Trên con đường học-hỏi, nghiên cứu về khoa tử-vi tôi được một điều may-mắn là hay gặp những vị cao-thâm và dày kinh-nghiệm về khoa này cho nên tôi đã thâu lượm được những điều hay lạ do các vị chỉ dẫn, mà nay tôi xin cống hiến quý vị bạn qua nhiều bài với niềm hi vọng khoa tử vi không bị thất truyền quá nhiều
Lọat bài này liệt kê tất cả đều do nhiều vị “sư” tử vi trao lại cho nên không có hệ thống (như vậy lại đúng với đường lối “tạp ghi của tôi). Nhưng tôi tin chắc quý bạn vẫn thấy lý thú và lãnh hội được mau lẹ hơn.
1. Vai trò của các hàng Can trong câu phú
Chắc quý bạn ai cũng đều biết câu phú: “Tử Vi cư Ngọ vô Hình Kỵ, Giáp Đinh Kỷ vị chí công khanh”, và ai cũng hiểu nghĩa câu phú này đồng thời thấy dễ áp dụng. nhưng nếu ai hỏi quý bạn tại sao chỉ có các tuổi Giáp, Đinh, Kỷ mới được hưởng cách này thì chắc quý bạn sẽ lung túng. Thực ra các vị uyên thâm tử vi đều giải thích được cả vì trong các sách tử vi của người Tàu cũng có đề cập tới. Điểm này tuy khó nhưng nếu được nghe giải thích quý bạn sẽ thấy giản dị vô cùng. Có nhiều người đóan mò cứ cho rằng nêu ra hàng Can tức liên quan đến ngũ hành sinh khắc chế hóa, nhưng thực ra hàng can được nêu ra chỉ nằm mục đích nói tới cách bố cục của một số sao, nhất là Khoa, Quyền, Lộc và Lộc Tồn vì các sao này được xem là nhóm sao bổ túc tối cần thiết cho cách đã nêu ra trong câu phú (trong trường hợp này là Tử Vi cư Ngọ).
Bây giờ hẳn quý bạn đã hiểu sơ qua về lý do tại sao có hàng Can trong câu phú, và tôi xin bàn trực tiếp đến câu phú trên cho quý bạn hiểu rõ rang. Điều cần nhất là quý bạn phải nhớ cách bố cục của các chính tinh. Nghĩa là khi Mệnh có Tử Vi cư Ngọ thì phải nhớ Liêm Trinh, Thiên Phủ đồng cung tại cung Tuất (tức là cung Quan Lộc), Vũ Khúc, Thiên Tướng tại Dần (tức là cung Tài Bạch), Tham Lang cư Tý (tức là cung Thiên Di), và sau hết là Phá Quân cư Thân (tức là cung Phúc Đức). Quý bạn chỉ cần nhớ các chính tinh tại những cung chiếu về Mệnh và tại cung Phúc là đủ, nếu nhớ thêm các cung khác thì hơi mệt óc một chút mà lại không liên hệ gì đến cách đóan. Có nhớ được như vậy thì mới hiểu được mau lẹ cách bố cục của các nhóm sao bổ túc kể trên vì các sao này luôn an theo các chính tinh. Như tuổi Giáp an Hóa Lộc đồng cung với Liêm Trinh (cung Quan), Hóa Khoa đồng cung với Vũ Khúc (cung Tài), Hóa Quyền đồng cung với Phá Quân (cung Phúc); riêng Lộc Tồn tuy không an theo chính tinh nhưng vì ảnh huởng của sao này rất quan trọng nên phải chú ý, và trong trường hợp tuổi Giáp thì Lộc Tồn an tại Dần, đồng cung với Vũ Tướng và Hóa Khoa. Qua cách bố cục trên quý bạn thấy rằng Tử Vi đã hội đủ Tam Hóa và Lộc Tồn như vậy có đáng làm “công khanh” hay chưa? Nhất là không được gặp Hình Kỵ lại càng chắc ăn nữa, như trong câu phú đã ấn định. Về sao Hóa Quyền đồng cung với Phá Quân tại cung Phúc Đức quý bạn phải hiểu rằng cũng thuộc về mình vì cung Phúc Đức rất quan trọng cho mình. Ngòai ra, ta còn phải kể tới các sao Tướng Quân, Quốc Ấn nữa vì khi Lộc Tồn an tại Dần thời đối với tuổi Giáp đương nhiên Tướng Quân phải đồng cung với Tử Vi ở Ngọ và Quốc Ân sẽ tọa thủ tại Tuất (cung Quan), và khi Tướng Quân ở Ngọ, Phục Binh ắt phải ở cung xung chiếu, tức là được cách “nội tướng ngọai binh” là cách chỉ huy. Các bạn nên ghi nhớ thêm là tất cả các tuổi Giáp (như Giáp Tý, Giáp Ngọ, Giáp Dần, Giáp Thân…) nếu áp dụng cho đàn ông thời đương nhiên là Dương Nam và do đó Tướng Quân phải cư Ngọ trong trường hợp trên. Nếu là Dương Nữ chăng nữa thì Tướng Quân lại lọt vào cung Quan, như thế vẫn trực tiếp “phục vụ” cho Tử Vi cư Ngọ. Nói tóm lại, quý bạn hẳn nhận thấy cách trên đã hội đủ gần hết những yếu tố cần thiết cho Tử Vi cư Ngọ trong khi các tuổi khác không thể nào được như vậy. Tỷ dụ như tuổi Ất chẳng hạn chỉ được mỗi Hóa Khoa đồng cung với Tử Vi, còn Quyền Lộc chạy sang các cung khác, hơn nữa còn có khuyết điểm nặng nề là có Triệt án ngữ tại Ngọ-Mùi vì Tử Vi sợ nhất Triệt và nguy hại hơn nữa là Tướng Quân ngộ Triệt (mà Triệt lại lại chặn đầu nữa!) (Đối với các tuổi khác, quý bạn cứ việc suy luận theo như trên là hiểu ngay).
Qua thí dụ trên đây, quý bạn thấy rõ là các câu phú thật là súc tích và do đó các nhà tử vi điêu luyện nhiều khi chỉ bấm sơ trên tay là đóan được liền. Đối với những người có óc thực tế họ chẳng nhớ câu pú mà cứ nhắm vào các sao bổ túc kể trên để phối hợp với các chính tinh, nhưng như thế cần phải có sẵn lá số trước mặt chứ không thể bấm trên tay mau lẹ được.
2. Cách bố cục của các sao
Trong mục này tôi không chỉ dẫn về cách an sao mà trong các sách tử vi đều có. Tôi chỉ muốn nhấn mạnh đến vấn đề phải nhớ đến hệ thống cố định của các sao, nhất là của các chính tinh, nghĩa là khi thấy các sao này ở cung Mệnh là đương nhiên sao nọ ở cung Quan, cung Thê v.v… Mục này khác với mục trên ở điểm là không phải chú trọng đến các nhóm sao bổ túc mà phải lưu ý đến các chính tinh cùng những sao an theo hệ thống cố định (tỷ dụ như có Hoa Cái ở Mùi thì đương nhiên Thiên Mã ở Tỵ, có Tang Môn ở Mệnh là đương nhiên có Thái Tuế ở cung Thê hoặc Phu v.v…). Có nhớ được như thế quý bạn mới hiểu được dễ dàng những điều tôi sẽ trình bày sau đây.
Tôi còn nhớ Cụ Song An Đỗ Văn Lưu (tác giả cuốn Tử Vi Chỉ Nam) khi còn sinh tiền có kể cho tôi nghe là Cụ thường thi đua với các nhà tử vi lành nghề về phương diện an sao cho nhanh và chính xác, và tất cả những nhà tử vi dự cuộc thi đặt điều kiện là phải an từng cung cho xong mới được qua các cung khác, chứ an theo cách đếm thường lệ thì rất dễ dàng. Tôi nêu ra chuyện này không phải đề cao Cụ Đỗ Văn Lưu vì thực ra Cụ đóan tử vi cũng chẳng giỏi gì, mà chỉ muốn nói rằng việc an sao như vậy rất có lợi cho cách đóan tử vi, nhất là khi muốn bấm bằng tay. Thực thế, khi quý bạn vừa nói với thầy tử vi là mạng quý bạn có Liêm Sát chẳng hạn, nếu thấy ông thầy đóan ngay lập tức là người vợ quý bạn đàng hòang, trung hậu, đảm đang thì bạn có phục và ngạc nhiên hay không? Nhưng nếu bạn nhớ cách bố cục cố định thì quý bạn cẳhng cho là lạ chút nào, vì khi cung Mệnh có Liêm Sát thời đương nhiên cung Thê có Thiên Tướng là sao có những đặc tính nêu trên, dù cho có gặp những sao khác chế hóa đi, cũng chỉ sai lệnh chút ít mà thôi.
Tôi xin nếu thêm một ví dụ khác nữa nếu biết cung mạng của quý bạn có Tang Môn ở bất cứ vị trí nào là tôi có ngay một khái niệm hạnh phúc lứa đôi của bạn, nghĩa là tôi đã biết sơ sơ là vợ chồng bạn (trường hợp có gia đình rồi) nương tựa lẫn nhau trên đường đời tuy hơi khắc khẩu.
Tại sao vậy? Cũng suy luận như trên khi mạng có Tang Môn thì cung Phối pảhi có Thái Tuế là sao hay cãi cọ, khẩu thiệt, nhưng cũng nói lên là sao nương tựa lẫn nhau vì tuổi mình ẩn trong sao đó (Thái Tuế an theo tuổi) và như vậy cung Thê phải đóng tại cung tuổi mình, tức là cách truyền cung mà tôi đã khen trong bài “Hạnh phúc vợ chồng qua cung Phối” đã đang trên KHHB. Nếu ngược lại, quý bạn cho tôi biết là cung Thê của quý bạn có Thái Tuế là tôi biết ngay quý bạn có tính đa nghi, hay hờn dỗi, ưa nghiên cứu kín đáo, có óc tế nhị, học hành dễ bị gián đọan hoặc chậm trễ; đó cũng chỉ vì tôi biết cung Mệnh của quý bạn đương nhiên có Tang Môn tượng trưng cho các tính chất trên.
Để chấm dứt mục này, tôi xin nêu ra một câu phú thong thường để nêu rõ sự cần thíêt về việc ghi nhớ cách bố cục cố định của các chính tinh. Đó là câu “Cự Nhật Dần Thân, quan tam đại”. Tại sao chỉ có cách Cự Nhật này mới được “quan phong tam đại”? Lại cũng suy luận theo cách bố cục của các chính tinh, ta thấy khi Mệnh của mình có Cự Nhật thì đương nhiên cung Ph1uc có Cơ Lương (ở Thìn hoặc Tuất) và cung Tử Tức có Thiên Phủ. Như thế phải 3 đời làm quan không? Cung Phúc có Cơ Lương ở Thìn Tuất thì ông cha của ta phải có chức phận trong chính quyền; cung Mệnh của ta có Cự Nhật thì chính ta phải làm quan, rồi đến cung Tử Tức có Thiên Phủ thì con cái ta cũng phải là người có công danh trong xã hội, lớn hay nhỏ còn tùy theo các sao khác, nhưng dù sao ta cũng mường tượng được dòng dõi của Cự Nhật rồi.
Trong bài hôm nay tôi mới chỉ tặng quý bạn được vài bông hoa trong rổ hoa tôi đã hái được nơi vườn tử vi và sẽ xin tiếp tục gởi đến quý bạn nhiều lòai hoa khác trong khu vườn tử vi, với điều kiện không bị các vị ‘sư phụ’ tử vi liên hệ ngăn trở vì một lý do nào đó.
Một điểm cần chú ý trong cách cục “vượng Sơn, vượng Hướng" (hay "Đáo Sơn, Đáo Hướng”) này là tuy trên lý thuyết thì các nhà Phong thủy thường coi những nhà có vượng khí
Sau khi đã thiết lập được tinh bàn (hay trạch vận) cho 1 căn nhà thì điều trước tiên là phải xác định được những khu vực nào có sinh –vượng khí, cũng như những khu vực nào có suy - tử khí của căn nhà đó. Điều này cũng rất dễ dàng, vì chỉ cần căn cứ vào thời điểm lúc đang coi Phong thủy cho căn nhà là thuộc vận nào, rồi lấy vận đó làm chuẩn mốc. Kế đó nhìn vào hết 9 cung của trạch bàn.
Hễ thấy cung nào có Hướng tinh cùng 1 số với đương Vận (tức vận hiện tại) thì khu vực đó được xem là có VƯỢNG KHÍ. Những cung nào có 2 số tiếp theo sau vượng khí thì được xem là có SINH KHÍ. Những cung nào có số trước số của vượng khí thì bị coi là có SUY KHÍ. Còn những cung nào có những số trước vượng khí từ 2 số trở lên thì đều bị coi là có TỬ KHÍ. Những điều này được áp dụng cho cả Hướng tinh lẫn Sơn tinh, còn Vận tinh thì không mấy quan trọng nên không cần phải xét tới.
Thí dụ 1: Nhà tọa TÝ hướng NGỌ, xây xong và vào ở trong vận 8.
Nếu lập trạch vận thì sẽ thấy Hướng tinh 8 tới phía NAM, nên phía NAM được xem là đắc VƯỢNG KHÍ (vì hướng tinh cùng 1 số với đương Vận, tức Vận 8). Còn phía ĐÔNG BẮC có hướng tinh số 9, phía TÂY có hướng tinh số 1, tức là 2 số tiếp theo sau số 8 (vì sau 8 là 9, sau 9 lại trở về 1) nên là 2 khu vực có SINH KHÍ. Còn phía BẮC có hướng tinh số 7, trước số 8 (đương vận) 1 số nên là khu vực có SUY KHÍ. Những phía còn lại có những hướng tinh 6, 5, 4, 3, 2, tức là những số trước số 8 tối thiểu là 2 số nên đều là những khu vực có TỬ KHÍ. Đó là mới chỉ xét về Hướng tinh. Sau đó lần lượt làm như vậy với Sơn tinh để tìm ra những khu vực có Sinh- Vượng khí hay Suy-Tử khí.
Thí dụ 2: Cũng nhà tọa TÝ hướng NGỌ, xây xong và vào ở năm 2000 (tức vận 7).
Đến năm 2007 mới coi Phong thủy. Vì nhà còn mới, chưa tu sửa gì nhiều, chủ nhà cũng chưa bao giờ đi xa quá 1 tháng, cho nên khi lập trạch vận thì vẫn phải dùng Vận 7 để lập Vận bàn. Sau đó lấy Tọa, Hướng bàn thì sẽ thấy Hướng tinh 7 tới phía BẮC, Hướng tinh 8 tới phía TÂY NAM. Hướng tinh 9 tới phía ĐÔNG, Hướng tinh 1 tới phía ĐÔNG NAM. Vì nhà này nhập trạch trong vận 7, nên lúc đó phía BẮC có Hướng tinh số 7, nên là 1 khu vực tốt (đắc VƯỢNG KHÍ). Còn phía ĐÔNG NAM có Hướng tinh số 1, lúc đó trong Vận 7 còn là Tử khí nên là 1 khu vực xấu. Nhưng đến năm 2007 mới coi Phong thủy thì đã qua Vận 8, nên lúc đó khu vực phía BẮC có số 7 là bị SUY KHÍ, nên đã biến thành xấu. Còn khu vực phía TÂY NAM có hướng tinh số 8, lúc này đã trở thành VƯỢNG KHÍ, nên là khu vực tốt nhất của căn nhà. Rồi Hướng tinh số 1 đang là TỬ KHÍ của vận 7 trở thành SINH KHÍ của vận 8, nên khu vực phía ĐÔNG NAM cũng đang từ xấu mà biến thành tốt.
Cho nên sự biến đổi của Sơn, Hướng tinh: từ Sinh-Vượng thành Suy-Tử, rồi từ Suy-Tử trở thành Sinh-Vượng là điều mà người học Huyền Không cần để ý, và nó cũng là 1 trong những yếu tố giúp cho việc giải đoán Phong thủy thêm phần linh hoạt và uyển chuyển, chính xác hơn.
Sau khi đã phân biệt Cửu khí thành SINH-VƯỢNG-SUY-TỬ cho mỗi vận thì mới xét tới mức độ ảnh hưởng của chúng như sau:
- SINH KHÍ: có tác dụng tốt, tuy ảnh hưởng lâu dài và trong tương lai, nhưng cũng cần được phát huy.
- VƯỢNG KHÍ: có tác dụng tốt đẹp và mau chóng, nhất là trong lúc còn đương vận, cho nên cần được phát huy càng sớm càng tốt.
- SUY KHÍ: vì chỉ là khí suy nên tác dụng cũng chưa đến nổi xấu lắm (ngoại trừ các khí 2, 5, 7) cho nên tuy cần phải né tránh nhưng cũng không phải là tuyệt đối.
- TỬ KHÍ: là những khí xấu cần phải né tránh, nếu không sẽ có tai họa về nhân sự, sức khỏe hoặc tiền bạc.
Kế đó lại còn phải phân biệt những khí SINH-VƯỢNG-SUY-TỬ đó là Sơn tinh hay Hướng tinh. Nếu là Sơn tinh thì sẽ có ảnh hưởng đến nhân sự (số lượng người nhiều, ít, tài giỏi hay không...trong nhà). Nếu là Hướng tinh thì sẽ có ảnh hưởng đến sức khỏe và tài lộc của gia đình đó.
Trong “Thiên ngọc kinh Ngoại thiên” của Dương công Chẩm có viết: “Sơn quản nhân đinh, Thủy quản tài lộc”. Chữ “Sơn” ở đây không chỉ có nghĩa là “núi”, mà còn là Sơn tinh của 1 trạch vận. Cũng như chữ “Thủy” không chỉ có ý nghĩa là “sông nước”, mà còn là Hướng tinh (do quan niệm phương tọa cần có núi, phía trước cần có thủy). Cho nên Sơn tinh chủ về nhân đinh, còn Hướng tinh chủ về tài lộc.
Vì đã gọi là “Sơn”, nên Sơn tinh nếu muốn phát huy tác dụng (hay đắc cách) thì cần phải có núi cao (hay nhà hoặc cây cao...). Vì đã gọi là “Thủy”, nên Hướng tinh nếu muốn phát huy tác dụng thì cần phải gặp nước (thủy). Nhưng không phải Sơn tinh nào cũng cần phải gặp núi, mà chỉ có những Sơn tinh đang là khí Sinh, Vượng mà thôi. Chẳng hạn như trong vận 1 thì các Sơn tinh 1 (vượng khí), 2, 3 (sinh khí) đóng ở khu vực nào thì cần có núi hay nhà cao ở tại khu vực đó. Có như vậy thì gia đình đó nhân đinh đông đúc, lại chủ xuất hiện người tài giỏi, có danh, có tiếng. Ngược lại, những khu vực có những Sơn tinh là Suy khí hay Tử khí thì lại cần thấp, trống hay bằng phẳng. Nếu tại những khu vực đó mà có núi hay nhà cao... thì sẽ có tai họa về nhân đinh như hiếm người, con cái khó lấy chồng, lấy vợ, hoặc trong nhà xuất hiện cảnh chia ly, góa bụa, cô quả...
Đó chỉ là riêng đối với các trường hợp khí SINH, VƯỢNG, SUY, TỬ của Sơn tinh. Còn đối với các trường hợp của Hướng tinh cũng thế. Tuy rằng Hướng tinh cần có Thủy, nhưng chỉ những khu vực nào có Sinh khí hay Vượng khí của Hướng tinh mới cần có Thủy như sông, hồ, ao, biển hoặc buồng tắm, nhà vệ sinh, đường xá, cửa ra vào... Nếu được như thế thì tài lộc dồi dào, của cải sung túc, công việc làm ăn ổn định... Ngược lại, nếu những khu vực có Suy, Tử khí của Hướng tinh mà lại có “THỦY” thì nhà đó tài lộc túng thiếu, dễ bị hao tán tiền của, công ăn việc làm lụn bại...
Thí dụ: nhà hướng 30 độ, tức tọa MÙI hướng SỬU, vào ở trong vận 8.
Nếu lập Trạch vận thì sẽ thấy các Hướng tinh 8 (Vượng khí), 9, 1 (Sinh khí) ở các khu vực phía ĐÔNG BẮC, TÂY và TÂY BẮC. Cho nên những khu vực này (bên trong hay bên ngoài nhà) cần có thủy của sông hồ, ao biển, buồng tắm, cửa ra vào ... Còn khu vực phía NAM có hướng tinh 7 (Suy khí) nên không nên có thủy, nếu có tất nhà sẽ dễ bị trộm cướp quấy phá. Những khu vực còn lại cũng toàn là Tử khí của Hướng tinh nên đều không nên có thủy hoặc cửa ra vào.
Kế đó lại xét tới những trường hợp của các Sơn tinh. Vì các Sơn tinh số 8 (Vượng khí), 9, 1 (Sinh khí) nằm tại các khu vực phía TÂY NAM, BẮC và NAM, nên nếu những khu vực này mà có núi hay nhà cao... thì nhà này sẽ đông con, nhiều cháu, con cái tài giỏi, nên người... Các khu vực còn lại thì chỉ toàn là Suy khí hay Tử khí của Sơn tinh, nên nếu có núi hay nhà cao tất sẽ làm phương hại tới nhân đinh của căn nhà này.
Sau khi đã biết và phân biệt được những yếu tố trên rồi mới có thề xét tới trường hợp cơ bản đầu tiên của Phong thủy Huyền Không là Vượng sơn, Vượng hướng. Như chúng ta đã biết, Phong thủy bắt đầu từ Hình tượng, rồi sau này mới phát triển lên tới Lý khí và Vận số. Mà Hình tượng phái (tức Loan đầu phái) thường chủ trương nhà cần có núi bao bọc, che chở nơi phía sau (Huyền Vũ), còn phía trước thì cần phải trống thoáng, có sông, hồ phản chiếu ánh sáng để tích tụ Long khí (Chu Tước), đồng thời có cửa ra vào để hấp thụ Long khí. Còn đối với Phong thủy Huyền không thì khi cất nhà phải chọn hướng như thế nào cho Vượng khí của Hướng tinh tới Hướng (tức phía trước), còn Vượng khí của Sơn tinh tới phía sau. Phối hợp giữa Hình tượng với Lý khí (tức phi tinh) thì nhà này sẽ có Vượng khí của Hướng tinh tới phía trước, đắc Thủy của sông hồ, lại có lối ngõ, cửa nẻo vào nhà nên tài lộc đại vượng. Còn Vượng khí của Sơn tinh tới phía sau gặp núi nên chủ vượng nhân đinh, con cháu đông đúc, nhân tài xuất hiện nên là cách cục “phúc lộc song toàn”. Cho nên Vượng Sơn, Vượng Hướng (còn gọi là ĐÁO SƠN, ĐÁO HƯỚNG, vì vượng khí của Sơn tinh tới tọa, vượng khí của Hướng tinh tới hướng) là cách cục cơ bản của Phong thủy và Huyền Không. Những nhà có cách cục như vậy còn được gọi là những nhà có “Châu bảo tuyến” (hướng nhà quý như châu báu). Điểm quan trọng của những trường hợp này là giữa hình thế bên ngoài (Loan đầu) và phi tinh có sự tương phối thích hợp. Ngược lại, nếu 1 căn nhà phía trước cũng có sông hồ, phía sau cũng có núi cao. Nhưng do việc chọn hướng không thích hợp, hoặc do xây dựng không đúng lúc mà khi lập Trạch vận thì Vượng khí của Sơn tinh lại tới hướng (phía trước), còn vượng khí của Hướng tinh lại tới tọa (phía sau) thì tuy hình thế chung quanh của ngôi nhà là tốt, nhưng do không ứng hợp được với phi tinh nên lại chủ phá tài, tổn đinh, tan cửa nát nhà mà thôi. Đây còn gọi là cách cục “Thượng sơn, Hạ thủy” sẽ nói ở 1 phần khác.
Một điểm cần chú ý trong cách cục “vượng Sơn, vượng Hướng" (hay "Đáo Sơn, Đáo Hướng”) này là tuy trên lý thuyết thì các nhà Phong thủy thường coi những nhà có vượng khí của Hướng tinh tới phía trước, còn vượng khí của Sơn tinh tới phía sau nhà là cách cục “vượng Sơn, vượng Hướng”. Nhưng điều quan trọng là ngoại hình bên ngoài của căn nhà (Loan đầu) có phù hợp với vượng khí của Sơn và Hướng tinh hay không? Nếu phù hợp thì mới thật sự là cách cục “vượng Sơn, vượng Hướng”, và nhà mới phát phúc, phát lộc. Còn nếu ngoại hình không phù hợp thì sẽ biến thành cách cục “Thượng Sơn, Hạ Thủy” mà gây ra hung họa đầy dãy. Nhưng thế nào là phù hợp hay không phù hợp? Như chúng ta đã biết, Sơn tinh mà muốn đắc cách thì phải đóng ở những khu vực có núi cao. Còn Hướng tinh mà muốn đắc cách thì phải đóng ở những khu vực có Thủy như sông biển hoặc đường đi hay cửa nẻo ra vào nhà... Cho nên những nhà mà có vượng khí của Hướng tinh tới phía trước thì còn đòi hỏi khu vực phía trước của nhà đó phải trống, thoáng, có thủy hay đường đi, cửa ra vào... Còn vượng khí của Sơn tinh đến phía sau cũng đòi hỏi khu vực phía sau nhà có núi hay nhà cao... Có như thế mới được coi là thật sự đắc cách “Đáo Sơn, Đáo Hướng” mà đinh, tài đều vượng. Ngược lại, nếu như nhà đó có vượng khí của Hướng tinh tới phía trước, nhưng phía trước nhà lại có núi hay nhà cao, hoặc bị gò đất nhô lên, hay bị cây cối rậm rạp, um tùm che chắn... tức là vượng khí của Hướng tinh không gặp “Thủy” mà lại gặp “Sơn”. Còn vượng khí của Sơn tinh tuy tới phía sau, nhưng phía sau nhà lại không có núi hay nhà cao, mà lại có sông, hồ, ao, biển, hoặc cống rãnh..., tức là vượng khí của Sơn tinh không gặp “Sơn” mà lại gặp “Thủy”. Đó đều là những cách cục suy bại về tài lộc và nhân đinh. Cho nên mới nói giữa phi tinh và ngoại hình Loan đầu bên ngoài phải có sự phù hợp là như vậy. Nếu phù hợp thì mới thật sự là “vượng”, và mọi sự mới được tốt đẹp. Còn nếu như trái ngược (tức không phù hợp) thì dù có “vượng” cũng sẽ thành “suy” và phát sinh ra muôn vàn tai họa.
Nghĩ thế là không có từ bi, không có từ bi mà dám nhận nợ của thí chủ, như vậy là ăn gian rồi.
Lâu lắm chúng tôi không có cơ hội về giảng cũng như nhắc nhở sự tu hành cho toàn thể chư Tăng Ni ở khu Đại Tòng Lâm. Hôm nay được ban tổ chức trường hạ Đại Tòng Lâm mời về thăm và nói chuyện với tất cả Tăng Ni và Phật tử nơi đây, tôi liền hoan hỉ chấp nhận.
Vì trước kia Hòa thượng Giám đốc và Phó giám đốc ở Ấn Quang, khi thành lập được khu Đại Tòng Lâm thì chúng tôi có mặt bên cạnh, vâng lời dạy của các ngài phụ giúp phần nào đối với cơ sở này. Giờ đây hai Hòa thượng đã theo Phật, chúng tôi những người còn sót lại tự nhiên cảm thấy bổn phận phải làm sao duy trì gìn giữ ngôi Đại Tòng Lâm này đúng như sở nguyện của hai Hòa thượng.
Tất cả những vị ở Đại Tòng Lâm, hoặc là trường Trung cấp, hoặc là trường Cao cấp, hoặc các Thiền viện do chúng tôi thành lập trong khu vực này đều là Tăng Ni chung của Đại Tòng Lâm, mà cũng là của Phật giáo Việt Nam, chúng ta không thể tách riêng biệt được. Vì vậy khi cần, chúng tôi sẵn sàng đến để nhắc nhở Tăng Ni, Phật tử hiểu biết tu hành cho đúng với chánh pháp.
Mùa an cư này chư Tăng chư Ni về đây an cư là cơ hội tốt để Đại Tòng Lâm càng ngày càng phồn thịnh hơn, sự tu hành càng tinh tiến hơn, đó là điều hết sức quí báu. Vì vậy tôi nghĩ không thể nào chỉ nói suông, tán thán một cách tổng quát như vậy mà cần phải đi sâu vào vấn đề đạo lý, để cho Tăng Ni và tất cả quí vị nghe hiểu có kinh nghiệm thêm trên đường tu hành. Đó mới là điều quí giá. Vấn đề tôi nói hôm nay là hai vấn đề tối hệ trọng của những người tu Phật, đó là trí tuệ và từ bi.
Như chúng ta đã biết đạo Phật là đạo giác ngộ. Đức Phật ngồi thiền định dưới cội bồ-đề mà được giác ngộ. Ngài đi giáo hóa khắp nơi để truyền đạo giác ngộ này. Nhưng sao chúng ta không gọi là đạo giác ngộ mà gọi là đạo Phật. Phật nguyên tiếng Phạn là Buddha, Bud là giác, dha là người. Người giác ngộ đi truyền bá đạo giác ngộ. Nhưng nếu giải nghĩa chữ Phật là giác ngộ thì sợ người ta hiểu lầm. Bởi có những người làm ăn bất chánh không lương thiện, khi có ai nhắc nhở dạy bảo, họ bỏ điều bất chánh trở thành người lương thiện thì người ta sẽ nói anh ấy đã giác ngộ rồi. Giác ngộ đó chỉ có nghĩa là bỏ cái xấu, cái dở để trở thành người tốt thôi. Nếu hiểu đạo Phật theo nghĩa giác ngộ như vậy thì đánh giá quá thấp đạo Phật, làm mất giá trị siêu thoát của đạo Phật. Bởi vậy trong nhà Phật để nguyên từ Phật.
Nói Phật chắc quí vị sẽ có nghi. Tại sao bây giờ chúng ta nói đức Phật mà hồi xưa ông bà tổ tiên chúng ta lại nói là Bụt. Như vậy nói Bụt trúng hay nói Phật trúng? Từ Bụt cho chúng ta thấy đạo Phật được trực tiếp truyền vào Việt Nam từ những vị Sư Ấn Độ. Ngày xưa ở miền Bắc vùng Luy Lâu rất phồn thịnh, các sư người Ấn theo tàu buôn đến đó truyền bá. Các ngài trực tiếp dạy người dân biết đạo Phật, và đức Phật được gọi là Bụt. Bụt nguyên là Bud, đọc trại đi một tí thành Bụt. Đọc Bụt nghe gần hơn, còn đọc Phật nghe xa quá. Vậy đạo Phật có mặt trên đất nước Việt Nam gốc từ người Ấn truyền sang, chớ không phải từ Trung Hoa truyền sang buổi đầu.
Tại sao bây giờ chúng ta đọc là Phật? Ở Trung Hoa từ đời Tống đến đời Minh có in những Tạng kinh dịch từ chữ Phạn, chữ Pali ra chữ Hán rồi tặng cho Việt Nam. Đời Trần được tặng một Tạng kinh và sau này chúng ta cũng có thỉnh thêm những Tạng kinh từ Trung Hoa. Chữ Buddha người Trung Hoa dịch gồm một bên chữ nhân đứng, một bên chữ phất. Như vậy Phật là phát sanh từ chữ Hán mà ta đọc theo âm Việt Nam là Phật hay Phật-đà.
Nói đến đạo Phật là nói đến sự giác ngộ viên mãn tuyệt cùng, chớ không phải sự giác ngộ thông thường của thế gian, vì e người ta hiểu lầm nên để nguyên âm là Phật, chớ không nói là giác ngộ. Giờ đây chúng ta học Phật phải dùng những từ gần thời hiện tại như giác ngộ, trí tuệ để dễ thâm nhập hơn.
Vì vậy chúng ta phải hiểu tường tận gốc của đạo Phật là giác ngộ viên mãn. Nên người tu Phật lúc nào cũng phải thuộc lòng Phật là tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn. Nói đến Phật là nói đến sự giác ngộ viên mãn, tức giác ngộ tròn đầy không thiếu khuyết một góc cạnh nào.
Chúng ta học Phật, tu Phật là tu theo đạo giác ngộ. Mà đạo giác ngộ dĩ nhiên trí tuệ là căn bản không thể nào thiếu được. Người tu theo Phật dù xuất gia hay tại gia cũng phải mở sáng con mắt trí tuệ.
Chúng ta hãy xét lại xem từ ngày phát tâm tu theo Phật đến giờ đã mở sáng trí tuệ được nhiều hay ít? Có người khi nghe đến trí tuệ dường như sợ nên thường xưng Ngu tăng hay Phàm tăng như để nói lên sự khiêm nhường, họ ít nói đến sự giác ngộ.
Mà chưa giác ngộ thì chưa phải tu theo đạo Phật. Ở đây, tôi không nói đến giác ngộ mà chỉ nói trí tuệ. Bởi vì trí tuệ mở màn cho giác ngộ cứu kính.
Chúng ta nhớ lời Phật dạy, người tu phải tự giác và giác tha. Tự giác là mở sáng trí tuệ của mình.
Giác tha là đem trí tuệ đó đánh thức, cảnh tỉnh mọi người cùng giác ngộ. Tự giác là việc của mình. Giác tha là giúp cho người. Giúp cho người là lòng từ bi. Cho nên có giác ngộ rồi mới có từ bi. Chưa giác ngộ mà nói đến từ bi, chỉ là từ bi gượng thôi.
Nếu một vị Tăng đã thấy bổn phận mình phải truyền bá chánh pháp, phải thực hành hạnh từ bi mà không chịu tu, không thức tỉnh, không chịu giác ngộ thì chẳng biết vị ấy sẽ thực hành hạnh từ bi bằng cách nào? Chẳng lẽ chúng ta đi đắp đất, cuốc đường hay hốt rác cho thiên hạ. Từ bi như vậy người phàm tục cũng làm được mà. Vậy từ bi trong đạo Phật là thế nào? Tôi sẽ nói rõ hơn vấn đề này ở phần sau.
Bây giờ trở lại phần trí tuệ. Trí tuệ mà Phật dạy cho Tăng Ni là ba môn tuệ học: Văn tuệ, Tư tuệ và Tu tuệ.
Văn tuệ là như thế nào? Chúng ta đến với đạo, tự mình làm sao giác được. Nên phải nhờ những người đi trước như bậc thầy, các hàng Tôn túc đã tu, đã học, đã mở được đôi phần trí tuệ hướng dẫn, chỉ dạy cho chúng ta từ từ mở con mắt trí tuệ. Nhờ lắng nghe những lời chỉ dẫn, giảng dạy ấy mà chúng ta mở được con mắt trí tuệ của mình là Văn tuệ. Người tu cất thất ở riêng, không học hành gì hết chắc chắn sẽ không có Văn tuệ. Không có Văn tuệ mà tu thì chỉ là tu mù. Những người tu này khi chỉ dạy cho kẻ khác thì cũng chỉ dạy một cách mù quáng mà thôi. Trong kinh Phật nói: “Một người mù dẫn một đám mù, người mù đi trước sụp hầm, những kẻ mù theo sau cũng té xuống hầm luôn.” Người học Phật mà thiếu Văn tuệ không thể được.
Trong kinh A-hàm Phật dạy: Người cư sĩ đến chùa đầu tiên phải gặp Tăng Ni. Gặp Tăng Ni để thưa hỏi Phật pháp chớ không phải để cúng cầu an cầu siêu, như vậy là Văn tuệ. Sau khi nghe chư Tăng Ni dạy Phật pháp rồi phải suy gẫm lời thầy dạy có đúng với kinh Phật không, có đúng với lẽ thật chân lý không? Nếu đúng mới tin, còn dạy sai dạy lầm thì không tin. Cho nên Tư tuệ hết sức thiết yếu. Sau khi suy tư nghiệm thấy đúng kinh Phật, đúng chân lý rồi mới tu. Phật dạy cư sĩ còn như vậy huống là tu sĩ xuất gia mà lại thiếu Văn, Tư, Tu. Thế mà có nhiều tu sĩ cứ tự tu không cần học với ai cả thì thật sự hết sức sai lầm.
Tư tuệ là như thế nào? Phật dạy chúng ta nghe rồi phải suy gẫm, suy gẫm đó chính là tư duy, phải là chánh tư duy. Nếu nghe dạy chúng ta tin mà không hiểu, thì tin đó chưa phải là chánh. Cần phải suy gẫm cho đúng, hiểu cho đúng mới gọi là chánh.
Hồi xưa lúc còn làm Tăng sinh, tôi cũng học như quí vị. Những gì tôi không hiểu thì tôi hay nghi, nghi thì phải tra tìm. Những năm Sơ đẳng, tôi học lý nhân quả luân hồi kỹ lắm, nhưng khi học cổ sử Ấn Độ tôi thấy lý nghiệp báo luân hồi không phải mới có từ thời đức Phật, mà đã có từ thời Áo nghĩa thư của Ấn Độ, tức trước Phật cả mấy trăm năm. Biết được vậy tôi rất buồn, tôi nghĩ Phật đã giác ngộ rồi sao không lựa điều gì mới, mà lại lấy cái cũ của người ta đem ra dạy mình.
Có lần tôi đọc cuốn sách của một số học giả phê bình rằng: “Đạo Phật ăn cắp lý nghiệp báo của Áo nghĩa thư làm của mình.” Đọc đến đó tôi thấy xót quá, khó chịu quá. Đức Phật của mình sao lôi thôi vậy, của người ăn cắp đem làm của mình thì thật là buồn. Lâu nay chúng ta tin rằng đức Phật giác ngộ viên mãn thì những gì Phật dạy đều từ trí tuệ giác ngộ của Ngài lưu xuất. Thế sao lại ăn cắp của người ta đem làm của mình, tôi không bằng lòng như vậy.
Khi lên Trung đẳng, rồi Cao đẳng tôi đã tra hết các bộ kinh A-hàm trong Hán tạng. Đọc một lần chưa thấm, đọc hai lần rồi ba lần, tôi có nguồn an ủi. Trong một bài kinh đức Phật dạy: “Khi Ngài chứng được Thiên nhãn minh rồi, nhìn lại thấy chúng sanh bị nghiệp dẫn luân hồi sanh tử giống như người đứng trên lầu cao nhìn xuống ngã tư đường, thấy kẻ đi đường này, người đi đường kia một cách rõ ràng không nghi.” Như vậy sở dĩ Phật nói luân hồi nhân quả hay nghiệp dẫn luân hồi là Ngài thấy rõ ràng, chớ không phải ăn cắp như người ta nói xấu.
Rồi lần lần tôi lại thấy ra, trong Áo nghĩa thư có nói về nghiệp báo luân hồi nhưng chưa phân tích rõ ràng. Nên khi đạo Bà-la-môn kế thừa tinh thần của Áo nghĩa thư, mới đặt ra bốn giai cấp. Trong đó Bà-la-môn được sanh ra từ đầu của Phạm Thiên nên được kính trọng nhất, còn các giai cấp khác được sanh từ ngực, từ bụng, từ bàn chân nên không được kính trọng bằng. Sự phân chia giai cấp này khiến người dân càng khổ, đó là điều thứ nhất.
Điều thứ hai, dù họ nói nghiệp báo luân hồi nhưng phải nhờ các vị Bà-la-môn cầu cúng thì mới hết nghiệp hết tội. Hoặc phải mở những hội tế đàn nào là trâu, dê cúng cho nhiều thì mới hết tội. Cả hai điều này đều bị Phật bác hết. Về mặt giai cấp, Phật bảo không có giai cấp khi mọi người máu cùng đỏ và nước mắt cùng mặn như nhau, nên mọi người đều bình đẳng.
Kinh kể hôm nọ Phật ở trong rừng với đệ tử, một số thầy Bà-la-môn đến hỏi Phật:
– Thưa ngài Cù-đàm, đệ tử Ngài chết Ngài cầu cho họ sanh về cõi lành được không?
Phật không trả lời mà chỉ hỏi lại:
– Đệ tử các ông chết các ông cầu cho họ sanh về cõi lành được không?
Các vị Bà-la-môn đáp:
– Được.
Lúc đó Phật nói thí dụ:
– Như nơi một giếng sâu, có người ôm cục đá bỏ xuống giếng rồi nhờ các ngài cầu cho nó nổi, đừng chìm được không?
Các vị Bà-la-môn đều lắc đầu, Phật hỏi tiếp:
– Có người cầm chai dầu đổ xuống giếng, rồi nhờ các ngài cầu cho dầu chìm xuống đáy giếng được không?
Các vị Bà-la-môn cũng lắc đầu, Phật nói:
– Cũng vậy, người làm nghiệp lành sẽ sanh cõi lành giống như dầu nhẹ nổi lên, dầu các vị có ác ý cầu cho xuống địa ngục họ cũng không xuống. Ngược lại người làm dữ phải đi xuống giống như đá, dầu các vị có thiện cảm chấp tay cầu nguyện cũng không nổi lên được.
Vậy đức Phật chấp nhận cầu nguyện hay chấp nhận nghiệp? Nghiệp lành, nghiệp dữ đưa mình lên hoặc lôi mình xuống, chớ không phải cầu nguyện mà được lên hoặc xuống. Đức Phật thấy rõ về nghiệp, cho nên Ngài biết manh mối nào đưa chúng sanh tới cõi lành, manh mối nào đưa chúng sanh tới cõi dữ.
Trong nhà Phật dạy chúng ta có Ngũ thừa là: Nhân thừa, Thiên thừa, Thanh văn thừa, Duyên giác thừa và Bồ-tát thừa. Nhân thừa là sanh trở lại làm người, Phật dạy tu giữ năm giới. Năm giới nếu giữ toàn vẹn bảo đảm người đó đời này làm người, đời sau chết trở lại làm người. Tu Thập thiện, sau khi mạng chung sẽ sanh lên cõi trời. Mỗi một nhân đưa tới một quả, Phật thấy tường tận rõ ràng như thế. Còn Áo nghĩa thư của Bà-la-môn giáo nói nghiệp báo không phân biệt rành rõ, chưa biết cái gì nhân cái gì quả nên chưa thấu đáo. Do đó nên biết Phật nói nghiệp, nói luân hồi là vì Ngài thấy tường tận, chớ không phải ăn cắp của người làm của mình. Khi thấy rõ như vậy, tôi không còn nghi, không còn mặc cảm nữa.
Đức Phật rất khoa học, từ thời Áo nghĩa thư đã có thuyết nghiệp, luân hồi. Sau Ngài tu thấy điều đó đúng nên cũng thừa nhận. Nhưng khác hơn là Ngài vạch rõ từng phần chi tiết, thế nào là nhân, thế nào là quả, Ngài phân tích rành cho chúng ta. Đó là tinh thần khoa học chớ không phải học lóm. Từ đó về sau tôi mới hài lòng, đức Phật không phải dở như người ta nói.
Nói về lý nghiệp báo luân hồi, sau khi suy tư kỹ càng, tôi thấy đó là một chân lý không chối cãi được. Ai có nói gì cũng không lay chuyển được tôi, vì đó là một sự thật. Tại sao tôi tin như vậy? Bởi kinh nghiệm từ những việc bên ngoài, cho tới bản thân mình tôi thấy rõ như vậy.
Luân hồi là gì? Luân là bánh xe, hồi là xoay tròn. Bánh xe xoay tròn lên xuống, lên xuống cứ đảo đi lộn lại hoài. Đối với ngoại vật, chúng ta đặt câu hỏi trái đất có xoay tròn không? Trái đất cứ xoay tròn, xoay tròn, vậy nên trái đất luân hồi. Đến con người, chúng ta thấy máu từ tim chạy ra các mạch, rồi từ các mạch trở về tim, cứ như vậy đảo đi lộn lại hoài, đó là luân hồi. Rõ ràng con người đang luân hồi, quả đất đang luân hồi, vậy chết có luân hồi không? Tôi nói hai phần:
1- Vật chất: Thân chúng ta gồm tứ đại tức bốn chất đất, nước, gió, lửa hợp thành. Những gì là đất? Tóc, lông, gân, móng, da, thịt, răng, xương… những thứ cứng là đất. Những gì là nước? Mồ hôi, máu mủ tức chất ướt là nước. Những gì là gió? Hơi thở vào ra, vào ra là gió. Những gì là lửa? Hơi ấm trong người là lửa, cầm hai tay chà một hồi ấm lên, đó là phát ra lửa.
Đất nước gió lửa sẵn trong con người chúng ta, khi chết bốn thứ đó đi đâu? Nhẹ nhất là hơi thở, lúc sống hít vô trả ra, khi trả ra mà không hít lại là chết. Vậy chúng ta trả ra chớ không phải hết, không phải mất. Thứ hai là hơi ấm trong người, chúng ta chết rồi nó cũng tan vào hư không, theo luồng hơi ấm trong nắng trong lửa, trở về với lửa. Đến đất, nước khi chết thân này nứt nẻ nước tuôn ra, rồi tới đất rã. Nước theo mạch chảy đi khắp nơi cũng không mất, đất cũng trả về đất không mất. Như vậy tứ đại mất đi chỉ mất cái giả tướng duyên hợp, chớ bản chất nó đâu có mất.
2- Tinh thần: Tứ đại không mất thì tinh thần có mất được không? Tinh thần đi theo nghiệp duyên của nó. Ví dụ nước từ thể lỏng đổ vào trong nồi nấu, nước sôi bốc hơi rồi cạn. Nước cạn người ta nói hết nước, nhưng thật ra nước bốc thành hơi bay lên, gặp lạnh đọng lại thành nước rơi trở xuống. Hoặc lấy một ly nước để trong tủ lạnh thì nó sẽ đặc thành thể cứng. Như vậy nước không mất mà có thể chuyển biến từ thể lỏng thành hơi hoặc thể rắn. Nước để ở nhiệt độ vừa chừng, không nóng quá, không lạnh quá thì nước còn hoài.
Cũng vậy người tu có duyên lành nhiều, nghiệp lành nhiều khi nhắm mắt sẽ đưa tới cõi lành, tức lên. Ngược lại nghiệp dữ nhiều sẽ đưa tới chỗ dữ, tức xuống. Nếu tư cách con người tốt, vị lai trở lại làm người, như nước giữ quân bình không lạnh nóng thì ở thể lỏng hoài. Phật dạy Nhân thừa là do giữ đúng năm giới nên đời này làm người đời sau cũng được làm người. Như nước y nguyên nhiệt độ đừng cao đừng thấp thì bao nhiêu nước còn nguyên bấy nhiêu. Đó là một lẽ thật không nghi ngờ gì.
Chúng ta khi ra đời còn trẻ, đáng lẽ ham danh lợi tài sắc ở thế gian, nhưng tại sao lại ham tu? Như vậy do trong nghiệp từ quá khứ của chúng ta còn lưu lại. Như tôi khi chưa đi tu, mỗi lần qua chùa nghe tiếng chuông, thấy xôn xao trong lòng quá. Cái gì làm cho mình bất an, nếu không phải là chủng tử trước kia?
Mỗi khi chúng ta ra đời, nghiệp từ quá khứ còn lưu lại trong con người hiện tại chớ không phải mất. Nếu chúng ta nhìn vào một lớp học thì biết rõ sự sai biệt, người giỏi về văn, người giỏi về toán v.v… Thầy cô dạy như nhau nhưng điểm riêng biệt của mỗi học trò lại khác. Điểm đó ở đâu ra? Chẳng qua chủng tử từ quá khứ còn lưu lại nơi mỗi người, nên không ai giống ai. Nếu nói do thầy cô dạy mới biết, thì tại sao không biết như nhau mà lại có sự sai lệch. Rõ ràng do chủng tử từ quá khứ chớ không phải ngẫu nhiên. Như những vị thần đồng chưa học mà đã biết, đâu do ai dạy. Đó là chủng tử quá khứ còn nguyên vẹn chưa mất nên ra đời nhớ lại liền. Vậy luân hồi là một lẽ thật, không phải là một nghi vấn nữa.
Khi học Phật, chúng ta cần phải suy tư, chớ không chỉ nghe bao nhiêu biết bao nhiêu thôi. Phải tìm, phải gẫm cho tới nơi tới chốn, như vậy chúng ta mới đủ lòng tin Phật. Do đó Tư tuệ là một điều hết sức thiết yếu.
Tu tuệ là như thế nào? Tư chí lý rồi đến tu rất dễ, không còn nghi ngờ gì nữa. Nhờ nghe hiểu, suy gẫm và biết cách ứng dụng những pháp mình đã học được vào đời sống tu hành, thấy có lợi ích. Đây chính là Tu tuệ. Ba vấn đề Văn, Tư, Tu đều là trí tuệ. Trí tuệ từ thầy ban cho, trí tuệ do mình suy gẫm, trí tuệ do mình cố gắng thực hành, cho nên ba Tuệ học ấy không thể thiếu được.
Nhà Phật nói trí tuệ có hai phần: Một là Hữu sư trí, tức trí học nơi thầy như Văn Tư Tu. Hai là Vô sư trí, tức trí sẵn có của mình, không do học. Đó là Tam vô lậu học, tức ba môn học giải thoát Giới, Định, Tuệ. Giới là đức hạnh, Định là thiền định, Tuệ là trí tuệ. Nhờ giữ được giới nên thiền định không bị xao xuyến. Vì vậy giới trước rồi định sau. Nhờ thiền định nên Trí vô sư phát sanh là tuệ.
Tại sao thiền định được Trí vô sư? Khi thiền không nghĩ gì cả nên được định, được định nên trí sáng giác ngộ, đó là trí không thầy. Trong kinh có kể lại: Đức Phật sau khi thành Phật rồi, Ngài tuyên bố ta học đạo không thầy. Bởi vì bốn mươi chín ngày đêm ngồi dưới cội bồ-đề Ngài không học với ai cả, mà nhờ định nên được giác ngộ. Vì vậy nói Ngài học đạo không có thầy.
Phật giác ngộ viên mãn Trí vô sư, ngày nay chúng ta tu muốn giải thoát sanh tử cũng phải đi tới Trí vô sư đó, nên nói Giới, Định, Tuệ là ba pháp môn tu được giải thoát. Chữ Vô lậu là không còn rơi, không còn rớt lại Tam giới nên gọi là giải thoát sanh tử. Như vậy người học Phật phải đủ trí tuệ, từ Hữu sư trí rồi tiến tới Vô sư trí. Hữu sư trí là nhờ học, Vô sư trí là nhờ tu. Đó là hai phần hết sức rõ ràng.
Điều hệ trọng thứ hai là từ bi. Bởi vì chúng ta không có quyền nghĩ mình tu để hưởng an lạc một mình. Tại sao? Đức Phật ngày xưa chủ trương đi khất thực là vì sao? Khất thực tức là gieo duyên với chúng sanh. Tôi nói là lãnh nợ của chúng sanh. Nếu chúng ta tu mà đối với mọi người không có liên hệ, không trao qua đổi lại thì không có gì dính dáng. Mà không có dính dáng thì giáo hóa họ không được, nên Phật dạy tu sĩ phải nhận của đàn-na thí chủ cúng dường. Có những thí chủ rất nghèo cúng dường nhưng chúng ta cũng phải nhận. Nhận để chi? Để người đó gởi mình, mình nhận nợ.
Nên từ gieo duyên là nói cho đẹp, thật ra chúng ta nhận nợ. Có nợ thì mới gặp lại để đền trả.
Trả nợ có hai cách:
Nếu chúng ta không tu không đủ phước đức thì phải mang lông đội sừng để trả nợ. Nếu chúng ta tu hành có đủ phước đức thì trả bằng cách làm thầy. Bây giờ tôi cũng đang trả nợ đó. Bởi vì chúng ta đều có duyên có nợ với nhau nên mới gặp nhau, còn không duyên không nợ thì không gặp. Gặp để chúng ta giáo hóa, chúng ta chỉ dạy người có duyên với mình. Vì vậy người tu đều phải phát tâm từ bi nhận tất cả những gì của Phật tử gởi gấm. Không phải nhận vì ích kỷ, mà nhận để có duyên hay có chút nợ nần với nhau, hầu giáo hóa giúp đỡ trên đường đạo.
Người xuất gia do Phật tử ủng hộ, nếu hiểu đạo rồi lo tu cho giải thoát, về Cực lạc, bỏ mọi người ở lại ra sao thì ra, như vậy có hơi nhẫn tâm không? Mình tu giải thoát nhập Niết-bàn không bao giờ trở lại nữa, những người cúng cho mình thấy chúng ta nhập Niết-bàn, bỏ họ bơ vơ buồn khổ, thật tội nghiệp cho họ. Vì vậy với tinh thần Phật giáo Đại thừa, người tu không nỡ nhập Niết-bàn liền, mà phải đi đi lại lại trong cõi thế gian này để giáo hóa, để trả nợ. Đến chừng nào thí chủ của chúng ta hiểu được tu tập được, mình mới yên.
Thí dụ như trong Tứ quả Thanh văn, chúng ta được quả thứ ba là A-na-hàm, thì ít ra đệ tử của mình cũng được quả thứ nhất là Tu-đà-hoàn. Nếu mình tới Bồ-tát Thập trụ, thì đệ tử cũng tới Thập tín mới được. Khi tu thiên hạ nuôi, đến thành tựu chúng ta lại hưởng một mình, như vậy có buồn không? Giả sử tôi là quí Phật tử, tôi cũng không chấp nhận điều đó nữa. Quí thầy ăn gian quá đâu được. Vậy mà có người tha thiết tu một đời này để về Cực lạc cho rồi, ở đây khổ quá. Về bên đó vui có một mình, bỏ người ta ở đây khổ, ai mà đành lòng. Thôi thì cùng ở với nhau nhưng ở trong sự tỉnh giác chớ không phải trong cái mê mờ, nhớ như vậy.
Tinh thần từ bi của đạo Phật dạy chúng ta phải làm sao đem lại cho mọi người ánh sáng đạo lý, để cho họ biết được lẽ chân thật, không tạo những điều đau khổ, luôn luôn tiến tới chỗ an vui. Lòng từ bi chúng ta không thể nói suông mà phải được thể hiện cụ thể. Muốn thể hiện lòng từ bi chúng ta phải thực hành hạnh bố thí: bố thí tài, bố thí pháp, bố thí vô úy. Phải đem của cải, hoặc đem chánh pháp mình hiểu hoặc đem sự tốt lành cao quí an ủi người đau khổ. Đó mới thể hiện lòng từ bi.
Bố thí tài phần lớn dành cho cư sĩ Phật tử vì họ làm ra tiền. Họ mới có điều kiện giúp đỡ người nghèo khổ. Còn các sư có làm ra xu con nào đâu? Nếu có chăng cũng ăn mày của đàn-na thí chủ chớ đâu phải tự mình có tiền lương mỗi tháng. Hàng Phật tử cũng có người làm ra tiền của, có người nghèo cháy da, vậy làm sao bố thí? Nên Phật dạy tài thí có hai phần ngoại tài và nội tài.
Người Phật tử muốn thể hiện lòng từ bi mà không có tiền bạc giúp cho người nghèo đói thì đem công sức của mình ra giúp. Người có tiền tới chùa cúng, người không tiền vào chùa làm công quả. Người có tiền cho tiền, người không tiền ra công đi ủy lạo, khuân vác cũng là bố thí. Nên hiểu có tiền mới bố thí được là lầm. Đem của bố thí là ngoại tài, đem công bố thí là nội tài, như vậy có ai không làm được hạnh bố thí đâu.
Bố thí pháp là phần của Tăng Ni. Tăng Ni tu thấy được cái hay, cái cao quí của Phật pháp, đem sự hiểu biết đó ban rải cho Phật tử cùng biết cùng hiểu như mình. Đem pháp mình đã tu học được, chỉ dạy cho người khác gọi là bố thí pháp.
Bố thí tài, bố thí pháp cái nào tốt hơn? Bố thí tài chỉ giúp người bớt khổ trong giai đoạn hiện tại. Còn bố thí pháp chẳng những giúp người hết khổ trong hiện tại mà mãi về sau cũng không còn khổ nữa, đó là điểm sâu xa.
Ví dụ chú đạp xích lô có một vợ hai con, mỗi ngày chạy xe kiếm được hai ba chục ngàn nuôi vợ nuôi con. Nhưng nếu chiều vô quán nhậu hết thì vợ con đói khổ. Người hàng xóm thấy thương, đem ít lít gạo lại cho, đó là bố thí tài. Rồi mai chú đạp xe có tiền cũng nhậu hết như vậy thì sao, cho đến chừng nào mới đủ, chừng nào gia đình mới ấm no. Bây giờ có một thầy, một cô nào đó sáng suốt tới khuyên chú, nói với chú uống rượu có hại gì, bệnh hoạn ra sao, rồi vì uống rượu mà không đủ tiền nuôi vợ con, làm vợ con đói khổ. Chú nghe hiểu, thức tỉnh bỏ rượu. Như vậy chúng ta chỉ nói chuyện một giờ, nửa giờ mà chú thức tỉnh bỏ rượu. Từ đó làm được bao nhiêu tiền chú đem về nuôi vợ con. Như vậy bố thí pháp không có cạn hết. Chỉ dùng lời nói, lý lẽ chân thật khuyên chỉ người, khi người tỉnh ngộ rồi gia đình hết khổ. Còn nếu cho tiền cho cơm hằng ngày, thì họ chỉ hết khổ tạm rồi mai mốt sẽ khổ nữa. Như vậy cái nào hơn?
Có kẻ cho rằng người tu Phật tiêu cực quá, nhất là Tăng Ni không chịu làm phước, làm việc xã hội, cứ đi nói pháp hoài. Những người tích cực làm việc này, việc kia giúp cho đồng bào rất dễ thấy, còn người nói pháp xem như không có lợi ích gì. Nhưng thật tình việc này lợi rất lớn. Nên trong hai thứ bố thí: bố thí tài và bố thí pháp thì bố thí pháp là hơn.
Bố thí pháp là đem lòng từ bi của mình chỉ dạy nhắc nhở mọi người biết tu, chỉ dạy nhiều chừng nào tốt chừng ấy. Giả sử tôi có mười ngàn đồng muốn đem bố thí, nếu tôi cho mỗi người một ngàn đồng, thì cho mười người là hết. Còn tôi bố thí pháp thì có một trăm người, tôi cũng bố thí trọn đủ hết. Vậy bố thí pháp là bất tận. Chúng ta học đạo phải học cái bất tận, còn những việc có chừng mực, có giới hạn chúng ta làm một phần nhỏ thôi, gốc là phải bố thí pháp. Muốn bố thí pháp, chúng ta phải có học có tu và có lòng từ bi. Vì vậy từ bi sau trí tuệ. Hai việc đó không tách rời nhau.
Bố thí vô úy là sao? Vô úy là không sợ. Chúng ta mang tới cho người niềm an ổn không sợ hãi. Không sợ này có nhiều thứ: Sợ ma, sợ rắn, sợ cọp… đủ thứ sợ.
Thí dụ đối với người sợ ma, chúng ta muốn cho họ khỏi sợ, phải giải thích cho họ hiểu ma không đáng sợ. Phật dạy trong lục đạo luân hồi: địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh, người, a-tu-la, trời, thì ngạ quỉ là loại quỉ đói đứng thứ hai, người cao hơn ngạ quỉ hai cấp. Mình cao hơn nó mà lại sợ nó thì vô lý quá. Chẳng lẽ ông Tỉnh trưởng lại sợ người dân, người lại sợ ma thì thật ngu khờ. Giải thích cho người biết và hết sợ đó là bố thí vô úy.
Như có người sợ chết, chúng ta phải giảng giải cho họ hiểu chết là một lẽ đương nhiên thôi, ai rồi cũng phải chết. Phật chết, Bồ-tát chết, chư Thánh tăng chết, Phàm tăng, Phàm ni chết, cư sĩ chết. Đó là chuyện thường, phải chi có người không chết thì mình sợ, ai cũng chết hết thì có chi mà sợ. Giải thích có căn bản cho người ta hiểu, hiểu rồi thì không sợ. Đó là bố thí vô úy. Như vậy, bố thí pháp trùm cả bố thí chánh pháp và bố thí vô úy luôn.
Nghĩ thế là không có từ bi, không có từ bi mà dám nhận nợ của thí chủ, như vậy là ăn gian rồi. Đó là điều không hợp lý. Nhập thất tu để sáng đạo thì được, nhưng cũng phải đi giáo hóa, chớ không được đóng cửa suốt đời.
Hồi xưa học luật, Phật dạy thầy Tỳ-kheo không nên đi dép da vì làm tổn thương lòng từ bi. Nhưng khi thấy Bồ-tát Văn-thù cỡi sư tử, Bồ-tát Phổ Hiền cỡi voi… tôi sanh ra thắc mắc. Tại sao các Ngài không đứng trên cụm mây thôi được rồi. Lại cỡi sư tử cỡi voi, như vậy các Ngài có từ bi không? Sau khi tra cứu hiểu ra rồi tôi mới thấy có lý. Vì đức Phật Thích-ca là vị Giáo chủ cõi Ta-bà, mà dân cõi Ta-bà này thì cang cường nan điều nan phục. Muốn điều phục được phải có trí tuệ vượt bực, nên vị Bồ-tát phụ tá thứ nhất cho đức Phật là Văn-thù.
Văn-thù tượng trưng cho Căn bản trí. Ngài ngồi trên lưng sư tử để biểu trưng rằng chỉ có trí tuệ mới hàng phục được ma quân, chỉ có trí tuệ mới giáo hóa được chúng sanh cang cường này. Đó là ý nghĩa hết sức thâm trầm. Song vì chúng sanh cõi này cứng đầu quá, dùng trí tuệ dạy họ, rồi ít bữa cũng trở lại y cũ, thì làm sao đây. Vì vậy phải có đại nguyện đại hạnh, cho nên bên trái của đức Phật vị Bồ-tát phụ tá thứ hai là Phổ Hiền cỡi voi. Vì hạnh lớn mạnh nên tượng trưng cho voi. Voi sáu ngà nghĩa là đem pháp giáo hóa chúng sanh không biết mệt mỏi. Như vậy các hình tượng ấy mang ý nghĩa đức Phật vào cõi Ta-bà giáo hóa phải có đủ trí tuệ vượt bực, hạnh nguyện to lớn mới giáo hóa được. Nếu không sẽ dễ thoái chuyển, dễ chán lắm.
Đức Phật Di-đà thì bên phải có Bồ-tát Quan Thế Âm, bên trái có Bồ-tát Đại Thế Chí. Đức Phật Di-đà ở cõi Cực lạc là chỗ sạch vui. Muốn sang Ta-bà là chỗ uế trược độ chúng sanh, phải có lòng từ bi tràn trề, nên tượng trưng cho Bồ-tát Quan Thế Âm. Vì chúng sanh khó độ nên chúng ta thấy vẽ tượng đức Phật Di-đà ở trên mây duỗi tay xuống, còn chúng sanh đang trồi hụp dưới biển mà không chịu trồi đầu lên đưa tay cho Phật vớt, cứ hụp lặn ở dưới hoài. Vì vậy muốn không thối tâm phải có đại chí tức là chí cứng rắn vững vàng. Dù cho nó khó, nó mê, nó đắm say ngũ dục cũng ráng chờ vớt nó lên. Nếu không có chí lớn thì chán lắm.
Thí dụ trong hoàn cảnh xã hội của chúng ta, có người khá giả thấy những đứa trẻ bụi đời lang thang ở góc phố này góc chợ kia muốn gom lại nuôi dạy. Từ một người giàu có, bây giờ cất trại về ở với mấy thằng nhỏ khó dạy như vậy thì phải hi sinh sự ổn định của mình, chấp nhận cảnh khổ. Do đó phải có lòng từ bi trước, lòng từ bi thật rộng lớn mới làm được việc đó. Mấy đứa nhỏ đem về dạy có dễ đâu. Nhiều khi nó muốn thoi lại mình nữa. Nó là dân bụi đời, mình thương muốn dạy dỗ nó, nhưng nó lại không biết gì, không mang ơn mà còn cự cãi với mình. Nếu không có ý chí vững bền sắt đá thì không thể nào làm được.
Nên tôi nhắc Tăng Ni phải có tâm biết thương những người chờ đợi mình, trông ngóng mình. Học rồi đem sự hiểu biết chánh pháp đó giáo hóa được năm bảy người, thì phước đức cũng lớn lắm. Do đó quí vị thấy trách nhiệm chúng ta không phải đơn giản. Không phải lo cho mình có địa vị cao, có chức tước lớn là hay. Mà phải làm sao thực tế đời mình đem lợi ích thiết thực cho Phật tử, cho mọi người. Đó mới là giá trị thật đáng quí. Mong tất cả Tăng Ni ở đây hãy nhớ lấy điều này, mà đem hết tâm nguyện phụng sự chúng sanh để đền ân chư Phật.
Câu thành ngữ: “Vua xứ Thanh, thần xứ Nghệ”. Vùng Ái Châu, tức Thanh Hóa được xem là nơi phát tích của hầu hết các dòng họ vua, chúa Việt xưa. Vì sao vậy?
Câu thành ngữ: “Vua xứ Thanh, thần xứ Nghệ”. Vùng Ái Châu, tức Thanh Hóa được xem là nơi phát tích của hầu hết các dòng họ vua, chúa Việt xưa. Vì sao vậy?Khi tính từ khi nước Nam ta có Nhà nước đầu tiên cho đến khi kết thúc triều đại phong kiến cuối cùng là nhà Nguyễn, thì điểm lại hầu hết các dòng họ vua, chúa đa phần đều phát tích từ đất Thanh Hóa (Ái Châu) mà ra.
Đây được xem là vùng đất có nhiều dòng vua, chúa nhất nước. Hình thế đắc địa như một vương quốc riêng như vậy, cũng từ đó mà hình thành nên tính cách, phong tục của người dân nơi đây được An Nam chí lược của Lê Tắc trong phần Phong tục khen là: “Người sinh ra ở Giao Châu và Ái Châu thì rộng rãi, có mưu trí”. Còn trong Đại Nam nhất thống chí thì bình rằng: “Sĩ tử thích văn học, giữ khí tiết, nông dân chăm cày cấy, thợ thì có người đẽo đá là sở trường hơn cả, ít người buôn bán”. Chính từ địa lợi, nhân hòa ấy, góp phần cho vùng đất Ái châu trở thành nơi thiên thời cho việc xưng vương, dựng nước.
Cũng vì là đất đế vương, cho nên không phải ngẫu nhiên mà nhà Trần đã từng phải cho người đục núi, lấp sông ở nơi đây để trấn yểm các huyệt mạch đế vương. Điều này được chứng thực bởi Việt sử địa dư của Phan Đình Phùng, nguyên văn như sau: “Trần Thái Tông niên hiệu Thiên Ứng Chính Bình năm thứ 17 (1248), sai người giỏi về phong thủy đi trấn áp vượng khí trong khắp núi sông, như núi Chiêu Bạc, sông Bà, sông Lễ ở Thanh Hóa, đều đào và đục đi. Lấp các khe kênh, mở đường ngang lối dọc không kể xiết”. Núi Chiêu Bạc chính là núi Chiếu Sơn thuộc huyện Nga Sơn. Sông Bà thuộc địa giới huyện Đông Sơn, còn sông Lễ chính là sông Mã. Nhưng việc làm ấy cũng chỉ như muối bỏ biển, bởi ngay sau nhà Trần thì nhà Hồ đã phát ra từ xứ Thanh rồi. Thế nên lời của sử thần Ngô Sĩ Liên quả chẳng sai chút nào: “Từ khi có trời đất này, thì đã có núi sông này, mà khí trời chuyển vận, thánh nhân ra đời, đều có số cả. Khí trời từ Bắc chuyển xuống Nam, hết Nam rồi lại quay về Bắc. Thánh nhân trăm năm mới sinh, đủ số lại trở lại từ đầu. Thời vận có lúc chậm lúc chóng, có khi thưa khi mau mà không đều, đại lược là thế, có can gì đến núi sông? Nếu bảo núi sông có thể lấy pháp thuật mà trấn áp, thì khí trời chuyển vận, thánh nhân ra đời có pháp thuật gì trấn áp được không? Ví như Tần Thủy Hoàng biết là phương Đông Nam có vượng khí thiên tử, đã mấy lần xuống phương ấy để trấn áp, mà rút cuộc Hán Cao vẫn nổi dậy, có trấn áp được đâu”.
Liên tiếp các triều đại vua, chúa phát tích từ đất Ái Châu mà ra, nên trong dân gian đời xưa có câu ngạn ngữ truyền đời: “Vua xứ Thanh, thần xứ Nghệ”, ý nói Thanh Hóa là nơi phát tích của các triều đại đế vương. Còn xứ Nghệ An là nơi có các tôi thần giỏi giang giúp vua trị nước. Theo thống kê của tác giả, kể từ khi nước ta có vua thời Văn Lang cho đến khi kết thúc chế độ phong kiến cuối cùng là nhà Nguyễn vào năm 1945 với vua Bảo Đại, thì Thanh Hóa chính là nơi khởi nguồn của nhiều dòng vua, chúa nhất nước. Vậy nên, nói Thanh Hóa là vùng đất địa linh, nhân kiệt từ ngàn xưa đến nay quả chẳng ngoa chút nào.
Đất của vua
Năm Mậu Thìn (248), Lệ Hải bà vương Triệu Thị Trinh đánh quân Ngô tại núi Nưa, Triệu Sơn, Thanh Hóa làm quân giặc khiếp đảm tôn phục với câu cửa miệng “Hoành qua đương hổ dị. Đối diện bà Vương nan” (Múa giáo chống hổ dễ. Đối mặt vua bà khó). Dù chưa lập triều nghi, nhưng ngay quân Ngô đã tôn xưng người con gái của chiến tuyến bên kia làm vua rồi.
Tháng 12 năm Tân Mão (931), Dương Đình Nghệ quê làng Giàng, nay thuộc xã Thiệu Dương, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa đã đánh đuổi quan đô hộ Lý Khắc Chính, Lý Tiến của nhà Đường, chiếm thành Đại La, tự xưng làm Tiết Độ sứ, nhưng thực ra đã là một “vua không ngai” khi tiếp nối được nền độc lập, tự chủ do dòng họ Khúc dựng nên từ năm Ất Sửu (905).
Tháng 7 năm Canh Thìn (980), Thái hậu Dương Vân Nga khoác áo mời Thập đạo tướng quân Lê Hoàn lên ngôi để thống nhất lòng dân chống quân xâm lược Tống, từ đó mở ra nhà Tiền Lê (980 - 1009). Lê Hoàn, tức vua Lê Đại Hành vốn quê xã Xuân Lập, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa. Nhà Tiền Lê trải ba đời gồm Lê Đại Hành (980 - 1005), Lê Trung Tông (1005), Lê Ngọa Triều (1005 - 1009).
520 năm sau, cũng năm Canh Thìn (1400), ngoại thích Hồ Quý Ly thoán đoạt ngôi vị nhà Trần lập nhà Hồ với tên nước là Đại Ngu, kinh đô ở thành Tây Giai, tức Tây Đô của Thanh Hóa. Tổ tiên ông vốn ở Chiết Giang, Trung Quốc, sau di cư sang sống ở Diễn Châu, Nghệ An rồi chuyển ra hương Đại Lại, Thanh Hóa lập nghiệp. Nhà Hồ truyền qua hai đời vua trong 7 năm (1400 - 1407).
Thời gian 1428 – 1789 là thời kỳ tồn tại của nhà Hậu Lê gồm giai đoạn Lê sơ (1428 - 1527) và Lê Trung hưng (1533 - 1789). Người sáng nghiệp nhà Hậu Lê là Lê Thái Tổ (Lê Lợi) sau thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống giặc Minh (1416 - 1428). Ông quê ở xã Xuân Lam, Thọ Xuân, Thanh Hóa. Giai đoạn Lê sơ trải qua 10 vị vua từ Lê Thái Tổ đến Lê Cung Hoàng, được xem là thời thịnh trị của chế độ phong kiến Đại Việt với đỉnh cao là đời vua Lê Thánh Tông trị vì (1460 - 1497). Giai đoạn Lê Trung hưng đánh dấu sự phục hồi của nhà Lê sau khi bị Mạc Đăng Dung cướp ngôi với vị vua đầu tiên Lê Trang Tông (1533 - 1548), và kết thúc với vua thứ 16 Lê Chiêu Thống (1786 - 1789).
Triều đại cuối cùng của Việt Nam là nhà Nguyễn (1802 - 1945) do Nguyễn Ánh Gia Long hưng khởi, tổ tiên của ông là chúa Nguyễn Hoàng vốn bản quán ở Gia Miêu ngoại trang thuộc huyện Tống Sơn (xã Hà Long, huyện Hà Trung nay), đất Thanh Hóa. Nhà Nguyễn truyền được 13 đời vua, bắt đầu từ vua Gia Long (1802 - 1820) cho đến vua Bảo Đại (1926 - 1945).
“Nhà” của chúa
Trong lịch sử nước Nam ta, ghi nhận chính thức có hai dòng chúa là chúa Trịnh và chúa Nguyễn. Cả hai dòng chúa đều phát tích từ xứ Thanh.
Chúa Trịnh thời vua Lê – chúa Trịnh thế kỷ XVI - XVIII do Trịnh Kiểm lập nên. Ông vốn xuất thân nghèo nàn từ làng Sóc Sơn, huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hóa. Tuy tiếng là phò giúp nhà Lê, nhưng quyền lực thực tế của các chúa Trịnh lại át cả vua Lê, có cung vua thì có phủ chúa. Vua Lê có Lục Bộ thì chúa Trịnh có Lục phiên. Vua Lê dạo Trung hưng chỉ có hư vị mà thôi. Thế nên dân gian mới có câu: “Phi đế phi bá, quyền nghiêng thiên hạ” để chỉ thế lực của chúa Trịnh. Dòng dõi chúa Trịnh bắt đầu từ chúa Trịnh Kiểm (1545 - 1570) cho đến thời chúa Trịnh Bồng (1786 - 1787) bị Bắc Bình vương Nguyễn Huệ dẹp thì dứt hẳn.
Chín đời chúa Nguyễn được lập nên sau thời chúa Trịnh. Vào năm Mậu Ngọ (1558), Nguyễn Hoàng nghe theo lời Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm khuyên “Hoành Sơn nhất đại, khả dĩ dung thân” đã vào trấn trị đất Thuận Hóa. Chúa Tiên Nguyễn Hoàng chính là con trai thứ của An Thành hầu Nguyễn Kim người Gia Miêu ngoại trang được nói tới ở trên. Dòng dõi chúa Nguyễn trải qua 9 đời từ Nguyễn Hoàng (1558 - 1613) cho tới Nguyễn Phúc Thuần (1765 - 1777), có công lập nên và khai phá đất Đàng Trong, mở rộng dần về phía Nam đất nước cho tới tận Mũi Đất, Cà Mau.
Không chỉ là nơi phát vua, phát chúa, Ái Châu – Thanh Hóa còn nhiều lần đóng vai trò trung tâm của đất nước khi từng giữ vị trí là đất Thần Kinh. Cụ thể là Tây Đô thời Hồ với thành An Tôn, hay Tây Giai (1400 - 1407).
Khi vua Lê Trang Tông phục quốc bên Ai Lao năm Quý Tỵ (1533), đến năm Quý Mão (1543) cũng chọn xứ Thanh để đóng làm nơi phát binh Bắc tiến đánh Thăng Long diệt Mạc. Năm Bính Ngọ (1546) thì lập điện để ở tại sách Vạn Lại, nay thuộc huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa tạo nên Nam triều để phân biệt với Bắc triều của nhà Mạc ở Thăng Long.
Ngày nay, Thanh Hóa là một trong 63 tỉnh, thành phố của đất nước, được xếp theo vị trí địa lý là tỉnh mở đầu vùng Bắc Trung Bộ.
Sòng bạc không chỉ là nơi vui chơi giải trí mà còn là nơi khiến con người ta phải trắng tay vì những trò đỏ đen. Dường như cờ bạc có sức hút vô cùng lớn, khi mà máu ăn thua nổi lên thì chẳng ai ngăn được con bạc khát nước. Các cụ đã có câu “Cờ bạc là bác thằng bần”, đánh bạc chỉ có thua là nhiều chứ mấy khi thắng, kẻ ham mê cờ bạc nếu không biết thức tỉnh thì khó tránh khỏi kết cục khuynh gia bại sản.
Trước đây người ta chơi ở những sới bạc nhỏ, nhưng giờ có không biết bao nhiêu sòng bạc – Casino mở ra trên toàn thế giới. Người ta vào đó tiêu tiền không biết bao nhiêu mà kể. Vậy do đâu mà sức hút của cờ bạc lớn đến thế, bí quyết phong thủy nào khiến cho sòng bạc thu tiền của người chơi dễ như trở bàn tay? Hôm nay Lịch ngày tốt sẽ bật mí cho các bạn biết về những bí mật ẩn sâu trong phong thủy sòng bạc, khiến cho người chơi đã đến là phải trắng tay ra về.
1. Thiết kế hình dáng sòng bạc theo phong thủy
Ngoài vị trí, phương hướng hay diện tích thì hình dáng cũng là điều rất được chú ý trong phong thủy sòng bạc. Khách sạn Mirage ở Las Vegas có thiết kế hình cuốn sách mở ra, dù đó là sòng bạc ở trời Tây nhưng chịu sự ảnh hưởng của phong thủy khởi nguồn từ Trung Quốc nên thiết kế đó có nghĩa là “thua cuộc”, theo tiếng Hán thì là “shu” – đồng âm với cuốn sách.Hay như sòng bạc Grand Lisboa ở Macao đã tồn tại và thịnh vượng hơn nửa thế kỉ cho đến tận bây giờ lại có hình dáng như một cái lồng chim lớn, “chim lồng cá chậu” – đó là hình ảnh của người chơi khi đặt chân vào đó, chịu sự kiểm soát của phong thủy mà mất đi quyền lực, dâng tiền bạc có trong tay cho sòng bạc.
2. Cửa chính của sòng bạc mang đầy sát khí
Có thể khi nhìn thấy một sòng bạc, bạn sẽ dễ dàng bị lóa mắt bởi vẻ bề ngoài xa hoa lộng lẫy, đèn đuốc sáng rực bất kể đêm ngày mà không chú ý rằng các sòng bạc đều được thiết kế cửa chính rất hoành tráng nhưng cũng đầy sát khí.
Một số sòng bạc có thiết kế như miệng hùm miệng sói, một số khác lại có thiết kế như hàng trăm hàm cá mập đang há rộng đớp mồi, có số khác lại thiết kế cửa hình vòng như hình “vạn tiễn xuyên tâm”. Xem phong thủy thì tất cả những thiết kế đó đều có sát khí, với mục đích khiến cho tâm lý người chơi hoang mang, giảm sức chiến đấu. Cờ bạc là trò chơi may rủi, là trò chơi tâm lý, khi tâm lý bị suy yếu ngay từ khi mới bước vào thì có thua cuộc cũng là điều dễ hiểu.
3. Bên ngoài sòng bạc bố trí yếu tố “Nước”
Trong phong thủy, nước tượng trưng cho tiền tài. Bài trí nước theo phong thủy có thể kích thích tài vận. Chính vì thế mà sòng bạc được thiết kế theo phong thủy sẽ không bao giờ thiếu được yếu tố nước. Bạn quan sát sẽ thấy bên ngoài sòng bạc hoặc ở đại sảnh, nơi bạn đến trước khi vào trong sòng bạc sẽ có thiết kế của nước. Đó có thể là bể cá, ao nước, thác nước, suối phun hay hòn non bộ có nước luân chuyển liên tục. Các sòng bạc muốn mượn sức nước để cuốn hết tiền tài của khách chơi vào tay mình.
4. Treo đèn chùm hay nội thất có nhiều góc nhọn
Có thể bạn thấy những chiếc đèn chùm to đẹp lộng lẫy chỉ để tô điểm cho sự xa hoa của sòng bạc mà không hề biết rằng tất cả những thứ đó đều nằm trong cách cục phong thủy của sòng bạc. Đèn chùm ở đây thường ưu tiên dùng những bóng đèn hay những viên thủy tinh trang trí có hình nhọn như mũi tên.
“Vạn tiễn xuyên tâm”, khách chơi đi qua hay đứng dưới đó sẽ bị tên bắn trúng tim, giảm sức chiến đấu hay bị đóng đinh vào đầu, khiến cho trí tuệ không còn được minh mẫn nữa. Một chi tiết rất nhỏ thôi nhưng cũng đủ để vận khí người chơi xuống dốc, chẳng có cơ may cầm tiền của mình an ổn ra khỏi sòng bạc chứ đừng nói thắng được tiền đem về.
5. Trong sòng bạc không có đồng hồ hay cửa sổ
Các sòng bạc mở cửa thâu đêm suốt sáng, có thể coi đó là một thành phố không ngủ thu nhỏ lại với đầy đủ các dịch vụ ăn uống, giải trí nhưng có những thiếu sót mà hiếm ai để ý, đó là không hề có một chiếc đồng hồ, cũng không có cửa sổ trong sòng bạc.
Đồng hồ không có, người chơi khi đã ham mê thì càng không quan tâm đến thời gian, đồ ăn thức uống sẵn sàng khiến họ không có cảm giác thời gian trôi, càng không biết mình đã chơi bao lâu, chỉ dừng lại phát giác khi mà túi tiền đã cạn.Còn cửa sổ không được trổ ra để tránh tiền bạc thất thoát ra ngoài. Người chơi đã đem tiền vào sòng bạc thì chỉ có tay trắng đi ra chứ khó lòng cầm được tiền của nhà cái thắng cuộc trở về.
Mời bạn đọc thêm: Phong thủy cửa sổ theo lý giải khoa học.
6. Thiết bị theo dõi ở khắp mọi nơi
Chắc chắn ở những nơi như sòng bạc, dù có những phòng riêng để đảm bảo riêng tư cho khách thì vẫn không thể thiếu được camera theo dõi. Ở những góc khuất, người ta sẽ lắp đặt thiết bị này, không chỉ đơn giản là để hài hòa không gian trong phong thủy mà nó như con mắt thứ 3 theo dõi mọi người, chủ sòng bạc có thể dễ dàng nắm bắt tâm lý của người chơi và điều khiển thắng thua như ý muốn.
Thực ra sòng bạc – casino là nơi ẩn chứa rất nhiều bí mật, sự thịnh vượng của nó không đơn giản chỉ đến từ phong thủy mà còn từ những thế lực nằm sau cũng như những thủ thuật móc túi người chơi. Bạn hiếu kì muốn khám phá thế giới, nhưng đừng để lòng hiếu kì của mình trở thành lưỡi dao đâm chính mình. Tự cổ chí kim có mấy người giàu vì cờ bạc. Người ta đã thống kê được xác suất thắng bạc trong 100 người khi vào casino chỉ có 5 người gặp may thắng được chút ít, 90 kẻ còn lại thì trắng tay dốc sạch túi tiền. Hãy là một người thông minh và bản lĩnh trong cuộc đời đầy cám dỗ này.Thiên Thiên
Hòa Thân và những bí mật phong thủy nơi cấm phủLăng mộ Tần Thủy Hoàng và cú lừa phong thủy ngoạn mục mang họa diệt vong Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Khánh Linh (##)
1. Mũi to: Trong dân gian, mũi này được xem là mũi giàu. Theo tử vi, mũi to đại diện cho khả năng tài chính tốt 2. Tai vừa to vừa dày: Phái nữ có tai này là người khoẻ mạnh, sống thọ và thông minh
3. Mông mẩy, hông to: Tướng này đại diện cho phái nữ có tiền và có khả năng tạo phúc cho chồng con. 4. Tay nhỏ: Phái nữ có tay nhỏ, thon dài là người có mệnh phu nhân, tốt số. 5. Chân dài: Phái nữ chân dài thường có khả năng giao tiếp tốt. 6. Ngực hơi xệ: Đây là những nữ giới có khái niệm đơn giản về tiền bạn, cuộc sống ít âu lo, nghĩ ngợi 7. Chân to: Phái nữ chân to thường có phúc lớn, mạng lớn, tiền bạc nhiều không đếm xuể. Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
7 nốt nốt ruồi giàu sang phú quý trên cơ thể phụ nữ
Theo Nhân tướng học, nốt ruồi ở các vị trí khác nhau thì có những ý nghĩa khác nhau. Trong đó có những nốt ruồi phú quý mà chỉ cần nhìn vào bạn đã có thể biết được chủ nhân của chúng có tương lai như thế nào
Theo Nhân tướng học, nốt ruồi ở các vị trí khác nhau thì có những ý nghĩa khác nhau. Trong đó có những nốt ruồi phú quý mà chỉ cần nhìn vào bạn đã có thể biết được chủ nhân của chúng có tương lai như thế nào?
1. Nốt ruồi ở cằm:
Nhắc đến nốt ruồi giàu sang phú quý thì phải nhắc đến nốt ruồi ở cằm. Với phụ nữ có nốt ruồi ở cằm thường là người có số hưởng điền sản, nghĩa là nhiều ruộng đất, nhà cửa, bất động sản nói chung. Kinh nghiệm đúc rút cộng với nhiều nhà Nhân tướng học cho biết, những người phụ nữ có nốt ruồi vị trí này bao giờ cũng có cuộc sống giàu sang, ấm no và hạnh phúc.
Tuy nhiên không phải nốt ruồi mọc ở cằm nào cũng là nốt ruồi giàu sang phú quý. Yêu cầu da dẻ phải mịn màng, nốt ruồi không quá to, không phải là bớt và không mọc lông. Có như vậy thì người phụ nữ ấy mới may mắn về điền sản, gặp nhiều tài lộc.
2. Nốt ruồi ở môi:
Nhiều người cho rằng không nên cho nốt ruồi ở môi xếp vào một trong những nốt ruồi phú quý. Bởi có câu nói: nốt ruồi ở môi ăn trôi cả nhà. Nhưng trên thực tế và nhân tướng học thì phụ nữ có nốt ruồi ở khóe môi là những người được hưởng phúc lớn. Dù học có sinh ra trong gia đình bần hàn thì sau này họ sẽ nỗ lực để có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
3. Nốt ruồi ở tai:
Đây là nốt ruồi giàu sang phú quý được nhiều người biết đến. Người có nốt ruồi ở tai thường có sức khỏe tốt, không ốm đau bệnh tật, gia cảnh khấm khán vật chất đủ đầy hơn mọi người.
Nếu là đàn ông thì giàu có, là trụ cột gia đình, cuộc sống xa hoa, đại gia
Còn nếu là phụ nữ thì với nốt ruồi ở tai - một trong những nốt ruồi phú quý sẽ là đối tượng theo đuổi của nhiều người, vượng phu ích tử. Họ đảm đang, giỏi quán xuyến, nhanh nhẹn trong kinh doanh.
4. Nốt ruồi ở trước cổ:
Cô gài nào sở hữu nốt ruồi ở trước cổ, đặc biệt là ở phía bên phải thì cả đời không phải lo chuyện tiền nong. Ví tiền lúc nào cũng như ví thạch sanh, hết lain có, ập đến liên tục.
Nhưng nếu nốt ruồi mọc sang bên trái thì không còn là nốt ruồi giàu sang phú quý nữa mà lại là nốt ruồi xui không mang lại tiền tài, may mắn cho chủ nhân.
5. Nốt ruồi ở hõm nách:
Đây được cho là một trong những nốt ruồi phú quý hay còn gọi là Nốt ruồi Kim Quỹ nghĩa là nhiều tiền tài, tài vận. Đa phần họ được sinh trưởng trong gia đình giàu sang, phú quý nên cuộc sống không mấy khi phải lo toan đến chuyện tiền nong. Ngoài ra, phụ nữ có nốt ruồi ở nách cũng là người rất đào hoa và thường là đào hoa tốt.
6. Nốt ruồi ở bắp tay:
Những cô gái có nốt ruồi ở bắp tay trước, đặc biệt càng gần khuỷu tay thì chúc mừng các bạn, các bạn đã và đang ở hữu nốt ruồi giàu sang phú quý mà nhiều người mơ ước. Các bạn có duyên trong chuyện tiền bạc, nhiều khoản tiền từ trên trời rơi xuống. Về trung và hậu vận thì họ càng nổi tiếng, giàu có, cuộc sống viên mãn.
7. Nốt ruồi ở bụng:
Những người phụ nữ có nốt ruồi ở bụng thì không cần phải lo lắng về tài chính, kinh tế và kể cả là ẩm thực. Nốt ruồi ở bụng không chỉ là một trong những những nốt ruồi phú quý mà còn biểu hiện cho việc ăn uống no đủ, gia đình sung túc.
Nốt ruồi càng mọc gần rốn thì tài lộc càng nhiều gấp bội phần. Mọc giữa rốn thì ăn sung mặc sướng cả đời, không bận tâm chuyện tiền nong.
Trên đây là những nốt ruồi phú quý ở trên cơ thể phụ nữ. Nếu bạn tinh tế nhận ra những nốt ruồi này thì có thể thấy được vận mệnh của mình. Còn những chàng trai, có thể kén chọn các cô gái sở hữu một trong các nốt ruồi giàu sang phú quý này nhé!
- Xem tử vi tháng 6 âm lịch của người tuổi Tị, vận trình được Tam Hội cục hỗ trợ sức mạnh biến hóa vô biên, có nhiều điều may mắn trong tháng.
► Xem bói năm 2016 để biết vận mệnh, công danh, tình duyên của bạn
Xem tử vi tháng 6 âm lịch, người tuổi Tị bước vào tháng Ất Mùi, vận trình được Tam Hội cục hỗ trợ sức mạnh biến hóa vô biên, có nhiều điều may mắn trong tháng. Mặt tài lộc có Ất Mộc gặp Tị Hỏa sinh Kim Dư quý nhân, chủ điểm tài lộc hanh thông, quan vận thuận lợi.Chuyện tình cảm, do bản mệnh Tị Hỏa tiêu hao với Mùi Thổ gây cục diện Thương Quan đối chọi Thất Sát. Nữ mệnh tuổi Tị gặp chuyện không thuận trong tình cảm, nên lưu ý hơn tới sức khỏe người kia. Tháng có tam hội Hỏa cục, ngày Hạ dài ngụ ngay lục phủ ngũ tạng, Hạ dài thì thấp khí nặng, sức khỏe tỳ vị bị xâm phạm nặng nề. Người tuổi Tị nên đề phòng Hàn Tà tấn công, có thể mệt mỏi, tỳ vị mất cân bằng, đổ mồ hôi, chân tay nổi mụn…
Người này bước vào tháng Ất Mùi giúp Nguyệt Lệnh trường sinh, khiến bản mệnh vấp vào vận trình cạnh tranh, chủ về tinh tú Tỷ Kiên. Thương Quan có thể tiêu hao căn khí của Tỷ Kiên nên người tuổi Tị không gặp điều tốt đẹp cho lắm.Căn khí tiêu hao, ý chí không kiên định, khi làm việc hay bị mất tập trung, tinh thần phức tạp. Gặp khó khăn trong công việc thì rối loạn, hoang mang, không biết phải xử lý vấn đề từ đâu. Vì xử lý vấn đề quá do dự, nhu nhược khiến đồng nghiệp phản ánh, lãnh đạo không được hài lòng. Quan hệ Tỷ Kiên gây rối còn gây ra việc bạn không được bạn bè, người thân giúp đỡ, cầu cứu gặp nhiều giày vò, vất vả. Tuy nhiên người tuổi Tị cần lạc quan hơn vào tương lai, khi cục mệnh tiềm tàng quan hệ Tị Mùi bán tam hợp. Tam hợp Hỏa cục này vốn ám chỉ vào 3 tháng nóng nhất mùa hạ là tháng 4, 5, 6. Lúc này thời tiết oi nóng, khí bức hoành hành. Bạn sẽ được hỗ trợ bởi nguồn căn khí hưng thịnh ngút trời này. Hãy tận dụng “thiên thời địa lợi” để làm nên cơ đồ của mình. Thêm Ất Mộc lâm “Mộc Dục” đại vận tại Tị, nên bản mệnh có sức mạnh bền bỉ, kiên trì tới cuối cùng. Chỉ cần gạt bỏ những suy nghĩ lung tung, hành sự tích cực thì thành công sẽ tìm tới bạn.
Vận trình tài lộc của người tuổi Tị có sự giúp đỡ đắc lực từ Kim Dư quý nhân. Cát thần này chỉ xuất hiện khi Tị Hỏa gặp Mùi Thổ, thời xưa nó là một trong những công cụ tượng trưng cho sự giàu có, vinh hoa, mĩ lệ. Kim Dư nhập mệnh chủ âm đức giúp đỡ phú quý đuề huề, quan hệ xã giao phát triển, tài lộc có nguồn căn kéo tới. Người gặp được tinh tú này thì phúc lộc đặc biệt hậu hĩnh, thông minh vốn có tự mình tạo dựng quan hệ khách hàng nên không cần lo lắng vào cuối tháng.Tị Hỏa còn gặp Dịch Mã tinh tại Mùi, người mang Dịch Mã tinh thì không có lúc nào nhàn hạ. Họ thường tự kiếm việc ra để làm, thời xưa sách Tam Mệnh Thông Hội đã chỉ ra: “Dịch Mã nhập mệnh, tâm không an nhàn”. Hai cát tinh này giúp người tuổi Tị kiếm tiền nhiều hơn, nhưng cũng sẽ vất vả hơn.
Chuyện tình cảm của người tuổi Tị độc thân sẽ được Kim Dư quý nhân nâng đỡ. Cát thần này không chỉ đem tới cho bạn phúc khí, trí tuệ tuyệt đỉnh mà còn khiến cá tính bạn trở nên dịu dàng hơn, hành vi nho nhã vì thế nhân duyên dị tính rất phát triển. Nhưng vì thần Sát chủ về âm đức nên người nam tuổi Tị còn độc thân sẽ chiếm ưu thế hơn, có thể bạn sẽ đón được một người vợ hiền, dâu thảo, hưởng phúc lộc từ vợ. Người có gia đình nếu gặp khó khăn sẽ được nửa kia của mình giúp đỡ. Ngoài ra Dịch Mã yêu cầu bản mệnh phải chạy đôn chạy đáo nhiều nơi, thời gian dành cho gia đình sẽ ít hơn. Nữ mệnh có chiều chểnh mảng chuyện gia đình, vợ chồng đa nghi có điềm rạn nứt.
Bước vào tháng Ất Mùi, người tuổi Tị sinh Thương Quan gặp Thất Sát tàng trong Mùi Thổ, tinh thần biến động nhiều thứ. Thương Quan và Thất Sát đều mang tính mở rộng và cải cách trong Thập Thần. Nên trong tháng, người tuổi Tị sẽ phải bận rộn, suy nghĩ rất nhiều.Người làm ăn thì chuyện được mất bày ra trước mắt, mưu sự rất khó khăn. Mặt sức khỏe tinh thần vì vậy cũng đi xuống. Tiết có mùa Hạ kéo dài nhất trong năm, cơ thể âm thịnh dương suy, tà khí bí bách tiêu hóa thất thường. Thường ngày khi ăn cơm thì xem xét mình có “thèm ăn” hay không. Trong Đông Y, tỳ mang đặc tính của hành Thổ, khi tỳ vị hấp thụ nước thì Tà Khí sẽ dễ dàng tấn công hơn. Tỳ chủ yếu về tiêu hóa và hấp thụ, đem tới cảm giác thèm ăn nên nếu bản mệnh không muốn ăn như vậy tì vị của bạn đã bị Thấp Khí tấn công, đã đến lúc điều chỉnh. Nhìn chung, vận trình người tuổi Tị không gặp nhiều khó khăn lắm, cát tinh nhiều quan hệ tam hội cục giúp bạn vượt qua mọi điều. Sự nghiệp được Tị Mùi bán Hội hóa giải các bất lợi từ đồng nghiệp. Bạn cần phát huy tính kiên trì vốn có, để tư duy hoạt động thì công việc sẽ thuận lợi. Chuyện tình cảm, người đã có gia đình phải lưu ý nhiều điều, người độc thân thì thuận lợi, cần phát huy cá tính riêng. Mặt sức khỏe phải đề phòng Tà khí thâm nhập tỳ vị khiến ăn uống khó tiêu, chân tay thêm mụn…
Truyền thuyết cho rằng lịch cổ Trung Quốc là do Hoàng Đế, một nhân vật huyền thoại của lịch sử Trung Hoa, phát minh. Ông được coi là người sáng lập ra nền văn minh Trung Quốc. Lịch này có ghi những vần thơ về 4 mùa gắn với Hiên Viên Hoàng Đế. Dựa vào
So với năm 2014, vận thế người tuổi Tý trong năm nay bình ổn hơn, nhưng chỉ ở mức bình thường. Đặc biệt, cần lưu ý các mối quan hệ xã giao, tránh gây hiềm khíc
So với năm 2014, vận thế người tuổi Tý trong năm nay bình ổn hơn, nhưng chỉ ở mức bình thường.
Tổng quan
Những người tuổi Tý sinh các năm 1936, 1948, 1960, 1972, 1984, 1996 và 2008. Năm 2014 gặp xung Thái Tuế, năm 2015 lại gặp hại Thái Tuế nên vận thế người tuổi Tý không thuận lợi. Đặc biệt, cần lưu ý các mối quan hệ xã giao, tránh gây hiềm khích hoặc bị kẻ tiểu nhân lợi dụng. Nhiều khả năng trong năm nay người tuổi Tý sẽ đi làm ở nơi xa hoặc ở nước ngoài.
Vận thế năm 2015 của người tuổi Tý
Tài vận
Trong năm Ất Mùi, người tuổi Tý nên tích lũy nhiều hơn khoản chi tiêu, hạn chế tiêu tiền vào tháng 2, 5 và 8. Đến tháng 6 và 10 năm nay có thể tiến hành đầu tư, nhưng phải hết sức cẩn trọng. Thu nhập trong năm 2015 của người tuổi Tý ổn định, không tăng nhưng có thể giảm sút nếu không biết chi tiêu tiết kiệm.
Sự nghiệp
Áp lực công việc ngày một nhiều, nhưng nếu người tuổi Tý không chùn bước, nhất định sẽ được đề bạt thăng tiến vào những tháng cuối năm. Trong năm Ất Mùi, bạn chỉ nên tập trung vào những việc của mình được giao, tránh quản chuyện bao đồng, vừa mất thời gian lại dễ vướng vào rắc rối thị phi.
Tình duyên
Xét về tổng thể tử vi năm, tình cảm hôn nhân của người tuổi Tý trong năm 2015 bình ổn và thuận lợi hơn. Mối quan hệ giữa bạn và nửa kia cũng được củng cố và hòa hợp. Bắt đầu từ tháng 8, tình duyên của bạn càng khởi sắc. Tuy nhiên, không nên dành quá nhiều thời gian mê muội yêu đương, tránh bị đối phương lừa dối hoặc làm tổn thương.
Sức khỏe
Cả năm 2015, sức khỏe người tuổi Tý bình thường, dễ mắc bệnh khi chuyển giao mùa và các bệnh về hệ tiêu hóa, bài tiết. Bạn nên tăng cường luyện tập thể thao để nâng cao sức khỏe và tinh thần.
Cách hóa giải
Người tuổi Tý nên bài trí tượng Phật Quan âm nghìn tay (vị thần độ trì bản mệnh) trong nhà. Sử dụng các món đồ trang sức màu đỏ và tím như mã não đỏ, ngọc phong thủy, thạch anh tím…để hóa giải sát khí, tăng may mắn.
Các bài viết cùng chủ đề, có thể bạn quan tâm: Tính cách, vận mệnh người tuổi Tý mệnh Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, ThổTuổi Tý hợp với tuổi nào trong tình yêu, hôn nhânST Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Minh Tuyết (##)
Chọn hướng phong thủy nhà hơp. với hàng xóm để tạo được hòa khí và sự may mắn cho mọi người, trong đó có phần của chính bạn. Vận dụng phong thủy nhà không chỉ là chọn hướng làm việc, nghỉ ngơi thích hợp nhất cho các thành viên của gia đình mà còn là
Chọn hướng phong thủy nhà hơp. với hàng xóm để tạo được hòa khí và sự may mắn cho mọi người, trong đó có phần của chính bạn.
Vận dụng phong thủy nhà không chỉ là chọn hướng làm việc, nghỉ ngơi thích hợp nhất cho các thành viên của gia đình mà còn là nhiều quy tắc khác nên thực hiện trong mối quan hệ với khách khứa, hàng xóm để tạo được hòa khí và sự may mắn cho mọi người, trong đó có phần của chính bạn.
Sắp xếp vị trí ngồi của khách
Nếu bạn muốn tổ chức 1 bữa ăn tối thành công về mặt giao tiếp xã hội thì cần áp dụng 1 số cách theo phong thủy để đảm bảo mọi người đều được chuyện trò vui vẻ với nhau. Nếu có thể, bạn nên sắp xếp theo hướng phù hợp với cá tính của mỗi người (hoặc hướng tốt nhất theo Quái số của họ). Như vậy, không những các vị khách được thoải mái trò chuyện với nhau, mà còn thể hiện sự tôn trọng khách của chủ nhà.
Nên xếp chỗ cho những người khác phái ngồi cạnh nhau để tạo sự cân bằng về âm dương và bố trí những người thân của mình ở những vị trí thuận tiện để luôn sẵn sàng giúp đỡ khách khi cần thiết.
Khi tổ chức những bữa tiệc tiếp đãi bạn bè, chọn bàn tròn là phù hợp nhất. Tuy nhiên, nếu không có bàn tròn thì chọn bàn hình chữ nhật vẫn tốt hơn bàn hình chữ T hoặc L. Ngoài ra, nếu số lượng khách nhiều hơn số ghế có sẵn thì tốt nhất bạn nên tổ chức tiệc buffet.
Ảnh hưởng của dao kéo trong các mối quan hệ Trên bàn làm việc, không nên để mũi nhọn của kéo chĩa thẳng về phía bạn hoặc đồng nghiệp. Mũi kéo được xem như mũi tên độc tình cờ chĩa thẳng vào người và chuyển năng lượng thù nghịch về phía bạn. Mũi dao, lưỡi khoan, tua vít, búa… cũng mang ý nghĩa tương tự. Vì vậy, bạn nên lưu ý xem các vật dụng này có hiện diện ở quanh nhà, trong phòng hay không để cất chúng cẩn thận.
Khi bạn chĩa 1 vật thể bén nhọn mang năng lượng thù nghịch vào 1 người khác, rất có thể bạn đã tạo ra 1 sự xung khắc, đối nghịch vô hình với người đó. Trong phong thủy, điều này rất kiêng kỵ và có thể hủy hoại mối quan hệ tốt đẹp giữa bạn với người khác. Vì vậy, tuyệt đối không tặng bất cứ vật gì có hình dạng bén nhọn, sắc cạnh cho người khác vì chúng có thể tạo ra hậu quả xấu.
Nếu vô tình bạn nhận được 1 vật tương tự như hộp đồ nghề, dao găm hoặc cái mở nút chai hình xoắn, lưỡi kiếm, đầu lâu, cung tên… thì hãy gửi ngay cho người tặng 1 đồng tiền hoặc 1 tờ giấy bạc nhằm hóa giải năng lượng xấu do món quà đó mang lại. Điều này ngụ ý rằng, chính bản thân bạn mua món quà đó và giúp bạn tránh khỏi những ảnh hưởng của năng lượng xấu. Dù bạn có thể tin hoặc không tin điều đó nhưng bạn vẫn nên tránh những vật bén nhọn, tốt nhất là đặt chúng vào đúng chỗ, cất cẩn thận, đặc biệt tránh để chúng ở những vị trí có ảnh hưởng xấu đến bạn và người khác.
Bố trí chỗ ngồi Khi bố trí chỗ ngồi cho khách, bạn nên chú ý 1 số điều quan trọng sau: – Không xếp chỗ ngồi vào góc bàn của hình vuông hoặc hình chữ nhật. – Không xếp chỗ ngồi đối diện trực tiếp với cửa toilet. – Không xếp chỗ ngồi đối diện trực tiếp với cửa đi vào phòng ăn. – Không xếp chỗ ngồi trực tiếp bên dưới xà nhà. – Không xếp chỗ ngồi đối diện trực tiếp với góc tường hoặc cột nhô ra.
Tạo những mối quan hệ tốt đẹp với hàng xóm
Nhằm duy trì và phát triển tình cảm thân thiện với những người hàng xóm, tốt nhất bạn nên khiến không gian nhà mình không gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của họ, mà còn mang lại lợi ích cho họ. Muốn vậy, bạn phải bảo đảm môi trường sống của mình tràn đầy khí lành mạnh và có ảnh hưởng tốt đẹp cho láng giềng. Đồng thời, tránh những ảnh hưởng xấu mà kiến trúc hay cách bài trí ngôi nhà của bạn có thể gây ra cho họ.
Những ảnh hưởng xấu của căn nhà có thể tạo ra từ mũi nhọn của chóp mái nhà, xà nhà dôi ra, góc cạnh của ngôi nhà… nếu chúng chĩa thẳng đến mặt tiền nhà của người khác. Khi bạn sử dụng gương Bát quái cũng cần cẩn thận chú ý vì nó là 1 biểu tượng rất mạnh và có thể gây tổn thương cho người khác. Cổng và hàng rào theo dạng tròn sẽ không tạo ra những mũi tên chĩa vào nhà hàng xóm
Khi căn nhà của bạn bị ảnh hưởng xấu từ bên ngoài mà bạn không thể treo gương bát quái vì không muốn ảnh hưởng đến nhà hàng xóm thì tốt nhất là sử dụng chuông gió hoặc trồng cây để ngăn cản những tác hại đó. Bằng cách này, bạn đã góp phần tạo ra năng lượng tốt đẹp cho cuộc sống của những người xung quanh, đồng thời duy trì mối quan hệ hàng xóm luôn tốt. Ngoài ra, có thể lắp đặt những ngọn đèn trước cổng nhà để tạo ra năng lượng tốt lành cho hàng xóm. Đây là hành động thể hiện sự hòa hiếu và giao lưu mật thiết giữa bạn với những người láng giềng. Nếu nhà bạn có hàng rào ngăn cách với nhà bên cạnh thì hãy bảo đảm những kiểu thiết kế của hàng rào không gây ảnh hưởng đến nhà họ.
Bảo vệ góc may mắn của các thành viên trong gia đình
Góc Tây Bắc do cung Càn ngự trị chính là nguyên nhân đem lại những điều may mắn hay bất hạnh cho các thành viên sống trong nhà. Vì vậy, góc này trong bất cứ ngôi nhà nào đều phải được bảo vệ cẩn thận.
Góc Càn không được xác định theo hướng của cửa chính, mà phải xác định theo hướng Tây Bắc của la bàn. Khi đã xác định chính xác, bạn nên treo chuông gió gồm 8 ống kim loại rỗng ở góc này để thu hút những điều tốt đẹp, may mắn đến với cuộc sống của bạn. Bằng cách này, bạn cũng có thể cung cấp năng lượng cho vận may của người cha trong gia đình.
Không nên để đèn sáng ở góc Tây Bắc của ngôi nhà, vì như vậy sẽ thu hút những bất hạnh, những rủi ro vào nhà. Ngoài ra, sự hiện hữu của Hỏa tại hướng Tây Bắc cũng rất có hại. Vì vậy, bạn không nên lắp đặt đèn chiếu sáng hoặc đèn chùm ở đây.
Cách xem tướng nhận biết người phú quý giàu sang –
Tướng này có người sinh ra đã có, có người do tu tâm dưỡng tính, làm nhiều việc thiện, do gặp vận may, hay do đức của cha mẹ truyền lại mà có: + Khí trong, tiếng nói vang, trán cao, mắt sáng, mày thưa, tai dày, môi hồng, mũi thẳng, mặt vuông, lưng đầ
Đoán tính cách nhờ chữ cái đầu tiên của tên tiết lộ nét riêng của từng người để bạn hiểu thêm về cá tính của chính bạn hoặc người bạn cần tìm hiểu. Tiếp nối Đoán tính cách nhờ chữ cái đầu tiên của tên (Phần 1), chúng ta cùng khám phá tính cách, nét riêng của bạn thông qua chữ cái đầu tiên của tên.
N là chữ cái đầu tiên của tên
Dự đoán tính cách nhờ chữ cái đầu tiên cho biết nếu bạn bắt đầu bằng chữ N cho thấy bạn là người thông minh với trí tưởng tượng phong phú. Bạn rất giỏi và khéo léo khi chuyển những bản kế hoạch thành thực tế.Bạn không ngại khó, ngại khổ, sẵn sàng vượt qua các chướng ngại vật để tìm ra lối đi thành công cho cuộc sống của mình. Chính sự mạnh mẽ này của những người có tên bắt đầu bằng chữ N đã tạo nên nét cuốn hút rất riêng. Tuy nhiên, điểm tiêu cực là khi nỗ lực mà không thành công họ trở nên rất ủ rũ và sống nội tâm hơn.Nếu còn độc thân, họ rất thích chia sẻ với mọi người những mong muốn về tình yêu trong mơ của mình. Một khi tìm được một nửa đích thực họ sống rất cuồng nhiệt nhưng lời khuyên là nên tỉnh táo nếu không sẽ bị phản bội lúc nào không hay.
O là chữ cái đầu tiên của tên
Những người này có rung động tinh thần mạnh mẽ và có cách nhìn sâu sắc trước nhiều vấn đề. Họ yêu thích sự công bằng, kiên cường và rất dũng cảm. Trong những cuộc tranh cãi, họ nhất định là người hòa giải tuyệt vời và có những kỹ năng để dễ dàng đạt được mục tiêu nghề nghiệp của mình. Yếu điểm của họ là thường không thực tế, hay mơ mộng.Trong tình yêu, những người có tên bắt đầu bằng chữ O thích có nhiều mối quan hệ cùng một lúc và đó là bởi vì muốn có nhiều trải nghiệm hơn trong chuyện tình cảm trước khi đưa ra quyết định cuối cùng. Tuy mãnh liệt, đam mê nhưng đôi khi quá sở hữu và ghen tuông.
Bạn có thể tham khảo thêm bài viết: Chiếc rốn nói gì về tương lai sướng khổ của bạn?
P là chữ cái đầu tiên của tên
Những người có chữ P là chữ cái đầu tiên của tên là người tổng hòa giữa sự lý trí và bài bản, lại xen lẫn sáng tạo. Họ thích tìm hiểu và học hỏi tất cả những gì có thể và niềm vui là được chia sẻ những gì mình đã học với mọi người càng nhiều càng tốt.Họ đam mê theo đuổi thành công và luôn muốn những bạn bè là những người tài năng để cùng họ khám phá thế giới xung quanh. Tuy nhiên, những người có tên bắt đầu bằng P đang bị mắc kẹt giữa sự sáng tạo và tuân theo sự sắp đặt. Đây là lý do chính bản thân họ mâu thuẫn. Về mặt tình cảm, họ giỏi tán tỉnh người khác giới và thích thử những điều mới mẻ trong tình yêu.
Q là chữ cái đầu tiên của tên
Người có chữ cái đầu là Q là người tự tin, kiên trì và rất giỏi trong việc giữ bình tĩnh trước mọi vấn đề trong cuộc sống. Họ mạnh mẽ, nhanh nhạy với trực giác tuyệt vời. Họ sinh ra đã có khả năng để trở thành người lãnh đạo. Những thứ bất thường trong cuộc sống kích thích con người và thu hút mối quan tâm của họ.Dự đoán tính cách nhờ chữ cái đầu tiên cho biết nếu bạn bắt đầu bằng chữ Q tức là bạn có sự tự tin tuyệt vời và đây là bệ phóng đưa bạn đến thành công. Điểm yếu là đôi lúc vì mục đích cá nhân nên sinh ra tính ích kỷ.Bạn vừa lãng mạn và nội tâm nên có cảm giác khó tìm thấy đối tác phù hợp, vì thế phần lớn thời gian bạn chơi với một nhóm bạn để giải tỏa cảm giác cô đơn trước khi tìm ra một nửa của mình.
R là chữ cái đầu tiên của tên
Những người bắt đầu bằng chữ R là người dịu dàng, tốt bụng và hiền lành. Họ có lý tưởng và suy nghĩ tích cực về cuộc sống, luôn mong muốn được giúp đỡ người khác. Dường như họ trở thành người lập dị vì quá bao dung và yêu thương tất cả mọi người cũng như luôn sẵn sàng giúp đỡ người khác. Bản chất trung thực và đáng tin cậy của họ khiến mọi người xung quanh rất tôn trọng và ngưỡng mộ. Tuy nhiên, điểm yếu của những người này là đôi lúc hơi hời hợt. Tham khảo thêm bài viết: Soi chữ ký biết tính cách những nhân vật có tầm ảnh hưởng thế giới
S là chữ cái đầu tiên của tên
Những người nàycó tính cách nhút nhát, có xu hướng che giấu suy nghĩ, cảm xúc của bản thân. Họ là sự kết hợp giữa tinh thần mạnh mẽ và biết hi sinh, họ có khả năng để vượt qua bất kỳ khó khăn nào trong cuộc sống. Họ có đủ sức mạnh ý chí để thực hiện ước mơ của mình và xây dựng tương lai lý tưởng của mình. Nhược điểm của con người mạnh mẽ này là dễ nổi nóng khiến họ mất cần bằng trong cuộc sống.
T là chữ cái đầu tiên của tên
Nếu bạn có tên chữ cái đầu tiên là T thì chắc chắn một trong những người đam mê nhất trên hành tinh này. Bạn khá nhút nhát, dè dặt và rất lãng mạn và thường mơ mộng nghĩ về bữa tối lãng mạn trên bãi biển để được cùng người ấy ngắm sao đêm. Vì thế, bạn khó yêu vì quá lý tưởng hóa tình yêu.Bạn cũng là người rất kiên nhẫn, khoan dung và tốt bụng. Bên trong bạn ẩn chứa phẩm chất lãnh đạo tuyệt vời vì thế ở nơi làm việc hay trong các nhóm bạn luôn nổi bật. Bạn thoải mái chia sẻ kiến thức và sẵn sàng chi tiền để hỗ trợ người mà mình dẫn dắt. Tuy nhiên, điểm yếu là bạn luôn cần sự ủng hộ từ nhiều người nên dễ bị phục thuộc vào cảm xúc, dễ nảy sinh lo lắng, thờ ơ.
U là chữ cái đầu tiên của tên
Dù là người yêu thích sự tự do và những cuộc phiêu lưu nhưng những ai có tên bắt đầu bằng chữ U mang nét gì đó rất thần bí. Họ tài năng và may mắn trong cuộc sống, nhưng bên trong con người họ thường bị giằng xé giữa bổn phận và những mong muốn cá nhân. Nếu họ có thể vượt qua những ham muốn vật chất đời thường thì sẽ hứa hẹn một tương lai thành công rực rỡ. Tình yêu của họ mang nghĩa rất rộng. Nếu chưa tìm thấy một nửa của mình, bạn vẫn rất yêu đời và chỉ những mối quan hệ tích cực, hào hứng, thú vị mới đủ níu chân bạn.
V là chữ cái đầu tiên của tên
Bạn có nét tính cách thu hút với nhiều người ở những độ tuổi hoàn toàn khác nhau. Bạn đặc biệt hấp dẫn với những người cá tính, có nét lập dị như là có phong cách ăn mặc hoặc hành xử khác biệt. Bạn thích tự do và mong muốn có không gian riêng của mình.Nếu bạn là người bắt đầu bằng chữ V nghĩa là bạn là người sáng tạo, cần cù, chân thành. Bạn thường mong muốn phát triển không ngừng nghỉ và luôn nắm bắt cơ hội để di chuyển và khám phá. Bạn tận hưởng những điều nhỏ nhặt trong cuộc sống. Điểm yếu là không có khả năng quản lý tiền bạc chặt chẽ.
X là chữ cái đầu tiên của tên
Bạn thường lý tưởng hóa tình yêu mà có thể bạn sẽ không bao giờ gặp được trong cuộc sống. Để hỗ trợ lý tưởng của mình, bạn thường nói rất nhiều để bày tỏ cho mọi người biết về suy nghĩ của mình.Những người có tên xuất phát bằng chữ X rất bản lĩnh, họ không ngừng phấn đấu để vươn lên, tìm kiếm sự hoàn hảo và cân bằng trong mọi việc. Họ có nét sống động tự nhiên, đặc biệt dũng cảm, thoải mái đón nhận sự thay đổi trong cuộc sống trong khi đi tìm kiếm sự hài hòa. Tuy nhiên, những người này có thể trở nên tiêu cực khi mọi thứ không đi theo kế hoạch.
Có thể bạn quan tâm: Cách ký tên nói gì về bạn?
Y là chữ cái đầu tiên của tên
Nếu tên bạn bắt đầu bằng chữ Y nghĩa tức bạn là nhà thám hiểm vĩ đại và nhiều đam mê. Bạn luôn luôn tìm kiếm ý tưởng mới, luôn cố gắng đáp ứng nhu cầu của người thân thiết. Dự đoán tính cách nhờ chữ cái đầu tiên cho biết nếu bạn bắt đầu bằng chữ Y nghĩa là bạn mang quyết tâm rất lớn về cả năng lượng thể chất và tinh thần. Bạn có khả năng phân tích và rất thông minh, nhanh chóng tìm giải pháp cho vấn đề của mình. Điều này hứa hẹn thành công và cơ hội tỏa sáng trong nghề nghiệp mà bạn đã chọn. Ngoài ra, người bị ảnh hưởng bởi Y có thể lãng phí rất nhiều năng lượng cho việc suy diễn vấn đề.
KaThy Dự đoán tính cách theo họ tênDự đoán tính cách của từng cung hoàng đạo khi làm mẹ
Chọn người hợp tuổi làm ăn là một việc rất quan trọng, nếu bạn chọn được người hợp với mình thì công việc sẽ trôi chảy, thuận lợi, phát triển hơn, ngược lại, nếu người đó không hợp ( hoặc khắc với mình ) thì sự hợp tác sẽ khó khăn, nhiều trắc trở và
Chọn người hợp tuổi làm ăn là một việc rất quan trọng, nếu bạn chọn được người hợp với mình thì công việc sẽ trôi chảy, thuận lợi, phát triển hơn, ngược lại, nếu người đó không hợp ( hoặc khắc với mình ) thì sự hợp tác sẽ khó khăn, nhiều trắc trở và có thể dễ đổ bể.
Dưới đây Tủ Vi Khoa Học tổng kết lại người hợp tuổi làm ăn năm Ất Mùi giúp bạn có sự lựa chọn khôn ngoan cho mình, giúp công việc thuận lợi hơn.
Người tuổi Tý: Người tuổi Tý là một nhà kinh doanh “khá mưu mẹo”, vui buồn thất thường, nhìn chung họ hành động ngấm ngầm. Cá tính kiểu này thiếu đặc chất “thỏa thuận”, nếu một mình làm kinh doanh thì có thể nghĩ gì làm nấy không cần tư vấn, không cần nhượng bộ.
Người tuổi Tý và người tuổi Thìn: Có thể hợp tác, song người tuổi Thìn phải là người đưa ra quyết định chính thì mới phát triển thuận lợi.
Người tuổi Tý và người tuổi Hợi: Có thể hợp tác làm ăn, về tiền bạc, người tuổi Hợi thường gặp may hơn người khác, người tuổi Tý có thể nhân cơ hội này mà kiếm lời, hơn nữa người tuổi Tý sẽ không gặp tổn thất nào to lớn.
Người tuổi Sửu: Người tuổi Sửu luôn mong muôn có sự hợp tác lâu dài, nếu có thể kết hợp tài trí thì sẽ là một thương nhân vững vàng, đặc biệt là kinh doanh với láng giềng, có thể được mọi người tin tưởng, hợp tác lâu dài.
Người tuổi Sửu và người tuổi Tý: Mặc dù người tuổi Sửu không có đầu óc kinh doanh, song họ lại có ưu điểm cần cù chịu khó, nếu người tuổi Tý giỏi kinh doanh thì sự hợp tác này nhất định sẽ mang lại hiệu quả.
Người tuổi Sửu và người tuổi Ngọ: Hợp tác khá ăn ý, hai bên đều nỗ lực làm việc, đôi xử chân thành vởi nhau, sự nghiệp nhất định sẽ phát triển.
Người tuổi Sửu và người tuổi Hợi: Hợp tác khá ăn ý, lợn rất “có ích” đôT với trâu, hơn nữa lợn rất khâm phục năng lực làm việc của trâu.
Người tuổi Dần: Người tuổi Dần dũng mãnh, tác phong quyết đoán, nếu tận dụng được cả tài năng và học thức thì vừa quyết đoán lại rất thông minh, tự mình có thể đưa ra quyết định sáng suốt và thực hiện trong thời gian ngắn nhất. Người tuổi Dần không nên dựa dẫm vào bạn hợp tác, không cần suy xét tới ý kiến của người khác, vẫn có thể tự mình vạch ra kế hoạch.
Người tuổi Dần và người tuổi Tý: Có thể hợp tác, song người tuổi Dần cần để ý một chút, bởi lẽ người tuổi Tý có tâm lý “đầu cơ”, nếu chân thành thì còn có thể hợp tác được, còn không gặp phải người tuổi Tý “khôn lỏi”, e rằng người tuổi Dần sẽ phải hôi hận.
Người tuổi Dần và người tuổi Thìn: Hợp tác cực kì ăn ý, hai bên đều có năng lực và tài cán phi phàm, hơn nữa tin tưởng lẫn nhau, gây ảnh hưởng tốt cho nhau.
Người tuổi Dần và ngưòi tuổi Hợi: Có thể hợp tác trong thời gian ngắn, không thể về lâu về dài, bởi lẽ người tuổi Dần thường tạo sự uy hiếp đối với người tuổi Hợi, ngay cả bản thân người tuổi Dần cũng không biết điều này.
Người tuổi Mão: Tác phong kinh doanh của người tuổi Mão tương đối “dịu dàng”, trong khi đó thương trường là nơi “sóng gió”, nhất định cần có ý chí mạnh mẽ mới có thể đứng vững, không thể làm mọi việc dựa vào cá tính hiền dịu.
Người tuổi Mão và người tuổi Mão: Hợp tác khá vui vẻ, đặc biệt là mở cửa hàng bán đồ chơi cổ hoặc văn phòng luật sư, sự nghiệp sẽ sáng lạn.
Người tuổi Mão và người tuổi Thìn: Hợp tác khá tốt, mèo sẽ nghe theo ý tưởng của rồng, đồng thời cũng sẽ đóng góp nhiều ý kiến cho rồng.
Người tuổi Mão và người tuổi Mùi: Hợp tác rất thành công, mèo có thể khiến dê làm việc hăng say, còn mèo lại thường đưa ra lựa chọn sáng suốt nhất dựa vào khả năng nắm bắt nhanh nhạy của mình, sự nghiệp nhất định sẽ phát triển thịnh vượng.
Người tuổi Mão và người tuổi Tuất: Là sự hợp tác tốt nhất, sự thông minh và khách quan của mèo rất có ích đốỉ với chó, mà chó lại rất trung thành với mèo, bởi vậy hợp tác tương đối vui vẻ.
Người tuổi Mão và người tuổi Hợi: Hợp tác thành công, tài lộc của ngươi tuổi Hợi tương đối tốt, mà sự thông minh, lanh lợi của mèo sẽ “chắp thêm cánh” cho lợn, hợp tác đương nhiên thu được lợi lớn.
Người tuổi Thìn: Người tuổi Thìn có khí chất “quân vương”, tác phong kinh doanh tương đối độc đoán chuyên quyền, có kiến giải độc đáo, không thích tiếp thu ý kiến người khác, cực kì bảo thủ. Bởi vậy, người tuổi Thìn có tài năng và kiến thức có thể tự mình kinh doanh và lập nghiệp, hợp tác sẽ chỉ làm mọi việc thêm phiền phức, bị đối phương trách cứ mà thôi.
Người tuổi Thìn và người tuổi Tý: Có thể hợp tác, có điều sự nghiệp nhất thiết phải phát triển theo ý đồ của người tuổi Thìn.
Người tuổi Thìn và người tuổi Mão: Hợp tác khá ăn ý, mèo sẽ để rồng quyết định mọi việc, hơn nữa còn đóng góp nhiều ý kiến hợp lý, thật đúng là “cố vấn” của rồng.
Người tuổi Thìn và người tuổi Thân: Hợp tác xuất sắc nhất, hai người tâm đầu ý hợp, không bao giờ thất bại.
Người tuổi Thìn và người tuổi Hợi: Nếu người tuổi Hợi có thể khiêm nhường một chút thì hợp tác này sẽ thành công mỹ mãn.
Người tuổi Tỵ: Người tuổi Tị là nhà kinh doanh “lắm mưu nhiều kế”, hành động và tác phong đều nhanh không thích bỏ lỡ cơ hội, trong lòng có thể vạch ra toàn bộ sách lược một cách nhanh chóng.
Người tuổi Tị và người tuổi Tị: Có thể hợp tác. Trong mắt người ngoài, hợp tác này vôh không hiện thực, bởi vậy hai bên cần có quan điếm riêng của mình, suy nghĩ độc lập thường mang lại kết quả đúng đắn.
Người tuổi Tị và người tuổi Ngọ: Có thể nói là sự hợp tác tốt nhất, rắn giỏi suy nghĩ, có thể đưa ra nhiều ý kiến mang tính xây dựng, còn ngựa thì chăm chỉ chịu khó, do vậy đảm bảo thực hiện đúng kế hoạch.
Người tuổi Tị và người tuổi Mùi: Có thể hợp tác, bởi lẽ rắn hiểu phải làm thế nào, song rắn vẫn nên coi sự nghiệp là chính, cố gắng giảm bớt sai sót cũng như phiền toái trong công việc.
Người tuổi Tị và người tuổi Hợi: Có thể hợp tác, tuy nhiên rắn vẫn nên coi sự hợp tác là chính, chớ đưa ra lắm mưu kế, bởi lẽ điểu này không gây trỏ ngại lớn cho lợn, người chịu thiệt lại thường chính là rắn.
Người tuổi Ngọ: Người tuổi Ngọ hành động nhanh, suy nghĩ nhạy bén, kinh doanh táo bạo, song không hề lãng phí thời gian. Xúc giác kinh doanh nhạy bén mách bảo họ chỗ nào có thể kiêm ra tiền. Người tuổi Ngọ tài giỏi kinh doanh sáng suốt, hơn nữa có hàng loạt suy luận logic hoàn chỉnh hỗ trợ cho hành động của họ. Họ tự hành động, tự chịu trách nhiệm, kinh doanh độc lập, không cần hợp tác vối người khác.
Người tuổi Ngọ và người tuổi Sửu: Hợp tác tương đối lý tưởng, họ đều trung thành với sự nghiệp chung, hơn nữa cần cù chịu khó, sự nghiệp sẽ phát tnên thuận lợi.
Người tuổi Ngọ và người tuổi Dần: Có thể hợp tác, hai bên đều có những tính toán của riêng mình song lợi ích của điều này là có thể khiến hai người gắn bó chặt chẽ vối nhau.
Người tuổi Ngọ và người tuổi Tỵ: Dường như là sự hợp tác tốt nhất, hai bên đều có nhiệt huyết vói sự nghiệp. Rắn giỏi tính toán, ngựa lại chăm chỉ chịu khó, không có lí do gì lại không thành công.
Người tuổi Mùi: Người tuổi Mùi có khuynh hướng chạy theo trào lưu, thiếu sự sáng tạo, tác phong tương đối bảo thủ. Tuy vậy họ lại có linh cảm về thị trường mạnh mẽ, có thể nhanh chóng biết được xu thế của thời đại, từ đó điều chỉnh kinh doanh, chọn những sản phẩm phù hợp, cung cấp những dịch vụ cần thiết.
Người tuổi Mùi và người tuổi Mão: Khá hoà hợp, mèo có con mắt tinh tường, biêt lựa chọn, còn dê lại làm việc hăng say, họ hợp tác vối nhau rất có lợi.
Người tuổi Mùi và người tuổi Thìn: Hai bên có thể hợp tác trong lĩnh vực nghệ thuật, có điều công việc thường do rồng sắp xếp hộ.
Người tuổi Mùi và người tuổi Tỵ: Có thể hợp tác, bởi lẽ rắn biết phải làm thế nào, còn dê lại có tấm lòng khoan dung độ lượng, sẽ bỏ qua những lỗi lầm mà rắn mắc phải.
Người tuổi Mùi và người tuổi Thân: Hợp tác tương đối thành công, có điều dê cần có con mắt tinh đời, không nên sợ tổn hại trước mắt, tài năng của khỉ hơn người, có thể thúc đẩy sự nghiệp phát triển.
Người tuổi Mùi và người tuổi Hợi: Hợp tác khá vui vẻ, điểu này có lợi cho cả hai, tài lộc của lợn tốt, mà dê lại vui vẻ giúp đỡ lợn hết lòng, hai bên cùng chung sức phát triển sự nghiệp.
Người tuổi Thân: Người tuổi Thân thông minh lanh lợi, giỏi ứng phó, nhưng khi làm kinh doanh cũng hay đa nghi, không thật chú tâm, hợp tác kinh doanh từ hai người trở lên sẽ dễ đạt hiệu quả hơn.
Người tuổi Thân và người tuổi Tý: Có thể hợp tác, song chuột muôn tự lập thì không nên tôn sùng khỉ một cách mù quáng.
Người tuổi Thân và người tuổi Dần: Có thể hợp tác, có điều hổ nên kiềm chế bản tính nóng nảy của mình, còn khỉ đừng quá bận tâm vào chuyện tính toán thiệt hơn với hổ, nếu không sẽ khiến quan hệ hợp tác rạn nứt.
Người tuổi Thân và người tuổi Thìn: Có thể nói là sự hợp tác lý tưởng nhất, họ có thê hợp tác lâu dài mà không bị thất bại.
Người tuổi Thân và người tuổi Mùi: Hợp tác thường thành công, song để không nên quá coi trọng những tổn thất trước mắt, bởi lẽ với tài năng của khỉ, sự nghiệp của họ hoàn toàn có thể phát triển thịnh vượng.
Người tuổi Thân và người tuổi Hợi: Hợp tác có thể mang lại lợi nhuận cho cả hai, tài lộc của lợn khá tốt, có thể khiến khỉ tích cực hợp tác, đương nhiên, khỉ cũng thu được lợi từ đó.
Người tuổi Dậu: Người tuổi Dậu có tinh thần ‘Liều lĩnh xông pha”, tác phong nhanh nhẹn, khá táo bạo trong kinh doanh nhưng thiếu sự nhẫn nại, qua loa đại khái. Nhìn chung, những việc mà bản thân họ không thể chăm lo được rất nhiều, tác phong lại “liều lĩnh”. Vì vậy, người tuổi Dậu khá thích hợp để tìm bạn hợp tác làm ăn.
Người tuổi Dậu và người tuổi Mão: Có thể hợp tác, có điều gà cần phải thực sự tỉnh táo, bởi lẽ mèo hợp tác với gà còn có mục đích khác.
Người tuổi Dậu và người tuổi Thìn: Hợp tác có thể thành công, tuy nhiên người tuổi Thìn nên nắm giữ quyền quyết định, gà có thể lo toan những công việc bên ngoài.
Người tuổi Dậu và người tuổi Ngọ: Có thể hợp tác, tuy nhiên, gà cần phải đảm đương hết những trọng trách được giao, nếu không ngựa sẽ không chịu nôi tính lười biếng của gà.
Người tuổi Dậu và người tuổi Hợi: có thể hợp tác, song không có gì đặc biệt, cũng không chắc đã có những lợi ích khả quan.
Người tuổi Tuất:
Người tuổi Tuất giỏi giao tiếp, đặc biệt là ứng xử khéo léo trong công ty, có tài “đối ngoại”, có năng lực tổ chức khá tốt, không sợ tranh chấp nhân sự, có nhiều “mánh khoé”, dù không có trình độ học vấn hay tài cán gì vẫn có năng lực giải quyết tranh chấp.
Người tuổi Tuất và người tuổi Dần: Họ có thể hợp tác với nhau bất cứ lĩnh vực nào, tuy nhiên, không thể phân chia rạch ròi lợi nhuận.
Người tuổi Tuất và người tuổi Mão: Mèo thông minh và khách quan, có ích với chó, chó sẽ không phản bội mèo. Hợp tác rất lý tưởng.
Người tuổi Tuất và người tuổi Ngọ: Hợp tác khá vui vẻ, họ đều quan tâm tới lợi ích thiết thực, cùng nỗ lực vì công ty.
Người tuổi Hợi: Người tuổi Hợi thông minh, thích suy xét, thường có ý tưởng mối mẻ, bởi vậy có tài “đối nội”, có năng lực lên kế hoạch và trù tính cục diện, đồng thời giỏi giao tiếp, nhân duyên khá tốt, được khách hàng và mọi người yêu mến.
Người tuổi Hợi và người tuổi Tý: Hai bên có thể hợp tác, đôi lúc chuột cảm thấy không hài lòng về lợn, song lợn lại khá may mắn về tiền bạc, do vậy chuột không nỡ rời xa lợn.
Người tuổi Hợi và người tuổi Sửu: Hợp tác khá tốt, lợn có ích đối với trâu, hơn nữa lợn vô cùng hài lòng về năng lực làm việc của trâu.
Người tuổi Hợi và người tuổi Mão: Hợp tác có lợi, mèo thông minh tài giỏi, lợn lại thường gặp may mắn về tiền bạc.
Người tuổi Hợi và người tuổi Thìn: Dường như là sự hợp tác tốt nhất, tuy nhiên, rồng cần giảm bớt tính khí nóng nảy, cố gắng phát huy tài năng của mình ra bên ngoài.
Người tuổi Hợi và người tuổi Mùi: Là một kiểu hợp tác hai bên cùng có lợi, trên một mức độ lớn, “có cùng điểm chung” là nền tảng cho sự nghiệp thành công.
Người tuổi Hợi và người tuổi Thân: Có thể hợp tác, thông thường, khỉ là người chủ động đưa ra sách lược, do vậy, hiển nhiên khỉ sẽ được lợi hơn.
Người tuổi Hợi và ngưòi tuổi Tuất: Có thể hợp tác trong nhiều lĩnh vực, tuy nhiên chó cần nhớ rằng, chi tiêu hàng ngày cần công khai rõ ràng, chớ để bạn kinh doanh nảy sinh thắc mắc.
Người tuổi Hợi và người tuổi Hợi: Có thể hợp tác kiếm nhiều lợi nhuận, làm kinh doanh lớn, bởi lẽ hai bên đều là người có tài lộc, may mắn về tiền bạc.
Bạn có thể xem trực tiếp tại đây để xem bạn hợp với tuổi nào ?.
Ngày 29/2 là một ngày đặc biệt vì nó chỉ xuất hiện 4 năm một lần vào những năm nhuận. Có bao giờ bạn thắc mắc tại sao tháng 2 lại có 28 hoặc 29 ngày mà không phải tháng khác?
Ảnh minh họa
Vào những năm 46 trước Công nguyên, thống soái La Mã Julius César khi định ra lịch dương, quy định ban đầu là mỗi năm có 12 tháng, tháng lẻ là tháng đủ, có 31 ngày; tháng chẵn là tháng thiếu, có 30 ngày. Tháng 2 là tháng chẵn đúng ra phải có 30 ngày. Nhưng nếu tính như vậy thì một năm không phải có 365 ngày mà là 366 ngày. Do đó phải tìm cách bớt đi một ngày trong một năm. Vậy thì bớt ngày của tháng nào thì được? Lúc đó, theo tập tục của La Mã, thời gian để xử tử các phạm nhân rơi vào tháng 2, nên người dân cho rằng đó là tháng không may mắn. Nếu trong năm phải bớt đi một ngày thì thì bớt đi một ngày trong tháng 2 là tốt hơn cả, chuyện xui, chuyện buồn cũng được bớt đi một chút. Do đó tháng 2 còn lại 29 ngày, đó chính là lịch Julius.
Ảnh minh họa
Sau này, khi Augustus kế tục Julius César lên làm Hoàng đế La Mã. Augustus đã phát hiện ra Julius César sinh vào tháng 7, theo lịch Julius thì tháng 7 là tháng đủ, có 31 ngày, Augustus sinh vào tháng 8, tháng 8 lại luôn là tháng thiếu, chỉ có 30 ngày.
Cũng muốn mình được tôn nghiêm như Julius nên Augustus đã quyết định sửa tháng 8 – tháng sinh của mình thành 31 ngày. Đồng thời cũng sửa lại các tháng khác của nửa năm sau. Tháng 9 và tháng 11 ban đầu là tháng đủ thì sửa thành tháng thiếu. Tháng 10 và tháng 12 ban đầu là tháng thiếu sửa thành tháng đủ. Nhưng cuối cùng vẫn thừa ra một ngày, và tốt nhất là lại lấy đi một ngày nữa không may mắn trong tháng 2, như vây, tháng 2 chỉ còn 28 ngày. S.T Bây giờ đến lượt phụ nữ ngỏ lời: Truyền thuyết về ngày phụ nữ cầu hôn 29/02 Theo lịch phương Tây (lịch dương) thì ngày 29/02 là ngày nhuận, 4 năm mới có một lần. 29/02 không chỉ đặc biệt với những người có sinh nhật Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Bích Ngọc (##)
1. Tháng Giêng (Dần)- Óc quan sát và khả năng thực hành rất tốt, làm việc cẩn thận, tỉ mỉ. - Giỏi nắm bắt thời cơ, tài vận tốt đẹp. - Mưu sự cẩn trọng. Mọi sự nhắm trúng mới hành động, quyết không hành sự mù quáng. - Quan hệ gia đình xã hội nói chung hòa thuận, tốt đẹp, được cấp trên nâng đỡ cất nhắc, đề bạt. 2. Tháng Hai (Mão)- Có óc thẩm mỹ hoặc nghệ thuật. - Cá tính hiền, trầm lắng, cẩn trọng, lương thiện, bình tĩnh. - Suy nghĩ kỹ càng, tỉ mỉ, nhanh nhạy, quan hệ con người tốt, đầy sáng tạo. - Bề ngoài dễ bị đánh giá nhàn tản. - Giỏi kiếm tiền và quản lý tài chính. Về già an vui. - Thường phải ly hương mưu sinh lập nghiệp. Lục thân khiếm hòa, không đằm thắm. 3. Tháng Ba (Thìn)- Rất nhẫn nại trong bất cứ việc gì. - Bất luận nam, nữ đều khá sành điệu trong ẩm thực nhưng chưa hẳn đã mập. -Tâm hồn trong sáng, ham học hỏi, giỏi nhẫn nhịn. - Khi còn trẻ không có gì nổi trội. Ngoài 40 tuổi, đa số phát tài, phát lộc dần dần giàu có. Cuối đời dư dả, phú quý. 4. Tháng Tư (Tỵ)- Đặc điểm nổi bật nhất là con người của công việc, vùi đầu vào công việc, đâu vào đó. - Năng động, hiếu động, nóng nảy. Thường nóng - lạnh thất thường. - Luôn phấn chấn, ít ca thán. - Thích chơi với người ngoài hơn người thân. - Tự lực, tự cường, tự thân lập nghiệp, thành công ở tuổi trung niên. 5. Tháng Năm (Ngọ)- Chuyên tâm với nghề nghiệp, vững bước tiến lên. - Thiện ác phân minh. Thông minh, nho nhã. - Dám nhận thiếu sốt, sai lầm của mình. Biết sai là sửa. Đôn hậu, thiện tâm, hiếu thảo. - Công bằng, chính trực, được mọi người tin tưởng quý mến. Luôn được quý nhân hỗ trợ. - Hôn nhân thường không thuận, qua vài cầu vẫn không ổn. 6. Tháng Sáu (Mùi)- Thông minh, nhạy bén, ham hiểu biết, thích giao tiếp. - Cảm thụ về tình cảm rất nhanh nhạy. - Làm việc tích cực, chủ động, ít sợ khó khăn, trở ngại, quyết chí vươn lên. Tự thân lập nghiệp, đi trên đôi chân của mình. - Dễ trở nên bất mãn với hiện trạng. Khát khao làm nhà cách tân, đổi mới. - Suốt đời cơm áo đầy đủ, sung túc. 7. Tháng Bảy (Thân)- Thông minh, nhanh nhạy, nhân hậu, lương thiên, hành thiện tích đức. - Đầy tính sáng tạo, làm việc cẩn thận, tỉ mỉ. - Năng lực học tập tốt, là người chủ nghĩa hòa bình điển hình, không muốn gây gỗ với ai. - Làm việc nhanh chóng, không rề rà. - Suy nghĩ chu đáo. - Nếu được bồi dưỡng, đào tạo tốt sẽ có triển vọng là nhà hoạch định chiến lược có tài. - Cuộc sống vật chất tương đối đầy đủ cho đến cuối đời. 8. Tháng Tám (Dậu)- Đầy cảm tính và khá tùy hứng. - Rất lãng mạn. - Theo đuổi cái hoàn thiện, hoàn mỹ. Là người điển hình của chủ nghĩa lý tưởng, cái gì cũng lý tưởng hóa có khi là ảo tưởng. - Mua sắm theo ý thích, theo cảm hứng, bất chấp giá cả và việc sử dụng, phá tiền. - Nhanh nhạy, biết nắm bắt thời cơ, năng động, có tài lẻ. Đa năng, đa tài, đa nghệ. - Không giỏi xử lý mối quan hệ gia đình, thường bất hòa, đôi khi gây cấn, căng thẳng. 9. Tháng Chín (Tuất)- Trung thành tuyệt đối. - Tích cực chủ động, hiếu động và rất đáng tin cậy. - Trong chuyện yêu đương lại vội vàng, hấp tấp, nóng vội, chưa hiểu rõ đối tượng đã tỏ tình ý. Yêu vội cưới gấp nên dễ đổ vỡ. - Quan vận và tài vận không mấy tốt đẹp. 10. Tháng Mười (Hợi)- Theo đuổi chủ nghĩa cầu toàn. Bao dung, độ lượng, tâm hồn rộng mở. - Ham và giỏi suy nghĩ, óc tưởng tượng phong phú nhưng năng lực thực hành lại yếu. Xử lý công việc có tình lý. - Quan hệ xã hội chan hòa nhưng vẫn giữ khoảng cách nào đó nhất định. - Thích ẩn mình thế giới riêng tư của mình, tránh xa cõi trần, cô liêu trong sự ồn ào. 11. Tháng Mười Một (Tí)- Tài trí, nhanh nhạy. Công danh khá thuận. - Khả năng diễn đạt tốt, có sức thuyết phục. - Tính nóng nảy, có vẻ đùa giỡn, chọc ghẹo với quyền lực nên dễ vướng thị phi chốn quan trường. - Nếu Tôi cường, cách cục đẹp sẽ có triển vọng là quân sư có tài. - Nếu Can Thổ nhiều thì cá tính nóng vội, dễ làm người khác phật ý. 12. Tháng Mười Hai (Sửu)- Đa số đều có tính cách tích cực tiến công, phấn đấu ít mệt mỏi. Có thiện tâm, vui vẻ, được mến mộ. - Thường thiếu tin tưởng vào người khác, cái gì cũng phải để mắt vào nên bận rộn, vất vả. - Hay gặp rắc rối hoặc bị liên lụy bởi người thân, bạn bè nên cuộc sống ít thanh thản. - Không đọng tài, tiền bạc hay bị hao tán. Dự đoán tương lai theo tháng sinh khá chính xác bởi tháng sinh là một trong Bát tự và một trong Tứ trụ, đặc biệt quan trọng trong vận mệnh của một người. ST Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Yến Nhi (##)
10 lời khuyên dành cho người con gái hiện đại. Nếu bạn là một người con gái hiện đại, nhất định bạn phải đọc được những lời khuyên sau đây để ngày càng hoàn thiện mình hơn nữa trong cuộc sống!
10 lời khuyên dành cho người con gái hiện đại
1. Đừng lúc nào cũng than buồn kêu mệt, tốt khoe xấu che, đừng khiến mình chưa gì đã trở thành một bà già khó tính suốt ngày tỏ vẻ mệt mỏi và yếu mềm.
———
2. Dừng lại việc liên tục cập nhật trạng thái trên trang cá nhân. Bạn không phải là người nổi tiếng dành được nhiều sự quan tâm của cộng đồng mạng, và những nỗi buồn phiền viết ra thì nó vẫn ngự trị ở đó nếu bạn không đứng dậy và bắt tay giải quyết chúng ngay.
———
3. Nhất định phải là cô gái có giáo dục, có đạo đức và trí thức. Bằng cấp không làm nên một con người nhưng bằng cấp giúp con người tự hoàn thiện và khẳng định chính bản thân mình hơn.
———
4. Học chưa bao giờ là đủ. Một người con gái hiện đại không những phải học nữ công gia chánh mà còn phải học cách đối nhân xử thế với mọi người, là một người giỏi việc nước, đảm việc nhà.
——-
5. Hãy tìm cách tự mình nuôi sống bản thân, thích gì hãy tự tìm cách tự mình mua lấy.
6. Người đẹp vì lụa, nhưng khí chất của mỗi người lại toát ra từ trong tâm. Hãy tin rằng luôn sống lành mạnh, không có lỗi với bản thân và không làm ảnh hưởng đến những người khác sẽ có một tâm hồn trong sáng và an yên.
7. Dẹp ngay suy nghĩ phải lấy chồng giàu đi! Nên sớm nhận ra được rằng tiền không phải là tất cả của cuộc sống. Tiền quan trọng, nhưng không phải cái gì cũng mua được bằng tiền.
8. Tập thói quen nhẫn nhịn, nhẹ lời, giải quyết mọi biến cố xảy ra trong trạng thái thong thả nhất. Đừng cuống cuồng, đừng cáu gắt, đừng khiến bản thân bị lạc trong bực bội. Điều đó chỉ khiến bạn trở nên xấu xí hơn trong mắt mọi người thôi.
9. Cái gì nên giữ thì giữ, cái gì không giữ được thì nên buông tay. Một người con gái hiện đại sẽ không lụy vì tình, cô ấy biết cách chăm sóc cho chính mình và vực dậy sau nỗi đau.
10. Dù có chuyện gì xảy ra đi nữa, qua đêm nay, ngày mai vẫn phải rạng ngời. Bước xuống giường lúc nào cũng phải đẹp, và nụ cười luôn thường trực trên môi.
Tuân thủ tôt 10 điều trên đây, chắc hẳn bạn sẽ trở thành người phụ nữ hiện đại, thông minh và tuyệt vời nhất. Đừng quên chia sẻ bài viết này cho bạn bè của mình bạn nhé. Chúc các bạn luôn là những người phụ nữ vui và hạnh phúc!
Hình dạng tòa nhà, văn phòng có đặc điểm gì đến phong thủy? (Phần 1) –
Đặc điểm của những tòa nhà văn phòng hình chữ L là gì? Những toà nhà văn phòng có hình chữ L có những góc khuyết rất lớn, trong các phòng ánh sáng không được chiếu đều. Giả sử, ánh sáng chiếu từ trên cao xuống, thì ánh sáng có thế tiếp nhận được ở
Đặc điểm của những tòa nhà văn phòng hình chữ L là gì?
Những toà nhà văn phòng có hình chữ L có những góc khuyết rất lớn, trong các phòng ánh sáng không được chiếu đều. Giả sử, ánh sáng chiếu từ trên cao xuống, thì ánh sáng có thế tiếp nhận được ở một bên chữ L, nhưng những bộ phận góc khuyết thì không có nguồn ánh sáng, chính vì vậy cần phải chú ý đến nơi bị thiếu mất. Nhân viên trong những toà nhà này do bị bệnh tật xâm nhập vào cơ thể, cũng sẽ khiến trong lòng không yên.
Đặc điểm của những tòa nhà văn phòng hình chữ U là gì?
Tòa nhà văn phòng hình chữ U hiện ra điểm yếu ở phía sau của toàn bộ toà nhà, tất sẽ khiến cho việc kinh doanh không thuận tâm, phía dựa lưng sau không có lực, quý nhân bất minh, sự nghiệp không dễ phát triển.
Đặc điểm của những tòa nhà văn phòng hình chữ “Hồi là gì?
Toà lầu hình chữ “hồi”- (chữ Hán) dễ khiến cho tâm tính của ông chủ bất ổn, xảy ra hiện tượng cổ đông bất hoà. Nguyên nhân chủ yếu là kiến trúc hình chữ “hồi” đó bộ phận trung tâm ở giữa toà nhà thông không, tuy có thể tăng cường ánh sáng cho toàn bộ tòa nhà. nhưng toàn bộ toà nhà cũng giống như toàn bộ thân thể của con người, phía trung tâm kiến trúc tòa nhà giữ lại một cối giếng trời như trái tim bất lực của con người. Chính vì vậy, thiết lập công ty trong toà nhà lớn như vậy nhất định việc mở rộng công việc không dễ, tình hình cổ đông hỗn loạn.
Trong những toà nhà làm việc hiện nay, những tòa nhà văn phòng hình chữ “hồi” này rất nhiều, nhưng khí thế vượng không nhiều, chủ yếu là không hiểu được bổ cứu, chính vì vậy sẽ khiến cho nội bộ công ty vặn tác lực thiếu. Nếu toàn bộ toà nhà đơn nhất có một tổng công ty, tất trong nội bộ cổ đông tư tưởng tư doanh sẽ mạnh mẽ, nếu thay đổi được, có thể khiến cho công ty phát triển thuận lợi được.
Giai đoạn Lưu Bị "đào thoát" chạy về dưới trướng Tào Tháo, Bị được Tào đối đãi trọng hậu.
"Tam Quốc Chí - Tiên chủ truyện" có đoạn - "(Lưu Bị ) được phong Tả tướng quân.
Tào Tháo dùng lễ đối đãi, cùng đi cùng về, ngồi ăn cùng mâm".
Trong cuộc "nấu rượu luận anh hùng", Tào Tháo chỉ vào Lưu Bị mà nói - "Anh hùng thiên hạ ngày nay chỉ có Huyền Đức và Tháo ta.
Những kẻ như Bản Sơ (Viên Thiệu) không đáng nhắc tới".
Một câu "tán dương" của Tào Mạnh Đức ngay lập tức đã khiến Lưu Bị kinh sợ đến mức... buông bát, rơi đũa.
Câu thành ngữ Trung Quốc "nhanh như chớp" (Tấn lôi bất cập yểm nhĩ) cũng bắt nguồn từ điển cố này.
Ngày nay, người TQ đều biết thành ngữ nói trên, nhưng rất ít người tìm hiểu nguồn gốc vấn đề, rằng tại sao Tào Tháo lại bất ngờ "ca ngợi" Lưu Bị như vậy?
Tào Tháo - "Anh hùng đương thế chỉ có Huyền Đức và ta".
Hồ sơ "nhiều tỳ vết" của Lưu Bị
Giải thích cho việc Lưu Bị được Tào Tháo tán dương, các nhà nghiên cứu lật lại thời kỳ Bị mới dựng cờ.
Giai đoạn sơ khai, Lưu Bị không có "vốn liếng" về chính trị cũng như quân sự, ngoại trừ cái mác là hậu duệ của Trung Sơn Tĩnh Vương Lưu Thắng.
Lưu Bị không đủ khả năng cát cứ độc lập tại một địa bàn, cho nên đã gia nhập lực lượng "chính quy" của Hán triều để trấn áp khởi nghĩa Hoàng Cân, nhờ đó được phong một số chức quan nhỏ "sống qua ngày".
Tuy nhiên, ngồi trên ghế quan chưa ấm chỗ thì Lưu Bị đã bị triều đình Đông Hán bãi miễn chức vụ "theo quy định".
Nhân vật nhiều tham vọng này buộc phải lựa chọn con đường "đào thoát", tìm cách dựa vào các thế lực quân phiệt để tìm cơ hội phát triển.
Đối tượng đầu tiên mà Lưu Bị nương tựa là Công Tôn Toản. Bị được Toản cho làm Biệt bộ tư mã, huyện lệnh Bình Nguyên; sau thăng làm Bình Nguyên tướng, theo Điền Khải tới Từ Châu cứu viện Đào Khiêm.
Khi xuất phát, Lưu Bị chỉ có hơn 1.000 nhân mã, lại phải dắt díu mấy nghìn dân đói. Được Đào Khiêm cấp cho 4.000 quân, Lưu Bị lập tức "trở cờ", bỏ Điền Khải để nhảy sang phe Đào Khiêm.
Nhờ Đào Khiêm chống lưng, Lưu Bị lấy được chức Thứ sử Dự Châu, thậm chí còn có được "miếng đất cắm dùi" ở Hạ Bì.
Đào Khiêm chính là "bến đỗ thứ 2" của Bị.
Khiêm chết, Lưu Bị theo di chúc nhận chức Châu mục Từ Châu, chỉ qua 1 đêm mà trở thành nhà quân phiệt hùng cứ một phương.
Sau đó, chiến tranh bùng phát giữa 2 thế lực của Lưu Bị và Viên Thuật.
Tướng Thuật là Lữ Bố nhờ Tào Báo làm nội ứng bên phe Lưu Bị mà đoạt được Từ Châu.
Lưu Bị rút khỏi tiền tuyến, nhưng vẫn không thoát khỏi sự truy đuổi của Viên Thuật, đến Hạ Bì lại tiếp tục bị đánh bại, khiến lực lượng tiêu tan.
Bị gom góp tàn binh "quyết chiến một phen" với Thuật, song vẫn chuốc lấy thất bại.
Rơi vào tình thế "lưỡng đầu thọ địch", Lưu Bị đành phải ngồi lại đàm phán với Lữ Bố. Bố chính là thế lực thứ 3 mà Lưu Bị "nương nhờ".
Giai đoạn "luồn cúi" ở cạnh Lữ Bố, Bị tranh thủ chỉnh đốn lực lượng, được hơn 10.000 binh mã thì bắt đầu có ý định "Đông Sơn tái khởi".
Tuy nhiên, ý đồ của Lưu Bị bị phát giác, khiến chiến sự nổ ra giữa Bị và Lữ Bố. Đương nhiên, Lưu Bị ở vào thế yếu, và đây là lúc ông tìm đến với "bến đỗ thứ 4" của mình - Tào Tháo.
Lưu Bị lập được không ít công lao cho sự nghiệp của Tào Ngụy.
Tào Tháo dẫn quân phối hợp cùng Lưu Bị vây công Lữ Bố ở Hạ Bì, diễn xuất sắc màn kịch "Bạch Môn lầu trảm Lữ Bố".
Lưu Bị có nhiều thành tích "bất hảo" khi năm lần bảy lượt đổi phe.
Là khen ngợi hay cảnh cáo?
Lịch sử "lừa lọc" của Lưu Bị đối với Công Tôn Toản, Điền Khải, Lữ Bố... chính là những biểu hiện rõ rệt nhất để Tào Tháo nhìn nhận về Bị trong bối cảnh xã hội đương thời.
Tào Tháo là nhân vật "có con mắt nhìn người tinh tế", chắc chắn đã có sự đề phòng khả năng Lưu Bị "bổn cũ soạn lại".
Việc Tào Tháo phong Bị làm tướng quân, luôn đồng hành cạnh mình, được cho là thực hiện chính xác theo quan điểm "giữ kẻ thù ở gần bên mình".
Màn kịch "nấu rượu luận anh hùng" mà Tào Tháo "diễn" trước Lưu Bị, cũng không ngoài toan tính của Tào.
Sử liệu Trung Quốc cũng như những người đọc Tam Quốc đều rõ, Lưu Bị "trong lòng có quỷ", cho nên mới có việc Bị thất kinh mà "rơi bát, rơi đũa".
Thực tế, dụng ý của Tào Tháo là gì khi "khen" Lưu Bị mới chính là vấn đề được các nhà nghiên cứu tranh luận hàng nghìn năm nay.
Nhiều ý kiến nhất trí rằng, Tào Tháo đặt Lưu Bị "ngang vai" với mình, đương nhiên không phải vì Tào thực sự tán thưởng tài "văn thao võ lược" của Bị, lại càng không phải đánh giá cao thực lực của Bị.
Tất nhiên, không thể phủ định tinh thần kiên trì bền bỉ của Lưu Bị, cũng như tài năng "giao tiếp xã hội" cao siêu đến mức đủ khiến hàng loạt danh tướng nguyện hy sinh vì mình.
Bản lĩnh này của Lưu Bị, trong lịch sử cũng được đánh giá là hiếm gặp, thậm chí còn là "phẩm chất không thể thiếu của chính trị gia".
Việc Tào Tháo không để Viên Thiệu trong mắt mà đề cao Lưu Bị, cho thấy nhiều khả năng Tào cũng đánh giá Bị cao nhất ở 2 điểm trên.
Nhiều học giả cho rằng, Tào Tháo đã có nhận thức đầy đủ và toàn diện về Lưu Bị, vì vậy mới có một câu "tán dương", mà thực chất chính là lời cảnh cáo rõ ràng, yêu cầu Bị "hãy biết điều, đừng nên làm bừa".
Tào Tháo xem Lưu Bị là "anh hùng", hay chỉ là kẻ sẵn sàng trở mặt?
Đả thảo kinh xà - Lưu Bị "phản thùng"
Chiến thuật tâm lý của Tào Tháo lại dẫn tới kết quả đi ngược lại suy tính của Tào, đó là khiến cho Lưu Bị... đẩy nhanh kế hoạch tạo phản.
Kế sách "nằm gai nếm mật" bị vạch trần khiến Lưu Bị nhận thấy cơ hội dưỡng binh phát triển đã tiêu tan, trong khi nguy cơ bị thanh trừng đã xuất hiện trước mắt.
Đổng Thừa từng "bắt mối" với Lưu Bị để mưu sát Tào Tháo, nhưng Lưu Bị không theo vì tuân thủ chiến lược "nhẫn nhịn ẩn mình". Nhưng Bị cũng không báo với Tào, cho thấy ông vẫn có ý định "bắt cá hai tay".
Đến khi âm mưu bị lộ, Lưu Bị mới dứt khoát... đổi phe - "(Lưu Bị) cùng Đổng Thừa, Trường Thủy hiệu úy Chủng Tập, tướng quân Ngô Tử Lan, Vương Tử Phục... đồng mưu, hòng giết Tào Tháo".
Tuy nhiên, kế hoạch bị bại lộ, Đổng Thừa bị giết cả tộc. Lưu Bị mặc dù chưa bị lộ, nhưng cũng ở vào tình thế hiểm nghèo, và mong thoát khỏi phạm vi kiểm soát của Tào Tháo càng nhanh càng tốt.
Thời điểm này, chiến dịch Quan Độ đang tiếp diễn. Tào Tháo đối đầu với Viên Thiệu trong tình trạng lấy ít địch nhiều.
Trong khi đó, kế hoạch xưng đế ở Dương Châu của Viên Thuật bị thất bại, khiến Thuật phải chạy về nương nhờ Viên Thiệu. Cánh quân của Thuật phải vượt qua địa bàn Hạ Bì do lực lượng Tào Tháo kiểm soát.
Trước tình thế đó, Tào Tháo buộc phải cử Lưu Bị cùng Chu Linh, Lộ Chiêu lĩnh binh ngăn chặn.
Nhưng, động thái này của Tào Tháo đã đi ngược với tính toán ban đầu của ông là giữ Lưu Bị trong tầm kiểm soát.
Các nhà nghiên cứu cho rằng, không nhiều khả năng Tào Tháo cố ý đưa ra quyết định như vậy, mà có thể cục diện cấp bách đã buộc Tào phải điều động đến Lưu Bị, từ đó cho Bị cơ hội ngàn năm có một để "phản thùng".
Đến khi đám Trình Dục, Quách Gia biết tin Tào Tháo điều động Lưu Bị, nói với Tào rằng - "Không thể để Lưu Bị lại", thì Tào đã hối hận không kịp.
Lúc này, Lưu Bị đã thoát khỏi Tào doanh, một đi không trở lại.
Căn nhà có phong thuỷ tốt nhất là căn nhà có hình dáng vuông vắn, như vậy sẽ cân bằng năng lượng ngũ hành của khí trường. Nếu căn nhà của bạn bị khuyết góc thì có nghĩa một loại ngũ hành nào đó hoặc vận thế sẽ bị thiếu. Nếu căn nhà khuyết góc phía Đô
Căn nhà có phong thuỷ tốt nhất là căn nhà có hình dáng vuông vắn, như vậy sẽ cân bằng năng lượng ngũ hành của khí trường. Nếu căn nhà của bạn bị khuyết góc thì có nghĩa một loại ngũ hành nào đó hoặc vận thế sẽ bị thiếu. Nếu căn nhà khuyết góc phía Đông có nghĩa gây thêm khó khăn cho một người con trai trong gia đình. Cách bổ khuyết như sau: Trồng hoa hoặc đặt thỏ, một đôi chim uyên ương hoặc một bức tranh có viết chữ “Chấn” tại hướng Đông để bổ sung cảm giác khuyết góc. Theo kinh nghiệm của các thầy phong thuỷ, đặt thỏ tại góc đó có linh nghiệm nhất.
Nếu khuyết góc Đông Nam, có thể trồng hoa cỏ, cây cối tại vị trí đó. Nhưng quan sát từ xa thì cần phải đặt tại vị trí Đông Nam một con rồng bằng đồ chơi hoặc làm bằng thủ công mỹ nghệ để lấp đầy góc Đông Nam đó. Nếu khuyết góc phía Nam có thể đặt ngựa hoặc xe hơi đồ chơi màu đỏ. Nếu khuyết góc phía Tây Nam thì đặt dê, ấm trà tử sa hoặc đồ gốm sứ tại vị trí đó. Tuy nhiên cần chú ý, người có thuộc tướng tương khắc với dê thì không thích hợp bày hình con dê. Khi đó nên chọn bày ấm tử sa hoặc các đồ gốm sứ khác thay vào đó. Nếu khuyết góc phía Tây nên đặt một con gà bằng đồng để bổ sung vị trí Đoài. Nếu khuyết góc phía Tây Bắc có thể đặt con chó đồ chơi ở đó. Nếu khuyết góc phía Bắc thì đặt một cái bể cá để bổ sung quẻ Khảm. Nếu khuyết góc Đông Bắc có thể đặt tượng mục đồng cưỡi trâu làm bằng gốm sứ tại đó để bổ sung quẻ khí ở góc Đông Bắc.
Chúng tôi cũng xin nhắc nhở độc giả: Chỉ khi bạn thật sự cần bổ sung góc khuyết để mưu cầu một mục đích nào đó thì hãy đặt vật phong thuỷ cần thiết tại đó. Ví dụ như bạn cần có một cậu con trai thì hãy đặt hình con thỏ hoặc tranh chữ “Chấn” tại góc phía Đông. Nhưng nếu bạn không có nhu cầu trên thì đừng đặt những thứ đó. Nếu không, nó lại gây ra những điều mà bạn không muốn.
Một căn nhà thế nào mới được coi là chuẩn phong thủy. Nhà lồi ra hay lõm vào có ảnh hưởng xấu thế nào tới sức khỏe, tài vận gia chủ… là hàng loạt những câu hỏi mà bất cứ ai có dự định mua nhà đều muốn biết.
Theo quan điểm phong thủy nhà ở từ thời Trung hoa cổ đại, sự vuông vắn luôn được coi trọng bởi nó mang lại cho gia chủ sự giàu sang, may mắn và cuộc sống trường thọ. Do vậy, một ngôi nhà thiết kế kiểu hình vuông thường là lựa chọn hàng đầu.
Điều đó cũng lí giải tại sao những cung điện cổ xưa thường được xây dựng trên các bản vẽ hình vuông. Một ngôi nhà không vuông vắn, chỗ lồi ra lõm vào sẽ mang đến tâm trạng tiêu cực cũng như ảnh hưởng đến vận may của chủ nhà.
1. Nhà lõm góc (khuyết góc)
Xét theo phong thủy nhà ở, một ngôi nhà thường có 8 hướng, mỗi hướng ứng với một thành viên trong gia đình. Hướng nào bị lõm vào (thụt vào) thì người đó bị ảnh hưởng. Ngoài ra, nếu chia sàn nhà thành hình bát quái, mỗi thành viên trong gia đình cũng ứng với một đỉnh của bát quái.
2. Nhà bị thò hay thụt các hướng
a. Nhà bị lồi hoặc lõm hướng Tây Bắc
Hướng Tây Bắc thuộc mệnh Càn, ngũ hành thuộc Kim. Người chịu ảnh hưởng của hướng này là bố, người đàn ông trong gia đình, đặc biệt từ 45 tuổi trở đi.
Sống trong ngôi nhà bị lồi hoặc lõm hướng Tây Bắc, người đàn ông dễ mắc các vấn đề về đầu, phổi và đại trạng.
b. Nhà bị lồi hoặc lõm về hướng Bắc
Hướng Bắc thuộc mệnh Khảm, ngũ hành thuộc Kim. Người chịu ảnh hưởng của hướng này là con trai thứ. Sinh sống trong ngôi nhà khuyết hay lồi hướng Bắc, người này dễ mắc các chứng bệnh về tai, bàng quang, cơ quan sinh sản và tuần hoàn máu.
c. Nhà bị lồi hoặc lõm hướng Đông Bắc
Hướng Đông Bắc thuộc mệnh Cấn, ngũ hành thuộc Thổ. Người chịu ảnh hưởng của hướng này là con trai út. Sống trong ngôi nhà có hình dạng này, con trai út dễ mắc các bệnh về tay, vị giác, các bệnh về xương khớp.
d. Nhà bị lồi hoặc lõm hướng Đông Nam
Hướng Đông Nam thuộc mệnh Tốn, ngũ hành thuộc Mộc. Người chịu ảnh hưởng là con gái cả. Người này dễ mắc các bệnh về gan, thần kinh, tóc, gân cơ nếu sinh sống trong ngôi nhà bị lồi hay lõm hướng Đông Nam này.
e. Nhà bị lồi hoặc lõm hướng Tây Nam
Hướng Tây Nam thuộc mệnh Khôn, ngũ hành thuộc Thổ. Người chịu ảnh hưởng là mẹ đẻ, người phụ nữ lớn tuổi, từ 45 tuổi trở lên. Người này có nguy cơ mắc các bệnh về lưng, vị giác và bệnh về da nếu sinh sống lâu dài trong ngôi nhà này. Theo Khám phá
Theo thuyết phong thủy, nhà ở vuông vắn là đẹp nhất. Nếu nhà dài và hẹp hoặc không theo qui tắc thì đều bị coi là không tốt. Nhưng các tòa nhà trong thành phố hiện nay đều thiết kế theo hình dài, hẹp hoặc không theo qui tắc, thường là do không còn cá
Theo thuyết phong thủy, nhà ở vuông vắn là đẹp nhất. Nếu nhà dài và hẹp hoặc không theo qui tắc thì đều bị coi là không tốt.
Nhưng các tòa nhà trong thành phố hiện nay đều thiết kế theo hình dài, hẹp hoặc không theo qui tắc, thường là do không còn cách lựa chọn nào khác mà phải mua, tuy nhiên trong lòng chủ nhà luôn bất an, khó sống yên ổn. Đầu tiên phải nói đến phòng khách dài, hẹp. Dài, hẹp tức là chiều dài lớn gấp 2 lần chiều rộng. Nếu chiều dài dài 10m mà chiều rộng chỉ có 4m thì được coi là dài và hẹp. Như vậy không những không phù hợp với phong thủy mà còn khó thiết kế các phòng trong nhà. Cách giải quyết tốt nhất là dùng tủ thấp, bàn trang điểm chia phòng khách thành hai phần, chia khoảng dài thành hai khoảng nhỏ hình vuông, như vậy không những phù hợp với phong thủy mà còn thay đổi được cảm quan, không còn cảm giác chật hẹp nữa. Tuy nhiên, khi làm như vậy cần chú ý vài điểm sau:
Chỗ chia cắt nên tối đa để gần đường trung tuyến, vì làm như vậy thì hai phần sau khi chia ra mới thành hình vuông, nếu không sẽ không còn ý nghĩa ban đầu nữa. Nên cố gắng dùng đồ dùng trong nhà để phân chia, ví dụ như tủ hoặc bàn trang điểm dưới 3 thước là lý tưởng nhất, vì như vậy mới khiến cho không khí ở hai phòng mới chia lưu thông với nhau. Nếu dùng tủ cao hoặc tường ván phân cách thì lại trở thành cắt xén. Đồ dùng để phân cách không được để đốì diện với cửa lớn. Làm như vậy sẽ có ảnh hưởng không tốt đến người trong nhà, đặc biệt là về sức khỏe. Do đó cũng không nên để tủ hướng về phía cửa phòng của trẻ. Nếu thực sự không thể tránh được thì chỉ còn cách đặt cạnh tủ một chậu cây để hóa giải. Trên đây đã trình bày về, phòng khách dài, hẹp, phòng ngủ dài, hẹp cũng có thể áp dụng cách làm như phòng khách, chia phòng ngủ làm hai phần. Nếu nằm trên giường nhìn căn phòng dài và hẹp sẽ có cảm giác cô đơn lạnh lẽo, những người có thần kinh hạy cảm sẽ hay nghĩ ngợi tưởng tượng lung tung, tự tạo ra ảo giác. Nhưng nếu dùng tủ thấp chia phòng ngủ làm hai, một nửa dùng làm phòng trang điểm hoặc phòng đọc sách, một nửa dùng để ngủ và nếu để vô tuyến trên nóc tủ thì khi nằm trên giường có thể xem được cả chương trình truyền hình. Sau khi thay đổi thì phòng ngủ không còn cảm giác trống rỗng nữa, mà cảm thấy yên lòng hơn rất nhiều.
Có một số điều cần chú ý, có người dùng gương để ngăn phòng ngủ, thực ra làm như vậy là không thích hợp. Nếu gương hướng về phòng trang điểm hay phòng đọc sách thì không vấn đề gì nhưng nếu gương hướng về phòng ngủ thì lại phạm vào điều tối kỵ trong phong thủy, thường sẽ khiến người trong phòng sinh bệnh.
Trong tử vi thuộc tính ngũ hành của sao Vũ khúc là âm kim, là ngôi sao thứ sáu trong chòm Bắc Đẩu, hóa khí là tài chủ cung Tài bạch. Sao chính tài Vũ khúc nếu nhập đất tài (tức cung Tài bạch), chủ về vượng tiền tài, có tài quản lý tiền của. Nếu nằm đồng cung với Thiên đồng chủ về sống thọ. Trong tử vi sao Vũ khúc đồng thời cũng là sao Quả Tú chủ về cô quả neo đơn, nếu nhập cung lục thân, dễ vô duyên với thân thích, trở nên cô độc lẻ loi.
Vũ khúc là Tài tinh, kỵ nhất lạc Không vong hoặc đồng cung với Địa kiếp, Địa không, chủ về bần cùng, phá tài.
Vũ khúc kỵ hóa kỵ, chủ về tiền bạc lưu chuyển không thông, dẫn đến sự nghiệp thất bại.
Vũ khúc ưa đồng cung với Tham lang, Hỏa tinh, Linh tinh, nhất định phát tài.
Vũ khúc, Dương nhẫn đồng cung chủ về vì tiền tài mà phải động đến dao kiếm.
Trong tử vi Vũ khúc không ưa Hỏa tinh, Linh tinh, nhưng Vũ khúc, Tham lang đồng cung thì ưa có Hỏa tinh, Linh tinh đồng cung, nếu tọa cung Điền trạch, cung Tài bạch sẽ phát tài nhanh chóng.
- Người có sao Vũ khúc đóng tại cung Sửu có Tham lang Hỏa(linh) đồng cung là mệnh nhanh phát tài
- Người có sao Vũ khúc đóng tại cung Quan lộc tại Tỵ- Hợi đồng cung với Phá Quân là mệnh thất bại phá sản và nợ nần
- Người có sao Vũ khúc đóng tại cung Mùi có Tham lang đồng cung dễ dính đến pháp luật tù tội
Xưa nay nhiều người vẫn lầm tưởng rằng 12 con giáp có xuất xứ từ Trung Hoa. Tuy nhiên, mới đây, trong một công trình nghiên cứu về ngôn ngữ Việt cổ - nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Nguyễn Cung Thông phát hiện ra nguồn gốc 12 con giáp có xuất xứ từ Việt Nam. Ngôn ngữ là “lá bùa” tổ tiên để lại
Xưa nay nhiều người vẫn lầm tưởng rằng 12 con giáp có xuất xứ từ Trung Hoa. Tuy nhiên, mới đây, trong một công trình nghiên cứu về ngôn ngữ Việt cổ - nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Nguyễn Cung Thông phát hiện ra nguồn gốc 12 con giáp có xuất xứ từ Việt Nam.
Ngôn ngữ là “lá bùa” tổ tiên để lại
Theo văn hóa Phương Đông, lịch được xác lập theo chu kỳ thay đổi đều đặn của Mặt trăng. Do đó 12 con giáp ứng với 12 giờ trong ngày, 12 tháng trong năm, 12 năm trong một giáp – đó là những nền tảng quan trọng để tính lịch và là dấu hiệu để nhận đoán về số mệnh của từng người theo cung Hoàng Đạo.
Trong lịch sử, Việt Nam và Trung Hoa có một thời kỳ giao lưu văn hoá ít nhất 2000 năm. Những đợt giao lưu văn hóa cứ tiếp biến và chồng chất lên nhau khiến cho dấu hiệu nhận biết nét riêng của từng dân tộc rất khó khăn. Thêm vào đó, các tài liệu xưa không còn nhiều, nếu còn cũng chỉ trong kho thư tịch Hán cổ khiến cho việc nghiên cứu hết sức rắc rối và phức tạp. Chính điều này đã đốc thúc nhà nghiên cứu ngôn ngữ Nguyễn Cung Thông cố công đi tìm cho bằng được những bí ẩn ngôn ngữ của tổ tiên mà theo ông đó là những “lá bùa” con cháu cần tìm lời giải.
Ông Thông cho biết, ông bắt đầu việc nghiên cứu tiếng Việt của mình vào những năm đầu thập niên 1970 tại nước Australia. Trong một lần nghiên cứu về nguồn gốc 12 con giáp để lần tìm cội nguồn tiếng Việt ông đã phát hiện ra một số từ Việt cổ mà người Việt đã dùng để chỉ về 12 con giáp có nguồn gốc lâu đời trước khi 12 con giáp xuất hiện ở Trung Hoa. Vào những ngày cuối năm con trâu, tại Viện Việt học ở thành phố Westminster (California, Mỹ) ông đã có một buổi thuyết trình những khám phá thú vị của mình với chủ đề “Vết tích của tiếng Việt cổ trong tiếng Hán”.
“Tìm hiểu về gốc của tên mười hai con giáp là một cơ hội để ta tìm về cội nguồn tiếng Việt. Tên 12 con giáp là Tý/Tử, Sửu, Dần, Mão/Mẹo, Thìn/Thần, Tỵ, Ngọ, Mùi/Vị, Thân/Khôi, Dậu, Tuất, Hợi. Thoạt nhìn thì thập nhị chi trên có vẻ bắt nguồn từ Trung Quốc vì là những từ Hán Việt, nhưng khi phân tách các tiếng Việt, và thấy có những khác lạ, tôi đem so sánh trong hệ thống ngôn ngữ vay mượn thì sự thật không phải vậy” – ông Thông nói.
Theo ông Thông thì tên 12 con giáp nếu đọc theo tiếng Bắc Kinh và bằng cách ghi theo phiên âm (pinyin): zi, chou, yín, măo, chén, sì, wè, wèi, shèn, yòu, xù, hài... hoàn toàn không liên hệ đến cách gọi tên 12 con giáp trong tiếng Trung Quốc hiện nay. Ngay cả khi phục hồi âm Trung Quốc thời Thượng Cổ thì vẫn không tương đồng với các cách gọi tên thú vật thời trước. Như vậy nếu có một dân tộc nào đó dùng tên 12 con thú tương tự như tên 12 con giáp ngày nay thì dân tộc đó phải có liên hệ rất khăng khít với nguồn gốc tên 12 con giáp này.
Từ điều này, khởi đầu cho việc nghiên cứu ông đi tìm nguyên do vì sao trong 12 con giáp của Trung Quốc, con Mèo bị thay bởi Thỏ. “Người Trung Quốc dùng thỏ thay cho mèo (biểu tượng của chi Mão/Mẹo) vì trong văn hóa người Trung Quốc thỏ là một loài vật rất quan trọng và thường được ghi bằng chữ tượng hình là Thố, giọng Bắc Kinh, là từ viết bằng bộ nhân không có từ để chỉ mèo. Hầu như chỉ có dân Việt mới dùng mèo cho chi Mão: nguyên âm e hay iê là các dạng cổ hơn của a như kẻ/giả, vẽ/hoạ, xe/xa, khoe/khoa, hè/hạ, chè/trà, keo/giao, beo/báo... Vì thế mà mèo cũng là loài vật hiện diện trong đời sống dân Việt thường xuyên hơn” – ông Thông lý giải.
Thời tiền Hán, tiếng Việt không có nhiều thanh điệu như bây giờ, nên sự khác biệt về thanh điệu không có gì lạ. Trong khẩu ngữ người Việt có cách dùng “chờ một tý” hay “chờ một chút”, “đưa chút tiền”, “đưa tý tiền”... vào thời tiền Hán, các câu trên đọc như giọng Huế (ít thanh điệu hơn so với giọng Hà Nội) thì thấy chút hay chụt/chuột chính là các cách đọc của Tý sau này.
Vì sao Việt Nam không giữ được “thương hiệu”?
Thực tế, đã từng có nhiều công trình của nhiều tác giả cố gắng chứng minh văn hóa Trung Quốc có xuất phát từ văn hóa Việt Nam như tác giả Lê Mạnh Mát qua cuốn “Lịch sử âm nhạc Việt Nam - từ thời Hùng Vương đến thời kỳ Lý Nam Ðế” hay tác giả Nguyễn Thiếu Dũng với cuốn “Nguồn gốc Kinh Dịch”... Hầu hết các cuốn sách này đều cho thấy chiều vay mượn văn hóa là từ phương Nam vào thời thượng cổ, chứ không phải là từ Bắc xuống Nam (cũng như các nước chung quanh) vào các đời Hán, Ðường lúc văn hoá Trung Quốc cực thịnh. Tuy nhiên không tác giả nào đề cập đến nguồn gốc tên 12 con giáp, và rất ít dùng cấu trúc của chữ Hán, Hán cổ cùng các biến âm trong cách lý giải.
Theo ông Thông, ngoài hai chi Tý/Tử/chuột, Mão/ Mẹo/mèo là dễ nhận thấy nhất thì những chi còn lại khi so sánh trong tương quan ngữ âm, ngữ nghĩa cũng đều cho ra những kết quả khá bất ngờ.
Ví dụ với trường hợp của Thân là chi thứ 9 trong bản đồ Hoàng Đạo. Nếu xem cách viết chữ Thân bằng bộ điền với nét giữa dài hơn với cách viết chữ Khôn (một căn bản của Kinh Dịch có từ thời Thượng cổ) thì ta thấy bộ thổ hợp với chữ Thân hài thanh. Đây là liên hệ trực tiếp giữa Thân và Khôn, tuy nhiên tiếng Việt cổ có chữ khọn là con khỉ (người Huế hay người xứ Nghệ hiện nay một số chỗ vẫn còn những câu cửa miệng “tuồng mặt con khọn” để ám chỉ những người vô tích sự, chẳng làm chẳng nên trò trống gì). Thành ra, Thân chính là khỉ, tiếng Việt cổ dù biến âm th-kh rất hiếm gặp trong tiếng Việt ngày nay nhưng nó vẫn còn dấu tích của những từ cặp đôi như: thân- cận- gần, thận- cẩn (thận trọng, cẩn trọng).
Tương tự với trường hợp của con Rồng. Xưa nay nhiều người vẫn cho rằng rồng là một con vật tiêu biểu cho vương quyền của phương Bắc và sau đó nó được chọn làm một trong 12 con vật có mặt trong 12 con giáp của cung Hoàng Đạo. Nhưng ít ai biết được rằng rồng thực sự là con vật chủ của người Việt cổ và ngày xưa người Việt đã có những từ ngữ riêng để nói đến rồng hay thìn. Thìn/Thần dấu tích còn lại trong giọng Bắc Kinh hiện nay chỉ còn chén – âm này có thể tương ứng với các âm trần, trầm, thần của Hán Việt. Tuy nhiên, theo nhà nghiên cứu Nguyễn Cung Thông thì nếu phục hồi âm cổ của Thìn/Thần là tlan (Tiếng Việt cổ - âm r chuyển thành l) và trăn, lươn (âm ts - mất đi), rắn, trình (loài cá giống con lươn), rồng/long (nguyên âm o thay cho a như nôm/nam, vốn/bản...) và khuynh hướng đơn âm hoá để cho ra các dạng từ ghép như tlăn - thằn lằn, tlian - thuồng luồng... cho thấy vết tích của rồng trong các ngôn ngữ phương Nam.
Lý giải về nguyên nhân dẫn đến việc bị “lẫn lộn” về nguồn gốc 12 con giáp, ông Thông cho rằng “Với ảnh hưởng quan trọng của nền văn hoá Trung Quốc, từ đời Hán và sau đó là Đường, Tống... với sức ép của giai cấp thống trị từ phương Bắc tên 12 con vật tổ đã từ từ được thay thế bằng hình ảnh con người, mang nặng màu sắc văn hoá Trung Hoa hơn. Từ tính chất cụ thể của các loài vật láng giềng, 12 con giáp đã trở nên trừu tượng và còn ảnh hưởng đến vận mạng con người nữa (bói toán). Tuy nhiên, cái vỏ hào nhoáng của chữ Hán, Hán Việt không thể thay đổi được nền văn hoá bình dân (khẩu ngữ) trong đời sống người Việt”
Sự phát hiện mới mẻ này đã chứng minh cho sự phát triển của người Việt xưa trong cách tính lịch và làm nên một nền văn minh lúa nước rực rỡ ở phía Nam Đông Nam Á.
12 con giáp thuộc "tác quyền" của người Việt cổ
Lâu nay người ta vẫn lầm tưởng 12 con giáp tượng trưng cho 12 chi trong hệ can chi có xuất xứ từ Trung Hoa. Tuy nhiên, trước đây đã có các học giả phương Tây nghiên cứu cho thấy, các con giáp này vốn có xuất xứ từ phương Nam.
Tên 12 con giáp thuộc "tác quyền" của người Việt cổ (Ảnh: Internet)
Khi được du nhập vào Trung Quốc, qua nhiều lần biến cải, những con giáp này vừa biến dạng cả chữ viết và hình tượng, cùng với ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa làm cho mất dần đi nguồn gốc ban đầu của nó.
Dựa vào nghiên cứu ngữ âm học lịch sử, nhà ngôn ngữ Nguyễn Cung Thông gần đây đã chứng minh rất thuyết phục rằng tên 12 con giáp thuộc "tác quyền" của người Việt cổ.
Ví dụ năm Ngọ là năm Ngựa, khác xa với từ Mã của người Trung Hoa. Đặc biệt là năm Mão/Mẹo hoàn toàn là gốc Việt bị thay bằng con Thỏ cho phù hợp với quan niệm của người phương Bắc.
Truy tìm gốc gác nhiều tên gọi cũng thấy được xuất xứ ban đầu của nó trong tiếng Việt cổ, như Tí gắn với Chuột, Dần gắn với Hổ, Mùi gắn với Dê, Hợi gắn với Lợn, Thìn gắn với Rồng...
Hà Tùng Long
Nguồn: An Việt Toàn Cầu
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Ngọc Sương (##)
Phật thủ thường được bày trên mâm ngũ quả hoặc thắp hương tổ tiên hơn là để ăn. Đặc điểm này là do nó có vỏ màu xanh nhạt hoặc vàng, hình thù như bàn tay Phật và ruột thì lại đặc xốp trắng.
Mẹo chọn mua quả phật thủ để ban thờ ngày tết.
Tuy nhiên, là một loại cây thuộc họ cam quýt nên vỏ cũng như thân cây của nó có chứa nhiều loại vitamin và khoáng chất tương tự như các loại quả cùng họ. Đặc biệt là vị chanh và tinh dầu từ vỏ.
Mẹo chọn mua quả phật thủ để ban thờ ngày tết
Quả phật thủ thường được đặt ở trung tâm và nơi cao nhất trong mâm ngũ quả. Theo quan niệm xưa phật thủ là loại quả dùng để thờ Phật và gia tiên vì có mùi thơm quyến rũ, tác dụng lưu giữ thần, Phật và gia tiên lưu lại trong nhà lâu hơn để phù hộ cho gia chủ.
Chính vì thế, vào dịp Tết đến nhà nào cũng cố gắng mua bằng được một quả phật thủ để bày cúng ông bà, tổ tiên dù giá bán của loại quả này khá cao.
Những ngày này, người ta đã bắt đầu săn lùng những quả phật thủ có hình dáng đẹp, có giá trị cao để làm quà biếu hay đơn giản là trưng bày trên mâm ngũ quả ngày Tết. Để tìm ra được một quả phật thủ với vẻ đẹp thể hiện đầy đủ ý nghĩa của nó ở trên phố không phải dễ.
Khi chọn mua phật thủ người ta thường căn cứ vào hình dáng của quả, ngoài yêu cầu quả to, tay dài, mập, có nhiều ngón đều thì quả phải già, trơn cật, màu hơi mơ vàng. Phật thủ non cũng có màu vàng, hình dáng quả đẹp nhưng lại rất nhanh hỏng.
Quả phật thủ muốn trưng được lâu, giữ được màu đẹp thì cứ khoảng 5−7 ngày, người ta lại dùng rượu trắng để lau bụi bẩn bám trên quả. Cẩn thận hơn thì khi đặt lên bàn thờ, bạn có thể để một bát nước, cho thêm vài viên thuốc B1 vào, sau đó đặt cành phật thủ vào bát nước. Chỉ với vài động tác đơn giản như thế, chúng ta sẽ trưng bày được quả này trên bàn thờ gia tiên từ 4−7 tháng.
Ngoài ý nghĩa thờ cúng tâm linh, quả phật thủ còn được nhiều người tìm mua để làm thuốc chữa bệnh. Phật thủ ngâm với mật ong dùng để chữa ho rất tốt. Vì thế, cứ mỗi dịp Tết đến quả phật thủ lại được nhiều người tìm mua.
Trong những năm gần đây ngoài mua quả phật thủ bày cúng ông bà, tổ tiên thì cây phật thủ cũng được rất nhiều người săn lùng bởi vẻ đẹp của nó.
Bảo quản
Cho cuống Phật thủ vào ly có nước dâng cúng, sau 15 -30 ngày cuống cây sẽ ra rễ, bộ rễ này sẽ có tác dụng hút nước để nuôi quả, sử dụng và bảo quản tốt nhất có thể kéo dài cho đến 4 hoặc 5 tháng.
Câu chuyện tâm linh về cái chết dưới đây là lời giác ngộ mà người xưa gửi gắm, để con người trân quý mạng sống vô giá.
► Cùng đọc: Danh ngôn cuộc sống, những lời hay ý đẹp và suy ngẫm
Câu chuyện tâm linh về suy nghĩ tùy tiện
Tại nông trang nọ có có một đôi vợ chồng tá điền họ Triệu, hai vợ chồng sống với nhau rất hòa thuận. Một ngày kia, người vợ nghe nói ông chồng có tình nhân bên ngoài, cũng không biết là thật hay giả. Bà vợ tính khí vốn điềm đạm dịu dàng, nên cũng không làm ầm ĩ như người ta, chỉ nói đùa với chồng rằng: “Nếu như chàng không yêu thiếp, mà lại đi yêu con hồ ly tinh kia, vậy thì thiếp sẽ treo cổ tự sát cho chàng xem”. Ngày hôm sau, trong khi người vợ đang ở ngoài đồng ruộng, gặp được một thầy đồng, ông thầy đồng này có cặp mắt âm dương, có thể nhìn thấy ma quỷ ở cõi âm bên kia, nhìn thấy bà, ông kinh hãi la lên: “Sau lưng bà, sao lại có một con quỷ chết treo bám theo vậy!” Lúc này bà mới biết rằng, ngay cả những lời nói đùa trong lúc nói chuyện, thì ma quỷ cũng đều nghe thấy được. Phàm là những ai tự sát, nhất định phải tìm được người thay thế mới có thể được đầu thai chuyển sinh, cũng không biết được vì sao cõi âm gian lại quy định như vậy. Có thể là vì chán ghét những người tự sát kia, vậy nên không để họ có được sinh mệnh mới một cách mau chóng. Cũng là để cho con người thế gian sau khi biết được, thì không còn dám tùy tiện tự sát nữa. Câu chuyện tâm linh về cái giá của sự buông bỏ
Còn có một câu chuyện, nói về một người họ Nhiếp, đi vào núi sâu để tảo mộ, trên đường về nhà, vì là mùa đông đêm dài ngày ngắn, chẳng mấy chốc thì trời đã tối, ông sợ trong núi có cọp beo theo sau, liền chạy thục mạng xuống núi. Sau đó, nhìn thấy ở lưng chừng núi có một ngôi miếu hoang, ông vội vàng chạy vào trong miếu, lúc này trời cũng đã hoàn toàn tối hẳn rồi, thế là liền ở tạm nơi này một đêm. Bỗng nghe thấy góc tường có tiếng người nói: “Đây không phải là nơi dành người ở, ông hãy mau chóng rời khỏi đây ngay”. Họ Nhiếp hỏi ông ta cớ sao lại ở nơi tối tăm như vậy thì người kia trả lời: “Tôi là con quỷ chết treo, ở đây vốn để đợi người thay thế”. Họ Nhiếp nghe xong, liền rợn cả tóc gáy, vô cùng sợ hãi. Sau đó liền nói: “Nếu như bây giờ ra ngoài chẳng may bị cọp beo ăn thịt thì sao, thà rằng bị quỷ hại chết, vậy tôi ở cùng với ông vậy”. Hồn ma nói: “Không đi cũng được, nhưng mà âm dương vốn dĩ không chung đường lối, ông không chịu được sự xâm nhiễu của âm khí, tôi cũng không chịu được dương khí, cả hai đều sẽ không được an định; vậy chúng ta mỗi người ở một góc, không đến gần nhau là được rồi”. Sau đó, họ Nhiếp hỏi hồn ma rằng tại sao cần phải tìm người thay thế. Hồn ma nói: “Ông trời có đức hiếu sinh, vốn không mong muốn con người tự sát. Tựa như trung thần chết vì đất nước, liệt nữ chết vì chồng, tuy đều là tự sát, nhưng không cần phải tìm người thế thân. Còn những người bị hoàn cảnh bức bách đến đường cùng, đã không còn đường để sống nữa, ông trời cũng sẽ niệm tình họ rơi vào cảnh bất đắc dĩ, thế là dựa vào những việc thiện ác của họ làm lúc còn sống mà để họ đi đầu thai, cũng không cần tìm người thay thế. Nếu vẫn còn có một con đường sống, hoặc vì chút chuyện bất bình liền chịu không nổi, hoặc muốn mượn điều này để liên lụy người khác, liền khinh suất mà tìm đến cái chết, đây chính là làm trái với tấm lòng sinh dưỡng vạn vật của đất trời, vậy nên sẽ bị trừng phạt, đợi đến khi tìm được người thay thế mới thôi. Thời gian bị giam cầm trong nơi u tối thường thường phải trên cả trăm năm hoặc nghìn năm vẫn còn chưa kết thúc”. Họ Nhiếp hỏi: “Không phải có chuyện dẫn dụ người khác làm thế thân hay sao?”. Hồn ma đáp: “Loại việc như vậy, tôi thật sự không nhẫn tâm để làm! Phàm là những ai chết treo, nếu như là vì để bảo toàn tiết nghĩa mà chết, linh hồn sẽ từ đỉnh đầu thăng lên trên, quá trình tử vong đặc biệt mau chóng.
Nếu như là vì phẫn nộ, đố kỵ mà chết, thì linh hồn sẽ từ con tim trở xuống mà đi ra ngoài, quá trình tử vong sẽ tương đối chậm chạp. Ngay tại thời khắc còn chưa tắt thở, hết thảy huyết mạch sẽ chảy ngược trở lại, da thịt như muốn nứt ra, đau như dao cắt, lồng ngực dạ dày tựa như bị ngọn lửa thiêu đốt, khó chịu cùng cực. Trải qua mười mấy khắc, linh hồn mới thoát ra khỏi nhục thể. Nghĩ đến cái khổ này, mỗi khi tôi nhìn thấy có người treo cổ, thì sẽ lập tức ngăn cản, sao lại nỡ lòng dẫn dụ người ta làm thế thân cơ chứ?” Họ Nhiếp nói với ông ta: “Ông có được thiện niệm như vậy, nhất định sẽ được sinh lên cõi trời vậy”. Hồn ma nói: “Cái này tôi thật không dám mơ xa, chỉ nguyện một lòng niệm Phật để sám hối nghiệp tội khi xưa là tốt lắm rồi!” Không lâu sau thì trời đã sáng, hỏi nữa thì cũng không nghe thấy tiếng trả lời, nhìn kĩ một cái, hồn ma đã không thấy đâu nữa. Về sau, họ Nhiếp mỗi lần lên mộ bái tế, cũng đều sẽ mang theo một phần cúng phẩm và tiền giấy để tế bái hồn ma kia, những lúc như vậy sẽ luôn có những cơn gió xoáy nhè nhẹ quanh quẩn hai bên. Một năm sau đó, không còn thấy gió xoáy đâu nữa. Lòng nghĩ, chắc thiện niệm đã giúp ông thoát khỏi đường quỷ rồi. ST