Mơ thấy mẹ: Muốn được dựa dẫm –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
| ► Lịch ngày tốt gửi tới độc giả công cụ xem phong thủy và ngũ hành chuẩn xác để đón lành tránh dữ |
![]() |
| Lan quân tử là loài cây xinh đẹp, vượng tài, thích hợp đặt trong phòng khách |
| ► Xem tướng các bộ phận cơ thể đoán vận mệnh chuẩn xác |
![]() |
| Phụ nữ mắt xếch là tướng đa dâm |
![]() |
| Mắt lệch là người có tâm địa bất chính |
Sử dụng vải nhiều lớp

Để tạo sự ấm cúng cho phòng ngủ, bạn nên sử dụng các loại vải nhiều lớp cho gối, đệm và chăn. Các loại vải như nhung, lanh hay cotton đều sẽ mang lại cảm giác ấm áp cho phòng ngủ. Tùy theo sơn tường, các độ nội thất khác trong phòng mà bạn nên chọn màu sắc sao cho phù hợp tránh việc xung đột màu sắc tạo nên cảm giác mệt mỏi và ngột ngạt.
Các tác phẩm nghệ thuật

Các tác phẩm nghệ thuật là một trong những cách dễ nhất để thể hiện cái tôi cá tính của chủ nhân trong phòng ngủ. Những tác phẩm nghệ thuật sẽ mang lại một cái nhìn mới cho phòng ngủ. Một bức tranh lạ mắt hay một bức tượng độc đáo là phòng ngủ sẽ trở nên “lung linh” hơn.
Đèn ngủ

Đèn ngủ không chỉ là vật trang trí mà còn là phụ kiện giúp mang lại sự ấm áp cho phòng ngủ. Khi mua một chiếc đèn ngủ, bạn không nên chỉ tập trung vào kiểu dáng mà còn cần phải xem xét đến ánh sáng của nó. Một chiếc đèn ngủ với hình dạng bắt mắt và ánh sáng ấm áp sẽ là phụ kiện hoàn hảo để bạn thêm "sắc" cho phòng ngủ.
Hoa tươi

Hoa tươi là phụ kiện phòng ngủ bạn nên có. Tùy theo tâm trạng và thời tiết mà bạn có thể thay đổi màu hoa, loại hoa cho phù hợp. Những bông hoa sẽ giúp bạn nâng cao tinh thần và là một cách để thêm sự lãng mạn, ngọt ngào cho phòng ngủ.
Góc thư giãn

Ngay cả khi phòng ngủ giới hạn về diện tích thì bạn cũng không nên chỉ có giường và tủ trong phòng. Một góc nhỏ trong phòng được dành để đọc sách hay nhấm nháp một tách trà sẽ giúp bạn dành nhiều thời gian trong phòng ngủ hơn. Nến thơm và ánh sáng mở ảo trang trí cho góc thư giãn cũng sẽ giúp phòng ngủ thêm ấm áp hơn.
Nội thất khác biệt

Hãy sử dụng trí tưởng tưởng của bạn để mang những đồ nội thất lạ mắt đến phòng ngủ. Chiếc tủ gỗ cũ của bạn có thể sẽ trở thành vật trang trí nổi bật nếu được sơn mới và vẽ lên đó những họa tiết bắt mắt. Một chiếc ghề kiểu cũ hay một chậu cây dáng “độc” sẽ giúp phòng ngủ của bạn bừng sáng.
Thảm sàn

Thảm sản cũng là một phụ kiện tuyệt vời để thể hiện cái tôi phong cách của bạn trong việc trang trí phòng ngủ. Khi chọn mua thảm sàn, bàn cần phải tính đến sự hòa hợp giữa họa tiết, màu sắc của thảm sàn với màu tường và các vật dụng khác trong phòng.
Gam màu nổi bật

Sử dụng gam màu nổi bật cho phòng ngủ cũng là cách để mang lại sức sống cho không gian quan trọng này. Dùng gam màu cam cho phụ kiện trong một căn phòng được sơn màu trung tính sẽ “thổi bùng” cảm xúc trẻ trung, năng động. Nếu không thích màu cam, bạn có thể chọn màu xanh ngọc, xanh lá cây hay màu đỏ.
(Theo Đẹp)
| ► Mời các bạn: Xem ngày tốt kết hôn đại cát đại lợi theo Lịch vạn sự |
Với 80% dân số làm nghề mộc, mức sống của người dân thị trấn khá cao. Tuy nhiên, hơn 10 năm nay, vào ngày được cưới, cả thị trấn đóng cửa xưởng, người dân gác việc nhà đổ xô đi ăn cỗ. Cả chục đôi uyên ương cưới cùng một ngày khiến cho việc đi ăn cưới ở đây giống một ngày hội.
![]() |
| Cô dâu chỉ được mặc áo tân thời nếu không muốn bị ... cắt điện |
Địa phương này quy định, đám cưới chỉ được tổ chức vào ngày 2 hoặc 16 hàng tháng. Trong đám cưới, gia đình không được dựng sân khấu, không được mở loa đài, không làm cổng chào, không dùng lẵng hoa, dùng các loại bóng đèn tiết kiệm điện , không tổ chức ăn lại mặt sau khi cưới... và đặc biệt, cô dâu không được mặc váy cưới, mà chỉ được mặc áo tân thời. Nếu gia đình nào vi phạm quy ước đều phải chịu một hình phạt rất đặc biệt là bị... cắt điện trong một tuần.
Dù có nhiều ý kiến trái chiều nhưng đã thành lệ, người dân cũng quen dần và nghiêm túc thực hiện, hiện tại chưa có đám nào phá lệ. Điều này tạo ra một “thương hiệu” cưới xin độc đáo, duy nhất trên khắp cả nước.
Tuy nhiên, cưới xin là việc vui, trăm năm có một mà không hát hò, loa đài ầm ĩ thì đám thanh niên cảm thấy không được vui cho lắm và bị trai làng khác chọc khoáy là kém chịu chơi. Nhưng lệ ông cha đặt ra nên họ đành phải chấp nhận.
Tổng hợp
Tam nương là ngày gì? Bạn có biết không? Tại sao vào ngày tam nương người ta lại kiêng kỵ không làm những điều quan trọng. Một vài chia sẻ sau đây của Phong thủy số chúng ta hãy cùng tìm hiểu nhé.

Ngày tam nương là ngày sinh và ngày mất của 3 người phụ nữ có vẻ đẹp tuyệt trần, có thể nói là tuyệt sắc giai nhân đó là Đát Kỷ, Bao Tự và Muội Hỉ. Suốt cả cuộc đời của mình, họ đều là những người được xem là hồng nhan họa thủy bởi đều mang lại sự xui xẻo, không may mắn cho những người xung quanh. Chính 3 cô nương này là nguyên nhân làm sụp đổ ba triều đại ở Trung Quốc đó là triều nhà Hạ, Thương, Tây Chu trước công nguyên.
Tóm lại theo tín ngưỡng dân gian Trung Quốc, ngày tam nương là ngày rất xấu mà mọi người cần tránh.
Xem thêm: Giải mã hiện tượng nháy mắt phải
Sau khi đã tìm hiểu xem ngày tam nương là ngày gì, chúng ta hãy cùng tìm hiểu rõ hơn xem nguồn gốc của ngày này tại Việt Nam ta.
Theo truyền thuyết ở Việt nam, theo phong tục tập quán của người Việt thì vào những ngày đó Ngọc Hoàng thượng đế sẽ sai 3 cô gái xinh đẹp xuống hạ giới để là mê muội con dân, để thử lòng người, nếu ai gặp phải đều sẽ bỏ bê công việc, đam mê rượu chè tửu sắc.
Theo khoa chiêm tinh, ngày tam nương, nguyệt kỵ là ngày cực kỳ xui xẻo mà mọi người không nên làm bất cứ công việc quan trọng nào. Vì vậy những ngày nào liên quan đến ngày tam nương, mọi người đều cần tránh xa.
Mặc dù những lời nói về ngày tam nương đều mang tính truyền miệng, không có cơ sở khoa học, thiếu bằng chứng xác thực, tuy nhiên ăn sâu vào tâm trí mọi người đều cho rằng, tốt nhất mọi việc vẫn cần có kiêng có lành.
Mỗi khi khởi sự làm chuyện quan trọng như xuất hành, cưới xin, khai trương, mua bán, ký hợp đồng, cất nhà, xây nhà... để tránh chuốc lấy sự thất bại, tránh phải sự không may, những ngày tam nương sau đây, bạn cần tránh xa: đó là các ngày mùng 3 , mùng 7, 13, 18, 22 và ngày 27 trong mỗi tháng âm lịch. Tháng nào cũng có đều đặn 6 ngày tam nương.
Một điều khá thú vị khác đó là theo lịch, theo người phương tây, họ cũng có những ngày tốt xấu nhất định và thật trùng hợp khi ngày nguyệt kị lại rơi vào đúng ngày tam nương. Có lẽ vì thế mà mọi người càng tin rằng đây là ngày không may mắn.
Trong năm 2017, những ngày tam nương trong các tháng sau đây, hãy cùng lưu ý nhé.
Tính theo dương lịch:
Tháng 1 – ngày tam nương là ngày, 04, 10, 15, 19, 24, 30
Tháng 2 – ngày tam nương là ngày, 03, 09, 14, 18, 23, 28
Tháng 3 – ngày tam nương là ngày, 04, 10, 15, 19, 24, 30
Tháng 4 – ngày tam nương là ngày, 03, 09, 14, 18, 23, 28
Tháng 5 – ngày tam nương là ngày, 02, 08, 13, 17, 22, 28
Tháng 6 – ngày tam nương là ngày, 01, 07, 12, 16, 21, 26, 30
Tháng 7 – ngày tam nương là ngày, 06, 11, 15, 20, 25, 29
Tháng 8 – ngày tam nương là ngày, 04, 09, 13, 18, 24, 28
Tháng 9 – ngày tam nương là ngày, 03, 08, 12, 17, 22, 26
Tháng 10 – ngày tam nương là ngày, 02, 07, 11, 16, 22, 26
Tháng 11 – ngày tam nương là ngày, 01, 06, 10, 15, 20, 24, 30
Tháng 12 – ngày tam nương là ngày, 05, 09, 14, 20, 24, 30
Xem thêm những thông tin hữu ích khác tại thư viện: Phong thủy
Cách chọn đèn trang trí
- Nhà có cửa chính ở hướng Đông, Nam và Đông Nam nên chọn những đèn có hình trụ, hình chữ nhật bằng gỗ, với số lượng hoặc 2 cái.
- Nhà ở hướng Tây, Bắc, Tây-Bắc nên chọn đèn có hình tròn, hình trụ bằng kim loại, với số lượng 6 hoặc 8 cái.
- Nhà ở hương Tây Nam, Đông Bắc nên chọn đèn có khung nhôm và số lượng từ 4 hoặc 9 cái.
Màu sắc ánh sáng cho các phòng 
- Phòng khách nên dùng nhiều đèn có ánh sáng tốt, có độ phân tán tốt để mang đến không khí và vận may cho toàn bộ ngôi nhà.
- Phòng ngủ nên chọn màu sắc ánh sáng nhẹ nhàng và thoải mái, ấm áp. Riêng phòng ngủ của trẻ nên chọn những đèn có hình dáng độc đáo để khơi dậy trí tưởng tượng của trẻ.
- Nhà bếp vì có yếu tố lửa nên chọn ánh sáng trắng.
- Phòng tắm vì có hơi nước, yếu tố của thủy nên chọn ánh sáng vàng dịu.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Coi tuổi mạng và năm sinh

1-(1941, 2001, 2061) Tuổi Tân Tỵ, cung Tốn, mạng Bạch Lạp Kim (chân đèn bằng vàng), xương con cọp, tướng tinh con thuồng luồng, khắc Phúc Ðăng Hoả, con nhà Bạch Ðế-Trường mạng
2-(1940, 2000, 2060) Tuổi Canh Thìn, cung Chấn, mạng Bạch Lạp Kim(chân đèn bằng vàng), xương con rồng, tướng tinh con quạ, khắc Phúc Ðăng Hoả, con nhà Bạch Ðế-Trường mạng.
3-(1939, 1999) Tuổi Kỹ Mẹo, cung Khôn, mạng Thành Ðầu Thổ ( đất trên thành), xương con thỏ, tướng tinh con rồng, khắc Thiên Thượng Thuỷ, con nhà Huỳnh Ðế-Phú quí.
4-(1938, 1998) Tuổi Mậu Dần, cung Khảm, mạng Thành Ðầu Thổ (đất trên thành), xương con cọp, tướng tinh con thuồng luồng, khắc Thiên Thượng Thuỷ, con nhà Huỳnh Ðế-Phú quí.
5-(1937, 1997) Tuổi Ðinh Sửu, cung Ly, mạng Giáng Hạ Thuỷ( nước mù sương), xương con trâu, tướng tinh con trùn, khắc Thiên Thượng Hoả, con nhà Hắc Ðế- Cô bần
6-(1936, 1996,2056) Tuổi Bính Tý, cung Cấn, mạng Giáng Hạ Thuỷ(nước mù sương), xương con chuột, tướng tinh con rắn, khắc Thiên Thượng Hoả, con nhà Hắc Ðế-Cô bần.
7-(1935, 1995) Tuổi Ất Hợi, cung Ðoài, mạng Sơn Ðầu Hoả (lửa trên núi), xương con heo, tướng tinh con hưu, khắc Sa Trung Kim, con nhà Xích Ðế-Cô bần.
8-(1934, 1994) Tuổi Giáp Tuất, cung Càn, mạng Sơn Ðầu Hoả (lửa trên núi), xương con chó, tướng tinh con ngựa, khắc Sa Trung Kim, con nhà Xích Ðế-Cô bần.
9-(1933, 1993) Tuổi Quí Dậu, cung Chấn, mạng Kiếm Phong Kim (kiếm bằng vàng), xương con gà, tướng tinh con đười ươi, khắc Phúc Ðăng Hoả, con nhà Bạch Ðế- Phú quí.
10-(1932, 1992) Tuổi Nhâm Thân, cung Khôn, mạng Kiếm Phong Kim, xương con khỉ, tướng tinh con dê, khắc Phúc Ðăng Hoả, con nhà Bạch Ðế-Phú quí.
11-(1931, 1991) Tuổi Tân Mùi, cung Khảm, mạng Lộ Bàng Thổ (đất đường đi), xương con dê, tướng tinh con gấu, khắc Tuyền Trung Thuỷ, con nhà Huỳnh Ðế-Bần cùng.
12-(1930, 1990) Tuổi Canh Ngọ, cung Ly, mạng Lộ Bàng Thổ, xương con ngựa, tướng tinh con vượn, khắc Tuyền Trung Thuỷ, con nhà Huỳnh Ðế-Bần cùng.
13-(1929, 1989) Tuổi Kỹ Tỵ, cung Cấn, mạng Ðại Lâm Mộc(cây lớn trong rừng), xương con rắn, tướng tinh con khỉ, khắc Ðại Trạch Thổ, con nhà Thanh Ðế- Trường mạng.
14-(1928, 1988) Tuổi Mậu Thìn, cung Ðoài, mạng Ðại Lâm Mộc, xương con rồng, tướng tinh con quạ, khắc Ðại Trạch Thổ, con nhà Thanh Ðế-Trường mạng.
15-(1927, 1987) Tuổi Ðinh Mẹo, cung Càn , mạng Lư Trung Hoả(lửa trong lư), xương con thỏ, tướng tinh con gà, khắc Kiếm Phong Kim, con nhà Xích Ðế-cô bần
16-(1926, 1986) Tuổi Bính Dần, cung Khảm, mạng Lư Trung Hoả, xương con cọp, tướng tinh con chim trĩ, khắc Kiếm Phong Kim, con nhà Xích Ðế-cô bần
17-(1925, 1985) Tuổi Ất Sửu, cung Tốn, mạng Hải Trung Kim(vàng dưới biển), xương con trâu, tướng tinh con chó, khắc Bình Ðịa Mộc, con nhà Bạch Ðế-Phú quí.
18-(1924, 1984) Tuổi Giáp Tý, cung Chấn, mạng Hải Trung Kim, xương con chuột, tướng tinh con chó sói, khắc Bình Ðịa Mộc, con nhà Bạch Ðế-Phú quí.
19-(1923, 1983) Tuổi Quí Hợi, cung Cấn, mạng Ðại Hải Thuỷ(nước biển lớn), xương con heo, tướng tinh con gà, khắc Thiên Thượng hoả, con nhà Hắc Ðế-Quan lộc, tân khổ.
20-(1922, 1982) Tuổi Nhâm Tuất, cung Ðoài, mạng Ðại Hải Thủy, xương con chó, tướng tinh con chim trĩ, khắc Thiên Thượng hoả, con nhà Hắc Ðế-Quan lộc, tân khổ.
21-(1921, 1981) Tuổi Tân Dậu, cung Càn, mạng Thạch Lựu Mộc (cây lựu đá), xương con gà, tướng tinh con chó, khắc Bích Thượng Thổ, con nhà Thanh Ðế-Cô bần.
22-(1920, 1980) Tuổi Canh Thân, cung Khôn, mạng Thạch Lựu Mộc, xương con khỉ, tướng tinh con cho sói, khắc Bích Thượng Thổ, con nhà Thanh Ðế-Cô bần.
23-(1919, 1979) Tuổi Kỹ Mùi, cung Tốn, mạng Thiên Thượng Hoả (lửa trên trời), xương con dê, tướng tinh con rùa, khắc Sa Trung Kim, con nhà Xích Ðế-Cô bần.
24-(1918, 1978) Tuổi Mậu Ngọ, cung Chấn, mạng Thiên Thượng Hoả, xương con ngựa, tướng tinh con heo, khắc Sa Trung Kim, con nhà Xích Ðế-Cô bần.
25-(1917, 1977) Tuổi Ðinh Tỵ, cung Khôn, mạng Sa Trung Thổ (đất trong cát), xương con rắn, tướng tinh con cú, khắc Dương Liễu Mộc, con nhà Huỳnh Ðế-Phú quí.
26-(1916, 1976) Tuổi Bính Thìn, cung Khảm, mạng Sa Trung Thổ, xương con rồng, tướng tinh con chuột, khắc Dương Liễu Mộc, con nhà Huỳnh Ðế-Phú quí.
27-(1915, 1975) Tuổi Ất Mẹo, cung Ly, mạng Ðại Khê Thuỷ( nước khe lớn), xương con mèo, tướng tinh con dơi, khắc Sơn Hạ Hoả, con nhà Hắc Ðế-Phú quí.
28-(1914, 1974) Tuổi Giáp Dần, cung Cấn, mạng Ðại Khê Thuỷ, xương con cọp, tướng tinh con trâu, khắc Sơn Hạ Hoả, con nhà Hắc Ðế-Phú quí.
29-(1913, 1973) Tuổi Quí Sửu, cung Tốn, mạng Tang Ðố Mộc (cây dâu), xương con trâu, tướng tinh con cua biển, khắc Ốc Thượng Thổ, con nhà Thanh Ðế- Quan lộc, tân khổ.
30-(1912, 1972) Tuổi Nhâm Tý, cung Chấn, mạng Tang Ðố Mộc, xương con chuột, tướng tinh con heo, khắc Ốc Thượng Thổ, con nhà Thanh Ðế-Quan lộc, tân khổ.
31-(1911, 1971) Tuổi Tân Hợi, cung Khôn, mạng Xoa Kim Xuyến (xuyến bằng vàng), xương con heo, tướng tinh con cọp, khắc Ðại Lâm Mộc, con nhà Bạch Ðế-Phú quí.
32-(1910, 1970) Tuổi Canh Tuất, cung Khảm, mạng Xoa Kim Xuyến, xương con chó, tướng tinh con cáo, khắc Ðại Lâm Mộc, con nhà Bạch Ðế-Phú quí.
33-(1909, 1969) Tuổi Kỹ Dậu, cung Ly, mạng Ðại Trạch Thổ (đất nền nhà), xương con gà, tướng tinh con thỏ, khắc Thiên Thượng Thuỷ, con nhà Huỳnh Ðế-Quan lộc.
34-(1908, 1968) Tuổi Mậu Thân, cung Cấn, mạng Ðại Trạch Thổ, xương con khỉ, tướng tinh con lạc đà, khắc Thiên Thượng Thuỷ, con nhà Huỳnh Ðế-Quan lộc.
35-(1907, 1967) Tuổi Ðinh Mùi, cung Ðoài, mạng Thiên Hà Thuỷ (nước sông Thiên Hà), xương con dê, tướng tinh con rồng, khắc Thiên Thượng Hoả, con nhà Hắc Ðế- tân khổ.
36-(1906, 1966) Tuổi Bính Ngọ, cung Càn, mạng Thiên Hà Thuỷ, xương con ngựa, tướng tinh con thuồng luồng,khắc Thiên Thượng Hoả, con nhà Hắc Ðế- tân khổ.
37-(1905, 1965) Tuổi Ất Tỵ, cung Ðoài, mạng Phúc Ðăng Hoả ( lửa đèn nhỏ), xương con rắn, tướng tinh con trùn, khắc Xoa Xuyến Kim, con nhà Xích Ðế-Tân khổ.
38-(1904, 1964) Tuổi Giáp Thìn, cung Tốn, mạng Phúc Ðăng Hoả, xương con rồng, tướng tinh con rắn,khắc Xoa Xuyến Kim, con nhà Xích Ðế-Tân khổ.
39-(1903, 1963) Tuổi Quí Mẹo, cung Ly, mạng Kim Bạch Kim (vàng trắng), xương con thỏ, tướng tinh con hưu, khắc Lư Trung Hoả, con nhà Bạch Ðế-Phú quí.
40-(1902, 1962) Tuổi Nhâm Dần, cung Cấn, mạng Kim Bạch Kim, xương con cọp, tướng tinh con ngựa, khắc Lư Trung Hoả, con nhà Bạch Ðế-Phú quí.
41-(1901, 1961) Tuổi Tân Sửu, cung Ðoài, mạng Bích Thượng Thổ ( đất trên vách), xương con trâu, tướng tinh con đười ươi, khắc Thiên Thượng Thuỷ, con nhà Huỳnh Ðế-Quna lộc, bần cùng.
42-(1900, 1960) Tuổi Canh Tý, cung Càn, mạng Bích Thượng Thổ, xương con chuột, tướng tinh con dê, khắc Thiên Thượng Thuỷ, con nhà Huỳnh Ðế-Quna lộc, bần cùng.
43-(1899, 1959) Tuổi Kỷ Hợi, cung Cấn, mạng Bình Ðịa Mộc(cây trên đất bằng), xương con heo, tướng tinh con gấu, khắc Sa Trung Kim, con nhà Thanh Ðế-Phú quí.
44-(1958, 2018) Tuổi Mậu Tuất, cung Tốn, mạng Bình địa mộc (cây trên đất bằng), xương con chó tướng tính con vượn, khắc Sa Trung Kim, con nhà Thanh Ðế-Phú quí.
45-(1957, 2017) Tuổi Ðinh Dậu, cung Chấn, mạng Sơn Hạ Hoả (lửa dưới núi), xương con gà, tướng tinh con khỉ, khắc Thích Lịch Hoả, con nhà Xích Ðế-Cô bần
46-(1956, 2016) Tuổi Bính Thân, cung Khôn, mạng Sơn Hạ Hỏa, xương con khỉ, tướng tinh con quạ, khắc Thích Lịch Hoả, con nhà Xích Ðế-Cô bần
47-(1955, 2015) TuổiẤt Mùi, cung Khảm, mạng Sa Trung Kim (vàng trong cát), xương con dê, tướng tinh con gà, khắc Thạch Lựu mộc ,con nhà Bạch Ðế- An mạng phú quí
48-(1954, 2014) Tuổi Giáp Ngọ, cung Ly, mạng Sa Trung Kim, xương con ngựa, tướng tinh con chim trĩ, khắc Thạch Lựu mộc ,con nhà Bạch Ðế- An mạng phú quí
49-(1953, 2013) Tuổi Quí Tỵ, cung Khôn, mạng Trường Lưu Thuỷ(nước chảy dài), xương con rắn, tướng tinh con chó, khắc Thiên Thượng Hoả , con nhà Hắc Ðế- Trương mạng
50-(1952, 2012) Tuổi Nhâm Thìn, cung Khảm, mạng Trường Lưu Thuỷ, xương con rồng, tướng tinh con chó sói, khắc Thiên Thượng Hoả , con nhà Hắc Ðế- Trương mạng
51-(1951, 2011) Tuổi Ất Mẹo, cung Ly, mạng Tòng Bá mộc ( cây Tòng và cây Bá), xương con thỏ, tướng tinh con rái, khắc Lộ Bàng thổ , con nhà Thanh Ðế-Trường mạng
52-(1950, 2010) Tuổi Canh Dần, cung Cấn, mạng Tòng Bá mộc, xương con cọp, tướng tinh con heo, khắc Lộ Bàng thổ , con nhà Thanh Ðế-Trường mạng
53-(1949, 2009) Tuổi Kỹ Sửu, cung Ðoài, mạng Thích Lịch Hoả ( lửa sấm sét), xương con trâu, tướng tinh con heo, khắc Thiên Thượng Thuỷ , con nhà Xích Ðế-Phú quí.
54-(1948, 2008) Tuổi Mậu Tý, cung Càn, mạng Thích Lịch Hoả, xương con chuột, tướng tinh con chó sói,khắc Thiên Thượng Thuỷ , con nhà Xích Ðế-Phú quí.
55-(1947, 2007) Tuổi Ðinh Hợi, cung Cấn, mạng Ốc Thượng Thổ ( đất ổ vò vỏ), xương con heo, tướng tinh con dơi, khắc Thiên Thượng Hoả, con nhà Huỳnh Ðế- Phú quí.
56-(1946, 2006) Tuổi Bính Tuất, cung Tốn,mạng Ốc Thượng Thổ, xương con chó, tướng tinh con trâu, khắc Thiên Thượng Hoả, con nhà Huỳnh Ðế-Phú quí.
57-(1945, 2005) Tuổi Ất Dậu, cung Chấn, mạng Tuyền Trung Thuỷ (nước trong giếng), xương con gà, tướng tinh con cua, khắc Thiên Thượng Hoả, con nhà Hắc Ðế-Từ tánh, phú quí.
58-(1944, 2004) Tuổi Giáp Thân, cung Khôn , mạng Tuyền Trung Thuỷ, xương con khỉ, tướng tinh con heo, khắc Thiên Thượng Hoả, con nhà Hắc Ðế-Từ tánh, phú quí.
59-(1943, 2003) Tuổi Quí Mùi, cung Càn, mạng Dương Liễu mộc ( cây dương liễu), xương con dê, tướng tinh con cọp, khắc Lộ Bàng Thổ, con nhà Thanh Ðế-trường mạng.
60-(1942, 2002) Tuổi Nhâm Ngọ, cung Ly, mạng Dương Liễu mộc, xương con ngựa, tướng tinh con rắn, khắc Lộ Bàng Thổ, con nhà Thanh Ðế-trường mạng.
Bạch Ðức Thế Tôn, con xem ở đời phàm là con trai mang đai hia mão, ai cũng nhận ra, đấy là nam giới, những người con gái hương hoa phấn sáp, kiềng xuyến nhẫn hoa, ai cũng nhận ra, đó là nữ giới. Nay người đã chết, xương trắng một mầu, chúng con biết đâu mà phân biệt đựơc.
Này A-Nan con, về bên nam giới trong lúc bình sinh, thừơng lui tới những chốn chùa chiền, nhờ có nhân duyên nghe Kinh lễ Phật, kính mến Tăng-già, nợ trần đã qua, hồn về cõi Phật, bao nhiêu xương trắng, nhắc thấy nặng hơn là xương nam giới còn như nữ giới trong lúc bình sinh, nhiều lần sinh nở, nuôi nấng con thơ, tổn hao khí huyết, mỗi một kỳ sinh, máu đặc trong mình chảy ra sáu đấu, mỗi người con bú, tám thùng bốn đấu, sửa ở trong mình giảm bớt tinh anh, cho nên xương nhẹ và có sắc đen. Tôi nghe Phật nói thương xót vô cùng, như dao cắt ruột, nứơc mắt chứa chan, hai hàng châu lệ, mà bạch Phật rằng:
Tôi nghe thế nầy : một khi Phật ở, trong một Tinh Xá, vườn Cấp-cô- độc, cây của Kỳ-Ðà, cùng các Tăng-già, có trên hai vạn, thêm tám nghìn người , cùng chư Bồ-Tát. Bấy giờ Thế-Tôn, cùng với Ðại chúng, nhân buổi nhàn du đi về phía nam, thấy đống xương khô chất cao như núi Ðức Phật Thế Tôn liền sụp lạy ngay đống xương ấy. Tôi bạch Phật rằng : Lạy Ðức Thế Tôn, Ngài ở trên ngôi chí Tôn, chí Qúy, Thầy cả ba cõi Cha lành bốn loài thiên thựơng nhân gian thảy đều tôn kính, sao Ngài lại lễ đống xương kia.
Nầy A-Nan ơi! Ngươi tuy xuất gia theo ta tu học, trong bấy nhiêu lâu, những sự thấy nghe đã rộng rãi, đống xương khô ấy hoặc là ông bà, hay là cha mẹ, thân trứơc của ta, ngàn muôn ức kiếp, đời đã cách xa, bởi thế nay ta chí thành kính lễ. Ngươi đem xương nầy chia làm hai phần, một là đàn ông, hai là đàn bà, phân biệt cho ta.
Bạch Ðức Thế Tôn, con xem ở đời phàm là con trai mang đai hia mão, ai cũng nhận ra, đấy là nam giới, những người con gái hương hoa phấn sáp, kiềng xuyến nhẫn hoa, ai cũng nhận ra, đó là nữ giới. Nay người đã chết, xương trắng một mầu, chúng con biết đâu mà phân biệt đựơc.
Này A-Nan con, về bên nam giới trong lúc bình sinh, thừơng lui tới những chốn chùa chiền, nhờ có nhân duyên nghe Kinh lễ Phật, kính mến Tăng-già, nợ trần đã qua, hồn về cõi Phật, bao nhiêu xương trắng, nhắc thấy nặng hơn là xương nam giới còn như nữ giới trong lúc bình sinh, nhiều lần sinh nở, nuôi nấng con thơ, tổn hao khí huyết, mỗi một kỳ sinh, máu đặc trong mình chảy ra sáu đấu, mỗi người con bú, tám thùng bốn đấu, sửa ở trong mình giảm bớt tinh anh, cho nên xương nhẹ và có sắc đen.
Tôi nghe Phật nói thương xót vô cùng, như dao cắt ruột, nứơc mắt chứa chan, hai hàng châu lệ, mà bạch Phật rằng:
Lạy Ðức Thế Tôn, công ơn cha mẹ như non như bể, thăm thẳm nghìn trùng, lấy gì báo đáp, cúi xin Ðức Phật dủ lòng thương xót, dạy bảo chúng con.
Nầy A-Nan con, Về ân đức mẹ, trong vòng mười tháng đi lại nặng nề, cưu mang nhọc mệt, khổ không xiết :
Ở trong thai mẹ, trong vòng mười tháng, trăm phần toàn vẹn, mới đến ngày sinh, nếu là con hiếu, chắp tay thu hình, thuận lối mà ra, không đau lòng mẹ; nếu là con bạc, dẫy giụa bải bơi khiến lòng mẹ, buốt chói từng hồi, như đâm như xỉa, như cấu như cào, như nghìn mũi dao, đâm vào gan ruột, đau đớn vô cùng, nói sao cho siết, sinh được thân nầy, mừng thay vui thay, yêu thay mến thay.
Phật bảo A-Nan : công ơn cha mẹ, gồm có mười điều, phàm kẻ làm con, phải lo báo hiếu .
Bao kiếp, duyên cùng nợ;
Ngày nay, mới vào thai
Ðầy tháng, sanh ngũ tạng;
Bảy bảy, sáu tinh khai
Thân trọng, như non Thái
Ðộng tĩnh, sợ phong tai
Áo the, đành xốc-xếch,
Gương lược, biếng trang đài.
Khi gần ngày sanh nở
Nặng nhọc, khổ vô cùng,
Cưu mang, trong mười tháng
Sanh nở, sắp đến ngày
Ðứng ngồi coi nặng nhọc;
Dáng vẻ, tựa ngô ngây,
Sợ hãi lo, cùng lắng;
Tử sanh giờ phút nầy!
ÐỆ TAM ÂN: SANH NỞ
Mẹ ta, khi sanh nở,
Thân thể đều mở toang!
Tâm hồn như mê mẩn,
Máu me chan hòa đầy,
Chờ nghe, thấy con khóc;
Lòng mẹ mừng rỡ thay!
Ðương mừng lại lo đến
Rầu rĩ ruột gan nầy.
Mẹ ta lòng thành thực,
Thương con chẳng chút ngơi
Nhả ngọt nào có tiếc!
Ăn đắng nói cùng ai?
Yêu dấu như vàng ngọc.
Nâng niu tay chẳng rời
Những mong con ấm no;
Mẹ đói rách cũng vui .
Tự mình nằm chỗ ướt,
Chỗ ráo để xê con,
Hai vú phòng đói khát;
Hai tay ủ gió sương.
Thâu đêm nằm chẳng ngủ;
Nâng niu tựa ngọc vàng
Những mong con vui vẻ;
Lòng mẹ mới được yên.
Ðức mẹ dày như đất;
Công cha thẳm tựa trời
Chở che coi bình đẳng;
Cha mẹ cũng thế thôi!
Chẳng quản, câm mù, điếc!
Chẳng hiềm, quắt tay chân!
Bởi vì con ruột thịt,
Trọn đời dạ chẳng khuây.
Từ biệt, lòng khôn nhẫn;
Sanh ly dạ đáng thương;
Con đi đường xa cách
Mẹ ở chốn tha hương,
Ngày đêm thường tưởng nhớ;
Sớm tối vẩn vấn vương
Như vượn thương con đỏ
Khúc khúc đoạn can trường?
Mẹ trải qua bao nhiêu gian khổ,
Công lao tựa vực trời
Bồng bế cùng nuôi nấng;
Mong sao con ăn chơi
Nhường cơm cùng xẻ áo;
Mẹ đói rách dũng vui!
Khôn lớn tìm đôi lứa
Gây dựng cho nên người
Công cha cùng đức mẹ
Cao sâu tựa vưc Trời
Mẹ già, hơn trăm tuổi,
Vẫn thương con tám mươi!
Bao giờ ân oán hết?
Tắt nghỉ cũng chẳng thôi !…
Phật bảo A-Nan: Ta xem chúng sanh, dẫu làm được người lòng còn ngu muội chẳng nghĩ mẹ cha, công đức kể ra, như non như bể, chẳng cung chẳng kính, chẳng hiếu chẳng từ, mẹ mang thai con, trong vòng mười tháng, ngồi đứng không yên, như mang gánh nặng, ăn uống chẳng ngon, như người mang bệnh, ngày tháng thoi đưa, dến khi sanh nở, chịu khổ mọi đường, phút giây hay dở, kinh sợ vô cùng, như giết trâu dê, máu me lai láng, còn nhiều khổ nữa, mới được thân nầy, ăn đắng nuốt cay, nhả bùi nhả ngọt, nâng niu dưỡng dục, giặc giũ dáy dơ, không nề gian khổ, bức bối nồng nàn, rét mướt cơ hàn, lầm than tân khổ, mẹ nằm chỗ ướt, ráo để xê con, ba năm bú mớm, bồng bế nâng niu, dạy bảo đủ điều, lễ nghi phép tắc, cho ăn đi học, tìm đủ mọi nghề, đưa đón đi về, cần lao chăm chú, chẳng kể gì công.
Trái nắng dở Trời tuần trăng cuối gió, bệnh nọ chứng kia, bông hoa sài đẹn, thang thuốc đâu đâu, một mình lo lắng, chạy ngược chạy xuôi năm canh vò võ, bệnh con có khỏi lòng mẹ mới yên, mong con lớn lên, con thảo con hiền, để mà trông cậy.
Không ngờ ngày nay, hóa con bất hiếu, mẹ già cha yếu, con chẳng đỡ đần, cãi vã song thân, nói năng cắn cẩu, giương đôi mắt chẫu, khinh rẻ mẹ cha, chú bác ông bà, cô dì chẳng nể, anh em cũng kệ, đánh lộn xẩy ra, ô nhục nước nhà, bất trung bất nghĩa, bất hiếu bất lương, phép nước coi thường, mẹ cha cũng kệ, xóm giềng chẳng nể, chửi bới nhau luôn, sớm tối ra vào, chẳng thưa chẳng gởi nói năng càn rỡ, tự ý làm bừa, cha mẹ cũng thừa, thầy trên cũng mặc!
Bé thì ai chấp, người những nâng niu, dần dần khôn lớn, gai ngạnh mọi điều, chẳng hòa chẳng thuận, thường hay sân si bỏ cả bạn lành, giao du bạn ác, tập thói xa hoa, chơi khắp gần xa, thất thường điên đảo, bị kẻ dổ dành, mất cả thân danh, bỏ làng trốn mất, trái ý mẹ cha, ly biệt quê nhà, chẳng nhìn quê quán, hoặc vì buôn bán, hoặc bởi tòng quân, tiêm nhiễm dần dần, trở nên lưu luyến, vợ nọ con kia, chẳng thiết đi về, quê hương bổn quán, ở đất nước người lại hay rong chơi bị người lưà gạt, tai vạ liên miên, pháp luật gia hình, tù loa cấm cố, cực khổ mọi điều, chẳng may yếu đau, chứng kia tật nọ, ở chốn tha hương, ai kẻ thích thân, ai người thang thuốc, mẹ cha cách biệt, thân thích biết đâu, cam chịu ưu sầu, quê người đất khách; khốn khổ gầy còm, không người trông nom, bị khinh rẻ, lang thang đường ngõ, vì thế chết đi; không người mai táng, chương phềnh thối nát, giãi bừa, chó cầy nhai xé!….
Mẹ cha thân thuộc, khi được tin buồn, luống những đau thương, ruột như dao cắt, hai hàng nước mắt, lã chã chứa chan, hoặc vì quá thương, kết thành bệnh khí, hoặc là đến chết, làm quỷ ôm thây, chẳng để cho ai khư khư giữ mãi. Hoặc là vì con, chẳng chăm học tập, chỉ mải rong chơi nay đây mai đó, cùng bạn vô loài làm điều vô ích, giao du trộm cắp, chẳng sợ lệ làng, chè rượu nghênh ngang, đánh cờ đánh bạc, gian tham tội ác, lụy đến tôn thân, nay Sở mai Tần, lên đồn xuống phủ, mẹ cha ủ rũ, khốn khổ vì con.
Nào con có biết, cha mẹ khổ đau, trăm não nghìn sầu, mùa Thu mùa Ðông, rét run bức bối chẳng nhìn sớm tối; ấp lạnh quạt nồng, chẳng viếng chẳng thăm, chẳng hầu chẳng hạ, mẹ cha già cả, hình vóc gầy còm, hổ mặt người con, dầy vò mắng nhiếc, mẹ cha hoặc góa, trơ trọi một mình, luống những buồn tanh, như người ngủ trọ, chiếc gối một phòng, năm canh vò-võ, mùa đông sương gió, rét mướt cơ hàn, trai gái các con, nào ai hỏi đến, đêm ngày thương khóc, tự thán tự thương !
Khi đem thức ăn, dâng lên cha mẹ, thì lại giữ kẽ, rằng ngượng e, sợ kẻ cười chê; ví đem quà bánh, cho vợ cho con, mặt dạn mày dầy, không hề xấu hổ, vợ con dặn bảo, phải đúng như lời cha mẹ hết hơi không hề hối cải .
Ðây là con gái khi chưa gả chồng, hãy còn ở chung, tỏ ra hiếu thảo; khi đã gã bán, về ở nhà người một ngày một lười thiết gì cha mẹ, những ngày giỗ tết, có đảo về qua, ví dù mẹ cha, có gì sơ ý, liền sinh giận dữ, tỏ vẻ oán hờn, chồng chửi nhơn nhơn, đành cam lòng chịu, khác họ khác làng, tình nghĩa keo sơn, hóa ra thâm trọng, mẹ cha máu mủ, thì lại sơ tình. Hoặc đi theo chồng, quê người đất khách, quận nọ tỉnh kia, cha mẹ xa lià. Làng không tưởng nhớ, chẳng viếng chẳng thăm, thư tín cũng không, tuyệt không tin tức, mẹ cha thương nhớ, rầu rĩ ruột gan, luống những bàng hoàng, sớm chiều mong mỏi công đức cha mẹ, vô lượng vô biên, con chẳng hiếu hiền, ở đời cũng lắm.
Khi ấy Ðại chúng, nghe Phật nói ra, công đức cha mẹ, cao tầy non Thái đều cùng đứng dậy, hoặc tự gieo mình, đập đầu lăn khóc, máu me trào trạt, lai láng cả nhà, chết ngất cả ra, hồi lâu mới tỉnh, mà nói lời nầy, khổ thay khổ thay ! đau lòng đứt ruột, lũ con ngày nay, tội ác ngập đầu, xưa có biết đâu, mờ như đêm tối ngày nay biết hối thì sự đã rồi đau đớn lòng tôi trót đà bội bạc, cúi xin chư Phật, soi xét kẻ phàm, phóng Ngọc hào quang, ra tay cứu vớt, làm sao báo được, ân đức mẹ cha .
Phật liền nói ra, đủ đầy tám giọng, bảo Ðại chúng rằng :
Bấy giờ Ðại chúng, nghe Phật nói rồi trong dạ bồi hồi ruột đau như cắt, hai hành nước mắt, tầm tả như mưa, mà bạch Phật rằng : con muốn đền ơn, công đức mẹ cha, cúi xin Phật đà, rủ lòng chỉ bảo ?
Ðức Phật liền bảo : Cặn kẽ mọi lời này chúng sinh ơi muốn đền ân mẹ, nhất là một lẽ, nên chép Kinh nầy, kính biếu gần xa, cho nhiều người tụng. Hai vì cha mẹ, đọc tụng Kinh này, chuyên cần chớ đoạn. Ba vì cha mẹ, sám hối làm chay. Bốn vì cha mẹ, cúng dường Tam Bảo, tùy sở dùng. Năm vì cha mẹ, trong sáu ngày Trai phải nên nhớ giữ. Sáu vì cha mẹ, thường hay bố thí.
Làm được như thế, thực là con hiếu, cứu được cha mẹ, siêu thăng Cưc Lạc, phúc đẳng Hà sa.
Phật bảo A-Nan, ở trên thế gian, những người bất hiếu, sau hết duyên trần, nguyên cái xác thân, chôn vùi dưới đất : còn phần Linh giác, là cái chân thân, phải vào Ðiạ Ngục, Chính ngục A-Tỳ, vuông rộng tứ vi tám ngàn cây số, bốn mặt có tường sắt, tường đồng, lửa cháy tứ tung, toàn dây thép điện, thường có lửa bén, cháy đỏ hồng hồng, bốc cháy tứ tung, thấy mà kinh sợ; hơn như thế nữa, sấm chớp đùng đùng, chó sắt rắn đồng, phun ra khói lửa, đốt cháy tội nhân.
Lại còn nước đồng đun sôi sùng sục, rót ngay vào miệng những kẻ tội nhân, vì tội bất hiếu, cãi giả mẹ cha, cam chịu cực hình, ở trong ngục ấy, gươm dao sào gậy, đâm chém suốt ngày, như hạt mưa bay, trên không rơi xuống, trải nghìn muôn kiếp, không phút nào nguôi hết hạn ấy rồi lại vào ngục khác; Ðầu đội chậu máu, xe sắt nghiến mình, mình mẩy chân tay, dập dừ tan nát, một ngày phải chết, tới nghìn vạn lần, khổ sở gian truân, vì chứng bất hiếu. Phật lại dạy rằng : ví có Thiện nam hay là Tín nữ, thật là hiếu tử, trả nghĩa mẹ cha, in Kinh nầy ra, biếu cho người tụng, in được một quyển, được một công đức, in được mười quyển, được mười công đức, in được trăm quyển, được trăm đức Phật, in được muôn quyển, được muôn đức Phật, phù hộ độ trì, lại tiếp hồn đi về phương Cực Lạc, đây là lời Phật, chớ có coi thường, Ðiạ ngục vấn vương, khó lòng thoát khỏi !
Bâý giờ A-Nan cùng chư Ðại chúng, Trời Rồng, Thần, Quỉ, Dạ Xoa, La Sát, người cùng phi nhân, được nghe Phật nói đều phát nguyện rằng :
Chúng con tận tâm, chí thành chí kính, dù trăm nghìn kiếp, thịt nát xương tan, nhỏ như vi trần, cũng chẳng dám quên lời chư Phật dạy. Thà rằng lấy kìm, cặp lưỡi rút ra, dài trăm do tuần, cho trâu sắt cày, máu chảy chan hòa, thành sông thành suối con thề chẳng trái lời Phật dạy răn.
Chúng con thề rằng: Thà lấy trăm nghìn vòng dao giáo mác, đâm chém thân này, nhỏ như vi trần, cũng chẳng dám quên lời chư Phật dạỵ
Chúng con thề rằng: Thà lấy lưới sắt, quất chặt vào thân trăm nghìn muôn kiếp, chẳng tháo cho ra, cực khổ vô cùng, cũng chẳng dám quên lời chư Phật dạy.
Chúng con thề rằng: Thà đâm thà chém, thà mổ thà xả, thà xay thà giã, nhỏ như vi trần, đem cái xác thân nầy, làm nghìn muôn thứ, nào da nào thịt, nào gân nào xương, rơi rác ngoài đường, trong nhà, ngoài ngỏ; trải trăm nghìn kiếp, chịu khổ như thế, cũng chẳng dám quên lời chư Phật dạỵ
Khi ấy A-Nan, liền bạch Phật rằng : Lạy Ðức Thế Tôn, đây là kinh gì, lũ chúng con đây đều muốn tụng trì, có được hay chăng. Ðức Phật dạy rằng, chúng con nên biết :
Kinh nầy là Kinh Ðại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân chi Kinh, tất cả chúng sinh thảy đều nên tụng. Khi ấy Ðại chúng nghe Phật nói rồi tin, kính phụng lành, lễ tạ mà lui.
Chấm dứt Kinh Phật Nói Kinh Ðại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân
Kính lạy Ðại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân kinh.
Kính lạy Ðức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính lạy chư Phật đã đền ân cha mẹ.
Kính lạy Ðức Ma Gia Ðại Thánh Mẫu.
Kính lạy Ngài Quang Mục Ðại Thánh Nữ.
Kính lạy Ngài Diệu Thiện cắt tay cứu Phụ Vương.
Kính lạy Ngài Mục Kiền Liên vào ngục cứu mẫu thân.
Kính lạy chư vị Bồ Tát đã đền ân cha mẹ.
Kính lạy Phật Từ Di mẫu, Kiều Ðàm Di đại Bồ Tát.
Kính lạy Thầy Cưu Ma La Thập dịch kinh này.
1. Móng tay hình vuông
Móng tay hình vuông là người chính trực, nghiêm túc, tác phong làm việc chuyên nghiệp. Sở hữu tính cách như vậy nên tài vận của họ cũng ngày càng tốt hơn, thu nhập ổn định, khá giả. Họ thích rõ ràng trong tình yêu, ghét sự dối trá. Họ là người bạn trung thực và đáng tin cậy nhất. Đặc biệt, họ không thích giao lưu với những người giảo hoạt, giả tạo.
2. Móng tay hình chữ nhật
Người có móng tay hình chữ nhật thường trầm tĩnh, kiên nhẫn, tình duyên tốt. Sự nghiệp của họ rất phát triển, bởi họ dám nghĩ dám làm, là nam thì có khí phách nam tử hán, là nữ thì mạnh mẽ kiên cường.
![]() |
3. Móng tay hình bách hợp
Móng tay hình bách hợp là móng tay dáng tương đối dài, bốn góc tròn, phần đầu nhọn, giống như cánh hoa bách hợp. Đây là dáng móng tay đẹp nhất, thấy nhiều ở phái nữ. Những người có dáng móng tay bách hợp thì dù là nam hay nữ tính cách cũng ôn thuận, thân thiện dễ gần, vận đào hoa tốt, được bạn bè yêu quý, sự nghiệp thuận lợi.
4. Móng tay tròn trịa
Móng tay tròn là người thông minh lanh lợi, họ không thích tranh giành quyền lợi, vật chất, chỉ muốn làm những việc bản thân yêu thích. Trong tình yêu họ rất chu đáo, tinh tế, sau khi kết hôn sẽ hết lòng vì gia đình.
Xem tiếp
Kunie (theo lnka)
Thời gian: được tổ chức từ ngày 6 tới ngày 9 tháng 4 âm lịch (chính hội là ngày 9 tháng 4).
Địa điểm: xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, thành Phố Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: nhằm suy tôn Thánh Gióng (một trong bốn vị Thánh bất tử trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam - "Phù Đổng thiên vương").
Nội dung: Lễ hội Gióng được cử hành trong một không gian rộng lớn dài khoảng 3km gồm đền thượng, đền Mẫu (thờ mẹ Gióng) và chùa Kiến Sơ... Trong ba ngày hội đầu, dân làng tổ chức lễ rước cờ tới đền mẫu, rước cơm chay lên đền Thượng.
Ngày chính hội là ngày mùng 9 tháng 4 có lễ rước kiệu võng từ đền Mẫu lên đền Thượng và tổ chức hội trận (diễn lại trận phá giặc Ân).
Ngày mồng 10 làm lễ duyệt quân tạ ơn Gióng. Ngày 11 lễ rửa khí giới. Ngày 12 lễ rước cờ báo tin thắng trận với trời đất. Cuối cùng là lễ khao quân, đến đêm có hát chèo mừng thắng trận.
![]() |
![]() |
– Ngồi Bắc hướng Nam: Nên lựa chọn các tông màu trắng như: màu trắng ngà, các màu ấm áp làm chủ đạo: nếu một mặt là phía Nam thì có thể lựa chọn dùng màu xám nhạt hoặc màu đen nhạt.

– Ngồi Nam hướng Bắc: Nên chọn các tông màu đỏ, màu xanh lá cây.
– Ngồi Dông hướng Tây: Nên lựa chọn màu xanh lá cây, màu đen.
– Ngồi Tây hướng Đông: Nên chọn tông màu vàng, màu trắng.
– Ngồi Đông Bắc hướng Tây Nam: Nên chọn tông màu vàng, tông màu đỏ.
– Ngồi Tây Nam hướng Đông Bắc: Nên chọn tông màu vàng, tông màu đỏ, lấy tông màu ấm áp.
– Ngồi Tây Bắc hướng Đông Nam: Nên chọn tông màu trắng, tông màu vàng.
– Ngồi Đông Nam hướng Tây Bắc: Nên chọn tông màu xanh lá cây, tông màu đen, tông màu trắng đều cát lợi.
Cũng theo National Pen, nghiên cứu này thậm chí có thể được sử dụng để xác định nguy cơ về sức khỏe bao gồm cả bệnh tâm thần phân liệt, huyết áp cao... Quá trình phân tích chữ viết được gọi là “Thuật xem tướng chữ”, được coi là giả khoa học vì đã có những tranh cãi về độ chính xác của nó khi xác định các thuộc tính tâm lý.

Nếu chữ viết nghiêng sang phải, người đó luôn sẵn sàng có những trải nghiệm mới và hứng thú gặp gỡ những người mới. Viết nghiêng sang trái là người có xu hướng giữ mọi thứ cho riêng mình, khó mở lòng. Còn những người có chữ viết không nghiêng về bên nào là rất logic và thực tế.
Đặc điểm tính cách cũng có thể xác định được bằng cách viết từng chữ cái. Theo đó, các kiểu vòng móc trong các chữ cái "l" và "e" rộng có nghĩa là người đó thoải mái, cởi mở và tự nhiên. Những người móc vòng hẹp có xu hướng hoài nghi người khác.
Chấm trên chữ "i" và gạch ngang ở chữ "t" cũng là một tiêu chí thể hiện tính cách người viết. Nếu dấu chấm của chữ "i" nằm cao hơn so với mức cơ bản thì người viết có một trí tưởng tượng tuyệt vời. Nếu dấu chấm gần mức cơ bản, người viết là người có tính tổ chức. Những người hay chần chừ có xu hướng đặt dấu chấm về phía bên trái chữ “i” và chữ “j”, trong khi những ai có tính cách trẻ con sẽ chấm lên các chữ cái này thành hình vòng tròn. Dấu gạch ngang dài trên chữ “t” gợi ý đây là một người quyết đoán và nhiệt tình nhưng cũng cứng đầu. Những người có dấu gạch ngang ngắn có khuynh hướng lười biếng.
Người viết những chữ tròn trịa có óc sáng tạo và tính nghệ thuật cao trong khi chữ viết nhọn là dấu hiệu của những người hiếu thắng, sống tích cực, thông minh và tò mò. Viết chữ "o" có móc hoặc không kín là người nói nhiều và hòa đồng, chữ “o” khép kín sẽ chỉ ra đó là người kín đáo. Tương tự như vậy, chữ "s" tròn trịa có nghĩa là người muốn làm hài lòng mọi người.
Những người thường đè bút mạnh tạo ra chữ viết đậm, dày hơn luôn thực hiện tốt cam kết nhưng không phản ứng tốt với những chỉ trích. Đó cũng là dấu hiệu của mức năng lượng cao. Trong khi đó những người viết nhẹ tay có xu hướng đồng cảm và nhạy cảm nhưng thiếu sức sống, thể hiện sự mệt mỏi.
Nếu chữ ký khó đọc, người viết thuộc dạng khó hiểu, còn người ký dễ đọc thường tự tin và tính tình thoải mái.
Phân tích cũng chỉ ra rằng sức khỏe của một người có thể được xác định từ dạng chữ viết của họ, ví dụ, những người có huyết áp cao có xu hướng chữ viết lúc thô đậm, lúc mảnh. Những người bị bệnh tâm thần phân liệt sẽ có chữ viết nghiêng trái phải liên tục. Một trong những triệu chứng của bệnh Parkinson viết chữ rất nhỏ và khó đọc được gọi là Micrographia.
Theo yahoo.com
QUÝ MÃO: KIM BẠC KIM
Trong Tử vi thì Quý Mão là con thỏ nơi ruộng mạ (quan điểm ỏ nước ta là con mèo), thường có lòng thương giúp người, cá tính nhanh nhẹn, ưa sạch sẽ, thích tiêu dao tự tại, quan tâm người trên ngưòi dưới, thích cuộc sống thanh nhàn.
Kim bạc Kim mạ vàng mâm chén, tăng sáng cho cung thất, làm bóng Kim khác.

Quý Mão là Kim khí tán, nếu như gặp Hỏa chủ về tán khí, gặp Thủy, Thổ chủ vể cát lợi. Kim bạc Kim là Kim hư bạc, có đức nhân nghĩa, cương nhu hài hòa. Hai mùa thu, đông cương kiện không hung, cho dù có hung cũng ẩn tàng điềm cát. Hai mùa xuân, hạ chủ về ngoài cát trong hung, trong cát ẩn chứa hung.
Nhập quý cách là ngưòi có chí khí, có danh tiết, anh minh, có thành tựu; mang sát là người hung bạo, khó có được cách cục bình yên.
Kim này rất nhỏ, không có Mộc không có chỗ để nương tựa, không có Thủy không đắc lực. Mộc lấy Mậu Tuất, Kỷ Hợi Bình địa Mộc làm thượng cách. Có Mộc này không nên gặp Hỏa, gặp Hỏa chủ về yểu thọ.
Gặp Hỏa, nếu như là Bính Thân, Đinh Dậu Sơn hạ Hỏa; Giáp Tuất, Ât Hợi Sơn đầu Hỏa phải có thanh Thủy mới tốt.
Nhật trụ, thồi trụ ưa gặp Giáp Thân, Ât Dậu Tỉnh tuyền Thủy; Bính Tý, Đinh Sửu Giản hạ Thủy; Bính Ngọ, Đinh Mùi Thiên hà Thủy, nạp âm của nguyệt trụ gặp Mộc mới luận là cát lợi.
Nếu như gặp Nhâm Thìn, Quý Tỵ Trường lưu Thủy, Giáp Dần, Ât Mão Đại khê Thủy chủ về cả đòi phiêu dạt. Gặp Nhâm Tuất, Quý Hợi Đại hải Thủy chủ về người có những việc làm không theo luân thưòng đạo lý, làm bại hoại thanh danh gia đình.
Riêng gặp Đại hải Thủy, tránh được điềm hung cũng gặp họa tàn tật.
Kim ưa Canh Tuất, Tân Hợi Thoa xuyến Kim; Nhâm Thân, Quý Dậu Kiếm phong Kim.
Canh Thìn, Tân Tỵ Bạch lạp Kim; Giáp Tý, Ất Sửu Hải trung Kim; Giáp Ngọ, Ât Mùi Sa trung Kim, không có ích. Duy nạp âm có Hỏa còn được, nếu không cả đời khó tránh điềm hung.
Thổ gặp Mậu Dần, Kỷ Mão Thành đầu Thổ, chủ ăn nhờ ở đậu; duy ưa Kỷ Mão Thành đầu Thổ, là Ngọc thô đông thăng cách.
Gặp Canh Tý, Tân Sửu Bích thượng Thổ còn có thể an thân. Nếu nạp âm có Mộc lại có Giáp Thìn, Ât Tỵ Phúc đăng Hỏa, chiếu sáng rực rố, cả đời quyền quý.
Quý lộc tại Tý, Tý Mão phạm hình, chủ về bần cùng, nên cần cù, tiết kiệm.
Quý Dương nhẫn tại Sửu, các Địa chi của trụ khác không nên có Sửụ, phạm chủ về mệnh yểu vong.
Mão mã tại Tỵ, các Địa chi của trụ khác gặp Tỵ, chủ về kết cục phá bại. Các Địa chi của trụ khác gặp Thân, Dần, mã bị hình, không thể kinh doanh.
Mão, Hợi Không vong ở Thìn, Tỵ, các Địa chi của trụ khác không nên gặp Thìn, Tỵ.
Các Địa chi của trụ khác thấy Tỵ e sẽ làm ra việc không có danh dự. Không thấy Tỵ mà thấy Sửu, Ngọ, Mùi cũng nên cẩn thận. Nên giữ mình trong sạch, chố cầu xa xỉ, vọng tưởng mà làm điều phạm pháp.
Quý quý tại Tỵ, các Địa chi của trụ khác thấy Tỵ, chủ cát lợi, phú quý.
Gặp năm Mão, năm Dậu, trong nhà không yên ổn. Bản thân không bị thương hại thì người nhà muôn sự cũng khó được như ý.
Tử vi Quý Mão bạn đời không nên lấy người sinh năm Mậu, Kỷ. Nên tìm người sinh năm Bính, Đinh.
Kim này mỏng như tơ, cho nên phải có Kim khác đến trợ giúp mới là người cương nghị quả cảm. Mộc nhiều chủ về cơ thể yếu ốt, tinh thần mệt mỏi, chí khí không vững vàng.
Cho nên, các trụ khác ưa Kiếm phong Kim, Thoa xuyến Kim, chủ trước nghèo sau giàu, xuất thân nghèo khó nhưng sau làm quan lớn.
Nhật trụ gặp Mùi, khắc bạn đời. Thời trụ gặp Mùi, nên hiến thân cho tôn giáo.
![]() |
![]() |
Cửa trước và sau tránh đối diện
Cửa trước và cửa sau nếu đặt đối diện nhau thì sinh khí trong nhà sau khi đi vào từ cửa trước, sẽ thoát hết ra cửa sau. Mặt khác tuy gió thông mát mẻ nhưng rất nguy hiểm, rất dễ gây “phản gió” làm tổn hại đến sức khỏe.
Một ngôi nhà tụ khí, đường lối đi ngoắt ngoéo sẽ tạo ra sự ấm áp và là “giai khí” (khí tốt lành, may mắn). Nó có tác dụng dưỡng thần, dưỡng khí và tăng vận may, thịnh vượng.
Nếu ngôi nhà có cửa sau thì cửa này phải đặt so le với cửa trước để khí lưu thông trong nhà từ trước ra sau dích dắc theo hình chữ “S”, như vậy khí sẽ tụ lâu trong nhà.
Cửa nhà vệ sinh không được đối diện với cửa lớn vào nhà
Cửa chính là nơi sinh khí của trời đất vào, và sinh khí ấy phải lưu động trong lòng nhà mà không nên xộc vào nhà vệ sinh. Nếu cửa nhà vệ sinh đối diện với cửa chính, thì sinh khí khi đi vào sẽ xộc thẳng vào nơi khí uế, âm khí nặng nề.
Cửa bếp và phòng chứa đồ tránh đối diện với phòng ngủ
Phòng ngủ là nơi nghỉ ngơi, phải luôn tạo cảm giác hài hoà, yên tĩnh, an toàn, không bị phiền nhiều bởi nước, lửa. Bếp là nơi thường ngày dùng lửa, có khói, khi nấu nướng sẽ ảnh hưởng đến không khí phòng ngủ.
Nước, lửa trong căn bếp cũng tiềm ẩn mối nguy hiểm, đặc biệt là khả năng xảy ra sự cố rò rỉ khí ga và cả khí than bếp. Bởi vậy, cửa bếp và phòng ngủ phải so le và cách nhau tương đối xa.
Cửa phòng chứa đồ cũng vậy. Phòng này là nơi chứa mọi tạp chất. Khi mở cửa, hơi ẩm mốc đủ loại xộc ra, sẽ tràn thẳng vào cửa phòng ngủ, đó là điều tối kỵ.
Cửa bếp và cửa nhà vệ sinh tránh đối diện nhau
Bếp là nơi đun nấu, chế biến đồ ăn thức uống, còn phòng vệ sinh là nơi nuôi dưỡng vi khuẩn và không khí bẩn, nếu cửa đối diện nhau sẽ ảnh hưởng tới vệ sinh, tổn hại sức khỏe.
Cửa phòng ngủ và cửa chính không nên đối diện
Phòng ngủ là nơi nghỉ ngơi, thư giãn, cần yên tĩnh, kín đáo, còn cửa chính là nơi người nhà, khách khứa thường xuyên ra vào, sẽ ảnh hưởng tới sự yên tĩnh cần thiết. Vì vậy, cửa chính không nên đặt đối diện với cửa buồng ngủ vì nó sẽ dễ ảnh hưởng tới sức khỏe.
Cửa gian bếp không đối diện với cửa chính
Gian bếp là nơi tượng trưng cho sự giàu có của một gia đình. Vì vậy, nếu của bếp đối diện với cửa chính thì tài khí sẽ lọt hết ra ngoài.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Rằm tháng Giêng là một trong những ngày lễ quan trọng trong năm của người Việt, cũng là ngày trăng tròn đầu tiên của năm. Vào ngày này, mọi người thường lên chùa cúng sao giải hạn, ước nguyện điều lành cho gia đình.
Rằm tháng Giêng năm nay rơi vào ngày 12 tháng 1 Dương lịch. Ngày này thích hợp cho việc đính hôn, cúng tế, cầu phúc, cầu tự, tắm gội, nhận con nuôi, thăm hỏi người thân bạn bè, nhập học, chữa bệnh, đào giếng, xây đắp ao hồ, mua gia súc. Kị kết hôn, nhập trạch, tang lễ, an táng. Tuy nhiên, nếu cần làm việc gì bạn nên xem kĩ để chọn giờ cho phù hợp.
Ngoài ra vào ngày này hàng năm còn có một số kiêng kị mọi người nên biết để có một năm thuận lợi, nếu tránh được sẽ tốt cho vận khí của bạn và gia đình.
1. Trẻ con khóc sẽ làm gia đình không may mắn, dễ xảy ra một số việc không mong muốn, vào ngày này cha mẹ không nên để con cái khóc nhiễu.
2. Tránh đánh vỡ, làm hỏng đồ đạc trong nhà, bởi vì điều đó đồng nghĩa với việc năm tới tài phúc hao tổn.
Làm vỡ đồ ngày Rằm tháng Giêng có thể đem đến nhiều xui xẻo. Ảnh minh họa
3. Kiêng đi đến những nơi âm khí nặng như mồ mả, nơi hoang vu hoặc bệnh viện, nhất là những người sức khỏe yếu kém.
4. Mang ít tiền bạc, đồ vật có giá trị bên người. Nếu mất mát tài sản vào ngày này thì năm nay tài vận của bạn sẽ kém đi.
5. Rằm tháng Giêng không được cho người khác mượn tiền, nếu bạn cho mượn nghĩa là bạn cũng cho đi tài khí của mình.
6. Không được để thùng gạo trong nhà lộ đáy, thùng gạo trống rỗng chẳng khác gì nhà bạn sẽ đói kém.
7. Chú ý không để quần áo bị rách, theo quan niệm xưa thì nếu quần áo rách, năm tới bạn sẽ bị vận rủi đeo bám.
8. Ngày này không được sát sinh, nếu không tài vận suy giảm, gặp tai nạn, bệnh tật.
9. Tránh mặc đồ màu trắng và màu đen vì hai màu này liên quan đến người đã mất. Người mặc hai màu đen trắng vào ngày này làm việc gì cũng khó thành.
10. Họa từ miệng mà ra, lời đã nói ra không thu lại được. Vì vậy không nói lời hạ tiện và nói “sạch“ bạn nhé.
Không ai cổ súy cho mê tín dị đoan, tuy nhiên, theo phong thủy, có một số điều bạn không nên làm hay giữ trong nhà bởi chúng có thể đem đến vận xui, tước đi may mắn của gia đình mình. Dưới đây là 9 thứ kém may mắn rất có thể đã hiện diện trong nhà mà bạn cần điều chỉnh ngay:
1. Đồng hồ hư

Không chỉ mang ý nghĩa xấu theo phong thủy, theo quan niệm của nhiều nước phương Tây, những chiếc đồng hồ báo thức bị hư hỏng là điềm báo của cái chết. Do đó, nó thường được xem là thứ đem đến vận rủi, bạn không nên lưu trữ trong nhà.
2. Cửa sơn màu đen

Theo phong thủy, màu đen là màu sắc của sự sang trọng, quý phái, còn một cánh cửa sơn đen chính là một trong những thứ góp phần đem đến những điều may mắn cho gia đình bạn. Tuy nhiên, điều đó chẳng còn ý nghĩa gì nếu cánh cửa sơn đen đó hướng về phía Bắc.
3. Gương

Không phải chỉ những chiếc gương bể mới mang đến vận xui. Người xưa quan niệm rằng những chiếc gương có thể đánh cắp linh hồn của bạn. Vào thời Victoria, người dân Anh thường chôn gương theo người chết để linh hồn họ không thể thoát ra ngoài mà quấy phá người sống. “Có thờ có thiêng, có kiêng có lành”, vì vậy, đừng nên treo quá nhiều gương trong nhà bạn nhé!
4. Lịch cũ

Không chỉ lịch cũ, mà lịch mới nếu để sai ngày tháng cũng không tốt. Đó là điềm báo về sự trôi qua của thời gian cho nên nếu bạn dùng lịch sai cách, người ta tin rằng điều đó sẽ ảnh hưởng không tốt đến cuộc sống của bạn.
5. Chén đĩa sứt mẻ

Khi phát hiện chén/đĩa/ly… có dấu hiệu sứt mẻ, bạn cần nhanh chóng vứt bỏ chúng đi. Nguyên nhân là vì theo phong thủy, chén bát là thứ tượng trưng cho sự giàu có của gia đình bạn. Khi bạn tiếp tục ăn uống trên những chiếc chén đĩa sứt mẻ, phải chăng bạn đã sẵn sàng đón nhận khó khăn, thất bại?
6. Cây trồng có gai

Hãy suy nghĩ lại nếu bạn đang có dự định mang xương rồng về nhà trong thời gian tới. Bởi theo phong thủy, trồng các loại cây có gai (trừ hoa hồng) chính là rước luồng năng lượng tiêu cực và kém may mắn vào nhà.
7. Cây trồng chết/khô

Nếu bạn quên tưới nước và để cây trồng héo úa thì đó cũng là thời điểm bạn nên nói lời tạm biệt với chúng. Ngay cả việc trữ hoa khô trong nhà, thậm chí chỉ là một nắm nhỏ cũng được coi là xui rủi.
8. Tường màu xanh lá cây

Hãy hạn chế sơn tường màu xanh lá cây. Ở Anh và Mỹ, đây được xem là màu không may mắn kể từ năm 1700, khi nhà hóa học Thụy Điển sử dụng asen để sơn xanh các bức tường và nhuộm vải đã tạo ra một chất độc gây chết người.
9. Ghế lắc để trống

Đây hẳn là tin xấu cho các bà mẹ bởi ghế lắc là đồ vật rất được ưa chuộng khi nhà bạn có trẻ con. Theo quan niệm của người Ai-len, chiếc ghế lắc trống sẽ mời gọi ma quỷ đến ngồi. Và khi chiếc ghế lắc thường xuyên tự động di chuyển có nghĩa là có một thế lực khác đã “định cư” tại đó nên có thể mang đến chết chóc hoặc sự xui rủi cho gia đình bạn.
![]() |
| ► Tham khảo thêm: Mệnh Thổ hợp màu gì, mệnh Mộc hợp màu gì |
Thông thường ai cũng có nốt ruồi . Nốt ruồi có màu vàng lạt hay màu nâu v.v. Nốt ruồi phải thật đen hoặc thật đỏ mới tốt . Nốt ruồi đỏ còn gọi là nốt ruồi son. Sau đây là vị trí và ý nghĩa của một số nốt ruồi trên mặt và trên thân thể đàn ông để các bạn tham khảo.

1: Nốt ruồi Thiên Trung Đỉnh: số được hưởng lộc quan tước, quyền thế có chức trọng, sống lâu. Dù gặp tai nạn vẫn qua khỏi.
2: Tả Trung Đỉnh: Nốt ruồi này chỉ cho biết người mang nó không sung sướng về tình yêu, trong đời dang dở về tình duyên hoặc bị phụ tình.
3: Hoạt Sào: Cho biết tâm lý của một người đa sầu đa cảm, bộc lộ tình cảm ra mặt.
4: Trung Thiên : Chỉ một người phục thiện,biết sửa sai sau khi lầm lỡ.
5: Dõng La : Người hay thương vay khóc mướn,nặng mặc cảm thường tủi thân phận.
6: Tâm Thảo: Người thường bị đau khổ âm thầm
7: La Thiên : người có nốt ruồi này có duyên và giàu tình cảm nhưng kín đáo
8: Bần Tiện : Suốt đời chỉ đi làm thuê và tính nết bần tiện ( bao gồm cả bên trái và bên phải, nếu cao hơn một chút cũng vậy)
9: Hoa Sơn : Gặp tai nạn có thể bất đắc kỳ tử
10: Tuyệt Luân : Trai sát vợ ,gái sát chồng,nhẹ dạ
11: Tả Phận : Góa chồng góa vợ sớm hoặc trắc trở lương duyên đau khổ không nguôi
12: Trung Phân: Nhiều tham vọng,chạy theo cao sang đua đòi vật chất
13: Hạ Phận: Người tự tạo ra của cải nhưng lãng mạn ,bạc tình
14: Trung Sơn : Nốt ruồi mọc gần vú,đẻ con nhiều nhưng sầu muộn về chuyện chồng vợ
15: Đỉnh Sơn : Thay vợ đổi chồng một cách dễ dàng
16: Con người chịu a dua nịnh nọt, nhưng kín đáo tình cảm
17: Thân Mẫu: Người hiền lành,bảo trọng hạnh phúc cá nhân
18: Trung Vĩ : Cực nhọc thể xác,tính bảo thủ,đố kỵ kẻ hơn mình
19: Hạ Hôn: Người hay ghen tuông,lãng mạn,dâm dục
20: Hoan Du : Thích đấu lý,người can đảm
21: Dãng Dục : Mê say thú vui thể xác
22: Thiều Manh: Mang tật nguyền hay gặp tai ương bất ngờ
23: Hạ Giới: thích phiêu lưu mạo hiểm
24: Lầu Xanh: Tâm hồn bệ rạc, trác táng.
25: Hạ Giới : Hay đi đây đó,không ở nơi nào nhất định
26: Hoàn Dục: Không gặp may trên đường công danh sự nghiệp
27: Vĩ Trùng: Tình cảm khó khăn,bênh hoạn
28: Sát Thê: Hại vợ hại chồng
29: Ngữu Vĩ: Sinh đẻ gặp khó khăn
30: Trung Hòa: Không giàu có,thường phải chật vật mới đủ ăn
31: Xuất Thê: Con người lơ lửng như ma hớp hồn,hay lo sợ băn khoăn vô cớ
32: Hạ Phận: Người hay đổi thay,tính tình gắt gỏng không dứt khoát
33:Trung Phận : Hay thay đổi tình cảm vợ chồng
34:Phú Quý: Giàu có hơn người ( bao gồm cả bên trái và bên phải )
35: Bạc Hào: Luôn luôn chỉ nghĩ đến tiền tài,vật chất
36: Thiên Căn : Người hiền hòa nhưng không gặp may trong đời
37: Hậu Vĩ: Tâm sự đa đoan, lệ chảy thường xuyên.
Hướng bếp hợp người sinh năm 1971:

– Năm sinh dương lịch: 1971
– Năm sinh âm lịch: Tân Hợi
– Quẻ mệnh: Khôn Thổ
– Ngũ hành: Thoa Xuyến Kim (Vàng trang sức)
– Thuộc Tây Tứ Mệnh, nhà hướng Bắc, thuộc Đông Tứ Trạch
– Hướng tốt: Tây Bắc (Diên Niên); Đông Bắc (Sinh Khí); Tây Nam (Phục Vị); Tây (Thiên Y);
– Hướng xấu: Bắc (Tuyệt Mệnh); Đông (Hoạ Hại); Đông Nam (Ngũ Quỷ); Nam (Lục Sát);
| ► Bói tình yêu theo ngày tháng năm sinh để biết hai bạn có hợp nhau không |
![]() |
| Ảnh minh họa |
![]() |
![]() |
![]() |
Để đi lại an toàn và may mắn, ngoài những kiến thức giao thông cũng như kỹ năng lái, các bạn có thể tìm hiểu một số điều cơ bản về phong thủy xe hơi.
Bên cạnh việc chọn mua ôtô theo sở thích và nhu cầu sử dụng, người lái còn quan tâm đến những cách để vận hành trên đường luôn an toàn, may mắn. Giải pháp đầu tiên chính là sự hiểu biết về luật giao thông, kỹ năng lái xe tốt và phán đoán tình huống chính xác. Ngoài ra, một chút may mắn về mặt tâm linh cũng giúp người lái yên tâm hơn khi tham gia giao thông.
Do đó, người lái có thể tìm hiểu những kiến thức cơ bản về phong thủy để lựa chọn một chiếc xe hợp mệnh, hợp tuổi và cách trang trí bên trong sao cho mang lại nhiều may mắn cũng như tài lộc cho mình.
Chọn màu xe

Đứng trên quan niệm về mặt phong thủy, khi chọn xe, bạn nên cân nhắc xem màu sắc có xung khắc với mệnh của mình hay không thông qua thuyết Ngũ Hành. Ví dụ, người lái tuổi Ngọ và mệnh Hỏa thì không nên chọn xe màu đỏ vì nó sẽ làm tăng thêm tính Hỏa. Thay vào đó, người lái nên chọn một chiếc xe màu xanh đậm hoặc đen để làm dịu bớt tính Hỏa. Ngoài ra, màu trắng hay xám cũng là lựa chọn phù hợp và an toàn hơn vì làm tính Hỏa suy yếu. Mặt khác, nếu người lái dễ bị mất tập trung và mang tuổi Hợi, mệnh Thủy thì nên chọn xe có màu xanh lá thuộc hành Mộc. Màu thuộc hành Kim (trắng hoặc bạc) cũng có tác dụng hỗ trợ những người tương tự.
Biển số xe
Quan điểm về biển số xe có thể thay đổi tùy theo các nền văn hóa khác nhau. Tại Việt Nam, theo phát âm tiếng Hán Việt, số 4 (tứ) được phát âm như chữ “chết” (tử) cho nên đây bị xem là số mang đến điều xui xẻo. Hoặc những biển số có tổng 1 cũng thường bị coi là biển số xấu.

Cũng theo cách này, số 8 có phát âm trong tiếng Hán Việt gần giống chữ “phát” nên rất được ưa chuộng. Tương tự như vậy, số 6 có phát âm trong tiếng Hán Việt gần giống với “lộc” nên cũng được xem là một số đẹp. Biển số xe nào có chứa nhiều số 6 và 8 thường được nhiều người săn lùng và sẵn sàng trả giá cao để sở hữu.
Thêm vào đó, nếu có những con số phù hợp với mệnh của người lái thì biển số xe cũng có thể sẽ mang lại nhiều may mắn. Ví dụ, mệnh Mộc hợp với những số 1-3-4 hoặc mệnh Hỏa thì hợp những số 9-0.
Phong thủy trong xe
Phong thủy trong xe cũng đóng một yếu tố khá quan trọng đối với người lái xe. Những vật trang trí mang biểu tượng của các linh vật, tôn giáo… được treo trong xe có thể giúp người lái yên tâm khi lưu thông trên đường. Nhiều người tin vật trang trí phong thủy sẽ mang lại may mắn cho chiếc xe và chủ sở hữu.

Đối với những người lái thiên về công việc kinh doanh, biểu tượng Tỳ Hưu là một lựa chọn phù hợp để trang trí trong xe. Tỳ Hưu là một linh vật đặc biệt được cho là sẽ giúp chủ nhân thu hút nhiều tài lộc mà không bị thất thoát.

Có thể những điều mà thuật phong thủy áp dụng cho xe là đúng hoặc sai. Tuy nhiên, việc chú ý đến những điều này có thể giúp các lái xe yên tâm phần nào khi điều khiển xe và tham gia giao thông.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thanh Vân (##)