Trong tử vi đẩu số, sao Thiên Lương được lấy từ nhân vật quan Tổng binh ải Trần Đường Lý Tịnh, có ba người con trai Kim Tra, Mộc Tra, Na Tra, được mệnh danh là Thác Tháp Lý Thiên Vương
Trong tử vi đẩu số, sao Thiên Lương được lấy từ nhân vật quan Tổng binh ải Trần Đường Lý Tịnh.
Lý Tịnh từng bái Độ Ách chân nhân tại Tây Côn Lôn làm thầy theo học pháp thuật nhiều năm, thấy đạo thần khó thành, nên từ biệt thầy xuống núi, sau lĩnh chức Tổng binh của triều đình Ân Trụ. Phu nhân của ông là An thị sinh được ba con trai, con trưởng là Kim Tra, con thứ là Mộc Tra, con út là Na Tra.
Kim Tra bái Văn Thù Quảng Pháp Thiên Tôn tại động Vân Tiêu núi Ngũ Long làm thầy, Mộc Tra theo học Phổ Hiền chân nhân tại động Bạch Hạc núi Cửu Cung, còn Na Tra vừa ra đời đã được Thái Ất chân nhân nhận làm học trò.
Lý Tịnh với danh xưng là "Thác tháp thiên vương" (thiên vương nâng tháp) là một võ tướng trong truyện Phong thần diễn nghĩa, với hình tượng mình mặc giáp trụ, đầu đội mũ ô vàng, tay trái dỡ một toà tháp, tay phải cầm cương xoa ba mũi hoặc bảo kiếm.
Do Thương Trụ vô đạo, trăm họ lầm than khổ cực, các chư hầu lớn nhỏ tôn Tây Bá hầu Cư Phát làm thủ lĩnh, hợp quân phạt Trụ. Cả ba con trai của Lý Tịnh cũng đều theo về dưới trướng Vũ Vương, làm bộ tướng tiên phong. Lý Tịnh vốn là tướng nhà Ân, đứng trước tình hình đó, không biết phải làm thế nào. Sau ông được Đạo nhân Nhiên Đăng chỉ điểm, tạm thời từ quan về ở ẩn, đợi đến khi Chu Vũ Vương dấy binh thì đến hợp lực cùng ba người con trai cùng tham gia nghiệp lớn.
Trong thời gian Vũ Vương phạt Trụ, Lý Tịnh cùng ba con trai đã lập rất nhiều công lao lớn, đặc biệt là con trai út Na Tra, hoá thân của hoa sen trắng (sao Hoả), đánh đâu thắng đó, giúp đỡ đắc lực cho chiến thắng của Vũ Vương. Khi sự nghiệp hoàn thành, triều Chu đã được kiến lập, Vũ vương tiến hành luận công ban thưởng, cả bốn cha con Lý Tịnh đều không màng đến danh lợi, không hẹn mà cùng lẳng lặng trở về nơi lu luyện của thầy mình, rồi từ đó đến cuối đời chỉ chuyên tâm học đạo tu tiên.
Lý Tịnh vốn là một võ tướng, nhưng công lực tu hành rất cao thâm, hơn nữa còn mang tấm lòng nhân ái, sẵn sàng dùng tài năng và pháp lực để cứu vớt nhân dân ra khỏi cơn nước lửa mà không màng chuyện sống chết của bản thân.
Lý Tịnh tu đạo mà thành thần tiên, trở nên trường thọ. Khương Tử Nha sau khi tự phong mình làm chủ nhân sao Thiên Cơ, lại thấy sao Thiên Lương còn vô chủ, bèn phong thần trước cho Lý Tịnh, hoàn thành trọn vẹn sự nghiệp diệt Trụ của Vũ Vương. Bởi vậy trong hệ thống lý luận Tử Vi Đẩu Số, tính cách của Lý Tịnh được gán rất nhiều cho sao Thiên Lương.
Thiên Lương là sao chủ về tuổi thọ và sang quý, có lòng trắc ẩn, bản tính trung hậu, thích bố thí, hay lo chuyện bao đồng. Hành sự quyết đoán, thích giúp đỡ ngưòi khác nhưng việc nhà lại thiếu sự quan tâm.
Danh hiệu Thác Tháp Lý Thiên Vương của Lý Tinh bắt nguồn như sau:
Người con trai út của Lý Tịnh tên là Na Tra, từ nhỏ đã ương bướng và rất nghịch ngợm. Một hôm, Na Tra cùng đám bạn của mình chơi đùa nơi ven biển, làm kinh động đến tận Thủy cung của Đông Hải Long Vương. Long Vương bực tức lệnh sai Dọa Xoa đi tìm hiểu ngọn ngành. Tới nơi thì Dọa Xoa bị Na Tra giết chết. Sau đó Long Vương lại sai Tam thái tử đi thu phục Na Tra. Do nói năng thiếu khiêm nhường nên đã chọc tức bản tánh ương ngạnh khiến Na Tra xuống dưới biển và đại náo Long cung, giết chết Tam thái tử, phá hủy Long cung và bắt nhốt Long Vương.
Trước tình hình đó, không còn cách nào khác, Lý Tịnh đành bắt Na Tra tự sát. May được Thái Ất chân nhân dùng hoa sen giúp cho Na Tra được hồi sinh. Na Tra sau khi trở lại với thân xác của mình thì trong lòng không vui, muốn tìm cha mình để trả thù. Bởi tài năng cao cường của Na Tra, Lý Tịnh không thể chống đỡ được nên Phật Tổ Như Lai liền ban cho ông một tòa bảo tháp xá lị bằng vàng. Lý Tịnh nhờ đó mới nhốt được Na Tra vào trong bảo tháp.
Sau này mối thù giữa cha và con được hóa giải. Cùng nhau theo về trướng Vũ Vương tiên phong phạt Trụ cứu dân độ thế. Lý Tịnh có được bảo tháp thần kỳ này mà trở thành danh xưng "Thác tháp Lý thiên vương".
Không những học nói mà còn phải học cách ngừng nói
Cổ nhân xưa vẫn có câu dạy chúng ta rằng “Nên uốn lưỡi 7 lần trước khi nói”. Thế nên, học nói không những quan trọng mà ta nên biết nói sao cho chừng mực
Cổ nhân xưa vẫn có câu dạy chúng ta học nói rằng: “Nên uốn lưỡi 7 lần trước khi nói”. Quả thật, ngôn ngữ dùng để biểu đạt cảm xúc, là công cụ để biểu lộ suy nghĩ, thế nhưng nó cũng có thể tạo ra những lời nói không phù hợp, vô nghĩa hoặc không cần thiết, dẫn đến phiền não không đáng có.
Vương Dương Minh là một nhà tư tưởng học nổi tiếng vào thời Minh. Trong một lần cùng với các đệ tử ra ngoài dạo chơi, ông thấy trên đường có hai người đang cãi nhau, một người nói: “Ngươi thật không có đạo lý”; người kia phản bác: “Ngươi thì không có lương tâm!”
Một vị đệ tử liền quay ra nói với thầy rằng: “Thầy nghe xem, bọn họ đang giảng đạo”.
Vương Dương Minh nói: “Không phải, họ đang mạ lỵ người khác”.
Dùng thiên lý, lương tâm yêu cầu chính bản thân thì là giảng đạo, còn áp đặt yêu cầu lên người khác thì chính là đang mạ lỵ người ta. Khi giao tiếp với mọi người, lời chúng ta nói ra chính là một cách tu hành thâm nhập thực tế, những lời nói tốt đẹp chính là hành động thiện lành nhất. Vì thế người nói, người nghe hay người ngoài cuộc mà vô tâm khiêu khích cũng sẽ tạo ra một sự ác ý tuần hoàn. Vì vậy, có thể nói tin đồn sẽ dừng ở người khôn ngoan. Khi mọi người ở cùng với nhau, không nên vì những lời nói tức thời bộc phát mà làm mất đi thiện duyên khó có được này.
Ngôn ngữ dùng để biểu đạt cảm xúc, là công cụ để biểu lộ suy nghĩ, thế nhưng nó cũng có thể tạo ra những lời nói không phù hợp, vô nghĩa hoặc không cần thiết, dẫn đến phiền não không đáng có.
Socrates – một triết học gia người Hy Lạp cổ rất giỏi về diễn thuyết, ông thường hay dạy mọi người cách làm thế nào để trò chuyện. Một hôm, có một thanh niên đến và nhờ ông dạy những kỹ năng diễn thuyết, bàn về tính trọng yếu của diễn thuyết như thế nào.
Sau một thời gian dài chờ đợi chàng thanh niên nói xong, Socrates tỏ ý muốn thu tiền học phí của anh gấp đôi, anh ta hỏi nguyên nhân tại sao. Socrates trả lời:
“Bởi vì, ngoài việc dạy anh diễn thuyết, tôi còn phải dạy thêm anh cách để ngừng nói”.
Cổ nhân xưa có câu: “Nhất ngôn chiết tận bình sinh phúc” – Cẩn trọng khi nói chính là điểm mấu chốt của tu thân.
Mục đích của lời nói là để diễn đạt những lời yêu thương dễ nghe cho nhau. Thế nhưng, trong những cuộc nói chuyện hàng ngày, có rất nhiều từ ngữ chúng ta cần thực sự phải chú ý, ví dụ:
“Là tôi bảo anh ta đến” – tại sao lại không nói: “Là tôi mời anh ta đến”?
“Hãy nghe tôi đi” – tại sao lại không nói là: “Chúng ta cùng bàn bạc nhé”.
“Bạn đừng có hối hận đấy” – tại sao lại không nói là: “Bạn có muốn suy nghĩ thêm không?”
“Bạn hãy cẩn thận cho tôi” – tại sao lại không nói là: “Có lẽ vẫn cứ nên cẩn thận một chút thì tốt hơn”…
Cùng là một hàm nghĩa nhưng tại sao cứ phải thêm vào những lời khó nghe? Như vậy, không những khiến cho đối phương cảm thấy không vui, mà còn dễ dẫn đến hiểu lầm, quả thực là không xứng với nét đẹp của những người có văn hóa.
Tấn Vũ Đế Tư Mã Viêm khi đăng ngôi Hoàng đế, muốn coi bói quẻ xem ngôi Hoàng đế này sẽ được truyền đến bao đời, kết quả là chỉ có một chữ “Nhất” (một). Vũ Đế rất không vui, quần thần đều sợ hãi mặt tái xanh, không ai dám nói câu gì. Đúng lúc đó, thị trung Bùi Khai đã tiến lên trước và nói: “Vi thần nghe nói, trời có một sẽ thanh minh, đất có một sẽ an bình, hầu vương có một sẽ có được sự ủng hộ trung thành của quần dân”. Chỉ một câu nói ngắn gọn như vậy đã khiến Vũ Đế từ lo lắng chuyển sang vui mừng, quần thần từ đáy lòng đều cảm phục Bùi Khai.
Bất cứ việc gì bạn nhìn thấy cũng có thể chỉ là vẻ bề ngoài chứ chưa phải là thực chất, không nhất định là đúng. Có thể nắm rõ những kỹ năng khi nói chuyện, vào những lúc thích hợp, bạn sẽ có thể biến nỗi buồn thành niềm vui, hoá thối nát thành thần kỳ.
Không mở nhạc quá to Hiện nay có rất nhiều cửa hàng mở nhạc rất to để tạo không khí kinh doanh. Bản thân âm nhạc có thể kiến tạo bầu không khí, nhưng phải xem nó kiến tạo như thế nào. Âm thanh nhẹ nhàng tạo cảm giác thoải mái, dễ chịu khiến khách khô
Hiện nay có rất nhiều cửa hàng mở nhạc rất to để tạo không khí kinh doanh. Bản thân âm nhạc có thể kiến tạo bầu không khí, nhưng phải xem nó kiến tạo như thế nào. Âm thanh nhẹ nhàng tạo cảm giác thoải mái, dễ chịu khiến khách không muốn dời đi, từ đó lượng tiêu thụ cũng tăng. Bật nhạc tiếng to, thủng màng nhĩ, phong thủy gọi là “thanh sát”, thuộc một loại hung sát, sẽ khiến cho khách hàng rất khó chịu muốn tránh xa ngay. Vì thế ảnh hưởng đến lượng tiêu thụ.
Kỵ mùi mạnh
Mùi trong cửa hàng phần lớn có liên quan đến hàng hóa, đặc biệt là những loại hàng chuyên doanh thì càng dậy mùi. Ví dụ như mùi hoa trong cửa hàng hoa, mùi trà trong cửa hàng trà, mùi da trong cửa hàng da giày… Không ít người đã ngửi thấy mùi trong cửa hàng bay ra để phán đoán tình trạng chất lượng sản phẩm của cửa hàng đó.
Mùi cũng như âm thanh, có mặt tích cực và tiêu cực. Khách hàng sẽ có phản ứng tốt đối với mùi thơm nhẹ nhàng của quầy hàng mỹ phẩm, mùi thơm của thức ăn, mùi vị nhẹ nhàng kích thích thần kinh cảm quan của con người…Cửa hàng nào biết cách phối hợp sản phẩm với mùi hương sẽ tăng hứng thú, kích thích tâm lý tích cực mua hàng của khách.
Tuy nhiên cần phải chú ý tới nồng độ mùi phù hợp với khứu giác của con người để tạo hiệu quả tích cực. Nếu dùng mùi quá đậm đặc khiến người ta cảm giác khó chịu, thậm chí buổn nôn, gây phản cảm cho khách hàng. Điều này lại không có lợi.
Kham Dư: Kham, có ý nghĩa là đất nhô lên, là từ đại diện cho “địa hình”; “dư” có nghĩa là thừa dư, có nghĩa là làm bằng, chuyên chở những phần nhô lồi của đất, có nghĩa là nghiên cứu địa hình. Trong “Sử ký" đặt các nhà Kham Dư tương đương với các nhà
Kham Dư: Kham, có ý nghĩa là đất nhô lên, là từ đại diện cho “địa hình”; “dư” có nghĩa là thừa dư, có nghĩa là làm bằng, chuyên chở những phần nhô lồi của đất, có nghĩa là nghiên cứu địa hình. Trong “Sử ký” đặt các nhà Kham Dư tương đương với các nhà Ngũ hành, vốn cùng ngửa mặt xem thiên văn, cúi xuống xét ý nghĩa của non nước, thế đất, cảnh quan; người đời sau gọi chung là nhà phong thủy. Nhưng vẫn có người gọi là Kham Dư, nhưng không chỉ xem phong thủy mà còn chia thành nhiều dòng là: La la, Nhật Khoá, Huyền Không học, Táng pháp và Hình gia.
Thầy Phong thủy: Là người tìm long điểm huyệt, quý nhất là tìm được những huyệt tàng phong, nhận khí là quý nhất. Nhưng bản chất của phong là động, khí lại theo phong mà đến hoặc di: thủy có tính thu liễm, khi nếu gặp thủy thì có thể ngưng đọng để kết huyệt. Vì vậy, khi tìm huyệt để mai táng phải xem xét cẩn thận hai yếu tố Phong và Thủy, vì thế, người nghiên cứu vể tầm long điểm huyệt, kham thiên, dư địa gọi là thầy Phong Thủy. Sách Táng Thư chép: “Khí nhờ gió mà tan, gặp nước thì dừng”. Lại có người nói: Gió thuộc dương, nước thuộc âm, người học Kham dư đặc biệt chú trọng đến khí Âm
Dương, huyệt quý bởi tàng phong tụ khí, nên gọi chung là Phong Thủy.
Địa lý: Kham Dư hoặc gọi Phong Thủy hoặc cũng gọi là Địa Lý. Trong phần “Hệ từ thượng – Kinh Dịch” có viết: “Ngửa mặt xem thiên văn, cúi xuống xét địa lý”. Nhưng địa lý ở đây dùng không cùng nghĩa với Địa lý học hiện đại. Một người phương Tây tên là Chatley đã từng đưa ra khái niệm về Địa lý của Trung Quốc như sau: “Hệ thống lý thuyết này là một nghệ thuật giúp cho người sống và người chết có được một môi trường sống tốt nhất trong trời đất, luôn cầu mong được cân băng với môi trường âm dương”. Đó là lấy “địa lý” gọi thay “Kham Dư” thực ra người này đã có thiên kiến và chỉ nhìn thấy hiện tượng đời sống của các thầy phong thủy thời nay mà lược bỏ hai kiến thức có quan hệ mật thiết với phong thủy là Thiên văn và Kham Dư.
Thiên trì thủy: (ao nước trời) Còn được gọi là “vệ long tri”, thường là những ao nước tổ tông sơn hoặc cao cương sơn, phân thành ngũ cách: lưỡng trì kẹp long quý nhất; đơn trì hộ giả thứ chi: tiểu trì thủy, thủy bất lưu xuất, cũng không khô hoạt, gọi là “vệ long tỉnh” (giếng vệ long) lại là thứ; phi trì phi hồ, chỉ là những dòng nước nhỏ, còn gọi là “vệ long tuyền”, bốn cái này thuộc cát cách. Nếu long trì bị phá, thì long khí thoát theo nên có thể nói là trong cách Tốt có mang theo khí hung. Một nhà Phong thủy đời Tống cho rằng: Rất ít người biết đến Thiên trì thủy, chu vi, sâu nông của nó rất kỳ diệu, có thể thịnh vượng Thiên thủy, bao phủ cho long mạch, nhìn đầy vơi của Thiên trì thủy để đoán định thịnh suy: ở nơi đất bằng mà có Thiên trì thủy rộng và sâu thì đó chính Chân long tú thủy, vượng mạch, rất nhanh phát, bốn mùa đều tươi tốt, nhưng nếu khi nước trong hồ cạn thì báo hiệu điểm suy vi của thế đất
Nguyệt kiến Dậu:Bạch lộ - Thu phân. (Từ ngày 7-8 tháng 9 DL) Trước Thu phân một ngày là Tứ ly Sau Bạch lộ, Tam sát tại phương Đông, trên Dần, Mão, Thìn nên kị tu tạo, động thổ. Trực Kiến - ngày Dậu: Tiểu Hồng Sa -Thiên Thành: ngày này chính là lúc ngũ hành tự bại ,trăm sự đều hung, lại còn phạm cả Thiên - Địa chuyển sát nên càng hung nhiều hơn; nếu lỡ phạm ngày này sẽ bị kiện cáo, sản ách, gặp tai nạn về nước, con cháu phải ly tán, bại gia triền miên. Trực Trừ - ngày Tuất: Ngày Canh Tuất là Thiên Đức, Nguyệt Đức. Mậu Tuất, Giáp Tuất nên làm các việc hưng công, động thổ, nhập trạch, khai trương, hôn nhân, mọi việc đều được thứ cát. Bính Tuất, Nhâm Tuất là Sát nhập trung cung, không nên làm việc gì, nếu dùng sẽ bị mất của, gia đình mâu thuẫn, đại hung. Trực Mãn - ngày Hợi: Thiên phú. Ất Hợi có Văn Xương quý hiển tinh. Đinh Hợi, Kỷ Hợi có các cát tinh Hoàng La, Tử đàn, Thiên Hoàng, Địa Hoàng, Hoa Thái, Thao Trì, Lộc Mã cùng chiếu, tốt cho khởi tạo, hưng công, động thổ, buộc giàn, nhập trạch, hôn nhân, giá thú, khai trương, xuất hành, kinh doanh, làm lớn thì phát lớn, làm nhỏ thì phát nhỏ, trong vòng 60 ngày, 120 ngày, chậm là đủ vòng năm lại thấy tài thành, sinh quý tử, vượng điền sản và lục súc. Tân Hợi là ngày Âm Phủ Quyết Khiển, chẳng phải là ngày dùng ở dương gian.Quý Hợi là ngày tận cùng của lục giáp, ngũ hành vô khí, không nên làm việc gì. Trực Bình - ngày Tý: Vãng Vong, Chu tước, Câu Giảo, bị kiện cáo, tổn hại tới gia chủ. Bính Tý là khi nước trong sạch (khiết tinh). Canh Tý có Hỏa Tinh, lại thêm Thiên Đức, Nguyệt Đức cùng chiếu, và Mậu Tý. Ba ngày này nên làm các việc khởi tạo, giá thú, nhập trạch, xuất hành, động thổ thì rất tốt. Giáp Tý cũng có Hỏa Tinh, nhưng là Bắc phương Hắc sát chi khí. Nhâm Tý là lúc thảo mộc điêu linh (tàn hại), ngũ hành vô khí, không nên làm việc gì. Trực Định - ngày Sửu: Tân Sửu, Quý Sửu, Ất Sửu, Đinh Sửu là thứ cát.Chỉ có Kỷ Sửu bất lợi cho mọi việc, không nên làm gì, gia chủ bị bệnh tật, gặp tai ương. * * * * * Tra ngày Định là Sửu ở Đổng công trong nguyên bản, có chép: - Tân Sửu, Quý Sửu là ngày thứ cát.- Ất Sửu, Đinh Sửu cũng thứ cát.- Duy có Kỷ Sửu là bất lợi. - Các nhà thố pháp (người làm việc chôn quan tài) nói Đinh Sửu, Quý Sửu phạm Chu tước, Câu giảo, lại có Bạch hổ, Sát nhập trung cung, những cái đó là hung tinh.- Mà Tân Sửu lại gặp Thu quỷ mộ, can chi vô khí, trăm việc đều kỵ. * * * * * Tựa như khó nói cái đó là tốt, mặc dù « Hiệp kỷ biện phương thư » nói rằng Đinh Sửu, Kỷ Sửu nên làm việc hôn nhân, giá thú, nhưng 4 ngày Sửu là Đinh, Kỷ, Tân, Quý của tháng đó, đều có hung Sát, huống hồ Kỷ Sửu càng có thập ác chi hung (xấu vì có mười thứ ác), Xương Quỷ (quỷ cuồng vọng), bại vong nên không dùng được. Vì vậy mấy ngày này đều không nên làm bất cứ việc gì. Duy có Ất Sửu các sách đều nói là Thượng cát nên may ra có thể dùng được. Trực Chấp - ngày Dần: Hoàng Sa. Canh Dần có các cát tinh Thiên Đức, Nguyệt Đức, có Hoàng La, Tử Đàn, Thiên Hoàng, Địa Hoàng, Kim Ngân Bảo Tàng, Điền Đường Khố, Châu Tụ, Lộc Đới Mã Loan, và Cung Diệu cùng chiếu, nên làm các việc khởi tạo, hôn nhân, động thổ, di cư, khai trương, xuất hành, thì được vượng điền, có hoạnh tài, tăng lục súc, thêm nhân khẩu, và con cháu sửa nhà, sân, gia đạo hưng thịnh. Các ngày Dần còn lại cũng là thứ cát, có thể dùng. Riêng Giáp Dần là chính tứ phế, xấu. Trực Phá - ngày Mão: Thiên tặc. Quý Mão, Ất Mão là thứ cát. Các ngày Mão còn lại đều bất lợi, có Chu Tước, Câu Giảo, bị kiện cáo, tranh cãi, còn phạm cái hung của Nguyệt Yểm.Ất Mão là chính tứ phế, cũng xấu. Trực Nguy - ngày Thìn: Nhâm Thìn là lúc nước trong sạch. Bính Thìn nên làm các việc phá đất, hưng công, khai trương, xuất hành, nhập trạch, hôn nhân, trăm việc thuận lợi, rất tốt. Mậu Thìn thảo mộc điêu linh. Canh Thìn là thiên địa cùng phế, không tốt. Giáp Thìn là Sát nhập trung cung, rất xấu. Trực Thành - ngày Tị: Thiên hỉ. Ất Tị, Kỷ Tị có các cát tinh Tử Đàn, Đới Lộc, Dịch Mã, Khúc Đường cùng chiếu nên làm các việc hôn nhân, nhập trạch, hưng công, động thổ, khai trương, xuất hành, khởi tạo kho chứa, chuồng dê ngựa, đều rất tốt, trăm việc thuận lợi. Các ngày Tị còn lại là thứ cát. Trực Thu - ngày Ngọ: Phúc Tinh chiếu nhưng tiếc là bị Kiến, Phá xung. Nhâm Ngọ là Hỏa Tinh, thứ cát. Mậu Ngọ có Hỏa Tinh, bất lợi. Canh Ngọ cũng bất lợi. Phạm ngày này sẽ bị tổn hại tới con cháu, bị kiện cáo, mâu thuẫn : hung Bính Ngọ làm các việc động thổ, an táng, kinh doanh thì được thứ cát. Trực Khai - ngày Mùi: Đinh Mùi, Kỷ Mùi, Tân Mùi, Quý Mùi đều là thứ cát, ngày đó chỉ nên phạt cỏ, mở núi (khai sơn), nhổ cây, an táng. Duy Ất Mùi trăm việc đều không tốt, xấu, phạm phải thì suy, bại, tử tuyệt. Trực Bế - ngày Thân: Mậu Thân có Thiên Xá. Canh Thân, Bính Thân có Thiên Đức, Nguyệt Đức chiếu, nên làm các việc xuất hành, sửa mới, động thổ, hưng công, đặt móng, buộc giàn, hôn nhân, nhập trạch, an táng, khai trương, làm kho chứa, chuồng trâu, dê, lợn… có lợi con cháu, vượng điền sản, tiến hoành tài, nhà cửa phát đạt, thượng cát. Giáp Thân, Nhâm Thân thứ cát.
Lễ hội diễn ra trong ngày 20 tháng 2 âm lịch - Hội Bà Triệu
Hội Bà Triệu
Thời gian: tổ chức từ ngày 20 tới ngày 23 tháng 2 âm lịch.
Địa điểm: xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
Đối tượng suy tôn: nhằm suy tôn Bà triệu (Triệu Trinh - người đã lãnh đạo nhân dân đứng lên trống lại ách đô hộ của nhà Ngô vào năm 248).
Nội dung: Mở đầu lễ hội là hoạt động tế lễ, nhắc lại công ơn lớn lao của Bà Triệu, tiếp đó là lễ rước Bóng - rước bát hương vua Bà từ đền chính đến lăng mộ rồi rước về đình làng. Người ta đặt bát hương bà Triệu lên kiệu cùng với hộp tư trang, đĩa trầu cau để 8 chàng trai mặc áo đỏ cộc tay, thắt lưng màu đỏ, đầu chít khăn đỏ, quần trắng, đi chân đất khiêng. Đặc biệt ở đình làng còn diễn ra trò "Ngô Triệu Giao Quân" rất sôi nổi. Sau lễ buổi trưa cả làng ăn đồ nguội (vì đánh trận phải ăn lương khô). Buổi chiều đám cưới cỗ bàn linh đình để khao quân.
Ngày 23 tháng 2 thuộc vào ngày chính kỵ không tế mà chỉ làm lễ, có một số lễ vật như 100 trứng sống, 100 quả dưa chuột, 3 bát cơm gạo trắng, 3 quả trứng luộc, bánh giầy, bánh gai, bánh trưng, bánh mật...
Trong dịp lễ hội, dân làng còn tổ chức cuộc thi đấu vật, leo dây, thổi cơm, thi đánh cờ tướng... làm cho lễ hội càng thêm sôi nổi náo nhiệt cả một vùng.
Một buổi sáng cuối Xuân đầu Hạ, hai chú tiểu của chùa Pháp Vân ra mở cổng chùa thì thấy một cái bọc nhỏ đặt trong một cái hộp giấy cứng không có nắp đậy, trong cái bọc đó là một đứa bé gái khoảng một tháng tuổi, đang thiếp ngủ ! Mười ba năm sau, đứa bé gái bị cha mẹ bỏ vào nhà chùa đó đã trở thành một thiếu nữ mắt phượng mày ngài, mặt trái xoan, dáng dấp thanh tú.
Hai chú tiểu ngày nào đã trở thành sư thầy, nói với nhau : “Chúng ta làm ơn cứu mạng như thế cũng được rồi, nay nên trả đứa bé lại cho cha mẹ nó, để nó ở lại đây tất sẽ gây họa lớn ! Cái trán cao rộng, hơi gồ và sáng bóng, mũi thì dài sống mũi lại quá mảnh khảnh, lưỡng quyền cao rộng nên có số sát phu, đàn ông mà dây dưa với nó tất chết bất đắc kỳ tử !” Rồi ngay sau đó, hai sư thầy gửi cô bé cho một vị giáo sư, nói là nó có tư chất thông minh, nhờ giáo sư kèm cặp, sau ắt sẽ trở thành nhân tài của đất nước ! Quả nhiên, chỉ sau ba năm, cô bé đã học xong tất cả chương trình phổ thông trung học. Các bài thi đại học những năm trước đó, cô bé đều làm dễ dàng như ăn kẹo ! Vị giáo sư đã hoàn tất mọi thủ tục để cô bé tham dự kỳ thi đại học tới, cô bé ắt sẽ đỗ thủ khoa, cả nước sẽ bị một phen bất ngờ !…
Nhưng, người bị bất ngờ lại chỉ là hai ông sư thầy của chùa Pháp Vân : Trước ngày thi một ngày, bà vợ vị giáo sư dắt cô bé trả lại cho nhà chùa mà rằng :
- Đứa bé này thông minh thật, đúng là Thần đồng, nhưng nó đã đem tai họa đến cho nhà tôi : ông chồng tôi gần hết đời mới đạt được công danh, vậy mà chỉ sau một đêm dan díu với nó đã chết thật thảm thương ! (Khóc) Sáng nay, ông ấy dậy sớm tập thể dục như mọi ngày, vậy mà không thể trở về nhà với tôi được nữa : một chiếc xe tải to đùng đã nghiến nát ông ấy rồi !
Hai vị sư thầy đành để cô bé ở lại chùa. Việc truy tìm tung tích cha mẹ đứa bé vẫn chưa có kết quả. Hai vị sư thầy bàn với nhau : “Nó đã đem tai họa đến cho người ta, vậy phải cho nó cơ hội chuộc lại tội lỗi : cho nó đi học nghề chữa bệnh cứu người . Công, tội có thể bù đắp, hóa giải cho nhau !” Cô bé liền được gửi đến ở phòng mạch Đông Y của một Lương Y danh tiếng, nghe nói đã bốn đời hành nghề chữa bệnh cứu người, cha ông đã từng thọ giáo bậc danh y Hải Thượng Lãn Ông !
Cô bé đến phòng mạch Đông Y chưa được ba bảy hai mươi mốt ngày thì bà vợ ông Lương Y đã dắt nó đến trả cho nhà chùa mà không nói một lời ! Hai sư thầy đi tìm hiểu sự việc thì được biết : một lần đang xem bệnh, kê đơn bốc thuốc cho con bệnh thì cô bé đi vào nói đau bụng không thể chịu nổi. Vị Lương y đành bỏ dở công việc mà tìm cách cắt cơn đau cho cô bé. Sau một hồi day huyệt, cô bé đã hết đau bụng nhưng vị Lương Y đã bị cơ thể cô bé làm cho mất hồn, không thể kiềm chế được cơn sóng tình dục cứ dâng lên cuồn cuộn. Sau cuộc giao hoan vội vàng với cô bé, vị Lương Y chẳng còn minh mẫn để kê đơn bốc thuốc cho con bệnh, kết quả là cái toa thuốc ấy đã giết chết con bệnh, người nhà con bệnh tức thì vác dao đến đòi mạng, chẳng kịp ngăn cản !
Hai vị sư thầy sau khi biết chuyện thì mười phần kinh hãi ! Mặc dù hai vị sư thầy nghiên cứu rất kỹ về thuật tử vi tướng số nhưng trong thâm tâm họ đều không mấy tin vào những chuyện tào lao đó, chẳng qua chỉ là trò chơi của tạo hóa ! Nhưng đến sự việc xảy ra ở phòng mạch Đông Y này thì cả hai vị sư thầy đều run sợ trước sự huyền bí của định mệnh mà thuật tướng số chỉ hé mở được phần nào sự huyền bí đó ! Suy nghĩ nát nước mà hai vị sư thầy vẫn chưa biết phải cho cô bé có tướng cách dị thường này đi đâu, chùa Pháp Vân này chưa có lệ thu nhận sư nữ mà tung tích cha mẹ cô bé vẫn chưa thấy tăm hơi gì ? Thời gian cứ đều đặn trôi đi từng ngày, từng ngày, nó không thể dừng lại để đợi hai vị sư thầy nghĩ xong kế vẹn toàn, một tuần lễ trôi qua như một cái chớp mắt. Sang ngày thứ tám, một vị sư thầy có việc phải đi Tây Nguyên. Ba ngày sau, vị sư thầy ở nhà được báo mộng, người báo mộng lại là đích thân Bồ Tát:”Đêm hôm trước khi đi Tây Nguyên, sư huynh con đã dại dột giao hoan với cô bé có tướng sát phu đó. Hôm qua, xe chở sư huynh con đã lăn xuống vực ở tỉnh Kon Tum, chiếc xe cháy rụi, sư huynh con đã bị cháy thành than rồi! Tiếc thay, trồng cây sắp đến ngày hái quả mà lại…Con ráng mà giữ thân đặng tu thành chính quả, đừng như sư huynh mà uổng công mấy chục năm tu hành!”. Vị sư thầy chỉ còn biết ôm bài vị của sư huynh mà khóc không thành tiếng!…
* * *
Khi tôi đang lang thang kiếm sống ở Sài Gòn thì bất ngờ gặp một người bạn cũ là chuyên gia Hán-Nôm ở Hà Nội vào Sài Gòn làm việc. Khi biết được tình cảnh đang thất nghiệp của tôi, người bạn nói : - Giá như ông nghe tôi, hồi còn làm ở Viện Văn học mà tranh thủ theo học một khóa Hán-Nôm thì bây giờ tôi có thể nhận ông làm việc ở chỗ tôi. Bây giờ phong trào tìm về cội nguồn rất rầm rộ, rất nhiều văn bia, thần tích, gia phả…cần được biên dịch…
- Tôi không thích nói “Giá như…”, ông không giúp được gì cho tôi cũng không sao ! – Tôi nói cứng – Mà ông cũng chẳng phải ái ngại cho tình cảm của tôi bây giờ. Cái số tôi nó “bèo dạt mây trôi” dài dài, tôi đã quen rồi ! Người bạn vụt nhớ ra điều gì, vội nói :
- Ông nói tới chuyện tướng số làm tôi nhớ đến một vị sư thầy ở chùa Pháp Vân, vừa là bà con xa vừa là học trò Hán-Nôm của tôi. Vị sư thầy này rất giỏi tử vi tướng số, nếu ông có hứng thú, tôi sẽ dẫn ông tới chơi ! Dĩ nhiên là tôi rất hứng thú và người bạn chuyên gia Hán-Nôm liền dẫn tôi đến chùa Pháp Vân.
Khi chúng tôi đến chùa Pháp Vân, vị sư thầy vẫn chưa thôi ôm bài vị của sư huynh mà khóc thầm ! Gặp người bạn chuyên gia Hán-Nôm và tôi, vị sư thầy mới dứt được nỗi đau mất sư huynh đã kéo dài ba ngày ! Sau khi kể cho chúng tôi nghe đầu đuôi câu chuyện về cô bé có tướng sát phu, vị sư thầy nói : - Tôi đã được Bồ Tát báo mộng sắp thành chính quả, vì thế bằng mọi giá phải cho cô bé đi khỏi chùa này. Tôi rất mong sư phụ và thí chủ đây giúp tôi !
- Chúng tôi xin sẵn lòng, sư thầy cho biết giúp như thế nào ? – Tôi và người bạn Hán-Nôm cùng nói .
Vị sư thầy im lặng giây lát như lấy hơi rồi nói :
- Tôi không ngờ cái tướng sát phu của cô bé lại hiệu nghiệm kinh hoàng như vậy. Tôi đã đành phải lấy cái tướng cách đó ra mà đặt tên làm giấy khai sinh cho cô bé, gọi chệch đi một chút : Sa Phi ! Tôi chợt nghĩ, cái tên đó gần giống với tên một loại đá quí, vì thế tìm một người có tên là một loại đá quí mà gả cho cô ta thì tai họa sẽ giảm thiểu đi nhiều, nếu người đó có lá số tử vi gần giống với lá số tử vi của Hàn Tín thì không còn lo ngại gì nữa !
Nghe tới đó, tôi giật mình kinh ngạc vì thấy mình đáp ứng đủ cả hai điều kiện mà sư thầy vừa nói. Tôi càng kinh ngạc hơn khi vị sư thầy chăm chú nhìn tôi một lát rồi nói :
- Thí chủ đây đã lập lá số tử vi chưa ? Nếu chưa tôi xin làm giúp ! Tôi lấy lá số tử vi của mình ra đưa cho vị sư thầy mà nói : - Tôi mới lập lá số này được một tháng, nhờ thầy xem lại ! Vị sư thầy đón lấy lá số tử vi của tôi, liếc nhanh qua rồi nắm chặt lấy hai tay tôi mà rằng :
- Người cứu mạng tôi đây rồi ! Hẳn là Bồ Tát đã đưa tới ! Mọi việc đã được quyết định chóng vánh như là vị sư thầy đã chuẩn bị sẵn từ trước : vị sư thầy thuê cho tôi một căn nhà nhỏ ở vùng ven đô, tiền trả trước một năm, ba ngày nữa tôi sẽ đem xe hoa đến đón cô dâu Sa Phi về đó làm lễ động phòng ! Tất nhiên mọi chi phí cho tiệc cưới (gọn nhẹ), sư thầy lo hết !…
Ngày thứ nhất, tôi làm xong cái việc khá quan trọng là tân trang căn nhà nhỏ, nơi sẽ trở thành tổ ấm gia đình của tôi sau nhiều năm phiêu bạt giang hồ, lăn lóc khắp rừng xanh núi đỏ cho đến biển bạc sóng cồn ! Có lẽ cái nhu cầu cần có điểm dừng đã quá mạnh khiến cho tôi không hề cảm thấy run sợ mảy may khi phải đối mặt với sứ giả của tử thần ! Có lúc tôi cũng tặc lưỡi mà cười thầm : “Có chết trong tay người đẹp cũng còn hơn là chết tan xác nơi sa trường mịt mù bom đạn ! Vả lại, vị sư thầy đã cam đoan với tôi rằng , cái tướng sát phu dù có dữ dội tới cỡ nào cũng không hại được tôi, vì tôi đã có quý nhân phù trợ, hơn chục lần tôi đã thoát hiểm trong đường tơ kẽ tóc đã khẳng định chắc chắn điều đó !”. Quả nhiên, trong giấc ngủ ở nhà mới đêm đầu tiên, tôi đã được Phật Tổ Như Lai hiện ra báo mộng : Ngài hiện ra trong ánh hào quang rực rỡ, nhìn tôi bằng ánh mắt nhân từ, tuy Ngài không nói gì nhưng đã mỉm cười với tôi ! Tôi hiểu ra ngay cái ẩn ý ở sau sự kiện này : tôi đã có công cứu nạn người nhà Phật (tức vị sư thầy chùa Pháp Vân) nên số phận đã mỉm cười với tôi, tôi cứ im lặng làm theo sự xếp đặt của số phận, không nói gì cả, vì im lặng là vàng mà !
Ngày thứ hai, tôi đi thuê xe ô-tô đón dâu và một bộ complê và mua một vài thứ lặt vặt cần dùng. Xong việc, cũng vừa tới bữa trưa, tôi vào một nhà hàng nơi con hẻm yên tĩnh để tự thưởng cho mình một chầu no say, đặng ngày mai bước vào cuộc chiến đấu mới đầy bí hiểm ! Vừa uống xong li bia đầu tiên thì thật bất ngờ, Siêu – người bạn học với tôi từ năm học lớp mười ở trường Hải An (Hải Phòng), đi vào, một mình ! Sau phút hàn huyên tôi mới được biết : Tốt nghiệp đại học Thủy sản, Siêu về làm việc ở Sở Thủy Sản Hải Phòng một thời gian rồi lên cơ quan Bộ, một thời gian sau nữa làm giám đốc một công ty xuất nhập khẩu thủy hải sản, hiện đang chuẩn bị nhận chức phó Tổng giám đốc của một Tổng công ty rất lớn. Hỏi đến chuyện vợ con, Siêu rầu rĩ nói :
- Ngày mai là ngày tao cưới vợ lần thứ hai. Nếu như vợ trước của tao đẹp như hoa hậu thì vợ này không thua gì Thị Nở của anh Chí Phèo ! Tôi ngạc nhiên :
- Thế thì thôi đi, như mày lấy vợ đẹp có khó gì ? - Không thể thôi dễ dàng như mày nói thế được ! – Siêu nói thong thả - Cô nàng tuy xấu mã nhưng lại tốt tướng, phải nói là quý tướng, đó là tướng “vượng phu ích tử” : nàng vừa có ngọc đới yêu vi vừa có song long nhiễu nguyệt, người như thế trong ngàn người mới có một ! Hơn nữa, cha và mẹ nàng đều có thế lực cực mạnh ở trong giới kinh doanh và quan trường !
- Thế thì còn rầu rĩ cái nỗi gì ! Cứ cưới cô vợ Thị Nở ấy đi, khi nào thích “ăn phở” thì một cú điện thoại là có liền, mà “phở” bây giờ được “nâng cấp” tới cỡ siêu người mẫu, hoa hậu, ngôi sao điện ảnh…thậm chí có cả “hàng ngoại” với đủ các màu da, các quốc tịch ! – Tôi nói như là rất sành sỏi trong đề tài này !
Siêu như là không hứng thú với cái đề tài “phở”, hỏi sang chuyện làm ăn của tôi và tỏ ra ái ngại cho cảnh ngộ hiện tại của tôi. Siêu nói : - Chịu khó chờ một thời gian nữa, khi nào tao nhận chức, tao sẽ lấy mày về làm việc ở Phòng thông tin – tuyên truyền, chắc là mày sẽ làm tốt ! Còn chuyện vợ con thì sao ?
Khi tôi đưa tấm hình của Sa Phi cho Siêu xem và nói ngày mai sẽ là ngày đón dâu, Siêu kinh ngạc thốt lên : - Tiên nữ giáng trần ! Không thua gì tứ đại mỹ nhân bên Tàu ngày xưa ! Cô gái này có vẻ đẹp bế nguyệt của Điêu Thuyền !
- Chính xác! – Tôi thừa nhận – Dung nhan thì hao hao như Điêu Thuyền, nhưng tư chất thì đặc biệt thông minh, trí nhớ thật siêu phàm. Đọc sách chỉ một lần là hiểu ngay và nhớ hết, có thể đọc ngược Truyện Kiều không sai một chữ! Cô ta đã tự học ba ngoại ngữ Anh, Pháp và Trung Hoa! Tuy không học qua trường nào nhưng có thể giải nhanh chóng tất cả các đề thi đại học!… Những câu chuyện về cô gái Sa Phi đã thực sự cuốn hút anh bạn Siêu của tôi, nhất là chuyện sát phu kỳ lạ và kinh hoàng! Khi chúng tôi đã uống hết một thùng bia Heineken, Siêu nói “xì-tốp” và kêu một ấm trà Thái rồi châm rãi nói:
- Mày phải hủy bỏ ngay đám cưới này! Để rồi tao sẽ làm mối cho mày một người vợ có tướng cách cực quý, vừa vượng phu ích tử vừa rất xinh đẹp, lại có chức danh Phó Giám đốc đàng hoàng !
- Dù có là Nữ hoàng bây giờ muốn cưới tao, tao cũng không ham. Đã nhận lời người ta rồi, mọi việc đã hoàn tất, không thể thất tín được, nhất là với người nhà Phật! Hình như trong chuyện này, cả Phật Tổ Như Lai và Quan Âm Bồ Tát đều nhúng tay vào! – Tôi nói to như quát.
Hai người hai quan niệm khác nhau thật khó mà có thể đi đến một sự hòa hoãn. Những tưởng cuộc tranh luận của chúng tôi sẽ dẫn đến xung đột vì chúng tôi vốn cùng nóng tính và từ thời học trò vốn chẳng ai chịu thua ai. Song, anh bạn Siêu của tôi tỏ ra bình tĩnh và sành đời hơn. Không hiểu sao, Siêu bỗng đưa cho tôi cái điện thoại di động mới cứng và nói : - Cái điện thoại di động này tao mua cho mụ vợ, nhưng hôm nay gặp lại mày ở đây, tặng mày luôn. Mày hãy gọi cho một người thân nào đó bất kỳ mời mai đến dự lễ cưới của mày, nếu người đó nhận lời ngay thì mọi điều mày nói từ nãy đến giờ đều đúng ! Còn nếu mày gọi tiếp cho hai người nữa mà không ai nhận lời thì mày phải nghe tao, hủy đám cưới ! Tôi nhận cái điện thoại di động từ tay Siêu, ấn ngay số máy điện thoại của bà chị cả. Vừa nghe thấy giọng nói của tôi, bà chị đã nói ngay, giọng mếu máo :
- Mẹ ốm nặng, tình hình rất nguy kịch, cậu ra Hà Nội ngay, chị sẽ ra sau vì cả ba đứa cháu của cậu đều đang sốt ói mửa lung tung !… Nhận được tin dữ, tôi bảo Siêu đưa tôi đến chùa Pháp Vân ngay. Vị sư thầy chấp nhận quyết định chớp nhoáng của tôi : tôi phải đi Hà Nội ngay, Siêu sẽ thay tôi giải quyết vụ cô gái tướng sát phu !…
* * *
Ra Hà Nội, tôi chỉ được báo hiếu mẹ một tháng thì mẹ tôi qua đời. Trước khi nhắm mắt xuôi tay, mẹ tôi chỉ đọc cho tôi nghe một câu ca dao cổ : “Con ơi, nhớ lấy câu này Sông sâu chớ lội, đò đầy chớ đi !”
Sau cái chết của mẹ, mọi suy nghĩ của tôi về sự đời như là có sự thay đổi rất lớn : Nếu như trước đây tôi “coi trời bằng vung”, sẵn sàng “bán trời không văn tự” thì bây giờ lúc nào tôi cũng cảm thấy sợ hãi, thấy mình yếu đuối, bé nhỏ vô cùng, cô đơn vô cùng ! Tệ hại hơn là trong giấc ngủ thường có ác mộng : cảnh bom đạn nơi chiến trường ngày xưa cứ hiện về không ngớt, và kết cục những cơn ác mộng ấy là một chùm bom cứ lao thẳng vào người tôi, có lần là cả một tốp hơn chục chiếc máy bay “Thần Sấm”, “Con Ma” cứ nhằm tôi mà lao tới cùng với những âm thanh gầm rú ghê rợn !…Và cuối cùng tôi đã rút ra phương châm xử thế : tránh mọi va chạm với người đời và tránh xa mọi tai ương có thể xảy ra ! Để làm được như thế, không có cách nào tốt hơn là làm theo các ẩn sĩ thời xưa ! Biết tôi có ý định tìm chỗ ở ẩn, Lò Giàng Páo – cậu học sinh cũ của tôi khi tôi dạy ở trường dự bị đại học Dân tộc Trung ương – nói sẽ dẫn tôi lên quê hương Hà Giang của cậu núi non trùng điệp, rất nhiều chỗ sơn thủy hữu tình có thể dựng Am cỏ như người xưa ! Páo là người Lô Lô, rất nhiệt tình nên chỉ sau một tuần, tôi đã làm xong thủ tục chuyển vùng . Chỉ chờ Páo xin nghỉ phép là thầy trò chúng tôi có thể lên đường …
Sáng hôm ấy, tôi đang thơ thẩn ở Viện Bảo tàng dân tộc để chờ Páo thì bất ngờ gặp lại Giàng A Thạc – học cùng với tôi hồi lớp Năm ở trường Lương Ngọc Quyến – Thái Nguyên . Khi biết ý định muốn lên rừng của tôi, anh chàng họ Giàng người H’mông cười chảy nước mắt rồi kéo tôi đi, vừa đi vừa nói :
- Tao có thằng bạn rất thân, hóa ra lại là bạn học với mày hồi lớp Mười ở Hải Phòng . Mày nhớ thằng Đông chứ, tốt nghiệp trường Đại học Mỏ - Địa chất, nó về làm ở một đoàn Địa chất ở Thái Nguyên, tao với nó chơi với nhau từ đó. Rồi nó được đi làm luận án tiến sĩ ở Nga, rồi về làm bên Dầu khí. Lần này nó rủ tao về Vũng Tàu. Chắc chắn là mày gặp nó là sẽ bỏ ngay ý định lên rừng mà sẽ đi xuống biển với chúng tao !
Quả nhiên khi gặp Đông, tôi bị Đông thuyết phục đi Vũng Tàu với Đông và anh bạn người H’Mông, và điều đặc biệt là Đông sẽ nhờ tôi làm quản lý trang trại của Đông ở Đồng Nai – như vậy là vẫn có chỗ cho tôi dựng Am cỏ làm Ẩn sĩ. Thì ra Đông làm công tác Thanh tra của ngành Dầu khí. Đông kể cho tôi nghe khá nhiều chuyện thuộc loại “thâm cung bí sử” của ngành Dầu khí và lấy làm tiếc rằng tôi không còn làm báo nữa vì nếu còn làm báo sẽ được có những tài liệu “độc nhất vô nhị” về những vụ tham nhũng động trời mà Đông đang thu thập chứng cớ. Nếu như trước đây, hẳn là tôi sẽ bám riết lấy Đông mà khai thác tài liệu, nhưng giờ thì tôi đã “tắt lửa lòng”, không muốn quan tâm đến thế sự nữa, điều mà tôi quan tâm ở Đông là cái trang trại của Đông ở Đồng Nai. Vì thế, sau ba ngày tắm biển sảng khoái ở Vũng Tàu, tôi thúc giục Đông đưa tôi đến trang trại…
Trang trại của Đông thật là trên cả tuyệt vời, nếu tả cảnh thuần túy và thật cô đọng, ngắn gọn cũng phải hết năm chục trang sách khổ 13×19. Còn nói về tiềm năng phát triển kinh tế của trang trại thì cũng không dưới năm mươi trang! Tuy nhiên, điều thu hút sự chú ý của tôi ở cái trang trại này không phải là thiên nhiên kỳ thú mà là những người đang làm việc ở đây, mà đáng chú ý nhất là một người đàn bà trạc tứ tuần có tên gọi là Sái phu nhân. Tôi té ngửa khi chợt nhân ra khuôn mặt của Sái phu nhân rất giống cô gái Sa Phi ở chùa Pháp Vân! Chẳng lẽ đó chỉ là sự giống nhau ngẫu nhiên? Nhưng sau khi tìm hiểu thì sự ngờ vực của tôi đã có lời giải: bà Sái phu nhân chính là mẹ đẻ của cô gái Sa Phi! Và cái tên Sái phu nhân cũng do chữ “sát phu” mà ra: từ năm mười bảy tuổi đến năm bốn mươi tuổi, bà ta đã mười lần lên xe hoa và cả mười tân lang đều chết “bất đắc kỳ tử”, điều đáng ngạc nhiên là cả mười tân lang đều là quan chức cỡ giám đốc, Tổng giám đốc, trong đó có hai vị thuộc ngành du lịch, hai vị ở ngành Ngân hàng, hai vị ở ngành Dầu khí, hai vị ở ngành Thủy hải sản và hai vị ở ngành Thương mại! Với “chiến tích” đó, bà Sái phu nhân còn có tên gọi “Thập đạo Nữ tướng quân”, đó là giới sử học gọi còn cánh nhà báo thì gọi là “Dũng sĩ diệt giám đốc”!…
Khi tôi nói rằng tôi đã gặp cô gái Sa Phi ở chùa Pháp Vân thì bà Sái phu nhân bỗng khóc rống lên một hồi rồi nói:
- Tôi thật đáng chết khi bỏ con bé vào chùa Pháp Vân!… Con ơi, con hãy tha tội cho mẹ! Sau đó ba năm, tôi có nhờ người đến tìm nhưng không thấy, tính đến nay đã gần hai mươi năm trời, không biết con tôi thế nào? Nếu ông biết con tôi ở đâu dẫn nó về đây với tôi, tôi xin tình nguyện làm tôi tớ cho ông mãi mãi!…
Vốn có tính dễ mủi lòng trước những lời cầu xin đẫm lệ, tôi nhận lời đi tìm Sa Phi, vả lại tôi cũng có chút “duyên nợ” với cô gái này! Tôi lập tức đi tìm Siêu. Có lẽ đến nhà cô gái xấu như Thị Nở nhưng có tướng “vượng phu ích tử” mà chắc là Siêu đã cưới làm vợ thì sẽ gặp Siêu. Nhưng khi tôi đến thì cô Thị Nở nói với tôi:
- Anh Siêu chê em xấu xí quá nên đã hủy hôn mà cưới cô gái có cái tên “Sa Sát” gì đó rồi! Nghe nói họ đang hưởng tuần trăng mật ở Đà Lạt, anh lên đó sẽ gặp ngay!
Tôi đến ngay Công ty của Siêu thì họ cũng nói vậy và cho tôi số máy di động của Siêu. Tôi gọi ngay cho Siêu thì người trả lời lại là tiếng Sa Phi:”Em là Sa Phi đây! Anh Siêu của em đang ở đâu hả ? Chúng em đang ở thác Đăm Bri, anh ấy vừa rơi xuống thác cách nay năm phút, đội cứu hộ đang tìm nhưng chưa thấy xác!…”. Không biết cô gái Sa Phi còn nói gì nữa không mà tôi chỉ nghe thấy tiếng thác dội ầm ào!…
Vật phẩm phong thủy xua đuổi tà khí trong tháng cô hồn
Đèn lồng, nhang thơm, rèm cửa, tượng rùa, tượng kì lân… là những vật phẩm phong thủy xua đuổi tà khí hữu hiệu trong tháng cô hồn, giúp bạn bình an may mắn.
– Đèn lồng, nhang thơm, rèm cửa, tượng rùa, tượng kì lân… là những vật phẩm phong thủy xua đuổi tà khí hữu hiệu, giúp bạn bình an vượt qua tháng cô hồn.
Theo quan niệm dân gian, ngày rằm tháng 7 âm lịch cũng là ngày xá tội vong nhân. Trong ngày này, người Việt thường sắm cỗ cúng “cô hồn”, để không bị chúng quấy phá. Ngoài ra, có thể sử dụng những vật phẩm phong thủy xua đuổi tà khí dưới đây.
1. Treo đèn lồng đỏ
Đèn lồng đỏ chứa dương khí dồi dào. Từa xa xưa, treo đèn lồng đỏ trước cửa nhà không chỉ nhằm mục đích soi sáng, chỉ đường cho con người mà còn ngăn chặn người âm trong tháng cô hồn.Vì thế, trong tháng cô hôn, có thể treo đèn lồng này trước cửa chính, gần cửa sổ để cản đường vong hồn vất vưởng xâm nhập vào trong nhà.Trong trường hợp không có đèn lồng đỏ, bạn có thể sử dụng đèn thắp sáng thông thường để chiếu sáng cửa nhà, miễn là có ánh sáng, vong hồn người âm khó có thể xâm nhập vào nhà.
2. Thay rèm cửa có màu tươi sáng hơn
Theo quan điểm phong thủy, màu sắc tươi sáng mang tới nguồn năng lượng tích cực, biểu trưng của dương khí nhiều. Vì thế, để tăng thêm dương khí xua đuổi âm khí trong tháng cô hồn, bạn nên thay đổi rèm cửa sổ, thậm chí là ga trải giường, vỏ gối… bằng những gam màu sáng.
9 điềm báo gặp ma và cách hóa giải trong tháng 7 ma khóc quỷ hờnNhắc nhở 6 điều tuyệt đối không nên làm trong tháng cô hồn
3. Đốt nhang thơm ngoài trời
Nhang thơm có thể xoa dịu tinh thần các “vong”. Đốt nhang thơm ngoài trời, bên ngoài cổng chính của ngôi nhà ngay trước khi mặt trời lặn và bóng tối buông xuống sẽ có tác dụng ngăn chặn vong hồn đi vào nhà. Đây cũng chính là vật phẩm phong thủy xua đuổi tà khí hữu hiệu dùng để tránh tà trong tháng cô hồn.
4. Sử dụng biểu tượng rùa
Rùa được coi là linh vật, mang tới điềm lành, vận may về tài lộc. Để vật phẩm phong thủy rùa án ngữ trước cửa có thể ngăn chặn đường đi của vong hồn đang tìm cách len lỏi vào ngôi nhà.
5. Bài trí tượng Quan Công
Một trong những quan võ nổi tiếng nhất ở lịch sử Trung Hoa chính là Quan Công. Đây là một vị thần Hộ pháp, biểu tượng mang tới sức mạnh, sự quyết liệt và tinh thần quả cảm, có thể chống lại những thế lực yêu ma quỷ quái. Có thể bài trí tượng vị quan này trong nhà để ngăn chặn tà khí.
6. Đặt một cặp kỳ lân trước cửa nhà
Trong các vật phẩm phong thủy xua đuổi tà khí, kỳ lân mang biểu tượng của điềm lành, sự thành công, danh tiếng, sức khỏe và sự trường thọ. Nơi nào có kỳ lân án ngữ, nơi ấy thái bình, an yên. Do đó, có thể đặt một cặp kỳ lân trước cửa nhà để bảo vệ cả ngôi nhà cũng như kích hoạt nguồn tài lộc dồi dào.Hoàng Lam
Danh sách những con giáp đại kị đi đêm trong tháng cô hồn – Tương truyền, tháng 7 âm lịch là tháng quỷ. Từ mùng 1/7, quỷ môn quan bắt đầu mở, tới ngày 30/7 cửa địa ngục đóng lại. Trong ngày cổng địa Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Minh Tuyết (##)
Phòng bếp được xem như là trái tim của ngôi nhà, là nơi “giữ lửa” cho mỗi gia đình. Chính vì thế, phong thủy phòng bếp được đánh giá quan trọng không kém các khu vực khác. Trong đó, màu sắc và vật liệu tạo thành góp phần tạo nên sự hài hòa, nuôi dưỡng và duy trì sự phát triển mối quan hệ của các thành viên. Dưới đây là những lưu ý khi lựa chọn màu sắc cũng như vật liệu cho phòng bếp mà bạn cần biết. 1. Yếu tố màu sắc Phòng bếp là nơi để nấu nướng, theo phong thủy nó mang yếu tố Hỏa. Vì thế, màu sơn thuộc yếu tố Mộc như xanh lá cây được xem là phù hợp hơn cả. Gam màu này không chỉ nhẹ nhàng, mềm mại, giúp không gian thư giãn mà còn thúc đẩy tương sinh cho căn bếp. Nếu được, hãy tăng cường bố trí thêm một vài chậu cây cảnh trong không gian này nhé!Màu xanh lá cây thúc đẩy tương sinh cho căn bếp.Ngoài xanh lá, màu trắng cũng thường xuyên được lựa chọn cho bếp vì chúng mang lại cảm giác sạch sẽ, là phông nên hoàn hảo để phối hợp với nội thất và phụ kiện. Màu trắng giúp đánh thức các giác quan, thích hợp cho nền tường, tủ bếp. Bên cạnh trắng là gam màu vàng, nó đem đến sự tươi mới, gắn kết vui vẻ giữa các thành viên trong bữa ăn. Tuy nhiên nên chọn tông vàng nhạt, tránh chọn tông quá chói chang dễ làm bầu không khí căng thẳng.Màu trắng và vàng nhạt mang lại sự sạch sẽ, tươi mới và tạo không khí vui vẻ. Các gam màu như nâu đất, mà be,… thuộc nhóm màu trung tính nên cũng thích hợp dùng cho khu vực này. Theo quan niệm phong thủy, những màu này mang đến sự bền vững, ổn định, giúp bếp lúc nào cũng có cảm giác ấm áp và sung túc.Các gam màu trung tính cũng khá phù hợp cho khu vực nấu nướng. Hai màu sắc thường xuyên được sử dụng nhưng theo phong thủy nên hạn chế chính là màu xanh nước biển và màu đỏ. Bởi lẽ, màu xanh nước biển (thuộc Thủy, Thủy khắc Hỏa) tuy nhẹ nhàng thư thái những nếu sử dụng nhiều sẽ lấn át sự hấp dẫn của thức ăn, khiến người dùng cảm thấy không ngon miệng và làm giảm bớt sự vui vẻ nhộn nhịp của bếp. Màu đỏ thì cùng thuộc yếu tố Hỏa nên nếu lạm dụng sẽ khiến phòng ăn bị mất cân bằng, mang cảm giác bực bội, nặng nề cho gia chủ.Màu xanh nước biển và màu đỏ cần hạn chế chọn lựa cho phòng bếp. 2. Vật liệu trong phòng bếp Như trên đã đề cập, phòng bếp theo ngũ hành thuộc Hỏa, do đó, vật liệu được lựa chọn cho bề mặt ốp tường, lát sàn nhà hay hệ thống tủ bếp cũng cần được lựa chọn sao cho phù hợp với yếu tố phong thủy. Chúng ta sẽ xem xét một vài ví dụ về các vật liệu để chọn ra loại phù hợp nhất cho gia chủ. Bởi lẽ, gạch ốp tường hay kính ốp bếp phải phù hợp với mệnh ngũ hành của gia chủ.Vật liệu được lựa chọn cho bề mặt ốp tường, lát sàn nhà hay hệ thống tủ bếp cũng cần được lựa chọn sao cho phù hợp với yếu tố phong thủy. Chẳng hạn như: Gạch, đá granite có màu xanh biển, màu đen là thuộc Thủy, nếu có ánh kim loại thì thêm tính Kim). Đá granite đỏ là thuộc Hỏa, nếu có thêm các sắc độ vàng thì tăng thêm tính Thổ. Đá trắng và đá xám thuộc tính Kim. Các loại gỗ từ màu vàng cam đến nâu đậm thuộc 3 hành liên hoàn Mộc - Hỏa -Thổ. Nếu chọn hệ thống tủ làm bằng inox thì vật liệu này thuộc Kim. Bạn chọn lớp sơn phủ bề mặt tủ màu gì thì cộng thêm yếu tố của hành đó (chẳng hạn đỏ thì thuộc Hỏa, xanh lá thuộc Mộc, xanh nước biển thuộc Thủy...). Mỗi loại vật liệu như gỗ, đá, kim loại,... đều mang trong mình yếu tố phong thủy đặc trưng. Sau khi đã xác định được tính chất phong thủy của vật liệu thì bạn sẽ dễ dàng hơn trong việc chọn ra loại vật liệu như thế nào là hài hòa với bản mệnh của gia chủ. Bạn thuộc mệnh nào thì sẽ chọn loại vật liệu tương sinh (Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc), tránh vật liệu mang tính tương khắc (Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc).Gia chủ thuộc mệnh nào thì sẽ chọn loại vật liệu tương sinh cho phòng bếp. Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Khánh Linh (##)
Nếu muốn con có cơ hội đạt vị trí cao trong xã hội, các phụ huynh nên đặt cho chúng những tên đơn giản và dễ phát âm, một nghiên cứu khẳng định. Livescience đưa tin các nhà khoa học của Đại học Melbourne tại Australia và Đại học New York tại Mỹ tìm h
Nếu muốn con có cơ hội đạt vị trí cao trong xã hội, các phụ huynh nên đặt cho chúng những tên đơn giản và dễ phát âm, một nghiên cứu khẳng định.
Livescience đưa tin các nhà khoa học của Đại học Melbourne tại Australia và Đại học New York tại Mỹ tìm hiểu vai trò của tên của một cá nhân đối với quá trình hình thành ấn tượng ở người khác. Họ xem xét tên của những người có cương vị quản lý trong các doanh nghiệp, tổ chức thuộc nhiều lĩnh vực. Những đối tượng nghiên cứu sống tại Mỹ nhưng có nguồn gốc từ châu Á, Mỹ Latinh, Đông Âu và Tây Âu.
Kết quả cho thấy tên của một người lao động càng đơn giản và dễ phát âm thì cơ hội thăng tiến càng lớn. Xu hướng này thể hiện rõ nhất trong giới luật sư. Những “thầy cãi” có tên đơn giản và dễ phát âm thăng tiến nhanh hơn hẳn so với những đồng nghiệp có tên dài, phức tạp và khó phát âm.
“Con người hầu như không ý thức được rằng tên có thể tác động một cách tinh vi tới cách đồng loại đánh giá chúng ta”, Adam Alter, một thành viên trong nhóm nghiên cứu, bình luận.
Nhóm nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng những chính trị gia sở hữu tên dễ phát âm có cơ hội thắng cử cao hơn những đồng nghiệp khác trong các cuộc đua chính trị. Song họ cũng thừa nhận Tổng thống Mỹ Barack Obama là một ngoại lệ hiếm hoi.
Simon Laham, trưởng nhóm nghiên cứu, nói kết quả nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà quản lý trong quá trình bổ nhiệm cấp dưới, bởi đôi khi chúng ta có ấn tượng tốt với người khác chỉ vì cái tên, chứ không phải năng lực làm việc.
“Thừa nhận thực tế đó giúp chúng ta loại bỏ thành kiến trong quá trình đánh giá người khác, nhờ đó chúng ta đối xử với người khác công bằng hơn”, Laham nói.
Bố trí và trang trí phòng học, thư gia theo phong thủy –
Phòng học, dọc, yêu cầu về các phép phong thủy cát tường cụ thể như sau: 1. Bố trí nơi yên tĩnh thuộc phương Bắc. Đây là phương tiếp nhận kiên thức của tuổi trẻ. 2. Kê bàn viết theo năm sinh. Hướng bàn viết liên quan đến khả năng phát triển kiến thức
Phòng học, dọc, yêu cầu về các phép phong thủy cát tường cụ thể như sau:
1. Bố trí nơi yên tĩnh thuộc phương Bắc. Đây là phương tiếp nhận kiên thức của tuổi trẻ. 2. Kê bàn viết theo năm sinh.
Hướng bàn viết liên quan đến khả năng phát triển kiến thức trí tuệ. Vì vậy nên căn cứ vào tuổi của người thường xuyên ngồi làm việc để kê bàn sao cho khi ngồi vào bàn viết mặt hướng về hương theo năm tuổi âm. Cụ thể tính theo phương vị của “sao văn xương” trên có sơ Thiên Can (tuổi theo 10 can) của tuổi. <3. Ví dụ, kê bàn theo phương vị sao văn xương đóng tùy thuộc như sau:
– Các tuổi có can là Quý gồm: … 1943, 1953, 1963, 1973, 1983, 1993, 2003, 2013, 2023, 2033, 2043…
Sao Văn Xương ơ hướng Chính Đông (90°, Mão)
– Can Giáp gom: …1944, 1954, 1964, 1974, 1984,
1994, 2004, 2014, 2024, 2034, 2044…
Sao Văn Xương đóng ở phương Đông Nam (135°- Tốn)
– Can Ất Dậu gồm: …1945, 1955, 1965, 1975, 1985,
1995, 2005, 2015, 2025, 2035, 2045…
Sao Văn Xương đóng ở hướng chính Nam (180°,
Ngọ)
– Can Bính và Can Mậu gồm: …1946, 1948, 1956, 1958, 1966, 1968, 1976, 1978, 1986, 1988, 1996, 1998, 2006, 2008, 2016, 2018, 2026, 2028, 2036, 2038, 2046, 2048…
Sao Văn Xương đóng ơ phương vị Tây Nam (225°, Khôn)
Sao Văn Xương đóng ở Phương Tây Bắc (45°, Cấn) 4. Ý nghĩa phong thủy cụ thế hướng của phòng học, dọc sách v.v…
– Phòng ở hương Bác:
Có thể tăng cường khả năng chỉ đạo, biết áp dụng các phương pháp lãnh đạo.
– Phòng ở phương Đông Bắc:
Tăng cường trí tướng tượng sáng tạo.
– Phòng ở hương Đông:
Tăng khả năng về trí tuệ, về nghiên cứu trở thành học giá.
– Phòng ở hướng Đông Nam:
Ngày càng có phương pháp tăng thêm tín nhiệm.
– Phòng ở hương Nam:
Khả năng độc lập.
– Phòng ở phương Tây Nam:
Ngày càng được tín nhiệm vì tính làm việc tỉ mỉ.
– Phòng ở hướng Tây:
Có điệu kiện, có duyên làm việc về ngành tài chính, ngân hàng.
– Phòng ở phương Tây Bắc:
Có thổ nâng cao uy quyền trong gia dinh, ở nơi làm việc, có các nhân viên trung thành, đáng tin cậy. 5. Phương pháp bài trí phòng học, dọc hay phong thủy – Đèn sáng màu ánh sáng tốt nhất thuộc hành Hóa. Cụ thể thì bóng đền sợi tóc.
– Đồng hò treo phù hợp phương hướng và màu, dáng của đồng hồ theo phép phong thủy (đẵ trình bày ở phần phòng khách).
– Tranh ảnh theo phong thủy ngũ hành là hợp với màu sơn phòng.
– Màu sơn vàng, vàng mới chín, màu gà con.
– Giá sách, túi sách có màu nâu, cà phê màu gỗ tự nhiên.
là cấu phần được khai trương muộn nhất. Sau khi các khách sạn bắt đầu mở cửa từ 20/1 thì sòng bạc đỏ đèn từ 14/2 (mùng 1 Tết).
Tổ hợp sòng bạc Resort World Sentosa
Người ngoài cuộc không cần biết ngày tháng đó, giờ khắc đó ứng với cung mệnh gì trong ngũ hành. Nhưng ai cũng biết rằng con số 8giờ 28 phút ngày 18/3 là phán truyền của “thầy” phong thủy.
Tổ hợp sòng bạc Resort World Sentosa
Sau công bố của RWS, đối thủ Marina Bay Sands (MBS) thuộc tập đoàn kinh doanh sòng bạc đình đám Las Vegas Sands của tỉ phú người Mỹ - ông Sheldon Adelson, còn đưa ra thông cáo báo chí đầy màu sắc tâm linh: “Ngay sau khi đồng hồ điểm 9 giờ sáng 8/3, những nhân viên đầu tiên của MBS đã đồng loạt đặt chân vào tòa nhà điều hành của công trình. Đó là thời khắc màu nhiệm theo phán bảo của nhà phong thủy lừng danh Louisa Ong-Lee". Việc di chuyển nhân viên vào tòa nhà điều hành là khâu chuẩn bị cho việc khai trương 1 phần công trình trị giá hơn 5 tỉ USD, trên vịnh Marina của Singapore vào ngày 27/4. Tổng khai trương diễn ra vào ngày 23/6.
Bên trong sòng bạc
Trong thông cáo báo chí nói rõ bà Louisa Ong-Lee là “cố vấn phong thủy” cho MBS. Trang web "fengshui-usa.com" liệt kê hàng chục nhà phong thủy đang hành nghề tại Mỹ, Canada, giới thiệu: “Bà Louisa Ong-Lee sống phần lớn cuộc đời mình tại Singapore, nơi phong thủy cổ điển là phần không thể thiếu trong cuộc sống của người Hoa và cả người nước ngoài tạm cư. Hiện nay, bà sống ở Rochester, New York, tiếp tục cung cấp những lời khuyên phong thủy đầy hiệu năng cho khách hàng ở châu Á, Anh và Mỹ”…
Niềm tin
Xung quanh mỗi công trình, mỗi sự vật ở Singapore là 1 câu chuyện phong thủy khá lý thú. Nổi tiếng nhất phải kể đến trung tâm thương mại Suntec City. Theo tài liệu của Thư viện Quốc gia Singapore, Suntec xuất phát từ chữ tiếng Hoa “xin da”, có nghĩa là “thành tựu mới”, được xây dựng từ năm 1989, khánh thành 8/1995.
Suntec City là khối bao gồm 4 tòa nhà 45 tầng và 1 tòa 18 tầng bao quanh đài nước Thịnh Vượng. Nhìn từ trên cao, Suntec City giống như bàn tay trái khum khum, giữ trong lòng chiếc nhẫn vàng cực lớn, còn dãy nhà thấp là cổ tay.
Đài phun nước Thịnh Vượng
Bàn tay trái, theo quan niệm của người Hoa là bàn tay nắm quyền lực. Điều này cũng đồng nghĩa rằng, tổng thể Suntec City khao khát “1 tay nắm giữ của cải toàn thế giới”.
Đài nước Thịnh Vượng được làm bằng đồng với niềm tin sự kết hợp Kim - Thủy (đặc biệt là kim loại đồng) là biểu tượng cho sự thành công. Đài nước hình tròn, đường kính 21m, có 4 chân, cao 13,8m, biểu tượng cho 4 sắc tộc và tôn giáo ở quốc đảo sư tử. Điều đặc biệt nhất ở đây là thay vì phun nước lên cao, đài nước Suntec phun nước xuống thấp và tụ vào trong với ý nghĩa của cải tụ hội về nơi này.
Khách du lịch đến Singapore thường được khuyên đến đài nước này vào những giờ khắc thiêng liêng, chạm tay 3 lần vào giếng nước giữa trung tâm để nhận được may mắn.
Câu chuyện ly kỳ khác là sự ra đời của đồng xu mệnh giá 1 USD bằng đồng mang hình bát quái. Chuyện kể, khi xây dựng hệ thống tàu điện ngầm vào thập niên 1980, có nhà phong thủy đã nói với thủ tướng Lý Quang Diệu rằng: "Đặt quá nhiều sắt thép vào lòng đất là chạm “long mạch” và không tốt cho đất nước". Để giải hạn, thầy yêu cầu mỗi gia đình Singapore phải treo hình bát quái trước cửa.
Tuy nhiên, điều này là bất khả thi ở đất nước đa sắc tộc và tôn giáo như Singapore. Vì thế, ông Lý Quang Diệu đã nghĩ ra đồng xu mang hình bát quái mà hầu hết người dân đều mang theo trong mình.
Sai sách
Ngày 15/4/2008, Singapore khánh thành chiếc đu quay lớn nhất thế giới bên bờ vịnh Marina, gọi là Singapore Flyer. Việc kinh doanh có vẻ chật vật, chưa kể một vài trục trặc kỹ thuật gây tai tiếng.
Flyer có đường kính 150m, cao 165m, có 28 cabin, mỗi cabin có sức chứa 28 người. Một vòng quay của nó mất 30 phút và cho phép khách tham quan nhìn toàn cảnh phần phía Nam của quốc đảo mang hình con cua.
Sau hơn 3 tháng vận hành, ngày 28/7, ban quản lý đu quay ra tuyên vố khiến nhiều người sửng sốt: "Singapore Flyer quay trái chiều phong thủy". Chiều quay ban đầu cho phép du khách ngắm nhìn trung tâm tài chính khi đu quay lên cao. Sau đó, hướng về phần phía Đông hoang vu khi xuống thấp. Theo các nhà phong thủy, chiều quay như vậy là lấy đi năng lượng của đất nước và quay lưng với của cải vốn đã có sẵn ở trung tâm tài chính.
Nghe lời các thầy phong thủy, người ta đã đổi hướng quay của Flyer. Công ty Mitsubishi Heavy Industries thiết kế và xây dựng công trình này tiến hành các thực nghiệm và tái tạo cấu hình trục quay cùng các cabin, đảm bảo an toàn và thoải mái cho khách tham quan. Theo báo Straits Times, chi phí cho sự thay đổi lại chiều quay của Flyer vô cùng tốn kém.
Không rõ việc đổi hướng công trình biểu tượng quốc gia này có linh nghiệm hay không. Chỉ biết rằng, tháng 12 năm ấy, do sự cố điện khiến đu quay đứng yên. 173 du khách bị treo lơ lửng trong 6 tiếng giữa không trung.
Hỏi: Tôi có đọc một số sách phong thuỷ kiểu hiện đại, thấy họ hay dùng giải pháp chiếu sáng, treo đèn như một cách để điều chỉnh các chuyện tốt xấu trong nhà. Điều này có vẻ khác với các tư liệu phong thuỷ truyền thống, chỉ chú trọng tuổi tác, phương hướng hay bếp núc...
Đây mới thực sự quan trọng hơn là dùng đèn. Vậy thực chất nên làm thế nào, việc chọn đèn có nhất thiết phải theo phong thuỷ hay không ?
Trả lời:
Ảnh trái: Ánh sáng gián tiếp, đèn LED theo bậc thang...là giải pháp hiệu quả và tiết kiệm cho không gian giao thông.
Không gian giao tiếp nhiều hay ít sẽ quyết định đến số lượng đèn và mức độ chiếu sáng.
Việc tài liệu phong thuỷ xưa ít đề cập đến hệ thống chiếu sáng như phong thuỷ hiện đại thì cũng dễ hiểu, bởi tiến bộ kỹ thuật ngày nay mở ra nhiều khả năng chọn lựa chiếu sáng phong phú hơn thời chỉ có thắp nến hay đèn dầu leo lét. Nhưng dù là xưa hay nay thì chọn đèn cũng có những nguyên tắc cơ bản sau:
– Chọn theo hướng giao tiếp: tuỳ theo đối nội hay đối ngoại mà sử dụng đèn tương ứng. Ví dụ sảnh đón khách hướng trước nhà thì tính dương cao, cần chọn những loại đèn rực rỡ hơn là sảnh phụ, lối đi phía sau nhà. Hoặc hệ thống đèn phòng khách cần nhiều tầng bậc khác nhau, có thể thêm đèn chùm để gia tăng tính nổi bật khi tập trung đông người. Trong khi phòng sinh hoạt nội bộ thì ít đèn hơn, kiểu đèn tĩnh tại hơn, ánh sáng phân tán và dịu nhẹ hơn.
– Chọn theo hướng phương vị: là hướng tính toán để bố trí đèn so với chủ thể xem xét. Ví dụ trong phòng ngủ thì vị trí nằm trên giường là chủ thể chính, các vùng chung quanh trái – phải – trước – sau, trên đầu dưới chân là các phương vị tương ứng với đặc thù gia chủ và nhu cầu sử dụng. Từ phương vị so với chủ thể xem xét sẽ đi đến quyết định loại đèn và kiểu chiếu sáng, cụ thể là vùng hai bên trái phải sẽ dùng đèn bàn điều chỉnh cường độ sáng, hoặc đèn treo thả xuống ra sao. Vùng tường trên đầu giường chỉ dùng đèn hắt nhẹ nhàng, tránh dùng đèn rọi gay gắt, còn các vùng xa giường có thể dùng đèn đứng hay đèn áp tường để tạo điểm kích hoạt khí, tóm lại là không thể “rải đèn” tràn lan, đều đặn mà không chú ý đến phương vị xoay quanh sinh hoạt của chủ thể.
– Chọn theo bối cảnh sử dụng: khác với đèn chiếu sáng cơ bản, đèn trang trí thường được mua sau khi đã hoàn thành xây dựng để gia chủ có thể phối hợp với các thành phần trang trí khác như tranh ảnh, rèm cửa, bàn ghế… Nếu ngôi nhà không phải là lâu đài cung điện, cần tránh những loại đèn quá cầu kỳ, nhiều góc cạnh hay mũi nhọn, vừa dễ bám bụi vừa là điểm xung sát không tốt. Khi bước vào một căn phòng đầy đủ ánh sáng mà không ngọn đèn nào choá mắt gây khó chịu thì có nghĩa là ánh sáng phòng đó đã được kiểm soát vừa phải.
– Chọn đèn theo ngũ hành: ánh sáng theo các sắc của ngũ hành cũng cần tương sinh hài hoà với không gian và gia chủ, ví dụ phòng ngủ vốn thuộc mộc nên dùng ánh sáng vàng nhẹ (thổ ) có thể điểm thêm ánh xanh (thuỷ), phòng làm việc nên lấy ánh sáng trắng (kim) làm chủ đạo, có bổ sung ánh sáng vàng (thổ) để tương sinh. Gia chủ mạng hoả sẽ hợp hơn với ánh sáng xanh lá cây, vàng và cam, với kiểu đèn có nhiều góc nhọn, hình chóp hoặc hình ống. Trong khi người mạng thuỷ theo nguyên tắc ngũ hành sẽ thiên về ánh sáng trắng và xanh biển, kiểu đèn có uốn lượn mềm mại hoặc đèn tròn trịa (kim sinh thuỷ). Dĩ nhiên không thể áp đặt nếu gia chủ không thích, nhưng thông thường các nguyên tắc ngũ hành khá phong phú và không ít thì nhiều sẽ tương hợp với đặc tính gia chủ và không gian cụ thể.
Tóm lại, chọn đèn về cơ bản là chọn những thiết bị vừa trang trí vừa phục vụ nhu cầu sử dụng, lại hàm chứa nhiều yếu tố phong thuỷ như kích hoạt năng lượng, trấn trạch… mang đến không gian các yếu tố hỗ trợ trong tâm lý. Phong thuỷ có câu “hình nào thì khí ấy, khí nào thì lý ấy” chính là triết lý chọn lựa biết cân nhắc giữa các nhu cầu và ham muốn, không để hình bên ngoài át khí bên trong, không để sự rực rỡ thu hút của kiểu dáng làm quên đi vai trò tăng cát giảm hung của đèn.
(Theo SGTT) Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Đoan Trang(##)
Sửu và Dần có cách sống khá khác biệt. Tuổi Dần có nét gì đó hoang dã và khó thuần; ngược lại, tuổi Sửu hiền lành và rất thuần tính. Tuổi Hổ thích mạo hiểm trong khi tuổi Trâu lại sống khép mình và nội tâm; Hổ thích đi đó đây còn Trâu lại thích tích
Đây là Kinh Ðại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân chi Kinh, tất cả chúng sinh thảy đều nên tụng. Khi ấy Ðại chúng nghe Phật nói rồi tin, kính phụng lành, lễ tạ mà lui.
Bạch Ðức Thế Tôn, con xem ở đời phàm là con trai mang đai hia mão, ai cũng nhận ra, đấy là nam giới, những người con gái hương hoa phấn sáp, kiềng xuyến nhẫn hoa, ai cũng nhận ra, đó là nữ giới. Nay người đã chết, xương trắng một mầu, chúng con biết đâu mà phân biệt đựơc.
Này A-Nan con, về bên nam giới trong lúc bình sinh, thừơng lui tới những chốn chùa chiền, nhờ có nhân duyên nghe Kinh lễ Phật, kính mến Tăng-già, nợ trần đã qua, hồn về cõi Phật, bao nhiêu xương trắng, nhắc thấy nặng hơn là xương nam giới còn như nữ giới trong lúc bình sinh, nhiều lần sinh nở, nuôi nấng con thơ, tổn hao khí huyết, mỗi một kỳ sinh, máu đặc trong mình chảy ra sáu đấu, mỗi người con bú, tám thùng bốn đấu, sửa ở trong mình giảm bớt tinh anh, cho nên xương nhẹ và có sắc đen. Tôi nghe Phật nói thương xót vô cùng, như dao cắt ruột, nứơc mắt chứa chan, hai hàng châu lệ, mà bạch Phật rằng:
Tôi nghe thế nầy : một khi Phật ở, trong một Tinh Xá, vườn Cấp-cô- độc, cây của Kỳ-Ðà, cùng các Tăng-già, có trên hai vạn, thêm tám nghìn người , cùng chư Bồ-Tát. Bấy giờ Thế-Tôn, cùng với Ðại chúng, nhân buổi nhàn du đi về phía nam, thấy đống xương khô chất cao như núi Ðức Phật Thế Tôn liền sụp lạy ngay đống xương ấy. Tôi bạch Phật rằng : Lạy Ðức Thế Tôn, Ngài ở trên ngôi chí Tôn, chí Qúy, Thầy cả ba cõi Cha lành bốn loài thiên thựơng nhân gian thảy đều tôn kính, sao Ngài lại lễ đống xương kia.
Nầy A-Nan ơi! Ngươi tuy xuất gia theo ta tu học, trong bấy nhiêu lâu, những sự thấy nghe đã rộng rãi, đống xương khô ấy hoặc là ông bà, hay là cha mẹ, thân trứơc của ta, ngàn muôn ức kiếp, đời đã cách xa, bởi thế nay ta chí thành kính lễ. Ngươi đem xương nầy chia làm hai phần, một là đàn ông, hai là đàn bà, phân biệt cho ta.
Bạch Ðức Thế Tôn, con xem ở đời phàm là con trai mang đai hia mão, ai cũng nhận ra, đấy là nam giới, những người con gái hương hoa phấn sáp, kiềng xuyến nhẫn hoa, ai cũng nhận ra, đó là nữ giới. Nay người đã chết, xương trắng một mầu, chúng con biết đâu mà phân biệt đựơc.
ÐÂY LÀ LỜI PHẬT
Này A-Nan con, về bên nam giới trong lúc bình sinh, thừơng lui tới những chốn chùa chiền, nhờ có nhân duyên nghe Kinh lễ Phật, kính mến Tăng-già, nợ trần đã qua, hồn về cõi Phật, bao nhiêu xương trắng, nhắc thấy nặng hơn là xương nam giới còn như nữ giới trong lúc bình sinh, nhiều lần sinh nở, nuôi nấng con thơ, tổn hao khí huyết, mỗi một kỳ sinh, máu đặc trong mình chảy ra sáu đấu, mỗi người con bú, tám thùng bốn đấu, sửa ở trong mình giảm bớt tinh anh, cho nên xương nhẹ và có sắc đen.
Tôi nghe Phật nói thương xót vô cùng, như dao cắt ruột, nứơc mắt chứa chan, hai hàng châu lệ, mà bạch Phật rằng:
Lạy Ðức Thế Tôn, công ơn cha mẹ như non như bể, thăm thẳm nghìn trùng, lấy gì báo đáp, cúi xin Ðức Phật dủ lòng thương xót, dạy bảo chúng con.
Nầy A-Nan con, Về ân đức mẹ, trong vòng mười tháng đi lại nặng nề, cưu mang nhọc mệt, khổ không xiết :
Khi vừa một tháng, ở trong thai mẹ, khác gì hạt sương dính trên ngọn cỏ, sớm còn tụ đọng, trưa đã tan, khó lòng giử được.
Khi được hai tháng, ở trong thai mẹ, hình như sữa đặc, đã chắc gì đâu.
Khi được ba tháng, ở trong thai mẹ, ví như cục máu, đông đặc đỏ ngầu, vô tri vô giác.
Khi được bốn tháng, ở trong thai mẹ, mới dạng hình người.
Khi được năm tháng, ở trong thai mẹ,mới đủ năm hình, chân tay đầu tóc.
Khi được sáu tháng, ở trong thai mẹ, sáu căn mới đủ, mắt tay mũi lưỡi thân hình và ý.
Khi được bảy tháng, ở trong thai mẹ, mới sinh đầy đủ, ba trăm sáu mươi những cái đốt xương, cùng là tám vạn, bốn nghìn chân lông.
Khi được tám tháng, ở trong thai mẹ, phủ tạng mới sinh, ý chí mới đủ, chín khiếu mới thông.
Khi được chín tháng, ở trong thai mẹ, mới đủ hình người ngồi trong bụng mẹ, khát uống nguyên khí, không ăn hoa quả, cùng là ngũ cốc, sinh tạng rủ xuống, thực tạng hướng lên, có một dãy núi gồm có ba quả; một là Tu Di hai là núi Nghiệp, ba là núi máu, núi nầy đồng thời hoá ra dòng máu, rót vào trong miệng.
Ở trong thai mẹ, trong vòng mười tháng, trăm phần toàn vẹn, mới đến ngày sinh, nếu là con hiếu, chắp tay thu hình, thuận lối mà ra, không đau lòng mẹ; nếu là con bạc, dẫy giụa bải bơi khiến lòng mẹ, buốt chói từng hồi, như đâm như xỉa, như cấu như cào, như nghìn mũi dao, đâm vào gan ruột, đau đớn vô cùng, nói sao cho siết, sinh được thân nầy, mừng thay vui thay, yêu thay mến thay.
Phật bảo A-Nan : công ơn từ mẫu, gồm có mười điều, phàm kẻ làm con, phải lo báo hiếu .
Những gì là mười điều?
Nhớ ơn mẹ ta, chín tháng mười ngày, cưu mang nặng nhọc.
Nhớ ơn mẹ ta, khi sinh lúc nở, đau đớn vô cùng.
Nhớ ơn mẹ ta, khi sanh lúc nở, quên cả âu lo.
Nhớ lại công ơn, mẹ ăn miếng đắng, lại nhả miếng ngon, dành dụm cho con.
Nhớ lại công ơn, chỗ ướt mẹ nằm, chỗ ráo xê con.
Nhớ ơn mẹ ta, ba năm bú mớm, nuôi nấng thuốc thang, trong khi sài đẹn.
Nhớ ơn mẹ ta, giặt diệm hong phơi áo quần dơ dáy, ô uế tanh hôi mẹ đành cam chịu .
Nhớ ơn mẹ ta, khi đi đâu xa, vì thương nhớ con, trong lòng cầy cậy, một phút chẳng ngơi .
Nhớ công ơn mẹ, vì sanh nuôi con, mà mẹ cam lòng tạo bao nhiêu ác nghiệp.
Nhớ công ơn mẹ, lòng rất thương con, trọn đời yêu dấu, không phút nào ngơi.
ÐỆ NHẤT ÂN: CHÍN THÁNG MƯỜI NGÀY CƯU MANG NẶNG NHỌC
Bao kiếp, duyên cùng nợ;
Ngày nay, mới vào thai
Ðầy tháng, sanh ngũ tạng;
Bảy bảy, sáu tinh khai
Thân trọng, như non Thái
Ðộng tĩnh, sợ phong tai
Áo the, đành xốc-xếch,
Gương lược, biếng trang đài.
ÐỆ NHỊ ÂN: KHI GẦN SANH NỞ
Khi gần ngày sanh nở
Nặng nhọc, khổ vô cùng,
Cưu mang, trong mười tháng
Sanh nở, sắp đến ngày
Ðứng ngồi coi nặng nhọc;
Dáng vẻ, tựa ngô ngây,
Sợ hãi lo, cùng lắng;
Tử sanh giờ phút nầy!
ÐỆ TAM ÂN: SANH NỞ
Mẹ ta, khi sanh nở,
Thân thể đều mở toang!
Tâm hồn như mê mẩn,
Máu me chan hòa đầy,
Chờ nghe, thấy con khóc;
Lòng mẹ mừng rỡ thay!
Ðương mừng lại lo đến
Rầu rĩ ruột gan nầy.
ÐỆ TỨ ÂN: ĂN ÐẮNG NHẢ NGỌT
Mẹ ta lòng thành thực,
Thương con chẳng chút ngơi
Nhả ngọt nào có tiếc!
Ăn đắng nói cùng ai?
Yêu dấu như vàng ngọc.
Nâng niu tay chẳng rời
Những mong con ấm no;
Mẹ đói rách cũng vui .
ÐỆ NGŨ ÂN: XÊ CON TỰ THẤP
Tự mình nằm chỗ ướt,
Chỗ ráo để xê con,
Hai vú phòng đói khát;
Hai tay ủ gió sương.
Thâu đêm nằm chẳng ngủ;
Nâng niu tựa ngọc vàng
Những mong con vui vẻ;
Lòng mẹ mới được yên.
ÐỆ LỤC ÂN: BÚ MỚM NUÔI NẤNG
Ðức mẹ dày như đất;
Công cha thẳm tựa trời
Chở che coi bình đẳng;
Cha mẹ cũng thế thôi!
Chẳng quản, câm mù, điếc!
Chẳng hiềm, quắt tay chân!
Bởi vì con ruột thịt,
Trọn đời dạ chẳng khuây.
ÐỆ BÁT ÂN: ÐI XA LÒNG MẸ THƯƠNG NHỚ
Từ biệt, lòng khôn nhẫn;
Sanh ly dạ đáng thương;
Con đi đường xa cách
Mẹ ở chốn tha hương,
Ngày đêm thường tưởng nhớ;
Sớm tối vẩn vấn vương
Như vượn thương con đỏ
Khúc khúc đoạn can trường?
ÐỆ CỬU ÂN: VÌ SANH CON MÀ CAM LÒNG TẠO BAO ÁC NGHIỆP
Mẹ trải qua bao nhiêu gian khổ,
Công lao tựa vực trời
Bồng bế cùng nuôi nấng;
Mong sao con ăn chơi
Nhường cơm cùng xẻ áo;
Mẹ đói rách dũng vui!
Khôn lớn tìm đôi lứa
Gây dựng cho nên người
ÐỆ THẬP ÂN: MẸ TRỌN ÐỜI THƯƠNG YÊU CON
Công cha cùng đức mẹ
Cao sâu tựa vưc Trời
Mẹ già, hơn trăm tuổi,
Vẫn thương con tám mươi!
Bao giờ ân oán hết?
Tắt nghỉ cũng chẳng thôi !…
Bệnh con có khỏi lòng mẹ mới yên, mong con lớn lên, con thảo con hiền, để mà trông cậy.
Phật bảo A-Nan: Ta xem chúng sanh, dẫu làm được người lòng còn ngu muội chẳng nghĩ mẹ cha, công đức kể ra, như non như bể, chẳng cung chẳng kính, chẳng hiếu chẳng từ, mẹ mang thai con, trong vòng mười tháng, ngồi đứng không yên, như mang gánh nặng, ăn uống chẳng ngon, như người mang bệnh, ngày tháng thoi đưa, dến khi sanh nở, chịu khổ mọi đường, phút giây hay dở, kinh sợ vô cùng, như giết trâu dê, máu me lai láng, còn nhiều khổ nữa, mới được thân nầy, ăn đắng nuốt cay, nhả bùi nhả ngọt, nâng niu dưỡng dục, giặc giũ dáy dơ, không nề gian khổ, bức bối nồng nàn, rét mướt cơ hàn, lầm than tân khổ, mẹ nằm chỗ ướt, ráo để xê con, ba năm bú mớm, bồng bế nâng niu, dạy bảo đủ điều, lễ nghi phép tắc, cho ăn đi học, tìm đủ mọi nghề, đưa đón đi về, cần lao chăm chú, chẳng kể gì công.
Trái nắng dở Trời tuần trăng cuối gió, bệnh nọ chứng kia, bông hoa sài đẹn, thang thuốc đâu đâu, một mình lo lắng, chạy ngược chạy xuôi năm canh vò võ, bệnh con có khỏi lòng mẹ mới yên, mong con lớn lên, con thảo con hiền, để mà trông cậy.
Không ngờ ngày nay, hóa con bất hiếu, mẹ già cha yếu, con chẳng đỡ đần, cãi vã song thân, nói năng cắn cẩu, giương đôi mắt chẫu, khinh rẻ mẹ cha, chú bác ông bà, cô dì chẳng nể, anh em cũng kệ, đánh lộn xẩy ra, ô nhục nước nhà, bất trung bất nghĩa, bất hiếu bất lương, phép nước coi thường, mẹ cha cũng kệ, xóm giềng chẳng nể, chửi bới nhau luôn, sớm tối ra vào, chẳng thưa chẳng gởi nói năng càn rỡ, tự ý làm bừa, cha mẹ cũng thừa, thầy trên cũng mặc!
Bé thì ai chấp, người những nâng niu, dần dần khôn lớn, gai ngạnh mọi điều, chẳng hòa chẳng thuận, thường hay sân si bỏ cả bạn lành, giao du bạn ác, tập thói xa hoa, chơi khắp gần xa, thất thường điên đảo, bị kẻ dổ dành, mất cả thân danh, bỏ làng trốn mất, trái ý mẹ cha, ly biệt quê nhà, chẳng nhìn quê quán, hoặc vì buôn bán, hoặc bởi tòng quân, tiêm nhiễm dần dần, trở nên lưu luyến, vợ nọ con kia, chẳng thiết đi về, quê hương bổn quán, ở đất nước người lại hay rong chơi bị người lưà gạt, tai vạ liên miên, pháp luật gia hình, tù loa cấm cố, cực khổ mọi điều, chẳng may yếu đau, chứng kia tật nọ, ở chốn tha hương, ai kẻ thích thân, ai người thang thuốc, mẹ cha cách biệt, thân thích biết đâu, cam chịu ưu sầu, quê người đất khách; khốn khổ gầy còm, không người trông nom, bị khinh rẻ, lang thang đường ngõ, vì thế chết đi; không người mai táng, chương phềnh thối nát, giãi bừa, chó cầy nhai xé!….
Mẹ cha thân thuộc, khi được tin buồn, luống những đau thương, ruột như dao cắt, hai hàng nước mắt, lã chã chứa chan, hoặc vì quá thương, kết thành bệnh khí, hoặc là đến chết, làm quỷ ôm thây, chẳng để cho ai khư khư giữ mãi. Hoặc là vì con, chẳng chăm học tập, chỉ mải rong chơi nay đây mai đó, cùng bạn vô loài làm điều vô ích, giao du trộm cắp, chẳng sợ lệ làng, chè rượu nghênh ngang, đánh cờ đánh bạc, gian tham tội ác, lụy đến tôn thân, nay Sở mai Tần, lên đồn xuống phủ, mẹ cha ủ rũ, khốn khổ vì con.
Nào con có biết, cha mẹ khổ đau, trăm não nghìn sầu, mùa Thu mùa Ðông, rét run bức bối chẳng nhìn sớm tối; ấp lạnh quạt nồng, chẳng viếng chẳng thăm, chẳng hầu chẳng hạ, mẹ cha già cả, hình vóc gầy còm, hổ mặt người con, dầy vò mắng nhiếc, mẹ cha hoặc góa, trơ trọi một mình, luống những buồn tanh, như người ngủ trọ, chiếc gối một phòng, năm canh vò-võ, mùa đông sương gió, rét mướt cơ hàn, trai gái các con, nào ai hỏi đến, đêm ngày thương khóc, tự thán tự thương !
Khi đem thức ăn, dâng lên cha mẹ, thì lại giữ kẽ, rằng ngượng e, sợ kẻ cười chê; ví đem quà bánh, cho vợ cho con, mặt dạn mày dầy, không hề xấu hổ, vợ con dặn bảo, phải đúng như lời cha mẹ hết hơi không hề hối cải .
Ðây là con gái khi chưa gả chồng, hãy còn ở chung, tỏ ra hiếu thảo; khi đã gã bán, về ở nhà người một ngày một lười thiết gì cha mẹ, những ngày giỗ tết, có đảo về qua, ví dù mẹ cha, có gì sơ ý, liền sinh giận dữ, tỏ vẻ oán hờn, chồng chửi nhơn nhơn, đành cam lòng chịu, khác họ khác làng, tình nghĩa keo sơn, hóa ra thâm trọng, mẹ cha máu mủ, thì lại sơ tình. Hoặc đi theo chồng, quê người đất khách, quận nọ tỉnh kia, cha mẹ xa lià. Làng không tưởng nhớ, chẳng viếng chẳng thăm, thư tín cũng không, tuyệt không tin tức, mẹ cha thương nhớ, rầu rĩ ruột gan, luống những bàng hoàng, sớm chiều mong mỏi công đức cha mẹ, vô lượng vô biên, con chẳng hiếu hiền, ở đời cũng lắm.
Khi ấy Ðại chúng, nghe Phật nói ra, công đức cha mẹ, cao tầy non Thái đều cùng đứng dậy, hoặc tự gieo mình, đập đầu lăn khóc, máu me trào trạt, lai láng cả nhà, chết ngất cả ra, hồi lâu mới tỉnh, mà nói lời nầy, khổ thay khổ thay ! đau lòng đứt ruột, lũ con ngày nay, tội ác ngập đầu, xưa có biết đâu, mờ như đêm tối ngày nay biết hối thì sự đã rồi đau đớn lòng tôi trót đà bội bạc, cúi xin chư Phật, soi xét kẻ phàm, phóng Ngọc hào quang, ra tay cứu vớt, làm sao báo được, ân đức mẹ cha .
Phật liền nói ra, đủ đầy tám giọng, bảo Ðại chúng rằng :
Ví có kẻ nào, hai vai kiệu cõng, cha mẹ đi chơi suốt cả mọi nơi trên rừng dưới biển, hai vai nặng trễ, mòn cả đến xương, máu chảy cùng đường, không hề ân hận, cũng chưa báo được công đức mẹ cha, kể trong muôn một.
Ví lại có người. Gặp khi đói kém, cắt hết thịt mình, cung nuôi cha mẹ, khỏi lúc nguy nàn, riêng mình cam chịu, thịt nát xương tan, trăm nghìn muôn kiếp, để báo thâm ân, chẳng được một phần, kể trong muôn một.
Ví lại có người trải trăm nghìn kiếp, tự tay cầm dao, khoét đôi mắt mình, luyện làm thang thuốc, chữa bịnh mẹ cha, như thế cũng là, chưa trả được ân, kể trong muôn một.
Ví lại có người trải trăm nghìn kiếp, đều tự tay mình, cầm dao khoét ruột, móc lấy tim gan, luyện thành thang thuốc, chữa bịnh mẹ cha, như thế cũng là, chưa trả được ân, kể trong muôn một.
Ví lại có người trải trăm nghìn kiếp, vì tội mẹ cha, trăm nghìn vòng dao, băm vằm thân thể, thịt nát xương tan, như thế cũng là, kể trong muôn một.
Ví lại có người trải trăm nghìn kiếp, vì báo ơn mẹ, lấy mình đốt lên, làm cây đèn thịt, cúng dàng chư Phật, như thế cũng là, chưa trả được ân, kể trong muôn một.
Ví lại có người trải trăm nghìn kiếp, vì bệnh mẹ cha, đập xương lấy tủy, để làm thang thuốc, chữa bệnh mẹ cha, như thế cũng là, chưa trả được ân, kể trong muôn một.
Ví lại có người trải trăm nghìn kiếp, vì cứu mẹ cha, trải trăm nghìn kiếp, nuốt viên sắt nóng, cháy sém cả mình, như thế cũng là, chưa trả được ân, kể trong muôn một.
Bấy giờ Ðại chúng, nghe Phật nói rồi trong dạ bồi hồi ruột đau như cắt, hai hành nước mắt, tầm tả như mưa, mà bạch Phật rằng : con muốn đền ơn, công đức mẹ cha, cúi xin Phật đà, rủ lòng chỉ bảo ?
Ðức Phật liền bảo : Cặn kẽ mọi lời này chúng sinh ơi muốn đền ân mẹ, nhất là một lẽ, nên chép Kinh nầy, kính biếu gần xa, cho nhiều người tụng. Hai vì cha mẹ, đọc tụng Kinh này, chuyên cần chớ đoạn. Ba vì cha mẹ, sám hối làm chay. Bốn vì cha mẹ, cúng dường Tam Bảo, tùy sở dùng. Năm vì cha mẹ, trong sáu ngày Trai phải nên nhớ giữ. Sáu vì cha mẹ, thường hay bố thí.
Làm được như thế, thực là con hiếu, cứu được cha mẹ, siêu thăng Cưc Lạc, phúc đẳng Hà sa.
Phật bảo A-Nan, ở trên thế gian, những người bất hiếu, sau hết duyên trần, nguyên cái xác thân, chôn vùi dưới đất : còn phần Linh giác, là cái chân thân, phải vào Ðiạ Ngục, Chính ngục A-Tỳ, vuông rộng tứ vi tám ngàn cây số, bốn mặt có tường sắt, tường đồng, lửa cháy tứ tung, toàn dây thép điện, thường có lửa bén, cháy đỏ hồng hồng, bốc cháy tứ tung, thấy mà kinh sợ; hơn như thế nữa, sấm chớp đùng đùng, chó sắt rắn đồng, phun ra khói lửa, đốt cháy tội nhân.
Lại còn nước đồng đun sôi sùng sục, rót ngay vào miệng những kẻ tội nhân, vì tội bất hiếu, cãi giả mẹ cha, cam chịu cực hình, ở trong ngục ấy, gươm dao sào gậy, đâm chém suốt ngày, như hạt mưa bay, trên không rơi xuống, trải nghìn muôn kiếp, không phút nào nguôi hết hạn ấy rồi lại vào ngục khác; Ðầu đội chậu máu, xe sắt nghiến mình, mình mẩy chân tay, dập dừ tan nát, một ngày phải chết, tới nghìn vạn lần, khổ sở gian truân, vì chứng bất hiếu. Phật lại dạy rằng : ví có Thiện nam hay là Tín nữ, thật là hiếu tử, trả nghĩa mẹ cha, in Kinh nầy ra, biếu cho người tụng, in được một quyển, được một công đức, in được mười quyển, được mười công đức, in được trăm quyển, được trăm đức Phật, in được muôn quyển, được muôn đức Phật, phù hộ độ trì, lại tiếp hồn đi về phương Cực Lạc, đây là lời Phật, chớ có coi thường, Ðiạ ngục vấn vương, khó lòng thoát khỏi !
Bâý giờ A-Nan cùng chư Ðại chúng, Trời Rồng, Thần, Quỉ, Dạ Xoa, La Sát, người cùng phi nhân, được nghe Phật nói đều phát nguyện rằng :
Chúng con tận tâm, chí thành chí kính, dù trăm nghìn kiếp, thịt nát xương tan, nhỏ như vi trần, cũng chẳng dám quên lời chư Phật dạy. Thà rằng lấy kìm, cặp lưỡi rút ra, dài trăm do tuần, cho trâu sắt cày, máu chảy chan hòa, thành sông thành suối con thề chẳng trái lời Phật dạy răn.
Chúng con thề rằng: Thà lấy trăm nghìn vòng dao giáo mác, đâm chém thân này, nhỏ như vi trần, cũng chẳng dám quên lời chư Phật dạỵ
Chúng con thề rằng: Thà lấy lưới sắt, quất chặt vào thân trăm nghìn muôn kiếp, chẳng tháo cho ra, cực khổ vô cùng, cũng chẳng dám quên lời chư Phật dạy.
Chúng con thề rằng: Thà đâm thà chém, thà mổ thà xả, thà xay thà giã, nhỏ như vi trần, đem cái xác thân nầy, làm nghìn muôn thứ, nào da nào thịt, nào gân nào xương, rơi rác ngoài đường, trong nhà, ngoài ngỏ; trải trăm nghìn kiếp, chịu khổ như thế, cũng chẳng dám quên lời chư Phật dạỵ
Khi ấy A-Nan, liền bạch Phật rằng : Lạy Ðức Thế Tôn, đây là kinh gì, lũ chúng con đây đều muốn tụng trì, có được hay chăng. Ðức Phật dạy rằng, chúng con nên biết :
Kinh nầy là Kinh Ðại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân chi Kinh, tất cả chúng sinh thảy đều nên tụng. Khi ấy Ðại chúng nghe Phật nói rồi tin, kính phụng lành, lễ tạ mà lui.
Chấm dứt Kinh Phật Nói Kinh Ðại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân
Kính lạy Ðại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân kinh.
Kính lạy Ðức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính lạy chư Phật đã đền ân cha mẹ.
Kính lạy Ðức Ma Gia Ðại Thánh Mẫu.
Kính lạy Ngài Quang Mục Ðại Thánh Nữ.
Kính lạy Ngài Diệu Thiện cắt tay cứu Phụ Vương.
Kính lạy Ngài Mục Kiền Liên vào ngục cứu mẫu thân.
Quan Thế Âm Bồ Tát, gọi tắt là Quan Âm trong Phật giáo là một trong bốn vị đại Bộ Tát, có pháp lực mạnh mẽ. 19/2 âm lịch là ngày sinh của Quan Âm, 19/6 âm lịch là ngày Quan Âm xuất gia, 19/9 âm lịch là ngày Quan Âm thành Phật. Cả ba ngày này được gọi chung là ngày vía Quan Âm.Trong ngày này, những tín đồ Phật giáo và những người tin theo Phật thường tổ chức lễ cúng long trọng, ăn chay, phóng sinh và làm việc thiện để mong Quan Âm bảo hộ bình an, cứu khổ cứu nạn. Theo tâm linh, trong ngày vía Quan Âm nên làm các việc sau:Hướng dẫn chi tiết nghi thức cúng ngày vía Quan Âm Ngày 19/2 âm lịch là một trong ba ngày vía Quan Âm. Ngày này, chúng Phật tử khắp nơi tỏ lòng thánh kính dâng lên đức Bồ Tát mong người đại 1. Quan Âm bảo hộ chúng sinh nên muốn trẻ con mau lớn và khỏe mạnh thì làm bùa hộ thân hình Phật Bà Quan Âm đeo bên mình.2. Bán con ở cửa Phật hay “bán khoán” là hình thức mà nhiều gia đình áp dụng với mong muốn đứa trẻ được Phật bảo hộ, khỏe mạnh và thuận lợi lớn lên. Trong ngày vía Quan Âm, các bậc cha mẹ có ý định gửi gắm con lên chùa thì nên tiến hành làm lễ.3. Tổ chức cúng lễ tưởng nhớ và tỏ lòng kính đến Quan Âm Bồ Tát.
4. Gia đình hiếm muộn muốn cầu tự thì nên đến cửa Quan Âm vì trong Phật giáo, đây là vị Bồ Tát có tấm lòng đại lượng từ bi, hay giúp đỡ khó khăn và bên bà thường có đồng tử trắng trẻo, xinh xắn theo hầu. Theo tục xưa, người ta thường dâng hoa hồng khi lễ.
=> Tra cứu: Lịch âm 2016, Lịch vạn niên 2016 chuẩn xác tại Lichngaytot.com
Tâm Lan Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Quỳnh Mai (##)
Với sự nỗ lực trong 2 tháng đầu năm và được quý nhân phù trợ trong tháng 3 này, người tuổi Tỵ dễ dàng vượt qua khó khăn để bước đầu tiến tới thành công. Chuyện tình duyên của người tuổi Tỵ cũng gặp nhiều thuận lợi hơn, đặc biệt là nửa cuối tháng 3.
Tuổi Ngọ
Trong tháng 3 này, người tuổi Ngọ sẽ tiến thêm một bước trong công việc, học tập hoặc kế hoạch đầu tư, kinh doanh. Đây là thời điểm quan trọng để bạn tích lũy thêm nhiều kiến thức và kinh nghiệm, tạo bước đệm bứt phá trong thời gian sắp tới.
Nếu gặp bất cứ trở ngại nào, bạn nên chủ động tham khảo ý kiến của lớp “đàn anh” đi trước. Bạn sẽ học hỏi được nhiều điều bổ ích và có sự trợ giúp đắc lực.
Tuổi Tuất
Sau giai đoạn vận động nhẹ nhàng, đây là thời điểm thích hợp để bạn “tăng tốc” và gặt hái thành quả mà bản thân đã nỗ lực trong suốt thời gian qua. Trong tháng 3 này, bạn sẽ được nhiều người giúp đỡ đẩy nhanh quá trình “về đích”.
Tuy nhiên, người tuổi Tuất cần ghi nhớ phải dựa vào sức mình là chính. Không nên thấy người khác giúp đỡ mà ỉ lại hoặc chủ quan trước mọi tình huống. Có như vậy, bạn mới thực sự được tận hưởng trọn vẹn thành quả lao động của mình.
Tuổi Hợi
Vận thế của người tuổi Hợi trong tháng 3 khá tốt và có người giúp đỡ về cả sự nghiệp lẫn tình cảm. Học hành, công việc ngày một tiến bộ với những định hướng chính xác hơn. Tình cảm lứa đôi của họ cũng sâu sắc và gắn kết.
Tuy nhiên, bạn nên cẩn thận trong lời ăn tiếng nói hàng ngày của mình, tránh gây hiểu nhầm hoặc mất hòa khí với bạn bè, đồng nghiệp, tạo cơ hội cho kẻ xấu “xuất chiêu” lợi dụng chia rẽ tình cảm.
Phật giáo chỉ ra 7 nỗi khổ lớn của đời người, không chừa một ai
Đời là bể khổ, con người tồn tại không thể tránh khỏi những nỗi khổ. Theo Phật giáo, ở trong kiếp nhân sinh, nhất định phải trải qua 7 nỗi khổ lớn của đời người
Đời là bể khổ, con người tồn tại trên đời không thể tránh khỏi những nỗi khổ. Theo Phật giáo, đã ở trong kiếp nhân sinh, nhất định phải trải qua 7 nỗi khổ lớn của đời người.
1. Đệ nhất khổ: sinh
Đứng đầu trong những nỗi khổ lớn của đời người là sinh – sống trên đời đã là một nỗi đau khổ rồi. Bởi từ đây chúng sinh trải qua trăm cay ngàn đắng, đã sống thì không mong chỉ có ngày nắng đẹp, nhất định phải chống chịu bão giông, chân lý này hiển nhiên, không thể thay đổi.
2. Đệ nhị khổ: lão
Năm tháng trôi qua, từng chút tinh lực, từng chút sức khỏe, từng chút kí ức sẽ mài mòn, con người sẽ dần già đi, nỗi sợ hãi cũng từ từ rõ ràng hơn. Sự hoảng sợ khi đối mặt với lão bản chất là loại “trơ mắt đứng nhìn” bởi không có cách nào khác, không tránh được, không né được.Con người đơn thuần, sẽ già đi theo năm tháng, thái độ đối với việc này tương đối bình thản bởi sinh hoạt thay đổi rất chậm rãi, chẳng có biến hoá lớn lao, vừa là cái mất nhưng cũng là cái được. Càng nhiều tuổi càng nhiều kinh nghiệm, càng có thêm bình tĩnh do thấu hiểu lẽ đời.Khi còn trẻ hăng hái bao nhiêu thì càng sợ tuổi già bấy nhiêu. Lúc tinh lực cạn kiệt, không cam lòng đến mấy cũng chỉ có thể lẳng lặng thưởng thức những kí ức tươi vui nhất, sôi nổi nhất, cũng giống như một loại khổ ải, gặm nhấm linh hồn. Đồng thời tuổi già sẽ mang những người thân, người yêu, người bạn của mình lần lượt rời khỏi thế giới này, mùi vị đó mới chính là nỗi đau lớn lao nhất. Xem thêm bài viết Infographic: Tìm cách vượt qua nỗi khổ lớn của đời người để thấy giá trị của hạnh phúc
3. Đệ tam khổ: bệnh
Bệnh tới như núi đổ, cảm giác giống như đột nhiên bị đánh bại, một cơn bệnh qua bao nhiêu tinh lực đều cạn kiệt, có thể lĩnh hội được thế nào là lằn ranh, là giới hạn của cuộc đời. Ngày hôm qua còn tràn trề sinh lực mà hôm nay đã trói gà không chặt. Nếu bệnh không nguy hiểm tới tính mạng thì quá trình bệnh lui cũng đủ làm người ta lao đao mệt nhọc.Người mang bệnh chẳng làm được việc gì, chỉ nằm một chỗ, hết ăn lại ngủ mà ai có thể ngủ suốt ngày. Không thể làm gì khác ngoài việc hưởng thụ ốm đau một cách bất đắc dĩ. Muốn làm việc cũng không làm được, muốn vui chơi cũng không có hơi sức.Ngoại trừ thân thể, bệnh tật còn dằn vặt tinh thần con người một cách vất vả. Có câu: bệnh lâu trước giường không có người con có hiếu. Phật giáo nhắc nhở rằng trong trăm cái thiện hiếu thảo là việc thiện hàng đầu nhưng đứng trước bệnh tật, chữ hiếu cũng phải lùi bước, huống chi tình cảm thông thường.Người bệnh ốm o, mỏi mệt, lúc nào cũng cáu gắt, lúc nào cũng phải chăm sóc phục vụ, người bệnh lâu thì dần dần thành quen thuộc, sinh cảm giác lãnh đạm, cuối cùng mấy người có thể kiên trì mà quan tâm chăm hay phần lớn đều là bỏ mặc người bệnh một chỗ. Trước giường bệnh quạnh quẽ chẳng phải cũng là một nỗi khổ hay sao.Bệnh cấp tính thử thách thân thể, bệnh dai dẳng thử thách tinh thần, ốm vặt thử thách tính nhẫn nại. Bệnh tật dù lớn hay nhỏ cũng là một loại dày vò, là một nỗi khổ phải tự mình gánh vác. Khổ nhất là bệnh tới không báo trước, bệnh tật chẳng chừa một ai, coi như ai số khổ mệnh khổ thì phải chấp nhận mà thôi.
4. Đệ tứ khổ: tử
Một trong 7 nỗi khổ lớn của cuộc đời là cái chết. Vòng tuần hoàn nhân gian, có sinh có tử, mà sinh thì có hạn nhưng tử lại bất kì, chẳng bao giờ báo trước. Cái chết đáng sợ không phải ở quá trình bởi nó quá ngắn ngủi, người ta chưa kịp cảm nhận được thì đã kết thúc rồi mà ở chỗ không thể kháng cự.Mỗi người nhận thức về vận mệnh của mình có có một điểm: nhất định sẽ chết. Đại đa số đều không thích nhưng lại không thể trốn tránh, tự nhiên tạo thành nỗi hoảng sợ, nơm nớp trong lòng. Chết cực khổ giống như biết trên núi có hổ mà vẫn phải lao vào. Người không sợ cái chết thì tính chất khổ cũng tiêu tan, thậm chí còn hưởng thụ cuộc sống tốt hơn, thong dong thoải mái, trời kêu ai người nấy dạ. Như vậy là biến khổ cực thành niềm vui, chỉ mong sao cái chết đến nhẹ nhàng, không đau đớn là mãn nguyện lắm rồi. Xem thêm bài viết Học Phật cách vượt qua nỗi khổ lớn nhất đời người
5. Đệ ngũ khổ: oán tắng hội khổ
Người mình ghét cay ghét đắng lại ở cùng một chỗ, ngầng đầu thấy cúi đầu cũng thấy, muốn không để ý tới họ cũng không được, chẳng phải là quá khổ hay sao. Đáng ghét, phiền chán tới mức trong lòng không thể yên ổn. Đối với cha mẹ có thể tuỳ hứng, không đến nỗi oán trách, oán trách cũng có thể không cần ở chung song cả đời không dứt bỏ được, dẫu thế nào vẫn là người thân, mối ràng buộc này là một loại khổ. Đối với người yêu, không sợ oán trách bởi oán thì chia tay là xong, chỉ sợ ở gần mà lãnh đạm. Nửa đêm tỉnh giấc, người bên gối nhìn xa lạ già nua, không chút thân tình, sống với nhau chẳng chút ý nghĩa, chỉ có nghi ngờ thì oán trách sẽ như hạt giống gieo xuống đất, càng ngày càng phát triển nhanh, mọc thành cây, chẳng mấy chốc thành rừng. Đối với đồng nghiệp bạn học mà oán trách thì là bệnh nặng, nhất định phải lưu ý. Oán trách trong các mối quan hệ xã giao giống như khối u ác tính. Trong 7 nỗi khổ lớn của đời người, có hai nỗi khổ có thể chủ động buông tha, chỉ cần tu tâm dưỡng tính, từ bỏ hận thù thì tự dưng chẳng oán chẳng trách, một trong số đó chính là oán tắng hội khổ với đồng nghiệp.
6. Đệ lục khổ: yêu biệt ly khổ
Yêu mà phải biệt ly là nỗi khổ của sự chấp nhất. Nhân sinh vốn là ở cùng thì ít mà xa cách thì nhiều, nếu có thể hiểu thấu điểm ấy thì nỗi khổ này đã chẳng tồn tại. Nhưng muốn làm mà làm không được, không phải người có trí tuệ lớn thì không làm nổi.Vì lẽ đó mà Đức Phật có căn dặn, nguồn cơn của 7 nỗi khổ chính là không biết Phật hiệu, không tu dưỡng theo Phật. Phật giáo chủ trương giác ngộ, giải thoát, người đời cho rằng như thế thật vô vị nên mới rước nỗi khổ vào mình. Người thân ấm áp gần gũi, người yêu thắm thiết ngọt ngào, bạn bè thân thiết thuần hậu rồi cũng có ngày chia xa, mấy người có thể mãi đắm chìm trong niềm vui thích ấy.Đợi đến khi hoa lạc mây trôi, đông qua xuân tới mới kinh ngạc phát hiện ra những chuyện đã qua chính là khoảng thời gian tốt đẹp nhất, đáng quý nhất, là giấc mộng nhân sinh tuyệt nhất của đời người. Chung quy lại những thứ này mang tới niềm vui mà cũng là nguồn cơn của đau đớn, khổ sở, của nước mắt và những nhớ nhung hồi tưởng.
7. Đệ thất khổ: cầu bất đắc khổ
Thiên hạ rộn ràng đều có nguyện ước; thiên hạ nhốn nháo đều không có được, thế là thành phiền não. Kỳ thực nếu là chuyện vặt vãnh thì chậm một chút cũng chẳng sao, nhiều lắm là tức giận rồi bỏ qua, không coi là khổ.Trên đời sợ nhất là hai loại cầu bất đắc khổ: được rồi lại mất đi và mong muốn mà không thể thành. Tàn khốc nhất của nỗi khổ này là tước đoạt quyền lợi của con người, muốn sống không được muốn chết không xong, lúc nào cũng bị giày vò, lúc nào cũng trăn trở khôn nguôi. Lòng tham thì vô đáy mà thực tế lại phũ phàng, người mấy ai dám vỗ ngực tự hào cầu gì được nấy. Vì thế nỗi khổ này có tự trong tâm, tâm tham thì khổ, tâm không tham thì hết khổ. Có cầu ắt có khổ, không cầu tự nhiên khổ không tìm đến.Xem thêm bài viết Phật dạy về chữ tham, lòng tham và nỗi khổ vì tham Phật chỉ ra 7 nỗi khổ lớn của con người là lời cảnh tỉnh, nhắc nhở mỗi chúng ta phải đối mặt với hiện thực cuộc sống, sẵn sàng cho những điều không như ý. Và trên hết, tự mình tu dưỡng, giác ngộ, loại bỏ tâm phiền, loại bỏ đau khổ, bước tới cảnh giới cao hơn của sự tồn tại.Không vì khổ mà nhu nhược, không vì khổ mà oán hơn. Mỗi nỗi khổ ta trải qua trong đời sẽ là một bài học, một trải nghiệm đáng quý để thấu hiểu hơn lẽ nhân sinh. Một kiếp người không khổ thì không trọn vẹn, không khổ thì không trưởng thành. Vững vàng tiến lên hay nhút nhát lui xuống thì nỗi khổ cũng sẽ ập đến, vậy bạn chọn cách nào? Nhân duyên trái ngược - trả nợ đời sao mà tránh nổiLời Phật dạy về chữ tâm - có tâm ắt hưởng phúc lànhLý do bạn mãi là người tầm thường Tâm Lan Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Khánh Linh (##)
Với người tuổi Tuất, bạn nên cố gắng quan tâm chu đáo, đồng thời tạo ra không khí lãng mạn, ấm cúng khi hai người ở bên nhau. Người tuổi này thường yêu chân
thành nhưng cũng vụng về đến mức không biết cách bày tỏ tình yêu của mình. Tuy nhiên, nếu biết cách xây đắp, chắc chắn bạn sẽ có được tình yêu đẹp.
Muốn bày tỏ tình cảm với người tuổi Tuất, hãy chọn 1 khung cảnh riêng tư đầy lãng mạn. Hãy yêu họ bằng tình cảm chân thành, bởi với người tuổi Tuất thì đó là yếu tố quan trọng nhất.
Chinh phục nam giới tuổi Tuất
Muốn chinh phục chàng trai tuổi Tuất, tốt nhất là bạn hãy tìm cách thâm nhập vào cuộc sống của anh ấy. Hãy dùng hình ảnh nữ tính và sức ảnh hưởng của mình tác động đến bố mẹ, bạn bè, anh chị em của chàng. Sự kiên trì của bạn sẽ được đền đáp xứng đáng!
Chinh phục nữ giới tuổi Tuất
Với cô gái tuổi Tuất, bạn cần chủ động mở rộng tấm lòng và bày tỏ tình cảm chân thành của mình. Phụ nữ tuổi này thường rất thật lòng trong tình yêu và cũng mong được đối phương đáp lại như vậy. Do đó, người giả dối, lừa gạt, bắt cá 2 tay sẽ không bao giờ có trong tầm ngắm của họ.
Một vài vị trí trong nhà đặc biệt không thích hợp để đặt phòng làm việc. Dưới đây là một số vị trí bạn nên tránh nếu có thể. Vị trí: Khu trung tâm của ngôi nhà (Thái cực) Vấn đề: Công việc sẽ lấn át cuộc sống gia đình Vị trí: Phòng ngủ. Vấn đề: Những
Một vài vị trí trong nhà đặc biệt không thích hợp để đặt phòng làm việc. Dưới đây là một số vị trí bạn nên tránh nếu có thể.
Vị trí: Khu trung tâm của ngôi nhà (Thái cực)
Vấn đề: Công việc sẽ lấn át cuộc sống gia đình
Vị trí: Phòng ngủ.
Vấn đề: Những vấn đề công việc có thể gây ra hay góp phần tạo ra mâu thuẫn trong quan hệ; những suy nghĩ về công việc có thể xen vào giấc ngủ; tạo tâm lý uể oải hay mất tập trung khi cố gắng làm việc.
Vị trí: Góc dưới gầm cầu thang.
Vấn đề: Năng lượng phía trên đè nặng xuống có thể gây đau đầu, khó tập trung; không gian có hình dạng không đều gây mất cân bằng năng lượng; không thể làm việc ở vị trí chỉ huy.
Vị trí: Kế bên phòng tắm, bàn làm việc và nhà vệ sinh chung tường.
Vấn đề: Khí của công việc trôi xuống nhà vệ sinh.
Một số vị trí khác cần cảnh giác là các phòng có trần thấp hoặc xiên, ánh sáng kém hoặc không khí ngột ngạt (như phòng gác mái). Nếu phòng làm việc có trần xiên, hãy kê bàn ở phía cao hơn của căn phòng và sử dụng phía thấp để kê tủ hồ sơ, giá sách hay các đồ vật khác. Thực vật và đèn hất lên (chứ không rọi xuống) là nhũng vật bố sung tuyệt vời cho các phòng có trân xiên hoặc thấp
Tầng hầm thường tạo thêm không gian để đặt phòng làm việc mà không gây trở ngại với phần còn lại của ngôi nhà. Vấn đề của tầng hâm là lạnh lẽo và ấm thấp, không đủ ánh sáng hoặc có các thiết bị chiếu sáng gắn cố định phía trên, thường gây ngột ngạt. Cửa số, nếu có, thì nhỏ, bẩn và quá cao tới mức bạn không thể nhìn ra ngoài – điều này không tốt trong việc xác định tầm nhìn tương lai.
Nếu không có vị trí tốt cho phòng làm việc, hãy sử dụng các phương pháp phong thủy. Ví dụ, nếu phải làm việc trong phòng ngủ, bạn có thể đặt phòng làm việc trong một vật dạng tủ và đóng kín lại khi không sử dụng. Bình phong hay rèm vải cũng có thể tách biệt năng lượng gia đình với năng lượng công việc. Nếu phòng làm việc có những đặc điểm thiết kế không lỷ tưởng, hãy dùng các vật hóa giải phong thủy, như chuông, đồ pha lê và gương.
Xương mũi lồi lên, miệng nhọn và quặp xuống...là một trong những đặc điểm nét tướng cản trở con đường làm giàu của bạn.
7. Xương mũi lồi lên, mũi dẹt hoặc mũi to quá khổ Đa số người mũi thẳng đều nghĩa khí, rất tự tin và có khả năng làm lãnh đạo. Tuy nhiên, nếu mũi thẳng nhưng quá mỏng hoặc dẹt khiến xương mũi lồi lên, tạo cảm giác khó chịu và cứng nhắc khi nhìn vào. Người có tướng mũi này thường nóng nảy, thường gây hấn với kẻ tiểu nhân. Nếu mũi quá dẹt hoặc to quá khổ lại là biểu hiện của người có lòng tự trọng quá cao, sống cô lập, ít giao tiếp với mọi người. Nếu hợp tác với người này thường không có kết quả tốt vì thường xuyên xảy ra tranh cãi, bất hòa. Vì vậy mới nói đây là nét tướng mặt cản trở con đường làm giàu. 8. Miệng nhọn và hơi quặp xuống
Ảnh minh họa
Người có miệng nhọn, lại hơi quặp xuống trông như mỏ chim rất hay đặt điều gây chuyện thị phi. Người này coi việc công kích hay soi mói người khác là thú tiêu khiển, nên thường vướng vào các mối quan hệ phức tạp, bằng mặt chứ không bằng lòng. 9. Xương gò má nhọn, nhô cao Kiểu người có tướng mặt này thường chuyên chế, thích nắm quyền lực để giữ vị trí độc tôn. Tuy nhiên, người này lại không hề hay biết cá tính đó bị mọi người ghét bỏ. Người này có thể thành công nhất thời, nhưng về lâu dài thì cuộc sống bình thường, không có gì nổi trội. 10. Chân mày hình chữ Bát, mắt nhỏ và ánh mắt bất định Tính tình người này hay dao động, thiếu tính quyết đoán, vừa nhát gan lại đa nghi, do đó khó thành công trong sự nghiệp. Ở trung vận (30 đến 40 tuổi), người này vẫn không xác định được mục tiêu sống rõ ràng, công việc chưa ổn định. Tuy nhiên, ưu điểm của người này chính là có vẻ ngoài hấp dẫn, dễ đánh lừa người khác và làm cho họ tin tưởng. Nếu hợp tác với người này, cần phải đề phòng việc “qua cầu rút ván”, bán đứng bạn bè. 11. Mũi lệch và lộ xương Tướng mặt này phản ánh tài vận của chủ nhân không tốt, không có nghĩa khí, dễ làm liên lụy người khác. Người này tính tình rắn rỏi nhưng lại ngang bướng, quá đề cao cái tôi nên thường xử lí mọi chuyện cứng nhắc, không có sức thuyết phục. Ngoài ra người này có tâm địa đen tối, không trung thực nên nhiều khả năng sẽ bán đứng bạn bè nếu rơi vào tình trạng khó khăn, nguy hiểm.Theo Tướng mặt và tướng bàn tay Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Thanh Vân (##)
"Cho con vàng bạc không bằng dạy con một nghề, dạy con một nghề không bằng đặt cho con một cái tên hay". Nhìn từ góc độ chủ quan, tên gọi hay có thể gửi gắm được sự kỳ vọng của bố mẹ với con cái, nó thể hiện được cá tính, sở thích của con, thúc đẩy con tiến lên trong cuộc sống, sự nghiệp. Vậy, làm sao để chọn được cho con một cái tên hay?
1. Tên gọi nghe hay
Tên gọi là sự kết hợp giữa các từ, có thể là từ Hán Việt, thuần Việt hoặc kết hợp cả hai. Tuy nhiên, để có một tên gọi hay, các từ xếp lại phải mang âm hưởng êm tai, có độ vang và trong. Ngoài điều cơ bản đó, tên gọi nên giàu tính nhạc, gọi thuận miệng, nghe rõ ràng, dễ hiểu. Một cái tên nghe hay sẽ đem đến cảm giác nhẹ nhàng. Tên gọi không thuận miệng sẽ khiến người nghe mơ hồ, không đem lại được ấn tượng cho người khác.
Nói chung, khi đặt tên, chúng ta nên chọn thanh điệu kết hợp hài hòa với nhau. Ví dụ như: Thanh Nga, Kiều Oanh, Phương Linh, Minh Khuê, Tri Anh... là những tên gọi hay, có sự kết hợp nhuần nhị trong thanh điệu.
Không nên đặt tên theo xu hướng Tây hóa
2. Chú ý đến sự phối hợp của âm tiết
Khi đặt tên, bạn nên tránh đặt những từ lạ, đọc nghe không trôi chảy. Những từ lạ có thể khiến tên không bị trùng lặp với người khác, song, nếu không lựa chọn kỹ, tên lạ sẽ làm người nghe không có ấn tượng tốt.
Bên cạnh đó, người ta còn chú ý đến việc trau chuốt vần điệu của tên cho hài hòa. Âm Hán Việt khá phong phú và đa vần điệu, nếu biết kết hợp, lựa chọn vần điệu, bạn sẽ có được cái tên như ý muốn cho con mình.
3. Chọn âm vần cho tên
Khi chọn âm vần cho tên gọi, bạn nên chú ý 3 điều dưới đây:
- Tránh dùng phụ âm đầu giống nhau như: Minh Mai, Vân Vi, Vương Vũ... - những tên này lặp lại phụ âm đầu, nghe có cảm giác nặng nề, không trôi chảy.
- Tránh dùng tên gọi có 2 vần giống nhau như: Trần Thúy Ngần, Dương Minh Vương...
- Tránh tên cùng thanh điệu, tên cùng dấu sẽ không có tiết tấu âm nhạc, nghe không vang, không hay như: Mai Mây, Bạch Ngọc...
4. Tên mang hàm nghĩa phong phú, ngụ ý sâu xa
Do ảnh hưởng của nền văn hóa truyền thống nên người ta khá coi trọng ý nghĩa của tên. Tên hay, tên đẹp đều đem đến cảm giác thoải mái, vui vẻ và để lại ấn tượng sâu sắc cho mọi người. Vì vậy, khi chọn tên, bạn nên chú ý đến một số điều:
- Không nên đặt tên theo xu hướng Tây hóa: Lisa Nguyễn, Phan Lê Va, An Phê...
- Không nên đặt tên mang ý nghĩa quá "lộ liễu" như: Phú Quý, Hữu Tài, Bách Thắng...
- Chú ý đến ý nghĩa giữa họ và tên: Họ tên kết hợp hài hòa sẽ cho bạn cái tên thật hay. Ví dụ các họ tên như: Phan Lê Hoa, Nguyễn Tiến Thành, Lưu Quang Phong...
4 cô nàng hoàng đạo mắc chứng lo lắng trước hôn nhân
Vốn kết hôn là việc vô cùng hạnh phúc nhưng 4 chòm sao nữ yếu đuối dưới đây thì càng gần ngày trọng đại càng lo lắng, không yên tâm về cuộc sống sau kết hôn.
Vốn kết hôn là việc vô cùng hạnh phúc, còn gì đáng trông ngóng hơn là nắm tay người đàn ông mình yêu tiến vào lễ đường. Nhưng 4 chòm sao nữ yếu đuối dưới đây thì càng gần ngày trọng đại càng lo lắng. Họ thực sự không yên tâm về cuộc sống sau khi kết hôn.
Song NgưSong Ngư là chòm sao nữ mơ mộng, đối với tình yêu tràn ngập ảo giác. Bước vào cuộc sống hôn nhân, thực tế ập tới, cơm áo gạo tiền thực sự khiến họ lo lắng không thôi. Nghe nói rằng, sau khi kết hôn, tình yêu sẽ dần phai nhạt, chỉ còn lại tình thân, Song Ngư không khỏi hoang mang. Thậm chí, có lúc nàng ấy còn nghĩ rằng, cứ tiếp tục yêu đương sẽ tốt hơn là tổ chức đám cưới ấy chứ. Cuộc sống đúng là không màu hồng như cổ tích, nhưng cổ tích thì mãi chỉ là câu chuyện không có thật mà thôi, Song Ngư đừng tự trói mình trong những điều viển vông nữa, hạnh phúc của bạn đang ở ngay trước mắt kìa. 5 cô nàng hoàng đạo dễ dàng chiếm trọn trái tim đại gia, soái ca3 cô nàng hoàng đạo bản tính lăng nhăng5 cô nàng hoàng đạo thích mê nụ hôn cuồng nhiệt Cự GiảiTrời sinh khuyết thiếu cảm giác an toàn nên bất luận là đã tính đến hôn nhân đại sự thì Cự Giải vẫn không yên tâm được, lúc nào cũng lo được lo mất. Cự Giải nữ là chòm sao yêu gia đình, thích cuộc sống có mái ấm nhưng càng gần đến ngày cưới, họ lại càng e ngại, nghĩ ra đủ thứ viễn cảnh không mấy tốt đẹp trong tương lai. Nếu lỡ chồng phản bội, nếu lỡ có người thứ ba thì sao? Hãy tin rằng, trên đời này luôn có điều kì diệu, đã quyết định đến với nhau tức là người đó rất đáng để bạn tin tưởng và gửi gắm rồi.
Thiên YếtTự bản thân Thiên Yết luôn luôn nghi ngờ, bề ngoài mạnh mẽ nhưng họ lại là chòm sao nữ yếu đuối, tiến vào hôn nhân chỉ thập phần run sợ chứ chẳng có tí tự tin nào. Hôn nhân giống như một ván cờ, ai có thể giành quyền chủ động là người ấy thắng, nhưng nào có đơn giản. Cuộc sống vợ chồng phức tạp hơn nhiều, Yết Yết lo rằng, mình sẽ là người thất bại trong cuộc chơi. Đừng nghĩ bi quan như thế, gia đình là ngang hàng, chung sức chung lòng xây đắp, không nên nghĩ quẩn quanh mà tự mình dọa mình. 5 chòm sao nữ yêu hết lòng mà người yêu lại trăng hoa bên ngoàiTop 5 sao nữ không ế nhưng… còn lâu mới cưới4 cô nàng hoàng đạo thích truy lùng quá khứ người yêuThái Vân Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Ngọc Sương (##)
Những đặc điểm nổi bật của Song Ngư sẽ giúp bạn dễ dàng nhận ra họ giữa đám đông.
► Khám phá thêm: Bí ẩn 12 cung hoàng đạo và những điều liên quan tới bạn
Cảm xúc
Song Ngư là chòm sao thiên về cảm xúc, họ kết nối với mọi người xung quanh bằng sợi dây vô hình này. Nếu giữa đám đông mà thấy một người nói chuyện luôn để ý cảm nhận của người đối diện, có sự tương tác về cảm xúc thì đích thị là Ngư nhi đấy. Sáng tạo
Sự mơ mộng và tâm hồn bay bổng giúp cho Song Ngư có tinh thần sáng tạo vượt trội. Đặc biệt, họ rất thích sáng tạo trong nghệ thuật. Những người sinh ra dưới chòm sao này luôn luôn đi tìm những chân trời mới trong các lĩnh vực ngôn ngữ, âm nhạc, hội họa. Tâm linh
Song Ngư được cho là dấu hiệu thiêng liêng nhất của toàn bộ hoàng đạo, do đó, họ có niềm tin vào thế giới tâm linh và đấng tối cao. Trong họ luông tồn tại những suy nghĩ, sự tin tưởng vào tất cả những dấu hiệu huyền bí. Thế nên, những người mộ đạo và sùng tín thuộc cung Song Ngư khá nhiều. Xanh lá và xanh biển
Nữ tính và nhẹ nhàng, đặc điểm nổi bật của Song Ngư là ưa thích những sắc màu tạo cảm giác mềm mại, mát mẻ và hấp dẫn. Hiếm khi thấy người cung Song Ngư ưa thích trang phục sặc sỡ. Nhỏ nhẹ
Một Song Ngư giữa đám đông là người luôn ăn nói nhỏ nhẹ, khiêm tốn và tôn trọng người khác. Đó là sự khôn khéo và cũng là bản năng của những người thuộc chòm sao này. Họ thoải mái với việc không gây tiếng ồn và cảm thấy vui khi tạo được thiện cảm và sự hòa nhã với mọi người xung quanh. Theo Horoscopatibility Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Ngọc Sương (##)
Hướng kê giường tuổi Mậu Ngọ - Năm sinh dương lịch: 1978 - Năm sinh âm lịch: Mậu Ngọ - Quẻ mệnh: Tốn Mộc - Ngũ hành: Thiên Thượng Hỏa (Lửa trên trời) - Thuộc Đông Tứ Mệnh, nhà hướng Bắc, thuộc Đông Tứ Trạch - Hướng tốt: Bắc (Sinh Khí); Đông (Diên Niê
Hoa tươi mang ý nghĩa tốt lành và hạnh phúc. Mơ thấy hoa tươi, dự báo sẽ có niềm vui và hạnh phúc đến vởi bạn. Mơ thấy hái hoa tươi, có nghĩa bạn sẽ làm ăn phát đạt, gia đình hòa thuận. Mơ thấy hái hoa khô héo, thì đó là điềm xấu, gặp phải chuyện phi
Lý giải vận mệnh và tính tuổi xung theo Lục Thập Hoa Giáp
Trong tử vi, Lục thập hoa giáp được biết tới như một trong những cách lý giải vận mệnh con người tương đối đơn giản, dễ xem nên khá phổ biến và được nhiều
Trong tử vi, Lục Thập Hoa Giáp được biết tới như một trong những cách lý giải vận mệnh con người tương đối đơn giản, dễ xem nên khá phổ biến và được nhiều người sử dụng.
Bắt nguồn từ 10 Thiên Can và 12 Địa Chi sẽ cho ra 6 chu kỳ hàng Can kết hợp với 5 chu kỳ hàng Chi, tạo thành một vòng quay 60 được gọi là Lục Thập Hoa Giáp. Bắt đầu từ Giáp Tý rồi đến Ất Sửu,… cuối cùng là Quý Hợi sẽ kết thúc một vòng Hoa Giáp. Mỗi 10 năm thì chữ Giáp lại được lặp lại đầu tiên: Giáp Tý, Giáp Tuất, Giáp Thân, Giáp Ngọ, Giáp Thìn, Giáp Dần. Trong Lục Thập Hoa Giáp, ngũ hành được chi làm 30 tổ Kim - Mộc - Thủy - Hỏa - Thổ và cứ 2 năm một tổ. Ngũ hành nạp âm dùng để phân rõ tính chất khác nhau của từng hành, ví như Hải Trung Kim, Kiếm Phong Kim, Sa Trung Kim,... đều là hành Kim nhưng lại mang tính chất khác nhau. Và phải thông qua ngũ hành nạp âm mới định rõ được đặc điểm của từng mệnh. Từ đó mà rút ra các ưu điểm, nhược điểm của từng mệnh, gợi ý đường đi nước bước trong đời. Nạp âm Lục Thập Hoa Giáp giải nghĩa ít nhiều về vận mệnh của mỗi tuổi, thường xem về các điểm chính của đời người như cha mẹ, công danh, gia sự và đưa ra một số gợi ý khi chọn bạn đời, chọn người làm ăn. Dưới đây là bảng tính Lục Thập Hoa Giáp và các tuổi xung khắc để bạn đọc tham khảo.
Số
Ngày tháng năm
Ngũ hành
Tuổi xung khắc
1
Giáp Tý
Vàng trong biển (Kim)
Mậu Ngọ, Nhâm Ngọ, Canh Dần, Canh Thân
2
Ất Sửu
-
Kỷ Mùi, Quí Mùi, Tân Mão, Tân Dậu
3
Bính Dần
Lửa trong lò (Hoả)
Giáp Thân, Nhâm Thân, Nhâm Tuất, Nhâm Thìn
4
Ðinh Mão
-
Ất Dậu, Quí Dậu, Quí Tị, Quí Hợi
5
Mậu Thìn
Gỗ trong rừng (Mộc)
Canh Tuất, Bính Tuất
6
Kỷ Tị
-
Tân Hợi, Đinh Hợi
7
Canh Ngọ
Ðất ven đường (Thổ)
Nhâm Tý, Bính Tý, Giáp Thân, Giáp Dần
8
Tân Mùi
-
Quí sửu, Đinh Sửu, Ất Dậu, Ất Mão
9
Nhâm Thân
Sắt đầu kiếm (Kim)
Bính Dần, Canh Dần, Bính Thân
10
Quí Dậu
-
Ðinh Mão, Tân Mão, Đinh Dậu
11
Giáp Tuất
Lửa trên đỉnh núi (Hoả)
Nhâm Thìn, Canh Thìn, Canh Tuất
12
Ất Hợi
-
Quí Tị, Tân Tị, Tân Hợi
13
Bính Tý
Nước dưới lạch (Thuỷ)
Canh Ngọ, Mậu Ngọ
14
Ðinh Sửu
-
Tân Mùi, Kỷ Mùi
15
Mậu Dần
Ðất đầu thành (Thổ)
Canh Thân, Giáp Thân
16
Kỷ Mão
-
Tân Dậu, Ất Dậu
17
Canh Thìn
Kim bạch lạp (Kim)
Giáp Tuất, Mậu Tuất, Giáp Thìn
18
Tân Tị
-
Ất Hợi, Kỷ Hợi, Ất Tị
19
Nhâm Ngọ
Gỗ dương liễu (Mộc)
Giáp Tý, Canh Tý, Bính Tuất, Bính Thìn
20
Quí Mùi
-
Ất Sửu, Tân Sửu, Đinh Hợi, Đinh Tị
21
Giáp Thân
Nước trong khe (Thuỷ)
Mậu Dần, Bính Dần, Canh Ngọ, Canh Tý
22
Ất Dậu
-
Kỷ Mão, Đinh Mão, Tân Mùi, Tân Sửu
23
Bính Tuất
Ðất trên mái nhà (Thổ)
Mậu Thìn, Nhâm Thìn, Nhâm Ngọ, Nhâm Tý
24
Ðinh Hợi
-
Kỷ Tị, Quí Tị, Quí Mùi, Quí Sửu
25
Mậu Tý
Lửa trong chớp (Hoả )
Bính Ngọ, Giáp Ngọ
26
Kỷ Sửu
-
Ðinh Mùi, Ất Mùi
27
Canh Dần
Gỗ tùng Bách (Mộc)
Nhâm Thân, Mậu Thân, Giáp Tý, Giáp Ngọ
28
Tân Mão
-
Quí Dậu, Kỷ Dậu, Ất Sửu, Ất Mùi
29
Nhâm Thìn
Nước giữa dòng (Thuỷ)
Bính Tuất, Giáp Tuất, Bính Dần
30
Quí Tị
-
Ðinh Hợi, Ất Hợi, Đinh Mão
31
Giáp Ngọ
Vàng trong cát (Kim)
Mậu Tý, Nhâm Tý, Canh Dần, Nhâm Dần
32
Ất Mùi
-
Kỷ Sửu, Quí Sửu, Tân Mão, Tân Dậu
33
Bính Thân
Lửa chân núi (Hoả)
Giáp Dần, Nhâm Thân, Nhâm Tuất, Nhâm Thìn
34
Ðinh Dậu
-
Ất Mão, Quí Mão, Quí Tị, Quí Hợi
35
Mậu Tuất
Gỗ đồng bằng (Mộc)
Canh Thìn, Bính Thìn
36
Kỷ Hợi
-
Tân Tị, Đinh Tị.
37
Canh Tý
Ðất trên vách (Thổ)
Nhâm Ngọ, Bính Ngọ, Giáp Thân, Giáp Dần
38
Tân Sửu
-
Quí Mùi, Đinh Mùi, Ất Dậu, Ất Mão
39
Nhâm Dần
Bạch kim (Kim)
Canh Thân, Bính Thân, Bính Dần
40
Quí Mão
-
Tân Dậu, Đinh Dậu, Đinh Mão
41
Giáp Thìn
Lửa đèn (Hoả)
Nhâm Tuất, Canh Tuất, Canh Thìn
42
Ất Tị
-
Quí Hợi, Tân Hợi, Tân Tị
43
Bính Ngọ
Nước trên trời (thuỷ)
Mậu Tý, Canh Tý
44
Ðinh Mùi
-
Kỷ Sửu, Tân Sửu
45
Mậu Thân
Ðất vườn rộng (Thổ)
Canh Dần, Giáp Dần
46
Kỷ Dậu
-
Tân Mão, Ất Mão
47
Canh Tuất
Vàng trang sức (Kim)
Giáp Thìn, Mậu Thìn, Giáp Tuất
48
Tân Hợi
-
Ất Tị, Kỷ Tị, Ất Hợi
49
Nhâm Tý
Gỗ dâu (Mộc)
Giáp Ngọ, Canh Ngọ, Bính Tuất, Bính Thìn
50
Quí Sửu
-
Ất Mùi, Tân Mùi, Đinh Hợi, Đinh Tỵ
51
Giáp Dần
Nước giữa khe lớn (Thuỷ)
Mậu Thân, Bính Thân, Canh Ngọ, Canh Tý
52
Ất Mão
-
Kỷ Dậu, Đinh Dậu, Tân Mùi, Tân Sửu
53
Bính Thìn
Ðất trong cát (Thổ)
Mậu Tuất, Nhâm Tuất, Nhâm Ngọ, Nhâm Tý
54
Ðinh Tị
-
Kỷ Hợi, Quí Hợi, Quí Sửu, Quí Mùi
55
Mậu Ngọ
Lửa trên trời (Hoả)
Bính Tý, Giáp Tý
56
Kỷ Mùi
-
Ðinh Sửu, Ất Sửu
57
Canh Thân
Gỗ thạch Lựu (Mộc)
Nhâm Dần, Mậu Dần, Giáp Tý, Giáp Ngọ
58
Tân Dậu
-
Quí Mão, Kỷ Mão, Ất Sửu, Ất Mùi
59
Nhâm Tuất
Nước giữa biển (Thuỷ)
Bính Thìn, Giáp Thìn, Bính Thân, Bính DDần
60
Quí Hợi
-
Ðinh Tị, Ất Tị, Đinh Mão, Đinh Dậu
► Khám phá: Tử vi trọn đời của bạn bằng công cụ xem bói tử vi chuẩn xác
Theo Tử vi toàn tập Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Mỹ Ngân (##)