Mơ thấy người quen: Tìm được món tiền tưởng đã mất, hoặc tăng cường các hoạt động xã hội –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Văn hóa Á Đông thấm nhuần qua hàng trăm, hàng nghìn năm khiến hầu hết các gia đình Việt luôn mặc định: Mộ phần gia tiên có yên ổn, con cháu mới mong khỏe mạnh, phát đạt.
Thời gian qua, chuyên mục Phong thủy Đông – Tây tiếp tục nhận được hàng trăm câu hỏi của quý độc giả, liên quan đến việc chọn đất, đặt mộ cho người thân đúng phong thủy. Hầu mong đáp ứng một phần thắc mắc đó, số báo này, chuyên mục đã tham vấn các chuyên gia phong thủy về những kiến thức tổng quan trong lĩnh vực rất được quan tâm này.
Đặt mộ đúng phong thủy rất quan trọng với người Việt (ảnh minh họa)
Tìm “long mạch” hạ huyệt ở đâu?
Trong đời sống tâm linh của người Việt, mồ mả gia tiên luôn là phạm trù hết sức linh thiêng. Văn hóa Á Đông thấm nhuần qua hàng trăm, hàng nghìn năm khiến hầu hết các gia đình Việt luôn mặc định: Mộ phần gia tiên có yên ổn, con cháu mới mong khỏe mạnh, phát đạt.
Hiện nay, khi kinh tế ngày càng phát triển, điều kiện vật chất dư dả hơn thì quan niệm này càng được coi trọng hơn. Với không ít gia đình quan tâm đến vấn đề phong thủy, chọn đất đặt mộ thậm chí được xem là một việc tối quan trọng. Nó không những ảnh hưởng tới sự siêu thoát, vong linh của người mất mà còn tác động không nhỏ tới cuộc sống của người ở lại. Do đó, khi tìm đất đặt mộ cho người thân, các gia đình đều phải cẩn thận chọn lựa, tìm thầy phong thủy để tránh phạm kỵ.
Theo chuyên gia phong thủy Nguyễn Quang Minh, “an táng phải dựa vào sinh khí”. Điều này có nghĩa là phải an táng người đã khuất vào mảnh đất có sinh khí. Mảnh đất tụ được sinh khí thì ấm, không thì sẽ lạnh. Nếu chọn được đất mà hội tụ tất cả các yếu tố của nơi đặt huyệt cát sẽ mang lại sự thịnh vượng, bình an cho gia đình.
Đầu tiên, cần phải lựa chọn mảnh đất “mạch núi có sinh khí lưu động”. Đất là hữu hình, sinh khí (long mạch) trong đất là vô hình. Dù thế, một thầy phong thủy giỏi thì khi nhìn vào hình thế của gò đất có thể nhận biết được đất có sinh khí hay không. Cổ nhân có câu: “Long mạch thật thì huyệt thật, long mạch giả thì huyệt giả”. Nếu nơi đó hơi lồi như mu con rùa, đầy đặn, cỏ cây tươi tốt thì nên chọn đặt mộ. Gia chủ và con cháu sẽ phú quý, phát đạt.
Tiếp đến, phải chú ý màu sắc đất. Sẽ rất tốt cho đặt mộ nếu đất ở dưới mịn, có màu ngũ sắc, màu hồng vàng, màu son đậm, hồng có vân. Đất này gọi là “Thái cực biên huân”. Sau đó, nơi đặt mộ phải có “Sa bao”. Sa bao tức là nơi đất đó được núi bao bọc. Núi bao bọc thì khí tụ, tụ được sinh khí, không làm tản sinh khí. Đất cao thì đồi núi ôm lấy mà không bị khuyết, như vậy là đất lành.
Đặc biệt, đất để an táng cần được “Thủy bọc”. Thủy ở đây là dòng nước, hồ ao, sông suối hoặc biển cả.Thủy là nguồn gốc tiền tài, là ngoại khí của sinh khí.Huyệt mộ nằm trên đồi được các dòng nước chảy dưới chân bao bao được xem là huyệt quý. Sinh thủy thì sẽ vượng. Kinh táng có câu: “Phép trong phong thủy, được thủy là thứ nhất, tàng phong là thứ hai”.
Những ngày, giờ đại kỵ hạ huyệt
Huyệt cát, huyệt hung còn do chọn giờ, ngày, tháng và năm hạ huyệt. Sách Tuyết Tâm Phú viết: “Tuy là huyệt cát vẫn kỵ táng hung”.Chính vì vậy, chọn giờ hạ huyệt vô cùng quan trọng. Căn cứ vào phép sinh khắc Ngũ hành để đặt hướng mộ, cần chọn giờ, ngày, tháng, năm phù hợp để tránh hung phùng cát:
– Tọa Đông (thuộc Mộc): mộ nhìn hướng Tây
Đại kỵ động thổ, hạ huyệt giờ, ngày, tháng, năm Tỵ, Dậu, Sửu (tam hợp Kim cục).
– Tọa Tây (thuộc Kim): mộ nhìn hướng Đông
Đại kỵ động thổ, hạ huyệt giờ, ngày, tháng, năm Hợi, Mão, Mùi (tam hợp Mộc cục).
– Tọa Nam (thuộc Hỏa): mộ nhìn hướng Bắc
Đại kỵ động thổ, hạ huyệt giờ, ngày, tháng, năm Thân, Tý, Thìn (tam hợp Thủy cục).
– Tọa Bắc (thuộc Thủy): mộ nhìn hướng Nam
Đại kỵ động thổ, hạ huyệt giờ, ngày, tháng, năm Dần, Ngọ, Tuất (tam hợp Hỏa cục).
Bất kể huyệt mộ đặt như thế nào chỉ cần chọn ngày Hoàng đạo thì gặp hung hóa cát. Các ngày có sao: Thái Tuế, Tuế Phá, Kiếp Sát, Diệt Sát, Tuế Sát, Ngũ Hoàng, Nguyệt Kiến, Nguyệt Phá, Nguyệt Yếm, Tứ Tuyệt, Tứ Ly thì tuyệt đối không được động thổ, an táng.
Gia đình khi chôn cất người thân nên thật chu đáo trong việc chọn ngày giờ. Tất cả phải được làm từ cái tâm của người con đạo hiếu. Có như thế, những việc làm đó mới mang được phước lành về cho gia đình, còn tổ tiên được mỉm cười nơi chín suối.
Ở các vùng nghĩa trang nơi quy tập nhiều mộ, thường bị tình trạng quá tải về diện tích, các mộ chen lấn nhau. Tránh huyệt bị các mộ xung quanh lấn chiếm, hoặc nằm án ngữ ngay trước phần mộ, hoặc đâm xuyên vào 2 bên cạnh mộ. Nếu chọn được huyệt phía trước rộng thoáng, lại nhìn ra ao hồ hay sông suối là đắc cách (tốt). Trường hợp đất đai quá hiếm không chọn được huyệt có phía trước thoáng rộng thì tối thiểu cũng phải có một khoảng đất trống nằm ngay phía trước huyệt mộ. Quan sát cẩn thận hệ thống đường đi xung quanh huyệt. Nếu huyệt có đường đi đâm thẳng vào giữa hoặc đâm xuyên sang hai bên thì gia chủ bị bại không thể dùng. Đường đi sát ngay phía sau huyệt cũng tối kỵ chủ tổn hại nhân đinh. Tốt nhất chọn huyệt nơi yên tĩnh xa cách với đường đi lối lại quanh khu vực mộ.
Rồng là một con vật thần thoại xuất hiện trong nhiều nền văn hóa khác nhau từ Đông sang Tây và được tôn thờ ở nhiều nước châu Á. Chúng là biểu tượng sức mạnh tuyệt vời, hay được dùng để đại diện cho hoàng đế. Con rồng tượng trưng cho quyền lực, năng lượng dũng mãnh. Rồng phong thủy đến năng lượng dương, giúp thu hút tiền tài và khả năng sinh sản.
Rồng phương Tây hay được khắc họa là loài vật hung dữ, khạc được lửa và hay gây tai họa.
Khác với hình ảnh khắc họa trong văn học phương Tây, rồng ở các nước châu Á là loài linh vật đáng yêu, tốt bụng và rất trượng nghĩa, cứu giúp dân lành.
Âm và Dương
Trong tâm linh, rồng hay xuất hiện lúc mặt trời mọc, vào khoảng giữa mùa xuân và mùa hè, tượng trưng cho sự thịnh vượng, dồi dào. Rồng là biểu tượng đẹp mang lại sức tái sinh mạnh mẽ. Con rồng hay được khắc họa miệng ngậm một viên ngọc. Ngọc này tượng trưng cho vũ trụ, sấm sét mang lại mưa cho mùa màng tốt tươi.
Rồng thời Lý thường ngẩng đầu lên, miệng thì há to, mép trên của miệng không có mũi, kéo dài ra thành một cái vòi uốn mềm mại, vươn lên cao, vuốt nhỏ dần về cuối.
Rồng phong thủy còn hay được ghép đôi với phượng hoàng để đại diện cho sự hòa quyện chặt chẽ giữa năng lượng âm và dương chỉ tình trạng hôn nhân lâu bền. Từ thuở xưa, long - phụng tượng trưng cho sự gắn kết của vua và hoàng hậu.
Những đứa con của rồng
Trong truyền thuyết, rồng có 9 đứa con với hình dáng và sở thích khác nhau, được sử dụng khác nhau trong phong thủy với ý nghĩa riêng.
Bị hí là con trưởng của rồng, có hình dáng thân rùa, đầu rồng. Bị hí có sức mạnh vượt bậc, chịu được trọng lượng lớn nên thường được chạm khắc trang trí làm bệ đỡ cho các bệ đá, cột đá, bia đá.
Li vẫn, con thứ hai của rồng, là linh vật có đầu rồng, miệng rộng, thân ngắn. Tương truyền li vẫn thích ngắm cảnh và thường giúp dân diệt hỏa hoạn nên được chạm khắc làm vật trang trí trên nóc các cung điện cổ, chùa chiền, đền đài... ngụ ý cầu trấn hỏa, bảo vệ bình yên cho công trình.
Li vẫn
Bồ lao, con thứ ba, là linh vật thích âm thanh lớn, thường được đúc trên quai chuông với mong muốn chiếc chuông được đúc có âm thanh như ý muốn.
Bệ ngạn, con thứ tư, có hình dáng giống hổ, răng nanh dài và sắc, có sức thị uy lớn. Theo truyền thuyết, bệ ngạn rất thích lý lẽ và có tài cãi lý đòi sự công bằng khi có bất công, nhờ vậy bệ ngạn thường được đặt ở cửa nhà ngục hay pháp đường, ngụ ý răn đe người phạm tội và nhắc nhở mọi người nên sống lương thiện.
Bệ ngạn
Thao thiết, con thứ năm, là linh vật có đôi mắt to, miệng rộng, dáng vẻ kỳ lạ. Thao thiết tham ăn vô độ, được đúc trên các đồ dùng trong ăn uống như ngụ ý nhắc nhở người ăn đừng háo ăn mà trở nên bất lịch sự.
Thao thiết
Công phúc, con thứ sáu, là linh vật thích nước nên được khắc làm vật trang trí ở các công trình hay phương tiện giao thông đường thủy như cầu, rãnh dẫn nước, đập nước, bến tàu, thuyền bè... với mong muốn công phúc luôn tiếp xúc, cai quản, trông coi lượng nước phục vụ muôn dân.
Công phúc
Nhai xế, con thứ bảy, có tính khí hung hăng, thường nổi cơn thịnh nộ và ham sát sinh, thường được chạm khắc trên các vũ khí như đao, búa, kiếm, xà... ngụ ý thị uy, làm tăng thêm sức mạnh và lòng can đảm của các chiến binh nơi trận mạc.
Nhai xế
Toan nghê, con thứ tám, có mình sư tử, đầu rồng, thích sự tĩnh lặng và thường ngồi yên ngắm cảnh khói hương tỏa lên nghi ngút. Toan nghê được đúc làm vật trang trí trên các lò đốt trầm hương, ngụ ý mong muốn hương thơm của trầm hương luôn tỏa ngát.
Tiêu đồ, con út có tính khí lười biếng, thường cuộn tròn nằm ngủ, không thích có kẻ lạ xâm nhập lãnh địa của mình. Tiêu đồ được khắc trên cánh cửa ra vào, đúng vào vị trí tay cầm khi mở, ngụ ý răn đe kẻ lạ muốn xâm nhập nhằm bảo vệ sự an toàn cho chủ nhà.
Tiêu đồ
Long Quy
Ngoài chín con nói trên thì các con rùa lớn linh thiêng cũng được gọi là Long Quy. Long Quy thích mang vật nặng, ngụ ý giúp con người chống lại SÁT KHÍ giảm tai họa , nên thường dùng để trấn trạch hưng gia. Các nhà kinh doanh và doanh nhân rất trưng bày long quy để thúc đẩy tài lộc.
Long quy là linh vật tốt lành, mang hàm nghĩa vinh quý , ngụ rằng vinh hoa phú quý.
Vị trí đặt Long Quy
Long quy đặt tại tài vị thì thúc đẩy tài lộc, đặt tại vị trí Tam Sát thì tác dụng hóa giải rất lớn. Vậy Tam Sát là gì?
Trong phong thủy có quy định:
| Dần, Ngọ, Tuất : Sát Bắc. Thân, Tý, Thìn : Sát Nam Hợi, Mẹo, Mùi : Sát Tây Tỵ, Dậu, Sửu : Sát Đông. Ví dụ: Năm nay là năm Giáp Ngọ, theo câu quyết: Dần, Ngọ, Tuất: Sát Bắc. Có nghĩa là nhà ta ở hướng Bắc là phạm phải tam sát. |
Nếu gặp phải tam sát, người nhà mắc nhiều bệnh, gặp hạn. Phương pháp hóa giải là đặt 3 con long quy xếp liền một chỗ, hướng ra ngoài cửa. Ngoài việc giúp hóa giải tam sát khiến người nhà mắc nhiều bệnh, gặp hạn mà còn thu hút nhiều tài lộc. Hơn nữa, rùa có hàm nghĩa nhân thọ, cho nên sử dụng long quy ít khi phạm cấm kị.
Vị trí đặt Rồng
- Hướng Đông: đặt rồng phong thủy xanh lá cây để kích hoạt năng lượng cung Gia Đạo giúp sức khỏe mọi người trong gia đình được tốt hơn, tăng tình cảm gia đình và cải thiện tích cực cuộc sống người con trai trưởng.
- Hướng Đông Nam: Một tượng rồng vàng ở hướng này giúp tăng tài lộc, giàu có cho cả gia đình.
Rồng vàng ở hướng Đông Nam giúp tăng tài lộc cho gia chủ
- Hướng Tây Nam: bố trí rồng chung với phượng hoàng để gia tăng hạnh phúc hôn nhân.
NÊN:
- Đặt ở nơi có không gian rộng, mở; không bị chắn bởi các vật cản.
- Đầu rồng hướng về cửa nhà để mang lại tài lộc.
- Đặt ở hướng may mắn dựa theo "quái số" của bạn.
- Chỉ nên đặt tối đa 5 vật phẩm rồng và các con trong nhà.
KHÔNG NÊN:
- Không đặt ở các khu vực có năng lượng thấp như phòng tắm, tủ quần áo, nhà để xe,v.v.
- Tránh đặt quá cao so với tầm mắt.
Đặt ở chiều cao cách mặt đất khoảng 1.45m để vừa tầm mắt
- Cấm kị để tinh thể ngọc trai ở móng vuốt của rồng chĩa thẳng vào cửa sổ hoặc cửa ra vào.
![]() |
| 12 con giáp |
| ► Lịch ngày tốt gửi đến độc giả những câu chuyện về thế giới tâm linh huyền bí có thật |
![]() |
Ngài được kính ngưỡng là vị thần bảo hộ của những người tuyên giảng đạo pháp.
![]() |
Mục Lục
Phổ Hiền là danh xưng phiên âm từ tiếng Phạn, trong đó Phổ nghĩa là phổ biến, Hiền là Đẳng Giác Bồ Tát, Phổ Hiền là vị Bồ Tát Đẳng Giác có mặt mọi lúc mọi nơi, hiện thân theo cầu khẩn của chúng sinh, có năng lực và pháp giới tỏa chín phương mười cõi.
Theo Đại Nhật Kinh Sơ có viết: “Phổ Hiền Bồ Tát, Phổ nghĩa là trải khắp mọi nơi, Hiền là diệu thiện nhất. Ý nói Phổ Hiền Bồ Tát dựa hạnh nguyện phát ra từ tâm Bồ Đề và sự cân bằng của thân, khẩu, ý phổ khắp mọi nơi, diệu thiện thuần nhất, có đủ các đức, vì thế gọi là Phổ Hiền”.
Phổ Hiền là vị Bồ Tát quốc độ của Thượng Vương Như Lai, tương truyền đã lãnh đạo 500 vị Đại Bồ Tát tới nghe thuyết pháp kinh Pháp Hoa và phát tâm hộ trì chánh pháp của Đức Phật Thích Ca. Ngài đại diện cho trí tuệ, thấu hiểu muôn điều trên thế giới, nắm trong tay hào quang của tri thức, trí huệ thấu hiểu cái nhất thể của sự đồng nhất và khác biệt.
Mật Tông xưng tụng Bồ Tát Phổ Hiền là Thiện Nhiếp Kim Cương, Chân Như Kim Cương, Như Ý Kim Cương.
Trong Phật giáo, Phổ Hiền Bồ Tát cùng với Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát được phong là Hoa Nghiêm Tam Thánh – ba vị có sức mạnh lớn, trí tuệ tỏa sáng và tấm lòng đức độ cứu khổ cứu nạn chúng sinh. Xem thêm bài viết Cung dưỡng tam thánh, học đạo tu đời theo Phật, Bồ Tát để hưởng phúc
![]() |
Thêm vào đó, Phổ Hiền Bồ Tát cùng với Quan Thế Âm Bồ Tát, Văn Thù Bồ Tát và Địa Tạng Bồ Tát được xưng là Tứ đại Bồ Tát – những vị Bồ Tát có sức mạnh và lòng từ bi bao trùm chúng sinh. Từ đó có thể thấy địa vị của vị Bồ Tát này trong Phật giáo tương đối lớn, với những ý nghĩa rất đặc biệt.
Phổ Hiền là vị Bồ Tát đại diện cho lý, định, hạnh, nắm giữ lý đức, định đức và hạnh đức của chư Phật. Nói cách khác, Ngài là hiện thân của trí tuệ, lý trí với cái nhìn hướng thiện nhưng khách quan và tầm hiểu biết sâu sắc. Sức mạnh đến từ trí tuệ, trí huệ, tức là từ lý tính và huệ nhãn, thấu suốt cõi đời, rao truyền tri thức.
Đây là loại sức mạnh chân lý vững chãi, trải qua thể nghiệm, vừa ôn hòa từ bi nhưng cũng hết sức mạnh mẽ kiên định. Tâm tính thanh tịnh, lấy Lục độ thâu nhiếp vạn hạnh, không ngại chướng ngại, vượt qua khó khăn. Vì thế mà Phổ Hiền là vị Bồ Tát bảo hộ cho những người truyền đạo, bảo hộ Phật pháp.
Những người đang khó khăn, nguy nan, thái chí nản lòng nên cầu khẩn Phổ Hiền Bồ Tát. Ngài không cứu khổ độ nạn mà hướng con người tới ánh sáng của tri thức, của thiền định, tĩnh tâm, mở rộng tất cả các giác quan và có chí hướng vươn lên phía trước, thoát khỏi những khổ ải.
Phổ Hiền Bồ Tát là vị Phật bản mệnh của người tuổi tuổi Thìn và tuổi Tị, có thể giúp đỡ, che chở vượt qua sóng gió, soi đường chỉ lối tiến tới chân tâm, nhận ra hướng đi sáng suốt với trí tuệ tuyệt vời. Thỉnh bản mệnh Phật, đeo phúc bên người, không chỉ là cầu mong sự tốt lành mà còn mang ý nghĩa hướng thiện, lúc nào cũng như Phật ở bên, điều chỉnh con người sống theo những lời dạy của Phật, tốt đời đẹp đạo.
Phổ Hiền là vị Bồ Tát cưỡi voi trắng sáu ngà, voi trắng là biểu tượng Phật giáo tượng trưng cho trị huệ và sự dũng cảm, vượt qua muôn ngàn chướng khổ. Sáu ngà của voi là sáu chiến công, chiến thắng sáu giác quan bình thường của con người. Có thể nói, Phổ Hiền Bồ Tát cưỡi voi trắng sáu ngà mang ý nghĩa trí huệ của ngài lớn mạnh, đủ để vượt qua tất cả những tầm thường của đời sống, tiến tới cảnh giới cao nhất.
Đồng thời, ở một ý nghĩa khác voi trắng sáu ngà có ngụ ý là sáu độ, sáu phương pháp tu hành để đạt cảnh giới Niết Bàn. Bốn chân voi là bốn loại thiền định là sơ thiền, nhị thiền, tam thiền và tứ thiền – một trong những pháp môn luyện thân tâm của nhà Phật.
Đây cũng là biểu hiện của hạnh nguyện rộng lớn bởi voi có sức chuyên chở, cũng giống như Phổ Hiền Bồ Tát mang chân lý tỏa khắp muôn nơi, đưa chúng sinh từ bờ mê bến giác đến bờ cõi đạo hạnh nhà Phật, tâm tư sáng tỏ. Dẫu muôn trùng khó khăn, Bồ Tát vẫn dùng lục đạo để đưa chúng sinh thoát khỏi bể khổ, không nền hà hiểm nguy, sẵn sàng vượt moi chông gai thử thách.
Ngoài ra, hình tượng của Phổ Hiền cũng thường xuyên gắn với những pháp khí hoặc hình ảnh quen thuộc của Phật giáo như hoa sen, ngọc như ý, trang sách ghi thần chú của Bồ Tát. Cũng có nơi hình tượng Phổ Hiền là vị Bồ Tát mặc trang phục màu trắng, mang ý nghĩa nhất thể.
![]() |
Phổ Hiền Bồ Tát tay trái cầm ngọc như ý pháp bảo, hoặc tay phái cầm nhánh hoa sen thanh khiết bên trên có ngọc chau, ngón cái và ngón trỏ bắt ấn tạo thành hình tam giác. Hoặc cũng có thể là hình ảnh Bồ Tát tay cầm cuốn kinh, tay cầm Kim Cương Chủy.
Mỗi tạo hình Bồ Tát đều mang ý nghĩa riêng nhưng chung quy lại để thể hiện trí huệ của Phổ Hiền, là vị bảo vệ Phật pháp, coi trọng pháp giới.
Ngày 21/2 âm lịch hàng năm là ngày vía Phổ Hiền Bồ Tát. Trong ngày này Phật tử và chúng sinh hướng Phật làm lễ kính ngưỡng công đức của Phổ Hiền đồng thời noi gương Ngài, tiến tới chân lý, sống cuộc đời minh bạch. Ngày này nên ăn chay, đọc kinh Hoa Nghiêm và tới chùa làm lễ công quả, cúng dường chư Phật để tâm an, lòng thanh tịnh.
Nhất giả Lễ kính chư Phật.
Nhị giả Xưng tán Như Lai.
Tam giả Quảng tu cúng dường.
Tứ giả Sám hối nghiệp chướng.
Ngũ giả Tùy hỷ công đức.
Lục giả Thỉnh chuyển pháp luân.
Thất giả Thỉnh Phật trụ thế.
Bát giả Thường tùy Phật học.
Cửu giả Hằng thuận chúng sanh.
Thập giả Phổ giai hồi hướng.
Trên con đường độ hóa chúng sinh, Phổ Hiền Bồ Tát có 10 hạnh nguyện, tức là 10 điều mà Ngài nguyện sẽ hoàn thành trên con đường tu thành chính quả cũng như trong suốt những chặng đường thành Phật tiếp theo, thể hiện ý chí nguyện vọng và tấm lòng đức độ của vị Bồ Tát này.
Thứ nhất là kính lễ chư Phật, bày tỏ niềm tôn kính về nhân cách, công đức và hạnh nguyên viên mãn của tất cả những bậc đã giác ngộ. Giữ tam nghiệp thân, miệng, ý luôn thanh tịnh, theo đúng pháp giới để cảm ứng được những điều tốt đẹp của các bậc Phật, trở về nguồn cội, phát triển vô lượng hạnh nguyện và khơi gợi công đức vốn có trong chính mình.
Thứ hai là thường xuyên xưng tụng công đức của Phật Như Lai. Như Lai là bậc Bồ tát có đạo hạnh vô lượng vô kiếp, xưng tụng công đức, bày tỏ lòng tôn kính với Ngài đồng thời noi gương học hỏi, coi đây là điểm tựa để bản thân nhìn theo, loại bò tà niệm, thân tâm an lạc.
Thứ ba là thờ phụng và cúng dường chư Phật. Công đức tự tâm, không chỉ tôn kính mà còn học hỏi, noi gương đức tính, đạo hạnh của những bậc giác ngộ. Tôn thờ cái đẹp, cái thiện, gieo hạnh lành, truyền hành tốt tới chúng sinh muôn loài, trường tồn vĩnh cửu.
Thứ tư là sám hối ác nghiệp và tuân theo tịnh giới. Ăn nan những lỗi lầm, những nghiệp ác từ khởi thủy đến nay để giảm bớt những ô trọc cuộc đời. Đồng thời tuân theo tịnh giới, giữ vững khuôn phép nhà Phật để cái ác không thể khởi sinh.
Thứ năm là tùy hỉ công đức tất cả Phật, Bồ tát và lục giới (Trời, Người, A Tu La, Địa, Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sinh) và 4 sanh (Noãn, Thai, Thấp, Hóa). Trên con đường thực hành hạnh của Bồ tát, tùy tâm hoan hỉ tiến hành công đức không phân biệt loài, thể hiện chính tâm thánh thiện, bình đẳng.
Thứ sáu là thỉnh lễ tất cả những buổi Phật giảng pháp. Pháp là kim chỉ nam cho người tu hành, là con đường đưa chúng sinh thoát khỏi bể khổ. Phổ Hiền Bồ Tát thỉnh giác và bảo vệ lễ pháp của Đức Phật, mong muốn thấm nhuần Phật pháp và để Phật pháp truyền bá rộng khắp.
Thứ bảy là thỉnh cầu Phật, Bồ Tát không nhập Niết Bàn mà lưu lại thế gian giảng pháp. Niết Bàn là cảnh giới tịch diệt, rũ bỏ mọi tham sân si trở về cực lạc vô ngã vô thường, tiến tới trạng tháu hoàn toàn vắng lặng. Hóa duyên đã mãn, các vị Phật và Bồ Tát đều nhập Niết Bàn nhưng Phổ Hiền Bồ Tát vì chúng sinh mà cầu đạo, muốn các bậc giác độ ở lại thế gian lưu truyền tâm ý.
Thứ tám là theo Phật Tỳ Lô Giá Na học giáo pháp. Phật Tỳ Lô Giá Na là pháp thân của tất cả các đức Như Lai, theo Phật học pháp, trở về với nguồn gốc giác ngô để đạt thành tựu hạnh nguyện tam muội.
Thứ chín là cúng dường chúng sinh, vì chúng sinh mà thực hiện 4 nhiếp pháp: bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự; từ đó cảm hóa chúng sinh để chúng sinh nhập thiện tâm.
Thứ mười là hồi hướng công đức cho tất cả chúng sinh để thành Phật. Phát nguyện độ sinh, mang công đức hồi hướng về bồ đề cầu thành Phật. Đây là hạnh nguyện cuối cùng, cũng là nền tảng của 9 hạnh nguyện kể trên.
Đồng thời, trong Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện, khi giải thích mỗi một hạnh nguyện đều nhấn mạnh phải “niệm niệm chẳng ngừng nghỉ, không có gián đoạn; ba nghiệp thân, khẩu, ý không có mệt mỏi”, để chứng minh mỗi hạnh nguyện bất kể là thân hạnh, ngôn ngữ hoặc ý niệm đều phải là nguyện hạnh kiên định phát từ nội tâm, thời thời khắc khắc không có gián đoạn.
Ví dụ như trong Kinh có giải thích hạnh “lễ kính chư Phật” như sau: “khi hư không giới tận thì lễ kính mới tận; mà hư không giới thì không thể tận, nên lễ kính cũng không có cùng tận. Cũng như vậy cho đến chúng sinh giới tận, chúng sinh nghiệp tận, chúng sinh phiền não tận, thì lễ kính mới tận; mà chúng sinh giới cho đến phiền não không có cùng tận nên lễ kính cũng không có cùng tận.”
Xem thêm bài viết Khắc ghi 12 đại nguyện nhớ ngày Quan Thế Âm Bồ Tát xuất gia 19/9 âm lịch
Phổ Hiền Bồ Tát là vị Bồ Tát đại diện cho chân lý, thờ Ngài là thờ chân lý và hiểu thấu ý nghĩa của trí tuệ, sáng suốt. Ngoài việc cung dưỡng Bồ tát, thường xuyên là những việc tốt như ăn chay, phóng sinh, bố thí, không phạm giới luật, không sát sinh, không không nghiệp, rũ bỏ tham sân si,… thì phải kính lễ Phổ Hiển bằng chính cách sống hướng tới trí huệ.
![]() |
Bản thân cảnh tỉnh ăn năn, tránh xa mọi vọng tưởng, trở về với chân lý minh bạch nhất. Sống dưới ánh sáng chân lý mà bản thân vô minh, được soi tỏ thấu suốt mà chính mình mờ mịt, lấy giả làm thật, càng ngày càng xa cách cái tường minh thì dẫu thờ phụng Phổ Hiền Bồ Tát cũng bằng không.
Con người cần phải mở mang trí tuệ, không ngừng học hỏi, nhìn thẳng vào chân lý để có giác ngộ. Bồ Tát không giải quyết nhu cầu của chúng sinh, Ngài phổ độ, dẫn dắt để chúng sinh bỏ tối tìm sáng, bỏ ác tìm thiện, bỏ u mê tìm thấy lý tưởng đúng đắn, hướng người ta tới những giá trị đích thực của cuộc sống.
Những hạnh nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát cũng là lời nhắc nhở và mục tiêu mà bất cứ ai cũng nên tôn trọng, học hỏi. Hạnh nguyện rộng lớn, xóa tan cái vỏ ích kỷ hẹp hòi để bản thân tiến gần hơn tới giới hạn của thân tâm an lạc. Còn ích kỉ thì còn khổ đau, còn mong cầu thì còn phải khổ nạn. Từ bi vô hạn, sáng suốt vô biên, kính ngưỡng Phổ Hiền để cảnh tỉnh chính mình, mong cầu bản thân bỏ đi những thứ nhỏ nhen, tạm bợ mà con người đang vì nó tạo nghiệp khổ ngập trời.
Tâm Lan
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Người xưa cho rằng, đeo Ngọc trên người tốt cho Vận Khí, tốt cho Sức Khỏe, tốt cho Tiền tài…Vàng thời có giá, mà Ngọc lại vô giá. Củ thể như thế nào chúng ta cùng đọc bài viết sau đây để biết đeo Ngọc phong thủy có ý nghĩa gì nhé!

Nội dung
Ngọc ở trong đất sâu thẳm, từ vài nghìn năm đến vài triệu năm, trong phân chất của Ngọc chứa lấy vô số khoáng chất vi lượng, hấp thu tinh hoa Nhật Nguyệt Tinh Thần nên gọi là Tinh Hoa.
Cho nên mới nói là ngọc dưỡng Người, cũng lại là Người dưỡng Ngọc. Người đeo Ngọc lâu ngày, khí trường được Ngọc thâm nhiễm, trở nên sáng lạn, vận tốt tự nhiên đến thân…Ngọc được người đeo lâu ngày, cũng cảm nhiễm nhân khí, lên nước nổi vân, đã đẹp càng thêm đẹp.
Từ xa xưa, con người đã sớm dùng Đá Ngọc làm đồ trang sức, có thể nói còn trước cả vàng…Các khối Ngọc đẹp đã là đồ gia bảo trong các danh gia vọng tộc, được lưu truyền cất giữ như báu vật…
Ngày xưa khoa học chưa tiến bộ, công cụ thô sơ, khai thác và chế tác đều rất tốn công của, nên có những tác phẩm đạt cả hai mặt là chất ngọc đẹp, chế tác tinh xảo, tức là báu vật giá trị liên thành…
Khi người ta đeo Ngọc, do tác động của các khoáng chất vi lượng, tác động đặc biệt vào da vào các khí mạch, giúp cho cải tạo sức khỏe tốt lên, vận khí cũng tốt lên, nhất là Ngọc được chế tác thành linh vật Tỳ Hưu thì người sử dụng lại được may mắn về tiền tài.
Theo các phân tích của khoa học hiện đại, Ngọc hàm chứa rất nhiều các nguyên tố vi lượng, căn cứ theo màu sắc chúng ta có thể thấy được. Như ô xít sắt tạo ra màu đỏ, magie tạo ra màu xám, xanh là ô xít đồng….khi đeo ngọc các nguyên tố vi lượng thẩm thấu qua da, hoạt hóa các tổ chức tế bào, tăng cao sức đề kháng, bảo vệ con người trước bệnh tật.
Ngọc gối ở đầu, ắt ngủ ngon và đầu óc thông minh, xưa kia đế vương hoàng tộc, thường dùng các khối ngọc quý (Phổ biến là Mã Não) để chế tác thành gối gối đầu, hoặc làm mũ đội…hầu như các vị vua có tuổi thọ cao, đều dùng Ngọc làm gối để ngủ. Điều này cũng được Danh Y Lý Thời Chân nhắc đến trong cuốn “Bản Thảo Cương Mục”…
Ngọc không chỉ để làm đồ trang sức, để bày, để làm đồ dùng. Mà Ngọc còn được dùng để dưỡng sinh làm khỏe cơ thể. Xưa kia trong Hoàng Triều từ Vua đến Vương tôn Hoàng Tử, Hoàng Hậu Phi Tần…đều là Ngọc không rời thân, lấy Ngọc để dưỡng sinh dưỡng sắc.
Tống Huy Tông mê Đá mê Ngọc, Dương Quý Phi nằm ngọc tránh nóng…cho đến ngày nay chứng thực Ngọc có thể dưỡng sinh đã được Khoa Học Hiện Đại xác nhận.
Ngọc là từ các khoáng chất thiên nhiên cấu thành, bởi vậy nó luôn có các đường vân, hoa văn và ẩn chứa nhiều nét đẹp bất ngờ. Đặc biệt như Ngọc Bích, Ngọc Phỉ Thúy, Mã Não…đường vân càng nhỏ, càng kỳ thú, càng trong sáng thì tức là Ngọc càng quý.
Trong cuộc sống, Ngọc làm lễ vật tặng cho thân nhân, cho người mình yêu, càng chứng tỏ sự trân trọng và là cây cầu nối gắn kết thắt chặt thêm tình cảm. Bởi thế người xưa có câu “Gia Hữu Ngọc Tất Hưng, Nhân Hữu Ngọc Tất Thanh”. Đeo Ngọc rất tốt cho vận khí, sức khỏe và tiền tài là vậy. Nhất là trang sức đeo cổ Tỳ Hưu Ngọc phỉ thúy, ngoài việc may mắn về tài lộc, công danh, sức khỏe, lại vừa đem lại may mắn trong các sự cố nạn tai…
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Cát Phượng (##)
Một câu hỏi được đặt ra: Vậy trước thời bắc thuộc, dân tộc ta có thuật chọn ngày, chọn giờ chưa ?
“...Nhân dân Việt Thường đã biết xét nghiệm sự vật theo hiện tượng thiên nhiên mà làm lịch để áp dụng vào nông nghiệp khá sớm. Sách thông chí của Trịnh Tiều TQ chép rằng: Đời Đào Đường (Nghiêu) năm 2253 trước công nguyên, phương Nam có họ Việt Thường cử sứ bộ, qua hai lần phiên dịch sang chầu, dâng con rùa thần có lẽ sống một nghìn năm, mình dài hơn ba thước, trên lưng có văn khoa đẩu, ghi việc khi trời đất mở mang. Vua Nghiêu sao chép lấy, gọi là “Quy lịch” (tức lịch rùa). Vậy đây chưa rõ khoa văn đẩu 9 chữ hình con nòng nọc trên lưng con rùa là văn sẵn trên mai nó, mà các nhà làm lịch nước Việt- thường nghiên cứu theo sự tiến triển của nó hàng nghìn năm để rút ra quy luật về sự tuần hoàn của thời tiết, hay đó là một thứ ký hiệu ta gọi là chữ Khoa- đẩu mà các nhà làm lịch nước ta vạch lên mai rùa.
Dù sao “Quy lịch” lúc đó là phát hiện riêng của các nhà thiên văn nước Việt Thường. Các nhà thiên văn Trung Quốc cũng làm ra lịch của họ nhưng người Việt thường không theo lịch của Trung Quốc. Mãi đến đời nhà Hán, dưới triệu Văn Vương (con trai của Trọng Thuỷ, cháu của Triệu Đà), người nước ta vẫn dùng lịch truyền thống của mình. Khi làm lịch, tổ tiên ta đã biết dựa vào những mốc tiêu chuẩn của thời gian theo chu kỳ của mặt trời, mặt trăng. Tín hiệu còn thể hiện qua hoa văn trống đồng Ngọc Lũ. Thí dụ: Trung Tâm mặt trống là hình ảnh mặt trời, vòng trong là hạ chí, vòng giữa là vòng xuân phân, thu phân vòng ngoài là Đông chí...”.
(Trích “Vài nét về Văn hóa thời Hùng Vương” trong bài của GS. Bùi Văn Nguyên đăng trong tạp chí Văn học số ra tháng 9,10/1973)
Như vậy từ lich sử xa xưa, ta đã có lịch và qua đó suy luận ra ta cũng đã có thuật chọn ngày. Kể cả khi tiếp thu thuật chiêm tinh trung quốc, ta cũng không tiếp thu toàn bộ, nhất là trong dân gian các tục kiêng cữ có nhiều chỗ khác nhau.
Ở nước ta hồi đầu thế kỷ 20, nhất là trong phong trào “Duy Tân”, nhiều nhà tri thức tân tiến đã lên tiếng công kích các thói hư tật xấu, đã loại bỏ được nhiều hủ tục lỗi thời, trong đó tục chọn ngày cũng đã giảm nhẹ và có phần cải tiến, không nhất mọi việc đều chọn ngày, chọn hướng như thời xưa.
Sau cách mạng tháng 8-1945, tiếp đến 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, Hiệp kỷ lịch ban hành dưới triều nguyễn mất dần, số người biết chữ Hán thưa thớt dần, trước cao trào diệt thù cứu nước, chẳng mấy ai quan tâm đến việc chọn ngày, chọn giờ: nhận lệnh thì chiến đấu, công tác; ban ngày máy bay địch bắn phá thì hoạt động ban đêm, nhà dột thì lợp lại trai gái yêu nhau, hai gia đình bằng lòng, thấy ngày nào thuận tiện, thì hẹn nhau cưới ngày ấy, cưới hỏi muốn đông người dự thì chọn ngày chủ nhật, muốn biết ngày nắng, ngày mưa thì nghe dự báo thời tiết, chết thì chôn không để quá 24 giờ. Mọi việc như xuất hành, tu tạo, hôn nhân, tang tế kể gì ngày giờ Hoàng đạo, Hắc đạo, trùng phục, Trùng tang, trực khai, trực bế. vả lại trong không khí mọi người bận rộn vật lộn với cuốc sống hàng ngày, tranh chấp giữa cái sống, cái chết, cái đói, cái no, không còn điều kiện để chọn ngày tốt, tránh giờ xấu, nghỉ phép được ít ngày, cố lo xong công việc để kịp trả phép, thôi thì “vô sư, ô sách, quỷ thần bất trách”.
Tuy rằng không mở sách, không mời thầy, nhưng tục chọn ngày chọn giờ vẫn âm ỉ lan truyền trong dân gian. Mặc dầu quần chúng nhân dân mấy ai biết: ngày nào là ngày “Thiên ân”, ngày nào là ngày “sát chủ”, nhưng những câu nói cửa miệng vẫn có thế dùng làm cơ sở lý luận chọn ngày chọn giờ. Thí dụ: Tâm lý chung thích chọn ngày chẵn, tránh ngày lẻ, tránh tam nương, nguyệt kỵ, tránh ngày sóc (mồng 1), ngày nguyệt tận (cuối tháng)...
Đi chơi còn nhỡ nữa là đi buôn
Cưới vợ làm nhà chẳng được đâu (lấy tuổi mụ của người chủ sự, trừ bội số của số 9, số dư cuối cùng là 1, 3,6 ,8 tức là tuổi Kim lâu)
Gặp ngày con nước cũng về tay không.
Làm nhà xem tuổi đàn ông.
Mừng cho hai cháu đẹp duyên...
Trên đây toàn là những câu truyền miệng trong dân gian nhưng khá phổ biến.
Sau khi hoà bình lập lại nhất là trong những năm gần đây, tập quán chọn ngày, chọn giờ lại rộ lên. Ngoài những tư liệu thời xưa còn rải rác lưu truyền ở các địa phương, còn nhiều sách vở từ Thái Lan, từ Đài Loan, Hồng Kông và các nước Đông Nam á khác tràn vào. thầy cũ cộng thêm thầy mới, tự nhiên hình thành tầng lớp thuật sĩ chuyên nghiệp, bán chuyên nghiệp đủ các dạng.
Năm mới tràn hứng khởi với sàn nhà đỏ
Không gian đầu tiên bạn có thể mang màu đỏ đến chính là sàn nhà. Sàn màu đỏ có thể làm bằng chất liệu gỗ, gạch kiểu cọ hay thảm trải... Đừng e ngại màu đỏ màu mè sẽ phá hỏng phong cách đơn giản bạn hướng tới. Bạn có thể kết hợp nền sàn màu đỏ với những gam màu pastel nhẹ nhàng của tường và đồ nội thất để tạo ra sự trung hòa về màu sắc.
Sàn gỗ tông nâu đỏ kết hợp tường trắng và nội thất pastel bắt mắt mà không rối mắt.
Gạch lát sàn đỏ vừa ấn tượng, vừa sạch sẽ lại dễ lau chùi.![]()
Thảm lót phòng khách tông đỏ nâu sang trọng, hiện đại nhưng không tạo cảm giác bức bối.
Nếu muốn mang cá tính đến không gian sống, bạn có thể phối sàn đỏ với gam màu xanh đối lập và nội thất có họa tiết đẹp mắt.![]()
Căn phòng ấn tượng với sự đan xen của xanh và đỏ.
Tường nhà
Nếu bạn cần tìm kiếm một màu sắc nổi bật để tạo điểm nhấn cho căn phòng, hãy thử sơn tường hoặc đơn giản hơn là chọn loại giấy dán tường có các hoa văn tông màu đỏ. Do màu đỏ có tính áp đảo nên bạn hãy chọn thêm một màu sắc trung tính khác để kết hợp.
Tông đỏ trầm được phối với màu trắng của trần nhà và các họa tiết sáng màu để giảm sự "chói lọi".![]()
Ngôi nhà của những nghệ sĩ hạnh phúc với tông đỏ sáng ấn tượng.
Nếu ngại màu đỏ đơn sắc quá chói lói, bạn có thể sử dụng giấy dán tường có họa tiết màu đỏ đơn giản như gợi ý này.
Nếu bạn là người thích sự xa hoa, sang trọng thì tại sao không trải thảm màu đỏ cho khu vực hành lang và cầu thang. Ngôi nhà của bạn sẽ tuyệt vời như dinh thự của một ngôi sao Hollywood vậy. ![]()
Hành lang và cầu thang sang trọng với thảm đỏ. Phòng của trẻ
Từ xưa, các bậc phụ huynh đã luôn có quan niệm trang trí phòng bé trai màu xanh, phòng bé gái màu hồng. Tuy nhiên, nếu nhóc tì của bạn không thích xanh hay hồng thì sao? Sao bạn không thử chào đón các bé trong một căn phòng mang phong cách hoàn toàn mới, vừa hiện đại lại vừa cá tính với màu đỏ. Màu đỏ được cho là sắc màu không phân biệt giới tính, phù hợp với cả bé trai và bé gái. Bé gái yêu màu sắc sống động, tươi trẻ và thời trang của đỏ tươi. Bé trai lại thích sắc đỏ bởi nó làm nổi bật cá tính bên trong, thể hiện sự thông minh trong suy nghĩ và hành động của chúng.![]()
Màu đỏ mang đến sự năng động, hiện đại cho phòng của trẻ.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thùy Dung (##)
Xác định hướng bàn thờ
Hướng của bàn thờ không phải như nhiều người vẫn thường nghĩ là hướng của người đứng thắp hương. Cũng giống như là xác định hướng bếp, thì hướng của bàn thờ vẫn phải căn cứ vào tuổi của chủ nhà rồi mới tính hướng.
Hướng của bàn thờ là hướng ngược lại với hướng của người đứng thắp hương.

Xác định hướng cho bàn thờ là việc căn cứ vào các bài vị của gia tiên, tức là ta lấy hướng cho các bài vị trên bàn thờ chứ không phải lấy hướng cho người đang sống.
Bàn thờ phải đặt ở phương vị nào trong nhà ở cho thích hợp?
Nói chung đều khuyên nên đặt bàn thờ ở Tài vị, mà Tài vị là nơi ở bên trái cửa, bước vào nhìn thấy ngay.
Luận điểm này cũng phải châm chước vì nhà ở hiện đại, cửa (môn khẩu) không có nghĩa là tọa hướng, đó là điểm thứ nhất; còn điểm thứ hai thì nơi cửa bước vào nhìn thấy ngay không nhất định là Tài vị.
Thí dụ, tọa Nam hướng Bắc, cửa chính tại phương Bắc, phương bên trái khi bước vào cửa nhìn thấy ngay là phương Đông Nam, đối với nhà mà nói rõ ràng Đông Nam là cát vị, nếu đặt bàn thờ ở đó thì bàn thờ hướng Tây Bắc, như vậy là không tốt.
Do đó nơi đặt bàn thờ phải thích nghi với đất cát của nhà ở mới là thượng sách.
Trước hết phải hiểu rõ tọa hướng của nhà ở, mà tọa hướng của nhà ở hiện đại phải lấy phương có không khí lưu thông nhiều nhất, ánh sáng đầy đủ nhất làm hướng, không thể câu nệ vào cửa chính.
Sau khi xác định được rõ ràng tọa hướng, dùng la bàn xác định xem nhà ở thuộc trạch nào, rồi đặt bàn thờ ở phương vị xấu, hướng nào phương vị tốt nhất, đó là cách đặt bàn thờ chính xác nhất.
Dưới đây là bảng kê phương hướng bàn thờ, để tránh lầm lẫn, bảng này lấy hướng làm trạch.

Bài trí gà trống
Theo phong tục truyền thống, gà trống trong bố cục phong thuỷ thường được sử dụng vào các trường hợp sau:

1- Trẻ nhỏ trong bụng nhiều giun sán, khó chịu, biếng ăn, da vàng, cơ thể gầy gò.
2- Bên ngoài cạnh nhà ờ có cột đèn điện với nhiều sợi dây hình thù giống như loại côn trùng.
3- Bên ngoài cạnh nhà ở có đường ống nước hình thù giông như con rết.
Những vật hình thù giống loài côn trùng hay giống như hình con rết nói trên chỉ
khi nào chúng đối diện thẳng vào phòng ngủ của trẻ và phòng bếp thì mới cần tìm cách hoá giải.
Những điểm cần chú ý khi dùng gà trống để phá giải:
1- Mỏ gà phải đặt chiếu thẳng vào vật thể giống như côn trùng hoặc con nhện, như vậy mới có hiệu quả.
2- Nếu là gà trống bằng sứ có thể chí cần đặt một con là đủ, nếu đặt 2 hoặc 3 con, với bản chất hiếu chiến của gà trống, chúng sẽ đánh nhau và hiệu quả hoá giải sẽ kém.
3- Gà trống bằng đồng trong bố cục phong thuỷ là loại thường dùng vào hoá giải các trường hợp sát khí gây đào hoa, ngoại tình, chăng hạn dùng cho nhà có bố cục đặc thù mà vì nó dễ làm xâu tính cách phụ nữ hoặc làm cho người trong nhà nảy sinh tính ghen ghét.
Pháp khí này nên đặt bên ngoài ở vị trí đối diện với cứa, ví dụ như đặt trên giá kiểu bình phong, như vậy sẽ ngăn chặn tuyệt đối ảnh hưởng của vận đào hoa vào nhà. Nếu vợ hay chồng nghi ngờ phía bên kia có ngoại tình, có thể dặt pháp khí này vào trong tủ quần áo, khi đặt phải dùng một dôi và dặt vào góc tối của tủ, bên trái một con bên phải một con.
4- Ngoài một số bố cục có tính đặc thù ra, thông thường, với những người sinh năm mèo thì không nên bài trí gà trống.
Những câu danh ngôn hay nhất về sách. Sách không đơn thuần chỉ là những trang giấy mà trong đó còn chứa đựng một thế giới mà con người luôn khao khát được khám phá.
Có rất nhiều loại sách khác nhau, tùy vào nhu cầu mà người ta sẽ lựa chọn cho mình một thể loại riêng để đọc. Với những người được gọi là “mọt sách” thì nhu cầu đọc càng trở nên không thể thiếu. Mỗi ngày, bạn chỉ cần bỏ ra một chút thời gian để nghiền ngẫm một vài trang sách, điều này không chỉ giúp bạn được thư giãn mà còn mở ra trong bạn một thế giới khác, giúp bạn khám phá được thêm một kiến thức bổ ích. Do đó, sách là một người bạn quan trọng và cần thiết của mỗi chúng ta.
Hãy đọc những câu nói hay về sách để hiểu rõ hơn về điều này.
Người đọc quá nhiều và dùng tới bộ óc quá ít sẽ rơi vào thói quen suy nghĩ lười biếng.
Any man who reads too much and uses his own brain too little falls into lazy habits of thinking.
Albert Einstein
—-
Một người không đọc sách chẳng hơn gì kẻ không biết đọc.
A person who won’t read has no advantage over one who can’t read.
Mark Twain
Chúng ta hãy dịu dàng và tử tế nâng niu những phương tiện của tri thức. Chúng ta hãy dám đọc, nghĩ, nói và viết.
Let us tenderly and kindly cherish, therefore, the means of knowledge. Let us dare to read, think, speak, and write.
John Adams
Thiên nhiên và sách thuộc về những đôi mắt đã thấy chúng.
Nature and books belong to the eyes that see them.
Ralph Waldo Emerson
Hãy cẩn thận khi đọc sách về sức khỏe. Bạn có thể bỏ mạng vì một lỗi in ấn.
Be careful about reading health books. You may die of a misprint.
Mark Twain
Sách hay, cũng như bạn tốt, ít và được chọn lựa; chọn lựa càng nhiều, thưởng thức càng nhiều.
Good books, like good friends, are few and chosen; the more select, the more enjoyable.
Louisa May Alcott
Một cuốn sách hay trên giá sách là một người bạn dù quay lưng lại nhưng vẫn là bạn tốt.
A good book on your shelf is a friend that turns its back on you and remains a friend.
Khuyết danh
Như một đứa trẻ đọc truyện, điều tồi tệ là khi bạn đọc đến hồi kết, và thế rồi xong. Ý tôi là thật đau khổ khi truyện không còn thêm nữa.
The awful thing, as a kid reading, was that you came to the end of the story, and that was it. I mean, it would be heartbreaking that there was no more of it.
Robert Creeley
Đọc sách hay cũng giống như trò truyện với các bộ óc tuyệt vời nhất của những thế kỷ đã trôi qua.
The reading of all good books is like a conversation with the finest minds of past centuries.
Rene Descartes
Chính từ sách mà những người khôn ngoan tìm được sự an ủi khỏi những rắc rối của cuộc đời.
It is from books that wise people derive consolation in the troubles of life.
Victor Hugo
Bạn càng đọc nhiều, bạn càng biết nhiều. Bạn càng học nhiều, bạn càng đi nhiều.
The more that you read, the more things you will know. The more that you learn, the more places you’ll go.
Dr Seuss
Trong những cuốn sách ẩn chứa linh hồn của suốt chiều dài quá khứ.
In books lies the soul of the whole past time.
Thomas Carlyle
Bạn biết rằng bạn đã đọc một cuốn sách hay khi bạn giở đến trang cuối cùng và cảm thấy như mình vừa chia tay một người bạn.
You know you’ve read a good book when you turn the last page and feel as if you’ve lost a friend.
Khuyết danh
Không cần phải đốt sách để phá hủy một nền văn hóa. Chỉ cần buộc người ta ngừng đọc mà thôi.
You don’t have to burn books to destroy a culture. Just get people to stop reading them.
Mahatma Gandhi
Tôi càng đọc, tôi càng suy ngẫm; và tôi càng được nhiều, tôi càng có thể tin chắc mình không biết điều gì.
The more I read, the more I meditate; and the more I acquire, the more I am enabled to affirm that I know nothing.
Voltaire
Tất cả những gì con người đã làm, nghĩ hoặc trở thành: được bảo tồn một cách kỳ diệu trên những trang sách.
All that mankind has done, thought or been: it is lying as in magic preservation in the pages of books.
Thomas Carlyle
Chúng ta sẽ trở thành gì phụ thuộc vào điều chúng ta đọc sau khi tất cả các thầy cô giáo đã xong việc với chúng ta. Trường học vĩ đại nhất chính là sách vở.
What we become depends on what we read after all of the professors have finished with us. The greatest university of all is a collection of books.
Thomas Carlyle
Sách là nguồn của cải quý báu của thế giới và là di sản xứng đáng của các thế hệ và các quốc gia.
Books are the treasured wealth of the world and the fit inheritance of generations and nations.
Henry David Thoreau
Tôi thấy truyền hình rất có tính giáo dục. Mỗi khi ai đó bật ti vi lên, tôi lại sang phòng khác và đọc sách.
I find television very educating. Every time somebody turns on the set, I go into the other room and read a book.
Groucho Marx
Sách chỉ phí giấy nếu chúng ta không hành động theo những hiểu biết mà tư tưởng mang lại.
Books are but waste paper unless we spend in action the wisdom we get from thought.
Edward Bulwer Lytton
Có lẽ người ta đúng khi đưa tình yêu vào trong sách… Có lẽ nó không thể sống ở bất cứ nơi nào khác.
Perhaps they were right in putting love into books… Perhaps it could not live anywhere else.
William Faulkner
Tôi đọc lồi cả mắt và vẫn không đọc được đủ tới một nửa… người ta càng đọc nhiều, người ta càng thấy còn nhiều điều cần phải đọc.
I read my eyes out and can’t read half enough…the more one reads the more one sees we have to read.
John Adams
Đừng bao giờ cho mượn sách – chưa ai từng trả lại chúng; những cuốn sách duy nhất tôi có trong thư viện của mình là những cuốn người khác cho tôi mượn.
Never lend books – nobody ever returns them; the only books I have in my library are those which people have lent me.
Anatole France
Tôi ghét sách; chúng chỉ dậy ta nói về những điều mà ta chẳng biết gì.
I hate books; they only teach us to talk about things we know nothing about.
Jean Jacques Rousseau
Chúng ta hãy đọc và hãy nhảy múa – hai niềm vui không bao giờ làm hại thế giới này.
Let us read and let us dance — two amusements that will never do any harm to the world.
Voltaire
Từ lúc tôi nhặt cuốn sách của anh lên cho tới khi tôi đặt nó xuống, tôi cười đến đau bụng. Một ngày nào đó tôi sẽ đọc nó.
From the moment I picked your book up until I laid it down, I was convulsed with laughter. Someday I intend reading it.
Groucho Marx
Ngoài con chó, sách là người bạn tốt nhất của con người. Trong con chó, quá tối để đọc.
Outside of a dog, a book is a man’s best friend. Inside of a dog it’s too dark to read.
Groucho Marx
Hãy đọc cuốn sách hay nhất trước, nếu không bạn có thể chẳng có cơ hội đọc nó đâu.
Read the best books first, or you may not have a chance to read them at all.
Henry David Thoreau
Người biết đọc nắm trong tay sức mạnh để khuếch đại bản thân mình, để nhân lên những cách mình tồn tại, để lấp đầy cuộc đời mình một cách đáng kể và thú vị.
Every man who knows how to read has it in his power to magnify himself, to multiply the ways in which he exists, to make his life full, significant and interesting.
Aldous Huxley
c cần chú ý khi quyết định đặt không gian làm việc ở nhà.

Về cơ bản, có hai dạng phòng làm việc: trung tâm hành chính gia đình – nơi gia đình thanh toán các hóa đơn, nắm bắt thông tin về ngân quỹ và các công việc quản lý khác; và không gian làm việc liên quan đến thu nhập. Đối với trung tâm hành chính gia đình, có thể chỉ cần sử dụng một góc khu từ bếp. Nếu bạn làm việc chuyên nghiệp tại nhà – dù bán thời gian – tốt nhất là nên có một không gian chuyên dụng cho mục đích này để giữ năng lượng công việc và gia đình càng tách biệt càng tốt.
Khi tố chức cuộc họp khách hàng tại phòng làm việc ở nhà, nếu có một lối vào riêng đành cho khách hàng là tốt nhất. Bằng cách đó, khách hàng có thể ra vào mà không phải đi qua không gian sinh hoạt gia đình và cả hai năng lượng của bạn đều tập trung vào công việc. Những khách hàng đi qua không gian sinh hoạt gia đình trước khi vào phòng làm việc có thể bị giảm độ tập trung vào công việc và theo tiềm thức, lòng tin của họ vào nghiệp vụ hay khả năng của bạn có thể giám sút.
Hãy đảm bảo là có một lối đi dễ thấy dẫn tới cứa ra vào phòng làm việc nhà bạn, nhất là khi lối vào nằm bên cạnh hay đảng sau nhà, nhờ thế khách hàng sẽ dễ dàng tìm được lối vào khi lần đầu tiên đến nhà. Do chức năng văn phòng và nhà ở khác biệt nhau, nên phòng làm việc ở nhà cũng có khí khẩu riêng, dù đó là của bên ngoài riêng biệt hay của bên trong nhà.
Rất nhiều nhà đầu tư khi đầu tư cửa hàng nhân tố đầu tiên suy nghĩ đến đó là “tốc độ hoàn vốn đầu tư”. Tốc độ hoàn vốn đầu tư nhanh có nghĩa là tiền thuê cao, thời hạn thu hồi đầu tư thời kỳ đầu là ngắn, cũng đồng nghĩa với việc tiềm lực của cửa hàng ngày càng mạnh, lợi nhuận chuyển nhượng cũng càng cao. Những mê tín của tỷ lệ hoàn vốn đầu tư đã khiến cho các cửa hàng mở rộng và các cửa hàng tiêu thụ đưa ra những quy định tỷ lệ hoàn vốn đầu tư, một số cửa hàng thậm chí cam kết tỷ lệ hoàn vốn là 15% trở lên, công khai tuyên bố chỉ cần không lỗ, lấy sự mở rộng tuyên truyền không thực để thu hút nhà đầu tư.
Quả thực phân tích kỹ lưỡng một chút chúng ta sẽ phát hiện thấy rất nhiều thông tin truyền ra chỉ mang tính kêu gọi, hấp dẫn nhà đầu tư: cũng giống như là “thiên phương đạ đàn” của một đêm làm phú nông, những cách tính toán của tỷ lệ hoàn vốn đối với đầu tư đó, ngoài rất nhiều nhân tố ảnh hưởng không ổn định đến hoạt động kinh doanh.

Nhà đầu tư cần phải thoát khỏi nhận thức sai lầm về tỷ lệ hoàn vốn đầu tư cửa hàng, phải làm rõ những vấn đề sau đây: Đầu tiên, tiền thuê mãi mãi đều là tham số động thái. Những giá thuê cao trước mắt có thể là do cung không đáp ứng cầu mà thị trường dẫn đến, chứ không thể đại diện cho tiền thuê cao trong thời gian dài, cũng không thể bảo đảm liên tục trong 6 năm, 8 năm thậm chí 10 năm đều có thể lấy mức tiền thuê này để đưa ra thuê cửa hàng. Cái bánh lớn này không nhất định sẽ càng ngày càng to ra, nó sẽ càng ngày càng mỏng đi, tỷ lệ hoàn vốn chính là biến lượng. Chính vì vậy, dùng mức tiền thuê tĩnh thái trong một thời điểm nào đó để tính toán tỷ lệ hoàn vốn đầu tư đúng là không khoa học.
Tiếp đó, tỷ lệ hoàn vốn đầu tư cũng là tiêu chí của động thái, nó sẽ biến động theo rất nhiều nhân tố biến động khác. Ví dụ: Tất cả các nhân tố như thay đối môi trường cạnh tranh địa đoạn, thay đổi quy hoạch ngành kinh doanh, thay đổi các loại ngành nghề kinh doanh, thay đổi các hình thái cung cầu tổng thể.v.v… đều có thể ảnh hưởng đến việc điều chỉnh động thái của tỷ lệ hoàn vốn đầu tư. Chính vì vậy, những cửa hàng khi mới bắt đầu liền thiết lập ra tỷ lệ hoàn vốn đầu tư khẳng định là có vấn đề, ít ra là không thể đại diện cho sự tính toán bước đầu của sự thay đổi, chỉ có thể tham khảo mà thôi.
Thứ ba là, đứng từ góc độ hoàn vốn đầu tư các cửa hàng đã lâu đời của nước ngoài, tỷ lệ hoàn vốn tổng hợp vào khoảng 5%, rất ít những cửa hàng có tỷ lệ hoàn vốn vượt quá 10%, thời kỳ thu hồi đó thường trong khoảng hơn 10 năm. Không thể phủ nhận rằng: Thời kỳ đều cần sự phát triển cửa hàng, giá trị của nó không được ai biết đến, giá bán rất thấp, đồng thời sự cạnh tranh thương mại cũng không kịch liệt, tiền thuê cũng rất cao, vì thế mà tỷ lệ hoàn vốn sẽ tương đối cao. Nhưng hiện nay là có sự khác biệt lớn, tỷ lệ hoàn vốn đã rơi xuống mức độ bình thường, cửa hàng mở rộng lại cam kết tỷ lệ hoàn vốn lên đến 15%, chúng ta lại phải mở to mắt ra để nhìn xem thế nào, những câu tuyên truyền như “đầu tư hiện tại chính là đầu tư cho tương lai” cũng bao hàm nghĩa cảnh tảnh. Rốt cuộc thì cái “bánh to” kia có thể làm to ra không, không thể dựa vào lời nói của những người kinh doanh mở rộng kia.
Trong các phương pháp ứng dụng để khai thác các tiêu chí thông tin tốt xấu vận số con người qua các Đại-tiểu vận (Đai vận là 10 năm. Tiểu vận là 1 trong 10 năm của Đại vận đó), những Đại Sư khoa Tử Bình đã nhận thấy tên gọi của mỗi người cũng có ảnh hưởng chi phối nhất định đến vận số con người.
Theo khoa Tử Bình thì căn cứ theo Ngũ Hành Can Chi của tổ hợp Tứ trụ (Năm-Tháng-Ngày-Giờ) xem sự sinh-khắc-hình-hợp-xung-phá như thế nào, Hành nào quá yếu hoặc quá mạnh…gặp Can-chi Đại-Tiểu vận nào thì tốt đẹp nhiều thuận lợi hay mờ ám nhiều xung xấu…có thể nói giống như một phương trình phản ứng Hóa học vậy.
Nếu tổ hợp Tứ trụ các Can-Chi thể hiện Ngũ Hành đầy đủ, cân bằng (hai chữ CÂN BẰNG ở đây ta hiểu theo khái niệm tương đối), thì có thể dùng một tên nào đó tùy thích mà không phải lo sợ tên gọi đó ảnh hưởng xấu đến vận số của mình. Nhưng nếu tổ hợp Tứ trụ có một Hành quá yếu, thậm chí là không có... thì nên ứng dụng DỤNG THẦN NHÂN TẠO để lấy tên theo bộ Ngũ Hành (Kim-Mộc-Thủy-Hỏa-Thổ), tức là có thể lấy một tên gọi thuộc Hành đã bị thiếu trong Tứ trụ để mỗi lần kêu tên là lại một lần được "nạp năng lượng", nên có thể nói tên gọi ảnh hưởng đến tinh thần cũng như sự nghiệp, nếu ứng dụng đúng thì có thể làm cho vận số cũng được tốt hơn.
Chẳng hạn như họ tên đầy đủ của một người là NGUYỄN THỊ THU THỦY, tứ trụ của người này Hành Thủy quá mạnh lại thiếu hẳn Hành Hỏa, thì nên đổi tên thành NGUYỄN THỊ ÁNH HỒNG. Vì chữ Ánh có tượng là ánh sáng và chữ Hồng thuộc Hành Hỏa. Tuy nhiên vì người này sinh trong tháng 11âm lịch, là thời điểm Hành Thủy cực vượng khắc Hỏa mạnh, trong khi Hỏa ở mùa Đông là tử địa nên cần phải ứng dụng thêm màu sắc để hỗ trợ cho Hành Hỏa. Trong sinh hoạt thường ngày cần thường dùng các đồ tư trang cá nhân có màu Đỏ hoặc Hồng như quần áo, khăn, mũ v.v…vì màu sắc là công cụ quyền lực chi phối Ngũ hành rất mạnh, chẳng hạn như trong một môi trường thích hợp nó có thể gây ra ảo giác.
2 -Khi đặt tên cần tuân thủ các nguyên tắc
Âm vần của tên gọi phải hay, đẹp: đặt tên là để người khác gọi, vì thế phải hay, tránh thô tục, không trúc trắc, phản cảm. Tiếp đến là tránh họ và tên cùng vần cùng chữ, tránh dùng nhiều chữ để dễ gọi. Tên gọi phải có kiểu chữ đẹp, dễ viết, chân phương. Không trùng tên trong gia đình ít nhất là trong 4 đời. Khi đặt tên cần chú ý sự thống nhất hài hoà giữa họ và tên, nhất là về ý nghĩa. Ví dụ: tên Mai Hiền: có nghĩa là đóa mai dịu dàng.
Để vua chúa xuống dưới âm cung có người hầu hạ, tục ta không chôn người sống mà dùng hình nộm làm bằng tre nứa, quấn bằng rơm rạ hoặc nhào nặn bằng đất sét, ngoài dán giấy làm quần áo rồi vẽ mặt mũi, sau đó khi tế lễ xong thì đốt hình nhân đó cùng với vàng mã.
Nếu lễ thuỷ thần, long vương, hà bá thì làm thuyền bằng giấy kết trên thân cây chuối rồi đặt hình nhân vào thuyền và thả trôi sông. Có người nghe theo lời bói toán nhảm nhí sắp đến vận hạn bị hung thần quỷ dữ bắt, phải nhờ thầy cúng làm lễ, đốt hình nhân thế mạng. Có người vì mối tư thù nhưng yếu thế không trả thù được bèn nghĩ cách làm hình nhân rồi đề tên họ, huý, hiệu của kẻ thù vào trước ngực hình nhân, cắm ở ngã ba, ngã tư đường cái, thắp hương cắm lên đầu hình nhân để nhờ thần linh bắt tội người đó.
Đây là một tập tục chứa đầy tính chất mê tín, dị đoan đã bị đả phá, bãi bỏ từ đầu thế kỷ. Chính quyền phong kiến đã ra lệnh cấm hủ tục này. Kẻ nào cố tình vi phạm, nếu phát hiện được sẽ bị phạt nặng. Địa phương nào để những tục đó xảy ra, nếu phát hiện được thì lý trưởng nơi đó bị cách chức. Thế mà ngaỳ nay, chúng tôi thấy hủ tục này lại có cơ phát triển, cho nên việc bài trừ hủ tục nhảm nhí này là cần thiết, phù hợp với việc xây dựng nền văn.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Trúc Loan (##)
NAM: Cung khôn sao Kế-Đô, hạn Địa-Võng: Mẫu người thông minh đa tài, nhiều tham vọng. Đôi khi thiếu khiêm tốn và không chấp nhận hiện tại nên chức phận không bền. Tiền vận gian nan, trung vận lao đao, nhưng ly hương tự lập lại phú qúi giàu sang về hậu vận. Cuối đời có khuynh hướng tu hành, thích triết, thích đạo lý và tâm hồn hướng thượng. Nếu bạn là con út trong gia đình, dễ bị mồ côi. Sau này xây nhà cửa hay mở cơ sở làm ăn, nên chọn hướng chánh Tây hay Tây Bắc. Làm người có ba điều đáng tiếc: Một là việc làm được hôm nay lại bỏ qua. Hai là hiện tại bây giờ không lo học. Ba là thân này lở hư. Một người dù thông minh tài giỏi tới đâu mà không nắm lấy cơ hội học hành cho đúng lúc, chỉ ân hận suốt đời mà thôi. Ngay cả thiên tài cũng do những cố gắng lâu dài. Cha mẹ không thể sống mãi để lo cho mình suốt đời. Vậy tương lai được xây dựng bởi những gì ta đang cố gắng xây dựng hôm nay:
Năm nay tốt nghiệp lớp 9, nên bắt đầu luyện thi SAT. Hạn chế tối đa việc đi xa.
“Tuổi nhỏ hôm nay ráng học hành
Mai sau rạng rỡ bước công danh
Siêng năng chăm chỉ lo đèn sách
Đỗ đạt rạng danh, sự nghiệp thành.”
NỮ: Cung Tốn sao Thái-Dương, hạn Địa-Võng: Mẫu người luôn phấn đấu, nhiều tham vọng, đôi khi háo danh, nóng nảy cố chấp và hơi lý tài. Tuy nhiên rất quán xuyến đảm đang, trở thành rường cột của gia đình. Tình duyên trắc trở buổi ban đầu, về sau lấy chồng hạp tuổi mới yên. Về già thích triết, thích đạo lý và có tâm hồn hướng thượng tu hành. Nếu bạn là con út trong gia đình, dễ bị mồ côi. Hướng làm ăn tốt nhất là chánh Bắc, chánh Nam và Đông Nam. Làm người có ba điều đáng trách: Một là việc làm được hôm nay lại bỏ qua. Hai là hiện tại đời này không lo học. Ba là thân này lở hư. Một người dù thông minh tài giỏi tới đâu mà không nắm lấy cơ hội học hành cho đúng lúc, chỉ ân hận suốt đời mà thôi. Ngay cả thiên tài cũng là những cố gắng lâu dài. Cha mẹ không thể sống mãi để lo cho mình suốt đời. Vậy giờ nào việc ấy. Năm nay nên bắt đầu luyện thi SAT và hạn chế tối đa việc đi xa, xuất ngoại.
“ Cơm cha áo mẹ công thầy
Tuổi xuân học tập tháng ngày chăm lo
Tương lai vinh hiển ấm no
Yêu cuồng sống vội, hẹn hò không nên”
BÍNH-DẦN 28 TUỔI (Sinh từ 9/2/1986 đến 28/1/1987)
Mệnh: Lộ Trung-Hỏa ( Lửa trong lò)
NAM: Cung Khôn, sao La-Hầu, hạn Tam-Kheo: Mẫu người can đảm, tự tin. Lúc nhỏ hay bệnh, hơi khó nuôi. Mặc dù có óc lãnh đạo, có tài chỉ huy, dám nói dám làm nhưng không gặp thời nên tiền vận gian nan. Nếu bạn là con út trong gia đình thì đời sống tình cảm của song thân không mấy vui; nhiều khi gần cha xa mẹ, gần mẹ xa cha, đó là nghịch cảnh. Tuy nhiên, đôi khi nhờ nghịch cảnh trui rèn mà mai sau ứng phó được với khó khăn ngoài xã hội. Mua nhà đất hay làm ăn nên chọn hướng Tây và Tây Bắc. Tối kỵ màu đen, đi xe đen. Bản tánh hào hoa phong nhã, khi yêu thương thì rất đam mê, nồng nàn. Cưới vợ hợp với tuổi Kỷ-Tỵ (1989), Tân-Mùi (1991) và Ất-Hợi (1995).
“Mẫu người can đảm tự tin
Có tài lãnh đạo nhưng tình trái ngang
Tiền vận thật lắm gian nan
Hậu vận tốt đẹp đàng hoàng an vui”
Năm nay hạn chế đi xa, xuất ngoại bất lợi, công vụ trắc trở. Phải bảo trì xe cộ kỹ lưỡng tránh nằm đường. Uống rượu lái xe sẽ gây tai nạn nguy hiễm. Mọi việc ráng giữ nguyên tình trạng cũ mới có thể tránh bớt những xui xẻo rủi ro. Không nên đầu tư chứng khoán. Xấu nhứt là tháng 1, tháng 7 trong gia đình có người đau ốm bệnh hoạn hoặc tang chế bà con.
NỮ: Cung Khảm, sao Kế-Đô, hạn Thiên-Tinh: Mẫu người tự tin, nóng nảy nên dễ bị đụng chạm. Tuy nhiên rất nhiệt tình, thích giúp đỡ người khác. Nhờ đó có sự hồi báo mà thành tựu về hậu vận. Nếu bạn không phải là con út trong gia đình thì đang ở trong thuận cảnh. Nếu là con út trong gia đình thì có khi gần mẹ xa cha, hay gần cha xa mẹ. Làm ăn hợp với hướng Đông Nam và chánh Bắc. Lấy chồng hạp với những tuổi Đinh-Mão (1987), Đinh-Tỵ (1977), Quý-Sửu (1973), Quý-Hợi (1983), Tân-Dậu (1981) và Mậu-Ngọ (1978). Tối kỵ tuổi Giáp-Tí (1984). Cưới hỏi nên chọn ngày giờ tốt trong tháng 2 và 8 âm lịch, bất luận năm nào. Hạp màu đỏ, tối kỵ màu đen, đi xe đen.
“Trẻ lo nỗ lực học hành
Mai sau đỗ đạt xứng danh gái tài
Gia đình xây đắp tương lai
Ngôn từ dè dặt tháng ngày thảnh thơi”
Năm nay tối kỵ đi xa xuất ngoại, công vụ gặp nhiều trắc trở. Không nên thay đổi chỗ ở chỗ làm. Mọi việc ráng giữ nguyên tình trạng cũ. Trước khi lái xe đi xa phải bảo trì xe cộ kỹ lưỡng, tránh nằm đường. Rất dễ bị phạt hay tai nạn xe cộ dễ xảy ra trong tháng 3, tháng 9. Cũng trong 2 tháng nói trên, trong gia đình có người bệnh hoạn, hay tang chế bà con. Nếu muốn sinh con, thì nên có thai sau tháng 6, để sinh con tuổi Giáp-Ngọ, có thể tốt cho cha mẹ 20 năm.
GIÁP-DẦN 40 TUỔI: (Sinh từ 23/1/1974 đến 10/2/1975)
Mệnh: Đại-Khê-Thủy ( Nước của khe lớn)
NAM: Cung Cấn, sao Thái-Bạch hạn Thiên-Tinh: Mẫu người thông minh hào hiệp, tự tin, tự lập, có óc lãnh đạo, có tài chỉ huy. Cuộc đời gặp nhiều may mắn, khá giả về tiền bạc. Thấy chuyện bất bình ra tay tương trợ. Thiếu niên tiền vô tay trái ra tay phải. Tuy nhiên tha hương lập nghiệp lại gặp nhiều cơ hội tốt để tiến thân. Tình duyên lận đận. Bạn trăm năm nên chọn các tuổi Giáp-Tí (1984), Canh-Tuất (1970), Tân-Hợi (1971), Nhâm-Tí (1972), Tân-Dậu (1981), Nhâm-Tuất (1982) và Qúi-Hợi(1983). Tuy nhiên tối kỵ tuổi Đinh-Tị (1977), Bính-Dần (1986) và Đinh-Mão (1987). Hạp màu trắng. Hướng nhà cửa và kinh doanh tốt nhất là Tây Bắc, và chánh Tây.
“Có tài lãnh đạo chỉ huy
Cuộc đời may mắn ước gì có ngay
Tình duyên đôi lúc lá lay
Chọn người thích hợp tương lai sáng ngời”
Năm nay bàn tay Kim-Lâu nhằm “Tứ Tấn Tài” rất tốt cho việc xây cất nhà cửa, hay chỉnh trang cơ sở thương mãi làm cho tài lộc hưng thịnh hơn lên. Nếu có sự thay đổi chỗ ở, chỗ làm, hay đi xa xuất ngoại đều tốt. Bạn nào làm việc hãng xưởng sẽ được thăng quan tấn chức. Bạn nào kinh doanh thương mãi cũng thành công trên thương trường. Gia đình hỉ sự trùng phùng, như sanh qúi tử…
NỮ: Cung Đoài, sao Thái-Am, hạn Tam-Kheo: Mẫu người thông minh tự lập, dám nói dám làm. Rất cao số nên thường gặp trở ngại về hôn nhân. Tuy nhiên biết chiều chồng, lo cho con, hiếu thuận cha mẹ đôi bên. Nếu ly hương lập nghiệp lại gặp nhiều may mắn, nhất là kinh doanh thương mãi dễ làm giàu. Rất hạp với màu trắng. Tuổi chồng lý tưởng nhất là Quý-Sửu (1973), Quý-Mão (1963), Ất-Mão (1975), Tân-Hợi ( 1971). Hướng làm ăn tốt nhất là Tây Nam, Đông Bắc, và chánh Tây.
“Hôn nhân trở ngại ban đầu
Tuổi người cao số về sau mới bền
Tài ba tự lập tiến lên
Ly hương sự nghiệp vững bền mai sau”
Năm nay bàn tay Kim-Lâu nhằm “Tứ Tấn Tài” rất tốt cho công cuộc xây cất nhà cửa hay chỉnh trang cơ sở thương mãi có thể giúp hưng thịnh thêm lên. Nếu có sự thay đổi chỗ ở chỗ làm hay đi xa xuất ngoại đều được thành công như ý. Bạn nào kinh doanh thương mãi, tài lộc thịnh vượng. Bạn nào làm công chức sẽ được thăng quan tấn chức. Năm nay sinh con cũng tốt. Tuy nhiên bạn nào làm việc nhiều bằng computer sẽ dễ bị đau mắt. Nếu muốn sinh con út, thì nên có thai sau tháng 6, để sinh con Giáp-Ngọ, có thể tốt cho cha mẹ 20 năm.
NHÂM-DẦN 52 TUỔI (sinh từ 5/2/1962 đến 24/1/1963
Mệnh: Kim bạc Kim ( Vàng pha kim khí trắng).
NAM: Cung Khôn, sao Vân-Hớn hạn Thiên-La: Mẫu người ngay thẳng, dễ thích nghi với mọi hoàn cảnh. Nhờ tài lãnh đạo không nề gian khổ nên sau cùng đã chiến thắng được gian nan. Số phú quí giàu sang khi xa quê hương. Tình duyên trở ngại buổi đầu, nhưng về sau lại hạnh phúc vững bền. Chọn vợ lý tưởng trong các tuổi Giáp-Dần (1974), Quý-Sửu (1973), Nhâm-Tí (1972), Tân-Hợi (1971), Canh-Tuất (1970), Tân-Sửu (1961), Canh-Tí (1960), và Nhâm-Dần (1962). Tối kỵ tuổi Giáp-Thìn (1964) và Mậu-Ngọ (1978). Hạp màu vàng, kỵ màu đỏ. Hướng nhà cửa và làm ăn tốt nhất là chánh Tây, và Tây Bắc.
“Tình duyên trở ngại ban đầu
Kiên tâm xây dựng về sau vững bền
Vợ chồng phúc đức tạo nên
Giàu sang phú quí chớ quên ơn Trời “
Năm nay bàn tay Kim-Lâu nhằm“Nhứt Kiết” nếu muốn xây cất, chỉnh trang nhà cửa, cơ sở thương mãi, có thể tiến hiện được. Nếu dự tính có con năm này cũng không kỵ. Đầu năm không nên đầu tư chứng khoán. Cuối năm dễ bị ngộ nhận gây miệng tiếng thị phi. Công vụ dễ gặp trắc trở. Phải bảo trì xe cộ kỹ lưỡng, tránh bị nằm đường.
NỮ: Cung Tốn, sao Thái-Dương, hạn Địa-Võng: Mẫu người ngay thẳng, cứng rắn với nguyên tắc nên nữ nhân mà nam tính, khó bị chi phối thuyết phục. Lòng đầy tự tin nhưng hơi cao số, dễ bị chậm trễ về chồng con. Tuy nhiên nhờ thông minh, luôn được tín nhiệm, được giao phó quyền cao chức trọng. Xa xứ ly hương sẽ giàu sang về hậu vận. Tuổi chồng thích hợp là Ất-Tị (1965), Quý-Mão (1963), Nhâm-Dần (1962), Đinh-Dậu (1957), và Ất-Mùi (1955). Kỵ tuổi Giáp-Thìn (1964), Kỷ-Hợi (1959), Canh-Dần (1950). Nếu gặp 3 tuổi này, rất hiếm muộn con cái! Hạp màu vàng, kỵ màu đỏ. Hướng làm ăn tốt nhất là chánh Bắc, chánh Nam, và Đông Nam.
“Thông minh đầy đủ niềm tin
Nhân duyên chậm trễ do mình mà thôi
Hy sinh thương khó cho đời
Giàu sang hậu vận gặp thời thăng hoa.”
Năm nay bàn tay Kim-Lâu nhằm “Nhứt Kiết” nếu muốn xây cất nhà cửa hay chỉnh trang cơ sở thương mãi có thể thực hiện được. Lái xe đi xa phải bảo trì xe cộ kỹ lưỡng tránh bị nằm đường. Việc làm ăn có chiều hướng thành công, nhất là trong những tháng 6, 10. Tuy nhiên tránh thưa kiện đáo tụng đình sẽ hoàn toàn bất lợi, hoặc thất bại.
CANH-DẦN 64 TUỔI: (Sinh từ 17/2/1950 đến 5/2/1951)
Mệnh: Tùng Bách Mộc (Gỗ cây tùng bách).
NAM: Cung Khôn sao La-Hầu, hạn Tam-Kheo: Mẫu người tự tin, khôn ngoan, ứng phó được nghịch cảnh. Tuy nhiên nóng nảy, hành sự độc đoán, cho nên phải âm thầm lo liệu trong cô đơn. Nhờ sáng trí thông minh, có tài lãnh đạo nên rồi tiền hung hậu kiết. Tiền vận trước 30, tình duyên trắc trở, hạnh phúc gia đạo cũng như công danh đều bất như ý. Ly hương lập nghiệp lại sung túc thành tựu trong thập niên 40. Hướng nhà cửa và làm ăn tốt nhất là chánh Tây và Tây Bắc.
“Người thường nóng nảy độc tài
Tự mình lo liệu đêm ngày cô đơn
Thông minh sáng suốt ai hơn
Tình duyên trắc trở chớ hờn, số thôi”
Năm nay bàn tay Kim-Lâu nhằm “Tứ Tấn Tài” rất tốt khi xây cất, chỉnh trang nhà cửa. Không nên bỏ qua cơ hội tốt này, vì kết qủa có thể giúp việc làm ăn thăng tiến, phát đạt hơn. Tuy nhiên không nên đầu tư chứng khoán sẽ gặp khó khăn về tài chánh. Say rượu lái xe sẽ gây thảm họa. Xấu nhứt là tháng 1 và 7. Cũng trong 2 tháng này, những việc bất như ý dễ xảy ra như bệnh hoạn hay tang chế bà con.
NỮ: Cung Khảm, sao Kế-Đô, hạn Thiên-Tinh: Rất cao số, dễ tin người, tình duyên trắc trở, nên hay chậm trễ về chồng con. Thiếu niên tân khổ, tự lực cánh sinh. Tiền vận vất vả nhưng ly hương thì sau 30 tuổi được phú quí an nhàn. Qúy bà là người an phận thủ thường trong hạnh phúc của một người tìm được sự yên ổn của tâm hồn khi đã chu toàn bổn phận. Có số nhờ chồng nếu phu quân nhằm vào tuổi Ất-Dậu (1945) hay Tân-Mão (1951). Hướng làm ăn tốt nhất là Đông Nam, và chánh Bắc.
“ Tánh người an phận thủ thường
Chu toàn bổn phận nhịn nhường chồng con
Tâm trung một tấm lòng son
Giữ gìn hạnh phúc vuông tròn thủy chung
Đạo đời hậu vận thung dung
Như Lai Bản Mục vui cùng hư không”
Năm nay bàn tay Kim-Lâu nhằm “Tứ Tấn tài” : không nên bỏ qua cơ hội rất tốt để xây cất nhà cửa, chỉnh trang cơ sở thương mãi; có thể giúp việc làm ăn thành công, thịnh vượng hơn lên. Tình trạng tài chánh được cải thiện tốt hơn. Muốn đi xa, xuất ngoại, sẽ có cơ hội thực hiện. Tuy nhiên, tháng 3, tháng 9 trong gia đình có người bệnh hoạn, hay tang chế bà con.
Xin Lưu ý: Đây chỉ là tài liệu tham khảo, nếu Quý khách hàng muốn có bài luận giải tử vi đúng của chính mình, xin vui lòng đóng phí ở dịch vụ Xem tử vi trọn đời để được chuyên gia gửi bài luận giải qua địa chỉ email.
II.- Nguồn gốc khoa Tử-vi
Về nguồn gốc khoa Tử-vi thì bộ Tử-vi kinh tức Tử-vi chính nghĩa, phần Hy Di tiên sinh liệt truyện viết :
“Tiên sinh làu thông Dịch-lý, Thiên-văn, Hình-tượng, Lịch-số, Địa-lý. Nhân thấy các khoa đều có uyên nguyên với số mạng nhân sinh, do vậy khải ngộ, soạn ra bộ Tử-vi kinh truyền cho đức Thái-tổ nhà ta.” Vì vậy nguồn gốc khoa Tử-vi, có thể kết luận rằng, đặt cơ sở trên :
- Học thuyết Âm-dương ngũ hành của Dịch-lý.
- Từ Thiên-văn học, với những biến chuyển của tinh đẩu.
- Từ Hình tượng học, tức khoa nghiên cứu về hình dáng vũ trụ, con người và thú vật.
- Từ Lịch-số, tức khoa nghiên cứu từ Thiên-văn, để tính sự tuần hoàn vũ trụ, tính ngày, tháng, năm.
- Địa lý, tức Phong-thủy, nghiên cứu về con người tương ứng với địa phương hướng nhà khí hậu v.v....
1.- Tiểu sử Hi-Di tiên sinh
Tiên sinh họ Trần húy Đoàn tự Hy-Di, người đất Hoa-sơn, ngày nay về phía Nam huyện Hoa-âm tỉnh Thiểm-Tây. Khi ra đời tiên sinh bị đẻ non tháng, nên mãi hai năm mới biết đi, thuở nhỏ thường đau yếu liên miên. Tiên sinh học văn không thông, học võ không đủ sức, thường suốt ngày theo phụ thân ngao du khắp non cùng thủy tận.
Thân phụ tiên sinh là một nhà Thiên-văn, Lịch-số đại tài đương thời. Về năm sinh của tiên sinh, không một thư tịch nào chép. Nhưng căn cứ vào bộ Triệu Thị Minh Thuyết Tử-vi kinh, khi tiên sinh yết kiến Tống Thái-tổ Triệu Khuông Dẫn vào niên hiệu Càn-đức nguyên niên có nói : « Ngô kim nhật thất thập hữu dư », nghĩa là, tôi năm nay trên 70 tuổi.
Vậy có thể tiên sinh ra đời vào khoảng 888-893 tức niên hiệu Vạn-đức nguyên niên đời Đường Huy-Tông đến niên hiệu Cảnh-phúc nguyên niên đời Đường Chiêu-Tông. Tiên sinh bắt đầu học Thiên-văn năm 8 tuổi. Bộ Triệu Thị Minh Thuyết Tử-vi kinh thuật :
" Tiên sinh tám tuổi mà còn thơ dại, lúc nào cũng ngồi trong lòng thân phụ. Một hôm thân phụ tiên sinh phải tính ngày giờ mưa bão trong tháng, bị tiên sinh quấy rầy, mới dắt tiên sinh ra sân, chỉ lên bầu trời đầy sao mà bảo :
- Con có thấy sao Tử-vi kia không ?
Đáp :
- Thấy.
Lại chỉ lên sao Thiên-phủ mà hỏi :
- Con có thấy sao Thiên-phủ kia không ?
Đáp :
-Thấy.
- Vậy con hãy đếm xem những sao đi theo sao Tử-vi và Thiên-phủ là bao nhiêu ?
Thân phụ tiên sinh tưởng rằng tiên sinh có đếm xong cũng phải trên nửa giờ. Không ngờ ông vừa vào nhà tiên sinh đã chạy vào thưa :
- Con đếm hết rồi. Đi theo Tử-vi có năm sao, như vậy chòm Tử-vi có sáu sao. Đi theo sao Thiên-phủ có bảy sao, như vậy chòm Thiên-phủ có tám sao."
Từ đấy tiên sinh được thân phụ hết sức truyền khoa Thiên-văn và Lịch-số.
2.- Truyền cho vua Tống
Giai thoại kỳ thú mà hầu hết các nhà nghiên cứu Tử-vi đều biết, đó là Hi-Di tiên sinh đã dùng khoa Thiên-văn và Tử-vi đoán trước được hai đứa trẻ nghèo đói, sau đều trở thành vua. Bộ Tử-vi chính nghĩa phần Hi-Di liệt truyện đã kể giai thoại kỳ thú đó như sau :
“Một hôm tiên sinh dẫn đệ tử ra sân xem Thiên-văn, chợt kêu lên rằng :
- Kìa quaí lạ không ?
Đệ tử xúm lại nhìn theo tay tiên sinh chỉ thì thấy sao Tử-vi, Thiên-phủ đi vào địa phận của sao Phá-quân và Hóa-kỵ, mà ánh sáng chiếu xuống núi Hoa-sơn. Tiên sinh noí :
- Tử-vi, Thiên-phủ là đế-tượng, tức là vua. Tử-vi bao giờ cũng đi trước, Thiên-phủ bao giờ cũng theo sau. Đây tức là anh em một gia đình nào đó, đang buổi hàn vi, sau sẽ làm nên sự nghiệp vẻ vang, vị tới đế vương. Phá-quân là hao-tinh chủ nghèo đói, Hóa-kỵ chủ bần hàn, kêu xin. Phá ngộ Kỵ thì nghèo đói phải đi ăn mày. Tử, Phủ gặp Phá, Kỵ tức hai vị Thiên-tử chưa gặp thời phải đi ăn xin. Tất cả chiếu xuống Hoa-sơn, thì hai vị Thiên-sử sẽ qua đất Hoa-sơn ăn xin. Vậy ngày mai các người theo ta xuống núi, giúp cho vị anh hùng vị ngộ, đang gặp lúc cùng khó. Đệ tử thưa :
- Đệ tử nghĩ, nhân lúc thiên-tử chưa gặp thời, ta nên cho người vay nợ, để mai đây có dịp đòi nợ cứu giúp dân nghèo.
Tiên sinh đồng ý. Hôm sau thầy trò xuống chân núi thấy một đoàn người chạy loạn đi qua. Tiên sinh để ý đến một thiếu phụ gánh hai chiếc thúng, trong mỗi thúng có một đứa trẻ khôi ngô dung quang khác thường. Tiên sinh biết hai đứa trẻ này ứng vào sao Tử, Phủ trên trời đây. Mới hỏi thiếu phụ :
- Bà ơi ! Bà có mệt lắm không ? Bà gánh hai vị Thiên-tử đi đâu vậy ?
Thiếu phụ đặt gánh xuống thưa :
- Con tôi đó, đứa lớn tên Triệu Khuông Dẫn, đứa nhỏ tên Triệu Khuông Nghĩa. Từ sáng đến giờ chúng đói không có gì ăn. Tiên sinh bố thí cho chút đồ ăn được không ?
Tiên sinh đáp :
- Tôi xem thiên văn thấy dung quang hai con bà khác phàm. Bà có nhớ ngày giờ sanh của chúng không ?
Thiếu phụ cho ngày giờ năm sinh của hai con. Tiên sinh tính số Tử-vi, thấy cách của Khuông Dẫn là Tử, Phủ, Vũ, Tướng được Tả, Hữu, Khoa, Quyền, Lộc củng chiếu. Ngặt đại hạn đang gặp Kiếp, Kỵ nên nghèo khó. Số của Khuông Nghĩa là Thiên-phủ lâm Tuất, ngộ Tả, Hữu, Khoa, Quyền đại hạn cũng đang gặp Kiếp, Kỵ nên nghèo khó. Tiên sinh nói với học trò :
- Hai đứa trẻ này là chân mạng đế vương, khi đại hạn đi đến gặp Khôi, Việt, Xương, Khúc, là lúc thành đại nghiệp đấy. Ta phải giúp đỡ mới được, hầu mua lấy cảm tình, lúc thiên tử gặp thời, có thể nhân đó giúp dân vậy.
Tiên sinh nói với thiếu phụ :
- Tôi tính số thấy hai con bà sau đều làm vua. Khi đã làm vua rồi, thì tất cả giang sơn vạn dặm đều của con bà cả. Vậy bà bán cho tôi giải núi Hoa-sơn này lấy tiền mà tiêu.
Thiếu phụ tưởng ông đạo sĩ điên khùng mới mua núi. Bà đồng ý bán. Bởi bà không biết chữ, nên xé vạt áo hai con quấn vào đôi đũa, nhét trong một ống đũa, coi như văn tự trao cho Hy-Di tiên sinh và nhận mười nén vàng.
Năm 960, Triệu Khuông Dẫn thống nhất giang sơn, lên ngôi vua lập ra nhà Tống, sau là Tống Thái-Tổ. Niên hiệu Càn-đức nguyên niên (963), quan trấn thủ vùng Hoa-sơn dâng biểu về triều rằng: Có một đạo sĩ tên Trần Đoàn, tự Hy-Di bao dưỡng dân chúng không nộp thuế. Đạo sĩ nói rằng : Hoa-sơn là đất riêng của ông, đã được nhà vua bán cho rồi. Tống Thái-tổ không nhớ chuyện cũ, nổi giận, sai bắt Hy-Di tiên sinh vào triều trị tội. Nhưng quan địa phương rất kính trọng tiên sinh, không giám trói, còn đưa lừa cho tiên sinh cỡi để lai kinh. Tiên sinh được giải vào triều kiến. Thái-tổ hỏi :
- Đạo sĩ cũng phải tuân theo phép nước chứ ? Hà cớ phao ngôn nói rằng đã mua đất của triều đình ?
Tiên sinh đáp :
- Năm nay tôi đã trên 70 tuổi đâu dám nói dối. Luật lệ của bệ hạ là : Đời cha mẹ vay nợ, thì đời con phải trả. trước đây Thái-hậu qua Hoa-sơn, có bán cho bần đạo toàn vùng này lấy mười nén vàng. Văn tự còn đây.
Tiên sinh xuất trình ống đũa và vạt áo. Thái-tổ truyền đem vào hậu cung hỏi Thái hậu. Thái-hậu nhớ chuyện cũ vội kêu lên :
- Vị thần tiên ở núi Hoa-sơn đây mà, người đã cứu nạn cho nhà ta xưa đây.
Thái-hậu kể chuyện xưa. Thái-tổ và triều thần kinh sợ về tài tiên tri của tiên sinh, vội tạ lỗi, lưu tiên sinh lại kinh, kính như bậc thầy. Tống Thái-tổ hỏi tiên sinh về khoa Tử vi, tiên sinh rút ra trong bọc tập sách nhỏ đề Tử-vi chính nghĩa trao cho Thái-tổ mà tâu rằng :
- Đây là tất cả những tinh nghĩa về khoa Tử-vi. Bần đạo không phải là người đặt ra khoa này. Nhân người trước đã nói về Tử-vi, bần đạo nhận thấy Dịch-lý, Hình tượng Thiên văn, Lịch-số, Địa-lý đều có uyên nguyên với nhau, mới tước bỏ những rườm rà của người xưa, họp thành khoa Tử-vi mà thần viết trong tập này. Với khoa Tử-vi, bệ hạ có thể biết kẻ trung, người nịnh, thời nào tốt, thời nào xấu mà mưu đại sự. Đó là học tới bậc sơ đẳng. Còn học uyên thâm hơn, có thể nhân số mạng xấu, dùng người nào thì cứu được kẻ bị nạn, và cứu như thế nào ? Thấy kẻ ác thì dùng người nào, cách nào thì trị được, đó là học tới trung đẳng. Còn học tới chỗ uyên thâm cùng cực, có thể làm đảo lộn cả thiên hạ, nắm thiên hạ trong bàn tay. Nhưng bần đạo kính dâng bệ hạ một câu, khi dùng tập sách này, đó là :
Chữ Nhân, đừng nên dùng vào những việc ác độc, tổn âm đức.
Tiên sinh được các quan xin coi Tử-vi. Họ chỉ việc biên ngày sinh, tháng sinh, năm sinh và giờ sinh, tiên sinh sẽ kêu ra vị đó đang giữ chức vị gì trong triều, cùng sự lập thân ra sao, cuối cùng sự nghiệp sẽ kết thúc như thế nào. Triều thần không ai mà không kính phục.
3.- Cái chết của Hy-Di Sử
Sách không ghi tiên sinh ra đời năm nào, mà cái chết của tiên sinh cũng rất mơ hồ. Bộ Triệu Thị Minh Thuyết Tử-vi kinh viết :
« Niên hiệu Khai-bảo thứ ba (972), Thái-tổ sai sứ đến Hoa-sơn thỉnh tiên sinh, thì đệ tử cáo rằng tiên sinh ngao du sơn thủy đã ba năm không thấy trở về.»
Sau trên mười năm không thấy tiên sinh trở về, đệ tử tiên sinh cho rằng thầy đã quy tiên. Họ họp nhau bầu lấy người chưởng môn. Nhưng khi sinh thời tiên sinh gặp ai dạy người đó, trình độ học trò không đều nhau, mà họ không biết nhau nữa. Cuối cùng vì trong mười năm xa sư phụ, mạnh ai nấy nghiên cứu thành ra khoa Tử-vi có nhiều dị biệt. Các đệ tử của tiên sinh tự ý thu đệ tử, truyền dạy, người có căn cơ thì dạy hết, người không có căn cơ thì dạy ít, thành ra khoa Tử-vi trở thành một khoa bí hiểm của riêng từng nhà, nhiều nhà còn giữ để làm kế sinh nhai, do vậy mới có nhiều khác biệt nhau.
Quay về | Trở về đầu | Xem tiếp
![]() |
| Moscow được bao bọc bởi các con sông |
![]() |
| Thế thủy long cực thịnh |
No.1: Tuổi Sửu
Con gái tuổi Sửu luôn chứng tỏ mình mạnh mẽ, quyết đoán trong công việc, học hành và chắc chắn họ sẽ có con đường công danh sáng lạn. Tuy nhiên, dù gai góc đến đâu, trong chuyện tình cảm, con giáp này lại quá yếu đuối, lệ thuộc rất nhiều vào đối phương. Căn nguyên của tính cách đó là niềm tin vào duyên số của cô nàng cầm tinh con trâu quá lớn.
Họ nghĩ rằng đã yêu ai đó thật lòng thì số phận sẽ gắn kết hai người nên muốn ở cạnh “gấu” bằng mọi giá, cho dù bị tổn thương hay vất vả ra sao. Bù lại, bạn có tinh thần lạc quan về tương lai tươi sáng với kết thúc có hậu cho tình yêu của mình.
![]() |
No.2: Tuổi Thìn
Cô nàng tuổi Thìn nhanh chóng quen với việc có một bờ vai để dựa vào khi vui hay buồn. Cho dù mới yêu hay đã gắn bó một thời gian dài, họ sớm hình thành thói quen không thể thiếu nửa kia trong cuộc sống. Do đó, con giáp này rất dễ bị tình cảm chi phối. Họ dễ tổn thương, đau khổ nếu mối tình rạn nứt.
Dù vậy, may mắn luôn mỉm cười với người tuổi Thìn. Họ gặp được những chàng trai tốt bụng, hào hoa và hết lòng chăm lo cho người yêu. Càng yêu lâu, tình cảm càng đậm sâu và cô nàng tuổi Thìn càng khó rời xa “gấu”. Tỷ lệ phụ thuộc sẽ tăng lên theo cấp số nhân.
![]() |
No.3: Tuổi Tỵ
Thói quen đa nghi Tào Tháo chính là thủ phạm gây ra nhiều đêm trăn trở về tình cảm của các cô nàng tuổi Tỵ. Họ luôn thấy bất an, chuyện tình cảm có vẻ dễ rạn nứt dù thâm niên tình yêu đã trên 5 năm. Hơn nữa, trí tưởng tượng của con giáp này cực kỳ phong phú, có thể nhanh chóng suy diễn ra những viễn cảnh gây ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý.
Ví như gấu quan tâm bất ngờ, ngay lập tức cô nàng tuổi Tỵ cho rằng chắc chàng đã làm điều gì đó sai trái nên phải chuộc lỗi. Nhiều lần đa nghi dẫn tới cảnh chiến tranh lạnh, rồi làm lành. Mối tình của con giáp này lên xuống thất thường, không không thể dứt điểm dẫn đến họ rơi vào trạng thái bị điều khiển.
![]() |
Mr.Bull (theo DZYX)
![]() |
Top 3 con giáp nữ tham vọng lấy chồng giàu |
![]() |
![]() |
| ► Mời các bạn tra cứu Lịch 2016 theo Lịch vạn sự chuẩn xác |
Đặt tượng Phật Di Lặc chuẩn phong thủy để rước tài lộc, đón niềm vui![]() |
![]() |
| ► Xem thêm: Khám phá những điều bí ẩn về mười hai con giáp |