Mơ thấy chim sơn ca: Thành công và niềm vui –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Đối với các nước khác châu Á, đại từ nhân xưng có 3 ngôi: Người nói, người nghe và người, vật, sự việc được đề cập đến trong câu nói. Chỉ có sáu từ cơ bản nếu dịch mộc mạc ra tiếng Việt là: tao, mày, nó, chúng nó, chúng tao, chúng mày.
Ví dụ: "Bố mẹ cháu bảo cháu đưa ba cháu sang thăm hai cụ". Câu này nếu dịch từ đối ra tiếng nước ngoài thì như sau: "Chúng nó bảo tao đưa nó sang gặp chúng mày".
ở Việt Nam ta đã quen từ nhỏ, đáng tuổi ông thì gọi là ông, đáng tuổi bác thì gọi là bác không đươc "mày tao chí tớ", "cá mè một lứa". Chúng ta nên thông cảm với người nước ngoài học tiếng Việt. Đại từ nhân xưng tiếng Việt rất đa dạng phong phú nhưng cũng rất phúc tạp, điều khó khăn phức tạp nhất là, ngay trong đại từ nhân xưng của ta đã mang sắc thái tình cảm, thể hiện sự yêu thương tức giận, kính trọng, khinh ghét, khách sáo, thân mật...
Trong cách xưng hô của ta có phân biệt tôn ti trật tự rõ ràng. Cháu bé hỏi rằng: Tại sao ông bảo cháu thưa bẩm, thế mà cháu gọi ông ông lại không thưa bẩm cháu. Cháu cũng không hiểu sao cha mẹ gọi con thì gọi thằng Giáp con ất được còn con gọi tên cha mẹ thì không được. Tại sao ông chú già rồi lại còn gọi là "ông trẻ".
Cách dùng từ để xưng hô của ta còn tuỳ thuộc vào mức độ thân sơ giữa người nói và người nghe. Ví dụ, thật thân tình bạn bè gọi nhau bằng mày tao, hắn thì quí; gọi nhau bằng thưa quí anh hoặc bằng ông thì coi như giễu cợt kích bác nhau. Ngược lại, mới quen biết sơ sơ mà mày tao thì coi như bất lịch sự, đôi khi nghe bực mình bỏ đi không thèm trả lời. Cụ già và Lão già đồng nghĩa nhưng khi nói "Tôi hỏi cụ già" thì rất khác "Tôi hỏi lão già". Cũng có trường hợp "lão" chưa hẳn đã già, mà là cách gọi thân mật.
Nếu có quan hệ họ nội, họ ngoại thì gọi theo quan hệ thân thuộc gắn bó tình thân thiết hơn; mặc dầu ít tuổi hơn mình nhưng ngang hàng cha mẹ mình thì gọi bằng chú, bác, cô, dì theo đúng vai vế trong họ. Ngược lại, đối với người đã lớn tuổi mặc dầu là bậc cháu nhưng để cho khỏi "chướng" nên gọi bằng anh, ông, bác ông... Coi như gọi thay con, cháu mình, như vậy thanh nhã và lịch sự hơn.
Thuần tuý quan hệ xã hội, không có quan hệ họ hàng nhưng theo phép xã giao "trưởng nhất tuế vi huynh, trưởng thập tuế vi phụ" (hơn một tuổi làm anh, hơn mười tuổi làm cha), tức là tôn lên ngang bằng với cha mà gọi chú, bác. Đây là phép tôn xưng.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Yến Nhi (##)
Ngược lại, việc áp dụng phong thủy không đúng sẽ làm cho cuộc sống hôn nhân nhanh chóng lụi tàn, đơn giản vì họ không phát hiện ra có nhiều mũi tên sát khí tiềm ẩn trong nhà, hay vô tình phạm phải những điều cấm kỵ về phong thủy.
Để tránh gây ra những ảnh hưởng xấu đến hạnh phúc gia đình, bạn cần phải bảo đảm rằng mọi thứ trong nhà không bị đặt sai vị trí.
Bạn có thể thực hiện 1 số điều chỉnh nhỏ để hóa giải nguồn năng lượng không tốt đang ảnh hưởng đến lòng chung thủy của người bạn yêu thương.
![]() |
| Tránh treo tranh thức nước trong phòng ngủ |
Dù rằng các biểu tượng thuộc hành Thủy được bài trí bên trong hay bên ngoài ngôi nhà, bạn cũng phải đảm bảo rằng chúng được đặt về phía bên trái (từ trong nhà nhìn ra).
Để có thể vận dụng các giải pháp phong thủy nhằm đem lại tình yêu và hạnh phúc cho cuộc sống hôn nhân của mình, bạn hãy bắt đầu bằng việc tìm hiểu những điều cấm kỵ để không vô tình phạm phải chúng.
(Theo Phong thủy trong tình yêu)
– Trong nhân tướng học, rốn là nơi thống lĩnh lục phủ ngũ tạng, là gốc của gân và các mạch máu trong cơ thể con người. Xem tướng rốn qua hình dáng, độ nông sâu, rộng hẹp… cũng biết đoán biết phần nào về trí tuệ, phúc lộc, tài vận, sức khỏe của mỗi người.
![]() |
![]() |
![]() |
Trong nhân tướng học, nốt ruồi xuất hiện ở mỗi vị trí khác nhau trên mặt sẽ đại diện cho tính cách, thái độ sống khác nhau.
1. Nốt ruồi lớn trên trán

Người có nốt ruồi tại vị trí này thường có vẻ ngoài khá hiền dịu, nữ tính. Tuy nhiên, ẩn sau đó là 1 trái tim nóng bỏng yêu đương. Với chuyện “chăn gối”, cô ấy thực sự là người phụ nữ đầy ấn tượng.
2. Nốt ruồi phía cuối chân mày

Phụ nữ có nốt ruồi ở vị trí cuối chân mày thường là mẫu người tương đối đa tình. Nàng thích trải nghiệm những cảm giác mới mẻ trong tình yêu và chuyện chăn gối. Với nàng, tình yêu không gắn liền với hôn nhân và khi đã lập gia đình, nhiều khả năng nàng vẫn sẽ “vượt rào”.
3. Nốt ruồi bên dưới đuôi mắt

Cũng giống như tính cách của người có nốt ruồi ở phía cuối chân mày, cả hai đều rất đa tình và ham mê nhục dục.
4. Nốt ruồi phía dưới khóe mắt trái

Nàng đa sầu đa cảm, tôn thờ những mối tình lãng mạn trên phim ảnh, thích những cuộc tình tay ba… Nàng không có quan niệm thật sự đúng đắn về tình yêu và do đó thường gặp nhiều rắc rối trong đời sống tình cảm.
5. Nốt ruồi phía trên khóe miệng

Sở hữu nốt ruồi “phong lưu” này, nàng vốn rất đào hoa, có sức hấp dẫn đặc biệt với người xung quanh. Nàng có khả năng thành công nếu đi theo con đường điện ảnh, kịch trường.
6. Nốt ruồi trên môi

Nàng có thể là người háo sắc và… ham ăn. Vận số đào hoa của nàng cũng rất vượng. Trong cuộc sống, nàng dễ vướng vào chuyện phiêu lưu tình ái với người khác giới, thậm chí cả người đồng giới. Cần hết sức chú ý giữ gìn sức khỏe, tránh bệnh tật và những điều rắc rối khác.
Điều nên nhớ trước khi yêu Nhân Mã là họ luôn là người chân thành, thẳng thắn nên nếu bạn muốn trở thành một nửa đích thực của họ thì ít nhất phải đảm bảo được những điều này.
Một sự thật không thể phủ nhận đó là bạn sẽ không thể nào quên nổi Nhân Mã nếu đã có thời gian hẹn hò cùng anh/cô ấy, vì họ có sức ảnh hưởng lâu dài đến bạn một cách nhẹ nhàng và sâu lắng.
![]() |
![]() |
Điều nên nhớ trước khi yêu Nhân Mã đó là họ vô cùng cuốn hút |
![]() |
| (Ảnh minh họa) |
Đa số người tuổi Mùi mệnh Mộc, đặc biệt là phụ nữ thường khá nhạy cảm. Họ coi trọng phép tắc, lễ nghĩa trong cuộc sống. Khi còn trẻ, người tuổi Mùi mệnh Mộc thường khá chăm chỉ, sống tiết kiệm. Cuộc sống của họ khá bình lặng, ít nhờ vả anh em, bạn bè. Sau khi lập gia đình, họ sẽ có cuộc sống khá giả hơn. Nữ giới tuổi Mùi mệnh Mộc thường giúp ích rất nhiều cho sự nghiệp của chồng con.
(Theo 12 con giáp về sự nghiệp và cuộc đời)
![]() |
| Ảnh minh họa |
![]() |
| Ảnh minh họa |
Tên quan trọng như đã nói. Vì thế nên tránh những tên mang nghĩa xấu như: Toi, bại, hảm v.v…

– Những tên thô tục như: Dâm, bạo, hâm v.v…
– Tên đặt phi hợp phong tục, tập quán, dân tộc ví như người Việt Nam sông trên đất Việt Nam thì không nên đặt tên tiếng Âu, Mỹ, Tàu, Nhật, v.v…
– Tên có nghĩa trong sáng, rõ ràng, minh bạch, không tối nghĩa, ẩn ý thù oán v.v…
– Tên đặt với âm điệu thông dụng, dễ phát âm, dễ gọi. Trong thực tế nhiều dân tộc, nhiều vùng đặt tên theo thổ ngữ hay tiếng dân tộc. Các loại tiếng này tuy với dân tộc khác là khó phát âm, khó đọc. Song nó phù hợp phong tục, tập quán của dân tộc đó.
![]() |
Bài của Nghi Nghi - Trần Nhật Tường
Bài sau đây có những ý tưởng lạ khác với những cách giải đoán cũ, kính xin quý vị cao thủ thấy không thể tán đồng, cho chúng tôi ý kiến… Những người trẻ đi tìm Tử vi ngày nay khá đông, nghĩ sao là cứ nêu ra – nhưng còn vấn đề kinh nghiệm nữa.
Trước khi trình bầy lá số của Thạch Sùng tôi xin giải thích một câu phú ghi trong tập Tử vi đẩu số toàn thư của đức Hi Di Trần Đoàn sau đây thì mới thấy cái hay, cái lạ và cái vô cùng lý thú của Tử vi được:
“Cự môn Tý Ngọ: Khoa Quyền Lộc, Thạch trung ẩn ngọc, Phúc hưng long”
Nghĩa chính của câu phú thế này “Mệnh ở Tý Ngọ có Cự Môn tọa thủ gia thêm Khoa Quyền Lộc nữa là cách:
“Thạch trung ẩn ngọc” (Ngọc ẩn trong đá) sẽ được hưởng phúc lớn”.
Đó là ý chính còn muốn hiểu cho rõ ngọn nguồn và cho chính xác câu phú trên, ta phải tự hỏi: Cự môn là một sao thuộc hành Thủy, đóng tại cung Tý là Thủy địa hay vào cung Ngọ là Hỏa hướng, tại sao lại được coi như “Ngọc ẩn trong dá? Ngọc ở đâu và đá ở đâu? Trong khi chỉ thấy có Thủy, Hỏa. Nước với lửa không lẽ thành ngọc, thành đá được!
Để trả lời cho thỏa đáng câu hỏi này, tôi phải ghi lên đây một vài nhận xét mà trong dân gian thường dùng làm biểu tượng hay để ví von… Như câu:
“Song long tranh châu” chẳng hạn, thức là nói đến hình vẽ hai con rồng tranh ông mặt trời hoặc “Ngọc thổ thanh kỳ” là con thỏ ngọc trong đẹp lạ lùng: ý chỉ mặt trăng sáng sủa rực rỡ…
Từ đó nói chung: Châu, Ngọc là hình tượng của Mặt trời, Mặt trăng (Nhật, Nguyệt) theo quan niệm của Á đông ta vậy.
Hiểu như trên rồi, câu phú mới có thể giải thích được:
A)Trường hợp thứ nhất:
Cự môn ở Tý, Cự môn ở tý luôn luôn kết hợp với Thái Dương (ngọc) ở Thìn (Thổ thạch) để thành cách Cự, Nhật (Mệnh sẽ chịu ảnh hưởng sự chi phối của hai sao này).
Chú thích:
Ngọc: là hình tượng của Thái Dương
Thạch: là đá, thuộc Thổ, là cung Thìn
Cho nên: Thái Dương ở cung Thìn mới chính là “Ngọc ẩn trong đá” (Thạch trung ẩn Ngọc) vậy.
Sao Cự môn (Thủy) trong mạng chính là cái mầm mống dùng để câu hút Thái Dương (Hỏa) ở cung Thìn cho bản Mệnh được sáng sủa, không có nó không xong. Một Thủy một Hỏa một Âm một Dương thu hút lẫn nhau.
Suy rộng ra giống như luật hấp dẫn vũ trụ. “Attraction d’univers” của Newton ngày xưa vậy.
Cự môn ở Tý theo các sách Tử vi khác: “Nếu Mạng được Tuần triệt án ngữ hoặc Hóa lộc đồng cung (Kỵ ngộ Lộc tồn) thì vẻ đẹp sáng sủa tốt đẹp mới được rõ rệt, cũng như đá đã được phá vỡ, ngọc lộ hẳn ra ngoài”
Câu này được rút trong sách Tử vi Đẩu số tân biên của cố Biên giả Vân Đằng Thái thứ lang trang 56, nói về sao Cự môn. Hay nói chung các cụ ta cũng đều giảng như thế cả. Không hiểu các cụ đã căn cứ vào đâu để giảng giải như vậy? Theo tôi thấy thì nó có hơi kỳ cục! Nếu nói: “Gặp Tuần, Triệt án ngữ hoặc Hóa lộc đồng cung thì ngọc mới lộ được ra ngoài và đã coi như đã bị phá vỡ…” Một khi ngọc đã bị lộ ra ngoài là hết còn ẩn nữa rồi, mà hết còn ẩn thì coi như cách “Thạch trung ẩn ngọc” đã hỏng cho nên theo sự hiểu biết riêng của tôi thì: chữ Ẩn trong câu phú này chỉ có một dụng ý cho ta biết vị trí của sao Thái Dương đóng vào cung Thìn mà thôi. Còn điều cốt yếu trong cách này là: bản Mệnh có nhận được sức sáng của Thái Dương hay không? (do sao Cự môn câu hút). Để được tốt đẹp hơn, có thể thêm vào những phần phụ sau đây:
- Cần được Tuần, Triệt án ngữ ở Mệnh (trường hợp Cự môn ở Tý) để làm giảm, mất đi cái tính chất Ám (che, khuất) của Cự môn, Mạng mới sáng được.
- Kỵ ngộ Lộc tồn: không phải sao này làm cho ngọc cứ mãi mãi chìm trong đá. Mà vì nó có đặc tính giữ chặt lấy (Tồn) tính chất ám của Cự môn nên không có lợi cho bản Mệnh.
- Không cần sao Hóa Lộc trong trường hợp này để cho vào trường hợp sau, ở Ngọ.
B)Trường hợp thứ hai:
Cự môn ở Ngọ. Theo tôi thấy, Cự môn ở Ngọ tuy vẫn là cách “Thạch trung ẩn ngọc” song trường hợp này đã mất đi hết cái hay của cách rồi. Mấy điểm xấu có thể kể ra là:
1. Cự môn ở Ngọ bị sai vị: thất cách vì Cự môn là Bắc đẩu thủy tinh cư vào cung Ngọ thuộc Hỏa là Nam vị. Mặc dầu Thủy Hỏa vẫn kết hợp được theo nguyên tắc của Âm, Dương, Cự môn, vốn Vượng địa ở đấy nhưng…
2. Đưa đến tình trạng Thái Dương ở Tuất thất huy (không sáng sủa) nên không thể ghi “Phúc hưng long” được.
3. Khi cho Hóa lộc đồng cung: Không giải thích nổi tại sao lại tốt?
Vậy, tôi xin đưa ra một đề nghị: sửa lại câu này một chút như sau:
“Cự Cơ, Tý Ngọ Khoa Quyền Lộc.
Thạch trung ẩn ngọ, Phúc Hưng long”
Bỏ chữ Môn đi thay bằng chữ Cơ để giải thích cặp sao Cơ, Cự ở bốn vị trí: Tý, Ngọ, Mão, Dậu
Bắc đẩu tinh Cự Môn vào Bắc vị mới hay và Nam đẩu tinh Thiên Cơ của Nam vị mới đúng. Khi đó cặp Nhật
Nguyệt mới sáng sủa tốt đẹp được.
Ghi chú thêm: Cơ, Cự ở Mão mới đúng cách: “Chúng thủy triều đông”. Còn ở Dậu không phải, có chăng chỉ là:
Cơ Cự Dậu thượng hóa cát giả
Túng ngộ Tài Quan dã bất vinh
Cũng như Cự ở Tý mới tốt, Cơ ở Ngọ mới hay còn ngược lại Cự ở Ngọ và Cơ ở Tý thì cũng quá, cũng lại “dã bất vinh” mà thôi, không thể “phúc hưng long” được
Vậy bây giờ xét trường hợp: Thiên Cơ ở Ngọ. Khi Thiên Cơ ở Ngọ thì bao giờ cũng vậy, Thái Âm (Ngọc) ở Tuất (Thổ thạch)
Chú thích:
Ngọc: là hình tượng của Thái Âm.
Thạch: là đá, thuộc Thổ, là cung Tuất, cho nên: “Thạch trung ẩn ngọc” cũng là cách của Thái Âm đóng vào cung Tuất vậy.
Tính chất của Mộc là thu hút Thủy nên Nam đẩu Thiên Cơ (Mộc) với Bắc đẩu Thái Âm (Thủy): Một Nam một Bắc, Một Âm, Dương: Thiên Cơ (Mộc) thu hút lấy Thái Âm (Thủy) để biến sinh, nuôi dưỡng bản Mệnh vậy.
Phần phụ thêm
Bây giờ nếu thêm vào sao Hóa Lộc đồng cung nữa sẽ thấy cái rất hay của cách phú:
Khi có Hóa Lộc đồng cung thì Thiên Cơ (Mộc) được Hóa Lộc (Thổ) bồi đắp Thái Âm (Thủy) dinh dưỡng, sẽ đâm chồi, nẩy lá (Hóa Lộc).
Cái cảnh cây xanh lá non với trăng sáng giữa trời còn gì đẹp bằng.
Đến đây coi như ta đã hiểu được thế nào là cách “Thạch trung ẩn ngọc rồi. Bây giờ chỉ còn một đoạn chót phải tìm hiểu thêm tại sao với cách này, Lão tổ Hi Di lại không ghi chẳng hạn như “Quan cư Hầu Bá” hoặc “Cự thương Cao Mại”… mà lại ghi là “Phúc hưng long”!
Ta thấy, vì trong thiên “Đẩu số cốt tủy” Lão tổ Hi Di dậy rằng: “Âm Dương duyên thọ tăng bách phúc”
Mà ảnh hưởng chính của cách này lại do cặp Âm Dương ở hai cung Thìn Tuất tạo nên. Do đó, bắt buộc ngài phải ghi thêm vào cái đuôi “Phúc hưng long” vậy.
Sở dĩ tôi phải giải thích câu phú trên là chỉ có một mục đích, muốn nêu lên một minh chứng rõ rệt để xác định về hình tượng của Nhật Nguyệt: đến khi giải thích sang lá số của Thạch Sùng, quý vị mới thấy cái linh diệu và cái vô cùng lý thú của Tử vi được.
KHHB số 74L2
Mạng của hai vợ chồng hợp nhau trong lá số Tử vi. Lấy thiên can tuổi của người vợ, tính xem bộ Lộc Tồn, Kình Đà, Khôi Việt, Tuần Triệt, Tứ Hóa nằm vào những cung nào trong lá số người chồng. Tuy là hợp nhau nhưng cũng không ai được thập phần hoàn hảo. Lợi nhiều về điểm này thì có sự sút giảm chút ít về cung khác.
Thí dụ mạng của hai vợ chồng hợp nhau. Cung Tài trong lá số người chồng có Lộc Tồn. Do ảnh hưởng của Thiên Can tuổi người vợ lại được thêm Hóa Lộc chiếu vào cung Tài, thì sự hợp này sẽ có thêm tiền tài... cứ như thế mà kết hợp các "sao" để gia giảm các cung khác.

Thí dụ cụ thể: người chồng tuổi Canh Tuất, sinh tháng 6, ngày 4, giờ Dậu, người vợ tuổi Nhâm Tý.
Canh Tuất thuộc Thoa Xuyến Kim, Nhâm Tý thuộc Tang Đỗ Mộc thấy có sự tương khác dù là khắc ít. Cung Thê của người chồng có Đồng Lương Lộc Mã, gặp Không Kiếp đắc địa, có Tang Điếu Hư Khốc, Hóa Kị. Người vợ tuổi Nhâm thì sao Thiên Lương ở cung Thê người chồng có thêm ảnh hưởng của Hóa Lộc (Hóa "Diệu"). Hai vợ chồng lục đục với nhau suốt đời, nhưng vẫn ăn nên làm ra, có sự nghiệp vững vàng cho đến lúc chết. Trong cái khắc vẫn có khi có điểm lợi.
Phương pháp luận đóa này của Cụ tôi, và một số người nghiên cứu Tử Vi trước kia vẫn áp dụng, thấy rất thâm thúy. Tuy nhiên, cần có một tâm hồn quảng đại và cần có quan niệm rõ ràng rằng Thiên Can của người hôn phối chỉ tạo nên ảnh hưởng tương đối, chứ không tạo nên ảnh hưởng quyết định. Lá số của mình vẫn có ảnh hưởng chính yếu. Đừng vì thấy Thiên Can của người hôn phối tạo nên Triệt ở Mệnh Thân của mình mà đi đến những ý nghĩ cố chấp, những thành kiến thất đức. Trong cái khắc vẫn có những điểm lợi về những phương diện khác. Dù có gặp sự khắc thì cũng tìm biết được điểm lợi những phương diện nào để phát triển thêm. Tôi sẽ viết thêm về cách luận đoán này để bạn có thể tìm nguồn an ủi, nhìn thấy rằng trong cái khắc vẫn có điểm tốt, điểm lợi, do đó sẽ tránh được những ý nghĩa hẹp hòi.
Trong bài này, tôi hãy xin nói về Tinh, Diệu, Thần.
Chữ Thần là nói chung về Thần khí do nhiều ngôi sao hợp lại, hoặc là chỉ về một khí lực trong vũ trụ chứ không phải là chỉ riêng một ngôi sao nào. Thí dụ như Thanh Long không phải là một "ông sao" mà là khí lực của một chòm sao. HOặc như là Thần khí, trong quẻ Dịch, chúng ta có Nhật Thần, đây là Thần khí của cái ngày đó, chứ không phải nói về một ông sao nào.
Vòng Tràng Sinh cũng gọi là Thập nhị Thần, là mười hai khí lực, thần khí, chứ không phải là mười hai ông Thần. Riêng về vòng Tràng Sinh tôi xin nói thêm ở đoạn sau bài này.
Tinh, Diệu, Thần tuy ba mà một, tuy một mà ba. Vì thế tôi phải lấy tên của bài này là "Sao không phải là Sao". Xét về tác dụng, thì cả ba đều có ảnh hưởng đến vận mệnh con người nên gọi chung là "sao" cho tiện. Xét về căn nguyên thì có khác nhau. Xét về căn nguyên sẽ có cái lợi là đưa người nghiên cứu đến chỗ lý giải có ý thức, có quan niệm mạch lạc về các phương hướng, vai trò, các yếu tố trong một lá số. Chứ không phải chỉ đoán đúng một vài tiểu tiết nhờ thuộc lòng một số công thức, hoặc đung đâu đoán đó, rồi nhờ "ông ứng" vẫn tiên tri như Thần.
Tôi quan niệm rằng tư tưởng hướng dẫn hành động. Xem Tử Vi thì cần có một quan niệm rõ rệt về công dụng, về giá trị của Tử Vi: nó là cái khoa gì, dùng nó trong trường hợp nào cái tên gọi trong Tử Vi là cái ngụ ý gì...
Sở dĩ người xưa xem Tử Vi chỉ nói một câu mà đúng chung thân cuộc đời, là nhờ có một tinh thần diễn dịch rộng rãi, một quan niệm thâm thúy về các tên gọi trong Tử Vi. Chứ không phải là chỉ dựa vào công thức, thấy Song Hao hãm thì nói là hao tài, thấy Song Lộc thì đoán là có tài lộc. Việc này quý bạn nào mới nhập môn Tử Vi cũng có thể đoán được.
Trong cuốn "Mệnh lý nghiên cứu" xuất bản tại Đài Bắc, tác giả có nói rằng Tinh, Diệu, Thần, tuy ba mà một, đó là xét về tác dụng. Xét về căn nguyên, chúng ta sẽ có một sự diễn dịch thâm thúy hơn.
Cũng trong cuốn này, tác giả có kể đến Thập cửu chính diệu, đó là: Tử Cơ Dương Vũ Đồng Liêm Phủ Âm Tham Cự Tướng Lương Sát Phá Tả Hữu Xương Khúc và Tồn.
Xin quý bạn Tử Vi đừng vội hoang mang trước quan niệm này. Tôi không đề cao cuốn "Mệnh lý nghiên cứu" như một "Thần Thư" làm tiêu chuẩn để đi tìm chân lý Tử Vi. Tôi chỉ muốn dẫn chứng rằng Tử Vi không phải chỉ gồm có một số công thức giản dị, mà còn có nhiều sự diễn dịch sâu xa của nhiều học giả lý số khác nhau. Điều cần thiết là một sự bình tâm nhẫn nại tìm hiểu các quan iệm rồi từ các quan niệm ấy, chúng ta sẽ tiến đến việc nghiên cứu Tử Vi một cách có ý thức chứ không phải chỉ vội vã áp dụng các công thức một cách nông cạn. Từ quan niệm "Mệnh vô chính diệu dĩ Mệnh vi chủ, đối tinh vi Tân" đến quan niệm Mệnh vô chính diệu, có hung tinh sát tinh nổi bật, đến quan niệm Mệnh có chính tinh mà bị khắc hãm quá, vai trò của chính tinh bị suy yếu, lu mờ, nên ví như vô chính diệu, phải xét đến các phù trợ tin khác, có biết bao nhiêu quan niệm tế nhị, mà người nghiên cứu cần tìm hiểu thêm. Không thể vội cố chấp vào cuốn sách này, hay công thức nọ.
trích Báo KHHB số 35
Đeo Phật ngọc phong thủy trên người có thể mang lại may mắn cát tường, vận trình tốt đẹp, khỏe mạnh bình an. Như bất kì vật phẩm phong thủy nào khác, khi mang Phật ngọc bên mình cần chú ý một số điểm dưới đây.
![]() |
![]() |
Con người đôi lúc gặp phải các tai nạn khó giải thích bằng khoa học, tuy nhiên lại gắn liền chặt chẽ với phong thủy. Dưới đây là một số hiện tượng bất thường, nếu bắt gặp tất đối mặt đại hung.
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
Chọn màu sắc cho các căn phòng trong nhà bạn không bao giờ là một quyết định dễ dàng. Màu sắc bạn chọn có giúp bạn cảm thấy vui vẻ, có phù hợp với kích thước của căn phòng? Màu sắc nào sẽ tương trợ cho bạn?
Để đơn giản hơn, bạn chỉ cần thực hiện theo những chỉ dẫn sau bạn sẽ chọn được màu sắc phù hợp – chúng sẽ giúp cho mọi việc trong nhà bạn thuận buồm xuôi gió.
![]() |
![]() |
![]() |
Hướng bếp hợp người sinh năm 1970:

Năm sinh dương lịch: 1970
– Năm sinh âm lịch: Canh Tuất
– Quẻ mệnh: Chấn Mộc
– Ngũ hành: Thoa Xuyến Kim (Vàng trang sức)
– Thuộc Đông Tứ Mệnh, nhà hướng Bắc, thuộc Đông Tứ Trạch
– Hướng tốt: Bắc (Thiên Y); Đông (Phục Vị); Đông Nam (Diên Niên); Nam (Sinh Khí);
– Hướng xấu: Tây Bắc (Ngũ Quỷ); Đông Bắc (Lục Sát); Tây Nam (Hoạ Hại); Tây (Tuyệt Mệnh);
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
1. Máy hút mùi

Máy hút mùi được xem như là lá phổi của bếp
Máy hút mùi được xem như lá phổi của nhà bếp. Nó giúp tạo sự đối lưu không khí. Nên đặt máy và bếp nấu cùng hướng để tạo ra sự hài hòa phong thủy.
2. Tủ lạnh

Nên đặt tủ lạnh theo hướng Bắc
Đặt tủ lạnh theo hướng Bắc là thích hợp nhất vì hướng này tượng trưng cho mùa đông lạnh giá, năng lượng dạng sóng lượn. Nếu không thể đặt tủ lạnh ở hướng này, hãy đặt theo hướng hợp với tuổi của bạn. Để tìm ra hướng hợp với tuổi, bạn có thể tham khảo công thức tính Quái số.
3. Tủ nướng

Hướng Nam rất thích hợp để đặt tủ nướng
Tủ nướng tỏa ra nhiệt lượng rất lớn để làm chín đồ ăn, đồng thời, đa phần chúng được làm từ kim loại, do đó cần chú ý đến hướng phong thủy hòa hợp. Hướng Nam rất thích hợp để đặt tủ nướng vì đây là hướng sinh nhiệt lượng rất lớn, nơi của mặt trời, lửa và các vật sắc nhọn.
4. Bồn rửa

Bồn rửa nên đặt theo hướng tây
Bồn rửa thường được đặt ôm sát tường và bố trí gần bếp để tạo thuận lợi khi làm bếp. Tuy nhiên, nếu được đặt đúng hướng gió Tây, nó sẽ làm bạn thấy thoải mái hơn. Bồn rửa bằng đá thì nên xoay về hướng Tây Nam, bồn kim loại thì nên đặt về hướng Tây Bắc.
5. Tủ bếp

Tủ bếp thường được thiết kế bằng gỗ
Tủ bếp thường thiết kế bằng gỗ, thuộc hành Mộc. Các kệ tủ treo nên kê theo hướng Đông hay Đông Nam để phát huy được yếu tố phong thủy mạnh nhất, tạo ra sự sạch sẽ và an toàn khi sử dụng.
6. Bếp nấu

Bếp nấu
Nên bố trí phích cắm bếp điện hay bình ga hướng về phía hợp với tuổi của bạn. Mỗi chủ nhà đều có một hướng tốt phù hợp với tuổi. Đây cũng chính là hướng lấy năng lượng cho bếp.
1. Tính thực tế
Ở một nước trong thực tế có nhiều người cùng thời trùng tên, trùng họ thậm chí trùng cả đệm Họ hay phụ tên. Song rất hãn hữu có trường hợp trùng cả giờ, ngày, tháng, năm sinh. Vì thế mà “khí lực” họ và tên sẽ khác biệt. Họ và tên có “khí lực” song nó khác nhau ở tuổi tác và thời đại. Nó khác nhau về gia cảnh. Một phần khí lực vì cùng tên có giống nhau về năng khiếu, bản chất. Nhưng không bao giờ có các điều kiện “hậu thiên” giống hệt nhau. Thời vận và Mệnh vận hoàn toàn khác nhau cho nên dù có đặt tên giống y hệt các vĩ nhân, trí sỹ, học giả v.v… thì không thể sẽ trở nên giống họ. Đó là bí ẩn của “Thiên khí” và “nhân lực” tác động qua họ và tên. Họ và tên chỉ cho ta một phần thông tin cơ bản về một cá nhân chứ không phải là toàn bộ, là tất cả.

2. Tên và các quan hệ nội sinh
Mệnh vận một con người lệ thuộc nhiều mối quan hệ nội sinh (năng lực trí tuệ v.v…) và ngoại lực (gia cảnh, quan hệ, pháp luật, điều kiện, xã hội, đất nước v.về..) tác động vào con người cụ thể trong một không gian và thời gian nhất định. Ta không nên nghĩ rằng thông tin mà ta có được từ số hóa họ và tên và thông qua các số biểu lý cụ thể là thông tin toàn bộ. Người nào cũng vậy đều có một phần lớn các điều kiện “Hậu thiên” giống nhau. Đó là hoàn cảnh xã hội, hoàn cảnh đất nước; được hưởng một phần giáo dục và những lợi ích công cộng mà xã hội dành cho. Ở đây nói là “một phần” vì có người có thời gian được đến trường ít hơn thời gian của người kia. Người sống ở thành phố thì được hưởng các điều kiện phúc lợi công cộng nhiều hơn người sống ở nông thôn hay ở miền núi. Do vậy, tuy cùng tên họ và tên gọi, đệm họ hay phụ tên, có cùng số biểu lý và số biểu thế âm dương Ngũ Hành nhưng phải căn cứ vào các điều kiện cụ thể của bản thân mà đối chiếu để tìm thông tin ở phần định tính biểu lý (phần sau) một cách thận trọng. Bởi vì trong phần định tính biểu lý đưa ra nhiều thông tin riêng biệt chứ không cho một cá nhân tất cả các thông tin đó.
– Ví dụ định tính chỉ ra ba biểu thế là: Thủy – Mộc – Mộc: Có định tính là: Được giúp đỡ, thành đạt, thành công lớn, giàu có, vinh hoa, hạnh phúc, sống thọ…
Tuy có trùng tên họ song ta cần phải hiểu qua các định tính trên thì:
+ Người học hành theo con đường công danh sẽ thành đạt lớn, quan to, lộc hậu.
+ Người làm thương mại thì sẽ thành công lớn, tức buôn bán phát đạt, gặp nhiều may mắn…
+ Người thành danh thì sẽ giàu có vinh hoa, chức to.
+ Người sẽ có gia đình hạnh phúc yên vui.
+ Người khỏe mạnh sẽ thọ trường…
Như thế nhiều người có họ tên giống hệt nhau sẽ có số lý, số biểu lý, biểu Thế Âm Dương Ngũ Hành giống nhau và sẽ không có cùng định tính. Song ta phải tuỳ vào từng người với từng điều kiện sống của mình mà thấy thông tin nào ứng vào mình là hợp. Có nhiều người phù hợp phần lớn các thông tin đã cho mà thôi. Ví dụ một người làm nông nghiệp sống ở nông thôn thì người đó sẽ không thành danh, vinh hoa phú quý được. Song người đó sẽ thành công lớn trong chăn nuôi, trong trang trại. Và đương nhiên người đó cũng giàu có nhưng không vinh hoa. Và lại có người chỉ có một gia đình hạnh phúc mà thôi.
– Lý giải điều này để trả lời cho các trường hợp có tên họ và tên gọi giống hệt nhau thì không phải cứ giống hệt nhau cả về các định tính đã cho. Và vì thế mà phép dự đoán qua số hóa họ tên là tin cậy.
Điều cần thiết là nhận thức sâu những suy biện mà vận dụng để tìm thông tin bổ ích cho bản thân
Sự tích về Thần Tài thì có rất nhiều truyền thuyết, mọi người ai cũng biết. Tuy nhiên hiện nay, trong phong tục thờ Thần Tài và cúng Thần Tài vào ngày mùng 10 tháng giêng âm lịch hoặc vào ngày mùng 10 âm lịch hằng tháng, là theo sự tích sau, để các bạn tham khảo:
Chuyện kể rằng dưới trần gian không có Thần Tài, chỉ có Thần Tài trên trời, vị Thần cai quản tiền bạc, tài lộc.
Trong một lần đi chơi uống rượu, Thần Tài say quá nên rơi xuống trần gian, đầu va vào đá nằm mê mệt không biết gì, sáng ra mọi người thấy một người ăn mặc giống như diễn tuồng cải lương thì lấy làm lạ và tưởng bị điên.

Mọi người cũng lột hết sạch quần áo mũ nón của Thần Tài đem bán, Thần Tài tỉnh dậy không có quần áo trên người và cùng do bị va đầu vào đá nên không nhớ mình là ai.
Thần Tài không biết làm việc dưới trần gian nên thường đi lang thang xin ăn khắp nơi. Có cửa hàng nhà kia kinh doanh buôn bán gà, vịt, heo quay ế ẩm, thấy Thần Tài đến ăn xin thì mời vào ăn.
Thần Tài ăn rất nhiều và rất thích ăn heo vịt quay, kỳ lạ thay từ lúc Thần Tài vào ăn thì khách ăn khác kéo đến nườm nượp, người bán hàng thấy vậy nên ngày nào cũng mời Thần Tài vào ăn.
Khách hàng ở quán đối diện trước nay rất đông khách bỗng dưng chuyển hết qua quán bên này ăn.
Được một thời gian người bán hàng thấy Thần Tài chẳng làm gì mà suốt ngày ăn uống đồ ăn ngon, lại toàn dùng tay ăn bốc, người thì bốc mùi, lang thang không tắm giặt.
Nghĩ Thần Tài sẽ làm khách sợ không dám đến ăn và hao phí đồ ăn cho người ăn mày nên người bán hàng mới đuổi Thần Tài đi.
Quán đối diện ngày xưa rất đông khách nay vắng hoe, thấy vậy thì liền mời Thần Tài vào ăn, kỳ lạ thay mọi người lại ùn ùn kéo đến ăn rất đông.
Mọi người thấy vậy nên ai cũng giành mời cho bằng được Thần Tài đến hàng quán của mình ăn để khách đến đông, vậy nên mới có câu “Thần Tài gõ cửa”.
Người dân khu vực đó thấy Thần Tài không có quần áo mặc nên dẫn đi mua quần áo, mọi người dẫn Thần Tài đến cửa hàng nơi quần áo ông bị bán, sau khi mặc quần áo mũ nón vào thì Thần Tài nhớ lại mọi chuyện và bay về trời.
Mọi người coi Thần Tài như là báu vật và lập bàn thờ, tôn thờ từ đó, hóa thân Thần Tài là một người lang thang ăn xin quần áo rách rưới. Ngày Thần Tài bay về trời là ngày mùng 10 tháng giêng âm lịch.
Để tưởng nhớ Thần Tài, mọi người chọn ngày vía Thần Tài là ngày Thần Tài bay về trời: Ngày mùng 10 tháng giêng âm lịch.
Ngày vía của Thần Tài mọi người thường mua : 1 bình bông, 1 con tôm, 1 con cá lóc nướng, 1 con cua, 1 miếng heo quay, 1 bộ giấy tiền vàng mã, 1 đĩa quả, chum rượu, để cúng lấy vía Thần Tài, cầu xin cho năm mới làm ăn phát đạt.
Ngoài ngày vía chính của Thần Tài là ngày mùng 10 tháng giêng âm lịch. Nhưng mọi người vẫn chọn ngày mùng 10 âm lịch hằng tháng để cúng Thần Tài, cầu xin cho may mắn về tài lộc trong tháng đó, nên trở thành thông lệ.
Thông thường thì vào ngày mùng 1 và ngày 15 âm lịch, cùng với bàn thờ Tổ tiên và các bàn thờ khác trong nhà, hoặc vào ngày mùng 10 âm lịch hàng tháng. Cúng Thần Tài để trả lễ khi gặp vận hên tài lộc.
Đồ cúng thường là các món ăn ngon như heo vịt quay, gà, hoa quả, nước uống hàng ngày… Dân gian truyền miệng Thần Tài rất thích món Cua biển và heo quay, chuối chín vàng.
Thường ngày nên đốt nhang mỗi sáng từ 6h - 7h và chiều tối từ 6h - 7 giờ, mỗi lần đốt 5 cây nhang. Thay nước uống khi đốt nhang, thay nước trong lọ hoa, và chưng thờ nải chuối chín vàng.
Tránh để các con vật chó mèo quậy phá làm ô uế bàn thờ Thần Tài.
Hàng tháng thường lau bàn thờ, tắm cho Thần Tài vào ngày cuối tháng và ngày 14 âm lịch với nước lá bưởi, hay rượu pha nước. Khăn lau và tắm cho Thần Tài không được dùng vào việc khác.
Khi thỉnh tượng Thần Tài ngoài cửa hàng về cần gói bọc trong giấy đỏ, hoặc trong hộp sạch sẽ, mang vào chùa nhờ các Sư trong chùa “Chú nguyện nhập Thần”, và nhờ các Sư chọn cho ngày tốt đem về nhà để an vị Thần Tài (kể cả ông Địa cũng vậy).
Về nhà dùng nước lá bưởi rửa và đặt lên bàn thờ, mua các đồ cúng về cúng khấn là được, lần sau cúng vái bình thường.
Sự tích Thần Tài xuất phát từ Trung Quốc. Ai muốn thờ Thần Tài đều phải thực hiện như trên, Thần Tài mới có linh khí, nếu không thì cũng chỉ như bức tượng bình thường.
Khi thỉnh Thần Tài cũng có Thần Tài hợp với gia chủ, cũng có Thần Tài không hợp với gia chủ, chọn tượng Thần Tài mặt tươi cười, mặt sáng sủa, tượng không bị nứt, vỡ, nhìn tượng toát lên vẻ phú quý.
Việc cầu xin tài lộc được nhiều hay ít còn phụ thuộc vào lòng thành của gia chủ, phước đức và số vận của gia chủ.
Thần Tài không thể cho hay biếu người khác, phải tự gia chủ thỉnh về.
Bàn thờ Thần Tài đặt dưới đất, nơi trang nghiêm hướng ra cửa chính.
Xem thêm:
Ngày vía Thần Tài sắm lễ đón tài lộc cả năm
Xem cách bài trí bàn thờ Thần Tài
Tóm tắt các ý chính của các nạp âm tác động với nhau gây lên tốt và xấu
(Qua một số sách mà các cổ nhân để lại)
1 – Giáp Tý, Ất Sửu – Kim đáy biển : ?
2 – Bính Dần, Đinh Mão - Lửa trong lò : ?
3 - Mậu Thìn, Kỷ Tị - Gỗ rừng xanh : ?
4 – Canh Ngọ, Tân Mùi - Đất ven đường : Gặp gỗ rừng là mệnh quý. Gặp Kim là mệnh phú quý.
5 – Nhâm Thân, Quý Dậu – Kim lưỡi kiếm : Chỉ sợ lửa trong lò và lửa sấm sét
6 – Giáp Tuất, Ất Hợi - Lửa đỉnh núi : Là mệnh quý hiển nếu có thêm Mộc và Hỏa. Sợ Thủy nhất là gặp nước biển tương khắc thì hung thần tới nơi.
7 – Bính Tý, Đinh Sửu - Nước khe núi : Gặp Kim rất tốt, nhất là kim trong cát và kim lưỡi kiếm. Mệnh gặp nước suối cực quý. Sợ Thổ và Hỏa.
8 - Mậu Dần, Kỷ Mão - Đất trên tường : Gặp Thủy và Thổ là quý hiển trừ nước biển và lửa sấm sét.
9 – Canh Thìn, Tân Tị - Kim giá đèn : Thích Hỏa nhất là Ất Tị, thích Thủy nhất là Ất Dậu, Quý Tị, đó là các mệnh quý. Sợ Mộc khắc trừ khi gặp Hỏa yếu (chắc là lửa của ngọn đèn).
10 – Nhâm Ngọ, Quý Mùi - Gỗ liễu : Nó , thích Thủy và gặp đất mái nhà là tốt trừ nước biển. Nó gặp gỗ lựu cực xấu và gặp Hỏa dễ chết yểu.
11 – Giáp Thân, Ất Dậu - Nước ngầm : Gặp Kim trong cát hay Kim trang sức rất tốt, gặp Thủy và Mộc cũng tốt. Nếu trụ năm giờ đều có Thủy và tháng ngày đều có Mộc là mệnh cực quý.
12 – Bính Tuất, Đinh Hợi - Đất mái nhà : Cần có Mộc làm khung và Kim trang hoàng cực quý, Kim quý nhất là nhũ kim và kim lưỡi kiếm.Sợ gặp Hỏa trừ lửa mặt trời lại là mệnh phú quý.
13 - Mậu Tý, Kỷ Sửu - Lửa sấm sét : Gặp Thổ, Thủy hay Mộc có thể tốt hoặc không có hại.
14 – Canh Dần, Tân Mão - Gỗ tùng : Sợ lửa lò, nước biển. Gặp Kim đại quý .Trụ tháng ngày và giờ đều có Nhâm, Quý, Hợi và Tý là mệnh cực quý.
15 – Nhâm Thìn, Quý Tị - Nước sông : Gặp Kim là tốt gặp Thủy là xấu (dễ vỡ đê). Gặp đất mái nhà hay đất trên tường khó tránh khỏi tai họa cần có Kim để giải cứu. Gặp lửa đèn, lửa trên núi cực quý ngoài ra đều xấu.
16 – Giáp Ngọ, Ất Mùi – Kim trong cát : Nó là mệnh thiếu niên phú quý nếu gặp lửa trên núi, lửa dưới núi hay lửa đèn (để luyện nó thành vật dụng) nhưng nó cần gặp Mộc (để kiềm chế nếu Kim quá vượng) và Thủy như nước khe núi, nước suối và nước mưa (để khống chế Hỏa nếu Hỏa vượng). Nó sợ nước sông, nước biển, đất ven đường, đất dịch chuyển và cát trong đất (bởi vì nó dễ bị vùi chôn).
17 – Bính Thân, Đinh Dậu - Lửa dưới núi : Gặp Thổ và Mộc rất tốt, không thích lửa mặt trời, lửa sấm sét và lửa đèn.
18 - Mậu Tuất, Kỷ Hợi - Gỗ đồng bằng : Sợ nhất gặp kim lưỡi kiếm, thích Thủy, Thổ và Mộc. Sinh mùa Đông trong mệnh lại gặp Dần và Mão là mệnh quý.
19 – Canh Tý , Tân Sửu - Đất trên tường : Có Mộc là mệnh quý, gặp Thủy cũng quý trừ nước biển. Kim chỉ thích nhũ kim. Sợ Hỏa sẽ cháy nhà (vì tường này là tường của nhà được làm bằng rơm với đất bùn).
20 – Nhâm Dần, Quý Mão – Nhũ kim : Gặp đất trên thành, đất trên tường mới tốt như gặp Mậu Dần, riêng Quý Mão gặp Kỷ Mão đều là mệnh quý hiển.
21 – Giáp Thìn, Ất Tị - Lửa đèn : Nó là mệnh rất quý nếu nó gặp Mộc và Thủy như nước ngầm, nước khe núi và nước sông (dầu để thắp đèn) hay Kim lưỡi kiếm. Nó sợ gặp lửa mặt trời (đèn là vô dụng), lửa sấm sét (làm tắt đèn) và đất trừ đất mái nhà.
22 – Bính Ngọ, Đinh Mùi - Nước mưa : Sợ đất trên tường, đất mái nhà, đất trên thành, đất ven đường và đất dịch chuyển.
23 - Mậu Thân, Kỷ Dậu - Đất dịch chuyển : Nó thích nước tĩnh như nước ngầm, nước mưa và nước sông. Nó sợ nước biển, lửa trên núi và lửa dưới núi, gặp lửa sấm sét phải dùng Thủy để hóa giải lại là mệnh quý.
24 – Canh Tuất, Tân Hợi – Kim trang sức : Nó sợ gặp Hỏa, gặp Thủy cũng quý trừ nước biển, nó thích cát trong đất.
25 – Nhâm Tý, Quý Sửu - Gỗ dâu : Gặp cát trong đất, đất ven đường, đất dịch chuyển, nước ngầm, nước khe núi, nước sông đều tốt. Gặp gỗ tùng, gỗ liễu, gỗ rừng xanh đều quý. Sợ gỗ đồng bằng và gỗ lựu.
26 – Giáp Dần, Ất Mão - Nước suối : Gặp Kim rất tốt. Sợ gặp Thổ và Mộc trừ gỗ cây dâu là mệnh cực quý.
27 – Bính Thìn, Đinh Tị - Cát trong đất : Gặp Kim và Thủy là quý cũng như lửa mặt trời, gỗ dâu, liễu, ngoài ra các loại Mộc, Hỏa khác đều không tốt.
28 - Mậu Ngọ, Kỷ Mùi - Lửa mặt trời : Thích gặp Thủy, Mộc và Kim. Chỉ thích lửa đèn còn các loại lửa khác đều tương khắc. Thích gặp Thổ có thêm Kim và Mộc là mệnh quý. Lửa mặt trời đơn độc với Thủy là xấu.
29 – Canh Thân, Tân Dậu - Gỗ lựu : Gặp Thổ, Thủy, Mộc, Kim có thể thành tốt trừ nước biển sẽ bần cùng bệnh tật. Lửa mặt trời và lửa sấm sét có thể tốt nhưng cũng có thể xấu. Sinh tháng, năm, ngày hoặc giờ có Hỏa hoặc gặp gỗ liễu là mệnh quý.
30 – Nhâm Tuất, Quý Hợi - Nước biển : Gặp các loại nước cực tốt, nhất là Nhâm Thìn cực phú quý. Thích lửa mặt trời, kim đáy biển, gỗ dâu, gỗ liễu, đất dịch chuyển, đất trên tường, đất ven đường ngoài ra đều xấu nhất là lửa sấm sét.
(Các đoạn được tô đậm của các Nạp Âm trên đã đúng khi áp dụng vào các ví dụ trong thực tế.)
Các câu hỏi trọng tâm :
1 – Theo bạn, cách đây 3 đến 4 nghìn năm con người của chúng ta đã biết đến hệ mặt trời có 9 hành tinh hay chưa?
2 – Cách giải thích vì sao có 10 can và 12 chi liệu có thỏa mãn tính tò mò của bạn không? Cách giải thích này đã có tính chất khoa học (duy vật) hay nó vẫn còn mang nặng tính chất huyền bí (duy tâm) ? Bạn có cách nào giải thích khác không?
3 - Có một cao thủ về dịch lý bên Lý Học Ðông Phương cho rằng có 4 mùa trên trái đất là do quỹ đạo của trái đất quay quanh mặt trời theo hình elip. Theo bạn điều này có đúng hay sai, vì sao? Có cách nào chứng minh đơn giản hơn cách chứng minh ở trên hay không?
4 - Bạn thử kể ra các lực tương tác mà bạn biết của 10 vật thể được đưa ra ở trên lên con người nói riêng và các vật thể khác trên mặt đất nói chung là gì?
5 - Giả sử có 2 người cùng sinh ra tại một thời điểm của thời gian (cứ giả sử thời điểm họ sinh ra được tính chính xác tới 1/tỷ giây hay cứ cho là tuyệt đối - tức không có sự sai lệch về thời gian) thì họ có cùng sinh ra tại 1 vị trí trong không gian của vũ trụ hay không ?
Nguồn Sưu tầm
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
y làm cho cuộc sống trở nên thú vị hơn.

Mối quan hệ ngũ hành – cơ thể – sắc đẹp
Theo y học cổ truyền, các chức năng cơ thể con người chịu tác động khá lớn từ môi trường bên ngoài. Nếu thích nghi được với tất cả những sự thay đổi của môi trường thì cơ thể sẽ luôn đạt được sự cân bằng, còn ngược lại cân bằng bị phá vỡ sẽ sinh ra bệnh tật.
Trên nền tảng nhận thức cơ thể mỗi con người là một tiểu vũ trụ, phản ánh dòng chảy của tự nhiên, cơ thể sẽ đạt được trạng thái lý tưởng nhất như thuyết “thiên nhân hợp nhất” khi con người thích nghi hoàn toàn với mọi sự biến đổi của tự nhiên.
Theo y học cổ truyền, 5 yếu tố mộc, hoả, thổ, kim, thuỷ là 5 vật chất cơ bản cấu thành nên hệ tự nhiên, gọi là ngũ hành.
Mộc: gỗ – ứng với mùa xuân, tuổi thơ. Trên cơ thể con người, mộc ứng với gan.
Hoả: lửa – ứng với mùa hè, tuổi trẻ. Trên cơ thể con người, hoả ứng với tim.
Thổ: đất – ứng với mùa mưa, tuổi trưởng thành. Trên cơ thể con người, thổ ứng với dạ dày.
Kim: kim loại – ứng với mùa thu, tuổi trung niên. Trên cơ thể con người, kim ứng với phổi.
Thuỷ: nước – ứng với mùa đông, tuổi già. Trên cơ thể con người, thủy ứng với thận.
Sự thay đổi theo từng mùa sẽ liên quan mật thiết đến tính khí và cơ thể. Mùa xuân và mùa hè ngày dài hơn, khí vận tăng dần nên da trở nên mau mệt mỏi và cằn cỗi sau một ngày dài, rất mẫn cảm với các yếu tố gây kích ứng. Chăm sóc da là cần giữ cho da sạch sẽ, thông thoáng và cân bằng độ ẩm.
Vì vậy thời điểm này không thích hợp sử dụng những mỹ phẩm chứa nhiều chất dầu (vì chất dầu sẽ làm cản trở sự hô hấp của da). Những mỹ phẩm dạng gel trong có thể giúp hạn chế việc sử dụng chất dầu. Những mỹ phẩm chiết xuất từ thảo dược sẽ giúp bảo vệ da, giữ cho da sạch nên khi thoa đem lại cảm giác mát mẻ cho da. Những ngày xuân hè, làn da luôn có sắc diện hồng hào nên chỉ cần trang điểm nhẹ cũng làm đẹp cho con người.
Mùa thu đông ngày ngắn hơn, da dễ bị trạng thái trì trệ, chậm chạp của đêm dài làm mất đi vẻ tươi tắn, trẻ trung. Do thời tiết, da cũng dễ bị khô, bị dày lớp sừng tế bào chết. Do vậy cần bổ sung tối đa mỹ phẩm cung cấp chất tạo ẩm và chất dinh dưỡng nuôi da. Thường xuyên lấy đi lớp tế bào chết để da không bị lão hoá, không bị nhăn già. Mùa thu đông cần những tông màu trang điểm nóng và mạnh để làm ấm lên không khí chung quanh.
Ngũ hành với sắc màu đời sống
Màu sắc trang trí trong ngôi nhà luôn có tầm quan trọng đặc biệt đối với người Việt Nam, vì chính màu sắc sẽ giúp mang lại cảm giác thoải mái, tự tin, lấy lại sự bình yên sau những giờ làm việc căng thẳng mệt mỏi ở bên ngoài.
Màu sắc của từng bộ phận trong và ngoài ngôi nhà phải được phối một cách hài hoà tương sinh, tương hợp với môi trường xung quanh, với tâm lý tình cảm, sở thích…
Màu sắc cũng được phân loại trong thuyết âm dương ngũ hành. Các màu nóng như đỏ – cam – vàng là “màu dương”. Các màu lạnh như xanh dương – xanh lá cây là “màu âm”.
Màu xanh tượng trưng cho mộc, màu hồng tượng trưng cho hỏa, màu vàng tượng trưng cho thổ, màu trắng tượng trưng cho kim và màu tối tượng trưng cho thủy.
Ứng dụng tính tương sinh và tương khắc, những người thuộc mộc của ngũ hành, ngoài việc có thể chọn màu mộc (xanh) để sử dụng còn có thể dùng màu thủy (xanh đậm) vì thủy sinh mộc và kiêng dùng màu trắng vì trắng là màu của kim mà kim lại khắc mộc.
Chọn màu sắc theo lược đồ ngũ hành thì màu đỏ và màu xanh mang về thêm tài lộc; xanh lá, đỏ và vàng giúp cho danh phận; đỏ và trắng cho hôn nhân; vàng, trắng và đen cho trẻ con; đen và trắng là quý nhân giúp sức; trắng, đen và xanh lá cho nghề nghiệp; đen và xanh lá tăng thêm trí thức; đen, xanh lá và đỏ giúp ích cho phần gia đình.
Ứng dụng phối màu
Các hành tương sinh và có thể phối hợp với nhau:
Thuỷ và Mộc = Đen và Xanh lục.
Mộc và Hoả = Xanh lục và Đỏ.
Hoả và Thổ = Đỏ và Vàng.
Thổ và Kim = Vàng và Trắng.
Kim và Thuỷ = Trắng và Đen.
Các hành tương khắc và không thể phối hợp:
Thổ và Thuỷ = Vàng và Đen.
Thuỷ và Hoả = Đen và Đỏ.
Hoả và Kim = Đỏ và Trắng.
Kim và Mộc = Trắng và Xanh lục.
Mộc và Thổ = Xanh lục và Vàng.
Tương tự như vậy khi phối màu từ 2 màu trở lên người ta cũng áp dụng các nguyên tắc tương sinh và tương khắc.
Ví dụ:
Phối hợp ba hành để có sự tương sinh là:
Kim – Thuỷ – Mộc = Trắng – Đen – Xanh lục.
Mộc – Hoả – Thổ = Xanh lục – Đỏ – Vàng.
Thổ – Kim – Thuỷ = Vàng – Trắng – Đen
Tính tương sinh của ngũ hành là: Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc.
Tính tương khắc của ngũ hành là: Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thuỷ, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc.
hể dựa vào phong cách trang trí của cả căn phòng, điều kiện của các thành viên trong phòng… Bạn có thể tham khảo những cách chọn thảm dưới đây:

– Nếu nhà bạn có người già yếu, phải ngồi xe lăn thì nên chọn những loại thảm sợi tổng hợp, ít ma sát, để cho xe lăn dễ di chuyển và bạn cũng dễ dàng thay giặt thảm.
– Nếu gia đình bạn có nhiều người và thường xuyên tiếp khách thì nên chọn loại thảm nhung có chất lượng cao, dày và khả năng chông mài mòn.
– Nếu nhà bạn có trẻ nhỏ thì nên chọn loại thảm làm bằng sợi tổng hợp có màu sẫm, chịu mài mòn, chịu được bẩn, dễ tẩy rửa những loại đồ ăn trẻ làm vương ra.
– Để tạo không gian xúc tích, thư thái cho phòng khách, bạn nên chọn loại thảm màu đơn nhất, hợp với màu sắc chủ đạo trong phòng, không có trang trí viền.
– Với những căn nhà thiết kế theo phong cách hiện đại hoặc những kiểu nhà cổ cách tân, bạn có thể chọn loại thảm lấy hình trang trí làm chủ, sắp xếp bố cục theo dạng lưới nhất định, màu sắc đậm nhạt phù hợp.
– Muốn trang trí phòng khách đẹp rực rỡ hơn bạn có thể chọn các loại thảm có hoa văn với màu sắc phong phú và trang trí theo nguyên tắc đi từ trọng tâm ra xung quanh, sau đó tiến hành trang trí ở các phần viền ngoài.Đèn trong phòng khách ngoài chức năng chiếu sáng còn có chức năng trang trí. Do vậy, khi chọn đèn trong phòng khách, bạn nên chú ý đến công dụng của một số loại đèn để có thể đạt được mục đích thiết thực nhất. Ngoài ra, còn phải căn cứ vào màu tường và màu trần nhà để chọn đèn chiếu sáng cho phù hợp. Khi chọn dáng đèn cụ thể nên chú ý tới chao đèn và ánh đèn để tránh sự tương phản.
– Để có thể đọc sách, xem tivi, sử dụng vi tính ngay trong phòng khách thì bạn nên dùng các loại đèn chiếu sáng thông thường, ví dụ như loại đèn voníram, huỳnh quang… Những loại đèn này phát ánh sáng mạnh có thể để trong hộp đèn song có nhược điểm là không thể điều chỉnh được cường độ ánh sáng.
– Với một phòng khách đầy yên tĩnh và được trang trí nhiều tác phẩm nghệ thuật, bạn nên bố trí hai loại đèn. Một loại đèn được gọi là đèn bốì cảnh để cho nguồn sáng nhất định trong phòng, bố trí nơi bạn tiếp khách. Loại đèn thứ hai là đèn triển thị, để chiếu sáng cho các bức tranh hoặc tấm phù điêu trên tường. Ngồi nói chuyện trong không gian nghệ thuật như vậy, câu chuyện của bạn sẽ thêm hấp dẫn và lãng mạn hơn.
– Khi thiết kế đèn áp tường, bạn nên chọn bóng đèn voníram áp thấp. Loại đèn này có ánh sáng trắng, đẹp, tinh khiết, đặc biệt là khi nhiệt lượng toả ra từ đèn sẽ được chụp đèn phản quang hấp thụ ngay lập tức, do đó ánh sáng của đèn không bị nóng, rất thích hợp dùng làm đèn áp tường.
Ngày nay, có nhiều loại bóng đèn với đủ kích cỡ to nhỏ và màu sắc đa dạng, bạn có thể trang hoàng thêm cho phòng khách của mình với ý nghĩa của màu sắc như: Đèn màu hồng và màu vàng tạo cảm giác ấm áp. Đèn màu xanh lam, xanh lục tạo cảm giác lạnh, hoặc tường màu đậm sẽ hấp thụ ánh sáng nhiều hơn, do vậy nên chọn đèn có ánh sáng mạnh.
Khi thiết kế lắp đặt đèn trong phòng khách bạn cần đặc biệt chú ý đến đường dây đi chìm dưới sàn nhà hoặc đi trong tường, kể cả ổ cắm trong tường đều phải bố trí cẩn thận, tránh ảnh hưởng đến mỹ quan, đồng thời cũng không bảo đảm an toàn.
8 đồ vật sau đây được coi là biểu tượng của năng lượng tiêu cực, ảnh hưởng trực tiếp đến tình cảm và cuộc sống của vợ chồng nếu được đặt trong phòng tân hôn. Cùng ## xem phong thủy nhà ở và khám phá xem đó là những đồ vật gì nhé!

Từ lâu, phòng tân hôn luôn mang ý nghĩa là nơi bắt đầu hạnh phúc hôn nhân của các cặp vợ chồng. Vì thế mà cách bài trí căn phòng này có rất nhiều điều cần lưu ý. Một số quy tắc phong thủy truyền thống trong cách bài trí phòng tân hôn có thể tránh được những điều không tốt đẹp xảy ra đối với đời sống hôn nhân của các cặp vợ chồng.
Trong số tất cả đồ dùng phục vụ sinh hoạt và trang trí phòng tân hôn thì có 8 đồ vật sau đây được coi là biểu tượng của năng lượng tiêu cực, ảnh hưởng trực tiếp đến tình cảm và cuộc sống của vợ chồng dù nó được đặt ở vị trí nào đi chăng nữa.
1. Rượu vang và những vật dụng đi kèm
Theo ## thì đối với các cặp vợ chồng mới cưới thì rượu vang và những vật dùng đi kèm như kệ đựng, ly thủy tinh… được đặt trong phòng tân hôn sẽ tạo ra năng lượng phong thủy âm. Theo học thuyết phong thủy, rượu vang tượng trưng cho rượu nói chung và phụ nữ… trong khi đó, từ “thủy tinh” và “nỗi buồn kéo dài” trong tiếng Trung Quốc là từ đồng âm. Các dấu hiệu này cho thấy sự ảnh hưởng rất lớn đến cảm xúc của vợ chồng và dễ nảy sinh những nỗi buồn, sự đau khổ kéo dài.
2. Các loại thực vật có gai
Các loại thực vật có gai chủ yếu là hoa hồng, xương rồng… thường được trang trí trong phòng tân hôn. Tuy nhiên, theo phong thủy, những chiếc gai nhọn mang hàm ý đối đầu, ăn miếng trả miếng. Điều này khiến cho vợ chồng dễ gây tổn thương cho nhau (ở mức độ nhẹ), không bao dung, nhẫn nhịn và rất nhiều điều bất lợi khác liên quan đến cảm xúc.
Nếu muốn trang trí hoa hồng trong phòng tân hôn, tốt nhất nên chọn loại hoa hồng không có gai.
3. Đồ vật bị hỏng
Rất nhiều người thích bày biện một số đồ thủ công tái chế trong phòng tân hôn của mình, điều này khá phổ biến. Nhưng, trên thực tế, chúng ta không nên bày những đồ vật bị hỏng, không hoàn thiện. Những món đồ thủ công tái chế lại từ đồ cũ, hỏng sẽ tạo nên năng lượng phong thủy tiêu cực, có khả năng làm tan vỡ hạnh phúc hôn nhân, để lại sự mất mát và đổ vỡ về tình cảm.
4. Đồ cổ
Trong ngày cưới, người thân gia đình và bạn bè có thể tặng những món quà có giá trị như đồ cổ… Các cặp vợ chồng mới cưới thường sẽ đặt chúng trong phòng tân hôn của mình (có thể bày ra hoặc không)… mà không biết rằng những món đồ cổ này phát ra nguồn năng lượng âm tiêu cực rất lớn, làm mất cân bằng năng lượng âm – dương của căn phòng. Điều này dẫn đến những ảnh hưởng không tốt cho sức khỏe, gây bất hòa trong hôn nhân và cuộc sống.
5. Đồ vật liên quan đến người cũ
## thấy người cũ mà chúng ta đang đề cập đến có thể là người yêu cũ, vợ cũ hoặc chồng cũ. Nếu bạn đặt những đồ vật có liên quan đến những người này trong phòng tân hôn thì sẽ vô tình tạo ra rào cản, thậm chí là khó vượt qua được và sự chia cách về tình cảm vợ chồng.
6. Búp bê trang trí
Nhiều cuộc điều tra phong thủy cho thấy rất nhiều cặp vợ chồng trẻ, mới cưới thích trang trí phòng tân hôn của mình bằng những con búp bê, tượng búp bê sứ… Thực tế, những con búp bê dễ thương đấy dễ dàng gây ra ảnh hưởng xấu đến tình cảm của hai vợ chồng, sự tổn thương, sự xúi giục gây mâu thuẫn từ bên thứ ba.
7. Các loại vũ khí, công cụ góc cạnh, sắc nhọn
Các loại vũ khí, công cụ góc cạnh, sắc nhọn là hiện thân của sự hiếu chiến, dễ dàng gây tổn thương và đau đớn cho chính mình. Khi đặt trong phòng tân hôn, chúng còn có ý nghĩa sự thù hận, sự chì chiết lẫn nhau. Vì thế, đừng bao giờ để những đồ vật trên xuất hiện trong phòng tân hôn của bạn để đảm bảo sự yên tĩnh, vui vẻ và hạnh phúc cho cuộc sống hôn nhân.
8. Hình ảnh của những người khác
Khi còn độc thân, nhiều người thích để ảnh các ngôi sao, thần tượng của mình trong phòng ngủ. Nhưng nếu làm vậy với phòng tân hôn sẽ dẫn đến sự căng thẳng, bất lợi trong quan hệ vợ chồng, quan hệ giữa vợ chồng và các thành viên khác trong gia đình. Do đó, việc lựa chọn trưng bày hình ảnh đặt trong phòng tân hôn cần phải rất thận trọng.
![]() |
Vượt qua thất tình với lời Phật dạy về nhân duyên| ► Mời bạn đọc: Những câu nói hay về tình yêu và suy ngẫm |
![]() |
| Ảnh minh họa |
![]() |
| Ảnh minh họa |
Chú : Vì xem xét lục hào, chủ yếu là xem xét mối quan hệ Thế – Ứng, nếu như Thế rơi vào dụng thần, thì phải xem nguyệt kiến sinh vượng thế nào. Nguyệt kiến mà rơi vào đất Vượng tức là Thế sẽ lấn át Ứng, nên mới nói là KIẾP (cướp giật, uy hiếp), nếu Nguyệt kiến mà Suy thì tức là Thế sẽ không đủ mạnh để uy hiếp Ứng, nên sẽ Sinh cho Ứng. (Thế là mình, Ứng là người).
2. Lấy mức độ sinh vượng của hào lục thân trong quẻ để định cái sự hưng suy cát hung của lục thân.
Chú : 6 hào trong quẻ vốn có quan hệ lục thân với nhau, trong đó có hào Thế, có hào dụng thần, có hào ứng v.v… cho nên xem xét quan hệ của lục thận suy vượng là rất quan trọng trong việc đoán định.
NHỊ – Khởi đại vận :
Lấy hào Thế để khởi đại vận, dượng nam – âm nữ khởi thuận, Âm nam – Dương nữ khởi nghịch, mỗi hào 5 năm.
Chú : Để xem xét quả chung cuộc nhân sinh, dựa vào Ngày – giờ sinh để mà lập quẻ. Sau đó khởi đại vận, bắt đầu từ hào Thế tính là từ 0-5 tuổi, sau đó nếu Dương Nam, Âm nữ (Âm dương tính theo năm sinh). Thì thuận hành, tức là đếm theo thứ tự tăng của các hào, còn Âm nam, Dương nữ thì ngược lại. VD : Nếu hào Thế là hào 3, khởi đại vận cho Dương nam, thì hào 3 là 0-5 tuổi, hào 4 là 6-10 tuổi, hào 5 là 11-15 tuổi, hào 6 là 16-20 tuổi, trở về hào 1 là 21-25 tuổi, hào 2 cứ tiếp tục thế …
TAM – lục hào chiêm nghiệm :
1. Luận phụ mẫu :
Luận phụ mẫu thì chú ý : Lấy hào dương ứng với CHA, hào âm ứng với MẸ.
Thê tài trì thế nếu thấy quẻ chủ (quẻ gốc, khác với quẻ biến) trùng hai lần thê tài (2 hào thê tài) là thủa nhỏ khắc cha mẹ
Quẻ chủ không có Thê tài, mà hào Phụ mẫu là nhập mộ của Nhật thần, nguyệt kiến. Quẻ biến thì lại có hào Thê tài vượng, tướng thì khắc cha mẹ lâu dài.
Hào phụ mẫu rơi vào không vong lại lâm bạch hổ. Nếu là quẻ chung thân thì sớm mồ côi, hoặc làm con nuôi, nếu xem quẻ sự việc, quẻ thời vận, thì tức là có đại tang.
Hào Tử tôn là Tý-Dần-Thìn, Ngọ-Thân-Tuất là ứng với con trai, nếu là Sửu-Mão-Tỵ, Mùi-Dậu-Hợi là ứng với con gái.
Hào Tử tôn rơi vào Bạch hổ, không vong, tất hư thai hoặc trụy thai.
Hào Tử tôn rơi vào Bạch hổ, mà lại bị Nguyệt kiến xung, thì phần nhiều là thai lưu, hoặc đẻ non.
Luận tài vận :
Thê tài trì thế mà biến thành Huynh đệ thì một đời khó có thể giầu có lớn được (khó kiếm tiền, về già mới có thể có chút dư giả).
Quẻ chủ khắc quẻ biến khó có thể xếp vào hàng phú quý được.
Huynh đệ trì thế thì một đời tiền tài khó tụ, thích tiêu xài hoang phí.
Xem quẻ mà thấy Phụ mẫu động, Huynh đệ động tất là điềm phá tài, Một đời tiền tài gian tân.
Thái tuế mà xung với hào Thế thì phá tài.
Thái tuế mà hợp Huynh đệ, không bị Kiếp tài thì chủ về một năm tiền tài sung túc. (Kiếp tài : Thập thần cùng ngũ hành với Nhật chủ, nhưng khác tính chất âm dương)
Thái tuế rơi vào Huynh đệ, mà hợp với Thê tài thì một năm ấy không có tiền.
Thái tuế rời vào Thê tài, xung với hào Huynh đệ mà không động, thì chủ về một năm tài lợi phong phú.
Thái tuế hợp hào Thế, Thái tuế lâm hào Thê tài, Thái tuế sinh cho hào Thế, Tam hợp, Tam hội, Tam hình mà được vượng thế thì năm đó chủ về đắc tài đắc lộc.
Tử tôn trì Thế, mà lại tháy Thái tuế rơi vào huynh đệ, thì là một năm hao tổn tiền tài.
Trong quẻ có hào Huynh đệ động, mà Thái tuế đóng ở hào Quan quỷ thì cả năm tiến tài
Trong quẻ thấy hào Huynh đệ hóa Huynh đệ, mà Thái tuế cũng trú ở Huynh đệ thì mất tiền.
Trong quẻ mà thấy hào Huynh đệ hóa hào Tài mà Thái tuế lại đóng ở hào Huynh đệ thì có tiền.
Trong quẻ mà thấy hào Thê tài quay đầu lại sinh cho hào sinh ra Thái tuế thì chủ về một năm tiến tài, nếu như ngược lại – quay lại xung với hào sinh ra Thái tuế thì năm đó phá tài.
Thái Tuế mà hợp với Huynh đệ sinh cho Huynh đệ thì phá tài, hợp Huynh đệ mà sinh cho hào Thế thì lại đắc tài.
Phụ mẫu mà hóa Thê tài thì cầu tài rất gian khó. Huynh đệ mà hóa Thê tài thì “tiên tán hậu đắc” (trước mất sau được).Thê tài hóa Thê tài, hoặc Tử tôn hóa Thê tài thì cầu tài thuận lợi toại ý.
Quan quỷ hóa Quan quỷ, Huynh đệ hóa Huynh đệ, Huynh đệ hóa Quan quỷ, Quan quỷ hóa Huynh đệ. Là những trường hợp dễ thấy thương tật.
Quẻ Quải, quẻ Hàm, quẻ Phong, quẻ Tiểu quá, quẻ Minh di, là những quẻ chủ về thương tật, khi luận cần chú ý.
Hào quan quỷ rơi vào Câu trần, mà lại ở sơ hào, lại trì thế thì có thể quyết xác là bị thương nặng đến gẫy chân.
Trong quẻ mà thấy Quan quỷ hóa Quan quỷ, rơi vào Câu Trần là phát động thì phải xác quyết là chủ về tai nạn xe cộ.
Hào thế ở chi Thân, bị Tam Dần (3 năm dần) xung, hoặc hào Thế ở chi Dần bị Tam Thân (3 năm Thân) xung, ắt là sẽ bị tại nạn xe cộ.
Câu trần trì thế ở hào Quan quỷ mà lại hóa Tử tôn, bị gặp Tam Hình. Chủ về bị thương tàn.
Hạn năm rơi vào Bạch hổ mà Mệnh thuộc Tứ mộ, thì năm đó lục thân trong nhà có thương tật.
Quan quỷ trì thế, rơi vào Bạch hổ, lại quay lại khắc chính hào Quan quỷ này, kiểm tra trong quẻ, nếu thấy Huynh đệ lại Hóa Huynh đệ thì phần nhiều là đoán sẽ bị liệt nửa người dưới.
Quẻ Khốn, quẻ Cách, quẻ Tráng, quẻ Giải, quẻ Phệ hạp, quẻ Vô vọng, quẻ Khảm, quẻ Tụng chủ về lúc tuổi trẻ hay gặp kiện tụng. Bói về thời vận mà gặp những quẻ này, thì thời điểm đó, sự việc đó cũng rất dễ xả ra quan ngục, kiện tụng, thị phi, tranh chấp.
Quan quỷ hóa Tử tôn, Tử tôn hóa Quan quỷ, Quan quỷ trì thế mà Tử tôn lại phát động, Tử tôn trì thế mà quan quỷ lại phát động, Quan quỷ trì thế mà Ứng là Tử tôn, Quan quỷ là Ứng mà Tử tôn trì Thế. Đều là những trường hợp có dấu hiệu liên quan đến lao ngục, kiện tụng, thị phi, tranh chấp.
Tử tôn trì thế mà thấy Nhật, Nguyệt hay Mộ quay lại khắc thì là biểu hiện của lao ngục. kiện tụng, quan sự, tranh chấp, thị phi.
Huynh đệ trì thế tuy cực vượng mà Quan quỷ lại là Phục thần vô khí, vận năm đi đến hào Quan quỷ (quan quỷ xuất hiện) ắt là sẽ có lao ngục, kiện tụng, thị phi, quan sự, tranh chấp.
Câu Trần thuộc thổ phát động, mà lại khắc hào Thế thuộc thủy alf chủ về kiện tụng quan phi.
Hào huynh đệ bạc nhược (suy) mà lại Trì thế, hóa ra Quan quỷ. Nếu vận năm đi đến hào Quan quỷ thì tất có quan sự kiện tụng.
Hào Thế rất vượng mà gặp đủ Tam Hình thì cũng có biểu hiện quan phi kiện tụng.
Vận năm tập hợp đủ 2 bộ Tam hình (Dần-Tỵ-Thân, Sửu-Tuất-Mùi) thì khó trành được quan phi kiện tụng.
Huynh đệ trì Thế rơi vào Bạch hổ thì một đời nhiều tai kiếp, chuyện quan phi kiện tụng là khó tránh khỏi.
Trong quẻ mà Quan quỷ suy hoặc phục vô khí nhưng Tử tôn lại cực vượng, vận năm đến hào Quan quỷ thì ắt là sẽ dính kiện cáo quan tụng.
Trong quẻ mà Tử tôn suy hoặc Phục vô khí mà Quan quỷ lại cực vượng, vận năm đi đến hào Tử tôn thì ắt là sẽ dính quan phi kiện tụng.
Quan quỷ trì Thế mà nhập Mộ thì khó tránh được quan sự.