Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

Xem hình dáng đoán tướng kẻ gian tà |

1. Mày cụp rủ che mắt. 2. Tam đình (thân người) dài. 3. Mũi ngắn, lỗ mũi rộng hoắc. 4. Ăn uống chậm chạp như ngủ gật. 5. Miệng vằn như rắn vằn. 6. Lưng chét, eo bé tẹo gồng. 7. Nói nhanh, tiếng thô ngắn. 8. Thân hình khuyết. 9. Sắc không tươi nhuận.
Xem hình dáng đoán tướng kẻ gian tà |

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem hình dáng đoán tướng kẻ gian tà |

Top 12 loại cây mang tài lộc vào nhà theo tuổi của gia chủ

Bạn có biết thuật phong thủy nói gì về cách chọn cây cảnh trong nhà để mang đến tài lộc cho gia chủ?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Dưới đây là 12 loại cây hỗ trợ tốt nhất cho đường tài vận của 12 con giáp. Bạn thuộc con giáp nào thì mau sắm một cây để trồng trong nhà đi nhé!

Tuổi Tý:

Cây mang lại tài vận: Cây Kim Tiền

Những người tuổi Tý đã phần không biết cách quản lý tiền bạc, nhưng họ luôn có ý thức tích lũy tiền bạc và tiết kiệm. Họ không am hiểu đầu tư, thường không nắm bắt được cơ hội kiếm tiền.

Người tuổi Tý nếu có thể đặt một chậu Kim Tiền trong nhà riêng sẽ giúp họ nhận được nhiều may mắn. Đồng thời tăng thêm tinh thần mạo hiểm, giúp người này dũng cảm đương đầu thách thức để nắm bắt những cơ hội phát tài.


cay kim tien
(Cây kim tiền - Ảnh: internet)

Tuổi Sửu

Cây mang lại tài vận: Cây Phong lộc hoa

Người tuổi này chăm chỉ, chịu khó làm ăn, làm việc thành thạo. Nhưng do tính tình quá thực thà, thẳng thắn, có phần bảo thủ thế nên tiền bạc kiếm về không được là bao.

Nếu người tuổi Sửu trồng một chậu cây phong lộc hoa trên bàn làm việc sẽ mang vận tài lộc đến cho họ.


cay phong loc hoa
(Cây phong lộc hoa - Ảnh: internet)

Tuổi Dần

Cây mang lại tài vận: Cây Ngũ gia bì

Người tuổi Dần dám đương đầu với nguy hiểm, biết cách kiếm tiền. Nhưng thực tế thì họ không quá coi trọng tiền tài, mà chỉ thích quá trình kiếm ra nó. Đôi khi người tuổi này có chút nóng vội, hấp tấp dẫn đến nguy cơ cạn kiệt tiền tài.

Nếu người tuổi Dần trồng một chậu ngũ gia bì trong phòng khách sẽ giúp cho con đường tài vận của họ ổn định, phát triển thuận lợi; đồng thời giúp họ củng cố tài vận, giữ được tiền bạc không tiêu biến.


cay ngu gia bi
(Cây ngũ gia bì - Ảnh: internet)

Tuổi Mão

Cây mang lại tài vận: Cây Trúc phú quý (cây phát lộc)

Người tuổi Mão không biết mẹo kiếm tiền, đối với chuyện tiền tài có chút bảo thủ. Vì vậy, tiền họ kiếm được thường ít và chậm hơn, cơ hội phát tài cũng không dễ dàng.

Người tuổi Mão nên đặt cành phát lộc trên tủ lạnh( chú ý là phải để số lẻ) để giúp tài vận của họ được thịnh, kiếm tiền nhanh hơn, nhiều hơn.


cay phat loc
(Cây phát lộc - Ảnh: internet)

Tuổi Thìn

Cây mang lại tài vận: Cây xương rồng và cây vạn niên thanh

Đường tài vận của người tuổi Thìn vô cùng tốt. Không cần làm việc quá vất vả vẫn có tiền vào túi, nhưng bên cạnh thường có kẻ xấu giở trò mờ ám, từ đó cản trở con đường tài lộc của họ.

Người tuổi Thìn nên đặt một chậu xương rồng ở hướng Tây Bắc của phòng khách để hóa giải tà khí, phòng kẻ tiểu nhân và đặt một cây vạn niên thanh ở hướng Đông Nam giúp mang đến tài lộc.


cay xuong rong va van nien thanh
(Cây xương rồng và cây vạn niên thanh - Ảnh: internet)

Tuổi Tỵ

Cây mang lại tài vận: Cỏ đồng tiền

Tiền tài của người tuổi Tỵ thực ra khá tốt, nhưng không biết nắm giữ cơ hội. Họ thường do dự không quyết, đánh trống bỏ dùi, nên thường tuột mất cơ hội kiếm tiền.

Người tuổi Tỵ nên trồng một chậu cỏ đồng tiền ở khung cửa sổ, điều này phụ trợ tài vận tăng tiến, đồng thời giúp họ tăng cường khả năng tư duy và làm việc quyết đoán.


cay co dong tien
(Cây cỏ đồng tiền - Ảnh: internet)

Tuổi Ngọ

Cây mang lại tài vận: Cây trầu bà

Tài vận người tuổi này rất tốt, biết cách kiếm tiền. Nhưng tuổi này lại khá tham lam, chính tính cách này làm họ bị tổn thất trong quá trình kiếm tiền.

Trong nhà người tuổi Ngọ nên đặt mấy chậu trầu bà sẽ giúp tài vận của họ tập trung một mối, nhưng cũng phải suy xét tình hình kỹ lưỡng, không được tham lam.


cay trau ba
(Cây trầu bà - Ảnh: internet)

Tuổi Mùi

Cây mang lại tài vận: Cây Lan quân tử

Người tuổi này không quan trọng tiền tài, khát vọng kiếm tiền cũng không lớn. Bởi họ không nỗ lực sức mình để kiếm tiền nên cơ hội phát tài là khá thấp.

Người tuổi Mùi nên đặt một chậu lan quân tử ở phía bên phải bức tường đối diện sofa trong nhà, sẽ mang đến quý nhân phù trợ họ trên  con đường tài vận.


cay lan quan tu
(Cây lan quân tử - Ảnh: internet)

Tuổi Thân

Cây mang lại tài vận: Cây tùng bồng lai

Người tuổi Thân biết cách kiếm tiền, cũng biết cách nắm bắt cơ hội tài lộc, nhưng họ kiếm nhiều thì tiêu cũng nhiều. Họ tiêu tiền như nước, không biết tiết kiệm nên cuối cùng còn lại không đáng là bao.

Người tuổi Thân nên đặt một chậu tùng bồng lai trong phòng đọc sách, phòng làm việc. Điều này giúp họ kiếm được tiền, làm ví tiền không bao giờ cạn.


cay tung bong lai
(Cây tùng bồng lai - Ảnh: internet)

Tuổi Dậu

Cây mang lại tài vận: Cây Ngọc Lộ (sen đá)

Đường tài vận tuổi này rất vượng, nhưng không biết giữ. TIền tài hoặc là bị vay mượn, hoặc hao tổn khi đầu tư. Khả năng tổn hao tiền tài rất cao.

Không muốn vậy, người tuổi Dậu nên trồng một chậu sen đá ở phòng khách, giúp họ ngăn chặn việc hao tổn tài lộc. Tiền tài tự nhiên sẽ giữ được.


cay sen da
(Cây sen đá - Ảnh: internet)

Tuổi Tuất

Cây mang lại tài vận: Cây phát tài (cây kim ngân)

Người tuổi này có đường tài vận khá ổn định, nhưng không biết cách quản lý, không biết nắm bắt cơ hội kiếm tiền. Khi có cơ hội không biết cách trân trọng, nên rất khó phát tài.

Những người này nên đặt chậu kim ngân ở phòng khách, giúp họ tích lũy tiền tài, kiếm được nhiều tiền hơn, tài lộc lũ lượt kéo đến.


cay kim ngan
(Cây kim ngân - Ảnh: internet)

Tuổi Hợi

Cây mang lại tài vận: Cây nhất mạt hương

Người tuổi Hợi tiền tài đủ dùng, ăn ngon mặc đẹp. Nhưng tiền tài hay bị thất tán vì cuộc sống xa hoa, thường không còn lại gì nhiều sau đó. Của cải cũng không còn lại nhiều.

Họ nên đặt một chậu nhất mạt hương trên bàn máy tính trong phòng làm việc. Như vậy sẽ giúp họ tỉnh táo khi tiêu tiền, không lãng phí tiền của. Nhưng phải nhớ thường xoa lá cây mới có hiệu quả.


cay nhat mat huong
(Cây nhất mạt hương)

(Nguồn: 360doc)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Top 12 loại cây mang tài lộc vào nhà theo tuổi của gia chủ

Có phải người lương thiện thường hay chịu thiệt?

Chúng ta thường nói với nhau rằng “thật thà thường bị thua thiệt”, nhưng Phật dạy nhân sinh có nhân quả, thua thiệt là vì khuyết thiếu trí tuệ, chứ không phải vì có lòng từ bi.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Thuyết nhân quả nhà Phật chỉ rõ, tạo thiện nhân thì gặt thiện quả, gieo ác nhân tất gặp ác nghiệp. Vì thế, nếu gặp phải hung hại trong đời sống, thì không phải là do bạn quá tốt bị người lấn lướt, mà do bạn đã từng lấn lướt hại người.   Đem nguyên nhân thua thiệt quy kết cho việc thiện lương quả là sai trái. Vì không làm việc xấu cũng chưa chắc đã là người lương thiện, nhân quả đời người phức tạp, nay là người tốt nhưng mai đã thành ác, nay là người ác nhưng mai “buông dao xuống đất chắp tay thành Phật”.   Việc hôm nay phải chịu đau khổ gì chỉ có thể là do trước đây đã làm điều không lành, phải gánh trách nhiệm, bị người khác lấn lướt là do khuyết thiếu trí tuệ, không có nhận thức đúng đắn về cuộc sống.

Những người lo lắng rằng, quá hiền lành sẽ bị bắt nạt, quá lương thiện thì sẽ bị người khác hãm hại là sai lầm lớn. Phật dạy, trí tuệ của con người là trí tuệ của lòng bao dung, không bao giờ vì bao dung mà khổ đau, cũng không vì từ bi mà bị chiếm lợi.
  Nếu ta làm điều thiện mà người khác lợi dụng điều thiện của ta thì ấy là người đó gieo nghiệp ác, còn ta vẫn có nghiệp lành. Tại sao lại vì người khác không thiện mà ta cũng không thiện? Người khác thiện thì ta cũng thiện, người khác không thiện thì ta càng phải thiện, để cái thiện của ta trở thành chân giá trị.  

Co phai nguoi luong thien thuong hay chiu thiet hinh anh
 
Cái thiện và lòng từ bi đi đôi với trí tuệ ưu mẫn và nhận thức đúng đắn về đời sống thì là cái thiện không bao giờ bị thua thiệt. Và hơn hết, quả báo nhân sinh không bao giờ trả nghiệp khổ cho người gieo nhân lành.   Trần Hồng
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Có phải người lương thiện thường hay chịu thiệt?

Phong thủy cho khu tiền sảnh

Tiền sảnh không chỉ là nơi để chủ nhà đón khách mà còn là khoảng không gian ngăn cản các xung sát từ bên ngoài tác động vào và cũng là một điểm nhấn riêng biệt
Phong thủy cho khu tiền sảnh

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tiền sảnh không chỉ là nơi để chủ nhà đón khách mà còn là khoảng không gian ngăn cản các xung sát từ bên ngoài tác động vào và cũng là một điểm nhấn riêng biệt của mỗi ngôi nhà.

Dùng mái phụ để che tiền sảnh

Theo phong thủy, tiền sảnh cần tương ứng với quy mô của nhà cũng như với cửa nhà. Nhà lớn mà lối vào nhỏ hoặc không có tiền sảnh thì dễ bị tán khí. Nhà nhỏ mà tiền sảnh rộng quá sẽ lãng phí diện tích. Đối với tiền sảnh của những ngôi nhà cao, bề thế, có thể dùng thêm mái phụ được hạ thấp xuống để giới hạn phạm vi vùng đệm. Điều này khác với tiền sảnh của các tòa nhà lớn nơi công cộng thường cao rộng để đón nhiều người.

Ở xứ nhiệt đới, tiền sảnh đóng vai trò là nơi tiếp khách tạm và thường không có cửa hoặc tường. Trong tiền sảnh thường kết hợp chỗ để giày dép, mũ nón, áo mưa... để thuận tiện trong sử dụng và giảm "áp lực" cho phòng khách bên trong.

Về hình dáng và màu sắc, có thể bố trí tiền sảnh theo nguyên tắc ngũ hành tương sinh để thêm sinh khí. Ví dụ, với nhà có hình vuông (thuộc hành Thổ) thì mái vào tiền sảnh nên là hình nhọn (hành Hỏa). Nhà sơn màu xanh dương (thuộc hành Thủy) thì tiền sảnh - mái đón có thể sơn màu trắng (hành Kim). Khi tiền sảnh thuộc dạng dài (hành Mộc), có thể dùng các mảng gạch trang trí thô, điểm nhấn vuông (hành Thổ)...

(Theo Baomoi)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phong thủy cho khu tiền sảnh

Xem tướng trán đoán mệnh –

Vầng trán rộng chia làm nhiều tiểu khu. Mỗi tiểu khu có những giá trị thông tin khác nhau. “Trán quyết định sang, hèn, vinh, nhục của một người”. Như vậy ta có hai dạng trán đẹp và quý đó là: 1. Trán cao, rộng, vuông vắn, đầy đặn, sáng sủa. 2. Trán h

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Vầng trán rộng chia làm nhiều tiểu khu. Mỗi tiểu khu có những giá trị thông tin khác nhau. “Trán quyết định sang, hèn, vinh, nhục của một người”. Như vậy ta có hai dạng trán đẹp và quý đó là:

ktt_5.11_concai1_kienthuc_tbvu

1. Trán cao, rộng, vuông vắn, đầy đặn, sáng sủa.

2. Trán hẹp, rộng nhưng phẳng, vuông, sáng đẹp.

3. Hai dạng trán trên nếu có các vân ngang đều đặn nữa hay có các dọc thẳng sờ vào thấy các sóng thì rất sang và quý vô cùng. Vân tạo thành đường chữ khẩu vuông khuyết (Trung Quốc) cũng là tướng quý.

4. Các dạng trán xấu:
– Trán hẹp nhỏ đầu bằng.
– Trán cao hóp bé lại.
– Trán dô nhọn ở khu “thiên trung và thiên đình”.
– Trán vẹt, lõm.
– Trán có vân nhằng nhịt, rối loạn.

5. Tướng pháp chia trán thành năm tiểu khu: thiên trung, thiên đình, tú không, trung chính và ấn đường để cấu thành tướng trán.
– Thiên trung ở giữa trán sát mép tóc thuộc sao Hỏa.
+ Nếu thiên trung đầy đặn, sáng sủa thì tuổi trẻ đã may mắn rồi, học hành đỗ đạt, danh vọng sớm.
+ Nếu lồi (trán dô) thì sẽ gặp nhiều bất hạnh.
+ Nếu lõm, nhăn nheo thì vất vả khổ hạnh.
+ Nếu có nốt ruồi thì khắc cha (không hợp nhau).
– Thiên đình ở dưới thiên trung.
+ Nếu đầy, sáng sủa thì tôt.
+ Nếu lồi hoặc lõm thì xấu.
+ Nếu có nốt ruồi thì khắc mẹ và có thể bị tai họa binh đao.
– Hai tiểu khu này cần đầy, sáng bóng thì tốt. Đó là hai phần trên của cung quan lộc.

6. Ba khu vực không cân đối, sắc khí kém thì cuộc đời không toàn vẹn. Đó là nhỏ vất vả, trung niên vất vả hay hậu vận kém cỏi… Tùy theo độ dài, sắc khí của từng khu vực và ngược lại thời niên thiếu đầy đủ, hạnh phúc, học hành đỗ đạt, trí tuệ khoát đạt; trung vận hành phát, về chức quyền, bổng cao, lộc hậu. Hoặc hậu vận khá giàu có, chức cao, con hiền, cháu thảo, gia đình êm thấm, yên vui.
Ở các bộ phận phụ thuộc sẽ cho ta thêm những thông tin khác biệt.

7. Khu vực trên những thông tin chi tiết:
– Trán vuông, phẳng, quý tướng: Khanh, sỹ, chủ tịch, tổng thông, thủ tướng…
– Trán cao khum khum, bóng sáng: Trí tuệ uyên bác, thông thái, học cao hiểu rộng, ngôn ngữ siêu việt.
– Trán rộng, bóng sáng: Khanh tướng.
– Trán bóng dài, hẹp, vân đều tăm tắp: Khanh tướng v.v… các chi tiết thêm sẽ nêu ở phần ngũ nhạc sau. Vì cần cụ thể giúp xem xét tướng cho thấu đáo.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tướng trán đoán mệnh –

Tử vi thứ 3 của 12 Con Giáp ngày 3 tháng 2 năm 2015 - Tuổi tý - Xem Tử Vi

Tử vi thứ 3 của 12 Con Giáp ngày 3 tháng 2 năm 2015, Tuổi tý, Xem Tử Vi, xem bói, xem tử vi Tử vi thứ 3 của 12 Con Giáp ngày 3 tháng 2 năm 2015, tu vi Tử vi thứ 3 của 12 Con Giáp ngày 3 tháng 2 năm 2015, tu vi Tuổi tý

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tử vi thứ 3 của 12 Con Giáp ngày 3 tháng 2 năm 2015

Tử vi thứ 3 của 12 Con Giáp ngày 3/2/2015, Bính Tý gia đạo có nhiều bất an, hôm nay Ất Sửu không được tham lam, Bính Dần có 1 ngày khó khăn lận đận,..

TỬ VI TUỔI TÝ THỨ 3:

- Bính Tý (Thủy, 19 nam La Hầu nữ Kế Đô): Xem boi gia đạo có nhiều bất an, hoặc gặp phải nhiều công việc cần phải giải quyết. Nếu có người đến tranh luận, hoặc đổi ý các vấn đề đã được thỏa thuận từ trước là do chính họ cũng gặp trở ngại, nên nhu thuận cùng nhau bàn bạc. Tài lộc vào nhanh ra nhanh. Có tin buồn. Sức khỏe không tốt. Đề phòng tai nạn, rủi ro.

- Giáp Tý (Kim, 31 nam Thái Bạch nữ Thái Âm): Mưu sự lớn lao gặp nhiều bất lợi, không nên vội vã tiến hành hoặc quyết định nhanh chóng. Mong cầu tài lộc có sự sai hẹn, chậm chạp. Sức khỏe không tốt, có tin buồn của thân nhân. Cẩn trọng khi đi đường, gặp rủi ro về xe cộ, máy móc hoặc hao tốn trong việc sửa chữa, đi lại, đám tiệc.

- Nhâm Tý (Mộc, 43 nam Kế Đô nữ Thái Dương) :  Nên cẩn thận trong mọi hành động, chỉ sai lầm một chút sẽ đem đến hậu quả không tốt. Ngày có nhiều sự thay đổi, biến động, công việc, tin tức đến dồn dập. Không nên sợ những áp lực từ bên ngoài, cần phải nhẫn nại. Ngày thuận lợi cho việc thay đổi, sửa chữa, tu bổ, đi xa.

- Canh Tý (Thổ, 55 nam La Hầu nữ Kế Đô) : Nhà có khách đến. Tuy nhiên cũng có tin buồn về sức khỏe, công danh của người thân, hoặc gặp chuyện không như ý. Chuyện tình cảm phải cầu ở nơi xa xôi, hoặc không nên ở gần nhau mới tốt. Có tin xa. Hạn đi xa. Hao tốn về chuyện giao thiệp. Sức khỏe không tốt. Có tài lộc.

- Mậu Tý (Hỏa, 67 nam Thái Bạch nữ Thái Âm) :Nên cẩn thận trong mọi hành động, chỉ sai lầm một chút sẽ đem đến hậu quả không tốt. Ngày có nhiều sự thay đổi, biến động, công việc, tin tức đến dồn dập. Không nên sợ những áp lực từ bên ngoài, cần phải nhẫn nại. Ngày thuận lợi cho việc thay đổi, sửa chữa, tu bổ, đi xa.

TỬ VI TUỔI SỬU THỨ 3:

- Đinh Sửu (Thủy, 18 nam Mộc Đức nữ Thủy Diệu – 78 nam Vân Hớn nữ La Hầu) :Tài lộc không tốt, nếu có cũng phải có sự hao tốn hoặc phải chia phần. Có chuyện làm ơn mắc oán. Ngày gặp nhiều chuyện ưu phiền rắc rối về công việc cũng như về tình cảm, sức khỏe không tốt. Cần phải có sự suy nghĩ kỹ trước khi ăn nói, viết thư, nêu ý kiến, dễ bị hiểu lầm, thị phi, bất hòa.

- Ất Sửu (Kim, 30 nam Thủy Diệu nữ Mộc Đức) : Nếu thấy có được tài lộc thì cũng không nên tham lam tiến thêm thì sẽ có điều bất lợi. Chưa phải là lúc làm mạnh. Hãy suy tính những gì theo kinh nghiệm của mình hơn là nghe lời bàn. Cũng không nên quyết định ngay cho công việc mong muốn, phải chờ vào một ngày khác.

- Quý Sửu (Mộc, 42 nam Vân Hớn nữ La Hầu) : Đến nơi nào cũng không nên ở lâu. Ngày có tin xa, hoặc gặp gỡ người thân. Gia đạo có đám tiệc hoặc có sự hội họp, gặp gỡ. Đã đến lúc cần phải giai quyết những công việc đúng kỳ hạn, theo sự hẹn ước, kể cả trong vấn đề tình cảm. Có tin buồn. Có khách đến.

- Tân Sửu (Thổ, 54 nam Mộc Đức nữ Thủy Diệu) :  Hãy mạnh dạn tiến hành công việc nếu đã có tính toán, không nên e ngại sự hao tốn. Nếu thấy có được tài lộc thì cũng không nên tham lam tiến thêm thì sẽ có điều bất lợi. Hãy suy tính những gì theo kinh nghiệm của mình hơn là nghe lời bàn.

- Kỷ Sửu (Hỏa, 66 nam Thủy Diệu nữ Mộc Đức) :  Đến nơi nào cũng không nên ở lâu. Ngày có tin tức ở xa, hoặc gặp gỡ người thân. Gia đạo có đám tiệc hoặc có sự hội họp, gặp gỡ. Đã đến lúc cần phải giai quyết những công việc đúng kỳ hạn, theo sự hẹn ước, kể cả trong vấn đề tình cảm. Nhà có hỷ sự. Có khách đến.

Các bạn muốn xem boi về tử vi trong năm Ất Mùi vào mục Tử vi 2015! Xem cả đời tại Tử vi trọn đời! Phong thủy trong tháng cận kề Tết tại Phong thủy. Xem người xông đất hợp tới tuổi của mình trong Tết nguyên đán tại Xông đất 2015!

TỬ VI TUỔI DẦN THỨ 3:

- Mậu Dần (Thổ, 17 nam Thái Âm nữ Thái Bạch, 77 nam Thái Dương nữ Thổ Tú) :Làm gì cũng phải đề phòng rủi ro, tai ương, họa hại, bất trắc, hoặc có những việc xảy ra ngoài dự tính. Nên cẩn trọng về bổn mạng khi đi đường, đi xa, sử dụng các vật dụng có liên quan đến lửa, điện. Súc vật trong nhà không được tốt. Tuy nhiên, ngày này thuận lợi cho những người làm các ngành nghề công kỹ nghệ, thầy thuốc, pháp luật. Về tình cảm nên có sự hòa giải, nhường nhịn sẽ đem lại điều lợi. Tài lộc còn chậm, dễ hao.

- Bính Dần (Hỏa,29 nam Thổ Tú nữ Vân Hớn) :  Ngày có nhiều bôn ba, lận đận khó khăn nhưng sẽ có quý nhân giúp đỡ hoặc nếu cố gắng cũng đạt được kết quả. Đề phòng rủi ro, bất trắc, tai nạn, có tin buồn. Sức khỏe không tốt. Cẩn trọng, có sự thưa kiện, tranh cãi, hoặc mích lòng vì trước đã có sự thỏa thuận mà nay lại đổi ý, hoặc sự việc xảy ra không đúng như dự tính. Gia đạo bất an.

- Giáp Dần (Thủy, 41 nam Thái Dương nữ Thổ Tú) :  Có tin tức về chuyện tình cảm ở nơi xa, hoặc nhà có khách, bè bạn đến theo lời hẹn. Không nên hấp tấp vội vàng quyết định nhanh chóng, kết quả sẽ không tốt. Có tài lộc. Có tin xấu về sức khỏe, công danh của người thân. Cẩn trọng trong việc đi lại, sử dụng xe cộ, máy móc, gặp trở ngại. Chuyện tình cảm chớ nên dây dưa không tốt.

- Nhâm Dần (Kim, 53 nam Thái Âm nữ Thái Bạch) : Làm gì cũng phải đề phòng rủi ro, tai ương, họa hại, bất trắc, hoặc có những việc xảy ra ngoài dự tính. Nên cẩn trọng về bổn mạng khi đi đường, đi xa, sử dụng các vật dụng có liên quan đến lửa, điện. Súc vật trong nhà không được tốt. tuy nhiên ngày này thuận lợi cho những người làm các ngành nghê công kỹ nghệ, thầy thuốc, pháp luật. Về tình cảm nên có sự hòa giải, nhường nhịn sẽ đem lại điều lợi. Tài lộc còn chậm, dễ hao.

- Canh Dần (Mộc, 65 nam Thổ Tú nữ Vân Hớn) : Nếu thấy có điều lợi hoặc tài lộc đến thì không nên tiếp tục, sẽ không có hậu, hoặc bị đảo ngược. Nếu không như vậy thì lợi và hại sẽ đi đôi. Đề phòng những tai nạn, rủi ro bất trắc có thể sẽ xảy ra bất ngờ, hoặc trong gia đạo có chuyện buồn, đau ốm hoặc gặp rủi ro, tai nạn, nhất là các việc có liên quan đến xe cộ máy móc, di chuyển.

TỬ VI TUỔI MÃO THỨ 3:giữa Tam Tai

- Kỷ Mão (Thổ, 16 nam Kế Đô nữ Thái Dương, 76 nam Thái Bạch nữ Thái Âm) : Có tin xa về tình cảm, và có sự hứa hẹn về tài lộc, quà tặng, tiệc tùng, nhưng cũng có sự hao tốn. Cần ngay thẳng trong công việc, không nên dùng những tiểu xảo, hoặc đốt giai đoạn, chỉ làm cho rắc rối thêm. Trông chờ quý nhân giúp đỡ khó có kết quả hoặc không được như ý. Di chuyển, đi xa bất lợi. Sức khỏe không tốt. Không nên dính tới chuyện người, gặp thị phi.

- Đinh Mão (Hỏa, 28 nam La Hầu nữ Kế Đô) :Dù có gặp gỡ và tốt đẹp về chuyện tình cảm đến mấy cũng không nên thuận theo ý kiến của họ mà nhúng tay vào các công việc mới được đề nghị. Chỉ nên xem đó là một dự tính. Không nên xuất tiền. Càng nói nhiều thì càng bất lợi. Nên làm chủ trong công việc. Tài lộc khó giữ.

- Ất Mão (Thủy, 40 nam Thái Bạch nữ Thái Âm) :  Mọi việc nên cẩn trọng chớ nên để tình thế hoàn cảnh sai khiến mình, hoặc hấp tấp mà đạt được kết quả không như ý muốn. Mọi sự càng chậm càng tốt. Chuyện tình cảm không nên nói hết hoặc thật lòng dễ có sự thiệt thòi, hoặc hao tốn vì tiệc tùng vui chơi, mua sắm, tu bổ, sửa chữa.

- Quý Mão (Kim, 52 nam Kế Đô nữ Thái Dương) :  Có tin xa về tình cảm, và có sự hứa hẹn về tài lộc, quà tặng, tiệc tùng, nhưng cũng có sự hao tốn, hoặc gặp chuyện không vui. Cần ngay thẳng trong công việc, không nên dùng những tiểu xảo, hoặc đốt giai đoạn, chỉ làm cho rắc rối thêm. Trông chờ quý nhân giúp đỡ khó có kết quả hoặc không được như ý. Đi xa bất lợi. Sức khỏe không tốt. Không nên dính tới chuyện người, gặp thị phi.

- Tân Mão (Mộc, 64 nam La Hầu nữ Kế Đô) :  Mọi việc nên cẩn trọng chớ nên để tình thế hoàn cảnh sai khiến mình, hoặc hấp tấp mà đạt được kết quả không như ý muốn. Mọi sự càng chậm càng tốt. Chuyện tình cảm không nên nói hết hoặc thật lòng dễ có sự thiệt thòi, hoặc hao tốn vì tiệc tùng vui chơi, mua sắm, tu bổ, sửa chữa.

TỬ VI TUỔI THÌN THỨ 3:

- Mậu Thìn (Mộc, 27 nam Mộc Đức nữ Thủy Diệu) : Ngày xung của bổn mạng. Có nhiều chuyện phiền toái đến với mình nếu không cẩn trọng trong công việc, hoặc được giao phó. Nên nhẫn nại nếu có lời trách oán hoặc bị áp lực. Vì chưa phải là thời cơ để mình lên tiếng. Hoặc chỉ nên thay đổi hoàn cảnh hiện tại, hay thuận theo thời cuộc. Có tin tức ở xa nhắc mình về cuộc hẹn, lời hứa. Có quý nhân giúp đỡ.

- Bính Thìn (Thổ, 39 nam Thủy Diệu nữ Mộc Đức) : Ngày xung của bổn mạng. Phải nhẫn nại chớ nên làm càn sẽ gặp điều xấu. Sự mong cầu về tin tức sẽ đem lại sự phiền lòng, thất vọng. Tài lộc vào nhanh ra nhanh. Ngày có nhiều việc phải bôn ba mới có tiền, hoặc có người đem lại lợi lộc đến cho mình và mình cũng phải có sự hao tốn. Đề phòng mọi việc có trở lực, bị cưỡng ép. Gia đạo bất an, sức khỏe không tốt.

- Giáp Thìn (Hỏa, 51 nam Vân Hớn nữ La Hầu) : Có tài lộc, có quý nhân giúp đỡ. Công việc đến thì nên nhanh chóng giải quyết không nên để chậm trễ sẽ mất cơ hội. Nghe tin xấu về bổn mạng, sức khỏe, công danh, tình cảm của người thân, bè bạn.

- Nhâm Thìn (Thủy, 63 nam Mộc Đức nữ Thủy Diệu) :  Ngày xung của bổn mạng. Có nhiều chuyện phiền toái đến với mình nếu không cẩn trọng trong công việc, hoặc được giao phó. Nên nhẫn nại nếu có lời trách oán hoặc bị áp lực. Vì chưa phải là thời cơ để mình lên tiếng. Hoặc chỉ nên thay đổi hoàn cảnh hiện tại, hay thuận theo thời cuộc. Có tin xa nhắc mình về cuộc hẹn, lời hứa. Có quý nhân giúp đỡ.

- Canh Thìn (Kim, 75 nam Thủy Diệu nữ Mộc Đức) : Ngày xung của bổn mạng. Nên đề phòng sức khỏe, không nên ham công tiếc việc sẽ xảy ra chuyện không hay. Có tài lộc hoặc có tin tốt cho công việc. Có người đến báo tin buồn về công danh, sức khỏe, bổn mạng của người thân nhưng không phải là chuyện lớn đối với mình.

TỬ VI TUỔI TỴ THỨ 3:

- Kỷ Tỵ (Mộc, 26 nam Thái Âm nữ Thái Bạch) : Nên giới hạn mọi sự giao tiếp, sẽ gặp những chuyện phiền hà. Tranh mọi sự thị phi, tranh cãi. Không nên tiến hành, giải quyết những công việc lớn lao. Công việc chưa có thể kết thúc hoặc hoàn chỉnh. Ngày không tốt. Có nhiều tin xấu về công danh, sức khỏe, bổn mạng, tài lộc của người thân, bè bạn có liên quan đến đời sống của mình. Đề phòng rủi ro, tai nạn, đau ốm.

- Đinh Tỵ (Thổ, 38 nam Thổ Tú nữ Vân Hớn) : Chuyện tình cảm, làm ăn không nên để dây dưa sẽ có người khác nhúng tay vào hoặc sẽ có tin tức mới khiến cho mọi việc trở thành không có lợi, gặp trắc trở. Có chuyện thị phi hoặc bị nói xấu, khiển trách, mích lòng. Có tài lộc nhưng dễ hao tốn cho những việc cần thiết. Có quý nhân giúp đỡ.

- Ất Tỵ (Hỏa, 50 nam Thái Dương nữ Thổ Tú) :  Mọi việc nên chậm rãi giải quyết, và nếu có thể được thì nên thay đổi tình trạng hiện tại sẽ có sự tốt đẹp. Đi đâu cũng nên có lời nhắn vì sẽ có người hoặc quý nhân tìm đến, hoặc có tin ở xa. Nếu có hẹn thì nên đến đúng hẹn vì cũng có người mong muốn công việc như mình. Tài lộc trung bình.

- Quý Tỵ (Thủy, 62 nam Thái Âm nữ Thái Bạch) : Nên giới hạn mọi sự giao tiếp, sẽ gặp những chuyện phiền hà. Tránh mọi sự thị phi, tranh cãi. Không nên tiến hành những công việc lớn lao. Công việc chưa có thể kết thúc hoặc hoàn chỉnh. Ngày không tốt. Có nhiều tin xấu về công danh, sức khỏe, bổn mạng, tài lộc của người thân, bè bạn có liên quan đến đời sống của mình. Đề phòng rủi ro, tai nạn, đau ốm.

- Tân Tỵ (Kim, 74 nam Thổ Tú nữ Vân Hớn) :Mọi việc nên chậm rãi giải quyết, và nếu có thể được thì nên thay đổi tình trạng hiện tại sẽ có sự tốt đẹp. Đi đâu cũng nên có lời nhắn vì sẽ có người hoặc quý nhân tìm đến, hoặc có tin xa. Nếu có hẹn thì nên đến đúng hẹn vì cũng có người mong muốn công việc như mình. Tài lộc trung bình.

TỬ VI TUỔI NGỌ THỨ 3:

- Canh Ngọ (Thổ, 25 nam Kế Đô nữ Thái Dương) :  Ngày có nhiều sự thay đổi biến động về công danh cũng như về tình cảm, sức khỏe. Hoặc những sự việc chờ đợi đã lâu nay có sự xuất hiện. Không nên mong cầu chuyện lớn lao về tiền bạc, tài lộc. Có được bao nhiêu hay bấy nhiêu. Gia đạo có nhiều tin tức ở xa, hoặc nhà có đình đám, tiệc tùng, khách đến. Cẩn trọng trong việc sử dụng phương tiện đi lại, xe cộ, máy móc.

- Mậu Ngọ (Hỏa, 37 nam La Hầu nữ Kế Đô) :  Hãy suy nghĩ trước khi hành động. Giữa tình cảm và công việc nên có sự phân định rõ ràng, nếu không sẽ có sự phiền lòng, trách oán. Không nên mong cầu về tiền bạc lớn lao không tốt. Cẩn trọng đề phòng rủi ro, tai nạn bất trắc khi đi đường, làm việc. Có tin tức ở xa.

- Bính Ngọ (Thủy, 49 nam Thái Bạch nữ Thái Âm) :  Gặp lại người xưa, việc cũ. Sự mong cầu về tiền bạc còn chậm, dễ hao tài. Ngày có nhiều chuyện rắc rối, phiền lòng. Làm gì cũng phải cẩn thận dễ gặp rủi ro, tráo trở. Đề phòng tai nạn đi đường hoặc hao tốn về xe cộ, máy móc, sức khỏe không tốt. Gia đạo bất an. Trong nhà có người gặp rủi ro, đau ốm, bệnh tật, có tang, hoặc có tin xấu về công danh, pháp luật.

- Giáp Ngọ (Kim, 61 nam Kế Đô nữ Thái Dương) : Cần nên kiên nhẫn và chờ đợi, sự việc sẽ tự nhiên đến. Không nên lo lắng khi có gặp trở ngại, hoặc chuyện xảy ra ngoài ý muốn, hoặc có sự đảo lộn bất ngờ ngoài dự tính. Chuyện tình cảm chớ nên dính líu vào. Chỉ nên lắng nghe ý kiến của họ, không nên kết luận, phê phán. Vai trò của mình đang ở trong tình trạng bất lợi. Tài lộc khó khăn, khó cầm giữ, thâu đoạt. Không nên toan tính chuyện lâu dài, việc tới đâu thì giải quyết tới đó. Tâm tình bất an, sức khỏe không tốt, có tin buồn.

- Nhâm Ngọ (Mộc, 73 nam La Hầu nữ Kế Đô) : Hãy suy nghĩ trước khi hành động. Giữa tình cảm và công việc nên có sự phân định rõ ràng, nếu không sẽ có sự phiền lòng, trách oán. Không nên mong cầu về tiền bạc lớn lao không tốt. Đề phòng rủi ro, tai nạn bất trắc khi đi đường, làm việc. Có tin xa. Sức khỏe không tốt. Nên giữ vững tinh thần khi có nhiều sự việc xảy ra.

TỬ VI TUỔI MÙI THỨ 3: năm giữa Tam Tai

- Tân Mùi (Thổ, 24 nam Vân Hớn nữ La Hầu) : Coi chừng có sự phản trắc hoặc tình thế đảo lộn, có sự chậm trễ, hẹn mà không gặp. Không nên để tình cảm xen lẫn vào công việc của mình. Nếu có sự mong cầu về tình cảm, giao thiệp cũng nên chậm rãi vì niềm tin của họ đối với mình chưa đủ, nên nhẫn nại hoặc có sự thiệt thòi đôi chút sẽ có kết quả tốt. Có tin xa. Có tài lộc.

- Kỷ Mùi (Hỏa, 36 nam Mộc Đức nữ Thủy Diệu) :  Có sự sai hẹn, dời hẹn hoặc lời nói của mình bị hiểu lầm qua một ý nghĩa khác đưa đến trách oán. Mọi việc cần nên nhẫn nại. Không nên chỉ nghe ý kiến của một phía. Cần chờ đợi những tin tức khác rồi mới quyết định. Có tin tức ở xa về chuyện tình cảm, sức khỏe, bổn mạng của người thân. Có lộc nhỏ. Gia đạo không nên có sự bất hòa vì có nhiều ý tưởng trái nghịch nhau.

- Đinh Mùi (Thủy, 48 nam Thủy Diệu nữ Mộc Đức):  Nên thân cận và hỏi ý kiến của người lớn tuổi nếu cần giải quyết công việc cần thiết. Những chuyện mong cầu về tình cảm là điều không nên, dễ gặp sự buồn phiền trách oán. Trong người thân, bè bạn gặp chuyện buồn cần đến sự hiện diện của mình để chia sẻ. Ngày thuận lợi cho việc tu bổ, sửa sang, dọn dẹp, đóng cửa, kết thúc công trình, công việc. Có tin buồn ở xa, hoặc nhận tin chưa đúng theo ý mong cầu của mình.

- Ất Mùi (Kim, 61 nam Vân Hớn nữ La Hầu) : Không nên để tình cảm xen lẫn vào công việc của mình. Nếu có sự mong cầu về tình cảm, giao thiệp cũng nên chậm rãi vì niềm tin của họ đối với mình chưa đủ, nên nhẫn nại hoặc có sự thiệt thòi đôi chút sẽ có kết quả tốt. Có tin tức ở xa. Có tài lộc.

- Quý Mùi (Mộc, 73 nam Mộc Đức nữ Thủy Diệu) :  Có sự sai hẹn, dời hẹn hoặc lời nói của mình bị hiểu lầm qua một ý nghĩa khác đưa đến trách oán. Mọi việc cần nên nhẫn nại. Không nên chỉ nghe ý kiến của một phía. Cần chờ đợi những tin tức khác rồi mới quyết định. Có tin tức ở xa về chuyện tình cảm, sức khỏe, bổn mạng của người thân. Có lộc nhỏ. Gia đạo không nên có sự bất hòa vì có nhiều ý tưởng trái nghịch nhau.

TỬ VI TUỔI THÂN THỨ 3:

- Nhâm Thân (Kim, 23 nam Thái Dương nữ Thổ Tú) : Dù có hẹn gặp cũng nên cẩn trọng, mọi việc sẽ không phải như mình đã nghĩ. Nếu có tiền bạc thì cũng phải tranh luận, dàn xếp lại. Mọi việc đều không nên tiến hành hoặc giải quyết nhanh chóng sẽ đem đến bất lợi. Ngày có nhiều chuyện gây ra sự bất an rối ren, lo âu từ công việc cho đến tình cảm, sức khỏe. Tâm tình, gia đạo bất an. Mọi việc đều chưa kết thúc.

- Canh Thân (Mộc, 35 nam Thái Âm nữ Thái Bạch) : Đề phòng sức khỏe không tốt. Có tin buồn, việc xảy ra không được như ý. Nên di chuyển, đi xa, gặp gỡ, không nên ngồi tại chỗ. Ngày có nhiều công việc đến tốt xấu lẫn lộn. Có sự gặp gỡ thân nhân, bè bạn. Sự hẹn ước có thay đổi.

- Mậu Thân (Thổ, 47 nam Thổ Tú nữ Vân Hớn) : Ngày không tốt. Mọi việc đều không nên tiến hành hoặc giải quyết nhanh chóng sẽ đem đến bất lợi. Ngày có nhiều chuyện gây ra sự bất an rối ren, lo âu từ công việc cho đến tình cảm, sức khỏe. Gia đạo bất an. Mọi việc đều chưa kết thúc.

- Bính Thân (Hỏa, 59 nam Thái Dương nữ Thổ Tú)  : Không nên hấp tấp trong mọi hành động. Nếu thấy điều lợi đến nhanh lại càng phải dè dặt vì sự việc còn nhiều thay đổi, xoay chuyển. Sức khỏe không tốt. Nếu không có gì gấp gáp thì nên nghỉ ngơi. Ngày thuận lợi cho việc tu bổ, sửa chữa, dọn dẹp, kết thúc mọi việc. Nên đi xa, dời chỗ. Có tin xa. Có khách đến.

- Giáp Thân (Thủy, 71 nam Thái Âm nữ Thái Bạch) : Nếu thấy việc trước mắt có lợi nhưng cũng nên đề phòng rủi ro hoặc có người dòm ngó gây sự cản trở cho mình. Có sự thay đổi công danh, chức vụ, phương hướng làm ăn, hoặc nghe tin về chuyện này. Nên cẩn trọng trong mọi hành động, đi lại, di chuyển dễ gặp rủi ro, tai nạn, có tin buồn. Tài lộc chậm, hoặc có mà phải chia phần, chi phí, cầm tiền của người khác.

TỬ VI TUỔI DẬU THỨ 3:

- Quý Dậu (Kim, 22 nam Thái Bạch nữ Thái Âm) :  Tiến thoái lưỡng nan. Chỉ nên ngồi yên không nên tính toán. Thuận theo hoàn cảnh thực tế sẽ không gặp điều bất lợi. Ngày có nhiều tin tức hoặc công việc đến tạo nhiều áp lực không có phương kế giải quyết. Nên chờ đợi vào một dịp khác. Có tin tốt ở nơi xa về tài lộc tình cảm.

- Tân Dậu (Mộc, 34 nam Kế Đô nữ Thái Dương) :  Chớ nên để vướng vào chuyện tình cảm của những người khác dễ có sự mích lòng, hiểu lầm. Có người đến phân giải hoặc đem tin buồn đến, hỏi ý kiến về chuyện đi xa, thay đổi hoàn cảnh hiện tại. Tài lộc trung bình. Ngày có sự gặp gỡ thân nhân, bè bạn, tiệc tùng. Đề phòng sức khỏe không tốt.

- Kỷ Dậu (Thổ, 46 nam La Hầu nữ Kế Đô) : Tiến thoái lưỡng nan. Chỉ nên ngồi yên không nên tính toán. Thuận theo hoàn cảnh thực tế sẽ không gặp điều bất lợi. Ngày có nhiều tin tức hoặc công việc đến tạo nhiều áp lực không có phương kế giải quyết. Nên chờ đợi vào một dịp khác. Có tin tốt ở nơi xa về tài lộc tình cảm.

- Đinh Dậu (Hỏa, 58 nam Thái Bạch nữ Thái Âm) : Hãy mạnh dạn thay đổi hoàn cảnh, công việc hiện tại. Nên cẩn trọng trong việc vận chuyển, đi đường, sử dụng xe cộ, máy móc. Nên giải quyết dứt khoát về chuyện tình cảm, nhân nghĩa. Mọi việc nên cẩn trọng về lời ăn tiếng nói dễ gặp chuyện thị phi, phiền lòng. Không nên nhúng tay vào chuyện người không tốt. Không nên luyến tiếc những gì còn sót lại.

- Ất Dậu (Thủy, 70 nam Kế Đô nữ Thái Dương) : Chớ nên để vướng vào chuyện tình cảm của những người khác dễ có sự mích lòng, hiểu lầm. Có người đến phân giải hoặc đem tin buồn đến, hỏi ý kiến về chuyện đi xa, thay đổi hoàn cảnh hiện tại. Tài lộc trung bình.

TỬ VI TUỔI TUẤT THỨ 3:

- Giáp Tuất (Hỏa 21 nam Thủy Diệu nữ Mộc Đức) : Ngày tuổi của bổn mạng. Mọi việc đều nên chậm rãi từ từ giải quyết, nôn nóng sẽ không có kết quả. Sự mong cầu về tiền bạc còn chậm, hoặc có mà phải tiêu hao cho nhiều công việc xảy ra trong ngày. Gia đạo có nhiều âu lo, có tin buồn. Cẩn trọng sức khỏe không được tốt.

- Nhâm Tuất (Thủy, 33 nam Vân Hớn nữ La Hầu) : Ngày tuổi của bổn mạng. Mọi sự việc xảy ra rất nhanh chóng cần phải dự phòng, tiên liệu dù điều tốt điều lợi đến, sẽ có hậu quả trái ngược. Nếu gặp điều xấu đến ngay thì không nên tiến hành vì sự việc còn lâu mới êm xuôi. Có sự tranh chấp đôi co hoặc gặp nhiều trở lực trong ngày. Đề phòng tai nạn rủi ro hoặc bị chơi xấu. Sự tính toán mong cầu về tiền bạc đều bị đảo ngược với dự tính.

- Canh Tuất (Kim, 45 nam Mộc Đức nữ Thủy Diệu) : Ngày tuổi của bổn mạng. Mọi việc đều nên chậm rãi từ từ giải quyết, nôn nóng sẽ không có kết quả, có sự trở ngại, rắc rối. Sự mong cầu về tiền bạc còn chậm, hoặc có mà phải tiêu hao cho nhiều công việc xảy ra trong ngày. Gia đạo có nhiều âu lo, có tin buồn. Sức khỏe không được tốt.

- Mậu Tuất (Mộc, 57 nam Thủy Diệu nữ Mộc Đức) :  Ngày tuổi của bổn mạng. Mọi sự việc xảy ra rất nhanh chóng cần phải dự phòng, tiên liệu dù điều tốt điều lợi đến, sẽ có hậu quả trái ngược. Nếu gặp điều xấu đến ngay thì không nên tiến hành vì sự việc còn lâu mới êm xuôi. Có sự tranh chấp đôi co hoặc gặp nhiều trở lực trong ngày. Đề phòng tai nạn rủi ro hoặc bị chơi xấu. Sự tính toán mong cầu về tiền bạc đều bị đảo ngược với dự tính.

- Bính Tuất (Thổ, 69 nam Vân Hớn nữ La Hầu) :  Ngày tuổi của bổn mạng. Không nên ngại sự hao tốn, hãy giải quyết những việc đang ở trước mặt. Không nên chú trọng vào sự đóng góp ý kiến hoặc những chi tiết nhỏ nhặt vì đây là uy tín và danh dự. Có quý nhân giúp đỡ, hoặc có cơ hội tốt.

TỬ VI TUỔI HỢI THỨ 3: giữa Tam Tai

- Ất Hợi (Hỏa, 20 nam Thổ Tú nữ Vân Hớn) : Hãy để mọi sự việc xảy ra tự nhiên. Đã đến lúc tình thế thay đổi. Nên nhận công việc mới nếu có người đến đề nghị, hợp tác. Có sự tu bổ, sửa chữa, mua sắm nhà cửa, đồ đạc, vật dụng. Có tài lộc nhưng hao tốn về giao thiệp, di chuyển.

- Quý Hợi (Thủy, 32 nam Thái Dương nữ Thổ Tú) :  Tất cả mọi việc có liên quan đến giấy tờ, văn tự, đơn xin phải cực nhọc mới có kết quả. Nên cẩn trọng có sự sơ sót, hư hại, lủng củng. Ngày thuận lợi cho việc tu bổ, sửa sang, bỏ những việc hoặc đồ đạc cũ. Có tài lộc. Có tin vui của bè bạn, thân nhân ở xa. Làm gì cũng nên tự mình giải quyết mới có kết quả. Không nên tin vào người khác.

- Tân Hợi (Kim, 44 nam Thái Âm nữ Thái Bạch) : Những gì thất bại ở quá khứ nay nếu làm lại thì thành công. Có tài lộc. Có tin tức sa thải, nghỉ việc, thuyên chuyển, ưu phiền, rắc rối, xung đột, bệnh tật, tai nạn của người thân, bè bạn trong công sở hoặc trong gia đạo. Có tin thay đổi chỗ ở, văn phòng, nơi kinh doanh. Có tin xa. Có người nhờ mình giúp đỡ hoặc góp ý kiến. Có cuộc đi ngắn.

- Kỷ Hợi (Mộc, 56 nam Thổ Tú nữ Vân Hớn) :Tất cả mọi việc có liên quan đến giấy tờ, văn tự, đơn xin phải cực nhọc mới có kết quả. Nên cẩn trọng có sự sơ sót, hư hại, lủng củng. Ngày thuận lợi cho việc tu bổ, sửa sang, bỏ những việc hoặc đồ đạc cũ. Có tài lộc. Có tin vui của bè bạn, thân nhân ở xa. Làm gì cũng nên tự mình giải quyết mới có kết quả. Không nên tin vào người khác.

- Đinh Hợi (Thổ, 68 nam Thái Dương nữ Thổ Tú) : Ngày có tin về chuyện tình cảm, sức khỏe, hôn nhân, sinh nở của mình hoặc người thân. Công việc như thế nào thì làm nên thế ấy, chớ tính toán cao xa không có lợi. Sự mong cầu về tiền bạc còn chậm, hoặc có tiền mà phải phân chia, cầm tiền của người khác. Có quý nhân đến.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tử vi thứ 3 của 12 Con Giáp ngày 3 tháng 2 năm 2015 - Tuổi tý - Xem Tử Vi

Bắt gọn tướng người "thùng rỗng kêu to"

Tướng người thùng rỗng kêu to: Bề ngoài họ tỏ ra hiểu biết, nói năng lưu loát nhưng thực chất bên trong lại tiềm ẩn sự lo lắng vì sợ người khác biết điểm yếu
Bắt gọn tướng người "thùng rỗng kêu to"

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bề ngoài họ tỏ ra hiểu biết, nói năng lưu loát nhưng thực chất bên trong lại tiềm ẩn sự lo lắng vì sợ người khác biết điểm yếu của mình.


1. Cách nói chuyện nhanh trước chậm sau


Những ai có thói quen khi bắt đầu một câu chuyện thì nói rất nhanh để vừa thể hiện ta đây là người hiểu biết hoặc để trấn áp người khác nhưng càng về sau tần suất và tốc độ lời nói càng giảm, chứng tỏ là người có tư duy kém cỏi, là tướng người “thùng rỗng kêu to”.

Người xưa có câu “hữu xạ tự nhiên hương” ý chỉ người càng có năng lực, càng giỏi giang thì lại ít khi thể hiện bản thân. Nhưng một khi họ đã lên tiếng thì ai nấy đều phải thán phục tài năng của họ.

Bat gon tuong nguoi thung rong keu to hinh anh
Ảnh minh họa

2. Hai đuôi mắt trễ xuống thành hình chữ “Bát”


Trong nhân tướng học coi đây là tướng mắt của người thiếu sự chân thành. Hơn thế, khuôn mặt không hài hòa này khiến người đối diện có cảm giác bất an, không muốn kéo dài cuộc trò chuyện.

Ngoài ra, người này thích sĩ diện, khéo che giấu cảm xúc cá nhân cũng như những điểm của mình, khéo đóng kịch, hay tâng bốc tài năng và địa vị của bản thân nhằm có được sự tin tưởng của người khác.

3. Ngũ quan không hài hòa, gầy trơ xương


Ngũ quan chính là 5 bộ phận trọng yếu trên khuôn mặt (mắt, mũi, miệng, tai, lông mày). Nếu ngũ quan thiếu sự hài hòa, các bộ phận trọng yếu này gầy gò, xương xẩu, không đồng nhất chứng tỏ chỉ số EQ (chỉ số về cảm xúc) thấp. Thông thường những doanh nhân thành đạt, chính trị gia thường có chỉ số này khá cao, đồng nghĩa với việc những đặc điểm ngũ quan hài hòa.

Người có ngũ quan không hài hòa thường rất lí tính, tác phong nhanh nhẹn, thậm chí khi nói còn hay “cướp” lời người khác để thể hiện ta đây là người hiểu biết. Nhưng thực chất bên trong họ rất sợ để cho mọi người thấy sự thiếu tự tin hoặc kém cỏi của bản thân.

4. Lông mày thưa và đứt đoạn

Đa phần người có lông mày thưa thớt lại đứt đoạn sống khá tình cảm, tác phong nhanh nhẹn đàng hoàng và khá ngay thẳng. Tuy nhiên người này chỉ có thể hạ quyết tâm nhất thời, hễ gặp phải khó khăn trở ngại là chùn bước, bỏ cuộc giữa chừng.

Trong cuộc sống hàng ngày, người này tỏ ra mình khá hoàn hảo, luôn phấn đấu không ngừng để thể hiện bản thân. Họ sẵn sàng tranh luận nảy lửa với đối thủ để bảo vệ quan điểm sống của mình. Đôi khi vì thể hiện thái quá khiến mọi người xung quanh cảm thấy khó chịu, ngại tiếp xúc.

5. Miệng rộng để lộ hàm và răng khi nói chuyện


Những người có tướng miệng rộng, khi nói chuyện để lộ hàm và răng, thậm chí nước bọt bắn ra ngoài thường thích thể hiện bản thân, nói nhiều, thậm chí lúc nào cũng ồn ào, nói năng khoác lác nhằm gây sự chú ý của mọi người.

► Xem tướng các bộ phận cơ thể đoán vận mệnh chuẩn xác

Theo Tử vi số mệnh

 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bắt gọn tướng người "thùng rỗng kêu to"

Tam nương là ngày gì mà mọi người đều tránh

Tam nương là ngày gì? Bạn có biết không? Tại sao vào ngày tam nương người ta lại kiêng kỵ không làm những điều quan trọng. Một vài chia sẻ sau đây, chúng ta hãy cùng tìm hiểu nhé.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tam nương là ngày gì? Bạn có biết không? Tại sao vào ngày tam nương người ta lại kiêng kỵ không làm những điều quan trọng. Một vài chia sẻ sau đây của Phong thủy số chúng ta hãy cùng tìm hiểu nhé.

Tam nương là ngày gì mà mọi người đều tránh

1. Tam nương là ngày gì?

Ngày tam nương là ngày sinh và ngày mất của 3 người phụ nữ có vẻ đẹp tuyệt trần, có thể nói là tuyệt sắc giai nhân đó là Đát Kỷ, Bao Tự và Muội Hỉ. Suốt cả cuộc đời  của mình, họ đều là những người được xem là hồng nhan họa thủy bởi đều mang lại sự xui xẻo, không may mắn cho những người xung quanh. Chính 3 cô nương này là nguyên nhân làm sụp đổ ba triều đại ở Trung Quốc đó là triều nhà Hạ, Thương, Tây Chu trước công nguyên.
Tóm lại theo tín ngưỡng dân gian Trung Quốc, ngày tam nương là ngày rất xấu mà mọi người cần tránh.

Xem thêm: Giải mã hiện tượng nháy mắt phải

2. Nguồn gốc ngày tam nương.

Sau khi đã tìm hiểu xem ngày tam nương là ngày gì, chúng ta hãy cùng tìm hiểu rõ hơn xem nguồn gốc của ngày này tại Việt Nam ta.
Theo truyền thuyết ở Việt nam, theo phong tục tập quán của người Việt thì vào những ngày đó Ngọc Hoàng thượng đế sẽ sai 3 cô gái xinh đẹp xuống hạ giới để là mê muội con dân, để thử lòng người, nếu ai gặp phải đều sẽ bỏ bê công việc, đam mê rượu chè tửu sắc.
Theo khoa chiêm tinh, ngày tam nương, nguyệt kỵ là ngày cực kỳ xui xẻo mà mọi người không nên làm bất cứ công việc quan trọng nào. Vì vậy những ngày nào liên quan đến ngày tam nương, mọi người đều cần tránh xa.
Mặc dù những lời nói về ngày tam nương đều mang tính truyền miệng, không có cơ sở khoa học, thiếu bằng chứng xác thực, tuy nhiên ăn sâu vào tâm trí mọi người đều cho rằng, tốt nhất mọi việc vẫn cần có kiêng có lành.

3. Ngày tam nương là ngày nào?

Mỗi khi khởi sự làm chuyện quan trọng như xuất hành, cưới xin, khai trương, mua bán, ký hợp đồng, cất nhà, xây nhà... để tránh chuốc lấy sự thất bại, tránh phải sự không may, những ngày tam nương sau đây, bạn cần tránh xa: đó là các ngày mùng 3 , mùng 7, 13, 18, 22 và ngày 27 trong mỗi tháng âm lịch. Tháng nào cũng có đều đặn 6 ngày tam nương.

4. Những ngày tam nương trong năm 2017

Một điều khá thú vị khác đó là theo lịch, theo người phương tây, họ cũng có những ngày tốt xấu nhất định và thật trùng hợp khi ngày nguyệt kị lại rơi vào đúng ngày tam nương. Có lẽ vì thế mà mọi người càng tin rằng đây là ngày không may mắn.
Trong năm 2017, những ngày tam nương trong các tháng sau đây, hãy cùng lưu ý nhé.
Tính theo dương lịch:
Tháng 1 – ngày tam nương là ngày, 04, 10, 15, 19, 24, 30
Tháng 2 – ngày tam nương là ngày, 03, 09, 14, 18, 23, 28
Tháng 3 – ngày tam nương là ngày, 04, 10, 15, 19, 24, 30
Tháng 4 – ngày tam nương là ngày, 03, 09, 14, 18, 23, 28
Tháng 5 – ngày tam nương là ngày, 02, 08, 13, 17, 22, 28
Tháng 6 – ngày tam nương là ngày, 01, 07, 12, 16, 21, 26, 30
Tháng 7 – ngày tam nương là ngày, 06, 11, 15, 20, 25, 29
Tháng 8 – ngày tam nương là ngày, 04, 09, 13, 18, 24, 28
Tháng 9 – ngày tam nương là ngày, 03, 08, 12, 17, 22, 26
Tháng 10 – ngày tam nương là ngày, 02, 07, 11, 16, 22, 26
Tháng 11 – ngày tam nương là ngày, 01, 06, 10, 15, 20, 24, 30
Tháng 12 – ngày tam nương là ngày, 05, 09, 14, 20, 24, 30

Xem thêm những thông tin hữu ích khác tại thư viện: Phong thủy


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tam nương là ngày gì mà mọi người đều tránh

Bí ẩn bóng ma tóc dài chuyên rượt "ô tô" đi đêm ở Hà Nội

Vừa qua trên mạng xuất hiện clip “Rùng rợn clip gặp ma giữa đêm tại Hà Nội”, được ghi lại bằng camera hành trình của ô tô.
Bí ẩn bóng ma tóc dài chuyên rượt "ô tô" đi đêm ở Hà Nội

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bi an bong ma toc dai chuyen ruot o to di dem o Ha Noi hinh anh
 
Tầm 1h sáng, nhà báo P. đang trên đường chở vợ về nhà thì gặp một “bóng ma” đội mũ xanh, áo trắng, tóc xõa, ướt lút thút, phủ một lớp gì lòa xòa trên thân thể. “Bóng trắng bí ẩn” còn gào thét kinh hoàng và chạy theo xe cả một đoạn dài…

Bóng trắng bí ẩn đi vất vưởng trong đêm   Theo clip, một người đàn ông lái xe ô tô với tốc độ 60km/h trên khu vực đường vắng, giữa đêm khuya ở xã Tứ Hiệp, huyện Thanh Trì, Hà Nội bỗng… gặp “ma”.    Cụ thể, anh ta đang lái xe và rủ rỉ nói chuyện với một người phụ nữ, dường như có cả tiếng trẻ con trong xe (chắc là một gia đình), thì bỗng dưng có bóng dáng “hình như là người” xõa tóc, quần áo rộng và trắng toát… “Bóng trắng” đi chệnh choạng ngược chiều, đi như xiêu đổ vào mũi xe ô tô.    Tiếng người đàn ông lái xe thốt lên, người phụ nữ trong xe thì rú lên sợ hãi. Tiếp theo là tiếng trấn an của người đàn ông, ý rằng nếu để em lái xe và em rú lên thế thì gây tai nạn rồi. Clip trên vừa được “đẩy” lên mạng thì đã nhận được sự quan tâm rất lớn của dư luận.    Có nhiều người còn chia sẻ rằng họ cũng đã nhiều lần nhìn thấy bóng trắng tương tự, vất vưởng đi và nói lảm nhảm, có khi gào khóc ở khu vực đó.    Trước đó một ngày, nhà báo D.P, một người có 20 năm kinh nghiệm làm báo và đang là lãnh đạo một tờ báo ở Hà Nội cũng lái chiếc xe Ford Focus đưa vợ về nhà giữa lúc 1h sáng.    Dọc đường nhựa ven kênh xả khu vực Yên Sở vào xã Yên Mỹ, nhà báo P. cũng gặp “bóng ma” tương tự, cũng áo trắng. Nhưng lần này “bóng ma” còn gào thét kinh hoàng và chạy theo xe cả một đoạn dài. Anh P. cùng vợ đã rất hoảng hốt và vào trụ sở Công an xã Yên Mỹ để trình báo.    Công an sở tại đã xác nhận với PV chuyện này và kể rằng, họ còn cùng anh P. đi ra hiện trường.   Đâu là sự thật về “bóng ma” sinh động, rõ ràng, cụ thể với cả video kèm theo đó? Trên mạng có hai luồng dư luận: Có thể ai đó bịa ra để câu like (lượt thích)? Có thể là bóng ma thật sự hay một cái gì đó dễ làm người ta liên tưởng đến ma tà?    Nhiều trang mạng đặt vấn đề: Hay bóng trắng lay động lao về phía ô tô trong clip kia chỉ là một tấm bìa các-tông trắng mà ai đó vô tình dựng lên rồi “rơi vào tầm ghi hình của ô tô” lúc đêm khuya thanh vắng?    Việc này khó xảy ra, vì “bóng trắng” bước đi rất sinh động, lao vào đầu xe, phản ứng của người trong xe cũng rất thực tế, từng cung bậc, người lái xe rất bản lĩnh, không có chuyện “thần hồn nát thần tính”.    Liệu có việc bịa tạc của những người thích đùa? Không. Vì theo các thông tin trên mạng, người đàn ông lái xe và ghi hình ma bằng camera hành trình tên là T.X.Q. Anh Q. không lý giải clip của mình theo hướng ma tà, mà anh nhận định cái “bóng trắng” đi “thất tha thất thểu, quần áo trắng tinh, đi vất vưởng giữa đường” (từ ngữ nguyên văn) kia có thể là một người đang sống. Anh tỏ ra hoang mang rồi đoán rằng, nếu là người thì người này đầu óc không bình thường.    Còn anh P. thì là một nhà báo nghiêm túc, có uy tín trong xã hội, từng đoạt nhiều giải thưởng chữ nghĩa. Thậm chí “hồ sơ” về việc anh báo công an đã được Công an xã Yên Mỹ xác nhận với chúng tôi hẳn hoi. Danh sách cuộc gọi và các bức ảnh “ma” mà anh chụp vẫn còn đó.    Nhà báo P. còn kể thêm: Hôm ấy, “bóng ma” kia đội mũ xanh, áo trắng, tóc xõa, ướt lút thút, phủ một lớp gì lòa xòa trên thân thể (như cái áo mưa giấy rẻ tiền). “Bóng trắng bí ẩn” chạy theo xe ô tô gào khóc, anh P. còn kéo kính xe xuống nhìn và nghe rõ tiếng kêu thảm thiết.    Sau khi vợ anh sợ hãi “nằm bò” ra trụ sở xã khóc rồi run lẩy bẩy báo cáo tình hình “gặp ma”, anh đã gọi điện về cho người giúp việc vào lúc 1h sáng để hỏi tin tức các con nhỏ của mình. Anh không tin trên đời lại có ma, nhưng anh sợ “bóng trắng” ấy đến nhà mình thì các cháu sẽ sợ chết khiếp, bị ám ảnh suốt đời.   Thật bất ngờ, người giúp việc đã ở với nhà anh hơn 10 năm, qua điện thoại cũng kể rằng, “bóng trắng” như là ma tà cũng đến gõ cửa, ngồi dí dị ở cổng nhà anh P. trong mưa gió và rên rỉ.    Nhà báo P. chia sẻ: “Tôi vẫn không nghĩ họ là ma. Nhưng nếu họ là người thì quá nguy hiểm. Vì mưa gió, họ đi trên kênh mương nước đầy ắp thế kia. Họ xiêu vẹo khóc lóc thế kia. Nhỡ họ rơi xuống nước chết, nhỡ xe cộ tông chết, nhỡ họ là người tâm thần họ tự giết họ hoặc giết người khác thì sao?    Tôi đi báo công an vì muốn cứu con người tội nghiệp đó. Đấy là tôi phỏng đoán thế. Tôi cũng muốn cùng các đồng chí cán bộ đi làm rõ xem cái mà tôi đã chụp, đã nghe tận tai, nhìn tận mắt, và đã bỏ chạy vì tiếng vợ tôi ôm đầu rú lên kinh khiếp kia là… cái gì!”.
Bi an bong ma toc dai chuyen ruot o to di dem o Ha Noi hinh anh 2
 
  Sự thật buốt lòng về người đàn bà xõa tóc, mặc quần áo trắng   Qua nhiều nguồn xác minh, theo dõi tài liệu trên mạng, qua các cuộc phỏng vấn trực tiếp, nhận thấy vấn đề có thể sẽ không phải là thứ ma tà gì, chúng tôi quyết định trở lại xã Yên Mỹ để tìm hiểu chỗ ngọn nguồn.   Thứ nhất, khu vực Tứ Hiệp mà như clip anh T.X.Q. tải lên, vào buổi tối rất vắng, đường ngoài thực địa trùng khớp với video thể hiện. Khu vực anh P. gặp “ma” còn vắng hơn, ban ngày cũng ít bóng người chứ đừng nói lúc 0 - 1h đầy mưa gió.    Thứ hai, bóng trắng mà họ miêu tả trùng khít về hình dáng và hành vi với nhau. Chỉ có điều anh P. bị “bóng trắng” đuổi theo và gào thét nhiều hơn. Như anh P. nói là:“Bóng trắng” gào nhiều đến mức tôi chột dạ. Hay họ đang khóc cho một người vừa chết, nói dại, có thể trong đêm mưa mịt mù con họ vừa bị xe nào đó tông chết thì sao? Họ chạy theo xe tôi để tố cáo thì sao? Vì thế, tôi đã vào mời trực ban công an quay lại hiện trường”.   Theo quan sát của chúng tôi, khu vực anh P. gặp “ma” ở ven sông, bên ngoài đê. Còn khu vực anh Q. gặp “bóng trắng” là phía trong đê, gần quốc lộ 1A cũ.    Ngày 31/5/2016, PV đã trao đổi với một đồng chí cán bộ công an xã Yên Mỹ, người trực tiếp cùng nhà báo P. đi xác minh về “bóng trắng sởn tóc gáy” kia.   Vị cán bộ này kể: “Chúng tôi đã ra đoạn đường vắng đó ngay trong đêm mưa. Hóa ra cái “bóng trắng” là một người phụ nữ mặc quần áo trắng. Vì người này đi trong đêm khuya với hình dáng đó nên nhiều người tưởng là “ma”.    Đêm ấy, ban công an chúng tôi cũng đã nhận tin báo về người này. Chúng tôi xác minh thì cô ấy là Nguyễn Thị Xuân Thương, 35 tuổi, con ông Nguyễn Đức Thạch (SN 1954) ở xóm 8, Yên Mỹ. Ông Thạch này vợ mất lâu rồi, ông có 3 người con, con trai cả cũng hơi chậm chạp, cô này là con thứ 2.    Nguyễn Thị Xuân Thương từng có chồng, sau vì có vấn đề về sức khỏe tâm thần nên cô ấy đã quay về nhà mình ở gần trạm xá xã Yên Mỹ sống. Khoảng 2-3 năm gần đây, cô ấy hay bỏ nhà đi lang thang, tóc dài để xõa, lại mặc quần áo trắng, khóc cười nhiều khi không kiểm soát được.    Cô ấy cũng hay ngồi ở cổng nhà khác “chơi”, khiến nhiều người tưởng ma đến nhà. Công an xã đã phải đến tận nơi, 'khuyên giải' bảo cô ấy đi về nhà”.   Đồng chí công an xã cũng xác nhận Nguyễn Thị Xuân Thương rất hay hét lên trong đêm, mặc quần áo trắng toát, tóc dài xõa ra nên khiến rất nhiều người sợ hãi.    “Sau hôm nhà báo P. báo công an, chúng tôi cũng có xem trên mạng cái clip xôn xao kia (ý nói clip mà ô tô của anh T.X.Q. đã ghi). Chúng tôi nhận ra, chính cô này là 'nhân vật ma' trong clip”, vị cán bộ nói.   Cũng trong ngày 31/5/2016, PV đã mua một gói quà nhỏ đến thăm hỏi gia đình ông Thạch, bố của người phụ nữ bị gọi là “bóng ma trong đêm Hà Nội”.    Và cuộc đời đau khổ cũng như hành trình “Xúy Vân ngây dại” trong đêm hoang vắng của Xuân Thương là cả một câu chuyện dài, xót xa.  
► Đọc thêm: Chuyện tâm linh huyền bí bốn phương có thật

(Còn nữa)
  Theo SKCD
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bí ẩn bóng ma tóc dài chuyên rượt "ô tô" đi đêm ở Hà Nội

Phong thủy thiết kế tủ quầy hàng

Tủ quầy là nơi trưng bày các sản phẩm của cửa hàng. Nó cũng được xem là một trong những yếu tố thu hút khách hàng.
Phong thủy thiết kế tủ quầy hàng

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Vì thế, việc thiết kế tủ quầy sao cho bắt mắt lại hợp phong thủy là yêu cầu quan trọng.


Sau đây là một số gợi ý để bạn có thể tham khảo:

Thiết kế tủ quầy hàng theo phong thủy sẽ mang lại may mắn cho cửa hàng

- Quy mô thiết kế tủ quầy phải tương ứng với tổng thể cửa hàng, không để ảnh hưởng đến việc tạo hình bên ngoài.

- Chiều cao của tủ quầy phải vừa với tầm mắt của khách hàng. Như vậy, khách có thể tận mắt nhìn thấy những sản phẩm bày trong tủ quầy.

- Tủ quầy cần đảm bảo yếu tố: chống các sát khí do thời tiết mang lại (ánh nắng, nóng, gió, bụi), chống trộm...

- Những sản phẩm trưng bày trong tủ quầy phải luôn có sẵn trong cửa hàng. Không những thế, nó còn là mặt hàng bán chạy. Các sản phẩm tiêu thụ mang tính mùa vụ cần được trưng bày trước mùa bán chạy khoảng 1 tháng. Như vậy sẽ có tác dụng tuyên truyền quảng cáo để hút khách.

- Số lượng mặt hàng bày tủ quầy vừa phải sao cho khách hàng có thể nhìn thấy được toàn diện từ mọi góc độ. Những sản phẩm kinh doanh đặc sắc nên bày ở vị trí dễ thu hút người qua lại.

- Khi bày hàng, chủ kinh doanh cần chọn chủ đề cụ thể, phân loại và hệ thống sản phẩm để khách dễ dàng quan sát và lựa chọn. Tránh bày la liệt các mặt hàng. Vì như vậy sẽ khiến người mua rối mắt, khó tập trung và mất nhiều thời gian tìm kiếm.

- Thay đổi hình thức trưng bày, chú ý đến chất lượng sử dụng của sản phẩm theo thời gian định kỳ sẽ lại càng hút khách và mang lại hiệu quả kinh doanh cho cửa hàng.

- Tủ quầy nên thường xuyên được dọn dẹp, làm vệ sinh để đảm bảo chất lượng sản phẩm cũng như mỹ quan.

(Theo Phong thủy cửa hàng kinh doanh)

 

 

 


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phong thủy thiết kế tủ quầy hàng

Top 3 con giáp lận đận khi lập nghiệp

Có những con giáp gặp nhiều khó khăn hơn các con giáp khác trên con đường lập nghiệp.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Con đường lập nghiệp rất gian nan, người không có nghị lực và đầu óc sẽ không bao giờ có thể bước tới thành công. Nhưng chỉ dựa vào những điều đó còn chưa đủ, còn phải hội tụ đủ các yếu tố bên ngoài như thiên thời, địa lợi, nhân hòa, bởi vì những nhân tố này vô cùng quan trọng trong con đường lập nghiệp.

Cùng xem con giáp nào gặp nhiều khó khăn nhất trên con đường lập nghiệp.

1. Tuổi Hổ

 top 3 con giap lan dan khi lap nghiep - 1

Những người tuổi Hổ có tính cách rộng rãi, nhiệt tình, mặc dù có ý chí kiên cường nhưng nếu để một mình họ làm thì không ổn. Bởi vì những người tuổi Hổ quá ngây thơ, đồng thời cũng không đủ trưởng thành. Giống như một đứa trẻ lớn đầu, nếu như không có người chỉ bảo cẩn thận, tỉ lệ bị mắc lừa và thua thiệt của người tuổi Hổ sẽ vô cùng cao. Do vậy, đối với những người tuổi Hổ mà nói, họ cần một người thông minh, trưởng thành giúp đỡ thì mới có khả năng thành công.

2. Tuổi Chó

 top 3 con giap lan dan khi lap nghiep - 2

Người ta làm ăn kinh doanh là để kiếm tiền, nhưng những người tuổi Chó lại kinh doanh cho có vẻ. Mặc dù họ có khát vọng, nhưng lại thường xuyên ném đi số tiền mà mình vừa kiếm được. Do vậy, những người tuổi Chó sẽ khiến cho sự nghiệp cho mình nhanh chóng tụt dốc. Tuy nhiên họ lại là người không chịu thua, chỉ cần có sức mạnh là họ lại vực dậy. Tuy nhiên, dù sao con đường lập nghiệp của họ cũng gặp quá nhiều sóng gió.

3. Tuổi Trâu

 top 3 con giap lan dan khi lap nghiep - 3

Những người tuổi Trâu vốn thật thà, nên con đường kinh doanh đã định trước là không dễ dàng. Người không biết lươn lẹo như họ chỉ có thể dựa vào cần cù, chịu khó chịu khổ để lập nghiệp. Tuy nhiên, con đường tới thành công không chỉ cần những thứ ấy, mà còn cần tới đầu óc, mánh khóe và quan hệ. Cho nên khi những người tuổi Trâu làm ăn, chỉ cần gặp chút biến cố ngoài ý muốn, việc kinh doanh của bọn họ sẽ nhanh chóng tụt dốc.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Top 3 con giáp lận đận khi lập nghiệp

Xem tướng Ấn Đường |

Ấn đường (khoảng cách hai đầu lông mày) là điểm quan trọng nhất trên khuôn mặt của cả hai giới. Ấn đường nằm khoảng giữa của hai lông mày, nó còn được gọi là Cung Mệnh. Ấn Đường là bộ vị nằm giữa hai đầu lông mày và là nơi tiếp giáp với phần trán, bi
Xem tướng Ấn Đường |

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tướng Ấn Đường |

Tứ Hóa Lộc-Quyền-Khoa-Kỵ

Định nghĩa chữ HÓA Lộc Quyền Khoa Kỵ đều có chữ HÓA ở trước. Hóa là chuyển biến, chuyển động, chuyển hóa. Cho nên Tứ hóa không thể xem là một tinh diệu và tứ hóa chỉ là hiện tượng biến hóa. Tỉ dụ, Liêm Trinh đứng với Hóa Lộc, làm Hóa Lộc có thể làm biến hóa khí chất của Liêm Trinh.
Tứ Hóa Lộc-Quyền-Khoa-Kỵ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Cũng như năng lượng mặt trời ra 4 mùa xuân hạ thu đông. Tứ hóa lấy thứ tự xuân hạ thu đông vì vậy chúng đi theo thứ tự Lộc – Quyền – Khoa – Kỵ, không thể đặt lộn Kị Khoa Quyền Lộc.

Luận về Hóa Lộc

Hóa Lộc thuộc Mộc ví như mùa xuân hướng ra bốn phía mà phát triển. Xuân là mùa sinh sôi nảy nở, vậy thì Hóa Lộc tương trưng mùa xuân cũng sinh sôi nảy nở.

Xuân tượng vạn vật đều phát triển, mọi sự tốt tươi nên Hóa Lộc cũng mang tính hài hòa, tiêu đi những tranh chấp, chế hóa tai nạn.

Sách viết: “Hóa lộc, thực lộc bất khuyết, phát triển thuận lợi” vậy nên đặc tính cơ bản của Hóa Lộc là phát triển. Người Hóa Lộc ko nhất định là thông tuệ chỉ có khả năng hài hòa phát triển cũng không nhất định là người tài hoa.

Luận về Hóa Quyền

Hóa quyền thuộc Hỏa đới Thổ, ví như mùa hè, như lửa bốc, tính chất mãnh liệt. Mùa hè ngũ hành thuộc Hỏa, vạn vật đến hè thì xanh tốt vinh vượng.

Mùa xuân mới chỉ là mầm mống, nếu không đủ sức sống tất nhiên bị đào thải, còn tồn tại tức là sức mạnh. Bởi thế, Hóa quyền chủ về tự tín và làm việc đắc lực. làm việc đắc lực đi đôi với vất vả gian khổ cho nên Hóa quyền cũng tượng trưng cho vất vả chiến đấu. Ngoài ra, đôi khi Hóa quyền trở thành tự phụ vì tự tín tâm quá cao.

Mùa hè nắng chói chang, quang minh do đó tính tình Hóa quyền chính trực. Hỏa chủ Lễ cho nên Hóa quyền khi đối xử tỏ ra lịch lãm, khuôn phép tuy nhiên cũng lại dễ xung động.

Luận về Hóa khoa

Hóa khoa thuộc Kim, mùa thu là mùa của thâu liễm với ý nghĩa nội liễm hàm súc mang ý vị văn chương và trí tuệ, tài hoa tiềm ẩn mà ko lộ, bởi vậy nên tâm cơ không gian trá.

Hóa khoa tượng thu Kim trong ngũ thường là chữ Nghĩa. Bởi vậy, người có Hóa Khoa thường liêm khiết, một lòng một dạ, khuynh hướng bảo thủ nên ít khi hoạnh phá, nhưng được kính nể.

Luận về sao Hóa kị

Hóa Kị trong ngũ hành là Thủy, tượng về sự tuyệt diệt của vạn vật trong thời kỳ phải ẩn tàng. Hóa kị ví như mùa đông, bề ngoài cây cối trơ trụi nhưng bên trong là sức sống mãnh liệt để tạo biến đổi, thay thế đợi mùa xuân tới bung ra. Hóa kị là lúc phải chịu sự thanh toán triệt để, thoát thai hoán cốt. Vì phải biến hóa nên thông minh linh xảo.

Mùa đông ngũ hành thuộc thủy. Thủy chủ về trí tuệ. Mùa đông chủ về ẩn tàng. Trí tuệ mà ẩn tàng thì ý nghĩ khó đoán ra, bởi vậy người Hóa kị thường hay mưu mô, đôi lúc gian trá, đầu óc quyền biến vô thường. Thủy chủ động nên thường xuyên xoay chuyển, xoay chuyển quá độ thành ra bội phản.

Tác động của Tứ Hóa

Tứ Hóa tác dụng rất lớn đối với các chủ tinh đến mức có thể làm biến đổi luôn tính chất của chủ tinh mà chúng đứng cùng. Thái dương đi với Hóa Quyền khác hẳn Thái dương đứng với Hóa Khoa hay Hóa Lộc. Trên lá số có Tứ Hóa cố định.

Nhưng tiểu hạn mỗi năm cũng phải tính cả ảnh hưởng phụ của Tứ Hóa do hàng can của năm tiểu hạn. Như vậy, người Trung Quốc cũng tính luôn cả lưu Tứ Hóa.

Hóa Lộc trong tử vi khoa kể như một sao trọng yếu về tiền bạc dù nó đứng với sao nào thì tính chất tài lộc vẫn thế, chỉ thay đổi theo mức độ hơn kém nhiều ít.

Sao tiền bạc còn có Lộc Tồn nữa, được Lộc Tồn thành ra “Điệp Lộc” hay “Song Lộc”, tiền bạc thêm sức lưu thông để phấn phát, nếu chỉ Hóa Lộc không thôi thì chỉ là tích súc.

Hóa Quyền mang tính chất quyền lực, quyền lực ưa đi đôi với địa vị, có địa vị rồi mới có quyền lực. Địa vị ở đây xin đừng hiểu đơn thuần như chức vị.

Hóa Quyền ở đại hạn, hay Hóa Quyền ở tiểu hạn, hay Hóa Quyền ở mệnh cung mà được thêm Hóa Quyền lưu thêm tiểu hạn càng tốt.

Hóa Quyền ngoài tính chất quyền lực còn có tác dụng gây chí phấn đấu, tạo tính tích cực và tính ổn định. Tỉ dụ, Thiên Cơ vốn là sao hiếu động không ổn định nhưng một khi gặp Hóa Quyền thì tình trạng động trên giảm hẳn thành ra linh hoạt phát huy với kế hoạch rõ ràng.

Hóa Quyền cũng mang đến khả năng quản lý vững chắc. Hóa Quyền hợp với Hóa Lộc, Hóa Khoa. Hóa Quyền đứng với Hóa Kị dễ bị chiêu oán ganh ghét.

Trường hợp có thêm những sao khác để biến ra quyền uy tuyệt đối dù kẻ ganh ghét oán hận cũng chẳng làm gì được lại khác.

Hóa Khoa cơ bản tính chất là danh dự và tham vọng. Vì thế Hóa Khoa cần Văn Xương Văn Khúc để thành cái thế “Khoa danh đồng hội” bảng vàng ghi tên, nhất là đối với xã hội ưa chuộng khoa bảng.

Còn xã hội thương nghiệp thì Thái Âm Hóa Khoa hay Vũ Khúc Hóa Khoa hay Thiên Phủ Hóa Khoa cũng tạo nên thanh vọng. Xã hội thương nghiệp, những tài tinh Vũ Khúc, Thái Âm, Thiên Phủ đứng bên Hoá Khoa đẹp hơn Xương Khúc.

Hóa Khoa ở một vị thế nào đó hoặc một sự kết hợp với các sao khác có thể chỉ là hư danh và tự mãn thôi. Hóa Kị trong tử vi khoa tính chất rất phức tạp, Hóa kị có 2 mặt tốt và xấu rõ rệt và khi tác dụng cũng ác liệt. Tỉ dụ Thái Dương dễ gây tiếng tăm, nổi đình nổi đám nhưng đứng với Hóa Kị thì sự ganh ghét đố kị cũng thật ghê gớm.

Nguồn Tử vi


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tứ Hóa Lộc-Quyền-Khoa-Kỵ

4 chòm sao che giấu cô đơn bằng sự bất cần

Nội tâm cô đơn nhưng che giấu bằng vẻ ngoài bất cần, tự tin hưởng thụ cuộc sống độc thân chính là cách mà 4 chòm sao nhạy cảm dưới đây dùng để bảo vệ bản thân
4 chòm sao che giấu cô đơn bằng sự bất cần

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nội tâm cô đơn nhưng che giấu bằng vẻ ngoài bất cần, tự tin hưởng thụ cuộc sống độc thân chính là cách mà 4 chòm sao nhạy cảm dưới đây dùng để bảo vệ bản thân mình, từ chối nói tới chuyện yêu đương.

 
4 chom sao che giau co don bang su bat can hinh anh 2
 
Song Tử    Song Tử bề ngoài rất phong lưu, ở giữa các cô gái có vẻ rất thu hút nhưng nội tâm lại cô độc. Người ngoài đều nói họ đào hoa, chắc chắn dễ dàng tìm thấy tình yêu nhưng thực ra, đó chỉ là cách mà chòm sao nhạy cảm này dùng để che giấu nội tâm cô độc. Cố gắng bận rộn, cố gắng tỏ ra thoải mái, trêu hoa ghẹo nguyệt nhưng một người tri kỉ cũng không có.   Kim Ngưu   Kim Ngưu tính cách chân thật nên trong chuyện tình cảm cũng đối đãi bằng tâm thế như vậy. Họ cho rằng, hai người nam nữ phải có tình cảm bồi đắp, yêu thương và thấu hiểu nhau rồi mới tiến tới hôn nhân. Nếu vì bị thúc giục mà kết hôn thì thật sai lầm. Vì thế, nếu chưa gặp đúng người thì chưa mở lòng, dù cảm thấy cô đơn đến đâu cũng tỏ vẻ lạnh lùng, xa lánh các cô gái, coi như không có hứng thú với việc yêu đương. 
Avatar cực chất, cực lạ dành riêng cho 12 sao nữ Top 4 chòm sao có bạn bè khắp nơi 4 cô nàng hoàng đạo hiền nhưng không dễ bắt nạt
Nhân Mã   Nhân Mã là chòm sao đào hoa, thường nói nói cười cười nhưng nội tâm lại rất cô đơn. Nếu cuộc sống gặp nhiều áp lực, tình cảm có khúc mắc, công việc không thuận lợi thì khẳng định là Mã Mã sẽ không tự nguyện chia sẻ, giãi bày cùng người khác mà cứ cố tỏ ra thoải mái, tán tỉnh để cho vơi đi nỗi lòng. Trêu chọc người khác là để người ta quan tâm, để ý tới mình, Mã Mã thật là ngốc.  
4 chom sao che giau co don bang su bat can hinh anh 2
 
Thủy Bình
  Khi cô đơn Thủy Bình nhớ tới ai? Người cũ. Mỗi khi trong lòng không thoải mái, Thủy Bình thường nhớ tới mối tình đầu, hoài niệm lại những quá khứ ngọt ngào, đẹp đẽ. Nhưng chòm sao tự tin này tuyệt đối không dám để lộ lòng mình, lấy vẻ ngoài hưởng thụ độc thân để che giấu, buộc bản thân và những người xung quanh tin rằng mình đang rất ổn, cố gắng vượt qua nỗi buồn.
► Xem thêm: Bí mật 12 cung hoàng đạo cùng những tin tức Horoscope được cập nhật mới nhất

Trình Trình

 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 4 chòm sao che giấu cô đơn bằng sự bất cần

Quẻ Quan Âm Bàng Quyên Quan Trận

Đây là điển cố thứ Mười trong quẻ Quan Âm, mang tên Bàng Quyên Quan Trận (còn gọi là quẻ Bàng Quyên Xem Trận)
Quẻ Quan Âm Bàng Quyên Quan Trận

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đây là điển cố thứ Mười trong quẻ Quan Âm, mang tên Bàng Quyên Quan Trận (còn gọi là quẻ Bàng Quyên Xem Trận). Quẻ Quan Âm Bàng Quyên Quan Trận có bắt nguồn như sau:

Ngụy Huệ Vương học theo Tần Hiếu Công, muốn tìm một nhân tài giống như Thương Ưởng. Bàng Quyên bèn đến cầu kiến Ngụy Huệ Vương, tâu với Ngụy Huệ Vương về đạo lý nước giàu binh mạnh, Ngụy Huệ Vương nghe xong rất vui mừng, bèn bái Bàng Quyên làm đại tướng. Trước tiên, Bàng Quyên ra tay từ những nước nhỏ lân cận, thắng liền mấy trận, sau đó, đánh bại cả nước lớn là nước Tề. Ngụy Huệ Vương lại càng thêm tín nhiệm Bàng Quyên.

Sau đó Ngụy Huệ Vương nghe thấy danh tiếng của Tôn Tẩn, biết Tôn Tẩn là hậu duệ của đại tướng nước Ngô là Tôn Vũ, có bộ “Tôn Tử binh pháp” do tố tiên truyền lại, bèn nói với Bàng Quyên ý muốn trọng dụng Tôn Tấn. Bàng Quyên trong lòng đố kị, bèn giả vờ mời Tôn Tấn đến nước Ngụy cùng làm việc với mình, rồi bày ra cạm bẫy, trước mặt Ngụy Huệ Vương đã vu cho Tôn Tẩn tư thông với nước Tề. Ngụy Huệ Vương vô cùng giận dữ, lập tức khép tội Tôn Tẩn, khoét bỏ hai xương bánh chè, khiến Tôn Tẩn vĩnh viễn thành người tàn phế. Sau đó sứ giả của nước Tề đến kinh đô của nước Ngụy là Đại Lương (nay ở phía tây bắc của thành phố Khai Phong, tỉnh Hà Nam), lập kế hoạch ngầm đưa Tôn Tẩn về nước Tề. Tướng quân Điền Kỵ của nước Tề vốn từ lâu đã ngưỡng mộ tài danh của Tôn Tẩn, nên đã tiến cử với Tề Uy Vương. Tề Uy Vương bèn bàn luận với Tôn Tẩn về binh pháp, sau đó phong Tôn Tẩn làm quân sư.

Vào năm 341 trước Công nguyên, Ngụy Huệ Vương sai Bàng Quyên liên kết với nước Triệu dẫn quân đánh nước Hàn, bao vây kinh đô của nước Hàn là Tân Trịnh. Vệ Chiêu Hầu cầu cứu nước Tề. Nước Tề phong Điền Kỵ, Điền Anh, Điền Phán làm tướng, Tôn Tẩn là quân sư, chỉ huy quân đội tiến vào đất Ngụy. Bàng Quyên nghe tin, liền bỏ Hàn mà trở về. Ngụy Huệ Vương rất giận nước Tề đã can dự vào đại sự của nước mình, bèn dốc đại binh đón đánh quân Tề, vẫn dùng Bàng Quyên làm tướng, thái tử Thân làm thượng tướng quân, đi theo quân đội tham gia chỉ huy, thề quyết chiến với quân Tề.

Tôn Tẩn thấy quân Ngụy khí thế hung hãn, bèn quyết định dùng kế sách “dục cầm cố túng” (muốn bắt nên thả), dụ Bàng Quyên cắn câu. Tôn Tẩn nói với Điền Kỵ rằng: “Thế lực của quân đội tam Tấn (ba nước Ngụy, Triệu, Hàn) rất hung hãn, xưa nay đều coi thường quân Tề, quân Tề chúng ta hãy ra vẻ yếu ớt để thuận theo thời thế là tốt nhất”. Điền Kỵ nghe theo, lệnh cho quân Tề tiến vào trong lãnh thố của nước Ngụy. Ngày đầu tiên đóng trại, đế lại vết tích số lượng bếp nấu của mười vạn quân, ngày thứ hai giảm xuống còn lại số lượng bếp của năm vạn quân, ngày thứ ba lại tiếp tục giảm xuống còn số lượng bếp của ba vạn quân.

Bàng Quyên quan sát quân Tề ba ngày, thấy số lượng bếp nấu của quân Tề ngày càng giảm xuống, thì hết sức vui mừng, đế lại bộ binh ở phía sau từ từ hành quân, còn tự mình thống lĩnh độl quân tinh nhuệ, trang bị nhẹ đuối gấp theo quân Tề.

Tôn Tẩn suy đoán rằng, đến lúc hoàng hôn, Bàng Quyên chắc chắn sẽ đuối đến Mã Lăng (nay ở phía đông nan huyện Đại Danh, tỉnh Hà Bắc). Vùng đất này đường sá nhỏ hẹp, địa thế hiếm trở kẹp giữa hai núi, có thế mai phục, bèn chặt một cây gỗ lớn, cạo sạch vỏ, viết lên đó dòng chữ “Bàng Quyên sẽ chết dưới cây này”. Lại lệnh cho những quân sĩ giỏi bắn tên mai phục ở bên đường, và dặn dò binh sĩ rằng: “Nếu thấy ánh lửa thì đồng loạt bắn tên”.

Quả nhiên, vào lúc sẩm tối, Bàng Quyên thống lĩnh quân Ngụy đuối đến trước cây gỗ lớn, thấy có dòng chữ, bèn cao hứng đốt đuốc sol đế đọc. Bất ngờ hai bên đường, hàng vạn mũl tên đồng loạt bắn ra, tên bắn như mưa, quân Ngụy rối loạn, chết và bị thương la liệt, Bàng Quyên cũng bị trọng thương. Bàng Quyên tự biết vận nguy khó thoát, lớn tiếng than rằng: “Một lần không thận trọng, đã giúp tên nhãi ranh ấy được thành danh!” Nói rồi rút kiếm tự vẫn.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Quẻ Quan Âm Bàng Quyên Quan Trận

Lỗi phong thủy phòng ngủ tử hình hôn nhân

Lỗi phong thủy phòng ngủ hay mắc phải là gì, cùng đi tìm hiểu nhé!
Lỗi phong thủy phòng ngủ tử hình hôn nhân

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

- Trong phong thủy, phòng ngủ được coi là nơi chứa đựng nhiều năng lượng của tình yêu nhất. Phạm những lỗi phong thủy phòng ngủ dưới đây coi như bạn đã tự tay lập sẵn “án tử hình” cho tình yêu, hôn nhân của mình.


1. Treo gương trong phòng ngủ


Gương có tác dụng phản chiếu sự vật. Đặt gương trong phòng là một trong những lỗi phong thủy thường gặp. Nó sẽ khiến tâm lí bị xáo trộn, khó có giấc ngủ ngon. Hơn thế, bạn khó gặp được may mắn và thuận lợi trong hôn nhân nếu giường ngủ đặt đối diện với gương. Cách bố trí này còn dẫn đến tình trạng có người thứ 3 xen ngang phá hoại hôn nhân, nguy cơ đổ vỡ cao.

Do đó, tốt nhất bạn không nên treo gương trong phòng ngủ. Nếu vẫn muốn duy trì sở thích này, nên treo gương ở vị trí không đối diện giường ngủ và dùng màn che nó lại.

2. Bài trí cây xanh hay suối nước trong phòng ngủ

Đài phun nước, hoa tươi hay cây xanh đều là những thứ không nên có trong phòng ngủ. Theo phong thủy, cây xanh thường sản sinh nhiều dương khí, trong khi giấc ngủ lại cần nhiều năng lượng của khí âm hơn, vậy nên nó sẽ làm nhiễu loạn giấc ngủ của bạn.

Loi phong thuy phong ngu tu hinh hon nhan hinh anh
 
3. Treo hình gia đình trong phòng ngủ


Phòng ngủ là nơi riêng tư dành cho vợ chồng. Do vậy, nên tránh đặt hoặc treo những tấm hình về gia đình, con cái, bạn bè nơi đây kẻo sẽ bị cảm giác bị làm phiền, cảm xúc vợ chồng khó thăng hoa. Đây cũng là lỗi phong thủy phòng ngủ thường gặp.

Trong trường hợp vẫn muốn treo ảnh gia đình, bạn nên chọn vị trí không nên đối diện với giường ngủ.

4. Làm việc hay tập thể dục trong phòng ngủ

Đừng bao giờ đặt bàn làm việc hay máy tính trong phòng ngủ cho dù bạn không phòng riêng chứa chúng. Nên nhớ rằng, phòng ngủ là nơi để nghỉ ngơi, thư giãn, chứa nhiều năng lượng âm còn phòng làm việc nên có nhiều dương khí.

Nếu không có nơi nào khác trong nhà có thể bố trí bàn làm việc ngoài phòng ngủ, khi sắp xếp, hãy đảm bảo đặt chúng xa giường để bạn không thể trông thấy.

Đối với các thiết bị tập luyện thể thao cũng vậy. Đừng nhét chúng dưới gầm giường vì nguồn dương khí mạnh (máy móc vận động) sẽ làm ảnh hưởng tới giấc ngủ của bạn.

Loi phong thuy phong ngu tu hinh hon nhan hinh anh 2
 
5. Treo tranh ảnh thể hiện sự cô đơn, buồn phiền


Tránh đặt những bức tranh ảnh hay các vật phẩm gợi nên nỗi buồn, sự cô đơn như bức ảnh cơn bão, hình ảnh hoa tàn, quang cảnh mùa đông hoang vắng hay một người cô đơn…

Ngoài ra, không nên có bất cứ thứ gì lạnh lẽo trong phòng ngủ cả về nghĩa bóng lẫn nghĩa đen. Ví dụ như: tủ lạnh, bình nước nóng lạnh… Nếu không tránh được điều này, hãy làm ấm không gian phòng ngủ bằng những tấm thảm đỏ, dán hình ảnh ngọn lửa cháy hay cặp đôi lãng mạn trên những thiết bị này.

6. Đặt nhiều đồ đơn lẻ, không có đôi có cặp


Phong thủy phòng ngủ kiêng kị đặt những đồ vật đơn lẻ. Ví dụ như đèn hoặc nến trang trí... Mọi thứ cần có đôi có cặp mới dễ hút vận đào hoa, tình yêu mới đơm hoa kết trái.

Loi phong thuy phong ngu tu hinh hon nhan hinh anh 3
 
7. Phòng ngủ bừa bộn


Nếu muốn tìm kiếm tình yêu đích thực hay cảm xúc thăng hoa trong hôn nhân, bạn nên bắt đầu bằng việc dọn dẹp sạch sẽ phòng ngủ, vứt bỏ tất cả các vật dụng không cần thiết.

Nếu còn độc thân, bạn nên vứt bỏ mọi thứ liên quan đến tình cũ. Như vậy bạn mới có thể toàn tâm, sẵn sàng kiếm tìm mối quan hệ mới.

“Phát sốt” với tiền lì xì cực độc dành riêng cho Tết Bính Thân
– Hàng loạt những tờ tiền lì xì độc đáo với hình con Khỉ, linh vật phong thủy hay số serie tứ quý 8... đã được bung ra thị trường nhằm phục
8. Thiếu màu sắc và các biểu tượng của tình yêu


Hồng được coi là màu sắc của sự lãng mạn, biểu trưng cho tình yêu lứa đôi. Vì vậy, bạn có thể sử dụng màu gam màu này để trang trí cho phòng ngủ của mình. Đó có thể là những hình trái tim, sơn tường, thảm trải nhà… Ngoài ra, bạn cũng có thể phối kết hợp khéo léo màu trắng và đỏ trong trang trí phòng ngủ để tình yêu được thăng hoa.

Ngoài ra, bạn có thể đặt những biểu tượng tình yêu như: tượng thần tình yêu, cặp trái tim, đôi uyên ương, bức ảnh về cặp đôi yêu nhau... Đặc biệt là những thứ có đôi có cặp như: cặp nến hồng, hai ly rượu vang, hai chiếc gối, đôi ghế ngồi...

Giang Nguyễn

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Lỗi phong thủy phòng ngủ tử hình hôn nhân

Một số lời nói hay của nhà Phật

Lời nói thứ nhất: Của cải lớn nhất của đời người là sức khỏe Câu nói này mặc dù ai cũng biết, nhưng thực sự lĩnh ngộ được không phải là chuyện dễ. Xin hãy thử xem người xưa, người nay, người trong nước, người nước ngoài, đã mấy người thoát khỏi vòng mê hoặc, dụ dỗ của danh của lợi... Những người ấy thường coi danh lợi, bổng lộc. Tình yêu là cái theo đuổi cao nhất của cuộc đời, mà không biết rằng của cải lớn nhất của đời người chính là sức khỏe của mình. Có một câu chuyện cổ kể rằng. Có một người ham mê của cải hơn mạng sống, anh ta lạc vào một núi vàng. Lúc đầu sung sướng như điên vì lấy được nhiều vàng bạc châu báu, nhưng rồi bị lạc trong núi vàng, bỏ xác tại đó. Có thể nói rằng, sức khỏe là cái quý báu nhất, và cũng là của cải lớn nhất của đời người. Nếu ta không hiểu được điều này thì bất kể danh lợi gì, ham muốn gì đều trở nên vô nghĩa.
Một số lời nói hay của nhà Phật

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Lời nói thứ hai: Cái đáng thương nhất trong cuộc đời là lòng đố kỵ

Đố kỵ là điều thường gặp nhất trong cuộc sống. Lý Tư vì đố kỵ tài năng của đồng học Hòa Phi nên đã gièm pha với vua Tần, khiến Hòa Phi phải chết trong ngục. Bàng Quyên vì đố kỵ học thức của Tôn Tẫn hơn mình, nên đã dùng độc kế hãm hại bạn, khiến Tôn Tẫn trở thành người tàn phế. Nếu xem xét thì những lời nói hay của nhà Phật, chúng ta sẽ thấy Lý Tư và BàngQuyên đều là những kẻ đáng thương. Bọn họ có thể đắc ý một dạo, nhưng cuối cùng vẫn không được chết yên bình. Đố kỵ là một bệnh tật, người có bệnh đố kỵ suốt đời không bao giờ được yên ổn. Bọn họ, hôm nay sợ người này vượt qua mình, ngày mai lại lo lắng vì người khác đi trước mình rồi, suốt ngày bọn họ sống trong cảnh tật bệnh đáng thương. Ngược lại, những người công thành danh toại chân chính trong lịch sử đều là những người coi đố kỵ là một điều sỉ nhục. Âu Dương Tu là lãnh tụ trên văn đàn thời Bắc Tống, năm đó sau khi ông biết và lựa chọn Tô Đông Pha, có người nói với ông rằng: "Tô Đông Pha là bậc kỳ tài, nếu ngài chọn Tô Đông Pha thì chỉ sợ 10 năm sau, người trong thiên hạ chỉ biết Tô Đông Pha chứ không biết ngài là ai nữa". Nhưng Âu Dương Tu chỉ cười và vẫn đề bạt Tô Đông Pha. Người đời sau vì thế càng sùng kính Âu Dương Tu.

Lời nói thứ ba: Kẻ thù lớn nhất trong cuộc đời là chính mình

Câu nói này rất quan trọng. Trong cuộc đời chúng ta thường có một số kẻ thù, như bọn lưu manh, vô lại, kẻ tiểu nhân... Bọn cầm thú mặc quần áo người đó vô cùng tàn ác, nhưng nếu nhìn thấu, thì bọn chúng cũng chỉ là lớp cặn bã. Kẻ thù lớn nhất của con người chính là mình. Một người nếu chiến thắng được mình thì cái gì cũng công phá được, sẽ là người bách chiến bách thắng. Cái đáng sợ là tự mình mắc bệnh mà không biết: Có khi do dự không quyết, có lúc lại đánh giá mình quá cao; có khi tự cao tự đại, có lúc lại sùng bái người... chỉ có chiến thắng bản thân mới có thể mở ra được cục diện vững chắc.

Lời nói thứ tư: Hạnh phúc lớn nhất của đời người là biết buông tha

Trong xử thế, dám nắm lấy là dũng khí, dám buông ra là độ lượng. Phần lớn những người có kinh nghiệm xử thế đều xem thường những hoa tươi, tiếng vỗ tay... trên đường đời, nhưng người đã trải qua nhiều lần mưa gió lại càng tự tin hơn, vững vàng bản lĩnh. Nhưng nếu nhìn nhận một cách bình thường đối với những gập ghềnh, bùn lầy... trong cuộc sống, thì không phải là điều dễ làm. Có thể không hoảng hết, có thể thản nhiên chịu đựng những trở ngại lớn, những tai họa lớn, chính là vì có lòng độ lượng. Nhà Phật lấy lòng độ lượng dung nạp mọi việc trong thiên hạ làm nguồn vui, đã đến rồi thì hãy ở yên mà thích ứng với hoàn cảnh là một loại siêu thoát. Những loại siêu thoát đó đòi hỏi rèn luyện nhiều mới thành. Biết nắm lấy thực đáng quý, nhưng biết buông ra mới là đạo lý chân chính xử thế trong đời.

Nguồn Sưu tầm

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Một số lời nói hay của nhà Phật

Đoán vận đào hoa của nữ giới qua nốt ruồi trên mặt - Xem bói - Xem Tử Vi

Đoán vận đào hoa của nữ giới qua nốt ruồi trên mặt, Xem bói, Xem Tử Vi, xem bói, xem tử vi Đoán vận đào hoa của nữ giới qua nốt ruồi trên mặt, tu vi Đoán vận đào hoa của nữ giới qua nốt ruồi trên mặt, tu vi Xem bói

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đoán vận đào hoa của nữ giới qua nốt ruồi trên mặt

Trong nhân tướng học, nốt ruồi xuất hiện ở mỗi vị trí khác nhau trên mặt sẽ đại diện cho tính cách, thái độ sống khác nhau. 

1. Nốt ruồi lớn trên trán

Người có nốt ruồi tại vị trí này thường có vẻ ngoài khá hiền dịu, nữ tính. Tuy nhiên, ẩn sau đó là 1 trái tim nóng bỏng yêu đương. Với chuyện “chăn gối”, cô ấy thực sự là người phụ nữ đầy ấn tượng.

2. Nốt ruồi phía cuối chân mày


Phụ nữ có nốt ruồi ở vị trí cuối chân mày thường là mẫu người tương đối đa tình. Nàng thích trải nghiệm những cảm giác mới mẻ trong tình yêu và chuyện chăn gối. Với nàng, tình yêu không gắn liền với hôn nhân và khi đã lập gia đình, nhiều khả năng nàng vẫn sẽ “vượt rào”.

3. Nốt ruồi bên dưới đuôi mắt

Cũng giống như tính cách của người có nốt ruồi ở phía cuối chân mày, cả hai đều rất đa tình và ham mê nhục dục.

4. Nốt ruồi phía dưới khóe mắt trái

Nàng đa sầu đa cảm, tôn thờ những mối tình lãng mạn trên phim ảnh, thích những cuộc tình tay ba… Nàng không có quan niệm thật sự đúng đắn về tình yêu và do đó thường gặp nhiều rắc rối trong đời sống tình cảm.

5. Nốt ruồi phía trên khóe miệng

Sở hữu nốt ruồi “phong lưu” này, nàng vốn rất đào hoa, có sức hấp dẫn đặc biệt với người xung quanh. Nàng có khả năng thành công nếu đi theo con đường điện ảnh, kịch trường.

6. Nốt ruồi trên môi

Nàng có thể là người háo sắc và… ham ăn. Vận số đào hoa của nàng cũng rất vượng. Trong cuộc sống, nàng dễ vướng vào chuyện phiêu lưu tình ái với người khác giới, thậm chí cả người đồng giới. Cần hết sức chú ý giữ gìn sức khỏe, tránh bệnh tật và những điều rắc rối khác.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đoán vận đào hoa của nữ giới qua nốt ruồi trên mặt - Xem bói - Xem Tử Vi

Hướng kê giường hợp người sinh năm 1987 Đinh Mão –

Hướng kê giường tuổi Đinh Mão 1987 - Năm sinh dương lịch: 1987 - Năm sinh âm lịch: Đinh Mão - Quẻ mệnh: Tốn Mộc - Ngũ hành: Lư Trung Hỏa (Lửa trong lò) - Thuộc Đông Tứ Mệnh, nhà hướng Bắc, thuộc Đông Tứ Trạch - Hướng tốt: Bắc (Sinh Khí); Đông (Diên N

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Hướng kê giường tuổi Đinh Mão 1987

– Năm sinh dương lịch: 1987

– Năm sinh âm lịch: Đinh Mão

– Quẻ mệnh: Tốn Mộc

– Ngũ hành: Lư Trung Hỏa (Lửa trong lò)

– Thuộc Đông Tứ Mệnh, nhà hướng Bắc, thuộc Đông Tứ Trạch

– Hướng tốt: Bắc (Sinh Khí); Đông (Diên Niên); Đông Nam (Phục Vị); Nam (Thiên Y);

– Hướng xấu: Tây Bắc (Hoạ Hại); Đông Bắc (Tuyệt Mệnh); Tây Nam (Ngũ Quỷ); Tây (Lục Sát)

ke-giuong-ngu-theo-phong-thuy

Phòng ngủ:

Con người luôn giành 30% cuộc đời mình cho việc ngủ, nên phòng ngủ chiếm một vai trò đặc biệt quan trọng.

Vị trí phòng ngủ trong nhà và vị trí giường ngủ trong phòng ngủ nên ưu tiên ở hướng tốt (các hướng Sinh Khí, Thiên Y, Diên Niên, Phục Vị)

Gia chủ mang mệnh Hỏa, Mộc sinh Hỏa, nên hướng giường nên quay về hướng thuộc Mộc, là hướng Đông; Đông Nam;

Nếu tính cho các phòng ngủ của các thành viên khác trong gia đình, thì cần tính hành ứng với mỗi thành viên.

Màu sơn trong phòng ngủ, màu sắc rèm cửa nên sử dụng màu Xanh lá, đây là màu đại diện cho hành Mộc, rất tốt cho người hành Hỏa.

Tủ quần áo nên kê tại các góc xấu trong phòng để trấn được cái xấu, là các góc Ngũ Quỷ, Hoạ Hại, Lục Sát, Tuyệt Mệnh.

Giường ngủ cần tránh kê dưới dầm, xà ngang, đầu giường tránh thẳng với hướng cửa mở vào, thẳng với hướng gương soi.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Hướng kê giường hợp người sinh năm 1987 Đinh Mão –

Sao Thiên Lương trong tử vi - hình tượng Lý Tịnh

Trong tử vi đẩu số, sao Thiên Lương được lấy từ nhân vật quan Tổng binh ải Trần Đường Lý Tịnh, có ba người con trai Kim Tra, Mộc Tra, Na Tra, được mệnh danh là Thác Tháp Lý Thiên Vương

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Trong tử vi đẩu số, sao Thiên Lương được lấy từ nhân vật quan Tổng binh ải Trần Đường Lý Tịnh. 

Lý Tịnh từng bái Độ Ách chân nhân tại Tây Côn Lôn làm thầy theo học pháp thuật nhiều năm, thấy đạo thần khó thành, nên từ biệt thầy xuống núi, sau lĩnh chức Tổng binh của triều đình Ân Trụ. Phu nhân của ông là An thị sinh được ba con trai, con trưởng là Kim Tra, con thứ là Mộc Tra, con út là Na Tra.

Kim Tra bái Văn Thù Quảng Pháp Thiên Tôn tại động Vân Tiêu núi Ngũ Long làm thầy, Mộc Tra theo học Phổ Hiền chân nhân tại động Bạch Hạc núi Cửu Cung, còn Na Tra vừa ra đời đã được Thái Ất chân nhân nhận làm học trò.

Lý Tịnh với danh xưng là "Thác tháp thiên vương" (thiên vương nâng tháp) là một võ tướng trong truyện Phong thần diễn nghĩa, với hình tượng mình mặc giáp trụ, đầu đội mũ ô vàng, tay trái dỡ một toà tháp, tay phải cầm cương xoa ba mũi hoặc bảo kiếm.

sao Thiên Lương Lý Tịnh

Do Thương Trụ vô đạo, trăm họ lầm than khổ cực, các chư hầu lớn nhỏ tôn Tây Bá hầu Cư Phát làm thủ lĩnh, hợp quân phạt Trụ. Cả ba con trai của Lý Tịnh cũng đều theo về dưới trướng Vũ Vương, làm bộ tướng tiên phong. Lý Tịnh vốn là tướng nhà Ân, đứng trước tình hình đó, không biết phải làm thế nào. Sau ông được Đạo nhân Nhiên Đăng chỉ điểm, tạm thời từ quan về ở ẩn, đợi đến khi Chu Vũ Vương dấy binh thì đến hợp lực cùng ba người con trai cùng tham gia nghiệp lớn.

Trong thời gian Vũ Vương phạt Trụ, Lý Tịnh cùng ba con trai đã lập rất nhiều công lao lớn, đặc biệt là con trai út Na Tra, hoá thân của hoa sen trắng (sao Hoả), đánh đâu thắng đó, giúp đỡ đắc lực cho chiến thắng của Vũ Vương. Khi sự nghiệp hoàn thành, triều Chu đã được kiến lập, Vũ vương tiến hành luận công ban thưởng, cả bốn cha con Lý Tịnh đều không màng đến danh lợi, không hẹn mà cùng lẳng lặng trở về nơi lu luyện của thầy mình, rồi từ đó đến cuối đời chỉ chuyên tâm học đạo tu tiên.

Lý Tịnh vốn là một võ tướng, nhưng công lực tu hành rất cao thâm, hơn nữa còn mang tấm lòng nhân ái, sẵn sàng dùng tài năng và pháp lực để cứu vớt nhân dân ra khỏi cơn nước lửa mà không màng chuyện sống chết của bản thân.

Lý Tịnh tu đạo mà thành thần tiên, trở nên trường thọ. Khương Tử Nha sau khi tự phong mình làm chủ nhân sao Thiên Cơ, lại thấy sao Thiên Lương còn vô chủ, bèn phong thần trước cho Lý Tịnh, hoàn thành trọn vẹn sự nghiệp diệt Trụ của Vũ Vương. Bởi vậy trong hệ thống lý luận Tử Vi Đẩu Số, tính cách của Lý Tịnh được gán rất nhiều cho sao Thiên Lương.

Thiên Lương là sao chủ về tuổi thọ và sang quý, có lòng trắc ẩn, bản tính trung hậu, thích bố thí, hay lo chuyện bao đồng. Hành sự quyết đoán, thích giúp đỡ ngưòi khác nhưng việc nhà lại thiếu sự quan tâm.

Danh hiệu Thác Tháp Lý Thiên Vương của Lý Tinh bắt nguồn như sau:

Người con trai út của Lý Tịnh tên là Na Tra, từ nhỏ đã ương bướng và rất nghịch ngợm. Một hôm, Na Tra cùng đám bạn của mình chơi đùa nơi ven biển, làm kinh động đến tận Thủy cung của Đông Hải Long Vương. Long Vương bực tức lệnh sai Dọa Xoa đi tìm hiểu ngọn ngành. Tới nơi thì Dọa Xoa bị Na Tra giết chết. Sau đó Long Vương lại sai Tam thái tử đi thu phục Na Tra. Do nói năng thiếu khiêm nhường nên đã chọc tức bản tánh ương ngạnh khiến Na Tra xuống dưới biển và đại náo Long cung, giết chết Tam thái tử, phá hủy Long cung và bắt nhốt Long Vương. 

Trước tình hình đó, không còn cách nào khác, Lý Tịnh đành bắt Na Tra tự sát. May được Thái Ất chân nhân dùng hoa sen giúp cho Na Tra được hồi sinh. Na Tra sau khi trở lại với thân xác của mình thì trong lòng không vui, muốn tìm cha mình để trả thù. Bởi tài năng cao cường của Na Tra, Lý Tịnh không thể chống đỡ được nên Phật Tổ Như Lai liền ban cho ông một tòa bảo tháp xá lị bằng vàng. Lý Tịnh nhờ đó mới nhốt được Na Tra vào trong bảo tháp.

Sau này mối thù giữa cha và con được hóa giải. Cùng nhau theo về trướng Vũ Vương tiên phong phạt Trụ cứu dân độ thế. Lý Tịnh có được bảo tháp thần kỳ này mà trở thành danh xưng "Thác tháp Lý thiên vương".


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sao Thiên Lương trong tử vi - hình tượng Lý Tịnh

Điểm danh 4 chòm sao đã yêu là hành động

4 chòm sao mạnh mẽ dưới đây rất thích chinh phục người khác phái và nắm quyền quyết định trong chuyện tình cảm.
Điểm danh 4 chòm sao đã yêu là hành động

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đối với tình yêu, có người thích tiến triển tự nhiên, thuyền đến đầu cầu tất thẳng, nhưng cũng có người chủ động, nhất định phải chiếm thế thượng phong. 4 chòm sao mạnh mẽ dưới đây rất thích chinh phục người khác phái và nắm quyền quyết định trong chuyện tình cảm.


Diem danh 4 chom sao da yeu la hanh dong hinh anh 2
 
Sư Tử
Chòm sao kiêu ngạo như Sư Tử tuyệt đối không nằm không chờ người ta tới theo đuổi mình, với dục vọng và sự chiếm hữu lớn, họ luôn chủ động tìm kiếm tình yêu. Hơn thế nữa, có đối thủ cạnh tranh khiến chòm sao này càng thêm hưng phấn, như vậy mới thực sự có hứng thú, giành thắng lợi mới vẻ vang. Sư Tử rất hưởng thụ quá trình chinh phục, luôn tìm cách tốt nhất để chủ động nắm trong tay.   Song Tử   Song Tử tuyệt đối tự tin vào khả năng của bản thân, nên chẳng có lý gì mà phải đợi chờ, rung động là hành động. Họ cũng là chòm sao mạnh mẽ, có cá tính, thích chinh phục người khác phái. Hơn nữa, càng gặp nhiểu thử thách thì lại càng kích thích, tăng niềm hứng khởi và tinh thần cạnh tranh trong lòng. Đây cũng là cách để Song Tử thể hiện sức hấp dẫn cũng như sự tài giỏi của bản thân cho người khác thấy. 
Vận trình tình yêu năm 2016 của chòm sao nhóm Khí 3 lý do khiến chàng Thủy Bình nên cưa nàng Song Tử ngay lập tức Những điều khiến Bảo Bình reo lên thích thú Bắt đôi hoàn hảo dành riêng cho Thủy Bình Đại chiến phòng karaoke của 12 chòm sao
Thiên Yết
  Người như Thiên Yết có dễ dàng để mình bị động không? Tất nhiên là không rồi, họ sẵn sàng gây sức ép, thậm chí dùng thủ đoạn để có được thứ mình muốn. Chòm sao này có tinh thần chiếm hữu cao, luôn muốn toàn quyền quyết định kể cả trong chuyện tình cảm. Tính khiêu chiến càng lớn thì họ càng dốc sức, quá trình chinh phục càng gian nan thì họ càng muốn giành phần thắng.   Thủy Bình  
Diem danh 4 chom sao da yeu la hanh dong hinh anh 2
 
Không phải bình thường Thủy Bình rất lơ ngơ và vô tâm ư, những đối diện với tình yêu thì không đâu nhé. Gặp người mà mình thích, Thủy Bình sẽ dựa vào chỉ số thông minh mà tìm cách áp đảo đối phương, khiến người ta trở tay không kịp, rơi vào lưới tình rồi để Thủy Bình nắm thế chủ động. Hơn nữa, chòm sao cá tính này cũng có tính chiến đấu rất lớn nên tham vọng chinh phục không hề nhỏ đâu.

► Cùng bói cung hoàng đạo để tìm những điều thú vị về bạn

Thái Vân

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Điểm danh 4 chòm sao đã yêu là hành động

Sở hữu nốt ruồi sau gáy là vận lành hay dữ? –

Theo khoa học phân tích Nốt ruồi màu nâu, đen là do những tế bào có sắc tố tập trung lớp ngoài da tạo nên. Nốt ruồi xanh do những tế bào sắc tố dưới lớp chân lông tạo thành. Nốt ruồi đỏ hồng do những vi huyết quản ph
Sở hữu nốt ruồi sau gáy là vận lành hay dữ? –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sở hữu nốt ruồi sau gáy là vận lành hay dữ? –

4 chòm sao không thể "nhìn mặt mà bắt hình dong"

Biết người, biết mặt, khó biết lòng, không phải ai cũng thể hiện đúng bản chất ra bên ngoài. 4 chòm sao khó đoán dưới đây không thể “nhìn mặt bắt hình dong”
4 chòm sao không thể "nhìn mặt mà bắt hình dong"

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Biết người, biết mặt, khó biết lòng, không phải ai cũng chân thật, thể hiện đúng bản chất của mình ra bên ngoài. 4 chòm sao khó đoán dưới đây không thể “nhìn mặt mà bắt hình dong” được đâu.


4 chom sao khong the nhin mat ma bat hinh dong hinh anh 2
 
Kim Ngưu   Kim Ngưu là chòm sao khó đoán, bụng dạ có phần hẹp hòi, nếu không được đáp lại tình cảm thì trong lòng đặc biệt khổ sở nhưng lại tỏ ra như không có gì. Kim Ngưu lúc nào cũng thể hiện mình là người rộng lượng, quảng đại, vẫn trước sau dịu dàng, ấm áp nhưng phải tinh ý mới nhận ra, Kim Ngưu chỉ cười ngoài mặt, còn trong lòng nghĩ gì thì thật không thể lường được.   Thiên Bình   Chòm sao Thiên Bình thoạt nhìn rất phóng khoáng, nho nhã, phong độ nhưng đó chỉ là cách thể hiện mà thôi. Khi thân thiết hơn một chút bạn sẽ phát hiện ra, Thiên Bình không bao giờ chủ động thân quen với người khác, càng không thích cùng người mới quen biết uống trà, ăn cơm, dạo phố tạo quan hệ. Bề ngoài hoàn mĩ, hay mỉm cười, nhiệt tình nhưng nếu đã làm Thiên Bình phật ý thì họ trước sau cũng không thèm để ý tới đối phương.
4 cô nàng hoàng đạo hiền nhưng không dễ bắt nạt Avatar cực chất, cực lạ dành riêng cho 12 sao nữ Điều gì ở sao nữ hấp dẫn cánh đàn ông???
Xử Nữ   Chòm sao cẩn thận như Xử Nữ rất ôn hòa, ngươi không động đến ta, ta không động đến ngươi. Nhưng chỉ cần quấy nhiễu tới cuộc sống bình an của Xử Nữ thì chắc chắn là ăn đủ. Đừng nhìn thái độ khoan hòa thông thường, một khi đã tức giận thì Xử Nữ rất quyết liệt, khiến đối phương phải dở sống dở chết mới thôi.
4 chom sao khong the nhin mat ma bat hinh dong hinh anh 2
 
Bạch Dương   Nổi tiếng là chòm sao nhiệt tình, Bạch Dương mang tới cảm giác vui vẻ và phấn khởi cho người khác. Nhưng đấy chỉ là lúc bình thường thôi, không cẩn thận đắc tội với họ thì lập tức Bạch Dương sẽ trở mặt, giải quyết đến cùng. Tính khí nóng nảy, bốc đồng thêm với sự cố chấp sẽ khiến Bạch Dương làm đủ trò cho tới khi hả giận mới thôi. Điều 12 chàng trai hoàng đạo cực ghét bị bạn gái quản 4 chòm sao nam có bầu là cưới
Thái Vân

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 4 chòm sao không thể "nhìn mặt mà bắt hình dong"

Tên của Con đã đúng mệnh hay chưa?

Đặt tên cho con thực sự rất quan trọng, bố mẹ nên tham khảo tư vấn đặt tên cho con của các chuyên gia để lựa chọn một cái tên đúng ngũ hành, hợp mệnh

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tên là mệnh, là vận mệnh của mỗi con người, tên gọi luôn gắn liền với mỗi người trong suốt cuộc đời. Năm 2016 là năm con khỉ - năm Bính Thân và trước khi sinh các câu hỏi như: "Đặt tên cho con trai năm Bính Thân 2016", "Đặt tên cho con gái năm Bính Thân 2016".... là các từ khóa rất "hot" mà các bậc cha mẹ sinh con vào năm 2016 đều muốn tìm hiểu. Bố mẹ cũng nên tham khảo tư vấn đặt tên cho con của các chuyên gia để lựa chọn một cái  tên đẹp, đúng ngũ hành và hợp mệnh cho con.  

dat-ten-dung-menh

1.Tính cách bé tuổi Thân

Năm 2016 tương ứng với năm âm lịch là Bính Thân, phần nào hé lộ về tính cách hiếu động, thông minh và vui vẻ của các bé sinh ra trong năm này. Một tin vui khác cho mẹ, đó là những đứa trẻ tuổi thân thường có sức khỏe tốt, nhanh nhẹn và yêu đời bằng tất cả trái tim. Nhìn chung, một cái tên hay sẽ càng đem đến nhiều điều tốt đẹp cho bé.

2. Đặt tên cho con năm 2016 theo tam hợp

Tam Hợp được tính theo tuổi, do tuổi Thân nằm trong Tam hợp Thân – Tý – Thìn nên những cái tên nằm trong bộ này đều phù hợp và có thể coi là tốt đẹp.

3. Đặt tên theo quy luật tự nhiên

Loài khỉ, con giáp tượng trưng cho tuổi của bé thường sinh sống theo từng bầy trong rừng. Vì vậy, những từ thuộc hành Mộc sẽ thích hợp để chọn tên cho bé.

Một số gợi ý cho mẹ tên thuộc hành Mộc

Khôi, Lê, Đỗ,

Mai, Đào, Trúc,

Tùng, Quỳnh, Thảo,

Liễu, Bách, Lâm,

Sâm, Kiện, Xuân,

Quý, Hạnh, Thôn,

Phương, Phần, Chi,

Thị, Bính, Bình,

Sa, Phúc, Phước…

Ngoài ra, những bộ thủ như Khẩu, Miên, Mịch có ý nghĩa liên quan đến “cái hang khỉ” cũng thích hợp để đặt tên cho bé.

Một số gợi ý cho mẹ tên bộ Khẩu, Miên, Mịch:

Trung, Quân, Trình,

Thiện, Hòa, Gia,

An, Thất, Dung,

Nghi, Hoành, Bảo,

Thực, Khoan…

Khỉ cũng rất thích bắt chước cử chỉ và tiếng nói của con người, bởi chúng là loài động vật cao cấp rất gần gũi với con người trên nấc thang tiến hóa. Vì vậy, cái tên chứa bộ Nhân, Ngôn cũng là lựa chọn thích hợp mà bạn nên cân nhắc.

Một số gợi ý cho mẹ tên bộ Nhân, Ngôn

Nhân, Giới, Kim,

Đại, Nhiệm, Trọng,

Tín, Hà, Bảo,

Hưu, Nghi, Huấn,

Thành …

4. Đặt tên cho con sinh năm 2016 theo tính cách

Loài khỉ rất lanh lợi, hoạt bát, nên những cái tên có bộ Sam, Cân, Y, Mịch sẽ giúp tôn lên sự duyên dáng, đẹp đẽ.

Một số gợi ý cho mẹ tên bộ Sam, Cân, Y, Mịch:

Hình, Nhạn, Ảnh,

Chương, Đồng, Thường,

Hi, Sư, Phàm,

Ước, Tố, Hồng,

Duyên…


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tên của Con đã đúng mệnh hay chưa?

Sưu tầm về Dịch thuyết

Một bài viết tổng hợp về Kinh Dịch của cụ Hà Uyên. Rất hay!
Sưu tầm về Dịch thuyết

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Dịch dĩ đạo âm dương

"Dịch dĩ đạo âm dương" chỉ rõ nét đặc sắc của Kinh Dịch, trình bày về lý âm dương. Câu này, có xuất xứ trong Trang Tử - Thiên hạ luận, nguyên văn cả câu là: "Thi bày tỏ cái chí, Thư là để thuật lại công việc, Lễ là để hướng dẫn hành động, Nhạc là để dẫn dắt chí tuệ. Dịch nói về lý âm dương, Xuân Thu chỉ rõ danh phận".

Trang Tử - Thiên hạ thiên viết: "Dịch là để nói về âm dương". Sử ký - Thái Sử công tự tự viết: "Dịch làm sáng tỏ trời đất, âm dương, tứ thời, ngũ hành. Cho nên Dịch sở trường ở chỗ biến". Những lời đó đều nói về tôn chỉ căn bản của Dịch, là vạch rõ quy luật tự nhiên biến hóa của âm dương. Hàn Khang Bá - Hệ từ truyện chú kế thừa Vương Bật lấy Lão Trang để giải thích tông chỉ của Dịch, viết: "Đạo nhất âm nhất dương gốc ở Hư vô. Lại nói: Đạo là gì? Đó gọi là Vô. Không có gì không thông, không có gì là không bắt nguồn từ đó, cái đó gọi là Đạo. Đã là tịch nhiên vô thể, thì không thể là Tượng, phải vận dụng hết "Hữu" thì "Vô" mới hiển dụng. Cho nên đến như "Thần vô phương nhi Dịch vô thể", thì Đạo có thể thấy được vậy. Bởi thế, cùng biến thì tận thần, nhân thần mà minh đạo, âm dương tuy khác nhau, nhưng đồng nhất ở Vô. Ở âm mà vô âm, âm do đó sinh ra; ở dương mà vô dương, dương do đó mà hình thành, cho nên nói 'nhất âm nhất dương' vậy".

Tư Mã Thiên, người thời Tây Hán nói "Dịch dĩ đạo hóa". Ông cho rằng, nội dung đặc sắc của Kinh Dịch là ở chỗ nó nêu lên cái lý biến hóa của sự vật, cho nên ông nói: "Lễ là để ước chế lòng người, Nhạc là để khởi phát cái hòa, Thư là để hướng dẫn công việc, Thi là để biểu đạt tâm trạng, Dịch là để chỉ ra sự biến hóa, Xuân Thu là để chỉ ra cái 'nghĩa'. Kéo đời loạn đưa trở về ngay chính, không gì hơn là đọc Xuân Thu".

Hệ Từ - Hạ truyện viết: "Thần diệu biến hóa, khiến cho dân noi theo"; và, "Thấu hiểu được lẽ thần diệu, biết được lẽ biến hóa, đức sẽ lớn mạnh vậy".

Sử ký - Hoạt kê liệt truyện tự Khổng Tử nói: "Lục nghệ, quy về nói từng thứ một thì, Lễ là để chế ước con người, Nhạc là để khởi phát cái 'hòa', Thư là để hướng dẫn công việc, Thi là để diễn đạt tâm trạng, Dịch là để tỏ rõ thần kỳ biến hóa, Xuân Thu nói về cái nghĩa. Thái sử công nói: Đạo trời lồng lộng, chẳng lớn lắm sao? Trong cái lời nói vi diệu ấy, cũng có thể hiểu được".

Hệ Từ - Thượng truyện viết: "Ôi, đạo của Dịch rộng thay, lớn thay! Lấy nó mà nói về việc ở xa thì không bao giờ cùng, lấy nó mà nói về việc ở gần thì bình thản chính đính, nó bao gồm đầy đủ cả mọi việc trong trời đất". (Phù dịch quảng hĩ, đại hĩ! Dĩ ngôn hồ viễn tắc bất ngự. Dĩ ngôn hồ nhĩ tắc tỉnh nhi chính. Dĩ ngôn hò thiên địa chi gian tắc bị hỉ). Việc lập ra quẻ, từ gốc đến thân, từ thân ra cành, tự nhiên thuận hành, đủ trời đất người, có phân có hợp, có tiến có thoái, có ngang có dọc, có thuận có nghịch, v.v...nhưng không có gì, đi mà không lại, tới mà không lui, thấu hiểu tự nhiên.

Khổng Dĩnh Đạt - Chu Dịch chính nghĩa nói: "Câu trên là muốn chỉ rõ tầm vóc quảng đại của Dịch lý. Lẽ biến hóa của Dịch thông khắp bốn phía xa, cho nên gọi là 'quảng'; nó thông tới tận trời, cho nên gọi là 'đại". Lại nói: "cái lẽ biến hóa của Dịch cùng cực u thâm, không bao giờ ngừng nghỉ", "cái lẽ biến hóa của Dịch, ở nơi gần, thì giữ được bình thản yên tĩnh mà chính đính, không hỗn loạn vậy".

Du Diễm - Chu Dịch tập thuyết nói: "Đạo Dịch rất quảng đại. Từ việc gần, việc xa, cho đến mọi việc trong trời đất này, không có gì không phải là Dịch. Lấy Dịch mà suy việc xa thì lý thông suốt, không hề trở ngại. Lấy Dịch mà bàn việc gần, thì lý đầy đủ rõ ràng ngay trước mắt, thản nhiên mà chính đính.Lấy Dịch mà bàn luận mọi việc trong vòng trời đất, thì lý lẽ của mọi sự mọi vật đều đủ cả trong đó. Có thể gọi là quảng đại vậy".

Lễ ký - Kinh giải viết: "Khiết tịnh tinh vi, Dịch giáo dã" (Trong sạch thuần khiết, tinh vi, đó là cái giáo lý của Dịch vậy). Chú giải cho câu nói này, Khổng Dĩnh Đạt - Lễ ký chính nghĩa viết: "Dịch cho rằng, đạo làm người ngay chính gặp điều lành, tà vạy ắt sẽ gặp điều dữ, không dâm lạm thái quá, như vậy gọi là 'khiết tịnh'; cùng lý tận tính, lời lẽ vi nhiệm thì gọi là 'tinh vi' vậy".

Dịch chi thất tặc

Câu nói này được viết trong Lễ Ký - Kinh giải. Ý nghĩa câu "dịch chi thất tặc" cho rằng nghiên cứu Dịch, nếu không biết tự tiết chế trong lời dạy của Dịch, thì sẽ có mối lo làm tổn thương tới Lý, làm hại tới vật. Làm người mà cung kính, không cẩu thả thì đủ để giúp cho nội tâm được chính trực. Hành vi thích hợp cũng đủ để giúp cho vẻ ngoài được đoan phương. Trịnh Huyền - Lễ Ký chú viết: "Thất, có nghĩa là không có khả năng tiết chế trong lời dạy của Dịch", lại nói "Dịch tinh vi, ái ố tương công, viễn cận tương thủ, tác bất năng dung nhân, cận vu thương hại". Nghĩa là: Đạo Dịch rất tinh vi, yêu ghét đối chọi nhau, xa gần chấp thủ nhau, vậy thì nó không thể chứa người khác ý, nếu không sẽ dẫn tới tai hại.

Khổng Dĩnh Đạt - Lễ Ký chính nghĩa viết: "Dịch chủ ở sự thuần tĩnh nghiêm chỉnh, xa gần chấp thủ nhau, yêu ghét đối chọi nhau, nếu không biết tiết chế, ắt sẽ bị tai hại". Khổng Dĩnh Đạt lại phân tích lời chú giải của Trịnh Huyền "Dịch tinh vi", ý muốn nói Dịch lý rất vi diệu sây sắc, cầu tránh xác đáng, không dung chứa người khác mình. Dịch nói "ái ố tương công" là để chỉ sáu hào của quẻ Dịch, hoặc hào âm cưỡi hào dương, hoặc hào dương nén hào âm, kề cạnh nhau mà không có sở đắc, gọi là "ái ố tương công". Nói "viễn cận tương thủ", là chỉ bỉ thủ có ứng là xa gần hợp nhau. Hoặc nếu xa mà không có ứng, gần mà không hợp nhau, thì không thể hòa hợp đến với nhau được.

Câu "tác bất năng dung nhân, cận vu thương hại", là ý muốn nói, nếu ý hợp nhau thì dù xa mà vẫn yêu nhau; nếu ý xa nhau, thì có gần mà vẫn ghét nhau, tức là không nên cùng với người không giống mình, nếu không sẽ bị tổn hại như bị giặc làm hại vậy.

Dịch khí tòng hạ sinh

Chu Dịch Càn tạc độ có câu: "Dịch khí tòng hạ sinh", nghĩa là Dịch lý thuyết minh quá trình phát sinh của sự vật, đều xuất phát từ sự vận động của "Khí"; mà sự sinh - thành của Khí đều thuận từ dưới lên trên, từ vi tế đến hiển hiện rõ ràng. Do vậy, 6 hào của các quẻ trong Dịch, đều được liệt theo thứ tự từ dưới lên trên.

Chu Dịch Càn tạc độ viết: "Vật do cảm nhau mà động, các vật cùng loại thì ứng với nhau, Khí của Dịch được sinh ra từ dưới". "Khí của trời đất tất có đầu có cuối. Vị trí của sáu hào đều từ dưới lên trên. Cho nên, Dịch bắt đầu từ cái Một, một phân ra hai, hai thông ở ba,... ở bốn, thịnh ở năm, kết thúc ở trên cùng".

Trịnh Huyền chú: "Dịch vốn không có hình, từ vi tế mà hiển hiện ra, khí từ dưới sinh ra, nên lấy hào dưới cùng làm khởi đầu vậy". "Dịch vốn không có hình thể, do Khí biến mà sinh ra cái Một, cho nên Khí từ dưới mà sinh ra".

Bàng thông

Điều lệ dịch học do Ngu Phiên đề xướng. Ý nói hai quẻ sáu hào so sánh với nhau, thể của hào âm dương khác nhau, tức là đây là dương thì kia âm, đây là âm thì kia dương, bàng thông với nhau từng cặp một. Ngu Phiên nói: "Quẻ Tỵ bàng thông với Đại hữu, quẻ Đại hữu bàng thông với quẻ Tỵ". Các quẻ khác giống như vậy.

Bàng thông là một trong những điều lệ quan trọng trong Dịch thuyết của Ngu Phiên. Xét, Văn ngôn truyện quẻ Càn nói: "Lục hào phát huy, bàng thông tình dã", ý nói hào của Dịch biến động chẳng dừng. Ngu Phiên đã căn cứ vào đây mà lấy danh từ "bàng thông", nhưng biến đổi ý nghĩa mà sáng tạo thành Dịch lệ của mình. Tới đời Minh thì Lai Tri Đức phát minh ra Tổng quái, Thác quái, được người đương thời gọi là "tuyệt học", trong đó Thác quái tức là áp dụng lệ Bàng thông của Ngu Phiên.

Trích dẫn

Sáu Hào phát huy biến động, biến thông tình - lý sự vật. Hào ở quẻ này là Âm, thì hào tương ứng của quẻ kia là Dương. Ở quẻ này là hào Dương, thì hào tương ứng ở quẻ kia là Âm.

Một sự vật nếu có thành tựu, thì sự vật ấy ắt phải đắc vị - đắc thời - đắc trung. Muốn duy trì một sự vật gì (?), thì chớ để nó phát triển tối đa, mà phải luôn cảnh giác phòng bị mặt trái của nó. Có như vậy, mới không nhận lấy mặt trái của nó.

Cho nên nói tình dã

Thành Ký tế định

Một trong những điều lệ Quái biến do Ngu Phiên đề xướng, nói rằng các hào vị bất chính đều sẽ biến thành chính, quẻ thành Ký tế, hào vị mới định.

CHI CHÍNH

"Chi" giống như nói "biến". "Chính", là chỉ hào âm cư âm vị - ngôi vi chẵn, hào dương cư dương vị - ngôi vị lẻ. Đây là một trong những điều lệ do Ngu Phiên đề xướng.

Trong quẻ, phàm hào vị nào bất chính đều cần phải biến cho thành chính, tức là điều mà Dịch truyện cho là "chính" và "đáng vị", cũng gọi là "chi biến". Theo điều lệ này, thì hào Sơ phải là dương, hào Nhị phải là âm, hào Tam phải là dương, hào Tứ phải là âm, hào Ngũ phải là dương, hào Thượng phải là âm. Khi quẻ sáu hào đều "chính", thì quẻ thành Ký tế, hào vị đã định, bởi vậy còn gọi là "thành Ký tế định". Ngu Phiên dùng thể lệ này để thuyết giải nhiều thể lệ biến của Dịch. Như quẻ Truân lời hào Lục Nhị là "Thập niên nãi phu", ông giảng là: "Khôn số thập, tam động phản chính, Ly nữ đại phúc, cố thập niên phản thường nãi phu, vi thành Ký tế định dã". Có nghĩa là: quẻ Truân, Chấn hạ Khảm thượng, duy có hào Tam bất chính, biến động đến chính, thành Ký tế mà hạ thể là Ly, thì mới có lời giải thích như trên". Lại như tượng truyện hào Cửu Nhị quẻ Vị tế viết: "Vị Sơ dĩ chính, Nhị động thành Chấn, cố thành chính", hào Cửu Tứ nói: "Động chính, đắc vị", hào Lục Ngũ nói: "Chi chính tắc cát", hào Thượng Cửu nói: "Chung biến chi chính, cố vô cữu". Nghĩa là quẻ Vị tế sáu hào đều thất chính, Ngu Phiên thuyết giải năm hào đều nên biến đến chính. Duy thiếu chỉ có một hào Lục Tam thì cũng theo lệ ngày mà suy ra.

Tam biến thụ thượng

Ngu Phiên đề xuất điều lệ Dịch học, chỉ hào thứ Ba biến, thì đổi vị trí cho hào Thượng, còn gọi là "Quyền" hay là "Quyền tượng". Chu dịch tập giải khi bàn về quẻ Gia nhân, dẫn lời Ngu Phiên nói: "Hào Tam đã biến, thì đổi vị trí cho hào Thượng. Đổi thì được đắc vị. Cuối cùng sẽ tốt". Lại dẫn Tượng truyện nói: "Chỉ hào Tam động. Hào Thượng đổi vị trí với hào Tam thành Ký tế định". Đây là nói quẻ Gia nhân chỉ có hào Thượng Cửu là thất chính, thì lấy hào Cửu Tam đã chính, biến thành hào âm, đổi vị trí với hào Thượng Cửu, thì sau hào đều chính mà thành Ký tế.

Xét thấy, lệ này của Ngu Phiên, lời chú ở sách Chu dịch tập giải đã dẫn, chỉ thấy có hai quẻ Gia nhân và Tiệm, đều thuộc quẻ mà hào Tam và hào Thượng là hào dương. Hào Tam là dương, vốn đã được chính, lại biến thành hào không chính, sau đó đổi ngôi vị với hào Thượng Cửu, khiến hai hào đều được chính. Phép này ngược với lệ: "Chi chính thành Ký tế". Bởi vậy, Ngu Phiên mới tự đặt tên là phép Quyền nghi.

Chu dịch tập giải ở hào Thượng Cửu quẻ Tiệm dẫn chú Ngu Phiên, nói: "Hào Tam đã đắc vị, lại biến nhận với hào Thượng là quyền. Khổng Tử nói: có thể hợp đạo, không thể quyền nghi, cũng không lạ vậy".

Phản quái

Điều lệ Dịch học do Ngu Phiên đời Tam quốc đề xướng. Nghĩa là lấy 6 hào của quẻ 6 vạch đảo ngược lại thành quẻ khác. Như quái tượng quẻ Quán, đảo ngược lại thì thành quái tượng quẻ Lâm. Quẻ Quán và quẻ Lâm hỗ nhau, thành quẻ phản quái.

Người đời sau cũng gọi là quẻ "phản đối", gọi như vậy thấy không chính đính với học thuyết của Ngu Phiên, do vì chữ "đối" theo nghĩa âm đối dương hay dương đối âm, ví như quẻ Quán có quẻ đối là quẻ Đại quá.

Nhưng trong 64 quẻ của Kinh, có 8 quẻ gồm Càn, Khôn, Khảm, Ly, Di, Trung phu, Tiểu quá, Đại quá có hình quẻ đặc biệt, đảo ngược cũng không biến đổi, nên không có "phản quái".

Lý Đỉnh Tộ - Chu dịch tập giải ở phần quái từ quẻ Di, dẫn lời Ngu Phiên nói: "Phản phục không suy, cũng như Càn Khôn Khảm Ly Di Trung phu Tiểu quá Đại quá". Trong Dịch thuyết của Ngu Phiên, dùng rất nhiều thí dụ về "phản quái". Như Chu dịch tập giải, ở quái từ quẻ Thái, dẫn lời Ngu Phiên nói: "Phản là Bĩ. Ở quái từ quẻ Minh di lại nói: phản là Tấn. Ở quái từ quẻ Tiệm nói: phản thành Quy muội, v.v..." Xét, thể lệ phản quái, hoặc phản đối, thực ra là một trong những đặc trưng vốn có của hình thái 64 quẻ trong Kinh.

Tuân Sảng

Tuân Sảng (128 - 190), người Dĩnh Xuyên, Dĩnh Âm, này là thành phố Hứa Xương, tỉnh Hà nam, thời Đông Hán, tự là Từ Minh, còn có tên là Tư. Thủa nhỏ ham học, 12 tuổi đã đọc được Xuân Thu, Luận Ngữ, ông đam mê kinh truyện, không chúc mừng thăm viếng ai, được người đương thời gọi là "Tuân thị bát long, Từ Minh vô song", và được Thái úy Đỗ Kiều khen rằng "có thể làm thầy người khác".

Hậu Hán thư - Tuân Sảng truyện, thì trước tác rộng khắp các loại kinh, tử, sử cộng hơn trăm thiên của ông đều thất truyền. Về Dịch học theo cổ văn Dịch của Phí Trực, lấy Thập dực giải thích nghĩa Kinh, ông đã sáng tạo nghĩa lệ đặc trưng "Càn Khôn thăng giáng", kết hợp dùng cả thể lệ quái biến, tiêu tức để giải thích yếu chỉ của Kinh, tác phẩm Dịch giải của ông đã thất truyền.

Hậu Hán thư - Nho lâm truyện viết: "Vào thời Kiến Vũ, Phạm Thăng truyền bá Mạnh thị Dịch để dạy cho Dương Chính, còn Trần Nguyên và Trịnh Chúng đều truyền bá Phí thị Dịch, về sau Mã Dung cũng truyền dạy cho Trịnh Huyền. Trịnh Huyền soạn Dịch chú, từ đó Dịch học họ Phí thịnh hành, mà Dịch học họ Kinh suy yếu".

Quái biến, thể lệ Dịch học của Tuân Sảng, có thể thấy được đại cương phép quái biến thông qua phép Càn Không thăng giáng, nhưng còn có biệt lệ:

1- Có loại từ Càn Khôn mà biến ra, như Thoán truyện quẻ Khiêm dẫn lời Tuân Sảng nói: "Càn lai chi Khôn" (Khôn từ Càn mà biến ra), lại dẫn trong Thoán truyện quẻ Giải: "Càn động chi Khôn, Càn Khôn giao động, động nhi thành Giải" (Càn động biến thành Khôn, Càn Khôn giao động, do động mà biến thành Giải).

2- Có loại từ Lục tử biến ra, như Thoán truyện quẻ Truân nói: "Đây vốn là quẻ Khảm. Xét, hào Sơ thăng lên Nhị, hào Nhị giáng xuống Sơ, đó là cương nhu bắt đầu giao nhau". Lại dẫn Thoán truyện quẻ Mông nói: "Đây vốn là quẻ Cấn. Xét, hào Nhị tiến lên (thăng) chiếm ngôi hào Tam, hào Tam lùi xuống (giáng) hào Nhị, cương nhu đắc trung cho nên thông".

3- Có loại từ tiêu tức quái biến ra, như quái từ quẻ Tụng dẫn lời Tuân Sảng nói: "Dương đến chiếm ở hào Nhị mà phu động ở hào Sơ". Tiêu Tuần cho rằng ở đây nói quẻ Tụng là gốc ở quẻ Độn. Lại như Thoán truyện quẻ Bĩ dẫn: "Đây vốn là quẻ Thái chỉ âm từ trên xuống, ở vào giữa quẻ Càn".

Dịch thuyết của Tuân Sảng nói đến quái biến còn lại không nhiều, lệ ấy có phải chỉ chừng ấy không, thì chưa rõ. Đến khi Dịch học của Ngu Phiên ra đời, thì thể lệ quái biến càng trở nên tỉ mỉ và có hệ thống.

THẬP NHỊ TÍCH QUÁI

Các nhà Dịch học thời Hán lấy 12 hình quẻ đặc thù trong 64 quẻ, phối hợp với khí hậu từng tháng của 12 tháng trong một năm, biểu thị ý nghĩa "âm dương tiêu tức" của vạn vật trong thế giới tự nhiên, gọi là Thập nhị tích quái, hay còn gọi là Nguyệt quái, Hậu quái, Tiêu tức quái.

Nguồn gốc của Thập nhị tích quái rất cổ. Thuyết này đầu tiên thấy ở Quy Tàng: "Tý Phục, sửu Lâm, dần Thái, mão Đại tráng, thìn Quải, tị Càn, ngọ Cấu, mùi Độn, thân Bĩ, dậu Quan, tuất Bác, hợi Khôn" (Mã Quốc Hàn - Ngọc hàm sơn phòng tập dật thư). Thượng Bỉnh Hòa cho rằng, Tả truyện - Thành công năm thứ 16 chép chuyện Tấn Hầu bói việc đánh nước Sở, được quẻ Phục, nói: "Năm quốc kiển, xạ kỳ nguyên, Vương trung quyết mục, dĩ Phục cư Tý". là dẫn chứng rõ nhất về việc vận dụng Thập nhị tích quái để nói về Dịch.

Chữ "Tích" còn có nghĩa là Vua (quân), "chủ" là nói 12 quẻ này làm chủ 12 tháng. Nay dựa vào bộ Hán thượng dịch truyện - Chu Chấn truyền lại Quái khí thất thập nhị hậu đồ của Lý Cái vẽ Thập nhị tích quái đồ biểu thị rõ tôn chỉ: dương đầy là "tức", âm hư là "tiêu". Sáu quẻ từ Phục đến Càn là tức quái, là Phục nhất dương sinh thuộc cung Tý, quẻ tháng 11; Lâm nhị dương sinh thuộc Sửu quẻ tháng 12; Thái tam dương sinh thuộc Dần quẻ tháng Giêng; Đại tráng tứ dương sinh thuộc Mão thuộc tháng 2; Quải ngũ dương tức, thuộc Thìn quẻ tháng 3; đến Càn lục dương tức, thuộc Tị quẻ tháng 4. Sáu quẻ từ Cấu đến Khôn là "tiêu" quái, là Cấu nhất âm tiêu, thuộc Ngọ, quẻ tháng 5; Độn nhị âm tiêu, thuộc Mùi, quẻ tháng 6; Bĩ tam âm tiêu, thuộc Thân, quẻ tháng 7; Quan tứ âm tiêu, thuộc Dậu, quẻ tháng 8; Bác ngũ âm tiêu, thuộc Tuất, quẻ tháng 9; đến Khôn là quẻ lục âm tiêu, thuộc Hợi, quẻ tháng 10.

Hai quẻ Càn Khôn là mẹ của "tiêu - tức", Dịch vĩ - Càn tạc độ viết: "Thánh nhân nhân âm dương mà nêu ra tiêu tức, lập Càn Khôn để thống nhất Thiên Địa", lại chép: "Quẻ tiêu tức, thuần là Đế, không thuần là Vương".

Dịch vĩ - Càn nguyên tự chế ký viết: "Tích quái, ôn khí không theo 6 quẻ, vật dương không sinh, khí đất sẽ dấy lên", Trịnh Huyền chú: "sáu quẻ là chỉ quẻ Thái, Đại tráng, Quải, Càn, Cấu (dưới Cấu còn có Độn, ghi chép sót), hàn khí không theo 6 quẻ, không dẫn đến đông vinh, vật thực không thành", Trịnh Huyền chú "Sáu quẻ là nói các quẻ Bĩ, Quan, Bác, Phục, Lâm". Các nhà Dịch học từ Mạnh Hỷ, Kinh Phòng thời Tây Hán; Mã Dung, Trịnh Huyền, Tuân Sảng, Ngu Phiên thời Đông Hán, cho đến các học giả đời Thanh, chẳng ai không dùng Thập nhị tích quái để lập thuyết, ảnh hưởng rất lớn. Thượng Bỉnh Hòa nói: "Người hậu Hán chú Dịch thường dùng Nguyệt quái nhưng không nói rõ, cho rằng Nguyệt quái mọi người đều biết, bất tất phải nói kỹ, điều đó cho thấy tính quan trọng của Nguyệt quái".

Hệ từ - Hạ truyện viết: "Cương nhu tương thôi, biến tại kỳ trung hỹ", Chu dịch tập giải dẫn lời chú của Ngu Phiên nói: "Nói về tiêu tức của 12 tháng, cửu lục tương biến, cương nhu tương thôi mà sinh biến hóa, cho nên bên trong có biến đổi vậy".

TRỊNH HUYỀN VÀ DỊCH VĨ CHÚ

Trịnh Huyền là Kinh học gia, Dịch học gia nổi tiếng đời Hán. Cống hiến quan trọng đối với Dịch học của ông là: chú thích kiệt xuất công trình Dịch Vĩ, với trước tác đồ sộ và sắc bén, Trịnh Huyền đã trở thành tập đại thành của Tượng - Số dịch học đời Hán.

Trịnh Huyền (127 - 200) người đất Cao Mạt, thời Đông Hán, tự là Khang Thành, ông nổi danh là một đại sư về Dịch học, tinh thông Ngũ hành, là người kế thừa đầu tiên của Kinh thị dịch học.

Trịnh Huyền nghiên cứu Phí thị dịch học, sau đó ông theo nhà kinh học nổi tiếng Mã Dung nghiên cứu Cổ văn kinh. Học xong, ông về làng giảng dạy ngũ kinh. Do chính biến giữa Hoạn quan với Đại thần thời Hán Linh Đế, ông bị bắt giam; Ra tù ông đóng cửa không đi đâu, ở nhà viết sách.

Ông trước tác nhiều về Ngũ kinh, hậu như chú giải toàn bộ, như Chu dịch chú - Tùy thư - Kinh tịch chí được chép thành 9 quyển, Dịch tán, Dịch luận, tác phẩm nổi tiếng nhất của Ông là Dịch vĩ chú được chép trong Tứ khố toàn thư. Đặc biệt của sách này là hào thần, thần ở đây có nghĩa chỉ về ngôi sao, vì Trịnh Huyền coi 12 hào của Càn và Khôn là 12 'thần' tức 12 ngôi sao, ông dùng Dịch để lập thuyết về Thiên văn học. Trịnh Trần đời Thanh có soạn 4 quyển Trịnh học lục, đây là tư liệu quan trọng để nghiên cứu về Trịnh học. Ngoài ra, Vương Ứng Lân thời Nam Tống biên soạn Chu dịch Trịnh Khang thành chú; Mã Quốc Hàn biên soạn Tân bản Trịnh thị Chu dịch; Viên Quân đời Thanh biên soạn Trịnh thị di thư.

Trịnh Huyền là đệ tử của Mã Dung, quan điểm học thuật giống như Mã Dung, trên cơ sở kế thừa Kinh thị dịch học mà phát huy Phí thị học.

Chu dịch chú của Trịnh Huyền đã thất lạc. Tùy thư - Kinh tịch chí đã sao chép được 9 quyển, đời sau có biên soạn Chu dịch Trịnh Khang thành chú một quyển, sách tương đối có tính đại biểu. Những tư liệu trong Tứ khố toàn thư còn lưu giữ đều là những tư liệu nghiên cứu về Trịnh Huyền với Dịch học.

Sách Dịch vĩ được Trịnh Huyền chú giải có trình độ lý luận rất cao. Trên cơ sở của Kinh Phòng về bát quái, hào vị tương kết tương hợp, Trịnh Huyền đã xây dựng thêm số Ngũ hành thành Đại biến số để giải thích số Đại diễn và số Trời Đất của Dịch.

Dịch nói: 天一地二。天三地四。天五地六。天七地八。天九地十。Thiên nhất Địa nhị, Thiên tam Địa tứ, Thiên ngũ Địa lục, Thiên thất Địa bát, Thiên cửu Địa thập”. Số lẻ là dương thuộc Thiên; số chẵn là âm thuộc Điạ. Cho nên ta mới có 10 số thiên-nhiên, dàn thành 5 cặp âm-dương: (1, 2), (3, 4), (5, 6), (7, 8), (9, 10). Trịnh Huyền chú giải: 河以通乾出天。洛以流坤吐地符。河龍圖發。洛龜書成。河圖有九篇。洛書有六篇。(Hoàng-hà để thông hiểu quẻ Kiền suy ra từ trời. Lạc-thủy để lưu hành quẻ Khôn nhả địa-phù. Hoàng-hà Long-đồ phát-xuất, Lạc-thủy Quy-thư hoàn thành. Hà-đồ gồm 9 thiên, Lạc-thư gồm 6 thiên).

Tiêu Diên-Thọ 焦延壽, tự Cống, là sư phụ của Kinh Phòng, đã truyền lại cho Kinh Phòng nguyên lý Hào thần. Sách có chép "Bát-quái Lục-Vị-Đồ 八卦六位圖", lấy ngũ-hành, 10 can (nạp-giáp), 12 chi (trang chi) phổ vào các hào của bát-quái. Đó chính là một thuật của Kinh Phòng. Phép Hào thần sau này đã được Trịnh Huyền sử dụng lấy làm hào âm dương để giải thích Dịch, được ghi lại trong sách Dịch Hán Học 易漢學 của Huệ-Đống 惠棟, Quyển IV, có chép Đồ này.

Số Ngũ hành được xuất hiện sớm nhất ở Thượng thư - Hồng phạm viết: "Đầu tiên là ngũ hành. Thủy nhuận hạ, hỏa viêm thượng, mộc khúc trực, kim tùng cách, thổ viên giá sắc" (Nước thấm xuống làm nên vị mặn, lửa bốc lên làm ra vị đắng, gỗ cong thẳng làm nên vị chua, kim theo thay đổi làm nên vị cay, đất để gieo cấy làm nên vị ngọt). Thông qua đây, Trịnh Huyền lấy số Ngũ hành để chú giải về số trời đất trong Dịch, viết: "Khí của trời đất mỗi thứ có 5. Theo thứ tự ngũ hành, 1 là thủy đó là số trời, 2 là hỏa đó là số đất; 3 là mộc đó là số trời; 4 là kim đó là số đất; 5 là thổ đó là số trời". Ông lại nói: "Số trời đất là 55, với ngũ hành khí thông. Phàm ngũ hành giảm 5, đại diễn lại giảm 1 cho nên thành 4".

Trịnh Huyền chú thích Dịch vĩ rất rõ ràng khúc triết, ông phát triển "Hào thần thuyết" của Dịch vĩ lấy 6 hào của quẻ, tương phối với 12 thần trong 1 năm. Cứ 2 quẻ Dịch đối, ứng trực cho 1 năm, 64 quẻ ứng trực cho một vòng 32 năm, khởi đầu từ hai quẻ Càn Khôn, kết thúc ở hai quẻ Ký tế và Vị tế. Mục địch của Trịnh Huyền là cho quái và hào tương ứng với nội hàm của Thời gian, dẫn tới hiệu quả Thời gian tương ứng với Tiết khí. Hào Thần đối ứng tương tự như với phương pháp Nạp giáp vào quẻ vào hào với vận trình thời gian cho từng năm mới. Tức là: đối với quẻ dương thì đi theo chiều thuận, đối với quẻ âm thì đi theo chiều nghịch. Ta lấy quẻ Càn Khôn làm ví dụ:

Càn vận hành theo chiều trái:

- Hào Thượng: tháng Chín - kiến Tuất

- Hào Ngũ: tháng Bảy - kiến Thân.

- Hào Tứ: tháng Năm - kiến Ngọ

- Hào Tam: tháng Ba - kiến Thìn

- Hào Nhị: tháng Giêng - kiến Dần

- Hào Sơ: tháng Một - kiến Tý.

Khôn vận hành theo chiều phải:

- Hào Thượng: tháng Tư - kiến Tị

- Hào Ngũ: tháng Hai - kiến Mão

- Hào Tứ: tháng Chạp - kiến Sửu

- Hào Tam: tháng Mười - kiến Hợi

- Hào Nhị: tháng Tám - kiến Dậu

- Hào Sơ: tháng Sáu - kiến Mùi

Trịnh Huyền dùng thuyết Hào thần để chú giải quẻ Dịch, chính là do Hào thần đã phản ánh được quy luật âm dương tiêu trưởng, khi Hào thần kết hợp với âm dương khí hóa, đã giải thích được sự thuận nghịch, thành bại của sự - vật, phát huy đầy đủ nguyên lý của Dịch về sự tương ứng giữa con người với thế giới tự nhiên.

Đặc điểm của Trịnh Huyền là lấy Kinh để chú giải Nghĩa, có nghĩa là lấy Dịch kinh chú giải Dịch truyện, cũng như lấy Kinh để giải Vĩ, đây là ông căn cứ vào thuyết lấy âm dương ngũ hành làm cơ sở, Ông đã đề xuất tăng cường ý - nghĩa cho âm dương của Tượng hào, đồng thời dùng Âm dương hào, để giải thích Dịch. Ông cũng đề xuất xây dựng quan điểm của Lão Tử để giải Dịch, như Trịnh Huyền chú Dịch vĩ với Dịch tam nghĩa, lấy tư tưởng vô vi vô vật của Lão để trình bầy mọi điều, Ông viết: "Noi theo Dịch mà vô vi, thì tính của thiên hạ không thể không tự hình thành. Với điều đó, ta có thể nói Dịch đạo là vô vi. Cho nên, trời đất, vạn vật, tất cả đều biến thông".

THUYẾT GIẢI DỊCH CỦA KINH PHÒNG

Kinh Phòng là người khai sáng phái tượng - số Hán dịch, cống hiến chủ yếu về Dịch học của ông là phát triển tượng số học của Dịch học, sự phát hiện ra những điều mới trong Dịch của ông, đã gây được những ảnh hưởng sâu sắc. Đời sau đã coi ông với Mạnh Hỷ là đại biểu cho các nhà Dịch học đời Hán, điều này đã khẳng định vị thế của ông trong Dịch học.

Kinh Phòng (77 - 37 tr.CN) người Tây Hán, người đất Đốn Khâu Đông quận, tự là Quân Minh, ông vốn họ Lý. Ông học dịch ở Tiêu Diên Thọ, rất thích âm luật, sau chết trong tay Trung thư lệnh Thạch Hiển.

Ông biên soạn rất nhiều, nhưng theo Hán thư - Nghệ văn chí, thì nay chỉ còn 11 thiên Tai dị Mạch thị Kinh Phòng, 2 thiên Ngũ lộc xung Phòng lược thuyết, Kinh thị đoạn gia. Trừ 3 quyển Kinh thị dịch truyện ra, thì toàn bộ trước tác khác của ông đều thất lạc.

Kinh Phòng là riêng một học phái, đặc điểm về học thuật của ông là nhấn mạnh thuyết "thiên nhân cảm ứng", do làm rõ được về tai dị trong thiên nhiên, rồi từ đó Ông chiêm nghiệm khí số cho xã hội, nên được nhà vua ban thưởng. Kinh Phòng là mở đầu của phái tượng - số Dịch học. Tập Kinh thị dịch truyện là gốc của tượng - số, là ông tổ của chiêm nghiệm Dịch học.

THẾ - ỨNG

Thế - Ứng là điều lệ Dịch học của Kinh Phòng thời Tây Hán. "Thế" là chỉ quẻ nào đó, trong hệ thống bát cung quái, thuộc thế quái thứ mấy của Cung nào đó, như vậy có nghĩa là hào thứ mấy tức là hào "Thế".

"Ứng" là chỉ sau khi xác định hào của Thế quái, hào này nếu là Sơ thì ứng với hào Tứ, nếu là Tam thì ứng với hào Thượng. Ngược lại cũng như vậy.

Thế - Ứng trong Dịch thuyết của họ Kinh là rất quan trọng, là một trong những phương pháp cơ bản để đoán quẻ khi chiêm sự. Thượng Bỉnh Hòa bàn tới hàm nghĩa của Thế - Ứng và phương pháp suy tìm Thế - Ứng, Thế hào, Ông chỉ rõ: "Thế - Ứng là chủ trong quẻ, là chỗ dựa để suy đoán lành dữ, đại để như Trinh - Hối (tức là nội quái và ngoại quái). Thế là ta, Ứng là nó. Song Thế - Ứng xét ra gặp hào nào, vẫn vốn lấy gốc từ bản cung của quẻ Ngộ quái".

Do đó, tìm hiểu căn nguyên của Thế - Ứng của bất cứ một quẻ nào đó, đều phải khảo cứu Bản cung quái thuộc trong Bát cung quái. Lấy cung Càn làm ví dụ, hào Sơ biến là Nhất thế quái Thiên Phong Cấu, vì quẻ Cấu là từ hào Sơ quẻ Càn biến mà ra. Cho nên Cấu: Thế tức tại hào Sơ, Ứng tại hào Tứ. Hào Nhị của Càn lại biến, thì hào Nhị Thế quái Thiên Sơn Độn, vì Độn từ hào Nhị của quẻ Càn biến mà ra, nên Thế của quẻ Độn là hào Nhị, còn Ứng tại hào Ngũ. Hào Tam quẻ Càn lại biến thì thành Tam thế quái Thiên Địa Bĩ, vì quẻ Bĩ do hào Tam của quẻ Càn biến mà thành. Cho nên Thế của Bĩ là ở hào Tam, còn Ứng thì tại hào Thượng. Hào Tứ của Càn lại biến thì thành Tứ thế quái Phong Địa Quan, vì quẻ Quan là do hào Tứ quẻ Càn biến mà ra. Cho nên Thế của quẻ Quan là ở hào Tứ, còn Ứng thì ở tại hào Sơ. Hào Ngũ quẻ Càn lại biến thì thành Ngũ thế quái Thiên Địa Bác, vì quẻ Bác là do hào Ngũ quẻ Càn biến mà ra, cho nên Thế của quẻ Bác là ở hào Ngũ, Ứng tại hào Nhị. Hào Thương quẻ Càn chẳng thể biến đổi, nếu biến thì xuất cung. Sau khi do hào Ngũ của Ngũ thế quái Bác thoái lùi, thì hào Tứ lại biến thành Dương, thành ra Du hồn quái Hỏa Địa Tấn, Thế của Tấn lùi ở hào Tứ (giống với Tứ thế quái Quan), còn Ứng tại hào sơ. Lại do Tứ của Du hồn quái Tấn thoái lùi, hoàn toàn biến đổi ba hào ở dưới, thì thành Quy hồn quái Hỏa Thiên Đại hữu, Thế của quẻ Đại hữu lại lùi ở hào Tam (giống với Tam thế quái Bĩ), còn ứng tại hào Sơ. Còn như bản cung quái Càn là Thiên, thì Thế tại hào Thượng, Ứng tại hào Tam. Bảy cung còn lại cũng giống như vậy.

Khi tìm hiểu quy luật ở trong của Thế - Ứng, thì thấy Thế vị của Nhất thế quái cho đến Ngũ thế quái, lần lượt ở tại hào Sơ cho đến hào Ngũ, bản cung quái tại hào Thượng, thì Du hồn quái giống Tứ thế quái tại hào Tứ, Quy hồn quái giống Tam thế quái tại hào Tam. Xác định Thế hào rồi thì vị trí của Ứng hào sẽ rất dễ thấy. Cho nên Thượng Bỉnh Hòa nói: "Thế đã định thì cách hai hào là Ứng hào", nói cách hai hào là Ứng hào là cách nói giản tiện về sáu ngôi - vị chẵn lẻ âm dương tương ứng của các quẻ trong Dịch.

Kinh thị dịch truyện - về quẻ Quy hồn Đại hữu của cung Càn,Kinh Phòng nói: "Tam công lâm Thế, Ứng Thượng cửu vi Tông miếu". Từ Ngang nói: "Quy hồn đảm đương chức Tam công, Thế vị thì tại hào thứ ba, thế hào Thìn thổ tương ứng với Tông miếu hào Tị hỏa, (đó tức là hào Thượng, Thượng cư quái cực là tông miếu), Hỏa có khả năng sinh Thổ".

Phép Thế - Ứng mà các nhà bói toán đời sau vận dụng, là do Dịch học của Kinh Phòng mà ra. Các nhà dịch học Hán Ngụy, lưỡng Tấn như Tuân Sảng, Can Bảo,... thì lại thường lấy điều lệ "thế - ứng" để giải thích nghĩa của Dịch.

PHI – PHỤC

Điều lệ Dịch học do Kinh Phòng đời Hán đề xướng. "Phi" là chỉ Quái tượng của hào thế đã hiện rõ của một quẻ nào đó, của một cung nào đó. "Phục" là để chỉ Quái tượng đang ẩn phục chưa hiện rõ do hào thế, hoặc hào tương ứng với nó biến thành.

Phàm là tượng "phi - phục", thì phải có âm dương đối nhau, dương phi thì âm phục, âm phi thì dương phục. Chu Chấn - Hán thượng dịch truyện viết: "Phàm quẻ hiện rõ gọi là phi, quẻ chưa hiện rõ gọi là phục. Phi là mới đến. Phục là đã qua".

Kinh thị Dịch truyện trình bày thể lệ được thâu tóm như sau:

1. Bản cung quái trong Bát cung quái lấy âm dương đối nhau để hỗ thành "phi - phục". Như quẻ Càn và quẻ Khôn đối nhau, Càn là "phi" thì Khôn là "phục", Khôn là "phi" thì Càn là "phục". Tượng làm chủ là hào thế (hào Thượng Cửu Thượng Lục). Các cặp quẻ dịch đối Chấn - Tốn, Khảm - Ly, Cấn - Đoài cũng vậy.

2. Quẻ do Bát cung hóa sinh ra từ nhất thế đến ngũ thế, ba quẻ trước là "phi - phục" đối với nội quái, hai quẻ sau là "phi - phục" đối với ngoại quái. Như quẻ Cấu nhất thế quái của cung Càn, hào thế Sơ Lục đã hiển hiện mà cư ở nội Tốn, hào Sơ Cửu quẻ Càn được hóa sinh ra liền ẩn phục mà cư ở nội Càn, bởi vậy quẻ Cấu phi ở nội Tốn mà phục ở nội Càn, hào Sơ là chủ tượng. Cũng với lý đó, quẻ Độn nhị thế quái, phi ở nội Cấn phục ở nội Càn, hào Nhị là chủ tượng. Cũng với lý đó, quẻ Bĩ tam thế quái, phi ở nội Khôn phục ở nội Càn, hào Tam làm chủ tượng. Quẻ Quán tứ thế quái, phi ở ngoại Tốn phục ở ngoại Càn, hào Tứ là chủ tượng. Quẻ Bác ngũ thế quái, phi ở ngoại Cấn phục ở ngoại Càn, hào Ngũ là chủ tượng. Bản cung còn lại theo đó mà suy.

3. Quẻ Du hồn là "phi - phục" với ngoại quái của ngũ thế quái bản cung. Quẻ quy hồn là "phi - phục" với nội quái của quẻ Du hồn bản cung. Như quẻ Tấn là quẻ Du hồn của cung Càn, hào thế Cửu Tứ đã hiển hiện mà cư ở ngoại Ly, hào Lục Tứ của quẻ ngũ thế quái Bác do quẻ Du hồn phục biến, liền ẩn mà cư ngoại Cấn, hào Tứ là chủ tượng. Quẻ Quy hồn cung Càn là Đại hữu, hào Cửu Tam là hào thế, đã hiển hiện ra mà cư ở nội Càn, ba hào âm dưới quẻ Du hồn Tấn, phản quy phục biến, liền ẩn mà thành nội Khôn; bởi vậy quẻ Đại hữu phi ở nội Càn phục ở nội Khôn, hào Tam là chủ tượng. Bảy cung còn lại theo đây mà suy.

4. Khi chiêm quẻ, gặp hai hào động của bản quái, ba hào động của bản quái trở lên, thì lấy hào động trên cùng làm chủ tượng, xét từ trên xuống dưới, từ ngoài vào trong, cũng đều căn cứ vào Quái từ Quái tượng và Hào từ Hào tượng để định cát hung.

Xét, về thể lệ "phi - phục", thực chất Kinh Phòng vận dụng nguyên lý đầy vơi, tiêu tức trong mâu thuẫn đối lập âm dương của Dịch, sau đó suy rộng phát triển mà thành. Từ Ngang trong Kinh thị Dịch truyện tiên nói: "Âm dương tiêu trưởng mà có phi-phục. Hiển là phi, ẩn là phục. Đã phi thì từ hiển mà ẩn; đã phục thì từ ẩn mà hiển. Trong phi có phục, trong phục có phi, tiêu tức tuần hoàn không cùng".

Hán thư - Kinh Phòng truyện viết: "Tiêu quái gọi là Thái âm. Tức quái gọi là Thái dương". Nhan Sư Cổ chú: "Tiêu quái gồm Cấu, Độn, Bĩ,Quán, Bác, Khôn. Tức quái gồm Phục, Lâm, Thái, Đại tráng, Quải, Càn". Chu Hy chép ở đầu sách Chu dịch bản nghĩa có nói: "Thái dương sinh hai quẻ Càn Đoài. Thái âm sinh hai quẻ Cấn Khôn".

Kinh Phòng đã kết hợp, vận dụng cả Ngũ hành, Can Chi, Ngũ tinh, Tứ khí, Lục thân, Cửu tộc, Phúc đức, Hình sát, v.v...để giúp vào việc chiêm nghiệm. Các nhà bốc phệ đời sau đều lấy phép "phi-phục" của Kinh Phòng để xin âm dương chiêm đoán tai dị. Những nhà Dịch học thời Hán Ngụy như Tuân Sảng, Ngu Phiên lại thường dùng lý luận "dương hạ phục âm, âm hạ phục dương" trong thể lệ phi-phục để giải thích nghĩa của Dịch. Về câu "Lý sương kiên băng chí" trong Văn ngôn truyện quẻ Khôn, Tuân Sảng nói: "Sương là mệnh lệnh của Trời, dưới Khôn có Càn ẩn phục. 'Lý sương kiên băng', đó là nói đạo thuận tòng. Càn khí thêm vào, tính biến thành cứng. Như bề tôi thuận theo mệnh vua mà hoàn thành đạo làm tôi". Hoặc câu "Quân tử dĩ trí mệnh toại chí" trong Đại tượng truyện quẻ Khôn, Ngu Phiên nói: "Quân tử là chỉ hào Tam, dương đang ẩn phục".

Kinh Phòng kiên trì thuyết "quái khí" để bình nghị âm dương tai biến, cho nên di thuyết của ông truyền ở đời rất sâu rộng. Đầu quyển Thượng là: Càn cung bát quái, thứ đến Chấn cung bát quái, Khảm cung bát quái, Cấn cung bát quái. Đầu quyển Trung là: Khôn cung bát quái, thứ đến Tốn cung bát quái, Ly cung bát quái, Đoài cung bát quái. Đầu quyển Hạ bàn về Thánh nhân làm Dịch, phép đếm cỏ thi bày quẻ, rồi bàn về phép Nạp Giáp, sau đó bàn về 24 khí hậu phối hợp với 64 quẻ, và Tứ Dịch: Thiên dịch - Địa dịch - Nhân dịch - Quỷ dịch. Thiên quan, Địa quan và Ngũ hành sinh tử. Phép bói dùng đồng tiền đời sau thực ra xuất phát từ đây. Cách dùng Hỏa châu lâm cựu truyền cũng khởi đầu từ sách của Kinh Phòng.

DU HỒN

Du hồn là quẻ thuần bản cung của mỗi cung, khi biến đến hào thứ năm, thì hào trên không biến, mà lại đi xuống, biến ở hào thứ tư đã biến, quẻ được hình thành như vậy, thì gọi là quẻ Du hồn. Kinh thị Dịch truyện, đó là Du hồn". Lục Tích chú thích: "Khi âm đã bóc hết dương, nhưng dương đạo không thể bị diệt hết, vì vậy phản dương phục đạo. Nhưng không quay về ngôi bản vị, thì gọi là Du hồn theo "lệ" của Bát quái". Nói về quẻ Tấn: "Khí tinh túy thuần"

Xét, gọi tên Du hồn, vốn gốc từ Hệ từ - Thượng truyện "Tinh khí vi vật, du hồn vi biến". Kinh Phòng đã tiếp thu, lấy làm tên gọi cho quẻ hình thành bởi lần biến thứ sáu của Bản cung quái. Can Bảo chú giải về quẻ Tụng nói: "Quẻ Tụng là du hồn của quẻ Ly. Ly là binh qua, thiên khí hình sát, là quẻ mà vương công phải dùng tới quân đội".

QUY HỒN

Quy hồn là quẻ bản cung của mỗi cung, đã biến đổi tới lần thứ 6 thành quẻ Du hồn, thì đồng thời biến đổi 3 hào đã biến ở dưới quẻ, như vậy thì thành quẻ, gọi là quẻ Quy hồn. Kinh thị Dịch truyện trong mục quẻ Đại hữu nói: "Quẻ trở về bản cung gọi là Đại hữu, tượng trong thấy Càn là bản vị". Gọi là "Bản cung", hay "Bản vị" là chỉ cung Càn biến tới quẻ Quy hồn, thì ba hào dưới lại biến nữa mà trở về Càn. Như vậy, hào Sơ, hào Nhị, hào Tam đều biến hai lần. Hào Tứ biến lần hai thì được quẻ Du hồn.

Lục Tích chú thích rằng: "Tám quẻ vốn khởi từ cung Càn, tới Đại hữu là Quy hồn. Gọi là Quy hồn là nói về tượng của quẻ đó biến, mà quay trở về bản vị Hạ quái của bản cung". Tuân Sảng nói: "Tùy là quy hồn của Chấn, Chấn trở về (quy) từ Tốn (chỉ hạ thể quẻ tam thế Chấn thành Tốn, tới quẻ quy hồn mới hồi phục bản thể thành Chấn), cho nên rất thông thuận. Vì Tốn là khiêm tốn, hòa thuận, nên có nghĩa là Thông.

Kinh thị Dịch truyện nói: "Dịch của Khổng Tử chép: Có tứ dịch. Nhất thế Nhị thế là Địa dịch. Tam thế Tứ thế là Nhân dịch. Ngũ thế Bát thuần là Thiên dịch. Du hồn Quy hồn là Quỷ dịch". Lại nói: "Du hồn, Quy hồn là Quỷ dịch. Quỷ là lại quay về. Quẻ Du hồn từ hào thứ năm, thì quay về mà biến ở hào thứ tư; quẻ Quy hồn từ hào thứ tư, lại quay về mà biến ở ba hào ở dưới quẻ. Thể lệ này đều bao hàm cả tôn chỉ của sự 'quay về' (phục quy)".

Thế quái khởi Nguyệt lệ

Điều lệ Dịch học của Kinh Phòng. Phép này đem Bát cung quái chia ghép với 12 tháng. Không giống với thể chế đem quẻ ghép với tháng, trong Quái khí đồ của Mạnh Hỷ.

Khởi Nguyệt lệ:

- Nhất thế quái: âm làm chủ tháng Năm, vì một âm tại Ngọ. Dương làm chủ tháng Một, vì một dương tại Tý.

- Nhị thế quái: âm làm chủ tháng Sáu, vì hai âm tại Mùi, Dương làm chủ tháng Chạp, vì hai dương tại Sửu.

- Tam thế quái: âm làm chủ tháng Bảy vì ba âm tại Thân, dương làm chủ tháng Giêng, vì ba dương tại Dần.

- Tứ thế quái: âm làm chủ tháng Tám vì bốn âm tại Dậu, dương làm chủ tháng Hai vì bốn dương tại Mão.

- Ngũ thế quái: âm làm chủ tháng Chín vì năm âm tại Tuất, dương làm chủ tháng Ba vì năm dương tại Thìn.

- Bát thuần Thượng, âm làm chủ tháng Mười vì sáu âm tại Hợi, dương làm chủ tháng Tư vì sáu dương tại Tị.

- Du hồn do Tứ thế làm chủ, giống với Tứ thế quái.

- Quy hồn do Tam thế làm chủ, giống với Tam thế quái.

Âm dương nói ở đây, là chỉ hào Thế của thế Quái cùng Du hồn quái, Quy hồn quái, thuộc quẻ nào đó, thuộc cung nào đó, là hào âm hay hào dương. Căn cứ vào thuyết này mà lập "Thế quái khởi nguyệt lệ biểu".

Tất cả 12 tiêu tức quái, đều hợp với 12 tháng phối thuộc, còn 52 quẻ khác, vì hào Thế của chúng hợp với tiêu tức hào của 12 tiêu tức quái, nên cũng phân biệt liệt vào 12 tháng. Cho nên, khởi Nguyệt lệ của Kinh Phòng chính là do 12 tiêu tức quái mở rộng ra mà thành. Sự vận dụng lệ này, vốn là để bói toán chiêm nghiệm.

- Nguyệt kiến Tý - quẻ đời một (nhất thế quái): Phục, Bí, Tiết, Tiểu súc

- Nguyệt kiến Sửu - quẻ đời hai (nhị thế quái): Lâm, Đại súc, Giải, Đỉnh

- Nguyệt kiến Dần - quẻ đời ba (tam thế quái) Thái, Ký tế, Hằng, Hàm.

- Quẻ Quy hồn: Đại hữu, Tiệm, Cổ, Đồng nhân

- Nguyệt kiến Mão - quẻ đời bốn (tứ thế quái) Đại tráng, Khuê, Cách, Vô vọng.

- Du hồn quái: Tấn, Đại quá, Tụng, Tiểu quá

- Nguyệt kiến Thìn - quẻ đời năm (ngũ thế quái) Quải, Lý, Tỉnh, Hoán.

- Nguyệt kiến Tị - quẻ Bát thuần (Bát thuần quái) Càn, Cấn, Tốn, Ly

- Nguyệt kiến Ngọ - nhất thế quái: Cấu, Dự, Lữ, Khốn

- Nguyệt kiến Mùi - nhị thế quái: Độn, Truân, Gia nhân, Tụy

- Nguyệt kiến Thân - tam thế quái: Bĩ, Tổn, Ích, Vị tế

- Quẻ Quy hồn: Tùy, Sư, Tỵ, Quy muội

- Nguyệt kiến Dậu - tứ thế quái: Quán, Thăng, Mông, Kiển

- Du hồn quái: Minh di, Trung phu, Nhu, Di

- Nguyệt kiến Tuất - ngũ thế quái: Bác, Phong, Phệ hạp, Khiêm

- Nguyệt kiến Hợi - Bát thuần quái: Khôn, Chấn, Khảm, Đoài.

Sở Tử Huy viết lời bạt cho sách Khải mông tiểu truyện, đã làm rõ nghĩa của Chu Tử còn thiếu, lập luận của Ông có căn cứ, lý lẽ có hệ thống chặt chẽ. Đã làm rõ nghĩa “Càn Khôn nạp Giáp”, quẻ Càn từ Giáp đến Nhâm, quẻ Khôn từ Ất đến Quý, số của nó đều là 9. Tuy nhiên Ông ngờ thuyết cho rằng, số 9 của quẻ Càn có khả năng kiêm cả số 6 của quẻ Khôn. Nhưng Khôn âm không thể bao hàm Càn dương. Tử Huy cho rằng, trong số 6, có số 1, 3, 5 (là các số dương), như vậy thì số 9 dương cũng có thể chứa trong số 6 âm. Thực ra học thuyết về số không ngoài chẵn - lẻ, chỉ có một nghĩa đó mà rất nhiều thuyết bàn tới, càng suy luận càng nẩy sinh những luận lý mới, thuyết nào cũng đúng cả.

Xét, một quẻ sinh 3 con, 3 con sinh 9 cháu. Phép Bát phong của họ Kinh, mỗi quẻ có 3 hào là “sinh”, có 3 hào ngoài là “hành”. Một quẻ sinh 3 cho nên 8 quẻ “biệt sinh” ra 24 “tử tức” (con cháu), 8 quẻ còn “hoà sinh” 24 “tử tức” nữa. Ngoại quái đều có 1 người hành ở một hào. 3 người “hành” vào trong (nội quái) làm khách, cho nên nói: “có ba người khách từ từ đến”. Nhân lấy phép một hào biến của Tả Thị, mỗi quẻ có 6 biến hào làm thành một quẻ, lại hợp 6 lần biến thành 36 quẻ

Nguồn:

- Kinh thị Dịch truyện - Từ Ngang

- Từ điển Chu dịch - Trương Thiện Văn.

THUYẾT VỀ DỊCH SỐ

Số là sự thăng hoa của Tượng, Dịch số bắt nguồn từ Dịch tượng, hào số trong Dịch là tổ của vạn số. Nói là tổ của vạn số, là từ sau khi Phục Hy họa vẽ bát quái, hào âm "- -" (2 số) và hào dương "-" (1 số), số tổng của hai số (3 số) đã trở thành tổ của vạn số.

Dịch số bao gồm Thiên số và Địa số - số của Đại diễn, số của kỳ - ngẫu (số lẻ - chẵn), và nội dung của tứ đại sinh thành số (bốn số lớn sinh thành). Trong đó Dịch số Hà Lạc có nội hàm quan trọng trong khoa học sinh mệnh.

Sự kết hợp giữa Dịch tượng và Dịch số có ý nghĩa quan trọng về phương diện đi sâu làm sáng tỏ Dịch lý. Số là điểm cơ bản của Khoa học tự nhiên, khi ứng dung về mặt chiêm phệ của tượng - số còn được gọi là "thuật số học", là hạt nhân của văn hóa chiêm phệ, sự tương bổ tương thành giữa tương - số và thuật số đều là hạt nhân của Dịch học.

Đặc điểm tượng - số của Dịch là thông qua tượng - số, phân tích làm sáng tỏ Dịch lý. Trong quá trình từ Tượng đến Số, từ Số đến Lý, về khách quan đã thúc đảy tư duy hình tượng đến tư duy trừu tượng, còn được gọi là Huyền học của tư duy Cổ đại. Dịch số không những có tác dụng quan trọng đối với sự phát triển của Dịch tượng, mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của Dịch lý. Quy luật phát triển giữa hai bộ môn đó với nhau là: Dịch số bắt nguồn từ Tượng lại phát triển Tượng lên; Dịch số ra đời từ Lý lại thúc đẩy cho Lý phát triển. Ba bộ môn Số - Tượng - Lý tương phản tương thành, cùng chung kích thích sự phát triển của Dịch học và Khoa học tự nhiên.

THIÊN SỐ VÀ ĐỊA SÔ CỦA DỊCH

Nội hàm số Thiên Địa của Dịch là lấy số thiên địa để chứng minh nguyên lý hợp nhất của Thiên Địa, mục đích dùng để chứng minh quy luật tự nhiên của Vũ trụ, như viết: "Thiên nhất, địa nhị, thiên tam địa tứ; thiên ngũ địa lục, thiên thất địa bát; thiên cửu địa thập".

Khái niệm 'cực' trong Dịch là nói đến cái bản nguyên của Thiên Địa, như Dịch truyện - Hệ từ nói: "Hữu thiên địa, nhiên hậu vạn vật sinh yên" (Có trời đất, sau mới sinh ra vạn vật), nên Dịch bàn về số là chủ ý lấy Số để chứng minh sự biến hóa vận động của Thiên Địa. Dịch truyện - Hệ từ viết: "Thiên số ngũ, địa số ngũ, ngũ vị tương đắc nhi các hữu hợp. Thiên số nhị thập hữu ngũ, địa số dĩ thành biến hóa nhi hành quỷ thần dã".

Lấy Thiên số và Địa số làm tiêu chí trong quá trình tiêu trưởng của Dịch, đặc biệt là lấy sự nghịch - thuận của âm dương của số, để làm tiêu chí mất còn của âm dương thiên địa, như Dịch - Thuyết quái viết: "Số vãng giả thuận, tri lai giả nghịch, thị số dịch số nghịch dã".

Gọi là nghịch - thuận của Số, là chỉ vãng - lai của Số; "vãng" là số tả huyền (xoay sang trái), thuận thiên nhi hành nên viết thuận; "lai" là số xoay chuyển song hữu (phải) nghịch thiên nhi hành nên viết nghịch. Cho nên, thuận số tượng trưng cho dương sinh âm trưởng, nghịch số tiêu chí âm trưởng dương tiêu. Như trong Tiên thiên bát quái phương vị đồ của Phục Hy, các quẻ Càn Đoài Ly Chấn của nửa vòng bên trái, thì lấy tả huyền vi thuận, tượng trưng cho dương trưởng âm tiêu. Ngược lại, với nửa vòng tròn bên phải, các quẻ Tốn Khảm Cấn Khôn dịch chuyển về bên phải, thể hiện dấu hiệu âm trưởng dương tiêu. Đúng như Chu Hi đã viết: "thiên tả hành, hữu địa tuyền" (Trời đi về phía trái, đất xoay về phía phải).

Thứ tự thuận của Bát quái là từ phải sang trái, tức do: Khôn, Cấn, Khảm, Tốn, Chấn, Ly, Đoài, Càn; cho nên dương sinh xoay vòng sáng trái (tả) theo thiên thời, âm trưởng đi theo sang vòng bên phải (hữu), tương phản đúng hướng tốt. Bởi vậy Dịch viết: "dịch chi số do nghịch như thành hĩ" (số của Dịch do ngược lại mà thành). Vậy tức là 'Dịch' lấy sự nghịch thuận của số, để chứng minh giải thích mối quan hệ mật thiết giữa bát quái định vị với thiên địa vận hành, phản ánh bối cảnh thiên văn của bát quái.

Dịch lấy Thiên số Địa số để tượng trưng cho Tứ tượng lão dương, lão âm, thiếu dương, thiếu âm là Thái cực tứ tượng. Căn cứ theo nguyên lý thái cực thái cực âm dương tiêu trưởng, số tứ tượng tiêu chí cho bốn giai đoạn của thiên địa âm dương tiêu trưởng. Tức lấy 6 làm số lão âm, tượng trưng cho cực của địa âm; lấy '7 số' làm số thiếu dương đại biểu số khởi đầu của thiên dương; lấy '9 số' làm số lão dương tiêu chí cho cực của thiên dương, lấy 8 làm số thiếu âm tượng trưng cho số khởi đầu của địa âm. Dịch truyện lại tiến thêm một bước ứng hợp giữa tứ tượng số và hào số với nhau, để dùng trong chiêm phệ bói toán.

Thiên số và Địa số trong quá trình phát triển, quan trọng nhất là Trần Đoàn thời Bắc Tống, ông lập thuyết chủ yếu lấy Thiên số và Địa số của Dịch, làm cơ sở để thông biến với Hà đồ và Lạc thư. Trong "Long đồ tam biến" nổi tiếng, Trịnh Huyền đã xây dựng học thuyết sáng tỏ về sự diễn biến của Hà đồ - Lạc thư, tức là ông đã dung hòa và kết hợp được giữa Thiên số và Địa số của Dịch, thêm nữa là Kỳ số và Ngẫu số với Ngũ hành sinh thành số, có nghĩa là đệ nhị biến, đem số của 'ngôi vị' hợp với thiên số và địa số trong đệ nhất bất biến, thành số dĩ hợp thiên địa, đã thể hiện ý nghĩa sâu xa sự tượng hợp thiên địa, hàm ẩn số thiên địa của Dịch, đúng như trong Tống văn giám - Long đồ tự - Đồ tam biến đã nói: "Hậu ký hợp dã; thiên nhất cư thượng vị đạo chi tông, địa lục cư hạ vị địa chi bản; thiên tam địa nhị địa tứ vi chi dụng. Tam nhược tại dương tắc tỵ (tránh) cô âm, tại âm tắc tỵ quả (thiếu, ít) dương". (Sau đã được tổng hợp lại: trời là số 1 làm tôn chỉ của đạo. Đất làm số 6 đặt làm gốc của quả đất. Thiên 3, địa 2, địa 4 đều vận dụng vào. Số 3 nếu ở tại dương thì số âm tránh được sự sô độc, còn ở tại âm thì số dương tránh được cô quả".

Lưu Mục trên cơ sở của Trần Đoàn, lại tiến hành tái tạo thêm, phát triển số thiên địa thành ngũ hành sinh thành số. Có nghĩa là phân biệt Long đồ thiên số địa số với ngũ hành sinh thành số tương kết hợp, sáng tạo nên 'Hà Lạc ngũ hành sinh thành số' nổi tiếng. Như viết: "Đó là số ngũ hành sinh thành. Thiên nhất sinh thủy, địa nhị sinh hỏa, thiên tam sinh mộc, địa tứ sinh kim, thiên ngũ sinh thổ. Đó là số sinh vậy. Như vậy thì số dương không có số để hợp, số âm sẽ không gặp may. Cho nên, địa lục thành thủy, thiên thất thành hỏa, địa bát thành mộc, thiên cửu thành kim, địa thập thành thổ. Dẫn đến là số âm dương đều có sự hòa hợp và may mắn, như vậy vật sẽ đắc thành, nên được gọi là thành số".

Số thiên địa của Dịch là mẫu của vạn số, có mối quan hệ mật thiết với ngũ hành sinh thành số, âm dương kỳ ngẫu số, đại diễn phệ số. Thiên số và Địa số là cơ sở của ngũ hành sinh thành số, là sản vật kết hợp giữa thiên địa số và ngũ hành của Dịch, Dịch truyện - Hệ từ viết: "Thiên nhất địa nhị, thiên tam địa tứ, thiên ngũ địa lục, thiên thất địa bát, thiên cửu địa thập". Hán thư - Ngũ hành chí viết: "Thiên dĩ nhất sinh thủy, địa dĩ nhị sinh hỏa, thiên dĩ tam sinh mộc, địa dĩ tứ sinh kim, thiên dĩ ngũ sinh thổ". Dịch số câu ẩn đồ viết: "Thiên nhất sinh thủy, địa nhị sinh hỏa, thiên tam sinh mộc, địa tứ sinh kim, thiên ngũ sinh thổ, địa lục thành thủy, thiên thất thành hỏa, địa bát thành mộc, thiên cửu thành kim, địa thập thành thổ".

Hơn nữa sự tương hợp của số thiên địa trong "Long đồ tam biến" của Trần Đoàn, cũng bắt nguồn từ Dịch truyện - Hệ từ viết: "Thiên số ngũ, địa số ngũ, ngũ vị tương đắc như các hữu hợp, biến hóa nhi hành quỷ thần dã". Lại viết "Trên trời là số 1, dưới đất là số 5, vị trí số 5 tương đắc sẽ có sự hòa hợp nhau, sẽ có sự biến hóa mà làm thành quỷ thần vậy".

Dịch lấy thiên số làm kỳ số là dương số; lấy địa số làm ngẫu số là âm số, từ đó mà đặt cơ sở cho kỳ ngẫu âm dương số. Như trong thiên địa số của Dịch truyện - Hệ từ viết: "Phàm thiên số đều là kỳ số, địa số đều là ngẫu số. Lấy thiên làm đương, lấy địa làm âm", qua đây ta thấy mối quan hệ sâu xa giữa kỳ ngẫu âm dương số của Dịch với thiên địa số.

Số 50 của Đại diễn là số diễn giả, dùng để chiêm phệ Dịch, đồng thời cũng có mối quan hệ mật thiết với số thiên địa của Dịch. Bởi vì số Đại diễn là cơ sở để lấy thiên số và địa số hợp ngũ phương mà diễn giả vạn số. Hơn nữa số Đại diễn cũng thoát thai từ số thiên địa của Dịch. Đúng như Dịch truyện - Hệ từ viết: "Đại diễn chi số ngũ thập... thiên số nhị thập hữu ngũ, địa số tam thập. Phàm thiên địa chi số ngũ thập hữu ngũ, thử số dĩ thành biến hóa nhi hành quẻ thần dã".

Lấy kỳ số và ngẫu số tượng trưng thiên địa, được khởi nguồn từ tứ tượng pháp thiên địa mà có, từ phản ánh bắt nguồn ở tượng của số, nói rõ tính vật chất của Dịch số. Như Dịch - Thuyết quái viết: "Tham thiên lưỡng địa nhi ỷ số", tham tức là số 3 là kỳ số (số lẻ); lưỡng tức là số 2 là ngẫu số, 'tham thiên lưỡng địa' tức là để gọi thiên kỳ địa ngẫu, thiên dương địa âm, cũng có nghĩa là để giám sát cả trời đất. Ý tứ của toàn câu là lấy số âm dương kỳ ngẫu để nắm chắc độ số của thiên địa, thông qua Ngũ âm làm số đo trời, cụ thể là lấy âm dương của số, làm thước đo âm dương của trời đất. Cho nên nói đây là nội hàm chủ yếu của kỳ ngẫu số trong Dịch.

Kỳ số và ngẫu số làm tiêu chí cho số âm dương, được bắt nguồn gốc ở hào âm hay dương, trong đó Hào dương là kỳ số, là 'dương số chi phụ' (cha của số dương); Hào âm là ngẫu số, là 'âm số chi mẫu' (mẹ của số âm). Từ đây đặt nên mối quan hệ vững chắc giữa kỳ ngẫu số và âm dương.

Kỳ số và ngẫu số cũng biểu thì cho sự 'hư - thực', vẫn bắt nguồn từ hào âm dương, trong đó ngẫu số là 'hư', kỳ số là 'thực'. Nội hàm hư thực của kỳ ngẫu số cũng được phản ánh ở Bát quái, như quẻ Ly là trung hư, quẻ Khảm là trung mãn. Cho nên trong Thái cực đồ, điểm trắng kỳ số tượng trưng cho thực, điểm đen ngẫu số tượng trưng cho hư.

Đối với triết lý, được phản ánh trong mối quan hệ giữa Dịch truyện và Lão Tử. Thứ nhất, là từ góc độ của Ngẫu số tiến hành phân tích rõ sự sinh thành của Vũ trụ, như "Dịch hữu thái cực, thị sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái". Cụ thể là sự sinh thành của Bát quái và vạn vật, thông qua kỳ số và ngẫu số của Dịch, đã phản ảnh triết lý 'nhất phân vi nhị' (một chia làm đôi), nhờ sự gợi mở của triết lý này mà người đời sau đã sáng lập nên 'Tiên thiên bát quái thứ tự đồ', và 'Thiên thiên lục thập tứ quái thứ tự đồ'. Hai đồ hình này đã bao hàm rõ nét nguyên lý 'nhất phân vi nhị', đã ảnh hưởng lớn đến thế hệ sau.

Ngoài ra, trên cơ sở 3 hào làm nhất quái của Dịch kinh, thì Dịch truyện còn đề xuất tư tưởng 'tam tài quan' của thiên địa nhân nhất thể. Trên cơ sở này, mà người đời sau đã xây dựng lập thuyết 'hàm tam vi nhất' (bao hàm 3 làm 1), như trong Tam thống lịch đời Ngụy, Mạnh Khang chú giải: "Thái cực nguyên khí, hàm tam vi nhất", có nghĩa là lấy hai con cá mầu đen trắng đại biểu cho thiên địa, đường phân giới tuyến hình chữ 's' đại biểu cho Nhân, từ đồ hình đã chỉ rõ hợp nhất tam tài thiên địa nhân.

Lão Tử đã phát triển nổi bật Kỳ số của Dịch, chủ yếu là lấy Kỳ số giải thích sự sinh thành của Vũ trụ: "Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật". Dịch truyện nhấn mạnh Ngẫu số 'nhị', đó là Thái cực sinh lưỡng nghi. Lão Tử phát huy 'tam' Kỳ số, tích cực đề xuất rằng 'tam' sinh vạn vật. Dịch truyện sáng lập bộ môn sáng trói về "nhất phân vi nhị", còn Lão Tử đề xướng "nhất phân vi tam". Thuyết minh Dịch truyện và Lão Tử lấy 'tham' và 'lưỡng' để giải thích vũ trụ thông qua hình đồ triết lý diễn sinh như sau:

......................[Hào âm --> ngẫu số 2 --> nhất phân vi nhị

Tham thiên [Hào số 3 --> hàm tam vi nhất --> Trung hòa quan

Lưỡng địa [Hào dương -->Kỳ số 1 --> nhất phân vi tam

.....................(nhị hợp vi nhất)

Dịch lấy hào dương làm Kỳ số, hào âm làm Ngẫu số, Dịch ghép lấy hào ba của Kỳ số 'tổ' thành kinh quái, lấy Ngẫu số lưỡng kinh quái 'hợp' thành trọng quái. Kỳ Ngẫu số của Dịch đã xác lập định luật lấy đơn số làm 'lẻ', lấy song số làm 'chẵn', đặt cơ sở cho luật kỳ - ngẫu cổ đại. Đặc biệt là căn theo luật Kỳ số là hào dương, Ngẫu số là hào âm, đã quy định Kỳ là số dương Ngẫu là số âm, từ đây xác định nội hàm âm dương của luật Kỳ - Ngẫu, đã có ảnh hưởng rất lớn đối với hậu thế cho đến tận này nay. Như trong Bạch hổ thông - Giá tụ Ban Cố viết: "Dương số Kỳ, âm số Ngẫu", đã nói rõ kỳ ngẫu của Dịch có quan hệ mật thiết đối với sự hình thành của luật kỳ ngẫu âm dương.

Luật kỳ ngẫu âm dương đã có ảnh hưởng sâu sắc đối với nhiều bộ môn: lịch pháp, thuật số, chiêm phệ, vận khí học,... của thời cổ đại. Như thời tính Can chi kỷ (12 năm), lấy kỳ số làm dương Can, ngẫu số làm âm Can, học thuyết Vận khí trong Hoàng đế nội kinh cũng như vậy. Lại như các thuật số Thái ất, Kỳ môn, Lục Nhâm cũng đầu lấy âm dương kỳ ngẫu làm tiền đề: hào âm tượng trưng cho 'nhất phân vi nhị', hào dương có ý chỉ 'hợp nhị vi nhất'.

Dịch truyện dựa trên cơ sở Dịch kinh, đã xác minh rõ quan niệm về sự thống nhất đối lập ẩn tàng trong luật kỳ ngẫu của các hào âm và hào dương, hoàn toàn phù hợp với số sinh tượng, tượng sinh lý, có nghĩa là quy luật tư duy trìu tượng sản sinh ở tư duy hình tượng, tiến thêm một bước chứng thực quan điểm 'tham thiên lưỡng địa nhi ỷ số'. Từ đây mà tư tưởng biện chứng được xác lập.

Gọi là luật chính phản, có nghĩa là chỉ hướng chính và hướng phụ của sự vật. Bất cứ sự vật nào trong vũ trụ đều tồn tại hai mặt chính phản (phải trái), tức có chính hướng tất có phản hướng, bao gồm hư thực u ẩn, khai hợp (khép mở), minh ám (sáng tối), trú dạ (ngày đêm), tử sinh,... Hào dương và hào âm của Dịch kinh, có hắc ngư và bạch ngư trong Thái cực đồ, rồi tới hắc điểm và bạch điểm của Hà đồ Lạc thư, tất cả đều tàng ẩn chứa đựng nguyên lý thư thực chính phản, mà còn đều lấy Kỳ làm chính hướng làm thực, lấy Ngẫu làm phản hướng làm hư; đối với Hà Lạc cũng vậy: Kỳ số là chính là thực, Ngẫu số là phản là hư.

Luật chính phản là luật đặc hữu của Dịch, là sự phát triển đặc thù của quy luật mâu thuận của Dịch, mà chủ yếu chỉ tính chất hư thực, u hiện (kín lộ), khai hợp (đóng mở), để làm sáng tỏ quy luật chính phản của sự vật. Cụ thể như hào âm của bát quái là hư số, còn Hào là thực số vậy. Cũng như số ẩn (độn số) của Kỳ môn độn Giáp, các hào trong Kỳ môn gồm: Độn - Giả - Mộ - Tỵ (tránh) - Huyệt - Phục thì đều thuộc ẩn thuộc hư, còn Kỳ - Môn - Tiến - Du - Phi - Sư thì đều là các hào hiển lộ rõ, là thực. Sau đó Kỳ môn dựa vào đó suy diễn hư thực, chiêm đoán cát hung, đạt đến mục đích tránh được họa, được hưởng phúc.

SỐ ĐẠI DIỄN

Số Đại diễn là thành phần chủ yếu của Dịch số. Đại diễn tức là diễn ngữ, diễn dịch, là chỉ về phương pháp dùng thẻ bằng cỏ Thi để diễn dịch xem đoán vận số. Số Đại diễn là tổng hòa của thiên số và địa số trong Dịch: "Thiên nhất địa nhị, thiên tam địa tứ, thiên ngũ địa lục, thiên thất địa bát, thiên cửu địa thập".

Số Đại diễn sở dĩ lấy 'ngũ thập' là do thời cổ đại, lấy 'ngũ thập' làm cực số tự nhiên quan trọng, nguyên nhân là do số 'ngũ thập' có đầy đủ nội hàm với vũ trụ thiên văn. Như trong Hoàng đế nội kinh nói: "nhân khí hành Kinh mạch ngũ thập doanh", nhấn mạnh 'ngũ thập doanh' là số thọ của phép dưỡng sinh. Linh Khu - Ngũ thập doanh viết: "ngũ thập doanh bị, đắc tân thiên chi thọ hỉ" (được số thọ của cả trời đất). Chu dịch chính nghĩa - Khổng Dĩnh Đạt dẫn lời Kinh Phòng nói: "Ngũ thập giả, vị thập nhật, thập nhị thìn, nhị thập bát tú dã". Mã Dung cũng nói: "Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh nhật nguyệt, nhật nguyệt sinh tứ thời, tứ thời sinh ngũ hành, ngũ hành sinh thập nhị nguyệt, thập nhị nguyệt sinh nhị thập tứ khí, phàm ngũ thập" (khái quát lại là năm mười)

Số Đại diễn 'ngũ thập hữu ngũ', còn có thuyết là số căn cứ để vua Đại Vũ trị thủy thời cổ đại, như trong Chu bễ toán kinh nói "Vũ trị hồng thủy, bắt đầu mở rộng vận dụng và bỏ lược đi phần huyền hoặc nên gọi là số đại diễn".

Số Đại diễn là điển phạm lấy Số mà nghiên cứu Tượng, tuy là số chiêm toán, nhưng lại có mối tương quan mật thiết với vũ trụ sinh thành, lý luận này bắt nguồn từ ở Thái Nhất (Bắc Thìn) ở trong bất động, là bối cảnh thiên văn vũ trụ xoay chuyển của 49 ngôi sao bắc đẩu tinh tọa, Mã Dung viết: "Hợp thái cực, lưỡng nghi, tứ thời, ngũ hành, thập nhị nguyệt, nhị thập tứ khí vi ngũ thập, nhi giảm khứ bắc thìn chi nhất vi dụng tứ thập cửu. Dịch hữu thái cực vị bắc thìn dã. Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh nhật nguyệt, nhật nguyệt sinh tứ thời, tứ thời sinh ngũ hành, ngũ hành sinh thập nhị nguyệt, thập nhị nguyệt sinh nhị thấp tứ khí. Bắc thìn cư vị bất động. Kỳ dư tứ thập cửu, chuyển vận nhi dụng dã". Giảm bớt đi số 1 của bắc thìn, xem như giảm một ngày để dùng số 49. (Dịch có thái cực gọi là bắc thìn. Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh nhật nguyệt, nhật nguyệt sinh 4 mùa, bốn mùa sinh 5 hành, 5 hành sinh ra 12 tháng, 12 tháng sinh ra 24 khí. Sao ở Bắc cực ở vị trí bất động, ngoài ra còn lại 49, được chuyển vận mà sử dụng)

Số Đại diễn ngoài hàm chứa tính thiên văn ra, thì cũng hàm chứa cả số âm dương, cụ thể là số "dư" từ số Đại diễn sau khi kinh qua tam biến của chiêm phệ, lấy đó trừ đi 4 thì được 9 là lão dương số, được 6 là lão âm số, được 7 là thiếu dương số, được 8 là thiếu âm số, bốn số này cũng tức là âm dương tứ tượng. Ngoài ra, số lão dương và số lão âm được lấy làm tiêu chí của hào dương và hào âm trong Dịch.

Số Hà Lạc là sự hợp nhất của số thiên địa, số đại diễn và số sinh thành. Tổng số của Hà đồ là "ngũ thập hữu ngũ" (năm mươi dư năm), đây là số tổng hòa trong Dịch, mà Lạc thư tổng số là "tứ thập hữu ngũ" (bốn mươi dư năm). Hai số đại diện cho chính - phản, trái phải của số Đại diễn.

Thổ khí là nguyên cớ của vạn vật. Được gọi là số 'sinh' gồm các số 1, 2, 3, 4, 5 là số tượng trưng cho thủy, hỏa, mộc, kim, thổ; trong đó số của Thổ là nguyên cớ cho bốn số đứng ở ngôi vị trước mà ỷ vào (nhi ỷ số: số dựa vào) mà được thành số 6, 7, 8, 9, 10. Tổng hòa của Hà đồ sinh thành số cũng là 'ngũ thập hữu ngũ'.

Phệ số tức là số bói quẻ bằng cỏ Thi 'kỳ dụng tứ thập hữu cửu' (dùng số bốn mươi dư chín). Thi số là chỉ phệ số của 'tứ thập hữu cửu' rút ra trong 'ngũ thập' của số Đại diễn một "can rễ" không dùng, thông qua sự biến hóa của bói toán (phệ biến), thì thấy được sự dung nhất giữa ba bộ môn số - tượng - lý.

Sách số là chỉ Càn Khôn sách số có nguồn gốc từ lấy số 4 đại diện cho tứ doanh nhân với 9 là số 'dụng cửu' của hào dương mà thành 36, tiếp theo lại nhân với 6 của hào dương mà thành 216 sách số của Càn. Số 4 của tứ doanh nhân với số 6 là số 'dụng lục' của hào âm thành thành 24, lại nhân tiếp với 6 của hào âm thì được 144 là sách số của Khôn, tổng hòa của sách số là 'tam bách hữu lục thập', đây là chỉ số của một vòng quay mặt trời thời xưa. Cho nên, Càn Khôn sách số là tiêu chí chỉ sự vận hành của thiên địa, cũng tức là Càn Khôn sách số của 28 vì sao quanh bầu trời vòng quay hết 64 quái 384 hào.

Số chỉ vạn vật là số 11520, là một khí số quan trong thời cổ đại, được tổ hợp từ sách số của Càn là 36 nhân với 192 hào dương được 6912, sách số của Khôn là 24 nhân với số hào âm được 4608, cộng lại thành số 11520. Phệ số và số phi ức có sự tương quan mật thiết giữa số chỉ vạn vật với khí số thiên văn (số phi ức: số không ức đoán hoặc số không phán đoán được).

Thiệu Ung đã phát triển phệ số, lấy bát quái tự số (số thứ tự) và lục hào số làm cơ sở của phệ số, để tiến hành bói toán diễn dịch, và trên cơ sở của Càn Khôn sách số và số chỉ vạn vật, xây dựng thuyết "vạn vật giai số". Chỉ ra số chung thủy của thiên địa là số 1.216.192.320, số trước sau của trời đất.

Trần Đoàn kết hợp giữa số Đại diễn và số hà lạc, mà sáng chế ra "Hà lạc lý số". Tức là sự đối ứng giữa việc lấy năm tháng ngày giờ sinh ra con người, với số can chi Hà đồ Lạc thư và bát quái, từ đây mà chiêm nghiệm mệnh số của con người. Với đặc điểm có đủ diễn biến thừa tiếp của tiên thiên quái và hậu thiên quái, lấy Giờ sinh của con người định ra vị trí hào động của tiên thiên quái, sau lại biến thành hậu thiên quái, để xét mệnh vận lâu dài.

Số bát quái do số đại diễn của Dịch bao quát, được Đại Tử Bình phát triển thành phương pháp xem Bát tự, tức tứ trụ mệnh học, cụ thể là phối ứng giữa can chi của năm-tháng-ngày-giờ sinh, kết hợp với quy luật âm dương ngũ hành sinh khắc, để tiến hành chiêm nghiệm vận mệnh nhân sinh.

Huệ Đống nói: "Hư ngũ nhi hữu diễn, hư nhất nhi khả dụng, nhất dữ ngũ giai đạo chi bản dã" (Số 5 hư mà có thể diễn dịch, số 1 hư mà có thể khả dụng, số 1 và số 5 đều là gốc của đạo vậy".

THUYẾT VỀ PHỆ PHÁP

Phệ pháp là phương pháp xem bói theo Dịch. Hệ từ thượng truyện nói: "Dịch là đạo của thánh nhân, gồm bốn phương diện, mà thứ nhất là chiêm bói". Bài 'Đại diễn chi số' cũng là bài riêng trình bầy chi tiết về yếu chỉ của phép bói. Thiên Phệ nghi trước là do Chu Hi soạn ở đầu quyển Chu dịch bản nghĩa đã trình bầy rõ về phép bói.

Trước hết, chuẩn bị 50 thẻ cỏ thi đựng vào trong ống. Phía nam ống đặt một khay gỗ, chia làm hai ô to, ô to bên trái lại được chia làm 3 ô nhỏ. Khi bói, hai tay cầm 50 sợi cỏ thi, tay phải nhặt ra một thẻ đặt vào trong ống (đây là điều mà Hệ từ truyện gọi là: Số đại diễn 50, sử dụng có 49, còn gọi là 'hư nhất bất dụng'). Rồi lấy cả hai tay tùy ý chia đôi 49 thẻ đặt vào hai ô to bên trái và bên phải của khay gỗ. Đây gọi là 'doanh thứ nhất' (doanh có nghĩa là kinh doanh), cũng tức là điều mà Hệ từ gọi là: chia ra làm hai để tượng trưng cho lưỡng nghi. Tiếp đó, dùng tay trái cầm lấy số thẻ trong ô to bên trái, tay phải nhặt lấy 1 thẻ trong ô to bên phải, rồi cài vào khe ngón tay út trái. Đây tức là 'cài 1 để tượng trưng cho tam tài: trời đất người'. Tiếp theo, dùng tay phải đếm 4 thẻ một số thẻ ở tay trái. Đây tức là nửa trước 'của doanh thứ ba', cũng là điều mà Hệ từ gọi là 'đếm bằng số 4 để tượng trưng tứ thời'. Tiếp đó, lấy số thẻ sau khi đếm 4 còn thừa, hoặc 1 thẻ, 2 thẻ, 3 thẻ, 4 thẻ, kẹp vào khe ngón tay vô danh của tay trái. Đây tức là nửa trước của 'doanh thứ tư', cũng tức là điều mà Hệ từ gọi là: 'quy số lẻ về chỗ kẹp để tượng trưng cho nhuận'. Tiếp theo, dùng tay phải trả lại số thẻ đã đếm vào ô lớn bên trái, rồi cầm lấy số thẻ trong ô lớn bên phải, và dùng tay trái đếm 4 thẻ một. Đây tức là nửa sau của 'doanh thứ ba'. Tiếp theo, lại lấy số thẻ, sau khi đếm 4 còn thừa, hoặc 1 thẻ, 2 thẻ, 3 thẻ, 4 thẻ, như trước kẹp vào khe ngón tay giữa của tay trái. Đây tức là nửa sau của 'doanh thứ tư', đây cũng là điều mà Hệ từ gọi là 'kẹp lần hai để tượng trưng cho hai lần nhuận'.

Bây giờ, những thẻ thừa ra trong hai lần đếm đã kẹp được, ô lớn bên trái thừa 1 thẻ, thì ô lớn bên phải thừa 3 thẻ; Bên trái thừa 2 thẻ thì bên phải thừa 2 thẻ; Bên trái thừa 3 thẻ thì bên phải thừa 1 thẻ; Bên trái thừa 4 thẻ thì bên phải cũng thừa 4 thẻ. Lấy số thẻ thừa của hai lần đếm, nhập vào số thẻ của một lần cài, thì được không phải là 5 thẻ thì 9 thẻ. Bốn doanh thế là xong. Dùng tay phải, lấy số thẻ đã đếm, đưa trở lại vào ô to bên phải, gộp với số thẻ đã qua 1 lần cài 2 lần kẹp, đặt vào ô nhỏ thứ nhất bến trái khay gỗ. Đó là hoàn thành một lần biến. Tổng số thẻ thừa có được sau lần biến thứ nhất 'không 5 thì 9'.

Sau lần biến thứ nhất, dùng hai tay lấy số thẻ đã đếm xong 1 lần biến, ở hai ô to bên trái và bên phải khay gỗ, gộp lại làm một, rồi theo trình tự 4 doanh ở lần biến thứ nhất, lấy số thẻ 1 cài 2 kẹp đặt vào ô nhỏ thứ hai bên trái. Đó là hoàn thành 2 lần biến. Tổng số thẻ thừa sau lần biến thứ hai là 'không 4 thì 8'.

Sau lần biến thứ hai, đêm số thẻ đã đếm của lần biến thứ hai, ở trong 2 ô to bên trái và bên phải, gộp lại làm một, rồi theo trình tự 4 doanh như lần biến thứ nhất, thứ hai, mà lấy số thẻ 1 cài 2 kẹp đặt vào ô nhỏ thứ ba bên trái. Đó là hoàn thành ba lần biến. Tổng số thẻ thừa có được lần biến thứ ba là 'không 4 thì 8' (giống lần biến thứ hai).

Xong ba lần biến, thì mới xem số thẻ đã đếm của lần biến thứ ba, và số thẻ cài kẹp thu được của 3 lần biến, mà vạch thành từng hào. Số thẻ cài kẹp thu được sau ba lần biến là 5, 4, 9, 8. Các số 4, 5 là lẻ (trong hai số này, đều chỉ chứa một số 4, nên gọi là lẻ). Các số 9, 8 là chẵn (trong hai số ngày, đều chứa hai số 4, nên gọi là số chẵn). Tổng hợp lại số 1 cài 2 kẹp và số chẵn hay lẻ như sau: gọi là 3 số lẻ, tức là 5, 4, 4 thì gọi là 'tam thiểu', gộp lại là 13, thì số thẻ đã đếm là 36 (49 - 13), đem chia cho 4 được 9, gọi là Lão dương, phép bói gọi là "trùng".

Nếu số cài kép thu được sau 3 lần biến là 2 số lẻ 1 số chẵn (tức 5, 4, 8 hoặc 9, 4, 4), thì gọi là 'lưỡng thiểu nhất đa', gộp là là 17 thẻ, thì số thẻ đã đếm là 32 (tức 49 - 17), đem chia 4 được 8, là Thiếu âm, còn gọi là "sách".

Nếu số cài kẹp thu được sau 3 lần biến là 2 số chẵn 1 số lẻ (tức 9, 8, 4 hoặc 5, 8, 8), thì gọi là 'lưỡng đa nhất thiểu', gộp lại là 21 thẻ, vậy là số thẻ đã đếm là 28 (tức 49 - 21), đem chia cho 4 được 7, là Thiếu dương, còn gọi là "đơn".

Nếu số cài kẹp thu được sau 3 lần biến là 3 số chẵn, tức là 9, 8, 8, thì gọi là 'tam đa', gộp lại là 25 thẻ, thì số thẻ đã đếm là 24 (tức 49 - 25), đem số thẻ đã đếm chia 4 được 6, là Lão âm, còn gọi là "giao".

Bốn doanh thành một biến, ba lần biến thì được một hào, 18 lần biến thì được 6 hào mà thành quẻ. Hào thu được trong 3 lần biến đầu gọi là Sơ hào. Hào thu được của lần biến thứ 4 đến thứ 6 là Nhị hào. Hào thu được của lần biến thứ 7 đến thứ 9 là Tam hào. Hào thu được của lần biến thứ 10 đến thứ 12 là Tứ hào. Hào thù được của lần biến thứ 13 đến thứ 15 là Ngũ hào. Hào thù được của lần biến thứ 16 đến thứ 18 là Thượng hào.

Quẻ bói được gọi là "bản quái", quẻ biến thành gọi là "chi quái". Phép bói thời cổ dựa vào tình hình biến và bất biến của Bản quái (quẻ chiêm được), mà chiêm đoán cát hung lợi hại. Sách Chu dịch khải mông của Chu Hi quy nạp thành 7 điều như sau:

1. Một hào biến thì xem ở lời hào biến của Bản quái.

2. Hai hào biến thì xem ở lời của hai hào biến của Bản quái, nhưng vẫn lấy hào trên làm chính.

3. Ba hào biến thì xem ở Thoán từ của Bản quái và Chi quái, đồng thời lấy Bản quái làm "Trinh" (trong), Chi quái làm "Hối" (ngoài).

4. Bốn hào biến thì xem hai hào bất biến ở Chi quái, vẫn lấy hào dưới làm chính.

5. Năm hào biến thì xem ở hào bất biến của Chi quái.

6. Sáu hào biến thì xem ở hai hào Dụng ở quẻ Càn và quẻ Khôn, những quẻ còn lại xem ở Thoán từ và Chi quái.

7. Sáu hào đều không biến thì xem ở Thoán từ của Bản quái.

Trong quá trình bói Dịch, được một quẻ sáu hào, nếu có một, hai, hoặc mấy hào biến động, thì hào ấy gọi là "động hào", cũng gọi là "biến hào". Sách Chu dịch khải mông của Chu Hy có bàn về quy định của các lệ này. Đời sau, các nhà Dịch học có người coi đó là Pháp thức, nhưng cũng có người chỉ trích.

Thượng Bỉnh Hòa soạn sách Chu dịch cổ phệ khảo căn cứ vào thuyết sẵn có của Chu Hi, và chỉ ra rằng: "Quẻ có nhất hào động, nhị hào động, tam hào động, thậm chí tứ hào, ngũ hào, lục hào toàn động. Ta gặp quẻ này thì suy đoán thế nào? Nay xét thành lệ của người xưa, cùng những điều bàn luận quy định của Chu Tử lấy đó làm pháp thức. Song chẳng thể câu nệ. Vì Dịch quý ở chỗ chiêm nghiệm sự biến dịch. Sự thông biến của Tượng và Từ, cùng sự ứng hợp với sự thực, sự gợi ý của thần minh, đều là thiên biến vạn hóa, có những điều chẳng thể nghĩ bàn, cho nên không thể cố chấp. Cần phải căn cứ vào Sự mà chọn lấy Từ, quan sát Tượng mà ấn chứng với Ta, bỏ chỗ sơ mà dùng chỗ thân".

Thượng Bỉnh Hòa còn tập hợp các lời bói trong Sử truyện làm chứng cứ, nói rõ những tình huống mà Chu Hi nêu ra, và chỉ ra rằng, khi bói Dịch đều phải kết hợp quái tượng của Bản quái và Chi quái để suy đoán cát hung, ông chỉ trích mạnh thuyết "Càn Khôn chiêm nhị dụng" của Chu Hi, cho rằng Nhị dụng chỉ chứng tỏ phép bói Dịch dùng Cửu - Lục, không dùng Thất - Bát, quyết không phải là lời chiêm đoán của quẻ Càn và Khôn, và chỉ rõ: "Đặt ra cái đó, mà lời chiêm đoán của sáu hào đều biến, thì 62 quẻ còn lại, đều nên có lời chiêm đoán của sáu hào biến, thế mà sao lại không có? Hơn nữa, trong Dịch, nhất, nhị, tam, tứ, ngũ hào biến đều chưa xem tới, mà đột ngột xem tới lục hào biến, về nghĩa khó thông, về lệ cũng không thỏa đáng".

Lại nói: "Xét, phép cũ của cổ nhân, thường xem lời Thoán truyện mà đoán. Nhưng Thoán truyện thường không sát với ta, thì xem cái gì phù hợp mà suy đoán, thế thì quan sát Tượng quẻ là hơn".Có nghĩa là, vừa phải dựa vào Quái từ, vừa phải coi trọng việc phân tích hàm nghĩa của Quái tượng".

"Dịch vốn là dùng để bói, không nắm được phép bói, ý nghĩa của "cửu - lục", thì không biết vì sao lại như vậy, và càng khó lý giải về chương Đại diễn của Hệ từ. Ngay sách Xuân Thu nói "mỗ quái chi mỗ quái" là cũng chưa nắm được duyên do. Vì vậy, người học Dịch trước hết phải nắm vững phương pháp của phép bói. Nay ta sử dụng Phệ nghi do Chu Tử lưu truyền lại. Vậy thì Phệ nghi là do Chu Tử chế định ra, hoặc có thể do tiên nho truyền lại, Chu Tử không nói gì, bất tất phải bàn luận gì thêm".

ĐƠN SÁCH TRÙNG GIAO

Từ sau đời Hán, người bói dùng đồng tiền thay cho 50 cọng cỏ Thi. Bói được hào Thiếu dương, thì gọi là "Đơn", tức giống như đếm cỏ Thi mà gặp "lưỡng đa nhất thiểu", số của nó là 7, vẽ thành phù hiệu --(vạch dương); Bói được hào Thiếu âm, thì gọi là "Sách", tức khi đếm cỏ Thi gặp "lưỡng thiểu nhất đa", số của nó là 8, vẽ thành phù hiệu - - (vạch âm). Bói được hào Lão dương, thì gọi là "Trùng", tức là đếm cỏ Thi gặp "Tam thiểu", số của nó là 9, vẽ phù hiệu (hình vuông); Bói được hào Lão âm, thì gọi là "Giao", tức là khi đếm cỏ Thi gặp "Tam đa", số của nó là 6, vạch thành phù hiệu X (dấu nhân).

Trịnh Huyền chú Nghi lễ - Sĩ quan lễ có đoạn "phệ dữ tịch" kể đến phép lấy tiền thay cỏ Thi như sau: "Lấy 'tam thiểu' làm "trùng tiền", trùng tiền thì 9; 'tam đa' làm "giao tiền", giao tiền thì 6; "lưỡng đa nhất thiểu" làm "đơn tiền", đơn tiền thì 7; "lưỡng thiểu nhất đa" làm "sách tiền", sách tiền thì 8".

Bói Dịch, ba lần biến mà được số [9 - 8 - 8] thì gọi là Tam đa. Tức là biến lần đầu được 9, lần thứ hai và thứ ba đều được 8, thì được hào Lão âm. Ba lần biến của việc bói Dịch khi được số [5 - 4 - 4] thì gọi là Tam thiểu, có nghĩa là lần biến thứ nhất được số 5, lần biến thứ hai và thứ ba đều được số 4, thì được hào Lão dương. Sau ba lần biến được số [9 - 8 - 4] hay [5 - 8 - 8] thì gọi là Lưỡng đa nhất thiểu, có nghĩa là lần biến thứ nhất được 9 hoặc 5, lần biến thứ hai được 8, lần biến thứ ba được 4 hoặc 8, thì được hào Thiếu dương. Sau ba lần biến được số [5 - 4 - 8 (5-8-4)] hoặc [9 - 4 - 4] thì gọi là Lưỡng thiểu nhất đa, thì được hào Thiếu âm.

Số thẻ cài kẹp được "Tam cơ", ví như [5 - 4 - 4], cộng là 13 thẻ, là số đã qua gọi là số "phục". Số còn lại là 36 thẻ, là Lão dương, là số hiển hiện hay số "phi". Do vậy, số cho hào "phục" gồm số Tam cơ là 13 - 25 và số Tam ngẫu là 17 - 21.

Lý Lâm Phủ chú: "Dùng 49 thẻ, chia ra mà đếm. Về biến có 4 loại: một là hào Đơn, hai là hào Sách, ba là hào Giao, bốn là hào Trùng. Tất cả 18 lần biến mà thành quẻ".

Hệ từ - Thượng truyện viết: "Tam ngũ dĩ biến, thác tổng kỳ số; Thông kỳ biến, toại thành thiên địa chi văn; Cực kỳ số, toại đinh thiên hạ chi tượng". = Năm ba lần biến hóa, đan xen tổng hợp các số. Biến đã thông, thì thành vẻ đẹp của trời đất; Số đã cực, thì định được tượng của thiên hạ. Lý Đỉnh Tộ dẫn lời Ngu Phiên nói: "Số là số của sáu vạch. Sáu hào biến động, đạo tam cực sinh, vì vậy mà tạo thành tượng cát hung trong thiên hạ".

Khổng Dĩnh Đạt giải thích: "Cực kỳ số, chỉ sự tính toán cùng cực số âm dương, để định ra tượng muôn vật trong thiên hạ, như là tính toán cùng cực 216 thẻ để định ra tượng Lão dương của Càn. Tính toán cùng cực 144 thẻ để định ra tượng Lão âm của Khôn. Nêu ra Càn Khôn, thì những cái khác là có thể biết được vậy".

Thượng Bỉnh Hòa giải thích "Tam ngũ dĩ biến" trong Chu dịch thượng thị học nói: "Số hào đến 3, nội quái đến đó là cuối. Cho nên, nói hẳn phải biến đổi" (Hào số chí tam, nội ngoại chung hỉ cố viết tất biến". Đây là nói theo Tam tài, còn nói theo Ngũ hành, thì đến năm là đủ, cho nên quá năm là phải biến đổi.

Khổng Dĩnh Đạt - Chu dịch chính nghĩa khi nói về hào Sơ Cửu quẻ Càn viết: "Số 7 là Thiếu dương, số 8 là Thiếu âm, số 9 là Lão dương, số 6 là Lão âm".

Nhà sư Nhất Hạnh đời Đường cho rằng, khi đếm cỏ thì bói quẻ, ba lần biến đều là lẻ, tức là "Tam cơ", còn gọi là Tam thiếu, được số 9 tức là tượng quẻ Càn; Đều là chẵn, tức là Tam ngẫu, cũng gọi là Tam đa, được số 6, là tượng của quẻ Khôn. Càn Khôn là Cha Mẹ, nên gọi Cửu Lục là Lão dương Lão âm. Ba lần biến, hai chẵn một lẻ, tức "lưỡng đa nhất tiểu", được số 7, là tượng của các quẻ Chấn Khảm Cấn. Còn trong ba lần biến được hai lẻ một chẵn, tức "lưỡng thiểu nhất đa", được số 8, là tượng các quẻ Tốn Ly Đoài. Sáu quẻ này là ba trai ba gái mà Càn Khôn sinh ra, nên gọi Thất Bát là Thiếu âm Thiếu dương.

Thuyết của Nhất Hạnh nói:

Ba lần biến đều là thiểu là tượng của quẻ Càn, Càn là Lão dương, mà số dư của phép đếm 4 được 9 nên gọi là Cửu.

Ba lần biến đều là đa là tượng của quẻ Khôn, Khôn là Lão âm, mà số dư của phép đếm 4 được 6, nên gọi là Lục.

Ba lần biến mà một lần thiểu là tượng các quẻ Chấn Khảm Cấn, ba quẻ này là Thiếu dương, mà số dư phép đếm 4 được 7, nên gọi là Thất.

Ba lần biến mà một lần đa là tượng của các quẻ Tốn Ly Đoài, ba quẻ này là Thiếu âm, mà số dư của phép đếm 4 được 8, nên gọi là Bát.

Cho nên, những số Thất Bát Cửu Lục là do số dư mà đặt tên là Âm Dương. Âm Dương sở dĩ là Lão Thiếu không phải vì điều đó, mà vì là tượng của Bát quái trong ba lần biến.

Hệ Từ - Hạ truyện viết: "Dịch cùng tắc biến, biến tắc thông, thông tắc cửu". Triết lý của Dịch cho rằng, quy luật của sự vật khi phát triển đến cùng cực thì sẽ biến hóa, khi đã biến hóa thì sẽ thông suốt, khi đã thông suốt thì sẽ lâu bền.

Khổng Dĩnh Đạt - Chu Dịch chính nghĩa viết: "Đạo của Dịch khi cùng thì tùy theo thời mà biến đổi, khi đã biến đổi thì có sự khai thông, khai thông thì được lâu bền, cho nên nói 'thông' tất 'bền' vậy".

Du Diễm - Chu dịch tập thuyết viết: "Đến thời biến, thì phải biến, nếu không biến sẽ cùng, đó là đạo có biến tất có thông của Dịch. Có biến sẽ có thông, tức là tùy theo thời. Dân hãy còn hăng hái, chưa thấy mệt mỏi chán ghét, Thánh nhân không được bắt họ từ bỏ cái chí hăng hái đó; dân chưa được yên ổn Thánh nhân không được bắt buộc họ phải hăng hái làm việc. Chỉ đến khi số đã cùng, thời đã biến, lúc đó Thánh nhân nhân đó mà biến thông thúc đẩy, có như vậy dân mới không mệt mỏi. Nếu không dân sẽ cảm thấy phiền nhiễu, chán ghét, làm sao không mệt mỏi được? Cứ như vậy mà thuận theo, không cần biết lý do tại sao, như vậy là "thần"; thuận hành dần dần biến cải, không cần câu thúc vào ngôn từ để hướng dẫn hành động, như vậy là "hóa". Theo đạo "thần hóa", đó là đạo dạy dân, dưỡng dân của Thánh nhân đấy, nếu không theo đạo đó, tất dân không chịu theo.

Đạo của Dịch không có cùng, chỉ có số mới cùng. Số dương cùng ở số 9, số âm cùng ở số 6. Cùng thì biến, biến thì thông, thông thì lâu dài, lâu dài thì lại cùng. Do vậy, "nếu được trời giúp thì tốt, không có cái gì không lợi vậy".

Theo nghĩa "Dịch biến" và "Dịch bất biến" làm chuẩn mực để sáng tỏ về lẽ động tĩnh của nhân sự: Số cơ ngẫu là 7 - 8 vậy; giao trùng là 6 - 9 vậy. Quẻ vạch theo số 7 - 8 là "Dịch bất biến", hào vạch theo số 6 - 9 là "Dịch biến" vậy. Quẻ tuy là "dịch bất biến", mà trong lại có "dịch biến", thì có nghĩa là 'hanh'. Hào tuy là "dịch biến", mà trong lại có cái "dịch bất biến", thì gọi là 'trinh'. Phép xem Hồng Phạm dùng hai chữ "trinh - hối", "trinh" tức là tĩnh, "hối" tức là động. Cho nên, nếu thấy tĩnh cát mà động hung thì chớ dùng; Thấy động cát mà tĩnh hung thì chớ xử; Thấy động tĩnh đều tốt thì mọi việc đều tốt; Thấy động tĩnh đều hung, thì trong vòng trời đất không thể trốn đâu cho thoát được.

Tiên Nho khi nói Quái biến thì chưa có sự chuyển dịch về cương nhu âm dương, đảo ngược vị trí trên dưới. Nay lấy Càn làm Khôn, lấy Thủy làm Hỏa, lấy trên làm dưới, làm rối ren chìm đắm, thường thì tượng Dịch từ đây mà nhầm lẫn vậy. Du Việt theo thể lệ Bàng thông "thành Ký tế định" của Ngu Phiên, và phép "thăng - giáng" của Tuân Sảng, bàn chung về cái lý "cùng tất biến, biến tất thông" của các quẻ Dịch.

Trong Dịch, có 192 hào âm và hào dương "đắc chính", cũng đồng thời tồn tại 192 hào âm và hào dương "thất chính"; Được chính tức là Ký tế định, thất chính sẽ hóa thất chính thành chính, rồi sau đó mới có thể định. Cho nên đối với những quẻ Bàng thông, bỉ thử giao dịch lẫn nhau, thì trong 192 hào, có 96 hào âm gặp hào dương; hoặc 96 hào dương gặp hào âm, do vậy có thể biến dịch được. Có 96 hào âm gặp hào âm, hoặc hào dương gặp hào dương, do vậy không biến dịch. Có thể biến dịch, thì gọi là "thông", không thể biến dịch, thì gọi là "cùng"; Cùng tất sẽ có biến và có phép của sự biến thông, biến tất sẽ có hóa, hóa tất sẽ chuyển từ bất chính thành chính.

Lại nói rằng, muốn biết Lý "cùng - thông", thì trước hết phải biết lý "thăng - giáng" của âm dương, đây là thuyết của Tuân Từ Minh, muốn biết cái lý "thăng - giáng", trước hết phải biết cái lý "cùng - thông", đây là thuyết của Ngu Trọng Phiên. Tham nhập hai thuyết làm một, đó là do Tiêu Lý Đường.

Tóm lại, hào quẻ có thể thông với các quẻ khác, thì gọi là "thông", khi hào quẻ không thông với các quẻ khác thì gọi là "cùng". Cùng, mà tự biến đổi âm dương của mình, tức là hóa bất chính thành chính, thì gọi là "biến hóa".

THUYẾT VỀ "KHÍ" CỦA TRƯƠNG TẢI

HÀM NGHĨA CHUNG VỀ KHÍ

Khí là nguồn gốc hoặc là bản thể của vạn vật trong thế giới tự nhiên. Khí là thứ vật chất tinh vi, chuyển động không ngừng, Khí là cơ sở thống nhất của Thiên Địa vạn vật, là nguồn gốc sinh thành vạn vật. Lý luận này có liên quan đến thuyết sinh – thành vũ trụ cổ đại. Khí là nguyên nhân sự tồn tại của thiên địa vạn vật, cho nên Khí không là hình thái vật chất cụ thể nào, nó không có hình thể, không có âm thành và hình thái. Như vậy, những người đưa ra và theo thuyết Khí bản thể luận đã loại bỏ ý kiến cho rằng Lý, Thái cực, Đạo có trước Khí, và chúng ngự ở trên Khí để chi phối Khí; họ chỉ rõ: Khí là bản thể cao nhất. Mặt khác, họ thuyết minh mối liên kết giữa Khí với Thái hư, và nêu rõ: Khí là phạm trù thông thường mang nội dung trừu tượng.

Khí là nguyên tố hoặc chất liệu của tồn tại khách quan. Chất liệu này, nguyên tố này hoặc hữu thể, hữu hình, có thể thấy được, có thể nghe được; hoặc là vô hình, vô thể, không thấy được, không nghe được. Khí là hiện tượng vật chất vi nhỏ, là thứ hỗn độn chưa có hình chất, sau khi ngưng tụ mới trở thành có hình có tượng. Nghiên cứu Khí sẽ nhận thấy tính thống nhất của vạn vật trên thế giới, nghĩa là thấy được bản chất chung của những hiện tượng và của vạn vật. Những học gia theo quan điểm Khí bản thể luận, thì coi Khí là phạm trù cao nhất của kết cấu logic triết học lý luận mà họ tin theo. Các học gia theo quan điểm Lý học bản thể luận và Tâm thức bản thể luận cũng cho rằng: Khí có tính vật chất và tính năng động, Khí nhập vào Đạo, vào Lý, vào Thái cực, và vào Tâm, đó là nguyên tố, chất liệu hoặc khâu trung gian để cấu tạo nên thế giới muôn vật.

Khí là thực thể khách quan có động thái công năng. Khí không ngừng chuyển động biến hóa, lúc thì tụ vào, lúc thì tản ra, nghi ngút, khi bay bổng, khi trầm lắng, lúc co đặc, lúc dàn mỏng, … Chuyển động biến hóa chính là hình thức và điều kiện tồn tại của Khí. Nếu Khí không có công năng động thái này thì Khí không tồn tại và chẳng có giá trị gì. Khí hàm chứa cặp âm dương đối lập thống nhất, Khí là bản chất của vật, cho nên Khí chuyển động biến hóa không ngừng thì mọi vật luôn chuyển động và biến hóa. Vai trò của Khí trong một hệ thống được xem như thứ vật chất trung gian môi giới, chuyển động biến hóa của Khí mà tạo tác nên muôn vật, thuộc tính của Khí cũng ảnh hưởng đến muôn vật.

Khí là sinh mạng của con người. Con người sống thọ hay chết yểu, đức tính con người thiện hay ác, đời sống vật chất giầu hay nghèo, sang hay hèn, địa vị tôn quý hay ti tiện, đều liên quan đến Khí. Khí chuyển động ở cơ thể con người thực hiện đạo dẫn thần khí, đấy chính là công pháp nhằm điều chỉnh cơ năng sinh lý cơ thể con người, đẩy nhanh quá trình trao đổi chất, tăng cường sinh lực và khả năng miễn dịch, trị bệnh kiện thân, kéo dài tuổi thọ. Vì thế Khí là đồng hồ sinh học mang nội dung những thông tin về sinh mệnh cơ thể người, bởi vì con người bẩm thụ khí mà sinh ra. Khí có Khí trong sạch và Khí vẩn đục, Khí u ám, Khí quang minh, Khí thành hiền, Khí thô bỉ, do bẩm thụ Khí khác nhau mà từng con người có tư chất, thọ yểu, quý tiện khác nhau.

Khí là vật chất môi giới hoặc môi thể đầy ắp trong vũ trụ. Trong khoảng không vũ trụ, các hành tinh như nhật nguyệt trăng sao, cùng chuyển động trong một trật tự hài hòa, mọi sự vật tương hỗ cùng tồn tại trong một hệ thống, giữa các sự vật đó có một dòng Khí quán thông với nhau, làm cho các vật thể có sức hút để giữ lấy nhau, và có lực đẩy để khỏi va chạm vào nhau. Sức hút ấy, lực đẩy ấy, gọi là “ái cự lực”. Nó làm cho mọi vật trong vũ trụ vừa cự nhau vừa dựa vào nhau mà tồn tại. Khí chính là môi giới hoặc môi thể làm cho ánh sáng, âm thanh được phát ra và truyền đi lan tỏa rộng khắp. (Khí hút nhau gọi là “ái lực”, khí đẩy nhau gọi là “cự lực”, cái gọi là “ái cự lực” tạo nên sự chuyển động trong mâu thuẫn tự thân của Khí)

Khí là phẩm cấp đạo đức. Khí là do tụ nghĩa mà sinh thành một lý tưởng đạo đức, Khí này đầy ắp giữa khoảng trời đất, nó quán thông với Khí của đất trời. Thứ Khí này, không phải thứ huyết khí cụ thể, mà là tri Khí, thần Khí, là một loại tinh thần, ý thức hoặc ý chí, đó cũng là sự tu dưỡng đạo đức.

Khí hàm nghĩa vừa là thực thể của tồn tại khách quan, vừa là tinh thần đạo đức của chủ thể. Khí là phàm trù bao trùng cả thế giới tự nhiên cùng toàn bộ đời sống xã hội, sự sống của con người, Khí cũng là phạm trù mà mọi dòng phái, mọi học phái triết học cùng sử dụng chung trong suốt chặng đường phát triển của lịch sử. Khí có hàm nghĩa rất sâu rộng, khó mà lý giải một cách phiến diện và đơn nhất.

THÁI HƯ TỨC LÀ “KHÍ”

Trương Tải (1020-1077) là triết gia thời Bắc Tống, Ông sáng lập ra học phái Quan học, với tư tưởng Khí là bản thể của vũ trụ, xây dựng logic kết cấu Khí nhất nguyên luận, ông cho rằng: Thái hư vô hình là trạng thái bản nhiên (vốn có) của Khí, Khí là nguồn gốc và quá trình biến hóa của muôn vật trong vũ trụ. Khí với hư, hữu với vô, âm với dương, coi Khí hóa là Đạo, Đạo với Lý gắn bó chặt chẽ với nhau, quan điểm Lý khách thể thật rõ ràng.

Trương Tải cho rằng, Khí tức là hư, hư tức là Khí; Khí tụ thành hình, Khí tan biến thì hình mất, Khí trở về nguồn, quay về Thái hư. Thái hư là tên gọi khác của Khí, hàm nghĩa của Khí và Thái hư tương đương nhau, chúng khác nhau ở chỗ, Thái hư là Khí vô hình, trạng thái hữu hình là muôn vật. Thái hư không có thuộc tính của hữu hình. Chính mông - Thái hòa, Trương Tải chỉ rõ: "Thái hư không thể không có Khí, Khí không thể không tụ thành muôn vật, muôn vật không thể không tản ra thành Thái hư, theo đó mà quay vòng không bao giờ dứt". Thái hư vô hình và muôn vật hữu hình là quá trình chuyển hóa lẫn nhau, bởi vì chúng cùng chung nguồn gốc là Khí.

Từ quan điểm "Thái hư vô hình là bản thể của Khí", Trương Tải cho rằng Thái hư cũng là bản nguyên của vũ trụ. Trương tử ngữ lục - trung viết: "Hư là tổ tông của trời đất, trời đất sinh từ hư không" (Hư giả, thiên địa chi tổ, thiên địa tòng hư trung lai). Quan điểm "hư có thể sinh ra khí", coi hư là bản nguyên của vũ trụ, coi Khí do Thái hư sinh ra, quan điểm này trái ngược với lý luận "Thái hư tức là Khí" của Trương Tải. Ông chỉ rõ, quan điểm "Hư sinh Khí" thực chất là quan điểm "Hữu sinh ra từ Vô" của Lão Tử, đó là lối tư duy hư cấu, một thứ bản thể mang tính quan niệm, thoát ly thế giới vật chất, sau đó lại từ cõi "Hư" hoặc "Vô" sinh ra thế giới vật chất. Trương Tải kiên trì quan điểm: Khí là gốc, khẳng định vật chất là tính bản nguyên và là tính chất thứ nhất của Khí. Thật rõ ràng!

Đạo thể hiện quy luật mang tính cương lĩnh định hướng; Lý thể hiện quá trình mang tính nguyên tắc thực thi. Đạo và Lý thể hiện sự chuyển động biến hóa của Khí, chúng không phải bản thể ở trên Khí, mà thống nhất trong hệ thống triết học Khí bản thể luận. Ông nói: "Bởi Thái hư nên mới có tên gọi là Thiên, bởi Khí hóa nên mới có tên gọi là Đạo". Trương Tải cho rằng Đạo là "Do Khí hóa mà có tên là Đạo", tức là quá trình chuyển động biến hóa của Khí mang tính vật chất, xa rời Khí là xa rời chuyển động của Khí, như vậy sẽ không có cái gọi là Đạo. Khi nói về phạm trù Lý, ông viết: "Khí trời đất tuy hàng trăm ngả tụ và tản, được và mất, nhưng chúng vẫn thuận theo Lý, không rối loạn", đều tuân theo quy luật và trật tự, đó chính là Lý. Đạo và Lý không thể tách rời khỏi Khí mà tồn tại riêng.

"Thái hư là thể của Khí" đã giải quyết đúng mối quan hệ Thái hư với Khí, Thái hư vô hình và muôn vật hữu hình được đặt thống nhất trong Khí.

Trên cơ sở "Thái hư tức là Khí", Trương Tải nêu quan điểm Khí vừa là 'hữu' vừa là 'vô'. "Khí năng nhất hữu vô" tức là Khí có thuộc tính thống nhất 'hữu - vô' ngay trong bản thân Khí. Chính mông - Thái hòa viết: "Nếu nói vô vàn tượng là sự vật thấy được trong Thái hư, thì đó là vật với hư không tồn tại mối liên hệ trợ giúp nhau. Hình độc lập với Hình, Tính độc lập với Tính. Hình và Tính, trời và người không tồn tại mối qua hệ qua lại với nhau; kiến giải như vậy là sa vào thuyết sai lầm, coi trời đất núi sông là hệ quả ảo hóa". Thái hư là vô hình, muôn tượng là hữu hình, tuy Trương Tải xây dựng mối liên hệ giữa chúng, thông qua thuyết Khí tụ tán, nhưng giữa chúng vốn có sự khác biệt. Ông chỉ rõ, nếu không nhận ra sự khác biệt đó, sẽ không thể hiểu được muôn vật sinh ra như thế nào, tách rời bản nguyên với muôn vật, coi chúng là tồn tại độc lập riêng rẽ, không liên quan với nhau, thì sa vào quan điểm sai lầm của Phật giáo, coi thế giới Càn Khôn là ảo hóa.

Trương Tải nói: "Biết hư không tức là Khí, hữu vô, ẩn hiện, thần hóa, tính mệnh quan hệ trong sự thống nhất vô nhị. Nhìn vào những chuyển động tụ tán, xuất nhập, có hình và không có hình, có thể biết được gốc sinh ra chúng, hiểu biết đó chính là đi sau vào Dịch".

"Bản" tức là lấy Khí làm gốc, hữu vô, ẩn hiện, tụ tản, có hình hoặc không có hình đều bắt nguồn ở Khí, chúng là hai loại hình thái biểu hiện khác nhau của Khí bản thể. Khi Khí tản, chúng là Thái hư vô hình, biểu hiện của chúng là: vô, ẩn, u tối, không có hình, hư. Khi Khí tụ, chúng là muôn vật hữu hình, biểu hiện của chúng là: hữu, hiển, minh, hình, và thực. Đạo và Dịch phản ánh chuyển động biến hóa của Khí.

Hoành cừ dịch thuyết - Hệ từ thượng viết: "Khí tụ lại, hiện ranh giới rõ ràng thì đó là hữu hình. Khí tản ra, không thấy ranh giới rõ ràng thì đó là vô hình. Vậy, khi mà Khí tụ lại, sao lại không gọi chúng là Hữu? Khi mà Khí tản ra, sao lại không theo đó gọi chúng là Vô?". "Từ vô sinh ra hữu, biểu hiện thành vật. Từ hữu chuyển thành vô, đó là quá trình ẩn mà biến đi...đại ý là không vượt quá giới hạn hữu vô, vật tuy là thực mà gốc của thực ở cõi vô" (vật tuy thị thực, bản thị hư lai). Trương Tải cho rằng, Khí kiêm hai thuộc tính hữu và vô, đây là thuộc tính của tự nhiên. Hai thuộc tính của tự nhiên dựa vào nhau, trợ giúp nhau, không thể khuyết một trong hai thuộc tính đó. Chính mông - Càn xưng viết: "Những gì có thể tạo nên hình dạng đều là Hữu, mọi cái là Hữu đều là Tượng, mọi Hình Tượng đều là Khí".

Từ Khí hóa nên Tượng, từ Tượng hóa thành Hữu. Khi Khí tản chưa tụ lại thì đó là Vô. "Thái Hư là gốc của Khí, thì trong suốt vô hình". Từ Khí hóa hư, hư thì vô hình. Thuộc tính "vô" của Khí không phải tuyệt đối hư vô, đó chính là chỉ về Thái hư vô hình, mắt không nhìn thấy được, khi so sánh với muôn vật hữu tượng hữu hình thì Thái hư là vô hình, cho nên gọi đó là Vô, nhưng Thái hư vô hình không phải tuyệt đối hư vô, mà trong cái "hư" hàm chứa cái "thực", trong cái "vô" hàm chứa cái "hữu".

Trương tử ngữ lục - trung - Trương Tải nói: "Đạo của trời đất lấy cực hư làm thực, con người cần tìm lấy cái thực trong cái hư" (Thiên địa chi đạo vô phi dĩ chí hư vi thực, nhân tu hư trung cầu xuất thực). Muôn vật hữu hình tuy là thực hữu, nhưng sự vật cụ thể chung quy phải tiêu vong.

So sánh với sự vật cụ thể biến hóa mất đi, thì Thái hư vô hình là vĩnh hằng. Hữu và Vô luôn chuyển hóa lẫn nhau, sự vật hữu hình chuyển hóa thành Thái hư vô hình, Thái hư vô hình chuyển hóa thành sự vật hữu hình. Thế giới vật chất biến hóa theo quy luật Khí hóa tụ tán, hữu và vô liên hệ với nhau. Vô không phải tuyệt đối hư vô, mà chỉ là vô hình của Thái hư. Trương tử ngữ lục - Trung viết: "Kim loại sắt thép cũng đến lúc phải mục ruỗng, núi đồi cũng đến lúc phải đổ nát. Mọi vật hữu hình đều dễ hoại, chỉ có Thái hư là không lay chuyển, cho nên, Thái hư là thực nhất". Chính mông - Thái hòa - Trương Tải nhấn mạnh: "Biết Thái hư là Khí, không phải là Vô". Trong hư không mênh mông vô cùng vô tận, đâu đâu cũng là Khí mịt mù. Bản thân Thái hư chính là Khí, Khí của Thái hư là vô hình. Hiểu được đạo lý này, thì không có cái gọi là Vô; Dịch - Hệ từ: "Thánh nhân ngẩng lên và cúi xuống, rồi nói biết hàm nghĩa của 'u minh', mà không nói biết hàm nghĩa của 'hữu vô'. 'U' tức là 'vô', 'minh' tức là 'hữu'. Dùng khái niệm 'u' thay thế cho khái niệm 'vô', để tránh ngộ nhận 'vô' là khẳng định tuyệt đối hư vô vậy".

Khí là thứ vật chất mang tính liên tục, tính tự có khiêm thuộc tính hữu và vô. Đây thuộc về phạm trù tính hữu hạn và tính vô hạn, tính tạm thời với tính vĩnh hằng, tính gián đoạn với tính liên tục trong sự tồn tại của thế giới vật chất. Sự cầu thị trong thế giới Càn Khôn.

Trương Tải cho rằng, mâu thuẫn tồn tại trong nội bộ của sự vật là căn nguyên làm cho sự vật chuyển động. Khí âm dương cảm ứng nhau, biến hóa co dãn không ngừng, sự chuyển động này ở trong nó hàm chứa biến hóa, là tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý chí của con người. Sự biến hóa đó gọi là "Thần", có nghĩa là biến hóa thần diệu khôn lường. Khí âm và Khí dương tác động lẫn nhau là căn nguyên của mọi biến hóa. Như vậy, sự biến hóa tồn tại trong cả âm lẫn dương, tồn tại ngay trong cả động và tĩnh, tồn tại trong cả thực và hư; đó là thuộc tính cố hữu của Khí, thuộc tính này được bộc lộ ra muôn vàn sự vật cụ thể, Khí chỉ là một mà biến hóa của Khí có nhiều vẻ khác nhau. Khí là bản nguyên của "vô" và sự vật, Khí là một, bản nguyên của vô vàn sự vật cũng chỉ là một. Nhưng nhất Khí phân chia âm dương, âm dương đối lập thể hiện trong muôn vàn sự khác biệt. Cho nên, Trương Tải đề xuất quan điểm biện chứng "nhất vật lưỡng thể".

Hoàng cừ dịch thuyết - Hệ từ hạ viết: "Khí Thái hư là một vật có âm có dương, nhưng lại có lưỡng thể thuận trong sự thống nhất" (Thái hư chi Khí, âm dương nhất vật dã, nhiên hữu lưỡng thể kiện thuận nhi dĩ). Khí Thái hư là một, Khí có âm có dương, đó là hai. Hai tồn tại trong cái một, biểu hiện thành hai mặt đối lập, "nhất" (một) là chỉ sự thống nhất của hai mặt đối lập.

Khí là bản nguyên của vũ trụ, là sự đối lập thống nhất của âm dương. Nếu không có đối lập sẽ không có thống nhất. Nếu không thống nhất thì không có đối lập, "nhất" và "lưỡng" cùng dựa vào nhau, chuyển hóa lẫn nhau, muôn vật trong trời đất giao cảm cùng biến hóa, sinh sôi và phát triển. Hoành cừ dịch thuyết - Thuyết quẻ viết: "Nhất vật lưỡng thể" là quy luật phổ biến trong vũ trụ, tất cả mọi sự vật đều tồn tại hai mặt vừa đối lập vừa thống nhất. "Nhất" đó là "Thần"; "lưỡng" nghĩa là biến hóa khôn lường, có "lưỡng" cho nên tự nó biến hóa phát triển cái "nhất", có nghĩa là trời cùng tham dự trong quá trình biến hóa".

Hư thực, động tĩnh, tụ tản, trong đục là biểu hiện cụ thể của hai mặt đối lập, cũng là nội hàm cụ thể của nhất Khí âm dương, hai mặt đối lập âm dương cùng hợp thành thể thống nhất của Khí, chúng là căn nguyên của mọi biến hóa chứa đựng trong sự chuyển động, đồng thời mọi vật cũng được sinh ra trong quá trình biến hóa đó. Trương Tải viết: "Nếu không có hai mặt đối lập thì không thấy sự thống nhất, nếu không thấy sự thống nhất thì không có sự sống của hai mặt đối lập. Biểu hiện của lưỡng thể trong sự thống nhất hư thực, động tĩnh, tụ tản, trong đục" (Lưỡng bất lập tắc nhất bất khả biến, nhất bất khả biến tắc lưỡng chi dụng tức. Lưỡng thể giả, hư thực dã, động tĩnh dã, tụ tán dã, thanh trọc dã, kỳ cứu nhân chi dĩ).

"Khí có âm dương, chuyển động dần đó là biến hóa, hợp nhất khôn lường thì gọi là thần" (Khí hữu âm dương, thôi hành hữu tiệm vi hóa, hợp nhất bất trắc vi thần). Trong quá trình chuyển động biến hóa, "có biến thì có tượng" (hữu biến tắc hữu tượng).

Hoành cừ dịch thuyết - Hệ từ thượng viết: "Trời chuyển động nhất Khí làm cho muôn vật sinh sôi". Khí chuyển động sinh ra muôn vật, mặt khác, muôn vật là thể vật chất chứa đựng quá trình chuyển động. Quá trình biến hóa được chia làm hai giai đoạn: biến hóa dần dần và biến hóa rõ rệt: "Biến là mô tả sự chuyển hóa rõ rệt, hóa là mô tả sự chuyển hóa dần dần". Cái bên ngoài thực hữu thấy được, thì đó là sự biến; cái bên trong thực có mà không thấy được sự chuyển hóa dần dần, đó là sự hóa. Nên nói: "trong hóa ngoài biến, trong chậm ngoài nhanh, trong âm ngoài dương, trong hư ngoài thực". Trương Tải cho rằng, sự vật chuyển hóa dần dần, để đạt tới chuyển hóa nhanh rõ rệt. Biến và Hóa chuyển hóa lẫn nhau. Chính mông - Thần hóa viết: "Biến chuyển lên hóa, chuyển từ thô đến tinh. Hóa để mà sắp xếp, chọn lọc thì gọi là biến, biến rõ rệt tinh tế" (Biến tắc hóa, dẫn thô nhập tinh dã. Hóa nhi tài chi vị chi biến, dĩ trữ hiển vi dã). Tư tưởng nhận thức về quá trình biến hóa trong chuyển động của vạn vật thật sâu sắc!

Hoành cừ dịch thuyết - Thượng kinh Quan viết: "Có âm dương thì nhất định chúng cảm ứng nhau. Vậy, cảm ứng của trời có liên quan gì đến tư duy? Đó là tự nhiên". Cảm ứng nghĩa là ảnh hưởng lẫn nhau, tác động lẫn nhau, có khác nhau thì có cảm ứng, những điều này đã xác định mối liên hệ giữa các sự vật với nhau, khi có cảm ứng âm dương. Sự cảm ứng âm dương phát sinh một cách tự nhiên, không liên quan đến tư duy của con người. Chính mông - Càn xưng viết: "Muôn vật vốn có cùng một nguồn gốc, cho nên một gốc có thể gắn hợp những mặt khác nhau, hiện tượng có gọi là cảm, âm dương cảm ứng lẫn nhau, vì chúng có cùng một nguồn gốc. Muôn vật do trời đất sinh ra, tuy chúng thụ Khí khác nhau nhưng đều luôn cảm ứng lẫn nhau".

"Ham muốn của con người giảm đi theo tuổi già, đấy là sự việc cảm ứng nhau. Cảm cũng như ảnh hưởng, không có lặp lại trước sau, có chuyển động là có cảm ứng, tất cả mọi cảm đều ứng, vậy nói mọi cảm ứng đều diễn ra nhanh chóng". Muôn vật trong vũ trụ cảm ứng lẫn nhau, bất kể cùng loại hay khác loại, sự vật của thế giới tự nhiên hay của xã hội loài người, chúng đều cảm ứng có mối liên hệ với nhau một cách phổ biến; đó là quy luật phổ biến của vũ trụ.

Trương Tải trình bày mô thức tồn tại "nhất vật lưỡng thể", khẳng định Khí âm dương cảm ứng lẫn nhau, và chuyển động biến hóa cấu tạo nên Khí hóa lưu hành. Nguyên nhân làm cho sự vật chuyển động biến hóa là nội lực bản thân của sự vật. Chính mông - tham lưỡng viết: "Tất cả mọi chuyển động quay tròn nhất định phải có động cơ, đã gọi là động cơ thì không thể từ bên ngoài đưa tới". Động cơ, đó chính là tác động tương hỗ của nhị Khí âm dương. Biến hóa vô cùng tận của Khí âm dương thúc đẩy cả vũ trụ biến hóa.

Mối liên hệ giữa Thái hư với Khí, chỉ rõ Thái hư là trạng thái vô hình và bản nhiên của Khí, Khí là bản thể của vũ trụ, Khí có thuộc tính tương phản: hữu vô, hư thực, ẩn hiện. Khí âm dương tác động lẫn nhau, làm cho thế giới vật chất không ngừng chuyển động và biến hóa. Đối với Trương Tải, Khí là phạm trù cao nhất. Mệnh đề Khí có âm dương, nhất vật lưỡng thể, có ảnh hưởng sâu rộng với hậu thế. Ông nói: "Rất khó nhận ra đâu là mối tiếp giáp cái hữu với cái vô; tiếp giáp hữu hình với vô hình. Cần hiểu là Khí bắt đầu từ đây, thì Khí kiêm cả hữu và vô, vô thì Khí sinh ra một cách tự nhiên, sự sống của Khí tức là Đạo là Dịch".

Trương Tải nói: “Khí năng nhất hữu vô. Hữu sinh hình, vô sinh dụng.”

THUYẾT VỀ THẬP NHỊ TÍCH QUÁI

Các nhà Dịch học thời Hán lấy 12 hình quẻ đặc thù trong 64 quẻ, phối hợp với khí hậu từng tháng của 12 tháng trong một năm, biểu thị ý nghĩa "âm dương tiêu tức" của vạn vật trong thế giới tự nhiên, gọi là Thập nhị tích quái, hay còn gọi là Nguyệt quái, Hậu quái, Tiêu tức quái.

Nguồn gốc của Thập nhị tích quái rất cổ. Thuyết này đầu tiên thấy ở Quy Tàng: "Tý Phục, sửu Lâm, dần Thái, mão Đại tráng, thìn Quải, tị Càn, ngọ Cấu, mùi Độn, thân Bĩ, dậu Quan, tuất Bác, hợi Khôn" (Mã Quốc Hàn - Ngọc hàm sơn phòng tập dật thư). Thượng Bỉnh Hòa cho rằng, Tả truyện - Thành công năm thứ 16 chép chuyện Tấn Hầu bói việc đánh nước Sở, được quẻ Phục, nói: "Năm quốc kiển, xạ kỳ nguyên, Vương trung quyết mục, dĩ Phục cư Tý". là dẫn chứng rõ nhất về việc vận dụng Thập nhị tích quái để nói về Dịch.

Chữ "Tích" còn có nghĩa là Vua (quân), "chủ" là nói 12 quẻ này làm chủ 12 tháng. Nay dựa vào bộ Hán thượng dịch truyện - Chu Chấn truyền lại Quái khí thất thập nhị hậu đồ của Lý Cái vẽ Thập nhị tích quái đồ biểu thị rõ tôn chỉ: dương đầy là "tức", âm hư là "tiêu". Sáu quẻ từ Phục đến Càn là tức quái, là Phục nhất dương sinh thuộc cung Tý, quẻ tháng 11; Lâm nhị dương sinh thuộc Sửu quẻ tháng 12; Thái tam dương sinh thuộc Dần quẻ tháng Giêng; Đại tráng tứ dương sinh thuộc Mão thuộc tháng 2; Quải ngũ dương tức, thuộc Thìn quẻ tháng 3; đến Càn lục dương tức, thuộc Tị quẻ tháng 4. Sáu quẻ từ Cấu đến Khôn là "tiêu" quái, là Cấu nhất âm tiêu, thuộc Ngọ, quẻ tháng 5; Độn nhị âm tiêu, thuộc Mùi, quẻ tháng 6; Bĩ tam âm tiêu, thuộc Thân, quẻ tháng 7; Quan tứ âm tiêu, thuộc Dậu, quẻ tháng 8; Bác ngũ âm tiêu, thuộc Tuất, quẻ tháng 9; đến Khôn là quẻ lục âm tiêu, thuộc Hợi, quẻ tháng 10.

Hai quẻ Càn Khôn là mẹ của "tiêu - tức", Dịch vĩ - Càn tạc độ viết: "Thánh nhân nhân âm dương mà nêu ra tiêu tức, lập Càn Khôn để thống nhất Thiên Địa", lại chép: "Quẻ tiêu tức, thuần là Đế, không thuần là Vương". Dịch vĩ - Càn nguyên tự chế ký viết: "Tích quái, ôn khí không theo 6 quẻ, vật dương không sinh, khí đất sẽ dấy lên", Trịnh Huyền chú: "sáu quẻ là chỉ quẻ Thái, Đại tráng, Quải, Càn, Cấu (dưới Cấu còn có Độn, ghi chép sót), hàn khí không theo 6 quẻ, không dẫn đến đông vinh, vật thực không thành", Trịnh Huyền chú "Sáu quẻ là nói các quẻ Bĩ, Quan, Bác, Phục, Lâm". Các nhà Dịch học từ Mạnh Hỷ, Kinh Phòng thời Tây Hán; Mã Dung, Trịnh Huyền, Tuân Sảng, Ngu Phiên thời Đông Hán, cho đến các học giả đời Thanh, chẳng ai không dùng Thập nhị tích quái để lập thuyết, ảnh hưởng rất lớn.

Hệ từ - Hạ truyện viết: "Cương nhu tương thôi, biến tại kỳ trung hỹ", Chu dịch tập giải dẫn lời chú của Ngu Phiên nói: "Nói về tiêu tức của 12 tháng, cửu lục tương biến, cương nhu tương thôi mà sinh biến hóa, cho nên bên trong có biến đổi vậy". Ngụy thư - Luật lịch chí chép từ Chính Quang lịch - Cầu tứ chính thuật ghi thứ tự tiếp nhau của 60 quẻ như sau:

- Tháng Một: Vị tế, Kiển, Di, Trung phu, Phục [18 âm - 12 dương]

- Tháng Chạp: Truân, Khiêm, Khuê, Thăng, Lâm [19 âm - 11 dương]

- Tháng Giêng: Tiểu quá, Mông, Ích, Tiệm, Thái [17 âm - 13 dương]

- Tháng Hai: Nhu, Tùy, Tấn, Giải, Đại tráng [14 âm - 16 dương]

- Tháng Ba: Dự, Tụng, Cổ, Cách, Quải [13 âm - 17 dương]

- Tháng Tư: Lữ, Sư, Tỵ, Tiểu súc, Càn [14 âm - 16 dương]

- Tháng Năm: Đại hữu, Gia nhân, Tỉnh, Hàm, Cấu [10 âm 20 dương]

- Tháng Sáu: Đỉnh, Phong, Hoán, Lý, Độn [11 âm - 19 dương]

- Tháng Bảy: Hằng, Tiết, Đồng nhân, Tổn, Bĩ [13 âm - 17 dương]

- Tháng Tám: Tốn, Tụy, Đại súc, Bí, Quan [15 âm - 15 dương]

- Tháng Chín: Quy muội, Vô vọng, Minh di, Khốn, Bác [17 âm - 13 dương]

- Tháng Mười: Cấn, Ký tế, Phệ hạp, Đại quá, Khôn [18 âm - 12 dương]

18 + 19 + 17 + 14 + 13 + 14 = 95 hào âm

12 + 11 + 13 + 16 + 17 + 16 = 85 hào dương

10 + 11 + 13 + 15 + 17 + 18 = 84 hào âm

20 + 19 + 17 + 15 + 13 + 12 = 96 hào dương

Thứ tự này là theo cách nói của sách Dịch vĩ - Kê lãm đồ. Căn cứ theo thuyết: "Nhu tại nội nhi cương đắc trung" lấy quẻ Trung phu làm khởi đầu. Đây là nêu hào Ba hào Bốn có đức "âm hư" ở giữa 6 hào, và hai hào Nhị Ngũ có đức "dương thực" nằm giữa thượng quái và hạ quái, để nói rõ hàm nghĩa "trung hư" là thành, "trung thực" là tín, biết hồi chuyển mà quay trở lại. Dịch vĩ - Kê lãm đồ viết: "Khí dương của trời đất, vũ trụ bắt đầu sinh ra từ quẻ Trung phu". Lại viết: "Giáp Tý, khí của quẻ khởi từ Trung phu, 6 ngày 7/80 ngày". Tức là chỉ hào Năm quẻ Trung phu có số thứ tự là 365, tương đương với số ngày của một Năm.

Phép 'Cầu tứ chính thuật', là do Mạnh Hỷ người thời Tây Hán đề xuất, tự là Trường Khanh, là người khai sáng Mạnh thị học về Kinh Dịch kim văn, thành tài và có trước thư lập ngôn. Dịch Hán học - Huệ Đống đã nói về đặc điểm về Mạnh thị học như sau: "Quái khí đồ của họ Mạnh lấy các quẻ Khảm Chấn Ly Đoài làm bốn quẻ chính, 60 quẻ còn lại, mỗi quẻ chủ 6 ngày 7 phân (lục nhật thất phân) hợp với số vòng trời 12 Nội tích quái, gọi là tiêu-tức. Càn đầy là tức, Khôn rỗng là tiêu, kỳ thực Càn Khôn là 12 vạch". Lại nói: "Bốn quẻ chỉ bốn mùa, mỗi hào chủ 24 khí, 12 quẻ chủ 12 giờ, mỗi hào chủ 72 hậu, 60 quẻ chủ 6 ngày 7 phân, mỗi hào chủ 365 ngày 1/4 ngày. Tích quái là Quân. Tạp quái là Thần. Tứ chính là phương bá. Hai ngày 'chí', hai ngày 'phân', hàn, ôn, phong, vũ, đều lấy ứng quái làm tiết. Ngoài ra, trong 48 quẻ còn lại, quẻ Dương có 24 quẻ, gọi là Thiếu dương, quẻ Âm có 24 quẻ, gọi là quẻ Thiếu âm. Cho nên 60 quẻ này còn được gọi là Tạp quái, cũng giống như nói rằng: vua tôi chung sức liên hợp, giao tạp để thành hình quái khí, để mà chỉ rõ cái lý âm dương tiêu tức". Dịch vĩ - Càn tạc độ có câu: "Lục thập tứ quái tam bách bát thập tứ hào giới", Trịnh Huyền chú giảng là: "Tiêu tức ở tạp quái là tôn quý, mỗi tháng ví như một quẻ mà ngôi thuộc vào đấy, đều có nơi hệ thuộc".

Chu dịch Thượng thị học - Thượng Bỉnh Hòa nói: "Người đời Hậu Hán chú Dịch, thường dùng Nguyệt quái mà không nói rõ ra, vì Nguyệt quái mọi người đều biết, không nhất thiết phải chỉ ra. Tầm quan trọng của nó có thể bết vậy". Tức là 12 Tích quái, vì 12 quẻ này dùng để biểu thị quy luật âm dương tiêu-tức của 12 tháng, cho nên gọi là Nguyệt quái.

TÍNH LIÊN TỤC THỜI GIAN THEO THUYẾT KINH PHÒNG

Thuyết quái viết: Thiên địa định vị

...........CÀN.........................KHÔN

........G.Tuất......Hỏa...........A.Dậu..........Thủy

........G.Thân.....Thủy..........A.Hợi...........Hỏa

........G.Ngọ.......Kim...........A.Sửu..........Kim

........G.Thìn......Hỏa...........A.Mão..........Thủy

........G.Dần......Thủy..........A.Tị..............Hỏa

........G.Tý.........Kim...........A.Mùi............Kim

- Giáp Tý - Ất Sửu = hào 1 - hào 4

- Giáp Tuất - Ất Hợi = hào 6 - hào 5

- Giáp Thân - Ất Dậu = hào 5 - hào 6

- Giáp Ngọ - Ất Mùi = hào 4 - hào 1

- Giáp Thìn - Ất Tị = hào 3 - hào 2

- Giáp Dần - ẤT Mão = hào 2 - hào 3

Thuyết quái viết: Sơn Trạch thông khí

............CẤN............................ĐOÀI

...........B.Dần......Hỏa.............Đ.Mùi..........Thủy

...........B.Tý........Thủy............Đ.Dậu..........Hỏa

...........B.Tuất.....Thổ..............Đ.Hợi...........Thổ

...........B.Thân.....Hỏa.............Đ.Sửu.........Thủy

...........B.Ngọ......Thủy............Đ.Mão.........Hỏa

...........B.Thìn......Thổ..............ĐTị.............Thổ

- Bính Dần - Đinh Mão = hào 6 - hào 2

- Bính Tý - Đinh Sửu = hào 5 - hào 3

- Bính Tuất - Đinh Hợi = hào 4 - hào 4

- Bính Thân -Đinh Dậu = hào 3 - hào 5

- Bính Ngọ - Đinh Mùi = hào 2 - hào 6

- Bính Thìn - Đinh Tị = hào 1 - hào 1

Thuyết quái viết: Lôi Phong tương bạc

...............CHẤN..............................TỐN

..............C.Tuất.......Kim................T.Mão........Mộc

..............C.Thân......Mộc.................T.Tị...........Kim

..............C.Ngọ.......Thổ.................T.Mùi.........Thổ

..............C.Thìn.......Kim.................T.Dậu........Mộc

..............C.Dần.......Mộc.................T.Hợi.........Kim

..............C.Tý..........Thổ.................T.Sửu........Thổ

- Canh Tuất - Tân Hợi = hào 6 - hào 2

- Canh Thân - Tân Dậu = hào 5 - hào 3

- Canh Ngọ - Tân Mùi = hào 4 - hào 4

- Canh Thìn - Tân Tị = hào 3 - hào 5

- Canh Dần - Tân Mão = hào 2 - hào 6

- Canh Tý - Tân Sửu = hào 1 - hào 1

Thuyết quái viết: Thủy Hỏa bất tương xạ

..............KHẢM..........................LY

.............M.Tý.......Hỏa...............K.Tị.........Mộc

.............M.Tuất....Mộc...............K.Mùi......Hỏa

.............M.Thân...Thổ................K.Dậu.....Thổ

.............M.Ngọ.....Hỏa...............K.Hợi.......Mộc

.............M.Thìn....Mộc...............K.Sửu......Hỏa

.............M.Dần.....Thổ...............K.Mão......Thổ

- Mậu Tý - Kỷ Sửu = hào 6 - hào 2

- Mậu Tuất - Kỷ Hợi = hào 5 - hào 3

- Mậu Thân - Kỷ Dậu = hào 4 - hào 4

- Mậu Ngọ - Kỷ Mùi = hào 3 - hào 5

- Mậu Thìn - Kỷ Tị = hào 2 - hào 6

- Mậu Dần - Kỷ Mão = hào 1 - hào 1

Bài Tây Minh của Trương Hoành Cừ tức Trương Tái là một áng văn quan trọng của Đạo học gia. Bài này, vốn là đoạn văn đầu của thiên Càn Xưng trong Chính Mông.

Trương Tái chép đoạn đầu thiên này vào vách tường phía Tây nơi thư phòng, ông đặt tên là Đính Ngoan, rồi chép đoạn cuối của thiên này vào vách tường phía Đông, ông đặt tên là Biếm Ngu. Trình Di thấy thế, đổi Đính Ngoan thành Tây Minh, và đổi Biếm ngu thành Đông Minh. Về sau, Chu Hi tách bài Tây Minh này ra thành một bài độc lập và chú giải nó. Bài Tây Minh của Trương Tái và Thái Cực Đồ Thuyết của Chu Liêm Khê là hai áng văn bất hủ của Tống Nho. Bài Tây Minh như sau:

Càn là cha, Khôn là mẹ; tấm thân nhỏ nhoi của ta tương hợp với trời đất mà đứng ở giữa. Cho nên cái Khí lấp đầy trời đất là thân thể của ta. Cái thống lĩnh trời đất là bản tính của ta. Người dân là đồng bào của ta. Vạn vật là bạn bè của ta. Nhà vua là con cả của cha mẹ ta (tức trời đất). Quan đại thần là người quản lý việc nhà của con cả. Hãy tôn trọng bậc trưởng thượng, vì họ là bậc trưởng thượng (của trời) đáng cho mình tôn trọng.; hãy thương xót kẻ mồ côi yếu đuối, vì chúng là trẻ thơ ấu (của trời) đáng cho mình thương. Thánh nhân hợp nhất với đức (của trời). Hiền nhân là bậc ưu tú (của trời). Trong thiên hạ những kẻ già yếu, tàn tật, không anh em, già không con, già không vợ, già không chồng, đều là anh em của ta, họ chật vật khốn khổ mà không biết than thở cùng ai. (Kẻ khá giả) Tùy thời mà bao bọc những kẻ đáng thương ấy, đó là thể hiện lòng tôn kính (cha trời mẹ đất). (Kẻ khốn đốn) vui với mệnh trời, không lo buồn tủi phận, đó là thể hiện lòng chí hiếu (với cha trời mẹ đất). Làm trái lệnh cha mẹ là phẩm hạnh của đứa con ngỗ nghịch. Kẻ làm hại điều nhân gọi là tặc. Kẻ gây ác là hạng bất tài. Ai giữ được nguyên hình sắc như thủa ban đầu mới là giống hệt cha trời mẹ đất. Ai hiểu được sự biến hóa của sự vật tức là nối được sự nghiệp của cha trời. Ai nghiên cứu đến tận cùng cái thần diệu của sự vật, là nối được chí lớn của cha trời. Cẩn thận khi ở một mình, dù ở chỗ̃ khuất vắng mà không làm điều hổ thẹn với lương tâm, đó là một hiếu tử không làm nhục cha trời. Luôn gìn giữ tâm và nuôi dưỡng tính, đó là hiếu tử không biếng lười của cha trời. Ghét riệu (vì riệu làm loạn tâm tính), đó là sự quan tâm ông Vũ đến cong lao dưỡng dục của cha trời mẹ đất. Nuôi dưỡng anh tài là ban ân đức cho đồng loại (thể hiện đạo hiếu) của Dĩnh Khảo Thúc (đối với cha trời mẹ đất). Tận tâm chí hiếu để cha mẹ vui lòng, đó là công của Thuấn. Không chạy chốn (số mệnh) mà chỉ đợi bị giết, đó là Thân Sinh cung kính (thiên mệnh). Giữ gìn toàn vẹn thân thể do cha mẹ sinh ra cho đến lúc chết, đó là Tăng Sâm. Một mực vâng lời cha, đó là Bá Kỳ. (Cha trời mẹ đất cho ta) phú quý hạnh phúc, là làm dày dạn cuộc sống của ta; cho ta nghèo hèn lo buồn, tức là cho ngọc quý để ta mài giũa vậy. Khi còn sống ta cứ thuận theo trời mà hành sự; khi ta chết, ta cảm thấy thanh thản an bình.

Nho gia cuối thời Chiến Quốc đều chịu ảnh hưởng của Đạo gia. Trong số Nho gia thời đó, Tuân Tử là một bậc đại sư, tuy chịu ảnh hưởng của Đạo gia, đạt được chủ nghĩa tự nhiên của Đạo gia. Như chữ thiên theo Khổng Tử là ông Trời, tức đấng chủ tể vũ trụ. Theo Mạnh Tử thì chữ thiên này là số mệnh hay vận mệnh. Còn theo Tuân Tử thì chữ thiên này là cõi tự nhiên.

Giải Tế - Tuân Tử viết: "Cho nên từ phương diện thực dụng mà nói, Đạo rốt cuộc là Lợi [...] Từ phương diện ngôn từ mà nói, Đạo rốt cuộc là luận biện. Từ phương diện trời mà nói, Đạo rốt cuộc là nguyên nhân. Các thứ ấy chỉ nói lên một góc của Đạo. Đạo có bản thể thường hằng nhưng (ứng dụng) thì luôn biến đổi. Biết một góc thì không đủ gọi là biết. Kẻ thiên kiến thì chỉ thấy một góc của Đạo chưa thể xem là biết được. Nhưng hắn tự cho mình biết hết, còn tô điểm vẽ vời cho cái biết của mình, thế là bên trong thì loạn bên ngoài thì gạt người, trên che lấp dưới, dưới bưng bít trên, đó là cái họa của che lấp

(Cố do dụng vị chi, đạo tận lợi hĩ. [...] Do từ vị chi, đạo tận luận hĩ. Do thiên vị chi, đạo tận nhân hĩ. Thử sổ cụ giả, giai đạo chi nhất ngung dã. Phù đạo giả, thể thường nhi tận biến, nhất ngung bất túc dĩ cử chi. Khúc tri chi nhân, quan ư đạo chi nhất ngung, nhi vị chi năng thức dã, cố dĩ vi túc sức chi, nội dĩ tự loạn, ngoại dĩ hoặc nhân, thượng dĩ tế hạ, hạ dĩ tế thượng, thử tế tắc chi họa dã).

Đối với những học thuyết của các nhà thời đó, Tuân Tử cũng có nhận thức rõ ràng và phê bình xác đáng!

Thiên luận - Tuân Tử nói: "Lão Tử có thấy chỗ co mà không thấy chỗ duỗi. Mặc Tử có thấy chỗ bằng nhau mà không thấy chỗ khác nhau" (Lão Tử hữu kiến ư khuất, vô kiến ư tín. Mặc Tử hữu kiến ư tề, vô kiến ư kỵ).

Giải Tế - Tuân Tử nói: "Mặc Tử bị dụng che lấp nên không biết văn" (Mặc Tử tế ư dụng nhi bất chi văn).

Ông lại nói: "Huệ Tử bị lời nói che lấp nên không biết cái thực. Trang Tử bị trời che lấp nên không biết người (Huệ Tử tế ư từ nhi bất tri thực. Trang Tử tế ư thiên nhi bất tri nhân).

Đại sư Tuân Tử nòng cốt vẫn là Nho gia, chịu ảnh hưởng lớn từ Khổng Tử. Thời ông có thể nói là loạn, nên dân chúng tìm niềm tin vào đồng cốt và cúng tế. Tư tưởng Nho gia và nghề nghiệp làm Quan Cai trị của ông ảnh hưởng chủ đạo ở sách ông viết. Do vậy Tuân Tử cũng “Thiên Kiến” trong phê bình Lão học và âm dương gia…(có thể thiên kiến cả về đẳng cấp xã hội). Còn Đạo và thấy của Tuân Tử là cái thấy của nhà cai trị và Thầy dậy người đi cai trị.

Quan niệm Đạo đức của Tuân Tử ngược với Mạnh Tử và cho con người bản tính vốn ác, quan điểm này có thể cũng xuất phát từ quan điểm Cai trị, hoặc hoàn cảnh thời ông sống hỗn loạn, cái ác nhiều. Do vậy, Tuân Tử phản kích kịch liệt Mạnh Tử và các Đạo gia, Âm dương gia.

Ông lại có quan niệm kỳ quặc về Thánh nhân, Thánh nhân là phải cố hết sức tự cầu cho có nhiều phúc và chiếm nhiều tài nguyên, chỉ biết súc tích tài vật và lợi dụng trời đất - phải chăng quan điểm này có ảnh hưởng hậu duệ sau này..??

Vì tư tưởng Nho gia cố hữu và là nhà Cai trị vậy, nên có thể nhận định Tuân Tử không thâm nhập được vào Lão Trang học và học phái Âm dương gia. Tuy Tuân Tử có nhắc đến Tự Nhiên nhưng là Tự Nhiên theo đại sư Tuân Tử.

(Tham khảo Lịch Sử Triết Học Trung Quốc – Tg Phùng Hữu Loan ; NXB Khoa Học xã Hội)

Quái từ: Khuê, tiểu sự cát.

Lời quẻ: Quẻ Khuê tượng trưng cho sự ngang trái chia lìa, biết thận trọng xử sự thì thu được tốt lành.

Tự quái truyện giải thích Khuê là quai = ngang trái. Thuyết văn giải tự - Hứa Thận giải thích là "Mục bất tương thích", tức là hai mắt không nhìn nhau, có nghĩa là chống trái, không hòa thuận với nhau.

Tiểu, chỉ về âm nhu, hàm nghĩa cẩn thận, thận trọng. Lời quẻ chỉ ra rằng: phàm sự vật ở vào thời chống trái nhau, thì phải dùng phương pháp mềm mỏng, nhu thuận, thận trọng tìm ra cách xử lý thích hợp, thì mới có thể chuyển mâu thuẫn thành hài hòa được. Nếu cứ cương cứng một cách thái quá, khiên cưỡng mong cầu hòa hợp, thì khó mà vượt qua khuê ly được. Vì vậy, Lời quẻ mới nói là Tiểu sự cát.

Cổ nhân nói:

Trịnh Khang Thành giảng: "Khuê tức là đối lập nhau, lửa thì muốn bay lên, (nước) ao hồ thì muốn thấm xuống, cũng như con người đồng cư tâm ý khác nhau, nên gọi đó là Khuê" (Khuê, quai dã. Hỏa dục thướng, Trạch dục hạ. Do nhân đồng cư nhi chí dị dã, cố vị chi Khuê).

Ngu Phiên chú giảng: "Hai quái Ly Đoài tượng trưng cho hai thiếu nữ vậy" (Nhị nữ Ly Đoài dã).

Quách Dương chú giảng: "Tám quẻ Văn Vương lập ra, Ly là con gái giữa, Đoài là con gái út. Cả hai đều là tượng âm nhu, cho nên đối lập nhau chứ không tương ứng. Ly ở trên, là tượng dính bám vào trời. Đoài ở dưới là hồ nước, tượng trưng cho khả năng dung hòa. Lấy nhu tiến lên phía trên, đến hào Ngũ đắc vị. Trên ứng với Thượng, nên gọi là đắc trung ứng cương. Lại thêm hào âm nhu chiếm vị trí ngôi tôn, là bề tôi mà chiếm vị của vua, cùng tương ứng với Nhị, là vuâ phải ứng theo bề tôi, cho nên chỉ thành tựu được việc nhỏ" (Văn Vương bát quái, Ly vi trung nữ, Đoài vi thiếu nữ, gia vị âm tượng, cố tương khuê nhi bất tương ứng. Đoài tại hạ, Ly tại thượng. Ly giả, lệ vu thiên chi tượng, Đoài giả, trạch tại hạ năng dung chi tượng. Dĩ nhu nhi thượng tiến, chí lục ngũ đắc vị, thượng ứng thượng cửu, cố xưng vi đắc trung ứng cương. Hựu nhân âm hào lục ngũ chiếm cửu ngũ chi vị, vi thần chiếm quân vị; dữ cửu nhị tương ứng, vi quân ứng vi thần, chỉ năng thành tựu tiểu sự).

Chu dịch tập giải dẫn lời Ngu Phiên nói: "Tiểu là chỉ hào Ngũ. Âm cũng gọi là tiểu. Hào này đắc trung ứng cương nên được tốt".

Chu dịch chiết trung dẫn lời Hà Khải nói: "Việc đã chống trái nhau rồi, thì không thể lấy cái tâm nóng giận mà giải quyết được. Chỉ có cực kỳ bình tĩnh, từ từ chuyển hóa. Đó là mẹo hay để hòa hợp vậy. Cho nên mới nói Tiểu sự cát. Tiểu sự là chỉ việc xử sự mềm mỏng. Không phải đại sự là không tốt, mà chỉ sự thận trọng thì được tốt vậy".

Chu dịch chính nghĩa - Khổng Dĩnh Đạt nói: "Một khi vật tình đã chống trái nhau, thì không thể làm việc đại sự được. Làm việc đại sự là phải huy động nhiều người, việc đó chỉ có ở thời đại đồng mới làm được. Tiểu sự là những việc như ăn uống, quần áo, không phải đợi sức đông, tuy chống trái mà vẫn có thể làm được".

(Bài viết sưu tầm của cụ Hà Uyên)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sưu tầm về Dịch thuyết

6 kiêng kỵ phong thủy cần thiết với người độc thân - Phong thủy - Xem Tử Vi

6 kiêng kỵ phong thủy cần thiết với người độc thân, Phong thủy, Xem Tử Vi, xem bói, xem tử vi 6 kiêng kỵ phong thủy cần thiết với người độc thân, tu vi 6 kiêng kỵ phong thủy cần thiết với người độc thân, tu vi Phong thủy

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

6 kiêng kỵ phong thủy cần thiết với người độc thân

Các cô nàng còn độc thân nên lưu ý những kiêng kỵ phong thủy sau đây trong bài trí nhà cửa để may mắn hơn trong tình duyên.

Muốn biết vận may và tiền tài của nữ gia chủ chỉ cần nhìn gian bếp. Nếu phòng bếp có cột đè lên kệ bếp sẽ không có lợi cho tiền tài. Nếu vừa mở cửa chính nhìn thấy bếp dễ hao tài. Vì thế khi mua nhà, các cô nàng còn độc thân cần xem kĩ vị trí phòng bếp.

Tài vị (vị trí của tài khí) chính là 2 góc phòng khách đối diện với cửa chính, đây là vị trí phong thủy quan trọng. Nếu bạn là cô nàng độc thân cần quan sát kĩ xem có đủ hai vị trí đó không. Bởi nếu không có đủ tài vị thì căn hộ của bạn không thể tích tụ được tài khí, gây hao tài tốn của liên miên.

Căn hộ dành cho người độc thân thường có diện tích nhỏ nên chỉ cần nhìn lướt qua là có thể bao quát được mọi thứ trong nhà. Phong thủy dành cho căn hộ của người độc thân cũng đơn giản hơn. Nhưng có một điểm quan trọng bạn cần chú ý, phong thuy khi mua nhà hoặc thuê nhà, cần chú ý không nên chọn những căn hộ khi mở cửa chính đã thấy ban công vì cách bố trí như vậy thường không thể giúp bạn tụ tài khí.

Trần nhà hoặc tường nhà nhất định không được ngấm nước. Nếu nhà thuê thì nên đổi phòng khác, nếu nhà mình thì phải gọi người vào sửa lại. Tình trạng này không chỉ ảnh hưởng xấu đến phương diện tình cảm, mà còn ảnh hưởng đến tiền tài của bạn.

Nếu trong nhà có ban thờ thì bên trái là thờ thần linh, bên phải là thờ tổ tiên. Nếu chỗ đặt bài vị của tổ tiên có dây điện, hay dính vào góc trần nhà cũng sẽ không có lợi cho nữ gia chủ.

Trần phòng ngủ không được trang trí quá rườm rà phức tạp, kẻo ảnh hưởng tới phương diện tình cảm của nữ chủ nhà. Trần phòng như vậy dễ khiến người yêu bạn có thiên hướng phân tâm hoặc ngoại tình.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 6 kiêng kỵ phong thủy cần thiết với người độc thân - Phong thủy - Xem Tử Vi

Địa thế phong thủy thành phố Hồ Chí Minh: Đẹp nhưng chưa đủ vượng

Theo phong thủy thành phố Hồ Chí Minh nằm ở vị trí tốt, được sông núi bao quanh che chở. Thế đất đẹp nhưng theo phong thủy lại chưa hội tụ đủ linh khí đất trời.
Địa thế phong thủy thành phố Hồ Chí Minh: Đẹp nhưng chưa đủ vượng

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

  Thành phố Hồ Chí Minh giữ vị trí vô cùng quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Đây là mảnh đất trù phú, được thiên nhiên ưu ái và ban tặng cho địa thế phong thủy khá tốt. Nhiều thầy phong thủy đã đánh giá thành phố Hồ Chí Minh, nay vẫn còn phổ biến với tên gọi cũ là Sài Gòn, có phong thủy đẹp. Vào những năm giữa thế kỉ 20, nơi đây từng được ví là Hòn ngọc Viễn Đông.


phong thuy thanh pho ho chi minh dep nhung chua du vuong phat
 
  Có đầy đủ yếu tố làm nên một thành phố phát triển, có đủ tiềm năng để lớn mạnh, nhưng cho tới giờ, thành phố Hồ Chí Minh vẫn chưa thể vươn lên vị trí đứng đầu Đông Nam Á, chưa thể lặp lại lịch sử khi trở thành Hòn ngọc được bao người ao ước trước đây.   Phong thủy thành phố Hồ Chí Minh còn ẩn chứa rất nhiều huyền cơ, ảnh hưởng đến sự phát triển cũng như diễn biến lịch sử của thành phố trung tâm nơi phía Nam đất nước này. Hôm nay Lịch ngày tốt xin có đôi lời lạm bàn về địa thế phong thủy của vùng đất này, đồng thời đưa ra một vài lý giải tại sao phong thủy Sài gòn đẹp nhưng lại chưa thể vượng phát đúng với ý nghĩa của nó.  

Thành phố Hồ Chí Minh là nơi có địa thế phong thủy đẹp 

  Thành phố Hồ Chí Minh nằm ngay bên phải bờ sông Sài Gòn. Đây là con sông bắt nguồn từ tỉnh Tây Ninh ở phía Tây Bắc, sau đó chảy xuống và đi ngang qua khu vực phía Bắc của thành phố rồi lại uốn lượn qua phía Đông, từ đó mới nhập lại cùng sông Đồng Nai chảy xuống từ phía Bắc, tiếp đến đổ ra biển nơi phía Nam.   Những con sông dày đặc, uốn lượn chảy qua Sài Gòn khiến cho vượng khí vô biên bất tận. Thành phố được sông núi ôm trọn vào lòng, được bao bọc che chở nên tránh được những tai ương bất trắc. 


song sai gon uon luon 2 vong quanh thanh pho
 
  Thành phố Hồ Chí Minh nằm giữa một khoảng bình nguyên rộng lớn, phía xa là dãy Trường Sơn nằm tại Lâm Đồng ở phía Bắc và Đông Bắc, còn có dãy núi Bà Đen tại tỉnh Tây Ninh, phía Tây Bắc thành phố, riêng phía Đông Nam là khu núi Vũng Tàu. Núi Bà Đen và núi ở Vũng Tàu đều là dư khí của dãy Trường Sơn còn sót lại. 

Các dãy núi cũng tạo nên địa thế phong thủy vô cùng tốt. Mạch Trường Sơn chấm dứt tại Quảng Đức, Lâm Đồng tạo ra thế Huyền Vũ, che chở cho phía sau thành phố. Núi Bà Đen ở Tây Ninh và vùng núi ở Vũng Tàu lại đồng thời tạo nên thế “tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ”, trấn giữ và bảo vệ cho vùng đất trù phú này. Có một điểm khá thú vị khi mà núi Bà Đen (hữu Bạch Hổ) lại cao hơn núi Vũng Tàu (tả Thanh Long), mà thành phố Hồ Chí Minh lại nằm lệch về phía Vũng Tàu nên hình thành thế Long – Hổ quân bình, giúp cho nền kinh tế nơi đây luôn phát triển không ngừng.
  Các dãy núi hộ vệ không quá xa cũng không quá gần gây nên thế áp đảo, đe dọa thần khí của Sài Gòn mà ở khoảng cách vừa phải, để cho thành phố này có khoảng không gian rộng lớn, đủ để hấp thu hết vượng khí của toàn bộ miền Nam Việt Nam. Địa thế đẹp, có núi sông bao bọc, phong thủy thành phố Hồ Chí Minh có nhiều điểm đặc biệt, mang theo vượng khí, xứng đáng trở thành một trong những trung tâm kinh tế và chính trị quan trọng bậc nhất ở Việt Nam.  

Tại sao phong thủy thành phố Hồ Chí Minh đẹp nhưng chưa đủ vượng phát

  Địa thế phong thủy tuyệt vời đến vậy nhưng cho đến giờ, thành phố Hồ Chí Minh đã đánh mất danh hiệu Hòn ngọc Viễn Đông trước đây của mình, chưa thể vươn lên, trở lại vị trí là thành phố đứng đầu khu vực Đông Nam Á.   Theo các nhà phong thủy học, tuy thành phố nằm trong vùng đất có vị trí phong thủy đẹp, nhưng do trung tâm thành phố chưa nằm đúng vị trí đắc địa thì khí tốt chưa đủ vượng, khó bề đạt mức hưng phát đỉnh điểm.


thanh pho ve dem
 
  Chính long mạch (tức chân long) của vùng đất này nằm ở khu vực giữa sông Đồng Nai và sông Sài Gòn, song thành phố lại nằm ở phần đất bên ngoài. Đây được gọi là đất “hộ sa”, tức vùng đất hộ vệ, bảo vệ cho chân long. Mà theo phong thủy thì chân long mới là nơi kết tụ linh khí đất trời, là nơi địa linh nhân kiệt, là đất của các bậc đế vương, dễ dàng đứng đầu vị trí về chính trị và kinh tế của cả khu vực. Còn đất hộ sa chỉ được coi là phần chư hầu, linh khí tản mát, khó bề tích tụ, chính vì thế mà khả năng trở thành trung tâm kinh tế chính trị hùng mạnh không được lớn.   Các chuyên gia phong thủy chỉ ra rằng, nếu thành phố muốn phát triển hơn, hưởng trọn vẹn lợi thế cát cát do sông Sài Gòn uốn lượn hai vòng quanh thành phố thì cần đặt trung tâm nằm ở khu vực được dòng sông ôm lấy như khu Thủ Thiêm. Đó là vùng đất “chân long”, hội tụ sinh khí dồi dào nhất khu vực Đông Nam Bộ.   Thế đất Thủ Thiêm được đánh giá là thế đất đẹp hiếm có trong phong thủy, là nơi đắc địa để dân cư sinh sống, an cư lạc nghiệp. Thế đất lớn, thu nạp sinh khí hưng vượng của dòng chảy sông Sài Gòn nên hứa hẹn sẽ mang lại nhiều phúc lộc, công danh vinh hiển, sự nghiệp hưng vượng.   Thành phố Hồ Chí Minh vẫn đang trên đà phát triển, có nhiều cơ hội để vươn lên trở thành một trung tâm kinh tế, chính trị còn lớn mạnh nhiều hơn thời điểm bây giờ. “Thiên thời, địa lợi, nhân hòa”, hội tụ đủ những yếu tố này, chắc chắn sẽ có ngày thành phố thay da đổi thịt, giúp Việt Nam trở thành một trong những con Rồng châu Á.   Thiên Thiên  
Hoành Sơn - thế phong thủy đại địa Hòa Thân và những bí mật phong thủy nơi cấm phủ Lăng mộ Tần Thủy Hoàng và cú lừa phong thủy ngoạn mục mang họa diệt vong

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Địa thế phong thủy thành phố Hồ Chí Minh: Đẹp nhưng chưa đủ vượng
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd