Tuổi Sửu và tuổi Mùi có hợp nhau không? –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Tháng 1
nên cố gắng hơn nữa, bình tĩnh xử lý mọi việc. Mặt khác, họ cũng nên cẩn trọng trong vấn đề tài chính để tránh mất mát.
Tháng 2
Tài lộc của người tuổi Sửu trong tháng Mão có xu hướng tốt lên. Nguồn thu nhập chính ổn định, thu nhập phụ tăng. Tuy nhiên, họ vẫn nên thận trọng trong việc quản lý tài chính cũng như đầu tư làm ăn.
Tháng 3
Trong tháng Thìn, người tuổi Sửu có sao tốt chiếu mệnh nên mọi vận xấu đều được hóa giải. Họ nên nắm bắt cơ hội, nhờ cậy người thân giúp đỡ để hiệu quả cao trong công việc. Ngoài ra, họ nên điều chỉnh chi tiêu cho hợp lý, tích trữ tiền bạc để phòng cuối tháng có thể gặp trở ngại.
![]() |
Tháng 4
Tháng Tỵ, vận thế của người tuổi Sửu lại bấp bênh như hồi tháng 2, công việc không ổn định, đôi khi gặp phải những rắc rối khó giải quyết. Họ có một vài cơ hội kiếm được nhiều tiền nhưng nguy cơ rủi ro lại cao. Tốt nhất, người này nên thận trọng trong mọi hành động, chú ý đến sự thay đổi của hoàn cảnh. Họ phải cắt giảm chi tiêu cho hợp lý bởi tháng này có nhiều khoản chi ngoài dự kiến.
Tháng 5
Vận thế trong tháng Ngọ của người tuổi Sửu có tốt hơn so với tháng trước. Những khó khăn, trở ngại dần được giải quyết ổn thỏa. Nguồn thu nhập tăng lên đáng kể. Nếu biết chớp thời cơ, họ sẽ gặt hái được nhiều thành công trong công việc. Điều quan trọng là họ cần đặt ra những kế hoạch cụ thể cho công việc, đồng thời cần cố gắng, nỗ lực làm việc tốt hơn nữa.
Tháng 6
Vận thế của người tuổi Sửu trong tháng Mùi lại có chiều hướng xấu đi do Sửu - Mùi tương xung. Do có sao dữ chiếu mệnh nên họ gặp phải những khó khăn ngoài dự kiến. Người này nên cảnh giác với đồng nghiệp. Thời gian này, người tuổi Sửu cần bình tĩnh trước mọi việc, phải suy xét thật kỹ trước khi hành động. Hơn nữa, họ cần biết "chọn bạn mà chơi" để tránh những thiệt hại không đáng có.
(Theo Bách khoa toàn thư 12 con giáp)
|
Văn hóa cát tường có nguồn gốc từ rất lâu đời, ý thức cát tường theo đuổi cái đẹp, sự mưu cầu hạnh phúc, bình an nảy sinh từ dự cảm bất an của người cổ xưa đối với cuộc sống. Vì vậy người xưa đã dùng các ký hiệu có liên quan đến cuộc sống làm vật ký gửi tinh thần, có thể nói nói, vật cát tường sớm nhất là thần bảo vệ.
Phạm vi tác dụng của nó kéo dài từ thế giới hiện thực mà chúng ta đang sống đến thế giới tâm linh. Ý nghĩa của nó vươn xa từ sự mong muốn giản đơn về nguyện vọng tốt đẹp, thăng hoa đến các văn hóa dự báo: vận may, hạnh phúc, thường thọ, phát tài, tiến chức, con cháu đầy nhà… từ đó cấu thành nên bản sắc văn hóa cát tường riêng trong nền văn hóa dân tộc.
Mong muốn hướng tới những điều may mắn và tốt đẹp là chủ đề vĩnh hằng của văn hóa cát tường. Từ ý nghĩa của “cát tường” cũng có thể thể hiện đầy đủ điểm này. Chữ “cát” là chỉ điều tốt lành; chữ “tuờng” là biểu đạt cho sự may mắn. “Cát” là chỉ tính chất của sự việc, “tường” là điềm báo. Điềm báo là sự tượng trưng để trở thành sự thực. Những điều này đều biểu thị ra là kiểu điềm báo trước, là tượng trưng cho sự mong mỏi của con người với tương lai, là sự hướng tới cái đẹp.
Linh vật cát tường
Long, lân, quy, phượng hàng nghìn năm nay đã trở thành bốn linh vật cát tường vĩnh hằng trong cuộc sống của nhân dân ta. Lân chỉ con kỳ lân, long (rồng) là tượng trưng của dân tộc ta, cho nên mới có cách nói “con rồng cháu tiên”, phượng chỉ phượng hoàng, là vua của các loài chim. Long, lân, phượng đều là động vật hư cấu do phương thức tư duy của con người tạo ra. Quy (rùa), con vật tượng trưng cho sự tôn quý, an nhàn, trường thọ cũng là một trong số các linh vật được mọi người quan tâm.
Động vật cát tường
Một số loài chim, cá, rắn và thú được coi là động vật mang ý nghĩa cát tường, ví dụ như chim hạc, chim khách, chim uyên ương, chim bồ câu; các loài thú như sư tử, hươu, hổ, ngựa, voi, linh miêu, các loại cá như cá chép, cá heo… đều là động vật may mắn. Một số kết hợp với nhau cũng có thể biểu thị sự may mắn như rùa hạc hợp nhất sẽ cấu thành một tề linh rùa hạc, tượng trưng cho sự trường thọ, cát tường.
Thực vật cát tường
Một số loài thực vật được mọi người tin là có ý nghĩa may mắn, cát tường. Khi biểu thị ý nghĩa cát tường, phần lớn chúng cấu thành dựa vào sự tổ hợp. Người xưa phần lớn lấy tùng, cúc, trúc, mai để biểu đạt cho sự cát tường, người sau lại dùng trúc, hoa trường xuân, bí đỏ… để ngụ ý. Hoa hòe tượng trưng cho sự trường thọ, cây đậu đỏ tượng trưng cho sự tưởng niệm, cây dẻ tượng trưng cho sự tự lập, cây lựu tượng trưng cho sự đông con nhiều phúc, cây quất tượng trưng cho đại cát, cây phật thủ tượng trưng cho hạnh phúc, cây phù dung tượng trưng cho vinh hoa phú quý…
12 con vật cát tường
12 con vật trong dân gian đều được coi là có ý nghĩa đặc biệt. Chuột, trâu, hổ, mèo (thỏ), rồng, rắn, ngựa, dê, khỉ, gà, chó, lợn, tất cả đều là những con vật may mắn. Ví dụ con dê là con vật biểu trưng cho sự nho nhã, ôn hòa, nhẹ nhành, giàu tình cảm, từ xưa đã là người bạn thân thiết với con người, được conngười yêu quý. Đây cũng là con vật tượng trưng cho điều may mắn, tốt đẹp.
Khỉ là động vật gần gũi với loài người nhất trong giới tự nhiên. Con người có tình cảm thân thiết đặc biệt với loài khỉ, bởi vì con khỉ và tước vị (hầu) là đồng âm với nhau. Khỉ đã trở thành con vật may mắn tượng trưng cho sự thăng tiến trên con đường sự nghiệp.
Ngôn ngữ cát tường
Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp giữa người với người, ngôn ngữ cát tường được biểu hiện qua những lời chúc phát tài, sống lâu trăm tuổi, khai môn đại cát, vạn sự như ý, song hỷ lâm môn, vinh hoa phú quý…
Tất cả đều là ngôn ngữ mang tính may mắn, phản ánh tư tưởng mưu cầu hạnh phúc của con người. Ngôn ngữ cát tường mang tính chúc tụng trong những hoàn cảnh nhất định, vì vậy cần phải vận dụng được nó một cách phù hợp trong những trường hợp cụ thể, nếu không sẽ gây nên sự phản tác dụng. Ví dụ khi đón năm mới, mọi người nên chúc nhau “cung hỷ phát tài”, “vạn sự như ý”. Khi chúc thọ, phải có ý “phúc như Đông hải, thọ tựa Nam sơn”, khi mở cửa hàng phải chúc “thuận buồm xuôi gió”, “phát tài phát lộc”…
Văn tự cát tường
Là để chỉ những hàm ý cát tường cơ bản hoặc hàm ý mở rộng trong câu chữ. Một số câu chữ có ý mở rộng trong câu chữ. Một số chữ có ý nghĩa cát tường nhất định, ví dụ như chũ “phúc”, chữ “thọ”, chữ “quý quý”, chữ “khang”… Chữ “phúc” là chữ có ý nghĩa tốt đẹp nhất từ xưa đến nay, ý nghĩa cát tường phong phú nhất, tập trung nhất và điển hình nhất.
Văn hóa cát tường trong phong thủy
Vạn vật hài hòa và có sự linh nghiệm, con người sống trong trời đất, nếu việc dữ có thể dự đoán trước, nếu cuộc sống của mọi người đều khỏe mạnh, đầy đủ thì tất sẽ vui vẻ, hạnh phúc; còn cuộc sống mà đau yếu, nghèo khổ tất sẽ ưu phiền.
Văn hóa cát tường trải qua hàng nghìn năm đã đúc kết được thành quả to lớn, để lại cho chúng ta nhiều giai thoại đẹp mà giàu triết lý của rất nhiều các dân tộc có truyền thống đặc sắc: Các chữ cát tường như Phúc, Lộc, Thọ, 12 con giáp và con rồng may mắn, các con thú như sư tử, nghê, cóc, tỳ hưu… các vật cát tường như tháp Văn Xương, hồ lô, khánh, chuông gió…
Mặc dù ngày nay có rất nhiều người con văn hóa cát tường là mê tín, nhưng đó là do học chỉ nhìn nhận được bề ngoài của nó. Thực chất, văn hóa cát tường mà tổ tiên truyền lại ẩn chứa một trí tuệ vô cùng sâu sắc, được ứng dụng cho đến tận ngày nay, điều đó khẳng định văn hóa cát tường của tổ tiên là sự ứng dụng hoàn toàn đúng đắn.
Nguồn: VietGem(st)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thu Hương (##)
đế vượng (Kim)
***
1. Ý nghĩa cơ thể:
Đế Vượng là lưng hay lưng dài vì Đế Vượng chủ sự phong phú, mập mạp, thừa thãi.
Đế Vượng Khốc Hư: đau lưng, thận suy.
2. Ý nghĩa tính tình:
- uy nghi, đường bệ
- quảng đại, từ thiện, bác ái
Đế Vượng gần như đồng nghĩa với Tràng Sinh và hội chiếu với Tràng Sinh.
3. Ý nghĩa công danh, tài lộc, phúc thọ:
- gia tăng phúc thọ, chủ sự thịnh đạt, phong phú
- giải trừ bệnh tật, tai họa
- tăng tiến công danh, quyền thế, tiền bạc
- lợi ích cho sự sinh nở, nhiều con, sinh mau
Do đó, Vượng và Sinh cùng với phúc tinh, quý tinh, tài tinh, quyền tinh, văn tinh sẽ làm tăng thêm phúc thọ, phú, quý, quyền, khoa của lá số rất nhiều. Vượng, Sinh có khả năng chế giải một số hung tinh hạng nhẹ.
4. Ý nghĩa của đế vượng ở các cung:
a. ở Mệnh, Thân:
- Tử Vượng đồng cung: có tài lãnh đạo, có óc lãnh tụ, có khả năng làm lãnh tụ, thủ lĩnh
- Tử, Vượng, Sinh : người có tinh thần hết sức quảng đại, quang minh, quân tử, thuộc chính phái
b. ở Tài, Điền:
- Vượng, Lộc: phát tài, có của, điền sản dồi dào
- Vượng, Tả, Hữu, Âm Dương, Tuất Thìn: triệu phú
c. ở Quan:
- Vượng Quyền: có quyền chức lớn
- Vượng Khoa: lập nên sự nghiệp văn chương lớn, sản xuất nhiều tác phẩm văn học giá trị. Nếu thêm Khôi Việt, Xương Khúc, Quốc ấn, Âm Dương sáng đẹp thì nhất định là bậc thiên tài về văn học ở hệ cấp quốc tế.
d. ở Bào:
- Vượng Thai: đông anh chị em (Vượng, Sinh cũng vậy)
- Vượng Thai Tuyệt Tướng hay Vượng Thai Phục Tướng: có anh em dị bào
e. ở Tử:
- Vượng Sinh : đông con, có hảo con
- Nếu thêm cát tinh : con đông, hiển đạt
f. ở Phúc:
- có Vượng: đông con và thọ
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thiên Nga (##)
| ► Lịch ngày tốt gửi đến bạn đọc công cụ xem bói tử vi chuẩn xác theo ngày tháng năm sinh |
![]() |
![]() |
Làm nhà là việc lớn trong đời, một ngôi nhà tốt sẽ mang tới may mắn, thịnh vượng và sung túc cho gia chủ tới suốt cuộc đời. Từ xưa tới nay, xem hướng nhà theo tuổi là phần không thể thiếu trước khi xây cất hoặc mua nhà. Ngôi nhà có hướng đẹp, hợp mệnh hợp tuổi với gia chủ không chỉ mang tới sự ấm no, cát tường mà còn giúp cả gia trạch mạnh khỏe, bình an. Ngôi nhà nằm theo hướng xấu, không cát lợi sẽ khiến vận trạch đi xuống. Gợi ý xem hướng nhà tốt xấu cho nam giới tuổi Tý để chọn được hướng tốt nhất, phù hợp nhất với bản mệnh.
![]() |
![]() |
![]() |
Đời Tam Vương, nhà Hạ, chuộng mẫu đen, nên chọn tháng đầu năm, tức tháng Giêng, nhằm tháng Dần.
Nhà Thương, thích màu trắng, lấy tháng Sửu (con trâu), tháng chạp làm tháng đầu năm.
Qua nhà Chu (1050-256 trước công nguyên), ưa sắc đỏ, chọn tháng Tý (con chuột), tháng mười một làm tháng Tết.
Các vua chúa nói trên, theo ngày giờ, lúc mới tạo thiên lập địa: nghĩa là giờ Tý thì có trời, giờ Sửu thì có đất, giờ Dần sinh loài người mà đặt ra ngày tết khác nhau.
Đến đời Đông Chu, Khổng Phu Tử ra đời, đổi ngày tết vào một tháng nhất định: tháng Dần.
Mãi đến đời Tần (thế kỷ III trước Công nguyên), Tần Thủy Hoàng lại đổi qua tháng Hợi (con lợn), tức tháng Mười.
Cho đến khi nhà Hán trị vì, Hán Vũ Đế (140 trước Công nguyên) lại đặt ngày Tết vào tháng Dần (tức tháng Giêng) như đời nhà Hạ, và từ đó về sau, trải qua bao nhiêu thời đại, không còn nhà vua nào thay đổi về tháng Tết nữa.
Đến đời Đông Phương Sóc, ông cho rằng ngày tạo thiên lập địa có thêm giống Gà, ngày thứ hai có thêm Chó, ngày thứ ba có Lợn, ngày thứ tư sinh Dê, ngày thứ năm sinh Trâu, ngày thứ sáu sinh Ngựa, ngày thứ bảy sinh loại Người và ngày thứ tám mới sinh ra ngũ cốc.
Vì thế, ngày Tết thường được kể từ ngày mồng Một cho đến hết ngày mồng bảy.
* (Trích bài "Tết Nguyên Đán" của Nguyễn Đình Khang)
Đàn ông có tính trăng hoa, lấy vợ rồi vẫn không quên ngắm nhìn những cô gái đẹp. Các chị em đều biết thế nên phòng trước ngó sau,
![]() |
![]() |
![]() |
| ► ## gửi đến bạn đọc công cụ xem thước lỗ ban online, xem hướng nhà theo tuổi chuẩn xác |
Hiện tượng: Đầu giường có cửa sổ hoặc giường đối cửa sổ có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe cơ thể người trong nhà, bởi vì khi chúng ta ngủ say, sức đề kháng là thấp nhất, lúc này gió lạnh từ ngoài vào rất dễ làm tổn hại đến sức khỏe cơ thể.

Phương pháp hóa giải: Phương pháp tốt nhất và hữu hiệu nhất là dịch chuyên vị trí giường tránh xa cửa sổ.
ký ngày 27 tháng 4 năm 1990 của Bộ Văn hóa và Thông tin.Chùa tọa lạc ở số 53 đường Tôn Đức Thắng, phường 6, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng, Việt Nam.
Chùa Khléang (hay Kh’leang, Khleng) là một trong những ngôi chùa cổ nhất ở Sóc Trăng, nằm trong khuôn viên rộng khoảng 4.000m2. Chùa xây dựng từ năm 1533 lúc đầu còn làm bằng gỗ, sau mới được xây cất lại bằng gạch ngói.
Chùa tọa lạc trên một khoảnh đất rộng, không gian thông thoáng, chung quanh có nhiều cây xanh, tỏa bóng mát xuống khắp mặt sân, dưới mỗi gốc cây có đặt những băng ghế đá dùng để nghỉ chân. Ðặc biệt, trong khuôn viên chùa còn có nhiều cây thốt nốt, loại cây đặc trưng của người Khmer thích dùng ở khu vực mà họ sinh sống.
Cổng chùa được trang trí nhiều hoa văn, họa tiết, mầu sắc rực rỡ mang đậm phong cách Khmer. Chùa Khléang được xây cất rất cao so với mặt đất, với bậc tam cấp và ba vòng rào, tất cả đều bằng xi-măng và rực rỡ mầu sắc. Vòng rào ngoài lớn rồi nhỏ dần vào trong, khoảng cách giữa các vòng rào rất rộng, nền chùa chiếm diện tích rất lớn. Trước chùa có xây hai tháp hình bầu dục nằm ở hai bên, dùng để đựng xương cốt của các vị trụ trì.
Bên trong chính điện có 16 cột bằng gỗ, rất to, đen mượt, được thếp bằng vàng các hình ảnh nói về cuộc đời đức Phật, về sinh hoạt Phật pháp. Trên trần và chung quanh đều được trang trí bằng rất nhiều nét vẽ về hình ảnh của đức Phật, thể hiện được sự hòa hợp giữa kiến trúc và hội họa.
Nơi chính điện là tượng Phật cao 6,8 m, phần thân tượng cao 2,7 m được đúc vào năm 1916. Tượng được đặt ngồi trên tòa sen lộng lẫy với vầng hào quang bằng điện lúc ẩn, lúc hiện, tạo nên sự uy nghiêm thanh thoát và huyền ảo. Chung quanh tượng Phật lớn và tượng Phật nhỏ có nhiều tủ kính trưng bày các hiện vật gia dụng của cộng đồng người Khmer xưa như là một cách bảo tồn và phát huy nét sinh hoạt văn hóa cổ xưa của dân tộc mình.
Bộ mái chùa cũng được xây dựng theo thể thức tam cấp và mỗi cấp lại có 3 nếp. Nếp giữa lớn hơn nếp phụ ở hai bên và không có tháp nóc chùa. Chung quanh mái chùa được đắp phù điêu hình chim, thú cũng như những hình ảnh tượng trưng cho triết lý nhà Phật. Toàn bộ mái chùa là cả một công trình kiến trúc vĩ đại thể hiện quan niệm, triết lý về Phật, Trời của người Khmer.
Chùa thuộc hệ phái Phật giáo Nam tông Khmer khác, nơi đây cũng chỉ thờ duy nhất là Phật Thích Ca, trên tường là bức bích họa mô tả cuộc đời vị Phật ấy từ lúc sinh ra cho đến khi đắc đạo.
Hàng năm, Chùa Kh’leang còn là nơi diễn ra những nghi lễ quan trọng nhất trong những ngày lễ truyền thống của dân tộc Khmer như: lễ vào năm mới (Chol Chnam Thmay) còn gọi là lễ chịu tuổi; lễ cúng ông bà (lễ Dôn Ta); lễ cúng trăng vào ngày 15/10 âm lịch và tổ chức đua ghe Ngo. Ngoài các lễ hội truyền thống trên, chùa còn tổ chúc các lễ hội Phật giáo.
Chùa Kh’leang vừa mang giá trị lịch sử, nghệ thuật vừa một công trình kiến trúc thẩm mỹ hài hoà, cân xứng nhất. Đây là ngôi chính điện gắn liền với những tác phẩm nghệ thuật độc đáo, đa dạng mà hầu hết thể hiện nét đặc trưng trong nghệ thuật truyền thống của người Khmer. Đồng thời cũng có những nét thể hiện tính giao thoa của người Việt, Hoa.
Hầu như gia đình nào cũng có giá sách, nhưng không phải ai cũng chú ý đến cách sắp xếp, bài trí sao cho chuẩn phong thủy, bởi kiến thức về giá sách phong thủy còn hạn hẹp. Một số gợi ý dưới đây sẽ giúp bạn giải quyết được vấn đề này trong nháy mắt. Trên thực tế, trong mỗi gia đình đều có giá sách. Không gian phù hợp nhất để bày giá sách cần rộng rãi, nhưng đa phần chỗ ở hiện tại không đáp ứng được. Diện tích ở đã khiêm tốn, nơi đặt giá sách lại càng bị hạn chế. Thông thường, giá sách được kết hợp kê trong phòng khách hoặc phòng ngủ. Giá sách là nơi chứa đựng kho tàng tri thức. Quanh nó tồn tại nguồn từ trường tích cực, có thể hút nhiều may mắn cho gia chủ nếu biết bài trí đúng cách, chuẩn phong thủy. Dưới đây là một số lưu ý về bài trí giá sách chuẩn phong thủy ai cũng nên nằm lòng để tránh điều phạm kỵ.
![]() |
Giá sách phong thủy nên xếp theo Bát quái đồ |
![]() |
Cách đặt giá sách theo phong thủy sẽ mang tới nhiều may mắn về công danh, sự nghiệp |
![]() |
| Cẩn thận tránh động mồ mả vì đường đi sai hướng |
![]() |
| (Ảnh chí mang tính chất minh họa) |
Nữ giới tuổi Sửu thường khá cẩn trọng, nhẫn nại. Khi đã yêu ai, họ sẽ yêu bằng cả tấm lòng. Tuy nhiên, họ lại thiếu sự dịu dàng, duyên dáng. Nếu ý thức được điều này, họ sẽ trở thành mẫu nguời phụ nữ tuyệt vời.
(Theo 12 con giáp về tình yêu và hôn nhân)
![]() |
Luận giải mối quan hệ giữa tình yêu và giờ sinh theo tử vi![]() |
| ► Xem lá số tử vi và xem vận mệnh cuộc đời, công danh, tình duyên của bạn |
Một vài thay đổi nhỏ trên bàn làm việc hay ở văn phòng cũng ảnh hưởng đến tài vận của bạn, từ đó sẽ thúc đẩy khả năng được tăng lương và thăng chức. Hãy tham khảo một vào mẹo phong thủy sớm tăng lương thăng chức sau đây:
![]() |
| Ảnh minh họa |
Lời nói thứ hai: Cái đáng thương nhất trong cuộc đời là lòng đố kỵ
Đố kỵ là điều thường gặp nhất trong cuộc sống. Lý Tư vì đố kỵ tài năng của đồng học Hòa Phi nên đã gièm pha với vua Tần, khiến Hòa Phi phải chết trong ngục. Bàng Quyên vì đố kỵ học thức của Tôn Tẫn hơn mình, nên đã dùng độc kế hãm hại bạn, khiến Tôn Tẫn trở thành người tàn phế. Nếu xem xét thì những lời nói hay của nhà Phật, chúng ta sẽ thấy Lý Tư và BàngQuyên đều là những kẻ đáng thương. Bọn họ có thể đắc ý một dạo, nhưng cuối cùng vẫn không được chết yên bình. Đố kỵ là một bệnh tật, người có bệnh đố kỵ suốt đời không bao giờ được yên ổn. Bọn họ, hôm nay sợ người này vượt qua mình, ngày mai lại lo lắng vì người khác đi trước mình rồi, suốt ngày bọn họ sống trong cảnh tật bệnh đáng thương. Ngược lại, những người công thành danh toại chân chính trong lịch sử đều là những người coi đố kỵ là một điều sỉ nhục. Âu Dương Tu là lãnh tụ trên văn đàn thời Bắc Tống, năm đó sau khi ông biết và lựa chọn Tô Đông Pha, có người nói với ông rằng: "Tô Đông Pha là bậc kỳ tài, nếu ngài chọn Tô Đông Pha thì chỉ sợ 10 năm sau, người trong thiên hạ chỉ biết Tô Đông Pha chứ không biết ngài là ai nữa". Nhưng Âu Dương Tu chỉ cười và vẫn đề bạt Tô Đông Pha. Người đời sau vì thế càng sùng kính Âu Dương Tu.
Lời nói thứ ba: Kẻ thù lớn nhất trong cuộc đời là chính mình
Câu nói này rất quan trọng. Trong cuộc đời chúng ta thường có một số kẻ thù, như bọn lưu manh, vô lại, kẻ tiểu nhân... Bọn cầm thú mặc quần áo người đó vô cùng tàn ác, nhưng nếu nhìn thấu, thì bọn chúng cũng chỉ là lớp cặn bã. Kẻ thù lớn nhất của con người chính là mình. Một người nếu chiến thắng được mình thì cái gì cũng công phá được, sẽ là người bách chiến bách thắng. Cái đáng sợ là tự mình mắc bệnh mà không biết: Có khi do dự không quyết, có lúc lại đánh giá mình quá cao; có khi tự cao tự đại, có lúc lại sùng bái người... chỉ có chiến thắng bản thân mới có thể mở ra được cục diện vững chắc.
Lời nói thứ tư: Hạnh phúc lớn nhất của đời người là biết buông tha
Trong xử thế, dám nắm lấy là dũng khí, dám buông ra là độ lượng. Phần lớn những người có kinh nghiệm xử thế đều xem thường những hoa tươi, tiếng vỗ tay... trên đường đời, nhưng người đã trải qua nhiều lần mưa gió lại càng tự tin hơn, vững vàng bản lĩnh. Nhưng nếu nhìn nhận một cách bình thường đối với những gập ghềnh, bùn lầy... trong cuộc sống, thì không phải là điều dễ làm. Có thể không hoảng hết, có thể thản nhiên chịu đựng những trở ngại lớn, những tai họa lớn, chính là vì có lòng độ lượng. Nhà Phật lấy lòng độ lượng dung nạp mọi việc trong thiên hạ làm nguồn vui, đã đến rồi thì hãy ở yên mà thích ứng với hoàn cảnh là một loại siêu thoát. Những loại siêu thoát đó đòi hỏi rèn luyện nhiều mới thành. Biết nắm lấy thực đáng quý, nhưng biết buông ra mới là đạo lý chân chính xử thế trong đời.
Nguồn Sưu tầm
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
![]() |
| => Tra cứu: Lịch âm, Lịch âm 2016 chuẩn xác tại Lichngaytot.com |
![]() |
| Phụ nữ kiêng đi xông đất đầu năm |
![]() |
7 điều kiêng kị trong tiết Thanh Minh![]() |
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Cát Phượng (##)
sạch sẽ, được chiếu sáng tốt, gọn gàng, ngăn nắp và hấp dẫn mọi giác quan.

Khi đã xử trí được khu vực Thái cực của ngôi nhà, hãy xem bạn có thể tạo ra bao nhiêu khoảng không ở khu trung tâm của mỗi phòng. Trong một ngôi nhà quá bừa bộn, thay đổi đơn giản này có thể tạo không gian cho năng lượng mới mà bạn cần để giải quyết chỗ bừa bộn còn lại.
Hay dùng bát quái đồ để xác định khu vực cần giải quyết tiếp theo. Tìm những nơi bừa bộn nhất và xem chúng có thể ảnh hưởng đến cung nào trong bát quái đồ. Bất cứ quái nào liên quan đến một lĩnh vựt cuộc sống mà bạn cảm thấy bế tắc hay không thể tiến triển đều có thể phải chú ý dọn dẹp.
Nếu bạn thật sự gặp rắc rối khi giải quyết một khu vực bừa bộn, hãy thử rung chuông, lẳc trống hay gỗ cồng treo phía trên. Những rung động của âm thanh vang vọng giúp kích hoạt năng lượng bị mắc kẹt và là phương pháp phong thủy để xua hết khí lưu cũ ra khỏi không gian. Nếu ngôi nhà không có chuông hay trống lắc, hãy đưa cho cậu con trai ba tuổi của bạn một nắp nồi đã dùng ba năm và chiếc thìa gỗ để gõ hãy khuyến khích cậu bế gây tiếng ồn tùy thích ở những chỗ có hàng đống đồ đạc cần dọn sạch.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thùy Dung (##)
- Trích trong KHÁM PHÁ BÍ ẨN CON NGƯỜI QUA KHUÔN MẶT, DÁNG HÌNH của Đặng Xuân Xuyến -
Theo thuật xem tướng của người phương Đông thì bất luận là nam hay nữ, nếu tập trung nhiều dấu hiệu được liệt kê dưới đây thì đấy là mẫu người chung thủy trong tình yêu.

- Đầu tròn nhưng hơi mảnh dẻ và cổ cao.
- Đầu tròn vừa. Cổ tròn nhưng không nổi gân.
- Đầu suôn nhọn như hình quả trứng.
- Đầu to nhưng thân mình lại nhỏ. Hoặc đầu lớn nhưng đầu lại vuông.
- Tóc đen, chân tóc khít rậm và to sợi.
- Tóc mềm nhưng lại nằm rạp xuống đầu.
- Tóc mềm sợi và lượn sóng.
- Hai bên mang tai có xương nổi cao.
- Cổ tròn, vững và tương đối xứng với đầu và vai.
- Vai nở rộng và eo lưng đầy đặn.
- Ngực nẩy nở vừa phải và dài.
- Phụ nữ vú lớn nhưng không xệ xuống. Núm vú hướng lên phía trên.
- Bụng đầy đặn và hướng lên phía trên.
- Rốn cao lên phía trên, cách xa hạ bộ.
- Tiểu tiện vọt như hạt châu (tua ra như mưa).
- Lông ở âm bộ và dương bộ mượt, mọc không quá nhiều. Đàn bà thì âm bộ hướng lên trên.
- Hai mắt tròng đen nhiều, tròng trắng ít.
- Nếu là phụ nữ mắt bên phải nhỏ hơn mắt bên trái, còn nếu là đàn ông thì mắt bên trái nhỏ hơn mắt bên phải.
- Hai mắt lớn, tươi sáng và có thần.
- Chân mày to và đầy đặn.
- Lông mày mọc rủ quắp xuống mắt.
- Tai cứng và mọc cao.
- Hai tai lớn, dầy, cả hai lỗ tai cùng lớn.
- Lưỡng quyền thon nhỏ và ít thịt.
- Lưỡng quyền là hai gu xương nổi thấp, má no đầy nhưng không xệ.
- Trán cao, tròn hơi dô và có vài nếp nhăn cách xa chân lông mày.
- Thân mũi dài, to đều đặn, sống mũi có chiều hơi cong.
- Sống mũi nhỏ, đầu mũi to và tròn.
- Mũi to nhưng cân xứng với khuôn mặt, đầu lỗ mũi to nhưng tròn đẹp, hai cánh mũi nở.
- Nhân trung sâu, rộng như cái máng và tươi sáng. Hoặc nhân trung dài, rộng và ngay ngắn.
- Nhân trung bề ngang hơi hẹp nhưng dài và sâu.
- Khóe miệng hai bên hướng lên trên.
- Miệng ngay ngắn, hai môi đều có lằn vạch đứng.
- Môi trên, môi dưới hài hòa, cân xứng và cùng hướng lên phía trên.
- Hai môi vừa dầy và đều đặn.
- Ngủ thường nằm nghiêng, tay đặt lên người, dáng người ngay ngắn.
- Dáng điệu từ tốn, khoan thai, chắc chắn.
- Cánh tay phía trên hơi gầy, nhỏ, dưới bắp tay đến cườm hơi mập, lớn.
- Cánh tay dài, nhỏ, không cân xứng với dáng hình.
- Bàn tay ướt và gò Kim Tinh nổi cao.
- Bàn tay gầy và mềm yếu.
- Bàn tay khuyết lòng nhưng ngón tay tròn trịa, no đủ.
- Bàn tay mềm nhưng hơi thô kệch.
- Bàn tay cứng và có phần hơi thô.
- Các đầu ngón tay tròn trịa hoặc vông vức, nghiêm chỉnh.
- Lòng bàn tay có ít đường chỉ chằng chịt, rối loạn.
- Móng tay dài và cứng nhưng không dễ gẫy.
- Bàn tay có sắc đỏ đậm hoặc hồng nhạt.
- Phía sau lưng bàn tay có nhiều lằn nhăn.
- Phía sau lưng bàn tay có những chỗ lòm hóp.
- Gò Kim Tinh được no đầy và hồng hào.
- Chân nhỏ, ít nổi gân, ít thịt và xương.
- Bàn chân hơi cong và có ít lông.
- Bàn chân có lũm (lõm) và cứng rắn.
- Các ngón chân cân xứng, đều đặn nhau.
- Nốt ruồi mọc ở gò má bên trái.
- Nốt ruồi mọc ở tại yết hầu, gu xương giữa cổ.
- Nốt ruồi mọc ở dưới gan bàn chân.
(Trích trong KHÁM PHÁ BÍ ẨN CON NGƯỜI QUA KHUÔN MẶT, DÁNG HÌNH của Đặng Xuân Xuyến, nxb Thanh Hóa)

Bài viết được tác giả gửi đến trang nhà Xem Tướng chấm net, tháng 7 năm 2015
Một số sách của tác giả Đặng Xuân Xuyến đã xuất bản như:
Bài viết của tác giả Đằng Sơn
1/ TỬ VI CÁCH CỤC TỐI TRỌNG ÂM DƯƠNG.
Cách cục trong khoa Tử Vi hầu hết dựa trên lẽ âm dương của dịch, ngũ hành chỉ là phụ mà thôi. Khi dụng ngũ hành càng cần nắm vững dịch lý mới khỏi sai lầm.
2/ HỌC GIẢ YẾU THÔNG "QUÁ HƯ CÙNG BIẾN".
Người học Tử Vi do đó cần hiểu lẽ "quá hư cùng biến" của dịch.
Quá Hư: Cái tốt quá độ trở thành hư hỏng.
Cùng Biến: Đang rất tốt nếu biến xấu thành rất xấu, đang rất xấu nếu biến tốt thành rất tốt.
3/ NỮ TINH PHÚ, HIỂM Ố KỴ ĐÀO HOA.
Nữ tinh ám chỉ Thái Âm (đế tinh, tượng sự cực âm) và bốn sao ứng với 4 quái âm của dịch là Tham Lang (ứng với quái Tốn), Liêm Trinh (ứng với quái Li), Thiên Đồng (ứng với quái Đoài), Thiên Lương (ứng với quái Khôn). Các sao này hàm chứa tính âm yếu đuối nếu phong phú (tức Hóa Lộc) hoặc trong cảnh nguy hiểm (hãm địa hoặc hội họp nhiều sát, bại tinh và không gặp không vong); lại thêm các cách đào hoa tất ứng với sa đọa hoặc tai nạn.
4/ TĨNH TÚ SÁT ĐA TOÀN VI BẤT HẢO.
Các sao nhóm tĩnh (Cự Cơ Nguyệt Đồng Lương) hợp với cảnh an bình, gặp nhiều sát tinh chắc chắn sẽ không tốt. (Nhật ngoại lệ vì là đế tinh dương mạnh mẽ).
5/ CHÍNH TINH HÃM ĐẢO QUYỀN LỘC QUANG VINH.
Chính tinh hãm rất xấu, nhưng nếu hoá Lộc hoặc hóa Quyền lại trở thành tốt hơn cả chính tinh miếu vượng hoá Lộc hoá Quyền.
6/ MIẾU VƯỢNG KỴ SINH PHẢN VI BẤT THIỆN.
Ngược lại chính tinh miếu vượng hóa Kỵ trở thành xấu hơn cả chính tinh hãm địa hoá Kỵ. Đặc biệt chính tinh miếu vượng hoá Kỵ thêm cách đào hoa dễ gây ra họa đào hoa; ngược lại các chính tinh chứa sẵn tính đào hoa, nếu lạc hãm hóa Kỵ lại khiến họa đào hoa khó xảy ra, vì hóa Kỵ mang tính phản đào hoa.
7/ CHỦ HIỀN KHÁCH HIỂM QUÂN TỬ GIAN NAN.
Chính cung đa số sao hiền (cát tinh), nhưng các cung hợp chiếu đa số là sao hiểm (sát bại tinh) ví như người quân tử gặp cảnh nguy nan. Dù đắc cách cũng rất mong manh, dễ bị phá hỏng.
Áp dụng: Sao ở hai cung Mệnh và Thân đa số là cát tinh, nhưng sao ở các cung hợp chiếu – nhất là cung xung chiếu – đa số là sát, bại tinh xấu xa ; nghĩa là mình tốt mà hoàn cảnh bất thuận, dễ gặp xui xẻo, tai họa.
8/ CHỦ HIỂM KHÁCH HIỀN TIỂU NHÂN ĐẮC CHÍ.
Chính cung đa số là sao hiểm (sát bại tinh), nhưng các cung hợp chiếu đa số là sao hiền (cát tinh), ví như kẻ tiểu nhân gặp cảnh đắc chí, mưu sự bất chính dễ thành.
Áp dụng: Sao ở hai cung Mệnh và Thân đa số là sát, bại tinh xấu xa, nhưng sao ở các cung hợp chiếu – nhất là cung xung chiếu – đa số là cát tinh; nghĩa là mình bản tính xấu mà hoàn cảnh thuật lợi, nên dễ thành công, lại hay đóng kịch là người tốt.
9/ KÌNH DƯƠNG CƯ NGỌ VỊ YỂU CHIẾT HÌNH THƯƠNG
Tuổi Bính Mậu có Kình Dương ở Ngọ. Kình tượng thanh gươm, Ngọ tượng con ngựa nên gọi là cách "mã đầu đới kiếm". Ngọ là hãm địa của Kình Dương, lại thuộc hỏa khắc tính kim của Kình nên cách này hết sức nguy hiểm. Phú có câu "Mã đầu đới kiếm phi yểu chiết nhi hình thương" nghĩa là có cách mã đầu đới kiếm cư mệnh không chết sớm cũng bị thương tật.
Nhưng vì lý "cùng tắc biến" lại có 3 kỳ cách như tiếp theo đây.
10/ NHƯỢC HÃM LỘC QUYỀN TRẤN UY BIÊN ẢI
Theo lý "cùng tắc biến" của dịch một hoàn cảnh cực xấu biến thành tốt sẽ trở thành cực tốt.
Mệnh có Kình Dương cư Ngọ (hãm địa), cùng cung Đồng Âm (hãm địa), tuổi Bính Thiên Đồng hoá Lộc có Thiên Cơ hóa Quyền tam hợp (đắc Lộc Quyền), tuổi Mậu Thái Âm hoá Quyền có Thiên Cơ hóa Kỵ tam hợp (đắc Quyền Kỵ) là hai kỳ cách tốt đẹp "mã đầu đới kiếm trấn ngự biên cương", tạo nên sự nghiệp trong cảnh dầu sôi lửa bỏng.
Kình Dương cư Ngọ (hãm địa) cùng cung với Tham Lang (hãm địa). Tuổi Mậu Tham Lang hóa Lộc, cũng là kỳ cách "mã đầu đới kiếm trấn ngự biên cương". (Trái lại tuổi Bính mà gặp cách này là hoạn họa trùng trùng vì không được cát hóa ).
Chú ý: Tuổi Bính Thiên Cơ cư Ngọ (hoá Quyền) không hợp cách vì Thiên Cơ không hãm ở Ngọ, nếu gặp Kình Dương thì "phi yểu chiết nhi hình thương".
11/ CƠ LƯƠNG QUANG QUÝ HÌNH LỘC DANH Y
Cơ Lương là hai sao tĩnh gặp sát tinh Thiên Hình hết sức nguy hiểm, khó tránh khỏi tai họa. Nhưng Hình không quá ác, có thể giải bằng Lộc Tồn (bảo thủ, cẩn trọng), hoặc hóa Lộc (thuận lợi, may mắn). Nên nếu trong thế tam hợp có Lộc Hình Riêu thì Hình ứng với hành động quyết liệt nhưng xây dựng. Riêu ứng với thuốc đắng giã tật, Cơ Lương (không nhất thiết đồng cung) bản chất thích phục vụ nên hợp với nghề y dược; thêm Quang Quý (được người ưa thích) theo đuổi y học có cơ thành tựu lớn. Nếu Cơ hoặc Lương ở Sửu Mùi, có Tả Hữu giáp hai bên lại càng hoàn mỹ (xem thêm cách 12).
Các chính tinh khác gặp Hình Riêu Lộc Quang Quý cũng phù hợp ít nhiều với ngành y dược.
Xác suất càng cao nếu cư Quan Lộc thay vì Mệnh.
12/ THẾ CỤC CHUYỂN DI LỘC HÌNH TỬ PHÁ
Tử Phá Sửu Mùi là cách chính tà tranh thắng nên cần Tả Hữu phò tá Tử Vi để Tử Vi đắc thế, chế ngự bớt tính phá hoại của Phá Quân. Trái lại gặp đối thủ của Tả Hữu là Thiên Hình thì Hình tất sẽ về cùng phe với Phá Quân, buộc Tử Vi lùi bước. Lộc Tồn (bảo thủ, cẩn trọng) giảm được tính sát của Hình Phá, hóa Lộc (may mắn) giúp Phá Quân thành tựu. Do đó nếu Phá Quân hóa Lộc hoặc Tử Phá được Lộc Tồn hội họp gặp Thiên Hình lại là một kỳ cách hết sức tốt đẹp, ví như kẻ anh hùng có bản lãnh đổi thay thời cuộc, tạo nên sự nghiệp phi thường trong cảnh dầu sôi lửa bỏng.
Lý tưởng nhất là Tử Phá có Tả Hữu giáp hai bên. Gồm có Tử Phá cư Sửu sinh tháng 9 (Hình tam hợp), tháng 11 (Hình xung chiếu); hoặc Tử Phá cư Mùi sinh tháng 3 (Hình tam hợp), tháng 5 (Hình xung chiếu). Bốn cách này Hình hội họp mà không cư cùng Tử Phá nên giảm bớt sát khí, đỡ lo tai họa.
13/ TỬ VI QUYỀN PHỦ KHUYẾT TẢ DỤNG HÌNH
Tử Vi ở cung dương (thế tam hợp Phủ Tướng) thiếu Tả Hữu là cách "cô quân", ví như vua không có cận thần, thiếu hẳn hiệu quả; gặp đối thủ của Tả Hữu là Thiên Hình lại càng bất lợi (tuy vậy không nguy hiểm vì Tử Vi có uy lực rất mạnh mẽ, Thiên Hình là sao sát nhưng có tính thuần dương nên thuộc chính phái, không chống lại Tử Vi). Nhưng nếu Tử Vi có hóa Quyền hội họp thì uy lực rất mạnh mẽ, khắc phục biến Hình thành phù tá đắc lực, là một kỳ cách. Lưu Huyền Đức vua nước Thục thời Tam Quốc có cách này ("Lưu Huyền Đức đạt thừa Hán nghiệp thi ư Tử Phủ Vũ Tướng Khoa Quyền Hình Ấn Hồng Khôi mệnh thân ").
14/ TỬ PHỦ NHẬT KÌNH, CỰ THƯƠNG TRÍ XẢO
Tử, Phủ, Nhật là ba đế tinh mạnh mẽ, có bản lãnh biến Kình Dương (cùng cung) thành của mình, tức là tự mình trở thành trí xảo. Nếu mệnh cư ở Thìn Tuất Sửu Mùi tất Kình Dương nhập miếu, theo đuổi kinh doanh dễ thành tựu lớn.
Chú ý: Thái Âm cũng là đế tinh nhưng tương đối yếu, không vận dụng nổi Kình Dương nên chỉ có cách này khi đồng cư với Thái Dương ở Sửu Mùi.
15/ TÀNG HUNG TỬ PHỦ VŨ TƯỚNG KHÔNG VONG
Tử Phủ Vũ Tướng ứng với cộng hưởng giữa hai nhóm Tử Liêm Vũ và Phủ Tướng nên rất tốt đẹp, nhưng nếu gặp Không vong (Tuần Triệt hoặc Thiên Không Địa Không đúng vị đóng cùng cung) lại biến thành xấu, dù nhiều cách tốt khác hội họp đi nữa cũng gặp nhiều hung hiểm.
16/ MÃO DẬU KIẾP KHÔNG TỬ THAM THOÁT TỤC
Ngược lại Tử Tham Mão Dậu là cách kém nhất của Tử Vi (hội họp với Tham Lang thay vì Phủ Tướng), ứng với sự sa đọa, dâm đãng, nếu gặp Địa Kiếp hoặc các sao Không vong cùng cung lại là vô vi thoát tục.
17/ LIÊM TRINH VÔ LỰC NGỘ HỔ NGUY NAN
Liêm Trinh ứng với quái Li rực rỡ quá độ nên tốt thì chủ công danh, xấu biến thành tai họa. Liêm Trinh cùng cung Phá Quân hoặc Tham Lang thì lạc hãm nên vô lực. Bạch Hổ tượng kẻ nhất định dùng vũ lực để bảo vệ quyền lợi của mình. Vô lực mà đòi dùng lực tất bị nguy hiểm, tai ương. Nên Liêm Trinh hãm địa cùng cung với Bạch Hổ khó tránh tai nạn.
Liêm Trinh độc thủ Dần Thân được hội họp với Phủ Tướng nhưng lại bị Tham Lang (hãm) xung chiếu, đồng cung Bạch Hổ cũng nguy hiểm nhưng đỡ hơn Liêm Phá, Liêm Tham. Có sao tốt giải cứu thì không đáng lo ngại.
Chú ý: Có Thanh Long hội họp thì thành cách "Thanh Long Bạch Hổ". Trong trường hợp này Bạch Hổ không còn tác họa nữa mà biến thành một yếu tố thành công.
18/ LIÊM PHÁ LIÊM THAM KHÚC XƯƠNG ĐẠI HỌA
Liêm Trinh ứng với quái Li, ví như cô tiểu thư đài các, có Khúc Xương càng thêm vẻ kiêu sa. Nhưng cùng cung Phá Tham là lạc hãm, như cảnh thân gái dặm trường, vẻ đài các kiêu sa càng khiến kẻ bất lương dòm ngó, biến thành tai họa.
19/ MỆNH LÂM HIỂM TỌA ĐÀ VŨ XƯƠNG LINH
Vũ Khúc ở cung dương (hoặc gặp Tham Lang ở Sửu Mùi ) Văn Xương tương đối đẹp, nhưng vì cả hai sao cùng thuộc Kim có tính sát nên hàm chứa nguy hiểm. Đà Linh là hai sao sát có tính âm hàn (Đà là sao âm của cặp Kình Đà, Linh là sao âm của cặp Hỏa Linh). Đà thuộc Kim, Linh thuộc Hỏa nhưng có mang thêm tính Kim. Cái đẹp mong manh gặp tính sát âm hàn đã xấu, cả bốn sao lại đều mang tính sát của Kim nên trở thành cực xấu, ứng với nguy hiểm hoặc khó khăn to lớn.
Ở cung âm Vũ Phá, Vũ Tham, Vũ Sát vốn đã không hợp với Xương Khúc nên càng xấu hơn nữa.
(Phú để lại có câu "Linh Xương Đà Vũ hạn đáo đầu hà" nghĩa là đến hạn Linh Xương Đà Vũ tất gieo mình xuống sông tự tử, ý nói là quá nhiều khó khăn không thể nào giải quyết nổi, chỉ còn cách là tự tử cho xong).
20/ VŨ PHỦ KIẾP KÌNH ÁC NHÂN QUÝ HIỂN
Vũ Phủ Tí Ngọ là một cộng hưởng vô cùng tốt đẹp vì cả hai sao đều là tài tinh, Phủ lại là đế tinh nên có uy lực mạnh mẽ. Kiếp Kình là hai sát tinh ác độc, Phủ bản chất dung hòa nên đều thu dụng làm của mình, trở thành cách độc ác nhưng quý hiển. (Có cách này độc ác thì khá giả, hợp cách gian thương tạo ra tài sản trên máu mủ thiên hạ. Ngược lại quyết giữ thiện tâm thì như người tốt đồng hành với bọn bất lương, tất phải chịu một số oan nghiệt rồi mới tốt đẹp).
Vũ không được Phủ cùng cung thì uy lực kém hơn. Đồng cách Kiếp Kình, thêm nhiều sao tốt hội họp cũng ác độc nhưng khó thành công, thêm nhiều sao xấu hội họp tất vì tiền bạc mà mang họa vào thân.
21/ DẬU CUNG BẤT MIỄN THIÊN TƯỚNG ĐA ĐOAN
Thiên Tướng là quý tinh nên cư mệnh không phải lo cơm áo, nhưng bản chất nhu nhược nên không vượt nổi tính "bại" của cung Dậu. Tướng kém cỏi nhất ở Dậu (kém hơn Mão vì hai đế tinh Âm Dương cư ở Tử Tức và Huynh Đệ đều hãm địa), lại bị Liêm Tham Phá hãm địa ở Mão xung chiếu, nên gặp rất nhiều phiền toái rắc rối. Mệnh cung của nhiều cô gái giang hồ nhan sắc được khách làng chơi chu cấp như vợ bé có cách này.
22/ PHẢN HỮU HỒNG LOAN SẮC KHÔNG GIÁC NGỘ
Cũng là Thiên Tướng cư Dậu, tuổi Ngọ có Hồng Loan cùng cung nên thanh sạch, Đào Hỉ ở Mão xung chiếu, thành thử đắc cách tam minh Đào Hồng Hỉ, ví như kẻ lạc giữa bụi trần nhơ nhuốc mà tâm tư sáng suốt, bình lặng như không, ngộ ra mọi sắc hương đều là giả dối.
Thiên Tướng cùng cung Hồng Loan tại Mão luận tương tự nhưng xác suất thấp hơn.
Luật chung về Thiên Tướng cho tất cả mọi cung: Thiên Tướng ứng với hình thức bề ngoài, nếu hội họp với cả hai loại sao sắc (Đào Hồng Hỉ) và Không (Tuần Triệt Thiên Không Địa Không ) lại biến thành cảnh sắc sắc không không, thường có duyên với cảnh tu hành ).
23/ QUÝ TINH TƯỚNG PHỦ TUẦN TRIỆT LAO ĐAO
Phủ Tướng là hai quý tinh có tính dung hòa nên nói chung khi độc thủ không ngại tứ sát Kình Đà Hỏa Linh lắm. Cư mệnh vẫn dễ phú quý, chỉ tăng thêm tính gian xảo. Thế nhưng là thế "có" nên gặp Tuần Triệt coi như mất hết. Cách tốt bao nhiêu cũng thành vô dụng. Gặp Thiên Không, Địa Không đúng vị không vong cũng luận như trên.
Chú ý: Cách này ứng với khi Phủ Tướng ở cung âm. Ở cung dương là cách 15 đã kể trên.
24/ HÌNH TƯỚNG, PHỦ HAO ĐỒNG VI PHÁ CÁCH
Thiên Tướng là sao yếu đuối nên có Tả Hữu phù tá thì rất tốt đẹp, ngược lại gặp đối thủ của Tả Hữu là Thiên Hình cùng cung thì hết sức nguy hiểm. Thiên Hình là sát tinh nên Thiên Tướng khó thoát khỏi tai họa. Thiên Phủ cũng cần Tả Hữu và kỵ Thiên Hình, nhưng vì là đế tinh có uy lực mạnh nên gặp Thiên Hình không đáng lo ngại. Nhưng Phủ là tài tinh, cùng cung Đại Tiểu Hao là phá cách, ứng với sự túng thiếu. Đại Tiểu Hao đắc địa đi nữa cũng chỉ có những thoáng huy hoàng mà thôi.
25/ PHÁ HIỀM XƯƠNG KHÚC, PHẢN HỢP KIẾP KHÔNG
Phá Quân bản chất phá hoại, Xương Khúc lại nho nhã dung hòa, nên Phá Quân có Xương Khúc phò tá không thể làm ra chuyện (trừ trường hợp có thêm sao của cả hai nhóm Tả Hữu, Khôi Việt hội họp). Phú có câu "Phá Quân Xương Khúc vi bần nho". Ngược lại Phá gặp Kiếp Không là hai sao chuyên phá hoại thì đúng là chủ gặp tớ, dễ thành đại sự.
26/ HAO PHÁ BẦN CÙNG, LỘC QUÂN ĐẠI PHÁT
Đại Tiểu Hao là hai sao thiếu chí hướng, khiến Phá Quân không thể chuyên nhất phát huy ưu điểm xung phá của mình. Đại Tiểu Hao bản chất lại là phí phạm, hư hao; dễ đẩy Phá Quân vào cảnh bần cùng. Ngược lại Phá Quân gặp Lộc Tồn (cẩn trọng nhưng khá giả) hoặc hóa Lộc (thuận lợi, may mắn ) tất đại phát.
Chú ý: Lộc và Không Kiếp cùng phù hợp Phá Quân nên gặp Phá Quân thay vì phá hoại nhau lại cùng giúp Phá Quân trở thành tốt đẹp.
27/ THANH LIÊM HÌNH SÁT, HIỂN ĐẠT SÁT KÌNH
Thất Sát có Tả Hữu phù tá thì tốt đẹp. Nhưng mang tính sát nên đồng thời phù hợp với đối thủ của Tả Hữu là Thiên Hình; do đó gặp Thiên Hình không bất lợi, chỉ thể hiện một chiều hướng khác. Thất Sát miếu vượng thì thanh liêm, nghiêm khắc, hãm thì tàn nhẫn.
Sao Sát phù hợp nhất với tính dũng cảm của Thất Sát là Kình Dương, tức sao dương của cặp Kình Đà, Thất Sát gặp Kình Dương như chủ can đảm gặp tớ liều lĩnh, chỉ cần một trong hai sao đắc vị là có thể thành công to lớn. Nhưng đây là một kết hợp đầy sát khí nên rất nguy hiểm, bạo phát thường đi liền với bạo tàn, nhất là một trong hai sao hãm địa thì rất khó lòng thoát khỏi tai họa. (Hai sao cùng hãm thành cảnh "kẻ dùng gươm chết vì gươm", chính là đại họa).
Thất Sát gặp Đà La ý nghĩa tương tự Kình Dương, nhưng mức thành đạt và xác suất thành đạt thấp hơn, vì Đà La là sao âm phát triển không nhanh bằng Kình Dương là sao dương.
28/ NẠN ĐÁO TRÙNG TRÙNG SÁT DƯƠNG NGỌ VỊ
Kình Dương cư Ngọ là cách "Mã đầu đới kiếm". Ngọ thuộc Hỏa, Kình thuộc Kim, Hỏa khắc Kim nên đây là vị hãm địa xấu nhất của Kình Dương. Thất Sát ở Ngọ miếu địa cùng cung với Kình tất có thành tựu, nhưng khó lòng tránh khỏi tai họa khủng khiếp; hợp với số kẻ làm tướng chết oanh liệt ở trận tiền.
Phá Quân cư Ngọ (miếu địa) đồng cung Kình Dương cũng luận tương tự.
29/ ĐÀO HOA CHÍNH THỊ TUẦN TỰ THAM LIÊM
Tham Lang ứng với quái Tốn, tượng là con gái trưởng, nhu nhược thành thử dễ bị cuốn hút vào chuyện trăng hoa, nên gọi là "chính đào hoa". Liêm Trinh ứng với quái Li, tượng là con gái thứ, xinh đẹp kiêu sa. Nhan sắc là lợi điểm mà cũng có thể là tai họa, nên gọi là "thứ đào hoa".
30/ ĐA SÁT, BẠI, DÂM PHÁT SINH ĐẠI HỌA
Sát tinh hoặc phá hoại hoặc cuốn hút người ta vào đường phá hoại. Bại tinh gây ra bất hạnh. Dâm tinh, tức các cách đào hoa thiếu đứng đắn, gây sự sa ngã. Tham Liêm bản chất đã mang sẵn tính đào hoa gặp nhiều sao của các nhóm này tụ tập rất nguy hiểm, cần đề phòng tai họa hoặc trụy lạc.
31/ THAM LINH THÀNH TỰU, THAM HỔ TAI ƯƠNG
Hổ là một bại tinh bản tính quyết liệt, nên Tham Lang hãm địa thiếu uy lực gặp Hổ cùng cung khó lòng tránh khỏi tai nạn, miếu vượng cũng phiền toái. Lý tương tự như trường hợp Liêm Trinh.
Chú ý: Có Thanh Long hội họp thì thành cách "Thanh Long Bạch Hổ ". Trong trường hợp này Bạch Hổ không còn tác họa nữa mà biến thành một yếu tố thành công.
Tham Lang là một trong bộ ba Sát Phá Tham tất phải có sát tinh phù hợp. Lục sát có Kình Đà Hỏa Linh Không Kiếp. Ta đã biết Phá Quân hợp Không Kiếp, Thất Sát hợp Kình Đà; suy ra Tham Lang hợp Hỏa Linh.
Linh là sao âm của cặp Hỏa Linh, ví như ngọn lửa âm thầm, giúp Tham Lang thuộc mộc được nung nóng, thành tựu nhưng không phải là đột phát.
32/ THAM HỎA ANH HÙNG, THAM XƯƠNG NHIỄU SỰ
Hỏa Tinh thuộc dương, ví như ngọn lửa lớn khiến Tham Lang thuộc mộc cháy bùng, nên Tham Hỏa là cách anh hùng, ứng với sự thành công đột phát.
Xương là sao dương của cặp Xương Khúc, mang tính đào hoa nhưng đồng thời thuộc kim khắc hành mộc của Tham. Tham Lang mang tính đào hoa gặp Xương ví như cảnh "bỏ thì thương vương thì tội" chẳng ra gì, mập mờ rất phiền toái. Tham Xương cư Mệnh do đó là kẻ hay gây rắc rối cho đời. Tệ nhất là có đủ bộ Xương Khúc hội họp; phú có câu "Tham Lang Xương Khúc chính sự phiền hà".
Chú ý: Nếu có nhiều cát tinh như Tả Hữu Khôi Việt Lộc Tồn tam Hóa, hoặc sao phù tá đúng bộ là Linh Hỏa thì giải được, không kể là xấu nữa.
33/ ÂM DƯƠNG VẠN SỰ XƯƠNG KHÚC KIẾP KHÔNG
Muốn luận tốt xấu cho cặp đế tinh Âm Dương cần nhất là xét bốn sao Xương Khúc và Không Kiếp. Âm Dương hội họp với Xương Khúc là đắc cách dễ phát triển tiềm năng, với Không Kiếp là phá cách, nhẹ sinh ra cảnh đầu voi đuôi chuột, nặng thì nhiều tai họa.
34/ HỈ NGỘ TAM MINH, Ố HIỀM TAM ÁM
Âm Dương tượng trưng ánh sáng của mặt trăng mặt trời nên gặp bộ tam minh Đào Hồng Hỉ (tượng vẻ tươi sáng của một cô gái xuân thì) rất đẹp đẽ. Trái lại gặp bộ tam ám Riêu Đà Kỵ (tượng ba hoàn cảnh u ám) thì giảm uy lực. Ngoại lệ là kỳ cách Âm Dương Sửu Mùi tiếp theo đây.
35/ SỬU MÙI ẢM ĐẠM NHẬT NGUYỆT VÔ QUANG
Sửu Mùi Nhật Nguyệt cùng cung ví như mặt trời mặt trăng cùng dành ánh sáng, là cảnh âm dương hỗn độn, tranh tối tranh sáng, nói chung là phá cách. Vì Âm Dương cùng là đế tinh, cư mệnh thích làm đàn anh thiên hạ nhưng lại không chịu hoặc không biết lo lắng cho thuộc hạ, gây ra những cảnh đầu voi đuôi chuột.
36/ GIA KỴ TRIỆT TUẦN PHẢN VI ĐẠI CÁT
Cũng Nhật Nguyệt Sửu Mùi nhưng có Tuần hoặc Triệt án ngữ thì cảnh hỗn độn bị phá hủy, khiến Nhật Nguyệt cùng có cơ hội phát huy tiềm năng to lớn của mình, là một kỳ cách tốt đẹp. Địa Không cư ở đây cũng tương tự.
Sửu Mùi là đắc địa của Hóa Kỵ, lại gặp không vong thì chỉ còn sót lại tính cẩn trọng, rất cần thiết để hai đế tinh có thể cộng tác với nhau. Thế nên Âm Dương Sửu Mùi gặp không vong đã tốt, thêm Hóa Kỵ trở thành hoàn mỹ.
Là một kỳ cách rất đáng ghi nhớ vì Nhật Nguyệt lẽ thường rất hiềm Hóa Kỵ và không vong.
37/ ÂM DƯƠNG HÃM ĐẮC KỲ CÁCH VINH XƯƠNG
Thái Âm cực xấu ở Thìn Ngọ (khí dương thịnh lại là cung dương), Thái Dương cực xấu ở Hợi (khí âm thịnh lại là cung âm), nhưng là đế tinh nên có tiềm năng mạnh mẽ. Do đó nếu đắc kỳ cách lại thành tựu hết sức to lớn.
38/ NHẬT PHÁT VĂN CHƯƠNG, NGUYỆT THĂNG VŨ CHỨC
Thái Dương vốn thuộc dương khi lạc hãm đắc kỳ cách theo luật "cùng tắc biến" lại nhuốm tính âm nên dễ phát về văn chương. Cùng lý Thái Âm vốn thuộc âm, lạc hãm đắc kỳ cách lại nhuốm tính dương nên dễ phát về võ nghiệp.
Kỳ cách quan trọng nhất là Âm Dương hóa Lộc hoặc hóa Quyền, thêm Xương Khúc phù tá. (Tưởng Giới Thạch tung hoành ở lục địa Trung Hoa, bị thua chạy ra Đài Loan rồi biến Đài Loan thành một cường quốc có cách Thái Âm hãm địa cư Thìn hóa Lộc, được thêm Khoa Quyền chiếu, lại có Khúc Xương phù tá).
39/ NHẬT LƯƠNG XƯƠNG LỘC QUYỀN LỰC HẠCH TÂM
Thiên Lương thuộc quái Khôn (âm) lại vĩnh viễn tam hợp với Thái Âm (âm), được hội họp với Thái Dương (dương) thành cảnh âm dương quân bình nên rất đẹp đẽ. Nhật vượng ở Mão thành cách Nhật Lương cùng cung, được Nguyệt miếu ở Hợi tam hợp, nếu hội họp có thêm sao phù tá lý tưởng của Thái Dương là Văn Xương và sao đại biểu may mắn là hóa Lộc hoặc Lộc Tồn là lý tưởng. Nhật Nguyệt là hai đế tinh, thêm Lương là bầy tôi lương đống, cung mệnh được cách này dễ trở thành nhân vật có quyền lực. Nhật ở Dậu hãm địa nên thành tựu kém hơn nhưng vẫn là cách tốt đẹp. Đặc biệt nếu Nhật hoặc Lương hóa Lộc hoặc hóa Quyền thì theo lý "cùng tắc biến" lại thành kỳ cách, tốt hơn cả Nhật Lương cư Mão.
Lương cư Tý Ngọ cũng đắc cả hai sao Nhật Nguyệt, nhưng không được tọa cùng đế vị nên kém hơn Nhật Lương Mão Dậu, ứng với quyền lực ở vị trí thấp hơn, cư mệnh đắc phụ tinh tốt đẹp có thể là nhân sĩ địa phương hoặc làm thầy giáo (số vạn thế sư biểu Khổng Phu Tử có Thiên Lương cư Tý).
40/ TỴ HỢI TÀ DÂM ĐỒNG LƯƠNG LỘC MÃ
Lương gốc là quái Khôn tượng mẹ, Đồng gốc quái Đoài tượng con gái út. Đồng Lương ở Tỵ Hợi thì Âm Dương cùng cung ở Sửu Mùi là cảnh Nhật Nguyệt tranh huy u ám. Thiên Lương mất ánh sáng của Nguyệt, lại không được Nhật soi sáng trở thành u tối, như người mẹ quên mất thiên chức của mình. Tỵ Hợi lại thuộc tứ mã tượng biến động nên Thiên Lương ở đây hãm địa, ứng với sự buông thả, phóng túng. Đồng như cô con gái ham chơi được mẹ thả lỏng, nên là cách "vượng địa" bay nhảy tự do không còn gì kềm hãm nữa.
Hóa Lộc và Thiên Mã (Lộc Mã, nhưng xem chú ý 1) là một cách rất tốt, biểu tượng thay đổi may mắn, nhưng chính vì vậy khuynh hướng phóng túng của Thiên Lương càng có cơ hội bộc phát. Thiên Đồng non dại thiếu sự dạy bảo của người trên thấy đổi thay may mắn thế nào chẳng ham vui nhảy vào, thiếu kinh nghiệm tất bị sa ngã. Bởi vậy Đồng Lương Tỵ Hợi gặp Lộc Mã thay vì tốt đẹp lại tà dâm, bất chính.
Nếu không gặp Lộc Mã nhưng có các cách đào hoa hội họp cũng luận như trên.
Chú ý 1: Lộc Tồn và Thiên Mã (cũng gọi là Lộc Mã) không thể luận như Hóa Lộc và Thiên Mã vì Lộc Tồn có tính bảo thủ, giảm tính vọng động của Đồng Lương Tỵ Hợi.
Chú ý 2: Tham Liêm Tỵ Hợi gặp hóa Lộc Thiên Mã tương tự, nhưng lý hiển nhiên hơn vì là hai sao chính phụ đào hoa.
41/ CỰ MÔN ÁM CHỦ TỐI HỈ NHẬT MINH
Cự Môn là đầu đảng của các sao ám, tượng sự bất mãn thị phi nên rất cần Thái Dương soi sáng, do đó Cự Nhật đồng cung là một cách tốt đẹp. Nhưng cần chú ý ở Dần Nhật vượng nên tốt đẹp hơn ở Thân. Cung Mệnh cư ở Thân có Cự Nhật là hạng người đầu voi đuôi chuột, thích đảm đương trọng trách nhưng hay bỏ việc giữa đường.
Ngoài ra Cự Môn cũng tốt hơn nếu gặp bộ tam minh Đào Hồng Hỉ. Ngược lại nếu cùng cung với một trong ba sao thuộc bộ tam ám Riêu Đà Kỵ hoặc hội họp với hai hoặc cả ba sao này thì rất phiền toái, đa đoan; dù đắc cách Cự Nhật cũng thế.
42/ CỰ NGỘ SÁT TINH NHẤT SINH TỌA NẠN
Trong các sao tĩnh thì Cự Môn – vì bản chất đã hàm tính xấu – sợ lục sát tinh hơn cả, gặp một trong lục sát cùng cung là phá cách. Nếu cư mệnh:
Cùng Kình hoặc Đà: Lắm thị phi.
Cùng Hỏa hoặc Linh: Lắm tai nạn
Cùng Không hoặc Kiếp: Thành ít bại nhiều.
43/ THIÊN ĐỒNG DẬU HÃM CÁT HÓA VINH QUANG
Thiên Đồng cực hãm ở Dậu (vì cung xung chiếu có Thái Âm hãm địa), nên theo lý cùng tắc biến nếu cát hóa lại biến thành kỳ cách, có thể tạo nên sự nghiệp huy hoàng.
Tuổi Bính Thiên Đồng ở Dậu (hãm) hoá Lộc, được Thiên Cơ ở Sửu (hãm) hoá Quyền tam hợp, thêm Thiên Việt cùng cung, Lộc Tồn ở Tỵ hội họp. Hết sức tốt đẹp.
Tuổi Đinh Thiên Đồng ở Dậu (hãm) hoá Quyền, được Thái Âm ở Mão (hãm) hoá Lộc xung chiếu, Thiên Cơ hóa Khoa ở Sửu (hãm) và Cự môn hóa Kỵ ở Tỵ (hãm) chiếu về, thêm Thiên Việt cùng cung. Chính cung hóa Quyền nên đắc cách Quyền Kỵ và gồm thâu cả tứ hóa. Tốt đẹp e còn hơn cả tuổi Bình.
44/ ĐỒNG CỰ ĐINH TÂN VÕNG LA ĐẠI QUÝ
Thìn là vị Thiên La, Tuất là vị địa võng. Cự ở Thìn xung Đồng ở Tuất đều là lạc hãm rất xấu, nhưng chính vì thế mà hoá cát lại thành cực tốt.
Tuổi Đinh Thiên Đồng cư Tuất hóa Quyền, Cự Môn hóa Kỵ thành cách Quyền Kỵ, có khả năng tạo dựng sự nghiệp trong cảnh khó khăn. Ngoài ra lại có Thái Âm hóa Lộc ở Dần (hãm), Lộc Tồn ở Ngọ chiếu về, ứng với tài lộc, may mắn. Thiên Đồng cư Thìn cũng rất tốt, nhưng không bằng Tuất vì thiếu Lộc Tồn tam hợp, và Thái Âm ở Thân (vượng) hóa Lộc không tốt bằng ở Dần (hãm).
Tuổi Tân Cự Môn cư Thìn (hãm) hóa Lộc, có Thái Dương ở Tý (hãm) hoá Quyền nên là kỳ cách tốt đẹp. Cự Môn cư Tuất cũng tốt đẹp, nhưng kém hơn ở Thìn vì Thái Dương ở Ngọ (miếu) hóa Quyền không bằng Thái Dương ở Tý (hãm).
Chú ý 1: Tuổi Bính Thiên Đồng hóa Lộc, Thiên Cơ hóa Quyền nên Thiên Đồng ở Thìn Tuất cũng tốt nhưng không bằng tuổi Đinh vì hai lẽ: Thứ nhất Thiên Cơ uy lực kém hơn Thái Âm, thứ hai bị Lộc Tồn ở vị nghịch lẽ âm dương.
Chú ý 2: Tuổi Quý Cự Môn ở Thìn (hãm) hóa Quyền được thêm Lộc Tồn ở Tý chiếu về nên cũng tốt đẹp, nhưng vẫn không bằng tuổi Tân có Thái Dương hãm cát hóa. Cự Môn ở Tuất thì kém hẳn.
45/ DẦN THÂN RIÊU HỈ CƠ NGUYỆT LĂNG LOÀN
Nguyệt cực âm nên dù là đế tinh vẫn yếu đuối, Cơ bề ngoài bảo thủ nhưng trong tâm tư biến đổi liền liền, Dần Thân lại là mã địa tượng xung động. Hai sao đồng cung ở đây không vững vàng, lại gặp Riêu (quyến rũ) Hỉ (vui tươi) thành cách đào hoa thì sao khỏi sa ngã. Nên đây là cách dâm đãng. Gặp các cách đào hoa khác cũng luận tương tự.
Nhưng chú ý: Nếu Cơ Nguyệt Dần Thân có thêm Không vong trấn giữ (Tuần Triệt hoặc Thiên Không cùng cung) thì ứng với luật "cùng tắc biến" của dịch, sắc lại biến thành không; nên càng có nhiều cách đào hoa càng có khuynh hướng tìm giải thoát trong cảnh tu hành.
46/ THÌN TUẤT KHÔNG VONG CƠ LƯƠNG TĂNG ĐẠO
Cơ Lương Thìn Tuất là miếu vượng rất tốt đẹp; cư mệnh là cách của bậc quân sư tài giỏi, gặp sát tinh cùng cung xâm phạm phải xuống cấp vẫn còn là hạng "nhất nghệ tinh nhất thân vinh". Nhưng Cơ Lương là hai sao nhu nhược, nên bị một trong các sao không vong cùng cung trấn áp (gồm có Tuần Triệt, Địa Không ở vị trí này ) tất chẳng còn gì cả, như người có của báu một lúc trắng tay, lại thiếu bản lãnh quật cường nên sinh thất chí, cư mệnh là cách của người chán đời đi tu.
47/ CỰ CƠ MÃO DẬU BẤT ĐÁO NHÂN DUYÊN
Cự Cơ Mão Dậu là một kỳ cách của Tử Vi, nếu gặp Tuần Triệt hoặc Đại Tiểu Hao để thành tựu lớn. Nhưng đây là kỳ cách do nhiều yếu tố xấu phá hoại nhau mà thành nên theo luật bù trừ được cái này mất cái kia.
Cự Cơ Mão Dậu cư Mệnh thì Phu thê ắt là Âm Dương Sửu Mùi như mặt trăng mặt trời tranh dành ánh sáng, là cảnh âm dương bất thuận; do đó là số tình duyên ngang trái.
48/ CƠ NHẬT ĐỒNG LIÊN NỮ NHÂN BẤT TÚC
Phái nữ mệnh có Thiên Cơ tất cung phu có Thái Dương là sao chính ứng với chồng. Thái Dương hãm hoặc đồng cung Thái Âm là cảnh vợ chồng bất thuận, Thái Dương cư Dần vượng đồng cung với Cự Môn cũng là mâu thuẫn, chỉ còn lại Thái Dương ở các cung Mão Thìn Tỵ Ngọ (ứng với mệnh Thiên Cơ tại Tỵ Ngọ Mùi Thân). Nhưng Cơ ở Thân tất đồng cung với Thái Âm bản chất dễ có sự thiếu đứng đắn, Cơ ở Mùi là hãm địa; nên Thiên Cơ cư mệnh chỉ có Tỵ Ngọ là tương đối tốt đẹp cho phái nữ, ngoài ra khó tránh cảnh nhân duyên dang dở.
Phú có câu "nữ mệnh đoan chính Thái Dương tinh, tảo ngộ hiền phu tín khả bằng", nghĩa là nữ mệnh có Thái Dương là người đoan chính, sớm gặp chồng hiền. Xét trên dịch lý e rằng câu phú này không đúng; bởi Thái Dương là sao cực dương cư mệnh phái nữ không hợp.
Thái Dương càng miếu vượng tính mâu thuẫn càng cao nên nữ mệnh có Thái Dương cư các cung Dần Mão Thìn Tỵ Ngọ dễ thành công trên đường sự nghiệp nhưng khó thuận nhân duyên. Sửu Mùi Âm Dương đồng cung khó tránh đôi lần dang dở, các cung còn lại vì hãm địa lại hóa ra đỡ xấu, chịu nhẫn nại qua những phút giây bất thuận thì vẫn có thể được hưởng cảnh bạch đầu giai lão.
Thiên Đồng là phúc tinh cư mệnh dễ gặp may mắn. Nhưng Thiên Đồng là nữ tinh yếu đuối, bản chất thay đổi vô chừng nên càng may mắn càng có khuynh hướng tự gây phiền toái cho mình. Nghĩa là trong cái tốt đã chứa sẵn mầm biến động, khó tìm hạnh phúc với chồng con; ngay cả Đồng Lương miếu ở Dần Thân cũng thế.
49/ CÁCH TUY HỌA PHÚC CHỦ YẾU THIỆN TÂM
50/ KHẢ DĨ AN NHIÊN ĐỨC NĂNG THẮNG SỐ.
Số mệnh vốn là xác suất nên họa phúc đều có thể đổi thay. Nếu phát thiện tâm thì có thể lấy đức thắng số mà được vạn sự an lành.
![]() |
![]() |