Tướng mạo đàn ông tốt –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
1. Tăng sự giàu có, thịnh vượng
Gia chủ có thể sử dụng tranh ảnh, tượng ở phía đông nam (chứa năng lượng Mộc) của ngôi nhà. Tránh việc sử dụng các yếu tố nước trong phòng ngủ, bởi nó sẽ tạo ra các nguồn năng lượng hỗn xung, khiến gia đình không có được giấc ngủ thư thái.
Bạn cũng có thể sử dụng tranh vẽ hoặc tranh thêu có hình cây tre, hoa sen hoặc các loài chim quý, đôi nai tình tứ hoặc ảnh miêu tả hồ nước.
![]() |
| Tranh ảnh hình hoa sen bổ trợ cho sự thịnh vượng của gia đình bạn. Ảnh: Aliexpress. |
Phía Nam của ngôi nhà (năng lượng Hỏa) là khu vực của danh tiếng, kiến thức, lòng tự tôn và tiềm năng bản thân. Để giúp tăng cường năng lượng cho khu vực này, bạn nên treo các tác phẩm có hình rồng (màu nâu hoặc xanh lam), ngựa đang chạy trên vùng nước nông, con công đầy màu sắc và phượng hoàng đang vỗ cánh bay.
2. Tăng danh tiếng, danh vọng
Phía Nam của ngôi nhà (năng lượng Hỏa) là khu vực của danh tiếng, kiến thức, lòng tự tôn và tiềm năng bản thân. Để giúp tăng cường năng lượng cho khu vực này, bạn nên treo các tác phẩm có hình rồng (màu nâu hoặc xanh lam), ngựa đang chạy trên vùng nước nông, con công đầy màu sắc và phượng hoàng đang vỗ cánh bay.
3. Bổ trợ cho các mối quan hệ
Hãy tăng cường nguồn năng lượng phía tây nam (năng lượng Thổ) nếu bạn muốn có các mối quan hệ tốt đẹp trong công việc, tình yêu và hôn nhân. Đá thạch anh tím là lựa chọn hoàn hảo để thúc đẩy dưỡng khí tại khu vực này. Ngoài ra, bạn cũng có thể đặt cặp tượng rồng và phượng bằng đồng, treo biểu tượng song hỷ bằng cuộn giấy nhung, dập chữ vàng hay bức tranh có những trái đào hồng tươi.
4. Tăng cường hạnh phúc gia đình
Năng lượng bổ trợ sức khỏe và hạnh phúc gia đình nằm ở khu vực phía đông (năng lượng Mộc) của ngôi nhà. Bạn có thể treo tranh phong cảnh hoặc đàn sếu đầy màu sắc tươi tắn, đặt cặp tượng sếu bằng gỗ, treo bức ảnh lớn có hình quả đào, cây đào hoặc khung hình giỏ trái cây đa sắc.
5. Bổ trợ cho con cái, phát huy sáng tạo
Đại diện cho phía tây (năng lượng Kim) của ngôi nhà là hình ảnh con cháu và năng lượng sáng tạo trong cuộc sống. Khu vực này tượng trưng cho sự khởi phát của niềm vui của mọi thành viên. Vì thế, hãy trang trí những tác phẩm nghệ thuật có các hình ảnh phong phú, khơi gợi trí tưởng tượng cao.
Một bức tranh thêu hoặc tranh vẽ hoa cúc, hình chú cá heo thông minh hoặc phù điêu hình cây lựu hay khung kim loại tinh tế là những vật trang trí hợp phong thủy trong khu vực này. Đối với phòng bé, bạn nên đặt những tác phẩm nghệ thuật gợi cảm giác hạnh phúc, yêu đời, nguồn cảm hứng sáng tạo.
6. Nâng cao kiến thức, học vấn
Đó là những yếu tố thuộc khu vực phía đông bắc (năng lượng Thổ) của ngôi nhà. Bạn nên đặt tượng con rồng ngậm hạt ngọc trên đế bằng gỗ hoặc đôi cá chép vượt qua long môn hay đặt quả cầu pha lê, treo các bức tranh hình chùa chiền.
7. Bổ trợ sự nghiệp và đường đời
Để bổ trợ cho đường sự nghiệp và công danh (nằm ở phía bắc - năng lượng Thủy), bạn sử dụng tượng hình con voi bằng gốm sứ, gỗ. Bạn có thể treo một bức tranh lớn in hình gà trống, đặt tượng bằng kim loại có hình ảnh thuyền buồm hoặc tàu đẹp mắt, bố trí công trình nước nghệ thuật, treo chuông gió có những âm thanh sống động, nhẹ nhàng.
8. Mong cầu gặp quý nhân
Nằm ở phía tây bắc của ngôi nhà (năng lượng Kim), các yếu tố này sẽ được thúc đẩy, nếu gia chủ treo hình ảnh các vị thần phù trợ hoặc thiên thần như ba bức tượng Phúc Lộc Thọ bằng đồng hoặc gốm. Ngoài ra, có thể đặt tượng thần tài bằng đồng, treo đồng hồ, treo hình những thiên thần nhỏ đáng yêu.
Điều quan trọng trong sử dụng các hình ảnh, biểu tượng nghệ thuật phong thủy là các tác phẩm đó phải toát lên được nét hạnh phúc, vui tươi. Những tư vấn trên cũng có thể áp dụng cho văn phòng làm việc.
(Theo Vnexpress)
+ Điều kiện về tính chất:
+ Điều kiện về sao:
+ Điều kiện về cung:
+ Điều kiện thuộc hoàn cảnh:
+ Những dè dặt cần thiết:
g. Tình trạng chia ly: sự chia ly ở đây bao hàm hai trường hợp ly thân hay ly hôn chứ không nói đến sự xa cách để làm ăn hay vợ một nơi chống một ngả vì có thuyên chuyển, không nói đến việc một trong hai người chết nửa chừng xuân.
Đi vào chi tiết, cần lưu ý các sao sau:
- Những bộ sao của Tử Vi:
- Những bộ sao của Liêm Trinh:
- Những bộ sao của Thiên Đồng:
- Những bộ sao của Vũ Khúc:
- Những bộ sao của Thái Dương, Thái Âm:
- Những bộ sao của Thiên Cơ:
- Những bộ sao của Tham Lang:
- Cự Môn ở Thìn, Tuất, Tỵ: phải trắc trở trước khi lập gia đình; bất hòa lúc sống chung; phải chia ly, 2 hoặc 3 lần lập gia đình.
- Những bộ sao của Thiên Tướng:
- Những bộ sao của Thất Sát:
- Những bộ sao của Phá Quân:
- Thiên Mã, Tuần, Triệt ở Phu Thê: Tuần Triệt ở Phu Thê chỉ sự bất hạnh lớn lao và liên tiếp, có tính cách lâu dài của đời sống vợ chồng, thậm chí có thể xem như không có vợ/chồng. Chẳng những Tuần, Triệt ở Phu Thê cho thấy sự dang dở mối tình đầu mà còn dang dở vài mối tình kế tiếp. Đời sống gia đạo không những triền miên bất hòa mà có thể đi tới gián đoạn vĩnh viễn. Trong bối cảnh đó, sự có mặt của Thiên Mã càng xác nhận thêm sự ly cách giữa hai vợ chồng. Nếu Thiên Mã được thay bằng những sao Thiên Đồng, Đại Tiểu Hao cũng chỉ sự thay đổi, có lẽ ý nghĩa cũng tương tự.
- Địa Không, Địa Kiếp ở Phu Thê: vợ chồng xa nhau, cụ thể là bỏ nhau, chưa kể có thể một người phải chết. Nếu Không Kiếp đắc địa thì chỉ có thể đoán là tạm thời xa nhau, dưới hình thức ly thân hoặc là người sống một nơi kẻ ở một ngả, lâu lâu mới sum họp một lần hoặc là phải gặp ngang trái nặng trong tình duyên.
- Quan Phù, Thái Tuế, Quan Phủ: Quan Phủ, Quan Phù chỉ sự phản bội, sự thiếu chung thủy đồng thời cũng có nghĩa kiện tụng. Thái Tuế chỉ cả kiện cáo lẫn cãi vã, đồng thời cũng chỉ sự mất mát tình thương. Như vậy, bộ sao trên có thể báo hiệu cho sự xung đột giữa hai vợ chồng đưa đến tình trạng lôi nhau ra tòa phân xử, xin ly thân hay ly hôn. Nếu không có chuyện kiện nhau thì vẫn có chuyện âm thầm bỏ nhau, mỗi người một giang sơn, tự do của ai nấy giữ, không còn sự ràng buộc nào giữa hai người.
- Thiên Hình ở Phu Thê: vấn đề tòa án hầu như không tránh được nhất là khi Hình đi chung với một trong ba sao trên. Thiên Hình giúp xác nhận thêm sự ly hôn, ly thân một cách chính thức. Ngoài ra, Hình còn ngụ ý rằng hai vợ chồng có cãi vã đến nỗi đánh đập nhau hoặc người này hành hung người kia. Ngoài ra, Hình có nghĩa là tù ngục nên có thể có một người ở tù sau cơn ẩu đả. Nếu đi chung với Thái Tuế thì có "mạ lỵ thậm từ" và có đánh lộn gây thương tích nhưng chỉ Thiên Hình cũng đã quá đủ.
- Cô, Quả, Đẩu Quân ở Phu Thê: riêng 1 trong 3 sao này thật sự không đủ để minh chứng tình trạng ly cách. Nó cần phải đi chung với những sao kể trên. Riêng việc đơn thủ mà thôi thì Cô hay Quả hay Đẩu Quân chỉ sự cô đơn, cô độc dưới nhiều hình thái: hoặc có chồng/vợ vẫn ở chung với nhau mà bị cô đơn vì chồng/vợ không hiểu mình, không bệnh vực mình trước gia đình bên chồng hoặc có vợ/chồng ở chung nhau nhưng không có sự thắm thiết, hầu như mỗi người có ưu tư và nếp sống riêng rẽ, ít khi đồng thuận, không có chung thủy hoặc đối với nữ số, có thể vẫn là vợ chính thức nhưng vẫn bị bỏ rơi vì chồng có vợ lẽ, cả hai cũng vẫn không chia ly hoặc đối với nam số, có thể rơi vào tình trạng vợ lăng loàn, nhưng đành cam chịu vì sợ uy tín, xấu hổ hay sợ vợ ...
h. Trường hợp tử biệt:
i. Tình trạng án mạng trong gia đạo:
–
cần lưu ý đến những sao nói lên cá tính của thủ phạm và nạn nhân. Thủ phạm phải là người tự ái, ghen tuông quá mức, nóng nảy, ích kỷ tột độ, có ác tâm, có sát nghiệp. Nạn nhân là người dâm đãng, trắng trợn, ngang tàng, mạo hiểm, thủ đoạn, dối trá, bê tha, đam mê ...
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Mỹ Ngân (##)
Những câu nói hay về tình yêu đơn phương. Tình yêu không phải lúc nào cũng bắt nguồn từ hai phía. Trong thực tế có rất nhiều trường hợp tình yêu chỉ xuất phát từ một người. Mối tình ấy vẫn thường được gọi là tình đơn phương.
Có nhiều người chọn cách yêu đơn phương khác nhau. Có người chọn cách âm thầm, lặng lẽ quan tâm tới người kia, theo dõi từng bước đi của người ấy và không bao giờ tiết lộ tình cảm của mình. Tuy nhiên, cũng có người dù biết đối phương không yêu mình nhưng vẫn thể hiện tình cảm của mình. Nhưng dù chọn cách thể hiện như thế nào, tình yêu đơn phương cũng khiến cho người ta có những cảm giác cô đơn. Nếu bạn cũng đang có một mối tình đơn phương, bạn cho mình thuộc vào trường hợp nào?
Hãy cùng đọc những câu nói hay về yêu đơn phương dưới đây để xem có ai đang cùng tâm trạng với bạn nhé.
1. Đơn phương là thế, dù rất thích, rất muốn bày tỏ nhưng bản thân không cho phép. Vì em sợ rằng một mai sẽ không còn là bạn mà là người dưng.
——–
2. Có bao giờ, bạn nhấc máy chờ nghe giọng nói ấm áp của một người để rồi… lặng lẽ mỉm cười sau những tiếng tút dài trong vô vọng và tự dối lòng rằng, chắc người ta đang bận đó thôi.
3. Người không biết quý trọng mình không đáng để mình tiếp tục cho đi tình yêu vì cuối cùng người bị tổn thương nhiều nhất sẽ là mình mà thôi.
4. Vì hãy yêu thương nhau khi còn có thể nên anh đâu thể bỏ hình ảnh em ra khỏi trái tim anh.
5. Có những nỗi nhớ không được đặt tên, có những yêu thương không được gửi trao nhưng vẫn lâng lâng một niềm hạnh phúc vì được yêu đúng cảm xúc trái tim.
6. Sợ nhất là khi ta lấy hết dũng cảm để nhắn tin cho một người, Để rồi trả lại là sự im lặng lạnh người hay câu nói vô tình: ” Đừng làm phiền tôi nữa”.
7. Em không muốn đón nhận anh, cũng không sao. Không được gặp em cũng chẳng sao cả… Nhưng hãy để cho anh được biết em vẫn ổn, nhé!.
8. Có phải em quá ngốc, vì em mà anh chẳng thèm đoái hoài tới tình cảm của em?.
9. Đôi khi việc lặng lẽ đi sau một người dõi theo từng bước chân của người ấy bằng cả trái tim đã có thể gọi là yêu.
10. Trời cho em đôi mắt là để nhìn những điều tốt đẹp. Vậy sao cứ nhìn anh hoài rồi lặng lẽ cụp mi khi người ra đi lạnh nhạt.
11. Có một người, dạy bạn thế nào là yêu nhưng không yêu bạn. Có một người, trao cho bạn hàng ngàn nỗi nhớ nhưng chẳng bao giờ nhớ về bạn.
12. Anh hiểu rằng, khi em chẳng nhìn thấy tim anh thì tình yêu của anh có lớn đến bao nhiêu vẫn chỉ là một số 0 tròn trĩnh.
13. Vì em yêu anh thật lòng, trước hàng trăm lí do từ bỏ. Vậy nên đừng hỏi vì sao em luôn cố tìm ra một lí do để tiếp tục yêu.
14. Đã có lúc em nhớ lắm nhưng vẫn giả vờ không có gì, muốn gặp lắm nhưng vẫn cố gắng kiềm chế. Em thích lắm nhưng vẫn nói chỉ là bạn bè thôi. Muốn bày tỏ tình cảm lắm nhưng lại sợ không được đáp trả.
15. Dù anh cứ hững hỡ với tình cảm của em nhưng xin đừng lạnh lùng quá như thế, đừng cắt đứt mọi liên lạc, để cho em cảm giác rằng mình đáng ghét đến thế này.
16. Em sợ tất cả chỉ là nhất thời, chỉ là cảm xúc bộc phát, chỉ là cái gì đó không rõ ràng. Sợ khi yêu rồi sẽ lại phải chấp nhận bị bỏ quên.
17. Anh và em như hai đường thẳng song song không một tia hy vọng.
18. Có một người, với bạn là tất cả nhưng với người ta bạn chẳng là gì. Có một người, lúc ở bên cạnh có thể bạn sẽ nở nụ cười nhưng khi quay đầu đi bạn đã bật khóc.
19. Vì yêu thương vẫn ở đây và em sẽ là nhà chờ anh về với tình yêu ấy.
20. Tớ muốn được ôm chặt cậu, dù biết trái tim cậu đang gọi tên một người khác. Bởi tớ thật yếu đuối nên tớ muốn dựa vào vai cậu mãi, dù biết cậu chỉ xem tớ là một người bạn thân.
Ai cũng muốn có cho mình một tình yêu trọn vẹn, tuy nhiên, tình cảm của con người là thứ mà chúng ta không thể nào điều khiển được. Lỡ yêu một người, cho dù không nhận được tình cảm đáp lại, cho dù biết càng yêu đậm sâu càng làm cho bạn thân đau khổ thì người ta vẫn cứ muốn yêu. Với những ai đang yêu đơn phương, sau khi đọc những câu nói hay về yêu đơn phương, chúng tôi hy vọng đã an ủi bạn được phần nào cho những lúc cô đơn. Đây cũng là một lời động viên đến bạn rằng biết đâu một ngày nào đó người ấy sẽ thấu hiểu tình cảm của bạn và đáp lại tình cảm ấy. Hoặc biết đâu một ngày nào đó, bạn sẽ nhận ra một nửa đích thực của riêng mình.
Hành lang là lối đi trong nhà, trong nhà có hành lang sẽ tiện lợi hơn rất nhiều. Đồng thời khi hoạt động trong nhà cũng tránh vì phải đi qua các phòng mà làm ảnh hưởng đến việc học và nghỉ ngơi của mọi người.
1. Khi thiết kế hành lang nên tuân theo bốn nguyên tắc sau:
- Chiều rộng: Chiều rộng thông thường của hành lang khoảng 1 m, rộng nhất cũng không vượt quá l,3 m. Hành lang quá rộng và quá hẹp đều
không tốt.

- Chiều dài: Chiều dài của hành lang thông thường không vượt quá 2/3 chiều dài của ngôi nhà. Nếu hành lang chạy suốt tới cuối nhà, tức chia ngôi nhà thành hai nửa không gian, đó chính là dấu hiệu gia đình rạn nứt. Cách cứu chữa là kê tủ đựng đồ ở cuối hành lang để rút ngắn chiều dài của hành lang từ 2/3 chiều dài của ngôi nhà trở lại.
- Phương vị và hướng: Hành lang hướng Đông, hướng Đông Nam, hướng Nam và hướng Tây Nam có điều kiện đón ánh sáng và thông gió tương đối lý tưởng.
- Cuối hành lang không được đối diện với nhà vệ sinh, để tránh khí uế từ nhà vệ sinh bay ra làm ô nhiễm bầu không khí trong nhà.
2. Hành lang nên tránh thông qua các phòng làm ảnh hưởng tới mọi người

Đối với những ngôi nhà có nhiều tầng toạ Bắc hướng Nam, cầu thang đặt chính giữa chia ngôi nhà thành hai nửa không gian, cách bố cục của phòng phía Đông hoàn toàn trái ngược với phòng phía Tây, nhưng vẫn có thể dùng để ở.
Điều cần lưu ý là lối hoạt động trong nhà phải thông thoáng. Lối đi không nên thiết kế quá nhiều, càng không nên thiết kế qua các phòng, tốt nhất nên lấy phòng khách là trung tâm, có thể thông thẳng tới từng phòng mà không phải đi vòng vèo, xuyên qua hết phòng nọ đến phòng kia. Ngoài ra, trong nhà không được thiết kế hành lang chạy vòng vèo, trong phong thuỷ cho rằng hành lang như vậy sẽ không tốt cho trạch vận.
Trên thực tế, ngoài nhà hàng khách sạn và một số nhà trọ thì thường rất hiếm gặp trường hợp hành lang được thiết kế ở tứ phía.
(Theo Phong thủy gia đình)
Tướng tai dễ nhận biết và phân biệt hơn các tướng khác trên khuôn mặt. Xem tướng tai thường để ý tới khí sắc, màu da, dáng tai, lỗ tai, độ dày, mỏng của tai.
Đối với vấn đề này, Quách Lâm Tông có nói: “Tai tượng trưng cho bậc quân vương, lông mày tượng trưng cho đám bề tôi. Quân vương nên cao là tốt mà bề tôi lấy thấp là tốt. Người mà có đỉnh tai cao hơn so với lông mày chủ thông minh, không chỉ có tài năng văn chương siêu việt mà còn được hưởng phú quý phúc lộc”.
Trong Vạn kim tướng có nói: “Tai tốt nhất là đỉnh tai phải cao hơn lông mày một tấc, như thế sẽ được phú quý cả đời”. Lại nói: “Người có tai bạnh ra, có thể nổi danh tứ phương”.
Tông Tể Khưu cũng cho rằng: “Người có đỉnh tai và bộ vị Nhật giác tề chỉnh chủ đại quý”.
Hứa Phụ cũng từng nói: “Người có tai đoan chính, Nhật giác tề chỉnh, cả đời ít bệnh, tựa như uống thuốc trường sinh bất tử vậy, tuổi thọ rất cao, học thức cũng sâu rộng, là người trí tuệ”.
Trong Quảng giám tập có nói: “Đứng từ góc độ của tai mà nói, không phải sự to nhỏ của tai quyết định đến sự giàu nghèo quý tiện của con người mà trước tiên phải xem xét khí sắc của tai. Nếu khí sắc của tai tươi mới, trắng bóng là tướng thượng đẳng. Tai của Âu Dương Tu trắng tựa bôi phấn, cho nên sau này ông được nổi danh thiên hạ”.
Trong Đại thống phú có chép: “Khí sắc của tai mà trắng hơn so với khí sắc của mặt, người đó sẽ nổi danh thiên hạ”. Một người có tai trắng bóng, tất là người trung thành đôn hậu. Thịt ở tai màu hồng nhuận, chủ về tài lộc hanh thông Hồng nhuận là chỉ màu sắc của Thùy châu tươi sáng lại bóng. Người có tướng tai này cả đời được hưởng tài lộc, khi làm việc đều được như ý muốn. Phú quý này là phú quý tự nhiên do trời ban cho.
Trong Đại thống phú có nói: “Người có đỉnh tai cao quá lông mày có số mệnh trường thọ, người có tai đầy đặn sắc hồng là người phú quý; người có vành tai rõ ràng là người thông minh tài trí”.
Trong Đại thanh thần giám nói: “Khi đứng trước mặt một người nhưng lại không thấy tai của người đó. Tai sát đầu lại có Thùy châu tựa như sắc mặt hồng bóng, người đó sẽ có sự nghiệp hưng vượng, phú quý, cả đời sẽ có vận số tốt. Khi 15 tuổi, có thể kế thừa được phúc ấm của cha mẹ, trở thành người giàu có”.
Thuật xem bói tướng cho rằng người mà trong tai có lông tơ, tuổi thọ rất cao. Quách Lâm Tông từng nói rằng: “Tuổi thọ của người nào mà có thể vượt qua được trăm tuổi? Trong lỗ tai có lông tơ, tóc trắng một nửa trắng nửa đen, cổ có 2 ngấn người này sẽ rất thọ”.
Tướng tai nhọn nhỏ, tức có tai tựa như tai khỉ. Người như thế đa phần cô quả. Người có tai thẳng như mũi tên chủ về cả đời bần tiện, bất kể là nam hay nữ, khi 15 tuổi sẽ gặp chuyện phá hại. Sau khi trưởng thành sẽ trở nên bần tiện, cô quả. Trong Ngủ tổng quy có nói: “Tai lật vành chủ cả đời vất vả, người có tai thẳng như mũi tên sẽ có ít tiền của lại thiếu lương thực”. Lại nói: “Người có 2 tai đều nhọn thì tài vận không tốt”.
Quách Lâm Tông nói rằng: “Tai trái là Kim tinh, tai phải là Mộc tinh. Người có khí sắc ở tai tươi sáng, ổn định là mệnh quý hiển. Người có dáng tai thô, lại có khí sắc màu xanh đen, khô kiệt cả đời phải bôn ba, không được ở yên một chỗ”.
Tông Tề Khưu nói rằng: “Bì thô thanh hắc tẩu dị hương” tức là tai có da thô ráp, màu xanh đen, chủ tha hương kiếm sông.
Trong Quảng giám tập có nói: “Người có vành tai xanh lại đen, như thế thận chẳng giữ được lâu, chủ đoản mệnh”.
Hình trạng của tai phiêu bồng, tức hình trạng của nó tựa như cỏ bồng, cỏ bồng là một loài thực vật sống ở vùng trungnguyên, cũng được gọi là bồng tử, cành lá của nó tựa như cành lá của cây liễu, vòng quanh uốn khúc, mọc lại thành khóm. Khóm cỏ bồng tựa tròn như quả bóng, thẳng mà có nhiều nhánh, cỏ bồng khi vào mùa thu thì khô héo, bị gió thổi đi. Nếu bị gió đông thổi đi, cỏ bồng chạy nối dài về hướng Tây. Nếu bất ngờ có gió Tây thổi, nó lại cuồn cuộn bay về phía Đông. Người có màu sắc tai xanh lại đen, khô tựa như hình trạng của cỏ bồng cả đời sẽ phải bôn ba bên ngoài chẳng được ở yên ổn một chỗ.
Sách xem bói tướng xưa chỉ ra rằng Mệnh môn là lỗ tai. Lỗ tai hẹp, thậm chí ngón tay út nhỏ nhất cũng chẳng cho vào được chủ về người ngu muội lại đoản mệnh, không có trí tuệ.
Trong Động trung kinh có nói: “Lỗ tai hẹp, tựa như lỗ trên cây kim, gia đình nghèo khổ”.
Trong Thái thanh thần giám có chép: “Lỗ tai đen tựa mực, tuổi thọ khó dài lâu. Người có tai mỏng, cuộc sống nghèo khổ, trong khoảng từ 1 đến 15 tuổi sẽ khắc hại tổ tiên. Sau khi trưởng thành sẽ nghèo khổ, cô quả, tuổi thọ ngắn”.
Trong Thái thanh thần giám có nói: “Vành ngoài của tai gọi là thành, vành trong gọi là quách, thành vòng quanh quách là tướng tốt lành, quách vòng quanh thành là tướng xấu”.
Trong Kim kính kinh có chép: “Tai mà không có vành bên trong, chủ phá bại”. Cũng chính là nói, người có vành tai không rõ ràng chủ tài sản bị thất tán, cô độc, nghèo khổ.
Trong Đại thống phú có nói: “Người có tai mỏng tựa như tờ giấy, chủ cuộc sống nghèo khổ, tuổi thọ ngắn”.
Trong Ngủ tổng quy nói: “Thành mà bao quanh quách thì không có vấn đề gì, nhưng quách mà bao quanh thành là tướng không tốt lành”.
Trong thuật xem bói tướng: Người mà có tai lệch, thấp lõm chủ cả đời phá hoại tiêu tán.
Trong Vạn kim tướng nói: “Người có tai trái khiếm khuyết sẽ gây tổn thương cho cha,người có tai phải khiếm khuyết sẽ gây tổn thương cho mẹ. Người có cả 2 tai đều khiếm khuyết sẽ gây tổn thương cho cả cha mẹ. Người mà có các bộ vị trên tai đoan chính, tai không thấp so với lông mày, như thế sẽ không khắc hại cha mẹ, không phải rời bỏ quê hương”.
| ► Lịch ngày tốt cung cấp công cụ xem tử vi, xem tướng các bộ phận cơ thể đoán vận mệnh chuẩn xác |
![]() |
| Ảnh minh họa |
![]() |
| Ảnh minh họa |
![]() |
| Ảnh minh họa |
![]() |
| Ảnh minh họa |
| ► Xem thêm: Tử vi hàng ngày của 12 cung hoàng đạo được cập nhật mới nhất |
![]() |
| Ảnh minh họa |
![]() |
| Ảnh minh họa |
![]() |
| Ảnh minh họa |
Những sao nữ mang danh “Sở Khanh”![]() |
| Ảnh minh họa |
| ► Bói tình yêu theo ngày tháng năm sinh để biết hai bạn có hợp nhau không |
![]() |
| Ảnh minh họa |
Bạn muốn biết mình có được hưởng gia sản thừa kế hay không ? 1 số dấu hiệu xuất hiện trên bàn tay sẽ giúp bạn đoán định rõ hơn về điều này.

1/. Có 1 đường thẳng đi từ trong gò Kim Tinh lên gặp ngôi sao ở gò Mộc Tinh (mô thịt nằm dưới chân ngón trỏ): được thừa hưởng gia tài lớn.
Đường thẳng từ gò Thái Âm lên gặp ngôi sao ở gò Mộc tinh :
Dấu hiệu được thừa hưởng gia tài lớn do kết hôn với nơi quyền quý, cao sang.
2/. Hình thửa ruộng (chữ điền) ở gò mộc tinh: có được của cải, nhà cửa, ruộng đất.
3/. Dấu “con sông” ở gò Thái Dương (mô thịt nằm dưới chân ngón đeo nhẫn) : có cuộc sống sung sướng và hưởng một gia tài lớn.
4/. Dấu “6 ngôi sao” xuất hiện trên bàn tay: được thừa hưởng một gia tài lớn từ cha mẹ.
5/. Bốn đường tương đối hẹp ở ngấn chân ngón cái: được thừa hưởng gia tài lớn.
6/. Hình cái xẻng trên gò Kim Tinh: có cuộc sống gia đình hạnh phúc và sung túc.
7/. Ngôi sao ở góc do đường Sinh Đạo và đường Trí Đạo hợp thành: được thừa kế tài sản lớn từ 1 người phụ nữ.
8/. Nếu có hình ngôi sao xuất hiện ở vòng cổ tay thì chủ nhân bất ngờ được hưởng gia tài hoặc trúng số độc đắc. Nếu có 3 ngôi sao cùng xuất hiện thì càng được nhiều của cải gấp bội.
9/. Chữ thập trong chữ V ở vòng cổ tay: có của cải do người khác để lại, tuổi già được hưởng phúc lộc.
10/. Hai đường Trí Đạo chạy song song: gặp nhiều may mắn, được hưởng gia tài vào khoảng giữa cuộc đời.
11/. Nhiều đường chỉ song song ở dưới gò Kim Tinh, gần bìa bàn tay: được kế thừa và hưởng gia tài vào lúc tuổi già.
12. Nhiều đường chỉ nhỏ chạy theo chiều ngang đốt cuối cùng của ngón trỏ: là dấu hiệu được hưởng gia tài.
13/. Ngôi sao ở cuối đường Tâm Đạo: được hưởng gia tài bất ngờ do nhân tình để lại, tuy nhiên lại bị tiêu tan vào tay 1 nhân tình khác.
14/. Hình tam giác ở gò thái âm: được hưởng gia tài lớn.
15/. Ngôi sao nằm giữa lòng bàn tay: được thừa kế gia sản lớn. (theo Tiếng nói của bàn tay)
Theo ‘ngôn ngữ của bàn tay’, đường chỉ tay không chỉ bật mí về sự nghiệp, tình yêu và hôn nhân mà còn tiết lộ tình trạng sức khỏe của chủ nhân.

Nhìn vào hình để so sánh và khám phá sức khỏe của bạn.
1/ Đường Tâm Đạo hình bậc thang : Trên đường Tâm Đạo, phía dưới ngón áp út có hình bậc thang đại diện cho sự mất cân bằng chất canxi trong cơ thể, có ảnh hưởng đến thói quen ngủ, nghỉ bình thường.
2/. Dấu hiệu liên quan đến răng : Nếu phía trên đường Tâm Đạo, ở giữa ngón út và ngón áp út xuất hiện một số đường vân nhỏ sẽ liên quan đến bệnh ở răng.
3/. Hình hoa thị trên đường chỉ tay : Hình hoa thị xuất hiện trên đường chỉ tay thể hiện ảnh hưởng về mặt tâm sinh lý. Nếu xuất hiện trên đường Tâm Đạo có khả năng bị bệnh về tim. Nếu xuất hiện trên đường Trí Đạo thì có khả năng phần đầu bị thương. Nếu có trên đường Sinh Đạo thì thể hiện cho vết thương hoặc vết mổ.
4/. Đường vân nhỏ liên quan tới dạ dày : Một đoạn đường vân nhỏ chạy chéo trong lòng bàn tay thì có khả năng chủ nhân gặp vấn đề về dạ dày hoặc tiêu hóa.
5/. Hình lưới : Phía rìa ngoài bàn tay có một mảng hình lưới biểu thị trong cơ thể có tích nước tiểu axit, dễ phát sinh bệnh tật.
6/. Vết răng cưa trên đường Trí Đạo : Nếu trên đường Trí Đạo có các vết như lỗ chân chim to nhỏ thì có khả năng mắc bệnh đau đầu.
7/. Đường Trí Đạo quá dài : Đường Trí Đạo kéo dài đến mép ngoài của bàn tay thông thường là người hoạt bát quá mức, đặc biệt là trẻ con.
8/. Đường liên quan tới bệnh dị ứng : Đường này dài xuyên qua gò Thái Âm thì dễ mắc các bệnh dị ứng.
9/. Hình oval trên đường Tâm Đạo : Đường Tâm Đạo phía dưới ngón giữa xuất hiện hình oval thì thính giác có khiếm khuyết. Nếu hình này ở phía dưới ngón áp út thì có vấn đề về mắt.

10/. Đường phân nhánh hướng xuống dưới : Khi mắc các bệnh u uất về tinh thần thì trên đường Trí Đạo thường xuất hiện đường phân nhánh hướng xuống dưới. Sau khi hồi phục thì đường đó sẽ lại hướng lên trên, trở về hướng ban đầu.
11/. Đường Tâm Đạo có đoạn mờ : Nếu trên đường Tâm Đạo có đoạn chỉ tay mờ thì biểu thị có một khoảng thời gian tâm lý rơi vào tình trạng căng thẳng.
12/. Hình oval trên đường Trí Đạo : Hình oval xuất hiện trên đường Trí Đạo biểu thị cơ thể suy yếu, xuất hiện trên đoạn khởi đầu đường Trí Đạo tức là có bệnh về hô hấp. Nếu hình oval xuất hiện càng gần phía hướng về cổ tay thì người đó thể chất suy nhược.
13/. Đường liên quan tới vết thương : Đường vân ngang cắt qua Trí Đạo biểu thị sự thay đổi lớn về tâm trạng. Đường này càng dài càng chứng tỏ ảnh hưởng của sự kiện đó rất lớn.
14/. Chai sần : Chai là chỗ da cứng lồi lên, thường do ma sát nhiều tạo thành, nhưng đôi khi nó cũng là dấu hiệu báo bệnh tật của một cơ quan nào đó. Vết chai nằm giữa lòng bàn tay (như trong hình) có khả năng bị bệnh thận.
15/. Vân hình thoi : Khoảng 1/3 phía dưới lòng bàn tay có xuất hiện vết nhăn lớn hình thoi ép sát đường Sinh Đạo thì có thể có vấn đề về phụ khoa đối với nữ giới, bệnh tiết niệu đối với nam giới.
16/. Đường vân sát cổ tay vòng lên : Nếu trên cổ tay phụ nữ có một đường cổ tay vòng lên cao hướng về lòng bàn tay chứng tỏ khá yếu về phụ khoa, gặp khó khăn khi sinh nở.
Bàn tay là phần mở rộng của bộ não và tất cả các bộ phận trên cơ thể của bạn. Vì vậy, hãy thường xuyên xoa bóp tất cả các phần của bàn tay để có một cơ thể khỏe mạnh toàn diện bạn nhé!
Thời xa xưa, người Hán thường cho rằng khỉ là con vật may mắn. Từ ‘hầu’ – có nghĩa là con khỉ, đồng âm với từ ‘hầu’- một tước vị quyền quý.
Thời xa xưa, người Hán thường cho rằng khỉ là con vật may mắn. Từ “hầu” – có nghĩa là con khỉ, đồng âm với từ “hầu” – một tước vị quyền quý. Bởi vậy, trong nhiều tranh vẽ, hình tượng con khỉ mang ý nghĩa là “phong hầu” (phong chức tước).
Cùng với biểu tượng các con vật khác, khỉ được sử dụng khá phổ biến trong phong thủy. Biểu tượng khỉ với các tư thế khác nhau thể hiện những ý nghĩa cát tường riêng. Nó có thể được tạo bởi nhiều chất liệu từ gỗ, ngọc, pha lê đến đồng, mạ vàng và thậm chí là vàng nguyên chất.
Nếu thấy hình tượng con khỉ leo trên cây phong thì biểu tượng mang ý nghĩa “phong hầu quải ấn” (đeo ấn phong hầu).

Nếu là hình tượng con khỉ cưỡi trên lưng ngựa thì có nghĩa là “mã thượng phong hầu” (cưỡi ngựa phong hầu).
Nếu hai con khỉ ngồi trên cây tùng hoặc một con khỉ cưỡi lên lưng con kia, có nghĩa là “bối bối phong hầu” (đời đời phong hầu).


Bối bối phong hầu – Dây đeo “bối bối phong hầu”
Nếu đặt biểu tượng con khỉ ở vị trí thích hợp sẽ mang lại điều tốt đẹp và may mắn cho gia chủ. Ngoài ra, cũng có thể sử dụng biểu tượng này làm vật trang sức đeo trên người.
n mặt thì bạn sẽ biết được những điều bí ẩn về bản thân mình, tiên đoán được một phần tương lai
1. Quan chức
2. Thông minh đa tài
3. Tán gia sản
4. Quan chức
9. Đại cát
10. Mau nước mắt
11. Dâm đãng
12. Không tốt
13, 14. Không con
15. Gian
16. Thông minh
17. Lộc tài tốt
18. Cô đơn
19. Không có người giúp việc tốt
20. Thông thái, hay ăn
21. Hay rượu chè
22. Quan to.
Chùa Phụng Sơn có tên chữ là Phụng Sơn Tự hay còn được biết tên với tên gọi khác là chùa Gò. Ngôi cổ tự này đã được xếp hạng là “di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia” vào ngày 16 tháng 11năm 1988. Chùa Phụng Sơn nằm tại số 1408, đường 3 tháng 2, phường 2, quận 11,thành phố Hồ Chí Minh.
Chùa Phụng Sơn được thiền sư Liễu Thông (1754-1840) tạo lập vào đầu thế kỷ 19, dưới triều vua Gia Long trên nền của một ngôi chùa Chân Lạp cổ, nằm trên một đồi nhỏ bao quanh là ao Bàu Chuông có trồng sen.
Tương truyền, trên đường đi vân du vào phủ Gia Định, thiền sư Liễu Thông trông thấy cảnh trí nơi này thanh tịnh, thích hợp cho việc tu hành, nên dựng một am tranh tại đây, và được người dân quanh vùng gọi bằng một cái tên dân dã là chùa Gò. Một hôm, có một con chim phụng đến đậu trên cây ngô đồng trước am cất tiếng gáy, thiền sư cho đó là điềm lành, nên đặt tên chùa là Phụng Sơn Tự, có nghĩa chùa trên núi có chim phụng.
Năm 1904, am lá được xây cất lại. Và kể từ đó cho đến nay, chùa có hai lần trùng tu lớn, đó là vào thời hòa thượng Huệ Minh trụ trì (1904 -1915) và vào năm 1960. Năm 1963, hòa thượng Thích Phước Quang cho xây lại cổng tam quan, do kiến trúc sư Nguyễn Bá Lăng vẽ kiểu. Tuy được trùng tu lại vài lần, nhưng chùa vẫn theo kiến trúc cổ với bộ khung gỗ và mái ngói âm dương.
Chùa Phụng Sơn xây theo kiểu chữ “quốc”, dài trên 40 m, rộng gần 20 m, có hàng hiên chạy quanh bốn phía. Bên trong chùa chia ra hai khu rõ rệt, phía trước là chính điện, cách một sân lộ thiên, phía sau là nhà giảng. Hai bên sân lộ thiên có đông lang và tây lang, nối liền hai nơi. Sân lộ thiên có hòn non bộ, tượng Quan Âm và cây cảnh, nhờ có khoảng sân này nên chùa được thoáng đãng, sáng sủa. Nơi chính điện, các cột đều làm bằng gỗ tốt, lâu ngày đã trở nên đen bóng. Chùa thờ kiểu “tiền Phật, hậu Tổ”.
Điện Phật có nhiều tượng Phật xưa bằng gỗ, thiếp vàng chạm trổ mỹ thuật. Tổng cộng chùa có khoảng 40 pho tượng thờ. Nhiều tượng thờ do nhóm thợ từ Sa Đéc, do hòa thượng Huệ Minh mời đến chùa để tạo tác vào những năm đầu thế kỷ 20. Có nhiều pho tượng quí như bộ Di Đà Tam Tôn, bộ Ngũ Hiền thượng kỳ thú, pho tượng Phật bằng đá, tượng Tiêu Diện…
Vào các năm 1988 và 1991, các nhà khảo cổ học đã tiến hành khai quật tại khu đất của chùa và phát hiện nhiều hiện vật như mặt người bằng đất nung, đồ gốm… thuộc văn hoá Óc Eo. Trước đó, nơi đây cũng đã tìm thấy một pho tượng Phật bằng đồng theo phong cách Thái Lan.
Chùa Phụng Sơn là một trong những ngôi chùa cổ, còn in đậm nét sự có mặt của tín ngưỡng dân gian, Như bên hành lang chánh điện thờ Linh Sơn Thánh Mẫu, một trong những vị nữ thần được tôn kính và thờ tự phổ biến ở miền Nam. Dấu vết của quá trình sinh sống và cộng cư của nhiều dân tộc tại vùng đất này còn được thể hiện qua hình ảnh ngôi miếu nhỏ thờ Ông Tà (Neak Tà) trong khuôn viên chùa, bên những ngôi tháp Tổ. Đó là dạng tín ngưỡng, là một nét văn hóa phổ biến của cư dân Khmer. Là một trong những ngôi chùa cổ còn lưu lại đậm nét về địa thế, kiến trúc, nghệ thuật tạc tượng, cách bày trí và thờ cúng… chùa Phụng Sơn đã góp phần mang lại một giá trị văn hóa – nghệ thuật phong phú, đa dạng trong dòng phát triển của văn hóa Phật giáo tại Nam Bộ.
Bạn đã biết Ngũ hành nạp âm là gì hay chưa? Vận mệnh con người theo ngũ hành nạp âm có điều gì đặc biệt? Cùng Lịch ngày tốt tìm hiểu về 6 nạp âm thuộc hành Kim: Hải Trung Kim, Kim Bạch Kim, Bạch Lạp Kim, Sa Trung Kim, Kiếm Phong Kim và Thoa Xuyến Kim nhé.
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
Chức tước quan trường cũng là chính là tung hoành ngay dọc. Mặc dù không nhìn rõ hình bóng của dao kiếm, nhưng khó tránh khỏi ân oán giang hồ, việc có một bàn tay tuyệt đẹp hộ thân thì có thể thoát khỏi cảnh bất lợi. Hãy xem bói chỉ tay để nhận biết xem bạn cỏ phải là người có tướng tay tung hoành như vậy không.
Đường vận mệnh như cột chống trời, nghĩa là chỉ hình dáng hoàn chỉnh không đứt đoạn, đường Vận mệnh thẳng và rõ ràng, báo hiệu đây là người có ý chí siêu phàm, có đủ dũng khí tiến về phía trước, không e sợ bất cứ gian nan hiểm trỏ nào. Do không bao giờ chịu đứng sau người khác, nên rất cỏ khả năng tự mình lập nên sự nghiệp.

Đường Công danh rõ ràng, là đường chỉ thẳng ỏ dưới chân ngón vô danh, biểu thị là người nhiệt tình, vui vẻ, tính tình lạc quan, có tài giao tiếp nhất định, ở bên ngoài có thể kết giao được với rất nhiều người có cùng chung chí hướng, có tác dụng lớn trong việc thúc đẩy con đường sự nghiệp bản thân. Mặc dù trong sự nghiệp gặp phải bất cứ khó khăn cản trở nào thì đéu có thể chủ đông khắc phục.

3.Đoạn cuối đường Trí tuệ cong vểnh lên trên
Đường Trí tuệ có đuôi vểnh lên trên tức là chỉ phần đuôi của đường Trí tuệ cong hướng lên phía trên, cho thấy là người có trí tuệ cao. mọi việc đều có thể tính toán tỉ mỉ, để có thể đạt được lợi ích thực tế. Nhưng họ thường vì sự nghiệp mà trong lòng luôn cảm thấy nặng nề, bỏ qua những suy nghĩ vể nhân tình thê thái, thậm chí có thế để xảy ra những chanh chấp về phương diện quan hệ giữa con người trong xã hội, vì vậy cần chú ý thay đổi. Tư duy lý tính, làm việc chăm chỉ, nhưng quan hệ giao tiếp xã hội kém.

Nguồn: Xemboituong.com
![]() |
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thu Hương (##)
Người ta gọi “khí trời” là muốn chỉ “khí của trời”. Nó là năng lượng từ trên trời toả xuống, ảnh hưởng đến mọi sự biến hoá của không khí. Còn “khí của người” là khí phát tán từ cơ thể con người.
Người nào mà khí vượng thì sức mạnh từ người đó phát ra sẽ chủ đạo được những người và sự vật xung quanh mà người ta gọi là “công”. Còn khí thuộc về quả đất được gọi là “địa khí”, nó là tinh khí của quả đất, chỉ năng lượng của quả đất và điểm ngưng tụ năng lượng của quả đất chính là huyệt (long huyệt).
Phong thuỷ địa lý rất coi trọng “địa khí”. Vì quả đất có một từ trường hình thành từ Bắc đến Nam, do đó có thể dùng những thiết bị vật lý để đo năng lượng “khí địa từ” và “dòng địa điện” của quả đất.
Trong địa lý phong thuỷ, người ta quan niệm “khí tạo ra hình thế, hình thế lại dẫn khí chảy theo”. Tức là địa hình được hình thành do khí tự nhiên, đến lượt khí tự nhiên lại theo địa hình đó mà lưu động. Do đó, ngoài biết “xem khí” ra còn cần phải biết “xem địa hình”
Vấn đề là ở chỗ, mỗi người sinh ra đã có một năng lượng riêng, nếu biết vận dụng tốt sức mạnh trong thiên nhiên thì có thể sẽ phát huy sức mạnh vốn có của mình.
Điều này trong “địa lý phong thuỷ” thường nhấn mạnh “âm dương nếu giữ được điều hoà thì có thể hợp làm một”. Và thuật phong thuỷ chỉ có một mục đích là làm sao vận dụng được sức mạnh của địa khí để tăng thêm sức mạnh của con người. Có thể hiểu như sau:
Một chỗ đất có địa khí cao, nếu xây nhà ở đó thì địa khí có thể bổ sung cho những chỗ còn khiếm khuyết của nhân khí, làm sao cho người sống ở đó ít bệnh tật, ít tai nạn, đầu óc tỉnh táo. Khi trong cuộc sống, phải đứng trước một sự phán đoán hay lựa chọn thì người đó sẽ lựa chọn được những biện pháp chính xác, còn gọi là “vận tốt”.
Ngược lại, nếu không biết được hướng dòng chảy của địa khí mà hành động ngược với quy luật của nó, hoặc xây nhà vào chỗ địa khí lưu tán, thì người đó trở thành yếu đuối, sức sống và năng lực phán đoán cũng vì thế mà kém cỏi, thân thể yếu, nhiều bệnh tật. Đó là điều mà người ta gọi là “vận ác”.
Do đó, trong quy luật tự nhiên không có sự phân chia gọi là cát hung, mà chỉ có sự phân biệt nơi nào năng lượng cao hay năng lượng thấp và phân chia thành âm dương. Cái gọi là cát hay hung chỉ là muốn nói khi người ta gặp khó khăn thì đã biết dùng biện pháp gì để đối phó.
Hay nói cách khác, địa khí đối với mọi người đều bình đẳng, điều chủ yếu là người đó có biết vận dụng nó hay không. Nói cát, tức là chỉ về người hiểu và vận dụng được địa khí, còn hung là nói người không hiểu và không vận dụng được địa khí mà còn để địa khí dần lưu tán mất.
Vậy có thể căn cứ vào địa hình để phán đoán cát hung. Trước hết, một địa hình tụ khí dễ dàng, tán khí khó gọi tượng cát. Ai cũng muốn sống ở những nơi cảm giác thoải mái và sinh hoạt thuận tiện. Song nếu thế thì những vùng rừng núi không có điện, không có nước, giao thông khó khăn sẽ không có người ở.
Hay có người muốn ở bên cạnh chỗ có nước thì cũng không dễ dàng xây nhà bên bờ sông hay bãi biển. Mọi người đều biết, có những vùng đất thích hợp với người ở và cũng có những vùng đất không thích hợp. Nếu một chỗ ở nào đó khi ở luôn gặp điều không may, hoặc muốn ở lâu cũng không được thì gọi đó là thuộc đất hung tướng.
Hoặc có chỗ nào đó, mọi người đều thích ở, không những vì giao thông thuận lợi mà còn sáng sủa, quang đãng, không khí sạch sẽ và yên tĩnh, phong cảnh dễ chịu, gần đó lại có chợ búa, cửa hàng, khu sinh hoạt văn hoá. Chỗ như vậy, ai cũng biết là vùng cát tướng. Vậy, việc quan sát cát, hung của đất ở nói chung mọi người đều có một khả năng nhất định.
Thuật quan sát của địa lý phong thuỷ cơ bản nhất là phải phán đoán được chỗ có địa khí hay không, nếu có thì hướng dòng chảy ra sao và địa hình mặt đất như thế nào.
Hãy quan sát, hình dạng mảnh đất xây dựng hình vuông vức là tốt, nhưng nếu là hình tròn, hình tam giác thì không thích hợp cho việc xây nhà ở.
Một mảnh đất hình thang nếu mặt giáp đường hẹp, còn mặt sau rộng dần thì ở đó địa khí dễ ngưng tụ cho nên đất ấy cát tướng, ngược lại nếu phía giáp đường rộng mặt sau hẹp dần, địa hình như thế địa khí dễ bị lưu tán, thậm chí sống ở những chỗ như thế, năng lượng và sinh mệnh của người chủ kém dần, người sống trên mảnh đất này gặp nhiều điều không may, chỗ như vậy gọi là đất hung tướng.
Vùng đất cát tướng ở đây là chỗ đó địa khí có ngưng tụ hay không, ngược lại vùng đất hung tướng là chỉ địa khí ở đó không ngưng tụ mà dễ lưu tán, xây nhà ở đó dễ gặp điều trắc trở, không may.
Như vậy, địa khí có ảnh hưởng rất lớn đến vận mệnh của con người. Cách nói đó tuy khoa học chưa có cách gì giải thích được, nhưng đã được thực tế chứng minh, nếu xây nhà hoặc cất mộ ở những địa huyệt thích hợp thì sẽ gặp được những vận khí rất tốt và ngược lại, những điều không may mắn sẽ xảy ra. Vậy có thể nói, sức mạnh phong thủy thật khôn lường.
Nguồn: Phong Thủy Tổng Hợp.
Người xưa quan niệm Thiên là căn bản gốc, Địa là ngọn ngành. Lập ra Thiên can người xưa lấy số Dương của Hà Đồ (số lẻ) là 1, 3, 5, 7, 9, lấy số 5 ở giữa gấp đôi lên để bao hàm cả âm can (Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý) và cả dương can (Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm), tất cả 10 can theo thứ tự Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý.
Địa chi lấy số âm (số chẵn) là 2, 4, 6, 8, 10. Lấy số 6 ở giữa nhân gấp đôi để tạo thành 12 chi: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi bao gồm cả dương chi (Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất) và âm chi (Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi).
Thời xa xưa lấy Mặt Trời làm gốc: "Mặt Trời mọc thì đi làm, Mặt Trời lặn thì nghỉ." Gặp hôm trời u ám không thấy Mặt Trời, thật chả biết dựa vào đâu. Tương truyền có một người tên là Đại Nhiêu đã lập ra Thập can và Thập nhi chi để tính thời gian.
Thập can và Thập nhi chi phối hợp với nhau để sinh ra Lục thập hoa giáp (chu kỳ 60 năm gọi là Nguyên).
Việc tính giờ theo can chi cũng phần nào liên quan đến tập tính của các con vật.
Tý (23-1 giờ): Lúc chuột đang hoạt động mạnh.
Sửu (1-3 giờ): Lúc trâu đang nhai lại, chuẩn bị đi cày.
Dần (3-5 giờ): Lúc hổ hung hãn nhất.
Mão (5-7 giờ): Việt Nam gọi mèo, nhưng Trung Quốc gọi là thỏ, lúc trăng (thỏ ngọc) vẫn còn chiếu sáng.
Thìn (7-9 giờ): Lúc đàn rồng quây mưa (quần long hành vũ). Rồng chỉ là con vật do con người tưởng tượng ra, chứ không có thực.
Tỵ (9-11 giờ): Lúc rắn không hại người.
Ngọ (11-13 giờ): Ngựa có dương tính cao.
Mùi (13-15 giờ): Lúc dê ăn cỏ không ảnh hưởng tới việc cây cỏ mọc lại.
Thân (15-17 giờ): Lúc khỉ thích hú.
Dậu (17-19 giờ): Lúc gà bắt đầu lên chuồng.
Tuất (19-21 giờ): Lúc chó phải tỉnh táo để trông nhà.
Hợi (21-23 giờ): Lúc lợn ngủ say nhất.
Ý nghĩa tượng trưng của “12 con giáp”
Tại Việt Nam, lịch được lập theo các chu kỳ thay đổi đều đặn của Mặt Trăng. Vì sử dụng theo lịch âm nên các ngày chính xác của một năm mới luôn thay đổi theo từng năm. Mỗi năm đều được "hộ trì" bởi một trong số mười hai con vật.
Theo cung Hoàng đạo của người Việt, con đầu tiên là con Chuột (Tý), sau đó là con Trâu (Sửu) và tiếp đến theo thứ tự là con Hổ (Dần), Mèo (Mão), Rồng (Thìn), Rắn (Tỵ), Ngựa (Ngọ), Dê (Mùi), Khỉ (Thân), Gà (Dậu), Chó (Tuất) và cuối cùng là con Lợn (Hợi). Trong số các con giáp này thì con Rồng là con vật thần thoại và Tý, Dần, Tỵ và Thân là những con vật sống hoang dã và thường tránh gặp con người. Bảy con còn lại là những vật nuôi trong nhà. Cứ mỗi chu kỳ 12 năm, lại mang tên con vật cũ.
Ngoài ra, người Việt còn tính theo chu kỳ 60 năm. Chu kỳ này được lập theo sự kết hợp của mười hai con vật là các biểu tượng cụ thể theo cung hoàng đạo của người Việt và 10 dấu hiệu của bầu trời. Lịch của người châu Á được lập theo chu kỳ 60 năm tương đương với chu kỳ một thế kỷ 100 năm của người châu Âu. Mỗi năm ảnh hưởng đối với con người tùy theo những biểu tượng của họ là hội tụ hay phân kỳ.
Sau đây là 12 con vật đại diện 2 giờ đồng hồ trong một ngày 24 tiếng.
Tý (Chuột): Người mang tuổi Tý rất duyên dáng và hấp dẫn người khác phái. Tuy nhiên, họ rất sợ ánh sáng và tiếng động. Người mang tuổi này rất tích cực và năng động nhưng họ cũng thường gặp lắm chuyện vặt vãnh. Người mang tuổi Tý cũng có mặt mạnh vì nếu Chuột xuất hiện có nghĩa là phải có lúa trong bồ.
Sửu (Con Trâu): Trâu tượng trưng cho sự siêng năng và lòng kiên nhẫn. Năm này có tiến triển vững vàng nhưng chậm và một sức mạnh bền bỉ; người mang tuổi Sửu thường có tính cách thích hợp để trở thành một nhà khoa học. Trâu biểu tượng cho mùa Xuân và nông nghiệp vì gắn liền với cái cày và thích đầm mình trong bùn. Người mang tuổi này thường điềm tĩnh và rất kiên định nhưng rất bướng bỉnh.
Dần (Hổ): Những người mang tuổi hổ thường rất dễ nổi giận, thiếu lập trường nhưng họ có thể rất mềm mỏng và xoay chuyển cá tính cho thích nghi với hoàn cảnh. Hổ là chúa tể rừng xanh, thường sống về đêm và gợi lên những hình ảnh về bóng đen và giông tố. Giờ Dần bắt đầu từ 3 giờ đến 5 giờ khi cọp trở về hang sau khi đi rình mò trong đêm.
Mão (Mèo): Mèo tượng trưng cho những người ăn nói nhẹ nhàng, nhiều tài năng, nhiều tham vọng và sẽ thành công trên con đường học vấn. Họ rất xung khắc với người tuổi Tý. Người tuổi Mão có tinh thần mềm dẻo, tính kiên nhẫn và biết chờ thời cơ trước khi hành động.
Thìn (Rồng): Con rồng trong huyền thoại của người phương Đông là tính Dương của vũ trụ, biểu tượng uy quyền hoàng gia. Theo đó, rồng hiện diện ở khắp mọi nơi, dưới nước, trên mặt đất và không trung. Rồng là biểu tượng của nước và là dấu hiệu thuận lợi cho nông nghiệp. Người tuổi Rồng rất trung thực, năng nổ nhưng rất nóng tính và bướng bỉnh. Họ là biểu tượng của quyền lực, sự giàu có, thịnh vượng và của hoàng tộc.
Tỵ (Rắn): Người tuổi rắn nói ít nhưng rất thông thái. Họ thích hợp với vùng đất ẩm ướt. Rắn tượng trưng cho sự tiến hóa vĩnh cửu của tuổi tác và sự kế vị, sự phân hủy và sự nối tiếp các thế hệ của nhân loại. Người tuổi rắn rất điềm tĩnh, hiền lành, sâu sắc và cảm thông nhưng thỉnh thoảng cũng hay nổi giận. Họ rất kiên quyết và cố chấp.
Ngọ (Ngựa): Người tuổi Ngọ thường ăn nói dịu dàng, thoải mái và rộng lượng. Do đó, họ dễ được nhiều người mến chuộng nhưng họ ít khi nghe lời khuyên can. Người tuổi này thường có tính khí rất nóng nảy. Tốc độ chạy của ngựa làm người ta liên tưởng đến mặt trời rọi đến trái đất hàng ngày. Trong thần thoại, mặt trời được cho là liên quan đến những con ngựa đang nổi cơn cuồng nộ. Tuổi này thường được cho là có tính thanh sạch, cao quý và thông thái. Người tuổi này thường được quý trọng do thông minh, mạnh mẽ và đầy thân ái tình người.
Mùi (Dê): Người mang tuổi Mùi thường rất điềm tĩnh nhưng nhút nhát, rất khiêm tốn nhưng không có lập trường. Họ ăn nói rất vụng về, vì thế họ không thể là người bán hàng giỏi nhưng họ rất cảm thương người hoạn nạn và thường hay giúp đỡ mọi người. Họ thường có lợi thế vì tính tốt bụng và nhút nhát tự nhiên của họ.
Thân (Khỉ): Người tuổi Thân thường là một nhân tài có tính cách thất thường. Họ rất tài ba và khéo léo trong các vụ giao dịch tiền bạc. Người tuổi này thường rất vui vẻ, khéo tay, tò mò và nhiều sáng kiến, nhưng họ lại nói quá nhiều nên dễ bị người khác xem thường và khinh ghét. Khuyết điểm của họ nằm trong tính khí thất thường và không nhất quán.
Dậu (Gà): Năm Dậu tượng trưng cho một giai đoạn hoạt động lao động cần cù siêng năng vì gà phải bận rộn từ sáng đến tối. Cái mào của nó là một dấu hiệu của sự cực kỳ thông minh và một trí tuệ bác học. Người sinh vào năm Dậu được xem là người có tư duy sâu sắc. Đồng thời, gà được coi là sự bảo vệ chống lại lửa. Người sinh vào năm Dậu thường kiếm sống nhờ kinh doanh nhỏ, làm ăn cần cù như "một chú gà bới đất tìm sâu."
Tuất (Chó): Năm Tuất cho biết một tương lai thịnh vượng. Trên khắp thế giới, chó được dùng để giữ nhà chống lại những kẻ xâm nhập. Những cặp chó đá thường được đặt hai bên cổng làng để bảo vệ. Năm Tuất được tin là năm rất an toàn.
Hợi (Lợn): Lợn tượng trưng cho sự giàu có vì loài lợn rừng thường làm hang trong những khu rừng. Người tuổi Hợi rất hào hiệp, galăng, tốt bụng và dũng cảm nhưng thường rất bướng bỉnh, nóng tính nhưng siêng năng và chịu lắng nghe..
![]() |
| Rồng Việt - Ảnh: Internet |
Dù là một con vật tưởng tượng đầy tính siêu nhiên, nhưng bóng dáng của rồng đã trở nên phổ biến trong đời sống xã hội nước ta, và cũng đã tiềm ẩn trong tâm thức sâu thẳm của mọi người dân Việt.
Con rồng đã cùng với những nhân vật có thật trong lịch sử dân tộc, như Lý Thái Tổ thấy rồng vàng xuất hiện nên đặt tên Kinh đô mới là Thăng Long; và sống cùng với những con vật trong nghệ thuật Việt Nam, như qua bộ tứ linh: long, lân, qui, phụng. Và nó vẫn tồn tại đến ngày nay, chẳng những nằm yên trong sử sách, trong các tác phẩm mỹ thuật (điêu khắc, hội họa, trang trí), mà còn múa bay, bay lượn một cách sống động và hấp dẫn trong các lễ hội dân gian.
Con rồng Việt đã ra đời từ thời Hồng Bàng với truyền thuyết "Con Rồng cháu Tiên" chứa đầy huyền thoại. Ẩn phục mấy ngàn năm, nó bay lên vào năm 1010 vào đầu đời Lý, rồi đi theo con đường phát triển của dân tộc trong gần 1000 năm nay để sinh ra một đàn 9 con chung sống trên vùng đồng bằng Cửu Long ở Nam Bộ. Cuộc đời của con rồng Việt cũng lâu dài và sức sống của nó cũng mãnh liệt như chính lịch sử tiến hóa của dân tộc.
Từ con rồng là một biểu trưng cho nguồn cội của giống nòi, nó hóa thân thành một hình tượng của quyền lực tối cao trong thiên hạ: ông vua. Yết kiến "long nhan" không phải nhìn thấy "mặt rồng" mà là được gặp con người đứng trên trăm họ. Vua và rồng như hình với bóng. Hình ảnh con rồng đã được các triều đại quân chủ Việt Nam từ thời Lý đến thời Nguyễn dùng để trang trí trên các công trình kiến trúc cung đình từ Thăng Long thuở ấy đến Cố đô Huế hiện nay.
Khi thấy dân chúng bắt chước hình ảnh con rồng để tô vẽ, đắp nối, khắc chạm tại các công trình kiến trúc trong dân gian như nhà ở, đình chùa, miếu mạo, thì triều đình cấm không làm rồng đầy đủ cả 5 móng và tô điểm đẹp đẽ như rồng của vua. Trước luật lệ khắt khe đó, họ lại làm rồng từ 4 móng trở xuống với hình thức đơn giản hơn, nhưng vẫn là rồng. Con rồng phổ biến trong dân gian tuy đơn giản, nhưng vô cùng linh hoạt và bay bướm. Nhiều vật thể đã được người nghệ sĩ tài hoa cách điệu hóa thành rồng để đáp ứng yêu cầu thẩm mỹ và thỏa mãn ước vọng thăng hoa của nội tâm lãng mạn. Một đóa hoa, một nhành lá, một cành mai, một thân trúc, một gốc tre đều có thể kiểu thức hóa thành rồng với hàng trăm mô-típ trang trí tuyệt vời.
Nhưng con rồng không phải chỉ dùng để trang trí, nó còn chứa đựng ý nghĩa sâu xa trong sinh hoạt đời thường của người Việt: biểu tượng cầu mưa, ước mong phồn thực. Từ thuở xa xưa, nhân dân ta sống chuyên về nghề trồng lúa nước. Đã làm ruộng nước thì cần phải có mưa thuận gió hòa. Đối với nông dân trong mấy ngàn năm qua, hiện tượng cơn lốc cuốn nước ngoài biển khơi là hình ảnh con rồng thò đầu xuống đại dương uống nước để lên trời làm mưa tưới tắm ruộng đồng. Bất cứ thời nào, mưa cũng là một nhu cầu thiết yếu, một điều kiện sống còn đối với nông nghiệp.
Hơn 90% người Việt sống bằng nghề nông. Chính các vua chúa ngày xưa cũng xem nghề nông là "bản nghệ" (nghề gốc, nghề chính, nghề quan trọng nhất trong nước), thương nghiệp chỉ là "mạt nghệ" (nghề ngọn). Cho nên, dù được trang trí ở đâu (trong cung đình, ngoài dân gian) và bất cứ thời đại nào (Lý, Trần, Lê, Nguyễn), hình ảnh con rồng vẫn luôn luôn đi kèm với mây trời và sóng nước. Do vậy, con rồng đã trở thành phúc thần của người làm ruộng là một điều tất yếu, và trở nên bản mệnh của người làm vua cũng là một lẽ tất nhiên.
Người xưa cũng đã thường xem con rồng là một linh vật. Nó đứng đầu trong "tứ linh" như đã thấy. Qua ca dao, người bình dân Việt Nam quan niệm con rồng như là một hình ảnh đẹp, có giá trị về cả thể chất lẫn tinh thần. Nó cũng thuộc về loài vật, nhưng là loài vật cao cấp nhất. Có nhiều câu ca dao đã sử dụng hình tượng con rồng để nói bóng về một con người cao sang hay một cái gì đáng quí:
- Trứng rồng lại nở ra rồng
Liu điu lại nở ra giòng liu điu
- Một ngày dựa mạn thuyền rồng
Còn hơn muôn kiếp ở trong thuyền chài
- Dẫu ngồi cửa sổ chạm rồng
Trăm khôn nghìn khéo không chồng cũng hư
Tuy nhiên, đối với dân ta, con rồng không phải luôn luôn là một thực thể bất khả xâm phạm. Có khi người ta dùng hình ảnh nó như một thứ để giễu cợt, mỉa mai kẻ bất chính, không có thực tài mà cao ngạo:
Rồng nằm bể bắc phơi râu,
Đến khi nước cạn hở đầu hở đuôi
Trẻ con cũng đem hình ảnh con rồng ra để dùng vào trò chơi đố:
Đầu rồng đuôi phụng le te,
Mùa xuân ấp trứng, mùa hè nở con
(Cây cau)
Từ một con vật trong huyền thoại của nền văn minh nông nghiệp xa xưa (Long của Trung Hoa, Makara của Ấn Độ, Rồng của Việt Nam), nó đã được đưa vào nằm trong cổ thư. Rồi từ chữ nghĩa trong sách vở, con rồng lại bò ra khỏi trang giấy để hiện hình trên các công trình kiến trúc, rồi đi vào trong đời sống văn hóa, xã hội và tâm thức của nhân dân ta. Con rồng chẳng những là biểu tượng của sự cao quý và quyền lực, mà còn là hình ảnh quen thuộc và gần gũi trong đời sống dân dã. Trong văn hóa truyền thống của người Việt, có lẽ không có một con vật nào mà chức năng đã được biến hóa một cách linh hoạt bằng con rồng.
Phan Thuận An
(Theo Tapchisonghuong.com)
Năm: Hết một vòng 60 năm từ giáp tý đến quí hợi. Từ năm thứ 61 trở lại giáp tý, năm thứ 121,181 ... cũng trở lại giáp tý. Đó là một điều trở ngại cho việc nghiên cứu sử, nếu không ghi chiều vua nào thì rất khó xác định. Một gia đình có ông và cháu cùng một tuổi, có khi tính tuổi cháu nhiều hơn tuổi ông, vậy nên khi tình thành dương lịch cần phải chú ý cộng trừ bội số của 60. Con số cuối cùng của năm dương lịch ứng với các can:
0: canh (ví dụ canh tý 1780)
2: nhâm
3: quí
4: giáp
5; ất (ví dụ ất dậu 1945)
6: bính
7: đinh
8: mậu
9: Kỷ
| Chi/ can | giáp | ất | Bính | Đinh | Mậu | Kỷ | Canh | Tân | Nhâm | Quí |
| Tý | 04 | 16 | 28 | 40 | 52 | |||||
| Sửu | 05 | 17 | 29 | 41 | 53 | |||||
| Dần | 54 | 06 | 18 | 30 | 42 | |||||
| Mão | 55 | 07 | 19 | 31 | 43 | |||||
| Thìn | 44 | 56 | 08 | 20 | 32 | |||||
| Tỵ | 45 | 57 | 09 | 21 | 33 | |||||
| Ngọ | 34 | 46 | 58 | 10 | 22 | |||||
| Mùi | 35 | 47 | 59 | 11 | 23 | |||||
| Thân | 24 | 36 | 48 | 00 | 12 | |||||
| Dậu | 25 | 37 | 49 | 01 | 13 | |||||
| Tuất | 14 | 26 | 38 | 50 | 02 | |||||
| Hợi | 15 | 27 | 39 | 51 | 03 |
| Số | Ngày tháng năm | Ngũ hành | Tuổi xung khắc |
| 1 | Giáp tý | Vàng trong biển (Kim) | mậu ngọ, nhâm ngọ, canh dần, canh thân |
| 2 | ất sửu | Kỷ mùi, quí mùi, tân mão, tân dậu | |
| 3 | Bính dần | Lửa trong lò (Hoả) | Giáp thân, nhâm thân, nhâm tuất, nhâm thìn |
| 4 | Đinh mão | ất dậu, quí dậu, quí tị, quí hợi | |
| 5 | Mậu thìn | Gỗ trong rừng (Mộc) | Canh tuất, bính tuất |
| 6 | Kỷ tị | Tân hợi, đinh hợi | |
| 7 | Canh ngọ | Đất ven đường (Thổ) | Nhâm tý, bính tý, giáp thân, giáp dần |
| 8 | Tân mùi | Quí sửu, đinh sửu, ất dậu, ất mão | |
| 9 | Nhâm thân | Sắt đầu kiếm (Kim) | Bính dần, canh dần, bính thân |
| 10 | Quí dậu | Đinh mão, tân mão, đinh dậu | |
| 11 | Giáp tuất | Lửa trên đỉnh núi (hoả) | Nhâm thìn, canh thìn, canh tuất |
| 12 | ất hợi | Quí tị, tân tị, tân hợi | |
| 13 | Bính tý | Nước dưới lạch (Thuỷ) | Canh ngo, mậu ngọ |
| 14 | Đinh Sửu | Tân mùi, kỷ mùi | |
| 15 | Mậu dần | Đất đầu thành (Thổ) | Canh thân, giáp thân |
| 16 | Kỷ mão | Tân dậu, ất dậu | |
| 17 | Canh thìn | Kim bạch lạp (Kim) | Giáp tuất, mậu tuất, giáp thìn |
| 18 | Tân tị | ất hợi, kỷ hợi, ất tị | |
| 19 | Nhâm ngọ | Gỗ dương liễu (Mộc) | Giáp tý, canh ty, bính tuất, bính thìn |
| 20 | Quí mùi | ất sửu, tân sửu, đinh hợi, đinh tị | |
| 21 | Giáp thân | Nước trong khe (Thuỷ) | Mậu dần, bính dần, canh ngọ, canh tý |
| 22 | ất dậu | Kỷ mão, đinh mão, tân mùi, tân sửu | |
| 23 | Bính tuất | Đất trên mái nhà (Thổ) | Mậu thìn, nhâm thìn, nhâm ngọ, nhâm tý |
| 24 | Đinh hợi | Kỷ tị, quí tị, quí mùi, quí sửu | |
| 25 | Mậu tý | Lửa trong chớp (Hoả ) | Bính ngọ, giáp ngọ |
| 26 | Kỷ sửu | Đinh mùi, ất mui | |
| 27 | Canh dần | Gỗ tùng Bách (Mộc) | Nhâm thân, mậu thân, giáp tý, giáp ngọ |
| 28 | Tân mão | Quí dậu, kỷ dậu, ất sửu, ất mùi | |
| 29 | Nhâm thìn | Nước giữa dòng (Thuỷ) | Bính tuất, giáp tuât, bính dần |
| 30 | Quí tị | Đinh hợi, ất hợi, đinh mão | |
| 31 | Giáp ngọ | Vàng trong cát (Kim) | Mậu tý, nhâm tý, canh dần, nhâm dần |
| 32 | ất mùi | Kỷ sửu, quí sửu, tân mão, tân dậu | |
| 33 | Bính thân | Lửa chân núi (Hoả) | Giáp dần, nhâm thân, nhâm tuất, nhâm thìn |
| 34 | Đinh dậu | ất mão, quí mão, quí tị, quí hợi | |
| 35 | Mậu tuất | Gỗ đồng bằng (Mộc) | Canh thìn, bính thìn |
| 36 | Kỷ hợi | Tân tị, đinh tị. | |
| 37 | Canh tý | Đất trên vách (Thổ) | Nhâm ngọ, bính ngọ, giáp thân, giáp dần |
| 38 | Tân sửu | Quí mùi, đinh mùi, ất dậu, ất mão | |
| 39 | Nhâm dần | Bạch kim (Kim) | Canh thân, bính thân, bính dần |
| 40 | Quí mão | Tân dậu, đinh dậu, đinh mão | |
| 41 | Giáp thìn | Lửa đèn (Hoả) | Nhâm tuất, canh tuất, canh thìn |
| 42 | ất tị | Quí hợi, tân hợi, tân tị | |
| 43 | Bính ngọ | Nước trên trời (thuỷ) | Mậu tý, canh tý |
| 44 | Đinh Mùi | Kỷ sửu, tân sửu | |
| 45 | Mậu thân | Đất vườn rộng (Thổ) | Canh dần, giáp dần |
| 46 | Kỷ dậu | Tân mão, ất mão | |
| 47 | Canh Tuất | Vàng trang sức (Kim) | Giáp thìn, mậu thìn, giáp tuất |
| 48 | Tân hợi | ất tị, kỷ tị, ất hợi | |
| 49 | Nhâm tý | Gỗ dâu (Mộc) | Giáp ngọ, canh ngọ, bính tuất, bính thìn |
| 50 | Quí sửu | ất mùi, tân mùi, đinh hợi, đinh tỵ | |
| 51 | Giáp dần | Nước giữa khe lớn (Thuỷ) | Mậu thân, bính thân, canh ngọ, canh tý |
| 52 | ất mão | Kỷ dậu, đinh dậu, tân mùi, tân sửu | |
| 53 | Bính thìn | Đất trong cát (Thổ) | Mậu tuất, nhâm tuất, nhâm ngọ, nhâm tý |
| 54 | Đinh tị | Kỷ hợi, quí hợi, quí sửu, quí mùi | |
| 55 | Mậu ngọ | Lửa trên trời (Hoả) | Bính tý, giáp tý |
| 56 | Kỷ mùi | Đinh sửu, ất sửu | |
| 57 | Canh Thân | Gỗ thạch Lựu (Mộc) | Nhâm dần, mậu dần, giáp tý, giáp ngọ |
| 58 | Tân dậu | Quí mão, kỷ mão, ất sửu, ất mùi | |
| 59 | Nhâm tuất | Nước giữa biển (Thuỷ) | Bính thìn, giáp thìn, bính thân, bính dần |
| 60 | Quý hợi | Đinh tị, ất tị, đinh mão, đinh dậu |
1. Màu sắc tương ứng của ngũ hành - Kim: hệ thống màu trắng - Mộc: hệ thống màu lục - Thủy: hệ thống màu đen - Hỏa: hệ thống màu đỏ - Thổ: hệ thống màu vàng
2. Cách để chọn màu phù hợp với bản thân Con người ngay từ khi sinh ra đã được quyết định bởi trạng thái ngũ hành giống như con giáp, điều này không thể thay đổi được. Và màu sắc quyết định vận mệnh cũng giống như tuổi cầm tinh cho biết cuộc sống một đời người. Trạng thái ngũ hành có mối liên hệ mật thiết đối với màu sắc, có thể sử dụng màu sắc cải thiện vận mệnh, bổ sung hoặc tiết chế ngũ hành, . Ví dụ trong Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, bạn thiếu nguyên tố Kim có nghĩa là màu trắng tốt cho bạn; nếu bạn thừa nhiều yếu tố Thổ thì nên tránh màu vàng. Vậy nên, muốn biết bản thân hợp màu nào, kỵ màu nào thì cần phải biết mệnh lý ngũ hành. Màu sắc là một trong những yếu tố ảnh hưởng thị giác và cảm giác lớn. Trang trí nhà cửa sao cho màu sắc hài hòa và hợp phong thủy là điều mà bất cứ gia chủ nào
4. Ý nghĩa của màu sắc - Màu trắng: ngay thẳng, thuần khiết, đoan trang, chính trực, trẻ trung. - Màu đen: thanh liêm, nghiêm trọng, nghiêm túc, hào sảng, cô đơn. - Màu đỏ: vĩ đại, nhiệt tình, cương trực, vui mừng, đáng sợ, nguy hiểm. - Màu lục: lỗ mãng, cố chấp, quái đản, giả dối, đố kỵ, thanh xuân. - Màu hồng: thông minh, hoạt bát, đáng yêu, thiếu nữ, phong lưu, lãng mạn, hoang đường, diêm dúa, dâm đãng, ngả ngớn. - Màu lam: thanh xuân, nhanh nhạy, phấn chấn, đứng đắn, nghĩa khí, nhẹ nhàng, cô đơn, yên tĩnh, khoan dung, thuỳ mị. - Màu tím: nghiêm nghị, cẩn trọng, nhẫn nại, quyết đoán, thanh cao, thần bí. - Màu xám: bất định, ba phải, lạnh nhạt, bình tĩnh. - Màu tím nhạt: tốt đẹp, thanh tú, dịu dàng, dễ chịu. - Màu xanh lá: trí tuệ, yên tĩnh, trầm mặc, điềm tĩnh. Mỗi màu sắc trong phong thủy đều có ưu điểm và khuyết điểm, nên dù có tốt, có hợp ngũ hành, vượng phong thủy thì cũng không nên sử dụng quá mức, bởi quá vượng tất suy. Cũng như, không phải vì ngũ hành khắc chế mà tuyệt đối không bao giờ dùng tới màu sắc đó nữa. Quan trọng là tiết chế, hợp lý và hài hòa.
Chi Nguyễn (Theo 14944)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Đoan Trang(##)
Cung Điền Trạch nằm ở phần giữa lông mày và mắt, chính là phần thể hiện tài sản, đất đai, hoàn cảnh gia đình và danh vọng của mỗi người.

Cung Điền Trạch tốt: Nếu người có mi mắt trên đầy đặn, cao rộng, thanh tú, không có vết sẹo, không có nốt ruồi được coi là tướng Điền Trạch tốt. Người này được thừa hưởng gia sản. Họ coi trọng đời sống tinh thần, có tính cách trung thực, thẳng thắn và tấm lòng nhân hậu. Họ gây được thiện cảm và nhận được sự giúp đỡ của khá nhiều người.

Người tướng này có sức khỏe dồi dào, cuộc sống gia đình rất hạnh phúc, đời sống vợ chồng hòa hợp, con cái trưởng thành. Nếu làm nghề liên quan đến điện ảnh, nghệ thuật, họ dễ trở thành người nổi tiếng.

Cung Điền Trạch xấu: Người có tướng cung Điền Trạch xấu là người có mi mắt trên lõm sâu hoặc nhỏ hẹp (rộng chưa bằng chiều ngang ngón tay) hoặc có sẹo hay nốt ruồi. Chủ nhân thường có bệnh về đường tiêu hóa hoặc gene di truyền không tốt.

Ngoài ra, người có tướng Điền Trạch không tốt thì dù có ý chí phấn đấu nhưng cuộc sống của họ cũng không được suôn sẻ, nhân duyên trắc trở; tính tình nôn nóng, vội vàng nên rất dễ dẫn đến hỏng việc, tuy có tài trí hơn người nhưng phẩm hạnh và đạo đức vẫn còn nhiều hạn chế. Họ không được hưởng gia sản của cha ông để lại, thời thanh niên gặp nhiều trắc trở trên con đường công danh.

Cuộc sống gia đình của người này không được bình yên, họ có thể phải sống xa gia đình từ rất sớm. Màu sắc của cung Điền Trạch u tối cho thấy chủ nhân là người không trung thực; trong gia đình thường có chuyện không vui. Họ cũng là người khó hòa hợp trong đời sống vợ chồng.

Cung Điền Trạch quá rộng: Những người có mi trên quá rộng (rộng hơn 2 ngón tay đặt ngang) là người có tướng phú quý.

Họ là người hiểu biết, có tầm nhìn xa trông rộng, tính tình phóng khoáng, hài hước, có tấm lòng nhân từ, bao dung và độ lượng. Đây cũng là người có số trường thọ.

Tuy nhiên, những người có cung Điền Trạch quá rộng thường là người không có chí tiến thủ, không có chính kiến, không có khả năng tính toán và quản lý tiền bạc, thích mơ mộng hão huyền.

Họ thường thiếu tự tin trong đối nhân xử thế và trong công việc. Tướng nữ giới kỵ cung Điền Trạch quá rộng vì người có tướng này thường khá kiêu căng.
Để vua chúa xuống dưới âm cung có người hầu hạ, tục ta không chôn người sống mà dùng hình nộm làm bằng tre nứa, quấn bằng rơm rạ hoặc nhào nặn bằng đất sét, ngoài dán giấy làm quần áo rồi vẽ mặt mũi, sau đó khi tế lễ xong thì đốt hình nhân đó cùng với vàng mã.
Nếu lễ thuỷ thần, long vương, hà bá thì làm thuyền bằng giấy kết trên thân cây chuối rồi đặt hình nhân vào thuyền và thả trôi sông. Có người nghe theo lời bói toán nhảm nhí sắp đến vận hạn bị hung thần quỷ dữ bắt, phải nhờ thầy cúng làm lễ, đốt hình nhân thế mạng. Có người vì mối tư thù nhưng yếu thế không trả thù được bèn nghĩ cách làm hình nhân rồi đề tên họ, huý, hiệu của kẻ thù vào trước ngực hình nhân, cắm ở ngã ba, ngã tư đường cái, thắp hương cắm lên đầu hình nhân để nhờ thần linh bắt tội người đó.
Đây là một tập tục chứa đầy tính chất mê tín, dị đoan đã bị đả phá, bãi bỏ từ đầu thế kỷ. Chính quyền phong kiến đã ra lệnh cấm hủ tục này. Kẻ nào cố tình vi phạm, nếu phát hiện được sẽ bị phạt nặng. Địa phương nào để những tục đó xảy ra, nếu phát hiện được thì lý trưởng nơi đó bị cách chức. Thế mà ngaỳ nay, chúng tôi thấy hủ tục này lại có cơ phát triển, cho nên việc bài trừ hủ tục nhảm nhí này là cần thiết, phù hợp với việc xây dựng nền văn.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Yến Nhi (##)