Mơ thấy khăn tay: Tình yêu như ý –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Cát Phượng (##)
Đền Kim Liên (hay còn gọi là đền Cao Sơn) là trấn phía nam trong tứ trấn của kinh thành Thăng Long xưa, gồm bốn ngôi đền: Đền Quán Thánh (trấn giữ phía bắc kinh thành); Đền Bạch Mã (trấn giữ phía đông kinh thành); Đền Voi Phục (trấn giữ phía tây kinh thành); Đền Kim Liên (trấn giữ phía nam kinh thành). So với ba ngôi đền kia thì đền Kim Liên được xây dựng muộn hơn (khoảng thế kỷ 16 – 17). Đền tọa lạc tại phố Xã Đàn, Đống Đa, Hà Nội.
Lịch Sử: Đền Kim Liên vốn được lập nên để thờ Cao Sơn Đại Vương (theo tín ngưỡng dân gian, thì đây là một người con của Lạc Long Quân và Âu Cơ, sau theo mẹ lên núi). Theo tấm bia đá đặc biệt cao 2,34m, rộng 1,57m, dày 0,22m hiện còn lưu giữ tại đền (đây cũng là di vật quý giá nhất ở đền này) có bài tựa “Cao Sơn đại vương thần từ bi minh” cho biết: Khi vua Lê Tương Dực cầm quân dẹp loạn, khôi phục cơ nghiệp của vua Lê Thái Tổ, có ba vị đại thần là Nguyễn Bá Lân, Nguyễn Hoàng Dụ và Nguyễn Văn Lữ cùng đem quân đi chinh phạt.
Đến địa phận huyện Phụng Hoá (nay là Nho Quan, tỉnh Ninh Bình) thì thấy cảnh núi rừng rậm rạp có ngôi đền cổ ghi bốn chữ “Cao Sơn đại vương”. Rất lấy làm lạ, vua quan bèn khẩn cầu thần phù trợ. Quả nhiên sau mười ngày đã thành công. Vì thế, vua Lê Tương Dực cho xây dựng đền thờ thần Cao Sơn được lập ở Phụng Hóa. Sau nhớ ơn thần đã ngầm giúp dẹp loạn ở Đông Đô, nên năm 1509, vua cho xây dựng lại đền thờ to đẹp hơn ở phường Kim Hoa gần Thăng Long thời bấy giờ.
Sau này, dân làng Kim Liên đã lập thêm cổng tam quan ở phía trước cổng đền ngay sát đầm Kim Liên và bổ sung thêm một số kiên trúc mới, tạo thành đình Kim Liên. Ngoài Cao Sơn Đại Vương, trong đền và đình này còn thờ Tam Phủ, thờ Mẫu, và thờ Hồ Chí Minh.
Kiến Trúc: Đình được xây dựng trên một gò đất cao ở phía đông đầm Kim Liên. Cổng đình và cửa chính điện đều hướng về phía tây, trông ra đầm Kim Liên (đầm này nay không còn do bị lấp đi để làm đường vành đai 1). Kiến trúc của đình bao gồm hai phần tương đối rõ: phần phía trước gò có một cổng trụ biểu, hai dãy giải vũ hai bên sân gạch rộng và phần kiến trúc chính của di tích nằm trên gò đất cao. Đi hết khoảng sân trên thì qua chín bậc gạch cao được xây bằng những viên gạch vồ có kích thước lớn thời Lê Trung Hưng nối hai bộ phận kiến trúc trên.
Đình chính gồm Nghi môn, Đại bái và Cung cấm. Nghi môn là một nếp nhà ba gian, xây kiểu tường hồi bít đốc. Bốn bộ vì đỡ mái được làm theo kiểu chồng rường giá chiêng, cột trốn. Nhà đại bái gồm 5 gian mới được thành phố tôn tạo trong dịp kỷ niệm 990 năm Thăng Long-Hà Nội, với kiểu dáng kiến trúc truyền thống. Hậu cung là một nếp nhà ba gian dọc, xây gạch trần mái lợp ngói ta. Trong nhà xây vòm cuốn: gian ngoài cùng, bó bệ gạch cao để đặt hương án; gian thứ hai xây bệ gạch cao để đặt long ngai và các đồ tế khí. Gian cuối cùng là nơi thờ Cao Sơn Đại Vương và hai nữ thần phối hưởng (Tôn nữ Động Hồ Trưng Vương (công chúa con gái vua Lê) và Huệ Minh công chúa).
Di vật còn giữ lại tại đình Kim Liên là tấm bia đá “Cao sơn Đại Vương thần từ bi minh” do sử thần Lê Tung soạn năm 1510 nói về công lao của thần Cao Sơn trong việc ngầm giúp vua Lê giành lại ngai vàng từ tay ngoại thích và hệ thống 39 đạo sắc phong cho thần Cao Sơn Đại Vương, trong đó có hai sáu đạo thời Lê Trung Hưng, mười ba đạo thời nhà Nguyễn, sớm nhất trong số đó là sắc phong có niên đại Vĩnh Tộ năm thứ hai (1620).
Hội đền và đình Kim Liên được tổ chức vào ngày 16 tháng 3 âm lịch hàng năm. Lễ hội diễn ra tưng bừng với nhiều chương trình, trò chơi dân gian thu hút khá nhiều bạn bè, người trẻ quan tâm. Làng Kim Liên từ trước đến nay nổi tiếng với các tay kéo cắt tóc khéo léo và cẩn thận. Một trong nhưng cuộc thi diễn ra vào ngày hội chính là cắt tóc, vừa thể hiện phong cách hiện đại, trẻ trung nhưng cũng không quên truyền thống của cha ông từ xưa.
Trán có nhiều lằn, mắt lộ tròng trắng bệch là người gian dâm đại ác khắc chồng sát con, tán tài cơ cực.
Bụng teo ngực nẩy cũng là người có tướng nghèo hèn tham lam dâm đãng.
Tiếng nói như lửa reo hừng hực, mắt lộ gân đỏ lan tới con ngươi là tướng người hung ác thô bạo, hình phu sát tử. Môi trên như trùm xuống, môi dưới như đầy ra cũng đều là tướng người khắc sát bần bạc, ngu độn.
Hay đứng dựa cửa liếc dọc ngang, chưa nói đã cười, chưa đi đã chạy, đang làm công việc, dừng tay châu mày thở ra, hay ca hát nho nhỏ, tự nhún nhẩy một mình, tóc hoe mà thưa lợt gần như lông măng tay, đều là những hình tướng đê tiện dâm đãng.
Miệng dụm như thổi, môi thâm mồm rộng, chơn mày dựng ngược, thấy cười mỉm, mắt nhìn như diều hâu, như cú dữ, đều là tướng hèn hạ, bạc ác.
Đi như chim se sẻ, ăn liếm láp như bò dê, nét mặt xanh đen, lông mày có góc xương lộ, hay tự nói lầm thầm, nói chuyện làm việc quên đầu quên đuôi, hơi khô giọng thổ, đều là các hiện trạng hình tưởng đàn bà âm trầm bạc ác, sâu độc nghiêng ngả, ghen tương như điên dại.
Đôi gò má ửng hồng, mắt như sao chớp, mát bóng như mở, miệng ngậm không kín răng, hạ mao như cỏ khô lưa thưa vàng úa, âm hộ chỉ có da bọc xương nhô lên, chớ không đầy thịt, ngủ say hay nói một mình hoặc kinh hoảng mớ la. Ngồi tựa như đứng, đứng giống như ngồi, mừng vui giận ghét không chừng đổi, hay lắc mình nghiêng đầu, liếc dọc nhìn ngang. Ấy là biểu lộ hình trạng tà dâm bạo ác không tốt.
Xem tướng tổng quát hình tướng phụ nữ bần bạc dâm ác theo TƯỚNG PHÁP DIỄN CA
Đàn bà khắc sát chồng con
Mặt dày miệng rộng, trán còn lằn ngang
Xoáy tóc trước trán mấy hàng
Mặt nhọn gân nổi lại càng xấu xa
Mày cao xương mí lộ ra
Lông mày mọc ngược thấy mà gớm ghê
Lại thêm mặt trẹt một dề
Lông mày dựng đứng phu thê xa lìa
Con ngươi vàng bệt đỏ tươi
Tròng trắng, trắng giã là người sát phu
Mũi mọc cụm lông u xù
Miệng chụm như thổi lao tù chồng con
Tai mỏng lật ngược vòng tròn
Tóc nám như cháy vàng son phai màu
Tuổi trẻ tóc rụng sói đầu
Hình phu khắc tử lệ sầu không vơi ?
Đầu lủi trước, bước đi sau
Ngoảnh đầu ngoái cổ làm màu đong đưa
Đầu to sói tựa gáo dừa
Giả sầu giả bịnh đánh lừa phu quân
Đầu lép trán dẹp lưng chừng
Trán rộng mày rậm cũng đừng vội tin
Bao nhiêu tướng đã lộ hình
Là bao nhiêu tánh dâm tình tà gian
Má hồng, mặt đẹp trái soan
Ngoại gian mê đắm lấy vàng cũng cho
Má lép mặt như đất tro
Tỉnh sâu thâm thẩm ai đo cho vừa
Ánh mắt chiếu rực mây mưa
Nhìn ngang liếc dọc đẩy đưa duyên tình
Mắt mọc nút ruồi xinh xinh
Lại như ướt rượt mày xanh mi dài
Đa tình không gởi cho ai
Trong nhà dù có ra ngoài cũng thêm
Môi xanh như rêu bên thềm
Môi trắng bềnh bệch như têm vôi trầu
Răng chuột tai dơi nhọn đầu
Thân dài cổ ngắn, chớ cầu chính chuyên
Thân gầy như liễu gió nghiêng
Ngực cao mông lép lụy phiền vì yêu
Bao nhiêu cũng chưa là nhiều
Sáng mai không đủ thêm chiều không dư
Rún lòi đầu vú cứng khừ
Cũng phường lãng đãng tà tư khôn lường
Đầu vú trắng bệch điểm sương
Núm sát trùng thịt cũng vương lưới tình
Vừa đi vừa nói một mình
Cười như ngựa ré tiết trinh kể gì
Vung văng như rắn cuốn đi
Ăn như chuột gặm, ngủ thì mớ la
Bao nhiêu hình bóng nêu ra
Đều thuộc dâm đãng biết mà làm sao
Sách xưa chép dễ sai nào
“Tướng tùng tâm diệt” nhớ trao sửa mình
Còn câu “Tướng tự tâm sinh…”
Chữ tâm kia mới chứng minh tỏ tường
Tâm minh chính, chí đường đường
Tướng yểu lại được thọ trường khó chi
Mặc dầu sách cổ đã ghi
Vẫn còn tùy diệt vẫn còn tùy sinh
Hư nên do ở tâm mình
…….. Xin nhớ đinh ninh.
Học thuyết Âm dương được thể hiện rất đầy đủ trong kinh dịch. Cái gọi là thái cực sinh lưỡng nghi, thái cực là chỉ trạng thái hỗn độn lúc ban đầu của vũ trụ, là thể hỗn độn của trời đất, càn khôn, cương nhu, âm dương, có thể mãi mãi phân thành hai, lưỡng nghi chỉ sự trời đất, mở rộng ra là chỉ tất cả sự vật đều có thể phân thành hai , chỉ sự tương đối của tất cả sự vật hiên tượng

Ví dụ: Âm dương trong hiện tượng xã hội
-Nam là dương còn nữ là âm
-Quân tử là dương còn tiểu nhân là âm
Học thuyết ngũ hành cho rằng, tất cả sự vật trên thế giới đều do sự vận động biến hóa của 5 vật chất cơ bản là:
Hoả (lửa), Thổ (Đất), Kim (Kim loại), Thuỷ (nước, chất lỏng). Mộc (cây cỏ) tạo nên, thế giới chỉ là một trạng thái vận động tương sinh và tương khắc của ngũ hành mà thôi.
Ngũ hành có quy luật sinh, khắc chế hoá lẫn nhau.
- Ngũ hành sinh:
Ngũ hành sinh thuộc lẽ thiên nhiên
Nước nuôi dưỡng cây trồng (Thuỷ sinh mộc- màu xanh)
Gỗ cháy sinh ra lửa (Mộc sinh hoả- màu đỏ)
Lửa cháy hết thành than (Hoả sinh thổ: Màu vàng)
Lòng đất tạo nên kim loại trắng ( Thổ sinh kim: màu trắng)
Kim loại nung chảy thành nước (Kim sinh thuỷ- màu đen)
- Ngũ hành khắc:
Ngũ hành tương khắc (lẽ xưa nay)
Cây phá đất mà mọc lên ( Mộc khắc thổ: Tụ thắng tán)
Đất có thể ngăn nước (Thổ khắc Thuỷ: Thực thắng hư)
Nước có thể dập lửa (Thuỷ khắc hoả: chúng thắng quả, nhiều thắng ít)
Lửa có thể đốt cháy kim loại (Hoả khắc kim: Tinh thắng kiên)
Thép cứng rèn dao chặt cỏ cây ( Kim khắc mộc: cương thắng nhu).
Ngũ hành chế hoá: Chế hoá là ức chế và sinh hoá phối hợp nhau. Chế hoá gắn liền cả tương sinh và tương khắc. Luật tạo hoá là: mọi vật có sinh phải có khắc, có khắc sinh, mới vận hành liên tục, tương phản tương thành với nhau.
Ngũ hành là nền tảng cơ bản của bộ môn khoa học tâm linh, tử vi sử dụng học thuyết ngũ hành trong rất nhiều yếu tố của mình như: cung, sao, mệnh .v.v.v
![]() |
| Ảnh minh họa |
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
– Người tuổi Mão có quan điểm về tiền bạc khá thận trọng, khả năng nắm bắt cơ hội không tốt nên của cải tích lũy được cũng chậm, muốn phát tài không dễ dàng gì. Bởi vậy, để thúc đẩy tài lộc hưng vượng, cảm giác kiếm tiền dễ hơn, người tuổi Mão nên đặt một vài cành phát lộc (số lẻ mới hiệu quả) trên tủ lạnh nhà mình.
![]() |
![]() |
![]() |
Treo tranh phong thủy phòng ngủ hợp mệnh 12 con giáp![]() |
| ► Tham khảo thêm những thông tin về: Phong thủy nhà ở và các Vật phẩm phong thủy chuẩn xác nhất |
Tướng không tốt, số chẳng lành, phong thủy thất cách, tại sao vẫn giàu?
Nhiều người có thể đầu tư rất nhiều tiền ban đầu để có được một khu WC sang trọng. Tuy nhiên, nếu bạn không chăm chút, giữ gìn mỗi ngày thì phòng tắm sẽ không đem lại cảm giác thoải mái.
![]() |
| Ngoài việc lau dọn, bạn nên bố trí thêm vài chi tiết trang trí cho không gian này thêm sinh động như bình hoa, tranh ảnh. |
![]() |
| Bạn có thể học tập các khách sạn, nhà hàng thường hay đặt một vài bình hoa nhỏ. |
![]() |
| Nếu không có thời gian thay hoa nhiều, bạn nên chọn các loại có thể tươi lâu như hoa lan, cẩm tú cầu... |
![]() |
| Nhà tắm của các gia đình thường có tông trắng, màu sắc rực rỡ của hoa sẽ đem lại sự tươi sáng. |
![]() |
| Tùy mùa trong năm bạn lựa chọn được nhiều loại hoa khác nhau như mùa xuân hiện nay đang nở rộ hoa tulip. |
![]() |
| Vì không gian các phòng tắm thường hẹp nên bạn lưu ý lựa các loại hoa hương thơm nhẹ nhàng. |
![]() |
| Chủ nhà tinh tế tạo nên một góc trang trí đẹp với bình hoa và bức tranh đơn giản. |
![]() |
| Dù không phải là người khéo tay, bạn vẫn có thể cắm được các bình hoa đơn giản mà đẹp. |
Lam Huyền (Theo Vspass)
Tháng 9 – tháng của những cơn gió thu man mác, tháng của những cảm xúc thật lãng mạn và ngọt ngào.
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |

Vị trí của bàn làm việc nên bố trí ở phương vị chính vượng.
Phương vị Ngũ hành của cửa ra vào trong văn phòng cần phải là mệnh cục chủ nhân văn phòng sinh vượng.
Vị trí ghế salon trong văn phòng cần phải đặt ở vị trí tụ khí hoặc vị trí tài lộc của chủ nhân văn phòng đó.
Tủ tư liệu của văn phòng phải bố trí ở vị trí Thanh long hoặc vị trí hung của chủ nhân văn phòng, nhưng không nên đặt ở phía thẳng trước hoặc phía thẳng sau.
Ngoài những mệnh cục cần phối hợp bố trí tổng thể đó ra, còn cần phải quan tâm đến tiểu tứ linh là: Thanh long, Bạch hổ, Chu khuyết và Huyền vũ.
Bố cục trang trí và màu sắc là bộ phận trọng tâm của thiết kế phong thủy, không những yêu cầu hài hoà, hoàn mỹ của chỉnh thể mà còn cần phải tương thông phương vị với Ngũ hành.
Phong thủy, có nguồn gốc từ Trung Quốc hàng ngàn năm về trước, tìm cách để cải thiện cuộc sống của con người nói chung. May mắn, sức khỏe, giàu có và năng lượng tích cực là một số trong những khía cạnh trong cuộc sống của bạn mà phong thủy tìm cách cải thiện.
Tất cả những gì xung quanh không gian sống đều có tác động đến phong thủy. Một trong những bảo bối phong thủy ảnh hưởng nhiều nhất trong nhà là cây cối. Chúng mang đến nhiều nguồn năng lượng tích cực cho không gian sống của gia đình. Tuy nhiên, gia chủ cũng cần chú ý đặt cây đúng vị trí để kích hoạt tối đa năng lượng.
1. Cây trong nhà
Trong nhà, cây không chỉ tô điểm thêm cho không gian mà còn giúp đem lại nhiều oxy và làm sạch không khí. Tuy nhiên, không phải tất cả các loại cây trồng có thể mang lại phong thủy tốt. Khi chọn cây phong thủy, nên chú ý chọn các loại cây tài lộc, và quan trọng hơn là phải hợp mệnh gia chủ.
2. Hóa giải cột năng lượng xấu
Theo khoa học Trung Quốc cổ đại này, cột là những yếu tố tạo ra năng lượng tiêu cực. Vì vậy, nếu nhà bạn có bất cứ chiếc cột nào ở phòng khách hay phòng ăn, nên hóa giải tà khí bằng một cây trường xuân hay cây bụi được đặt ở phía trước cột.
3. Cây cảnh trong phòng ngủ
Một trong những nơi mà bạn không nên có bất kỳ loại cây trồng nào là trong phòng ngủ. Nếu bạn muốn cải thiện giấc ngủ, bạn không nên sử dụng cây cảnh vì vào buổi đêm, chúng giải phóng carbon dioxide thay vì oxy, trong khi đó con người cần oxy để thở. Vì vậy, không chỉ không tốt cho phong thủy mà còn rất nguy hiểm.
4. Cây cảnh trong phòng bếp
Cây cảnh tạo ra năng lượng tích cực, và theo phong thủy, nhà bếp là nơi tiền tài chảy về. Vì vậy, chúng rất tốt khi đặt tại góc bếp của ngôi nhà. Các chuyên gia khuyên bạn nên đặt một chậu cây cao tại góc bếp - vừa tốt cho phong thủy, vừa thanh lọc không khí vốn nhiều mùi dầu mỡ.
5. Cây cảnh trên bàn làm việc
Trong ngắn hạn, nếu bạn muốn duy trì năng lượng tích cực và tốt trong nhà, điều tốt nhất để làm là để đặt cây ở những nơi bạn đánh giá cao nhất, đại diện cho các bạn tốt nhất và hỗ trợ tốt nhất cho bạn. Nếu điều này làm cho bạn cảm thấy tốt trong chính mình. Chăm sóc chúng khỏe mạnh, và tất cả mọi thứ sẽ trôi chảy. Hãy nhớ rằng bất kỳ cây nào bạn đặt trong nhà cũng luôn phải tươi tốt và khỏe mạnh.
Sao Thái dương tại cung Tý, Ngọ là độc tọa. Nhưng nếu ở cung Tý là rơi vào thế hãm, tài vận không thuận, cần thận trọng trong việc quản lý tiền nong, lao tâm tốn sức để kiếm tiền. Nếu ở cung Ngọ là thế vượng, mệnh cách "Nhật lệ trung thiên" thì tài vận vượng thịnh, thu nhập cao, nổi tiếng tài danh, có tài kinh doanh và quản lý tiền bạc, xử sự quyết đoán tinh nhanh...
Sao Thái dương tại cung Tý, Ngọ là độc tọa (cung Tý là rơi vào thế hãm, cung Ngọ là thế vượng), sao Thiên lương nhập miếu triều chiếu tại cung Phúc đức. Cung Mệnh là sao Cự môn rơi vào thế hãm, cung Điền trạch là sao Thất sát nhập miếu và sao Liêm trinh thế lợi, cung Thiên di là sao Thiên đồng thế bình.
Sao Thái dương tại cung Tý rơi vào thế hãm độc tọa cung Tài bạch, tài vận không thuận, cần thận trọng trong việc quản lý tiền nong, lao tâm tốn sức để kiếm tiền, tiền tài sử dụng vô độ, mặc dù chăm chỉ làm việc sớm tối nhưng lợi nhuận lại không được là bao, thích hợp những công việc mà lao tâm tôn sức và hao phí thời gian.
Sao Thái dương tại cung Ngọ là “Nhật lệ trung thiên”, tài vận vượng thịnh, thu nhập cao, nổi tiếng tài danh, có tài kinh doanh và quản lý tiền bạc, xử sự quyết đoán tinh nhanh, đừng quá khoe khoang, cần đề phòng lên nhanh xuống nhanh, cần cố gắng làm tốt công việc phục vụ, cống hiến nhiều cho xã hội, có thể tăng thêm cơ hội để kiếm tiền, hưởng phúc muộn.
Cung Mệnh có sao Cự môn rơi vào thế hãm, chủ có tài ăn nói, thẳng thắn, cởi mở nhưng thường hay gây chuyện thị phi, thích hợp những ngành dựa vào tài ăn nói là chính, đồng thời nên học nhiều loại ngoại ngữ. Cung Thìn, Tuất là cung Thiên la Địa võng, sao Cự môn lại rơi vào thế hãm không có lực, chủ bảo thủ cẩn thận, vất vả, thường làm nhiều hưởng ít, khó thể hiện ra bên ngoài, có quan sát, phân tích, khả năng phán đoán tốt, giàu tinh thần nghiên cứu, nếu có thể chuyên tâm vào công việc nghiên cứu giảng dạy thì có thể đạt được thành tựu.
Nếu cung Mệnh, Thân cùng cung, gặp 4 sát tinh Dương, Đà, Hỏa, Linh vị là mệnh cách Cự phùng tứ sát, không có cát tinh cứu trợ thì thường phải bỏ trốn đi nơi khác vì sợ tội.
Sao Thiên lương tọa cung Phúc đức, có lòng lương thiện trung hậu, thật thà cẩn thận, thu nhập ổn định, không màng danh lợi, thích an nhàn, phù hợp với công việc làm công ăn lương, lĩnh lương cố định, không hợp với nghề kinh doanh buôn bán, có thể được bậc trưởng bối trợ cấp tiền tài, không thích hợp dẫn đầu, cả đời vui vẻ.
Sao Thất sát, Liêm trinh tọa cung Điền trạch, có vận thiên tài, giỏi việc xử lý tiền tài, thích chốn náo nhiệt, ở nhà thì thật thà. Sao Thiên đồng tọa cung Thiên di, cơ hội xuất ngoại thuận lợi, có quý nhân phù trợ, quan hệ tốt với mọi người, khả năng thích ứng tốt.
![]() |
![]() |
![]() |
| ► Lấy lá số tử vi và xem vận mệnh cuộc đời, công danh, tình duyên của bạn |
7 kiểu lông mày cho biết vận đào hoa vượng hay suy
Bác Vật Vựng Biên Nghệ Thuật Điền chép: Nhâm Thìn Quí Tỵ, Thìn là thủy khố mà Tỵ là Trường Sinh của kim, kim sinh thủy vượng. Đã vượng mà còn chứa vào kho nước không bao giờ hết nên gọi bằng Trường Lưu Thủy.
Trường mang nghĩa vĩnh cửu, Lưu mang nghĩa chuyển động không ngừng, cuồn cuộn vô cùng, thao thao bất tuyệt. Tham vọng to tát nhưng tư tâm không nhiều. Nếu như số là con người giỏi giang có thể giao việc mà không sợ phản bội.
Trường Lưu Thủy có một khuyết điểm: chỉ chú trọng đại cuộc mà quên mất tiểu tiết, đôi khi do sơ sót mà hỏng việc. Mệnh xấu nạp âm Trường Lưu Thủy là người không có cơ sự nghiệp nhưng biết lo xa cũng ấm thân.
Nhâm Thìn Quí Tỵ Thìn thuộc thổ khắc thủy, Tỵ thuộc hỏa bị thủy khắc, đứng trước khó khăn của hung vận Nhâm Thìn vững vàng hơn Quí Tỵ.
Dù cho đã cố gắng chọn hướng tốt, xem đất tốt nhưng không ai có thể đảm bảo phong thủy nhà ở không có vấn đề gì. Vì thế, để đề phòng trường hợp xấu, nhà phạm lỗi cấm kị, có sát khí thì nên tham khảo 10 bảo vật cải thiện phong thủy nhà ở, tăng may tránh họa. Có rất nhiều vật phẩm phong thủy cát tường có tác dụng hóa sát, trấn trạch, bảo hộ bình an cho ngôi nhà. Trong đó 10 bảo vật cải thiện phong thủy nhà ở dưới đây được coi là có năng lực mạnh nhất, phổ biến nhất và cách dụng đơn giản nhất, có thể áp dụng tại nhà một cách dễ dàng.
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
Văn hóa chọn nhà truyền thống của Trung Quốc rất coi trọng ‘“Phong”. Nguyên nhãn là vì “Những ngọn gió khác nhau” cũng sẽ tạo ra môi trường buôn bán khác nhau, đồng thời nó cùng sẻ ảnh hưởng tới điều tốt xấu trong buôn bán của mỗi doanh nghiệp.
Trong đời sống, người ta rất dễ dàng quan sát thấy hiện tượng này, trong bất kỳ văn phòng của doanh nghiệp làm ăn phát đạt nào cũng luôn có môi trường thông gió tốt, còn doanh nghiệp trì trệ thì môi trường bị ngáng trờ, mùi khí bất thường rất khó chịu, đồ đạc lộn xộn. Vậy nguyên nhân nào gây nên những hiện tượng trên? Đó là “Phong” (gió).

Trong thế giới tự nhiên, không khí chuyển động đã tạo ra gió, gió dịch chuyển tạo thành môi trường khác nhau trong phòng. Ngọn gió ấm áp có thể xua tan thể khí không tốt, tạo bầu không khi mới mẻ. Gió ấm có thể giữ cho căn phòng khô ráo, giảm ẩm mốc, mang lại môi trường vệ sinh, sạch sẽ, thoải mái dễ chịu. Làn gió nhẹ nhàng, ấm áp còn có tác dụng làm dịu thần kinh kích động của con người, làm cho họ vui vẻ, làm việc hăng say.
Vậy trong cửa hàng không có gió, hoặc gió rất to thì sẽ gây nên điều gì?
Trước hết chúng ta hăy xem tình trạng của những cửa hàng đó. Không có gió, không khí trong phòng không thể lưu thông như bình thường, thể khí và mùi không tốt sẽ đạt cực thịnh, gãy nên ba ảnh hường sau:
1. Tạo cảm giác và ấn tượng không tốt cho khách hàng khi vào cửa hàng. Từ đó khách hàng không muốn mua hàng và tiêu thụ giảm sút, đồng thời gây ra sự xung đột.
2. Không khi bị ngừng trệ, không lưu thông làm cho các vi khuẩn, vi sinh vật ẩm mốc có thời cơ trỗi dậy. Không những nó làm cho căn phòng ẩm mốc trông rất xấu mà còn dễ gây nên bệnh truyền nhiễm, tạo cảm giác mất vệ sinh. Như vậy nhân viên bỏ dần công việc, đồng thời cũng ảnh hưởng không tốt cho khách hàng.
3. Trong phòng không có gió khiến cho không khí trầm trầm, có cảm giác kìm hãm buôn bán, yếu kém thất bại, khiến cho người ta có những suy nghĩ và hành động lười nhác, không muốn tiến hành thúc đẩy quảng cáo cho sản phấm. Điều này càng khiến cho cửa hàng hoặc doanh nghiệp lụi bại nhanh hơn.
Ngược lại. chúng ta hãy quan sát căn phòng có sức gió mạnh và quá to.
1. Sức gió trong phòng quá mạnh, quá to sẽ làm cho những vật dụng bố trí trong phòng và giấy tờ chuyển dịch, đồng thời phát ra tiếng động. Từ đó khiến cho cửa hàng hỗn loạn, ồn ào, gây phản cảm cho khách hàng, khiến họ không còn tín nhiệm cửa hàng nữa.
2. Gió mạnh ùa vào cửa hãng gây nên tiêng động lớn như sập cửa. Thêm vào đó là tiếng người đi lại trong phòng làm cho khách hàng mất tập trung (khiến họ nghĩ trong nhà không có cửa số đóng mở, để rồi trong lòng không yên tâm, không muốn ở lại lâu), từ đỏ cản trở cuộc bàn bạc của hai bên, việc tiêu thụ không tiến hành được. Như vậy, không những giảm thấp hiệu quả công việc, thậm chí còn gây ra thất bại.
Gió dễ dàng thổi bay nhân khí và tài khí tụ lại trong phòng làm cho doanh nghiệp hoàn toàn không làm ăn được gì. Nhân viên thay đổi liên tục, việc làm lúc được lúc không sẽ dẫn đến phá sản.
Đối với những doanh nghiệp chuẩn bị lựa chọn vị trí cửa hàng, những cửa hàng có những đặc điểm trên sẽ không là sự lựa chọn để doanh nghiệp phát đạt làm ăn thịnh vượng.
Sao Tử vi tọa thủ tại Cung Tỵ, Hợi, có sao Thất sát cùng tọa thủ, chủ sẽ có thu nhập nhiều, tính biến động lớn, hội cát tinh thì có tài ngoài dự liệu, đặc biệt có vận thiên tài.
Sao Tử vi tại cung Tỵ, Hợi là thế vượng, có sao Thất sát thế bình cùng tọa thủ, sao Thiên phủ thế địa triều hướng tại cung Phúc đức. Cung Mệnh là sao Liêm trinh thế bình và sao Phá quân thế hãm, cung Quan lộc là sao Vũ khúc, Tham lang nhập miếu; cung Điền trạch là sao Thiên đồng, Thái âm (cung Tý: Thiên đồng là thế vượng, Thái âm là nhập miếu; cung Ngọ: Thiên đồng là rơi vào thế hãm, Thái âm là không đắc thế địa), cung Thiên di là sao Thiên tướng rơi vào thế hãm.
Tử vi đế tinh uy nghiêm, có cảm tính ưu việt và ham muốn làm lãnh đạo. Sao Thất sát chủ soái kiên cường khí khái, bày mưu tính kế, tấm lòng trung thành, trái tim dũng cảm. Hai sao kết hợp với nhau, tự nhiên thành hạc đứng giữa bầy gà, tự do thoải mái, được người khác kính trọng, là nhân vật lãnh đạo, thường phát triển mang tính khai sáng, thăng trầm lớn, tần số biến động nhiều lần, thành bại khó định.
Sao Tử vi, Thất sát cùng tọa thủ cung Tài bạch, thu nhập nhiều, tính biến động lớn, có vận thiên tài, hội cát tinh thì có tài ngoài dự liệu, kinh tế dư dả, chi tiêu lớn, cần đề phòng hoành phát hoành phá, tránh tiêu xài hoang phí như đánh bài bạc và đầu cơ, nếu không thì được nhiều mất nhiều, cuối cùng sẽ thành tay trắng.
Sao Liêm trinh nhanh nhẹn khéo léo, biết tự ý thức, lạc quan vui vẻ, có tinh thần trách nhiệm. Sao Phá quân thô bạo cố chấp, độc lập tự chủ, ham muốn coi trọng quyền uy, không nhóm họp lại với mọi người. Hai sao cùng tọa mệnh, chủ về chuyên chú có định lực, có mặt tích cực và tiêu cực, mặc dù quyết đoán nhanh chóng, có khả năng khai sáng và khả năng lãnh đạo nhưng thường tùy tiện và trốn tránh thực tế, thành bại khó dự liệu. Nếu gặp 4 sát tinh thì là mệnh cách Trinh cư Mão Dậu, thường làm nô dịch.
Sao Thiên phủ tọa cung Phúc đức, có tài sản tổ tiên để lại, lạc quan với cuộc sống, hài lòng với hiện tại, không thích tranh chấp, cẩn thận bảo thủ, cả đời vui vẻ.
Sao Thiên đồng, Thái âm tọa thủ cung Điền trạch, có khả năng thu mua tài sản, khi cùng tọa thủ cung Tý thì càng rõ rệt; cần đề phòng phá tài do tình cảm.
Sao Vũ khúc, Tham lang cùng tọa chủ cung Quan lộc, làm việc chăm chỉ dám đảm đương, thích công việc có tính khai sáng, sự nghiệp có nhiều biến động.
Sao Thiên tướng tọa cung Thiên di, thích dẫn đầu, thích quản những việc không phải của mình, vui khi giúp đỡ người khác, quan hệ công cũng tốt, xã giao nhiều, xuất ngoại thuận lợi được người khác trợ giúp.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Trạch (nhà ở), ngay tên gọi của nó cũng đã có ý nghĩa phong thuỷ. Trong “thích danh” (giải thích tên gọi) có nói: “Trạch, trạch dã, ngôn trạch cát xứ nhi doanh chi dã”, nghĩa là: trạch là chọn, ý nói nên chọn chỗ trạch mà dựng nhà.
Mọi người trên thế gian này đều gắn liền với nhà ở, dù đó chỉ là túp lều tuềnh toàng để chui ra chui vào: cho dù làm khách nơi viễn xứ, tá túc nơi một gian nhà trọ, thì gian nhà trọ ấy cũng có thiện có ác, có tốt có xấu. Nhà ở lớn có cách nói của nhà ở lớn, nhà ở nhỏ cũng có lý thuyết nhỏ.
Nhà ở là nơi giao hội của 2 khí âm dương, là mặt quan trọng của cuộc sống các thành viên trong gia đình có an khang hay không.
Phong thuỷ học truyền thống có nói tới âm dương trạch, mà dương trạch nếu xây cất trên “phong thuỷ bảo địa” (nơi đắc địa về phong thuỷ), thì “khí sắc” của nó sẽ vô cùng “quang minh” (sáng láng), có thể tô điểm, phản ánh điềm phúc của chủ nhà. Nhưng một khi nó với âm trạch, tức nằm kề sát với nghĩa địa, sẽ sản sinh ảnh hưởng rất xấu. Cách nói đó dựa vào những lý do sau đây.
1. Nhà ở không phân biệt cũ mới, cổ kim, tuy là ngôi nhà ở đã có hàng trăm năm tuổi, nhưng nó thông gió, hứng ánh sáng mặt trời, phía trước thoáng đãng, thì chủ nhà thường cảm thấy thoải mái sáng sủa trong cuộc sống; tuy là ngôi nhà mới xây dựng, nhưng lại quá gần nghĩa địa, khiến người ta luôn cảm thấy lấn cấn, cuộc sống luôn ảm đạm xám xịt, cô quạnh vô vị.
2. Xem phòng khách của chủ nhà. Khi nhà ở nằm cách xa nghĩa địa, lúc trong phòng khách sáng sủa không có người, vẫn không có cảm giác lạnh lẽo, tĩnh mịch, vẫn cho ta không khí đầm ấm, vui vẻ. Còn với ngôi nhà cận kề bãi tha ma, thì dù trong phòng khách có đông người tụ tập, nhưng không khí trong phòng vẫn gây cho ta cảm giác âm u, rời rạc.

Có một số người mong muốn được tổ tiên phù hộ độ trì, đã cất âm trạch ngay gần nghĩa địa, để cảm thấy mình luôn gần gũi với tổ tiên, con cháu được chở che. Cho rằng khí của tổ tiên và khí của con cháu là nhất mạch tương thông, sau khi chôn cất di cốt tổ tiên chu tất, thỉ hậu bối có thể được tổ tiên chở che phù hộ, tức đem lại cho cháu con phúc khí và vận khí.
Thực ra, về mặt tâm linh thì chúng ta ai cũng nghĩ như vậy “sống vì mồ vì mả, chứ ai lại sống vì ruộng cả ao liền”, nói thể cũng chẳng có căn cứ khoa học. Đó là vì cạnh mộ phận, nghĩa địa, “âm khí” thường rất nặng nề. Ở nơi đó không thích hợp cho việc xây cất nhà ở, mà cho dù kiến tạo vườn tược trang viên cũng không có lợi, thường luôn mang tâm lý “thế nào ấy”, sẽ ảnh hưởng tới sức khoẻ cả về thể chất lẫn tinh thần.
Chọn địa điểm xây cất nhà ở phải chú trọng âm dương hài hoà, sống gần nghĩa địa, âm khí u ám nặng nề thì dương khí của người ắt bị xâm hại, dương khí ngày một hao tổn, con người dễ bị nhuốm bệnh.
Nhìn từ gốc độ đạo dưỡng sinh của khoa học hiện đại, nếu như chủ nhà ngày ngày ra ngoài tản bộ, “tức cảnh sinh tình”, nhìn thấy mộ phần san sát lại luôn nghĩ tới bản thân mình có liên quan với người ở thế giới bện kia, sẽ luôn tạo nên một áp lực đối với tâm, sinh lý, sẽ không có lợi cho sức khoẻ.
Từ cổ chí kim, thư tịch nói về phong thuỷ nhà ở có rất nhiều, quan điểm chủ yếu đều na ná giống nhau, chỉ có khác biệt nhỏ, lý thuyết của nó là tinh thâm huyền diệu. Phạm kỵ phong thuỷ tất gặp tai hoạ, phải tìm cách hoá giải mới tai qua nạn khỏi. Lý lẽ của nó cũng giống như muốn khỏi bệnh phải uống, tiêm thuốc vậy. Bởi vậy nói, ở nơi “vương trạnh” mới là cái gốc “an thân lập nghiệp”. Người lầy nơi ở làm nhà, cư trú được yên ổn, thì ngôi nhà ấy mới cát tường xương thịnh, nếu không sẽ dẫn tới của nhà suy bại long đong.
Bởi vậy mà lý thuyết phong thuỷ cho rằng, xem phong thủy nhà ở tốt đẹp sẽ có lợi cho cả cơ thể và tâm hồn và là nơi an cư lạc nghiệp. Từ đó cho ta thấy, nhà ở chú trọng tới phong thuỷ là lý lẽ mang tính khoa học, và nhà ở nhất thiết không nên cận kề với nghĩa địa.
(Theo 100 câu hỏi về phong thủy)
Đức Phật tùy cơ thuyết pháp, Ngài không dùng những gì mang tính huyền hoặc để thuyết giảng, cũng không trả lời bằng cách phô trương kiến thức, mà với lòng từ bi và trí huệ, Ngài chú ý vào thực tiễn để giáo hóa chúng sanh, đưa họ ra khỏi mê hoặc cố chấp, giúp người vấn nạn đi vào con đường chánh đạo.
Trong kinh điển Phật giáo , có nhiều trường hợp mô tả Đức Phật đã giữ thái độ im lặng trước một sồ câu hỏi của các du sĩ ngoại đạo mang tính huyền hoặc hoặc thiếu thực tế . Và nếu có trả lời thì tính hạn chế của ngôn ngữ cũng khiến mọi giải thích không thể diễn tả rốt ráo mọi điều thấy biết của Đức Phật . Vì thế mà Đức Phật chỉ im lặng .
Kinh dạy rằng, một hôm có một du sĩ ngoại đạo Vacchagotta đến chỗ Đức Phật, bạch rằng: “Thưa Tôn giả Gotama, thần ngã có không?” Đức Phật im lặng, không trả lời. “Như vậy, thưa Tôn Giả Gotama, thần ngã không có chăng (1)?”. Đức Phật vẫn giữ im lặng. Ở thời Đức Phật, những du sĩ ngoại đạo giống như Vacchagotta không phải là ít, lúc họ cùng nhau bàn luận thường đưa ra những vấn đề huyền học để tranh luận. Những vấn đề tranh luận thường xoay quanh mười chủ đề sau:
Đức Phật đã dạy rằng những câu hỏi như thế chỉ hoàn toàn dựa vào những lý do trừu tượng chung (huyền hoặc) nên không có câu trả lời: Ngài bảo chúng bị che đậy bời tính không có ý nghĩa hoặc rối rắm không đầu không cuối của chúng. Tại sao Đức phật không trả lời những câu hỏi huyễn hoặc ở trên? Trước hết, vì những vấn đề này không liên quan đến những lời dạy của Đức Phật.
Phật giáo thời kỳ đầu, Đức Phật thường nhấn mạnh vào việc tu trì giới định huệ và nhấn mạnh giáo lý khổ, vô thường, vô ngã. Những pháp này có mục đích giúp mọi người hiểu được cái khổ và phương pháp diệt khổ, nhiệm vụ bức thiết nhất của chúng ta là diệt trừ khổ não, vì vậy Đức Phật giải thích những pháp này là để lợi lại trong việc tu tập, làm cho mọi người yếm ly, trừ chấp ngã, an tịnh, chứng đắc giải thoát giác ngộ. Còn những vấn đề huyền hoặc trên, trong đó có bốn vấn đề liên quan đến vũ trụ, cho dù hữu hạn hay vô hạn, vĩnh hằng hay không vĩnh hằng, chúng đều không có ích lợi gì cho việc giải thoát khổ đau của nhân loại. Đức Phật đã dạy rằng:
“Này Vaccha, nghĩ rằng thế giới là vô thường… thế giới là thường… thế giới vô biên… thế giới là hữu biên… sinh mạng và thân thể là một… sinh mạng và thân thể là khác… Như lai có tồn tại sau khi chết… Như lai không tồn tại sau khi chết… Này Vaccha, nghĩ rằng Như Lai không có tồn tại và không không tồn tại sau khi chết, như vậy là tà kiến, kiến trù lâm, kiến hoang vu, kiến hý luận, kiến tranh chấp, kiến kiết phược, đi đổi với khổ, với tàn hại, với não hại, với nhiệt não, không hướng đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết- bàn. Này Vaccha, Ta thấy có sự nguy hại này mà ta không chấp nhận hoàn toàn những tri kiến như vậy (2)?”
Còn hai vấn đề tiếp theo về thân thể vật lý và tâm lý của con người, cho dù có đồng nhất hay không thì cũng chịu sự chi phồi của vô thường, tan rã, khổ đau, sanh tử luân hồi, theo đức Phật thì hết thảy pháp đều vô ngã, Giáo pháp vô ngã của Đức Phật thật siêu tuyệt, cho dù vấn đề thân và tâm của ngoại đạo có đặt ra đồng nhất hay khác nhau cũng không thể nào ăn nhập với giáo lý năm uẩn vô ngã của Đức phật. Những vấn đề trên đều triền miên không nói hết tận nguồn góc của chúng. Cảnh giới này đối với hạng người phàm phu thì không thể hiểu hết, cho dù Đức phật có dùng bất kỳ ngôn ngữ hay cách diễn đạt như thế nào cũng không giúp người nghe hiểu hết được. Vì vậy, những vấn đề huyền hoặc ở trên đều không liên quan đến những lời dạy của Đức Phật, không liên quan đến những tu hành phạm hạnh, chúng không có ích lợi cho việc tu tập thân tâm đạt đến cảnh gới giác ngộ như Đức Phật. Do đó, khi có người hỏi về những vấn đề liên quan đến những tình huống như trên Đức Phật đều im lặng.
Thứ hai, những vấn đề huyền học sẽ đưa chúng ta đi vào mê trận, làm cho chúng ta mất phương hướng. Đối với Đức Phật, mọi tranh luận không mang lại lợi ích cho việc tu học và làm rõ chánh kiến đều là hý luận vô bổ, huống hồ là tranh luận mang đến phiền não, không thỏa mãn với câu hỏi đã đề ra và càng làm cho con người trở nên rối rắm.
Thời Đức Phật còn tại thế, có một Tỳ-kheo tên là Man đồng Tử (Malunkya ), một hôm lúc ban trưa ngồi thiền quán bổng nhiên đứng dậy di về phía hương thất của Đức Phật, sau khi đảnh lễ Đức Phật, rồi ngồi qua một bên, thưa rằng:
“Bạch Đức Thế Tôn, con đang ngồi thiền một mình, bỗng nhiên khởi lên một niệm, có mười vấn đề mà bấy lâu nay Ngài chưa giải thích rõ với chúng con. Mỗi khi chúng con hỏi Ngài về những vấn đề này thí Ngài đều im lặng. Con cảm thấy không vui khi Ngài làm như thế. Bạch Đức Thế Tôn, hôm nay nếu Ngài giải thích rõ mười vấn đề trên thì con tiếp tục sống đời sống xuất gia tu hành phạm hạnh; nếu Ngài vẫn giữ im lặng thì con mất hết tín tâm không tiếp tục tu hành nữa. Nếu Thế Tôn biết thế giới này là vĩnh hằng, thì xin Ngài nói cho con được rõ. Nếu thế gian này không vĩnh hằng, thì lý do tại làm sao ?Nếu Ngài đối với những vấn đề này mà không biết thì trực tiếp nói là không biết ”(3)
Đức Phật dạy:
“Con thật mê muội ! buồi ban đầu có phải là không hiểu những vấn đề huyền hoặc này mà con đi xuất gia không ?Lúc con đi theo Ta tu hành phạm hạnh Ta có hứa sẽ nói cho con biết những vấn đề này không ?”. Man Đổng Tử trả lời: “ Bạch Đức Thế Tôn, không ”Đức Phật dạy: “ Như vậy con chưa được Như Lai trả lời thì con đã chết rồi. Này Man Đồng Tử, giả như có người bị trúng tên độc bị thương, người thân của người này muồn nhổ mũi tên ra và đưa đến bác sĩ, nhưng người kia không muốn cho người nhà nhổ mũi tên ra trừ phi biết ai đã bắn tên này. Người bắn mũi tên thuộc giòng họ Sát-đế-lợi, Bà-la-môn, Phệ-xá, hay Thủ-đà-la. Hắn cao, thấp, hay vừa, da của hắn nâu ,trắng đen hay vàng; hắn ở thành xóm ấp làng nào ?. Tôi không muốn nhổ mũi tên ra trừ phi tôi biết tôi bị loại cung tên nào bắn trúng, dây cung làm bằng gì, loại tên hình như thế nào, làm bằng chất liệu gì…Này Man Đồng Tử; người kia chưa kịp biết rõ đáp án thì đã chết rồi, cũng như người muốn biết vũ trụ có vĩnh hằng hay không vĩnh hắng và những vấn đề liên quan nó, người kia chưa kịp được Như lai trả lời thì đã chết rồi. Cũng như vậy, nếu có người hỏi, tôi không theo Đức Thế Tôn tu hành phạm hạnh nữa trừ phi Ngài trả lời cho tôi về những điều vũ trụ có vĩnh hắng hay không, người kia chưa được Như Lai trả lời thì đã chết rồi ”. “Vì đời người ngắn ngủi, nếu ai bị những vấn đề huyền hoặc này mà suốt ngày phiền não, cố chấp không xả, muốn tìm cho đến ngọn nguồn, thì càng ngày càng vào mê lộ, cuối cùng không đi ra được ”(4).
Một ý nghĩa giáo dục ở đây là những đòi hỏi không cần thiết thì có thể chứng minh điều đó là có hại đến tinh thần . Đối với những vấn đề huyền luận như trên Đức Phật hoàn toàn không để ý.
Hơn nữa, do ngôn từ có tính hạn chế, người phàm phu không thể thông qua ngôn ngữ để hiểu được hay diễn đạt được hết nhửng vấn đề hyền hoặc. Ngôn ngữ do con người sáng tạo dùng để biểu đạt những cảm nhận, kinh nghiệm và tư tưởng mà mình thể nghiệm qua các hiện tượng và sự vật. Ngôn ngữ là tín hiệu để diễn đạt nhận thức về sự vật và ý niệm của chúng ta, nó là phương tiện để thuyết minh sự hiểu biết của chúng ta nhưng cũng không vượt ra khỏi hạn cục của thời gian, không gian. Hay nói cách khác con người chỉ biểu đạt được sự việc và ý niệm trong phạm vi thời gian và không gian cho phép; thậm chí ngôn ngữ của con người có khi không đủ để diễn tả sự việc hiện thực trong đời sống thường ngày. Có lẽ mọi người đều từng có kinh nghiệm về những cảm giác diễn ra trong tư duy của mình mà không thể tìm được ngôn ngữ để diễn tả. Do đó, có thể thấy được ngôn ngữ của con người không phải là phương tiện diễn tả tuyêt đối ,nó có tính hữu hạn của nó, không thể diễn đạt nhận thức một chân lý, không những thế hoàn toàn có thể diễn đạt sai lệch với chân lý qua nhận thức.
Vì chân lý tuyệt đối (chẳng hạn như Niết-bàn) siêu xuất thời gian, không gian và cả định luật hạn chế của hữu vi: con người chỉ có tu tập để đạt đến chứng đắc mới thể nghiệm được, chứ không thể dùng ngôn ngữ để miêu tả hoặc khong thể dùng trí kiến bình thường để suy diễn được. Đến đây ngôn ngữ nhà Thiền gọi là ngôn ngữ đạo đoạn. Trên thực tế, những vấn đề như vậy vĩnh viễn không thể thông qua ngôn ngữ văn tự để trả lời đầy đủ như ước muốn, mà cũng không có loại ngôn từ nào để diễn đạt loại kinh nghiệm như thế. Như câu chuyện Rùa và Cá trong truyện cổ Phật giáo, Rùa kể cho Cá nghe thế giới trên cạn, cứng, không thể bơi, chỉ có thể bước đi. Nhưng Cá không thể nào hiểu nổi, cứ khăng khăng cho môi trường trên cạn tương tự như môi trường nước, có thể bơi nhảy, lặn lội. Cũng giống như ngôn ngữ bình thường của chúng ta không thể nảo đem ra diễn tả trạng thái của Niết bàn. Cho dù có dùng bút mực cao cấp, ngôn từ diểm lệ, lời lẽ cao huyền cũng phí công vô ích, không thể tìm thấy những ngôn từ thích hợp để diễn giảng cảnh giới của Niết Bàn. Cho nên người câu nệ vào văn tự thì bị ràng buộc. Cũng như kinh Lăng Già đã dạy người ngu chấp vào văn tự như Voi bị sa lầy khong thoát ra được .
Cuối cùng, Đức Phật tùy cơ thuyết pháp, Ngài không dùng những gì mang tính huyền hoặc để thuyết giảng, cũng không trả lời bằng cách phô trương kiến thức, mà với lòng từ bi và trí huệ, Ngài chú ý vào thực tiễn để giáo hóa chúng sanh, đưa họ ra khỏi mê hoặc cố chấp, giúp người vấn nạn đi vào con đường chánh đạo.
Qua những tình huống trả lời những câu hỏi mà người khác đặt ra với Đức Phật, chúng ta thấy Đức Phật đã dùng bốn hình thức như sau để trả lời:
Thứ tư là Đệ nhất nghĩa tất đàn: là nói tiêu chuẩn tuyệt đối vế chân đế, sự thật, dù người không hiểu có phản đồi cũng không sao.
Ngoài ra, trước mọi điều huyền hoặc, Đức Phật luôn giữ im lặng hơn cả mọi hùng biện. Với từ bi và trí huệ, Đức Phật giữ im lặng nhưng vẫn lân mẫn quan tâm đến người gặp nạn, cứu hộ thoát khỏi khốn cảnh khi thấy đủ duyên.
Có nhiều sách vở học giả Phật giáo về sau cố giải thích những điều mà Đức Phật đã im lặng, cố gắng đặt vấn đề phải chăng Đức Phật có giải thích những vấn đề huyền hoặc này? Chúng ta cũng không cần có một kết luận nào, nhưng chúng ta có một điều có thể khẳng định rằng pháp mà Đức Phật biết thì nhiều hơn pháp mà Đức Phật đã nói. Trong kinh điển còn ghi lại, một hôm Đức Phật nắm một nắm lá trong tay và hỏi các đệ tử rằng:
“ Này các Tỳ-kheo, trong tay Ta nhiều lá hay trong rừng nhiều lá ?”. Các Tỳ-kheo trả lời: “ Bạch Đức Thế Tôn, lá trong tay Thế Tôn rất ít so với là trong rừng ” Đức Phật dạy: “ Cũng như vậy, những pháp mà Như lai chứng biết như lá trong rừng, còn những pháp mà Như lai nói cho các vị như lá trong nắm tay này, chỉ có một ít, những pháp mà Như lai nói rất hữu hạn. nhưng tại sao Như lai không nói hết ?Vì chúng không có ích, không hướng dẫn mọi người chứng đắc Niêt-bàn. Đó là nguyên nhân mà Như lai không nói hết những pháp đó (5)”.
Như vậy những điều này không phải Đức Phật không biết, mà vì Đức Phật quán thấy sự hạn chế của ngôn ngữ, không thể dùng ngôn ngữ bình thường để diễn đạt một cảnh giới siêu việt.
Đại Trí Độ luận và Câu Xá luận có nói đến 14 trường hợp còn gọi là 14 nạn 6, tương tự với những vấn đế siêu hình ở trên, đều nói Đức Phật không trả lời. Nguyên nhân là
Tóm lại, Đức Phật luôn giữ im lặng đối với những vấn đề siêu hình hay huyền học mà luôn luôn đề cao tinh thần thực tiễn. Cho nên trong Phật giáo đối với những vấn đề siêu hình không phải là không thể nghiên cứu. Nhưng quá thiên trọng về huyền hoặc thì sẽ thêm nhiều phiền não và dẫn đến không lối thoát vì tính rối rắm của chúng. Do đó trong quá trình nghiên cứu Phật pháp hoặc giải thich cho người khác hiểu Phật giáo chúng ta nên học theo Đức Phật, kết hợp nhiều yếu tố hiện thưc và nhu cầu của xã hội hiện đại để giải thích làm sao cho dễ hiểu, ứng dụng Phật pháp vào đời sống sinh hoạt hằng ngày, hạn chế tranh luận về những vấn đề siêu hình để phô trương kiến thức mà không đem lại một kết quả nào. Làm khác đi, chúng ta chỉ lãng phí thời gian tranh luận từ ngày này qua ngày khác.
Xem tuổi Đinh TỴ hợp làm ăn với tuổi nào? Bạn sinh năm 1977 làm ăn hợp với tuổi nào? Bài viết dưới đây Phong thủy số sẽ gợi ý cho bạn những tuổi hợp làm ăn với tuổi Đinh Tỵ, màu sắc và hướng đặt bàn làm việc hợp với tuổi Đinh Tỵ.

Tuổi Đinh Tỵ sinh năm 1977, năm con rắn, cung mệnh Khôn, mạng cốt tinh Thổ.
Tính cách người tuổi Đinh Tỵ: Là người thông minh, có tư duy sắc bén, không chịu luồn cúi ai nhưng có chút nóng vội, thiếu ý chí phấn đấu. Có giác quan thứ 6 rất tốt, thường hay nghĩ đâu đúng đó, biết trước được chuyện may rủi. Bằng trí thông minh và có sự trợ lực của quý nhân, mà trong cuộc sống gặp được nhiều may mắn và đạt được mục tiêu đã chọn. Muốn leo lên bậc thang danh vọng bằng khả năng hung biện, chống lại bất cứ sự bất công nào trong xã hội.
Nghề thích hợp cho tuổi Đinh Tỵ:Có thể trở thành nhà sự phạm hoặc nhà tâm lí, nhà tâm thần học hoặc nhà chiêm tinh học, hoặc trạng sư rất hùng hồn.
Xem thêm: Giải mã hiện tượng bói hắt xì hơi theo giờ
Tuổi Đinh Tỵ hợp làm ăn với tuổi Mậu Ngọ, Kỷ Mùi, Giáp Thìn, Ất Tỵ, Bính Dần, Đinh Mão, Giáp Tuất, Ất Hợi ( thuộc hành Hỏa) thì công việc làm ăn thuận lợi, được thịnh vượng.
Tuổi Đinh Tỵ hợp làm ăn với tuổi Nhâm Thân, Quý Dận, Ất Sửu, Giáp Tý, Nhâm Dần, Quý Mão, Canh Tuất, Tân Hợi ( thuộc mệnh Kim) thì người tuổi Đinh Tỵ thường làm trợ lý hoặc cấp dưới của những người mệnh Kim thì công việc mới thuận buồm xuôi gió.
Khi người sinh năm 1977 kết hợp làm ăn với những người có mệnh Thổ Bình Thìn, Đinh Tỵ, Mậu Thân, Kỷ Dậu, Canh Tý, Tân Sửu, Canh Ngọ, Tân Mùi thì được bình hòa, hai người cùng làm với nhau, lợi thì cùng chia, thiệt hại thì cùng nhau chịu.
Kết hợp làm ăn với những người mệnh Thủy gồm các tuổi Giáp Dần, Ất Mão, Nhâm Tuất, Quý Hợi, Bính Ngọ, Đinh Mùi, Bính Tý, Đinh Sửu thì người Đinh Tỵ có điều kiện để phát triến, thành công trên con đường sự nghiệp.
Tuổi Đinh Tỵ không hợp làm ăn với các tuổi Mậu Thìn, Kỷ Tỵ, Mậu Tuất, Kỷ Hợi, Nhâm Tý, Quý Sửu, Canh Thân, Tân Dậu ( thuộc mệnh Mộc) vì làm ăn dễ thua thiệt, công việc dễ lụn bài, gặp nhiều khó khăn, trắc trở.
Màu sắc hợp với tuổi Đinh Tỵ: Màu vàng, phối hợp với màu hồng, đỏ, tím, vàng nhạt hoặc nâu.
Hướng đặt bàn làm việc hợp với tuổi Đinh Tỵ hay còn gọi là phương vị tài thần: Đối với nam giới nên đặt bàn làm việc nhìn về hướng chính Bắc, đối với nữ giới nên đặt bàn làm việc nhìn về hướng chính Tây.
Xem thêm những bài viết hữu ích khác tại: Phong thủy số
hiệu quả làm thay đổi vận trfnh. Căn cứ vào ngũ hành Kim – Mộc – Thủy – Hoả – Thổ, pha lê lại có thể phân thành 5 loại.

Pha lê đỏ: Còn được gọi là pha lê lông thỏ đỏ, tên khác là “pha lê Verniser”, là những viên đá đỏ kim hình lưới, mượt mà mềm mại như những sợi to săn chắc, giống như những sợi tóc của mỹ nữ. Nó chính là một trong những loại quý hiếm trong họ nhà pha lê, số lượng rất ít và quý hiếm, cho nên những người biết vế chúng cùng không nhiều. Hiện nay người ta phải bán ra theo từng gam. Nhưng loại pha lê đỏ tự nhiên có tác dụng tâm linh, an tịnh tinh thần, kiêm thêm khả năng hàm chứa năng lượng đặc biệt, không những có tác dụng bào vệ sức khỏe, mà còn có cả chức năng cải mệnh trị bệnh, nên nó la một vật liệu quý. Pha lê đỏ trong Ngũ hành thuộc chủ Hỏa, cơ thể của người xem vốn thuộc Hải trung kim (vàng đáy biển), bên trong bị thất thoát, nên đeo bên mình một vòng pha lê để hoá giải hệ thống tuần hoàn bên trong, có tác dụng tốt đối với các bệnh phụ khoa. Pha lê đỏ có thể kích thích đấu trí, tăng thêm lòng tự tin cho con người.
Tác dụng của pha lê đỏ: Pha lê đổ tự nhiên có thể tác dụng bồ trợ tâm linh, an thần, tránh khí độc và những thứ không trong sạch quanh mình, có tác dụng như một vật hộ thần. Nếu nữ giới thường đeo bên người, da dẻ sẽ trắng trẻo, có tác dụng làm đẹp rất tốt.
Tác dụng của pha lê tím: Khai mở trí tuệ, bình ổn tình cảm, nâng cao khả năng trực giác, mở rộng quan hệ xã hội, có thể đem lại dũng khí và khả năng chống chọi mọi nguy hiểm phát sinh của những người đi du lịch. Nó đại diện cho tình cảm yêu đương kiên trinh cao thượng, thường được chọn làm đá đính ước của cắc đôi tình nhân. Pha lê tím đại biểu cho sự thuần khiết, hài hoà, tâm tình bình dị, có hiệu quả trấn an tinh thần, tăng cường trí nhớ, giảm bớt tính khí nóng này: khi ngủ đặt ở dưới gối có thể kích thích sự tư duy, trị bệnh mất ngủ. Tiếp xúc với pha lê tím có thể nâng cao được linh tính, tăng thêm trí tuệ. Đặt pha lê tím vào một nhóm, sẽ khiến cho lòng người cảm thấy vui vẻ và bớt đi sự cô quả… Người xưa cho rằng: Nó có khả năng thần kỳ là trừ tà, hộ thân, đem lại hạnh phúc và trường thọ, lại có thể giải độc và tránh bị thương tổn, là một vật hộ thân tốt.
Ở phương Tây, pha lê tím còn được gọi là “đá chân thành”, nó tượng trưng cho sự chân thành, chính trực và lương thiện, cũng tượng trưng cho sự ngây thơ và vui vẻ, thích hợp làm vật lưu niệm tặng cho những thế hệ sau chưa trưởng thành. Pha lê tím còn có thể nâng cao tình cảm, đại biểu cho tình hữu nghị, an định tình cảm, kích thích suy nghĩ, kết duyên, bình an cát tường, chiêu phúc chặn hung khí. Theo sự giải thích của người phương Tây, năng lượng của thủy tinh tím là nội giảm, nội hướng, những nhóm thủy tinh đều sinh trưởng hướng vào trung tâm, biểu hiện nó có khả năng ngưng tụ vô cùng lơn.
Có rất nhiều cách có thể giúp bạn phát hiện nguồn năng lượng tiêu cực đang tồn tại trong nhà của mình. Và cách làm sau sẽ vô cùng đơn giản vừa để nhận biết lại còn có khả năng làm sạch năng lượng tiêu cực, tà khí và duy trì sự hài hòa trong gia đình bạn. Môi trường sống của chúng ta từ chỗ làm việc cho tới khi về nhà luôn có rất nhiều năng lượng tiêu cực từ trong cảm xúc, suy nghĩ và lời nói. Chúng không chỉ vây lấy chúng ta mà còn càng làm tăng mức độ căng thẳng và có khả năng thẩm thấu vào đồ vật xung quanh như đồ gỗ, thảm, trần nhà và tường nhà. Có thể nói, đó là lý do tà khí này cũng có thể tích tụ trong những góc nhà của gia đình bạn.
![]() |
![]() |
Theo Đại đức Thích Nhật Từ, 14 điều này vốn được lưu truyền tại chùa Thiếu Lâm, Trung Quốc. Không có bài kinh nào trong các bộKinh tạng Pa-li, A-hàm kinh và kinh Đại Thừa chứa đủ 14 điều này. Tác giả có thể là các nhà sư chùa Thiếu Lâm và họ đã biên tập, trích dẫn ý tưởng từ các bản kinh, và tập hợp lại theo trật tự mình đặt ra. Việc truy tìm lại nguyên gốc các câu riêng lẻ từ kinh Phật là điều rất khó. Các bản dịch tiếng Việt đã có một số điểm lệch so với nguyên tác. Ví dụ, "điều răn" là cách dịch không chính xác từ giới (nguyên ngữŚīla trong tiếng Phạn với nghĩa "giới" của Phật giáo, hay "điều khoản đạo đức").
Trong nhiều bản in "14 điều răn của Phật" được phổ biến tại Việt Nam có chữ ký của hòa thượng Kim Cương Tử ở dưới như là người phát hiện và sưu tầm
1. Kẻ thù lớn nhất củ a đời người là chính mình
2. Ngu dốt lớn nhất của đời người là dối trá.
3. Thất bại lớn nhất của đời người là tự đại.
4. Bi ai lớn nhất của đời người là ghen tị.
5. Sai lầm lớn nhất của đời người là đánh mất chính mình.
6. Tội lỗi lớn nhất của đời người là bất hiếu.
7. Đáng thương lớn nhất của đời ngừơi là tự ty
8. Đáng khâm phục lớn nhất của đời người là vươn lên sau khi ngã.
9. Phá sản lớn nhất của đời người là tuyệt vọng.
10. Tài sản lớn nhất của đời người là sức khỏe, trí tuệ.
11. Món nợ lớn nhất của đời người là tình cảm.
12. Lễ vật lớn nhất của đời người là khoan dung.
13. Khiếm khuyết lớn nhất của đời người là kém hiểu biết.
14. An ủi lớn nhất của đời người là bố thí .

Bản tiếng anh - THE FOURTEEN TEACHINGS OF THE BUDDHA
The greatest enemy in life is the self
The greatest ignorance in life is deceit
The greatest failure in life is vanity
The greatest tragedy in life is jealousy
The greatest error in life is to lose oneself
The greatest crime in life is disloyalty to parents
The greatest pity in life is self-belittlement
The greatest pride in life is recovering from failures
The greatest bankruptcy in life is hopelessness
The greatest wealth in life is health and wisdom
The greatest debt in life is affection and love
The greatest gift in life is acceptance and forgiveness
The greatest weakness in life is lack of awareness
The greatest consolation in life is charity
Theo Bài Học Cuộc Sống
-Vì tui có PHÁ QUÂN nếu bỏ thì cũng mang tiếng nhiều đời vợ hoặc chồng, nếu gắn bó thêm cho sum xuê lại mang tiếng là đa phu, đa thê. Chú mi cũng biết rồi đó THIÊN PHỦ chủ ve vuốt, vỗ về an ủi và cũng thích… phủ lắm. - Là sao? - Còn phải hỏi, người này phủ kín người kia. Có thương (THIÊN TƯỚNG) mới làm vậy. - THIÊN PHỦ là phú ông có dư tiền lắm của mới làm vậy. - Ối dào, đâu phải là giàu, nghèo cũng lắm người đa phu, đa thê. Do cái số kiếp cung phối có PHÁ QUÂN ưa gắn bó. Bỏ người này có người khác gắn vào. Không bỏ thì cũng có người khác gắn thêm vào cho sum xuê cây leo hạnh phúc. Như thế là Mệnh THIÊN PHỦ có khuynh hướng đa phu, đa thê. Có nhiều vong tinh tại Phối, tức TUẦN TRIỆT càng dễ mất, và PHÁ QUÂN chơi ngay chữ bỏ.
Mệnh THAM LANG lại có THIÊN PHỦ tại Phối cung, có cái THAM LANG dễ dính nhất là ham muốn người khác giới. Tại Thiên Di cung luôn luôn THAM LANG thấy người mình thương PHỦ TƯỚNG cho nên, THAM LANG không thua kém, có phần sung sức hơn THIÊN PHỦ.
Thứ Ba là kẻ có ĐẠI HAO tại Phối cung. Vì ĐẠI HAO là ưa sự thay đổi, thay cũ đổi mới, thay lòng đổi dạ, thay đổi nhân tình... và dễ gặp nhất là THÁI DƯƠNG bậc tu mi nam tử này dễ dính CỰ MÔN cãi cọ dễ chia ly, và là cái cớ tui có vợ khác, dính THÁI ÂM luôn luôn có biểu tượng trai gái thành ra cũng dễ có thể cơ sở riêng để đi đêm, về hôm có công khai và có âm thầm như số phận. Ngoài ra luôn luôn THIÊN ĐỒNG tại Phối có nghĩa là dễ có nhiều vợ “cùng” một lúc. Nhất là THÁI DƯƠNG ưa giương, ưa khoe làm phụ nữ chết mê mệt vì nam tính.
Và CỰ MÔN khéo nói, ưa chơi trội có tui đây. Để ý thì Phối cung luôn luôn có THÁI ÂM tất nhiên có THIÊN LƯƠNG và cũng dễ gặp THIÊN CƠ, tức bộ CƠ ÂM mưu trí đàn bà, qua sự phơi bày của THIÊN LƯƠNG, chiêu này không thành thì còn chiêu lương thực thực phẩm, ăn đi mà… chiêu này không thành lại chiêu con gái nhà lành, khiến người khác động lòng trắc ẩn… Và một hôm CỰ MÔN về nhà, cửa không mở, vợ khóa kín khuê phòng. CỰ ta ngẫm nghĩ… không khéo bác Bửu Đình nói đúng. CỰ MÔN là cái cửa.
Nói chung cách Đa Phu Đa Thê rất dễ gặp tùy hoàn cảnh xã hội và môi trường sống. Hoàn cảnh trong TỬ VI là Đại Hạn tiếp xúc với người khác giới mới sinh chuyện. Đó là LIÊM TRINH thiếu nữ trong sáng hồn trinh bạch (?), là THÁI ÂM thiếu phụ (thiếu nữ) hiền lương (con nhà lành). Đối với nam. Với phụ nữ cũng đa dạng không không kém là THÁI DƯƠNG bậc tu mi nam nữ, rồi THAM LANG sẵn sàng chìu chuộng dâng những đóa hoa tươi thắm cho sư đoàn 8.3 (đọc là 8 chấm 3, sư 83 có thể trùng phiên hiệu gây phiền cho người viết).
Còn có THIÊN PHỦ là phú gia, bi chừ gọi là đại gia, người già nhưng lắm của, đến CỰ MÔN cũng là tay cự phú, cũng gọi chung là đại gia nốt. Tô điểm niềm vui là các bộ ĐÀO HỒNG ở hạn. Nếu có LƯU HÀ niềm vui ấy càng tràn trề.
Lắm vợ nhiều con, lắm chồng nhiều dòng còn tìm thấy ở cung Tử Tức. Không tin hỏi cụ THIÊN PHỦ mà xem.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Đoan Trang(##)