Người có mệnh Nhị Hắc Cự Môn thích hợp làm nghề gì? –
nuôi trâu bò, mèo…

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thanh Vân (##)
nuôi trâu bò, mèo…

Tác giả: Lương Trâm
- Thứ nhất là khác nhau về hình thức, bói dịch dùng thi thơ để giảng còn Chu dịch dùng văn xuôi để giảng.
- Thứ hai là bói dịch có nhiều lọai gồm :
8 Quẻ ba hào như Liên Sơn dịch đời Hạ có quẻ đầu là Cấn, Qui tàng dịch đời Thương có quẻ đầu là Khôn.
32 Quẻ năm hào như “Tam Bửu Hiệp nhứt” người Việt hay thường sử dụng
64 Quẻ sáu hào “ Bói dịch cổ truyền” người Việt hay thường sử dụng
Khác với bói dịch, Chu dịch chỉ có một lọai là 64 quẻ sáu hào, được ghi chép có hệ thống dạng kinh điển , còn dùng để nghiên cứu, không như những sách bói “diệc” chỉ dùng cho việc chiêm bói được lưu hành trong dân chúng.
Trước hết xin nói về cách trình bày của các lọai bói dịch người Việt hay xử dụng
Quẻ năm hào:
Ví dụ: quẻ Giá sắc
Nội dung: Dịch nghĩa:
Thả thủ quân tử phận. Quân tử nên giữ phận
Vật dụng tiểu nhân ngôn. Chớ nghe lời tiểu nhân
Phàm sự giai đương cẩn Mỗi việc nên cẩn thận
Tác phước bảo an nhiên Làm lành vậy mới yên
Quẻ sáu hào:
Ví dụ: Phong Sơn Tiệm ( Hồng nhạn phi cao)
Ý nghĩa: Chim Hồng nhạn được sổ lồng bay xa.
Tiến từ từ bay lên mây trong sự thông đạt thong dong.
Không có gì cản trở.
Nhưng không thể bay vụt từ trong lồng lên mây ngay được.
Giải đoán: Vận khí thịnh đạt dần dần. Công việc mỗi ngày đều phát triển đều đặn. Không gặp trở ngại. Thành quả rất to lớn so với lúc khởi sự.
Lời khuyên: Giữ tiết hạnh thanh cao. Ung dung không vội vả.
Phụ chú : Giải trừ mọi tai ương. Tuy tiến chậm nhưng rất yên ổn.
Hào 1 : trung bình, tiến hơi chậm
Hào 2 : rất tốt
Hào 3 : trung bình
Hào 4 : tốt
Hào 5 : tốt
Hào 6 : rất tốt, đại cát
Ứng hạp : Tuổi Bính : Thìn, Ngọ, Thân
Tuổi Tân : Mão, Tỵ, Mùi
Tháng 1
Hành thổ
Lời giảng của của quẻ này viết theo văn xuôi nhưng được ngắt ra 4 đọan, có lẽ vào đời Tần bị cấm thi thơ, các lọai sách đều phải chép lại bằng văn xuôi.
Tiếp đến là cách trình bày quẻ trong Kinh Dịch : Quẻ Phong Sơn tiệm ( xin không trích giảng hào từ)
Thóan từ: Tiệm, nữ qui cát, lợi trinh.
Dịch: Tiến lần lần, như con gái về nhà chồng, tốt; giữ đạo chính thì lợi.
Giảng: Quẻ này là Tốn ( cây), dưới là Cấn( núi). Trên núi có cây, có cái tượng dưới thấp lần lần lên cao, nên đặt là Tiệm.
Tiến mà lần lần, không nóng nảy, vẫn tỉnh như nội quái cấn, vẫn hòa thuận như ngọai quái Tốn thì không bị vấp váp, không bị khốn cùng.
Hào từ:
- Sơ lục: Hồng tiệm vu can, tiểu nhân lệ, hữu ngôn vô cửu.
Dịch: Hào âm 1, con chim Hồng tiến đến bờ nước, nhỏ dại cho là nguy, than thở nhưng không có lỗi.
- Lục nhị: Hồng tiệm vu bàn, ẩm thực khản khản, cát.
Dịch: Hào 2 âm, chim hồng tiến đến phiến đá lớn, ăn uống thảnh thơi, tốt
- Cửu tam: Hồng tiệm vu lục, phu chinh bất phục, phụ dựng bất dục, hung lợi ngự khẩu.
Dịch: Hào 3 dương, chim hồng tiến tới đất bằng, chồng đi xa không về, vợ có mang không nuôi, xấu, đuổi cướp thì có lợi.
- Lục tứ: Hồng tiệm vu mộc, hoặc đắ kỳ giốc, vô cửu.
Dịch: Hào 4 âm, chim hồng nhảy lên cây, may tìm được cành thẳng mà đậu, không có lỗi.
- Cửu ngũ: Hồng tiệm vu lăng, phụ tam tuế bất dụng, chung mạc chi thắng, cát.
Dịch: Hào năm dương, chim hồng lên gò cao, vợ ba năm không sinh đẻ, nhưng cuối cùng không có gì thắng nổi điều chính, tốt.
- Thượng cửu: Hồng tiệm vu qui, kỳ vũ khả dụng vi nghi, cát.
Dịch: Hào trên cùng dương, chim hồng bay bổng ở đường mây. Lông nó có thể dùng làm đồ trang sức, tốt.
Hai loại dịch trên mặc dù có khác nhau về hình thức, nhưng nhìn chung tất cả đều có đặc điểm là có hào âm,hào dương. Âm dương được hình thành do sự vận động của vũ trụ. Sự vận động này thuận theo chiều hướng sinh của ngũ hành hình thành bát quái. Đó là học thuyết Âm dương- Ngũ hành của người xưa.
1/ Thuyết Âm dương - Ngũ hành:
a - Sự hình thành Âm dương:
Thái cực vận động sinh ra lưỡng nghi, tức là hai khí : Âm và Dương. Phần dương thì động, nóng, sáng, trong, nhẹ, nổi lên trên sinh ra khí dương và nơi tích lũy nhiều khí dương là bầu trời được ký hiệu là ( ). Dương được sinh ra từ cực Bắc và bên trái chủ dương.
Phần âm thì tỉnh, lạnh, tối, đục, nặng, chìm xuống dưới sinh ra khí âm và nơi tích lũy nhiều khí âm là đất được ký hiệu là ( ) . Âm được sinh ra từ cực Nam và bên phải chủ âm.
Cực Nam
Cực Bắc
Hình lưỡng nghi
Âm dương có sự liên hệ thần bí, đó là sự hấp dẫn lưỡng tính thần kỳ. Theo Lôi Đạc, trong tác phẩm Mỗi ngày 10 phút với Chu Dịch, nhà ảo thuật Trung quốc nổi tiếng là Tàng quốc Chân đã phát hiện điều này khi đem hai con thạch sùng đực, cái ném mạnh xuống đất. Khi đuôi của hai con thạch sùng bị đứt, chúng nhảy nhót trên mặt đất, rồi hai chiếc đuôi ngày càng gần lại với nhau, dựa sát vảo nhau sau đó bám chặt lấy nhau thành hình “bánh quấn thừng: Thế nhưng dùng hai con thạch sùng cùng giống thì không thấy có hiệu ứng này. Một thử nghiệm khác nữa là bắt vài con thạch sùng có bốn chân, phân biệt đực – cái, chặt đuôi và lột da chúng ra, sau khi đốt cháy nghiền thành bột, đổ vào hai cây nến rỗng ruột, đặt trên bàn cách nhau 30 cm, châm lửa trên hai cây nến đó. Điều kỳ dị đã xuất hiện, hai ngọn lửa hấp dẫn nhau, dần dần dựa sát vào nhau, cuối cùng dính lại tạo thành một tuyến lửa nằm ngang như chiếc cầu vồng được đặt tên là “cầu lửa”.
Qua phát hiện đó có thể thấy được tuy âm dương là hai yếu tố tương phản nhau nhưng trong mọi vật hai yếu tố âm dương luôn dung hòa lẫn nhau, tương giao cùng nhau, bổ túc cho nhau, liên kết với nhau rất mật thiết. Cả hai đều đóng vai trò quan trọng trong sự sinh thành của muôn vật, tất cả sự biến hóa trong vũ trụ đều có thể giải thích bằng hiện tượng chuyển biến của âm dương. Âm trưởng thì dương sẽ tiêu, dương trưởng thì âm sẽ tiêu, âm tăng đến chỗ cực thịnh thì dương sẽ phát sinh và âm sẽ phải thóai dần, khi dương tăng đến chỗ cực thịnh thì âm sẽ phát sinh và dương sẽ thóai dần, đó là lẽ tuần hòan của âm dương trong trời đất như : Mùa đông âm khí nhiều khí hậu lạnh. Cuối đông âm khí thịnh, dương khí bắt đầu phát sinh. Qua xuân dương khí mới phát sinh còn non, khí hậu ấm áp dần dần. Đến mùa hạ dương khí tăng trưởng, khí hậu nóng. Cuối hạ dương khí cực thịnh khí hậu nóng bức và âm khí sẽ phát sinh. Qua mùa thu âm khí mới phát sinh còn non khí hậu mát, âm khí dần dần tăng trưởng lại bước qua đông.... cứ như thế mà tiếp diễn ; hoặc cũng như chuyển biến âm dương trong ngày đêm : từ nửa đêm – sáng sớm – giữa trưa – buổi chiều – lại nửa đêm. Sự âm tiêu dương trưởng và dương tiêu âm trưởng tiếp diễn nhau rất cần thiết để điều hòa sự tuần hòan của trời đất, nếu dương cực thịnh mãi mà âm khí không phát sinh hoặc ngược lại thì trời đất bất hòa và sự sinh hóa của của muôn vật sẽ rối lọan như : chỉ có đêm mà không có ngày hay ngược lại, thời tiết nóng mãi hoặc lạnh mãi đều bất lợi cho sự sinh trưởng của vạn vật. Mặt khác, trong sự chuyển hóa để tương giao với nhau, dương khí có khuynh hướng thăng cao lên tức ly tâm, âm khí có khuynh hướng giáng xuống thức hướng tâm. Đó là dương thăng, âm giáng.
Ví dụ: không khí nóng có khuynh hướng bay lên cao, không khí lạnh có khuynh hướng hạ xuống thấp. Sự kiện không khí vùng lạnh thay thế vùng nóng sẽ sinh ra gió.
Sự vận động của âm dương sẽ sinh ra 4 khí gọi là tứ tượng : Thái âm – Thiếu dương – Thái dương – Thiếu âm

Hình tứ tượng
Từ bốn khí này giao hòa thăng giáng với nhau, tạo ra sự đối kháng, chuyển dịch. Đây chính là động lực phát triển cũa sự vật, hiện tượng, con người. Động lực ấy thể hiện ra 8 dạng thức trong không gian, đó là bát quái. Bát quái với 5 thuộc tính ngũ hành đã tạo ra vũ trụ, vạn vật, trong đó có con người với hành vi của họ.
Bát quái với tính chất gắn liền với bầu trời xin được tạm gọi là “Thiên Bát Quái”
Bát quái có tính chất gắn liền với trái đất xin được tạm gọi là “ Địa Bát Quái”
b- Ngũ hành:
Ngũ hành được cho là 5 dạng vật chất gồm :
- Hành Thủy tượng trưng cho nước
- Hành Mộc tượng trưng cho cây cối
- Hành Hỏa tượng trưng cho lửa
- Hành Thổ tượng trưng cho đất
- Hành kim tượng trưng cho kim lọai.
Căn cứ vào tính chất các hành trên có sự sinh, khắc với nhau
Ngũ hành tương sinh :
Thủy sinh Mộc
- Mộc sinh Hỏa
- Hỏa sinh Thổ
- Thổ sinh Kim
- Kim sinh Thủy
Ngũ hành tương khắc :
- Thủy khắc Hỏa
- Hỏa khắc Kim
- Kim khắc Mộc
- Mộc khắc Thổ
- Thổ khắc Thủy
Năm hành trên được xếp thành các phương vị trên Hà Đồ, Lạc Thư.
c/ Thuyết Thiên Địa Nhân:
Thuyết Thiên Địa nhân nói lên sự chi phối của trời đất đối với con người.
- Thiên: Thiên can là tọa độ không gian được thể hiện ở 10 vị trí: Giáp , Ất , Bính , Đinh , Mậu , Kỷ , Canh , Tân , Nhâm , Quí. Thiên là khỏang không gian bao la, trong Thiên có ba yếu tố hợp thành là Nhật ( mặt trời) ; Nguyệt ( mặt trăng) ; Tinh ( các vì tinh tú). Vạn vật con người chuyển dịch trong không gian theo 10 thiên can, được Nhật, Nguyệt, Tinh chiếu vào tác động ảnh hưởng suốt cả cuộc đời, do vậy yếu tố năm, tháng, ngày, giờ sinh được người xưa cho là có thể quyết định được vận mệnh của từng người.
- Địa: Địa chi là tọa độ thời gian được thể hiện ở 12 vị trí thời gian trong năm , tháng, ngày, giờ gồm : Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Địa được cấu thành bởi 3 yếu tố thủy , hỏa , phong. Từ yếu tố địa , người xưa hình thành nên môn địa lý phong thủy dùng để xem xét sự vận động hài hòa của thủy hỏa phong, nếu mất cân bằng trong vận động của ba yếu tố này ở một địa điểm mà một người đang sinh sống thì người đó sẽ gặp trở ngại và tai họa.
Tóm lại, nói Thiên Địa Nhân là nói con người luôn luôn bị chi phối bởi Thiên và Địa, ba yếu tố này tương tác lẫn nhau, con người muốn tồn tại, sinh sống bình thường phải có sự cân bằng giữa bản thân với thiên địa. Không gian Dịch là không gian Thiên Địa Nhân, là thế giới của âm dương giao hòa, chuyển hóa cho nhau, thế giới giữa hai mặt đối lập tồn tại và bổ xung cho nhau nên khi nắm bắt được chuyển động đó người xưa đã lập ra mô hình trạng thái không gian gọi là âm, dương ( lưỡng nghi). Âm, dương vận động sinh ra bốn khí gọi là tứ tượng, lại tiếp tục vận động thành ra bát quái
2/ Hà đồ – Lạc thư:
Hà đồ – Lạc thư đã được người Trung hoa xem như nguồn gốc của bát quái có nghĩa là sự hình thành của bát quái phải được gợi ý của Hà đồ – Lạc thư, thánh nhân mới dựa vào đó mà phỏng theo. Hình dạng của Hà đồ – Lạc thư ra sao không ai biết được , chỉ nghe nói đến từ cháu của Không Tử là Khổng An Quốc nhưng mãi đến đời Tống hai đồ hình đó mới thấy phổ biến.
Căn cứ vào “ Dịch học Tượng số luận” của Hòang Tông Nghi thì Trần Đòan đã truyền cho Chủng Phóng, Chủng Phóng truyền cho Lý Khái, Lý Khái truyền cho Hứa Kiên, Hứa Kiên truyền cho Phạm Ngọc Xương, Ngọc Xương truyền cho lưu Mục. Lưu Mục căn cứ vào Hà đồ-Lạc Thư trước tác ra “ Dịch số câu ẩn đồ”, bức đồ của ông mới được đông đảo người biết đến. Cho đến nay người ta cũng chưa hiểu được, vào đời Tống, vị đạo sĩ ở Hoa Sơn là Trần Đòan đã lấy ở đâu ra được những hình Hà đồ-Lạc Thư ấy.
Sau khi Hà đồ-Lạc Thư ra đời, một bộ phận trong học phái này chia rẽ. Một số người không tin vào những thứ này, nhà Đại văn học Âu Dương Tu cho rằng : “đầu độc sai lầm vào những người học giả, gây tác hại đâu có nhỏ”. Cuộc tranh luận này kéo dài tới cuối đời Thanh, Dân quốc, thậm chí đến sau ngày giải phóng.
a - Hà đồ: Theo ghi chép của người Trung Hoa, Hà đồ là vật mà Hòang Đế được trời ban cho từ sông Hòang Hà, trên lưng con long mã, đồ hình có 5 cặp số được sắp xếp như sau: 1 với 6 ở dưới là số sinh thành của thủy ở phía Bắc
2 với 7 ở trên là số sinh thành của hỏa ở phía Nam.
3 với 8 ở bên trái là số sinh thành của mộc ở phương Đông
4 với 9 ở bên phải là số sinh thành của kim ở phương Tây
5 với 10 là số sinh thành của thổ ở trung ương.
Hà đồ là bức đồ đầu tiên của kinh dịch, sự vận hành của nó theo chiều hướng sinh của ngũ hành. Bắt đầu từ thủy sinh mộc = đông sang xuân; mộc sinh hỏa = xuân sang hạ; hỏa sinh thổ - vào trung tâm, thổ sinh kim = hạ sang thu; kim sinh thủy = thu sang đông.

Hình Hà đồ
b - Lạc thư: Theo truyền thuyết Lạc thư do thần qui mang trên lưng nên có tượng con rùa đầu đội 9, đuôi mang 1, bên trái mai mang 3, bên phải mai mang 7, vai bên trái mang 4, vai bên phải mang 2, chân trái mang 8, chân phải mang 6, giữa lưng mang 5

Hình Lạc thư
Theo các nhà nghiên cứu thì Lạc thư là một dạng Cửu tinh Đồ, là Cửu trù Hồng Phạm, nếu đọc theo chiều nghịch kim đồng hồ là biểu đồ phương vị ngũ hành được vận hành theo hướng khắc.
Do vậy, theo thiển nghĩ, bát quái phải được dựa vào Hà đồ để thiết lập vì ngũ hành có tương sinh thì muôn vật mới được sinh hóa, nói lên sự sinh sinh nối tiếp nhau không ngừng của đạo dịch.
Thử vẽ Bát quái:
1/ Thiên Bát quái: ( biểu đồ tiết khí)

Bốn mùa
Từ 4 mùa âm dương lại biến đổi thành 8 tiết khí dựa trên cơ sở 2 cụm tứ tượng, bắt đầu từ điểm cực âm. Theo lẽ tự nhiên, cực âm sẽ sinh dương, cụm tứ tượng bên trái sẽ được sinh dương, khi dương thịnh đến điểm cực dương cụm tứ tượng bên phải sẽ được sinh âm, từ đó có được hệ thống bát quái gắn liền với trời như thời tiết, gió mưa, là biểu đồ bát tiết.
Xem xét biểu đồ trên, có thể thấy các tiết khí chuyển biến theo hướng sinh, bắt đầu từ điểm cực âm theo chiều thuận kim đồng hồ: Bắt đầu từ thủy sinh mộc = đông sang xuân; mộc sinh hỏa = xuân sang hạ ; hỏa sinh thổ - vào trung tâm, thổ sinh kim = hạ sang thu; kim sinh thủy = thu sang đông. Hướng sinh trên thuận theo lẽ tự nhiên thành ra tám tiết khí:
![]() |
|
- Khôn : cực âm ( ) tiết đông chí - dương thủy- vị trí số 1
- Chấn : bắt đầu sinh dương ( ) tiết lập xuân - âm mộc- vi trí số 8
- Ly : âm tiêu dương trưởng ( ) tiết xuân phân - dương mộc - vị trí số 3
- Đòai : dương thịnh ( ) tiết lập hạ - âm hỏa - vị trí số 2
- Kiền : cực dương ( ) tiết hạ chí - dương hỏa - vị trí số 7
- Tốn : bắt đầu sinh âm ( ) tiết lập thu - âm kim - vị trí số 4
- Khảm : dương tiêu âm trưởng ( ) tiết thu phân-dương kim-vị trí số 9
- Cấn : âm thịnh ( ) tiết lập đông - âm thủy - vị trí số 6
Thứ tự của bát quái trên thuận theo hướng sinh là : Khôn, Chấn, Ly , Đòai , Kiền , Tốn , Khảm , Cấn, được hiểu như một hệ thống bát quái có tính chất gắn liền với trời như: thời tiết, khí tượng , gió mưa.... Hệ thống này được Trung Hoa gọi là Tiên Thiên Bát Quái. Tuy vậy , người Trung hoa không dùng Tiên thiên bát quái để giải thích thời tiết mà dùng để giải thích về địa lý, phương hướng như sau:
- Khôn : là đất nên ở phương Bắc, vì phương bắc giá lạnh nên thuộc thủy
- Chấn : ở Đông bắc vì gió từ Tây nam thổi qua đông bắc gây tiếng động, hoặc sáng (ly) tối (khảm) cọ sát nhau sinh ra sấm.
- Ly : là mặt trời nên ở phương đông,vì mặt trời mọc ở phương đông
- Đòai : ở Đông nam vì phía Đông nam Trung hoa nhiều đầm hồ
- Kiền : là trời nên ở phương nam, phương nam nóng thuộc hỏa
- Tốn : ở Tây nam là nơi nóng (nam) và lạnh (tây) xô xát sinh ra gió
- Khảm : là mặt trăng nên ở phương Tây, vì mặt trăng hiện ra ở phương tây
- Cấn : ở Tây bắc vì tây bắc Trung hoa có nhiều đồi núi.
2/ Địa bát quái: (biểu đồ địa lý phương hướng)
Về Địa bát quái, hiện nay chưa rõ được kết cấu như thế nào nhưng cũng xin đề xuất đồ hình để tham khảo

Ví dụ: Địa Bát Quái

Hậu Thiên bát quái
Địa Bát quái, được hiểu như hệ thống bát quái có tính chất gắn liền với trái đất như : địa lý, phương hướng , được sắp xếp một cách hợp lý như sau :
- Cấn , hành thổ mượn vị trí số 1, có ba hào : âm+âm+dương= dương thổ
- Chấn ở vị trí số 8 thuộc mộc, có ba hào : dương+dương+âm= dương mộc
- Tốn ở vị trí số 3 thuộc mộc, có ba hào : dương+dương+âm = âm mộc
- Ly ở vị trí số 2 thuộc hỏa, có ba hào : dương+âm=dương = âm hỏa
- Khôn hành thổ mượn vị trí số 7, có ba hào : âm+âm+âm = âm thổ
- Đòai ở vị trí số 4 thuộc kim, có ba hào : dương+dương+âm = âm kim
- Kiền ở vị trí số 9 thuộc kim, có ba hào : dương+dương+dương = dương kim
- Khảm ở vị trí số 6 thuộc thủy, có ba hào : dương+âm+dương = dương thủy
So sánh với Hậu thiên bát quái của Văn Vương:
- Cấn mượn vị trí số 8 thuôc thổ
- Chấn ở vị trí số 3 thuộc mộc
- Tốn ở vị trí số 2 thuộc hỏa
- Ly ở vị trí số 7 thuộc hỏa
- Khôn mượn vị trí số 4 thuộc thổ
- Đòai ở vị trí số 9 thuộc kim
- Kiền ở vị trí số 6 thuộc thủy
- Khảm ở vị trí số 1 thuộc thủy
Xét theo bát quái phong thủy thì Tốn phải thuộc mộc và Kiền phải thuộc kim, như vậy Hậu thiên bát quái xem ra có vấn đề. Hệ thống này chỉ đúng khi đứng ngòai Hà đồ, tuy nhiên âm dương ngũ hành khi tách rời nhau sẽ không còn ý nghĩa, do vậy suy cho cùng vẫn là sai. Một điểm sai nữa là người Trung hoa không dùng hệ thống bát quái này để giải thích về địa lý mà gọi đó là Bát tiết bát quái :
- Cấn: Tiết lập xuân,
- Chấn: Tiết xuân phân
- Tốn: Tiết lập hạ
- Ly: tiết hạ chí
- Khôn: tiết lập thu.
- Đòai: tiết thu phân
- Kiền: tiết lập đông
- Khảm: tiết đông chí
Có lẽ để thuyết minh cho vấn đề sai lệch về các hành của hệ thống này, thuyết quái truyện viết: “ Đế xuất hồ Chấn. Tề hồ Tốn. Tương kiến hồ Ly. Trí dịch hồ Khôn. Thuyết ngôn hồ Đòai. Chiến hồ Càn. Lao hồ Khảm. Thành ngôn hồ Cấn."
Thuyết quái truyện cũng có lời giải thích cho đọan văn khó hiểu trên: “Vạn vật xuất ở Chấn , Chấn thuộc phương đông. Gọn gàng ở Tốn, Tốn thuộc đông nam, gọn gàng là muốn nói muôn vật đều sạch sẽ. Ly là sáng, vạn vật cùng thấy nhau, là quẻ ở phương Nam, đấng thánh nhân quay về phương nam mà nghe thiên hạ, hướng vào nơi ánh sáng mà trị là tượng ở đấy. Khôn là đất, muôn vật đều được nuôi dưỡng ở đó, cho nên nói là làm việc ở Khôn. Đòai là chính thu, vạn vật đều vui vẻ, nên nói vui vẻ là nói ở Đòai. Đánh nhau ở Kiền, Kiền là quẻ ở tây bắc, đó là nói về âm dương xô xát vậy. Khảm là nước, là quẻ ở chính Bắc, là quẻ khó nhọc, muôn vật đều ở đó nên nói khó nhọc ở Khảm. Cấn là quẻ đông bắc, nơi muôn vật thành ở lúc cuối và lúc đầu, nên nói thành là nói Cấn”.
Lời giải thích trên khi đọc xong lại càng thấy khó hiểu, nên xin được đề xuất lời giải thích khác như sau:
- Đế xuất hồ Chấn: là mặt trời mọc ở phương đông.
Vấn đề chính là đây. Theo tôi, vị trí mặt trời mọc là vị trí bước qua số 1 của Hà Đồ, là qua cực Bắc đã sinh dương, về thời khắc thì vào giờ Dậu nên Chấn phải ở vị trí số 8 thuộc mộc. Đối với người tạo ra Hậu thiên bát quái thì Chấn phải ở vị trí số 3 thuộc mộc là nơi mặt trời ló dạng, về thời khắc thì vào giờ Mẹo.
- Tề hồ Tốn : do mang Chấn đặt vào vị trí số 3 , là chỗ của Tốn, nên phải sắp xếp lại vị trí của Tốn.
- Tương kiến hồ Ly : Tốn bị bỏ ra phải vào vị trí số 2 thuộc hỏa, là vị trí của Ly, nên nói là gặp nhau ở cung Ly.
- Trí dịch hồ Khôn : dể Ly có chỗ phải suy tính dời Khôn đi.
- Thuyết (duyệt) ngôn hồ Đòai : Khôn được dời vào vị trí số 4 thì Đòai phải vào vị trí của Càn ở số 9 thuộc kim, đến Đòai thì thuyết phục được.
- Chiến hồ Càn : tranh cãi ở Càn. Khi Đòai vào vị trí của Càn thì Càn phải dời vào chỗ của Khảm số 6 thuộc thủy mà Càn thì thuộc kim.
- Lao hồ Khảm : mặc dù Càn thuộc kim nhưng vì muốn thực hiện việc chỉnh sửa trên nên phải ép Càn vào ở vị trí của Khảm nên nói là lao hồ Khảm
- Thành ngôn hồ Cấn : đến cung Cấn thì kết luận, đã quyết định xong.
Đọan văn khó hiểu trên có lẽ ghi lại sự tranh cãi giữa Hoa tộc và người đại diện cho Hoa Hạ là Cộng công. Cộng công được biết như là một chức quan trông coi về khoa học kỹ thuật ở thời ấy. Theo ghi chép của Trung Hoa, giữa cháu nội Hòang đế là Chuyên Húc và Cộng Công vào thời ấy đã có sự bất đồng ý kiến về khoa học kỹ thuật qua truyện kể về Cộng Công húc đầu vào núi Bát Chu như sau:
Cộng Công là người có công lao rất lớn trong phát triển nông nghiệp của Trung hoa được dân chúng tôn là Thủy sư tức thần nước. Con của ông là Hậu thổ cũng có năng lực trong nghề nông được dân chúng tôn là Xã thần tức thần đất, là các thần quản về thủy lợi. Sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng tình hình đất ở 9 châu họ đã thống nhất là phải sửa bằng đất đai, tuy nhiên ý đồ này không được Chuyên Húc đồng ý. Cộng công vì giận mà húc đầu vào núi Bát Chu.
Bát Chu là núi Côn Lôn, ngọn núi có những quái thạch nhọn hoắt, cao chạm tầng mây. Sau cú húc mạnh của Cộng Công, quả núi này lập tức gảy gập ngay, đất đá lở xuống ầm ầm, cây cối ngã nghiêng, trời đất mù mịt, tưởng như xảy ra động đất, bầu trời nghiêng ngã. Thì ra theo lời đồn đại, núi này chính là cây cột chống trời, cột trời sụp thì dây chằng đất đứt rời từng khúc, do đó phía Đông nam sụp xuống lấp bằng chỗ trũng khiến cho sông ngòi đều theo dòng chảy về phía đông rồi đổ vào biển đông. Bầu trời khi đó nghiêng về phía Tây Bắc cho nên các vì tinh tú , mặt trời, mặt trăng ngày ngày đều mọc ở phía Đông và lặn ở phía Tây....
Phân tích câu truyện trên có thể suy ra : núi ( Cấn) Bát Chu sụp xuống làm dây chằng đất (Khôn) đứt rời, có nghĩa trục Khôn-Cấn trở lại là trục thẳng ; phía Đông nam (Tốn) sụp xuống , bầu trời nghiêng về phía Tây Bắc (Càn), có nghĩa là trục Tốn Càn trở lại là trục ngang, các vị trí đó là Càn-Khôn-Cấn-Tốn trong tư nam thời Xuân thu chiến quốc. Cuối cùng là mặt trời lại mọc ở phương Đông là vị trí số 8 trên Hà đồ.
Nhưng tại sao Cộng Công lại phải húc đầu vào núi Bát Chu?
Bởi vì núi là tượng Cấn. Liên Sơn Dịch của Hoa hạ lấy quẻ đầu là Cấn. Nói là Cộng Công húc đầu vào núi Bát Chu có nghĩa là muốn sửa bái quái của tộc Chu cho đúng với vị trí ban đầu. Sự bất đồng này có lẽ cũng nghiêm trọng, vì sau đó những người tộc Hạ sống trên đất Tề thường lo sợ về chuyện bị “trời sập”.
Tư Mã Thiên cho rằng Hậu Thiên bát quái là sản phẩm của Văn Vương có lẽ do trong các quẻ bói mà người Việt đang dùng có một số quẻ đã đề cập đến những vấn đề liên quan đếnVăn Vương như:
Quẻ “Vị thủy phong hiền” còn gọi là Sơn Lôi di :
Khương Tử Nha là bậc đại hiền.
Ngồi câu cá chờ thời bên bờ sông Vị thủy.
Vua Văn Vương nghe tiếng đích thân đến tận nơi thỉnh ra giúp nước.
Rước về tôn làm thường phụ.
Quẻ “ Phượng minh Kỳ sơn”- Thiên trạch lý :
Phượng hòang bất thần xuất hiện ở núi Kỳ sơn cất tiếng gáy.
Báo hiệu điềm lành.
Vua Văn Vương ra đời.
Tạo dựng một thời đại thái bình thạnh trị.
Quẻ “Trảm tướng phong thần” - Thủy trạch tiết :
Đời nhà Thương có vua trụ bạo ngược.
Khương Tử Nha vì đại nghĩa diệt được Trụ vương.
Muốn cho óan khí của quân thù tiêu tán để quốc thái dân an.
Nên đã lên “Vạn phong Sơn” cầu siêu, phong thần cho tướng sĩ tử trận.
Về nguồn gốc Kinh dịch, một số nhà nghiên cứu cho rằng Kinh dịch không thực sự là của Trung quốc. Ông Hondanariyouki nhận xét “ Ở Chu dịch, các từ thóan tượng đều lấy tên từ các lọai muông thú phương nam (chim hồng). Thêm vào đó, ở Chu dịch có “phi long”; “tiềm long” càng khiến cho người ta cảm thấy Chu dịch là trước tác của người nước Sở viết ra, và ra đời sau khi Trung quốc đã mở đường giao thông về phía nam Kinh Sở”.
Nói về các tộc người đã từng sinh sống trên đất Trung Hoa, Theo ##/img/www.uglychinese.org thì trên đất Trung Hoa thời xa xưa đã có họ Suiren (Tọai Nhân), sau đó họ You Chao (Hữu sào) đã thay thế họ Tọai nhân, tiếp nữa là họ Fuxi ( Phục Hy) và Nuwa (Nữ Oa) đã thay thế họ Hữu sào, sau cùng là họ Shennong (Thần nông) đã thay thế họ Phục Hy.
Theo truyền thuyết cũng như thuyết quái truyện của kinh dịch thì họ Tọai nhân đã phát minh ra “lửa” ; họ Phục Hy đã phát minh ra “cái lưới” và chữ viết dưới dạng “thắt nút kết thằng” (chữ Khoa Đẩu?) để ghi việc, đã biết trồng trọt chăn nuôi; họ Thần Nông phát minh ra “cái cày”, mở chợ lập làng, tìm ra cây thuốc. Đó chính là Tam Hòang. Ngòai ra không thấy đề cập đến Hữu Sào đã phát minh ra những gì.
Gần đây khảo cổ học đã khai quật được một dụng cụ làm ra lửa ở Chiết Giang có niên đại cách đây hơn 8000 năm, cho thấy rằng họ Tọai Nhân là người Hòa Bình ở di chỉ Hemudu ở bờ nam sông Trường Giang có lẽ đã di cư lên phía Bắc đến di chỉ Dawenkou ở Sơn Đông khỏang 4300 tr.cn khi vùng này bị ngập mặn do nước biển dâng. Họ Tọai Nhân đã bị họ Hữu Sào, tổ tiên của người Hàn Quốc đến thay thế vào khỏang 3898 tr.cn. Họ Hữu sào lại bị họ Fuxi, có lẽ là tổ tiên của tộc Khương cũng được gọi là Viêm Đế từ phía Tây đến thay thế. Khảo sát kỹ có thể thấy được ngòai họ Khương ra Tộc Khương còn có họ Phù, những cái tên có liên quan như Phù sai (Fu chai), Phù nam......v.v . Phục Hy và Nữ Oa được cho là hai anh em do đó có thể Tộc Khương sau khi đến Trung Hoa đã kết lại với nhóm tiền Đông Nam Á để phát triển nông nghiệp. Ở Việt Nam có câu ví: bà Nữ Oa bằng ba mẫu ruộng.
Ở Trung Hoa vào thời Phục Hy, người xưa có lẽ đã hiểu được qui luật âm dương và sự vận động của nó, đã thuận theo những qui luật ấy để phát triển nông nghiệp. Trong kinh dịch cũng có đề cập đến Phục Hy đã trông trời, trông đất, trông vạn vật mà vẽ quái, thời diểm này có thể là họ Phục Hy không chỉ vẽ quái mà ít nhất đã biết đến tứ tượng tức là bốn mùa để theo đó mà trồng trọt. Khi Thần Nông đến thì Phục Hy bị thay thế vì họ Thần Nông đã phát minh ra cái cày và phương thức tát nước vào ruộng để cải tiến và phát triển nền nông nghiệp của Phục Hy và Nữ Oa. Họ Thần Nông đã từng vượt biển nên ắt phải có kiến thức về thiên văn khí tượng và địa lý phương hướng, ắt họ phải là chủ nhân của Hà đồ.
Với các chi tiết đã trình bày trên, tôi cho rằng học thuyết Âm dương ngũ hành và thuyết Thiên Địa Nhân có nhiều hy vọng là của người tiền Việt nam. Nó được ra đời không nhằm mục đích chiêm bói mà trước tiên để tiên đóan thời tiết và xác định phương hướng nhằm phục vụ cho nghề đi biển và nghề nông , các vì sao được quan tâm trước tiên là sao Bắc Cực và sao Bắc đẩu.
“Bói diệc” là lọai sách bói được phổ biến trong dân gian tương tự như nông lịch đã được giải thích sẵn, ai xem cũng hiểu. Kinh dịch của người Trung quốc, được dựa vào quẻ bói diệc, được kết hợp với những ghi chép của các ẩn sĩ ở Giang nam thời ấy để sọan thảo ra dưới hình thức một lọai sách triết , trong bộ kinh dịch này yếu tố tương quan giữa con người với trời đất không được thể hiện đầy đủ như trong các sách bói cổ truyền người Việt thường sử dụng.
Một điều rõ ràng là việc sáng tạo ra học thuyết Âm dương Ngũ hành, Thiên Địa Nhân không phải từ trí tuệ của một người mà là trí tuệ của nhiều người được tích lũy từ thời đại này sang thời đại khác do đó trong những ghi chép của người xưa cũng không thấy khẳng định ai là chủ nhân của học thuyết này. Việc cho rằng 64 quẻ dịch là do Văn Vương sáng tạo ra và Khổng Tử biên sọan thực chất là một sự gán ghép có lựa chọn. Khổng Tử là một người đã từng nghiên cứu kinh dịch, những tài liệu ấy Khổng tử lấy từ đâu ra thì không nghe nói đến, chỉ biết rằng trước kia Khổng Tử chưa thực sự nghiên cứu bói dịch cho đến khi ông bói được quẻ “Lữ” và mời một người họ Thương Cù trong dân gian để giải quẻ cho ông. Thương Cù thị nói: “Tiểu hanh, cố bào thánh trí, nan đắc thánh vị” ý nghĩa là ôm ấp có hùng tâm xây dựng sửa sang đất nước nhưng không giành được quyền vị. Tức thì Khổng Tử rớt nước mắt, ngộ cảm thấy rằng đường đạo của mình khó được thi hành, từ đó mới bắt đầu nghiên cứu dịch. Tuy nhiên việc bắt đầu nghiên cứu dịch và việc hòan thành bộ Kinh dịch là hai việc hòan tòan khác nhau. Theo tôi, những phát minh ở đất Trung hoa đều đã có từ xa xưa nhưng việc người thời sau tiếp thu những tinh hoa của nền văn minh trước chỉ ở chừng mực nào đó. Ví dụ như lịch pháp nhà Hạ lấy tháng Dần làm tháng mở đầu cho một năm, khi nhà Ân Thương lên thay, lấy tháng Sửu làm tháng mở đầu cho một năm, đời Chu lấy tháng Tý làm tháng đầu năm, nhà Tần lấy tháng Hợi làm tháng đầu năm. Đến thời Hán các biến cố như nhật thực , nguyệt thực, hạn hán lũ lụt đều xảy ra khác với thời điểm được ghi trong lịch. Đúng vào lúc Tư mã Thiên đến Giang nam tìm sử liệu được một cụ già ở đất Thương ngô tặng cho bộ sách trúc giản vớt được trên sông Tương. Đó chính là bộ “nhật thư” bí truyền của người Hạ . Hán vũ đế đã theo lời tấu của Tư mã Thiên, truyền chiêu mộ ẩn sĩ ở miền Giang nam để điều chỉnh lịch theo phương pháp của nhà Hạ, sau khi hoàn thành đặt tên là lịch Thái sơ.
Để giải thích, Chu Hy viết: “Về cách tính thời gian nên theo nhà Hạ, nghĩa là nên lấy kiến Dần chi nguyệt làm tháng mở đầu cho bốn mùa. Hàng năm lấy thời kỳ vạn vật sinh sôi nảy nở phồn thịnh làm kỳ mở đầu cho bốn mùa. Cách tính của nhà Hạ giản tiện hơn cả vì thế nên theo… trời mở đầu cung Tý, đất mở đầu cung Sửu, người mở đầu cung Dần. Tam đại lần lượt thay đổi mà noi theo. Nhà Hạ coi cung Dần là nhân chính phù hợp với người nên lấy kiến dần chi nguyệt làm chính nguyệt. Nhà Ân coi cung Sửu là Địa chính phù hợp với đất nên lấy kiến Sửu chi nguyệt làm chính nguyệt. Nhà Chu coi cung Tý là Thiên chính phù hợp với trời nên lấy kiến Tý chi nguyệt làm chính nguyệt. Tính tháng năm dịnh bốn mùa cốt để cho dân tiện làm ăn sinh sống, tiện hoàn thành mọi việc. Vì vậy khi tính năm tháng, định bốn mùa nên lấy sự phù hợp với người làm đầu mối. Chính vì vậy mà nhà Hạ lấy kiến Dần chi nguyệt làm tháng mở đầu của một năm”
Ngoài ra không thấy Chu Hy giải thích vì sao nhà Tần lại lấy kiến Hợi chi nguyệt làm chính nguyệt.
Như vậy đã thấy rằng việc tiếp thu tinh hoa của tộc Hạ chỉ bắt đầu vào thời Hán.Thời điểm ấy tinh hoa của Trung hoa phát ra ào ạt nhờ vào chủ trương chiêu hiền đãi sĩ của Hán Cao tổ. Vào thời này, những nhân tài Việt trên đất Hoa ban đầu sống như những ẩn sĩ. Sĩ là một từ để chỉ tầng lớp tri thức ở Trung quốc. Ẩn sĩ là những người có tri thức, hoàn toàn vượt ra ngoài vòng chính trị, có thái độ bất hợp tác và phản kháng chính quyền đương thời, họ là những nhân sĩ tinh anh sáng tạo văn hóa, giáo hóa quần chúng. Thấy được tác dụng tiềm ẩn trong lớp nhân sĩ, Hán Cao tổ Lưu Bang khi lên ngôi được 11 năm đã có chiếu viết :
“Các bậc đế vương nổi tiếng chưa ai cao hơn Văn vương, những bậc bá chủ chưa ai cao hơn Tề Hoàn đều chiêu hiền đãi sĩ mà thành danh. Kẻ hiền gỉả, bậc trí nhân trong thiên hạ ngày nay có ai được như người xưa… nay ta lấy sự linh thiêng cùa trời đất, cùng với hiền sĩ đại phu trở thành người một nhà, định đọat thiên hạ. Muốn tông miếu tổ tiên trường tồn mà không bị diệt vong, hiền nhân đã cùng ta sao ta có thể hưởng lợi một mình. Hiền sĩ đại phu có khả năng làm việc cùng ta, ta có thể tôn hiển họ”.
Như vậy đã có một số người Việt vì muốn cho tông miếu tổ tiên được trường tồn, không bị diệt vong đã ở lại trên đất của ông cha mình nay gọi là nước Trung quốc. Một điểm đặc biệt là trong nhóm dân tộc thiểu số ở Trung hoa không có tên dân tộc Việt. Nếu ai đó hỏi rằng :
- Vậy thì dân tộc Việt đã biến đi đâu ?
- Họ không biến đi đâu cả, họ đã trở thành người Hán.
- Họ đã trở thành người Hán, như vậy có phải tinh hoa của dân tộc họ cũng đã trở thành tinh hoa của Trung quốc?
- Đúng vậy!
Nguồn: www.e-cadao.com
![]() |
| Ảnh minh họa |
![]() |
| Ảnh minh họa |
![]() |
![]()
|
| ► Lịch ngày tốt gửi tới bạn đọc công cụ xem bói tử vi để biết tính cách, số mệnh của mình |
| ► Xem bói 2016 để biết vận mệnh, công danh, tình duyên của bạn |
![]() |
| Người tuổi Dần dẫn đầu danh sách những con giáp có vận thế mạnh nhất tháng 10 |
![]() |
| Tuổi Mùi là đại diện đầu tiên của con giáp có vận thế kém nhất tháng 10 |
| ► Hướng dẫn tự xem chỉ tay để biết vận mệnh bản thân |
![]() |
| Ảnh minh họa |
![]() |
| Ảnh minh họa |
Tay đại gia khác gì tay người thường?
Hành: Hỏa
Loại: Phù Tinh, Hình Tinh
Đặc Tính: Lý luận, quan tụng, thông minh, sắc bén
Phụ tinh. Là sao thuộc vòng Lộc tồn - 17 sao là Lộc tồn, Kình dương, Đà la, Quốc ấn, Đường phù, Bác sĩ, Lực sĩ, Thanh long, Tiểu hao, Tướng quân, Tấu thư, Phi liêm, Hỷ thần, Bệnh phù, Đại hao, Phục binh, Quan phủ.
Sao Quan Phủ có ý nghĩa giống sao Quan Phù, tuy nhiên không hội chiếu với Thái Tuế. Chính vì điều này mà có thể phân biệt điểm khác biệt giữa Quan Phủ - Quan Phù.
Ngoài các ý nghĩa tương tự sao Quan Phù, sao Quan Phủ nếu đồng cung (hội chiếu) với Thái Tuế sẽ khiến việc khiếu kiện, việc công vô cùng trắc trở, đặc biệt là kiện tụng, đấu tranh pháp lý...
Quan Phủ Thái Tuế một cung
Đêm ngày chầu chực cửa công mỏi mòn
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thiên Nga (##)
1. Vệ sinh cửa ra vào
Cửa ra vào cần phải sạch sẽ, con người vốn đã không thích nhếch nhác, huống chi là Thần Nếu cửa ra vào nhà bạn bừa bộn lung tung, sẽ ảnh hưởng đến tài vận của những người trong gia đình. Vì vậy cửa ra vào luôn cần phải được vệ sinh sạch sẽ để không ảnh hưởng đến tài vận. 2. Không để cho tủ lạnh và các ngăn tủ đựng đồ trong nhà bếp trống không
Trong phong thủy, nhà bếp chính là tài kho, là “thủ trưởng” trong tài vận. Tủ lạnh và những tủ cất trữ thực phẩm khác trong nhà bếp, phải luôn luôn không được ở trong tình trạng trống không. Tốt nhất là luôn có hơn phân nửa đồ ăn và thực phẩm ở trong tủ, điều này sẽ khiến tài vận sẽ tụ.
Nhà bếp chính là tài kho trong tài vận. (Ảnh: Internet)
3. Vị trí sinh tài vượng hay còn gọi là “tài vị” phải sạch sẽ sáng sủa
Tài vị là vị trí thịnh nhất trong ngôi nhà và cũng là điểm giao thoa giữa 2 dòng khí: tinh khí hướng lên trên và địa khí hướng xuống dưới. Tài vị thường nằm trong phòng khách, điều kiện chủ yếu là yên tĩnh, ổn định và không được nằm ở vị trí động. Thông thường tài vị nằm ở góc đối diện với cửa vào phòng khách, bao gồm 3 vị trí sau: – Nếu cửa của ngôi nhà thiết kế ở bên trái, thì tài vị nằm ở góc đối diện bên phải của cửa phòng khách. – Nếu cửa ngôi nhà thiết kế ở bên phải thì tài vị nằm ở góc đối diện phía bên phải của cửa phòng khách. – Nếu cửa của ngôi nhà thiết kế ở giữa thì tài vị nằm ở góc đối diện 2 bên.
![]()
Nói chung việc tạo ánh sáng cho “vị trí sinh tài vượng” ở trong nhà rất quan trọng, vị trí này sạch sẽ sáng sủa sẽ làm cho nguồn tài cuồn cuộn chảy về; nên đặt một cây cảnh có lá to màu xanh, tràn đầy sức sống vào vị trí này, ví như là cây vạn niên thanh, cây phát tài, cây hoàng kim cát, v.v…, như vậy có thể tăng thêm sinh khí cho “vị trí tài vượng”, sẽ làm cho tài vượng tốt đến nhiều hơn.
4. Treo tranh chữ có ngụ ý cát tường 
Người hiện đại thường thích treo tranh chữ ở trong nhà với mục đích là để thưởng thức, trang trí cho ngôi nhà đẹp hơn. Từ góc độ phong thủy mà nói, ngụ ý của tranh chữ rất quan trọng, nếu những chữ này có ngụ ý cát tường, sẽ làm cho phong thủy của ngôi nhà như là thêu hoa trên gấm.
5. Dán chữ “Phúc” ở trên cửa Tài vận tốt một phần là do phúc khí, nếu không có nó thì thật khó nói là người có phúc. Vì vậy, hãy dán chữ “Phúc” ở trên cửa ra vào, ngụ ý là phúc đến vận đến, chiêu tài nạp phúc, có tác dụng tốt trong phong thủy. 
Lời kết: Từ xưa nay phong thủy luôn được coi là có thể ảnh hưởng đến tài vận, phúc khí của con người. Vậy nên, để tăng thêm tài vận cho bản thân và gia đình bạn, không nên ngại ngần sắp xếp lại ngôi nhà mình đang ở. Dọn dẹp, chỉnh chu lại chỗ ở trở nên sạch sẽ, thông thoáng hơn, điều này thật dễ dàng làm và có thể làm thường xuyên hằng ngày. Treo những bức tranh có ngụ ý tốt lành và những chữ như chữ “Phúc”, đây cũng là một việc làm tốt và có ý nghĩa cho ngôi nhà của bạn.
Cuối cùng, chính là thay đổi từ bản thân bạn. Nếu bạn cần cù chăm chỉ, làm việc chú tâm, trong cuộc sống cũng như công việc thì có thể thiện tâm mà sẵn sàng giúp đỡ mọi người xung quanh, như vậy điều mà bạn nhận lại được sẽ rất nhiều!
Theo Tinh Hoa
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thanh Vân (##)
a - Đứng đúng chỗ hay không? Miếu hay hãm địa?
b - Sinh ban ngày hay ban đêm?
c - Sinh vào thượng tuần, trung tuần hay hạ tuần trong tháng?
Thái âm đóng Hợi Tí Sửu tốt nhất; Thân Dậu Tuất thứ nhì; ở Dần Mão Thìn thì gọi là thất huy (mất vẻ sáng); ở Tỵ Ngọ Mùi là lạc hãm. Trong chỗ tốt nhất thì Hợi tốt hơn cả, cổ nhân đặt thành cách:”Nguyệt lãng thiên môn”
Sinh ban ngày hay ban đêm chia theo 2 nhóm giờ như sau:
1. Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi.
2. Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tí, Sửu.
Về thượng tuần hay hạ tuần thì từ 1 đến rằm là thượng tuần, từ 16 đến ba mươi là hạ tuần. Thượng tuần mặt trăng mỗi ngày mỗi tròn. Hạ tuần mặt trăng mỗi ngày mỗi khuyết. Tròn tốt, khuyết xấu. Người sinh hôm rằm trăng tròn tới cực điểm lại không đẹp bằng người sinh ngày 13, 14.
Về Thái âm trong những câu luận đáng có một câu đáng chú ý là: “Thái âm tại Mệnh Thân cung tuỳ nương cải giá” – nghĩa là bỏ chồng về nhà mẹ đẻ? Điều này không phải cứ Thái âm là áp dụng. Còn phải tuỳ Thái âm có rơi vào hãm địa không đã. Nếu Thái âm ở Tỵ, lại sinh vào hạ tuần mà sinh vào ban ngày nữa thì lời luận đoán trên rất đúng về cái việc “tuỳ nương cải giá”, còn thêm sát tinh phụ hội thì lại càng đúng hơn, nhất là Hoả Tinh.
Cổ nhân còn viết: “Thái âm thủ mệnh bất lợi cho những người thân thuộc về phái nữ, vào số trai mẹ mất sớm, về cuối đời goá vợ, xa chị em gái; vào số gái cũng thế, ngoài ra còn ảnh hưởng đến cả bản thân nữa”. Điều này cũng chỉ có thể áp dụng qua tình trạng Thái âm lạc hãm, sinh thượng tuần, hạ tuần và sinh ban ngày ban đêm.
Thái âm vào cung Thân, ảnh hưởng còn nghiêm trọng hơn so với Thái Âm đóng Mệnh. Với trường hợp Thái âm tại Tỵ mà gặp Thái Dương Thiên Lương ở Dậu, rồi bên cạnh Thái Âm còn gặp sát tinh hội tụ nữa, ảnh hưởng nặng nề hẳn.
Với thời đại ngày nay, chuyện “tuỳ nương cải giá” không như ngày xưa nên khi nói về hậu quả của sự việc ấy phải rộng rãi hơn. nhiều hướng và nhiều ý nghĩa khác nữa. Nguyên tắc của Tử vi sao hay có cặp đôi thấy Thái Âm thì trước tiên hãy xem thế đứng của Thái Dương.
Trong bản số chỉ có 2 cung Thái Dương Thái Âm đứng một chỗ là Sửu và Mùi. Nếu tốt cả hai cùng tốt, mà xấu thì cả hai cùng xấu. Các sao đi cặp, hễ các sao xung chiếu bị ảnh hưởng tốt xấu đều phản xạ qua sao bên kia.
Nhật Nguyệt ở Sửu Mùi thì ở Mùi tốt hơn ở Sửu. Tại sao? Vì Thái Dương ảnh hưởng mạnh hơn Thái âm mà Mùi cung thì Thái Dương không bị “thất huy” như ở Sửu mới có sức trợ giúp Thái âm. Cho nên Nhật Nguyệt ở Sửu, cuộc đời khó hiển đạt và lên xuống thất thường, còn Nhật Nguyệt ở Mùi thì an định hơn.
Nhật Nguyệt đồng cung mang nhiều khuyết điểm, vì cổ ca viết: Nhật Nguyệt thủ bất như chiếu hội, tịnh minh nghĩa là, Nhật Nguyệt đóng Mệnh không bằng chiếu Mệnh hoặc đứng hai chỗ cùng sáng như Thái Âm Hợi, Thái Dương Mão hoặc Thái Âm Tuất, Thái Dương Thìn.
Phú nói:
Nhật Nguyệt Mệnh Thân cư Sửu Mùi
Tam phương vô cát phản vi hung.
Vậy thì cách Nhật Nguyệt Sửu Mùi cần những sao tốt khác trợ lực mới đáng kể.
Thái âm gặp Cự Môn Hoá Kị bị nhiều phiền luỵ. Như trường hợp Mệnh VCD gặp Nhật đóng ở cung Thân, Nguyệt đóng ở cung Ngọ thì lúc ấy bên cạnh Nhật có Cự mà lại thêm Kị thì phá mất cái tốt của việc hợp chiếu. Thái Âm cũng không ưa Thiên Lương, trong trường hợp Thái Âm đóng ở Tỵ mà Dương Lương từ Dậu chiếu sang thường đưa đến tình trạng vợ chồng ly tán. Trường hợp Mệnh Cự Môn Thái Dương mà cung Phu thê có Đồng Âm gặp Hoá Kị duyên cũng khó bền.
Về Thái Âm cổ nhân còn tìm thấy cách “Minh châu xuất hải” (hòn ngọc sáng rực ngoài biển khơi). Cách này đòi hỏi Mệnh VCD tại Mùi, Thái Âm đóng Hợi, Thái Dương đóng Mão. Sách viết: “Nhật Mão Nguyệt Hợi Mệnh Mùi cung. Minh châu xuất hải vị tam công” (Thái Dương Mão, Thái Âm Mùi, Mệnh lập Mùi là cách minh châu xuất hải chức vị cao, quyền thế). Nhưng cách “Minh châu xuất hải” vẫn phải cần Tả Hữu đứng cùng Nhật Nguyệt mới toàn bích, thiếu Tả Hữu mà gặp thêm hung sát tinh thì chỉ bình thường.
Luận về Thái Dương Thái Âm còn phải chú ý đến các cách giáp mệnh. Như Thiên Phủ thủ Mệnh ở Sửu, Nguyệt tại Dần, Nhật tại Tí; Thiên Phủ Mùi, Nguyệt ở Thân, Nhật giáp từ cung Ngọ.
Rồi đến Nhật Nguyệt hiệp Mệnh như Tham Vũ ở Sửu và Mùi. Tham Vũ Sửu thì Thái Âm Tí, Thái Dương Dần. Tham Vũ Mùi thì Thái Âm Ngọ, Thái Dương Thân. Mệnh lập Sửu vẫn tốt hơn Mệnh lập Mùi. Hiệp với giáp vào cung vợ chồng không mấy tốt, nếu kèm theo hung sát tinh đưa đến tình trạng hôn nhân có biến.
Trường hợp Thiên Phủ ở cái thế kho lủng, kho rỗng, kho lộ mà giáp hiệp càng gây khó khăn hơn. Thái Âm là âm thủy chủ về điền sản, tiền bạc.
Thái Âm thủ Mệnh nữ hay nam đều có khuynh hướng về hưởng thụ. Công việc gì cần nhẫn nại gian khổ không thể giao cho người Thái Âm. Thái Âm vào nữ mạng sinh ban đêm là người đàn bà có nhan sắc, có cả Xương Khúc nữa càng mặn mà. Thái Âm trên khả năng thông tuệ nhưng lại thiếu nhẫn nại để mà học cao đến mức hiển đạt về học vấn.
Thái Âm hãm độc tọa thủ Mệnh vào nam mạng thì nội tâm đa nghi. Vì Thái Âm chủ về điền sản nên đắc địa vào cung điền trạch rất tốt. Thái Âm đắc địa thủ mệnh số trai dễ gần cận phái nữ không ồn ào mà âm thầm nhưng khi thành gia thất rồi, vợ nắm quyền.
Thái Âm nữ mạng đắc địa, đa tình lãng mạn, thiện lương nhưng thiếu chủ kiến, có tâm sự u uẩn phải bộc bạch ra mới yên, với bản chất qúy thủy (nước trong) nên bao giờ cũng thích làm dáng, ăn ngon mặc đẹp.
Thái Âm hãm thủ mệnh lại đứng cùng Văn Khúc hãm nữa chỉ thành tựu như một nghệ nhân tầm thường với cuộc sống phiêu bạt, kiếm chẳng đủ miệng ăn. Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư còn ghi một câu: Thái Âm cư Tí, thủy chừng quế ngạc, Bính Đinh nhân dạ sinh phú quí trung lương (Thái Âm đóng Tí như giọt sương mai đọng trên hoa quế, người tuổi Bính Đinh sinh vào ban đêm giàu sang, tâm địa trung lương vì tuổi Bính tuổi Đinh đều có gặp Lộc Quyền hay Lộc Tồn mà nên vậy)
Sau đây là những câu phú liên quan đến Thái Âm:
- Nguyệt diệu Thiên Lương nữ dâm bằng
(Thái Âm gặp Thiên Lương đàn bà đa dâm và nghèo. Câu này chỉ vào trường hợp Thái Âm ở Mão hay Tỵ, hội chiếu Thiên Lương từ Mùi hoặc Dậu, Thái Âm hãm mới kể)
- Nữ mệnh dung nhan mỹ tú, ái ngộ Nguyệt Lương
(Người đàn bà có nhan sắc là bởi Thái Âm Thiên Lương. Về nhan sắc thì Thái Âm hãm hay đắc địa như nhau, duy Thái Âm đắc địa dung nhan phúc hậu hơn)
- Nữ mệnh kị Nguyệt ngộ Đà
(Đàn bà rất kị Thái Âm gặp Đà La. Tại sao? Vì ưa loạn dâm. Thái Âm vốn dĩ đa tình lại có Đà La tượng trưng sinh thực khí của đàn bà tức kể như nữ tính quá phần mạnh mà loạn)
- Nguyệt tại Hợi cung minh châu xuất hải tu cần Quyền Kỵ Khúc Xương hạn đáo
(Nguyệt ở Hợi là cách minh châu xuất hải, để phấn phát còn cần gặp vận Khúc Xương Quyền Kỵ)
- Âm Dương lạc hãm tu cần không diệu tối kị sát tinh
(Âm Dương đứng không đúng chỗ cần gặp Tuần Triệt, Địa Không ngại gặp sát tinh hãm hại)
- Thái Âm Dương Đà tất chủ nhân ly tài tán.
(Sao Thái Âm gặp Kình Dương Đà La thì nhân ly tài tán. Đây là nói về Thái Âm hãm thôi)
- Âm Tang Hồng Nhẫn Kỵ Riêu, tân liên hàm tiếu, hạn phùng Xương Vũ dâm tứ xuân tình liên xuất phát. (Thái Âm có Hồng Loan, Kình Dương, Riêu Kỵ người đàn bà đẹp như đoá sen mới nở, nhưng hạn gặp Văn Xương, Văn Khúc tất sa ngã vì tình)
- Thanh kỳ Ngọc Thỏ tuy lạc hãm nhi bất bần
(Mệnh có sao Thái Âm dù không đắc địa, không bao giờ túng quẫn)
- Âm Dương lạc hãm gia Hình Kỵ Phu Thê ly biệt
(Cung phối Nhật hay Nguyệt hãm mà thêm Hình Kỵ vợ chồng không sống đời với nhau)
- Nguyệt phùng Đà Kị Hổ Tang, thân mẫu thần trái nan toàn thọ mệnh
(Thái Âm gặp Đà La, Hóa Kị, Tang Hổ thì mẹ mất sớm)
- Thái Âm đồng Văn Khúc ư Thê cung thiềm cung triết quế
(Thê cung có Thái Âm đứng cùng Văn Khúc như lên cung trăng bẻ cành quế, lấy vợ đẹp và giàu sang. Nếu là Phu cung thì không được như vậy, tuy vẫn gọi là tốt)
- Duyên lành phò mã ngôi cao
Thái Âm đắc địa đóng vào Thê cung
- Vợ giàu của cải vô ngần
Thái Âm phùng Khúc Lộc Ấn Mã đồng
- Âm Dương Tuần Triệt tại tiền
Mẹ cha định đã chơi tiên chưa nảo
(Phải Âm Dương đắc địa mới kể)
- Âm Dương hội chiếu Mệnh Quan
Quyền cao chức trọng mọi đàng hanh thông.
- Nguyệt miếu vượng trùng phùng Xương Khúc
Việt Khôi Hóa Quyền Lộc Đào Hồng
Thiên Hỉ Tả Hữu song song
Giàu sang hổ dễ ai hòng giám tranh
- Thái Âm lạc hãm phải lo
Kỵ lâm thường thấy tay vò đăm chiêu
- Nguyệt gặp Long Trì ở cùng
Tuy xấu nhưng cũng được phần ấm thân
- Thiên Cơ với Nguyệt cùng ngồi
Ở cung hãm địa ấy người dâm bôn
(Cơ và Thái Âm ở Dần, đẹp nhưng lãng mạn)
Về hai sao Thái Dương và Thái Âm còn có một luận đoán đáng kể mà không thấy ở các sách Tử Vi chính thống như sau:
Nam mạng Thái Âm thủ mệnh trên cử chỉ thái độ hao hao như nữ tử, trái lại nữ mạng Thái Dương thủ thì tính quyết liệt, động tĩnh nhiều nét nam tử
Nam mạng Thái Dương thường xung động Thái Âm ở cung đối chiếu thường có khuynh hướng tà dâm, đổi lại nữ mạng Thái Âm thủ xung động Thái Dương thường là thủy tính dương hoa (lẳng.lãng mạn) nhiều ít cũng còn phải tùy thuộc cung Phúc Đức. Nam mạng Thái Âm thủ ưa thân cận với nữ phái, ngược lại nữ mạng Thái Dương thủ thích giao du với nam phái.
Có tiền không phải việc gì cũng có thể làm nhưng không có tiền thì cái gì cũng không làm được. Đây là nhận thức hết sức rõ ràng của những người trưởng thành, vì vậy mà các cô gái đồng lòng hợp sức kháng nghị bạn trai, bạn đời nên đưa tiền cho mình quản lý. Phản ứng của 12 chòm sao nam khi bị quản tiền sẽ như thế nào đây?
![]() |
![]() |
![]() |
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Nếu ngón trỏ dài hơn ngón vô danh cho thấy người đó biết. chăm sóc gia đình, biết lo lắng cho anh chị em trong nhà, không vì lợi ích bản thân mà quên tình thân. Họ có thế xử lý công việc khôn khéo, không tự tư tự lợi.
Nhưng khuyết điểm chính là khi đối diện với người khác giới họ lại hiền như khúc gỗ, không lãng mạn, khiến cho người kia cảm thấy thất vọng. Nếu ngón vô danh dài hơn ngón trỏ cho thấy đây là người biết quan tâm chăm sóc nguời khác giới, còn đối với người nhà họ lại rất lạnh nhạt, không biết thể hiện tình cảm ấm áp. Hơn nữa do dễ tin người, cho nên họ dễ bị người lừa dối, tổn thất trong tạo dựng sự nghiệp hoặc tốn thất về mặt tài sản, phải cẩn thận đề phòng.

So sánh ngón tay và bàn tay
Ngón tay có thể cho thấy trạng thái tinh thần của một người thế nào, bàn tay có thế hiển thị những yêu cầu vật chất ra sao. Hai mặt này kết hợp với nhau mới có thể hình thành nên tướng cách bàn tay. Nếu ngón tay dài hơn bàn tay cho thấy tính cách quá hướng nội, hơn nữa còn quá xem trọng yêu cầu tinh thần. Người này muốn đi tìm tự do tâm linh, kiến thức văn hóa và đi sâu vào nghiên cứu một lĩnh vực nào đó, trở thành nghệ sỹ tinh anh được mọi người tôn trọng, quan hệ xã hội của họ cũng vì thế mà tốt hơn. Nếu phần bàn tay dài hơn ngón tay cho thấy tính cách hướng ngoại, xem trọng xã giao, tận tâm tận lực vì công việc, dũng cảm khắc phục mọi khó khăn cho tới khi giành được thành công. Khuyết điểm chính là không có người bên cạnh, quan hệ nhân thế lãnh đạm.
Tóm lại, nếu ngón tay dài hơn bàn tay cho thấy người đó rất nhạy cảm, rất thích suy xét vấn để, hơn nữa đối với mọi người cũng rất thân thiện, có nhân duyên nhất định. Người có bàn tay này có tham vọng rất lớn, nhưng đồng thời cũng thích câu nệ tiểu tiết, thiếu hành động quyết đoán. Nếu là ngón tay và bàn tay đều ngắn cho thấy tư duy cực kỳ lý tính, thực thế, không thích những chuyện không tưởng, chí vùi đầu vào thực tế, vì vậy mà có khả năng hành động nhất định. Khuyết điếm chính là không dễ chung sống hòa thuận, rất dễ đắc tội với người khác.
Các đường chỉ tay và tính cách
Khi xem tay, nghiên cứu chỉ tay cũng rất quan trọng. Chỉ tay có thể phản ánh được bản chất bất biến của con người. Chỉ tay có rất nhiều hình dạng khác nhau, được chia thành ba loại chính:
Chỉ tay hình lưu động: Chỉ tay hình này chiếm tỷ lệ lớn. Người này có tính thích nghi và tính điều hòa bản thân rất tốt, là người ôn hòa, có đặc tính đa dạng. Khuyết điểm chính của họ là mặc dù thông minh, có tài, nhưng lại khá lạnh nhạt, khả năng thực thi ý tưởng không cao.
Chỉ tay hình xoáy nước: Chỉ tay hình xoáy nước này tương đối nhỏ. Người có bàn tay này rất có cá tính nhưng lại là người khá ngoan cố. Họ thích làm việc theo cách của mình và luôn tỏ ra cố chấp, là kiểu người chú trọng tính sáng tạo, không thiên theo tình hình và biến đổi của môi trường xung quanh.
Chỉ tay hình núi: Chi tay kiểu này rất ít gặp. Đây là kiểu người hiện thực, chịu khó phấn đấu, có thể thể hiện được tài năng riêng của mình. Người có đường chỉ tay nhô lên ở chính giữa như hình núi còn theo chủ nghĩa lý tưởng.
Xông nhà 2016 gia chủ Đinh Tỵ nên chọn những tuổi nào thì hợp với mình và có lợi cho gia đình làm người xông đất đầu năm mới?
1. Xem tuổi xông nhà năm 2016 cần lưu ý các yếu tố âm dương ngũ hành của năm Bính Thân
Lịch âm được phân bổ theo vòng Thập Lục Hoa Giáp, mỗi giờ, mỗi ngày, mỗi tháng và mỗi năm đều thay đổi theo thứ tự 60 Can Chi trong vòng hoa giáp này. Năm 2016 là năm Bính Thân, mệnh Sơn Hạ Hỏa, tức Lửa Dưới Núi.
Năm Bính Thân: ngũ hành Hỏa
Khắc hàng Can: Nhâm Dần, Nhâm Thìn, Nhâm Tuất
Khắc hàng Chi: Giáp Dần
Năm Bính Thân 2016, các tuổi Nhâm Dần, Nhâm Thìn, Nhâm Tuất và Giáp Dần đều bị xung khắc với Thái Tuế nên khi chọn người xông nhà, gia chủ nên tránh những tuổi này.

2. Phân tích các yếu tố về âm dương ngũ hành của gia chủ Đinh Tỵ
Người tuổi Đinh Tỵ có mệnh là Sa trung thổ, nghĩa là Đất giữa cát, thuộc hành Thổ.
Đinh Tỵ khắc hàng Can, hàng Chi: Kỷ Hợi, Quý Hợi, Quý Mùi, Quý Sửu nên các tuổi này cũng không phải là những đối tượng thích hợp để lựa chọn người xông đất.
3. Xem tuổi xông đất tốt nhất cho gia chủ Đinh Tỵ
Khi xem tuổi xông nhà năm 2016, bước đầu tiên là cần chú ý tránh những vị khách có tuổi xung khắc với năm mới, nghĩa là:
Ngũ hành
Thiên can
Địa chi
Cả 3 yếu tố trên, tuổi của người khách không được xung khắc với Thái Tuế của năm 2016 là Bính Thân.
Tương tự đối với chủ nhà, 3 yếu tố trên của người khách cũng không được xung khắc với chủ nhà. Ít nhất các yếu tố trên phải Bình Hòa, tức là không hợp cũng như không xung khắc.
Tiếp theo là ưu tiên những người có nhiều yếu tố hợp nhất, như: tam hợp, lục hợp với tuổi chủ nhà, vận hạn năm nay tốt đẹp, có nhân cách tốt, tính tình vui vẻ hòa hiếu với mọi người.
Sau đây là 5 tuổi xông đất năm 2016 hợp nhất, đã được sắp xếp tốt nhất từ trên xuống thích hợp cho chủ nhà Đinh Tỵ
Hướng xuất hành và giờ hoàng đạo
Người Việt thường chọn ngày mùng một Tết đầu năm để đi xuất hành cầu may. Khi chuẩn bị đi, chọn giờ hoàng đạo phù hợp với khoảng thời gian dự kiến. Nếu cầu tài lộc thì chọn hướng của Tài Thần đang cư trú, nếu nhà năm nay có cưới xin thì chọn Hỷ Thần để cầu phúc cầu cầu may cho đám cưới sắp tới.
Xuất hành theo hướng:
Tây Nam (Tài thần), hoặc
Hướng Tây Bắc (Hỷ thần)
Cần tránh hướng Đông Nam (Hạc thần) vì vị thần này khá xấu.
Nếu bạn xuất hành vào ngày mùng 2 tết thì hướng Tây Nam sẽ cực tốt.
Xuất hành theo các giờ hoàng đạo:
Giờ Tý: từ 23h đến 1h
Giờ Sửu: từ 1h đến 3h
Giờ Thìn: từ 7h đến 9h
Giờ Tỵ: từ 9h đến 11h
Giờ Mùi: từ 13h đến 15h
Giờ Tuất: từ 19h đến 21h
Ngày tốt mở cửa hàng đầu năm Bính Thân 2016
Tuổi Đinh Tỵ nên mở cửa hàng đầu năm vào ngày: 06/01 âm lịch
Nếu trong thực tế bạn không tìm được những người thuộc 5 tuổi trên, có thể sử dụng tiện ích tra cứu trực tuyến của Tử Vi Số Mệnh, đã được sắp xếp các tuổi xông nhà, tuổi xông đất chi tiết theo ngày tháng năm sinh của gia chủ tại đây
Phụ Tinh. Thuộc bộ sao đôi Hỏa Tinh và Linh Tinh. Cũng là một trong 6 sao của bộ Lục Sát Tinh gồm các sao Kình Dương, Đà La, Địa Không, Địa Kiếp, Linh Tinh, Hỏa Tinh (gọi tắt là Kình Đà Không Kiếp Linh Hỏa).
Vị Trí Ở Các Cung
Phàm quẻ mệnh thuộc chấn, tốn, ly, khảm, hướng tốt của nó là: Đông, Đông Nam, Nam và Bắc. Hướng xấu là hướng Tây, Đông Bắc, Tây Nam và Tây Bắc.
Phàm quẻ mệnh thuộc càn, đoài, cấn, khôn, hướng tốt là: Tây, Đông Bắc, Tây Nam và Tây Bắc. Hướng xấu là: Đông, Đông Nam, Nam, Bắc.

Trong 4 sao tốt, tốt nhất là sao sinh khí, thứ hai là sao thiên y, thứ ba là sao diên niên và cuối cùng là sao phục vị.
Trong 4 sao xấu, xấu nhất là sao tuyệt mệnh, thứ hai là sao ngũ quỷ, thứ ba dến sao lục sát và cuối cùng đến sao hoạ hại. Mệnh quẻ của chủ hộ khác nhau, hướng phân bố 8 sao cũng khác nhau, dưới đây là sự phân bố 8 sao của 8 loại quẻ mệnh.
(1) Quẻ chấn – sinh khí ở hướng Nam, Thiên y hướng Bắc, Diên niên hướng Đông Nam, Phục vị ở hướng Đông; sao Tuyệt mệnh ở hướng Tây, Ngũ quỷ hướng Tây Bắc, lục sát hướng Đông Bắc, hoạ hại ở hướng Tây Nam.
(2) Quẻ tốn – sinh khí ở hướng Bắc, Thiên y hướng Nam, Diên niên hướng Đông, Phục vị ở hướng Đông Nam; sao Tuyệt mệnh ở hướng Đông Bắc, Ngủ quy hướng Tây Nam, Lục sát hướng tây, hoạ hại hướng Tây Bắc.
(3) Quẻ ly – sinh khí ở hướng Đông, Thiên y hướng Đông Nam, Diên niên hướng Bắc, Phục vị ở hướng Nam; sao Tuyệt mệnh ở hướng Tây Bắc, Ngủ quỷ hướng Tây, Lục sát hưởng Tây Nam, hoạ hại ở hưởng Đông Bắc.
(4) Quẻ khảm – sinh khí ở hướng Đông Nam, Thiên y hướng Đông, Diên niên hướng Nam, Phục vị ở hướng Bắc; Tuyệt mệnh ở hướng Tây Nam, Ngủ Quý hưởng Đông Bắc, Lục sát hướng Tây Bắc, hoạ hại ở hướng Tây.
(5) Quẻ càn – sinh khí ở hướng Tây, Thiên y hướng Tây Bắc, Diên niên hướng Tây Nam, Phục vị ở hướng Tây Bắc; Tuyệt mệnh ở hướng Nam, Ngũ quý hướng Đông Bắc, Lục sát hướng Bắc, hoạ hại ở hướng Đông Nam.
(6) Quẻ khôn – sinh khí ở hướng Đông Bắc, Thiên y hướng Tâv, Diên niên hướng Tây Bắc, phục vị ở hướng Tây Nam; Tuyệt mệnh ở hướng Bắc, Ngủ quy hướng Đồng Nam, Lục sát hướng Nam, hoạ hại hướng Đông.
(7) Quẻ đoài – sinh khí hướng Tây Bắc, Thiên y hướng Tây Nam, Diên niên hướng Đông Bắc, Phục vị hướng Tây; Sao tuyệt mệnh ở hướng Đông, Ngũ quỷ hướng Nam, Lục sát hướng Đông Nam, hoạ hại hướng Bắc.
(8) Quẻ cấn – sinh khí ở hướng Tây Nam, Thiên y hướng Tây Bắc, Diên niên hướng Tây, Phục vị hướng Đông Bắc; Sao Tuyệt mệnh ở hướng Đông Nam, Ngũ quỷ hướng Bắc, Lục sát hướng Đông, họa hại ở hướng Nam.
Phong thủy học rất chú trọng đến hướng của cửa chính, bếp lò, giường ngủ, phòng tắm, biết được vị trí của 4 sao tốt và 4 sao xấu trong gia trạch sẽ dễ dàng nhận biết được xấu tốt của phong thuỷ.
Năm mới 2016 của bạn như thế nào? Hãy xem ngay TỬ VI 2016 mới nhất nhé!
Những loài động vật xung quanh chúng ta đôi khi cũng báo cho chúng ta những điềm lành, dữ. cùng xem những điềm báo liên quan đến con vật dưới đây, có thể sẽ giúp cho bạn xoay chuyển tình thế tương lai hiệu quả đó.
Ngoài theo tử vi , xem tuổi tác tốt xấu, khắc hợp, kiêng kỵ hay xem bói người xưa còn lưu ý đến những dấu hiệu, những biểu tượng báo động, cho biết sắp xảy ra những việc hên xui, may rủi. Có thể bảo đó là những điềm lành hay dữ báo trước. Nếu con người biết được và lưu tâm sẽ tránh được bất lợi hay phát triển thêm những may mắn thuận lợi tốt lành.
Quả thật cho đến nay, chưa nhà nghiên cứu sưu tập nào có thể giải thích nguyên nhân sâu sa của những gì gọi là điềm, triệu báo trước sự rủi may xấu tốt ấy cũng như xuất sứ từ đâu và sự thật chính xác về tác dụng đến độ nào. Chỉ biết người Tây phương cũng như Đông Phương đều tin tưởng không nhiều thì ít về những điềm , triệu báo trước này. Điều đặc biệt là người Đông phương tin nhiều về sự kiện này nhưng họ hiếm ghi chép trong sách vở mà chỉ lưu truyền trong nhân gian từ ông bà tổ tiên đến cha mẹ con cái và đôi khi họ thuộc nằm lòng.
Bạn biết không, những thương gia người Hongkong trước khi lên máy bay người ta mang theo một con chim và thả ở sân bay, nếu con chim tung cánh bay vút đi thì họ cho đó là Điềm lành và sẽ lên máy bay và chuyến đi theo quan niệm của họ sẽ suôn sẻ may mắn và ngược lại thì họ sẽ hủy chuyến bay. Câu chuyện trên có thể xem như việc người ta nhìn vào trạng thái của một con vật để biết Điềm lành dữ vậy. Sau đây lịch vạn niên 365 xin chia sẻ những điềm lành dữ khác liên quan đến những con vật trong tự nhiên.
Một số điềm báo mang lại may mắn
1. Khi chó đến nhà
Khi ai đó mang đến cho bạn một con chó như một món quà, hay một con chó đi lạc đến nhà bạn, hãy chào mừng nó vào nhà vì đó là điềm rất tốt lành. Chó là biểu tượng thần Tài, tại nhiều Đình, cổng nhà người ta vẫn đặt tượng con chó. Một con chó vào nhà của bạn là một dấu hiệu rất thuận lợi, may mắn. Nó còn có nghĩa là bạn sẽ có thêm người bạn trung thành và chân thành đi vào cuộc sống của bạn, giúp bạn vượt qua những trở ngại trong cuộc sống. Con chó màu đen mang lại sự giàu có, bảo vệ; Con chó màu vàng mang lại sự thịnh vượng và hạnh phúc và con chó màu trắng mang lại tình yêu và lãng mạn.
2. Gặp Côn trùng nhỏ
Bao gồm các loài côn trùng và châu chấu. Nếu một châu chấu đã nhảy vào nhà của bạn, nó có nghĩa là một người khách quý sẽ tới thăm bạn. Nó cũng có thể là bạn sắp nhận được một niềm vui hay một sự vinh danh rất lớn. Còn nếu bắt gặp những con rùa nhỏ ở nhà, sân hay khu vườn thì bạn sẽ gặp may trong kinh doanh. Và nếu có những con ếch nhảy vào nhà của bạn thì đó là dấu hiệu tốt về tài chính, tiền sẽ đến với bạn.
3. Phân Chim rơi vào đầu
Mặc dù Điềm này là kinh khủng và bất tiện lớn, xảy ra với bạn Nhưng nhiều người tin rằng đây là một dấu hiệu chính của sự giàu có đến từ thiên đường. Vì vậy hãy thoải mái, và vui vẻ! Thực tế là hầu hết những thứ liên quan tới gia cầm đều có xu hướng mang lại vận may chính tắc. chẳng hạn như khi con chim bay về nhà của bạn và bắt đầu làm tổ trong, hoặc xung quanh ngôi nhà là điềm may, vận tốt. Dân gian có câu “Đất lành chim đậu”.
4. Tìm thấy tên bạn trên hình mạng Nhện
Đây được cho là một dấu hiệu cho thấy bạn sẽ gặp may mắn mãi mãi. Tất cả các kế hoạch của bạn sẽ phát triển thành công, có kết quả tốt và bất cứ điều gì trở ngại các dự án của có thể được ngăn chặn và sẽ được hoá giải. Cũng giống như nhện, bạn sẽ thu hút thức ăn và tiền bạc mà không phải cố gắng nhiều.
5. Khi gặp Rắn
Là một dấu hiệu của may mắn! Nếu bạn gặp rắn trong khu vườn, bên trong nhà hoặc ngoài đường nó có nghĩa là sẽ có một điều gì đó hoặc ai đó quan trọng sẽ đi vào cuộc sống của bạn (hay gọi là có Quý nhân giúp đỡ). Đừng bao giờ cố gắng để gây tổn hại hoặc giết một con rắn khi phải đối mặt với nó. Những con rắn càng độc thì càng may mắn. Các vua rắn hổ mang được mô tả là một con rắn của sự may mắn tột bậc. Rắn ffon được gọi là Thần Naga Dù bạn làm gì, không bao giờ được giết một con rắn vì nó có liên kết tới một số mặt tinh thần. Nó sẽ không tấn công bạn và thường tự ra đi dù bạn không sua đuổi hay định bắt nó.
6. Bướm bay vào nhà
Điều này thường được giải thích là bạn sắp nhận được một số khách hàng quan trọng. Nếu con bướm có màu sắc tươi sáng, có nghĩa là người đó sẽ mang lại tin tốt liên quan đến tình yêu của bạn. Nếu con bướm là màu xám - gần như đen - người đó sẽ mang lại cho bạn tin tốt liên quan đến nghề nghiệp hoặc công việc kinh doanh. Đừng bao giờ xua đuổi con bướm ra khỏi nhà của bạn. Vì nó hầu như luôn luôn mang lại tin tốt lành. Cũng đừng cố gắng bắt, hay giết chết một con bướm, vì có thể làm suy giảm may mắn của bạn.
>>> Năm mới 2016 AI xông đất nhà bạn? Sẽ mang lại nhiều may mắn tài lộc?
Xem ngay XEM TUỔI XÔNG ĐẤT 2016 mới nhất>>>
7. Gặp Bò trên đường
Đây được cho là một dấu hiệu tốt lành, vì theo quan niệm con bò là một biểu tượng của sự thịnh vượng và khả năng sinh sản. Tất nhiên đây không phải là một cái gì đó có khả năng xảy ra ở các thành phố lớn, ngoại trừ ở Ấn Độ, nơi con bò rất được tôn trọng nên nó được phép tự do đi lang thang trên những con đường hay xa lộ và lái xe phải nhường đường cho chúng theo quy định của pháp luật. Nhưng nếu có một ngày nào đó, bạn đi dã ngoại tại vùng ngoại ô và được gặp chúng. Thì đó cũng chính là dấu hiệu vui vẻ, may mắn sắp tới với bạn !
8. Dơi làm tổ trong nhà
Đây là một trong những dấu hiệu mạnh mẽ nhất rằng gia đình sẽ gặp những may mắn trong tiền bạc, tài chính. Con dơi với người Trung Quốc như là biểu tượng của sự giàu có dồi dào. Chúng ta thường thấy các mô hình tròn năm con dơi (Ngũ Phúc) là một tính năng thiết kế rất phổ biến được tìm thấy trên đồ nội thất, tranh vẽ, gốm sứ (hình trên) . Thực tế Dơi chỉ làm tổ ở những nơi tốt lành nhất, bởi người ta cho rằng cảm nhận của Dơi rất nhạy bén, nó có thể "ngửi" phát hiện ra nơi có Khí tốt lành. Nếu các con dơi bay đến và làm tổ dưới mái hiên nhà bạn, thì điều này báo hiệu một sinh khí tốt cho ngôi nhà và sự may mắn sắp tới với bạn.
Một số điềm báo xấu
Chim chóc: Khi có tiếng cú kêu gần nhà người bị bệnh nặng thì cái chết đã gần kề. Nếu một bé gái nghe tiếng cú kêu thì bé phải ở nhà đừng đi đâu vì rất nguy hiểm.
Nếu chim bồ câu trắng bay liệng gần nhà bạn hay gần người nào đó thì là điềm lành được báo hiệu. Nhưng bỗng nhiên có một con bồ câu trắng lạc lối đi thẳng vào trong nhà bạn thì đó là điềm gở , xấu.
Khi bạn đi lấy bất cứ tổ chim nào tức là bạn đã chuốc lấy điều đau khổ. Sự kiện bất lợi này sẽ đến sau đó nhanh lắm. Bắn hay làm bị thương một con chim bồ câu thì sự buồn rầu sẽ đến ngay. Những người đi biển nếu thấy chim Mòng biển bay đậu trên đầu họ là điềm xui. Con chim xanh xuất hiện là điềm báo tin vui may mắn. Bỗng nhiên từ đâu một con chim bay đến đụng vào cửa là điềm xấu. Nếu nó chỉ vỗ cánh bay lượn không thôi trước cửa và như cố ý muốn vào nhà thì đó là điềm nguy hiểm gần kề.
Nếu có bầy chim bay đến cắn mổ nhau loạn xạ là điềm có tranh cãi trong nhà.
Mèo: Ngược lại với loài chó, mèo lại là loài động vật thường mang đến xui xẻo cho gia chủ trong đường tình duyên. Nếu chẳng may, có một chú mèo đen không biết từ đâu chạy vào nhà bạn, hãy cẩn thận nếu không có thể dẫn đến việc cơm không lành mà canh chẳng ngọt với vợ chồng/người yêu... Nếu rơi vào trường hợp này, bạn hãy chú ý đề phòng, cẩn trọng khi giao tiếp, tiếp xúc hoặc nói chuyện để giảm bớt rủi ro gặp phải. Ngoài ra, bạn cũng nên dành nhiều thời gian và tình cảm hơn cho người mình yêu.
Chuột: Theo quan niệm của người xưa, cứ chuột vào nhà, bất kể ban đêm hay ban ngày đều mang lại những điều không may mắn cho gia chủ bởi chuột là kẻ thông minh, lém lỉnh nhưng lại hay ăn vụng và lại rất tham ăn. Nếu thấy một con chuột từ đâu chạy vào trong nhà, ban ngày thì sẽ mang lại điềm xấu về tiền bạc cho gia chủ, ban đêm thì tài sản sẽ bị hao tổn. Vì vậy, hễ cứ thấy chuột vào nhà phải tăng thêm phòng bị cho tiền của và tài sản của mình, đề phòng mất cắp, đánh mất, bị lừa đảo...
Quạ: Tổn thương tình cảm, tổn hao tiền bạc, theo quan niệm của người xưa, quạ là biểu tượng của sự chết chóc, xui xẻo, vì thế mà quạ cứ tới đâu là bị xua đuổi tới đó. Nếu không may quạ có bay vào nhà bạn, có nghĩa là bạn phải đề phòng về chuyện tình cảm, tiền bạc, tránh bị tổn hao.
Gà: Nhà nuôi gà và tự nhiên có gà mái gáy sáng chiều là triệu chứng gia đạo xáo động.
Chó: Nếu tự nhiên con chó trong nhà đứng ngay giữa nhà tru lên từng hồi là điềm rất xấu.
>> Đã có VẬN HẠN 2016 mới nhất. Hãy xem ngay, trong năm 2016 vận mệnh bạn như thế nào nhé! >>
Vì thế, có những khi cầm 1 lá số trông thật tệ nhưng chủ nhân của nó lại không phải như vậy, cho nên, các nhà bói toán buộc lòng phải thực hiện công thức Lá số + Tâm lý mà luận giải theo thực tế.
Tử Vi có Khái niệm về Độ Số, nhưng với những ai đã từng tìm hiểu Tử Vi đều có thể nhận thấy rằng Độ Số ấy mang nhiều cảm tính hơn là lập luận. Vì sao như vậy ? Do Tử Vi không có lý luận cơ sở , và những gì Tử Vi có sử dụng đến Ngũ Hành & Âm Dương để lý giải Độ Số hãy còn sơ khai và giản đơn. Chính vì vậy, Tử Vi là một môn học dự đoán không có cơ sở lý thuyết.
Tôi đã trình bày cơ sở lý luận của Chu Dịch Dự Đoán Học. Để tạo lập phương pháp dự đoán Tứ Trụ, tôi đã lấy cơ sở lập luận và lý thuyết bên Đông Y. Vì thế, Tứ Trụ & Chu Dịch Dự Đoán Học là hai môn học dự đoán có cơ sở lý thuyết.
Thực tế dự đoán, tôi thường phối hợp Chu Dịch Dự Đoán với Tứ Trụ do chúng có những điểm bổ sung cho nhau. Tương tự Chu Dịch Dự Đoán Học, khả năng ứng dụng của Tứ Trụ không dừng lại ở dự đoán số phận. Ở phần tiếp theo, tôi sẽ nói thêm về một biến thể của Tứ Trụ _ Môn học Bấm Độn.
Dương Kiện Toàn
Hoàng: Ra ngoài gặp quý nhân phù trợ, danh lợi vẹn toàn, tiền đồ rộng mở, có số xuất ngoại, trung niên thành công.
Hoạt: Phúc lộc song toàn, cả đời hưởng phúc, trung niên an nhàn, hưng vượng.
Học: Đa tài, có năng lực, trung niên vất vả, cuối đời nhàn hạ.
![]() |
| Tên chữ H |
Hợi: Thanh tú, lanh lợi, ra ngoài dễ gặp phúc, được tài, trung niên vất vả, cuối đời phát tài, phát lộc, gia cảnh tốt.
Hôn: Nên kết hôn và sinh con muộn, trung niên sống bình dị, cuối đời hưng vượng.
Hồng: Phúc lộc song toàn, có 2 con sẽ cát tường, hưng vượng, trung niên vất vả.
Hủ: Có tài, khó gặp tri kỷ, trung niên có thể gặp tai ương, cuối đời yên ổn.
Hứa: Cuộc đời thanh nhàn, bình dị, đa tài, trung niên bôn ba, cuối đời phát tài, phát lộc.
Huân: Khắc cha mẹ, cuộc đời thanh nhàn, phúc lộc song hành.
Huệ: Thanh tú, lanh lợi, công danh vẹn toàn, con cháu hưng vượng, đôi khi sầu muộn.
Hưng: Anh minh, đa tài, trung niên cát tường, cẩn thận đường tình duyên, cuối đời hưng vượng.
Hùng: Hiểu biết sâu rộng, trí dũng song toàn, trung niên cát tường, cuối đời phú quý.
Huống: Bôn ba vất vả, lắm bệnh, đoản thọ, trung niên gặp nhiều tai ương, cuối đời hưởng phúc từ con cháu.
Hương: Hay ưu tư, trung niên vất vả, cuối đời cát tường.
Hưởng: Con cháu hưng vượng, đa tài, nhanh trí, trung niên thành đạt, cuối đời vất vả.
Hựu: Có số làm quan, cả đời phúc lộc song toàn, vinh hoa phú quý.
Hữu: Công chính, liêm minh hay giúp đỡ mọi người, gia cảnh tốt, hướng theo nghề xây dựng sẽ dễ thành công, danh lợi song toàn.
Huy: Đa tài, đức hạnh, ôn hòa, cần kiệm, trung niên thành đạt, có số xuất ngoại, danh lợi song toàn, phú quý cát tường.
Huyền: Thanh nhàn, cần kiệm, công danh thành đạt, sống hưng vượng, phú quý.
Huyện: Toàn tài, quan lộ rộng, thành công, hưng vượng.
Huỳnh: Bản tính thông minh, cần kiệm, lương thiện, cả đời cát tường.
Hy: Đa tài, lanh lợi song không gặp vận, trung niên có thể gặp tai họa, nên kết hôn muộn, cuối đời cát tường.
Theo Tên hay thời vận tốt
|
![]() |
| Màu xanh lá biểu thị đường đi của mặt trời, tạo nên cung hoàng đạo. |
![]() |
| Biểu tượng 12 cung hoàng đạo quen thuộc theo chiêm tinh học phương Tây. |
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
| ► Tra cứu: Lịch âm, Lịch vạn niên chuẩn xác tại Lichngaytot.com |
1. Sắp xếp vị trí tủ lạnh hợp với phong thủy
Theo phong thủy, cách bài trí tủ lạnh tốt nhất chính là trong nhà bếp, giúp dung hòa hai mệnh là Kim (mệnh của tủ lạnh) và mệnh Hỏa (tượng trưng cho nhà bếp). Tuy nhiên, tủ lạnh cũng cần tránh xa bếp lửa, vì hỏa từ bếp phát ra sẽ kị với mệnh của tủ lạnh, khiến không khí gia đình căng thẳng, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn.
Tránh đặt tủ lạnh trong phòng ngủ, vì nó có thể ảnh hưởng đến sức khỏe, tính cách thay đổi thất thường, tư duy tiêu cực và có những hành động không kiểm soát, khó hiểu.
Kê tủ lạnh hợp phong thủy sẽ giúp gia chủ thêm thịnh vượng.
Không nên đặt tủ lạnh đối diện với cửa bếp bởi những luồng khí ra vào sẽ đụng độ nhau, ảnh hưởng đến sự giàu sang, thậm chí là làm ăn thất bát.
Người mệnh Thủy, muốn công việc thuận lợi nên đặt tủ lạnh trong văn phòng làm việc. Muốn sự nghiệp thăng tiến và tài lộc hanh thông, trong tủ lạnh nên chứa nhiều nước đá, nước, bia.
Còn những người mệnh Mộc, không nên kê tủ lạnh ở gần mà nên kê ở chỗ khuất trong nhà.
2. Màu sắc của tủ lạnh cũng quyết định tài khí của gia chủ
Lựa chọn màu tủ lạnh cũng rất quan trọng mà ít khi các gia đình để ý. Màu tủ lạnh phù hợp sẽ tránh xung khắc với người mệnh Kim, và cũng có tác dụng hỗ trợ họ.
Màu sắc tủ lạnh hợp với gia chủ để thêm vận may.
Những người hợp với mệnh Kim nên chọn màu trắng, vàng, nâu để thêm vận may. Còn những người kị mệnh Kim, nên chọn tủ lạnh có màu đỏ, xanh lá cây, tím.
3. Không để bất cứ đồ vật gì lên nóc tủ lạnh
Nhiều gia đình đã vô tư để các thiết bị điện từ (máy xay sinh tố, lò vi sóng…) hoặc những đồ vật khác lên nóc tủ lạnh nhằm tận dụng tối đa không gian. Tuy nhiên, đây là cách làm sai lầm khiến cho tài vượng của gia đình giảm sút.
Không để bất cứ vật gì lên nóc tụ lạnh để giúp tụ tài.
4. Nhìn bên trong tủ lạnh đoán biết tài lộc của gia đình
Phong thủy gọi tủ lạnh là tài khố (tức là kho của). Số lượng đồ ăn, thức uống được lưu trữ trong tủ lạnh sẽ đánh giá tài lộc của gia đình bạn đến đâu. Do đó, chúng ta nên thường xuyên để thức ăn đầy trong tủ lạnh. Bởi thức ăn nhiều sẽ cho gia chủ biết cuộc sống đủ đầy, không cần phải lo lắng về cơm ăn áo mặc.
Đồ ăn chất đầy trong tủ lạnh là biểu hiện của sự đủ đầy.
Ngược lại, tủ lạnh “nghèo nàn” thức ăn, nhiều chỗ trống là biểu hiện của hao hụt về mặt tài chính, gia đình đang gặp khó khăn.
5. Thường xuyên vệ sinh sạch sẽ cho tủ lạnh
Nhìn từ góc độ phong thủy, tủ lạnh có liên quan mật thiết đến sự giàu sang của gia chủ. Vì vậy, việc loại bỏ thức ăn ôi thiu, lau chùi sạch sẽ cho tủ lạnh là đánh dấu sự khởi sắc, tài lộc sinh sôi của gia đình.
Theo Hạ Vũ
Chắc hẳn chẳng ai trong số chúng ta không tò mò muốn biết về vận thế tài lộc của bản thân mình. Bạn có biết trong nhân tướng học chỉ xem tướng tay chân thôi là cũng có thể biết được điều đó không?
“Tương lai sau này giàu sang hay nghèo khổ, mình có đủ tiền tiêu không?” Có lẽ chúng ta đều ít nhất một lần tự hỏi điều này. Bạn muốn biết mình có số tỉ phú không ư? Có một cách rất đơn giản để biết được, đó chính là xem tướng tay chân.
Thực ra, khi xem tướng một người, để biết người đó mệnh giàu sang hay nghèo khổ, việc quan trọng nhất chính là xem tướng tay và tướng chân của người đó. Trong nhân tướng học, chân và tay là nơi thể hiện tài lộc có tích tụ được hay không, người đó sẽ thành công hay thất bại, đường công danh sự nghiệp gặp nhiều trắc trở hay thuận buồm xuôi gió.
Bạn đã biết tướng tay chân của người may mắn tốt số nhiều tài lộc thì như thế nào chưa? Vận mệnh giàu sang được thể hiện qua những điểm nào? Hôm nay, Lịch ngày tốt sẽ tiết lộ bí mật này nhé.
Xem tướng số, lòng bàn tay dày dặn thể hiện người có phúc khí rất lớn. Người này tư duy nhạy bén, đầu óc thông minh, khả năng kiếm tiền phải nói là số một. Đôi bàn tay dày, hồng hào cũng tượng trưng cho ngân khố luôn đầy ắp, tài lộc vào tay thì không bị hư hao mà còn ngày càng nhiều thêm gấp bội.
![]() |
Những người có tướng bàn tay dày dặn biết cách vận dụng đầu óc tư duy logic, nắm bắt mọi cơ hội đến với mình để kiếm tiền với mức lợi nhuận cao nhất. Ngoài khả năng kinh doanh thì tài đầu tư của họ cũng được nhiều người nể phục, họ có thể khiến cho tiền bạc sinh sôi nảy nở với tốc độ chóng mặt.
Tướng quý nhân thể hiện qua nhiều nét, trong đó có đôi bàn tay hồng hào, khỏe mạnh. Những người sở hữu đôi tay này trời sinh có quý tướng, có duyên phận đậm sâu với tiền tài. Dù chuyện có khó khăn đến đâu, vào tay họ cũng nhẹ tựa lông hồng, chỉ cần nâng tay chỉ ngón là dễ dàng có được thành công.
Bạn biết cách Dự đoán tương lai sướng khổ giàu nghèo qua đường vân cổ taychưa?
![]() |
Nhân tướng học cho rằng, người có đôi bàn tay hồng hào đường tài lộc vô cùng thuận lợi, sự nghiệp thăng tiến không ngừng, cả đời không lúc nào phải lo lắng không có tiền tiêu. Đặc biệt, nếu xòe bàn tay ra mà lòng bàn tay lõm xuống rõ ràng ở chính giữa thì càng là tướng đại phú đại quý, tiền bạc vào nhà nhiều không kể xiết, tiền vào như nước mà tiền ra nhỏ giọt.
Người xưa truyền rằng, ai mà chân dẫm tinh tú thì nắm trong tay thiên binh vạn mã. Tinh tú ở đây kì thực chính là nốt ruồi nằm dưới lòng bàn chân. Tương truyền, người “Nhất túc đạp thất tinh” hay “Chân đạp thất tinh” là mang tướng đế vương, thất tinh chính là 7 nốt ruồi mọc trong lòng bàn chân đó.
![]() |
Nhân tướng học cho rằng, khi xem tướng tay chân, ai có nốt ruồi nơi lòng bàn chân thì có nhiều quyền lực. Học vấn uyên thâm, tài hoa xuất chúng không có gì khó hiểu khi một người có tài lãnh đạo lại dễ dàng thành công. Con đường công danh sự nghiệp của người này như được trải hoa hồng, mặt trời soi bóng, thắng lợi không ngừng, có sức hút thần kì, cả đời phú quý hơn người.
Mời bạn đọc thêm: Giải mã vận trình qua nốt ruồi ở bàn chân.
Xem tướng bàn chân, nếu có nhiều đường vân thì là tướng đại phú đại quý. Người có đường vân lòng bàn chân nhiều mà lòng bàn chân còn lõm sâu thì là tướng chân trời sinh có lộc tụ tài. Tài năng xuất chúng, lại có sức thuyết phục với mọi người, người này từ nhỏ đã bắt đầu bộc lộ bản lĩnh kiếm tiền hơn người.
![]() |
Có thể nói, từ nhỏ đến lớn, họ luôn sống trong cảnh giàu sang, không lúc nào lo thiếu tiền tiêu. Tuổi càng nhiều thì tài lộc tích tụ càng lớn, về già hưởng phúc an nhàn. Càng già càng giàu, hậu vận vượng phát chính là nói về người có tướng chân này.
An An
bạch hổ (Kim) tang môn (Mộc)
***
1. Ý nghĩa cơ thể:
2. Ý nghĩa bệnh lý:
3. Ý nghĩa tính tình:
a. Những ý nghĩa tốt của Tang Hổ đắc địa:
b. Những ý nghĩa xấu của Tang Hổ hãm địa:
4. Ý nghĩa công danh, tài lộc, phúc thọ:
5. Ý nghĩa của tang hổ và một số sao khác:
a. Những cách tốt:
- Hổ Phi đồng cung (gọi là hổ mọc cánh): vui vẻ, nhanh nhẹn, tháo vác, cũng lợi ích cho việc thi cử, cầu danh, đạt quyền chức, may mắn nói chung.
- Hổ, Cái, Long, Phượng (Tứ Linh): cũng rất hiển đạt về uy danh, sự nghiệp, uy tín, khoa giáp.
- Hổ Kình hay Hổ Hình đồng cung hay hợp chiếu: người có chí khí hiên ngang, có mưu lược, có tài quyền biến, rất đắc lợi về võ nghiệp và văn nghiệp.
- Hổ ở Dần (hổ cư hổ vị): ví như cọp ở rừng núi, có thể vùng vẫy tung hoành như ý muốn. Có nghĩa như gặp được thời, gặp vận hội may mắn, có thể phát huy tài năng, đạt chức quyền cao. Vị trí này rất hợp với hai tuổi Giáp và Kỷ, thường lỗi lạc về võ nghiệp, lưu danh hậu thế. Rất độc với tuổi Bính, Mậu.
b. Những cách xấu:
- Tang, Hổ, Điếu, Binh (Tứ Hung): rất độc, báo hiệu cho tang tóc, tai nạn chết người, họa lớn. Nếu có Thiên Đồng thì hóa giải được.
- Tang Hổ gặp Lưu Tang, Lưu Hổ: tang tóc liên tiếp, ưu phiền rất nặng, tai họa khủng khiếp.
8. Ý nghĩa của tang hổ ở các cung:
a. ở Phu Thê:
b. ở Bào:
c. ở Tử:
d. ở Điền:
e. ở Tật:
f. ở Phúc:
g. ở Hạn:
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thiên Nga (##)
![]() |
Hướng bếp hợp người sinh năm 1973:

| ► Xem thêm: Những câu nói hay về triết lý nhân sinh cuộc đời đáng suy ngẫm |
![]() |
![]() |