Tuổi Sửu và tuổi Thìn có hợp nhau không? –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Sướng trước khổ sau ở đây, ý nói những người vốn dĩ thông minh, nhạy bén, có năng lực hơn người, nhưng cuối cùng không tiến bộ lên hoặc thậm chí là thụt lùi. Top 4 con giáp dưới đây là những người như vậy.
1. Tuổi Khỉ
Cuộc đời của những người tuổi Khỉ có thuận lợi hay không, đều là do họ tự lựa chọn. Bản tính bọn họ hiếu động, thông minh, nhạy bén hơn người. Hồi còn trẻ có được cơ sở quan hệ xã hội rộng trong sự nghiệp, khả năng làm việc cũng mạnh. Điều đó khiến họ dễ tự mãn, kiêu ngạo, không đánh giá đúng năng lực của mình mà tùy tiện quyết định, do đó rất dễ thất bại thảm hại. Cho nên những người tuổi Khỉ cần có đầu óc tỉnh táo để suy xét vấn đề, nếu không sướng trước khổ sau là điều khó tránh khỏi.
2. Tuổi Lợn
Những người tuổi Lợn thường không có theo đuổi gì, chỉ hi vọng mình có thể một ngày đủ ăn ba bữa là được. Tính cách như vậy khiến cho năng lực trí não và năng lực chân tay đều yếu đi. Nếu như ủng hộ những người như họ làm trụ cột thì có ngày phá sản. Bọn họ sẽ rơi vào trong chốn mù mịt và đầy rẫy những nguy cơ. Bọn họ vốn ỷ lại vào người khác nên thiếu một số năng lực nhất định, nếu như thất nghiệp sẽ rất khó nuôi sống bản thân. Cho nên nếu như không chú ý bồi dưỡng khả năng, lại xuất hiện biến cố trong sự nghiệp, thì cuộc đời họ sau này sẽ rất vất vả.

3. Tuổi Hổ
Những người tuổi Hổ từ trẻ đã bộc lộ khả năng tháo vát của mình, là người trượng nghĩa, hành sự chu đáo, cho nên sự nghiệp tiến triển vô cùng nhanh, nổi tiếng và có uy quyền. Nhưng bọn họ có thể làm việc lớn, cũng có thể phạm sai lầm lớn. Những người tuổi Hổ nhát gan, lại thích mạo hiểm, khi bọn họ đã đạt tới mức độ nào đó trong sự nghiệp sẽ dần hết động lực, chuyển sang thích cờ bạc. Nếu như không có người bạn đời thông minh, tài giỏi, họ sẽ rất dễ lún sâu, cuối cùng thất bại hoàn toàn. Cuộc đời bọn họ ngọt hay đắng, tất cả nằm trong suy nghĩ của chính họ.
4. Tuổi Chó
Những người tuổi Chó sẽ rất dễ xuất hiện tình cảnh lên voi xuống chó trong cuộc đời. Họ tự tin quyết đoán, sẽ không để mình phải chịu khổ quá lâu, cho nên trước khi lập gia đình sẽ nhất định phải có nền tảng vật chất. Cuộc sống tốt, nhưng những khiếm khuyết trong tính cách của bọn họ cũng rất dễ bộc lộ, dễ mù quáng. Họ lại cố chấp, một khi gặp người không tốt, vẫn cứ cả tin, bị đối phương lợi dụng, chịu tội thay người khác cũng không biết. Cho nên đối với những người tuổi Chó, tin người khác chẳng thà tin chính mình, cần tránh xa những người có lòng dạ xấu xa, nếu không sẽ đau khổ sau này
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Bạn muốn biết nốt ruồi ở đùi là tốt hay xấu, ý nghĩa nốt ruồi ở đùi mang lại điều gì cho chủ nhân. Bài viết dưới đây Phong thủy số sẽ giới thiệu tới bạn những ý nghĩa của nốt ruồi ở các vị trí khác trên cơ thể:

Theo quan niệm của các nhà Nhân tướng học thì nốt ruồi mọc ở đùi ( hay còn gọi là vế, bắp đùi, cẳng chân) thì đều không tốt. Những người có nốt ruồi mọc ở đùi thường không có con, hoặc gặp khó khăn về đường con cái. Với đàn ông nếu có nốt ruồi mọc ở bắp chân hay ống quyển thì thường không vợ.
Với những nốt ruồi trên đùi, tức là kể cả hai bên bẹn hay hai bên háng, bất kể là nốt ruồi chìm hay nốt ruồi nổ, chỉ cần mọc ở vị trí từ háng đến trên đầu gối thuộc mặt trước thì đều là tướng tốt, là người có của cải, cuộc sống sung túc ngày càng giàu sang. Những nốt ruồi trên đùi đều tốt không kể là nốt ruồi đen hay đỏ, nốt ruồi nổi cao hay bằng phẳng.
Đối với phụ nữ thì nốt ruồi ở háng hay còn gọi là nốt ruồi ở bẹn nhất là có nốt ruồi son thì biểu thị chủ nhân của những nốt ruồi này thường là những người đắc chí, công việc, sự nghiệp của họ luôn thuận buồm xuôi gió. Còn trong lĩnh vực tình yêu, hôn nhân sẽ luôn được may mắn, gặp được người chồng tốt.
Với những người có nốt ruồi ở rốn hay nốt ruồi gần rốn thì đều tốt. Với những người có nốt ruồi ở rốn thì thường có tương lai sáng lạn, trong trường hợp nốt ruồi mọc nổi thì lại càng tốt hơn. Kể cả nốt ruồi mọc ở rốn đàn ông hay nốt ruồi mọc ở rốn phụ nữ thì đều tốt, con đường sự nghiệp của những người này đôi khi có thể gặp khó khăn nhưng đều vượt qua được.
Trên đây là những ý nghĩa của nốt ruồi ở các vị trí khác nhau trên cơ thể, để tham thảo thảo thêm những bài viết hữu ích khác, bạn có thể xem những bài viết dưới đây của chúng tôi:
+ Nốt ruồi trên thái dương có nên xóa hay không?
+ Nốt ruồi trên trán báo hiệu mệnh sướng khổ
+ Xem bói nốt ruồi trên cơ thể
+ Nốt ruồi ở gót chân phải có ý nghĩa gi?
+ Xem tướng người có lông mày rậm
Key liên quan: nốt ruồi ở rốn, nốt ruồi gần rốn, nốt ruồi ở rốn phụ nữ, nốt ruồi ở rốn đàn ông, nốt ruồi ở đùi, nốt ruồi trên đùi, nốt ruồi ở háng phụ nữ, nốt ruồi ở háng, nốt ruồi ở bẹn
![]() |
![]() |
| ► Tìm hiểu về những vật phẩm phong thủy và sự ảnh hưởng đến vận thế của bạn |
![]() |
![]() |
![]() |
Lỗi phong thủy phòng ngủ “tử hình” hôn nhân
7 nguyên tắc phong thủy tối cần thiết khi đặt cây hoa trong nhà
Bạn muốn biết tuổi Canh Ngọ hợp làm ăn với tuổi nào, người sinh năm 1990 hợp làm ăn với tuổi nào, tuổi hợp làm ăn với Canh Ngọ,... Dưới đây Phong thủy số sẽ giới thiệu tới bạn các tuổi hợp làm ăn với tuổi Canh Ngọ.

Xem thêm những bài viết liên quan
+ Tuổi Kỵ Tỵ hợp làm ăn với tuổi nào?
+ Tuổi Mậu Thìn hợp làm ăn với tuổi nào?
+ Tuổi Đinh Mão hợp làm ăn với tuổi nào?
Tuổi Canh Ngọ, sinh năm 1990, năm con ngựa, cung mệnh Ly, mạng cốt tinh Thổ.
Tính tình của người tuổi Canh Ngọ: Tài năng lại thông minh nên rất dễ thành công. Nóng tính những dễ tha thứ, hay giúp đỡ người khác. Ham hoạt động, thích tự do nên dễ thích ứng với công việc.
Nghề hợp với tuổi Canh Ngọ: Nếu làm nghề kinh doanh sẽ nhanh chóng phát tài, thịnh đạt.
Tuổi hợp làm ăn với Canh Ngọ gồm Mậu Ngọ, Kỷ Mùi, Giáp Thìn, Ất Tỵ, Bính Dần, Đinh Mão, Giáp Tuất, Ất Hợi ( thuộc hành Hỏa) khi kết hợp lam ăn với Canh Ngọ sẽ được thuận lợi, thịnh vượng.
Những người có mệnh Kim khá hợp tuổi làm ăn với Canh Ngọ, đó là các tuổi Nhâm Thân, Quý Dận, Ất Sửu, Giáp Tý, Nhâm Dần, Quý Mão, Canh Tuất, Tân Hợi. Với những tuổi này thì người tuổi Canh Ngọ thường gặp thua thiệt khi kết hợp làm ăn, nên họ thường là trợ lí hoặc cấp dưới của những người mệnh Kim thì công việc mới thuận buồm xuôi gió.
Những người có mệnh Thổ khi thì có tuổi hợp làm ăn với Canh Ngọ, đó là các tuổi Bình Thìn, Đinh Tỵ, Mậu Thân, Kỷ Dậu, Canh Tý, Tân Sửu, Canh Ngọ, Tân Mùi. Khi kết hợp làm ăn với những người tuổi này thì công việc bình hòa, không ai hại ai, cùng nhau bàn bạc làm ăn.
Những người có mệnh Thủy thì hợp làm ăn với những người sinh năm 1990. Những tuổi hợp mệnh Thủy gồm Giáp Dần, Ất Mão, Nhâm Tuất, Quý Hợi, Bính Ngọ, Đinh Mùi, Bính Tý, Đinh Sửu thì khi kết hợp làm ăn thì người tuổi Canh Ngọ có điều kiện để phát triển, tiến lên.
Những tuổi mà người sinh năm 1990 không nên kết hợp làm ăn là Mậu Thìn, Kỷ Tỵ, Mậu Tuất, Kỷ Hợi, Nhâm Tý, Quý Sửu, Canh Thân, Tân Dậu (thuộc hành Mộc) khi kết hợp làm ăn thì công việc dễ bị tiểu nhân hại và thua thiệt nhiều.
Màu hợp với tuổi Canh Ngọ: Màu nâu, hồng, đỏ, tím, vàng, vàng nhạt.
Hướng đặt bàn làm việc hợp với tuổi Canh Ngọ: Đối với nam giới nên đặt bàn làm việc nhìn về hướng Bắc, đối với nữ giới tuổi Canh Ngọ nên đặt bàn làm việc nhìn về hướng chính Tây.
![]() |
![]() |
| ► Lịch ngày tốt tổng hợp mọi thông tin về mười hai con giáp bạn nên xem |
Những cô nàng khiến phái mạnh “hồn xiêu phách lạc” trong 12 con giáp
An thụ: Loại cây này cao như người không lồ, có thể bằng độ cao của hơn 20 tầng lầu, người trung niên thường không dám trồng loại cây này, được biết nếu cây lớn thi người đó sẽ chết; muốn trồng loại cây này phải mời những người già, dù sao thì đợi khi cây lớn, người trồng cây đó thọ cũng chẳng còn bao lâu.
Phong thủy thụ: ơ phương Nam của Trung Quốc, gần một làng nhỏ có lưu giữ một cánh rừng cây xanh rậm um tùm, rất nhiều loại cây to sinh trưởng như Trương, Tùng, Bách, Nam… Nếu là người đi thăm quan thì không nên sờ vào chúng. Bởi lẽ dây chính là những cây phong thủy, cũng còn gọi là thủy khẩu thụ, dừng chỉ nhìn thấy cánh rừng nhỏ rậm rạp đó mà coi thường, vì nó có thể liên quan đến huyết mạch phong thủy của toàn thôn nhỏ đó, những người ở vùng đó đều không dám động vào một ngọn cỏ, một cành cây trong đó, vì họ sợ phá vỡ phong thủy vốn có của thôn mình.

Tùng: “Tùng” từ cổ đến nay là loài cây được ca tụng không ngớt. Trong Hoa kính có viết: ‘Tùng vi bách thụ chi trưởng…. đã tiết vĩnh niên, bì thỏ như long lân, diệp tế như mã hư, ngộ tương tuyết nhi bất điều, lịch thiên niên nhi bất thoái” (Tùng lớn giữa các cây khác… nhiều mắt, sống lâu, vò cây thể như rồng, lá nho như lông ngựa. Gặp sương tuyết không tiêu điều, sống ngàn năm mà không cỗi).
Vương An Thạch đời nhà Tống của Trung Quốc trong “Tự thuyết”có nói: ‘Tùng vi bách mộc chi trương, ưu công đã. Cố tự tùng công”. Có người bẻ chữ “tùng” thành “thập-bát-công”, Phùng Từ Trấn đời nhà Nguyên có viết “Thập bát công phú. Hồng lộ đời nhà Minh – Trung Quốc cũng có viết “phong cách của tùng thụ … Trong lịch sử có ghi chép Tần Thủy Hoàng khi đi du tuần ở Tần Sơn, gặp phải mưa to gió lớn, đứng dưới một cây tùng lớn đề trú mưa, sau này phong cây Tùng này thành “ngũ đại phu”, người đời sau gọi cây đó là ‘Tùng ngũ đại phu”.
Trong “Câu chuyện hoan học Quỳnh Lâm” có viết: ‘Trúc được gọi là quân tử. Tùng gọi là đại phu chữ đó cũng từ đó mà ra. Tùng chịu lạnh chịu khô cạn, có thể bám rễ song trên đá khô cằn gặp nhau cũng có thể sông được, đông hạ đều xanh tươi, xương lạnh không úa, có thể hiên ngang đứng trong gió tuyết lạnh. Tùng có thể trường thọ không già, dân gian chúc thọ thường có câu: “Phúc như Đông Hải trường lưu thủy, thọ tỷ Nam Sơn bất lẵo Tùng”. Trong thư hoạ thường có ‘Tuế hàn tam hữu” (tùng, trúc, mai), biểu thị cát tường. Trong thư hoạ, đồ dùng, đồ trang trí thường có “tùng bách đồng xuân”, “tùng cúc diên niên”, “tiên hồ tập khánh” (tùng chi, thủy tiên, hoa mai, linh chi…tập trung thành một bó trong bình). Tùng là loại cây trồng được coi là cát tường.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Một trong những cấm kỵ của Phong thủy cũng như của phong tục truyền thống dân gian là không được cư trú trước mặt các vị Thần linh hoặc phía sau miếu tự. Điều đó có nghĩa là trong nhà, phòng ngủ không nên bố trí ngay phía sau bàn thờ, trang thờ thần phật, Tổ tiên. Theo Phong thuỷ thì đặt giường ngủ ngay phía sau bàn thờ sẽ dễ gây nên những bất lợi cho quan hệ tình cảm và sinh hoạt vợ chồng.
Cũng vậy, dân gian không chỉ cấm kị việc đặt giường ngủ của vợ chồng sau bàn thờ, mà còn cho rằng những người trong độ tuổi từ 12 đến 60 không nên ngủ ở ngay phía sau trang thờ, bàn thờ. Điều này nhằm tránh nảy sinh những bất lợi đối với “Đào hoa nhân duyên”, ngăn chặn sát khí làm cho tình cảm vợ chồng, đôi lưa trở nên nhạt nhẽo, thậm chí hai bên có thể bât hòa và thất vọng về nhau.

Về phương diện khoa học:
Một đặc điểm chung của con người là hay liên tưởng đến những gì diễn ra quanh mình. Nếu phòng ngủ đặt ngay sát phía sau bàn thờ thì người ngủ ở đó sẽ thường xuyên ngửi mùi nhang khói, nghe những lời tụng niệm, đọc kinh, gõ mõ,…từ đó liên tưởng đến Thần Thánh, Tổ tiên và những người đã qua đời. Cũng vì thế, trong tiềm thức, họ sẽ nảy sinh tư tưởng hướng về coi tâm linh, nhạt dần với đời sống trần tục, với quan hệ tình cảm, luyến ái nam nữ, vợ chồng.
Về mặt sinh lý, khoa học chứng minh rằng, từ độ tuổi 12 cho đến 18 là giai đoạn cơ thể con người bước vào tuổi dậy thì và trưởng thành. Do đó, các chất kích thích tiết ra từ hooc-môn sinh lý mà đặt tính cơ bản về giới tính của nam, nữ phát triển rất nhanh và gần như hoàn tất quá trình phát triển về mặt sinh lý và sự phát dục trong giai đoạn này.
Cấu tạo cơ quan sinh dục ở nam và nữ dần đi vào hoàn thiện, hình thành sự khác biệt về tính cách và bắt đầu nảy sinh sự tò mò rồi đi đến thèm muốn quan hệ với người khác giới. Cũng trong thời kỳ này, giữa hai giới bắt đầu sự cảm thông, hòa hợp, hay nói cách khác đó chính là những biểu hiện của thời kỳ tiền hôn nhân.
Từ độ tuổi 60 trở đi, cơ thể con người dần đi đế giai đoạn hết khả năng sinh sản, rồi già lão, những đòi hỏi và hứng thú về mặt sinh lý dần dần không còn nữa. Do đó, nêu những người chưa lập gia đình, những người ở độ tuổi từ 12 cho đến 60, thường xuyên sinh sống, cư trú ngay phía sau bàn thờ Thần Phật thì cách suy nghĩ, quan niệm của họ (về mặt tình cảm cũng như quan hệ giới tính) đều sẽ khác với những người bình thường khác. Hầu hết đều không thấy hứng thú trong chuyện quan hệ nam nữ mang chí hướng về cõi tâm linh, Thần Phật.
Theo đặt điểm sinh lý thì ở vào đọ tuổi dưới 12, thường thì trẻ em chưa hình thành tình cảm với người khác giới cũng như chưa hề có ý niệm gì về quan hệ giới tính. Còn những người ở độ tuổi trên 60 là những người đang đi về già, họ đã trải qua giai đoạn phát triển về mặt tâm sinh lý. Đây là giai đoạn đòi hỏi về qua hệ sinh lý giảm rõ rệt, và trên môt chừng mực nào đó, những nhu cầu âu yếm về mặt tâm linh có nhẹ hơn một chút. Nhưng dù thế nào đi chăng nữa, tư tưởng và tình cảm của những người thường xuyên sống, sinh hoạt ở ngay phia sau bàn thờ Thần Phật gây nên, cách tốt nhất là chọn một vị trí khác thích hợp hơn để làm nơi thờ tự, cúng bái.

Nếu không, bạn có thể sử dụng những biện pháp hóa giải khác như dùng ván gỗ hoặc bê tông ngăn phòng ngủ với bàn thờ lại, biến không gian ấy thành một lối đi tương đối thoải hoặc một cái kho để chứa đồ đạc.
- Đầu giường ngủ ngay phía sau bàn thờ: Vợ chồng dễ tranh cãi nhau, thậm chí đánh lộn nhau. Những người còn độc thân thì khó lập gia đình. Bất kể là đã lập gia đình hay chưa thì đều có khả năng xảy ra tình trạng lạnh nhạt về mặt tình cảm luyến ái, thậm chí rời bỏ gia đình đi tu.
- Giường ngủ nằm bên phải hoặc bên trái ở phía sau bàn thờ: Hai vợ chồng dễ xảy ra tranh cãi, đôi co thậm chí đánh lộn nhau.
- Chân giường quay về hướng ngay phía sau bàn thờ: Giữa hai vợ chồng dễ to tiếng, thậm chí đánh lộn nhau.
Một trong hai vợ chồng hoặc cả hai rất có thể gặp phải tai nạn khi ra khỏi nhà, nhất là xuất ngoại.
(Theo Eva)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
| Ảnh minh họa |
Theo sách “Địa lý nhân tử nên biết”: “Huyệt nhũ có 2 cánh tay giữa lồi ra như cái vú là chính huyệt. Vùng núi và đồng bằng đều có. Huyệt nhũ phân thành 6 loại: 4 loại chính là huyệt vú dài, huyệt vú ngắn, huyệt vú to, huyệt vú nhỏ; 2 loại biến cách là huyệt song nhũ, huyệt tam nhũ”.
Huyệt nhũ là huyệt âm thụ nên chôn sâu. Hai tay huyệt giang rộng, không nên bị cụt gãy nếu không sẽ mất hết khí tụ. Huyệt nhũ sợ nhất gió thổi. Nếu gió thổi vào huyệt, người ở đây sẽ tuyệt diệt. Thế huyệt nên thấp để tránh gió nhưng cũng không được quá thấp. Nếu huyệt ở thế này thì không có nhân nhục (chỉ đất chiếu đệm), huyệt bất cát.
Hình của huyệt nhũ ngay ngắn, thanh tú thì chủ nhân hưng vượng. Nếu dốc, nghiêng, lệch, thô, ác đều là huyệt giả hình hùng. Nếu huyệt nhũ giả, lưng như kiếm, chân lệch, thế dốc nghiêng, thô, phì, gia chủ và con cháu gặp họa lâu dài.
Theo Bí ẩn thời vận
![]() |
|
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
![]() |
| Phụ nữ kiêng đi xông đất đầu năm |
Người tuổi Dần
Người tuổi này mạnh mẽ, độc lập và có lòng tự trọng cao. Họ thường hành động đơn lẻ, muốn che chở mọi người xung quanh và thích người khác phải phục tùng mình.
![]() |
Khi đã đặt ra mục tiêu cụ thể, người tuổi Dần sẽ nỗ lực hết sức để đạt được nó. Thậm chí, dù phải nhảy vào "dầu sôi lửa bỏng", họ vẫn kiên trì tới đích cuối cùng.
Người tuổi Thìn
Xuất thân từ dòng dõi cao quý, người tuổi Thìn luôn kiên trì và dũng cảm đương đầu với mọi thách thức. Hơn thế, họ có thái độ lạc quan, tích cực nhìn nhận mặt tốt của cuộc sống.
![]() |
Khi quyết tâm gây dựng sự nghiệp lớn, con giáp này sẽ được mọi người hết lòng ủng hộ và giúp đỡ. Đó là lý do giải thích tại sao người tuổi Thìn có được thành công vang dội trong sự nghiệp của họ đến vậy.
Người tuổi Ngọ
Nhiệt tình, năng nổ và tâm huyết là những yếu tố tạo dựng sự nghiệp lớn lao của người tuổi Ngọ. Phong cách làm việc của con giáp này vô cùng phóng khoáng nhưng lại đầy sáng tạo và tinh tế. Họ sẽ không chối bỏ trách nhiệm nếu phạm sai lầm và biết tiếp thu ý kiến đóng góp của mọi người nên được đông đảo bạn bè yêu mến.
![]() |
Ngoài ra, người tuổi Ngọ ham học hỏi, thích đi du lịch đó đây để mở rộng tầm mắt và tích lũy kinh nghiệm sống. Chính điều đó đã "nhào nặn" nên người tuổi Ngọ hiểu biết, đáng tin tưởng và có tố chất để gây dựng sự nghiệp lớn lao.
Người tuổi Dậu
Cổ nhân xưa coi con giáp này có họ hàng với dòng dõi phượng hoàng, dù vẻ bề ngoài không hoàn hảo và thu hút sự chú ý của mọi người. Tài năng và học thức của người tuổi Dậu vô cùng uyên thâm nhưng không mấy khi họ thể hiện ra bên ngoài.
![]() |
Họ làm việc một cách chính xác, tỉ mỉ và hiệu quả nên được mọi người tín nhiệm và giao phó những trọng trách cao cả. Chính con giáp này là nhân tố quyết định trong thành công của một tập thể. Mọi người sẽ cảm thấy lo lắng, bất an nếu thiếu vắng sự hiện diện hoặc giúp đỡ của người tuổi Dậu.
Người tuổi Tuất
Trong 12 con giáp, người tuổi Tuất vô cùng thông minh, lanh lợi, giỏi giang và dễ được mọi người tin tưởng tuyệt đối. Khi đã quyết định làm việc gì, nhất định họ sẽ nỗ lực hết sức và hoàn thành một cách chu toàn.
![]() |
Ngoài ra, ý chí quyết tâm và tinh thần cầu tiến là một trong những yếu tố tạo nên thành công cho người tuổi Tuất. Họ nhất định sẽ tạo nên nghiệp lớn để không phụ lòng tin tưởng của mọi người.
Mr.Bull (theo Dyxz)
địa võng (Thổ)
* * *
1. Ý nghĩa của địa võng:
Đây là một ám tinh, có nghĩa:
- hiểm ác ngầm
- gây rắc rối, ngăn trở mọi công việc
- chủ sự bắt bớ, giam cầm
Người có Địa Võng thủ Mệnh, Thân bụng dạ khó lường, tính nết tráo trở, hiểm ác ngầm, hay hại kẻ khác mà nạn nhân không biết được.
2. Ý nghĩa của địa võng và một số sao khác:
- Võng, Linh Đà, Liêm Tham: bị bắt giữ, xử tử
- Võng và các sao giải: làm giảm bớt hay tan biến đặc tính xấu của Địa Võng. Các sao giải này là Tuần, Triệt, Tử Vi, Hóa Khoa, Thiên Giải, Giải Thần.
- Địa Võng, Trực Phù: làm tăng thêm ác tính của đương số.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thiên Nga (##)
iáo, nghệ thuật, ngoại giao, nhãn khoa, ngoại khoa, sản khoa…

Do vậy có thể thấy bản thân chữ số có năng lượng, trường khí đặc định của nó, mỗi chữ số đều mang thuộc tính Âm Dương Ngũ Hành nhất định. Cơ sở lý luận Thần số học là quan hệ tương hỗ, tăng giảm và triệt tiêu của Âm Dương Ngũ Hành. Đồng thời thể hiện rõ quy luật Tam Tài thiên địa nhân. Quy luật tính toán dự đoán của Thần số học rất đơn giản, nhanh chóng, lời đoán chuẩn xác. Có thể nói rằng sự thâm nhập, khai thác học thuật Thần Số Học đã đánh dấu thêm cột mốc trên lịch sử phát triển Dịch Học và nó cũng để lại một trang huy hoàng trong sự nghiệp mở rộng, phát dương bộ môn này.
Sau đây là một số ứng dụng của Thần Số Học:
1) Quẻ Sinh Thần dự đoán vận mệnh đời người, vận khí quốc gia
2) Quẻ Thời Không suy đoán việc, tính toán cát hung
3) Chọn ngày tháng tốt cho quẻ Sinh Thần, đặt tên theo sinh khắc chữ số
4) Vận khí từng thời điểm trong đời, tiên đoán trước bệnh tật, tinh thần, suy nghĩ lúc đó
5) Ngoại Ứng trong Dịch Lý: suy đoán nhanh chóng sự kiện thông qua lý luận Âm Dương Ngũ Hành. Việc nghiên cứu, ứng dụng Thần Số Học sẽ mở ra một cách nhìn mới về thuật dự đoán học, xoá bỏ mọi mê tín dị đoan phong kiến, đây thật sự là một môn Khoa Học chân chính.
Trương Xuân Toàn
Có câu chuyện kể rằng: Ngày xưa, ở nước Kế Tân có hai anh em trai, người anh xuất gia tu hành, chứng đắc quả vị La Hán, còn người em ở nhà gây dựng sự nghiệp kinh doanh, người anh thường xuyên đến khích lệ dạy bảo người em, phải thực hành theo điều Phật dạy bảo, thường xuyên tu thiện tích phúc.Tweet
Nếu mà có thể tu thiện thì không chỉ bây giờ có lợi ích, mà đến khi kết thúc sinh mệnh, cũng sẽ được đầu thai đến nơi tốt.
Người em luôn luôn trả lời: “Anh à, anh bây giờ xuất gia rồi, đừng xen vào những việc thế tục này nữa, em còn phải chăm sóc vợ, ruộng đất, tài sản, tiền bạc cần phải có. Em có nhiều việc phải xử lý như thế, anh đừng lãng phí lời nói, lãng phí thời gian nữa!”. Về sau người em sinh bệnh mà chết, đầu thai thành súc vật, biến thành một con trâu, hàng ngày đều phải chở muối vào nội thành cho chủ. Người anh tu hành từ trong nội thành đi ra gặp phải, liền giảng giải, con trâu này nghe xong đau khổ bi thương mà khóc không dừng.
Chủ nhân của con trâu liền hỏi người anh kia: “Anh rốt cuộc là nói cái gì vậy? Mà khiến cho con trâu của tôi buồn phiền khổ sở như thế?”. Người anh trai trả lời: “Con trâu này kiếp trước là em trai của tôi, trước đây vì thiếu nợ ông một đồng tiền muối ăn, cho nên phải đầu thai thành trâu, giúp ông làm việc để hoàn trả nợ nần”.
Lời bình
Người bằng lòng đem tiền cho chúng ta vay, điều này chứng tỏ người đó đối với chúng ta là rất tốt, cũng rất tin tưởng tín nhiệm, chúng ta cần phải giữ lời hứa của mình, không thể nói vay rồi không trả. Người ta cũng không có nói là bằng lòng tặng cho chúng ta, sao có thể không trả được? Nếu quả thực nhất thời chưa thể đem tiền trả cho người ta được, chúng ta nên nói rõ ràng cho họ hiểu được, hơn nữa cũng phải cố gắng kiếm tiền để hoàn trả người ta. Bởi vì người cho chúng ta vay cũng là bạn bè tốt nên sẽ thông cảm mà cho chúng ta trả chậm dần. Chúng ta luôn luôn phải ghi nhớ trong lòng, càng sớm càng tốt hoàn trả nợ cho người ta, đây mới là người có trách nhiệm.
Trong “tam thế nhân quả văn” có viết: “Vì sao kiếp này làm trâu ngựa, bởi vì kiếp trước nợ tiền không trả hết nợ”. Chúng ta phải minh bạch lý này, tuy là trong kinh văn khuyên bảo con người trong cuộc đời hãy làm việc thiện, nhưng về bản chất, đạo lý chính là khó tránh khỏi quan hệ nhân quả, người cho vay tiền kỳ thực có công đức rất lớn. Mặc dù không phải là quyên tặng cho người khác, nhưng mà, nếu như người không phải là đang gặp khó khăn hay nguy hiểm gì, thì bình thường sẽ không đi vay tiền. Mà việc cho vay này sẽ giúp người đó đủ để vượt qua khó khăn đó, cho nên công đức là rất nhiều.
Có khi chúng ta cho người khác chút tiền không giúp ích bằng người đó đi vay người khác nhiều tiền. Bởi vì cho ít tiền có thể không làm được việc lớn, nhưng vay một số tiền, tài sản lớn lại giúp người ta hoàn thành xong việc lớn, làm cải biến cuộc đời. Mà cuộc đời cải biến là do được người khác ban tặng thông qua việc cho mượn tiền, nên mới được như ước nguyện, cho nên mặc dù là đi mượn rồi trả, cũng vẫn nên biết ơn trong lòng.
Thiếu nợ một túi muối mà phải trả một cái giá quá đắt, huống chi thiếu người khác mấy trăm đồng, mấy ngàn đồng, mấy vạn, mấy chục vạn mà không trả? Tiền chúng ta mắc nợ cũng sinh ra lãi giống như tiền tiết kiệm trong ngân hàng vậy, mỗi ngày không trả thì mỗi ngày tiền lãi sẽ tăng lên. Nợ tiền thì hãy tranh thủ thời gian mà hoàn trả ngay đi nhé! Làm người thế gian, ngay cả đến bản chất làm người cũng không làm được, vậy thì sao có thể cầu tiền tài mà được tiền tài, chứ chưa nói đến chuyện được giải thoát? Con người thế gian không minh tỏ, lại cho rằng thiếu nợ tiền của người ta không trả thì là của mình rồi, là mình phát tài rồi, thật là không biết, trên đầu ba thước có thần linh, nhân quả một phần cũng không sai loạn đâu!
Người thế gian không biết được sự lợi hại của điều này, Phật Bồ Tát biết rõ, người chân chính tu hành cũng biết rõ, không cùng chúng sinh kết thù kết oán, không tranh chấp nợ nần bất kỳ ai, thiếu nợ của ai cái gì phải nhanh chóng hoàn trả, hoàn trả xong rồi sẽ rất thoải mái, trên đường đến cõi Phật sẽ không còn chướng ngại, oan thân chủ nợ sẽ không tới gây khó dễ, vãng sinh sẽ đi được thản nhiên, được tự tại.
Theo Bài Học Cuộc Sống
Phòng ngủ là nơi vợ chồng nghỉ ngơi, thư giãn, cũng là nơi để chúng ta trút bỏ hết những mệt nhọc sau một ngày dài bận rộn. Dưới đây là những bí quyết phong thủy phòng ngủ giúp cho tình cảm vợ chồng bạn mặn nồng như thuở ban đầu mà bạn không nên bỏ qua.
1. Không nên đặt quà của người yêu cũ trong phòng ngủ
Có vật ắt có linh cho dù là đôi bên đã chia tay và không còn quan hệ gì nữa. Những món quà do người yêu trước có thể đặt ở một nơi khác, nhưng tốt nhất là không nên đặt trong phòng ngủ. Điều này sẽ ảnh hưởng đến mối quan hệ vợ chồng hiện tại và rất dễ gây ra mâu thuẫn gia đình.
2. Đồ dùng, vật dụng trong phòng nên “có đôi có cặp”
Vì sao lại như vậy? Trong phòng đặt những đồ dùng mà luôn theo đôi theo cặp thì điều đó tượng trưng cho đôi bên cũng cũng nhau đồng cam cộng khổ và tình cảm bền chặt. Ví dụ như ghế ngồi, một số đồ trang trí như thiên nga, cặp uyên ương… nên là những con số 2.

3. Trong phòng không nên có quá nhiều hoa tươi
Quá nhiều hoa tươi dễ dẫn đến việc “đứng núi này trông núi nọ”. Hoa trong phòng ngủ chỉ nên đặt ở một hoặc hai chỗ, khi chọn vị trí đặt bình hoa cũng không nên chọn đặt quá nhiều bình hoa tươi. Màu sắc bình hoa nên chọn màu nhã nhặn để tăng thêm vận khí cho con đường tình cảm, nếu không dễ dẫn đến tác dụng trái ngược. Không những hai bên không vui vẻ mà còn dễ nảy sinh sự đổi thay trong tình cảm.
4. Vật dụng trong phòng không nên có quá nhiều thứ hình góc nhọn hoặc không cân đối:
Những vật dụng có hình dáng không vuông vắn thường dẫn đến tình cảm không ổn định, dễ thay đổi, suy nghĩ kỳ quặc và dễ bất mãn với tình cảm hiện tại. Cố gắng tránh những vật dụng có hình thù sắc nhọn vì dễ làm tình cảm thay đổi hoặc dễ xuất hiện kẻ thứ 3.

5. Phòng ngủ nên gọn gàng
Việc sắp xếp vật dụng trong phòng không được bừa bộn, một căn phòng quá lộn xộn thì cũng dễ nảy sinh những mối đa tình đa cảm hay một tình yêu không ổn định. Ngoài ra thì những đồ điện tử cũng không nên bày quá nhiều, những bức xạ của sóng điện từ không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe con người mà còn ảnh hưởng đến vận thế gia chủ, thậm chí là ảnh hưởng đến vận khí trên con đường tình cảm.
7. Chọn phòng vuông vắn làm phòng ngủ của vợ chồng:
Một căn phòng hình chữ nhật hoặc hình vuông thích hợp hơn là một căn phòng hình tam giác, hay hình góc nhọn. Phòng ngủ nhiều góc cạnh dễ dẫn đến những sóng gió không mong muốn trong tình cảm vợ chồng. Mức độ to nhỏ trong phòng ngủ cũng nên hài hòa, phòng ngủ quá nhỏ gây nhiều áp lực vì không gian quá ngột ngạt, phòng ngủ quá lớn lại không tập trung được tinh khí.

8. Màu sắc phòng ngủ không nên quá nhiều, quá rực rỡ:
Một không gian màu sắc lòe loẹt thường dễ dẫn đến sự đa tình, màu sắc vật dụng và màu sắc tường nên có chung tông màu chủ đạo mới mong mưu cầu sự hài hòa trong tình cảm vợ chồng. Không nên chọn những màu sắc quá trầm, ví như màu đen, cảm giác u ám và nặng nề sẽ bao trùm nhiều hơn.
9. Trong phòng ngủ nên đặt những vật may mắn cho tình yêu:
Vật may mắn này nên hài hòa với những bức tranh trong phòng. Không nên treo vật dụng hay tranh ảnh liên quan đến đồ võ sĩ, hay những bức tranh động vật nhe nanh giơ vuốt. Điều này khiến người ta có cảm giác ghê rợn, trong quan hệ vợ chồng đôi bên cũng dễ xảy ra cãi vã, không có lợi cho tình cảm.
Trước hết xin nói về cách trình bày của các lọai bói dịch người Việt hay sử dụng:
Quẻ năm hào:
Ví dụ: quẻ Giá sắc
Nội dung: Dịch nghĩa:
Thả thủ quân tử phận. Quân tử nên giữ phận
Vật dụng tiểu nhân ngôn. Chớ nghe lời tiểu nhân
Phàm sự giai đương cẩn Mỗi việc nên cẩn thận
Tác phước bảo an nhiên Làm lành vậy mới yên
Quẻ sáu hào:
Ví dụ: Phong Sơn Tiệm ( Hồng nhạn phi cao)
Ý nghĩa: Chim Hồng nhạn được sổ lồng bay xa.
Tiến từ từ bay lên mây trong sự thông đạt thong dong.
Không có gì cản trở.
Nhưng không thể bay vụt từ trong lồng lên mây ngay được.
Giải đoán: Vận khí thịnh đạt dần dần. Công việc mỗi ngày đều phát triển đều đặn. Không gặp trở ngại. Thành quả rất to lớn so với lúc khởi sự.
Lời khuyên: Giữ tiết hạnh thanh cao. Ung dung không vội vả.
Phụ chú : Giải trừ mọi tai ương. Tuy tiến chậm nhưng rất yên ổn.
Hào 1 : trung bình, tiến hơi chậm
Hào 2 : rất tốt
Hào 3 : trung bình
Hào 4 : tốt
Hào 5 : tốt
Hào 6 : rất tốt, đại cát
Ứng hạp : Tuổi Bính : Thìn, Ngọ, Thân
Tuổi Tân : Mão, Tỵ, Mùi
Tháng 1
Hành thổ
Lời giảng của của quẻ này viết theo văn xuôi nhưng được ngắt ra 4 đọan, có lẽ vào đời Tần bị cấm thi thơ, các lọai sách đều phải chép lại bằng văn xuôi.
Tiếp đến là cách trình bày quẻ trong Kinh Dịch : Quẻ Phong Sơn tiệm ( xin không trích giảng hào từ)
Thóan từ: Tiệm, nữ qui cát, lợi trinh.
Dịch: Tiến lần lần, như con gái về nhà chồng, tốt; giữ đạo chính thì lợi.
Giảng: Quẻ này là Tốn ( cây), dưới là Cấn( núi). Trên núi có cây, có cái tượng dưới thấp lần lần lên cao, nên đặt là Tiệm.
Tiến mà lần lần, không nóng nảy, vẫn tỉnh như nội quái cấn, vẫn hòa thuận như ngọai quái Tốn thì không bị vấp váp, không bị khốn cùng.
Hào từ:
- Sơ lục: Hồng tiệm vu can, tiểu nhân lệ, hữu ngôn vô cửu.
Dịch: Hào âm 1, con chim Hồng tiến đến bờ nước, nhỏ dại cho là nguy, than thở nhưng không có lỗi.
- Lục nhị: Hồng tiệm vu bàn, ẩm thực khản khản, cát.
Dịch: Hào 2 âm, chim hồng tiến đến phiến đá lớn, ăn uống thảnh thơi, tốt
- Cửu tam: Hồng tiệm vu lục, phu chinh bất phục, phụ dựng bất dục, hung lợi ngự khẩu.
Dịch: Hào 3 dương, chim hồng tiến tới đất bằng, chồng đi xa không về, vợ có mang không nuôi, xấu, đuổi cướp thì có lợi.
- Lục tứ: Hồng tiệm vu mộc, hoặc đắ kỳ giốc, vô cửu.
Dịch: Hào 4 âm, chim hồng nhảy lên cây, may tìm được cành thẳng mà đậu, không có lỗi.
- Cửu ngũ: Hồng tiệm vu lăng, phụ tam tuế bất dụng, chung mạc chi thắng, cát.
Dịch: Hào năm dương, chim hồng lên gò cao, vợ ba năm không sinh đẻ, nhưng cuối cùng không có gì thắng nổi điều chính, tốt.
- Thượng cửu: Hồng tiệm vu qui, kỳ vũ khả dụng vi nghi, cát.
Dịch: Hào trên cùng dương, chim hồng bay bổng ở đường mây. Lông nó có thể dùng làm đồ trang sức, tốt.
Hai loại dịch trên mặc dù có khác nhau về hình thức, nhưng nhìn chung tất cả đều có đặc điểm là có hào âm,hào dương. Âm dương được hình thành do sự vận động của vũ trụ. Sự vận động này thuận theo chiều hướng sinh của ngũ hành hình thành bát quái. Đó là học thuyết Âm dương- Ngũ hành của người xưa.
1/ Thuyết Âm dương - Ngũ hành:
a - Sự hình thành Âm dương:
Thái cực vận động sinh ra lưỡng nghi, tức là hai khí : Âm và Dương. Phần dương thì động, nóng, sáng, trong, nhẹ, nổi lên trên sinh ra khí dương và nơi tích lũy nhiều khí dương là bầu trời được ký hiệu là ( ). Dương được sinh ra từ cực Bắc và bên trái chủ dương.
Phần âm thì tỉnh, lạnh, tối, đục, nặng, chìm xuống dưới sinh ra khí âm và nơi tích lũy nhiều khí âm là đất được ký hiệu là ( ) . Âm được sinh ra từ cực Nam và bên phải chủ âm.

Hình Lưỡng Nghi
Âm dương có sự liên hệ thần bí, đó là sự hấp dẫn lưỡng tính thần kỳ. Theo Lôi Đạc, trong tác phẩm Mỗi ngày 10 phút với Chu Dịch, nhà ảo thuật Trung quốc nổi tiếng là Tàng quốc Chân đã phát hiện điều này khi đem hai con thạch sùng đực, cái ném mạnh xuống đất. Khi đuôi của hai con thạch sùng bị đứt, chúng nhảy nhót trên mặt đất, rồi hai chiếc đuôi ngày càng gần lại với nhau, dựa sát vảo nhau sau đó bám chặt lấy nhau thành hình “bánh quấn thừng: Thế nhưng dùng hai con thạch sùng cùng giống thì không thấy có hiệu ứng này. Một thử nghiệm khác nữa là bắt vài con thạch sùng có bốn chân, phân biệt đực – cái, chặt đuôi và lột da chúng ra, sau khi đốt cháy nghiền thành bột, đổ vào hai cây nến rỗng ruột, đặt trên bàn cách nhau 30 cm, châm lửa trên hai cây nến đó. Điều kỳ dị đã xuất hiện, hai ngọn lửa hấp dẫn nhau, dần dần dựa sát vào nhau, cuối cùng dính lại tạo thành một tuyến lửa nằm ngang như chiếc cầu vồng được đặt tên là “cầu lửa”.
Qua phát hiện đó có thể thấy được tuy âm dương là hai yếu tố tương phản nhau nhưng trong mọi vật hai yếu tố âm dương luôn dung hòa lẫn nhau, tương giao cùng nhau, bổ túc cho nhau, liên kết với nhau rất mật thiết. Cả hai đều đóng vai trò quan trọng trong sự sinh thành của muôn vật, tất cả sự biến hóa trong vũ trụ đều có thể giải thích bằng hiện tượng chuyển biến của âm dương. Âm trưởng thì dương sẽ tiêu, dương trưởng thì âm sẽ tiêu, âm tăng đến chỗ cực thịnh thì dương sẽ phát sinh và âm sẽ phải thóai dần, khi dương tăng đến chỗ cực thịnh thì âm sẽ phát sinh và dương sẽ thóai dần, đó là lẽ tuần hòan của âm dương trong trời đất như : Mùa đông âm khí nhiều khí hậu lạnh. Cuối đông âm khí thịnh, dương khí bắt đầu phát sinh. Qua xuân dương khí mới phát sinh còn non, khí hậu ấm áp dần dần. Đến mùa hạ dương khí tăng trưởng, khí hậu nóng. Cuối hạ dương khí cực thịnh khí hậu nóng bức và âm khí sẽ phát sinh. Qua mùa thu âm khí mới phát sinh còn non khí hậu mát, âm khí dần dần tăng trưởng lại bước qua đông.... cứ như thế mà tiếp diễn ; hoặc cũng như chuyển biến âm dương trong ngày đêm : từ nửa đêm – sáng sớm – giữa trưa – buổi chiều – lại nửa đêm. Sự âm tiêu dương trưởng và dương tiêu âm trưởng tiếp diễn nhau rất cần thiết để điều hòa sự tuần hòan của trời đất, nếu dương cực thịnh mãi mà âm khí không phát sinh hoặc ngược lại thì trời đất bất hòa và sự sinh hóa của của muôn vật sẽ rối lọan như : chỉ có đêm mà không có ngày hay ngược lại, thời tiết nóng mãi hoặc lạnh mãi đều bất lợi cho sự sinh trưởng của vạn vật. Mặt khác, trong sự chuyển hóa để tương giao với nhau, dương khí có khuynh hướng thăng cao lên tức ly tâm, âm khí có khuynh hướng giáng xuống thức hướng tâm. Đó là dương thăng, âm giáng.
Ví dụ: không khí nóng có khuynh hướng bay lên cao, không khí lạnh có khuynh hướng hạ xuống thấp. Sự kiện không khí vùng lạnh thay thế vùng nóng sẽ sinh ra gió.
Sự vận động của âm dương sẽ sinh ra 4 khí gọi là tứ tượng : Thái âm – Thiếu dương – Thái dương – Thiếu âm

Hình Tứ Tượng
Từ bốn khí này giao hòa thăng giáng với nhau, tạo ra sự đối kháng, chuyển dịch. Đây chính là động lực phát triển cũa sự vật, hiện tượng, con người. Động lực ấy thể hiện ra 8 dạng thức trong không gian, đó là bát quái. Bát quái với 5 thuộc tính ngũ hành đã tạo ra vũ trụ, vạn vật, trong đó có con người với hành vi của họ.
Bát quái với tính chất gắn liền với bầu trời xin được tạm gọi là “Thiên Bát Quái”
Bát quái có tính chất gắn liền với trái đất xin được tạm gọi là “ Địa Bát Quái”
b- Ngũ hành:
Ngũ hành được cho là 5 dạng vật chất gồm :
- Hành Thủy tượng trưng cho nước
- Hành Mộc tượng trưng cho cây cối
- Hành Hỏa tượng trưng cho lửa
- Hành Thổ tượng trưng cho đất
- Hành kim tượng trưng cho kim lọai.
Căn cứ vào tính chất các hành trên có sự sinh, khắc với nhau
Ngũ hành tương sinh :
Thủy sinh Mộc
- Mộc sinh Hỏa
- Hỏa sinh Thổ
- Thổ sinh Kim
- Kim sinh Thủy
Ngũ hành tương khắc :
- Thủy khắc Hỏa
- Hỏa khắc Kim
- Kim khắc Mộc
- Mộc khắc Thổ
- Thổ khắc Thủy
Năm hành trên được xếp thành các phương vị trên Hà Đồ, Lạc Thư.
c/ Thuyết Thiên Địa Nhân:
Thuyết Thiên Địa nhân nói lên sự chi phối của trời đất đối với con người.
- Thiên: Thiên can là tọa độ không gian được thể hiện ở 10 vị trí: Giáp , Ất , Bính , Đinh , Mậu , Kỷ , Canh , Tân , Nhâm , Quí. Thiên là khỏang không gian bao la, trong Thiên có ba yếu tố hợp thành là Nhật ( mặt trời) ; Nguyệt ( mặt trăng) ; Tinh ( các vì tinh tú). Vạn vật con người chuyển dịch trong không gian theo 10 thiên can, được Nhật, Nguyệt, Tinh chiếu vào tác động ảnh hưởng suốt cả cuộc đời, do vậy yếu tố năm, tháng, ngày, giờ sinh được người xưa cho là có thể quyết định được vận mệnh của từng người.
- Địa: Địa chi là tọa độ thời gian được thể hiện ở 12 vị trí thời gian trong năm , tháng, ngày, giờ gồm : Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Địa được cấu thành bởi 3 yếu tố thủy , hỏa , phong. Từ yếu tố địa , người xưa hình thành nên môn địa lý phong thủy dùng để xem xét sự vận động hài hòa của thủy hỏa phong, nếu mất cân bằng trong vận động của ba yếu tố này ở một địa điểm mà một người đang sinh sống thì người đó sẽ gặp trở ngại và tai họa.
Tóm lại, nói Thiên Địa Nhân là nói con người luôn luôn bị chi phối bởi Thiên và Địa, ba yếu tố này tương tác lẫn nhau, con người muốn tồn tại, sinh sống bình thường phải có sự cân bằng giữa bản thân với thiên địa. Không gian Dịch là không gian Thiên Địa Nhân, là thế giới của âm dương giao hòa, chuyển hóa cho nhau, thế giới giữa hai mặt đối lập tồn tại và bổ xung cho nhau nên khi nắm bắt được chuyển động đó người xưa đã lập ra mô hình trạng thái không gian gọi là âm, dương ( lưỡng nghi). Âm, dương vận động sinh ra bốn khí gọi là tứ tượng, lại tiếp tục vận động thành ra bát quái
2/ Hà đồ – Lạc thư:
Hà đồ – Lạc thư đã được người Trung hoa xem như nguồn gốc của bát quái có nghĩa là sự hình thành của bát quái phải được gợi ý của Hà đồ – Lạc thư, thánh nhân mới dựa vào đó mà phỏng theo. Hình dạng của Hà đồ – Lạc thư ra sao không ai biết được , chỉ nghe nói đến từ cháu của Không Tử là Khổng An Quốc nhưng mãi đến đời Tống hai đồ hình đó mới thấy phổ biến.
Căn cứ vào “ Dịch học Tượng số luận” của Hòang Tông Nghi thì Trần Đòan đã truyền cho Chủng Phóng, Chủng Phóng truyền cho Lý Khái, Lý Khái truyền cho Hứa Kiên, Hứa Kiên truyền cho Phạm Ngọc Xương, Ngọc Xương truyền cho lưu Mục. Lưu Mục căn cứ vào Hà đồ-Lạc Thư trước tác ra “ Dịch số câu ẩn đồ”, bức đồ của ông mới được đông đảo người biết đến. Cho đến nay người ta cũng chưa hiểu được, vào đời Tống, vị đạo sĩ ở Hoa Sơn là Trần Đòan đã lấy ở đâu ra được những hình Hà đồ-Lạc Thư ấy.
Sau khi Hà đồ-Lạc Thư ra đời, một bộ phận trong học phái này chia rẽ. Một số người không tin vào những thứ này, nhà Đại văn học Âu Dương Tu cho rằng : “đầu độc sai lầm vào những người học giả, gây tác hại đâu có nhỏ”. Cuộc tranh luận này kéo dài tới cuối đời Thanh, Dân quốc, thậm chí đến sau ngày giải phóng.
a - Hà đồ: Theo ghi chép của người Trung Hoa, Hà đồ là vật mà Hòang Đế được trời ban cho từ sông Hòang Hà, trên lưng con long mã, đồ hình có 5 cặp số được sắp xếp như sau: 1 với 6 ở dưới là số sinh thành của thủy ở phía Bắc
2 với 7 ở trên là số sinh thành của hỏa ở phía Nam.
3 với 8 ở bên trái là số sinh thành của mộc ở phương Đông
4 với 9 ở bên phải là số sinh thành của kim ở phương Tây
5 với 10 là số sinh thành của thổ ở trung ương.
Hà đồ là bức đồ đầu tiên của kinh dịch, sự vận hành của nó theo chiều hướng sinh của ngũ hành. Bắt đầu từ thủy sinh mộc = đông sang xuân; mộc sinh hỏa = xuân sang hạ; hỏa sinh thổ - vào trung tâm, thổ sinh kim = hạ sang thu; kim sinh thủy = thu sang đông.
Hình Hà Đồ
b - Lạc thư: Theo truyền thuyết Lạc thư do thần qui mang trên lưng nên có tượng con rùa đầu đội 9, đuôi mang 1, bên trái mai mang 3, bên phải mai mang 7, vai bên trái mang 4, vai bên phải mang 2, chân trái mang 8, chân phải mang 6, giữa lưng mang 5.

Hình Lạc Thư
Theo các nhà nghiên cứu thì Lạc thư là một dạng Cửu tinh Đồ, là Cửu trù Hồng Phạm, nếu đọc theo chiều nghịch kim đồng hồ là biểu đồ phương vị ngũ hành được vận hành theo hướng khắc.
Do vậy, theo thiển nghĩ, bát quái phải được dựa vào Hà đồ để thiết lập vì ngũ hành có tương sinh thì muôn vật mới được sinh hóa, nói lên sự sinh sinh nối tiếp nhau không ngừng của đạo dịch.
Thử vẽ Bát quái:
1/ Thiên Bát quái: ( biểu đồ tiết khí)

Bốn mùa
Từ 4 mùa âm dương lại biến đổi thành 8 tiết khí dựa trên cơ sở 2 cụm tứ tượng, bắt đầu từ điểm cực âm. Theo lẽ tự nhiên, cực âm sẽ sinh dương, cụm tứ tượng bên trái sẽ được sinh dương, khi dương thịnh đến điểm cực dương cụm tứ tượng bên phải sẽ được sinh âm, từ đó có được hệ thống bát quái gắn liền với trời như thời tiết, gió mưa, là biểu đồ bát tiết.
Xem xét biểu đồ trên, có thể thấy các tiết khí chuyển biến theo hướng sinh, bắt đầu từ điểm cực âm theo chiều thuận kim đồng hồ: Bắt đầu từ thủy sinh mộc = đông sang xuân; mộc sinh hỏa = xuân sang hạ ; hỏa sinh thổ - vào trung tâm, thổ sinh kim = hạ sang thu; kim sinh thủy = thu sang đông. Hướng sinh trên thuận theo lẽ tự nhiên thành ra tám tiết khí:
- Khôn : cực âm ( ) tiết đông chí - dương thủy- vị trí số 1
- Chấn : bắt đầu sinh dương ( ) tiết lập xuân - âm mộc- vi trí số 8
- Ly : âm tiêu dương trưởng ( ) tiết xuân phân - dương mộc - vị trí số 3
- Đòai : dương thịnh ( ) tiết lập hạ - âm hỏa - vị trí số 2
- Kiền : cực dương ( ) tiết hạ chí - dương hỏa - vị trí số 7
- Tốn : bắt đầu sinh âm ( ) tiết lập thu - âm kim - vị trí số 4
- Khảm : dương tiêu âm trưởng ( ) tiết thu phân-dương kim-vị trí số 9
- Cấn : âm thịnh ( ) tiết lập đông - âm thủy - vị trí số 6
Thứ tự của bát quái trên thuận theo hướng sinh là : Khôn, Chấn, Ly , Đòai , Kiền , Tốn , Khảm , Cấn, được hiểu như một hệ thống bát quái có tính chất gắn liền với trời như: thời tiết, khí tượng , gió mưa.... Hệ thống này được Trung Hoa gọi là Tiên Thiên Bát Quái. Tuy vậy , người Trung hoa không dùng Tiên thiên bát quái để giải thích thời tiết mà dùng để giải thích về địa lý, phương hướng như sau:
- Khôn : là đất nên ở phương Bắc, vì phương bắc giá lạnh nên thuộc thủy
- Chấn : ở Đông bắc vì gió từ Tây nam thổi qua đông bắc gây tiếng động, hoặc sáng (ly) tối (khảm) cọ sát nhau sinh ra sấm.
- Ly : là mặt trời nên ở phương đông,vì mặt trời mọc ở phương đông
- Đòai : ở Đông nam vì phía Đông nam Trung hoa nhiều đầm hồ
- Kiền : là trời nên ở phương nam, phương nam nóng thuộc hỏa
- Tốn : ở Tây nam là nơi nóng (nam) và lạnh (tây) xô xát sinh ra gió
- Khảm : là mặt trăng nên ở phương Tây, vì mặt trăng hiện ra ở phương tây
- Cấn : ở Tây bắc vì tây bắc Trung hoa có nhiều đồi núi.
2/ Địa bát quái: (biểu đồ địa lý phương hướng)
Về Địa bát quái, hiện nay chưa rõ được kết cấu như thế nào nhưng cũng xin đề xuất đồ hình để tham khảo.

Ví dụ: Địa Bát Quái

Hậu Thiên bát quái
Địa Bát quái, được hiểu như hệ thống bát quái có tính chất gắn liền với trái đất như : địa lý, phương hướng , được sắp xếp một cách hợp lý như sau :
- Cấn , hành thổ mượn vị trí số 1, có ba hào : âm+âm+dương= dương thổ
- Chấn ở vị trí số 8 thuộc mộc, có ba hào : dương+dương+âm= dương mộc
- Tốn ở vị trí số 3 thuộc mộc, có ba hào : dương+dương+âm = âm mộc
- Ly ở vị trí số 2 thuộc hỏa, có ba hào : dương+âm=dương = âm hỏa
- Khôn hành thổ mượn vị trí số 7, có ba hào : âm+âm+âm = âm thổ
- Đòai ở vị trí số 4 thuộc kim, có ba hào : dương+dương+âm = âm kim
- Kiền ở vị trí số 9 thuộc kim, có ba hào : dương+dương+dương = dương kim
- Khảm ở vị trí số 6 thuộc thủy, có ba hào : dương+âm+dương = dương thủy
So sánh với Hậu thiên bát quái của Văn Vương:
- Cấn mượn vị trí số 8 thuôc thổ
- Chấn ở vị trí số 3 thuộc mộc
- Tốn ở vị trí số 2 thuộc hỏa
- Ly ở vị trí số 7 thuộc hỏa
- Khôn mượn vị trí số 4 thuộc thổ
- Đòai ở vị trí số 9 thuộc kim
- Kiền ở vị trí số 6 thuộc thủy
- Khảm ở vị trí số 1 thuộc thủy
Xét theo bát quái phong thủy thì Tốn phải thuộc mộc và Kiền phải thuộc kim, như vậy Hậu thiên bát quái xem ra có vấn đề. Hệ thống này chỉ đúng khi đứng ngòai Hà đồ, tuy nhiên âm dương ngũ hành khi tách rời nhau sẽ không còn ý nghĩa, do vậy suy cho cùng vẫn là sai. Một điểm sai nữa là người Trung hoa không dùng hệ thống bát quái này để giải thích về địa lý mà gọi đó là Bát tiết bát quái :
- Cấn: Tiết lập xuân,
- Chấn: Tiết xuân phân
- Tốn: Tiết lập hạ
- Ly: tiết hạ chí
- Khôn: tiết lập thu.
- Đòai: tiết thu phân
- Kiền: tiết lập đông
- Khảm: tiết đông chí
Có lẽ để thuyết minh cho vấn đề sai lệch về các hành của hệ thống này, thuyết quái truyện viết: “ Đế xuất hồ Chấn. Tề hồ Tốn. Tương kiến hồ Ly. Trí dịch hồ Khôn. Thuyết ngôn hồ Đòai. Chiến hồ Càn. Lao hồ Khảm. Thành ngôn hồ Cấn."
Thuyết quái truyện cũng có lời giải thích cho đọan văn khó hiểu trên: “Vạn vật xuất ở Chấn , Chấn thuộc phương đông. Gọn gàng ở Tốn, Tốn thuộc đông nam, gọn gàng là muốn nói muôn vật đều sạch sẽ. Ly là sáng, vạn vật cùng thấy nhau, là quẻ ở phương Nam, đấng thánh nhân quay về phương nam mà nghe thiên hạ, hướng vào nơi ánh sáng mà trị là tượng ở đấy. Khôn là đất, muôn vật đều được nuôi dưỡng ở đó, cho nên nói là làm việc ở Khôn. Đòai là chính thu, vạn vật đều vui vẻ, nên nói vui vẻ là nói ở Đòai. Đánh nhau ở Kiền, Kiền là quẻ ở tây bắc, đó là nói về âm dương xô xát vậy. Khảm là nước, là quẻ ở chính Bắc, là quẻ khó nhọc, muôn vật đều ở đó nên nói khó nhọc ở Khảm. Cấn là quẻ đông bắc, nơi muôn vật thành ở lúc cuối và lúc đầu, nên nói thành là nói Cấn”.
Lời giải thích trên khi đọc xong lại càng thấy khó hiểu, nên xin được đề xuất lời giải thích khác như sau:
- Đế xuất hồ Chấn: là mặt trời mọc ở phương đông.
Vấn đề chính là đây. Theo tôi, vị trí mặt trời mọc là vị trí bước qua số 1 của Hà Đồ, là qua cực Bắc đã sinh dương, về thời khắc thì vào giờ Dậu nên Chấn phải ở vị trí số 8 thuộc mộc. Đối với người tạo ra Hậu thiên bát quái thì Chấn phải ở vị trí số 3 thuộc mộc là nơi mặt trời ló dạng, về thời khắc thì vào giờ Mẹo.
- Tề hồ Tốn : do mang Chấn đặt vào vị trí số 3 , là chỗ của Tốn, nên phải sắp xếp lại vị trí của Tốn.
- Tương kiến hồ Ly : Tốn bị bỏ ra phải vào vị trí số 2 thuộc hỏa, là vị trí của Ly, nên nói là gặp nhau ở cung Ly.
- Trí dịch hồ Khôn : dể Ly có chỗ phải suy tính dời Khôn đi.
- Thuyết (duyệt) ngôn hồ Đòai : Khôn được dời vào vị trí số 4 thì Đòai phải vào vị trí của Càn ở số 9 thuộc kim, đến Đòai thì thuyết phục được.
- Chiến hồ Càn : tranh cãi ở Càn. Khi Đòai vào vị trí của Càn thì Càn phải dời vào chỗ của Khảm số 6 thuộc thủy mà Càn thì thuộc kim.
- Lao hồ Khảm : mặc dù Càn thuộc kim nhưng vì muốn thực hiện việc chỉnh sửa trên nên phải ép Càn vào ở vị trí của Khảm nên nói là lao hồ Khảm
- Thành ngôn hồ Cấn : đến cung Cấn thì kết luận, đã quyết định xong.
Đọan văn khó hiểu trên có lẽ ghi lại sự tranh cãi giữa Hoa tộc và người đại diện cho Hoa Hạ là Cộng công. Cộng công được biết như là một chức quan trông coi về khoa học kỹ thuật ở thời ấy. Theo ghi chép của Trung Hoa, giữa cháu nội Hòang đế là Chuyên Húc và Cộng Công vào thời ấy đã có sự bất đồng ý kiến về khoa học kỹ thuật qua truyện kể về Cộng Công húc đầu vào núi Bát Chu như sau:
Cộng Công là người có công lao rất lớn trong phát triển nông nghiệp của Trung hoa được dân chúng tôn là Thủy sư tức thần nước. Con của ông là Hậu thổ cũng có năng lực trong nghề nông được dân chúng tôn là Xã thần tức thần đất, là các thần quản về thủy lợi. Sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng tình hình đất ở 9 châu họ đã thống nhất là phải sửa bằng đất đai, tuy nhiên ý đồ này không được Chuyên Húc đồng ý. Cộng công vì giận mà húc đầu vào núi Bát Chu.
Bát Chu là núi Côn Lôn, ngọn núi có những quái thạch nhọn hoắt, cao chạm tầng mây. Sau cú húc mạnh của Cộng Công, quả núi này lập tức gảy gập ngay, đất đá lở xuống ầm ầm, cây cối ngã nghiêng, trời đất mù mịt, tưởng như xảy ra động đất, bầu trời nghiêng ngã. Thì ra theo lời đồn đại, núi này chính là cây cột chống trời, cột trời sụp thì dây chằng đất đứt rời từng khúc, do đó phía Đông nam sụp xuống lấp bằng chỗ trũng khiến cho sông ngòi đều theo dòng chảy về phía đông rồi đổ vào biển đông. Bầu trời khi đó nghiêng về phía Tây Bắc cho nên các vì tinh tú , mặt trời, mặt trăng ngày ngày đều mọc ở phía Đông và lặn ở phía Tây....
Phân tích câu truyện trên có thể suy ra : núi ( Cấn) Bát Chu sụp xuống làm dây chằng đất (Khôn) đứt rời, có nghĩa trục Khôn-Cấn trở lại là trục thẳng ; phía Đông nam (Tốn) sụp xuống , bầu trời nghiêng về phía Tây Bắc (Càn), có nghĩa là trục Tốn Càn trở lại là trục ngang, các vị trí đó là Càn-Khôn-Cấn-Tốn trong tư nam thời Xuân thu chiến quốc. Cuối cùng là mặt trời lại mọc ở phương Đông là vị trí số 8 trên Hà đồ.
Nhưng tại sao Cộng Công lại phải húc đầu vào núi Bát Chu?
Bởi vì núi là tượng Cấn. Liên Sơn Dịch của Hoa hạ lấy quẻ đầu là Cấn. Nói là Cộng Công húc đầu vào núi Bát Chu có nghĩa là muốn sửa bái quái của tộc Chu cho đúng với vị trí ban đầu. Sự bất đồng này có lẽ cũng nghiêm trọng, vì sau đó những người tộc Hạ sống trên đất Tề thường lo sợ về chuyện bị “trời sập”.
Tư Mã Thiên cho rằng Hậu Thiên bát quái là sản phẩm của Văn Vương có lẽ do trong các quẻ bói mà người Việt đang dùng có một số quẻ đã đề cập đến những vấn đề liên quan đếnVăn Vương như:
Quẻ “Vị thủy phong hiền” còn gọi là Sơn Lôi di :
Khương Tử Nha là bậc đại hiền.
Ngồi câu cá chờ thời bên bờ sông Vị thủy.
Vua Văn Vương nghe tiếng đích thân đến tận nơi thỉnh ra giúp nước.
Rước về tôn làm thường phụ.
Quẻ “ Phượng minh Kỳ sơn”- Thiên trạch lý :
Phượng hòang bất thần xuất hiện ở núi Kỳ sơn cất tiếng gáy.
Báo hiệu điềm lành.
Vua Văn Vương ra đời.
Tạo dựng một thời đại thái bình thạnh trị.
Quẻ “Trảm tướng phong thần” - Thủy trạch tiết :
Đời nhà Thương có vua trụ bạo ngược.
Khương Tử Nha vì đại nghĩa diệt được Trụ vương.
Muốn cho óan khí của quân thù tiêu tán để quốc thái dân an.
Nên đã lên “Vạn phong Sơn” cầu siêu, phong thần cho tướng sĩ tử trận.
Về nguồn gốc Kinh dịch, một số nhà nghiên cứu cho rằng Kinh dịch không thực sự là của Trung quốc. Ông Hondanariyouki nhận xét “ Ở Chu dịch, các từ thóan tượng đều lấy tên từ các lọai muông thú phương nam (chim hồng). Thêm vào đó, ở Chu dịch có “phi long”; “tiềm long” càng khiến cho người ta cảm thấy Chu dịch là trước tác của người nước Sở viết ra, và ra đời sau khi Trung quốc đã mở đường giao thông về phía nam Kinh Sở”.
Nói về các tộc người đã từng sinh sống trên đất Trung Hoa, Theo ##/img/www.uglychinese.org thì trên đất Trung Hoa thời xa xưa đã có họ Suiren (Tọai Nhân), sau đó họ You Chao (Hữu sào) đã thay thế họ Tọai nhân, tiếp nữa là họ Fuxi ( Phục Hy) và Nuwa (Nữ Oa) đã thay thế họ Hữu sào, sau cùng là họ Shennong (Thần nông) đã thay thế họ Phục Hy.
Theo truyền thuyết cũng như thuyết quái truyện của kinh dịch thì họ Tọai nhân đã phát minh ra “lửa” ; họ Phục Hy đã phát minh ra “cái lưới” và chữ viết dưới dạng “thắt nút kết thằng” (chữ Khoa Đẩu?) để ghi việc, đã biết trồng trọt chăn nuôi; họ Thần Nông phát minh ra “cái cày”, mở chợ lập làng, tìm ra cây thuốc. Đó chính là Tam Hòang. Ngòai ra không thấy đề cập đến Hữu Sào đã phát minh ra những gì.
Gần đây khảo cổ học đã khai quật được một dụng cụ làm ra lửa ở Chiết Giang có niên đại cách đây hơn 8000 năm, cho thấy rằng họ Tọai Nhân là người Hòa Bình ở di chỉ Hemudu ở bờ nam sông Trường Giang có lẽ đã di cư lên phía Bắc đến di chỉ Dawenkou ở Sơn Đông khỏang 4300 tr.cn khi vùng này bị ngập mặn do nước biển dâng. Họ Tọai Nhân đã bị họ Hữu Sào, tổ tiên của người Hàn Quốc đến thay thế vào khỏang 3898 tr.cn. Họ Hữu sào lại bị họ Fuxi, có lẽ là tổ tiên của tộc Khương cũng được gọi là Viêm Đế từ phía Tây đến thay thế. Khảo sát kỹ có thể thấy được ngòai họ Khương ra Tộc Khương còn có họ Phù, những cái tên có liên quan như Phù sai (Fu chai), Phù nam......v.v . Phục Hy và Nữ Oa được cho là hai anh em do đó có thể Tộc Khương sau khi đến Trung Hoa đã kết lại với nhóm tiền Đông Nam Á để phát triển nông nghiệp. Ở Việt Nam có câu ví: bà Nữ Oa bằng ba mẫu ruộng.
Ở Trung Hoa vào thời Phục Hy, người xưa có lẽ đã hiểu được qui luật âm dương và sự vận động của nó, đã thuận theo những qui luật ấy để phát triển nông nghiệp. Trong kinh dịch cũng có đề cập đến Phục Hy đã trông trời, trông đất, trông vạn vật mà vẽ quái, thời diểm này có thể là họ Phục Hy không chỉ vẽ quái mà ít nhất đã biết đến tứ tượng tức là bốn mùa để theo đó mà trồng trọt. Khi Thần Nông đến thì Phục Hy bị thay thế vì họ Thần Nông đã phát minh ra cái cày và phương thức tát nước vào ruộng để cải tiến và phát triển nền nông nghiệp của Phục Hy và Nữ Oa. Họ Thần Nông đã từng vượt biển nên ắt phải có kiến thức về thiên văn khí tượng và địa lý phương hướng, ắt họ phải là chủ nhân của Hà đồ.
Với các chi tiết đã trình bày trên, tôi cho rằng học thuyết Âm dương ngũ hành và thuyết Thiên Địa Nhân có nhiều hy vọng là của người tiền Việt nam. Nó được ra đời không nhằm mục đích chiêm bói mà trước tiên để tiên đóan thời tiết và xác định phương hướng nhằm phục vụ cho nghề đi biển và nghề nông , các vì sao được quan tâm trước tiên là sao Bắc Cực và sao Bắc đẩu.
“Bói diệc” là lọai sách bói được phổ biến trong dân gian tương tự như nông lịch đã được giải thích sẵn, ai xem cũng hiểu. Kinh dịch của người Trung quốc, được dựa vào quẻ bói diệc, được kết hợp với những ghi chép của các ẩn sĩ ở Giang nam thời ấy để sọan thảo ra dưới hình thức một lọai sách triết , trong bộ kinh dịch này yếu tố tương quan giữa con người với trời đất không được thể hiện đầy đủ như trong các sách bói cổ truyền người Việt thường sử dụng.
Một điều rõ ràng là việc sáng tạo ra học thuyết Âm dương Ngũ hành, Thiên Địa Nhân không phải từ trí tuệ của một người mà là trí tuệ của nhiều người được tích lũy từ thời đại này sang thời đại khác do đó trong những ghi chép của người xưa cũng không thấy khẳng định ai là chủ nhân của học thuyết này. Việc cho rằng 64 quẻ dịch là do Văn Vương sáng tạo ra và Khổng Tử biên sọan thực chất là một sự gán ghép có lựa chọn. Khổng Tử là một người đã từng nghiên cứu kinh dịch, những tài liệu ấy Khổng tử lấy từ đâu ra thì không nghe nói đến, chỉ biết rằng trước kia Khổng Tử chưa thực sự nghiên cứu bói dịch cho đến khi ông bói được quẻ “Lữ” và mời một người họ Thương Cù trong dân gian để giải quẻ cho ông. Thương Cù thị nói: “Tiểu hanh, cố bào thánh trí, nan đắc thánh vị” ý nghĩa là ôm ấp có hùng tâm xây dựng sửa sang đất nước nhưng không giành được quyền vị. Tức thì Khổng Tử rớt nước mắt, ngộ cảm thấy rằng đường đạo của mình khó được thi hành, từ đó mới bắt đầu nghiên cứu dịch. Tuy nhiên việc bắt đầu nghiên cứu dịch và việc hòan thành bộ Kinh dịch là hai việc hòan tòan khác nhau. Theo tôi, những phát minh ở đất Trung hoa đều đã có từ xa xưa nhưng việc người thời sau tiếp thu những tinh hoa của nền văn minh trước chỉ ở chừng mực nào đó. Ví dụ như lịch pháp nhà Hạ lấy tháng Dần làm tháng mở đầu cho một năm, khi nhà Ân Thương lên thay, lấy tháng Sửu làm tháng mở đầu cho một năm, đời Chu lấy tháng Tý làm tháng đầu năm, nhà Tần lấy tháng Hợi làm tháng đầu năm. Đến thời Hán các biến cố như nhật thực , nguyệt thực, hạn hán lũ lụt đều xảy ra khác với thời điểm được ghi trong lịch. Đúng vào lúc Tư mã Thiên đến Giang nam tìm sử liệu được một cụ già ở đất Thương ngô tặng cho bộ sách trúc giản vớt được trên sông Tương. Đó chính là bộ “nhật thư” bí truyền của người Hạ . Hán vũ đế đã theo lời tấu của Tư mã Thiên, truyền chiêu mộ ẩn sĩ ở miền Giang nam để điều chỉnh lịch theo phương pháp của nhà Hạ, sau khi hoàn thành đặt tên là lịch Thái sơ.
Để giải thích, Chu Hy viết: “Về cách tính thời gian nên theo nhà Hạ, nghĩa là nên lấy kiến Dần chi nguyệt làm tháng mở đầu cho bốn mùa. Hàng năm lấy thời kỳ vạn vật sinh sôi nảy nở phồn thịnh làm kỳ mở đầu cho bốn mùa. Cách tính của nhà Hạ giản tiện hơn cả vì thế nên theo… trời mở đầu cung Tý, đất mở đầu cung Sửu, người mở đầu cung Dần. Tam đại lần lượt thay đổi mà noi theo. Nhà Hạ coi cung Dần là nhân chính phù hợp với người nên lấy kiến dần chi nguyệt làm chính nguyệt. Nhà Ân coi cung Sửu là Địa chính phù hợp với đất nên lấy kiến Sửu chi nguyệt làm chính nguyệt. Nhà Chu coi cung Tý là Thiên chính phù hợp với trời nên lấy kiến Tý chi nguyệt làm chính nguyệt. Tính tháng năm dịnh bốn mùa cốt để cho dân tiện làm ăn sinh sống, tiện hoàn thành mọi việc. Vì vậy khi tính năm tháng, định bốn mùa nên lấy sự phù hợp với người làm đầu mối. Chính vì vậy mà nhà Hạ lấy kiến Dần chi nguyệt làm tháng mở đầu của một năm”
Ngoài ra không thấy Chu Hy giải thích vì sao nhà Tần lại lấy kiến Hợi chi nguyệt làm chính nguyệt.
Như vậy đã thấy rằng việc tiếp thu tinh hoa của tộc Hạ chỉ bắt đầu vào thời Hán.Thời điểm ấy tinh hoa của Trung hoa phát ra ào ạt nhờ vào chủ trương chiêu hiền đãi sĩ của Hán Cao tổ. Vào thời này, những nhân tài Việt trên đất Hoa ban đầu sống như những ẩn sĩ. Sĩ là một từ để chỉ tầng lớp tri thức ở Trung quốc. Ẩn sĩ là những người có tri thức, hoàn toàn vượt ra ngoài vòng chính trị, có thái độ bất hợp tác và phản kháng chính quyền đương thời, họ là những nhân sĩ tinh anh sáng tạo văn hóa, giáo hóa quần chúng. Thấy được tác dụng tiềm ẩn trong lớp nhân sĩ, Hán Cao tổ Lưu Bang khi lên ngôi được 11 năm đã có chiếu viết :
“Các bậc đế vương nổi tiếng chưa ai cao hơn Văn vương, những bậc bá chủ chưa ai cao hơn Tề Hoàn đều chiêu hiền đãi sĩ mà thành danh. Kẻ hiền gỉả, bậc trí nhân trong thiên hạ ngày nay có ai được như người xưa… nay ta lấy sự linh thiêng cùa trời đất, cùng với hiền sĩ đại phu trở thành người một nhà, định đọat thiên hạ. Muốn tông miếu tổ tiên trường tồn mà không bị diệt vong, hiền nhân đã cùng ta sao ta có thể hưởng lợi một mình. Hiền sĩ đại phu có khả năng làm việc cùng ta, ta có thể tôn hiển họ”.
Như vậy đã có một số người Việt vì muốn cho tông miếu tổ tiên được trường tồn, không bị diệt vong đã ở lại trên đất của ông cha mình nay gọi là nước Trung quốc. Một điểm đặc biệt là trong nhóm dân tộc thiểu số ở Trung hoa không có tên dân tộc Việt. Nếu ai đó hỏi rằng :
- Vậy thì dân tộc Việt đã biến đi đâu ?
- Họ không biến đi đâu cả, họ đã trở thành người Hán.
- Họ đã trở thành người Hán, như vậy có phải tinh hoa của dân tộc họ cũng đã trở thành tinh hoa của Trung quốc?
- Đúng vậy!
Thiền viện trúc lâm Tuệ Đức tọa lạc tại xã Đồng Quế, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc do Thượng tọa Thích Tỉnh Thuần trụ trì. Thiền viện Trúc Lâm Tuệ Đức được xây dựng trên di tích chùa Kim Tôn – một ngôi Chùa cổ đã có trên 700 năm tuổi, với công đức vô lượng của Quí Phật tử gần xa. Chùa cổ Kim Tôn được xây dựng vào cuối thời Lý, đầu thời Trần, trải qua thời gian dài, cùng sự tàn phá của chiến tranh nên toàn bộ kiến trúc chùa Kim Tôn đã trở thành phế tích.
Năm 2009, Bảo tàng lịch sử Việt Nam, kết hợp cùng Sở văn hóa, Thể thao và Du lịch Vĩnh Phúc đã tiến hành khai quật nền của ngôi Chùa Kim Tôn cổ và đã tìm thấy những di vật có niên đại từ hàng trăm năm tại đây, minh chứng cho sự tồn tại của ngôi chùa thiêng hàng trăm năm tuổi là những di vật gốm sứ với họa tiết hoa văn cổ.
Thiện Viện Trúc lâm Tuệ Đức thuộc dòng thiền viện chính tông được được sáng lập bởi Đức Phật Hoàng Trần Nhân Tông. Thiền viện Trúc lâm Tuệ Đức được xây dựng trên một địa thế đẹp tựa núi nhìn sông, xung quanh ngôi chính điện của Thiền viện được 03 quả núi bao quanh giống như chiếc ngai vàng bao bọc, từ ngôi chính điện này ta có thể nhìn thẳng ra Sông lô, và một chiếc Hồ lớn hình một ông Rùa đang cõng cả quả núi trên lưng.
Với giá trị lịch sử, văn hoá của di tích và thể theo nguyện vọng của đông đảo nhân dân địa phương, tháng 4/2010, Thiền viện Trúc Lâm Tuệ Đức được khởi công xây dựng. Được sự ủng hộ, phát tâm công đức của các tăng ni phật tử xa gần và nhân dân địa phương, ngôi chính điện – Đại Hùng Bảo Điện Thiền viện Trúc Lâm Tuệ Đức đã được hoàn thành với quy mô rộng trên 700m2.
Từ một ngôi chùa đã bị đổ nát theo tháng năm, ngày nay một ngôi Thiền viện khang trang đã dần được hình thành trên nền chùa Kim tôn – Thiền việc Trúc lâm Tuệ Đức. Trong tương lai, Thiền viện Trúc Lâm Tuệ Đức sẽ là trung tâm Phật học của khu vực và là trọng điểm về du lịch tâm linh gắn với du lịch sinh thái của huyện Sông Lô.
Thiền Viện Trúc Lâm Tuệ Đức là một công trình kiến trúc đẹp trách lệ với không gian cao xanh, tĩnh mịch, u huyền… dưới chân núi có hồ Bò lạc xanh biếc lung linh bóng núi ẩn chứa nhiều sự tích xa xưa, làm cho Sáng Sơn trở nên thắng cảnh có sức mời gọi. Nơi đây đang hình thành một khu di tích văn hóa, tâm linh, sinh thái hấp dẫn hàng vạn du khách, phật tử.
![]() |
| Không gian phòng khách tuyệt vời Tết 2015 |
Thân nhân cho rằng đó là huyệt đất tốt, trời đã dành cho và chôn giùm nên gọi là "thiên táng", tương lai gia đình sẽ phát đạt, vậy cứ để nguyên mà vun cao lên. Không cải táng.
Những ngôi mộ thiên táng như vậy, thường ở ven đường cái. Ngày nay dọc đường quốc lộ, lác đác còn nhìn thấy có những ngôi mộ cổ đắp đất, gọi là thảo mộ. Trải qua hàng trăm năm mưa gió dập vùi, nhưng vẫn được tôn cao, trong số đó phần lớn là những ngôi mộ vô thừa nhận vì chết dọc đường, người nhà không tìm thấy. Mộ vẫn được đắp cao, không ngớt hương khói, do những cư dân chung quanh và khách buôn bán đi qua về lại chăm sóc thờ cúng vì tin rằng những âm hồn đó rất thiêng, phù hộ độ trì cho khoẻ mạnh, làm ăn nên nổi.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
An toàn thoải mái, tiện lợi là điều kiện cơ bản của việc cư trú từ việc dựng một căn lều nho nhỏ đến việc mua nhà, chung cư, biệt thự, thậm chí là quy hoạch đô thị, lựa chọn thủ đô của một quốc gia, đều liên quan mật thiết với sở học dương trạch.

Dương trạch học tất nhiên có những mặt cao siêu huyền bí, những cũng có những lí luận giản đơn mà ai cũng biết. Ví như dương trạch đáp ứng điều kiện cát lợi cũng chính là phải tuân thủ theo nguyên tắc của phong thuỷ, của tự nhiên.
Nói về thành quách, đền chùa… của các đời vua chúa xưa.
Trục thần đạo Nam Bắc thường được chọn vì thực tế tự nhiên hay ưu đãi tạo ra hệ địa lý thuận phong thủy, nó được gọi là trục thần đạo.
Trục thần đạo thường được chọn lựa địa hình kỹ lưỡng trước khi quyết định chọn làm kinh thành cho một quốc gia. Đây là một trong những công việc đại sự quốc gia.
Nói về nhà ở:
Từ xưa, các cụ hay nói “Lấy vợ đàn bà, làm nhà hướng nam” cũng ý chỉ trục thần đạo. Nó giúp cho ngôi nhà hay con người sinh hoạt trong đó thuận tự nhiên.
Trong khi ngủ, nghỉ ngơi, đặc biệt với trẻ nhỏ cũng nên tuân theo lẽ tự nhiên này (cách nằm: đầu bắc, chân nam).
Đôi chút về cách thức làm nhà xưa:
Thường với khuôn viên đủ rộng, phía trước đào ao (lấy đất làm nhà) làm dần từng hạng mục, về sau thành khuôn viên có dạng như sau.
Cũng theo phong thủy tổng thể, từ xưa người ta đã biết vận dụng, với những điều kiện hiện có.
Mặc dù địa hình không cho phép, không có núi cao phía sau, không có núi thanh long, bạch hổ… người xưa đã hiểu biết và vận dụng thành công, như:
Phía trước nhà có ao nước (hướng thủy) và có hàng cau để thanh lọc khí tốt vào nhà.
Phía sau có đất gò, có trồng hàng cây mít, cho vững chắc, tượng trưng như núi bao bọc phía sau hợp với câu “trước cau sau mít” như chúng ta vẫn thường nghe.
Bên trái là lối vào, rồi đến nhà ngang (tượng của dãy núi thấp của thanh long).
Bên phải có đống rơm to, tượng của núi bạch hổ.
Nhìn lại, yếu tố phong thủy được người xưa áp dụng vào cuộc sống, từ những hạng mục lớn của quốc gia hay với từng ngôi nhà của người nông dân.
Sự tài tình, khéo léo, áp dụng yếu tố phong thủy trong cuộc sống đã và đang như một nét văn hóa xuyên suốt chiều dài lịch sử của nhân loại.
Trục thần đạo thường được các đời vua chúa của các quốc gia áp dụng. Với nhà ở, chúng ta áp dụng thêm bát trạch sao cho hợp với mệnh của từng người, và tuân theo các yếu tố phong thủy là ổn.
Phúc Đăng, Lư Trung dữ Sơn Đầu
Tam Hỏa nguyên lai phách Thủy lưu
Thiên Thượng, Tích , Sơn hạ Hỏa
Thủy trung nhất ngô cân vương hâu
Nghĩa là: Ba loại Phúc Đăng Hỏa (lửa đèn dầu), Lư Trung Hỏa (lửa bếp lò) và Sơn Đầu Hỏa (lửa trên núi) gặp hành Thủy sẽ khắc kỵ. Khi gặp nước ba thứ lửa trên sẽ bị dập tắt, đúng nghĩa Thủy khắc Hỏa, thuộc diện khắc nhập mất phần phúc.
Sách Bác Vật Vựng Biên Nghệ Thuật Điển ghi: Giáp Tuất Ất Hợi thì Tuất Hợi là cửa trời, hỏa chiếu thiên môn, quang huy cực cao”Sơn Đầu Hỏa chỉ thấy sáng rực mà không thấy lửa nên tâm cơ thâm trầm, ít ai hiểu, vui giận không lộ ra sắc diện, tài trí cao mà không cho người thấy được. Thành công tấn tốc như đám cháy rừng khi gặp vận.
Người Sơn Đầu Hỏa lúc gặp thời thâm trầm làm việc không biết mệt. Gặp thời rồi cũng không lãng phí thời gian. Mệnh tốt danh vọng sự nghiệp hơn người. Mệnh xấu cũng đắc lực nhanh nhẹn để phục vụ thừa hành..