kẻo phúc lại biến thành họa đó.

Giải đồng thuộc về Sư Tử

Tính cách độc đoán và muốn làm lãnh đạo sẽ giúp Sư Tử nhanh chóng “chỉnh đốn” trật tự khu phố đang ở. Khi phát hiện thấy hàng xóm tranh cãi, Sư Tử sẽ phóng như tên bay sang nhà đó để làm người hòa giải, biến việc to thành nhỏ, việc nhỏ hóa không có.

su-tu-4404-1397353687

Bạn tự nguyện giúp hàng xóm giải quyết mọi vấn đề rắc rối. Khi mọi chuyện đã yên ổn, bạn coi đó như thành quả của chính mình trong việc giúp đỡ mọi người.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chòm sao nào được đề cử giải: Hàng xóm của năm –

Các bước luận đoán lá số Tử Vi

Bài viết trình bày các bước để giải đoán một lá số tử vi một cách đơn giản, dễ hiểu, khoa học và chính xác. Ai cũng có thể tự giải đoán lá số của mình theo cách này.
Các bước luận đoán lá số Tử Vi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Muốn lập thành một lá số tử vi cần phải hội đủ 4 yếu tố là Năm-Tháng-Ngày-Giờ sinh theo Âm Lịch. Cách lập thành lá số tử vi nói chung có nguyên tắc chỉ dẩn khá rỏ ràng, nhưng về phương cách giải đoán thì còn phải tùy theo trình độ, cơ duyên và kinh nghiệm... của người giải đoán mà sẽ có những lời giải đoán khác nhau cho lá số tử vi.

Để giải đoán được tử vi giỏi, đại khái cần phải có 4 điều kiện sau:

Trí nhớ - tử vi là một khoa lý số cổ học rất phức tạp nên rất cần có trí nhớ tốt để thuộc các nguyên lý của Âm dương, Ngũ hành, Can Chi và ý nghĩa tính chất của các Sao.

Suy luận - Phải suy luận để phân tích, phối hợp, chế hóa sự sinh khắc của âm dương ngũ hành và xấu tốt của các sao đóng tại mỗi cung số.

Trực giác - Cần phải có trực giác bén nhạy để giúp ích cho những sự suy luận.

Kinh nghiệm - Phải thực hành cho nhiều, đối chiếu phần thực nghiệm với lý thuyết để suy luận ra những lời giải đoán cho súc tích, phong phú và chính xác.

Để giúp các bạn mới bắt đầu tự nghiên cứu tử vi được dễ dàng, dễ hiểu và có kết quả, chúng tôi mạo muội xin đưa ra những phương pháp, hướng dẫn cụ thể để các bạn theo thứ tự học hỏi hầu có thể tự giải đoán được lá số của mình.

Xem giải thích cách trình bày và hiểu ý nghĩa của lá số.
Những Nguyên Tắc Căn Bản phải nhớ trong tử vi
Những nguyên tắc căn bản về Âm Dương / Can Chi và Ngũ hành sinh khắc trong tử vi.
Những quy tắc phối chiếu của Tam hợp - Nhị hợp - Xung chiếu giữa các cung trong lá số tử vi.

Những tiến trình luận đoán số phải theo:

Xét sự thuận nghịch về lý âm dương giữa Năm sinh với vị trí cung an Mệnh để biết tổng quát tốt xấu của cung cần giải đoán.
Xét sự sinh khắc ngũ hành của Can Chi Năm sinh
Xét sự tương quan ngũ hành giữa bản Mệnh và Cục
Xem phối hợp hai cung tam hợp với cung an Mệnh-Thân
Xem phối hợp cung nhị hợp với cung an Mệnh-Thân
Xem phối hợp cung xung chiếu với cung an Mệnh-Thân
Xem vị trí của tam hợp hai cung Mệnh/Thân và vòng Thái Tuế trên lá số
Xem vị trí của tam hợp hai cung Mệnh/Thân và vòng Lộc Tồn trên lá số
Xem vị trí của tam hợp hai cung Mệnh/Thân và vòng Tràng Sinh trên lá số

Phải xét qua tất cả các yếu tố trên rồi phối hợp lại để đưa ra lời lý giải tổng quát về những nét đại cương của cuộc đời cho lá số.

Những Đặc Tính của các Sao phải hiểu trong tử vi

Xem tổng hợp bộ cách của Chính tinh và các trung tinh tại ba cung Mệnh-Tài-Quan, cung an Thân và cung Phúc Đức để biết tổng quát lá số của mình được các cách gì.

Xem ý nghĩa và đặc tính của Chính tinh tọa thủ, hợp chiếu và nhị hợp tại cung Mệnh và Thân.

Xem ý nghĩa và đặc tính của các Trung tinh và Phụ tinh tọa thủ, hợp chiếu và nhị hợp của cung Mệnh-Thân.

Xét ý nghĩa, đặc tính, vị trí và sự đắc hãm của các Hung Sát tinh trên lá số.

Xem ảnh hưởng của các Hung Sát Bại tinh (nếu có) tọa thủ, hợp chiếu và nhị hợp tại các cung quan trọng như tại ba cung Mệnh-Tài-Quan, cung an Thân và cung Phúc Đức.

Xét tới giá trị và ảnh hưởng biến đổi của các sao theo thời gian của mệnh số.

Xem sự liên đới của các sao với nhau, nếu các sao này kết hợp thành cách cục hay bộ cách thì sẽ có tác dụng mạnh mẽ hơn là đóng đơn lẽ hay lạc lỏng.

Nếu muốn xem cung nào thì phải phối hợp ý nghĩa, đặc tính và đặc điểm của các sao tọa thủ, hợp chiếu và nhị hợp tại cung đó, quân bình số lượng các sao rồi đúc kết các yếu tố lại để đưa ra lời lý giải kết luận về cung muốn xem.

Phải tập xem phần giải đoán qua các lá số mẫu để biết cách lý giải lá số. Phần này có thể xem qua các bài sưu tập về "Vấn đáp tử vi của Tướng Số gia Thiên Đức đăng lại trên trang Web này để rút tỉa kinh nghiệm về cách thức giải đoán lá số. Mỗi câu vấn đáp nói trên đều có phần lược giải về tử vi cho người đặt ra câu hỏi.

Hiện tại phần "Tính lý các sao" của trang Lý Số Đông Phương chưa được hoàn thành đầy đủ, nên các bạn có thể qua trang Web của Vietshare, sau khi lấy xong lá số thì nhấn nút chuột trên tên của mỗi sao tại cung nào muốn xem thì sẽ có ngay lời giải tóm tắt về đặc tính của sao đó ngay trên màn ảnh.

Những cung cần phải xem

Cùng một cách xem cho cung Mệnh-Thân và Phúc Đức, xét và luận đoán các cung liên hệ đến bản thân mình là Quan lộc - Tài bạch - Tật ách - Thiên di - Điền trạch - Nô bộc.

Cùng một cách xem cho cung Mệnh-Thân và Phúc Đức, xét và luận đoán các cung liên hệ đến lục thân như Phối ngẫu - Tử tức - Phụ mẫu - Huynh đệ

Những Vận Hạn Trong Cuộc Đời phải biết

Cách Giải Đoán Vận Hạn

Xem các Đại vận 10 năm của lá số

Xem Tiểu vận từng năm

Luận về cung tam hợp

Sách số nào cũng chỉ khi xem một cung thì phải xem phối hợp: cung chính, hai cung tam hợp, cung xung chiếu và cung nhị hợp, tất cả là 5 cung cùng một lúc để giải đoán.

Có quan điểm còn đánh giá thứ tự ưu tiên hoặc xếp đặt ra giá trị tỷ lệ cho cung chiùnh là quan trọng nhất, thứ nhì là cung xung chiếu, thứ ba mới đến hai cung tam chiếu với cung chính và sau hết là cung nhị hợp. Sự đánh giá này nhằm phân định được các ảnh hưởng nào là trực tiếp và ảnh hưởng nào là gián tiếp để giúp cho việc giải đoán được cụ thể và đầy đủ hơn.

Riêng theo cụ Thiên Lương thì căn bản chính yếu của một cung chỉ có một cung chính và hai cung tam hợp. Cung nhị hợp (tương sinh) chỉ phụ thêm bổ túc cho cung chính. Còn cung xung chiếu (tương khắc) tuyệt đối chính là đối phương.

Dưới đây là 4 bảng Tam Hợp trong tử vi:

Sở dĩ không có tam hợp hành Thổ vì trong 4 tam hợp trên đều có hành Thổ làm nền tảng để cho Tứ Sinh (Dần-Thân-Tỵ-Hợi) phát nguồn bồi đắp cho Tứ Chính (Tý-Ngọ-Mão-Dậu) được đầy đủ sung túc để trở thành những hành chính trong tam hợp.

Theo Dịch học, hành Thổ là nguồn gốc phát xuất ra các hành khác, rồi tập trung về lại nguồn cội trung ương, hành Thổ phối hợp với 4 hành Kim-Mộc-Thủy-Hỏa thành 4 cục diện, là thế tam hợp căn bản của tử vi Đẩu Số.

Nhận xét về bảng Tam Hợp dưới đây sẽ thấy trong mỗi cục diện gồm có 3 hành, tuy khác nhau nhưng cùng liên minh với nhau thành một hành chung, để cùng các cục diện khác tranh đua biến đổi sinh khắc lẫn nhau.

Ngoài ra, theo cụ Việt Viêm Tử thì cần phải phân biệt đến hai chiều thuận nghịch theo quy lý âm dương của tam hợp cục nữa. Lấy ví dụ người có cung mệnh tại Ngọ trong tam hợp cục Dần-Ngọ-Tuất. Nếu là Dương Nam/ Âm Nữ khởi theo chiều thuận đi từ cung Dần đến cung Tuất nên những sao tam hợp đóng tại cung Dần sẽ ảnh hưởng nhiều hơn là những sao cùng tam hợp tại cung Tuất. Còn với người Âm Nam/ Dương Nữ theo chiều nghịch đi ngược lại từ cung Tuất đến cung Dần nên những sao tam hợp tại cung Tuất sẽ ảnh hưởng nặng hơn là những sao tại cung Dần.

Thuyết Âm Dương theo kinh Dịch Chúng tôi xin sơ lược tóm tắt về thuyết Âm Dương:

Theo học thuyết cổ của Trung Hoa, nguồn gốc sơ khởi của vạn vật trong vũ trụ là Thái Cực. Trong thái cực có hai động thể tiềm phục đó là hai khí Âm Dương - gọi là Lưỡng Nghi.

Âm và Dương là hai mặt tương phản đối lập, mâu thuẫn, ức chế lẫn nhau nhưng thống nhất, nương tựa, thúc đẩy lẫn nhau, trong Dương có mầm của Âm và trong Âm có mầm của Dương. Vạn vật được sinh thành và biến hóa nhờ hai khí Âm Dương này phối hợp.

Hai khí Âm Dương giao tiếp tuần hoàn sinh hóa ra vạn vật theo 4 trạng thái phát triễn và suy tàn được gọi là Tứ Tượng (Thiếu Dương - Thái Dương và Thiếu Âm - Thái Âm)
"Khí của trời đất, hợp thì là một, chia thì là Âm và Dương, tách ra làm bốn mùa, bày xếp thành Ngũ hành." (Đổng Trọng Thư)

Tứ tượng nhờ ảnh hưởng của hai khí Âm Dương thúc đẩy và biến hóa khai sinh ra:

  • 4 mùa - Xuân Hạ Thu Đông
  • 5 chất gọi là Ngũ hành: Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ
  • 8 hình dạng khác nhau của vũ trụ được gọi là Bát Quái

Càn chỉ trời, Khảm chỉ nước, Cấn chỉ núi non, Chấn chỉ sấm sét, Tốn chỉ gió, Ly chỉ lửa, Khôn chỉ đất, Đoài chỉ đầm lầy.

Liên hệ giữa Mệnh-Thân và Hạn trong tử vi

Mệnh Thân và Hạn tốt - Người có cung Mệnh tốt thì chỉ xứng ý toại lòng lúc còn trẻ tuổi, đến tuổi trung niên và hậu vận thì cũng cần phải được cung Thân tốt thì mới được trọn vẹn. Nếu được Hạn tốt nữa thì ví như gấm thêm hoa.

Mệnh Thân tốt gặp Hạn xấu - Mệnh Thân tốt có thể giải trừ được một phần lớn ảnh hưởng xấu của Hạn.

Mệnh Thân xấu được Hạn tốt - Được phát ví như lúa non gặp mưa thuận gió hòa, cây khô gặp mùa Xuân, nhưng không bền.

Mệnh Thân và Hạn xấu - Rất xấu như sinh bất phùng thời.

Ảnh hưởng của Chính tinh là Nam hay Bắc Đẩu Tinh nhập hạn trong tử vi

Nam Đẩu Tinh nhập hạn - Ảnh hưởng mạnh mẽ vào khoảng nữa phần thời gian sau của Đại và Tiểu vận. Nếu bị Tuần Triệt thì đoán ngược lại.

Các Nam Đẩu Tinh là Thái Dương - Thiên Cơ - Thiên Đồng - Thiên Lương - Thiên Tướng và Thất Sát. Các chính tinh trên hợp với người dương nam và âm nữ, nếu được miếu vượng hay đắc địa thì càng thêm tốt đẹp.

Riêng hai chính tinh tử vi và Thiên Phủ là Nam Bắc Tinh

Bắc Đẩu Tinh nhập hạn - Ảnh hưởng mạnh mẽ vào khoảng nữa phần thời gian đầu của Đại và Tiểu vận.

Các Bắc Đẩu Tinh là Thái Âm - Vũ Khúc - Tham Lang - Liêm Trinh - Phá Quân và Cự Môn. Các chính tinh trên hợp với người âm nam và dương nữ, nếu được miếu vượng hay đắc địa thì càng thêm tốt đẹp.

Ảnh hưởng của Sao nhập hạn

Ảnh hưởng các Sao lưu động mỗi năm

Đại Tiểu Hạn trùng phùng

Cung gốc đại vận 10 năm với lưu niên tiểu vận đồng cung, sự việc tốt xấu hay dở của năm xem hạn tại cung trùng phùng này sẽ gia tăng.

Thí dụ: hạn năm Ngọ 32 tuổi lưu niên chữ Ngọ trùng với cung gốc của đại vận 23-32 tuổi

Yếu tố thiên thời của đại-vận (10 năm) trong tử vi

Mỗi đại-vận là một thiên-thời, đắc được thiên-thời gặp vận hội tốt đời sẽ lên hương, còn mất thiên-thời thì đời sẽ thấy khó khăn để rồi đi xuống.

Lấy ngũ hành của tam hợp tuổi đem so-sánh với hành tam hợp của cung đại vận nhập hạn:

Tam hợp tuổi tương đồng hành tam hợp vận - đắc vận Thái-tuế (thiên-thời) là đại-vận tốt đẹp nhất trong đời; thêm sao tốt nhập hạn thì được như gấm thêu hoa, nếu gặp ách-nạn thì cũng sẽ được cứu-giải mà qua khỏi.

Trường-hợp bị Hung-sát-tinh phá cách như Không-Kiếp... thì vẫn được lên nhưng rồi dễ xuống, hay gặp khó-khăn và trở-ngại, vận hội tốt còn hưởng độ 50% mà thôi.

Đại-vận này cần phải được thêm tam-hợp Sinh-Vượng-Mộ hổ trợ thì mới được hưởng vận Thiên-thời một cách chính-đáng, trọn-vẹn và bền-bỉ.

Thí dụ: các người tuổi Dần-Ngọ-Tuất đại vận 10 năm đến các cung Dần-Ngọ-Tuất (đại vận hỏa đồng hành tam-hợp tuổi hỏa)

Tam-hợp-vận sinh-nhập hành tam-hợp-tuổi - được thuận-lợi và sức-khỏe tốt; tuy-nhiên vì nằm trong tam-hợp Thiên-không nên cũng hay dễ xảy ra những sự thất-bại và buồn lòng, nếu đắc Hóa-khoa có thể cứu-giải.

Thí dụ: các người tuổi Dần-Ngọ-Tuất đại vận 10 năm đến các cung Hợi-Mão-Mùi (đại vận mộc sinh hành tam-hợp tuổi hỏa)

Tam-hợp-tuổi khắc-xuất hành tam-hợp-vận - bị sa-lầy, nhiều vất-vả (Thiếu-âm), phải gắng công tranh-đấu (Phá-Hư-Mã); có thể nhờ đến phần Nhân-hòa (sao) giúp-đỡ.

Thí dụ: các người tuổi Dần-Ngọ-Tuất đại vận 10 năm đến các cung Tỵ-Dậu-Sửu (đại vận kim bị hành tam-hợp tuổi hỏa khắc)

Tam-hợp-vận khắc-nhập hành tam-hợp-tuổi - khắc ngược rất xấu, cần phải có được nhiều sao tốt để cứu giải.

Thí dụ: các người tuổi Dần-Ngọ-Tuất đại vận 10 năm đến các cung Thân-Tý-Thìn (đại vận thủy khắc hành tam-hợp tuổi hỏa)

Yếu tố địa lợi của Đại-vận (10 năm) trong tử vi

Địa-lợi là nơi an thân của bản mệnh tại đại vận. Nếu cung hạn tương sinh tất bản mệnh sẽ được vững chắc an lành. Phần này phải lấy ngũ hành nạp âm của mệnh so-sánh với ngũ hành của cung nhập-hạn:

Tương-Sanh - sức-khỏe dồi-dào và thường gặp may-mắn.

Thí dụ: người mệnh hỏa đại vận đến hai cung Dần-Mão thuộc mộc được tương sinh.

Tương-Khắc - sức-khỏe kém, thường gặp nhiều khó-khăn và bất trắc xảy ra.

Thí dụ: người mệnh hỏa đại vận đến hai cung Hợi-Tý thuộc thủy bị tương khắc.

Nếu hành bản mệnh bị hành của cung đại-vận khắc rất xấu, nhưng được Chính-tinh tại cung đại-vận sinh-nhập lại mệnh (tức cung sinh sao và sao sinh lại mệnh) là cách "tuyệt xứ phùng sinh" rất tốt (ví dụ người mệnh hỏa bị hành của cung đại vận tại Hợi hay Tý thuộc thủy khắc, nhưng lại được chính tinh Thiên Cơ hoặc Thiên Lương tại Hợi-Tý thuộc mộc sinh lại bản mệnh)

Yếu tố nhân hòa của đại-vận (10 năm) trong tử vi

Nhân-hòa là thứ cách quan trọng sau yếu-tố Thiên-thời, nếu được Thiên-thời và Địa-lợi nhưng không được phần "Nhân-hòa" thì dù bản-thân có may-mắn đến đâu thì cũng phải bị nhiều vất-vả mới được thành-công, vì ít được sự trợ-giúp của bên ngoài.

Phần này phải xem bộ Chính tinh Đại-vận có cùng hay khác thế lưỡng-nghi với bộ Chính tinh của tam hợp Mệnh:

Nếu Chính tinh đồng bộ cùng phe phái lưỡng-nghi (như Tử-Phủ-Vũ-Tướng gặp Sát-Phá-Liêm-Tham) thì khi chuyển vận gặp nhau ít thay-đổi, thêm Trung-tinh đắc cách tam-hợp thì được hòa-thuận tốt đẹp.

Bằng như khác phe phái (như Cơ-Nguyệt-Đồng-Lương gặp Sát-Phá-Liêm-Tham) thì hẳn là có sự đụng-độ và khó-khăn, phần thiệt-hại vẫn là phần của phe yếu thế là Cơ-Nguyệt-Đồng-Lương; nếu gia thêm Sát-tinh nhập hạn thì sẽ gặp nhiều chuyện không may.

Tư-thế của bốn bộ Chính tinh (Tứ tượng) trên muốn được thêm hoàn-mỹ và thành-công thì cần phải có tối thiểu:

- Bộ T-P-V-T cần nhất là Tả-Hữu, Thai-Tọa
- Bộ S-P-L-T cần nhất là Thai-Cáo và Lục-sát-tinh
- Bộ C-N-Đ-L cần nhất là Xương-Khúc và Khôi-Việt
- Bộ C-N cần nhất là Hồng-Đào, Quang-Quý

* So-sánh hành Sao nhập hạn sinh hay khắc với hành Mệnh, bộ Sát-Phá-Liêm-Tham mỗi khi nhập hạn thường có những cuộc thăng-trầm khá quan-trọng xẩy ra.

Luận về Lưu niên đại hạn trong tử vi

Ngoài cách xem các đại vận 10 năm ra, nếu muốn xem đại vận một cách tường tận hơn thì phải xem cả lưu đại hạn của từng năm một.

Nếu muốn biết xem lưu đại vận từng năm một của mỗi 10 năm đại vận thì phải khởi năm thứ nhất từ con số đầu ghi ở cung gốc đại hạn muốn xem, tính tiếp sang cung xung chiếu của cung gốc hạn là năm thứ hai, sau đó:

Dương Nam - Âm Nữ: Từ năm thứ hai ở cung xung chiếu lùi lại một cung (theo chiều nghịch kim đồng hồ) là năm thứ ba, xong trở thuận lại cung xung chiếu ghi số tiếp năm thứ tư, rồi tiếp tục theo chiều thuận ghi tiếp mỗi cung một số cho các năm kế tiếp cho đến cung gốc của đại hạn sau.

Xem bảng thí dụ cách tính lưu đại vận của 10 năm đại vận từ 22 đến 31 tuổi của tuổi Dương Nam / Thủy Nhị Cục bên trái dưới đây.

Âm Nam - Dương Nữ: Từ số của năm thứ hai ở cung xung chiếu tiến lên một cung (theo chiều thuận kim đồng hồ) ghi số kế tiếp là năm thứ ba, xong trở lùi lại cung xung chiếu ghi số tiếp năm thứ tư, rồi tiếp tục theo chiều nghịch ghi tiếp mỗi cung một số cho các năm kế tiếp cho đến cung gốc của đại hạn sau.

Luận về Lưu niên tiểu vận (1 năm) trong tử vi

Trong lá số tử vi, chung quanh phần địa bàn (trung tâm của lá số) kế bên ô mỗi cung đều được ghi 1 địa chi (ví dụ Tý-Sửu-Dần-Mão...) theo chiều nam thuận nữ nghịch, đó chính là năm tiểu vận tại mỗi cung của đời người - ví dụ năm Kỷ Mão thì xem tiểu vận tại cung có ghi chữ Mão, năm Canh Thìn thì xem tiểu vận tại cung có ghi chữ Thìn...

Khi xem tiểu vận phải xem phối hợp với cung gốc của 10 năm đại vận của tiểu vận đó. Tiểu hạn (dầu tốt hay xấu) chỉ phụ giúp thêm hay làm giảm bớt 10% ảnh hưởng của Đại vận.

Mỗi tiểu hạn, chúng ta cần phải so sánh đến các tương quan giữa Can Chi của tuổi với Can Chi của năm nhập hạn vào ngũ hành của các sao nhập hạn, sau đó phải so sánh hành bản mệnh với hành của cung tiểu vận nhập hạn theo bảng dưới đây để biết được tiểu vận đó tốt hay xấu.

So sánh hành Can của tuổi và Can năm nhập hạn (gốc, quan hệ)
So sánh hành Chi của tuổi và Chi năm nhập hạn (ngọn, thứ yếu)
So sánh hành bản mệnh và hành của năm hạn (tính theo nạp âm) để biết mức độ đắc thất.
So sánh Can của tuổi và Hành sao nhập hạn phụ thêm để quyết định.

Phụ luận:

Trong đời người từ nhỏ đến 60 tuổi có 5 lần gặp năm Thiên khắc Địa xung nhưng chỉ có 2 lần xung quan trọng là Năm 43 tuổi (hàng Can bị sinh xuất) và Năm 67 tuổi (hàng Can bị khắc nhập) vừa là giai đoạn gặp Thiên thương hay Thiên sứ.

Còn Năm 49 tuổi thường xấu vì tuy hàng Can của năm được sinh nhập (hưng vượng) nhưng hàng Chi lại nằm ở thế Phá Hư (không đắc ý) nên khiến cho từ chổ thành công mà lại đưa đến chỗ thất bại bất mãn; chẳng khác gì cây bị úng nước, rể phải hư và ngọn bị héo tàn.

Từ 49 đến 50 tuổi, 53 đến 60 tuổi và từ 67 đến 70 tuổi là ba đoạn đường đổ dốc để lượn lên các ngôi sơ thọ (50) - trung thọ (60) và thượng thọ (70) luôn luôn có Thương cung Nô và Sửu cung Ách là hai đồn canh đứng chặn giữa ba đoạn đường đại vận này để kiểm soát suôi ngược.

Người lái xe phải lành nghề (vòng Thái Tuế) vững tay lái, xe không ham chở nặng (Quyền Lộc) thì mới mong được an toàn.

Thương (thổ cung Nô) phụ tá của Thiên Sứ, gây ra tổn hại; có phần nào nhẹ tay hơn Sứ (cho người có đại vận đi xuôi gặp Thương trước).
Sứ (thủy cung Ách) thi hành lệnh gieo tai ách

Mức độ nặng nhẹ của Thương-Sứ thi hành nhiệm vụ là tùy thuộc vào các Sát tinh nhập cuộc tại cung Nô và Ách như Văn Xương, Kình Dương (cung Tứ chính / các tuổi Giáp Mậu Canh Nhâm), Không Kiếp, Thiên Không, Tang Môn...

Ngoài ra trong 3 đại vận liên tiếp trên, ít nào cũng năm sáu lần tiểu hạn đụng đầu Đào Hồng gặp Thiên không, Lưu hà và Kiếp Sát rất dễ gây ra sức ép với tuổi già.
Trừ phi Mệnh hay Thân đắc Thọ tinh hợp hành làm nồng cốt và không bị nghiệp báo Hình Riêu, Không Kiếp lũng đoạn.

Trong đời người, cứ mỗi 12 năm thì có 3 năm liên tiếp gặp hạn tam tai, thường thì hạn năm giữa là nặng nhất. Trong các năm nhập hạn tam tai thường gặp nhiều trở ngại, rủi ro hoặc khó khăn trong công việc. Ngoài ra không nên tu tạo hay tậu mãi nhà đất trong những năm hạn này. Còn việc hôn nhân, cưới hỏi thì ít bị ảnh hưởng. Đây chỉ là những dự đoán về hạn xấu chung để mà phòng tránh thôi chứ không chắc hẳn sẽ xảy ra như vậy.

Nếu năm nhập hạn trong lá số tử vi tốt thì hạn xấu của năm tam tai sẽ được giảm bớt, ngược lại nếu năm hạn trong lá số xấu mà gặp thêm năm tam tai thì năm hạn xấu sẽ càng xấu thêm.

Sao hạn Cửu Diệu:

Ảnh hưởng của Cửu Diệu tinh trong tử vi

La Hầu - còn gọi là Khẩu thiệt tinh, là sao xấu ảnh hưởng nặng cho Nam giới và người mạng Kim, phái Nữ thì ảnh hưởng nhẹ. Thường gây ra những trở ngại bất trắc, bệnh tật, khẩu thiệt, thị phi miệng tiếng. Hạn sao này cần phải dè dặt cẩn thận. Ảnh hưởng vào các tháng giêng và tháng 7.

Thổ Tú - còn gọi là Thổ Đức tinh hay Ách tinh chủ gia đạo bất an buồn phiền, bệnh hoạn hay kéo dài, tiểu nhân phá phách, đi xa bất lợi. Hai tháng 4 và 8 bất lợi.

Thủy Diệu - còn gọi là Thủy Đức tinh là Phúc lộc tinh chủ bình an, giải trừ tai nạn, đi xa có lợi, Phụ nữ bất lợi về đường sông biển. Ảnh hưởng vào các tháng 4 và tháng 8. Người mạng Kim và Mộc hợp với hạn sao này, riêng người mạng Hỏa thì hơi bị khắc kỵ.

Thái Bạch - còn gọi là Kim Đức tinh, là hung tinh chủ về sự bất toại tâm, xuất nhập phòng tiểu nhân, hao tán tiền bạc, bệnh tật nảy sinh. Phòng tháng 5 xấu, nhất là những người mệnh hỏa, kim và mộc.

Thái Dương - Phúc tinh chủ sự hanh thông, cứu giải nạn tai. Với Nữ giới thì công việc vẫn thành công nhưng rất vất vả. Tốt vào các tháng 6 và 10.

Vân Hán - còn gọi là Hỏa Đức tinh là Tai tinh chủ hao tài, khẩu thiệt và tranh chấp, kiện tụng bất lợi. Đề phòng những rủi ro bất ngờ. Tháng 4 và 8 xấu.

Kế Đô - được ví như bà hoàng hậu khắc khe, là sao xấu ảnh hưởng nặng nơi phái Nữ, riêng những người có thai hay sinh đẻ trong hạn sao này thì ít bị ảnh hưởng. Gặp hạn sao này những mưu sự thường gặp khó khăn, thành ít bại nhiều, phòng thị phi, đau ốm hay tai biến bất ngờ. Sao Kế đô dù ít ảnh hưởng tới Nam giới nhưng ít nhiều cũng có tác dụng không thuận lợi. Phòng tháng 3 và tháng 9

Thái Âm - Phúc tinh chuyên cứu giải bình an, tốt cho Nữ số. Sao Thái Âm nhập hạn là tài tinh đem lại nhiều may mắn về tài lộc nhưng mang tính chất bất thường, thời vận hay thăng trầm.

Mộc Đức - Phúc tinh chủ may mắn, gặp thời vận tốt. Sao Mộc đức cũng là một phúc tinh cứu giải nên trong trường hợp dù gặp khó khăn gì vẫn có quý nhân giúp sức vượt qua. Tháng 10 và 12 tốt, riêng người mạng Kim thì bất lợi đôi chút vì không hợp với hạn sao này.

Năm hạn trong lá số tử vi tốt mà gặp Cửu Diệu tinh nhập hạn tốt thì lại càng tốt thêm. Nếu gặp hạn sao xấu mà năm nhập hạn trong lá số tốt thì sao hạn xấu sẽ được giảm bớt. Ngược lại nếu năm hạn trong lá số xấu mà gặp thêm Cửu Diệu tinh nhập hạn xấu thì năm hạn xấu sẽ càng xấu thêm.

Luận về Tuần (hỏa) / Triệt (kim)

Tuần Trung Không Vong là cây cầu nối tiếp giữa hai giai-đoạn, kiềm hãm bớt từ từ lại, là trung gian kiềm chế, không cho quá trớn.

"Tứ chính giao phù kỵ nhất Không chi trực phá"

Triệt Lộ Không Vong là bao vây, ngăn cách từ cái xấu đến cái tốt, đã không cho xâm nhập từ ngoài vào (xấu cũng như tốt), mà còn phá đổ tất cả những gì trong cung bị nó phong tỏa.

"Tam phương xung sát hạnh nhất Triệt nhi khả bằng"

(Không vong định yếu đắc dụng, nhược phùng bại địa chuyên khán phù trì chi diệu, đại hữu kỳ công)

Tuần Triệt chỉ có thể làm giảm sự tốt đẹp của Cát-tinh hay tiêu-tán bớt sự xấu của Hung-tinh, chứ không thể biến đổi tính cách của sao được, như biến Cát-tinh trở thành Hung-tinh và ngược lại.

Tuần-Triệt có thể làm cho bộ SPT thành hiền dịu lại đôi chút, còn đối với CNĐL thì làm cho bộ này trở nên chậm rãi, phấn-đấu hơi khó-khăn chứ không thể biến đổi từ ôn-hòa trở nên hào hùng và khí-phách như bộ SPT được.

Tuần-Triệt cũng không thể thay-đổi tính-cách của vòng Thái-tueá được, nhưng các sao trong tam-hợp Thái-tuế bị Tuần-Triệt phải tùy thuộc vị-trí mà thay-đổi tư-cách.

Trường-hợp những người chẳng may bị đặt để vào những vị-trí bất mãn (tam-hợp Tuế-phá, Thiếu-dương, Thiếu-âm) dễ tự thiêu thân, làm những việc xấu (nếu gặp SPT và Sát-tinh); được Tuần hay Triệt đóng khiến tự hạn-chế những tham-vọng và hành-động của mình mà thuận theo đường lợi-ích, nâng cao tư-cách không kém gì những người tam-hợp Thái-tuế.

Tuần-Triệt đóng giữa 2 cung trong tử vi, nghĩa là chỉ có liên-quan đến 2 cung đó mà thôi.

Dương-Nam / Âm-Nữ = ảnh-hưởng Tuần-Triệt tại cung Dương 70% và tại cung Âm 30%

Âm-Nam / Dương-Nữ = ảnh-hưởng Tuần-Triệt tại cung Dương 80% và tại cung Âm 20%

Mệnh bị Tuần hay Triệt thiếu-niên tân-khổ, luôn gặp trở-ngại lúc đầu thực-hiện công-việc.

Mệnh bị cả Tuần lẫn Triệt thì đời bị vùi xuống đất đen, không phải là Tuần-Triệt phá nhau để cho đương-số được thong-thả.

Tuần-Triệt phá nhau dành cho những người thuận lý âm-dương:

Mệnh hay Thân có một Tuần hay Triệt, đến đại-vận từ 30 tuổi trở đi gặp Tuần hay Triệt hay Triệt thì sẽ được tháo-gỡ cho hanh-thông, dầu chỉ là một vài năm (bất chấp đến vòng Thái-tuế).

Trường-hợp người Dương đóng cung Âm (hoặc ngược lại) mà Mệnh-Thân có một Tuần hay Triệt, khi đến đại-vận gặp Tuần hay Triệt thì thời-vận tốt mở làm hai lần chậm chậm ở 2 cung đại-vận có Tuần hay Triệt đóng (mỗi đại-vận là 5 năm).

Mệnh Tuần Thân Triệt (hoặc ngược lại) không còn gì để tháo-gỡ; ngay cả khi đến đại-vận Thái-tuế, ảnh-hưởng tốt đẹp cũng chỉ thỏa mãn 50% mà thôi.

Trên đây là kinh nghiệm về hai sao Tuần Triệt của học phái Thiên Lương trong việc bình lá số tử vi, thật ra vấn đề đặc tính, ngũ hành và tác dụng của Tuần Triệt hiện còn đang là những nghi vấn, đề tài gây ra nhiều tranh luận, tùy theo mỗi người có lối tiếp thu, suy luận và khám phá riêng mà giải đoán.

Luận về Thiên Mã (hỏa)

Thiên Mã trong Tử-vi là một viên ngọc quí, viên ngọc quí này chỉ thấy ở trong hoàn-cảnh trái nghịch mà số đã xếp đặt cho người cung Mệnh hay Thân nằm trong tam-hợp Tuế-phá (bất mãn, đối kháng) của vòng Thái-tuế.

Thiên-mã là nghị-lực và khả-năng để giúp cho những người bất-mãn này đương đầu với những ngang-trái của tâm-thức và cuộc đời mà họ phải chịu. Đây chính là hình bóng một Tống Giang, một Đơn Hùng Tín, anh hùng hào hiệp chỉ phù suy chứ không tơ hào đến người thịnh. Còn tùy theo Thiên-mã có phải là của họ hay không mới là việc thành-bại quyết định.

Thiên Mã chủ tháo vát, tài năng và khéo léo. Ảnh hưởng nhiều đến công danh, sự nghiệp. Ngoài ra Thiên Mã còn chủ về sự di chuyển, thay đổi, đi xa và là phương tiện di chuyển như xe cộ, nếu gặp Sát tinh tùy theo mức độ nặng nhẹ dễ bị xe cộ hay hư hỏng hoặc tai nạn.

Về cơ thể con người Thiên Mã là tứ chi, nếu gặp Sát tinh tùy theo mức độ nặng nhẹ dễ bị thương tật.

Hành chính của Thiên Mã là hỏa, nhưng vì là dịch mã nên Mã đổi ngũ hành tùy theo phương vị Mã đóng, muốn làm chủ được Mã này thì bản mệnh phải đồng hành với cung Mã đóng thì mới có kết-quả được

Mã ngộ Tuần = Tuần là gạch nối liền giữa hai Giáp bắt cầu cho Mã trở nên đắc dụng. Tuy-nhiên Mã phải chùng lại một bước trước khi nhảy thì mới được thành-công, có nghĩa là vào giai đoạn đầu vẫn gặp những khó khăn, trở ngại nhưng rồi sau sẽ được hanh thông, nếu Thiên Mã hợp Mệnh, còn Mã ngộ Triệt là ngựa què ăn hại.

Người dương-nam - âm-nữ đại vận an theo chiều xuôi:

Mã mộc cung Dần gặp Tuần trở thành Mã hỏa
Mã hỏa cung Tỵ vì Tuần đứng sau nên không chuyển đổi
Mã kim cung Thân gặp Tuần trở thành Mã thủy
Mã thủy cung Hợi vì Tuần đứng sau nên không chuyển đổi
Người âm nam - dương nưõ đại vận an theo chiều ngược:
Mã mộc cung Dần vì Tuần đứng sau nên không chuyển đổi
Mã hỏa cung Tỵ gặp Tuần trở thành Mã mộc
Mã kim cung Thân vì Tuần đứng sau nên không chuyển đổi
Mã thủy cung Hợi gặp Tuần trở thành Mã kim

Thí dụ tuổi Kỷ Tỵ (Mệnh mộc) Mã tại cung Hợi ngộ Tuần đóng hai cung Hợi và Tuất. Nếu là người âm nam đại vận theo chiều nghịch thì Mã thủy sẽ theo cầu Tuần về lại cung Thân trở thành Mã kim khắc lại Mệnh mộc xấu. Còn với người âm nữ đại vận theo chiều thuận Tuần đóng sau lưng không thể bắt cầu cho Mã chạy nên Mã thủy sẽ sinh phò cho Mệnh mộc rất tốt.

Những cách tốt của Thiên Mã trong tử vi

Mã đắc Tràng-sinh = là giai-đoạn phát thịnh của tam-hợp Tuế-phá, Mã phải nằm trong tam-hợp Sinh-Vượng-Mộ thì mới được gọi là thanh vân đắc lộ nhưng chỉ hanh-thông trong đại-vận đó mà thôi và còn tùy thuộc vào Hành của Mã phù hay hại Mệnh nữa.

Mã-Khốc-Khách = Mã phải nằm trong tam-hợp Lộc-Tồn dành cho các tuổi Giáp/Thìn-Tý-Thân và Canh/Tuất-Ngọ-Dần. Phần ngoại-lệ này ban phát cho người được nhiều nghị-lực bền bỉ, tùy theo sự sinh-khắc của bản mệnh đối với Mã (xử-dụng và làm lợi).

Những cách xấu của Thiên Mã trong tử vi

Mã kỵ gặp Không Kiếp, Kình-Đà, Thiên-hình và Triệt là ngựa què, ngựa chết dễ bị trở ngại hay tai họa.

Mã ngộ Tuyệt = Người mệnh kim-hỏa và thổ / dương nam hay âm nữ, mệnh có Thiên Mã gặp Tuyệt (sao cuối cùng của vòng Tràng Sinh) tại cung Hợi là cách "Mã cùng đồ" ngựa cùng đường, hết lối chạy chỉ sự bế tắc và thất bại.

Luận về bộ sao Tứ Hóa trong tử vi

Hóa-khoa (thủy) - văn-tinh chủ về phúc-quý, là Đệ Nhất Giải Thần hoán cải được tư-cách SPLT và ngộ chế được Thiên-không, Lục-sát-tinh.
Hóa-quyền (mộc) - trung-lập chủ về uy-quyền và may-mắn, hay vụng tính sinh kiêu vì tự ái nên gặp Sát-tinh dễ bị kết-quả xấu
Hóa-lộc (mộc/thổ) - tài lộc do công khó làm ra, tăng ảnh-hưởng cho Tài-cát-tinh và tốt cho cung Điền-Tài.
Hóa-kỵ (thủy) - ám tinh hay đố kỵ, là sao Kế-đô của nữ mệnh. Giảm sự tốt đẹp của Cát-tinh, tăng ảnh-hưởng xấu của Sát-tinh.

Tam Hóa được áp đặt vào những chính-diệu theo hàng Can tuổi để đem lại sự hảnh-diện và phú quý cho người được hưởng. Giá-trị thật sự của Tam-hóa chỉ là gấm thêu hoa cho những bộ Chính-tinh dắc cách mà thôi chứ không phải là tư-cách, khả-năng và nghị-lực dùng để nâng cao phẩm-giá thực-sự cho người chính phái.

Nhận xét bảng tóm luận trên, các tuổi Ất-Bính-Kỷ-Nhâm-Quý được những sao đầy-đủ tư-cách hiền-lương nhân-hậu hẳn con thuyền khi ra khơi ít gặp phong ba bão lớn. Còn thuận buồm suôi gió hay không tùy thuộc ở hàng Chi (vòng Thái tuế) và giòng nước theo chiều cuộc diện (vòng Tràng-sinh).

Cách Tam hóa liên châu - ba sao đóng liên tiếp ba cung từ cung Dần đến Mùi / đắc vị nhất tại cung Thìn được dành cho 6 tuổi Ất/Tỵ-Dậu-Sửu (Khoa giáp Quyền-Lộc tại vị-trí Thiếu-âm) và Canh/Thân-Tý-Thìn (Quyền giáp Khoa-Lộc tại vị-trí Thái-tuế), còn các tuổi Ất-Canh khác chỉ là vay mượn mà thôi

Thiên Tài & Thiên Thọ (thổ) trong tử vi

Thiên Tài có ý nghĩa là tài năng, đo lường cắt giảm, vì thế nên Tài có đặc tính như Tuần Không là giảm ảnh hưởng xấu của các sao mờ ám và giảm bớt ảnh hưởng tốt của các sao sáng sủa.

Thiên Thọ là Phúc Thọ tinh chủ nhân hậu, từ thiện và gia tăng ảnh hưởng cho các phúc thọ tinh.

Ngoài những tính chất kể trên, Tài Thọ còn tượng trưng cho đạo lý Nhân Quả của đời người. Tài được khởi từ cung Mệnh (định mệnh thừa trừ mà cắt giảm) và Thọ được khởi từ cung an Thân (bản thân tự gây tạo) đến một cung nào đó để mách bảo cho biết là giữa Mệnh Thân và cung mà Tài hay Thọ đến đóng đã có sự hoán cải do luật thừa trừ mình đã gây nên.

Thân (Thiên Thọ / Nhân) = cá nhân tự gây tạo, tùy theo vị trí "Thân" để quyết định hành động theo cung mà Thiên Thọ đóng.

Mệnh (Thiên Tài / Quả) = định mệnh thừa hành mà cắt giảm, chịu ảnh hưởng cân quả do Thọ đã làm ra, tại cung có Thiên Tài đóng.

Nếu như Thân (tam hợp Thái Tuế) có làm ra "Thọ" hay cư xử sao cho "Thọ" được toàn vẹn thì Mệnh mới có đủ "Tài" năng lực hoán cải tạo ra những sự tốt đẹp để đền đáp. Còn như Thân xuất phát chử "Thọ" bị Không-Kiếp hãm thì Mệnh "Tài" kia cũng sẵn sàng đem lại những kết quả là hình thức như tranh vẽ mà thôi.

Người đời nhập thế ở khoảng thời gian nào thì sẽ thấy căn quả của mình phải mang nặng ở ngay phần việc nào như:

Năm Tý (Tài ở Mệnh) căn quả do chính bản thân mình
Năm Sửu (Tài ở Phụ) phải làm sao với Đấng sinh thành
Năm Dần (Tài ở Phúc) căn quả chịu ảnh hưởng nơi dòng họ
Năm Mão (Tài ở Điền) căn quả chịu ảnh hưởng về nhà cửa điền sản
Năm Thìn (Tài ở Quan) căn quả chịu ảnh hưởng với công việc làm
Năm Tỵ (Tài ở Nô) căn quả chịu ảnh hưởng nơi bạn bè, kẻ dưới tay
Năm Ngọ (Tài ở Di) căn quả chịu ảnh hưởng nơi ngoại nhân
Năm Mùi(Tài ở Ách) căn quả chịu ảnh hưởng những hoạn nạn
Năm Thân (Tài ở Tài) căn quả chịu ảnh hưởng do tiền của thâu hoạch
Năm Dậu (Tài ở Tử) căn quả chịu ảnh hưởng nơi con cháu
Năm Tuất (Tài ở Phối) căn quả chịu ảnh hưởng ở vợ chồng
Năm Hợi (Tài ở Bào) căn quả chịu ảnh hưởng nơi anh em

Các cách tốt xấu của Thiên Tài trong tử vi

Thiên Tài + Nhật hay Nguyệt = Thiên Tài khi đồng cung với Nhật hay Nguyệt hãm sẽ gia tăng sức sáng cho Nhật Nguyệt và sẽ làm giảm sự quang huy của Nhật Nguyệt một khi bộ sao này sáng sủa tốt đẹp.

Trường hợp Nhật Nguyệt đồng cung thì Thiên Tài sẽ làm cho Nhật Nguyệt thêm rực rỡ tốt đẹp.

Thiên Tài + Nhật hãm = Người không cẩn trọng lời nói, thiếu lòng tín ngưỡng về thần quyền.

Thiên Khôi (dương hỏa đới kim)
Thiên Việt (dương hỏa đới mộc)

Nhận xét kỷ sẽ thấy Khôi Việt hoàn toàn gần như đứng nghịch lý âm dương với cung đóng, tức là không bao giờ đứng chung trong tam hợp Thái Tuế hoặc Tuế Phá mà chỉ đứng trong tam hợp Thiếu Dương (Thiên Không) và Thiếu Âm.

Theo nhận xét trên, nếu xét theo ngũ hành thì Thiên Khôi luôn luôn bị khắc nhập, phải sinh xuất hay khắc xuất mà sa lầy bởi cung đóng và bị Triệt làm cho thất thế. Trong khi Khôi đóng vào những hoàn cảnh không được thuận lợi như vậy thì Việt lại được ưu thế vững vàng hơn, nhất là hai tuổi Đinh-Quí / Tỵ-Sửu được đứng chung tam hợp Thái Tuế như có ý là Việt ở ngôi vị thứ "Ất" thay mặt cho Khôi là trưởng "Giáp" mà lo toan mọi việc.

Vậy Khôi Việt chính là Thiên Ất Quý Nhân luôn đóng trong những tam hợp bất đắc ý vì nghịch lý âm dương và bị Sát tinh lủng đoạn hoành hành để giúp đỡ cứu tai giải họa và báo động cho người có số biết suy gẫm và điều chỉnh lại cung cách sống sao cho có ích thiện hơn như hai chữ Tài Thọ đã hướng dẫn.

Ngoài sứ mạng là Phúc tinh chủ về phúc thọ, cứu khổn giải nguy ra, Khôi Việt còn là Văn tinh hổ trợ cho các sao văn chương, nghệ thuật như Xương Khúc và là Quý tinh chủ về khoa giáp và quyền tước khi đứng chung với Khoa-Quyền-Lộc, Lộc Tồn, Thai Tọa...

Các cách tốt của Khôi-Việt

Khôi-Việt + Quý tinh = Gia tăng ảnh hưởng cho bộ Tử-Phủ-Vũ-Tướng và Xương-Khúc, Thai-Cáo, Khoa-Quyền-Lộc... Người được cách này thường thông minh, có tài thao lược, óc tổ chức và nắm giữ các chức vị cao trong công quyền.

Người được Khôi Việt thủ mệnh thường là con trưởng hoặc đoạt trưởng.

Các cách xấu của Khôi-Việt

Khôi Việt + Triệt hay Ky-Hình = Khôi Việt bị Triệt án ngữ hoặc Sát tinh, nhất là các sao Không là người thường bất đắc chí, công danh trắc trở không lâu bền. Dễ bị những tai họa đao thương hay súng đạn và yểu mệnh.

Thiên Quan Quí Nhân (dương hỏa)
Thiên Phúc Quí Nhân (âm thổ)

Nhận xét kỷ bảng an sao sẽ thấy Quan Phúc được phân công chia đều cho cả hai phía âm dương và có những vị trí hoàn toàn nghịch lý âm dương như Thiên Quan với các tuổi Giáp-Ất-Bính-Đinh-Mậu-Canh-Quý và Thiên Phúc với những tuổi Giáp-Ất-Mậu-Kỷ.

Riêng 5 tuổi Giáp-Ất-Mậu-Tân-Nhâm được Quan Phúc và cả Thiên Ất Quí Nhân (Khôi-Việt) đồng tụ lại đứng chung để ra công giúp đỡ, đem phân tích từng tuổi sẽ thấy:

Tuổi Giáp tại cung Mão của tam hợp Hợi-Mão-Mùi thường xuyên có Thiên Không và Kình Dương lủng đoạn.

Tuổi Ất tại cung Thìn của người âm nam trong tam hợp Thân-Tý-Thìn có Đà La là lưới trời.

Tuổi Mậu tại cung Ngọ có Kình Dương là kiếm treo đầu ngựa bất lợi cho ba tuổi Dần-Ngọ-Tuất và Thiên Không tung hoành tại cung Mão.

Tuổi Tân tại cung Dậu trong tam hợp Tỵ-Dậu-Sửu có Phá Toái phá hoại và cung Tỵ có Triệt chặn đứng, với tuổi Tân Tỵ còn bị thêm Tuần tại Dậu.

Tuổi Nhâm bị mắc lưới tại cung Tuất với Đà La.

Tóm tại, chúng ta nên chú ý tại những cung mà có nhiều Phúc Thiện tinh như Quan Phúc, Khôi Việt, Tứ Đức... tụ chung lại đều là những cung có sự hiểm nghèo vì nghịch lý âm dương và bị Sát tinh lủng đoạn hoành hành để giúp đỡ cứu tai giải họa và báo động cho người có số biết sẽ có những trở ngại và thử thách gay go trong cuộc sống, nhất là với bốn tuổi Mậu-Ất-Tân-Nhâm để đương nhân suy gẫm và điều chỉnh lại cung cách sống sao cho có ích thiện hơn như hai chữ Tài Thọ đã hướng dẫn, có kết quả tốt hay xấu còn tùy ở người có tuân theo mà cải thiện hay là bỏ qua.

Vậy Quan Phúc Quý Nhân chính là những Phúc Thiện tinh chủ về sự đức độ, nhân hậu, thực hiện từ thiện, giải trừ bệnh tật và tai họa...

Thiên Đức (hỏa) Phúc Đức (thổ)
Nguyệt Đức (hỏa) Long Đức (thủy)

"Thiên Nguyệt Đức, Giải Thần tàng,
cùng là Quan Phúc, một đoàn trừ hung"

Thiên Đức và Nguyệt Đức được an theo năm sinh. Còn Phúc Đức và Long Đức là hai sao thuộc vòng Thái Tuế cũng được an theo năm sinh. Bộ sao Tứ Đức là phúc thiện tinh chủ về sự đức độ, nhân hậu, từ thiện và có khả năng giải trừ bệnh tật và tai họa. Tứ Đức có thể chế giải một phần nào ảnh hưởng xấu của các sao hung sát.

Bản chất của Tứ Đức là đức hạnh và đoan chính nên chế ngự được tính dâm đãng hoa nguyệt của Đào Hồng và các dâm tinh.

Nhận xét về Thiên Đức, Phúc Đức và Nguyệt Đức chúng ta sẽ thấy ba sao này luôn đóng trong tam hợp Thiếu Dương của vòng Thái Tuế để khuyên nhủ, chỉ đường và cứu giải cho các tuổi nằm trong tam hợp Thiếu Dương vì quá tinh khôn đứng vượt lên trên Thái Tuế nên bị nghịch lý âm dương và luôn luôn có Thiên Không tác hại. Còn lại một Long Đức trong tam hợp Thiếu Âm để an ủi cho những tuổi bị bạc đãi và thua thiệt.

Chúng ta nên chú ý tại những cung mà có nhiều Phúc Thiện tinh như Quan Phúc, Khôi Việt, Tứ Đức... tụ hợp chung lại đều là những cung có sự hiểm nghèo vì nghịch lý âm dương và bị Sát tinh lủng đoạn hoành hành để giúp đỡ cứu tai giải họa và báo động cho người có số biết sẽ có những trở ngại và thử thách gay go trong cuộc sống, để đương nhân suy gẫm và điều chỉnh lại cung cách sống sao cho có ích, kết quả tốt hay xấu còn tùy ở người có tuân theo mà cải thiện hay là bỏ qua.

Phá Toái (hỏa đới kim)

Phá Toái được an theo năm sinh (tứ chính, tứ sinh và tứ mộ) là hung tinh chủ sự phá tán, gây trở ngại, hao tán tiền của, điền trạch. Gia tăng ảnh hưởng xấu của các sát tinh như Không Kiếp, Hỏa Linh nếu kết hợp.

Phá Toái chỉ đóng tại 3 cung Tỵ-Dậu-Sửu trên địa bàn Tử Vi, tuy chổ đóng bị hạn chế như vậy nhưng ảnh hưởng phá tán của Phá Toái cũng đủ làm ngang trái tư cách của các Chính tinh hiền dịu như Tử-Phủ, Cơ-Lương và tăng thêm sức mạnh cho bộ Sát-Phá-Tham, nhất là Phá Quân.

Nhận xét về sao Phá Quân đóng tại ba cung Tỵ-Dậu-Sửu (vị trí thường trực của Phá Toái) đều hãm địa hết như Vũ-Phá ở Tỵ và Liêm-Phá tại Dậu. Riêng Tử-Phá ở Sửu tuy đắc địa nhưng tư cách xấu không hơn gì Vũ-Phá và Liêm-Phá tại hai cung Tỵ-Dậu.

Mệnh Vũ-Phá tuổi Tý-Ngọ-Mão-Dậu (tuổi Dậu đẹp nhất)
Mệnh Liêm-Phá tuổi Dần-Thân-Tỵ-Hợi (tuổi Tỵ đẹp nhất)
Mệnh Tử-Phá tuổi Thìn-Tuất-Sửu-Mùi (tuổi Sửu đẹp nhất)

Phá Toái + Phá Quân = tạo thành cách "Toái Quân lưỡng Phá" dũng mãnh và hiển đạt về vỏ nghiệp
Luận về Thiên-không và Hồng-Đào

Cung Dần-Thân-Tỵ-Hợi - vị-trí của Hồng-loan làm chủ, Đào và Không tam hợp, là vị-trí của người thấy xa hiểu rộng, ít tham-vọng, đầy lòng đạo-đức, từ-tâm và cởi mở.

Tuổi Thìn-Tuất-Sửu-Mùi tại các vị-trí Dần-Thân-Hợi có thêm Cô-thần tam hợp nên được lòng cởi mở sáng-suốt, biết thân hiểu phận yếu mềm, dễ khiến sinh ra nhạy-cảm đến yếm-thế.

Riêng tại vị-trí Tỵ có thêm Phá-toái tam-hợp, vì Hồng-loan hơi yếu nên Phá Toái thường gây ra những sự ngang trái và khó-khăn cho mệnh số, như phải chịu ít nhiều những sự thử-thách.

Người của tam-hợp Thiếu-dương tại vị trí này nếu biết ngộ được chữ "không" của đời mình thì sẽ tránh được mọi phiền-não do Thiên-không gây ra.

Cung Tý-Ngọ-Mão-Dậu - vị-trí chính của Đào-hoa, được Hồng Loan tam hợp phát tiết vẻ anh hoa, sức quyến-rũ tạo nên sự mưu-sĩ, quỷ-quyệt và đạo đức giãkhiến phải sớm nở tối tàn vì Thiên-không và Kiếp-sát.

Với tuổi Dương, Đào đắc Thiên-riêu như được một phần nào thanh cao, đỡ sa ngã và đồi trụy hơn các tuổi Âm.

Tuổi Dần-Thân-Tỵ-Hợi tại vị-trí này đầy lòng tự-hào và có tham vọng cao nên rất dễ bị hãm vào vòng di lụy.

Người của tam-hợp Thiếu-dương tại vị trí này thường khôn-ngoan, thích lấn-lướt hơn người; nếu tại Mệnh thì đó là còn trong ý định, còn tại Thân thì lại tỏ ra bằng hành-động.

Cung Thìn-Tuất-Sữu-Mùi - vị-trí của Thiên-không một mình tung-hoành tác-hại và gieo tai-họa, vì thường-xuyên vắng bóng tôi trung là Hồng-loan mà chỉ còn kẻ nịnh là Đào-hoa đưa đẩy.

Tuổi Tý-Ngọ-Mão-Dậu tại vị-trí này rất khẳng-khái, nhiều khi quá cứng-rắn nên thường bị những kết-quả có phần ác liệt hơn các tuổi khác.

Người của tam-hợp Thiếu-dương tại vị-trí này thường hay đạp đổ để xây-dựng lại theo ý mình, dễ bị sa vào đường gây ra tội ác, nếu có thêm Hung-tinh gây bè kết đảng xúi giục.

Nói chung bộ Đào-Hồng-Không dầu gì cũng có tính-cách là vạn sự giai không, những người đạo-đức không màng tưởng đến phú-quý là cái "không" cao cả; kẻ mưu sĩ quỷ quyệt có xoay sở cho lắm rồi cũng lảnh hậu-quả là cái "không" bù trừ. Còn hạng người tàn-ác thường gieo tai-họa rồi ra cũng chỉ còn "không" trơ-trọi.

Chỉ còn người sáng suốt vẫn được sống yên lành là trường-hợp của Hồng Loan.

Thiên Hình (kim)

Thiên Hình là hung tinh chủ sự dũng mãnh, sát phạt phá tan, hình thuơng, gây trở ngại.

Thiên Hình hợp với Thiên Riêu là bộ sao đặc biệt cùng khởi theo tháng sinh từ tam hợp Tỵ-Dậu-Sửu và cùng đắc địa tại các cung Dần-Thân-Mão-Dậu-Tuất. Vì thế cho nên nếu Hình-Riêu đứng cặp với bộ sao nào hợp tình hợp cảnh sẽ gia tăng ý nghĩa cho các sao đó, tùy từng trường hợp. Như Hình Riêu đứng cặp với Xương Khúc là hỷ thần chủ về học thành, công danh hiển đạt...

Ngoài ra, theo học phái Thiên Lương thì Thiên Hình cùng với cung an Thân còn có một liên quan đặc biệt, như chúng ta đã biết Thân là hành động và Thiên Hình chính là sự phán xét, cùng cấu kết với nhau như bóng với hình.

Thân cư Mệnh thì Hình ở Ách (giờ Tý) hoặc Phuï (giờ Ngọ)
Thân cư Quan thì Hình ở Tử (giờ Dần) hoặc Điền (Thân)
Thân cư Tài thì Hình ở Bào (giờ Thìn) hay Nô (giờ Tuất)
Thân cư Di thì Hình ở Phối (giờ Mão) hoặc Quan (giờ Dậu)
Thân cư Phối thì Hình ở Mệnh (Tỵ) hoặc Di (giờ Hợi)
Thân cư Phúc thì Hình ở Tài (giờ Sửu) hay Phúc (giờ Mùi)

Mặc dầu cùng một cung an Thân nhưng nếu khác giờ sinh thì Hình sẽ ở tại cung đối xung để cho người có số biết sự chọn lựa như thế nào giữa hai cung.

Ví dụ Thân cư Quan nhưng nếu sinh giờ Dần thì Hình ở Tử và nếu sinh giờ Thân thì Hình sẽ ở Điền (đối cung với Tử) để giúp ta dự kiến trước khả năng sẽ phải đương đầu (mất con hay phải chịu thiệt hại về nhà đất) để mà tự do chọn lựa cách xử thế trong quá trình làm việc công ích xã hội như Thân cư Quan đã cho biết.

Những Cách tốt của Thiên Hình

Hình + cung Dần = Hình đắc địa tại cung Dần là cách "Hổ hàm kiếm" dũng mãnh và hiển đạt về vỏ nghiệp.

Hình + Binh + Tướng + Ấn = Hình là đại long đao, chủ sự sát phạt, có tài chỉ huy, thao lược và hiển đạt về vỏ nghiệp. Nhất là người Kim cung Mệnh tại Ngọ có Thất Sát và Hình đồng cung.

Hình + Dâm tinh = Bản chất của Thiên Hình là ngay thẳng, đoan chính vì thế nên Thiên Hình chế ngự được tính hoa nguyệt, dâm đãng của Đào Hồng và các dâm tinh khác.

Những Cách xấu của Thiên Hình

Hình hãm địa + Sát tinh = Gia tăng ảnh hưởng cho Sát tinh chủ tai họa, chém giết, hình thương và tù đầy, nhất là khi Hình đồng cung với Tướng hoặc Maõ bị Triệt.

Hình hãm địa + Tù tinh = Hội với các tù tinh như Liêm Trinh, Kình-Kiếp, Thái Tuế... thì hay bị quan tụng, hình ngục khó thoát.

Hình + Riêu + Không + Kiếp = Chủ oan trái nghiệp quả và chịu tai họa tập thể.

Thượng Cách

Tử-Phủ-Vũ-Tướng
Sát-Phá-Liêm-Tham
Cơ-Nguyệt-Đồng-Lương
Cự-Nhật
Nhật-Nguyệt

Muốn được thượng cách, tuổi và cung Mệnh phải được hội đủ các yếu tố như Âm Dương thuận lý, Mệnh Cục tương sinh.
Cung Mệnh-Thân của lá số phải được 1 trong 5 bộ Chính tinh trên, các sao trong bộ phải đầy đủ và miếu vượng hay đắc địa, sinh hay đồng hành với bản mệnh. Được nhiều Trung tinh như Khoa-Quyền-Lộc, Xương-Khúc, Khôi-Việt, Tả-Hữu, Thai-Tọa, Long-Phượng... đắc địa đồng cung hay hội chiếu và không bị Hung Sát tinh phá cách.

Người được thượng cách thường là sinh phùng thời, đạt được những thành công lớn trong cuộc đời, có tiền tài danh vọng hoặc là các bậc khoa bảng, có chức phận hay quyền tước cao trong xã hội.

Trung Cách

Trung cách là cách không được hoàn toàn như thượng cách, một trong hai yếu tố là tuổi và cung Mệnh âm dương bị nghịch lý hoặc Mệnh Cục khắc nhau.

Ngoài ra bộ cách của Chính tinh tại cung Mệnh-Thân của lá số không hội tụ đầy đủ và có sao bị lạc hãm. Các trợ tinh đồng cung hay hội chiếu như Khoa-Quyền-Lộc, Xương-Khúc, Khôi-Việt, Tả-Hữu, Thai-Tọa... không hội đủ hoặc lạc hãm và có Hung Sát hay Bại tinh xâm phạm.

Người được trung cách cũng đạt được những thành công trong cuộc đời nhưng không hiển hách bằng thượng cách, thường nghề nghiệp trung lưu, có tiền tài hay chức vị nhỏ trong xã hội.

Hạ Cách

Lá số hạ cách một hoặc cả hai yếu tố là tuổi và cung Mệnh âm dương bị nghịch lý hoặc Mệnh Cục khắc nhau.

Ngoài ra bộ cách của Chính tinh tại cung Mệnh-Thân của lá số không hội tụ đầy đủ và có sao bị lạc hãm, khắc nhập lại bản Mệnh. Thiếu nhiều trợ tinh như Khoa-Quyền-Lộc, Xương-Khúc, Khôi-Việt, Tả-Hữu, Thai-Tọa... đồng cung hay hội chiếu và bị nhiều Hung Sát hay Bại tinh phá cách.

Người hạ cách thường suốt đời bị vất vả lận đận, bất như ý trong cuộc sống, nghề nghiệp không nhất định và hay phiêu bạt.

* Ba cách (Thượng-Trung-Hạ) kể trên chỉ ảnh hưởng nhiều đến chính bản thân đương số mà thôi.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Các bước luận đoán lá số Tử Vi

Lễ rước linh vị vào chính điện và yết cáo Tiên Tổ (Văn khấn trong tang lễ)

Lễ rước linh vị vào chính điện và yết cáo Tiên Tổ (Văn khấn trong tang lễ)

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1. Ý nghĩa:

Rước linh vị vào chính điện và yết cáo Tiên Tổ

2. Cách tiến hành nghi lễ:

Chép sẵn linh vị mới phủ giấy (hoặc vải) đỏ, khi Đàm Tế ở bàn thờ tang xong, thì đốt linh vị cũ cùng với bảng đen phủ quanh khung ảnh và văn tế. Sau đó rước linh vị, bát hương và chân dung (nếu có) đưa lên bàn thờ chính, đặt ở hàng dưới.

Trường hợp nhà không có bàn thờ chính thờ gia tiên bậc cao hơn thì không phải làm lễ này mà yết cáo gia thần và yết cáo Tổ ở nhà thờ tổ.

3. Văn khấn:

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

- Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

- Con lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương

- Con kính lạy ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân

- Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ tỷ

Hôm nay là ngày… tháng…. năm... tại tỉnh… huyện… xã… thôn…

Tín chủ là…………(nếu lễ gia thần) hoặc Hậu duệ tôn là…………(nếu lễ gia tiên, tự xưng hô với vị được liệt thờ cao nhất).

Quỳ trước linh vị của………… (đọc linh vị của vị thờ cao nhất), liệt chư Tiên linh.

Kính nghĩ:
Gót tiêu dao, mịt mù mù mịt, đâu hạc nội, đâu mây ngàn?

Cõi trần thế, thay đổi đổi thay, nay sương dâu, mai bãi bể.

Lá rụng về cội, phách tuy giáng, hồn lại được siêu thăng.

Nước chảy về nguồn, thác là quy, sinh chẳng qua tạm ký.

Nhân sinh do tổ, gốc phải vững, phúc quả mới mong bền;

Hiểu tử sự thân, tế như tại, nhân tâm nào dám phế.

Bày nhân: Hiển khảo (hoặc tỷ)…………(đọc linh vị bố hoặc mẹ)

Thọ chung ngày…………..tính đến nay đã:


Quý húy Đại Tường;

Đến tuần Đàm Tế.

Quá hai năm trừ phục, cáo Tiên linh;

Đủ ba tháng dư ai, theo cổ lệ.

Cầu gia thần chứng giám, cho từ đường phảng phất linh hồn;

Nguyện Tiên Tổ phù trì, để bạch triệu quy hồi phách thể.

Đến ngày giỗ chạp, con cháu nhớ tháng ngày,

làm lễ dâng hương;

Nối gót Tổ Tiên, ông cha tiếp thế thứ, theo hàng phối tế.

Lễ bạc, kính dâng gọi chút, há dám quên cây cội, nước nguồn;

Suối vàng, như thấu cho chăng, họa may tỏ trời kinh, đất nghĩa.

Xin kính mời: Hiển…………………
Hiển…………………………………
Hiển…………………………………

Cùng các vị Tiên linh Tổ bá, Tổ Thúc, Tổ Cô và các vong linh phụ thờ theo Tiên Tổ về hâm hưởng.

Kính cáo: Liệt vị Tôn thần, Táo Quân, Thổ Công, Thánh Sư, Tiên Sư, Ngũ tư Gia thần cùng chứng giám và phù hộ cho toàn gia an ninh khang thái, vạn sự tốt lành.

Chúng con lễ bạc tâm thành cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Lễ rước linh vị vào chính điện và yết cáo Tiên Tổ (Văn khấn trong tang lễ)

Nước hoa và tính cách của chàng

Nếu bạn muốn khẳng định cảm nhận về chàng hãy tìm hiểu loại nước hoa mà chàng ưa dùng.
Nước hoa và tính cách của chàng

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

(Ảnh chỉ mang tính minh họa)

1. Người đàn ông bí ẩn với nhiều điều bất ngờ thường chọn mùi Lolita Lempicka Au Masculin.

2. Cool Water (Davidoff) dành cho những người đàn ông tự tin vào bản thân và biết giá trị của cuộc sống.

3. DKNY dành cho người đàn ông thích cuộc sống náo nhiệt chốn thị thành.

4. Celine Pour Homme hợp với những người đàn ông thích sự sành điệu và luôn hướng tới những gì độc đáo.

5. Những người đàn ông tháo vát, sáng tạo chắc hẳn sẽ đánh giá cao hương thơm tươi mát và phóng khoáng của Pure Vetiver (Azzoro).

6. Người đàn ông “kết” mùi hương Bvl Pour Homme (Bvlgari) thường là một người mạnh mẽ và nhiều đam mê.

7. Marc Opolo là hương thơm tinh tế hàng ngày dành cho những người đàn ông có phong cách Marc Opolo.

8. Hương thơm tươi mát, sống động, trong trẻo của Acqua Di Gio (Giorgio Armani) phù hợp cho những người đàn ông tràn đầy sức sống.

9. T- Fraiche (Givenchy) dành cho những người đàn ông táo bạo và phóng khoáng.

10. Người đàn ông sử dụng Basala For Men (Shiseido) là người sẵn sàng làm bất cứ việc gì vì tiếng gọi của con tim.

11. Người đàn ông chọn mùi nước hoa Romance Men (Ralph Lauren) là người sẽ mang đến cho bạn mối tình lãng mạn và những cảm xúc bay bổng.

12. Lalique Pour Homme (Lalique) là hương thơm độc đáo dành cho những người đàn ông luôn khát khao khám phá và sáng tạo.

13. Những người đàn ông yêu thích thể thao và cuộc sống năng động rất phù hợp với Nike Man.

14. Hương thơm tươi mát của rừng cây của Vetiver (Guerlain) là món quà phù hợp nhất đối với người đàn ông cởi mở và tự tin.

15. Những người đàn ông thích sự thư thái nhất định sẽ đánh giá cao Ez Up For Men (Debon).

16. Aqua - Fitness (Biotherm) sẽ mang đến sự sảng khoái và sức sống cho những người đàn ông luôn vươn tới vẻ đẹp cường tráng.

17. Miracle Homme (Lancome) là hương thơm của sự cởi mở dành cho những người đang yêu, đang hạnh phúc.

18. Monte Cristo Club (Franck Olivier) mùi hương ngọt ngào này dành cho các quý ông thích hội hè, tụ tập.

19. Hương thơm quyến rũ của Ultraviolet Man (Paco Rabanne) được tạo ra để dành riêng cho những người đàn ông sống độc thân.

20. Kenzo Pour Homme (Kenzo) là nước hoa dành cho những người đàn ông thích phong cách cổ điển.

21. Hương thơm ngọt ngào của hoa quả pha chút cay nồng của Higher Dior (Christian Dior) là sự lựa chọn lý tưởng của người đàn ông luôn vươn tới sự hoàn thiện.

22. Hương thơm độc đáo của Legendary Harley Davison rất phù hợp với những người đàn ông có khí phách mạnh mẽ, nam tính.

23. Hương thơm Pour Monsieur (Pierre Cardin) là quà tặng độc đáo dành cho những người đàn ông sành mốt.

24. Những người đàn ông cởi mở, yêu đời rất “kết” Clinique Happy For Men (Clinique).

25. Những quý ông lịch lãm không bao giờ bỏ qua Dunhill X-Centric.

(Theo Việt Báo)

 

 


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nước hoa và tính cách của chàng

Xem tướng cổ đoán vận hạn

1. Người cổ gầy thường hay đau ốm. 2. Người cổ dày và cứng dễ đột quỵ.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

3. Người có cổ dày và ngắn ít khi ốm, nếu ốm thường rất nặng.

4. Con trai có cổ dày, các mạch máu ở cổ chồng chéo lên nhau có khả năng mắc bệnh xuất huyết não cao hơn bình thường.

5. Người có cổ dày, đầu nhỏ sống không thọ.

6. Những người tự tin có xu hướng xoay cổ sang trái.

7. Người có nốt ruồi trên cổ thường làm cấp dưới.

xem tướng lông cổ xem tướng cổ tay xem tướng cổ phụ nữ xem tướng cổ ngắn xem tướng cổ dài xem tướng cổ chân xem tướng cổ cao ba ngấn xem tướng cổ cao xem tướng cổ 3 ngấn xem tướng cổ

8. Người có cổ béo hay “ruột để ngoài da”.

9. Phái nữ cổ ngắn thường tự cho mình là đúng, luôn coi bản thân là trung tâm. Khó ai chế ngự được mẫu con gái này.

10. Con trai cổ ngắn, chúi người về phía trước khi bước đi, thường sống nội tâm, hay tính toán.

11. Người có cổ mỏng, vai rủ về phía trước hay gặp khó khăn trong công việc và cuộc sống, thích hùa theo đám đông. Người này không có khả năng đánh giá, bao quát tình hình nên không thể làm lãnh đạo.

12. Người cổ ngắn, vai u có khả năng đảm nhận các nhiệm vụ quan trọng trong chính phủ.

xem tướng lông cổ xem tướng cổ tay xem tướng cổ phụ nữ xem tướng cổ ngắn xem tướng cổ dài xem tướng cổ chân xem tướng cổ cao ba ngấn xem tướng cổ cao xem tướng cổ 3 ngấn xem tướng cổ

13. Người cổ dài làm lụng vất vả, kết quả thu được không nhiều.

14. Người cổ gân guốc, không bằng phẳng rất bình tĩnh trong công việc. Người này thường mắc các bệnh liên quan đến dạ dày và có nguy cơ đột quỵ cao.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tướng cổ đoán vận hạn

Cách đeo nhẫn cóc ngậm ngọc –

Nhẫn cóc ngậm ngọc là một loại trang sức khá phổ biến hiện nay rất nhiều người đeo. Người kinh doanh thương đeo nhẫn cóc ngậm ngọc lấy may hoặc làm quà tặng. Tìm hiểu về cách đeo nhẫn cóc ngậm ngọc cho hợp phong thủy Cách đeo nhẫn cóc ngậm ngọc Việc

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nhẫn cóc ngậm ngọc là một loại trang sức khá phổ biến hiện nay rất nhiều người đeo. Người kinh doanh thương đeo nhẫn cóc ngậm ngọc lấy may hoặc làm quà tặng. Tìm hiểu về cách đeo nhẫn cóc ngậm ngọc cho hợp phong thủy

Nội dung

  • 1 Cách đeo nhẫn cóc ngậm ngọc
    • 1.1 Đeo nhẫn cóc ngậm tiền ngón cái
    • 1.2 Đeo nhẫn cóc ngậm ngọc ngón trỏ
    • 1.3 Đeo nhẫn cóc ngậm ngọc ngón giữa
    • 1.4 Đeo nhẫn cóc ngậm ngọc ngón áp út
    • 1.5 Đeo nhẫn cóc ngậm ngọc ngón út
  • 2 Nhẫn con cóc có ý nghĩa gì theo phong thủy?

Cách đeo nhẫn cóc ngậm ngọc

Việc tạo hình nhẫn cóc tương đối đa dạng nhưng vẫn giữ nguyên kiểu dáng thường thấy của Thiềm Thừ. Chỉ có một điều mà rất nhiều người băn khoăn, đó là nên đeo nhẫn con cóc quay vào hay quay ra. Thực ra điều này tùy theo cách thích ứng về mặt phong thủy của từng người mà thực hiện.

Lấy phương vị người đeo nhẫn làm chuẩn thì đầu cóc hướng về ngón tay là quay ra. Cóc quay ra vào ban ngày sẽ mang về tài lộc cho ra chủ, đến ban đêm cóc phải quay vào. Có nhiều người lại đeo nhẫn hướng đầu cóc quay ra vào ban ngày rồi về nhà cất nhẫn kín đi.

Có người lại quan niệm khác, cho rằng để cóc trên nhẫn quay theo hướng nào cũng được. Điều quan trọng vẫn là phải khai quang điểm nhãn cho cóc thần lúc mới đem về. Người cóc nhìn thấy đầu tiên sẽ là người được phù trợ. Một khi chủ nhân đã được cóc thấu thông nhân tính thì để thế nào cũng được may mắn. Theo cách nghĩ này thì họ không còn băn khoăn deo nhan con coc quay vao hay quay ra nữa.

Nhẫn ông cóc đeo ở mỗi ngón lại có ý nghĩa khác nhau. Nếu đeo nhẫn ở tay phải nó sẽ giúp bạn loại trừ các nguồn năng lượng tiêu cực trong cuộc sống. Còn đeo nhẫn bên tay trái bạn sẽ nhận thêm nguồn năng lượng tích cực, mạnh mẽ.

Đeo nhẫn cóc ngậm tiền ngón cái

Từ thời trung cổ, người đeo nhẫn ngón tay cái thường thể hiện mình là bậc vương giả, giàu có. Những người này có thể là vua chúa, quan lại, địa chủ, những người thương nhân giàu có. Deo nhan con coc quay vao hay quay ra không quan trọng. Miễn là vị trí nhẫn ở ngón tay cái sẽ cho bạn cảm giác là người sang trọng, quý phái. Đeo nhẫn theo cách này cũng giúp bạn thăng tiến nhanh trong đường công danh, sự nghiệp.

Đeo nhẫn cóc ngậm ngọc ngón trỏ

Ngón trỏ biểu hiện sức mạnh vì tích lũy nhiều nguồn năng lượng. Đeo nhẫn cóc ngậm tiền ở ngón trỏ giúp bạn dễ thành công hơn trong việc học hành, thi cử và sự nghiệp.

Đeo nhẫn cóc ngậm ngọc ngón giữa

Ngón giữa bàn tay tượng trưng cho năng lực nhận thức. Cũng có nhiều người đeo nhẫn ở ngón này để đặt dấu hiệu nhận dạng mình đã kết hôn. Đeo nhẫn cóc tại ngón giữa giúp bạn gặp nhiều may mắn và đem lại hạnh phúc gia đình.

Đeo nhẫn cóc ngậm ngọc ngón áp út

Ngón áp út tượng trưng cho tình yêu, sắc đẹp và sự chung thủy. Thường những người yêu nhau, đính hôn và kết hôn sẽ đeo nhẫn đôi ở ngón này. Cũng có quan niệm cho rằng đeo nhẫn Thiềm Thừ ở ngón áp út sẽ tìm được nửa kia của mình. Deo nhan con coc quay vao hay quay ra ở đây không còn ý nghĩa về tài lộc mà chỉ giúp tăng cảm xúc về tình yêu.

Đeo nhẫn cóc ngậm ngọc ngón út

Ngón út tượng trưng cho phúc khí và trí tuệ của người chủ nhẫn cóc. Đeo nhẫn thiềm thừ ở ngón này, bạn sẽ hóa giải vận xui và gặp điều may mắn.

Nhẫn con cóc có ý nghĩa gì theo phong thủy?

Theo quan niệm phương Đông, cóc là biểu tượng của điềm lành, vinh hoa, phú quý, nên người ta thích đeo nhẫn hình cóc ngậm tiền với mong muốn tài vận dồi dào và may mắn đến với mình. Ngoài việc đeo nhẫn ở ngón tay tích hợp, bạn cần chú ý đến yếu tố phong thủy, gắn liền với số mệnh của mình để lựa chọn màu sắc và chất liệu nhẫn con cóc:

Người mạng Kim: nên đeo nhẫn con cóc phong thủy có màu vàng đậm hoặc nâu, ưu tiên chọn đá thạnh anh vàng,… góp phần bảo vệ sức khỏe cho người đeo.

Người mạng Mộc: chọn nhẫn con cóc màu xanh nước biển và các tông màu lạnh, tương ứng với các loại đá như ngọc lục bảo, sapphire,… hoặc chọn màu nâu hay vàng đậm, vì trong ngủ hành thì Mộc khắc chế được Thổ.

Người mạng Thủy: theo quy luật tương sinh trong ngũ hành, người mạng Thủy nên chọn đá màu xanh và thuộc hành Kim, thích hợp với các chất liệu mã não đen, sapphire đen, đá onyx,… màu xanh như đá Topaz…

Người mạng Hỏa: những màu tím, đỏ, hồng, cam,… rất phù hợp cho người có mạng hỏa vì nó toát lên nguồn năng lượng nội sinh mạnh mẽ, tràn đầy sức sống, biểu tượng cho sự đam mê cháy bỏng. Chất liệu để làm nhẫn con cóc có thể từ thạch anh tím, đá ruby,… Ngoài ra, dựa theo yếu tố tương sinh thì những loại đá có màu thiên về sắc Mộc cũng tốt cho người mạng Hỏa, vì Mộc sinh Hỏa.

Người mạng Thổ: Người có mạng Thổ nên đeo nhẫn con cóc có màu đỏ, vàng nâu hay những màu gần với sắc đất. Đeo đúng loại nhẫn giúp gia tăng sự thịnh vượng, sức khỏe và may mắn, theo quan niệm của phong thủy.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cách đeo nhẫn cóc ngậm ngọc –

Tử vi trọn đời cho nam mệnh tuổi Giáp Tuất 1994

Những người sinh năm Giáp Tuất 1994, tuổi con chó, thuộc cung Chấn, trực Kiến mang Sơn đầu hỏa (lửa trên núi).

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Những người sinh năm Giáp Tuất 1994, tuổi con chó, thuộc cung Chấn, trực Kiến mang Sơn đầu hỏa (lửa trên núi).

Cuộc đời của người tuổi Giáp Tuất

Lúc còn nhỏ tiền vận có long đong đôi chút, nhưng từ trung vận trở đi, tức là vào khoảng từ 26 tuổi thì cuộc sống hoàn toàn sung sướng về thể xác, tuy tâm trí có lo nghĩ đôi chút nhưng hoàn toàn êm đẹp. Có sung sướng hoàn toàn về thể xác, cuộc đời không đến nỗi phải ưu tư sầu muộn, số bạn không thoát khỏi được cái bẫy của gia đình hạnh phúc.. Dù danh vọng có lên cao, số cũng phải nhờ khả năng của đàn bà thì mới xây dựng sự nghiệp cuộc đời.

Bắt đầu từ 24 trở đi, thì có nhiều triển vọng tốt đẹp của cuộc đời, có thể cuộc sống được hưởng thanh nhàn, có của, con lại đông, là một gia đình đầy đủ. Nếu sáng suốt hơn thì cuộc đời sẽ đẩy mạnh hơn nữa và kéo dài cho đến 45 tuổi mới trở về mức bình thường.

Xem tử vi của nam mạng Giáp Tuất năm 2016

Tử vi trọn đời cho nam mệnh tuổi Giáp Tuất 1994

Tình duyên của nam mệnh Giáp Tuất

Vấn đề tinh duyên của người nam mệnh Giáp Tuất ban đầu thường chịu nhiều khổ đau, trở ngại mới thành gia thất. Số được đàn bà chú ý và sa ngã nhiều hơn là tự mình tạo lấy hạnh phúc. Tuy nhiên, dù có hạnh phúc thì cuộc sống thường xảu ra những mặc cảm giữa hạnh phúc và làm cho gia đình, tình cảm vợ chồng không được hoàn toàn êm ấm.Nhưng theo khoa toán số thì vấn đề tình duyên của nam mang Giáp Tuất như sau:

Nếu bạn sinh vào những tháng 2,3 9 âm lịch thì cuộc đời của bạn phải thay đổi 3 lần tình duyên và hạnh phúc.

Nếu bạn sinh vào những tháng 4, 6, 7, 8, 10, 11 âm lịch thì cuộc đời của bạn sẽ thay đổi hai lần tình duyên rồi mới được hạnh phúc suốt đời.

Nếu bạn sinh vào những tháng còn lại là 1, 5, 12 âm lịch thì cuộc đời bạn được hưởng hạnh phúc đầy đủ.

Gia đạo, công danh của nam mạng Giáp Tuất

Phần gia đạo không được êm ấm, bao giờ bạn cũng muốn sống một cuộc đời tự tạo cho mình nên thường có những xích mích. Đường công danh có phát triển và lên cao khoảng 27 tuổi trở đi và có thể sẽ lên cao hơn nữa vào năm 344 tuổi, nếu công danh không lên cao thì người này cũng có nhiều tên tuổi với đời.

Sự nghiệp tiền tài của nam mạng Giáp Tuất.

Vấn đề điều hòa và ít khi bị thiếu hụt, tuy nhiên cũng vào khoảng tuổi 34 thì vấn đề tiền tài mới có cơ hôi phát triển. Năm 33 tuổi hãy còn xấu, sự nghiệp đi đôi với tiền tài, phải sau 34 tuổi cho đến 38 tuổi thì mới có sự nghiệp vĩ đại.

Những tuổi hợp cho làm ăn với nam tuổi Giáp Tuất.

Trong làm ăn hay cộng tác, hợp tác với người khác trong bất cứ công việc gì thì nên lựa chọn những tuổi dưới đây để cộng tác sẽ thành công ngoài sức tưởng tưởng của mình. Đó là những tuổi: Ất  Hợi (1995), Bính Tý ( 1996), Mậu Dần (1998), Tân Tị (2001). Những tuổi này rất hợp với bạn trong việc làm ăn, cộng tác trong sự nghiệp sễ gặp nhiều may mắn.

Những tuổi hợp cho nam mạng Giáp Tuất để vợ chồng được cao sang quyền quý.

Trong việc hôn nhân, hạnh phúc, bạn cần lựa chọn lương duyên sao cho hợp với tuổi của mình. Để cuộc đời thêm nhiều hoa gấm, bạn nên kết duyên và xây dựng hạnh phúc với những tuổi sao đây: Ất Hợi (1995), Bính Tý (1996), Mậu Dần (1998), Tân Tị (2001), Nhâm Ngọ (2002), Nhân Thân (1992).

Nếu bạn kết duyên với tuổi Ất Hợi, Bính Tý: Cuộc đời bạn sẽ được dễ dàng hơn trong việc làm ăn, giàu sang phú quý.

Nếu kết duyên với tuổi Mậu Dần và Tân Tị: Cuộc sống trở nên hoàn toàn đầy đủ, công danh lên cao, sự nghiệp, tiền tài tốt đẹp.

Với tuổi Nhâm Ngọ: Bạn có cơi hội phát triển về vấn đề nghề nghiệp, có thể hưởng được phú quý trong đời.

Những tuổi đại kị trong đời mà man mạng Giáp Tuất không nên kết hợp

Với những tuổi này rất đại kỵ đối với tuổi nam  mạng Giáp Tuất, trong việc làm ăn hay sự kết duyên bạn phải gặp nhiều cay đắng, nhằm sao Tuyệt mạng, Biệt ly giữa cuộc đời. Đó là khi bạn kết hợp với các tuổi: Đinh Sửu (1997), Kỷ Mạo, Ất Dậu, Kỷ Sửu, Tân Mạo, Quý Dậu, Đinh Mạo.

Vào năm 2016 thì sao chiếu mệnh tuổi Giáp Tuất là sao Thái Dương, cần cúng giải hạn sao Thái Dương vào ngày 27 âm lịch hàng tháng.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tử vi trọn đời cho nam mệnh tuổi Giáp Tuất 1994

Mơ thấy tuyết: Hóa giải buồn lo trong cuộc sống –

Tuyết trắng che lấp mọi nhơ bẩn, tượng trưng cho sự sạch sẽ. Nam giới mơ thấy tuyết rơi, chứng tỏ mình là người đáng tin, không lợi dụng kẻ khác, vì thế được mọi người tín nhiệm, sống cuộc đời đủ đầy no ấm. Nữ giới mơ thấy tuyết rơi, có nghĩa là tâm
Mơ thấy tuyết: Hóa giải buồn lo trong cuộc sống –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mơ thấy tuyết: Hóa giải buồn lo trong cuộc sống –

Xem ngày sinh đại cát cho người tuổi Dậu (P1)

Ngày sinh đại cát cho người tuổi Dậu: Người tuổi Dậu sinh ngày 14 có tính tình nóng nảy, làm việc theo hứng mà không theo bất cứ quy tắc hay kế hoạch cụ thể
Xem ngày sinh đại cát cho người tuổi Dậu (P1)

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Người tuổi Dậu sinh ngày 14 có tính tình nóng nảy, làm việc theo hứng mà không theo bất cứ quy tắc hay kế hoạch cụ thể nào nên phải trải qua không ít thất bại trong cuộc sống.


Người tuổi Dậu sinh ngày mùng 1   Đa phần người tuổi Dậu sinh ngày mùng 1 âm lịch có cuộc sống vất vả, gia đình bất hòa, gặp nhiều chuyện buồn phiền. Tuy nhiên, nếu nỗ lực tu nhân tích tức, nỗ lực vươn lên thì vận mệnh sẽ thay đổi tích cực, cuộc sống về trung và hậu vận sẽ an nhàn và sung túc hơn.
Người tuổi Dậu sinh ngày mùng 2   Người này tính tình điềm đạm, kiên nhẫn, có chí tiến thủ nên dễ dàng thành công trong sự nghiệp. Tuy nhiên người tuổi Dậu sinh ngày này dễ bị các yếu tố ngoại cảnh tác động, tâm trạng bất ổn và đôi khi lo lắng thái quá. Nếu không khắc phục được nhược điểm này thì khó duy trì được thành công.
Người tuổi Dậu sinh ngày mùng 3   Người tuổi Dậu sinh ngày mùng 3 có vận thế bất ổn, cuộc sống nhiều thăng trầm, không được gia đình, người thân hậu thuẫn. Tuy nhiên, nếu làm nhiều việc thiện thì vận thế sẽ chuyển biến tích cực và gặp nhiều may mắn trong cuộc sống hơn.   Người tuổi Dậu sinh ngày mùng 4   Người này tính tình đôn hậu, chân thành, tài vận khá, mưu sự thuận lợi, tuổi trẻ tài cao, dễ thành danh trong thiên hạ.   Người tuổi Dậu sinh ngày mùng 5   Sở hữu bộ não thông minh, linh hoạt và cá tính độc lập, người tuổi Dậu sinh ngày mùng 5 mưu sự đại thành, vạn sự như ý, làm việc gì cũng có quý nhân phù trợ, cuộc sống hôn nhân hòa hợp, hạnh phúc.   Người tuổi Dậu sinh ngày mùng 6   Người này có trí lực nổi trội, thông minh hoạt bát, tư duy logic, làm việc tỉ mỉ, chu đáo theo kế hoạch cụ thể nên cuộc sống hưởng vinh hoa phú quý, công danh sự nghiệp thành đạt.
Xem ngay sinh dai cat cho nguoi tuoi Dau P1 hinh anh
Ảnh minh họa

Người tuổi Dậu sinh ngày mùng 7   Người này ý chí không kiên định, làm việc thiếu quyết đoán nên khó gặt hái được thành công trong công việc và cuộc sống. Ngoài ra, người này có lối sống khá tẻ nhạt nên không có sức hút lớn đối với người khác giới.   Người tuổi Dậu sinh ngày mùng 8   Người này không có ý chí kiên định, dễ bị yếu tố ngoại cảnh tác động nên khó có được thành công trong sự nghiệp một cách trọn vẹn. Tuy nhiên, nếu làm việc kiên trì và nỗ lực hơn, vận thế sẽ khởi sắc, có nhiều cơ hội phát triển về công danh, sự nghiệp. 
Người tuổi Dậu sinh ngày mùng 9   Người này có cuộc sống vất vả, cực khổ, nhiều thăng trầm, sức khỏe lại không tốt, mắc nhiều bệnh tật, công danh sự nghiệp chỉ ở mức trung bình.   Người tuổi Dậu sinh ngày mùng 10   Đa phần người này có tính cách nóng vội, tài năng và phúc khí hơn người. Tuy nhiên vì làm việc thiếu kiên nhẫn nên thành bại đan xen, công danh sự nghiệp ở mức trung bình.   Người tuổi Dậu sinh ngày 11   Ham hư vinh, thích được người khác xu nịnh và hay mơ mộng hão huyền là những đặc điểm thường thấy ở người tuổi Dậu sinh ngày mùng 11. Ngoài ra, người này làm việc thiếu kiên nhẫn, dễ bỏ cuộc giữa chừng nếu gặp khó khăn.
Người tuổi Dậu sinh ngày 12   Nam mệnh ham mê tửu sắc, dễ nhiễm những thói hư tật xấu trong cuộc sống như rượu chè, cờ bạc… Số mệnh người này sướng trước khổ sau, không biết tích lũy lúc về già nên cuộc sống ngày càng cơ cực.
Người tuổi Dậu sinh ngày 13   Người này có số mệnh cát tường, có chí tiến thủ, làm việc lại nhiệt tình, chân thành nên mưu sự tất thành, tiền đồ xán lạn.   Người tuổi Dậu sinh ngày 14   Người tuổi Dậu sinh ngày 14 có tính tình nóng nảy, làm việc theo hứng mà không theo bất cứ quy tắc hay kế hoạch cụ thể nào nên phải trải qua không ít thất bại trong cuộc sống.   Người tuổi Dậu sinh ngày 15   Người này có số mệnh phú quý, tài năng, có khả năng lãnh đạo tốt, dễ vang danh bốn phương, được hưởng phúc lộc con cháu khi về già.  
► Lịch ngày tốt cung cấp công cụ tra cứu ngày sinh con năm 2016 đẹp nhất và hợp tuổi bố mẹ

Việt Hoàng (Theo XZ360)
 
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem ngày sinh đại cát cho người tuổi Dậu (P1)

Lựa chọn tài vị trong các cửa hàng, phòng làm việc –

- Lấy số của Nguyên vận, sau đó xác định cực trung tâm của căn phòng. - Xác định rõ phương hướng của căn phòng. - Lấy sao chủ đương vận nhập vào Trung cung. - Phi tinh hướng bàn và sơn bàn. - Lấy vượng tinh đương lệnh của năm và các sao tốt của vận s

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

– Lấy số của Nguyên vận, sau đó xác định cực trung tâm của căn phòng.

– Xác định rõ phương hướng của căn phòng.

– Lấy sao chủ đương vận nhập vào Trung cung.

– Phi tinh hướng bàn và sơn bàn.

– Lấy vượng tinh đương lệnh của năm và các sao tốt của vận sắp tới đặt ở phương vị đó làm tài vị.

– Tuổi và thứ tự trong nhà của chủ nhà không giống nhau nên hướng phòng, hướng cửa cũng phải thay đổi theo sự thay đổi
của tài vị.

than_tai_tu_dong_01

Thế nào gọi là khí trong phong thủy học

“Khí” theo quan niệm cổ đại là một khái niệm rất trừu tượng. Quan điểm duy vật cho rằng đó là nguyên tố ban đầu cấu thành nên thế giới; quan điểm duy tâm cho rằng đó là sản phẩm của phái Tinh thần khách quan. Các bậc tiên triết cho rằng: Khí không tồn tại ở đâu cả, “khí” cấu thành nên vạn vật, khí không ngừng vận động biến đổi.

Khí trong thuật phong thủy là một khái niệm quen thuộc, quan trọng. Có sinh khí, tử khí, dương khí, âm khí, thổ khí, địa khí, thừa khí, tụ khí, nạp khí, khí mạch, khí mẫu. “Khí” là nguồn gốc của vạn vật, “khí” biến đổi vô cùng, “khí” quyết định phúc hoạ của con người, là âm trạch hay dương trạch, đều cần chú ý đến thừa sinh khí và tránh tử khí.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Lựa chọn tài vị trong các cửa hàng, phòng làm việc –

Nên thường xuyên dọn dẹp, sắp xếp văn phòng –

Mỗi ngày dọn bỏ những đồ linh tinh trên bàn làm việc: Lau sạch bụi bặm trên bàn, đặt các văn kiện giấy tờ và dụng cụ văn phòng vào những vị trí thích hợp. Định kỳ kiểm tra các ngăn kéo, cho các loại bút, tẩy, kéo và kẹp giấy vào trong ngăn kéo. Kịp t

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Mỗi ngày dọn bỏ những đồ linh tinh trên bàn làm việc: Lau sạch bụi bặm trên bàn, đặt các văn kiện giấy tờ và dụng cụ văn phòng vào những vị trí thích hợp.

Định kỳ kiểm tra các ngăn kéo, cho các loại bút, tẩy, kéo và kẹp giấy vào trong ngăn kéo. Kịp thời sửa chữa những vật phẩm bị hỏng.

phong-thuy-van-phong

Không nên do dự, nhanh chóng dọn bỏ những thực vật hoặc những bông hoa khô héo.

Dùng một chút thời gian làm sạch giá sách, tủ văn kiện hoặc những tấm giấy lưu trên tường, chỉ giữ lại những văn bản hoặc kế hoạch hữu dụng. Những đồ vật không thường dùng thì lưu giữ bên ngoài văn phòng của công ty.

Tóm lại, cần cố gắng làm sạch những thứ không dùng đến. Những tạp vật trên sàn nhà cần được lau sạch, hay đổ rác thải đi.

Bên tay phải của bàn làm việc không nên đạt quá nhiều đồ đạc. Thông thường người ta có thói quen dùng tay phải để viết chữ, bên tay phải nếu đặt nhiều đồ quá sẽ ảnh hưởng đến sự thông suốt của hoạt động, cho nên các các nước, kẹp tài liệu, sách… tốt nhất đặt ở bên trái.

Lối đi ra vào cũng không nên đặt quá nhiều thứ làm trở ngại. Lối đi vào của chỗ ngồi đại diện cho đường lối liên lạc của bạn đối với bên ngoài, nếu lối ra vào đặt nhiều vật to, đường đi phải lách bên trái hay bên phải trong một thời gian dài lòng sẽ càng thấy khó chịu, bất tiện, gián tiếp ảnh hưởng đến quan hệ giao tiếp của bạn với công việc.

Bạn còn cần phải xem xét tỉ mỉ: Túi tiền của bạn, các bìa kẹp tài liệu và túi công văn cũng rất dễ tập hợp những thứ linh tinh, nó sẽ làm trở ngại đến phong thủy cá nhân bạn. Hãy nhanh chóng vứt bỏ những tạp vật, kẹo cao su lâu ngày, hay những bút bi đã hết mực. Không nên để tiền vào trong những túi tiền cũ nát, túi tiền nên hiển thị sự tao nhã và phú quý.

Ngoài ra, nên đưa các loại giấy tờ, sổ ghi chép và máy tính xách tay của bạn đặt chỉnh tề trong bao công văn. Dùng giấy để ghi lại những việc phải làm ngay và dán trước mắt bạn để gây chú ý.

Để tăng cường tài phú cho cá nhân, trong túi tiền cũng nên đặt đủ số tiền, khiến bản thân bạn tăng thêm cảm giác an toàn và no đủ.

Nếu muốn làm một số trang sức cho vách ngăn, nhất định không được treo những bức tranh kỳ dị. Đặc biệt là một số bức tranh khủng bố, âm trầm, bởi vì những bức tranh này sẽ có tác dụng gây ra án thị đối với tiềm ý thức, ảnh hưởng tới sự ổn định tư tưởng của bạn. Nếu muốn treo thì nên treo những hình ảnh có những đường nét mềm mại và đơn giản một chút thì mới thực sự có tác dụng.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nên thường xuyên dọn dẹp, sắp xếp văn phòng –

Tử vi - Triết lý nhân sinh

Trang này sẽ tập trung Căn bản lại những kiến thức tối quan trọng của Tử Vi. Rất chắt lọc và ngắn gọn nhằm giúp người tìm hiểu nắm được cái cốt yếu trong Tử Vi, mà không lan man vào các tiểu tiết khác, gây khó khăn trong quá trình học hỏi, nghiên cứu.
Tử vi - Triết lý nhân sinh

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

TỬ VI - TRIẾT LÝ NHÂN SINH

Trang này sẽ tập trung Căn bản lại những kiến thức tối quan trọng của Tử Vi. Rất chắt lọc và ngắn gọn nhằm giúp người tìm hiểu nắm được cái cốt yếu trong Tử Vi, mà không lan man vào các tiểu tiết khác, gây khó khăn trong quá trình học hỏi, nghiên cứu.

LỘ TRÌNH HỌC TỬ VI

  1. Quan niệm đúng đắn về Tử Vi.
  2. Hiểu hệ thống Triết lý Á Đông và Quy luật vận động của Âm Dương – Ngũ Hành.
  3. Tìm hiểu lịch sử hình thành và phát triển Tử Vi, các bài viết nhận xét, các giai thoại liên quan.
  4. Hiểu đặc điểm của 12 cung địa bàn (ví dụ cung Ngọ thuộc quẻ Li, tượng là lửa, nóng, văn minh, trí tuệ, hướng chính Nam, là đất Đế vượng của Hỏa, là tháng 5, cuối Hạ, khí Dương hết, khí Âm sinh…)
  5. Học cách an sao trên bàn tay (ít nhất chính tinh và các trung tinh quan trọng)
  6. Hiểu quy tắc “Tam phương tứ chính”, các vị trí Miếu Vượng Đắc Hãm của các sao, đặc biệt chính tinh và lục sát tinh
  7. Hiểu tính lý cơ bản của 14 chính tinh, tứ hóa, lục sát, lục cát, tuần triệt

SÁCH CHỌN LỌC HỌC TỬ VI

Tử Vi đẩu số tân biên (242) Mọi người đều công nhận đây là cuốn sách đầu tiên cần phải đọc.

Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư - Vũ Tài Lục dịch (23) Tử Vi đẩu số toàn thư, Vũ Tài Lục dịch

Tử Vi tinh điển - Quyển 1 (227), Tử Vi tinh điển - Quyển 2 (179) Đây là cuốn sách tôi ngâm cứu kỹ nhất.

Tử Vi Thực Hành - Dịch lý Huyền Cơ (186) Cuốn sách này tôi nghe nói từ lâu, nay mới tìm được, đọc khá hay và xúc tích.

Tử vi Nghiệm lý Toàn thư (254) và Tử Vi Nghiệm lý Thiên Lương (354) Đây là hai cuốn sách của cụ Thiên Lương với phát kiến mới về vòng sao Thái Tuế,  rất đáng tham khảo.

Tử Vi chân thuyên (35) Tử Vi chân thuyên của diễn đàn vietlyso.com, tôi mới kiếm được, đọc thấy khá hay.

QUAN NIỆM ĐÚNG ĐẮN VỀ TỬ VI

Tử Vi là một môn học có tính hệ thống nhằm nghiên cứu tác động qua lại giữa các sự vật, hiện tượng trong vũ trụ xung quanh một con người. Từ đó hình thành nên những đặc điểm, tính cách, vận hạn, xu hướng của một con người. Ta có thể dự đoán được xu hướng, khả năng, tiềm năng, mức độ thành bại của một con người, nhưng không thể quyết định được chúng. Và vẫn còn tới gần 50% là do nỗ lực bản thân, môi trường sống, cách sống tác động.

Tử Vi là một môn khoa học có tính logic, có thể giải thích được. Nhưng là khoa học nghiên cứu về con người, về cuộc sống, vốn là những đối tượng không có tính logic 100%. Do vậy Tử Vi không có tính chất thần bí, mê tín. Và cũng do vậy, Tử Vi không thể nói chính xác được 100% điều gì.

Nếu học Tử Vi để tu thân, rèn luyện bản thân (tìm ra điểm mạnh mà phát huy, tìm ra điểm yếu mà phòng tránh, sống cho thật với bản năng của mình, con người mình…) thì là đúng cách. Học Tử Vi để cầu danh, cầu lợi, vì một mục đích đạt lợi ích tính toán gì đó thì rất khó đạt được, nếu không muốn nói là không thể. Vì học Tử Vi yêu cầu phải có học thức, khả năng suy luận logic rất cao, khả năng chiêm nghiệm cuộc đời, thích đi sâu vào suy nghĩ của con người, cần đam mê theo đuổi ít nhất vài ba năm. Nếu vì một mục đích lợi ích danh lợi thì đầu tư vào Tử Vi là chắc chắn lỗ. Còn mục đích tu thân, rèn luyện thì chắc chắn là con đường rất tốt.

QUY TRÌNH AN SAO

Trình tự  an sao trên một lá số cũng chính như là vẽ tranh vậy, nhưng đây là bức tranh về cuộc đời. Vẽ tranh, đầu tiên ta vẽ những phối cảnh, bố cục trước để làm nền tảng, sau đó đi dần vào chi tiết. An sao ta cũng an những sao chính trước, sau đi dần vào những sao thứ yếu hơn. Mỗi nét vẽ, hay mỗi lần an một sao, là dần dần ta hình thành được trong đầu về bức tranh một con người. Đến khi an đủ các sao, là bức tranh về con người đã hiện khá rõ nét trong đầu ta. Đó là cái hay, cái thú vị, và cái cần thiết của việc biết cách an sao, chậm rãi, cẩn trọng từng bước một.

Quy trình tham khảo như  sau:

Trước tiên, cần nhận ngày giờ tháng năm sinh, giới tính, ngành nghề/chuyên môn và vài nét chính về đặc điểm, cuộc đời của đương số. Sau đó, ta bắt đầu quy trình an sao và từng bước suy ngẫm.

  1. Can chi năm tháng ngày giờ, bản Mệnh
  2. Tìm cung Mệnh/Thân trên 12 địa bàn
  3. Tìm cục, an sao Tử Vi và các chính tinh
  4. An Tuần Triệt
  5. An Tứ Hóa
  6. An Lục Sát (Không Kiếp, Kình Đà, Hỏa Linh)
  7. An Lục Cát (Khôi Việt, Tả Hữu, Xương Khúc)
  8. An Lộc Tồn, Thiên Mã, Thái Tuế, Thiên Không
  9. An Lục Bại (Song Hao, Tang Hổ, Khốc Hư)
  10. An Lục Quý (Long Phượng, Thai Tọa, Quang Quý)
  11. An Đào Hồng , Cô Quả
  12. An Thiên Hình, Thiên Riêu

Lưu ý trong khi an ghi rõ vị trí Miếu, Vượng, Đắc, Hãm của 14 chính tinh, Lục Sát, Hình Riêu, Lục Bại.

PHÂN LOẠI SAO

Tứ sát: Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh

Tứ cát: Hóa Khoa, Hóa Quyền, Hóa Lộc, Quý (Khôi – Việt)

Tứ sát nằm đâu cũng tăng tính hung, tứ cát nằm đâu cũng tăng tính cát.

THẬP NHỊ CUNG LUẬN

  1. Cung Mệnh: dung mạo, tài năng, nhân cách và trình độ phát triển
  2. Phụ Mẫu: cát hung của cha mẹ, duyên phận mình với cha mẹ, và ân huệ của cha mẹ đối với mình
  3. Huynh Đệ: anh em ruột thịt, bằng hữu thân thiết
  4. Phu Thê: quan hệ vợ chồng, hình dáng vợ chồng, sinh hoạt vật chất và tinh thần của người vợ hay người chồng
  5. Tử Tức: nói đến con cái và sinh hoạt tình dục
  6. Tài Bạch: sự mạnh yếu của năng lực kinh tế, tài chính, tình hình thực lợi của sự nghiệp
  7. Tật Ách: thể chất và sức khỏe
  8. Thiên Di: quan hệ của mình với xã hội và đối ngoại quan hệ
  9. Nô Bộc: người cộng tác với mình hoặc gia nhân bộ thuộc
  10. Quan Lộc: cát hung của chức nghiệp công danh
  11. Điền Trạch: sinh hoạt gia đình và các loại bất động sản
  12. Phúc Đức: thọ yểu và mức độ hưởng thụ trong đời
  13. Cung Thân

Xem số đàn ông ngoài Thân Mệnh còn 3 cường cung là Tài, Quan và Di. Xem số đàn bà, ngoài Thân Mệnh, 3 cường cung phải kể là Phu, Phúc và Tử.

Trong 13 cung, cung Mệnh và cung Thân là cung quan trọng nhất (đều an dựa vào tháng sinh và giờ sinh). Mệnh là thiên mệnh, là số trời, là cái được an bài sắp đặt sẵn khi sinh ra. Mệnh được xem như nền móng của một căn nhà, nếu nền móng không vững chắc, kiên cố thì những gì xây dựng trên đó cũng không bền vững lâu dài được.

Thân là phần “nhân định”, ảnh hưởng rõ rệt tới đời sống con người khi đến giai đoạn lập thân (sau 30 tuổi). Mệnh ảnh hưởng mạnh mẽ ở tiền vận nhưng vẫn luôn là căn cơ, nền tảng xuyên suốt toàn bộ cuộc đời. Và khi nói về cung Thân, chúng ta phải nhớ một nguyên tắc cơ bản của khoa Tử Vi là khi cung Thân đóng chung với cung nào thì những ý nghĩa tốt xấu của cung ấy sẽ là những nét chính yếu trong cuộc đời của người ấy.

Thân cư Tài Bạch

Tiền bạc là vấn đề chủ yếu và là mục đích quan trọng trong cuộc sống. Nói như vậy không có nghĩa là người có Thân cư Tài quan niệm sống của họ chỉ có tiền mà họ là những người có khả năng làm ra tiền. Làm ra nhiều hay ít, dễ hay khó, và bằng cách nào thì tùy thuộc lá số mỗi người.

Dù giàu hay ngheo, người Thân cư Tài thấu hiểu giá trị của đồng tiền và sử dụng chúng sao cho đúng giá trị của nó.

Mẫu người này quan niệm tiền là cái đích tiên quyết phải có, rồi từ đó xử dụng tiền như một phương tiện để đạt được những mục đích khác mà họ mong muốn.

Người Thân cư Tài thường có năng khiếu về thương mại, kinh doanh. Họ là những người thích hợp để trở thành chủ nhân của những cơ sở làm ăn buôn bán và thường trở nên giàu có bằng đường kinh doanh nếu cung Tài Lộc của họ tốt đẹp. Ngược lại, một người có Thân cư Tài mà cung Tài không được sáng sủa thì họ sẽ là người suốt đời vất vả vì tiền, hay thường gặp những tai họa về tiền bạc.

Khi Thân cư Tài thì cung Phúc xung chiếu, nên việc phúc phần ảnh hưởng rất lớn tới tài lộc của đương số.

Thân cư Quan Lộc

Cung Quan Lộc nằm đối diện cung Phu Thê cho nên cung Quan Lộc có thể coi như cái bóng phản chiếu của cung Phu Thê vậy. Do đó khoa Tử Vi cho rằng đối với những người có số 2 đời vợ, 2 đời chồng thì cung Quan Lộc là hình ảnh của người vợ hay chồng thứ hai của đương số. Điều này rất có ý nghĩa đối với những người Thân cư Quan Lộc, cuộc đời còn lại của họ và cả nghề nghiệp của họ sẽ ràng buộc một cách chặt chẽ với người vợ/chồng thứ hai. Riêng đối với nữ mệnh, các bà có số Thân cư Quan Lộc thì ngoài những nét đặc biệt đã nêu trên, cung Quan Lộc trong trường hợp này còn có ý nghĩa như một cung Phu, và một vài trường hợp điển hình mà chúng ta nói đến như: Một người đàn bà có số Thân cư Quan mà Quan bị Tuần hay Triệt án ngũ thì đường tình duyên cũng trắc trở không kém gì Tuần Triệt tại ngay cung Phu vậy.

TỨ YẾU – THẬP DỤ – BÁT PHÁP

TỨ YẾU: Cát – Hung, Hư – Thực, Chủ – Khách, Cường – Nhược

Tứ cát: Khoa Quyền Lộc Quý (Khôi,Việt)
Tứ hung: Dương Đà Hỏa Linh (hay còn gọi tứ sát)

Cát thì thực cát khi nằm vị trí miếu, Hung chỉ thực hung khi nằm vị trí hãm

Bản cung là Chủ, hai cung tam hợp và một cung đối xung là Khách.
- Chủ – Khách đều tốt là khách chủ tương đắc. Chủ – Khách đều xấu một bầy bạo ngược
- Chủ – Khách vừa hung vừa cát thì cần xem xét Cường – Nhược chủ mạnh hay khách mạnh. Chủ mạnh khách theo, khách mạnh chủ bị lôi theo. Cát cường cát thắng, hung cường hung thắng.

THẬP DỤ:

1. Bản cung cát là “nội lực tự cường”: mạnh từ bên trong mạnh ra
2. Bản cung hung là “tòng căn tự phạt”: hư từ gốc rễ
3. Cung xung chiếu tốt là “nghênh xuân tiếp phúc”: chờ xuân đón phúc
4. Cung xung chiếu xấu là “đương đầu ác bổng”: giơ đầu chịu búa đập
5. Cung tam hợp tốt là “tả hữu phùng nguyên”: lắm chân tay giúp đỡ
6. Cung tam hợp xấu là “tả hữu thụ địch”: địch từ bên trái, phải đánh tới
7. Lân phương tốt là “lưỡng lân tương phù”: hai hàng xóm phụ trợ
8. Lân phương xấu là “lưỡng nan tương vũ”: hai bên hàng xóm mưu hại
9. Cả bốn cung cùng tốt là “thiên tường vàn tập”: mây ngũ sắc kéo chầu về
10. Cả bốn cung cùng xấu là “tứ diện sở ca”: bị vây tứ phía không lối thoát

BÁT PHÁP:

Thành phá tứ pháp: Phàm Mệnh Thân cát, tại tam phương tứ chính nếu gặp:
- Tứ cát (Khoa Quyền Lộc Quý) thì thành cách, đúng là “giao long đắc vận vũ”: rồng gặp mây nước
- Tứ hung (Hỏa Linh Dương Đà) kể như phá cách “miêu nhi bất tú”: chỉ nẩy mầm mà không xanh tốt
- Tứ hung lẫn tứ cát, kể như trong thành có phá “bạch khuê hữu điềm”: ngọc bị sứt mẻ
- Không tứ hung, tứ cát thì chưa thành cách, chưa bị phá, chờ vận hạn xem sao “hỗn kim phác ngọc”: ngọc chưa lấy khỏi đá

Cứu khí tứ pháp: Phàm Mệnh Thân hung, tại tam phương tứ chính nếu gặp:
- Tứ cát là cứu cách “cửu hạn phùng cam vũ”: hạn hán lâu ngày được cơn mưa
- Tứ hung là khí cách (bỏ đi) “hử mộc nan điêu”: gỗ mục không đẽo gọt được gì
- Tứ hung lẫn tứ cát, vừa cứu vừa khí cách, giống như ăn gân gà “thực kê lặc”
- Không tứ hung lẫn tứ cát “thủ tàu bảo huyết”: nấn ná đợi thời

“Cát tinh nhập miếu tắc vi cát, hung tinh thất địa tắc vi hung”

Người có nhiều hung tinh mà vinh hiển thường gian nan, bạo phát.
Người có nhiều cát tinh mà vinh hiển thì nhẹ nhàng, từ từ, chắc chắn.

Theo Nguyễn Duy Kiên


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tử vi - Triết lý nhân sinh

Giải mã "lời nguyền chết chóc" trong hầm mộ các Pharaoh

Ai Cập cổ đại không chỉ để lại những tàn tích của một nền văn minh rực rỡ, có giá trị văn hóa to lớn mà còn tạo nên những câu chuyện, những lời nguyền đáng sợ
Giải mã "lời nguyền chết chóc" trong hầm mộ các Pharaoh

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

trong hầm mộ của các Pharaoh. 

Giai ma loi nguyen chet choc trong ham mo cac Pharaoh hinh anh
 
Những cái chết liên tiếp, kì bí của những nhà khảo cổ học, những người trộm mộ đã làm dấy lên nghi ngờ về “lời nguyền chết chóc” mà người xưa để lại. Theo chân các nhà khoa học để làm sáng tỏ điều này.   Theo Jennifer Wegner, một nhà Ai Cập học tại bảo tàng Đại học Pennsylvania ở Philadelphia nhận định, bên trong hầm mộ Pharaoh Ai Cập, ngoài những xác chết còn có cả thực phẩm gồm thịt, rau, và hoa quả được mai táng trong hành trình sang thế giới bên kia.   Những thứ này chắc chắn đã thu hút côn trùng, vi khuẩn, mốc và những thứ tương tự như vậy. Những vật liệu thô như thế này nằm im ở đó đã hàng nghìn năm và ảnh hưởng tới sức khỏe con người.   Các nghiên cứu gần đây trong phòng thí nghiệm đã tiết lộ rằng một vài xác ướp cổ đại quả thực bị mốc, trong đó chứa ít nhất hai loài nguy hiểm tiềm năng là Aspergillus niger và Aspergillus flavus. Những loại nấm mốc này có thể gây ra phản ứng dị ứng nhiều cấp độ, từ sung huyết đến chảy máu phổi. Chúng đặc biệt nguy hiểm đối với những người vốn có hệ miễn dịch kém.   Các nhà khoa học cũng tìm thấy khí ammoniac, formaldehyde và H2S bên trong những chiếc quách bịt kín. Ở nồng độ cao, những chất này có thể gây bỏng mắt và mũi, làm xuất hiện các triệu chứng giống như viêm phổi và trong những trường hợp bị nhiễm nặng có thể gây chết người.    Ngoài ra, hiện tượng dơi trú ngụ trong nhiều ngôi mộ đã bị khai quật và phân của chúng mang theo những loại nấm có thể gây bệnh về đường hô hấp giống như bệnh cúm. Trong những điều kiện phù hợp, các tác nhân này có thể đủ độc lực để giết người.   Lại có ý kiến lý giải, nền văn minh Ai Cập cổ đại đã phát triển tới mức có thể lợi dụng những côn trùng và chất độc cực mạnh bố trí trong lăng mộ của Pharaoh, coi chúng như thứ vũ khí phòng vệ rất hiệu quả. Loại vũ khí này có nhiệm vụ đối phó với những kẻ phá hoại hầm mộ, đánh thức giấc ngủ ngàn thu của người xưa.   Một số nhà khoa học khác thì nhận định, lời nguyền của Pharaoh xuất phát từ chính kết cấu của lăng mộ. Thiết kế lối dẫn xuống hầm mộ và mộ huyệt có thể sản sinh và tập trung những từ trường hoặc sóng năng lượng đặc thù gây chết người.   Và một điều đáng lưu ý là Howard Carter, người đầu tiên khám phá ra lăng mộ của vị vua trẻ nhất Ai Cập - Tutankhamun, lại không chịu chung số phận như những người khác. Sau khi hoàn thành công việc khai quật lăng mộ vua Tut, ông vẫn sống bình an và mất vì bệnh ung thư ở tuổi 65.   Ngay bản thân ông cũng không tin vào lời nguyền của Pharaoh. Ông nhấn mạnh, cơ bản, truyền thống tôn giáo của người Ai Cập không cho phép sự tồn tại của lời nguyền như vậy, trái lại, họ hy vọng chúng ta sẽ dành cho người đã khuất những lời cầu chúc tốt đẹp.      


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Giải mã "lời nguyền chết chóc" trong hầm mộ các Pharaoh

Lễ giải trừ sao xấu –

1. Sao Thái Bạch a. Sao chủ hao tán tiền của, kiện cáo, bệnh tật, tiểu nhân hãm hại. Sao này tác hại nhất vào tháng 5. b. Phép lễ giải: - Mỗi tháng cúng ngày rằm (15), từ 19 giờ đến 21 giờ (giờ Tuất). Quay mặt về hướng Tây làm lễ. - Lễ: Vàng hương,

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Giai-han

1. Sao Thái Bạch

a. Sao chủ hao tán tiền của, kiện cáo, bệnh tật, tiểu nhân hãm hại. Sao này tác hại nhất vào tháng 5.

b. Phép lễ giải:
– Mỗi tháng cúng ngày rằm (15), từ 19 giờ đến 21 giờ (giờ Tuất). Quay mặt về hướng Tây làm lễ.
– Lễ: Vàng hương, hoa quả, nước rượu, thắp 8 ngọn nến (đèn), sớ.
– Bài vị viết vào giấy trắng: Tây phương Kim Đức Thái Bạch Tinh Quân.
– Khấn: Xưng ngày, tháng, tên chủ nhân, địa chỉ… Cung thỉnh Thiên đình Hạc Linh Cung Đại Thánh Kim Đức Thái Bạch Tinh Quân Vị Tiến.

2. Sao La Hầu

a. Sao chủ việc chính quyền, điều tiếng, sản nạn, tai nạn máu, tai, mắt, lo buồn, xấu nhất vào tháng Giêng và tháng 7.

b. Phép lễ giải:
– Mỗi tháng làm lễ cúng vào ngày 18, từ 21 giờ đến 23 giờ (giờ Hợi). Quay mặt về hướng Bắc làm lễ.
– Lễ cúng: vàng hương, hoa, quả, rượu, nước, thắp 9 ngọn nếu (đèn), sớ.
– Bài vị viết vào giấy vàng: Thiên cung Thần thư La Hầu, Thần thủ tinh quân.
– Khấn: Xưng ngày tháng, tên chủ nhân, địa chỉ… Cung thỉnh Thiên cung Thần thư La Hầu thần thủ tinh quân vị tiến.

3. Sao Kế Đô

a. Sao chủ hung dữ, ám muội, gặp điều thị phi đơm đặt, buồn rầu. Sao tác hại nhất vào tháng 3 và tháng 9.

b. Phép lễ giải:
– Mỗi tháng làm lễ cúng vào ngày 18, từ 21 giờ đến 23 giờ (giờ Hợi). Quay mặt về hướng Tây làm lễ.
– Lễ cúng: Hoa quả, vàng hương, rượu, nước, thắp 21 ngọn nến (đèn), sớ.
– Bài vị viết vào giấy vàng: Thiên cung Phân vĩ Kế Đô tinh quân.
– Khấn: Xưng ngày tháng, tên chủ nhân, địa chỉ… Cung thỉnh Thiên đình bảo vệ, cung Đại Thánh vị Kế Đô quân vị tiến.

4. Sao Vân Hán

a. Sao chủ ốm đau, thương tật, sản nạn, kiện tụng, tai tiếng, xấu nhất vào tháng 2 và tháng 8.

b. Phép lễ giải:
– Mỗi tháng làm lễ vào ngày 29, từ 21 giờ đến 23 giờ (giờ Hợi). Quay mặt về hướng Nam làm lễ.
– Lễ cúng: hoa quả, vàng hương, rượu, nước; thắp 15 ngọn nến (đèn), sớ.
– Bài vị viết vào giấy hồng: Nam phương Ly cung Đại Thánh Hóa Đức Vân Hán.
– Khấn: Xưng ngày tháng, tên chủ nhân, địa chỉ… Cung thỉnh Thiên đình minh ly cung Đại Thánh Hỏa Đức Vân Hán Tinh vi tiến.

5. Sao Thổ Tú

a. Sao chủ chăn nuôi thua lỗ, đi xa bất lợi, gia đình lục đục, tiểu nhân xúc xiểm làm hại. Xấu nhất vào tháng 4 và tháng 8.

b. Phép lễ giải:
– Mỗi tháng cúng vào ngày 19, từ 21 giờ đến 23 giờ (giờ Hợi). Quay mặt về hướng Tây làm lễ.
– Bài vị viết vào giấy vàng: Trung ương Thổ Đức Tinh Quân Thổ Tú.
– Lễ cúng: hoa quả, vàng hương, rượu, nước, thắp 5 ngọn nến (đèn), sớ.
– Khấn: Xưng ngày tháng, tên chủ nhân, địa chỉ… Cung thỉnh Thiên Đình Hoàng Trung Đại Thánh Thổ Địa, Địa La Thổ Tú Tinh Quân vị tiến.

Lưu ý: Trong mọi lễ cúng, áo quần phải sạch sẽ chỉnh tề, thái độ thành kính cầu khẩn. Khấn 3 lần. Hết hai tuần nhang thì hóa vàng, sớ, bài vị.

Tuổi gặp sao xấu nào thì cúng giải sao đó.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Lễ giải trừ sao xấu –

Hóa giải xà nhà –

Nếu trong ngôi nhà có những cây xà lộ ra bên ngoài và phóng ra các tia sát khí thì năng lượng lưu thông bên trong nhà khó có thể cân bằng được. Xà nhà trên đầu, đặc biệt là xà nhà bắt ngang qua phía trên giường ngủ, cố thể gây mâu thuẫn trong các mối

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nếu trong ngôi nhà có những cây xà lộ ra bên ngoài và phóng ra các tia sát khí thì năng lượng lưu thông bên trong nhà khó có thể cân bằng được.

Xà nhà trên đầu, đặc biệt là xà nhà bắt ngang qua phía trên giường ngủ, cố thể gây mâu thuẫn trong các mối quan hệ tình cảm. Nếu bạn không thể dời giường ngủ ra khỏi xà nhà đó thì cách tốt nhất là hãy che phủ chúng bằng tấm vải mỏng để bảo vệ mối quan hệ của bạn khỏi ảnh hưởng xấu.

image_34165_sn4

Nếu là xà nhà kết cấu theo dạng khung thì ảnh hưởng xấu của chúng sẽ rất mạnh. Những cây đà trong các tòa nhà lớn lại càng nguy hiểm hơn nữa.

Giải pháp cho tình trạng này là che phủ toàn bộ xà nhà để không ai có thể nhìn thấy chúng. Trong phong thủy, những cấu trúc tốt hay xấu đều bị mất hết tác dụng khi bị che khuất khỏi tầm mắt.

Nếu xà nhà là một bộ phận của trần nhà thì ít nguy hiểm hơn, chẳng hạn như một cây đà cắt ngang phòng.

Tuy nhiên, nhà không có trần và có thể nhìn thấy những cây đà ngang cũng như phần mái nhà từ phía bên dưới sẽ gây ra những ảnh hưởng rất xấu.

Bạn bè không còn thân thiết như trước, tình bạn đổ vỡ do hiểu lầm và các mối bất hòa ngày càng trở nên gay gắt.

Ngoài ra, nó còn gây ra sự xung đột trong mối quan hệ vợ chống khiến gia đình không còn hạnh phúc. Giải pháp cho vấn đề này là lắp đặt trần nhà ngay.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Hóa giải xà nhà –

Phong thủy. Chọn hướng tốt cho ao hồ –

Phong thủy, Hướng ao hồ cũng tạo cho nhà ở một môi trường sinh tồn, tăng thêm mỹ cảnh tự nhiên, tăng thêm ý vị cho cuộc sống. Chọn hướng tốt cho ao hồ Trong sân vườn nhà ở hiện đại, thiết kế các loại ao hồ là một việc rất có ý nghĩa. Muốn làm cho ao

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Phong thủy, Hướng ao hồ cũng tạo cho nhà ở một môi trường sinh tồn, tăng thêm mỹ cảnh tự nhiên, tăng thêm ý vị cho cuộc sống.

Chọn hướng tốt cho ao hồ
Trong sân vườn nhà ở hiện đại, thiết kế các loại ao hồ là một việc rất có ý nghĩa. Muốn làm cho ao hồ trở nên tràn đầy sức sống thì nên nuôi loại cá, ếch, nhái, các sinh vật thủy sinh… để duy trì sự cân bằng sinh thái và làm cho nước trở nên trong xanh hơn. Các ao hồ cũng tạo cho nhà ở một môi trường sinh tồn, tăng thêm mỹ cảnh tự nhiên, tăng thêm ý vị cho cuộc sống.

1313386337-aoho2

Hướng Tây Bắc: Theo phong thủy thiết kế ao hồ ở nơi đây là đại cát. Tuy nhiên, ao hồ phải được chăm sóc và làm sạch thường xuyên, nếu không ý nghĩa may mắn sẽ bị giảm đi. Các loại đá cảnh cũng phải được bài trí đảm bảo mỹ quan.

Hướng Tây: Khi thiết kế ao hồ ở phương này không nên để ánh mặt trời chiếu xạ là tốt.

Hướng Nam: Các ao hồ phải được thiết kế ở những vị trí mà ánh sáng mặt trời không thể phản xạ lại, khoảng cách tương đối so với nhà ở nên ở mức 5m hoặc hơn.

Hướng Đông: Nếu bố trí ao hồ ở hướng này mà có sự phối hợp với những dòng sông nhỏ hoặc kênh rạch nhỏ chảy qua thì sẽ rất tốt.

Hướng Đông Nam: Phương này cũng giống như phương Đông, bố trí ao hồ là tốt. Nếu muốn tăng thiết kế các dòng sông nhỏ thì vận tốc nước chảy nên chậm một chút.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phong thủy. Chọn hướng tốt cho ao hồ –

Ngày thần Tài sắm lễ vía thần Tài đón lộc đầu năm

Ngày thần Tài 10 Tết âm lịch gia chủ sửa soạn lễ vía thần Tài để đón lộc đầu năm, cầu mong một năm mới làm ăn phồn vinh thịnh vượng, lễ bạc mà lòng thành
Ngày thần Tài sắm lễ vía thần Tài đón lộc đầu năm

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Ngày thần Tài vào mùng 10 Tết đầu năm âm lịch mọi nhà, cửa hàng, công ty có thờ thần Tài đều sắm lễ vật để cúng lấy vía thần Tài, cầu xin một năm mới làm ăn được tốt đẹp về tài lộc, tiền tài.

Cúng thần Tài phải đều đặn và chăm chút cho thật kỹ mới có được kết quả rõ ràng. Đa phần các vị thần linh đều dùng đồ mặn, đặc biệt chỉ có thần Tài (và thần Thổ Địa) mới dùng vừa mặn vừa chay. Lễ cúng thần Tài ở nửa đầu năm thì dùng đồ mặn, từ tháng 7 âm lịch đến cuối năm thì dùng chay.

Sắm lễ cúng ngày vía thần Tài

Vào ngày thần Tài 10 Tết âm lịch gia chủ cần sắm sửa bày biện những lễ vật sau đây để cúng lấy vía thần Tài cầu lộc lá cả năm:

  • 1 bình hoa (hoa đồng tiền, hoa cúc hoặc hoa hồng)
  • 5 loại trái cây
  • 5 cây nhang
  • 5 chum rượu
  • 2 đèn cầy
  • 2 điếu thuốc
  • 1 đĩa gạo
  • 1 đĩa muối hột
  • 2 miếng vàng bạc
  • 1 bộ tam sên đều đã luộc gồm:
    • 1 miếng thịt ba rọi
    • 1 hột vịt
    • 1 con tôm hoặc cua

Bộ tam sên gồm thịt, hột vịt và tôm hoặc cua tương truyền đây là 3 món mà thần Tài ngày còn ở nhân gian rất thích.

Lưu ý quan trọng: Các lễ vật sau khi cúng thần Tài phải để người trong nhà chia ăn. Gạo và muối thì giữ lại còn rượu thì tưới từ ngoài vào trong nhà.

Thắp hương thần Tài: thường thì thắp vào buổi sáng đầu ngày nhưng không có quy định cụ thể. Đa phần sau khi mở cửa hàng, dọn dẹp xong xuôi thì là thắp hương luôn.

Chén nước thần Tài: chỉ cần 1 chén nước là đủ, chén cần rửa sạch trước khi lấy nước mới. Nước không nên để quá đầy, cách miệng chén khoảng 1 cm là vừa.

Hoa và bình hoa thờ thần Tài: chất liệu bình hoa không có quy định nào, bằng thủy tinh, gốm đều được. Chỉ nên chọn hoa tươi, có nụ và nếu có hương thơm càng tốt. Hoa giả thì không nên dùng.

Quả để cúng thần Tài: các loại quả thường dùng là táo, lê, chuối, cam, quýt. Nên chọn loại tươi, ngon, không nên dùng quả nhựa để bày. Số lượng không cần nhiều, chỉ chỉ cần vừa khéo với ban thờ là được.

Rượu hoặc nước sau khi thờ hoặc đã cúng lễ xong thì đứng ngoài cửa tưới vào mang ý nghĩa đem lộc rước vào nhà. Người đứng quay hướng vào nhà, tay rót từ phía sau đưa dần dần lên phía trước, hướng vào nhà là vừa hết.

Gạo và muối thì nên cất lại dùng cho có lộc, không nên rãi ra ngoài. Quan niệm rằng của ăn của để, nhà có gạo có muối thì mới no ấm, đậm đà. Bởi vậy mà phải tích trữ không phát lộc hoặc đổ đi.

Văn khấn vía thần Tài ngày 10 Tết âm lịch

Vào ngày thần Tài 10 Tết âm lịch, gia chủ sửa soạn sắm lễ vật được nêu ở trên. Nếu là cửa hàng hoặc công ty thì thực hiện ở ngay ở cửa hàng, công ty. Sau khi thắp hương thì đọc bài khấn thần Tài này.

– Kính lạy ngài Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.
– Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân.
– Con kính lạy Thần Tài vị tiền.
– Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.

Tín chủ con là:……………………… Tuổi:……..
Ngụ tại ………………………………
Hôm nay là ngày……. tháng……. năm…… (âm lịch).

Tín chủ con thành tâm sửa biện, hương hoa, lễ vật, kim ngân, trà quả và các thứ cúng dâng, bầy ra trước án kính mời ngài Thần Tài tiền vị và chư vị tôn Thần.

Cúi xin Thần Tài thương xót tín chủ, giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật phù trì tín chủ chúng con an ninh khang thái, vạn sự tốt lành, gia đạo hưng long thịnh vượng, lộc tài tăng tiến, tâm đạo mở mang, sở cầu tất ứng, sở nguyện tòng tâm.

Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ cúi xin được phù hộ độ trì.

Phục duy cẩn cáo!


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Ngày thần Tài sắm lễ vía thần Tài đón lộc đầu năm

Tử vi bói toán từ quan điểm của Phật giáo

Tử vi bói toán là một khoa học giải đoán tương lai con người về vận mệnh, tình duyên, gia đạo, học hành thi cử, thời vận thịnh suy, tốt xấu... Theo quan điểm
Tử vi bói toán từ quan điểm của Phật giáo

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tử vi bói toán là một khoa học giải đoán tương lai con người về vận mệnh, tình duyên, gia đạo, học hành thi cử, thời vận thịnh suy, tốt xấu...

Quan diem Phat giao ve Tu vi boi toan hinh anh
Ảnh minh họa
Trong thời đại ngày nay, vì lo lắng cho tương lai nhiều bất trắc, rất nhiều người muốn biết hậu vận nên việc xem tử vi bói toán ngày càng phổ biến. Giới làm ăn buôn bán cũng dựa vào chiêm tinh để quyết định công việc đầu tư làm ăn. Những người khác từ việc mua nhà, đi xa, dựng vợ, gả chồng, cho đến việc tang ma…đều tìm đến những người coi bói để tham vấn, dựa vào những lời khuyên đó mà làm theo. Tử vi bói toán, đồng cốt đang lan rộng ra nhiều người, nhiều giới và nhiều nơi.   Khoa tâm lý học cho rằng, những người hay đi xem bói thường là những người có “vấn đề” hoặc là về gia đạo, hoặc công danh sự nghiệp không như ý, hoặc cũng có thể đang lo toan một điều gì mà chưa có phương hướng giải quyết. Họ cũng có thể là những người thường có tâm mong cầu và tâm sợ hãi, cùng là thiếu niềm tin nơi chính mình và lại hay tin vào việc bói toán hoặc tin vào một đấng thần linh, tin vào một định mệnh hay số mệnh đã an bài, và nếu là một Phật tử thì họ xem chư Phật như một vị thần linh tối cao có thể ban vui giáng họa.   Có nhiều hình thức bói toán, nhưng có ba loại phổ biến đối với người Á Đông chúng ta. Đó là bói bài, xem lá số tử vi và lên đồng nhập cốt:   Việc coi lá số tử vi là dựa trên sự tương tác của các ngôi sao vào lúc người đó chào đời, những ngôi sao này mang một số đặc tính nhất định do con người đặt ra, xem như là thần linh hoặc là các thần linh trấn giữ các ngôi sao đó.
 
Bói bài là dựa vào việc giải đoán những dấu hiệu cũng do con người vẽ ra nơi những con bài.
 
Còn xem bói qua việc hầu đồng là để một vong linh người chết nào đó nhập vào và làm trung gian truyền thông ban bảo các lời khuyên hoặc hướng dẫn những ai đang cần giúp đỡ.
 
Ngày nay ở Việt Nam cũng như ở các nước phương Tây, sách báo về khoa bói toán nhiều vô số kể. Hầu hết những lời tiên đoán đều có tính chất chung chung, vô thưởng vô phạt, nhưng những người tin thường có tâm lý suy đoán và áp dụng cho trường hợp riêng mình, cho nên đôi khi họ cảm thấy đúng.   Vấn đề cần nói là chính việc xem bói toán, tử vi hoặc trực tiếp đến với các nhà coi bói hoặc gián tiếp qua sách báo, thì người tham dự cũng đều trực tiếp và tự nguyện tham gia vào những sinh hoạt thuộc lĩnh vực tâm thần, và đó là một lời mời rõ ràng, một cách mở cửa cho những tư tưởng vui buồn lo sợ xâm nhập, dễ sinh ra các áp lực trong tâm trí và trong đời sống, khiến cho một ngày kia người đó có thể rơi vào tình trạng xáo trộn tâm lý như có những nỗi sợ hãi ám ảnh trong cuộc sống và những nỗi buồn kinh niên.   Ngay cả việc xem ngày tốt xấu cho việc cưới gả, tang ma cũng có những hậu quả tiêu cực. Việc định ngày tốt xấu ghi trên lịch sách chỉ để tham khảo. Phần lớn là vì lợi ích kinh doanh, các nhà sản xuất lịch sách đặt thêm phần ngày tốt ngày xấu vào. Họ tự đặt ra ngày này nên làm việc này, ngày kia không nên làm việc nọ, rồi những người thiếu hiểu biết dễ dàng nghe và tin theo. Một lý do khác nữa nữa là theo kinh nghiệm đúc kết của cổ nhân từ ngàn xưa thì ngày tốt hay xấu là do quan sát thời tiết (ngày nào tháng nào mưa thuận gió hòa, thời tiết mát mẻ thì được coi là tốt, ngày nào mưa to gió lớn, thiên tai lụt lội…thì được coi là xấu) nhưng hiện nay với khoa học hiện đại, chúng ta phần nào đã làm chủ được thiên nhiên, tác động ngược lại để thay đổi thiên nhiên nên nhiều “kinh nghiệm xưa cũ” không còn phù hợp nữa.   Việc tốt xấu là do nơi con người tạo tác. Một bằng chứng cụ thể là đa số người phương Tây không cần coi ngày tốt xấu để khai trương cửa hàng, nhưng họ vẫn làm ăn phát đạt. Họ cũng không có thờ Thần tài, Thổ địa, nhưng vẫn làm ăn buôn bán tốt. Họ chỉ tính toán ngày giờ theo dự án, theo kế hoạch làm việc, theo khả năng chuyên môn nghề nghiệp.
Quan diem Phat giao ve Tu vi boi toan hinh anh
 
Có thể khởi đầu chỉ là một chút tò mò muốn biết hậu vận mai này ra sao nhưng sau đó người ta lại bị tác động không chỉ về phương diện tâm lý mà bị chính quyền lực của sự u tối, của tà linh, của sự mê tín điều khiển, khiến cho người đó tưởng như không thể thoát ra khỏi số phận đã tiên đoán cho số phận cuộc đời mình. Từ đó dẫn đến những hành động một cách vô ý thức, theo bản năng và rơi vào kết thúc bi thảm.   Ngoài ra, cũng có thể do sự tin tưởng mù quáng, khiến con người mất hết sức phán đoán và trí thông minh mà người ta thường gọi là mê tín. Mê tín đem lại những tai hại không thể lường trước được. Nó có thể làm hại cuộc đời con người, có thể làm tan nát cả gia đình, có thể làm suy sụp chuyện quốc gia đại sự. Như trường hợp một người vợ ghen bóng ghen gió, đi xem bói tử vi. Thầy bói nói chồng có nhân tình, trong lá số có sao đào hoa chiếu mệnh bèn tin ngay, không cần suy xét, không chịu tìm hiểu hư thực thế nào, thế là bà tức giận, ghen bóng ghen gió với người tình không có thực của chồng. Thế là hai vợ chồng cãi vã nhau, đưa đến hậu quả là gia đình tan nát do việc mê tín coi bói của người vợ. Hoặc có trường hợp đôi trai gái yêu nhau thắm thiết song chỉ vì một lời của thầy mà hai gia đình kiên quyết không cho cưới bởi “Có lấy được thì cũng sớm tan vỡ thôi”. Bởi thế nên ca dao Việt Nam có câu:
Tay cầm tiền của bo bo Đi coi thầy bói mang lo vào người.  

Vậy quan điểm của Phật giáo đối với các vấn đề bói toán tử vi như thế nào?

  Xin trả lời là đạo Phật là đạo giác ngộ giải thoát. Việc coi bói toán tử vi, lên đồng nhập cốt không có mặt trong giáo lý nhà Phật. Cái mà mọi người thường gọi là số mạng tức là nghiệp lực trong Phật giáo. Nếu chúng ta tin có nghiệp lực thì tự nhiên là phải có số mạng, nhưng đức Phật dạy mọi sự đều do tâm tạo. Chỉ cần tâm an ổn thì chỗ nào cũng yên.   Trong kinh Chuyển Pháp Luân ngay sau khi Phật giác ngộ và kinh Di Giáo ngay trước khi Phật Niết-bàn, Ngài khuyên các đệ tử của Ngài là không nên xem bói toán, xem quẻ, xem sao và xem tướng số. Trong năm môn học được giảng dạy ở các trường đại học Phật giáo trước đây ở Ấn Độ không có môn tướng số và bói toán tử vi, tuy có dạy các môn thế học như là Ngôn Ngữ học, Thủ Công Nghệ học, Y học và Luận Lý học.   Theo quan điểm Phật giáo thì vấn đề tai họa hay sung sướng, khổ đau hay bất hạnh, giàu có hay nghèo khổ đều do nhân thiện ác mà chúng ta gieo trồng từ nhiều đời sống trước rồi đời này hay đời sau chịu quả báo. Lại cộng thêm sự nỗ lực hay lười biếng trong đời sống hiện tại mà có thể thay đổi hoặc ảnh hưởng đến vận mệnh của đời này hay đời sau. Do việc gieo nhân khác nhau trong đời trước mà tiếp nhận hoàn cảnh khác nhau trong đời này. Cái gọi là hoàn cảnh cũng bao gồm cả di truyền của cha mẹ, bối cảnh văn hóa, văn minh, nuôi dưỡng và giáo dục, anh em, họ hàng, thầy bạn và đồng nghiệp. Tất cả đều ảnh hưởng đến vận mạng của cả một cuộc đời. Dù cho nhân tạo ra ở đời trước là xấu, dẫn tới hoàn cảnh hiện tại nhưng nếu có sự tu tập về mặt nội tâm và luyện tập thân thể tốt, trau dồi thêm ý thức mở mang trí tuệ thì vận mạng cũng sẽ biến đổi theo chiều hướng tốt.   Phật giáo quan niệm, con người không phải do một đấng nào đó tạo ra, có thể bị sai sử, bị thưởng phạt, cho sống hay cho chết. Người Phật tử không tin vào cái gọi là “định mệnh” an bài. Phật giáo cho rằng, sự vận hành biến hóa của vũ trụ và sự lưu chuyển của sinh mạng, là do nghiệp lực của chúng sinh tạo nên. Tiến trình nhân quả không do một nhân vật toàn năng nào điều khiển và định đoạt mà do hành động qua thân, khẩu và ý của chúng ta hằng ngày. Đó là một định luật tự nhiên. Chúng ta trách nhiệm về những việc chúng ta làm, thì chúng ta cũng phải gánh trách nhiệm về hậu quả của những hành động ấy. Việc chấp nhận ở đây không có nghĩa là tự mãn hay cam chịu với cái gọi là “Số mệnh” an bài, bởi vì chúng ta có tự do làm thay đổi và khắc phục những sự việc hay kết quả mà chúng ta không ưa thích.   Ví như khi chúng ta thi rớt, chúng ta phải cố gắng luyện thi lại, thế nào cũng đạt được. Chúng ta làm chủ tạo nhân, chính chúng ta làm chủ thọ quả. Chỉ cần sáng suốt khi tạo nhân, chịu khó chăm sóc tốt cho nhân tăng trưởng, thì quả chín ngon ngọt sẽ đến tay chúng ta một cách dễ dàng. Đó là triết lý nhân quả, nếu chúng ta tin tuyệt đối vào chân lý này, chắc chắn sẽ không còn mê tín mà đi coi bói toán tử vi hay đi xin lộc cầu tài.
 
Từ câu chuyện trên, chúng ta thấy rằng không có một cái gì là cố định, không có một cái gì là định pháp hay định mệnh, tâm thức chúng ta biến chuyển từng sát na và do đó nghiệp thức lẫn nghiệp quả cũng thay đổi từng sát na. Nếu các ông thầy bói toán tử vi tướng số nói những gì xảy ra trong tương lai mà chúng ta tin, tức là chúng ta tin rằng muôn sự muôn việc là thường chứ không phải là vô thường và là định pháp chứ không phải là bất định pháp, tức là chúng ta mù quáng mà phủ nhận định luật nhân quả và giáo pháp vô thường của Phật dạy.   Tóm lại, đối với việc coi tử vi bói toán, cũng như việc xin lộc cầu tài là những việc làm có tính mê tín, không có chỗ đứng trong Phật giáo. Người Phật tử được khuyên bảo cẩn trọng đừng để rơi vào hố sâu mê tín dị đoan khiến tâm bị rối loạn bởi sự sợ hãi không cần thiết. Một thời tọa thiền hay niệm Phật hằng ngày giúp ích rất nhiều để tự thanh lọc tư tưởng bất thiện trong tâm. Tâm được thanh lọc tự động dẫn đến một thân thể trong sạch và khỏe mạnh. Pháp Phật là liều thuốc chữa khỏi các loại tâm bệnh này. Một phút giây tâm được tịnh là ngưng tạo bao nhiêu nghiệp, ngưng gieo bao nhiêu nhân và xa bao nhiêu dặm khổ ải.   Trong kinh Pháp Cú, đức Phật có dạy:   “Không trên trời, giữa biển, Không lánh vào động núi, Không chỗ nào trên đời, Trốn được quả ác nghiệp.”   Nếu như con người hàng ngày không làm các việc lành thiện, chỉ lo tạo tội, tạo nghiệp, trong cuộc sống đấu tranh giành giựt, khi quả báo đến, không ai có thể tránh được, dù cho có lên non xuống biển hay trốn vào hang núi.

ST. 

Tại sao ác giả lại không bị ác báo? Tại sao có người nhớ được tiền kiếp, có người không? Cổng làng ma ám với xe Exciter, những cái chết bí ẩn, sự thật là gì?

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tử vi bói toán từ quan điểm của Phật giáo

Đặc tính của sao Thiên Cơ

Thiên Cơ đắc địa là người nhân hậu, từ thiện, rất thông minh, khôn ngoan, có óc xét đoán, có nhiều mưu trí, làm việc gì đều có chiến lược, chiến thuật hẳn hoi.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đặc tính của sao Thiên Cơ

Đặc tính của sao Thiên Cơ

Tìm hiểu về đặc tính của sao Thiên Cơ trong lá số Tử Vi

Tên sao Đẩu Phận Âm dương ngũ hành Hóa Chủ Tứ hóa
Thiên cơ Nam đẩu thứ 3 Âm mộc Thiện Huynh đệ, trí tuệ Ất: Lộc, Bính: Quyền - Đinh: Khoa - Mậu:kị

Thuộc tính âm dương ngũ hành của sao Thiên Cơ là âm mộc, là sao thứ 3 thuộc chòm sao Nam Đẩu, chủ về trí tuệ, tư tưởng, anh em, hệ thần kinh, hóa khí là thiện, Hóa Kị là hung (chủ về tổn thương thần kinh, u não), làm chủ cung huynh đệ.

Đặc trưng của sao Thiên Cơ là đa tài đa nghệ, có tính "động" ở đây không phải là những biến động trong cuộc đời mà là động não, hoạt động, thường phải bôn ba lao lực, vì vậy phản ứng khá nhanh nhạy, giỏi vận động, liên lạc, giao thiệp, vạch kế hoạch và phân tích, xử sự có lý lẽ, điềm tĩnh mà có khí phách. Có lợi khi người làm công việc như phục vụ kỹ thuật chuyên môn, truyền bá phần nhiều là phần thiết kế, vạch kế hoạch chứ không phải thực thi, thực hành, vì thiếu tính ổn định, nên tối kị theo nghề kinh doanh hay tự sáng lập sự nghiệp.

Sao Thiên Cơ còn có tên là sao Thiên Tú, định số trong mệnh là phò tá vua mà hành sự, giải hung hiểm của nghịch cảnh. Nếu gặp cát tinh lại đắc địa thì mọi việc đều tốt đẹp, chăm đi lễ Phật, có hứng thú đặc biệt với tôn giáo hoặc mệnh lí, kính trọng người thân, phù hợp làm tăng đạo ở núi rừng, không có lòng ác độc bất nhân, có khả năng tùy cơ ứng biến, có tầm nhìn xa, làm việc có phương pháp. Nữ mệnh nếu gặp sao Thiên Cơ, phần nhiều chủ về phúc thọ, gặp cát sẽ cát, gặp hung sẽ hung; nếu gặp sao Thiên Lương thì bản thân sẽ có biệt tài về một lãnh vực nào đó.

Sao Thiên Cơ không có năng lực khống chế hóa giải sát tinh, vì e rằng trí tuệ của Thiên Cơ sẽ giúp kẻ ác. Sao Thiên Cơ cũng rất sợ gặp sao Hóa Kị,  trong hạn nếu gặp hung sát hội chiếu hoặc Hóa Kị, nếu không được cát tinh cứu ứng, nên đề phòng tai ách, tốt nhất là nên thận trọng phòng thủ mà không nên hành động.

Bốn sao Thiên Cơ, Thái Âm, Thiên Đồng, Thiên Lương nếu hội tụ tại ba cung mệnh, quan, tài, là cách "Cơ Nguyệt Đồng Lương" rất thích hợp với sự nghiệp tôn giáo, văn hóa, truyền bá. Nếu sao Thiên Cơ và sao Cự Môn cùng ở cung mệnh tại Mão, Dậu là cách cục "Cự cơ đồng lâm" có thể là người đứng đầu trong lãnh vực khoa học công nghệ cao. Nếu sao Thiên Cơ, Thiên lương cùng ở tại cung Thìn và cung Tuất, hoặc tại cung Thiên Di chiếu về cung Mệnh, là cách cục "Thiện ấm triều cương", chủ về phúc thọ gồm đủ. Nếu sao Thiên Cơ và Sao Cự Môn cùng thủ mệnh tại cung Dậu, lại đồng cung với Hóa Kị ở tam phương tứ chính, là cách cục "Cự Cơ hóa Dậu", chủ về bôn ba vất vả, gặp nhiều thất bại, nếu là nữ mệnh thì khó tránh lênh đênh phiêu bạt.

Ca quyết:

Thiên cơ huynh đệ chủ, Nam Đẩu chính diệu tinh

Tố sự hữu thao lược, bẩm tính tối cao minh

Sở vi tối hiếu thiện, diệc khả tác quần anh

Hội cát chủ hưởng phúc, nhập cách cư hàn lâm

Cự môn đồng nhất vị, võ chức áp biên đình

Diệc yếu quyền phùng sát, phương khả lập công danh

Thiên lương tinh đồng vị, định tác đạo dữ tăng

Nữ nhân nhược phùng thử, tính xảo tất dâm bôn

Thiên đồng dữ Xương Khúc, tụ củng chủ hoa vinh

Thìn Tuất Tý Ngọ địa, nhập miếu hữu công danh

Nhược tại Dần Mão Thìn, Thất sát tịnh Phá quân

Huyết quang tai bất trắc, Kình Đà cập Hỏa Linh

Nhược dữ chư sát hội, tai hoạn hữu ách kinh

Vũ ám Liêm Phá hợp, lưỡng mục thiểu quang minh

Nhị hạn lâm thử tú, sự tất hữu biến canh

Nghĩa là:

Thiên Cơ chủ cung huynh đệ, là chính diệu nam Đẩu

Làm việc có thao lược, bản tính cực thông minh

Hành vi rất lương thiện, mà cũng là hơn người

Gặp cát tinh sẽ hưởng phúc; nhập cách vào hàn lâm

Đồng cung với Cự Môn, quan võ trấn biên cương

Nhưng cũng cần gặp Hóa Quyền, Thất Sát; mới lập được công danh

Đồng cung với Thiên Lương, số định làm đạo sĩ, sư tăng

Mệnh nữ gặp sao ấy, tính khéo dễ đa tình

Thiên Đồng cùng Xương, Khúc; tụ hội vây chiếu chủ vinh hoa

Cung Thìn, Tuất, Tí, Ngọ; nhập miếu có công danh

Nếu tại Thìn, Dần, Mão; Thất Sát cùng Phá QUân

Dễ nạn tai bất trắc; Dương, Đà cùng Hỏa, Linh

Nếu như gặp hung sát; gặp họa ách tai ương

Vũ ám hợp Liêm, Phá; hai mắt chẳng được tinh

Hai hạn gặp sao đó; việc thay đổi khôn lường   

 


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đặc tính của sao Thiên Cơ

Xem tướng râu –

Râu cũng là hoa lá của côị cây. “Đàn ông không râu kém uy, đàn bà không vú lâý gì nuôi con”. Râu rậm quá thường bị ganh ghét, nêú làm quan có thể bị giáng chức, mất chức. Ngươì đàn ông mắt sâu râu rậm, kết hợp vơí làn da màu xanh xám hoặc vàng bệch đ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Râu cũng là hoa lá của côị cây. “Đàn ông không râu kém uy, đàn bà không vú lâý gì nuôi con”. Râu rậm quá thường bị ganh ghét, nêú làm quan có thể bị giáng chức, mất chức.

rau2

Ngươì đàn ông mắt sâu râu rậm, kết hợp vơí làn da màu xanh xám hoặc vàng bệch được cho là ngươì lòng dạ khó lường, ra ngoài dễ bị ganh ghét, làm quan có thể dễ bị giáng chức hoặc bị cấp dươí chơi xâú. Ngược lại, đàn ông ít hoặc không có râu cằm, râu mép thì được coi là nhỏ mọn, chi ly, tính nết đàn bà, thích tự tay làm cả những việc nhỏ nhặt không thuộc chức năng của mình. Những ngươì này bề ngoài tỏ ra gia trưởng, hơi coi thường phụ nữ, nhưng thực chất lại ủy mỉ, yêú đuôí, rất cần một chỗ nương tưạ tinh thần. Họ hiếm khi thành công trong cuộc sống, nêú có, thì cũng do may mắn ngâũ nhiên hoặc do ngươì khác tạo lập hộ. Đàn ông râu mép mọc vòng quanh hai bên tả hưũ, quắp vào phía miệng được cho là ngươì hay bị lép vế trước phụ nữ, tính hay sợ vợ. CHOU Ngươì làm kinh doanh mà râu mọc vưà phải thì phát tài, phát lộc. Ngươì đàn ông có “râu hùm hàm én mày ngài” được coi là biêủ tượng của đàn ông theo nghiệp võ, tính tình nóng nảy, quyết đoán, hành động dứt khoát nhưng hay chủ quan và tự mãn. Râu rẽ lệch là khổ về già. Râu như râu dê là đa dâm, như râu mèo là nịnh bợ, như râu chuột là xảo quyệt hay đâm thọc, như râu cọp có rìa rậm là nóng nảy, râu rậm mày rậm có mụn ruôì ở cằm là thường bị tai nạn sông nước. Râu đỏ mặt hồng hào, mày thưa xém là bị hỏa hoạn, râu vàng mặt vàng cũng thế, râu nõn nà xanh đẹp hoặc ngả màu bạc râm là vẻ tiên phong cốt đạo, không làm giàu được cũng nhàn hạ.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tướng râu –

Các kiểu tướng mặt - Hướng dẫn xem tướng mặt cơ bản

Khuôn mặt của con người đa hình đa dạng nhưng xem bói tướng đã tổng hợp thành 6 kiểu tướng mặt cơ bản đặc trưng cho 6 loại tính cách khác nhau

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Căn cứ vào lịch sử 3000 năm của nhân tướng học cho biết: “Tướng mặt của bạn thường thường sẽ tiết lộ tính cách cơ bản và thái độ sinh hoạt của bạn trong cuộc sống.”

Chuyên gia cũng nói thêm rằng, đa phần mỗi người đều có khuôn mặt riêng biệt, có thể là hỗn hợp của mấy loại hình dạng nhưng vẫn có thể tìm ra hình dạng rõ ràng nhất. Để phân tích, trước khi xem bói bạn cần xem khuôn mặt của mình có hình dạng gì bằng cách đứng trước gương để xác định và xem kết quả.

1. Tướng mặt hình thoi

Gương mặt hình thoi tức là khi vạch một hình thoi lên khuôn mặt, thì trán và cằm của bạn chứa góc và cạnh, nhưng ở giữa của khuôn mặt thì rất rộng.

Người có tướng mặt hình thoi ưa thích kiểm soát, cũng đặc biệt chú trọng đến những điều chi tiết tỉ mỉ bởi vì họ ưa thích làm ra những việc có hiệu quả chất lượng. Người có khuôn mặt này cũng rất giỏi về giao tiếp, nhưng cũng giống như hình thoi ở chỗ: đôi khi lời nói của họ có thể làm tổn thương đến người khác!

khuôn mặt hình thoi
khuôn mặt hình thoi ưa kiểm soát giỏi giao tiếp

Tiêu biểu cho người có gương mặt hình thoi là ca sĩ Taylor Swift

ca sỹ taylor swift tiêu biểu cho khuôn mặt hình thoi
ca sỹ taylor swift tiêu biểu cho khuôn mặt hình thoi

2. Tướng mặt hình trái xoan

Khuôn mặt hình trái xoan tức là “chiều dài dài hơn chiều rộng nhiều, còn hàm dưới lại hẹp so với xương gò má.” Về cơ bản, xương gò má là chỗ rộng nhất của khuôn mặt. Bởi vì tỷ lệ các bộ phận trên mặt hình trái xoan rất lý tưởng nên được mọi người coi là gương mặt đẹp nhất.

Người có tướng mặt hình trái xoan rất gọn gàng ngăn nắp. Bởi vì họ biết nên nói gì để người khác thấy vui lòng nên họ ăn nói ngọt ngào dễ nghe cho dù trong lòng đang không thoải mái. Chính vì điều này nên đôi khi lời nói của họ không được thật lắm.

khuôn mặt trái xoan
khuôn mặt trái xoan là người ngăn nắp lại biết cách ăn nói

Tiêu biểu cho người có gương mặt hình trái xoan là ca sĩ Beyonce

ca sĩ Beyonce tiêu biểu cho khuôn mặt hình trái xoan này
ca sĩ Beyonce tiêu biểu cho khuôn mặt hình trái xoan này

3. Tướng mặt hình vuông

Khuôn mặt hình vuông có cái trán rất rộng, quai hàm rộng.

Người có tướng mặt hình vuông tràn đầy sức sống, họ có sức chịu đựng và thể lực cao. Họ rất có trí tuệ, giỏi về phân tích. Cho dù những người này làm việc ở nơi có áp lực cao thì họ vẫn luôn tỉnh táo và bình tĩnh. Họ có khả năng trời sinh làm lãnh đạo.

khuôn mặt hình vuông
khuôn mặt hình vuông là người có trí tuệ, có tài lãnh đạo bẩm sinh

Diễn viên Sandra Bullock tiêu biểu cho khuôn mặt hình vuông

sandra bullock có khuôn mặt hình vuông đặc trưng
sandra bullock có khuôn mặt hình vuông đặc trưng

4. Tướng mặt hình trái tim

Mặt hình trái tim có đặc điểm là trán rất rộng và cằm lại rất hẹp

Người có tướng mặt hình trái tim có tấm lòng yêu thương người khác. Mặc dù họ rất sáng tạo và có trực giác rất mạnh nhưng đôi khi họ lại thích thể hiện mình quá. Nội tâm của họ rất mạnh mẽ, nhưng có thể vì quyết tâm quá mạnh mẽ mà thể hiện ra là người cố chấp.

khuôn mặt trái tim
khuôn mặt trái tim là người sáng tạo và có trực giác mạnh

Ngôi sao Scarlett Johansson chính là người tiêu biểu cho khuôn mặt hình trái tim

scarlett johansson có khuôn mặt trái tim

5. Tướng mặt hình tam giác

Đặc điểm của khuôn mặt này là trán hẹp, cằm rộng.

Người có tướng mặt hình tam giác này thông thường có năng khiếu về nghệ thuật. Họ rất sáng tạo và cũng rất nhạy cảm cho nên phải chú ý khi kết giao với họ. Bởi vì họ có lòng quyết tâm trời sinh nên họ thường trở thành người thành công. Người có khuôn mặt này cũng có khuynh hướng muốn kiểm soát, khống chế sự vật. Nếu như trán càng hẹp thì tính khống chế càng mạnh.

khuôn mặt tam giác
khuôn mặt tam giác có năng khiếu nghệ thuật cao

Diễn viên Jennifer Aniston với khả năng diễn xuất tài ba

jenifer aniston có khuôn mặt tam giác tiêu biểu
jenifer aniston có khuôn mặt tam giác tiêu biểu

6. Khuôn mặt hình chữ nhật

Đặc điểm của khuôn mặt này là mặt dài, hơn nữa trán và cằm đều vuông.

Người có tướng mặt hình chữ nhật này có tư tưởng rất sâu lắng, coi trọng tính logic nhưng thường thường suy nghĩ quá nhiều. Họ không thích nói chuyện về cảm xúc của mình. Họ thích vạch ra những kế hoạch, dự án và rất có chiến lược.

khuôn mặt hình chữ nhật
khuôn mặt hình chữ nhật là người thiên về tư duy lô gic và trọng thực tế

Diễn viên Demi Moore là người như vậy

demi moore có khuôn mặt hình chữ nhật đặc trưng
demi moore có khuôn mặt hình chữ nhật đặc trưng

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Các kiểu tướng mặt - Hướng dẫn xem tướng mặt cơ bản

Đại Dịch Thổ - Vùng đất bị lầy, trũng hay cọn gọi là đất bùn

Khái niệm về nạp âm Đại Dịch Thổ hay gọi cách khác là Đại Trạch Thổ tức đất ở vùng bùn lầy, đầm lầy. Loại thổ này không sợ mộc.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đại Dịch Thổ - Vùng đất bị lầy, trũng hay cọn gọi là đất bùn

Đại Dịch Thổ - Vùng đất bị lầy, trũng hay cọn gọi là đất bùn

Nạp âm Đại Dịch Thổ hay còn gọi cách khác là Đại Trạch Thổ

Lộ Bàng, Đại Trạch, Sa Trung Thổ

Đắc Mộc như đạt thanh vân lộ

Ngoại hữu tam ban phách Mộc gia

Phùng chi tất mệnh tu nhập mộ.

Giải thích: Lộ Bàng Thổ (đất đường lộ), Đại Dịch Thổ (đất đầm lầy) và Sa Trung Thổ (đất bãi cát) không sợ Mộc, vì cây không sống giữa đường cái quan hay trên bãi cát, đầm lầy. Cả ba hành Thổ này nếu gặp Mộc không khắc dù Mộc khắc Thổ, Thổ hao Mộc lợi, trái lại còn có đường công danh, tài lộc thăng tiến không ngừng.

Sách Bác Vật Vựng Biên nói: Mậu Thân Kỷ Dậu thì Thân thuộc Khôn là đất. Dậu thuộc Đoài là đầm nước (trạch). Chữ dịch có một nửa chữ trạch, thật ra phải gọi bằng trạch thổ.

Khôn là đất. Trạch là chỗ hồ ao đầm vũng có nước. Sông đem nước đi khắp nơi, đầm ao là chổ cá sinh sống thoải mái mầu mỡ tích súc. Đại Dịch Thổ tự nó tích súc, đất rộng sông sâu.

Mệnh tốt mà nạp âm Đại Dịch Thổ thường làm được công lớn ích lợi cho thiên hạ. Mệnh thường, phụ giúp các việc thiện luôn luôn có thành tâm.

Mệnh nhiều hung sát mà cho cáng đáng những công tác nhân đạo chỉ đưa đến hỏng việc. Thân Dậu đều thuộc Kim, Thổ sinh Kim nên Mậu Thân hay Kỷ Dậu đều có khả năng kiên trì ít bối rối.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đại Dịch Thổ - Vùng đất bị lầy, trũng hay cọn gọi là đất bùn

Các vĩ nhân tuổi thân trong lịch sử Việt Nam

Sang năm 2016 là năm Bính Thân. Vậy những người tuổi Thân như thế nào? Lịch sử Việt Nam ghi nhận rất nhiều bậc vĩ nhân tuổi thân trong đó có cả Nguyễn Trãi (sinh năm Canh Thân – 1380). Nào chúng ta cùng tìm hiểu họ là những ai?
Các vĩ nhân tuổi thân trong lịch sử Việt Nam

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tuổi Canh Thân

1./ Nguyễn Trãi (1380-1442): hiệu là Ức Trai là đại thần nhà Hậu Lê, một nhà văn chữ Nôm. Ông là một nhà chính trị, một nhà quân sự, một nhà ngoại giao, một nhà văn hóa, một nhà văn, một nhà thơ mang tầm cỡ kiệt xuất, vĩ đại

Các vĩ nhân tuổi thân trong lịch sử Việt Nam

Năm 1980, Nguyễn Trãi được tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là Danh nhân văn hoá thế giới và tổ chức kỷ niệm 600 năm năm sinh của ông.

Nguyễn Trãi gốc làng Chi Ngại, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, sinh ra ở Thăng Long, sau dời về sống ở làng Ngọc Ổi, xã Nhị Khê, huyện Thường Tín, Hà Tây.

Ông tham gia khởi nghĩa Lam Sơn và có công lớn trong việc phò tá Lê Lợi đánh đuổi giặc ngoại xâm và lập lên triều Hậu Lê.

Năm 1442, toàn thể gia đình Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc trong vụ án oan Lệ Chi Viên nổi tiếng trong lịch sử.

Tháng 7 năm 1464, vua Lê Thánh Tông đã xuống chiếu minh oan cho Nguyễn Trãi, truy tặng NguyễnTrãi tước Tán Trù Bá

Hiện nay, ở Côn Sơn (Chí Linh, Hải Dương) có khu lưu niệm Nguyễn Trãi và gia tộc của ông. Các thế hệ giàu lòng ngưỡng mộ đối với tổ tiên, từ khắp mọi miền của đất nước, đã không ngớt kéo về Côn Sơn để tưởng nhớ Nguyễn Trãi - người con quang vinh của lịch sử nước nhà.

2./Lương Thế Vinh (1460–1497): Trạng nguyên, làm quan triều Lê Thánh Tông.

Danh sĩ Lương Thế Vinh tự Cảnh Nghị, hiệu Thụy Hiên, người quê xã Cao Hương, huyện Thiên Bản, tỉnh Nam Định nay là huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.

Năm Quý Mùi 1463, ông đỗ trạng nguyên khi mới 23 tuổi.

Các vĩ nhân tuổi thân trong lịch sử Việt Nam

Đền thờ Lương Thế Vinh xã Cao Hương, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.

Ông làm quan đến Thừa chỉ ở Viện Hàn lâm, có chân trong Tao đàn Nhị thập bát tú thời ấy. Bình sinh hiếu học, đọc rộng các sách, ông có soạn nhiều sách về đạo Phật và quyển Toán pháp đại thành. Các sĩ phu và nhân dân cảm phục tài đức ông, tục gọi ông là Trạng Lường (biểu dương ông về khoa toán pháp).

Lương Thế Vinh là một ông quan tài giỏi, thông thạo văn chương, giỏi giang âm nhạc, tinh tường toán pháp. Ông còn nổi tiếng về lòng mến dân và đức tính thẳng thắn, trung thực. Ngay đối với vua, ông cũng hay châm biếm khôi hài, không chịu câu thúc. Ông thường mượn việc để răn dạy từ vua đến quan.

Khi ông mất, được phong làm Phúc thần, nơi đình Cao Hương còn có bức vẽ chân dung ông.

3./ Phạm Vĩ Khiêm (1740-1787): Tên là Phạm Nguyễn Du, danh sĩ thời Lê Mạt.

4./Nguyễn Tri Phương (1800-1873): một đại danh thần Việt Nam thời nhà Nguyễn.

Nguyễn Tri Phương tên cũ là Nguyễn Văn Chương, tự Hàm Trinh, hiệu là Đồng Xuyên, sinh ngày 21 tháng 7 năm Canh Thân 1800, quê làng Đường Long (Chí Long), xã Chánh Lộc, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên.

Ông xuất thân trong một gia đình làm ruộng và nghề thợ mộc. Nhà nghèo lại không xuất thân từ khoa bảng nhưng nhờ ý chí tự lập ông đã làm nên công nghiệp lớn.

Các vĩ nhân tuổi thân trong lịch sử Việt Nam

Năm Quý Mùi (1823), ra làm quan cho triều Nguyễn. Ông từng giữ các vị trí quan trọng trong triều đình và được chép công trạng vào bia đá ở Võ miếu (Huế).

Ông là vị Tổng chỉ huy quân đội triều đình Nguyễn chống lại quân Pháp xâm lược lần lượt ở các mặt trận Đà Nẵng (1858), Gia Định (1861) và Hà Nội (1873).

Trong trận chiến bảo vệ thành Hà Nội tháng 11 năm 1873, Nguyễn Tri Phương bị trọng thương. Ông được lính Pháp cứu chữa, nhưng ông khảng khái từ chối và nói rằng: "Bây giờ nếu ta chỉ gắng lây lất mà sống, sao bằng thung dung chết về việc nghĩa"Sau đó, ông tuyệt thực gần một tháng và mất vào ngày 20 tháng 12 năm 1873 (1 tháng 11 Âm lịch), thọ 73 tuổi. Thi hài ông và Nguyễn Lâm được đưa về an táng tại quê nhà. Đích thân vua Tự Đức soạn bài văn tế cho ba vị công thần (Nguyễn Duy, Nguyễn Lâm, Nguyễn Tri Phương) và cho lập đền thờ Nguyễn Tri Phương tại quê nhà.

5./Mai Xuân Thưởng (1860-1887): Lãnh tụ phong trào Cần Vương ở Bình Định.

Mai Xuân Thưởng lúc nhỏ tên là Phạm Văn Siêu, là sĩ phu và là lãnh tụ phong trào kháng Pháp cuối thế kỷ 19 ở Bình Định (Việt Nam).

Mai Xuân Thưởng là người thôn Phú Lạc, xã Bình Thành, huyện Tuy Viễn (nay là huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định).

Các vĩ nhân tuổi thân trong lịch sử Việt Nam

Năm 1884, ông đỗ cử nhân ở trường thi Bình Định. Năm 1885, hưởng ứng chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi, ông đứng ra chiêu mộ nghĩa quân phối hợp với nghĩa quân của Tổng đốc Đào Doãn Địch ốm chết, Mai Xuân Thưởng được tôn làm nguyên soái.

Tháng 9 năm Aát Dậu (1885), ông làm lễ tế cờ tại Lộc Đổng, rồi xuất quân diệt giặc, thanh thế của nghĩa quân lan rộng, lừng lẫy. Những trận đánh ở Cẩm Vân, Thủ Thiện đã gây cho địch nhiều tổn thất.

Không bắt được Mai Xuân Thưởng, thực dân Pháp đã bắt giam mẹ ông. Vì chữ hiếu theo quan niệm của người xưa, ông đã ra nộp mình tại đình Phú Phong. Khi được khuyên ra hàng, ông khẳng khái trả lời: "Chỉ có đoạn đầu tướng quân, chứ không có hàng đầu tướng quân!"

Bọn giặc giải ông về thành Bình Định và xử chém vào ngày rằm tháng tư năm Đinh Hợi (1887). Năm đó, ông 27 tuổi.

>> Đã có TỬ VI 2016 mới nhất. Xem ngay!

>> Đã có LỊCH VẠN NIÊN 2016 mới nhất. Xem ngay!

Tuổi Giáp Thân

1./Đồng Kiên Cương (1284-1330): Vị tổ thứ hai trong Trúc Lâm tam tổ

Đồng Kiên Cương sinh ngày 7 tháng 5 niên hiệu Thiệu Bảo thứ 4, tức năm 1284, quê ở làng Cửu La, huyện Chí Linh, lộ Lạng Giang (nay là huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương). sau này đi tu mới đổi pháp hiệu là Pháp Loa.

Các vĩ nhân tuổi thân trong lịch sử Việt Nam

Là một người lãnh đạo sáng suốt, dù tuổi đời còn rất trẻ nhưng Pháp Loa đã đưa Thiền phái Trúc Lâm phát triển tới một đỉnh cao mới. Ông cũng là người tổ chức ấn hành Đại Tạng Kinh, một cuốn sách quan trọng của Phật giáo tại Việt Nam…

Ông mất ngày 3 tháng 3 năm 1330, thọ 42 tuổi. Sau khi được tin Pháp Loa viên tịch, Thượng hoàng Trần Minh Tông ngự bút truy tặng ngài là Tịnh Trí Đại Tôn Giả.

Mặc dù qua đời khá sớm nhưng trong suốt 24 năm ròng rã, Pháp Loa đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh mà thầy mình là Trần Nhân Tông giao phó, trở thành vị tổ nổi tiếng của dòng thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

2./Nguyễn Đức Đạt (1824 -1887): Tức Thám Đạt, vị thầy học danh tiếng, quê Nghệ An.

Nguyễn Đức Đạt, tự Khoát Như, sinh năm 1824 tại làng Hoành Sơn, xã Nam Hoa Thượng, tổng Trung Cần, nay là xã Khánh Sơn, huyện Nam Đàn. Ông sinh ra trong một gia đình khoa bảng: cha là Nguyễn Đức Diện đỗ cử nhân năm 1824, con là Nguyễn Đức Hiển đỗ cử nhân năm 1912 và cháu là Nguyễn Đức Vân đỗ phó bảng năm 1906.

Từ thuở nhỏ Nguyễn Đức Đạt nổi tiếng thông minh, học giỏi và uyên bác về nhiều mặt. Ông đỗ cử nhân khoa Đinh Mùi (1847) đến khoa thi Quý Mão đời Tự Đức (1853), ông cùng Nguyễn Văn Giao, người làng Trung Cần đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ tam danh tức Thám hoa.

Buổi đầu Nguyễn Đức Đạt được bổ làm quan ở Viện Tập Hiện làm thị giảng rồi bổ làm Cấp sự trung. Được một thời gian ông xin triều đình về quê mở trường dạy học và phụng dưỡng cha mẹ già. Nghe tiếng về trình độ học vấn và đức độ của ông, sĩ tử gần xa đến xin học rất đông. Trường học không đủ chỗ ngồi, những buổi bình văn, thầy Đạt phải chuyển trường lên núi Nam Sơn, cách nhà khoảng 500m.

Các vĩ nhân tuổi thân trong lịch sử Việt Nam

Thám Đạt, đã có nhiều đóng góp quan trọng cho sự nghiệp giáo dục, khoa cử triều Nguyễn

Nguyễn Đức Đạt đã có những phân tích, kiến giải khác thường, khá tích cực so với thời đại về Đạo Nho và có đóng gớp nhiều vào sự nghiệp giáo dục nước ta thời Nguyễn

3./Nguyễn Văn Tường (1824-1886): Phụ chính đại thần khi Tự Đức mất. Bị Pháp đày đi Tahiti.

Nguyễn Văn Tường là đại thần phụ chính của nhà Nguyễn. Ông xuất thân từ một gia đình lao động nghèo thuộc làng An Cư, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.

Các vĩ nhân tuổi thân trong lịch sử Việt Nam

Năm 1850, ông đậu cử nhân, được nhận chức huấn đạo (phụ trách việc dạy và học) tại huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Năm 1853, huyện Thành Hóa, thuộc tỉnh Quảng Trị được thành lập. Ông được bổ làm tri huyện ở đó cho đến 9 năm sau. Tại đây, ông đã xây dựng được một căn cứ địa tốt cho Huế. Ông lại chứng tỏ là một người rất có tâm và tài trong việc đoàn kết người Thượng với người Kinh.

Ngày 23 tháng 5 âm lịch, Ất Dậu (ngày 4 tháng 7, bước sang ngày 5 tháng 7 năm 1885) ông cùng Tôn Thất Thuyết chỉ huy cuộc tấn công một cách bất ngờ vào Sứ quán Pháp bên kia sông Hương và doanh trại Pháp tại Mang Cá (Huế), nhưng thất bại. Sau một thời gian ngắn ông bị Pháp bắt và đưa đi lưu đày. Ngày 30 tháng 7 năm 1886, tại Papeete, một làng trên quần đảo thuộc địa Tahiti của Pháp, Nguyễn Văn Tường mất vì bệnh ung thư cổ họng.

4./Dương Bá Trạc (1884-1944): Tham gia phong trào Duy Tân, tác giả Nét mực tình.

Dương Bá Trạc, biệt hiệu Tuyết Huy, sinh ngày 22 tháng 4 năm 1884, quê làng Phú Thị, nay thuộc xã Mễ Sở, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.

Các vĩ nhân tuổi thân trong lịch sử Việt Nam

Ông là con Dương Trọng Phổ (1862-1927), một nhà Nho có tư tưởng tiến bộ, là anh ruột Dương Quảng Hàm (1898-1946) và Dương Tụ Quán (1902 -1969), cả hai đều là nhà giáo tiến bộ thời cận đại.

Là người rất thông minh, mới 16 tuổi, Trạc đã thi đỗ cử nhân (khoa năm Canh Tý 1900)

Đỗ đạt rồi, Trạc không ra làm quan như thói thường. Ông ôm khát vọng thức tỉnh quốc dân khỏi cơn mê nô lệ, chống sự đô hộ của thực dân đế quốc. Ông từng cùng Phan Châu Trinh đi diễn thuyết nhiều nơi, cổ động chủ nghĩa duy tâm tự cường, cùng Tăng Bạt Hổ lên thăm Đề Thám ở Nhã Nam, đi suốt từ Bắc vào Nam để gặp gỡ bạn bè, chiêu mộ đồng chí.

Cả đời bôn ba, trong lòng ôm mối hận chưa thỏa được chí cứu nước, Dương Bá Trạc sinh bệnh và mất ngày 11 tháng 12 năm 1944 tại Singapore,

5./ Hồ Biểu Chánh (1884-1958): là một nhà văn tiên phong của miền Nam Việt Nam ở đầu thế kỷ 20.

Hồ Biểu Chánh, tên thật là, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên, tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang).

Các vĩ nhân tuổi thân trong lịch sử Việt Nam

Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ. Ông là một công chức thanh liêm thời Pháp thuộc, làm Chủ quận (Quận trưởng) nhiều quận ở Nam Kỳ thuộc Pháp.

Với bút danh Hồ Biểu Chánh, ông viết nhiều thể loại: thơ, truyện ngắn, khảo luận, phê bình, kịch, và đã xuất bản hơn sáu mươi tiểu thuyết. Ông được xem là một trong những nhà văn góp phần khai phóng văn học miền Nam đầu thế kỷ 20.

Ông mất ngày 4 tháng 9 năm 1958 tại Phú Nhuận, Gia Định; thọ 74 tuổi.

>> Xem VẬN HẠN 2016 mới nhất!

>> Xem TUỔI XÔNG ĐẤT 2016 mới nhât!

Tuổi Bính Thân

1./Hứa Tam Tỉnh (1476-?): Tức Trạng Ngọt

Ông là văn thần đời vua Lê Uy Mục, quê làng Vọng Nguyệt, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.

Ông đẹp trai, nổi tiếng văn học, đi thi khoa Mậu thìn 1508, ông đỗ bảng nhãn, 32 tuổi. Bấy giờ, vị trạng nguyên khoa này là Nguyễn Giản Thanh, tướng mạo kém ông. Khi các vị tân khoa vào chầu, nhà vua khen tướng mạo ông và gọi đùa là "Mạo Trạng nguyên" (Trạng nguyên dáng đẹp).

Khi làm chức Thị thư, khoảng năm Quí dậu 1513, ông sung chức Phó sứ, sang nhà Minh. Về sau, ông lại làm quan nhà Mạc đến chức Thượng thư bộ Lại, tước Đôn giáo Hầu. Rồi cùng Nguyễn Văn Thái đi sứ nhà Minh, cầu phong cho họ Mạc. Lúc về, được tặng Thiếu bảo, lãnh việc dạy con vua Mạc.

2./Nguyễn Đôn Tiết (1836-?): Phó bảng, tham gia phong trào Cần Vương đánh Pháp.

Nguyễn Đôn Tiết là người làng Thọ Vực, huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hóa.

Năm Kỷ Mão (1879), ông đỗ Phó bảng, làm Tri phủ một thời gian. Sau tháng 7 năm 1885, hưởng ứng dụ Cần vương, ông về quê chiêu mộ quân rồi tham gia chiến đấu trong cuộc khởi nghĩa ở Ba Đình (thuộc Nga Sơn, Thanh Hóa).

Tháng 3 năm 1886, ông bị quân Pháp bắt được, đày đi Côn Đảo, rồi mất tại đấy (1887), hưởng dương 51 tuổi.

3./Hoàng Ngọc Phách (1896-1973): Nhà giáo, tác giả cuốn Tố Tâm.

Quê ở làng Đông Thái xã Yên Đường (nay là xã Tùng Ảnh) tổng Việt Yên, huyện Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh, hiệu là Song An.

Các vĩ nhân tuổi thân trong lịch sử Việt Nam

Suốt 20 năm dạy học dưới chế độ thực dân do có liên quan xa gần đến phong trào yêu nước trong các trường đại học ông luôn bị chuyển đến hết nơi này đến nơi khác.

Năm 1935 về dạy học tại Bắc Ninh nhiều lần giữ chức Giám đốc học khu Bắc Ninh cho đến tận Tổng khởi nghĩa. Cách mạng tháng Tám thành công ông giữ những trọng trách trong ngành giáo dục, sau ngày hoà bình lập lại ông công tác ở Ban tu thư Bộ giáo dục, tham gia sưu tầm biên soạn các công trình về văn học cổ điển, cận đại dân gian Việt Nam.

Lịch sử văn học Việt Nam đã chọn Hoàng Ngọc Phách làm người thể hiện những bước chuyển về chất ấy - người mở cánh cửa đầu tiên cho nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Với tác phẩm “Tố Tâm” của Hoàng Ngọc Phách đã tạo nên một cuộc cách tân lớn trong nghệ thuật.

Hoàng Ngọc Phách không chỉ là một nhà văn có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển của văn học và sự trưởng thành của khoa học xã hội mà ông còn là một nhà giáo thế hệ của những người khai sinh ra nền giáo dục của chế độ mới.

4./Hồ Tùng Mậu (1896-1951): Chiến sĩ yêu nước hoạt động cách mạng nhiệt thành.

Hồ Tùng Mậu tên khai sinh là Hồ Bá Cự, khi xuất dương sang Thái Lan hoạt động mới mang tên Hồ Tùng Mậu và trở thành tên gọi chính thức đến khi qua đời.

Ông  người làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An. Xuất thân trong một gia đình có truyền thống khoa cử, truyền thống yêu nước.

Các vĩ nhân tuổi thân trong lịch sử Việt Nam

Hoàn cảnh gia đình, quê hương, xã hội đã sớm hun đúc tinh thần yêu nước cách mạng, căm thù đế quốc. Cuối tháng 4/1920, Hồ Bá Cự từ giã vợ, con nhỏ sang Thái Lan, rồi 3 tháng sau được sang Trung Quốc tìm gặp các nhà cách mạng tìm gặp các nhà cách mạng Xứ Nghệ đang hoạt động ở đây là Phan Bội Châu, Hồ Ngọc Lãm v.v... Tại đây, Hồ Tùng Mậu cùng Lê Hồng Sơn lập ra Tâm Tâm xã, tập hợp số thanh niên hăng hái kiên quyết cùng chí hướng, hy sinh quyền lợi cá nhân, cùng nhau mưu đồ giải phóng dân tộc.

Sau khởi nghĩa ông được giao nhiều nhiệm vụ: Phụ trách trường quân chính Nhượng Bạn, Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến Liên khu IV, Uỷ viên thường vụ Liên khu uỷ, Tổng thanh tra Ban thanh tra Chính phủ, Hội trưởng Hội Việt Hoa hữu nghị. Ở bất kỳ địa vị công tác nào, ông đều hăng hái, nhiệt tình và phát động được cán bộ, nhân dân tham gia. Tại Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc tháng 2/1951, Hồ Tùng Mậu được bầu làm uỷ viên dự khuyết Ban chấp hành Trung ương và vẫn giữ các công tác cũ.

Ngày 23/7/1951 trên đường công tác , ông hy sinh do bị máy bay Pháp ném bom.

5./Phạm Hồng Thái (1896-1924): Tham gia hoạt động phong trào Đông Du và là người đặt bom ám sát toàn quyền Đông Dương.

Phạm Hồng Thái tên thật là Phạm Thành Tích, quê Nghệ An, là con quan Huấn đạo Phạm Thành Mỹ.

Các vĩ nhân tuổi thân trong lịch sử Việt Nam

Là một người yêu nước, sớm tham gia các phong trào dân chủ, năm 1918 ông cùng với một nhóm thanh niên có tâm huyết theo Vương Thúc Oánh (thành viên Việt Nam Quang phục Hội) vượt biên qua Xiêm (Thái Lan) rồi sang Quảng Châu (Trung Quốc). Tháng 4 năm 1924, ông gia nhập Tâm Tâm Xã do Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn thành lập.

Chiều tối ngày 19 tháng 6 năm 1924, Phạm Hồng Thái đặt bom ám sát toàn quyền Đông Dương Meclanh. Vụ đặt bom thành công, bom nổ nhưng Mec-lanh thoát chết, chỉ bị thương. Bị cảnh sát phát hiện và truy đuổi ráo riết, Phạm Hồng Thái nhanh chóng thoát ra ngoài, nhảy xuống sông Châu Giang định bơi sang bên kia bờ. Nhưng dòng nước xoáy làm Phạm Hồng Thái không đến được điểm hẹn, ông đã anh dũng hy sinh. Sự kiện này đã được báo chí Trung Quốc và nhiều nước trên thế giới đưa tin nhiều ngày liền với tên gọi “Tiếng bom Sa Điện”.

Nhân dân Quảng Châu cho đó là hành vi nghĩa liệt, đưa thi thể Phạm Hồng Thái mai táng ở chân đồi Bạch Vân. Sau này mộ Liệt sỹ Phạm Hồng Thái được chuyển về xây tại Nghĩa trang Trung ương Hoàng Hoa Cương, bên cạnh các Liệt sĩ Trung Quốc, mộ chí ghi “Việt Nam Phạm Hồng Thái Liệt sĩ chi mộ”

6./Khải Hưng (1896-1947): nhân vật trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn với nhiều cuốn tiểu thuyết xuất sắc.

Khái Hưng tên thật là Trần Khánh Giư, bút hiệu khác Nhị Linh, sinh năm 1896 tại làng Cổ Am, phủ Vĩnh Bảo, tỉnh Hải Dương.

Các vĩ nhân tuổi thân trong lịch sử Việt Nam

Thuở nhỏ học chữ nho, rồi theo Tây học (lycée Albert Sarraut, có nơi ghi Paul Bert). Sau khi đậu tú tài Pháp, ban triết, Khái Hưng dậy ở tư thục Thăng Long, ở đây ông gặp Nhất Linh và thành lập nhóm Tự Lực Văn Đoàn với nhiều cuốn tiểu thuyết xuất sắc mở ra cả một phong trào sau này.

7./Vũ Đình Long (1896-1960):

Ông Vũ Đình Long là người làng Mục Xá, xã Cao Dương,huyện Thanh Oai, Hà Nội. Ông là người khai sinh ra nền kịch nói Việt Nam bằng vở kịch Chén thuốc độc (1921).

Các vĩ nhân tuổi thân trong lịch sử Việt Nam

Ông là một người suốt đời phấn đấu cho một nền đạo đức trong sáng, giữ vững thuần phong mỹ tục của dân tộc. Ông là người có công lớn trong việc chấn hưng và phát triển nền văn học nước nhà. Ông mở Nhà xuất bản Tân Dân để tạo điều kiện cho các nhà văn phát triển tài năng. Dưới con mắt tinh đời của ông, nhiều nhà văn đã được khích lệ và trở thành những nhà văn lớn của Việt Nam. Nhà xuất bản Tân Dân là một nhà xuất bản lớn vào loại nhất của Việt Nam trước Cách mạng Tháng 8.1945.

Ông là người sống trong sạch, không vụ tiền tài, tiền công diễn các vở kịch của ông thời ấy, ông không nhận mà là để góp phần công đức nuôi dưỡng các trẻ em mồ côi.

>> Xem bói 12 CUNG HOÀNG ĐẠO 2016 mới nhất!

>> Xem bói 12 CON GIÁP 2016 mới nhất!

Tuổi Mậu Thân

1./ Nguyễn Ưng Lịch (1872-1943): Tức vua Hàm Nghi.

Hàm Nghi là vị vua thứ tám triều Nguyễn, con của Kiến thái vương Nguyễn Phúc Hồng Cai, em ruột vua Kiến Phúc.

Các vĩ nhân tuổi thân trong lịch sử Việt Nam

Năm 1883 và 1884, triều đình Huế kí các Hiệp ước Hacmăng (Harmand) và Patơnôt (Patenôtre) đầu hàng hoàn toàn thực dân Pháp, cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chuyển sang một bước ngoặt.

Ngày 5.7.1885, Tôn Thất Thuyết thuộc phái chủ chiến bất ngờ tiến công quân Pháp ở Huế nhưng thất bại. Tôn Thất Thuyết đưa Hàm Nghi rút lên miền núi các tỉnh Quảng Trị, Quảng Bình, Hà Tĩnh, ra chiếu Cần vương kêu gọi nhân dân ra sức giúp vua, cứu nước, được nhân dân cả nước tích cực hưởng ứng.

Ngày 1.1.1888, Hàm Nghi bị Trương Quang Ngọc phản bội, bắt và giao cho Pháp. Hàm Nghi bị đưa đi an trí ở Angiêri. Hàm Nghi vẫn giữ lối sống truyền thống của đất nước và dân tộc Việt Nam.

2./Thiếu Sơn (1908-1978):

Thiếu Sơn tên thật là Lê Sĩ Quý. Ông là nhà văn, nhà báo, nhà phê bình văn học Việt Nam. Ông sinh tại Hải Dương trong một gia đình có truyền thống Nho học.

Các vĩ nhân tuổi thân trong lịch sử Việt Nam

Cả cuộc đời ông tham gia nghệ thuật, bắt đầu viết cho Nam Phong tạp chí và sau này còn viết cho nhiều báo khác nữa, như: Tiểu thuyết thứ Bảy, Đại Việt tạp chí, Nam Kỳ tuần báo... Với ngòi bút của mình ông đấu tranh không mệt mỏi chống Pháp, chống Mỹ đến nỗi hai lần bị bắt giam và đày ra nhà tù Côn Đảo (1972)

Năm 1973, ông được tự do và trở ra Bắc rồi sang Pháp để vận động Việt kiều ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ. Cuối năm 1975, ông trở về nước, đoàn tụ với gia đình.

Tuy đau yếu luôn, nhưng ông vẫn viết bài cho báo Đại đoàn kết và Sài Gòn giải phóng, cho đến khi ông bị tai biến mạch máu não rồi qua đời tại Thành phố Hồ Chí Minh, thọ 70 tuổi.

3./ Ngô Gia Tự (1908-1935): Nhà hoạt động cách mạng nổi tiếng của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ông sinh ra ở làng Tam Sơn, phủ Từ Sơn (nay là xã Tam Sơn, huyện Từ Sơn), tỉnh Bắc Ninh. Ngô Gia Tự là một chiến sĩ cộng sản kiên cường, bất khuất, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân Việt Nam.

Các vĩ nhân tuổi thân trong lịch sử Việt Nam

Ngay từ trẻ ông đã tham gia hoạt động cách mạng và là một trong những người đặt nền móng, tham gia thành lập Đảng Cộng sản. Sau Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Ngô Gia Tự làm bí thư Chấp uỷ Lâm thời Nam Kỳ.

Tháng 6.1930, ông bị bắt tại Sài Gòn, bị toà đại hình ở Sài Gòn kết án khổ sai chung thân (5.1933) và đày ra Côn Đảo (giữa 1933).

Đầu 1935, ông vượt ngục Côn Đảo để về đất liền nhưng thuyền bị đắm trên biển. Ngô Gia Tự cùng với tất cả các đồng chí vượt biển đã hi sinh.

4./ Nguyễn Đức Cảnh (1908-1932): Một chiến sĩ, một nhà hoạt động cách mạng kiên trung của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nguyễn Đức Cảnh sinh ngày 2/2/1908 tại thôn Diêm Điền, xã Thái Hà, huyện Thuỵ Anh, tỉnh Thái Bình.

Các vĩ nhân tuổi thân trong lịch sử Việt Nam

Cùng với Ngô Gia Tự, ông là một trong bảy người tham gia thành lập chi bộ cộng sản đầu tiên ở nước ta. Ông là người trực tiếp tổ chức, thành lập và chỉ đạo các hoạt động của Đảng ở Hải Phòng trong những năm đầu tiên.

Cuối năm 1930 phong trào đấu tranh của công nhân, nông dân Nghệ Tĩnh phát triển rầm rộ rộng khắp, nhằm tăng cường đội ngũ lãnh đạo cho phong trào miền Trung, Nguyễn Đức Cảnh được điều vào Trung kỳ chỉ đạo phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh.

Tháng 4/1931 trên đường đi công tác trở về cơ sở Nguyễn Đức Cảnh giặc bắt, tại làng Yên Dũng Hạ, cách thành Vinh chừng vài cây số.

Ngày 17/11/1931 Nguyễn Đức Cảnh và Hồ Ngọc Lân bị đưa xuống Hải Phòng thi hành án tử hình.

5./Đoàn Trần Nghiệp (1908-1930):  bí danh Ký Con, là nhà cách mạng Việt Nam, đảng viên Việt Nam Quốc dân đảng.

Đoàn Trần Nghiệp sinh năm 1908 tại phố Hàng Sơn, Hà Nội. Ông quê ở làng Khúc Thủy, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội).

Đoàn Trần Nghiệp gia nhập Việt Nam Quốc Dân Đảng từ rất sớm và hoạt đông rất năng nổ. Ông từng tham gia ám sát chuyên trừng trị các tên thực dân, kẻ phản bội. Sau khi cuộc tổng khởi nghĩa của Việt Nam quốc dân đảng không thành, ông và các đồng chí của mình bị thực dân Pháp truy nã ráo riết.

Tháng 6 năm 1930, ông bị mật thám bắt ở Nam Định và bị đưa về giam ở Hỏa Lò, Hà Nội. Khi được ký giả người Pháp Louis Roubaud phỏng vấn ông nói mục đích của ông là “ đánh đuổi người Pháp ra khỏi xứ An Nam”. Sau đó, Đoàn Trần Nghiệp bị kết án tử hình.

Cuối tháng 12 năm 1930, Đoàn Trần Nghiệp, tức Ký Con bình thản cùng 6 đồng chí bước lên máy chém tại cổng trước nhà tù Hỏa Lò, Hà Nội.

6./Hải Triều (1908-1954): nhà văn có nhiều đóng góp cho sự nghiệp văn chương Việt Nam.

Hải Triều tên thật là Nguyễn Khoa Văn, sinh ở làng An Cựu ở ngoại thành Huế, quê ở xã Lê Lợi, huyện An Dương, Hải Phòng. Lớn lên, ông học ở trường Quốc Học Huế, sau đó bị đuổi khỏi trường do tham gia các phong trào thanh niên yêu nước.

Các vĩ nhân tuổi thân trong lịch sử Việt Nam

Năm 1927, ông tham gia đảng Tân Việt sau đó vào hoạt động ở Sài Gòn. Ông bắt đầu tham gia viết báo với bút danh Nam Xích Tử. Ông hoạt động cách mạng rất hang hái và bị Pháp bắt năm 1930.

Đến năm 1932 ra tù, Nguyễn Khoa Văn mở hiệu sách báo Hương Giang ở Huế và đồng thời bắt đầu viết cho báo Đông Phương dưới bút danh mới - Hải Triều. Ông bắt đầu gây tiếng vang qua những cuộc tranh luận của Phan Khôi trên các báo Đông Phương, Phụ nữ tân tiến...: "Duy vật hay duy tâm", "Nước ta có chế độ phong kiến hay không". Ông hoạt động sôi nổi trong thời kì Mặt Trận Dân Chủ (1936-1939), viết bài cho các báo Nhành lúa, Dân, Đời mới, Kiến văn, Tiếng vang, Hồn trẻ, Tin tức, Tin mới... đặc biệt qua cuộc bút chiến về "Nghệ thuật vị nghệ thuật hay Nghệ thuật vị nhân sinh" (kéo dài từ 1935 - 1939) với Hoài Thanh, Thiếu Sơn, Lưu Trọng Lư...

7./ Nguyễn Văn Huyên (1908-1975): một Giáo sư, tiến sỹ, nhà sử học, nhà dân tộc học, nhà giáo dục, nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam. Ông cũng là người giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Việt Nam trong suốt 28 năm.

Ông sinh ngày 16 tháng 11 năm 1905 tại Hà Nội, nguyên quán tại xã Kim Chung, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Tây (nay thuộc huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội).

Các vĩ nhân tuổi thân trong lịch sử Việt Nam

Năm 18 tuổi, ông và người em trai là Nguyễn Văn Hưởng được gia đình cho đi Pháp du học. Năm 1934 ông là người Việt Nam đầu tiên bảo vệ thành công luận án tiến sĩ văn khoa tại Đại học Sorbonne, Paris. Năm 1935 ông trở về nước, khước từ làm quan, dạy học tại Trường Bưởi (trường Bảo hộ).

Sau khi cuộc Cách mạng tháng Tám thành công, ông được cử giữ chức Giám đốc Đại học vụ, Bộ Quốc gia giáo dục kiêm Giám đốc Viện Bác cổ.

Tháng 11 năm 1946, ông được cử giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục (nay là Bộ Giáo dục) của Chính phủ liên hiệp kháng chiến Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và giữ chức vụ này trong 29 năm cho đến khi mất vào tháng 10 năm 1975 dù không phải là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ông là đại biểu Quốc hội Việt Nam từ khoá 2 đến khoá 7, ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Ông qua đời ngày 19 tháng 10 năm 1975 tại Hà Nội.

Tuổi Nhâm Thân

1./Đàm Văn Lễ (1452-1505): Tiến sĩ làm quan triều Lê Thánh Tông.

Đàm Văn Lễ tự là Hoằng Kính, người xã Lam Sơn, huyện Quế Dương, nay là huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, Việt Nam. Từ nhỏ ông đã nổi tiếng là thần đồng, thi Hương đỗ giải nguyên.

Năm 1469, mới 18 tuổi, ông đi thi lần đầu đã đỗ Đồng tiến sĩ. Sau đó ông ra làm quan cho triều Lê và giữ nhiều chức vụ quan trọng trong triều đình.

Ông nổi tiếng là đại thần cương trực, trung trinh. Năm 1504, Lê Hiến Tông bệnh nặng. Nguyễn Kính phi là mẹ hoàng tử Lê Tuấn muốn con mình thay thái tử Thuần, nên mang vàng hối hộ ông. Đàm Văn Lễ không nhận rồi cùng Ngự sử Nguyễn Công Bật tuân theo di chiếu lập thái tử Thuần làm vua, tức là vua Lê Túc Tông sau này.

Ông mất năm 1502, thọ 53 tuổi.

2./Đào Duy Từ (1572-1639):  nhà chính trị quân sự lỗi lạc, danh nhân văn hóa kiệt xuất, người thầy, bậc khai quốc công thần số một của chín đời chúa Nguyễn và 13 đời vua nhà Nguyễn.

Đào Duy Từ làm quan với chúa Nguyễn Phúc Nguyên từ năm 1627 đến năm 1634, trong vòng tám năm (từ năm ông 54 tuổi đến năm 62 tuổi) ông đã kịp làm được năm việc lớn: (1) Giữ vững cơ nghiệp của chúa Nguyễn ở Đàng Trong, chặn được quân Trịnh ở Đàng Ngoài;

(2) Mở đất phương Nam làm cho Nam Việt thời ấy trở nên phồn thịnh, nước lớn lên, người nhiều ra

(3) Xây dựng được một định chế chính quyền rất được lòng dân, đặt nền móng vững chắc cho triều Nguyễn lưu truyền chín chúa mười ba đời vua

(4) Tác phẩm "Hổ trướng khu cơ"; nhã nhạc cung đình Huế, vũ khúc tuồng Sơn Hậu là những kiệt tác và di sản văn hóa vô giá cùng với giai thoại, ca dao, thơ văn truyền đời trong tâm thức dân tộc

(5) Đào Duy Từ là người thầy đức độ, tài năng, bậc kỳ tài muôn thuở, người khai sinh một dòng họ lớn với nhiều hiền tài và di sản.

Các vĩ nhân tuổi thân trong lịch sử Việt Nam

Năm 1932, vua Bảo Đại sắc phong Đào Duy Từ làm Thần Hoàng làng Lạc Giao, đất "Hoàng triều cương thổ" ở Buôn Ma Thuột, Dăk Lăk. Ông mất năm 1639 thọ 67 tuổi.

3./Nguyễn Tông Khuê (1692-1766): Tiến sĩ thời Lê, nổi tiếng là một trong Trường An tứ hổ.

Ông còn được gọi là Nguyễn Tông Quai, hiệu Thư Hiên, quê ở Phúc Khê, huyện Ngự Thiên, nay thuộc huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

Năm Tân sửu 1721 ông đỗ tiến sĩ lúc 29 tuổi. Thầy học là cụ Thám hoa Vũ Thạch vẫn thường khen ngợi tài ông. Quả nhiên về sau ông nổi tiếng văn chương, vượt xa đồng bạn, làm quan đến Thị lang bộ Hộ, tước Ngọ Đình Hầu. Ông hai lần đi sứ nhà Thanh. Lần đầu làm Phó sứ (1742), lần sau làm Chánh sứ (1748).

Tính ông khảng khái, cương trực, nên về sau bị Việp Quận Công Hoàng Ngũ Phúc bức hại, giáng xuống chức Thị giảng rồi truất về làng.

Ông cùng với Đoàn Trác Luân, Ngô Tuấn Cảnh và Nguyễn Bá Lân là bốn danh sĩ được đương thời xưng tặng là "Trường An tứ hổ" (Bốn con cọp ở kinh đô).

Năm Bính tuất 1766 ông mất, thọ 74 tuổi.

4./Phan Chu Trinh (1872-1926): Ông là nhà thơ, nhà văn, và là chí sĩ thời cận đại trong lịch sử Việt Nam và là người chủ trì vận động Duy Tân dân chủ.

Phan Châu Trinh còn được gọi Phan Chu Trinh, hiệu là Tây Hồ, Hy Mã, tự là Tử Cán, sinh ngày 9 tháng 9 năm 1872, người làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kỳ (nay thuộc xã Tam Lộc, huyện Phú Ninh), tỉnh Quảng Nam.

Các vĩ nhân tuổi thân trong lịch sử Việt Nam

Ông nổi tiếng học giỏi, năm 27 tuổi, được tuyển vào trường tỉnh và học chung với Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Đình Hiến, Phan Quang, và Phạm Liệu.

Năm sau 1901, triều đình mở ân khoa, ông đỗ phó bảng, đồng khoa với tiến sĩ Ngô Đức Kế và phó bảng Nguyễn Sinh Sắc. Khoảng thời gian này ông ở nhà dạy học đến năm 1903 thì được bổ làm Thừa biện Bộ Lễ.

Là một người yêu nước nồng nàn, nhìn đất nước lầm than, ông bôn ba khắp đất nước tổ chức các buổi diễn thuyết dân chủ và là người chủ trì vận động phong trào Duy Tân với mong muốn thay đổi suy nghĩ, thay đổi tình trạng đất nước.

Tiếc thay đại cuộc chưa thành, bệnh tình của Phan Chu Trinh mỗi ngày một thêm trầm trọng. Ngày 24 tháng 3 năm 1926 (nhằm ngày 12 tháng 2 âm lịch) nhà cách mạng ái quốc Phan Chu Trinh đã trút hơi thở cuối cùng, hưởng thọ được 55 tuổi.

Ngày 4-4-1926 khắp từ Nam chí Bắc đều tự động làm lễ bãi khóa và làm lễ quốc táng nhà chí sĩ Phan Chu Trinh rất trọng thể để chứng tọ tấm lòng ngưỡng mộ và mến tiếc nhà cách mạng đã suốt đời vì dân vì nước.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Các vĩ nhân tuổi thân trong lịch sử Việt Nam

Xem tướng phụ nữ ngoại tình –

Dâm cũng là một nhu cầu rất tự nhiên, nhất là trong đời sống vợ chồng. Tuy nhiên dâm sẽ là một điều xấu nếu như con người không biết kiềm chế khi thực hiện nhu cầu tự nhiên này một cách bừa bãi cẩu thả, thô bỉ và trơ trẽn. Tính dục thì ai cũng có, nh

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Dâm cũng là một nhu cầu rất tự nhiên, nhất là trong đời sống vợ chồng. Tuy nhiên dâm sẽ là một điều xấu nếu như con người không biết kiềm chế khi thực hiện nhu cầu tự nhiên này một cách bừa bãi cẩu thả, thô bỉ và trơ trẽn.

Tính dục thì ai cũng có, nhưng người quá trọng nhục dục thường ít ra cũng có một vài nét tướng đặc biệt. Dưới đây là một số dấu hiệu của người phụ nữ đam mê nhục dục:

1. Da mặt trắng hơi pha màu hồng

Đàn bà trời phú cho sắc da mặt trắng hơi pha màu hồng nhạt gọi là đào hoa sắc, hoặc mặt trắng mà có nhiều tàn nhang đều chủ về háo dâm. Điều đó thể hiện đây là người phụ nữ đa “phu”.

2. Mắt lá khoai

“Những người con mắt lá khoai; liếc chồng, chồng chết, liếc trai, trai mù”, đây là loại phụ nữ không đoan chính, là loại “đa dâm”, chắc chắn sau này sẽ ngoại tình. Người sở hữu con mắt ấy là người có sức mạnh phi thường, có khả năng làm cho những gã si tình “không chết cũng bị thương”.

3. Hai môi đều mỏng

Người có kiểu môi này là người thiếu điềm tĩnh, phản ứng nhanh lẹ với ngoại cảnh, về tình cảm thiếu thủy chung, chân thật. Chưa nói mà môi đã vọng động là tướng tà dâm.

Có thói quen lấy đầu lưỡi khoa động nước răng, hoặc cận răng đen xám, không cười mà thường lộ chân răng là người có ham mê nhục dục.

images1177127_ngoaitinh_congso

4. Nhân trung có tía đỏ

Phía trên Nhân trung là mũi, phía dưới là miệng, mũi và miệng có hình dạng tương tự như bộ phận sinh dục của nam và nữ giới. Tướng học căn cứ vào đó để phát hiện ra rằng phần lớn phụ nữ chìm đắm trong hoan lạc nhục dục đều có một đường vạch ngang màu đỏ hoặc hồng (tuỳ theo truy hoan nhiều hay ít), nhỏ như sợi tơ nhện, phải tinh mắt lắm mới thấy. Nếu như ta thấy dấu hiệu đó xuất hiện thì có thể biết là người phụ nữ đó quả là đã có gì rồi.

Người có nhân trung gẫy khúc, quanh mép miệng sắc da xanh xám một cách tự nhiên không vì bệnh tật cũng là dấu hiệu của người háo dâm.

5. Mắt tam bạch

Bình thường nếu người đàn bà đó không có loại mắt này nhưng vì đắm say nhục dục nên có thể sau một thời gian ngắn, khu vực xung quanh lòng đen bị thu hẹp dần nhường lại chỗ cho lòng trắng khiến lòng đen đều bị lòng trắng bao bọc, biến thành một loại tam bạch nhãn tạm thời. Còn như nếu bình thường vẫn là hạ tam bạch nhãn, thì nếu có thông gian ta sẽ thấy Nhân trung có vạch hồng hoặc đỏ như trên vừa nói.

6. Khu vực Lệ đường (phía dưới mắt)

Bình thường không có màu sắc xanh đen, nhưng nếu giao hoan đầy lạc thú, tinh dịch tiết ra quá nhiều thì thường biến sang màu xanh đen, có lằn xếp hay gân màu xanh xám hoặc hồng chạy về phía đuôi mắt (Ngư vĩ), là tướng đàn bà thường có khuynh hướng ân ái vụng trộm.

Mắt đào hoa thì khi thấy người đàn ông xa lạ, ưa nhìn, thường hay cười tình liếc xéo.

7. Khu vực Sơn căn và Ngư vĩ

Khu vực này đột nhiên có màu xám đen ở hai bên hoặc rõ rệt hơn lúc bình thường chứng tỏ người phụ nữ đó đã hoan lạc.

Tất cả các dấu hiệu về màu sắc ở bộ vị nói trên là các bằng chứng cụ thể của kẻ lặn hụp trong tình dục. Những đàn ông chưa từng ân ái với tình nhân, những đấng phu quân xa nhà một thời gian dài khi gặp mặt vợ hoặc người tình mà đã thấy có hầu hết các dấu hiệu dẫn thượng thì quả là đáng ngại.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tướng phụ nữ ngoại tình –

Hóa giải vận hạn cho người gặp năm bản mệnh

Năm bản mệnh có cái tốt cũng có cái xấu. Điều tốt là tiền tài sẽ tăng lên nhanh chóng, sự nghiệp lên như diều gặp gió; điều xấu là điều xui xẻo liên tiếp kéo tới.
Hóa giải vận hạn cho người gặp năm bản mệnh

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1. Giới thiệu về năm bản mệnh

Trong cuộc đời khi một người gặp phải một năm có địa chi giống như năm mà người đó sinh ra, thì năm đó gọi là năm bản mệnh hay năm tuổi.

2. Năm 2015 là năm bản mệnh của những người nào?

Mỗi năm sẽ có những người bước vào năm bản mệnh, bị các sao Hung chiếu, khiến cho cuộc sống lận đận, không thể yên ổn. Năm nay những người sinh năm 1931, 1943, 1955, 1967, 1979, 1991, 2003 sẽ bước vào năm bản mệnh.

Năm nay là năm bản mệnh của những người cầm tinh con Dê.

3. Năm bản mệnh có ảnh hưởng như thế nào?

Năm bản mệnh cũng giống như một chiếc ghế có hai người cùng ngồi, một bát cơm có hai người cùng ăn, hoặc đi đường, làm việc phải cõng thêm một người nữa. Năm bản mệnh có cái tốt cũng có cái xấu. Điều tốt là tiền tài sẽ tăng lên nhanh chóng, sự nghiệp lên như diều gặp gió; điều xấu là điều xui xẻo liên tiếp kéo tới.

Tóm lại, những người trong năm bản mệnh sẽ không thể có một năm yên lành. Trong năm 2015, năm bản mệnh là thiên can Ất Mộc khắc chế Vị Thổ, khiến cho những người tuổi Dê chịu nhiều ràng buộc, khó có thể tiêu dao tự tại.

4. Vận thế của những người năm bản mệnh 2015

Những người tuổi Dê xem tử vi, một khi bước vào năm Dê Ất Vị, sẽ bị các sao hung Kiếm Phong, Thái Tuế, Trạng Thi chiếu. Khi đó dễ có hiện tượng sức khỏe bị tổn hại, công việc sự nghiệp có biến động lớn, hoặc là nhảy việc, từ chức, thất nghiệp, đương nhiên cũng có cả thăng chức, điều động,...- không nhất định là chỉ có những ảnh hưởng xấu. Về tài vận, nhất là những người kinh doanh, khi đầu tư khoản tiền lớn thì cần vạch kế hoạch kĩ càng, kể cả phương án khống chế rủi ro để tránh lâm vào bước đường cùng, đói quá hóa liều.

Những người năm bản mệnh có áp lực tâm lý lớn, thường rơi vào trong mâu thuẫn, khó có thể thoát khỏi hoàn cảnh khó khăn, cần tự điều chỉnh, gặp gỡ giao lưu với nhiều người và tích cực tham gia vào các hoạt động tập thể.

Những người thuộc năm bản mạng cần vạch rõ kế hoạch khi kinh doanh để tránh rủi ro.

5. Vận thế của từng năm bản mạng cụ thể thế nào?

Những người sinh năm 1931: tránh ngã bị thương.

Những người sinh năm 1943: chú ý các bệnh về tim, ngực, huyết quản.

Những người sinh năm 1955: chú ý bệnh về gan, thận.

Những người sinh năm 1967: tài vận không ổn định, đầu tư cần thận trọng.

 Những người sinh năm 1979: dễ chiêu đào hoa, cần giữ mình thanh khiết.

Những người sinh năm 1991: công việc dễ gặp nhiều biến động.

Những người sinh năm 2003: học tập dễ phân tâm, không thể tập trung tinh thần.

Trên đây chỉ là những vấn đề nổi trội của từng năm chứ không có nghĩa là những người trong năm đó chỉ có hung mà không có cát.

6. Cấm kỵ trong năm bản mạng

- Những người năm bản mạng kỵ nhất là bị thương, chảy máu, phẫu thuật - nhất là những người tuổi đã cao hoặc những người hoạt động ngoài trời càng cần chú ý.

- Không được đặt đồ ví dụ như bàn làm việc, đầu giường …. ở hướng sao Thái Tuế cũng không được đặt ở hướng tương phản với Thái Tuế, tức hướng Tuế Phá. Nếu như đặt đồ vào hai hướng ấy sẽ có chuyện chẳng lành xảy ra. Đồng thời vị trí Thái Tuế cần được giữ gìn sạch sẽ, có thể trồng cây phong thủy để tăng thêm may mắn, không nên động thổ, tu sửa ở hướng này. Năm nay hướng sao Thái Tuế là hướng Tây Nam, hướng Tuế Phá là Đông Bắc.

7. Cách hóa giải cho những người năm bản mạng theo Phong Thủy

- Dùng vải đỏ: trên những cây cổ thụ gần đền chùa thường treo rất nhiều mảnh vải đỏ. Nhiều người không biết những mảnh vải này dùng để làm gì, thật ra là dùng để hóa giải tai kiếp. Mua 1/3m vải đỏ, dùng bút viết tên và thời gian sinh của mình, và cả ước nguyện, sau khi viết xong buộc ở eo hoặc đặt dưới gối. Ba ngày sau, chọn giờ lành đem buộc lên cây cổ thụ. Trước khi buộc lên cây cổ thụ cần đi quanh cây bên trái 3 vòng, bên phải 3 vòng, vừa đi vừa lẩm nhẩm ước nguyện của mình.  

Vì sao như vậy lại có thể hóa bỏ tai ương và bảo vệ cho bạn? Là bởi vì những cây cổ thụ có tuổi thọ cao, sức sống mãnh liệt, khả năng chịu đựng và chống chọi với tự nhiên khắc liệt lớn, trải quả hàng trăm năm mưa gió bão bùng còn không bị đổ, huống chi là gánh vác chút khó khăn của bạn.

- Phóng sinh: 3 ngày trước khi phóng sinh, mua 3 đến 5 còn rùa, mỗi con khoảng nửa cân, trên lưng rùa khắc tên của mình. Nuôi những con rùa này trong phòng ngủ của mình 3 ngày. 3 ngày sau chọn giờ lành đem thả ở ao, sông hoặc hồ.

Nếu như có thể kiên trì phóng sinh trong nhiều năm, thì không những sức khỏe dồi đào, mà sự nghiệp, tình duyên cũng thuận lợi. Thời gian thích hợp nhất để phóng sinh, thường là những ngày cuối cùng của một năm hoặc những ngày đầu tiên của một năm, lấy Âm lịch làm chuẩn.

Phóng sinh rùa là một cách hóa giải vận hạn năm bản mạng.

Đốt hương cầu Phúc là việc không thể thiếu trong những ngày Tết để hóa giải vận hạn.

- Dùng bùa: Cách này tương đối phức tạp, còn dựa vào từng người cụ thể, tốt nhất nên hỏi ý kiến của những người có chuyên môn.

Theo phong thủy đời sống


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Hóa giải vận hạn cho người gặp năm bản mệnh

Mơ đi shopping, cẩn thận ví tiền

Trong giấc mơ, bạn thấy mình đi shopping điên cuồng, thì khi tỉnh dậy hãy quan tâm hơn tới cách xài tiền cũng như tình hình tài chính của mình nhé.
Mơ đi shopping, cẩn thận ví tiền

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Trong giấc mơ, bạn thấy mình đi shopping điên cuồng, thì khi tỉnh dậy hãy để ý lại ví tiền của mình một chút nhé.

 
Mơ thấy mua sắm trong siêu thị là điềm lành, bạn sắp có cơ hội tăng thu nhập và nhận được nhiều niềm vui bất ngờ.


Mơ thấy mình đứng ở trước quầy thu ngân hoặc cửa ra vào của cửa hàng hoặc nơi nhiều đồ xa xỉ thể hiện rõ nét nội tâm hư vinh của bạn.


Mơ thấy mình mua sắm trong chợ đêm, chợ thương phẩm nhỏ thì đường tài lộc không được như ý.


Mơ thấy mình đang chọn nơi để đi mua sắm ngụ ý bạn là người rất lí trí, cuộc sống có sự lựa chọn kĩ càng, khả năng phán đoán cao.


Mơ thấy mình mua sắm điên cuồng hoặc tiêu tiền bạt mạng là lời nhắc nhở bạn nên tiết kiệm nếu không sẽ rơi vào tình trạng viêm màng túi, thậm chí phải đi vay mượn.


Mo di shopping, can than vi tien hinh anh
Ảnh minh họa
Mơ thấy cùng cha mẹ hoặc người lớn trong nhà đi mua sắm ngụ ý trong cuộc sống hiện thực bạn rất ỷ lại, kinh tế và ý thức không độc lập, khó mà chịu được áp lực cuộc sống.


Mơ thấy mua sắm cùng người yêu là bạn đang chờ đợi một món quà đặc biệt.


Mơ thấy mua đồ cho bạn gái có ý nghĩa rằng mối quan hệ của hai bạn đã phát triển thêm một bước như ở cùng hoặc kết hôn.


Mơ đi mua sắm cùng vợ hoặc chồng ngụ ý cuộc sống giàu sang thư thái, gia đình hòa thuận.


Mơ thấy cùng bạn bè đi mua sắm tượng trưng cho việc bạn có rất nhiều bạn, khi cần sự giúp đỡ thì họ sẽ giúp đỡ nhiệt tình, vì thế bạn có một cuộc sống vui vẻ, một công việc thuận lợi.


Mơ thấy đi siêu thị mua đồ ăn cho thấy mối quan hệ giữa bạn và bạn bè hoặc người thân vô cùng mật thiết, tình cảm dung hòa có thể giúp đỡ khi khó khăn.

Buồn vui về giấc mơ
Buồn, vui là hai trạng thái cảm xúc của con người, trong cuộc sống khi gặp chuyện không được như ý muốn, ta sẽ cảm thấy buồn bực, chán nản và ngược lại, khi
Mơ thấy đi xem cửa hàng mỹ nghệ ám chỉ sắp tới bạn sẽ gặp được người yêu.


Mơ thấy đi mua giày dép là điềm hung, ám chỉ việc bạn sắp phá tài hoặc có một khoản nợ không đòi được.


Mơ thấy mình xem sách trong hiệu sách dự báo mặt sức khoẻ đi xuống, vì những lí do mông lung mà mệt mỏi, làm việc gì cũng không có tinh thần.


Mơ thấy đi mua đồ,
chọn đồ - giấc mơ này nhắc nhở bạn lựa chọn cẩn thận giữa công việc và cuộc sống.


Mơ thấy mình gửi đồ ở quầy ám chỉ tình yêu sẽ gặp sóng gió nó cũng cho thấy bạn có cảm tình với ai đó và mong muốn thu hút sự chú ý của họ.


► Tham khảo thêm: Giải mã giấc mơ và điềm báo hung cát

Lichngaytot.com

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mơ đi shopping, cẩn thận ví tiền

Truyền thuyết Âm tào địa phủ: Quỷ môn quan - Đường hoàng tuyên - Canh mạnh bà

Toàn bộ quá trình đi đến âm phủ sau khi con người chết đi dù có hay không thì chúng ta cũng nên an nhiên thực tại, tu hành tích phúc nơi dương gian thế tục
Truyền thuyết Âm tào địa phủ: Quỷ môn quan - Đường hoàng tuyên - Canh mạnh bà

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Sau khi chết rồi chúng ta sẽ đi đâu, sẽ trải qua những điều gì, và lại đầu thai như thế nào? Dưới đây là kể lại toàn bộ quá trình đi đến âm gian sau khi người ta chết đi.

Bài viết này không phải gieo rắc hoang mang cũng không phải là mê tín, những ai tin thì hoàn toàn có thể lý giải được, còn những ai không tin thì cũng có thể xem đây như là một truyền thuyết vậy. Sau khi chết chúng ta sẽ trải qua điều gì, xin hãy xem tiếp …

Dựa vào các nền văn hóa của tôn giáo phương Đông (Phật giáo và Đạo giáo), tương truyền rằng sau khi thọ mệnh người ta kết thúc, sẽ có quỷ sai của âm gian, cũng chính là Hắc Bạch Vô Thường đến dẫn hồn phách người ta xuống Quỷ Môn quan. Sau đó lại được Tứ đại sứ giả của âm gian, cũng chính là Đầu Trâu Mặt Ngựa, dẫn vong linh đến âm tào địa phủ; tiếp đó được thẩm phán của chư vị Đại Phán quan của Thập Điện Diêm La dưới âm gian tiếp nhận. Cuối cùng mới quyết định vong linh là có thể đi vào cõi nào để tiếp tục luân hồi: hoặc là lên trời hưởng phúc lành, hoặc là tiếp tục đầu thai làm người nữa hoặc loại động vật nào đó, hoặc là bị đánh vào mười tám tầng địa ngục như trong truyền thuyết để chịu khổ hình.

Chặng đường đi xuống âm phủ sau khi người ta chết đi

Tương truyền, trong quá trình đi xuống âm phủ sau khi người ta chết đi thì quan ải đầu tiên là qua Quỷ Môn quan, rồi liền phải đi qua một con đường gọi là đường Hoàng Tuyền, hai bên đường nở rộ một loại hoa đẹp, chỉ thấy hoa nở không thấy lá xanh, người cõi dương gian gọi là hoa Bỉ Ngạn (hoa của cõi bên kia).

Con đường này cần phải đi rất lâu rất lâu, đến tận cuối con đường sẽ có một con sông nhỏ gọi là Vong Xuyên Hà. Trên sông có một chiếc cầu đá gọi là cầu Nại Hà, bờ đối diện bên kia của cây cầu có một gò đất gọi là Vọng Hương đài, bên cạnh Vọng Hương đài có một cái đình nhỏ gọi là đình Mạnh Bà. Ở đó có một người tên là Mạnh Bà trông chừng và đưa cho mỗi người qua đường một chén canh Mạnh Bà. Uống canh Mạnh Bà sẽ khiến người ta quên hết tất cả mọi chuyện.

Bên bờ sông Vong Xuyên còn có một tảng đá, gọi là Tam Sinh thạch (đá ba đời), ghi chép lại đời trước, đời này và đời sau của mỗi một người. Đi qua cầu Nại Hà, đứng trên Vọng Hương đài nhìn nhân gian một lần cuối cùng, sau đó mới đi vào cõi âm tào địa phủ.

Ải thứ nhất: Quỷ Môn quan

Người ta sau khi chết đi, trước hết là do quỷ sai nơi âm gian Hắc Bạch Vô Thường dẫn ba hồn bảy phách đi, rồi giao cho quỷ Đầu Trâu Mặt Ngựa đẫn đến Quỷ Môn quan –  một quan ải cần phải đi vào cõi âm gian

Ngạn ngữ có câu: “Quỷ Môn quan, mười người đi, chín người không trở về”

Trước Quỷ Môn quan có mười sáu quỷ lớn, truyền thuyết kể rằng Diêm La Vương đã đặc cách chọn ra một nhóm ác quỷ để trấn giữ cửa ải này, họ tra xét vô cùng hà khắc, nghiêm ngặt đối với những vong hồn dã quỷ tội ác đầy mình, bản tính hung ác không đổi; không để cho một ai có thể trà trộn đi qua quan này.

Lúc còn sống bất luận là quan chức quyền quý hay bá tánh bình dân, ai đã đến nơi đây đều cần phải tiếp nhận tra xét, xem xem có mang theo lộ dẫn – giấy thông hành đến quỷ quốc hay không, đây là căn cứ của người sau khi chết đi đến quỷ quốc báo danh.

Lộ dẫn dài 3 thước (90 cm), rộng hai thước (60 cm), được làm bằng giấy mềm màu vàng, mặt trên viết “Lộ dẫn do Phong Đô Thiên Vũ Diêm La Đại Đế phát cho và con người khắp thiên hạ, cần phải đi qua đường này, mới có thể đến địa phủ chuyển thế thăng thiên”.

Đồng thời, trên mặt lộ dẫn có đóng ba dấu ấn của “thành hoàng âm ty, phủ huyện Phong Đô”. Phàm là người sau khi chết đưa vào quan tài hoặc trong lúc hỏa táng đốt bỏ, nó sẽ theo linh hồn đến địa phủ.

Ải thứ hai: Đường Hoàng Tuyền

Qua khỏi Quỷ Môn quan, tiếp đó chính là phải đi qua một con đường Hoàng Tuyền dài đằng đẵng. Hồn phách của người ta đến âm gian báo danh sẽ phải đi một đoạn đường rất dài, qua rất nhiều quan, vì vậy đường Hoàng Tuyền (Suối Vàng) là tên gọi chung đối với những quan và lộ trình này.

Trên đường Hoàng Tuyền có hoa Bỉ Ngạn màu đỏ, từ xa mà nhìn thì giống như là tấm thảm máu trải dài, vì loài hoa này có màu đỏ như lửa nên được ví là “đường lửa chiếu rọi”. Cũng bởi nó là cảnh vật và màu sắc duy nhất trên con đường Hoàng Tuyền dài đằng đẵng này, nên mọi người cứ đi theo hoa này mà thông đến địa ngục của cõi u minh.

Dương thọ của con người đến rồi thì sẽ chết, đây là cái chết bình thường; người chết bình thường trước hết cần phải đi qua Quỷ Môn quan, hồn phách của người ta đi qua quan này rồi liền sẽ biến thành quỷ. Ngoài ra, trên đường Hoàng Tuyền còn có rất nhiều cô hồn dã quỷ, họ là những người dương thọ chưa hết mà chết bất đắc kỳ tử; họ đã không thể lên trời, cũng không thể đầu thai, càng không thể đến âm gian, chỉ có thể lang thang trên đường Hoàng Tuyền, đợi đến dương thọ kết thúc rồi mới có thể đến âm gian báo danh, nghe Diêm La Vương phán xét.

Ải thứ ba: Tam Sinh thạch

Bên cạnh cầu Nại Hà có tảng đá xanh tên Tam Sinh thạch (đá ba đời), chữ trên đá đỏ như máu, mặt trên có khắc bốn chữ lớn “Tảo Đăng Bỉ Ngạn” (sớm đến bờ bên kia). Nghe nói rằng, tảng đá này ghi chép lại đời trước, đời nay và đời sau của mỗi một người. Nhân của đời trước, quả của kiếp này, duyên khởi duyên diệt, đều chất chồng mà khắc trên tảng đá ba đời.

Trăm nghìn năm nay, nó đã chứng kiến sầu khổ và mừng vui, bi ai và hạnh phúc, nụ cười và nước mắt, cho đến hết thảy những món nợ và những tình cảm phải trả của tầng tầng lớp lớp chúng sinh; Đứng trước tảng đá ba đời này là thấu tỏ hết.

Ải thứ tư: Vọng Hương đài

Trên Vọng Hương đài quỷ hốt hoảng, mắt mở trừng trừng lệ hai hàng. Vợ con già trẻ tựa bên hòm, bạn bè thân quyến trước linh đường

Vọng Hương đài, cũng chính là Thổ Cao đài, nơi có đình Mạnh Bà, là ở phía trước cây cầu, chứ không phải ở phía sau cây cầu.

Vọng Hương đàì lại gọi là “Tư Hương lĩnh” (đồi nhớ quê).

Ở nơi này, có thể lên đài nhìn về ngôi nhà nơi dương thế, vậy nên nơi đây đã trở thành cửa sổ nhìn về dương gian của quỷ hồn và Thánh địa, là nơi liên lạc tình cảm giữa người sống và người chết.

Truyền thuyết kể rằng, con người ta sau khi chết rồi, “ngày đầu tiền không ăn cơm nơi cõi người, ngày thứ hai liền qua âm dương giới, ngày thứ ba đến Vọng Hương đài, nhìn thấy người thân đang khóc lóc thảm thiết”.

Quỷ hồn đến trước địa phủ báo cáo, rất nhớ mong người thân nơi dương thế. Dù cho quỷ tốt giận dữ quát mắng, vẫn nhất quyết muốn lên Vọng Hương đài nhìn về quê nhà, khóc lớn một trận mới hết hy vọng và đi đến “Âm tào địa phủ”.

Theo truyền thuyết, Vọng Hương đài là nơi mà vong hồn nhìn về dương thế tạm biệt người thân một lần cuối cùng. Lại có truyền thuyết rằng, kiến tạo của Vọng Hương đài nơi âm gian rất kỳ lạ, trên rộng dưới hẹp, mặt như cánh cung, lưng như dây cung ngang nhau, ngoài một con đường đá rất nhỏ ra, còn lại đều là núi đao rừng kiếm, hiểm trở vô cùng. Đứng ở trên đó, năm châu bốn biển đều có thể nhìn thấy.

Ải thứ năm: Vong Xuyên hà

Vong Xuyên hà còn gọi “Tam Đồ hà”, chắn ngang giữa đường Hoàng Tuyền và âm phủ. Nước sông có màu đỏ như máu, bên trong hết thảy đều là cô hồn dã quỷ không được đầu thai, trùng rắn khắp nơi, những trận gió tanh hôi tạt thẳng vào mặt.

Đương nhiên, vì để kiếp sau có thể gặp lại người mình yêu thương nhất trong kiếp này, bạn có thể không uống canh Mạnh Bà, vậy cần phải nhảy vào Vong Xuyên hà, đợi trên nghìn năm mới có thể đầu thai.

Trong nghìn năm đó, hoặc có lẽ sẽ nhìn thấy người mà mình yêu thương nhất trong kiếp này đi trên đầu, nhưng không thể nói chuyện với nhau, bạn thấy họ, nhưng họ lại không thấy bạn. Trong nghìn năm đó, bạn nhìn thấy họ hết lần này lại đến lần khác đi qua cầu Nại Hà, uống canh Mạnh Bà hết chén này lại chén khác, tuy mong họ không uống canh Mạnh Bà nhưng lại sợ rằng họ chịu không nổi cái khổ dày vò nghìn năm trong Vong Xuyên Hà này.

Sau nghìn năm, nếu như lòng nhớ nhung của bạn không hề giảm đi, còn có thể nhớ được chuyện của đời trước, vậy thì có thể trở lại nhân gian, tìm kiếm người mà bạn yêu nhất trong đời trước.

Ải thứ sáu: Canh Mạnh Bà

Canh Mạnh Bà còn gọi là Vong Tình Thủy hoặc Vong Ưu Tán, hễ uống vào liền quên hết mọi chuyện của đời này lẫn đời trước. Mạnh Bà phân phát canh Mạnh Bà ở đầu cầu Nại Hà, chứ không phải ở trên cầu.

Mỗi một người đều phải đi qua cầu Nại Hà, Mạnh Bà đều sẽ hỏi có uống canh Mạnh Bà không, nếu muốn qua cầu Nại Hà, thì cần phải uống canh Mạnh Bà. Còn không uống canh Mạnh Bà, thì không qua được cầu Nại Hà, không qua được cầu Nại Hà, thì không được đầu thai chuyển sinh.

Mỗi một người trong dương gian đều có một cái chén của mình ở tại nơi này, canh Mạnh Bà trong chén, thật ra chính là nước mắt chảy suốt một đời của bản thân người ta khi còn sống. Mỗi một người khi còn sống, đều sẽ chảy nước mắt: hoặc vui, hoặc buồn, hoặc đau khổ, hoặc căm hận, hoặc sầu não, hoặc yêu thương …

Mạnh Bà thu giữ từng giọt từng giọt nước mắt của họ lại, đun nấu thành canh, khi họ rời khỏi nhân gian, đi đến đầu cầu Nại Hà, sẽ cho họ uống vào, quên hết yêu hận tình thù khi còn sống, kiền tịnh sạch sẽ, bắt đầu tiến nhập vào Lục đạo, hoặc là Tiên, hoặc là người, hoặc là súc sinh, v.v…

Không phải mỗi người đều sẽ can tâm tình nguyện uống canh Mạnh Bà. Bởi vì một đời này, sẽ luôn có người từng yêu không muốn quên đi. Mạnh Bà sẽ nói với họ: “Nước mắt cậu rơi vì người ấy đều đã nấu thành chén canh này, uống nó rồi, chính là uống vào tình yêu cậu dành cho người đó vậy”.  Một ký ức được xóa đi sau cùng trong mắt người ta chính là người mà họ yêu nhất trong đời này, uống canh vào, hình bóng người trong mắt dần dần phai nhạt đi, con mắt trong sáng như đứa trẻ sơ sinh.

Uống canh Mạnh Bà rồi, có thể quên đi hết thảy sầu khổ, buồn vui nơi trần thế, chỉ uống canh thuốc của bà, mối thù trong đời này kiếp này sẽ quên sạch đi, đến thế gian làm một con người hoàn toàn mới.

Những người mong nhớ, những người thống hận, đời sau đều sẽ là người xa lạ; loại canh khiến người ta gặp nhau mà chẳng biết nhau này chính là canh Mạnh Bà.

Ải thứ bảy: Cầu Nại Hà

Đi qua đầu cầu Nại Hà, một đi không ngoảnh đầu nhìn lại

Cây cầu chia thành ba tầng, tầng trên đỏ, tầng giữa màu vàng đen, tầng dưới cùng là màu đen, càng ở tầng thấp thì càng chật, càng hung hiểm vô cùng. Khi sống làm việc thiện thì đi tầng trên, người nửa thiện nửa ác thì đi tầng giữa, những người hành ác thì chính là đi tầng dưới cùng.

Bên dưới cầu là con sông có vô số cô hồn dã quỷ không được đầu thai; những quỷ hồn chết đuối kia đều là ở trên dưới nhịp cầu hoặc trái phải đầu cầu, mong tìm thế thân cho mình, để bản thân có thể đầu thai chuyển thế.

Những người đi tầng dưới sẽ bị quỷ hồn chặn lại, lôi vào trong sóng lớn bẩn thỉu, bị rắn đồng chó sắt cắn xé, chịu đủ thống khổ dày vò không được giải thoát.

Đi qua hết cầu Nại Hà bèn có thể thông đến sáu nơi, tức là đi vào cõi lục đạo luân hồi: cõi người trời, cõi A-tu-la, cõi người, cõi súc sinh (cũng goi là đường bên cạnh), cõi quỷ đói, cõi địa ngục.

Trong đó, người trời, A-tu-la là cõi người thuộc về ba đường trên, còn súc sinh, ác quỷ, địa ngục thì thuộc về ba đường dưới.

Còn đi về cõi nào, là dựa vào nghiệp thiện ác tích được của vong hồn lúc còn sống mà phân loại. Người thiện nghiệp nhiều luôn luôn sẽ được bố trí ba đường trên, những người ác nghiệp nhiều luôn luôn được bố trí ba đường dưới.

Quá trình đi xuống âm gian của người ta sau khi chết vốn không thông dụng với hết thảy mọi người. Những người tu hành làm thiện nếu như công đức đạt đến viên mãn, sau khi hết mệnh sẽ không phải trải qua quá trình âm gian này mà trực tiếp được Phật tiếp dẫn đến thế giới tây phương Cực Lạc; những kẻ đại ác làm nhiều việc gian ác cũng có thể sẽ không trải qua quá trình âm gian này, bởi nghiệp lực dẫn dắt mà sẽ bị đánh thẳng vào địa ngục.

Đây là truyền thuyết lưu truyền hơn hàng nghìn năm nay, tuy khoa học không cách nào chứng thực được, nhưng vẫn mãi ảnh hưởng đến tâm linh của người ta, hết thảy mọi người không khỏi hiếu kì, e sợ …

Còn bạn, bạn có nghĩ rằng tồn tại thế giới sau khi chết không?

Bất luận đáp án của bạn là gì, lựa chọn tốt nhất đều nên là …“Nắm chắc hiện tại, tu hành đúng lúc”, như vậy mới có thể vừa vui vẻ lại an lòng!


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Truyền thuyết Âm tào địa phủ: Quỷ môn quan - Đường hoàng tuyên - Canh mạnh bà
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd