7 dáng ngồi tố cáo tính cách
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
Hạnh Yunnie (theo Meigou)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Ngọc Sương (##)
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
Hạnh Yunnie (theo Meigou)
![]() |
![]() |
| ► Xem thêm: Bí mật 12 cung hoàng đạo cùng những tin tức Horoscope được cập nhật mới nhất |
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Hiện nay, tại các thành phố lớn, việc mua phải ngôi nhà có hướng không hợp tuổi với gia chủ là điều rất dễ gặp và hầu hết mọi người đều tìm đến gương bát quái để giúp xua tan đi nỗi lo không hợp hướng nhà. Tuy vậy, có rất nhiều hộ gia đình đã phạm vào những lỗi lớn trong việc sử dụng gương bát quái mà không hề hay biết.
Gương bát quái có rất nhiều loại. Phổ biến nhất là gương bát quái lồi có một đường cong hướng ra ngoài cạnh của nó, giúp phản xạ và làm đổi hướng những sát khí có hại. Gương lồi có hình dáng giống như mai rùa, có hình cầu lồi lên, là một công cụ giúp hóa giải sát khí. Khi nhà bị các vật thể mang sát khí xung chiếu, gương lồi sẽ phát huy tác dụng hữu hiệu. Nếu cửa chính hoặc cửa sổ của ngôi nhà bị các vật mang sát khí chiếu thẳng vào, để hóa giải, có thể treo gương lồi trước cửa.
Gương bát quái lõm có hình dạng cong lõm vào trong. Gương lõm lại có tác dụng trái ngược so với gương lồi: gương lồi dùng để “phân tán”, còn gương lõm lại dùng để “tích tụ” năng lượng. Nếu phương vị phong thủy nào đó xảy ra hiện tượng thất tán khí hoặc các vật thể tốt đẹp lại cách quá xa nhà thì có thể treo gương lõm để thu hút năng lượng tốt.
Gương bát quái phẳng được coi là trung lập. Nếu đặt trong nhà, gương phẳng cũng có tác dụng thu hút, thâu tóm năng lượng tốt. Nếu treo ngoài cửa chính hoặc cửa sổ thì sẽ có tác dụng phản xạ.
Việc dùng loại gương nào, kích cỡ ra sao cần căn cứ vào điều kiện thực tế của ngôi nhà, nghĩa là nhà ở trình trạng như thế nào thì dùng gương thế đó, giống như người bị bệnh nào thì uống thuốc đó, ít hay nhiều quá đều không tốt.
Khi treo gương bát quái, gia chủ không nên tùy tiên, cần tuân theo chỉ dẫn của người có hiểu biết. Việc một gia đình mà treo tới 4 - 5 gương bát quái trong nhà, cửa to nào cũng treo và phòng nào cũng treo không phải là tốt.
Khi mua về nên bọc kiến gương bát quái, trước khi treo phải làm lễ, xin phép thần linh trong ngôi nhà. Nghĩa là gương được đặt lên ban thờ, người có chuyên môn sẽ đọc trì chú khai quang gương rồi mới tiến hành treo gương. Gương nên được treo vào ngày rằm hoặc mùng một.
Có những lưu ý căn bản để các gia đình có thể tìm ra những vị trí tốt nhất để treo gương bát quái: không nên treo một chiếc gương ở đối diện cửa ra vào, đặc biệt là phía sau bếp nấu,...
Phong thủy hiện nay cho rằng, dùng gương bát quái đại kỵ việc dùng các loại gương có hình thần tướng cưỡi hổ trong tay cầm binh khí, hoặc hổ phù ngậm binh khí vì chúng mang đến sát khí. Nếu treo loại gương này ở trước ngôi nhà thì không những không xua đuổi được tà khí, thu hút khí tài mà còn khiến cho hung khí ở khắp nơi kéo đến.
Bên cạnh đó, cần lưu ý là không phải ngôi nhà nào cũng cần phải treo gương bát quái. Nếu như hướng nhà đã hợp với gia chủ thì ckhông cần treo, nếu treo lên thậm chí còn tạo ra những sung khí cho ngôi nhà của mình.
Tuy nhiên, riêng đối với các ngôi nhà nằm gần nghĩa trang, bệnh viện, trường học hoặc những nơi có sát khí mạnh thì cần phải treo gương bát quái vì nó sẽ ngăn chặn các luồng tà khí.
(Theo Báo Giao thông Online)
Những văn phòng làm việc cần phải chú ý một điều rằng, ngành nghề và hướng ngồi cùng có quan hệ nhất định với nhau.
Những ngành nghề thuộc Kim trong Ngũ hành Nhưng đồ trang sức ngũ kim, ngành vàng bạc đá quý, giao thông xe hơi, ngân hàng tiền tệ, khai thác cơ khí, kiểm định mở rộng, tư pháp luật sự, quan chức chính phủ, giám đốc kinh doanh, thể dục thể thao…Nên ngồi phía Tây hướng về phía Đông, ngồi phía Đông Nam hướng vế phía Tây Bắc, ngồi ở phía Đông hướng về phía Tây, ngồi phía Tây Bắc hướng về phía Đông Nam.

Những ngành nghề thuộc Mộc trong Ngũ hành
Văn hoá xuất bản, báo chí, tạp chí, văn học nghệ thuật, biểu diễn, đồ dùng văn thể, phụ đạo giáo dục, trồng trọt cây cành, rau xanh hoa trái, các sản phẩm gỗ, nhân viên bệnh viện, nhân sĩ tôn giáo, dệt may trang phục, thiết ké thời trang, kế toán văn phòng…
Nên ngồi phía Tây hướng Đông, ngồi phía Bắc hướng Đông Nam, ngồi phía Đông Bắc hướng Tây Nam, ngồi phía Tây Nam hướng Đông Bắc.
Những ngành nghề thuộc Thủy trong Ngũ hành
Bảo hiểm, marketing, thuyền vụ hàng hải, đổ thực phẩm đông lạnh, nuôi trồng thủy sản, đưa dẫn bán hàng du lịch, y tế vệ sinh, ảo thuật, biên kịch tác giả, đồ dùng câu cá, phòng tránh cháy nổ, vận chuyển thương mại, khách sạn nhà hàng…
Nên ngồi phía Nam hướng Bắc, ngồi phía Bắc hướng Nam.
Những ngành nghề thuộc Hỏa trong Ngũ hành
Đồ dễ cháy, thực phẩm có dính dầu, những đồ ăn nóng, kỹ thuật sửa chữa, máy tính và điện tử, pháo hoa điện tử, các loại kính quang học, quảng cáo nhiếp ảnh, hóa trang trang sức, dụng cụ nhà bếp, mỹ thuật đồ chơi…
Nên ngồi phía Bắc hướng Nam, ngồi phía Đông hướng Tây, ngóồi phía Đông Nam hướng Tây Bắc.
Những ngành nghề thuộc Thổ trong Ngũ hành
Kiến trúc và đất đai, chăn thả gia súc, gồm sứ ngọc đá, vật liệu xây dựng, trang sức trang trí, các sản phẩm về da, chế biến các loại thịt, kinh doanh khách sạn, tụ điểm vui chơi giải trí…
Nên ngồi phía Nam hướng Bắc, ngồi phía Đông Bắc hướng Tây Nam, ngồi phía Tây Nam hướng Đông Băc.
Xem hướng phòng ngủ tuổi Kỷ Sửu 1949
Hướng kê giường trong phòng ngủ tuổi Kỷ Sửu:
– Năm sinh âm lịch: Kỷ Sửu
– Quẻ mệnh: Càn Kim
– Ngũ hành: Thích Lịch Hỏa (Lửa sấm sét)
– Thuộc Tây Tứ Mệnh, nhà hướng Bắc, thuộc Đông Tứ Trạch
– Hướng tốt: Tây Bắc (Phục Vị); Đông Bắc (Thiên Y); Tây Nam (Diên Niên); Tây (Sinh Khí);
- Hướng xấu: Bắc (Lục Sát); Đông (Ngũ Quỷ); Đông Nam (Hoạ Hại); Nam (Tuyệt Mệnh);
Vị trí phòng ngủ trong nhà và vị trí giường ngủ trong phòng ngủ nên ưu tiên ở hướng tốt (các hướng Sinh Khí, Thiên Y, Diên Niên, Phục Vị)
Gia chủ tuổi Kỷ Sửu mang mệnh Hỏa, Mộc sinh Hỏa, nên hướng giường nên quay về hướng thuộc Mộc, là hướng Đông; Đông Nam;
Nếu tính cho các phòng ngủ của các thành viên khác trong gia đình, thì cần tính hành ứng với mỗi thành viên.
Màu sơn trong phòng ngủ, màu sắc rèm cửa nên sử dụng màu Xanh lá, đây là màu đại diện cho hành Mộc, rất tốt cho người hành Hỏa.
Tủ quần áo nên kê tại các góc xấu trong phòng để trấn được cái xấu, là các góc Ngũ Quỷ, Hoạ Hại, Lục Sát, Tuyệt Mệnh.
Giường ngủ cần tránh kê dưới dầm, xà ngang, đầu giường tránh thẳng với hướng cửa mở vào, thẳng với hướng gương soi.
Khai xuân - khai bút
Ngày xưa chưa có nghệ thuật nhiếp ảnh cũng như các phương tiện lưu giữ hình ảnh, cầm bút chính là cách để mỗi người giữ lại cảm xúc thời gian đón năm mới.
Khai xuân có nghĩa là khai sinh cho mùa xuân mới bằng ngôn ngữ thể hiện qua ngòi bút. Người khai xuân đại diện cho làng xã, công sở, trường học... phải là người có uy tín và thạo văn chương. Khai xuân bằng việc viết ra những câu thơ, câu văn, câu đối chứa đựng giá trị tổng kết của một năm cũng như cảm xúc về các giá trị đó và tiên đoán cho năm mới. Phong tục này hiện nay không còn nhiều vì sự mai một của văn chương.
Khai bút là cấp độ nhỏ hơn của khai xuân. Khai bút thể hiện cảm xúc của mình với mùa xuân, với năm mới một cách trịnh trọng tùy theo sở thích của mỗi người. Ngày xưa, các cụ thường khai bút vào lúc giao thừa, sau công việc cúng lễ trời đất. Đa số bài viết khai bút là thơ, bởi những câu thơ mới khơi gợi được nhiều cảm xúc và vì thế thơ thường đắt hàng vào dịp giao thừa.
Đối với người xưa, việc khai bút được trân trọng lắm. Sáng mồng 1 Tết, con cháu đến nhà để nghe ông đọc thơ Tết với tình cảm ngưỡng mộ. Ngoài việc làm thơ chúc Tết con cháu, các cụ còn viết thơ về cảm xúc mùa xuân rồi tụ họp ở nhà ngang bên đình làng bình thơ, và những bài thơ cứ thế lan tỏa.
Mừng tuổi ở miền Bắc và lì xì ở miền Nam
Mừng tuổi có ba ý nghĩa lớn, trước hết thể hiện mình là người lớn thương yêu trẻ em. Muốn thể hiện là người lớn thì phải có tiền để cho người bé, tức là người lớn mừng tuổi cho em bé. Khi em bé lớn rồi tự kiếm được tiền thì sẵn sàng từ chối tiền mừng tuổi.
![]() |
| Ảnh: Hoàng Hà |
Ý nghĩa thứ hai là chúc mừng nhau thêm một tuổi mới, cách mừng tuổi này tạo nên sự kết nối tâm giao giữa những người thân trong nhà, trong làng xã và trong xã hội.
Ý nghĩa thứ ba là mừng thọ, con cháu đến mừng thọ ông bà, nếu ông bà khá giả thì mới lì xì cho con cháu, nếu ông bà nghèo thì mừng tuổi bằng lời chúc, con cháu lúc này ai có tiền thì kính biếu ông bà. Như vậy việc mừng tuổi ông bà có hai giá trị rất rõ đó là giá trị tinh thần và vật chất, trong đó giá trị tinh thần mới là quan trọng.
Đối với miền Nam chỉ có phong tục lì xì, chỉ còn rất ít gia đình giữ được phong tục mừng tuổi. Ngày nay ở miền Bắc, phong tục mừng tuổi vẫn còn nhưng cũng bị biến tướng đi nhiều.
Đi lễ ngày Tết
Ba địa điểm đình, chùa, quán là nơi người miền Bắc chọn để đến lễ ngày Tết, trong đó lễ đình thường dành cho cánh đàn ông, các bé trai, vì đây được xem là việc của làng nước. Trong những năm qua, nhiều ngôi đình đã bị hư hỏng, xuống cấp vì thế việc lễ đình không còn toàn diện như xưa kia.
Lễ quán dành cho phụ nữ và bé gái. Quán thường thờ những nhân vật có công với làng và có những sự tích thiêng liêng.
Riêng lễ chùa chỉ dành cho những người theo Phật giáo và mộ đạo Phật.
Phong tục đi lễ đình, chùa, quán là đời sống tâm linh ngày Tết có từ lâu đời ở nước ta. Ngày nay, chùa khá phát triển vì thế người ta đa phần chỉ còn nghĩ tới đi lễ chùa. Nhất là ở miền Nam, đa phần chưa có đình mà chỉ có chùa, vì thế việc đi lễ đình có khi còn khá xa lạ.
Khai cày - trồng cây
Với người nông dân, khai cày là công việc vô cùng quan trọng. Đường cày đầu xuân thể hiện sức lao động của con người chinh phục đồng ruộng. Chinh phục đồng ruộng là sức sáng tạo của cư dân nông nghiệp Việt Nam - những người làm nên nền văn minh lúa nước. Phong tục khai cày từ lâu đã không còn vì việc cày bằng trâu đã được thay bằng cày máy từ khi công nghiệp phát triển.
Về sau xuất hiện việc khai xuân trồng cây. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người khởi động phong trào này. Những năm gần đây, phong tục trồng cây ngày xuân càng được phát triển rộng khắp.
Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Gia Hiền
Đại Thế Chí Bồ Tát cùng với Quan Thế Âm Bồ Tát là thị giả theo hầu Phật A Di Đà, xưng tụng là Tây Phương Tam Thánh, tiếp dẫn và độ hóa chúng sinh bằng trí tuệ.
Mục Lục
![]() |
Đại Thế Chí Bồ Tát là tên phiên phiên âm từ tiếng Phạn Mahastamaprapta, dịch ý là Đại Thế Chí hoặc Đại Tinh Tiến, gọi tắt là Thế Chí Bồ Tát. Ngoài ra còn những tên khác như Đắc Đại Thế Bồ tát, Đại Tinh Tấn Bồ Tát, Vô Biên Quang Bồ Tát. Mỗi cái tên, danh xưng đều có ý nghĩa quan trọng, gắn liền với đạo hạnh và chức trách mà Ngài mang.
Cái tên Đại Thế Chí xuất phát từ việc Ngài dùng ánh sáng trí tuệ chiếp khắp muôn nơi để chúng sinh mười phương thoát khỏi đau khổ, đạt thành tựu Bồ Đề, có đạo hạnh chuyên tu. Đắc Đại Thế Bồ Tát có nghiêng về diễn tả đại hùng đại lực đại từ bi của Ngài, dùng hạnh nguyện của mình để điều phục và tiếp độ chúng sinh trong thế giới Ta bà.
Đại Tin Tấn hay Đại Tinh Tiến tức là vị Bồ Tát có sức tinh tiến vĩ đại, vô biên, càng ngày càng tiến lên để hóa giải mọi phiền não và giáo hóa chúng sinh, không mệt mỏi, không lùi bước, không ngại chướng khổ. Vô Biên Quang là vị Bồ Tát có ánh sáng vô biên, tỏa khắp pháp giới để chúng sinh hữu duyên thấy được ánh sáng quang minh tinh diệu vô lượng của Ngài khắp mười phương.
Quán Vô Lượng Thọ Kinh có ghi, Đại Thế Chí Bồ Tát lấy ánh sáng trí tuệ làm ngọn đèn soi đường cho chúng sinh thoát khỏi ba cõi ác, đạt được sức mạnh vô biên, hướng tới thân tâm an lạc. Khi Ngài di chuyên, thập phương mười hướng như đang xảy ra một cơ địa chấn, trí tuệ quét sạch u mê nên có tên gọi Đại Thế Chí.
Ngài là một trong Tây Phương Tam Thánh, cùng Quan Thế Âm Bồ Tát theo hầu Phật A Di Đà, một trong các vị Thượng thủ trong chúng hội Bồ Tát. Đại Thế Chí bên phải, Quan Thế Âm bên trái, một bên đại diện cho tinh thần đại trí, một bên biểu thị cho tinh thần đại bi. Người tu hành muốn tu tập viên mãn, đạt thành tựu Phật giáo thì phải có cả hai yếu tố là tấm lòng và trí tuệ.
Từ bi bên trái, trí tuệ bên phải, trí tuệ dẫn đường cho từ bi để từ bi đi đúng hướng, từ bi thấm nhuần trí tuệ để trí tuệ không cứng nhắc, không trên đời mà giúp đời, cứu đời thoát khỏi u tối. Đó chính là ý nghĩa cao nhất, sự hòa hợp tốt đẹp nhất của Phật giáo. Là Phật tử, là những người hướng Phật nhất định phải hiểu được đạo lý này, đồng thời trang bị cho mình hai hạnh này, có như vậy thờ Phật mới chân chính, kính Phật mới chuyên tu.
Trí của Thế Chí Bồ tát là trí của ánh sáng và niềm tin, quyết tâm giáo hóa chúng sinh tránh khỏi đường mê lối lạc. Ngài là vị Bồ Tát Đẳng Giác hầu cận Đức Phật A Di Đà ở cõi Cực Lạc, trợ giúp Phật hóa, tiếp dẫn chúng sinh mười phương thế giới, giáo hóa Thánh chúng tại Cực Lạc, chờ tới khi công quả viên mãn sẽ bổ xứ thành Phật.
Đây là vị Bồ Tát có nhân duyên sâu nặng với chúng sinh khắp cõi, tuy đã thành Phật trong kiếp quá khứ nhưng kiếp này thừa nguyện tái lai vì lòng thương chúng sinh, hiện thân làm Bồ Tát ở thế giới Tây Phương Cực Lạc, trợ duyên cho Phật A Di Đà giáo hóa và tiếp dẫn chúng sinh thoát khỏi bể khổ.
Bồ Tát được Phật Bảo Tạng thọ ký rằng, trong vô lượng vô biên kiếp, sau khi Đức Phật Biến Xuất Nhất Thiết Công Đức Sơn Vương Như Lai nhập Niết Bàn, tức là Quan Thế Âm Bồ Tát thành Phật trong đời vị lai thì Đại Thế Chí sẽ thay Ngài tiếp quản chánh pháp và thế giới Tây Phương, thành Phật hiệu là Thiện Trụ Trân Bảo Sơn Vương Như Lai.
Đại hùng đại lực đại từ bi của Thế Chí Bồ Tát chính là tinh thần và trí tuệ cao nhất để Ngài hoàn thành nguyện cũng như trọng trách mà Phật đạo giao phó. Sức mạnh ấy thể hiện ở các phương diện dưới đây:
Trong kinh Lăng Nghiêm, chương Niệm Phật viên thông, khi Đức Phật Thích Ca hỏi về pháp môn tu hành, Đại Thế Chí Bồ Tát cho biết Ngài tu theo pháp môn niệm Phật. Nhân lành mà Ngài gặt hái được là dùng tâm niệm Phật, vô sinh pháp nhẫn, vì thế Ngài quyết dùng đại hùng đại lực đại bi mà mình có để tiếp dẫn những người niệm Phật vãng sinh tịnh độ.
Khi niệm Phật, n hất định phải chuyên tâm, người lâm chung muốn vãng sinh thì độ niệm phải có tâm chuyên nhất. Nếu trong lòng tưởng nhớ đến Phật, thấy đường Phật hướng thì Phật cách không ca, không cần phương pháp tu nào khác mà thành được Phật. Nói cách khác, “Nhiếp cả sáu căn, tịnh niệm nối nhau, được Tam ma địa, đó là bậc nhất”. Đây là điểu quan trọng nhất là người tu niệm Phật cần phải nhớ khi hành trì.
Theo phong thủy và tâm linh, Bồ Tát Đại Thế Chí là Phật bản mệnh của người tuổi Ngọ.
Trong Tây Phương Tam Thánh, Thế Chí Bồ Tát đứng bên phải Đức Phật A Di Đà, bên phải là Quan Thế Âm Bồ Tát, hiện thân là hai cư sĩ có cách ăn mặc tương tự nhau. Thế Chí cầm cành hoa sen màu xanh, Quan Âm cầm nhành dương liễu và bình tịnh thủy.
Xem thêm bài viết Tại sao Quan Thế Âm Bồ Tát được nhiều người kính ngưỡng?
![]() |
Trên chóp mũ của Bồ Tát có hình ngôi chùa, đại diện cho trí tuệ. Thân tỏa ra màu vàng tím lấp lánh, soi chiếu thập phương để chúng sinh hữu duyên đều có thể tận mắt nhìn thấy ánh sáng của Phật pháp và tịnh diệu. Vì thế mà Bồ Tát Đại Thế Chí cũng được gọi là Bồ Tát Vô Lượng Quang.
Thiên quan của Ngài có 500 bảo hoa, trên mỗi bảo hoa có 500 bảo đài, mỗi bảo đài hiện lên quốc độ tịnh diệu của chư Phật thập phương. Tóc búi hình hoa sen đỏ, trên có bảo bình, trong bảo bình chứa ánh sáng trí tuệ - nguồn lực để độ hóa chúng sinh.
Cũng có hình tượng Bồ Tát Đại Thế Chí hiện thân là tướng người cư sỹ, nơi cổ có đeo chuỗi ngọc anh lạc và trên tay cầm một hoa sen màu xanh, tượng trưng cho sự thanh tịnh. Có ý rằng nhờ trí tuệ sáng suốt mà dứt sạch được mọi phiền não mê lầm nơi tự thân và đưa tay cứu với chúng sanh ra khỏi mê lầm tội lỗi.
Trí tuệ là thanh gươm tinh nhuệ cắt đứt mọi ràng buộc, vướng mắc trong cõi trần ai mà đức Đại Thế Chí đã đạt được trải qua nhiều kiếp tu hành tích lũy biết bao công phu. Dùng trí của mình để độ kiếp lầm than, theo đúng tinh thần của Phật giáo.
Tại sao Bồ Tát lại hiện thân cư sĩ? Điều này cho thấy hạnh nguyện của Ngài gần gũi với chúng sinh, muốn chúng sinh nghe pháp, thấu hiểu pháp thì cần phải cảm thông cho chúng sinh. Chỉ khi gần gũi và trở thành bạn lành của chúng sinh thì mới có thể làm được điều này. Bồ Tát là vị cư sĩ giản dị, dễ dàng đi khắp nhân gian để tiếp xúc với mọi người.
Muốn cứu vớt chúng sanh về tịnh độ, trước phải dạy họ dứt sạch phiền não uế ô. Vì thế, danh hiệu Ngài đã nói lên ý nghĩa vận dụng ánh sáng trí tuệ chiếu soi cho chúng sanh thấy rõ những uế trược nơi mình, đồng thời giúp cho họ có sức mạnh đoạn trừ những uế tạp, hướng về tịnh độ.
Ngày 13/7 âm lịch là ngày vía Đại Thế Chí Bồ Tát, tức ngày Bồ Tát đản sinh. Ngày này chúng Phật tử và những người hướng Phật cùng làm lễ kính ngưỡng công đức, hạnh nguyện của người. Không chỉ cúng dường, tụng niệm mà còn hướng về Phật pháp, học hỏi Phật pháp, noi gương Ngài ứng dụng vào đời sống để đạt tới lý tưởng tu hành của bản thân.
Ngoài ra, tích cực hành thiện, tổ chức phóng sinh, bố thí, gieo thêm căn lành, hạnh lành cho cuộc đời. Mỗi việc tốt là ngọn nguồn của một cây thiện, đâm ra trái ngọt quả lành mà con người cần phải nhân rộng, đẩy lùi xấu xa ác nghiệt, coi như hoàn thành ý nguyện của Bồ Tát Thế Chí.
Xem thêm bài viết Bố thí đúng cách - hưởng thụ khi học Phật
Dưới đây là lời Bồ Tát Thế Chí nguyện hứa trước Đức Phật khi quyết đi theo con đường tiến tu, học đạo, hướng Phật và tu đạo Bồ Tát.
“Bạch Đức Thế Tôn! nay tôi xin đem công đức cúng dường Phật và chúng tăng trong ba tháng, và những hạnh tu tập của tôi đã từng làm, như là:
Ba nghiệp thân
Bốn nghiệp miệng
Và ba nghiệp ý
Tôi xin tiếp tục tu đạo Bồ Tát, làm việc Phật sự, khuyên bảo chúng sinh, mang lại lợi ích cho chúng sinh để mau chóng hoàn thành những hạnh nguyện tôi đã thề. Đến chừng nào Phật Biến Xuất Nhất Thiết Công Đức Quang Minh Sang Vương Như Lai diệt độ, thì tôi sẽ thành đạo, kế ngôi Phật truyền Chánh Pháp mà độ hóa chúng sinh”.
![]() |
Thế Chí Bồ Tát là vị Bồ Tát có trí tuệ và tinh thần từ bi, cứu độ chúng sinh vô biên, vô điều kiện, muốn gặp Phật phải có Phật trong tâm, muốn được Phật độ chứng phải thành tâm tụng niệm. Muốn thỉnh nguyện tới Ngài thì hướng về Phật pháp, chuyên tâm tu dưỡng và cúng dường, làm lễ công quả.
Thế gian còn lao khổ, Thế Chí còn miệt mài cứu độ chúng sinh tiến tới cõi Niết Bàn. Cách thỉnh nguyện tốt nhất, hiệu quả nhất chính là học tập đại hùng đại lực đại từ bi của Ngài, không chỉ giữ lập trường tu hành, trọn vẹn tinh thần hoằng pháp mà còn đẩy lui phiền não khổ sở. Chẳng những để bản thân giác ngộ mà còn giác ngộ những người xung quanh để cuộc sống ngày càng tốt đẹp, ngày càng an lạc.
Chăm làm việc thiện, thiện giả thiện báo, phóng sinh cứu độ, giữ tâm chân thành, bố thí hoạn nạn, đường tới thỉnh nguyện Đại Thế Chí Bồ Tát ở ngay phía trước.
Địa Tạng Vương Bồ Tát - Địa ngục chưa trống thề không thành Phật Văn Thù Bồ Tát - bậc Đại Trí dùng trí tuệ dẫn đường chúng sinh
Tâm Lan
Hoa sen
Ngũ hành: Bức tranh này đại diện cho hành Thủy, rất phù hợp với những người mạng Mộc hoặc Thủy, đem lại sự may mắn trong sự nghiệpÝ nghĩa: Trong Phong Thủy, hoa sen tượng trưng cho sự thanh cao, thoát tục, giúp con người gỡ bỏ mọi ưu phiền, để tĩnh tâm, an hưởng hạnh phúc.


Sen là loài hoa biểu trưng cho sự hoàn hảo cuối cùng. Sự tinh khiết của sen không thể bị vấy bẩn bởi bùn xung quanh, nơi nó từ đó sinh ra. Tất cả các thành phần của sen đều hữu dụng, từ thân sen, ngó sen, hạt sen… đối với sức khoẻ con người. Sử dụng sen có tác dụng điều hoà khí vượng, tăng cường những nguồn năng lượng về sức khoẻ cho ngôi nhà.
ủy tinh dùng ở phương Nam có thể chấp nhận được nên có thể mở ra được.
Trên thực tế, những loại kiến trúc mảng thủy tinh này trong phong thủy lại có tác dụng chắn hung khí. Bởi vì mỗi một thành phố đều có những quy hoạch tổng thể không giống nhau, mà vật kiến trúc luôn chịu ảnh hướng quy hoạch của khu vực và tính khu vực như xung đường đường chạy thẳng mặt, có hình thành đường chữ T thì sẽ có kiếm nghi đường xung. Chính vì vậy, công ty xây dựng khi quy hoạch toàn khu, được thiết định là không gian xanh, như vậy thì có thể tránh được hình xung đường đó, cũng có thể khiến cho sinh khí lưu thông, sẽ không có những hung khí quay trở lại.

Nhưng các thành phố hiện nay tấc đất tấc vàng, mọi người đều không nỡ dùng để làm diện tích xanh hoá. Chính vì vậy mà xây ngay những căn nhà, sẽ phạm vào xung đường, sẽ đem lại cho chung cư những ảnh hưởng không tốt.
Nhưng theo phương pháp hóa giải của địa lý phong thủy, thì có thể dùng hình thể kiến trúc để cải thiện. Ví dụ, bốn mặt có đặt các vòi phun nước để hoá giải hoặc dùng các màn tạo hình bằng thủy tinh hoá giải để bảo vệ bình an, hơn nữa đặt được hiệu quả tụ khí.
Đây là quẻ Quan Âm thứ 90 được xây dựng trên điển cố: Vĩ Bội ngộ Tiên hay Vĩ Bội gặp tiên.
Thử quái công danh thành tựu chi tượng. Phàm sự nghi tiến đại cát dã.
Quẻ thượng cát thuộc cung Dậu. Nếu hỏi về công danh trong tương lai thì sẽ có quý nhân phù trợ giúp đỡ. Những việc vui mừng sẽ từ từ kéo đến, có tài lộc và bạc tiền dài lâu.
Vĩ Bội là một thư sinh nghèo đời Đường, tuổi đã gần bốn mươi nhưng vẫn chưa thi đỗ, nên không có công danh.
Một hôm, vào buổi tối, Vĩ Bội nằm mơ thấy một người toàn thân mặc áo giáp nói với Vĩ Bội rằng: “Sau khi trời sáng, ngươi hãy đi cứu một con ba ba!”
Ngày hôm sau, khi Vĩ Bội cưỡi lừa đi qua cầu Lạc Dương, thấy có một người câu cá đang bán cá trên cầu, trong chiếc giỏ có một con ba ba. Con ba ba rất to, chiếc giỏ lại rất nhỏ, xem chừng con ba ba sắp tắt thờ đến nơi. Con ba ba nhìn Vĩ Bội, miệng lúc ngậm lúc mở, như có gì muốn nói, ánh mắt lấp lánh lại như đang cầu xin cứu mạng. Vĩ Bội cảm thấy con ba ba thật đáng thương, hỏi giá tiền thì người câu cá nói hai nghìn đòng. Lúc này đúng giữa mùa đông, mà Vĩ Bội chỉ mặc manh áo mỏng, rõ ràng là không có gì để cầm cố. Vĩ Bội nhìn sang con lừa bên cạnh, bèn nói với người câu cá rằng, muốn dùng con lừa để đổi lấy con ba ba để đi phóng sinh. Người câu cá thấy Vĩ Bội lời lẽ khẩn thiết, liền đồng ý. Vì vậy Vĩ Bội nhận con ba ba đang thoi thóp thờ từ tay người câu cá, vội vàng chạy đến mép nước, thả con ba ba xuống nước. Còn mình thì đi bộ.
Thời đó có một thầy đoán mệnh tên là Hồ Lư, nghe nói ông có khả năng dự đoán sự việc rất chuẩn xác, Vĩ Bội bèn đến xem một quẻ. Hồ Lư tiên sinh nói: “Ta có một người bạn, ông ấy là cao nhân ờ đây, thường hết lời khen ngợi đức tốt của cậu. ông ấy rất muốn gặp cậu, cậu hãy cùng tôi đi gặp mặt!”
Hai người cùng đi đến một nơi, nhẹ nhàng gõ cửa. Người gác cửa vào thông báo xong, liền mời họ vào trong, thấy bên trong nhà cửa rất nguy nga tráng lệ. Ngay sau đó, có một ông lão đi ra, râu tóc đều bạc trắng, tự giới thiệu mình là Nguyên Tuấn Chi, cúi đầu hành lễ với Vĩ Bội. Vĩ Bội rất kinh ngạc hỏi: “Tôi là một thư sinh nghèo hèn, lại được lão tiên sinh coi trọng như thế, không hiểu nguyên nhân vì sao?” ông lão nói: “Lão phu bị nạn sắp chết, may lại được ngài cứu giúp, lẽ nào có thể không báo đáp!” Thì ra đây chính là con ba ba đã được Vĩ Bội cứu thả đi.
Ông lão nhiệt tình thiết đãi họ suốt một ngày. Đến chập tối, Vĩ Bội xin từ biệt, đang muốn hỏi về tiền đồ của mình, ông lão liền lấy từ trong tay áo ra chín tờ giấy, nói với Vĩ Bội rằng: “Ta biết ngài muốn xem về tiền đồ, nên đã chép ra tiền đồ vinh hoa phú quý trong cuộc đời của ngài, để mong báo đáp.” Rồi lại nói với Hồ Lư tiên sinh rằng: “ông hãy cho ta mượn năm mươi quan tiền, mua cho cậu Vĩ một con vật để cưỡi, để cậu ta mau đi về phía tây, sớm đạt được nguyện vọng.” Vĩ Bội lại quỳ xuống tạ ơn, rồi cùng vói Hồ Lư tiên sinh ra đi.
Ngày hôm sau, Vĩ Bội xem kỹ những tờ giấy mà ông lão đưa cho, thấy trên đó có viết rằng tháng năm năm sau sẽ thi đỗ, và ngày tháng nào Vĩ Bội được nhậm chức quan gì, sẽ trải qua mười bảy lần thăng tiến, năm tháng ngày giờ đều ghi rất rõ ràng. Cuối cùng đến đúng thời điểm đó được thăng chức làm Quan sát sứ ở Giang Tây, cuối cùng làm quan đến chức Ngự sử đại phu.
Năm Nguyên Hòa thứ 8 (tức năm 813), Vĩ Bội làm quan ở Hồng Châu, cây bồ kết trước sảnh nờ hoa, vì thế Vĩ Bội từ quan, theo hướng bắc về quê cũ, trên đường trờ về phương bắc thì qua đời. Con trai ông là Vĩ Trụ làm quan đến chức Thượng thư bộc xạ đồng bình chương sự (tức là chức Tể tướng); người con khác là Vĩ Tụ làm quan đến chức Quan sát sứ ở Phúc Kiến.
5 ngón tay khít lại gần nhau
Bàn tay duỗi thẳng tự nhiên, các ngón tay khép lại, 5 ngón tay khít chặt cho thấy người này rất biết cách nắm bắt cơ hội. Họ thường bộc lộ sự khôn ngoan và đem lại những thành công lớn cho chính mình.
Trong xã hội cạnh tranh khốc liệt, người có thể đạt được thắng lợi cuối cùng đa phần là những người có bàn tay 5 ngón khít chặt vào nhau.
5 ngón tay có kẻ hở
Bàn tay duỗi thẳng tự nhiên, các ngón tay khép lại, 5 ngón tay có kẻ hở cho thấy người này dễ bị rò rỉ tiền bạc, khi gặp phải chuyện gì thường rất thận trọng. Chính vì sự thận trọng quá mức, họ thường bỏ lỡ nhiều cơ hội tốt.
![]() |
Ngón giữa và ngón áp út có khoảng cách rộng
Người này tính cách tuỳ hứng, làm việc không suy nghĩ hậu quả trước sau.
Ngón áp út và ngón út có khoảng cách rộng
Người này hành động rất độc lập, có tư tưởng yêu chuộng tự do, đối với mọi chuyện xảy ra thường đã có sự phòng bị chu đáo.
Ngón cái và ngón trỏ có khoảng cách rộng
Người này rất độc lập và có sự cạnh tranh cao, họ có tinh thần rất nghĩa hiệp, có thể duy trì một tình bạn thân thiết và bền chặt.
Ngón cái và ngón trỏ khít chặt
Người này rất thận trọng, luôn có sự đề phòng người khác, phụ thuộc vào tâm lý rất nặng.
Ngón trỏ và ngón giữa có khoảng cách rộng
Người này tư duy độc lập, không thích bị người khác can thiệp hay trói buộc.
4 ngón tay có khoảng cách khá rộng (ngoại trừ ngón cái)
Người này không thích trói buộc, tư duy độc lập, yêu thích sự tự do.
4 ngón tay khít lại với nhau (ngoại trừ ngón cái)
Người này chỉ thích làm theo ý mình, cố chấp, kiêu căng ngạo mạn.
Chocopie (theo fututa)
Bộ vị Tư không trên khuôn mặt xét lần lượt từ trong hướng sang phải bao gồm: Tư không, Ngạch giác, Thượng khanh, Thiếu phủ, Giao hữu, Đạo trung, Giao ngạch, Mi trọng, Sơn lâm, Thánh hiền. Trong đó, bộ vị bộ phận Ngạch giác mà khuyết hãm thì cả đời không được làm quan.
Ngạch giác, chủ chức vị công khanh.
Nếu bộ vị này khuyết hãm thì cả đời không được làm quan, xương nhô lên thì chức vị tới công khanh. Cũng còn gọi là “Ngạch trung”, sắc hồng, sắc vàng thì đại cát; sắc đen thì mệnh không bảo đảm; sắc ác thì có tai nạn; sắc hồng thì dễ bị người khác khắc hại.
Thượng khanh, chủ quản việc của quê nhà.
Xương thịt nhô lên thường xuất hiện sắc nhẵn bóng thì có thể làm quan lớn hầu cận bên cạnh hoàng đế, sắc ác thì phải rời xa quê hương.
Thiếu phủ.
Màu sắc không tốt thì dù làm quan cũng sẽ bị mất chức, có sắc vàng thì là quý nhân, có chút danh khí.
Giao hữu, chủ bạn bè.
Xương nhô lên và có màu hồng, màu vàng thì những người mà mình kết giao sẽ giúp đỡ mình hết sức; nếu có khiếm khuyết thì ít bạn bè; màu sắc không tốt thì sẽ phát sinh tranh chấp, cãi vã với bạn; màu xanh thì sẽ ngoại tình, sắc hồng thì người tình sẽ rời bỏ mình, sắc trắng thì vợ ngoại tình.
Đạo trung, hay còn gọi là “hoành thượng”, chủ việc xuất hành.
Đầu xương nhô lên thì dễ phải bôn ba bên ngoài, nếu vị trí này mà bằng phẳng thì cả đời không ra ngoài, có khiếm khuyết và sắc như gan ngựa thì có thể sẽ phải bỏ mạng bên đường.
Giao ngạch, chủ phúc lộc.
Xương thịt nhô lên, sắc tốt thì sẽ được hưởng phúc, có đức hạnh; có nốt ruồi đen thì cát lợi, màu sắc không tốt và có khiếm khuyết thì cả đời không có phúc đức.
Mi trọng, là vị trí của gan.
Xương thịt nhô lên thì phú quý hữu dũng; có khiếm khuyết, sắc không tốt là mệnh bần tiện, nhát gan.
Sơn lâm, chủ vị trí tích lũy.
Sơn lâm mà rộng dày thì có nhiều tích lũy, lại có quyền thế mạnh; Sơn lâm nông đầy thì không có quyền thế.
Sinh ngày Tý: Tuy nhiên, họ lại hay bị tiểu nhân quấy rối, vu cáo, kiện tụng phiền phức.
Sinh ngày Sửu: Đây là ngày có sao Nguyệt Đức chiếu mệnh nên người tuổi Thân làm gì cũng thuận buồm xuôi gió. Tuy phải làm việc xa quê, đôi lúc cũng bị hao tốn tiền của nhưng được trời ban phúc, cuộc đời nhiều niềm vui và lợi lộc.
Sinh ngày Dần: Người sinh vào ngày này thường có số không may mắn. Do bị sao Dịch Mã tọa mệnh nên phải bôn ba xứ người, bị tiểu nhân đại phá, cuộc đời bất hạnh khó yên ổn.
Sinh ngày Mão: Nhờ có sao Tử Vi chiếu mệnh nên người tuổi Thân sinh ngày này có số quyền cao chức trọng. Tuy đôi lúc bị tiểu nhân hãm hại nhưng không bị tổn thương hay thất thoát tiền của nhiều, mọi việc vẫn bình yên vô sự.
Sinh ngày Thìn: Do bị sao Bạch Hổ chiếu mệnh nên tuổi Thân thường bị họa lớn, hao tài tốn của. Tuy nhiên, nhờ có tài đức và sự ứng phó linh hoạt nên mọi sự vẫn bình an.
Sinh ngày Tỵ: Là người có số may mắn, gặp hung hóa cát, lại được sao Thiên Đức chiếu mệnh nên dù trong đời có gặp chuyện tranh giành cãi cọ, nhưng cũng đều giải quyết êm thấm.
Sinh ngày Ngọ: Người tuổi Thân sinh vào ngày này số hay gặp phải nghịch cảnh, chuyện lành dữ khó lường. Nên thận trọng trong cuộc sống để tránh những rắc rối có thể xảy ra.
Sinh ngày Mùi: Đây không phải là ngày tốt đẹp để chào đón người tuổi Thân ra đời. Họ sẽ phải nhận lấy số phận cô đơn, sức khỏe suy yếu, tai nạn liên miên và rất nhiều vận đen khác có thể xảy ra.
Sinh ngày Thân: Được sao Hồng Loan chiếu mệnh nên sinh vào ngày này là người có số mệnh tốt lành, hưởng thọ, hưởng phúc. Tuy nhiên, trong vấn đề kết giao bạn bè lại gặp nhiều bất lợi. Nên lưu ý tới bệnh đau đầu, chóng mặt.
Sinh ngày Dậu: Đây là ngày tốt lành vì có sao Hoa Cái chiếu mệnh. Sinh ngày này người tuổi Thân sẽ có cuộc đời may mắn, nhân duyên tốt lành, tình cảm chan hòa, tha thiết.
Sinh ngày Tuất: Ngày sinh này không mang đến điều may mắn tốt lành cho cuộc đời của người tuổi Thân. Ngược lại, họ sẽ phải nhận cuộc sống bất ổn, nhiều nỗi lo âu, phiền muộn.
Sinh ngày Hợi: số mệnh của người tuổi Thân nhờ sao Thái Dương chiếu mệnh nên tài vận thuận lợi, phát đạt. Tuy bị sao Cẩu Giảo chiếu mệnh nhưng cuối cùng cũng được bình an.
(Theo Nhân duyên & tướng cách đàn bà)
|
![]() |
12 nguyên tắc không cần ăn chay trường mà vẫn khỏe mạnh![]() |
![]() |
| Ảnh minh họa |
Những chú ý khi chuyển nhà nhập trạch đặt bát hương![]() |
| Ảnh minh họa |
1.– Những người sinh trùng giờ
Có rất nhiều trường hợp trùng giờ:
- Anh em, chị em sinh đôi trong một giờ âm lịch.
- Những người cùng sinh cùng giờ ở trong một xứ.
- Những người sinh cùng giờ, cùng ngày ở khác xứ.
Theo nguyên tắc, bất cứ ai sinh trùng giờ đều là có lá số giống nhau như đúc. Nhưng trên thực tế, vận mệnh của họ không bao giờ rập khuôn với nhau. Ngay cả hai người sinh đôi, cuộc đời cũng khác nhau, đôi khi rất nhiều quan điểm về cách ứng dụng lá số Tử-Vi cho anh em, chị em song sinh.
Trước hết, có người cho rằng phải lấy cung Bào của một người làm cung Mệnh cho người kia, vì cho rằng người này là Bào của người kia. Nếu lá số đúng cho người em, thì Mệnh của người anh phải được xem ở cung Bào. Phụ Mẫu của người anh thì đóng cung Mệnh của lá số và cứ như thế mà giải đoán. Quan điểm này xét ra chỉ khả chấp là có thể dùng cung Bào làm Mệnh cho người kia. Không khả chấp là đối với cung Phụ Mẫu. Trong khi song sinh, anh em hoặc chị em phải có chung cha mẹ, ô phụ mẫu lẽ ra không được xê dịch, bằng không thì cha mẹ người anh không giống cha mẹ người em sinh đôi.
Có quan điểm cho rằng phải lấy cung Nô của một người làm cung Mệnh cho người kia, lại lý ra rằng phải xem hai người như bạn bè, phải hoán đổi trên cung Nô. Điều này xét ra cũng khó chấp nhận vì cũng rơi vào trường hợp Phụ Mẫu của một người phải đóng ở Thiên Di, một điều rất nghịch lý đối với anh em song sinh. Có nhiều tác giả trắc nghiệm cả hai phương pháp, dùng Bào và Nô làm Mệnh nhưng thấy không thỏa mãn. Như vậy, trong hai anh em hoặc hai chị em sinh đôi, có một người không áp dụng được Tử-Vi.
Còn nhiều trường hợp trùng giờ mà khác hẳn cha mẹ, khác hẵn nơi sinh. Trên đất Việt Nam nói riêng, có không biết bao nhiêu người đồng giờ với Gia Long, Minh Mạng, Tổng Thống nhưng không bao giờ được làm nguyên thủ. Có người giải thích rằng số của nguyên thủ ứng vào một chính tinh trong cung Mệnh, còn kẻ kia thì ứng vào chính tinh khác trong cung Mệnh. Lối cắt nghĩa này chỉ thỏa đáng tạm thời cho cung Mệnh có hai chính tinh đồng cung. Chỉ khi nào gặp trường hợp này mới dám nói rằng nguyên thủ ăn vào chính tinh số một, hành khất ăn vào chính tinh số hai. Tuy nhiên, lối giải thích đó cũng không ổn vì làm thế nào biết được sao nào ứng hoặc khắc với ai ? Còn nếu gặp cung Mệnh có một chính tinh duy nhất thì làm cách nào quy chiếu ? Còn nếu Mệnh không chính tinh thì tính sao ?
Các nghi vấn này cho đến nay hãy còn nan giải. Đó là chưa kể trường hợp các người trùng ngày giờ sinh mà đẻ ở hai quốc gia khác nhau, thuộc hai quốc tịch khác nhau, hoặc ở nhiều quốc gia khác nhau, thuộc nhiều quốc tịch khác nhau.
Theo thiển nghĩ, sự khác biệt về đời người của hai kẻ trùng giờ sinh có thể được giải thích phần nào bằng cái phúc thực tại. Đó là cái phúc của cha mẹ, ông bà để lại cho mình, đồng thời cũng là cái phúc mà tự mình tạo. Cả hai phúc vun bồi cho nhau. Nhưng thuyết phúc đức thực tại cũng chỉ tạm thỏa đáng mà thôi. Lý do là cái gì không cắt nghĩa được thì cứ đổ diệt cho phúc đức thực tại, cho cha mẹ, nếu không ổn thì cho là tại tổ phụ, tổ phụ gần không ổn thì cho là tại tổ phụ xa. Đến một lúc nào đó của quá trình, thế nào cũng tìm được lý do khác biệt của hai vận mệnh cùng giờ sinh, hoặc ở tiền kiếp thứ nhất, hoặc ở tiền kiếp thứ hai, thứ ba. Cái lối giải thích bằng phú đức thực tại như thế vừa mơ hồ, vừa lần khần. Ý niệm phúc đức thực tại hãy còn sơ khoáng, nó tạm dùng để giải thích phần nào cái gì không thể giải thích được.
Khoa Tử-Vi bị bế tắc, bị giới hạn nhiều trong các trường hợp đặc biệt này. Chỗ yếu của khoa Tử-Vi nằm ở đó.
2. Những người dị thể
Đó là những người sinh đôi cùng giờ dính lẹo nhau ở chân tay hay thân mình. Cả hai người có chung nhau một số bộ phận nào đó.
Quyển Larousse médical illustré, 1924, trang 760 có kể một trường hợp, được y học mệnh danh là Xiphoges. Xiphoges được sách này định nghĩa là hai người dính nhau bởi một miếng màng khá uyển chuyển giúp cho cả hai có thể sống liền lạc với nhau, không phải mặt đối mặt mà hông đối hông, hay tay của một người ở phía trước hay tay của người kia ở phía sau. Sách này có kể một trường hợp có thật xảy ra ở Thái Lan:
“Vào năm 1811, hai anh em song sinh một người tên Eng một người tên Chang Buher, dính nhau ở phía hông. Khi người ta sờ hông thì cả hai cùng có cảm giác bị chạm. Nhưng, khi sờ những nơi xa cái hông về phía trái hoặc phía phải thì chỉ người nào ở phía đó mới có cảm giác được sờ. Trước niềm vui hay cái sợ, hai anh em cảm giác riêng biệt, nhưng cả hai cùng cảm thấy đói khát cùng một lúc, duy một người ăn uống không làm cho kẻ kia no theo. Cả hai cao độ 1,65 m, Eng thì hơi thấp hơn. Cả hai đi và nhảy nhót nhanh nhẹn. Mẹ của chúng khi sinh chúng ra không gặp một trở ngại nào lúc lâm bồn. Họ có cá tính đối chọi nhau: Chang thì vui tính lanh lợi, Eng thì buồn rầu và ít nói, vì vậy cả hai thường gây gỗ nhau, và có lần kéo nhau đến bác sĩ để xin ly thân. Bác sĩ nélaton từ chối, e rằng giải phẫu sẽ làm thiệt mạng cả hai người. Có điều lạ là cả hai cùng có vợ, hai người vợ lại là hai chị em với nhau nhưng không sinh đôi. Một người có sáu con, một người năm con, tất cả đều bình thường và sống đủ.
Vào năm 1847, Chang bị chết vì sưng phổi. Eng thì chết sau đó vài ngờ, mặc dù không bị sưng phổi gì cả. Lúc giải phẫu, các bác sĩ thấy hai lá gan được nuôi dưỡng bởi một huyết quản chung”.
Vì họ sinh một lượt, cả hai có chung một lá số. Nhưng cá tính và con cái không giống nhau: đó là điều sai biệt khó hiểu trên lá số. Y học liệt kê trường hợp này vào hạng quái vật hình người. Có lẽ đây là việc quá hi hữu, nhưng cũng giúp chúng ta có ý niệm về giới hạn của Tử-Vi.
Lược trích cuốn "Tử vi tổng hợp" của Nguyễn Phát Lộc
Chùa Ba Đồn tọa lạc tại ấp Tứ Tây, phường An Tây trên đường từ đàn Nam Giao đi về hướng Nghĩa Trang thành phố. Chùa Ba Đồn đã từng chứng kiến qua nhiều thăng trầm của lịch sử qua các giai đoạn. Nay lại được biết đến, bởi đây là nơi an nghỉ của hàng vạn con người xấu số – một khu mộ hợp táng lớn nhất cả nước. Chùa do các phổ (phường nghề) tự lập và những người giữ chùa là những người bán thế xuất gia (có gia đình), không có tu sĩ như các chùa khác.
Từ phía ngoài nhìn vào chúng ta sẽ thấy rất rõ những bãi cỏ rộng, bằng phẳng, xung quanh có nhiều lăng mộ khác chen vào. Đó là ba bãi cỏ tuyệt chỉ mọc một loại cỏ chỉ xanh rờn bằng phẳng giống như ba cái sân bóng. Ở giữa nổi lên một ngôi chùa nhỏ, giống một ngôi miếu hơn là chùa. Trước kia nơi đây không phải là chùa, mà chỉ là một bãi đất trống được dùng làm cồn mồ chôn cất những người đã chết không nơi nương tựa trong các giai đoạn chính của lịch sử.
Năm 1803, trong giai đoạn xây dưng kinh thành Huế, vua Gia Long (1802 – 1819) đã cho tiến hành việc di dời 8 ngôi làng nhỏ nằm ở phía Bắc của sông Hương, khu vực cồn mồ của 8 làng cũng được di dời. Với những mồ mả không có thân nhân đến nhận thì triều đình cho tiến hành việc quy tập lên vùng rừng núi phía Tây Nam của thành phố (nay khu vực này là xóm Hành, thuộc thôn Tứ Tây, xã Thủy An, thành phố Huế). Triều đình cho lập văn bia cho các ngôi mộ này vào 07/03/1803 và ghi rõ: “Ân Tứ Hiệp Táng Vô Tự Chi Mộ” (nghĩa là nơi an táng những người chết không nơi nương tựa), mà dân gian thường hay gọi là “cồn mồ 8 làng”.
Đến năm 1835, vua Minh Mạng cho lập một bàn thờ ở giữa trời (đàn) tại cồn mồ 8 làng đề hằng năm nhà nước tổ chức cúng tế những cô hồn của 8 làng. Về sau cho dựng thêm hai đàn nữa để cúng tế những cô hồn của cồn mồ thứ hai và thứ ba.
Dân chúng gọi ba cồn mồ có ba đàn hằng năm tế lễ đó là Cồn mồ Ba Đàn (Ba Đồn). Sau ngày thực dân Pháp đánh chiếm Huế, dân chúng và binh lính trong Thành đạp nhau chạy theo vua ra các cửa Nhà Đồ, cửa Hữu làm chết hàng ngàn người. Lúc đầu người chết được dập hai bên lề đường và ngay trong các vườn nhà chung quanh. Về sau người Pháp “giăng giây thép hoạ địa đồ nước Nam” bắt dân chúng phải cất bốc hết các mồ mả chôn trong và ngoài Kinh thành. Những mồ vô chủ lại được đưa lên Ba Đồn “hợp táng” hình thành thêm một số Cồn mồ nữa.
Trải qua những biến cố thăng trầm của lịch sử, ngôi miếu xưa đã bị đổ nát rất nhiều. Nhưng nhờ sự đóng góp của bà Nguyễn Thị Lựu (bà ngoại của vua Thành Thái), cùng người dân khắp nơi, đặc biệt là người dân địa phương, ngôi miếu đổ nát năm xưa đã được trùng tu, để ngày nay trở thành nơi cúng tế hàng năm cho dân làng ở Ba Đồn.
Chùa Ba Đồn xưa còn gắn liền với những sự tích huyền bí, bất kể người dân nào dù là lớn hay nhỏ đã từng sống và lớn lên tại đây đều rất thành kính hướng về Ba Đồn, vì thế mỗi dịp đi ngang đây, người dân cũng không to tiến, cũng không đùa giỡn, thậm chí không một ai dám đá banh ngay trên bãi đất trống bằng phẳng trong khuôn viên của chùa.
Và để cầu mong cho các linh hồn sớm siêu thoát, miếu Ba Đồn đã rước tượng Phật về để thờ. Dần dần ngối miếu nhỏ được xây cất thành một ngôi chùa nhỏ, mà ngày nay mọi người Huế đều quen với tên gọi – chùa Ba Đồn.
Hiện nay, một số hạng mục công trình của chùa đã bị xuống cấp, nhiều hiện vật quý của chùa ngày trước như chiếc đại hồng chum, một chiếc trống đại, hay 1 bức hoành phi sơn son thếp vàng do ông Hoàng Châu Nguyên, một thương nhân Trung Hoa gửi tặng năm xưa giờ đây đã không còn nữa. Khuôn viên của chùa cũng đã bị chiếm dụng đi nhiều.
Đất trên các cồn mồ tại Chùa Ba Đồn chỉ có cỏ mọc chứ không thấy bất cứ một loài cây lớn nào: theo giải thích của các vị sư trong chùa thì ngày trước khi chôn xác tại đây, người dân đã rải rất nhiều muối lên nơi này; có ý kiến khác cho rằng vì dưới đất là hàng ngàn xác chết nên tử khí bốc lên không ngớt, cũng vì thế mà không một loại cây lớn nào có thể mọc lên được.
Các sư thầy của chùa Ba Đồn đều là những “người bán thế xuất gia” (nghĩa là vẫn có gia đình), chứ không phải thuộc tầng lớp tu sĩ như các ngôi chùa khác. Cũng vì thế, trải qua những biến cố của lịch sử, ngôi chùa Ba Đồn vẫn chưa được Giáo hội Phật giáo công nhận.
Chùa Ba Đồn là một di tích rất lạ với mười cồn mộ hợp táng lớn nhất nước, đây còn là nơi hợp táng những chiến sĩ yêu nước đã hy sinh dũng cảm trong biến cố đánh Tây năm 1885 để bảo vệ Kinh thành Huế. Ngày nay Kinh thành Huế được công nhận là di sản thế giới, việc tôn tạo các di tích nầy để tưởng nhớ người xưa là sự thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn của thế hệ con cháu hôm nay.
| ► Xem bói ngày sinh để biết tình yêu, hôn nhân, vận mệnh, sự nghiệp của mình |
![]() |
| Ảnh minh họa |
![]() |
| Ảnh minh họa |
![]() |
![]() |
![]() |
| ► Mời các bạn theo dõi Tử vi hàng tháng được cập nhật mới nhất tại Lịch ngày tốt |
Con giáp đào hoa nhất tháng 7, sợ gì kiếp FA đeo bám
1. Trán thấp
Theo nhân tướng học, vầng trán được ví như trời, thuộc Ly Hỏa, là vị trí cung Quan Lộc và Thiên Tước. Do đó, tướng trán tốt xấu sẽ quyết định phần nào tới phúc lộc, quan lộc, trí tuệ, vận khí... của mỗi người. Chủ nhân của tướng trán rộng, đầy đặn và sáng sủa thường có số mệnh sung sướng, nhưng rất ít người có được đầy đủ các đặc điểm trên.
Trong năm Bính Thân, Bính Hỏa tương trợ Ly cung, nên những ai có tướng trán không lí tưởng có cơ hội chuyển mình, thậm chí tỉ lệ phát tài cao. Thời điểm sau khi lập xuân mà vùng trán sáng sủa, nhẵn nhụi thì cơ hội đột phá về tài chính lớn.
![]() |
2. Tướng mũi không lí tưởng
Mũi là Trung cung, thuộc Thổ tinh, tượng trưng cho tài phúc. Đồng thời mũi chính là cung Tài Bạch, đại diện cho tài vận, tiền bạc. Trong tướng học, sống mũi cao, cánh mũi đầy đặn là tướng người phú quý, nhiều tài lắm lộc, đường chính tài vượng. Trái lại, mũi gầy guộc, ít thịt, lỗ mũi lộ thì phụ tài khá.
Trong năm 2016, Bính Hỏa sinh Thổ, người có tướng mũi lí tưởng càng dễ dàng phát tài, còn những ai sở hữu chiếc mũi có một vài đặc điểm khuyết hãm nào đó cũng thể kiếm được số tiền lớn.
3. Thiên thương đầy đặn, sáng sủa
Trên khuôn mặt, Thiên thương chính là vị trí từ tai đến đuôi lông mày. Nơi đây đại diện cho tài khố, cơ hội xuất ngoại và cung Phu thê. Bộ phận này sáng sủa ắt tài vận tốt, dễ phát tài. Năm 2016, nếu Thiên thương xuất hiện sắc tím, đỏ hay hồng đều không tốt. Trái lại, nếu xuất hiện sắc vàng và sáng sủa thì vạn sự như ý, đi xa cầu tài càng thuận lợi, phụ tài dồi dào.
![]() |
4. Lông mày đậm nhạt không đều, đuôi mày phân tán
Trong nhân diện học, lông mày đậm nhạt không đều, đuôi mày phân tán thường không được coi là quý tướng, có ít quý nhân phù trợ. Lông mày và tóc đại diện cho ngũ hành Mộc. Trong năm 2016, Thân Kim khắc Mộc, nên những ai có tướng lông mày chưa lí tưởng vẫn có cơ hội phát tài nhờ quý nhân tương trợ.
5. Cằm tròn đầy
Cằm chính là Địa các, đại diện tài sản cố định đồng thời là phúc phận của mỗi người. Chủ nhân của tướng cằm đầy đặn thường có tài lộc dồi dào, nắm trong tay sản nghiệp lớn. Ngược lại, nếu cằm nhọn, gày guộc thì vận trình tiền tài không tốt.
Bên cạnh đó, Địa các là Khảm cung, Khảm cung lại mang đặc trưng của yếu tố Thủy. Trong năm 2016, Thân Kim sinh Thủy, nên những ai có tướng cằm tốt dễ dàng phát tài, kiếm được nhiều tiền bạc. Người có tướng cằm chưa lí tưởng cũng được hỗ trợ phần nào và thoát khỏi áp lực về vật chất.
![]() |
![]() |
![]() |
Infographic: Hình dáng bàn tay quyết định vận mệnh, cá tính, sự nghiệp cuộc đời| ► Xem tướng số đoán biết vận mệnh chuẩn xác |
Bài viết của tác giả Ân Quang
Cung Quan có Đào Hồng tại Tý
Tuổi Tý, Dậu làn nên sớm nhưng yểu.
Câu này ở trang 66, trong cuốc Tự Điển Tử Vi của tác giả Đắc Lộc, xuất bản năm 1952 tại Hà Nội.
Và cũng lại có một câu tương tự, ở trang 223, sách Tử Vi Đẩu Số của Vân Đằng Thái Tứ Lang, xuất bản năm 1957. Câu ấy như sau:
“Đào Hồng toạ thủ tại Tý” tuổi Tý Dậu hiển đạt nhưng chết non.
Theo phương pháp an sao, lập thành lá số, mà các tác giả ấy hướng dẫn nơi phần đầu cuốn sách thì:
Tuổi Tý, Hồng Loan tại Mão, Đào Hoa tại Dậu
Tuổi Dậu, Hồng Loan và Đào Hoa đồng cung tại Ngọ.
Chỉ có tuổi Mão mới có Đào Hồng cũng ở Tại cung Tý mà thôi! Không thê nào tuổi Tý Dậu (hoặc Tỵ, Dậu) mà lại có Đào Hồng toạ thủ tại Tý được!
Người sinh lục Giáp, Lục Mậu, Mệnh cư Dần Thân có Kình Dương toạ thủ là cô đơn, không giữ được tổ nghiệp, mang hai họ thì sống lâu, làm nghề khéo léo.
Ở trang 172, Tử Vi Đẩu Số, quyền Thượng, tác giả Nguyễn mạnh Bảo đã luận như thế, và qua trang 173 thì lại nói Kình Dương “ở cung Dần là đắc địa”.
Cuốn Tử Vi Đẩu số của tác giả Nguyễn Mạnh Bảo xuất bản năm 1951, đến năm 1957, lại thấy một câu tương tự trong cuốn Tử Vi Đẩu Số của tác giả vân Đằng Thái Thứ Lang, trang 155 nói về sao Kình Dương:
“Kình toạ thủ tại Dần, Thân, tai hại nhất đối với tuổi Giáp, Mậu v.v..
Tuổi Giáp, tuổi Mậu tính làm sao cho có được sao Kình Dương ở Dần, Thân. “Lộc tiền nhất vị thị Kình Dương”
Trước Lộc Tồn một cung là sao Kình Dương.
Giáp Dần, Ất Mão lộc chỉ khoa
Canh Thân, Tân Dậu lộc diệu đa
Nhâm trư, Quý thử tòng trung lại
Đinh Kỷ Ngọ trang, Bính Mậu xà.
Đó là một trong nhiều bài phú tương tự nói về cách an sao Lộc Tồn. Khi đã có sao Lộc Tồn thì “tiền Kình, hậu Đà”, cung trước Lộc Tồn là Kình Dương, cung sau Lộc Tồn là Đà La.
Lại còn có biết bao nhiêu đồ biểu chỉ vẽ cách an sao Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La. Đồ biểu trình bày có vẻ rất khoa học. Áp dụng các đồ biểu ấy cũng chẳng thấy tuổi nào có Kình Dương ở Dần, Thân.
Đến đây buộc lòng chúng ta phải hoài nghi khả năng bấm Tử Vi thuộc lòng của các tác giả ấy. Nếu đã thuộc lòng bản cửu chương, chín lần chín là tám mươi mốt, khi nghe ai nói chín lần chín là tám mươi, thì chúng ta sẽ thấy ngay là người ấy có nhầm lẫn. Nếu đã thuộc lòng tuổi Giáp có Lộc Tồn ở Dần, thì chẳng thể nào viết sách, rằng tuổi Giáp có Kình Dương ở Dần được.
Tiếc thay, trong một cuốn sách Tử Vi xuất bản gần đây, có những bài phú chỉ dẫn cách an sao thuộc lòng, lại cũng chẳng thấy có đoạn tương tự!
“Người tuổi Giáp, tuổi Mậu mà Mệnh đóng tại Giần Thân lại gặp Kình Dương thì phá tán tổ nghiệp”.
Nêu lên những sai lầm kể trên, chúng tôi không có ý khen chê một tác giả nào. Chúng tôi chỉ muốn đưa ra một nhận xét rằng khoa Tử Vi đã bị thất truyền, lại còn bị làm rối loạn thêm bởi những “công thức các bộ sao chỉ có thể có trong trí tưởng tưởng, chứ không thể xảy ra khi an sao, lập thành lá số.
Thí dụ như cách “Tả Hữu giáp Thân, Mệnh an tại Dần, Tuất” là phú quý, đàn bà giàu có, kẻ vì người mong và cũng là cách không thể nào xảy ra khi an sao, lập thành lá số (trang 117 - Tự điển Tử Vi – Tác giả Đắc Lộc).
Nếu ở trang 179, cũng sách ấy tác giả nói đến cách:
“Vũ, Liêm đồng cung bần cùng” thì tác giả Nguyễn Mạnh Bảo cũng luận về sự Sinh Khắc Chế Hoa của các sao như sau:
Ví dụ như Vũ Khúc là Kim tinh với Liêm Trinh là Hoả tinh, cùng ở với nhau tuy Vũ Khoá là tài tinh, có kiếm được đi chăng nữa thì cũng phải hết vì Liêm Hoả khắc Vũ Kim.
Thật ra không thể nào tính được sao Vũ Khúc và Liêm Trinh đồng cung. Hai sao này luôn luôn ở vào phương vị hạp chiếu nhau, vì cùng nằm trong thứ tự của vòng sao Tử Vi.
Những sự sai lầm ấy, không có gì hại nhiều. Chỉ làm cho học giả Tử Vi mất thêm chút thời gian đọc sách bận rộn trí óc thêm một chút. Chỉ mất thì giờ chứ không có hại, vì khi áp dụng vào luận đoán, nhìn vào lá số, không gặp những cách kể trên thì thôi, không ai thắc mắc làm gì.
Những cách ấy, trường hợp ấy chẳng bao giờ xảy ra. Người nghiên cứu Tử Vi chẳng bao giờ gặp cách ấy trong lá số, để luận đoán, vì vậy cũng chẳng ai đặt thành vấn đề phân tách hoặc rút kinh nghiệm. Những cách ấy có thực đâu mà rút kinh nghiệm.
Chẳng hạn, cứ viết là:
“Thất Sát đồng cung với Thiên Cơ thì thiện được bà phần”.
Người viết cứ việc viết, người đọc cứ việc bỏ thì giờ ra mà đọc. Người mới học Tử Vi, làm sao biết được rằng Thất Sát chẳng bao giờ đồng cung với Thiên Cơ.
Những điều kể trên cũng chỉ làm mất thì giờ, bận rộn trí óc người đọc sách chứ không có hại lắm, vì quý bạn nghiên cứu Tử Vi có bao giờ gặp được những cách ấy trong lá số nào đâu.
Còn nhiều cách lẩm cẩm tương tự. Nhưng chúng tôi không làm công việc điểm sách Tử vi vì e rằng có những sự hiểu lầm. Thực lòng, chúng tôi chỉ mong góp một phần nhỏ trong việc bảo tồn và làm sáng tỏ chân lý Tử Vi mà thôi. Chúng tôi xin đề nghị với quý bạn mới nghiên cứu Tử Vi nên chịu tốn công một chút, học cách an sao thuộc lòng, cũng như người làm tóan thì cần thuộc lòng bản cửu chương. Chừng ấy quý bạn có thể tự mình nhận xét, tìm thất những cách không hề xảy ra khi an sao, lập thành lá số. Thí dụ như khi đã quen với cách tính thuộc lòng, lại thất sách viết: “Tử Vi có Thái Âm, Thái Dương hợp chiếu” lúc ấy quý bạn có thể nhận ra rằng đó là một quái thai Tử Vi vậy.
Nếu theo cách an sao trong các sách Tử Vi hiện nay, thì không một tuổi nào có Kình Dương ở Dần, Thân, Tỵ, Hợi, quý bạn cứ xem lại các sách Tử Vi thì sẽ rõ.
Tuổi Giáp, tuổi Mậu thì tuyệt đối không khi nào có Kình Dương ở Dần, Thân.
Còn đối với các tuổi khác thì có thể, theo một cách tính Tử Vi xưa, có Kình Dương ở Dần, Thân, Tị, Hợi không phải ngẫu nhiên mà có chuyện Kình Dương đắc đại ở Dần, Thân, Tị, Hợi. Trong một số đáng kế những lá số Tử Vi viết và luận sắc sảo bằng chữ Hán mà chúng tôi sưu tầm được, thì thấy có tính đến Kình Dương ở Dần, Thân, Tị, Hợi. Ngoại trừ hai tuổi Giáp và Mậu.
Riêng trong cuốn Tự Điển Tử Vi của tác giả Đắc Lộc, xuất bản năm 1952, có nói vắn tắt là Kình Dương đắc địa ở Dần, Thân, Tị, Hợi. Nhưng trong phần an sao thì cũng không trình bày cách tính thế nào mà được Kình Dương đắc địa ở Dần, Thân, Tị, Hợi.
Sách Tử Vi Chỉ Nan của tác giả Song An Đỗ vẫn lưu xuất bản năm 1957, cũng có nói đến Kình Dương đắc địa ở Dần, Thân, Hợi hãm ở Tị. Thế mà trong phần an sao, cũng không chỉ dẫn tính cách nào cho có được Kình Dương ở Dần, Thân, Tị, Hợi.
Chẳng lẽ đã viết sách lại còn giấu nghề, nhất là đã có công sưu tầm sách chữ Hán để dịch ra chữ Việt. Có lẽ quý vị ấy cũng chưa khám phá hết cái sai lầm có dụng ý của người xưa.
Ông Cao Trung đã có lần nói đến những cái “ sai lầm có dụng ý” của người xưa, trong lá thư Toà soạn kỳ bào số 20.
Chúng tôi được biết số, hiện nay có một thầy Tử vi uyên thâm tại Sài Gòn, khi bấm số Tử vi vẫn tính có trường hợp Kình Dương đóng ở Dần Thân, Tị, Hợi. Nhưng cũng chẳng nói với ai. Không hẳn là vị Thầy ấy giấu nghề. Đứng vào tư thế của một người hành nghề, lại đưa ra một kinh nghiệm, hoặc một quan niệm có vẻ đi ngược lại trào lưu (dù là trào lưu sai lầm) thì dễ gặp những sự chống đối, chất vấn, có khi đi đến chỗ đánh đố vặt, chẳng lợi lộc gì, chi bằng cứ giữ im lắn, chẳng thiệt thòi, lại đỡ va chạm, thêm ồn ào.
Trong một bài khác chúng tôi sẽ trình bày trường hợp Kình Dương ở Dần, Thân, Tị, Hợi và cũng trình bày một vài quan niệm về các trục Tý - Ngọ, Mão - Dậu, Dần – Thân, Tị - Hơị, Thìn - Tuất, Sửu – Mùi.
Bây giờ xin trở lại với điểm chính của bài này.
Nếu những công thức tưởng tượng như đã kể trên không làm hại cho việc luận đoán một lá số ( vì làm gì có những công thức ấy khi an Sao) thiì những câu phú chữ hán được dịch một cách ngớ ngẩn đã làm cho người nghiên cưú Tử Vi rơi vào một “ Mê hồn trận”. Thí dụ như một số câu phú sau đây:
“ Mộc Dục độc thủ, chỉ hảo dã dong”
Được dịch:
“Thân, Mệnh có một sao Mộc Dục toạ thủ thì chỉ làm thợ bạc hay thợ rèn” (trang 47, Tử Vi Đẩu Số, quyển Hạ tác giả Nguyễn Mạnh Bảo).
Cùng viết một các chữ “Dã” có hai nghĩa: một nghĩa là nấu đúng đổ kim khí, nghĩa thứ 2 là trau dồi vẻ đẹp.
Và Dã Dong, hay là Dã Dung là một chữ kép có nghĩa là trau dồi, làm dáng, trau dồi dung mạo.
Lại như câu:
Thái Tuế phùng Thất Sát
Mệnh viên, hung trung gia diệu toán
Được dịch là:
Mệnh có Thái Tuế gặp Thất Sát tuy trọng hung nhưng phải xem các thủ chiếu rồi mới đoán (trang 90, Tử Vi Bổ Túc N, M.
Hung là lồng ngực, cái ngực của thân mình.
Hung trung là trong lòng.
Gia Diệu Toán là thên tính toán giỏi.
Câu ấy chỉ có nghĩa là Thấy Sát và Thái tuế ở Mệnh thì trong lòng thêm cơ mưu, tính toán giỏi.
Câu này tương tự như câu “Thái Tuế phùng Thất Sát, trí dùng hữu dư” vậy.
Chữ “Hung trung” là để đối lại với chứ “Thân thượng” trong câu”:
“Trường Sinh hội Thiên Lương, ư Phúc địa thân thượng hữu kỳ tài”.
Có lắm trường hợp, câu chữ Hán được in vào sách, gần như chỉ để trang trí cho cuốn sách Tử Vi đó mà thôi.
Thí dụ như câu:
Tinh lâm miếu vượng địa, tái quan sinh khắc chi ư”
“Mệnh sinh cường cung, tế sách chế hoá chi lý
(Tử vi Đẩu Số - Nguyễn Mạnh Bảo – trang 2 - quyển Hạ)
Câu chữ hán đã in sai, còn lời giải thích thì mông lung, gần như không có liên hệ đến câu chữ hán.
Chúng tôi xin miễn nói lại ý nghĩa hai câu này, vị cụ Quản văn Chính đã giải thích rõ trong đặc san này, số 7 và số 9.
Gặp những chữ hán, tương tự như vài chữ Việt, mà vội vã thông qua, vội dịch theo cái cảm quan của riêng mình, thì cũng dễ tạo thành chuyện khôi hài.
Thí dụ như câu:
“Phá toạ ly, ngôn ngữ thô bạo, phùng Lộc, Dương, năng giải xướng cuồng’.
(Tử Vi Đẩu Số tác giả Vân Đằng Thái Thứ Lang – trang 143).
Dịch là:
“Cung Mệnh an tại Ngọ có Phá toạ thủ, nên hay gắt gỏng thô lỗ. Đây, nếu Phá, hoặc gặp lộc đồng cung hoặc gặp Thiếu Dương hội hợp lại vui tính, hay đùa bỡn”.
Chữ “Xướng cuồng” đây nghĩa là làm càn, làm xằng bậy, chứ nào có nghĩa vui sướng, hát xướng, cuồng loạn, rửng mỡ!
Chữ “ Năng giải xướng cuồng” có nghĩa là có thể giả được sự làm càn, làm xằng bậy, đối lại với mấy chữ “ Ngôn ngữ thô bạo” ở trước.
Lại có trường hợp, một câu chữ Hán bị sửa sai lệnh hẳn đi chỉ vì người luận đoán không khiểu nghĩa câu chính.
Thí dụ như câu: “Tử Vi tu cần Tam Hoá, nhược phùng Tứ Sát, phong bãi hà hoa”.
Chữ “Bãi” nghĩa là đưa qua đưa lại.
“Phong bãi hà hoa” là gió thổi cành hoa sen đưa qua, đưa lại, là canh hoá vị gió vùi dập.
Ấy vậy mà chúng tôi đã gặp câu này, trong một vài trường hợp khác lại được sửa là “ Phong Bão hà hoa”.
Thật là một sự phối hợp kỳ diệu chữ Bão (chữ Việt thuần tuý) và chữ Phong ( Chữ Hán Việt) - Chữ Hán làm gì có chữ Phong Bão là gió bão.
Như đã trình bay ở trên, chúng tôi không làm công việc điểm sách Tử Vi, e rằng có sự hiểu lầm.
Trong những sách Tử Vi kể trên cũng như trong một số sách Tử Vi khác, còn nhiều công thức các bộ sao tưởng tượng, mà dường như sách sau chép lại của sách trước, và cũng còn nhyiều câu chữ Hán dịch quá cẩu thả.
Chúng tôi chỉ nên lên một vài trường hợp đặc trưng. Mong rằng quý soạn tác giả khi xuất bản hoặc tái bản sách Tử Vi nên lưu ý thận trọng hơn.
Chúng tôi xin thành thật khâm phụ hầu hết quý vị soạn giả sách Tử Vi., vì đã có công rất lớn trong việc mở đường cho phong trào nghiên cứu Tử Vi được sâu rộng như ngày nay. Tiếc rằng mới đây trên thị trường, đã có cuốn sách Tử Vi, đầy rẫy những lỗi lầm tử phần ấn loát đến phần dịch thuật, mà có lẽ không nói đến tên cuốn sách ấy, quý vị trong giới Tử Vi đều có thể nhận biết dễ dàng. Đó thật là Tử Vi gặp Tứ Sát vậy.
Theo tạp chí Khoa Học Huyền Bí
- Gò Kim tinh có lõm sâu: dễ bị bệnh tật.
- Gò Hỏa tinh có lằn chỉ nằm ngang: sưng cuống phổi, huyết áp cao.
- Gò Thổ tinh có ngôi sao: dễ bị bại liệt.
- Gò Thái Âm có những đường chỉ đan nhau như hình lưới, hàng rào: bạn gái nên cẩn thận về bệnh thuộc thận, bệnhthuộc đường sinh dục.
Trên Tâm Đạo:
- Đường Tâm đạo có phân hai nhánh, một nhánh chạy về hướng trí đạo, một hướng về gò mộc tinh là biểu hiện của tình trạng kinh kỳ bất ổn, khí huyết không đều, gan và tim yếu.
- Đường Tâm đạo bị cắt bởi nhiều đường chỉ nhỏ: cần lưu ýđến bệnh tim.
- Trên đường Tâm đạo có cù lao sậm màu: bạn gái thường bị đau ở bộ phận sinh dục, thận.
- Trên đường Tâm đạo có ngôi sao nằm ngay dưới gò Thổ tinh:bệnh tim.
- Đường Tâm đạo đậm màu, lan rộng và trồng tréo lên nhau như dây thong và ngoằn ngoèo như rắn lượn: Tim yếu. Dạ dày đường ruột cũng không tốt. Ngoài ra Tâm đạo có dấu nủng (chấm sâu đạm màu cũng vậy). Nhiều tài liệu xưa cho thấy Tâm đạo có cù lao là biểu hiện của bệnh tim.
Theo bác sĩ J.Coustanno thì càng ngày các nhà y học càng thấy mối liên hệ lạ lùng giữa bệnh lý và các dấu hiệu tương quan xuất hiện trên bàn tay cả nam lẫn nữ. Sau đây là một số đặc điểm mà các nhà nghiên cứu về chỉ tay của Đông cũng nhưTây đã từng nêu ra.
Trên đường Trí đạo:
- Đường trí đạo ngoằn ngoèo: đau gan, nếu uốn thành nhiều khúc hay bị nhức đầu.
- Đường trí đạo bị đứt khúc: cẩn thận, trong đời dễ bị té gãy
chân, ảnh hưởng đến mắt và đầu. Thần kinh bị xáo trộn.
- Nếu có những đường chỉ nhỏ cắt đường trí đạo ở phía trên:dễ bị tai nạn ở chân hay đầu.
- Đường trí đạo gần chạm đường Tâm đạo ở đoạn giữa: Hay khó thở hồi hộp, tim yếu, phổi yếu hay thở nặng nề.
Trên Sinh Đạo:
- Trên đường sinh đạo có chấm đen: đau nhức gân cốt.
- Trên sinh đạo có chữ thập, dấu nhân dễ bị tật, có chấm nủng: có bệnh trong người. Nếu có cù lao là bệnh dây dưa lâu ngày. Nếu có đường phân nhánh ở cuối là bệnh phong thấp nhức mỏi.
- Sinh đạo có đường chỉ nhỏ chạy xuống để liên hợp với một nhánh có ngôi sao nằm ở gòThái âm: Dấu hiệu dễ sẩy thai. Nên lưu ý đề phòng. Cuốiđường sinh đạo có chùm tua: đau bụng, nhức đầu.
- Sinh đạo đứt khúc: coi chừng bộ máy tiêu hóa có trục trặc.
- Sinh đạo có dạng lòi tói giống dây thong: đau mắt, mắt yếu.
- Sinh đạo có nhiều đường rẽ, phân nhánh: Thần kinh bị tác động.
- Đường sinh đạo có những làn nhỏ cắt ngang ngó qua gò Thái Âm: bệnh cảm đã nặng, thận đau và tử cung và phổi cũng vậy. Khi những lằn ấy xuất hiện dưới ngón tay cái trên gò Kim tinh thì nếu là đàn bà sẽ bị băng huyết.
- Gần đường sinh đạo có vùng nhỏ ửng hồng: coi chừng tim to hay có khi bị xuất huyết.
- Đầu đường sinh đạo có hình bán nguyệt: Để ý bệnh phổi.
- Đầu đường sinh đạo có một đường cong hướng về gò Mộc tinh là bệnh tim dễ phát.
- Ở đầu đường sinh đạo có nhiều chấm nủng màu đen: dễ bị bệnh sốt rét.
- Ở đầu đường sinh đạo có nhiều chấm sẫm màu: Nóng lạnh sốt rét, bệnh giun sán. Trên sinh đạo có những lõm, lún sâu: Mắt yếu.
- Đầu đường sinh đạo có cù lao: là bệnh lâu lành. Đau dạ dày khi cù lao ở vị trí khởi đầu của sinh đạo.
- Đầu đường sinh đạo có vòng tròn nhỏ: cần lưu ý thức ăn có thể bị ngộ độc, chết bất ngờ.
- Giữa đường sinh đạo có vòng tròn: Mắt có thể mù hay chấn thương. Nếu hai vòng tròn là hai mắt đều
Theo Baolavansu.com
![]() |
![]() |
| ► Bói tình yêu theo ngày tháng năm sinh để biết hai bạn có hợp nhau không |
Biến động vận trình của 12 con giáp dịp lễ Thất Tịch
![]() |
| Ảnh minh họa |
| ► Lịch ngày tốt cung cấp công cụ xem tử vi, xem tướng các bộ phận cơ thể đoán vận mệnh chuẩn xác |
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)