Tướng phụ nữ làm lãnh đạo –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Thời gian: tổ chức vào ngày 19 tháng 5 âm lịch.
Địa điểm: xã Thái Đào, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
Đối tượng suy tôn: nhằm suy tôn tướng Quân Vũ Thành.
Nội dung: lễ tế dâng hương và tưởng nhớ đến tướng quân Vũ Thành. Phần hội có thi đấu vật, đu, cờ người, cờ tướng, cướp cầu.
Vì vậy, nếu bạn phạm phải 7 sai lầm dưới đây, theo The Huffington Post, thì hôn nhân của bạn có thể sẽ bị đe dọa.
Đi ngủ vào những khoảng thời gian khác nhau
Marcia Berger, nhà tâm lý học và là tác giả cuốn 30 phút để có mối quan hệ mà bạn luôn mong muốn giải thích, một trong những yếu tố để duy trì tình cảm trong mối quan hệ là khoảng thời gian hai người gần gũi, chia sẻ, nói chuyện với nhau trước khi đi ngủ, sau một ngày dài mệt mỏi ở bên ngoài. Nếu tình trạng mỗi người đi ngủ vào một giờ khác nhau kéo dài thì vấn đề lúc này không chỉ nằm ở phạm vi thói quen sinh học mà cả hai đang tự tạo ra rào cản, khoảng cách về mặt tình cảm, nhu cầu sinh lý cho nhau. Thiếu quan tâm đến thời gian, thói quen sinh hoạt trước khi đi ngủ của nhauNếu bạn thường xuyên xem truyền hình, lên internet hay làm việc riêng khi đã đến giờ chồng hoặc vợ của bạn chuẩn bị đi ngủ, thì bạn nên thay đổi.
Có thể bạn nên di chuyển ra khỏi phòng ngủ chung để tránh gây tiếng ồn, ảnh hưởng đến người bạn đời, hoặc tốt hơn là hai người cần thống nhất để thay đổi và sắp xếp lại thói quen sinh hoạt trước khi đi ngủ để không xảy ra những xung đột không đáng có.
Không nói gì, hoặc nói rất ít với nhau
Sẽ không ai có thể đổ lỗi nếu bạn chỉ muốn lên giường đi ngủ sau một ngày dài làm việc, chăm sóc con cái. Tuy nhiên, việc này không nên diễn ra thường xuyên vì nó sẽ dẫn đến tình trạng thiếu kết nối giữa bạn và người bạn đời.
Mọi hoạt động trong hôn nhân đều là sự xây dựng, bạn không cần phải đợi có những điều hay mới nói chuyện, thay vào đó bạn hoàn toàn có thể trò chuyện về những điều đang khiến bạn mệt mỏi, chán nản để tìm được sự đồng cảm.
Ưu tiên thời gian dành cho “màn hình” hơn là bạn đời
Facebook, Instagram, email đang dần làm nhiều người xao lãng trước khi đi ngủ. Điều này sẽ làm tổn hại mối quan hệ của bạn theo hai cách. Thứ nhất, nó cô lập hai người với nhau. Thứ hai, kích thích từ màn hình và các thiết bị điện tử sẽ giữ cho bạn tỉnh táo, khiến bạn khó ngủ vì cơ thể đã qua giai đoạn cảm thấy buồn ngủ.
Khi không ngủ đủ giấc, chất lượng của giấc ngủ không cao sẽ dẫn đến tâm lý cáu gắt, ít khoan dung với nhau trong đời sống.
Chải chuốt, làm vệ sinh cơ thể trên giườngĐiều này có vẻ khó hiểu, nhưng theo Becky Whetstone, bác sĩ trị liệu các vấn đề về hôn nhân, gia đình tại Arkansas (Mỹ), không gì có thể giết chết sự lãng mạn bằng việc chồng bấm móng chân hay vợ ngồi chải chuốt móng tay ở trên giường.
Ngay cả khi hai người đã có thể cư xử tự nhiên, thoải mái với nhau thì việc vệ sinh cơ thể, chăm sóc bản thân cũng vẫn nên được làm tại phòng tắm vào một lúc nào đó trong ngày, thay vì trước khi đi ngủ.
Ngày càng ít những cử chỉ thân mậtNếu bạn cảm thấy bạn và chồng hoặc vợ giống như bạn cùng phòng hơn là người bạn đời của mình, hay bạn cố tình không đi ngủ cùng lúc, chuyển qua phòng khác ngủ để tránh quan hệ tình dục, thì hôn nhân của bạn đang thật sự có vấn đề.
Giải pháp trong trường hợp này là hãy cùng ngồi nói chuyện thẳng thắn với nhau để hiểu ra lý do thật sự.
Đi ngủ trong sự giận dữBạn không nên dùng giấc ngủ như một cách để giải quyết tranh cãi, xung đột hết lần này đến lần khác. Vì điều này không giải quyết được vấn đề giữa hai người mà còn làm giảm chất lượng giấc ngủ cũng như sức khỏe và đời sống tình cảm, tinh thần.
Hãy cố gắng đừng nói về vấn đề có khả năng gây tranh cãi trước khi chuẩn bị ngủ. Hãy nói và giải quyết những vấn đề này vào khoảng thời gian khác trong ngày, khi cả hai còn nhiều năng lượng và tỉnh táo.
Một thế giới
Mẫu đơn là loài hoa thân gỗ thuộc họ Mao lương. Còn có tên là “hoa vương” hoặc “hoa phú quý”. Trung Quốc đã coi Mẫu đơn là Quốc hoa. Mẫu đơn cũng chính là loài hoa có chủ yếu ờ Trung Quốc, trong Thần nông bản thảo của Trung Quốc cũng đã có ghi chép lại rằng Mẫu đơn đã có từ rất lâu đời.
Mẫu đơn có rất nhiều chủng loại, trong Quẩn phương phổ có ghi chép rằng có 180 loài, đời nhà Minh ở Trung Quốc trong “Hoa Châu mẫu đơn hiểu” có ghi lại hơn 269 loài, nhưng thường chia thành 6 loài chính đó là thần phẩm, danh phẩm, linh phẩm, thố phàm, năng phẩm. Theo truyền thuyết xưa, Đường Huyền Tông khi ngắm hoa Mẫu đơn đã hỏi ai có bài thơ hay ngâm để tán tụng hoa Mẫu đơn, có người tấu lên rằng; Có hai câu thơ rất hay của Lý Chính Phong; ‘Thiên hương dạ nhiễm y, Quốc sắc, triêu hàm tửu”. (Quốc sắc ban mai say ý rượu, Thiên hương vương ảo mãi đêm khuya), hậu thế sau này cố cách nói “quốc sắc thiên hương” vì lẽ đó.

Trong Bản thảo cương mục có chép: “Quần hoa phẩm trung, mẫu đơn đệ nhất, thược được đệ nhị, có thế vị mẫu đơn vị hoa quốc (Trong các loài hoa, hoa Mẫu đơn là đệ nhất, thứ đến là hoa Thược dược, vì thế người đời phong hoa Mẫu đơn là Quốc hoa). Đến đời Tống, Mẫu đơn được trồng khắp thành Lạc Dương nên đã có tên gọi là “Lạc Dương hoa”. Bông hoa Mẫu đơn toát lên vẻ kiêu sa, Chu Đôn Di trong bài Ai liên thuyết cũng viết “Mẫu đơn, hoa chi phú quý giả giã” (Mẫu đơn là loài hoa phú quý).
Mẫu đơn tuy là loài hoa phú quý quốc sắc thiên hương, các nho sĩ đời này đời kia đã từng mệnh danh là thư tề, viên phổ. Như Chu Tất Đại ở đời nhà Tống là “thiên hương đường”, Chu Vương nhà Minh có “quốc sắc viên”… Mẫu đơn có vẻ đẹp kiều diễm lại thêm được nhiều tiếng khen, hàm nghĩa cát tường, chính vì vậy mà trong vườn, Mẫu đơn thường được trồng kết hợp với nhóm đá thọ thành trường thọ phú quý hoặc cùng với hoa tầm xuân tạo thành cảnh quan “phú quý trường xuân”.
vào những loại cửa hàng này cần phải thận trọng phán đoán mặt cữa hàng ở vị trí nào sẽ có lưu lượng khách đến nhiều nhất hoặc tương đối nhiều.
Nhưng cần chú ý rằng: Cũng không thể phán đoán lượng người thành lưu lượng khách. Tiếp đó những cửa hàng phía dưới này phẩn lần được xây dựng xung quanh các khu vực nhỏ, giá trị của cửa hàng và vị trí của nó cũng có quan hệ rất lớn. Thường những khu vực nhỏ thì vị trí gần cửa ra vào là quan trọng nhất hoặc những cửa hàng tầng trệt gần đường giao thông giá cả cũng tương đối cao.
Do những cửa hàng ở tầng dưới của những căn hộ chung cư thường phục vụ khu vực thuộc đó, cho nên điều kiện giao thông có ảnh hưởng không lớn lắm đến giá trị của cửa hàng. Nhưng điều kiện để dừng xe mua hàng cần được lưu ý coi trọng, do những ngành ăn uống, đặc biệt là những ngành dịch vạt ăn uống có quy mô trung bình là những khách hàng chủ yếu của loại cửa hàng này.

Những cửa hàng ở dưới những khu chung cư hay tòa nhà thì đối tượng phục vụ thường là những chủ hộ trong khu nhà đó. Chính vì vậy ngành kinh doanh nên lựa chọn những đó dùng thường ngày trong đời sống, đồ ăn uống và những dịch vụ có liên quan. Những loại cửa hàng này tất yếu sẽ chịu ảnh hưởng của những mục có liên quan, nếu những hạng mục cửa khu nhà trung cư đó định vị cao, quy mô lớn, những loại cửa hàng này càng đáng để nhà đầu tư lựa chọn. Đối với những vấn đề nói trên, những hình thức, định vị, trình độ quản lý đầu tư của các hạng mục trong khu nhà đó thì sự anh hưởng đến giá trị cửa hàng là không thể tả hết.
Người đầu tư vào các cửa hàng khi tiến hành đầu tư vào loại cửa hàng tầng trệt của các khu chung cư cần phải hiểu rõ giá bán ban đầu của những cửa hàng đó có phản ánh được giá trị khách quan thực trạng của cửa hàng đó hay không, chứ không phải là mức giá cả đúng thực sự giá trị mà thông qua các cô bán hàng hay những vị tiêu thụ khi mở cửa hàng đưa ra sau khi đã đóng gói xong các đồ trong cửa hàng, hoặc đã rời khỏi cửa hàng đó.
Vấn đề này trong thị trường đầu tư cửa hàng là một vấn đề nhạy cảm nhất, bởi lẽ sự bùng nổ thị trường mở rộng các cửa hàng ở khắp nơi đã tạo ra không gian hoạt động rộng lớn, điều này chính là sự thức tỉnh tuyệt đối của những nhà đầu tư cửa hàng. Có thể xoá bỏ một cách hợp lý nhân tố của những cửa hàng khu xá, tránh khỏi những giao ước giá cả quá nóng, sẽ là nội dung cảnh tỉnh cần thiết nhất của những nhà đầu tư cửa hàng. Giá trị cửa hàng một khi đã bị các cửa hàng mở rộng nắm được, việc đầu tư của các nhà đầu tư cửa hàng sẽ gây tổn thất, trong trường hợp xấu nhất, những nhà đầu tư cửa hàng loại này đã bị cao thủ “xỏ mũi”.
Các loại cửa hàng được coi là loại hình bất động sản ngành thương mại lâu đời nhất của cơ sở thị trường, rất phù hợp với nhà đầu tư tư nhân. Một mặt chỉ cần giá bán hợp lý thì những rủi ro đầu tư cũng sẽ tương đối thấp, tỷ lệ thuế khống cũng thấp, lợi nhuận thu được của việc cho vay vốn cũng có thể được đảm bảo; mặt khác, nếu các hạng mục của cán bộ đó có quy mô lớn, nhân khẩu khu nhà về mặt tiêu thụ cũng mạnh mẽ, thì lợi nhuận đầu tư càng được bảo đảm.
Không cần rườm rà, chúng ta cùng đi thẳng vào những lỗi mà bạn thường gặp phải trong một căn phòng ngủ hiện đại, và tìm ra giải pháp tốt nhất để có được một căn phòng ngủ phong thủy tốt.
Hãy bắt đầu với những lỗi phong thủy phổ biến nhất trong một căn phòng ngủ hiện đại.
Những lỗi về phong thủy phòng ngủ phổ biến nhất:
Gương hướng về phía giường

Cần biết rằng việc để gương quay mặt về phía giường là điều tối kỵ trong phong thủy, và không bao giờ được thực hiện trong phòng ngủ. Dù là gương tủ, gương nhỏ trên đồ nội thất hay một chiếc gương đứng đều không được phép phản chiếu hình ảnh của giường.
Giường thẳng với cửa
Dù là cửa ra vào phòng ngủ, cửa ban công, cửa hiên, cửa buồng tắm hay cửa tủ, cũng không được để giường nằm thẳng hàng với cửa.
Dầm trần, quạt trần hay đèn chùm ngay phía trên giường
Thứ duy nhất được phép đặt phía trên giường là một tấm màn trướng mềm. Không được để vật nặng, không treo đồ vật, đặc biệt không được treo chuông gió hay chuông thường trên đầu giường, bởi nó sẽ tạo ra phong thủy xấu.
Các góc nhọn (Sát khí, Mũi tên độc) chĩa về phía bạn khi ngủ
Những góc này có thể xuất phát từ những vật ở gần như tab đầu giường, hay những đồ vật ở xa như ngăn kéo, hay từ một góc tường nhô ra. Hãy cố gắng vô hiệu hóa tất cả những năng lượng sắc bén này (sát khí) chĩa vào giường bạn.
Giường ngủ phía dưới cửa sổ
Ngoài một chiếc đầu giường tốt, giường của bạn cũng cần có điểm tựa vững chắc phía sau. Khi bạn ngủ phía dưới cửa sổ, năng lượng cá nhân có xu hướng yếu dần theo thời gian, và điều này không hề đem lại sự hỗ trợ hay bảo vệ cần thiết.
Trần dốc phía trên giường
Khi bạn ở dưới một tấm trần dốc, năng lượng của bạn bị đè nén nặng nề và chịu áp lực liên tục. Ban đêm là khoảng thời gian duy nhất giúp cơ thể bạn phục hồi sâu nhất, và ngủ dưới một tấm trần dốc sẽ kiềm hãm hoạt động này, do đó sức khỏe của bạn sẽ bị ảnh hưởng. Ngủ trên một chiếc giường nằm phía dưới trần dốc cũng có thể góp phần gây ra sự bất ổn cảm xúc và năng lượng thấp.
Giường chỉ lên được từ một phía
Giường chỉ lên được từ 1 phía sẽ hạn chế nguồn năng lượng hướng về giường của bạn. Mặc dù khi ngủ mọi thứ có vẻ như không hoạt động, nhưng thực chất cơ thể bạn đang hoạt động tích cực và luôn tìm kiếm những nguồn năng lượng có khả năng tăng cường sức khỏe. Khi luồng năng lượng bị kìm hãm, cơ thể sẽ không nhận được sự hỗ trợ tối ưu cần thiết. Ngoài ra, nếu bạn đang có mối quan hệ yêu thương mặn nồng, chiếc giường chỉ lên được từ một phía có thể hạn chế dòng chảy mở giúp kết nối 2 người.
Giường gần cửa phòng
Giường đặt gần cửa phòng ngủ được coi là phong thủy xấu bởi cửa thường dẫn luồng năng lượng mạnh vào phòng. Năng lượng đó có thể đáng lo ngại hoặc quá tích cực so với loại năng lượng mà bạn cần cho giường ngủ. Để tạo phong thủy tốt trong phòng ngủ, bạn cần nguồn năng lượng bổ dưỡng nhất, thư giãn và yêu thương nhất xung quanh giường.
Khánh Ngọc (Dịch)
![]() |
| Ảnh minh họa |
| ► Lịch ngày tốt gửi tới bạn đọc công cụ xem tướng và xem bói tử vi để biết tính cách, số mệnh của mình |

Người Trung Quốc thường lấy hoa đào để ví với sắc đẹp kiều diễm của mỹ nhân và chữ “đào” thường dùng trong tên của những người con gái, ví dụ như: Đào hoa trang, Đào hoa vận, Đào sắc tân văn… Văn hoá này cũng được truyền sang Nhật Bản, Phong lữ dương của Nhật Bản (bồn tắm) cũng được ghi chữ “đào chi đang”, “tùng chi đang” (bồn tắm nữ, hồn tắm nam). Nhưng người ta ai cũng thích đào.
Người xưa tin đào có linh khí, đào vào tháng 3 mà không nở hoa, ắt dự báo có hỏa hoạn. Thắng 3 cũng được gọi là “đào nguyệt”. Trong thần thoại Trung Quốc có nói cây đào biến thành cây trượng cầm tay của Hoá Phu. Trong “Sơn Hải kinh” có ghi lại: “Khoa Phụ và cuộc rượt đuổi mặt trời, khi tiếp cận được mặt trời, ông khát muốn được uống nước, uống nước ở sông vị, Vị Hà không đủ. bèn chạy đến biển Bắc Hải nhưng trên đường đi thì chết vì khát, bỏ lại cây trượng, hoá thành Đặng Lâm. (Đặng Lâm tức là rừng đào)”.
Trong Thái hình ngự lâm có dẫn “điển thuật” viết: “Đào giả. ngũ mộc chi tinh dã, cố khuyển phục tà khí giả giã. Đào chi tinh sinh tại quỳ môn, chế bách quỷ, cố kim tác đào nhân canh tru môn, dĩ khuyển tà khi (Đào là tinh khí của Ngũ mộc, nên có thể trừ tà khí vậy). Đào ché bách quỷ, quỷ vị đào mộc. Người xưa thường dùng gỗ đào làm thành những vật phẩm để trừ tà như: Đào ấn, Đào phù, Đào kiếm, Đào nhân…
Từ thời Ngũ đại hậu Thục (Trung Quốc) bắt đầu viết những câu đối trên gỗ đào. Giờ đây, mỗi khi xuân đến, người ta vẫn lưu truyền cách thức dân gian này, chỉ có thay bằng vật liệu là giấy đỏ. Tết Đoan Ngọ, người ta cắm cành đào ngoài cửa cũng xuất phát từ quan niệm xưa cho rằng đào có thể tránh tà khí. Cây đào hoa đẹp, quả tươi, trong tâm lí dân gian đó là để dẫn cát tránh tà, lại giảm bệnh tật mà để trống, chính vì vậy trong cốc vườn cây, hoa viên thường trong loại cây này.
Việc chọn tháng thường căn cứ vào tuổi của cô dâu thuộc con giáp gì. Nếu năm sinh của cô dâu không hợp với chi của tháng định tổ chức hôn lễ thì phải dời đến tháng có sự tương hợp. Ví dụ cô dâu cầm tinh con mèo (Mão) nếu định tổ chức lễ cưới vào tháng 8 (tháng Dậu) thì sẽ không tốt vì Mão - Dậu tương xung.
![]() |
| Chọn tháng tốt cho hôn nhân hạnh phúc |
Đây là việc mà hai bên gia đình rất quan tâm vì chọn được tháng tốt không những có thể hy vọng cuộc hôn nhân hạnh phúc trăm năm mà còn để có thời gian chuẩn bị chu đáo cho đám cưới.
Mục đích của việc chọn tháng kết hôn còn nhằm tránh sự xung khắc có thể xảy ra giữa cha mẹ chồng và nàng dâu.
Theo phong tục, người ta hay tổ chức lễ cưới vào mùa xuân và mùa thu là 2 mùa có thời tiết đẹp nhất trong năm.
Trong việc tìm tháng xuất giá cho con gái, có một số lưu ý sau:
- Phòng phu chủ: kỵ với chồng.
- Phòng thê chủ: kỵ với bản thân.
- Phòng công cô: kỵ với cha mẹ chồng.
- Phòng nhạc thân: kỵ với cha mẹ ruột.
- Nếu là trai, gái mồ côi thì không cần sợ tháng kỵ công cô và nhạc thân.
- Phòng mai nhân: kỵ với người mai mối.
Bảng lập thành tháng xuất giá
| Tuổi xuất giá | Tháng đại lợi | Phòng mai nhân | Phòng công cô | Phòng nhạc thân | Phòng phu chủ | Phòng nữ thân |
| Tý - Ngọ |
6-12 |
1-7 |
2-8 |
3-9 |
4-10 |
5-11 |
| Sửu - Dậu |
5-11 |
4-10 |
3-9 |
2-8 |
1-7 |
6-12 |
| Dần - Thân |
2-8 |
3-9 |
4-10 |
5-11 |
6-12 |
1-7 |
| Mão - Dậu |
1-7 |
6-12 |
5-11 |
4-10 |
3-9 |
2-8 |
| Thìn - Tuất |
4-10 |
5-11 |
6-12 |
1-7 |
2-8 |
3-9 |
| Tỵ- Hợi |
3-9 |
2-8 |
1-7 |
6-12 |
5-11 |
4-10 |
Theo Đời người qua 12 con giáp
Hôm nay, Lịch ngày tốt sẽ chia sẻ đôi lời với các bạn về những điều cần chú ý và phòng tránh trong tháng 7 âm lịch này nhé.
Mời bạn click vào Mục lục dưới đây để tới nội dung cần tìm nhanh hơn.
MỤC LỤC
Vận hạn tuổi Tý trong tháng cô hồn
Vận hạn tuổi Sửu trong tháng cô hồn
Vận hạn tuổi Dần trong tháng cô hồn
Vận hạn tuổi Mão trong tháng cô hồn
Vận hạn tuổi Thìn trong tháng cô hồn
Vận hạn tuổi Tị trong tháng cô hồn
Vận hạn tuổi Ngọ trong tháng cô hồn
Vận hạn tuổi Mùi trong tháng cô hồn
Vận hạn tuổi Thân trong tháng cô hồn
Vận hạn tuổi Dậu trong tháng cô hồn
Vận hạn tuổi Tuất trong tháng cô hồn
Vận hạn tuổi Hợi trong tháng cô hồn
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
| ► Mời các bạn: Xem ngày tốt kết hôn đại cát đại lợi theo Lịch vạn sự |
Với 80% dân số làm nghề mộc, mức sống của người dân thị trấn khá cao. Tuy nhiên, hơn 10 năm nay, vào ngày được cưới, cả thị trấn đóng cửa xưởng, người dân gác việc nhà đổ xô đi ăn cỗ. Cả chục đôi uyên ương cưới cùng một ngày khiến cho việc đi ăn cưới ở đây giống một ngày hội.
![]() |
| Cô dâu chỉ được mặc áo tân thời nếu không muốn bị ... cắt điện |
Địa phương này quy định, đám cưới chỉ được tổ chức vào ngày 2 hoặc 16 hàng tháng. Trong đám cưới, gia đình không được dựng sân khấu, không được mở loa đài, không làm cổng chào, không dùng lẵng hoa, dùng các loại bóng đèn tiết kiệm điện , không tổ chức ăn lại mặt sau khi cưới... và đặc biệt, cô dâu không được mặc váy cưới, mà chỉ được mặc áo tân thời. Nếu gia đình nào vi phạm quy ước đều phải chịu một hình phạt rất đặc biệt là bị... cắt điện trong một tuần.
Dù có nhiều ý kiến trái chiều nhưng đã thành lệ, người dân cũng quen dần và nghiêm túc thực hiện, hiện tại chưa có đám nào phá lệ. Điều này tạo ra một “thương hiệu” cưới xin độc đáo, duy nhất trên khắp cả nước.
Tuy nhiên, cưới xin là việc vui, trăm năm có một mà không hát hò, loa đài ầm ĩ thì đám thanh niên cảm thấy không được vui cho lắm và bị trai làng khác chọc khoáy là kém chịu chơi. Nhưng lệ ông cha đặt ra nên họ đành phải chấp nhận.
Tổng hợp
| ► Xem thêm: Tử vi trọn đời theo ngày tháng năm sinh chuẩn xác nhất |
![]() |
| Ảnh minh họa |
![]() |
| người Rục |
Cuối năm 1959, bộ đội Biên phòng Cà Xèng đóng tại Thượng Hóa trong một lần tuần tra đã phát hiện nhóm “người rừng” nhút nhát, không mảnh vải che thân, leo trèo vách đá, chuyền cành nhanh như thú hoang. Sau nhiều tháng tiếp cận, bộ đội đã vận động được họ rời hang đá về định cư ở thung lũng Rục Làn, xã Thượng Hóa.
Từ đây tộc người Rục được biết đến như là em út trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Đến đầu năm 2013, tộc người Rục được quốc tế đưa vào danh sách 10 bộ lạc còn nhiều điều bí ẩn nhất thế giới.
Hiện trong cộng đồng người Rục còn tồn tại hai dạng phép thuật bí hiểm mà các tộc người khác không có, đó là thuật thổi thắt, thổi mở và thuật hấp hơi. Chưa ai tiếp cận nghiên cứu được hai phép thuật này bởi người Ruacj coi chúng là linh thiêng, không tiết lộ ra ngoài.
Thuật thổi thắt, thổi mở của người Rục là dùng bùa chú thổi vào người phụ nữ để sinh hoạt vợ chồng không có con (gọi là thổi thắt); còn khi cần có con cũng dùng bùa chú để thổi vào người phụ nữ (gọi là thổi mở).
Ngoài ra, người Rục còn có thuật hấp hơi để tránh thú dữ. Mỗi khi vào rừng, người Rục chỉ cần đọc câu thần chú thì dù có hổ, báo, voi rừng cũng không dám đến gần để tấn công. Điều này qua thực tế, dù sống chốn thâm sơn cùng cốc, nhưng chưa ai ghi nhận người Rục bị mãnh thú tấn công.
Trưởng bản Mò O Ồ Ồ, Cao Văn Đàn cho biết, những phép thuật nói trên nay không còn phổ biến trong cộng đồng người Rục, nhưng những thầy Ràng (dạng thầy Mo) vẫn còn lưu giữ. Thầy Cao Ống năm nay đã 80 tuổi, ốm yếu, không đi lại được nhưng vẫn còn khá minh mẫn. Sau một hồi thuyết phục, ông cũng đồng ý diễn lại các động tác trong thuật thổi thắt thổi mở. Những dụng cụ để ngay góc nhà, thế nhưng không ai dám đến lấy, vì sợ.
Thầy Ràng Cao Ống ngồi xổm trên giường, hai tay cầm hai ống nứa cà phần đầu nhọn vào phiến đá phát ra âm thanh trầm bổng. Cùng lúc, ông đọc thần chú có vần điệu như hát theo giai điệu từ hai ống nứa. Vừa đọc, ông vừa thổi hơi vào bát nước. Theo thông lệ, chừng 30 phút sẽ đưa bát nước có sợi tóc, hoặc sợi chỉ cho người phụ nữ muốn thắt không sinh nở uống và sẽ hiệu nghiệm.
Ông Cao Ống cho biết, thổi mở cũng ở dạng này, nhưng bài chú sẽ có nội dung khác. Ông còn có thể thổi chữa bệnh đứt tay, chân, chảy máu, rắn độc cắn… và mỗi dạng bệnh tật có những câu chú khác nhau. Ngoài thuật hấp hơi để tránh thú dữ cho riêng mình, ông có thể dùng phép thuật vẽ một vòng tròn cho nhiều người ngồi trong đó để chống lại thú dữ.
Tuy nhiên, khi hỏi về nội dung các câu chú, và nhờ dịch sang tiếng phổ thông thì ông lắc đầu: “Đó là điều thiêng và tối kỵ của người Rục, không thể để người ngoài biết được”.
Đến nay, với lối sống khép kín, xa văn minh cùng những phép thuật kì lạ, chưa có lời giải đáp thì người Rục là tộc người kì bí nhất ở Việt Nam. Bức màn bí mật về văn hóa và đời sống tâm linh của dân tộc này là một thách thức lớn với các nhà nghiên cứu.
Theo Báo Đời sống
![]() |
![]() |
![]() |
| ► Lịch ngày tốt gửi đến bạn đọc công cụ xem tử vi đoán vận mệnh chuẩn xác |
– Tương truyền, tháng 7 âm lịch là tháng quỷ. Từ mùng 1/7, quỷ môn quan bắt đầu mở, tới ngày 30/7 cửa địa ngục đóng lại. Trong ngày cổng địa ngục mở, âm hồn bị giam hãm quay trở lại dân gian, du đãng khắp nơi. Những người có thể trạng yếu, mệnh khí nhược cần hạn chế đi đêm trong tháng cô hồn, tránh gặp xui xẻo.
| ► Bạn cần biết: Những điều kiêng kị trong tháng cô hồn |
![]() |
![]() |
![]() |
Điều 12 con giáp cần làm để bình an vượt qua tháng cô hồn
Giường ngủ là nơi hai vơ chồng gần gũi nhất, bởi vậy việc chọn mua chăn đệm rất quan trọng. Trong gia đình, khi ngủ hai vợ chồng không nên đắp mỗi người một chăn vì điều này sẽ khiến cho tình cảm vợ chồng trở nên hờ hững, xa cách.
Kỵ để gương đối diện với giường ngủ và cửa ra vào

Rất khó tránh khỏi việc treo gương trong phòng ngủ, tuy nhiên bạn nên chú ý không để gương trong phòng đối diện với giường ngủ hoặc cửa ra vào phòng ngủ, nếu không sẽ khiến cho người chồng – chủ nhân căn nhà cảm thấy bất an. Nếu như không thể thay đổi được vị trí để gương, có thể dùng tấm vải che lên tấm gương, khi nào dùng mới vén lên.
Kỵ người thứ ba bước vào phòng ngủ của hai vợ chồng

Phòng ngủ là nơi dành riêng cho hai vợ chồng, vì thế nên tránh để người thứ ba bước vào bởi nó có thể đem đến khí vẩn đục cho căn phòng. Ngoài ra, nhiều người thường sử dụng phòng ngủ làm nơi thay quần áo, tuy nhiên điều này cũng không ổn vì dễ khiến người chồng ngoại tình ở bên ngoài.
Sưu tầm
![]() |
| Ảnh minh họa |
4 quy tắc tâm linh cần áp dụng trong cuộc sống| => Đọc thêm: Chuyện tâm linh huyền bí bốn phương có thật |
7 điều đừng hiểu sai về đạo Phật
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
![]() |
Phụ tinh. Một trong 4 sao của bộ Tứ Linh là Long Trì, Phượng Các, Bạch Hổ, Hoa Cái. Gọi tắt là bộ Long Phượng Hổ Cái.
Ý Nghĩa Hoa Cái Ở Cung Mệnh
Tính Tình
Người có bề ngoài sang trọng, đài các, thanh cao, được nhiều người yêu thích.
Công Danh Phúc Thọ
Hoa Cái chủ về phú quý, sự ngưỡng mộ, sự trọng vọng của người đời. Đây là trường hợp Hoa Cái đi với Long Trì, Phượng Các, Bạch Hổ thành bộ sao gọi là "Tứ Linh", chủ về công danh, chức vị, uy quyền.
Ý Nghĩa Hoa Cái Và Các Sao Khác
Lại còn có một số Thần người nước ngoài xâm lăng nước ta, khi chết tạo sự bất an cho dân, như Nguyễn Bá Linh theo nhà Nguyên đánh Đại Việt, Trương phụ là tướng nhà Minh…cũng được thờ ở Ninh Bình, Quảng Ninh cho bớt sự quấy đảo… Nhưng các Thần người nước ngoài có công với chúng ta, thể hiện đạo đức phù hợp với bản chất dân tộc Việt được nhân dân tôn thờ, sùng kính. Ví như đền thờ Mỵ Ê ở Lý Nhân, Hà Nam, là vợ vua Chiêm có khí tiết đáng kính. Triệu Trung là tướng nhà Tống theo Đại Việt đánh giặc Nguyên được thờ ở Cao Đài - Mỹ Thành – Nam Định và đặc biệt Tứ Vị Thánh Nương, triều đình Nam Tống kháng chiến đế quốc Mông – Nguyên không thành, cơ đồ nhà Tống tan nát, hận mất nước mang nặng, tình nguyện âm phù cho Đại Việt đánh giặc cũng như nhân dân Việt làm ăn, phát triển sĩ, nông, công, thương… được dân gian chiêm ngưỡng rộng rãi khắp Trung, Bắc, Nam và lịch đại phong tặng danh hiệu Thượng đẳng thần.
Việc sùng bái này tuy có thời sóng gió, nhưng một vài thập kỷ gần đây được phục hồi, Nhà nước quan tâm tu bổ di tích như đền Cờn - Nghệ An, đền Mẫu – Hưng Yên, đền Lộ - Hà Nội, đền Ninh Cường, đền thờ Mẫu ở Thái Bình, đền các xã Quần Anh cũ, đền xã Trực Khang – Nam định… Phải chăng đạo nghĩa dân tộc, tầm nhìn tổ tiên đã vượt qua biên giới, nói cách khác là đã có quan điểm toàn cầu. Quý hoá thay, đáng kính thay! Riêng với Nam Định nay (vì Nam Định xưa, đầu thế kỷ 19 quản lãnh cả Thái Bình và một phần Hưng Yên) tục thờ Tứ Vị Thánh Nương còn được khôi phục ở khá nhiều nơi, đặc biệt vùng biển, nay thuộc huyện Hải Hậu, huyện Trực Ninh. Xin dẫn chứng lịch sử tôn thờ Tứ vị, với công trình khẩn hoang mở đất phía Nam sông Cường Giang (nay là sông Ninh Cơ) để có được phần lớn đất đai huyện Hải Hậu, huyện Trực Ninh ngày nay. Theo di tích, truyền thuyết địa phương thì các cụ tổ sáng lập đất Quần Anh là Trần Vu, Vũ Chi, Hoàng Gia, Phạm Cập (địa chí ghi là Tứ tính) cùng chín họ Lại, Nguyễn, Lê, Bùi… (địa chí ghi là Cửu tộc) vượt sông Cường Giang, từ vùng Tương Đông - Trực Ninh sang khai hoang lấn biển vào cuối thế kỷ 15 đầu thế kỷ 16, khi điền địa hình thành, lập xóm trại, họ đã lập đền thờ. Phần này trong sách chép tay Quần Anh tiểu sử của Tiêu Viên Hoàng Diễn (1872-1914), do Phương Châu Đoàn Ngọc Phan dịch và chú thích năm Ất Sửu 1985, mục xây dựng đền, miếu, đàn, chùa và bi ký có ghi: “Nguyên trước đền thờ Tống Thái hậu (người họ Dương là vợ vua Tống Độ Tông, mẹ Tống Đế Bính cùng hoàng hậu và hai công chúa bị nạn giặc Mông - Nguyên chết đuối ở bể năm Kỷ Mão 1279). Đền Bóng trước tại xứ Cồn Khuôn bị xã Cát Chử chiếm mất, bèn lập lại đền Bóng tại phía Bắc sông Trệ (nay thuộc cầu Xẻ, xã Thượng). Tương truyền khi Tú Tổ khai trương, phía đông có đền xã Quần Mông, phía tây có đền thờ Tống hậu còn gọi là Tứ Vị Thánh Nương (do ai xây, xây từ bao giờ?... Các tổ nhân sẵn đền cũ tu bổ lại, đúc tượng đồng phụng sự… Niên hiệu Cảnh Thịnh năm thứ 13 mới đúc tượng đồng ở đền Bóng sông Trệ lại trang hoàng từ vũ. Diện tích khu đền rộng hơn một mẫu, nước hồ trong vắt, cây cối um tùm, nhân dân kỳ đảo linh ứng, trải qua nhiều triều đại có sắc phong… Sau khi Quần Anh phân làm ba xã (1804) đến năm Minh Mạng thứ 2 (1821), xã Hạ lập đền Bóng tại phía bắc chợ Đông Cường, xã Trung, xã Thượng vẫn thờ tại đền Bóng phía bắc sông Trệ. Năm Thành Thái thứ 10 (1890), xã Trung mới lập đền Bóng ở phía nam sông Trà, phía đông Cầu Đông. Từ đó các xã đều có đền Bóng riêng, tục gọi là đền Chánh. Còn đền tại Vĩ Châu do Ninh Cường phụng sự, nhưng hai xã Thượng và Trung thay phiên nhau hàng năm lên kinh tế”… Như vậy, trong vòng 5-7 km, các xã giáp nhau đều có đền Bóng thờ Tứ Vị Thánh Nương. Theo truyền thuyết đây là đời sống tinh thần của dân khai hoang mở đất Quần Anh. Sách Quần Anh dấu xưa mở đất của Trần Xuân Mậu (Hội Văn học nghệ thuật Nam Định - 2002) còn ca ngợi đền Chánh xã Trung là công trình kiến trúc tuyệt đẹp. Thợ nề Quần Anh có tài nặn, đắp, tạo hình…Đôi nghê chầu do hai phó nề quây cót đắp thi khá thành công, đã có thơ ca ngợi… Gần 4 ngôi đền phía nam sông Cường Giang, phía bắc sông có đền Lạc Chính nay thuộc xã Trực Khang, huyện Trực Ninh. Lịch sử lập đền vào cuối thế kỷ 19, xin chân nhang ở đền Ninh Cường (cửa biển Lác) về thờ và ngày càng tu bổ đẹp đẽ, lại là cơ sở cách mạng, kháng chiến của địa phương. Đơn cử một số điểm thờ Đại Càn Thánh Mẫu, hoặc Tứ Vị Thánh Nương ở Nam Định để chúng ta tìm hiểu về nguyên nhân cũng như ảnh hưởng của Tứ Vị Thánh Nương đối với cộng đồng dân tộc Việt. Có thể có sự đồng cảm bởi Vương hậu, Vương phi nhà Tống vì kháng chiến chống kể thù chung Mông – Nguyên. Có thể bởi đức độ giữ chư tiết nghĩa mà ngọc phả dẫn, phù hợp với chất đạo lý dân tộc, hoặc do sự âm phù vua Trần Anh Tông cho nên biển lặng, sóng yên giúp quân Trần nhanh chóng chinh phạt kẻ thù phương Nam thành công, hay có sự anh linh, một niềm tin nào đó cho sĩ, công, nông, thương Đại Việt trước kia, rồi Đại Nam, Việt Nam chúng ta ngày nay cầu được ước thấy, mưa thuận gió hoà, thuận buồm xuôi gió…dẫn đến đời sống ấm no, hạnh phúc mà dân gian hết lòng tôn kính, lập đền thờ tự.
Hoặc do dân quê thuần phác, đời sống khó khăn, trong công cuộc khai hoang lấn biển, nhiều lần nước mặn phá vỡ đê biển, nhiều lần tràn ngập cướp đi hàng ngàn, hàng vạn ngày công… dân quê không còn cách nào hơn là lập đền ở Vĩ Châu, rồi sau là đền Chánh, đền Bóng thờ Tứ Vị Thánh Nương mong sự cứu độ và đây là liều thuốc an thần, giúp dân khai phá thành công, thiết lập làng xã với một nếp sống nông thôn nghĩa tình, có từ đường thờ tổ, văn đàn, võ đàn, đền, miếu, chùa cảnh, thờ Thần, Phật, Tổ lập lăng. Còn chấn hưng việc học, xây cầu, lập quán tạo cuộc sống đầy đủ vật chất, chu đáo về tâm linh cho dân. Đây là văn hoá bản địa, văn minh bản địa khá tiêu biểu ít nơi có. Và để minh chứng xin trích dịch “Tân đình bi ký” (1815) tại xã Trung, nay là Hải Trung, Hải Hậu, Nam Định. … “Đất ta cổ truyền là đất chua mặn, cát chữa nên ruộng, bằng phẳng bốn bề, chỗ cao có thể dựng nhà cửa, chỗ thấp có thể cấy dâu gai, ngàn mẫu tạo nên mà trăm nhà dựng, xanh tươi sầm uất thành vũ trụ trời Nam… từ niên hiệu Hồng Thuận chung nhau một xã, đình làng cùng chung, chợ cùng nhau họp, cầu cùng nhau leo, đều cùng nhau cúng. Năm Giáp Tý (1804) mới cắm mốc chia làm ba làng”… Văn bí chùa Phúc Sơn (Quần Phương Trung, Phúc Sơn tự ký) lập năm 1932 còn ghi: … “Năm Hồng Thuận thứ 3 (1511) lập thành tên xã Quần Anh, dựng đền Quốc Mẫu tối linh Thần ở thôn An Cường, nguyên trước là thôn Tây Cường, nay là xã Ninh Cường, cửa bể sông Lác bãi Vĩ Châu, dựng thêm đền Bóng ở cửa sông Trệ, dựng chùa thờ Phật gọi là chùa Phúc Lâm”. Những dòng chữ Hán của người xưa, muốn cho cộng đồng cư dân Nam Định ghi nhớ dấu tích đời sống tinh thần trong đó có tục thờ Tứ vị, cũng như đức tin của người Nam Định đối với các vị Thần Tổ lập biển lập làng, tạo an sinh xã hội”
Nhìn chung các di tích thờ Tứ Vị Thánh Nương ở Nam Định khá lớn, khá nhiều, thường có hai hoặc ba toà chính, có hệ thống tường hoa, cột trụ vây quanh tạo khuôn viên nội chữ đinh, hoặc nội chữ công, ngoại chữ quốc, quy mô hoành tráng. Phần thư tịch, câu đối đều có nhắc tới nạn xâm lăng của nhà Mông – Nguyên, triều đình Nam Tống bị diệt vong, thái hậu cùn ba con bị nạn trôi đến Càn Môn - Quỳnh Lưu - Nghệ An, nêbn dân gian coi đền Cờn - Nghệ An là nơi phát tích, hàng năm vẫn có người vào đền Cờn dâng lễ tỏ rõ lòng thành, không 1uên gốc. Đơn cử câu đối đền Lạc Chính nay là xã Trực Khang ghi: Nam Hải thần phong thiên hữu sắc Cần môn ba tố địa giai binh Tạm dịch: Nam Hải thần do trời ban sắc, Cầu môn nổi sóng đất anh linh. Lễ hội ở đây, ngoài việc tế lễ, ngày 7 tháng giêng có lệ thi trâu béo, khoẻ. Để làm việc này, ngay từ ngày 6 tháng giêng các giải pháp tắm rửa cho trâu, cho trâu ăn no, lại trang trí trên đầu, trên sừng trâu. Các nhà trong giáp góp gạo thổi xôi làm lễ, tối mồng 6 thắp đuốc rước trâu. Người cưỡi trên lưng trâu giơ cao ngọn đuốc và đoàn người trống chiêng hối hả theo sau. Đoàn rước có tới hàng chục con trâu béo, trâu đẹp được tập trung để dự thi, con nào đạt thì được giải. Lệ này được duy trì cho mãi đến ngày nay, vừa khích lệ tinh thần chăn nuôi tạo sức kéo, vừa nhớ lại chuyện xưa trẻ trâu thấy đền Cửa Lác thờ, bắt chước đắp đất làm đèn, vì thế các cụ mới sang Ninh Cường xin chân nhang về thờ… Theo sách Thần tích Việt Nam của Lê Xuân Quang – Nxb Thanh Niên, 2003, thì thôn Thiện Đăng, xã Thời Mại, huyện Tây Châu, Nam Định có 2 tướng Đinh Thuyên và Nguyễn Phụng dưới trướng Trần Quốc Điền, theo lệnh của Hưng Đạo Đại vương đem 500 quân vào Châu Hoan do thám tình hình địch, trong cuộc kháng chiến lần thứ II – 1285. Nhưng kế hoạch bại lộ, bị địch truy đuổi, các ông cho quân sĩ lên bờ rút lui, bỗng trông thấy đền thờ Tứ vị, liền vào đền khẩn cầu kêu xin âm phù. Ít phút sau trời đất tối sầm, sấm chớp nổi lên, gió bão ập đến làm cho thuyền giặc gãy cột buồm trôi dạt trở lại. Quân ta thừa cơ tấn công, địch rút chạy, thu được hon chục thuyền chiến… Biết chuyện đánh thắng quân Toa Đô có nhờ sự âm phù của Thần ở Càn Hải. Vua Trần ban phong “Càn Hải Tứ vị linh thần”. Lại cho vàng bạc tu sửa đền thờ… Đáng tiếc một thời, các đền thờ Tứ vị nhiều nơi bị cấm đoán, thậm chí phá công trình, tẩu tán đồ thờ. Nhưng do ý thức tôn trọng Tứ vị trong dân gian, họ vẫn ngấm ngầm tìm đi các nơi cầu đảo Thánh Nương phù hộ. Các tư liệu, câu đối còn lưu, ca ngợi sự âm phù của Tứ vị cho triều đình chống ngoại xâm thắng lợi, âm phù cho các thuyền buôn, thuyền đi trên biển, trên sông an toàn. Tài liệu của ông Lê Xuân Quang còn ghi lại đạo sắc ngày 4/12 Quang Trung thứ 5 (1793) trong văn có câu: “Phi tự Đại Tống ngật kim tích tại Tiên tảo, danh tại sử, tướng duy ngã Việt lập quốc, công ư đế thế, trạch ư dân”. Tạm dịch: - Trải từ thời Đại Tống đến nay, dấu tích ghi trong sổ người Tiên, tiếng tâm ghi tự điển. - Âm phù nước Việt ta lập quốc, công giúp nhà vua, ơn sâu với dân cũng thấm nhuần khắp mọi nơi. Đạo sắc trên đây ở đền Hương Nại, xã Yên Nhân, Yên Mô, Ninh Bình phong Tứ vị là người Tiên. Liệu đây có là nguyên nhân để trong điện Thần tứ phủ có văn chầu Đại Càn Thánh Mẫu. Ảnh hưởng của Tứ vị được nhân lên, được dân gian hàon toàn đưa vào nội đạo của dân gian Việt Nam. Xin giới thiệu lại văn chầu Đại Càn Thánh Mẫu, sưu tầm trong những người hát văn ở Nam Định, Thái Bình, Hải Phòng. Gương tứ đức sáng cùng nhật nguyệt, Nghĩa tam tòng tỏ hết Bắc Nam, Ngàn thu thơm nức hương lan, Đời càng ca tụng, tích càng hiển dương… Đức lồng lộng muôn dân khôn lượng, So bể, trời hình tượng cao sâu Sáng soi khắp chốn đâu đâu, Thơm danh Dương Thị hồi đầu Tống gia Trăm họ nức âu ca cổ vũ, Bốn bộ đều áo mũ đai xiêm. Khắp hoà Thuấn nhật, Nghiêu thiên, Đã vui cõi thọ lại lên xuân đài, Đang vui lúc lòng trời yên thuận, Quốc gia đều hoà khí xuân phong. Sau vì nhất quốc tam công, Người Nguyên ác độc đặt bày mưu mô. Nhà Tống phải thiên đô châu Quảng, Bóng tà dương soi rạng bể Nam. Thợ trời khôn tỏ cơ hoàn, Chúa tôi một dạ những toan phục hồi. Giang sơn Tống dẫu mười còn một, Có lẽ đâu chịu mất ngay đi. Ngoài thì tướng sĩ phù trì, Trong thì Thánh Mẫu khuê nghi luận bàn. Người son phán mà gan vàng đá Việc binh nhung vững dạ kiên tâm. Thần dân báo đáp quân ân, Nặng tình sơn hải mấy thân liễu bồ. Quyết giữ lại cơ đồ nhà Tống, Hẳn không dung những giống bất nhân. Lại khuyên võ tướng mưu thần, Gắng công vì nước đền ơn sinh thành… Nghe dụ chỉ quân dân quyết đánh, Nhưng khôn đua sức mạnh quân Nguyên Mới hay thành bại do thiên, Cơ huyền vẫn giữ, cơ huyền vẫn xoay. Cuộc thế sự hết bày trò rối, Trận Nhai Sơn hết đỗi gian nan… Lênh đênh trên biển liều thân, Quyết lòng thu thập quan quân phục thù, Nhược chẳng được mặc cho thuyền lắng, giãi gan cùng trời trắng bề trong. Ôi thôi thả lá giữa dòng, Qua ba bực sóng đều cùng thảnh thơi. Ấy mấy biết người trời khác giá, Trải gian nguy vẫn dạ trung trinh. Chí thành Phật cũng chứng minh. Bè từ đã đón thênh thênh lên ngồi Phép Phật độ tỉnh rồi mới biết, Chùa La Sơn Nam Việt là đây. Ung dung ở chốn am mây Khấu đầu lễ Phật giãi bày vân vi… Độ bốn vị đều nên Thần phúc, Hoá chân thân bốn khúc trầm hương. Gió đưa thoảng ngát một phương, Hào quang trước mắt ngư phường khô hay. Thuyền qua lại mấy ngày mới hiển, Rước lên thờ kính tiến khói hương. Nhờ ơn từ đấy mấy làng Lưới chài phong vận bạc vàng đầy chen. Đua cầu phúc lập đền tế lễ Độ cho người sông bể biết bao Kể chi giông tố ba đào Kêu cầu khắc ứng chuyện nào cũng yên… Công hộ quốc thơm ghi Nam sử, Lễ suy tôn khởi sự Đông – A Mẫu về chắc giáng điện toà Khuông phù đệ tử vinh hoa thọ trường. Như trên đã nói về ý thức người Quần Anh trong việc tôn thờ Đại Càn Thánh Mẫu. Ý thức trân trọng này được ghi vào tục lệ của làng. xin trích dẫn đôi điều cần thiết. Ngay trang đầu “tục lệ vào đám” có ghi: “Khoảng thế kỷ thứ 15, tiên tổ Quần Anh từ Tương Đông xuống khẩn điền lập ấp. Lúc đó đắp đê bể rất gian khổ nên đã lập đền thờ Tống hậu ở ngay cửa bể Lác Môn (đền Ninh Cường ngày nay) để cầu Thần ủng hộ”… “Khi xã Trung chưa làm đền Chánh, mỗi lần vào đám phải xuống xã Thượng rước kiệu Thần về đình… phải hưng công lập dịch bồi trúc con đường rước Thánh cho thật cao ráo, bằng phẳng. Ngoài ra các con đường khác cũng phải sửa chữa cho tiện đi lại và đón khách gần xa”. Theo lệ tục, những người rước Thánh phải là đàn ông, con trai đi rước, hoặc đi xem hội trên đường, còn các cụ già, đàn bà, em nhỏ thì đi thuyền dưới sông, nên sông Giữa, sông Múc nằm cạnh đường rước phải sửa, vét lại. Phàn đường, phần sông xã phân giao cho các giáp, các xóm, các tư nhân đảm nhận dưới sự kiểm soát của ban đốc công. … Đền Chánh là nơi khởi đầu cuộc rước phải tu sửa cho thật uy nghi, xứng đáng như cung điện Tống triều. Còn các đền khác cũng sửa sang cho tốt để quan khách trông vào. Xã lo phí tổn tu sửa đền Chánh, còn các đền khác các giáp tự lo… Khoản đồ rước như cờ, áo, kiệu, võng, tàn quạt, chiêng trống, gươm, roi… phải bắt tay từ năm, bảy tháng trước. Thợ thêu, thợ mộc, thợ sơn… mỗi hiệp hàng chục người phải làm liên tục…”. Tục vào đám còn ghi tỉ mỉ các khoản đóng góp, phân công cử người vào đám, đề chương trình tế lễ, đề nhật ký tiến cúng cho các giáp, quy định bầy đám, bầy điểm để phô trương văn vật địa phương. Đám do xã lo, thường bày giữa đình là gian thờ kiệu Thần nên phía trên và 4 mặt căng phủ màn thêu, hai gian bên thì đơn giản hơn, ngoài rạp cũng căng phủ màn, treo câu đối, cửa võng…Đồ thờ Thần có sập ngữ, võng ngự theo nghi thức hoàng hậu, hai bên tả hữu thiết đồ thờ theo nghi thức vương công. Điếm hát do các giáp lo nhưng cũng phải tươm tất, xứng với danh vị chủ nhân của giáp. Lại phân chia điếm văn, điếm võ,điếm thể sát để giải quyết mọi pháp lý, điếm đoàn áp (trị an, tuần phòng), điếm tổng cờ (chỉ huy thi đấu cờ), điếm tướng cờ nam, nữ… Phần rước Thần được ghi chép tỉ mỉ, nào phân công cầm “lộ bộ” (đi rước kiệu Thánh), nào người cầm mã đao, cầm cờ “thanh đạo” (dẹp đường), cầm tán, biển có chữ “tĩnh túc” (nghiêm tĩnh), “hồi tỵ” (tránh lại), cờ nhật nguyệt, bộ trống ngũ lôi (10 người), cầm thập kỳ (cờ đỏ viền xanh trắng, hoả xanh) rồi cầm tán, cờ ngũ hành “kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ”, cờ bát quái, tán, tàn… Ngay các hiệu lệnh, trống, chiêng cũng ghi chép tỉ mỉ, các phường hội sư tử, múa rồng, phường động, phường chèo, các trò đi kheo, đô vật… cũng được phân công, trước sau rất cụ thể. Nêu vấn đề trên để thấy việc tế lễ trịnh trọng như thế nào, nghiêm chỉnh như thế nào nhất là vai trò Thàn đền Chánh – Tứ Vị Thánh Nương là chủ chốt, oai linh nhất đối với dân Quần Anh – Nam Định nh thế nào. Phần cỗ rất linh đình. Có cỗ mặn, cỗ chay. Xin đề cập lễ rước cỗ chay tại xã Trung, nay là xã Hải Trung. Ngày 7 tháng giêng lễ khai hạ, lại là dịp kỷ niệm Đại Càn Thánh Mẫu cùng Tam vị, nên ngoài việc tế lễ, sang đêm ngày 8 tháng giêng tổ chức rước cỗ chay. Rước cỗ chay thường làm hai lễ, một lễ sang đền Chánh thờ Tứ vị, một lễ rước sang đền Khải xã, thờ liệt tổ khai sáng Quần Anh. Cỗ đặt trên “mân dàn” (mâm có nhiều tầng). Giữa bày hòn non bộ, bốn góc bầy tứ linh. Đi rước kiệu có đinh nam bưng mâm bồng có trầu rượu cùng cờ, quạt, chiêng trống… Cỗ chay thường có các loại bánh như bánh xu xê, nhựa mận, bánh dứa, bánh quế, bánh nhãn… Những cỗ chay cũng là nét riêng của từng địa phương, dùng sản phẩm riêng của địa phương. Ví như dùng quả đu đủ trổ thành các hoạ tiết, nấu thành mứt trong như kính rồi cắm vào tấm bánh, bày lên đĩa xung quanh có các thứ bánh chay. Mâm cỗ chính có 120 đĩa, các mâm bồng phụ, khoảng 12 đĩa làm toàn bằng ngũ cốc, nông sản, hoa quả. Điều đặc biệt là khi rước Thánh qua thôn xóm nào đèu có sự nghênh tiếp trịnh trọng. Việc này còn có câu đối lưu lại. Tạm dịch: Đền Thần mới sửa bên sông Trệ Kiệu Thánh mừng qua trạm xã Trung Hoặc câu: Âu ca một hội Xuân sau trước, Lễ nhạc trăm năm nghĩa láng giềng. Câu đối trên còn chứng tỏ đất Quần Anh sau khi tách làm ba, vẫn giữ được tình nghĩa làng cũ, nhất là ý thức đối với Tứ vị. Thần linh, coi như Thành hoàng che chở cho dân khẩn điền, lấp biển thành công. Riêng xã Hạ (nay là xã Hải Bắc, huyện Hải Hậu) lễ hội trong khu di tích thờ Phật, thờ Đại Càn Thánh Mẫu, thờ Liệt tổ, thờ Mẫu Liễu Hạnh, thờ Trần Hưng Đạo, xưa vẫn lấy ngày 6, ngày 7 tháng giêng là trọng tâm. Truyền thuyết cho ngày này là kỷ niệm Liệt tổ và Tứ Vị Thánh Nương. Ngoài việc tế lễ, rước kiệu Thánh du xuânb còn có các trò vui như tổ tôm điếm, đấu cờ tướng, cờ người, hát chèo, hát Ả Đào. Hát chèo, hát Ả Đào ở đây có truyền thống. Bởi xưa đây là xóm chuyên nghề này, sau xóm chuyển thành phố với tên phố Cô đầu, nhân dân sống nhờ nghề này và đã lập miếu thờ “Cầm ca nhĩ tổ” (Tổ nghề đàn, ca). Hiện miếu thờ không còn, nghề cũ cũng mai một, nhưng trong ký ức về rạp hát Thanh Kỳ do nghệ sĩ Quách Thị Hồ mở hàng chục năm, rồi nghệ sĩ Linh Nhâm, người con quê hương cũng ít nhiều gợi lại về một địa phương có nghề cầm ca. Xa xưa nghề cầm ca phục vụ các đám hát trong ngày hội Thánh, hầu Dương hậu, vương phi có các chức sắc, quan lại về dự, sau nghề cũ không phù hợp, nhưng truyền thống nghề nghiệp còn bảo lưu, giúp cho phong trào ca hát, đội văn nghệ địa phương trưởng thành. Và ngày hội hiện tại có các chiếu chèo, hoặc các nghệ sĩ hát ca trù dưới con thuyền trôi lững lờ trên sông nước trước đền chùa, gợi cảnh lệ vào đám xưa kia của tiên tổ Quàn Anh. Tục thờ Tứ Vị Thánh Nương ở Nam Định nhen nhóm từ thế kỷ 15-16, thịnh hành vào các thế kỷ 17, 18, 19 và đầu thế kỷ 20. Đặc biệt nhân dân ở các cửa lạch, cửa sông và người làm nghề trên sông biển. Dân gian tin Tứ Vị Thánh Nương lúc nào cũng từ bi cứu độ muôn dân, như xưa đa âm phù giúp vua Trần, tướng Trần, cùng vua Lê đánh giặc, lại âm phù cho ngư dân vào lộng ra khơi đánh bắt cá, thương thuyền buôn bán sóng lặng, bể yên. Phù hộ cho việc khẩn hoang lấn biển, ngự trị được nước cường, sóng lớn cho đê biển vững bền… Sự hiển linh tạo thành đức tin và để đền đáp, kính cẩn thần linh, dân gian lập miếu tôn thờ, theo cách nhìn: Ai có công giúp nước, giúp dân thì thờ. Việc thờ tự có lễ, lễ dâng hương tưởng niệm và hàng năm hoặc 3 năm một lần vào các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu làng vào đám. Vào đám để biểu hiện lòng thành cao độ. Nhưng vào đám cũng bày vẽ quá đáng, khiến dân thôn phải phục vụ hao tổn sức người, sức của. Ấy vậy mà không ai bảo ai cứ cố gắng hoàn thành tục lệ tế lễ, hội hè do làng xã quy định. Bởi tâm linh mọi người; đây là giờ phút thể hiện sự thành tâm của con dân đối với liệt tổ mở đất, đối với Tứ vị thần linh âm phù cho nước bình yên, cho dân hạnh phúc theo đạo lý dân tộc: “Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Phải chăng đây là bản chất ưu việt của cộng đồng cư dân Nam Định và như câu nói cổ nhân: “Thực kỳ tự giả, bất huỷ kỳ khí, ấm kỳ thụ giả, bất chiết kỳ chi”. (Ăn cơm không đập vỡ mâm bát, đứng dưới bóng cây không bẻ gẫy cành).
Hồ Đức Thọ - Chi hội trưởng Chi hội VHDG tỉnh Nam Định
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Chẳng thế mà có rất nhiều bộ phim truyền hình nổi tiếng được chuyển thế từ những giai thoại của 4 người con gái xinh đẹp tuyệt trần này. Tuy nhiên ít ai ngờ rằng, dù rất đẹp nhưng các mỹ nhân này đều không tránh khỏi những khiếm khuyết trên cơ thể và họ luôn muốn che giấu đi điều đó.
| ► Xem bói tình duyên theo ngày tháng năm sinh để biết hai bạn có hợp nhau không |
![]() |
| Ảnh minh họa |
![]() |
| Ảnh minh họa |
Theo quan niệm dân gian, người tuổi Mùi sinh ra gặp toàn may mắn và có phước an lành. Người này tính cách ôn hòa, trầm tĩnh, trọng tình trọng nghĩa, sống có trước có sau. Họ luôn suy xét kĩ càng mọi việc, nhìn vấn đề dưới mọi góc độ trước khi quyết định. Nhìn bề ngoài họ nhẹ nhàng, ít khi bày tỏ ý kiến, song thực sự đây là những người hiểu biết sâu rộng.
Người sinh năm Mùi thường có vẻ bề ngoài bắt mắt, lại có thần thái quyến rũ, hút hồn người khác phái. Đặc biệt, sự thoải mái và tự do khi ở bên những người này là điều mà nhiều người cực kì mong muốn. Có người từng nói, “Yêu người tuổi Mùi, gặp toàn chuyện vui” cũng chính là vì thế.
Vậy trong tình yêu hôn nhân, người tuổi Mùi hợp với tuổi nào? Họ nên lựa chọn bạn đời ra sao. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu nhé.
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
Tổng hợp những câu nói hay nhất về mẹ. Có nhiều người đến cuối đời vẫn cảm thấy hối hận vì không thể ở bên cạnh thường xuyên để chăm sóc cha mẹ. Bạn dù đã lập gia đình, dù còn trẻ hay đã lớn tuổi thì hãy luôn nhớ cha mẹ luôn dõi theo chúng ta dù cho chúng ta thành công hay thất bại trong cuộc sống.
1. Đi khắp thế gian không ai sánh bằng mẹ Gian khổ cuộc đời ai nặng gánh hơn cha.
——–
2. Nước biển mênh mông không đong đầy tình mẹ Mây trời lồng lộng không phủ kín công cha.
———
3. Tảo tần sớm hôm mẹ nuôi con khôn lớn Đưa tấm lưng gầy cha che chở đời con
——–
4. Hiếu:Thành kính tổ tiên ơn gia độ Báo ân phụ mẫu nghĩa sinh thành
———
5. Tử hiếu song thân lạc Gia hoà vạn sự thành. (Con hiếu thảo cha mẹ vui Nhà hoà thuận muôn việc thành)
6. Vời vợi non cao ơn dưỡng dục Mênh mông biển rộng đức sinh thành.
7. Ơn sinh thành như đại hải Nghĩa dưỡng dục tỷ non cao.
8. Ơn cha dưỡng dục dường non Thái Nghĩa mẹ sinh thành tựa biển Đông.
9. Ân sâu nghĩa mẫu đông hải tựa Sinh thành công phụ thái sơn cao.
10. Có phải cha mẹ hứa nhau từ kiếp trước Tạc lại hình con nguyên vẹn trái tim người.
11. Cầu cho cha được thanh nhàn Chúc cho mẹ được an khang tuổi già.
12. Cha là bắt đầu cho nguồn gốc, lý tưởng và tương lai. Mẹ là bắt đầu cho sự sống, tình yêu và hạnh phúc.
13. Cha: có nghĩa là chỗ dựa, suốt đời con trọn vẹn yêu thương Mẹ: có nghĩa là mãi mãi, là cho đi không đòi lại bao giờ Con: có nghĩa là hơi ấm sưởi lòng cha mẹ lúc quạnh hiu.
14. Cha là núi mẹ là sông Các con hiếu thảo nhớ công sinh thành.
15. Ai về tôi gửi buồng cau Buồng trước kính mẹ buồng sau kính thầy.
16. Vạn cổ tình thâm ơn cúc dục Thiên thu nghĩa trọng đức sinh thành.
17. Con đi xa cách muôn nơi Công cha nghĩa mẹ đời đời không quên.
18. Công cha ngàn đời tâm tưởng mãi Nghĩa mẹ muôn thuở nhớ thương hoài.
19. Công cha nghĩa mẹ ơn thầy Ngày sau khôn lớn ơn dày biển sâu.
20. Bàn tay nối tiếp bàn tay Vai cha lưng mẹ cõng đầy ấm no.
21. Đêm đêm con thắp đèn trời Cầu cho cha mẹ sống đời với con.
22. Ân cha mẹ là đại dương vô tận Con chỉ là con sòng nhỏ lăn tăn.
23. Biển Đông có lúc vơi đầy Chứ lòng cha mẹ biển trời nào dâng.
24. Mẹ cha gánh vác hy sinh Mẹ cha quên cả thân mình vì con.
25. Cha một đời oằn vai gánh nặng Mẹ một đời đôi dép lạc bàn chân.
26. Khi con tát cạn biển đông Thì con mới hiểu tấm lòng mẹ cha.
27. Có tát cạn biển đông mới tỏ tường lòng mẹ Không trèo qua non thái sao thấu hiểu tình cha.
28. Tiết Vu Lan bâng khuân nhớ cha, ơn dưỡng dục Mùa báo hiếu ngùi ngùi thương mẹ, đức cù lao.
29. Cha là hoa phấn giữa đời Thiên thu tình mẹ rạng ngời tâm con.
30. Ơn dưỡng dục một đời con ghi tạc Nghĩa sinh thành trọn kiếp mãi không quên.
31. Dù đi khắp bốn phương trời Cong cha nghĩa mẹ không ai sánh bằng.
32. Cha là chỗ dựa mẹ là gối êm Nụ cười của con là niềm hạnh phúc.
33. Trăng khuya trăng rụng xuống cầu Vì con cha mẹ dãi dầu nắng mưa.
34. Cha mẹ giàu con thong thả Cha mẹ nghèo con vất vả gian nan.
35. Cổ thụ là bóng mẹ cha Cây non là cả vườn hoa tuổi hồng
36. Cha là núi mẹ là sông Các con hiếu thảo nhớ ơn sinh thành.
37. Nghĩa mẹ như biển rộng Công cha như trời cao Ơn sinh thành dưỡng dục Vời vợi tựa trăng sao.
38. Cha mẹ ơn sâu tựu đất trời Nuôi con lao nhọc chẳng đầy vơi Mở vòng tay lớn ôm con trẻ Dẫn dắt con đi suốt cuộc đời.
39. Ơn cha bóng núi âm thầm Nghĩa mẹ lặng lẽ nước sông đầu nguồn Một đời dãi nắng dầm sương Nuôi con khôn lớn tình thương dạt dào.
40. Thêm một người quả đất sẽ chật thêm Nhưng thiếu mẹ thế giới đầy nước mắt.
41. Con dẫu lớn vẫn là con của mẹ Đi hết đời lòng mẹ vẫn theo con.
42. Dẫu con di suốt cuộc đời Vẫn không đi hết những lời mẹ ru. Chế Lan Viên
43. Đưa kim qua nỗi ưu phiền. Mẹ ngồi vá lại cho nguyên sự đời.
44. Mênh mông lòng mẹ thương ta Xin hòa thành bản tình ca dâng đời.
45. Hãy nói rằng con thương mẹ Chỉ thế thôi mẹ mãn nguyện rồi.
46. Mẹ hiển nhiên như trời đất đã thành Như cuộc đời không thể thiếu trong con.
47. Trong tâm tưởng con muộn màng viết Lời cầu mong còn mẹ mãi trên đời.
48. Đôi vai mẹ một gánh đầy huyền thoại Tình yêu thương hào phóng đến khôn cùng.
49. Hình hài con khi còn là hạt bụi Lớn dần lên qua tim mẹ bao dung
50. Ngôn ngữ trần gian khờ dại quá Đựng sao đầy hai tiếng: Mẹ ơi!
51. Nhìn lên vách con bước cùng với bóng Mẹ bây giờ mới hiểu mẹ ngày xưa.
52. Người con yêu quý nhất đời Chính là mẹ đó tuyệt vời tình sâu.
53. Ngày nào con đau khổ không biết ngỏ cùng ai, Thì con ơi! Hãy gọi mẹ đến bên con.
54. Mẹ là hoa cỏ mùa xuân Con như chim nhỏ hát mừng vang ca.
55. Mẹ đi gánh nước ban mai Gánh hai ngọn núi với hai mặt trời.
56. Con về nhặt ánh hoàng hôn Thắp lên nhớ mẹ bồn chồn mẹ ơi!
57. Còn mẹ đời càng thêm tươi Con yêu mẹ quá nụ cười bao dung.
58. Mẹ nằm chỗ ướt canh sương Chỗ khô lót tiếng ru nhường con thơ
59. Con về đây quỳ bên gối mẹ Chợt thấy mình nhỏ bé biết bao nhiêu
60. Nuôi con thân mẹ héo gầy Vì con mà mẹ lệ đầy viền mi.
61. Mẹ là ngọn gió đưa êm Mẹ là dòng suối mơ huyền bao la.
62. Con mang thơ đi gieo khắp nẻo Quên môi hồng mắt biếc mẹ thôi son
63. Mênh mông bát ngát đại dương Cũng không sánh được tình thương mẹ hiền
64. Ngàn năm tóc mẹ còn bay Ngàn năm tình mẹ sống đầy trong con.
65. Bao la bóng nước biển đông Không bằng một nửa tấm lòng mẹ tôi
66. Nửa đời phiêu bạc tha hương Bóng quê dáng mẹ trĩu vương tấm lòng
67. Giơ đây trong cõi rộn ràng Lòng con vẫn nhớ lời vàng mẹ ru.
68. Dấu chân mẹ dãi dầm thân cát bụi Gánh tình thương rong ruổi giữa chợ đời.
69. Dù đi trăm suối nghìn sông Cũng không ra khỏi tấm lòng mẹ tôi
70. Ngàn năm hồ dễ ai thương mẹ Như mẹ thương con giữa cuộc đời
71. Kiếp sau xin được làm người Để nghe non nước vọng lời mẹ ru.
72. Mẹ: Trọn một niềm thương, cả đời dầm sương, qua bao ngày vô
thường. Chẩm Hồng giang
73. Phải đâu mẹ của riêng anh Mẹ là mẹ của chúng mình đấy thôi!
74. Mẹ là nguồn suối yêu thương Mẹ là quê hương con đó.
75. Mẹ là biển cả bao la Mẹ là câu hát chan hòa mến thương.
76. Mẹ hiền mang nặng đẻ đau Chỉ mong con lớn con mau nên người.
77. Mẹ hiền như thể trăng sao Một khi trăng lặn đất trời lung lay.
78. Ai còn mẹ xin đừng làm mẹ khóc Đừng để buồn lên mắt mẹ nghe không.
79. Con về quỳ giữa quê hương Thầm hôn lên những bước đường mẹ qua.
80. Cánh cò cõng nắng cõng mưa Mẹ tôi cõng cả bốn mùa gió sương.
81. Đừng để một ngày kia mẹ mất mới giật mình khóc lóc,
Những dòng sông trôi đi có trở lại bao giờ.
82. Nghĩ về mẹ trời luôn tươi sắc nắng Hoa trong vườn không nắng cũng xôn xao.
83. Ai người chia sớt nỗi buồn Mẹ tôi gánh mãi hoàng hôn một mình.
84. Mẹ là đất mẹ là hoa Mẹ là chân lý soi con sáng ngời.
85. Mẹ ơi trời đất bao nhiêu Tâm con hướng mẹ bao nhiêu đất trời.
86. Mẹ là sữa ngọt quê hương Rót vào thiên kỷ nguồn hương cho đời.
87. Xin ấp ủ trọn đời tình mẹ Bóng mẹ hiền giữa trái tim con.
88. Mẹ mang một nắng hai sương Đem ra chợ đổi làm đường con đi.
89. Trong vũ trụ có lắm kì quan Nhưng kì quan tuyệt vời nhất vẫn là trái tim người mẹ.
90. Hương thơm vạn đóa hoa Hồng Đâu bằng tình mẹ mặn nồng trong con.
91. Hoa này tàn thì hoa khác nở Mất mẹ rồi vạn thuở tìm đâu.
92. Tôi không khóc khi cài hoa trắng Vì trong hoatôi thấy mẹ cười
93. Ngó lên ngó xuống mà vui Ngó về quê mẹ ngậm ngùi nhớ thương.
94. Con đi khắp vạn nẻo đường Giờ con mới hiểu tình thương mẹ hiền.
95. Ôm con mẹ đếm sao trời Đếm hoài không hết một đời long đong.
96. Võng đưa ai hát xa vời Tưởng như thấy lại từng lời mẹ ru.
97. Cuộc đời lắm nỗi đắng cay Nuôi con đâu kể tháng ngày gian nan
98. Con suốt đời là dòng sông nhỏ bé Còn mẹ hiền là biển cả mênh mông.
99. Nhớ đến mẹ một khung trời rộng mở Chan chứa đầy hơi ấm của yêu thương.
100. Mẹ vầng trăng sáng thiên thu Soi đường con bước lãng du hải hà.
101. Mẹ là tất cả mẹ ơi! Trăm năm mẹ gánh đời con lưng còng.
102. Ôi tình mẹ sao ngọt ngào đến thế Để tràn trề sâu lắng nặng tim con.
103. Xuân về cho nở cánh hoa Vu lan về để nhớ ngày mẹ thương.
104. Cảm ơn mẹ đã cho con dòng sữa Cho niềm tin chan chứa giữa xuân đời.
105. Hy sinh tất cả quên gian khổ Lòng mẹ là trời vạn nhớ thương.
106. Lời ru của mẹ thuở nào Đưa con qua những sóng đời bể dâu. Bảo cường
107. Thời gian nước cuốn xuôi dòng Lòng con nhớ mẹ như sông chảy hoài.
108. Mẹ đừng quá nhiều thương nhớ Kẻo tóc bạc rồi nay lại bạc thêm.
109. Mẹ già một nắng hai sương Trải thân làm bóng mát đường con đi.
110. Cúi đầu mong mẹ thứ tha Chữ hiếu chưa trả xót xa nỗi lòng Kim Ngân
111. Đôi vai mẹ một gánh đầy huyền thoại Tình yêu thương rộng lớn đến khôn cùng.
112. Nuôi con mãn kiếp quên thân xác Ơn mẹ ngàn đời mãi vấn vương.
113. Mẹ là ngọn gió đưa êm Mẹ là dòng suối mơ huyền bao la.
114. Mẹ già như chuối ba hương Dạt dào tình mẹ niềm thương vô bờ.
115. Vì con sống… mẹ suốt đời lam lũ Vì con vui… mẹ gánh hết buồn đau.
116. Nuôi con thân mẹ héo gầy Vì con mà mẹ lệ đầy viền mi.
117. Mong con cuộc sống bình yên Để mẹ lắm nỗi ưu phiền lắng sâu.
118. Mẹ nghèo nón lá tả tơi Mong sao con trẻ vào đời bình yên.
119. Mẹ nghèo mưa dột mái tranh Trải bao bất hạnh muôn phần gian truân.
120. Nếm đủ cao lương muối vẫn hàng đầu Đi khắp gầm trời không ai bằng mẹ.
121. Sông quê con nước hiền hoà Con xa lòng mẹ phong ba quê người.
122. Bao năm gian khổ héo hon Mẹ luôn cam chịu nuôi con nên người. Bảo cường
123. Trải qua thập tử nhất sinh Mẹ già sống mãi yên bình bên con.
124. Ngàn năm tóc mẹ còn bay Ngàn năm tình mẹ sống đầy trong con
125. Nhớ con tựa cửa chờ mong Mắt mờ khô lệ mẹ trông con về.
126. Chặng đường bao nỗi đắng cay Nuôi con dâu kể tháng ngày gian nan
127. Lặng nhìn sợi tóc như sương Vướng trên đầu lược mà thương mẹ già.
128. Lên non mới biết non cao Nuôi con mới biết công lao mẹ hiền.
129. Mẹ già như chuối chín cây Gió lay mẹ rụng con phải mồ côi.
130. Cho dù xa cách biển đông Mênh mông tình mẹ ngát lòng đại dương.
131. Đêm thu dưới ánh trăng vàng Ngóng về quê mẹ lệ tràn bờ mi.
132. Khi con vui đất trồng hoa mới Thì mẹ nghiêng vai gánh tết về.
133. Chiều chiều ra đứng ngõ sau Trông về quê mẹ ruột đau chín chìu
134. Chiều chiều chim vịt kêu chiều Bâng khuâng nhớ mẹ chín chìu ruột đau.
135. Mẹ là dòng sữa ngọt ngào Là lời ru để con vào giấc mơ Mẹ là cả một vài thơ Là câu hát dịu ầu ơ ví dầu.
136. Học sói trán chưa viết tròn chữ mẹ Đi mòn chân chẳng kịp điệu ví dầu Nụ vô thường nở ra trời dâu bể Câu tình ca hát mãi chẳng nên lời.
137. Nỗi niềm : Lòng quặn lại khi nhìn con cực Người mẹ nào tránh khởi xót xa Nước mắt người tuôn vào lồng ngực Nỗi niềm này ta trách chính ta. Chúc Khả
138. Mẹ: có nghĩa là ánh sáng Một ngọn đèn thắp bằng máu con tim Cái đốm lửa thiêng liêng, Cháy trong bão bùng, Cháy trong đêm tối.
139. Con từ mảnh đất phù sa Thương về quê mẹ ngôi nhà quạnh hiu Vi vu gió thổi bao chiều Chắt chiu dòng sữa tình yêu mẹ hiền
140. Mẹ ơi con hiểu một điều Khi con mất mẹ như diều đứt dây Cuộc đời như ớt chín cây Trái ngọt thì ít trái cay thì nhiều Mẹ ơi con chịu bao điều Nhưng không chịu nổi thân diều đứt dây.
141. Xanh xanh một mảnh da trời Đêm trăng tỏ rạng ngời dặm xa Bao năm vắng bóng quê nhà Bỗng nay nhớ mẹ thương cha khóc thầm.
142. Mẹ ơi một nắng hai sương Ru con khoan nhặt đoạn trường khúc ca Cuối sông đầu chợ bôn ba Nuôi con tóc bạc nếp già hằn sâu.
143. Tấm ảnh trong tim tôi Nhớ thuở còn nằm nôi Mẹ ngọt ngào điệu hát Ru hồn tôi vào đời.
144. Đường đời còn rộng thênh thang Mà tóc mẹ đã bạc sang trắng rồi Mẹ đâu vẫn giữ tiếng cười Mẹ vui vẫn để một đời nhớ thương.
145. Mẹ ơi một nắng hai hai sương Ru con khoan nhặt đoạn trường khúc ca Cuối sông đầu chợ bôn ba Nuôi con tóc bạc nếp già hằn sâu.
146. Tóc xanh nay đổi màu sương Nào đâu đếm được đoạn đường mẹ qua Tàn nhan phủ kín màu da Bước chân quên mỏi chợ xa chợ gần.
147. Vất vả tính sương gánh chợ xa Mẹ tôi còm cõi tấm thân già Áo sờn tơi tả màu năm tháng Gió đẫm mồ hôi lạnh cắt da Bước chân bươn bả chừng run rẩy Mấy bận đường xa đã mệt nhòa Một bước chập chùng thêm một bước Một đời bóng mẹ gió sương pha.
148. Nếu có bao giờ con yêu mẹ Hãy yêu đi khi mẹ còn đây Còn biết được những dòng tình cảm Ngọt nào êm dịu lẫn nồng say.
Hãy yêu đi khi mẹ còn biết Đừng chờ đến lúc mẹ ra đi Ghi lời yêu quý lên bia đá Mỹ từ trên phiến đá vô tri.
Hãy nói lên điều con muốn nói Đừng chờ đến lúc mẹ ngủ say Một giấc ngủ không bao giờ dậy Ngàn năm ngăn cách chẳng ngày mai.
Đó là chia ly là tử biệt Chẳng bao giờ nghe được tiếng con Nếu yêu mẹ dù là một chút Hãy nói đi khi mẹ sống còn.
Nói đi con lời nào yêu dấu Cả tấm lòng hiếu thảo của con Để mẹ nâng niu như bảo vật Cho tình mẫu tử thắm như son.