Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

Hướng dẫn xem bát tự đoán tài vận chuẩn xác

Sách Tam thế thư cho rằng, có thể xem bát tự đoán tài vận, thông qua lá số tử vi mà cụ thể là năm sinh để biết tài vận của một người là cường hay nhược.
Hướng dẫn xem bát tự đoán tài vận chuẩn xác

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Theo sách "Tam thế thư”, có thể xem bát tự đoán tài vận, thông qua lá số tử vi mà cụ thể là năm sinh để biết tài vận của một người là cường hay nhược. 


Huong dan xem bat tu doan tai van chuan xac hinh anh 2
 
Xem bát tự đoán tài vận theo phương pháp của “Tam thế thư” như sau: lấy số cuối năm sinh phối hợp với tháng sinh theo âm lịch và đối chiếu với các trường hợp ở dưới để biết tài vận tương ứng. 
 
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
0 bệnh chính trục bối hao khốn thiên hướng sát tài vượng ám
1 ám bệnh chính trục bối hao khốn thiên hướng sát tài vượng
2 vượng ám bệnh chính trục bối hao khốn thiên hướng sát tài
3 hướng sát tài vượng ám bệnh chính trục bối  hao khốn thiên
4 thiên hướng sát tài vượng ám bệnh chính trục bối hao khốn
5 khốn thiên hướng sát tài vượng ám bệnh chính trục bối hao
6 hao khốn thiên hướng sát tài vượng ám bệnh chính trục bối
7 bối hao khốn thiên hướng sát tài vượng ám bệnh chính trục
8 trục bối hao khốn  thiên  hướng sát tài vượng ám bệnh chính
9 chính trục bối hao khốn thiên hướng sát tài vượng ám bệnh
 

12 yếu tố xem bát tự đoán tài vận


1. Hướng lộc – siêu cấp cự phú
  Trong 12 trường hợp tài lộc thì hướng lộc là tốt nhất. Chính tài, thứ tài cái nào cũng đều tốt, cả đời tiền bạc hanh thông, sự nghiệp đại phát, trở thành đại cường hào.
2. Sát lộc – bôn ba lao lực   Nửa đời bôn ba vì tính cách không quyết đoán, muốn làm nhưng không đủ dũng khí, đến khi đủ quyết tâm thì cơ hội đã qua nên tuổi trẻ bỏ lỡ nhiều dịp tốt.
3. Tài lộc – tự lực cánh sinh   Muốn có tiền tài phải tự mình trả giá, tự thân lập thân, bỏ công bỏ sức. Là người thông minh, có năng lực, thích hợp làm bác sĩ, luật sự, nghệ thuật gia. Nửa cuối đời sung túc.   4. Vượng lộc – đại phú đại quý   Cũng giống như hướng lộc, vượng lộc là cách cục tử vi vượng tài, đại phú đại quý mệnh, có quý nhân phù trợ, làm giàu nhờ xã giao.   5. Ám lộc – trước khổ sau sướng   Do gánh vác người nhà nên nửa đời trước vất vả, không thể làm già bằng việc kinh doanh bất động sản. Nửa đời sau dựa vào bạn bè làm nên cơ nghiệp, tiền tài thịnh vượng lại trường thọ khỏe mạnh.
Phương pháp hóa giải bát tự vượng Thủy khuyết Hỏa Luận giải lá số tử vi có thiên can địa chi tương xung Hướng dẫn 5 bước cơ bản để tự xem bát tự luận số mệnh
6. Bệnh lộc – ham ăn lười làm   Năng lực kém, ham ăn lười làm, cơ hội đưa đến tận cửa cùng không biết tận dụng, không có năng lực cạnh tranh.
7. Chính lộc – cần kiệm thành phú   Tổ nghiệp phúc lộc kém, chủ yếu dựa vào lao động và tiết kiệm để phát đạt.    8. Trục lộc – vơ vét của cải   Tiền tài không thiếu, dù không phải phú hào nhưng tài sản đầy đủ. Khuyết điểm là trục lợi, lòng tham vô đáy nhưng lại keo kiệt, cất nhiều hơn tiêu nên cô độc.   9. Bối lộc – xa quê lập nghiệp   Phải bôn ba lao lực mưu sinh ở bên ngoài nhưng tài lộc khá.
10. Háo lộc – mau tới nhanh đi   Tiền tài mau tới nhanh đi, không thể quản lý tài sản nên bao nhiêu cũng hết, cuối đời nghèo khổ thê lương.
Huong dan xem bat tu doan tai van chuan xac hinh anh 2
 
11. Khốn lộc – thấy đủ là vui
  Bất luận là tài lộc ra sao thì cũng không thấy khổ vì tự mình biết hài lòng, phúc khí không tệ, đa số không cần lo lắng lúc tuổi già.
12. Thiên lộc – phúc ấm   Gia cảnh giàu có, sinh ra đã đầy đủ, sung túc nên chỉ cần bảo vệ tổ nghiệp là cả đời không lo cơm áo, không nên luồn cúi cầu tài kẻo thất bại.
 
► ## giúp bạn tra cứu tử vi trọn đời chuẩn xác
  Xem bát tự biết người phụ nữ sinh ra đã có phú quý mệnh Dựa vào tháng sinh tìm ra người dư dả tiền bạc từ trung vận Dựa vào bát tự tìm người khởi nghiệp thành công
Trần Hồng
   
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Hướng dẫn xem bát tự đoán tài vận chuẩn xác

Khi nào mới cần Ứng Dụng Quẻ Dịch

Cuộc sống vốn sinh sinh hóa hóa, biến đổi không ngừng, Dịch Lý là một khoa môn chuyên nói về Lẽ Biến Hóa – Hóa Thành của Vạn Hữu (mọi thứ Hữu Hình lẫn Vô Hình). Mọi vấn đề tạo tác của loài người dù có muốn hay không muốn đều nằm trong Lẽ Biến Hóa của Dịch.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Cuộc sống vốn sinh sinh hóa hóa, biến đổi không ngừng, Dịch Lý là một khoa môn chuyên nói về Lẽ Biến Hóa – Hóa Thành của Vạn Hữu (mọi thứ Hữu Hình lẫn Vô Hình). Mọi vấn đề tạo tác của loài người dù có muốn hay không muốn đều nằm trong Lẽ Biến Hóa của Dịch.

Mọi sự Hóa Thành như Thành thành công, Thành thất bại, Thành chưa xong, Thành tốt, Thành Xấu, Thành giàu, Thành nghèo, Thành có học, thành thất học, Thành nhớ, Thành quên…đều chịu ảnh hưởng của hai yếu tố quan trọng là Chủ quan và Khách quan (Chủ quan là ý mình. Khách quan là ý Trời là mọi biến động ngoài ta) chúng là âm dương luôn chi phối lẫn lộn với nhau. Lý Dịch là một Nguyên Lý vô song, là một Chân Lý là sự thật của mọi sự thật, chúng bao trùm cả chủ quan và khách quan.

Từ đó khi ta khởi sự tạo tác một việc gì nếu thấy lòng đắn đo, lưỡng lự, lo ngại, không yên… gọi là “Thiên Cơ máy động trong Nhân Cơ” (Bộ máy khách quan thông giao cảm ứng với bộ máy chủ quan của ta) là lúc ta cần xử dụng Lý Dịch để hiểu biết sự Hóa Thành ra sao, nhằm có sự chuẩn bị, né tránh, giảm bớt mọi rủi ro, thành – bại trong cuộc sống.

Ngoài ra Dịch Lý có thể giúp ta nhận diện, giải quyết các vấn đề như sau:

1/ Tri thiên mệnh để tận nhân lực.

2/ Tình huống phân vân chưa biết quyết định lựa chọn nào cho tốt?

3/ Định sự chân giả.

4/ Biết ý người.

5/ Hướng giải quyết tình huống vấn đề.

6/ Chọn ngày giờ tốt để khởi sự.

    ……..v.v và v.v

Dịch Lý là lý của Biến Hóa – Hóa Thành của Vạn Hữu, nên mọi động tĩnh sống động của muôn loài vạn vật đều được nhận biết qua Lý Dịch. Nên người học Dịch có thể  “thông dịch tiếng nói của thượng cầm hạ thú” qua Sự “Động – Tĩnh”  thường ngày trong cuộc sống.

Để nhận biết sự động và tĩnh ta áp dụng quy tắc “Đồng lấy dị mà luận – Dị lấy đồng mà quy”: Khi sự giống nhau nhiều thì ta lấy điểm khác biệt mà luận – Khi sự khác nhau nhiều thì ta lấy điểm giống nhau mà chọn. Sự diễn biến thường hằng mỗi ngày như mọi ngày thì gọi là Tĩnh, và trong sự tĩnh đó bỗng nhiên có một ngày xảy ra chuyện khác thường thì ngày đó gọi là Động.

Ví như anh A mỗi ngày làm việc đều đặn bình thường, nhưng có một ngày bỗng nhiên cảm thấy lòng bất yên, khó chịu, lo lắng …thì gọi là Động

Ví như thường ngày con cái ta cũng cẩn thận ngoan ngoãn, bỗng nhiên có một ngày nó đụng cái gì cũng đổ bể thì ngày đó gọi là Động.

Ví như ta có người thân quen thường ngày ăn nói cũng tử tế bình thường bỗng nhiên có một ngày phát lên nói một câu nghe lạ tai vui vẻ khác thường thì gọi là Động.

Ví như ta có một nhân viên có tính năng động vui vẻ, bỗng nhiên có một ngày anh ta trầm lặng hẳn, không nói gì đến ai thì gọi là Động.

Ví như bầu trời thường ngày cũng bao vì sao nhấp nháy lung linh bỗng nhiên đêm nay có một vì sao băng, xẹt xuất hiện thì gọi là Động.

 Ví như con Lu vật nuôi trong nhà thường ngày khi ta về nó chạy ra mừng vui vẫy đuôi quấn quýt, nhưng hôm nay ta về nó lại sủa khác thường xem ta như người xa lạ thì gọi là Động.

Ví như ta đang ngồi làm việc trong nhà bình thường như mọi ngày bỗng nhiên hôm nay có con thằng lằn rơi xuống trúng ta giật mình thì gọi là Động.

  Khi có những hiện tượng Động Tĩnh như trên, dân gian còn thường gọi là điềm  thì là lúc ta cần lấy Quẻ Dịch để “thông dịch tiếng nói của Tạo Hóa” đã mượn những hiện tượng Động Tĩnh trên để nhắn nhủ đến chính người đó hoặc cho tập thể nào đó một điều hung (xấu) hay cát (tốt) nhằm cho ta có sự chuẩn bị đón nhận hay né tránh…

 Vậy khi muốn Ứng Dụng Dịch vào cuộc sống hằng ngày ta phải trải qua 3 bước:

“Bước 1”: Để quyết định dùng.

“Bước 2”: Để An Dịch Tượng (lập quẻ Dịch)

“Bước 3”: Để luận Dịch tượng và đưa ra quyết định sau cùng.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Khi nào mới cần Ứng Dụng Quẻ Dịch

Vì sao phải xây nhà từ trong ra ngoài? –

Tất cả chúng ta đều biết rằng, khi xây dựng một ngôi nhà trước hết phải đào móng làm nền vững chắc, sau đó xây phòng ở, rồi đến các phòng khác và cuối cùng mới đến cửa và các công trình phụ, tường rào... và không ai làm ngược lại như vậy.   Phon

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tất cả chúng ta đều biết rằng, khi xây dựng một ngôi nhà trước hết phải đào móng làm nền vững chắc, sau đó xây phòng ở, rồi đến các phòng khác và cuối cùng mới đến cửa và các công trình phụ, tường rào… và không ai làm ngược lại như vậy.

757753ec91d7446435286c6858c18a81-xaynha

 

Phong thuỷ học giải thích rằng, nếu xây dựng từ ngoài vào trong sẽ làm cho uế khí luôn ám trong nhà, không thông thoáng, ảnh hưởng tới sinh hoạt thường nhật của chủ nhà. Còn theo thực tiễn thì khi thi công công trình nhà ở, nếu như hoàn tất công trình ngoài nhà trước rồi mới làm các công trình phía trong, thì khi vận chuyển vật liệu, rất dễ làm bẩn, sứt mẻ các công trình đã hoàn thành.

Nếu thi công từ trong ra ngoài, bạn không những khắc phục được tình trạng trên, mà còn tránh được hiện tượng chồng chéo giữa các tốp thợ do họ làm đi làm lại cùng một công việc, tiến độ sẽ nhanh, chắc, sớm hoàn thành và cũng tiết kiệm được chi phí xây dựng.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Vì sao phải xây nhà từ trong ra ngoài? –

Mơ thấy mình hay kẻ khác bội nghĩa vong ân: Giấc mơ có ý nghĩa tương phản với hiện thực –

Giấc mơ kẻ vô tình bất nghĩa là một giấc mơ có ý nghĩa tương phản với hiện thực. Mơ thấy người khác bội nghĩa vong ân lại là một tượng trưng của điều tốt, cho thấy bạn bè của người nằm mơ sẽ trân trọng tình bạn giữa họ với nhau. Nếu mơ thấy mình là k
Mơ thấy mình hay kẻ khác bội nghĩa vong ân: Giấc mơ có ý nghĩa tương phản với hiện thực –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mơ thấy mình hay kẻ khác bội nghĩa vong ân: Giấc mơ có ý nghĩa tương phản với hiện thực –

Dùng lửa đuổi điều rủi, đón điều may

Lửa từ lâu đã có ý nghĩa phong thủy cực kì đặc biệt. Nghi thức lửa mang tính biểu tượng mạnh mẽ, có tác dụng gột rửa tinh thần, tiêu hủy điều cũ, đón điều mới an lành.
Dùng lửa đuổi điều rủi, đón điều may

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nghi thức lửa thường được làm vào những ngày cuối năm để đón một năm mới tươi mới, tinh khôi và gặp nhiều điều may mắn. Nên chọn một nơi yên tĩnh, thoáng mát, sạch sẽ, chuẩn bị một cái ghế, than, củi khô và những điều, thứ xui xẻo muốn xua đuổi (hạt mù tạt đen, mè đen – đại diện cho những điều xấu xa). Vẽ hoặc in rmột con bọ cạp nhỏ màu đen, một con rắn nhỏ màu đen, và một con ếch nhỏ màu đen trên một mảnh giấy. Đây là những con vật đại diện cho tất cả những thứ tiểu nhân, nhỏ nhen, gây ra thị phi. 
 
Khi bắt đầu nghi thức, hãy giữ tâm thật tĩnh tại, suy nghĩ về tất cả những điều tiêu cực, những nỗi đau và thù hận rồi viết chúng ra giấy. 
 
Thời gian tốt nhất để thực hiện nghi thức phong thủy này là từ 5 đến 7 giờ tối. Đào một lỗ trên góc vườn hoặc đặt một cái xô, chậu có thể chịu được lửa, đặt các tờ giấy vẽ biểu tượng âm dương vào, xếp than củi lên trên lên trên và châm lửa. Khi ngọn lửa bùng lên là lúc nghi thức lửa diễn ra.
 
Giữ cho ngọn lửa cháy đều và mạnh rồi lần lượt thả những tờ giấy in hình rắn, bọ cạp, ếch vào lửa. Vừa đốt vừa nhớ lại những điều người khác gây hại cho mình. Tất cả những thứ đó được đốt đi và tâm hồn sẽ được gột rửa, tinh khiết.
 
Sau đó, tiếp tục ném vào ngọn lửa mảnh giấy đã viết về sự kiện, những điều không hài lòng, khó chịu, những nỗi sợ hãi, bất hạnh trong cuộc sống. Khi nhìn ngọn lửa đang đốt cháy mảnh giấy đó, nên buông tất cả những cảm xúc tiêu cực ra khỏi bản thân và cho phép bản thân mình hoàn toàn giải phóng, thư giãn. 
 
Lấy hạt mè và mù tạt màu đen và đốt chúng dưới ngọn lửa. Hãy tưởng tượng rằng chúng đại diện cho tất cả các suy nghĩ xấu, những hành động có hại, và những ý đồ xấu của mình. Đây là phần quan trọng nhất của nghi thức, bởi vì nó thực sự làm sạch nội tâm, xóa bỏ tất cả những suy nghĩ và hành động xấu của bản thân. Hãy chắc chắn rằng đã đốt cháy tất cả các hạt giống, không để lại bất cứ thứ gì. 
 
Hoàn thành nghi thức lửa, hãy dập tắt đám cháy và tập trung tinh thần nghĩ tới những điều vui vẻ, mới mẻ tiếp theo. 
ST

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Dùng lửa đuổi điều rủi, đón điều may

Những câu nói kinh điển của Jack Ma

Những câu nói kinh điển của Jack Ma. Jack Ma - Tỷ phú công nghệ giàu thứ nhì Trung Quốc Jack Ma (Mã Vân) luôn nổi tiếng về sự gần gũi, thẳng thắn

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Những câu nói kinh điển của Jack Ma. Jack Ma – Tỷ phú công nghệ giàu thứ nhì Trung Quốc Jack Ma (Mã Vân) luôn nổi tiếng về sự gần gũi, thẳng thắn và có phần lập dị của mình, hãy cùng điểm qua những phát ngôn nổi tiếng trong suốt sự nghiệp vĩ đại của người đàn ông này nhé.

Jack Ma, cha đẻ của đế chế thương mại điện tử khổng lồ Alibaba, đã nắm giữ vị trí người giàu nhất Trung Quốc từ lâu, trong năm vừa qua ông đã xuống hạng Á quân do sự phất lên của đại gia bất động sản Wang Jianlin. Tuy vậy, trong mắt rất nhiều người Trung Quốc, ông vẫn là đại gia số một tại đất nước này.

Nhưng ít ai biết “siêu đại gia” đã từng đi xin việc ở rất nhiều nơi, trong đó có cả KFC mà vẫn bị từ chối.

Là một trong những doanh nhân thành công nhất thế giới, công ty thương mại điện tử Alibaba của ông có hơn 100 triệu khách hàng giao dịch mỗi ngày, tổng tài sản của Jack Ma tính đến thời điểm này là hơn 20.4 tỷ USD.

Trong những buổi họp báo trên khắp thế giới, Jack Ma luôn để lại những câu nói khiến khán giả phải ấn tượng. Ít khi đề cập đến những điều quá cao siêu trong kinh doanh, vị thầy giáo ngoại ngữ này luôn tìm cách để đơn giản hóa tối đa điều ông muốn truyền tải đến người nghe. Trong buổi trả lời phỏng vấn với phóng viên Charlie Rose đến từ hãng CBS vào năm 2015, Jack Ma đã để lại cho người nghe nhiều điều đáng suy ngẫm bằng những câu nói của mình.

Những câu nói kinh điển của Jack Ma

Những câu nói kinh điển của Jack Ma

“Tôi hy vọng rằng 15 năm nữa, người ta sẽ quên đi thương mại điện tử là gì, vì nó sẽ thiết yếu như điện bây giờ vậy”

nhung-cau-noi-kinh-dien-cua-Jack-Ma-2

“Chỉ là một IPO nhỏ thôi mà” Jack Ma nói về việc việc Alibaba lập kỷ lục IPO ở thị trường Mỹ với 21,8 tỷ USD – lớn nhất trong lịch sử

“Khi KFC đến Trung Quốc. 24 người đến xin việc thì 23 người được nhận, và tôi là người còn lại”. Rất may là JackMa đã không đi bán cánh gà rán

“Chúng tôi thực hiện 60 triệu giao dịch mỗi ngày. Mọi người đều không biết nhau. Tôi không biết bạn là ai và tôi vẫn gửi sản phẩm cho bạn. Bạn không biết tôi là ai và bạn vẫn chuyển tiền cho tôi.”

“Khi chính phủ hỏi tôi: Jack, ông có thể thực hiện dự án này không? Tôi trả lời Không!”

“Chúng tôi làm kinh doanh. Dữ liệu là vô cùng quý giá. Nếu chúng tôi cung cấp dữ liệu cho một ai khác, điều này sẽ trở thành thảm họa”

“Họ gọi tôi là Jack điên rồ. Tôi nghĩ điên rồ cũng tốt. Chúng tôi điên rồ nhưng không ngốc nghếch.”

Nếu bạn không chịu bắt tay vào làm thì chẳng có điều gì là khả thi cả.

“Tôi nghĩ rằng trong 10 năm nữa, Alibaba sẽ lớn hơn cả Walmart.”

“Luôn luôn có sự cân bằng trong cuộc sống. Bạn nặng nề còn tôi thì nhỏ bé. Khi tôi nhỏ bé, tôi có thể nhảy. Còn bạn nặng nề, bạn không thể nhảy lên được.”

nhung-cau-noi-kinh-dien-cua-Jack-Ma-1

“Nếu chúng ta muốn thay đổi thế giới, hãy thay đổi bản thân chúng ta trước. Thay đổi thế giới có lẽ là công việc của Obama.”

“Một trong những bí mật tạo nên thành công của Alibaba là chúng tôi có rất nhiều nhân viên nữ.”

“Nếu bạn muốn giành chiến thắng trong thế kỷ 21, bạn phải để công việc này cho người khác, những người làm tốt công việc này hơn cả bạn. Điều này sẽ giúp bạn thành công.”

“Nếu Trung Quốc vẫn giữ mức tăng trưởng kinh tế 9%, sẽ có điều gì đó không ổn. Chúng ta sẽ không bao giờ nhìn thấy bầu trời xanh.”

“Xây dựng suy nghĩ, xây dựng văn hóa, xây dựng giá trị, xây dựng sự khôn ngoan. Tôi nghĩ rằng Trung Quốc đang đi theo hướng này.”


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những câu nói kinh điển của Jack Ma

Tìm hiểu ngay xem ý nghĩa ngày valentine trắng là gì?

Ở Việt Nam, ngày valentine đỏ 14/2 là ngày phổ biến và được biết đến rộng rãi hơn cả. Tuy nhiên trên thế giới người ta còn có ngày valentine trắng, valentine đen. Ý nghĩa ngày valentine trắng là gì?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

 Valentine có bao nhiêu ngày là thắc mắc chung của khá nhiều người. Ở Việt Nam, ngày valentine đỏ 14/2 là ngày phổ biến và được biết đến rộng rãi hơn cả. Tuy nhiên trên thế giới người ta còn có ngày valentine trắng, valentine đen. Ý nghĩa ngày valentine trắng là gì? Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu điều này rõ hơn trong bài chia sẻ sau đây.

Tìm hiểu ngay xem ý nghĩa ngày valentine trắng là gì?

Ý nghĩa ngày valentine trắng là gì?

Valentine đỏ 14/2 hỏi có lẽ mọi người đều biết bởi đây là ngày tình nhân truyền thống, ngày mà mọi đôi yêu nhau trên thế giới đều mong chờ. Đây là dịp để những người yêu nhau bày tỏ tình cảm của mình với nửa còn lại, họ thường tặng nhau chocolate, hoa hồng đỏ bên cạnh đó là những tấm thiệp, những món quà chan chứa tình yêu thương.
Bên cạnh ngày valentine đỏ còn có ngày valentine trắng, tuy nhiên không có quá nhiều người biết được ý nghĩa của ngày này. Ý nghĩa ngày valentine trắng là gì? ngày valentine trắng là ngày nào?

1. Valentine trắng

Valentine trắng rơi vào ngày 14/3, sau tròn 1 tháng kể từ ngày valentine đỏ. Valentine trắng còn biết đến với cái tên phổ biến hơn đó là White valentine.

2. Ý nghĩa ngày valentine trắng

Ý nghĩa ngày valentine trắng là gì? Trong tình yêu, dường như nó luôn mới mẻ theo từng ngày, người ta dường như yêu nhau hơn sau khi trải qua một thời gian dài gắn bó bên nhau vì vậy dường như một ngày valentine có lẽ là không đủ.
Bởi vậy, tại đất nước mặt trời mọc, một ngày valentine trắng đã được ra đời và nhanh chóng được nhiều người đón nhận.
Ngày này có ý nghĩa là ngày các bạn nam đáp lại tình cảm, tình yêu của các bạn nữ, người đã trao quà, trao tình yêu cho mình trước đó 1 tháng.  Valentine trắng cũng như valentine đỏ, những món quà có thể là chocolate trắng hoặc đen, trang sức hoặc cũng có thể là một vài món đồ chip màu trắng... hay chỉ đơn giản là một bông hồng, đơn giản là 2 người yêu nhau có thể ở bên nhau, như vậy là đã đủ rồi.

Xem thêm: Ý nghĩa của hiện tượng nháy mắt trái, giật mắt phải

3. Những điều bạn chưa biết về ngày lễ tình nhân valetine

Một vài điều về ngày valentine mà không phải ai cũng biết:
+ Ngoài ngày valentine trắng, đỏ, còn có ngày valentine đen rơi vào ngày 14/4. Màu đen thường tạo cho người ta cảm giác không tốt, tuy nhiên lại không phải như bạn nghĩ đâu nhé. Valentine đen khá nổi tiếng ở Hàn Quốc, vào ngày này các bạn trẻ những người chưa tìm được một nửa của mình hay những người tôn thờ chủ nghĩa độc thân thường tôt chức một bữa tiệc thật sôi nổi. Họ tự thưởng những món quà cho chính bản thân mình, họ tự khiến cho cuộc sống độc thân của mình thật vui vẻ.
+ Hoa hồng đỏ là loài hoa yêu thích của nữ thần tình yêu, đó là lý do tại sao vào ngày valentine người ta thường tặng nhau một bó hoa hồng đỏ thắm với tất cả tình cảm.
+ Cứ vào dịp valentine, thành phố verona tại ý, nơi mà Romeo và Juliet sinh sống, nơi đây sẽ nhận được hơn 1000 bức thư gửi tới Juliet
Trên đây là ý nghĩa về các ngày valentine mà Phong thủy số đã tổng hợp được. Hãy tham khảo để bổ sung thêm kiến thức về các thông tin xung quanh trong cuộc sống của mình nhé.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tìm hiểu ngay xem ý nghĩa ngày valentine trắng là gì?

Bàn về Cách - Thể Dụng của Tứ trụ

Môn Tử Bình có 1 câu quan trọng mà ai cũng thuộc lòng khi bắt đầu luận giải tứ trụ: "Dụng thần chuyên tầm nguyệt lệnh, dĩ tứ trụ phối chi, tất hữu thành bại."
Bàn về Cách - Thể Dụng của Tứ trụ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo



Có nghĩa là tìm dụng thần trong chi tháng là điều kiện thứ nhất, sau đó xem xét quan hệ của ngũ hành giữa các can chi còn lại, cách cục của tứ trụ từ đó mới biết là thành hay bại.

Thành tức là thành công, đạt được cách, còn gọi là nhập cách.

Bại là thất bại; cách cục của tứ trụ bị phá.

Giữa "Thành" và "Bại" còn xét được "Kị" và "Cứu Ứng".

Kị tức là cách cục không nên gặp, mức độ bị phá cách nhẹ hơn "bại".

Cứu ứng là khi gặp phá cách lại được giải thoát.

Lưu ý rằng các tài liệu chỉ dạy xét Cách Cục theo tứ trụ, mà rất hiếm khi nói rõ định đại vận ảnh hưởng như thế nào đến Cách Cục, vấn đề này có cần xét song song với sự thành bại của Cách Cục hay không. Các mệnh lý gia thời trước chỉ xét Cách Cục, sau đó mới luận đại vận nào sẽ tốt, đại vận nào sẽ xấu.

Quan niệm này là không cải được số mệnh. Mệnh có Cách gì thì nhất định sẽ diễn tiến theo chiều hướng đó. Cải được số hay không là một vấn đề khác, sẽ bàn ở một bài khác. Chúng ta chỉ nên học hỏi tại sao phải hiểu rõ Cách Cục của tứ trụ xét như thế nào.

Thí dụ như Quan cách.

Thành > Quan gặp Tài và Ấn, không bị hình, xung, phá, hại, không vong.

Bại > Quan gặp Thương quan, Quan bị khắc chế, bị xung mất, hợp mà trở thành kị thần, gặp không vong

Kị > Quan gặp Tài mà lại thêm Thương quan

Cứu ứng > Quan gặp Thương quan nhưng có Ấn giải. Khi Quan Sát hỗn tạp, Sát hay Quan được hợp. Quan bị hình, xung, nhưng được tam hội, tam hợp hiệp giải.

Chẳng hạn như Giáp mộc sanh tháng Dậu, tức Tân kim là Quan cách. Có can Đinh là Thương quan phá cách, vì Đinh khắc Tân. Cứu giải là nếu có Nhâm thấu ra, vì Nhâm hợp Đinh, nên Đinh không còn khắc chế Tân nữa.

Có 1 vấn đề quan trọng chúng ta nên nhớ rõ khi luận Cách:

1- Bản khí của chi tháng là Cách
2- hay can tàng nào thấu ra là Cách?

Vấn đề này các bạn sẽ gặp phải khi đọc vài tài liệu khác nhau. Theo KC thì Tử Bình trong thời gian xưa nhất dùng điểm 1 để luận Cách. Sau này dần dà mới thấy các tân phái cho rằng can tàng nào thấu ra thì lấy đó làm Cách.

Các bạn cũng thấy lý do rằng, khi nói "nguyệt lệnh" thì dĩ nhiên nói rõ là bản khí của chi tháng, như Dần có Giáp, Bính, Mậu, thì Giáp chính là Cách cục. Vì "lệnh" thì chỉ có 1. Các can tàng khác chỉ là phụ.

Nếu cho rằng vì Giáp không thấu mà Bính hay Mậu thấu ra, lại lấy Bính/Mậu làm Cách thì phải là quan niệm mới hơn, suy luận rộng thêm hơn ở thời gian sau này. Quan niệm rộng rãi này còn cho thấy giải quyết được rõ ràng khi thân vượng hay thân suy phải tòng. Nhất là về Quan/Sát cách, một trong những trọng điểm xét đoán của Tử Bình.

Trước khi luận sâu hơn về sự phối hợp phức tạp của tứ trụ, vì dĩ nhiên có rất nhiều tứ trụ khó nhìn ra ngay Cách cục, chúng ta nên tìm hiểu khi nào gọi là Thành, Bại, Kị và Cứu ứng. Ở trên đã nói về Quan, dưới đây là những cách cục của những thập thần khác.

Cách cục thành:

- Thân cường vượng có SÁT chế ngự, gọi là Sát Cách.
- Ấn không nhiều, gặp Sát hay Quan thấu can, dụng được Thực Thương để tiết khí. Hoặc Ấn quá mạnh gặp được Tài tinh vượng khí; Ấn cách thành công.
- Thực thần là Cách, có Tài tinh. Thực thần gặp Sát, không có Tài tinh. Thực thần gặp Sát nhưng có Ấn; Thực cách thành công.
- Thương quan gặp Tài, tất có tiết khí để thành hữu dụng. Thương quan vượng, có Ấn cũng vượng. Thương quan mạnh, thân nhược, có Sát và Ấn. Thương quan gặp Sát nhưng không có Tài. Gọi là Thương quan cách thành.
- Tài tinh là để sinh Quan, có Tài cách gặp Quan là hữu dụng. Tài cách gặp Thực sinh, lại có Tỉ Kiếp thì thân cường vượng, gặp Ấn vượng.
- Nhật chủ gặp lệnh tháng là Kiếp gọi là Dương nhận cách (đế vượng). Nếu thấu Quan Sát hay Tài Ấn đều hữu dụng.
- Lệnh tháng là Lộc (lâm quan), thấu Quan lại có Tài, Ấn, hoặc thấu Tài có Thực Thương đi kèm. Thấu Sát được chế phục, như vậy Kiến lộc cách thành.

Thế nào là Bại:

- Sát cách gặp Tài tinh mạnh lại không có Ấn chế ngự.
- Ấn cách quá yếu lại gặp Tài. Hoặc thân cường vượng, Ấn cách quá mạnh, lại có Sát. Như vậy Ấn cách bị hỏng.
- Thực cách gặp Kiêu thần, hoặc Thực sinh Tài gặp Sát thấu.
- Thương quan cách gặp Quan. Thương quan sinh Tài gặp Sát thấu. Thương quan cách gặp Ấn trọng thì thân vượng mà Thương nhược, cũng đều làm cho Thương quan cách bị phá.
- Tài cách yếu mà gặp nhiều Tỉ Kiếp. Tài cách gặp Sát thấu.
- Dương nhận cách không có Quan hay Sát.
- Kiến lộc cách không có Tài Quan, lại thấu Sát và Ấn là bại.

Cách cục kị khi gặp:

- Quan cách đương thành lại bị hợp
- Sát cách có Ấn lại thấu Tài tinh
- Sát cách có Thực chế lại gặp Ấn
- Ấn cách gặp Thực thần, kị gặp Tài vượng thấu can
- Thực cách có Sát hay Ấn không nên gặp Tài
- Thương quan cách sinh Tài, nhưng Tài bị hợp
- Tài cách sinh Quan, kị gặp Thương hay bị hợp

Thí dụ về Cứu ứng trong vài trường hợp:

- Tài cách gặp Tỉ Kiếp mạnh, có Thực tiết khí thân. Như Giáp sinh tháng tứ quí Thìn Tuất Sửu Mùi, có Ất thấu gọi là bị Tỉ Kiếp tranh Tài (Mậu Kỉ). Nếu thấu Bính, tức Tỉ Kiếp chuyển sang sinh Thực, Thực sinh Tài, như thế Tài cách đang bại trở thành có cứu ứng. Hoặc tứ trụ không có Bính, nhưng thấu Tân âm kim có thể khắc chế Ất Mộc cứu Tài.

- Bính sinh tháng Dậu, Tân kim là chính tài. Có Nhâm là Sát thấu. Tân kim sẽ sinh Nhâm thủy khắc Bính. Như thế gọi là Tài cách bị phá. Cứu ứng được là có Mậu chế ngự Nhâm, lại sinh cho Tân kim. Nếu không có Mậu lại thấu Đinh thì Đinh hợp Nhâm là hợp Sát. Như vậy Chính Tài cách vẫn gọi là thành cách.

- Ất âm mộc sinh tháng Hợi, nguyệt lệnh là Ấn, gọi là Ấn cách. Tứ trụ có Mậu hay Kỉ là Tài mà quá vượng hay thấu can, tất nhiên Tài tinh này phá Ấn, còn gọi là tứ trụ „có bệnh“. Thuốc trị cho bệnh là khi có Giáp thấu ra, Giáp là Kiếp khắc được Mậu để hộ Ấn. Nếu thấu Quí thì hợp được Mậu cứu Ấn.

Qua đó, chúng ta thấy rằng thoạt tiên là Cách cục bị phá hỏng vì sự khắc chế quá mạnh, nhưng có ngũ hành khác thấu ra và vượng khí, một là chế, hai là hợp, thì cách cục ban đầu được cứu ứng. Giống như bịnh mà có thuốc vậy.

Những trường hợp tương tự đều luận như trên. Nắm vững được sự cứu ứng như thế nào là hiểu được tất cả cách thành hay bại, kị.

Tứ trụ nam mệnh:

tài thương nhật chủ quan
Kỉ Bính Ất Canh
Mão Hợi Thìn
ất quí nhâm giáp mậu ất quí

Đại vận: Ất Hợi, Giáp Tuất, Quí Dậu, Nhâm Thân, Tân Mùi, Canh Ngọ, Kỉ Tị

Như đã nói trong những bài trên, vấn đề thường gặp phải ở bản khí của lệnh tháng không thấu, thiên can thấu ra lại không có can tàng, vì các chi Tí Ngọ Mão Dậu chỉ có nhất khí (ngọai trừ Ngọ tính thêm Kỉ, nhưng vì Kỉ gửi ở Đinh nên dùng theo). Như tứ trụ trên, Quí là Kiêu thần của Ất không lộ, các thiên can lộ không nằm trong lệnh tháng và trong các chi khác, vậy suy Cách Cục thế nào?

(Nhắc lại là Can ngày thì không tính là "thấu", như trong Mão có Ất, trong Thìn dư khí Ất. Nhưng đấy chỉ là khí của chính can ngày.)

Bản khí là Kiêu không thấu thì vẫn xét lực của Thủy trong trụ ra sao, đấy là điểm chính. Thứ nhì, vẫn gọi là Ấn cách (không ai gọi là "Kiêu cách", chỉ nhận định Quí là âm thủy với Ất âm mộc là quan hệ Âm sinh Âm, lực mạnh).

Tí gặp Hợi, lại thêm Thìn chứa Quí thủy, nên Ấn cách lực rất mạnh.

Nhưng khi nói đến cái "dụng", tức tứ trụ dụng can chi nào làm "bàn đạp" cho các sinh hoạt cuộc đời, mà ta gọi là "dụng thần" thì lại là chuyện khác. Lúc này mới nhìn thiên can thấu ra thập thần nào, xung chế ra sao, có hữu dụng được hay không, thì đấy là dụng thần của tứ trụ.

Như tứ trụ trên thì thấu Kỉ, Bính, Canh. Trên trụ tháng là ưu tiên, Bính Thương Quan là tính cách đầu tiên có khả năng hữu dụng.

Thương quan ngộ Quan (Canh) là điều bất thuận lợi. Nhưng may mắn rằng Quan bị Ất hợp, nên có thể nói là "khử" được Quan mà giữ được hình thái trọn vẹn của Thương quan.

Thương quan là điều hữu dụng vượt trội vì có Thiên tài kế bên. "Thương Quan sinh Tài" vì thế được gọi là dụng thần của người này. Các tài liệu sau này đều gọi đây là 1 "Cách", mà bỏ qua Quí trong lệnh tháng. Vả lại, nếu gọi Bính là Cách, hay thậm chí gọi Canh là Cách, thì cả hai thiên can này vô căn, vô gốc, làm sao có thể hữu dụng được?

Cần nên phân biệt giữa "Cách" và "Dụng" như thế.

Như vậy, Ấn Cách dụng Thương quan ở tứ trụ trên thành công. Thân vượng vì tóm lại là cách cục thành công.

Trên cơ sở thân vượng, hình thái của tứ trụ thành, tính cách mạnh mẽ của đương số được hình thành. Tất cả những cách cục thành công đều quí và có phúc, không chỉ riêng Ấn Cách. Riêng "Ấn" thời xưa nói như là cái "triện đóng dấu", đại biểu cho những địa vị cao trong xã hội.

Đại vận là con đường thể hiện được tính cách và năng lực của đương số, nếu nó thuận theo điều hữu dụng, không bị khắc chế quá sức thì mục đích theo đuổi nói toàn bộ là trôi chảy. Nếu ngược lại thì quí cách trở nên tầm thường, cho dù có thành đại phú ông, cũng chỉ là 1 trong những người giàu có thế thôi, không đạt được quyền lực của Ấn. Chính vì thế mà khi nói đến "Cách" đều nói đến bản khí của lệnh tháng thì giải thích rõ ràng hơn tất cả mọi việc trong tứ trụ.

Đại vận của tứ trụ trên thuận theo chiều Kim - Hỏa. Kim sanh Thủy Ấn từ những đại vận đầu. Đến vận Tân Mùi, Canh Ngọ, Kỉ Tị là hỏa vận, quyền lực lên đến bậc nhất thiên hạ thời Thế chiến thứ nhì. Cuối vận Kỉ Tị, lưu niên Quí Tị, 2 Tị xung 1 Hợi, Quí khắc Kỉ, bị nghẽn mạch máu mà chết.

Ở vấn đề tử vong lại không dùng Cách để luận, mà chỉ thuần ngũ hành suy vượng, xung khắc ra sao, nhưng đấy là một đề tài khác.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bàn về Cách - Thể Dụng của Tứ trụ

Giải mã những bí ẩn kinh hoàng xung quanh vụ đắm tàu "Titanic"

Tuy nhiên đến tối, khi người thợ ảnh tráng cuộn phim đã chụp, thì một kiểu ảnh đã khiến anh ta phải chú ý. Để nhìn rõ trong khuôn hình đó có hình gì, anh ta quyết định in đoạn phim ấy ra giấy
Giải mã những bí ẩn kinh hoàng xung quanh vụ đắm tàu "Titanic"

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Vụ đắm tàu “Titanic” năm 1912 đến nay vẫn còn gây nhiều tranh cãi. Gần đây nhất, có ý kiến cho rằng, do các đinh vít của tàu chưa đủ chuẩn, nên khi va vào núi băng trôi, tàu nhanh chóng bị vỡ và chìm dần. Thuyết này cũng ngay lập tức bị hãng tàu thuyền The White Star Line bác bỏ.

Câu chuyện dưới đây do Lê Sơn - nhà nghiên cứu văn học Nga sưu tầm, có lẽ cũng chỉ là câu chuyện giải trí thú vị… chứ chưa có một cơ sở khoa học nào. Hồn Việt đăng để bạn đọc thưởng lãm và biết thêm một cách người ta nhìn sự việc.

Câu chuyện này bắt đầu từ năm 1886 bằng một truyện ngắn của nhà báo Anh rồi tiếp diễn vào năm 1889 ở gần Cairo - Ai Cập, trong một khu khai quật khảo cổ học và kết thúc năm 1912 trên Đại Tây Dương bằng vụ đắm con tàu thế kỷ mang tên “Titanic” làm khoảng 1.500 người thiệt mạng.


Tàu Titanic lâm nạn.

Trong một cuộc khai quật khảo cổ học tại Thung lũng các đức vua ở Ai Cập vào mùa hè năm 1889, đoàn khảo cổ học nước Anh do huân tước Carvanon dẫn đầu, đã phát hiện ra hầm mộ nữ tư tế của thần Mặt trời là nhà chiêm tinh nổi tiếng Amen-Out. Thật may mắn, chiếc quách vẫn còn nguyên vẹn. Trên nắp quách có hình vẽ khuôn mặt một phụ nữ Ai Cập trẻ đẹp. Và sau đó, hầu như mọi người đều nhận ra rằng trong vẻ đẹp đó có cái gì ma quái. Nằm trong quách có một xác ướp ở trạng thái thật thê thảm. Đó chính là Amen-Out. Có lẽ hầm mộ đã bị cướp phá: trong đó không còn bất cứ một món trang sức nàocó giá trị.

Tuy thế, đối với các nhà khảo cổ học, vật phát hiện thật tuyệt vời, bởi lẽ xác ướp của nữ tư tế tuy ở trong trạng thái tồi tệ nhưng vẫn được bảo quản. Những truyền thuyết của các cư dân sống ở gần nơi khai quật nói rằng, kẻ nào khuấy động sự yên tĩnh vĩnh hằng của Amen-Out thì sẽ bị trừng phạt khủng khiếp. Có lẽ, không phải vô cớ mà trên quách còn ghi rõ dòng chữ: “Sau khi lai tỉnh, chỉ riêng ánh mắt của Người cũng đủ để tiêu diệt kẻ nào dám án ngữ trên con đường của Người”.

Sau đó ít lâu, dường như để xác nhận lời sấm truyền ghê gớm, huân tước Carvanon đã qua đời vì bệnh sốt rét. Những người khác trong đoàn khảo sát cũng lần lượt đi theo vị trưởng đoàn. Nguyên nhân của những cái chết rất khác nhau, song không ai có thể thoát khỏi sự trừng phạt của nữ tư tế cổ Ai Cập. Những nạn nhân tiếp theo của vụ trả thù được báo trước là những người sở hữu chiếc quách để xác ướp của Amen-Out. Có những người bỏ mình do tai nạn, có những người chết vì mắc một căn bệnh bí hiểm mà các bác sĩ không hiểu nổi, có một vài người tự nhiên mất trí. Một nữ chủ nhân cuối cùng của cỗ quách kinh dị đã thoát chết bằng cách đem hiến nó cho Viện bảo tàng nước Anh.

Tại Viện bảo tàng, một nhân viên nhiếp ảnh có nhiệm vụ chụp ảnh cỗ quách để đưa hiện vật mới tìm được vào danh sách các vật trưng bày. Việc chụp ảnh đã diễn ra suôn sẻ, máy móc hoạt động tốt, không thấy có hiện tượng nào đáng chú ý.

Tuy nhiên đến tối, khi người thợ ảnh tráng cuộn phim đã chụp, thì một kiểu ảnh đã khiến anh ta phải chú ý. Để nhìn rõ trong khuôn hình đó có hình gì, anh ta quyết định in đoạn phim ấy ra giấy. Theo trí nhớ của người thợ ảnh thì trên khuôn này phải hiện lên bức chân dung nữ tư tế được vẽ trên quách. Nhưng chiếu lên trên giấy là một hình lờ mờ khó hiểu. Người thợ ảnh liền nhúng tờ giấy ảnh vào khay thuốc hiện. Trên tờ giấy dần dần hiện lên… một khuôn mặt phụ nữ sống động, xinh đẹp với mái tóc đen dày và nụ cười bí hiểm dữ dằn trên môi. Người thợ ảnh cho rằng mình bị mất trí và chuyện lạ đó anh chỉ kể riêng cho vợ nghe. Ít lâu sau, anh đột ngột qua đời vì một cơn nhồi máu cơ tim ở tuổi sung sức nhất và hầu như không có bệnh tật gì.

Nhờ bản danh mục mới mà càng ngày càng có nhiều du khách đến thăm Viện bảo tàng. Nhiều người muốn tận mắt thấy xác ướp và cỗ quách của nữ tư tế cổ Ai Cập. Hai năm trôi qua và các nhân viên bảo tàng nhận thấy số tử vong của những người trông coi phòng trưng bày thứ nhất – phòng Ai Cập – đã tăng đáng kể, còn các vị khách nữ sau khi chiêm ngưỡng chiếc quách tuyệt đẹp thường bị bất tỉnh nhân sự. Thế là người ta quyết định đưa xác ướp cùng với chiếc quách vào buồng kho, còn một phiên bản giống hệt thì được đặt vào chỗ bỏ trống, có điều, không có xác ướp.

Năm 1912, Ban giám đốc Viện bảo tàng nước Anh quyết định bán cỗ quách chứa xác ướp cho một nhà sưu tập Mỹ với một số tiền lớn. Cỗ quách nọ được đựng trong một chiếc hòm gỗ bình thường, bí mật đặt sau phòng thuyền trưởng trên con tàu chắc chắn nhất thời đó – tàu “Titanic” – để vượt qua Đại Tây Dương sang Mỹ.
Tàu Titanic

Các hành khách của con tàu “Titanic” còn sống sót sau tai họa khủng khiếp kể lại rằng, trước khi xảy ra sự cố, thuyền trưởng đã có những hành động kỳ quặc đến khó hiểu. Chẳng hạn, ông ra lệnh thu hết tất cả ống nhòm của những người đứng trực gác trên tàu đưa về buồng mình khóa lại.

Lại nữa, không hiểu vì lý do gì mà hướng đi của con tàu nhiều lần bị thay đổi, rồi sau khi va phải núi băng trôi, tín hiệu cấp cứu được phát ra quá chậm. Có thể nguyên nhân gây ra những chuyện đó là do tác động mang tính chất định mệnh của xác ướp Ai Cập chăng? Nền văn minh dám làm náo động sự yên tĩnh linh thiêng của Amen-Otu và đã bị vị nữ tư tế trả thù.

Liệu còn có thể giải thích cách ứng xử lạ lùng của thuyền trưởng bằng cách nào đây?

Cũng cần phải nói thêm rằng, một viên chức hai mươi tuổi chịu trách nhiệm về việc đưa chiếc quách có xác ướp lên tàu “Titanic” sau đó ít lâu đã chết vì chứng suy tim cấp. Còn người đi theo xác ướp là huân tước Kentervil đã chết ngày 14/4/1912 trong làn nước lạnh giá của Đại Tây Dương cùng với phần lớn hành khách của con tàu.

Việc hạ thủy con tàu lớn nhất, sang trọng nhất thế kỷ diễn ra rất trọng thể và chính xác. Không hề có bất cứ một sự trục trặc nào, nếu như không kể đến việc bỏ trốn của một người thợ đốt lò là một chức vụ nhỏ bé và việc tìm người thay thế không lấy gì làm phức tạp. Hơn nữa, việc đi chuyến đi đầu tiên trên con tàu “Titanic” được coi là niềm vinh dự lớn.

Chuyện gì đã khiến cho người thợ đốt lò trốn khỏi con tàu “Titanic”? Mới đây, với việc người ta trục vớt con tàu “Titanic” thì câu hỏi ấy mới tìm được lời giải đáp. Nơi buồng ngủ của những người thợ đốt lò, trong chiếc tủ riêng của kẻ đào tẩu, người ta tìm thấy một cuốn sách xuất bản trước khi con tàu “Titanic” bị lâm nạn mười bốn năm.
Nội thất tàu Titanic

Cuốn sách có tên “Futility or The Wreck of the Titan” (Sự phù phiếm hay vụ chìm tàu của Titan) của nhà văn Morgan Robertson viết năm 1898 có rất nhiều điểm tương đồng với vụ đắm tàu Titanic một cách đáng ngạc nhiên. Chỉ riêng một điều là cuốn sách đã bị ngâm trong nước từng ấy năm mà không mục nát và vẫn còn có thể đọc rõ.

Tác giả của cuốn sách vốn là một nhà văn vô danh tiểu tốt. Do bị thất bại trong tiểu thuyết huyễn tưởng chuyên miêu tả những cuộc kịch chiến của những người ở hành tinh khác với loài quái vật khủng long vốn không có mấy độc giả. Morgan Robertson bèn chuyển sang viết truyện về người thực việc thực, nói về một con tàu lộng lẫy vượt đại dương đã bị đắm do va phải núi băng trôi. Hành khách đi trên con tàu thượng hạng ấy toàn là các nhà triệu phú, tỷ phú và họ cảm thấy hết sức an toàn. Nhưng khi con tàu bắt đầu chìm thì mới vỡ lẽ ra rằng số thuyền cấp cứu không đủ cho tất cả mọi người.

Nói chung, phần kết thúc cuốn sách khá bi thảm. Tác giả đã đặt cho con tàu bị nạn cái tên “Titan”, trước khi con tàu “Titanic” bắt đầu đóng được mười năm. Một loạt sự trùng khớp. Nhưng chưa hết. Sự khác biệt giữa những tính năng kỹ thuật của con tàu hư cấu “Titan” và con tàu có thực “Titanic” rất không đáng kể: chẳng hạn chiều dài cả “Titanic” là 882 fut, còn chiều dài của “Titan” là 880 fut, trọng tải của “Titanic” là 66 nghìn tấn, còn của “Titan” là 70 nghìn tấn. Số lượng hành khách hư và thực trên hai con tàu cũng gần trùng khớp: “Titanic” có 2.200 người, còn “Titan” có chẵn 2.000 người. Số thuyền cấp cứu kiểu mới trên “Titanic” là 20, chỉ hơn số thuyền cấp cứu trên con tàu hư cấu vẻn vẹn có bốn chiếc. Công suất máy của “Titanic” là 55.000 mã lực, còn của “Titan” là 50.000.

Còn một vài tính năng khác thì trùng khớp hoàn toàn. Chẳng hạn, tốc độ tối đa của cả hai con tàu là 24 hải lý. Cả hai con tàu đều có bốn ống khói và 3 chân vịt. Cuối cùng cả hai con tàu đều lâm nạn trong một tháng định mệnh – tháng Tư.
Xác tàu Titanic dưới đáy đại dương.

Niềm tin vào điềm gở đã cứu người thợ đốt lò thoát chết. Còn tấn thảm kịch thực sự đang chờ đợi các hành khách còn lại trên con tàu hiện đại nhất mà những người sáng tạo ra nó đã ngạo mạn đưa ra khẩu hiệu: “Đến thượng đế cũng không thể nhận chìm được con tàu này”.

… Con tàu từ từ chìm xuống nước. Trong số các hành khách hạng nhì ở trên boong có một người đàn ông đứng tựa lan can, mắt chăm chú nhìn xuống biển. Trên khuôn mặt ông ta không có biểu hiện gì của sự hoảng hốt. Ông không bổ nhào đến chỗ những chiếc thuyền cấp cứu, thậm chí không buồn mặc áo phao. Đôi môi tái xanh vì lạnh của ông ta luôn luôn thì thầm đọc một câu: “Chính ma quỷ đã viết cái truyện ngắn này và nó đã trừng phạt tôi!”. Đó là nhà báo người Anh nổi tiếng Ervard Wiliam Sted. Năm 1886, ông ta viết một truyện ngắn kể về một con tàu bị đắm do va phải núi băng trôi trên vùng biển Bắc Đại Tây Dương. Tất nhiên, trong lịch sử hàng hải những trường hợp như thế này không phải là hiếm.

Tên con tàu cũng là hư cấu. Sted gọi nó là “Majestic”. Nhưng có một điểm nhà báo phỏng đoán hoàn toàn chính xác: Thuyền trưởng tàu “Majestic” là người trùng tên với thuyền trưởng tàu “Titanic”. Hai người đều có tên là Edvard John Smith. Một điều đáng ngạc nhiên nữa là nhà báo này vốn suốt đời quan tâm đến những hiện tượng tâm lý khác nhau, lại không nhận thấy lời cảnh báo nằm ngay trong chính truyện ngắn của mình. Sted giã từ cuộc sống khi con tàu “Titanic” bị chìm cũng như hàng trăm hành khách khác không mảy may nghi ngờ về tai họa đang đến gần.

Những sự cố trên đây đã bổ sung những tư liệu mới để cùng với những giả thuyết, những truyền thuyết khác nhau góp phần vén màn bí ẩn về cái chết bất đắc kỳ tử của con tàu thế kỷ “Titanic”.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Giải mã những bí ẩn kinh hoàng xung quanh vụ đắm tàu "Titanic"

Những phong tục đẹp ngày Tết

Chơi hoa, đi chợ Tết, gói bánh chưng... là những phong tục đẹp của ngày Tết.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1. Chơi hoa

Mỗi dịp xuân về, chúng ta đều đón Tết vào đầu năm mới âm lịch. Không khí Tết thực sự bắt đầu vào rằm tháng chạp. Ai trồng hoa bích đào (miền Bắc) và mai (miền Nam) đều biết ngày này, ngày mà người ta phải bứt bỏ lá để cho hoa trổ bông đúng ngày mồng một Tết. Không phải ai cũng làm công việc này vì tính chuyên nghiệp trồng hoa cảnh rất cao, tuy nhiên, chơi hoa đào, hoa mai ngày Tết là một truyền thống, và để hoa nở đúng ngày mồng 1 Tết thì duy nhất có ở Việt Nam.


Nếu như người Nhật tự hào về bonsai thì người Việt Nam tự hào về chơi hoa. Nhưng đáng tiếc có một số loài hoa quý như thủy tiên, hoa quỳnh, thường được giới thượng lưu ngày xưa xếp vào loại hoa đón Tết cao cấp, xem hoa nở để đoán vận may, thì đến nay hầu như không còn mấy ai biết đến trong ngày Tết. Thời gian thay đổi thì các thú vui ngày Tết cũng có những đổi thay, song truyền thống hoa Tết đại chúng ở Việt Nam ngày nay còn có thêm nhiều loại như hoa lan, hoa cúc, hoa tulíp… được phát triển từ trong nước và du nhập từ nước ngoài vào. 

2. Tiễn ông Công công Táo lên trời

Tương truyền ở mỗi gia đình kể từ khi loài người biết dùng lửa để ăn chín đến nay luôn luôn trong nhà có ông Công ông Táo. Ông Công được xem là thần đất giữ nhà và biểu tượng của ông là cây nêu ngày Tết. Nay, phong tục trồng cây nêu đã bị mai một vì có nhiều người ở nhà tầng nên không có đất. Còn ông Táo được dân gian gọi là “ông vua bếp”. Vua bếp là vị thần cai quản việc nấu ăn trong mỗi gia đình gắn với câu ngạn ngữ “có thực mới vực được đạo”. Một cỗ bếp có ba ông vua bếp được nắn bằng đất thó (đất sét) có hình chóp cụt uốn cong cúi đầu vào nhau tạo thành thế “kiềng ba chân”.

Việc tiễn đưa ông Táo về trời là một phong tục đẹp với ý nghĩa tâm linh. Không tiễn ông Táo về trời là có gì đó khuất tất đối với trời nên sợ không dám làm lễ. Lễ ông Táo về trời bao giờ cũng có việc thả cá chép làm phương tiện cho ông. Đây cũng là mặt đời sống thiêng liêng của cư dân sông nước.

3. Đi chợ Tết, xin chữ về thờ

Đi chợ Tết ngày xưa chủ yếu là mua lá dong, mua thịt, mua hành để về gói bánh chưng. Ngoài ra, người ta không quên qua cổng chợ xin thầy đồ mấy chữ về thờ vì ngày xưa đa phần không biết chữ nên mới có phong tục thờ chữ trong nhà để mơ ước con cháu sau này được học hành, làm ăn phát đạt. Chữ được chọn để thờ thường là chữ Tâm, Phúc, Đức… Phong tục thờ chữ ngày nay đang được phục hồi bằng thư pháp thể hiện một dân tộc hiếu học trong lịch sử và hôm nay.

unnamed-7773-1390549085.jpg

 Phong tục thờ chữ ngày nay đang được phục hồi bằng thư pháp - Ảnh: Lê Phương

4. Gói bánh chưng, bánh tét

Phải là những người có bàn tay khéo léo mới gói được, nếu không bánh sẽ nứt góc khi luộc. Đây cũng là nét văn hóa cộng đồng cao khi người này nhờ người kia gói bánh. Luộc bánh chưng là công đoạn được nhiều người thích nhất. Đêm những ngày gần Tết, trời se lạnh mà ngồi chờ đợi bên nồi bánh chưng thì còn gì thú bằng. 


Bánh chưng là một phong tục có từ nền văn minh lúa nếp (không đơn giản là lúa nước). Lúa nếp chỉ tìm thấy dấu vết cổ xưa ở đồng bằng sông Hồng và gắn với câu chuyện bánh chưng, bánh dầy từ thời vua Hùng thứ 18 khi kén phò mã. Ngày nay bánh chưng bánh tét vẫn là phong tục thưởng thức ẩm thực Tết vô cùng đẹp của dân tộc ta.

5. Lau dọn nhà

Tất cả đồ vật, chén bát đũa đều được đem ra sửa soạn và trưng bày. Công việc dọn dẹp ngày Tết có ý nghĩa quan trọng để chuẩn bị “tiễn năm cũ, đón năm mới”. Cùng công việc dọn dẹp cũng là lúc xem lại xem còn nợ nần ai cái gì thì phải trả, không để nợ hai năm mà thành “nợ cả đời”. Đây là phong tục tổng kết các quan hệ để xem nợ thì phải trả trước Tết, ơn thì phải đem lễ vật đến để đáp ơn, cũng có ý không nợ ơn qua năm.

6. Đón giao thừa

Giao thừa là lúc chứng kiến trời đất gặp nhau. Khi trời đất gặp nhau sẽ toát ra một linh khí mà ai lúc đó được chứng kiến sẽ thấy trào dâng cảm xúc. Đón giao thừa bao giờ cũng cúng ngoài trời, có thể cúng mặn hoặc cúng hoa quả. Cùng với việc cúng giao thừa này, trên bàn thờ trong nhà bao giờ cũng có ngũ quả gồm chuối (chuối tiêu), bưởi, bòng, cam quýt. Ở miền Nam thờ trái theo ngôn ngữ nên thường có ngũ quả gồm mãng cầu (cầu), dừa (vừa), đu đủ (đủ), xoài (xài), sung (sung túc) hoặc dứa (thơm); đó là cầu - vừa - đủ - xài - sung hoặc cầu - vừa - đủ - xài - thơm.

7. Xông đất mồng 1 

Xông đất có thể là chọn người từ trước và người được chọn sẽ đến vào lúc sớm nhất trong năm. Xông đất được tính từ lúc sáng sớm (mặt trời hé rạng) và trong ngày mồng một. Người kỹ tính không đến thăm nhà khác vào ngày mồng một, nhất là người còn để tang người thân. Cũng có người chọn sự ngẫu nhiên trong việc xông nhà để chiêm nghiệm trong năm.

8. Lễ

Lễ là nghi lễ tôn ti trật tự tổ tiên cố cụ, ông bà, cha mẹ, con cháu, họ hàng, bà con hàng xóm, khách thập phương. Tất cả đều được trân trọng trước sau, vì thế mới có câu “mồng một lễ cha, mồng hai lễ mẹ, mồng ba lễ thầy”. Cha là bên nội để lại cho ta dòng họ (theo phụ hệ) vì thế được xem là quan trọng. Mẹ là bên ngoại cho ta thân thể làm người, vì thế mà phải trân quý. Thầy là người cho ta hiểu biết nên phải biết kính mến.

GS. TS Vũ Gia Hiền


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những phong tục đẹp ngày Tết

Thực hư việc tỏi xua đuổi tà ma

Tỏi trừ tà ma: Dân gian lại tin rằng tỏi có thể xua đuổi được tà ma, vậy thực hư thế nào?
Thực hư việc tỏi xua đuổi tà ma

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Theo truyền thống Phật giáo Bắc truyền hay còn gọi là Phật giáo Phát triển, những Phật tử khi ăn chay nên kiêng cữ ngũ vị tân (hành, tỏi...) vì sợ bị ma quỷ kéo đến liếm môi. Trong khi đó, dân gian lại tin rằng tỏi có thể xua đuổi được tà ma, vậy thực hư thế nào?


1. Phật tử kiêng kị ăn ngũ vị tân

Ngũ vị tân là năm món gia vị có mùi cay nồng gồm: Hành (cách thông), hẹ (từ thông), tỏi (đại toán), kiệu (lan thông) và hưng cừ, tên khoa học là Allium fistulosum, là loại gia vị có hình dáng và mùi vị tương tự củ nén không có ở Trung Quốc và Việt Nam.

Thuc hu viec toi xua duoi ta ma hinh anh
 
Phật tử không nên ăn ngũ vị tân vì đặc tính của những thứ này nó chứa nhiều tố chất kích thích và mùi vị cay nồng, nếu ăn nhiều thì thân thể có mùi hôi, nóng nảy và bị kích dục. Trong Kinh Phạm Võng, quyển hạ, Phật dạy: “Là Phật tử thì không được ăn ngũ vị tân, nếu ai cố ý ăn thì phạm khinh cấu tội”.

Do đó, mà trong Kinh Lăng Nghiêm, quyển 8, Phật dạy: “Các chúng sinh cầu Thiền định (Samadhi) không nên ăn năm món cay nồng của thế gian. Vì năm món cay nồng đó nếu ăn chín thì phát dâm, ăn sống thì sinh nóng giận.

Sách giảng pháp có ghi: “Người nào ăn năm món cay nồng ấy thì dẫu có tài giảng thuyết mười hai bộ kinh, chư Thiên mười phương đều chê bai hôi thúi và xa lánh. Ma quỷ nhìn người ăn mấy món đó liền kéo đến liếm môi, liếm mép họ, vì thế nên thường ở chung với ma quỷ. Phước đức của người ăn ngũ tân mỗi ngày một tiêu dần. Bồ tát và thiện thần trong mười phương không đến ủng hộ người ấy”.

2. Dùng tỏi xua đuổi tà ma?


Vậy tại sao trong dân gian vẫn truyền nhau cách dùng tỏi để xua đuổi tà ma? Điều này được bắt nguồn từ Trung Quốc thời xưa khi họ chủ yếu sử dụng tỏi để trừ tà. Nên hiểu tà ở đây là những bàn môn tả đạo dùng quyền phép (giống như bùa ngải ở Việt Nam) để quấy nhiễu, hoành hành đối phương. Người ta dùng tỏi để giải trừ bùa ngải đó, khiến mọi người không bị yểm bùa.

Thuc hu viec toi xua duoi ta ma hinh anh
 
Ngoài ra, theo như cách lí giải từ những tín ngưỡng dân gian, Thần Tài (Ông Địa) và những bậc Thần, Thánh tuy có sức mạnh siêu nhiên nhưng ở một giới hạn nhất định. Những loài ma quỷ có công phu cao hơn sẽ phá phách, làm tổn hại... tới các vị này. Vậy nên, tỏi sẽ làm cho ma, quỷ giảm đi một phần công lực nào đó hoặc làm chúng khiếp sợ mà bỏ đi, không gây tổn hại cho Thần Tài, Thổ Địa.

Đây chỉ là tín ngưỡng dân gian truyền khẩu cho nhau, người tu Phật không nên bàn luận nhiều, nên hiểu không nên bàn luận, vì bàn luận thì sai. Đồng thời cũng không tín ngưỡng, tín ngưỡng thì thành mê tín.

► Mời các bạn khám phá thêm: Thế giới tâm linh huyền bí bốn phương

Nguồn Internet

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Thực hư việc tỏi xua đuổi tà ma

Xem tình duyên của người tuổi Thìn nhóm máu A

Nhìn chung, những người tuổi Thìn nhóm máu A không biết cách thể hiện tình cảm với người mình yêu. Ngay cả khi ở những thời điểm quan trọng nhất,
Xem tình duyên của người tuổi Thìn nhóm máu A

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nhìn chung, những người tuổi Thìn nhóm máu A không biết cách thể hiện tình cảm với người mình yêu. Ngay cả khi ở những thời điểm quan trọng nhất, họ cũng để lỡ mất  nhiều cơ hội tốt.

nguoi tuoi Ngo coi tinh yeu la tren het
 

Điều đặc biệt ở những người này khi yêu là họ rất ít khi thể hiện tình cảm của mình ra bên ngoài. Trừ khi là người mà họ thầm yêu trộm nhớ bấy lâu nếu không họ sẽ không bao giờ chủ động tìm cách tiếp cận. Vì vậy, khi kết thành đôi thì tình yêu của họ sẽ vô cùng hạnh phúc và bền chặt.

Nếu vì một lí do gì đó mà họ phải chia tay người mình yêu thì họ sẽ vẫn nhớ về người đó. Họ coi đây là động lực để cố gắng tiến lên trong công việc và sự nghiệp sau này.

Khi xây dựng gia đình, đàn ông tuổi này vẫn luôn cố gắng làm tròn trách nhiệm của người chồng tốt, một người cha mẫu mực. Mặc dù đôi lúc dấu ấn về cuộc tình trong quá khứ còn vương vấn trong tim nhưng trong cuộc sống hiện tại, họ luôn biết chừng mực, tuân thủ các quy tắc đạo đức trong xã hội để không làm gì có lỗi với gia đình, vợ con.

Sau khi kết hôn, nữ giới tuổi này sẽ trở nên nhu mì, hiền dịu hơn. Họ sẽ là người mẹ đảm đang chăm lo tốt cho con của mình để chồng hoàn toàn yên tâm phát triển sự nghiệp. 

(Theo 12 con giáp về tình yêu hôn nhân)

 

 


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tình duyên của người tuổi Thìn nhóm máu A

Đặc tính của sao Thiên Cơ

Thiên Cơ đắc địa là người nhân hậu, từ thiện, rất thông minh, khôn ngoan, có óc xét đoán, có nhiều mưu trí, làm việc gì đều có chiến lược, chiến thuật hẳn hoi.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đặc tính của sao Thiên Cơ

Đặc tính của sao Thiên Cơ

Tìm hiểu về đặc tính của sao Thiên Cơ trong lá số Tử Vi

Tên sao Đẩu Phận Âm dương ngũ hành Hóa Chủ Tứ hóa
Thiên cơ Nam đẩu thứ 3 Âm mộc Thiện Huynh đệ, trí tuệ Ất: Lộc, Bính: Quyền - Đinh: Khoa - Mậu:kị

Thuộc tính âm dương ngũ hành của sao Thiên Cơ là âm mộc, là sao thứ 3 thuộc chòm sao Nam Đẩu, chủ về trí tuệ, tư tưởng, anh em, hệ thần kinh, hóa khí là thiện, Hóa Kị là hung (chủ về tổn thương thần kinh, u não), làm chủ cung huynh đệ.

Đặc trưng của sao Thiên Cơ là đa tài đa nghệ, có tính "động" ở đây không phải là những biến động trong cuộc đời mà là động não, hoạt động, thường phải bôn ba lao lực, vì vậy phản ứng khá nhanh nhạy, giỏi vận động, liên lạc, giao thiệp, vạch kế hoạch và phân tích, xử sự có lý lẽ, điềm tĩnh mà có khí phách. Có lợi khi người làm công việc như phục vụ kỹ thuật chuyên môn, truyền bá phần nhiều là phần thiết kế, vạch kế hoạch chứ không phải thực thi, thực hành, vì thiếu tính ổn định, nên tối kị theo nghề kinh doanh hay tự sáng lập sự nghiệp.

Sao Thiên Cơ còn có tên là sao Thiên Tú, định số trong mệnh là phò tá vua mà hành sự, giải hung hiểm của nghịch cảnh. Nếu gặp cát tinh lại đắc địa thì mọi việc đều tốt đẹp, chăm đi lễ Phật, có hứng thú đặc biệt với tôn giáo hoặc mệnh lí, kính trọng người thân, phù hợp làm tăng đạo ở núi rừng, không có lòng ác độc bất nhân, có khả năng tùy cơ ứng biến, có tầm nhìn xa, làm việc có phương pháp. Nữ mệnh nếu gặp sao Thiên Cơ, phần nhiều chủ về phúc thọ, gặp cát sẽ cát, gặp hung sẽ hung; nếu gặp sao Thiên Lương thì bản thân sẽ có biệt tài về một lãnh vực nào đó.

Sao Thiên Cơ không có năng lực khống chế hóa giải sát tinh, vì e rằng trí tuệ của Thiên Cơ sẽ giúp kẻ ác. Sao Thiên Cơ cũng rất sợ gặp sao Hóa Kị,  trong hạn nếu gặp hung sát hội chiếu hoặc Hóa Kị, nếu không được cát tinh cứu ứng, nên đề phòng tai ách, tốt nhất là nên thận trọng phòng thủ mà không nên hành động.

Bốn sao Thiên Cơ, Thái Âm, Thiên Đồng, Thiên Lương nếu hội tụ tại ba cung mệnh, quan, tài, là cách "Cơ Nguyệt Đồng Lương" rất thích hợp với sự nghiệp tôn giáo, văn hóa, truyền bá. Nếu sao Thiên Cơ và sao Cự Môn cùng ở cung mệnh tại Mão, Dậu là cách cục "Cự cơ đồng lâm" có thể là người đứng đầu trong lãnh vực khoa học công nghệ cao. Nếu sao Thiên Cơ, Thiên lương cùng ở tại cung Thìn và cung Tuất, hoặc tại cung Thiên Di chiếu về cung Mệnh, là cách cục "Thiện ấm triều cương", chủ về phúc thọ gồm đủ. Nếu sao Thiên Cơ và Sao Cự Môn cùng thủ mệnh tại cung Dậu, lại đồng cung với Hóa Kị ở tam phương tứ chính, là cách cục "Cự Cơ hóa Dậu", chủ về bôn ba vất vả, gặp nhiều thất bại, nếu là nữ mệnh thì khó tránh lênh đênh phiêu bạt.

Ca quyết:

Thiên cơ huynh đệ chủ, Nam Đẩu chính diệu tinh

Tố sự hữu thao lược, bẩm tính tối cao minh

Sở vi tối hiếu thiện, diệc khả tác quần anh

Hội cát chủ hưởng phúc, nhập cách cư hàn lâm

Cự môn đồng nhất vị, võ chức áp biên đình

Diệc yếu quyền phùng sát, phương khả lập công danh

Thiên lương tinh đồng vị, định tác đạo dữ tăng

Nữ nhân nhược phùng thử, tính xảo tất dâm bôn

Thiên đồng dữ Xương Khúc, tụ củng chủ hoa vinh

Thìn Tuất Tý Ngọ địa, nhập miếu hữu công danh

Nhược tại Dần Mão Thìn, Thất sát tịnh Phá quân

Huyết quang tai bất trắc, Kình Đà cập Hỏa Linh

Nhược dữ chư sát hội, tai hoạn hữu ách kinh

Vũ ám Liêm Phá hợp, lưỡng mục thiểu quang minh

Nhị hạn lâm thử tú, sự tất hữu biến canh

Nghĩa là:

Thiên Cơ chủ cung huynh đệ, là chính diệu nam Đẩu

Làm việc có thao lược, bản tính cực thông minh

Hành vi rất lương thiện, mà cũng là hơn người

Gặp cát tinh sẽ hưởng phúc; nhập cách vào hàn lâm

Đồng cung với Cự Môn, quan võ trấn biên cương

Nhưng cũng cần gặp Hóa Quyền, Thất Sát; mới lập được công danh

Đồng cung với Thiên Lương, số định làm đạo sĩ, sư tăng

Mệnh nữ gặp sao ấy, tính khéo dễ đa tình

Thiên Đồng cùng Xương, Khúc; tụ hội vây chiếu chủ vinh hoa

Cung Thìn, Tuất, Tí, Ngọ; nhập miếu có công danh

Nếu tại Thìn, Dần, Mão; Thất Sát cùng Phá QUân

Dễ nạn tai bất trắc; Dương, Đà cùng Hỏa, Linh

Nếu như gặp hung sát; gặp họa ách tai ương

Vũ ám hợp Liêm, Phá; hai mắt chẳng được tinh

Hai hạn gặp sao đó; việc thay đổi khôn lường   

 


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đặc tính của sao Thiên Cơ

Nghề nghiệp phù hợp với người tuổi Sửu

Người tuổi Sửu luôn mong có một công việc ổn định, mang lại nhiều đam mê, hứng thú. Đức tính kiên nhẫn chính là tài sản quý giá nhất mà họ có được. Khi đã
Nghề nghiệp phù hợp với người tuổi Sửu

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Người tuổi Sửu luôn mong có một công việc ổn định, mang lại nhiều đam mê, hứng thú. Đức tính kiên nhẫn chính là tài sản quý giá nhất mà họ có được. Khi đã chuyên tâm đầu tư cho công việc ưa thích, chắc chắn họ sẽ gặt hái được những thành quả tốt đẹp.

(Ảnh chỉ mang tính chất minh họa)

Tuy nhiên, những công việc mà họ cho rằng không phù hợp với bản thân thì họ sẽ không đầu tư, hợp tác. Thậm chí, họ chấp nhận thua thiệt chứ nhất định không chịu tiếp nhận công việc mà mình không hứng thú.

Khi năng lực và thái độ làm việc của họ được người khác thừa nhận thì họ sẽ càng chăm chỉ hơn để được thăng chức. Cũng nhờ đức tính này mà họ có thể đảm nhiệm tốt những công việc cấp trên giao phó mà người khác không thể làm được.

Một đức tính đáng chú ý của những người tuổi Sửu là kiên trì, cố gắng đến cùng trong mọi công việc. Vì vậy, họ nên theo đuổi chuyên ngành về kỹ thuật hoặc nghiên cứu khoa học tự nhiên, xã hội. 

Nhờ sự nỗ lực không ngừng cho sự nghiệp trong suốt cuộc đời mà rất nhiều người trong số họ đã đạt được thành công nhất định với các chức danh được nhiều người nể trọng như: bác sĩ, luật sư, nhà văn, nhà hoạt động xã hội, nhà doanh nghiệp, giáo viên.

Theo 12 con giáp về sự nghiệp cuộc đời

 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nghề nghiệp phù hợp với người tuổi Sửu

Các ngọn núi xung quanh huyệt mộ

Sa chỉ các ngọn núi (quan sơn, quỷ sơn, cầm sơn, diệu sơn), gò xung quanh huyệt mộ.
Các ngọn núi xung quanh huyệt mộ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Sa là các hạt cát, sỏi. Trong phong thủy, sa chỉ các ngọn núi (Quan sơn, Quỷ sơn, Cầm sơn, Diệu sơn), gò xung quanh huyệt mộ.

Cac ngon nui xung quanh huyet mo hinh anh
Sa là những núi đồi xung quanh huyệt mộ

Ý nghĩa của sa rất rộng. Sa còn chỉ tất cả các gò đống có hướng nghênh triều huyệt mộ. Từ Kế Thiện trong sách Địa lý nhân tử nên biết chương Sa pháp nói: “Cái gọi là sa chỉ các ngọn núi gò trước sau, phải trái, xung quanh huyệt mộ… tiền trào, hậu lạc, tả long, hữu hổ, la thành, thị vệ, thủy khẩu là những ngọn  núi gò đất xung quanh ở gần huyệt mộ”. Đồng thời, sa còn chỉ các núi xung quanh ở gần huyệt mộ như Quan sơn, Quỷ sơn, Cầm sơn, Diệu sơn."

Theo vị trí và hình dạng khác nhau, sa được chia làm các loại: Thị sa, Vệ sa, Hộ sa, Triều sa, Nghênh sa,...

Sa có 9 hình loại: Tham Lang, Cự Môn, Vũ Khúc, Lộc Tồn, Văn Khúc, Liêm Trinh, Phá Luân, Tả Phụ, Hữu Bật.

Giữa huyệt và sa có quan hệ vua - tôi. Sa nên thanh tú, tròn, tươi, đẹp như các cung tần phi nữ trong cung. Sa phải triều, nghênh, thuận, khiêm như các đại thần dưới điện. Sa phải quây quần xung quanh huyệt để bảo vệ.

Trong Kham Dư mạn hứng của Lưu Cơ có viết: “Trước sau huyệt mộ phải có các núi hộ vệ như các binh tướng lập trại xung quanh cung vua, nhất hô bách ứng. Huyệt mộ như vậy mới kết. Xét huyệt phải xem sa hộ vệ. Sa thủy triều nghênh bao bọc hộ vệ huyệt thì phú vô biên”.

Cát sa là địa thế vuông, ngay ngắn. Hung sa là địa thế lồi lõm, lởm chởm, vỡ. Phúc, họa của người phụ thuộc vào sa hung hay cát. Các nhà phong thủy học cho rằng, sa đầy đặn, con người khỏe mạnh; sa sáng người đạt; sa thanh tú, người đẹp; sa dài người dũng; sa thuận người hiếu; sa vỡ người bi; sa co người thấp; sa nghịch người ngỗ ngược.

Sa tốt hay xấu cũng không phải hoàn toàn do tự nhiên.

Theo Bí ẩn thời vận

 

 


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Các ngọn núi xung quanh huyệt mộ

Đặc trưng của tứ trụ

Mỗi người khi sinh ra đều có 4 thông tin là năm, tháng, ngày và giờ sinh. 4 thông tin này khi chuyển sang lịch can chi được gọi là tứ trụ . Tứ trụ này quyết định vận mệnh của người đó . Lịch Can Chi không giống với dương lịch hay âm lịch mà chúng ta vẫn thường sử dụng.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


I - Tứ trụ 
Mỗi người khi sinh ra đều có 4 thông tin là năm, tháng, ngày và giờ sinh. 4 thông tin này khi chuyển sang lịch can chi được gọi là tứ trụ . Tứ trụ này quyết định vận mệnh của người đó . 
Lịch Can Chi không giống với dương lịch hay âm lịch mà chúng ta vẫn thường sử dụng, nên ở đây thống nhất mọi thông tin về lịch phải dùng dương lịch để tính toán cho tiện lợi và tháng 1 dương lịch được gọi là tháng 13 của năm trước đó. 

1 – Cách xác định Trụ năm - Tức năm sinh 
Theo bảng nạp âm 60 năm Giáp Tý thì năm nay 2008 là năm Mậu Tý, năm 2009 là năm Kỷ Sửu,........ . Các năm trước đây hay sau này cứ theo bảng này tra là ra hết. Nhưng năm của lịch Can Chi thường bắt đầu vào ngày 4/2 hoặc ngày 5/2 dương lịch, khác với dương lịch bắt đầu vào ngày 1/1, và càng khác so với Âm lịch tính năm mới theo lịch mặt Trăng. Muốn xác định chính xác năm mới hay các tháng theo lịch Can Chi bạn đọc phải tra theo bảng xác định lệnh tháng phía dưới. Bảng này xác định tháng, ngày, giờ và chính xác tới phút bắt đầu năm mới cũng như tháng mới (lệnh tháng) của lịch Can Chi từ năm 1898 đến năm 2018 (phần này được trích ra từ cuốn sách Lịch Vạn Niên) 

Bảng xác định lệnh tháng của lịch Can Chi . 
(Từ năm 1898 đến năm 2018 theo giờ Bắc Kinh) 



……………………………………………………



(Chú ý: Bảng xác định lệnh tháng này của Trung Quốc nên nó được tính theo giờ Bắc Kinh, còn “Ngày giờ Sóc (New Moons) và Tiết khí (Minor Solar Terms) từ 1000 đến 2999“ trên Google là của Việt Nam theo giờ Hà Nội nên giờ giao lệnh ít hơn của Trung Quốc 60’. Hiện giờ tôi chưa biết xác định lệnh tháng theo giờ Bắc Kinh hay Hà Nội là đúng. Phải chăng căn cứ theo múi giờ quốc tế thì cứ ít hơn múi giờ Bắc Kinh bao nhiêu múi thì lệnh tháng phải giảm đi từng ấy tiếng, cũng như cứ nhiều hơn múi giờ Bắc Kinh bao nhiêu múi thì phải cộng thêm từng ấy tiếng theo bảng xác định lệnh tháng ở trên ?) . 

Ví dụ : Ngày 4/2 /1968 theo lịch can chi thuộc năm nào? Nó vẫn thuộc năm Đinh Mùi (1967) nhưng tới 2,08’ (1,08’ theo giờ Hà Nội) ngày 05/2/1968 nó mới thuộc năm Mậu Thân (1968).
Ví dụ : Lúc 7,59’ngày 04/2/1969 dương lịch thuộc năm nào của lịch can chi ? Đã thuộc năm Kỷ Dậu (1969), còn trước 7,59’ vẫn thuộc năm Mậu Thân (1968).
Qua đây chúng ta thấy theo lịch Can Chi thì năm mới được tính chính xác tới phút khi trái đất quay hết một vòng xung quanh mặt trời (không như chúng ta thường tính lúc 0,00’ của đêm giao thừa).

Nghĩa là chúng ta đã có một trụ đầu tiên, đó là trụ năm (tức năm sinh). 

2 – Cách xác định Trụ tháng - Tức tháng sinh (lệnh tháng) 
Theo lịch Can Chi thì tháng đầu tiên của một năm luôn luôn là tháng Dần sau đó là tháng Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất và Hợi. Tháng trong lịch can chi được xác định khác với dương lịch. Muốn xác định chính xác tháng sinh (lệnh tháng) theo lịch can chi bắt buộc bạn đọc phải tra theo bảng xác định lệnh tháng ở trên.
Ví dụ : Ngày 07/10/1968 thuộc tháng nào của lịch can chi? Tra bảng ta thấy nó thuộc tháng Dậu, còn từ ngày 08/10/1968 nó mới sang tháng Tuất.

Khi đã biết địa chi của một tháng thì cách xác định can của tháng đó hoàn toàn phụ thuộc vào can của năm đó như sau:
Các năm có can là Giáp và Kỷ thì các tháng của năm đó lần lượt là : Bính Dần, Đinh Mão, Mậu Thìn, Kỷ Tị, ...... Đinh Hợi (tức là các can chi phải tuân theo đúng quy luật của vòng tròn đã nói ở trên).
Các năm Ất và Canh các tháng là : Mậu Dần, Kỷ Mão, .........., Kỷ Hợi.
Các năm Bính và Tân ------------- : Canh Dần,........................., Tân Hợi.
Các năm Đinh và Nhâm ----------- : Nhâm Dần, ......................, Quý Hợi.
Các năm Mậu và Quý ------------- : Giáp Dần, ........................, Ất Hợi. 

Bảng tra can tháng theo can năm



Ví dụ : Can của tháng Thìn của năm 1968 là gì? Tra theo bảng xác định lệnh tháng thì năm 1968 là năm Mậu Thân, vì vậy nó thuộc năm tra theo các can Mậu và Quý. Các tháng của nó lần lượt là : Giáp Dần, Ất Mão, Bính Thìn, Đinh Tị, ........ Do vậy tháng Thìn là Bính Thìn. 
Đến đây ta có trụ thứ hai, đó là trụ tháng. 

3 - Cách xác định Trụ ngày - Tức ngày sinh 
Trong một năm có các ngày 1/3, 30/4, 29/6, 28/8, 27/10, 26/12 và ngày 24/2 của năm sau có các can chi giống nhau. Cho nên chúng ta thấy can chi của ngày 24/2 và ngày 1/3 trong cùng một năm dương lịch là khác nhau bởi vì thường chúng chỉ cách nhau 5 ngày, còn đối với năm nhuận chúng cách nhau 6 ngày (bởi vì tháng 2 có ngày 29). Dựa vào yếu tố này nếu biết trước can chi của 1 ngày bất kỳ của 1 năm thì qua bảng 60 năm Giáp Tý chúng ta có thể tính được can chi của ngày 1/3 của năm đó, sau đó chúng ta tính được can chi của ngày 24/2 cùng năm và nó chính là can chi của ngày 1/3 của năm trước liền với năm đó. Cứ như vậy ta có thể biết được can chi ngày 1/3 của tất cả các năm (chú ý tháng 2 của năm 1900 mặc dù là năm nhuận nhưng nó chỉ có 28 ngày). 

Ví dụ : Ngày 14/7/1968 theo lịch can chi có can chi là gì? Ngày 1/3 của năm 1968 tra theo bảng là ngày Canh Ngọ. Vậy ngày 29/6/1968 cũng là ngày Canh Ngọ (ta chọn nó bởi vì nó gần nhất với ngày cần phải tìm), từ ngày 29/6 đến 14/7 cách nhau đúng 15 ngày, vì vậy theo bảng nạp âm 60 năm Giáp Tý, ngày Canh Ngọ (29/6) sau 15 ngày sẽ đến ngày Ất Dậu (14/7) . 
Đến đây ta có trụ thứ ba, đó là trụ ngày . 

Bảng tra can chi của ngày 1/3 trong các năm từ 1889 đến năm 2008

1889 – Bính Tý.............1929 - Ất Tị................1969 - Ất Hợi
1890 – Tân Tị...............1930 – Canh Tuất........1970 – Canh Thìn
1891 – Bính Tuất..........1931 - Ất Mão................1971 - Ất Dậu
1892 – Nhâm Thìn *......1932 – Tân Dậu *.............1972 – Tân Mão *
1893 – Đinh Dậu............1933 – Bính Dần.........1973 – Bính Thân
1894 – Nhâm Dần.........1934 – Tân Mùi............1974 – Tân Sửu
1895 – Đinh Mùi...........1935 – Bính Tý...........1975 - Bính Ngọ
1896 – Quý Sửu *........1936 – Nhâm Ngọ *..........1976 – Nhâm Tý *
1897 - Mậu Ngọ............1937 – Đinh Hợi......1977 – Đinh Tị
1898 – Quý Hợi............1938 – Nhâm Thìn.....1978 – Nhâm Tuất
1899 – Mậu Thìn...........1939 – Đinh Dậu......1979 – Đinh Mão
1900 – Quý Dậu............1940 – Quý Mão *.......1980 – Quý Dậu *
1901 - Mậu Dần............1941 - Mậu Thân......1981 – Mậu Dần
1902 – Quý Mùi............1942 – Quý Sửu.......1982 – Quý Mùi
1903 - Mậu Tý.............1943 - Mậu Ngọ.......1983 - Mậu Tý
1904 – Giáp Ngọ *.........1944 – Giáp Tý *.....1984 – Giáp Ngọ *
1905 - Kỷ Hợi.............1945 - Kỷ Tị..............1985 - Kỷ Hợi
1906 – Giáp Thìn..........1946 – Giáp Tuất.....1986 – Giáp Thìn
1907 - Kỷ Dậu.............1947 - Kỷ Mão...........1987 - Kỷ Dậu
1908 - Ất Ngọ *...........1948 - Ất Dậu *.........1988 - Ất Mão *
1909 – Canh Thân..........1949 – Canh Dần......1989 – Canh Thân
1910 - Ất Sửu.............1950 - Ất Mùi...........1990 - Ất Sửu
1911 – Canh Ngọ...........1951 – Canh Tý..........1991 – Canh Ngọ
1912 – Bính Tý *..........1952 – Bính Ngọ *....1992 – Bính Tý *
1913 – Tân Tị................1953 – Tân Hợi.......1993 – Tân Tị
1914 – Bính Tuất..........1954 – Bính Thìn.....1994 – Bính Tuất
1915 – Tân Mão..............1955 – Tân Dậu.........1995 – Tân Mão
1916 – Đinh Dậu *.........1956 – Đinh Mão *....1996 – Đinh Dậu *
1917 – Nhâm Dần...........1957 – Nhâm Thân.....1997 – Nhâm Dần
1918 – Đinh Mùi...........1958 – Đinh Sửu......1998 – Đinh Mùi
1919 – Nhâm Tý............1959 – Nhâm Ngọ......1999 – Nhâm Tý
1920 - Mậu Ngọ *..........1960 - Mậu Tý *..........2000 - Mậu Ngọ *
1921 – Quý Hợi............1961 – Quý Tị.............2001 – Quý Hợi
1922 - Mậu Thìn...........1962 - Mậu Tuất.......2002 - Mậu Thìn
1923 – Quý Dậu..............1963 – Quý Mão..........2003 – Quý Dậu
1924 - Kỷ Mão *.............1964 – Kỷ Dậu *.......2..004 - Kỷ Mão *
1925 – Giáp Thân..........1965 - Giáp Dần.......2005 – Giáp Thân
1926 - Kỷ Sửu...............1966 - Kỷ Mùi...........2006 – Kỷ Sửu
1927 – Giáp Ngọ............1967 – Giáp Tý..........2007 – Giáp Ngọ
1928 – Canh Tý *............1968 – Canh Ngọ *.....2008 – Canh Tý *

Dấu * trong bảng là năm nhuận, tức tháng 2 của các năm đó có 29 ngày.

4 – Cách xác định Trụ giờ - Tức giờ sinh 
Theo lịch Can Chi này họ đã xác định giờ đầu tiên trong một ngày của lịch Can Chi luôn luôn là giờ Tý và các giờ sau tuân theo thứ tự như sau :
Từ 23 giờ đến 1 giờ là giờ Tý . Từ 11 giờ đến 13 giờ là giờ Ngọ:
Từ 1 --------3 ------------ Sửu Từ 13 --------15 ---------- Mùi
Từ 3 ---------5 ----------- Dần Từ 15 ------- 17 ---------- Thân
Từ 5 ---------7 ----------- Mão Từ 17 --------19 -----------Dậu
Từ 7 ---------9 ----------- Thìn Từ 19 --------21 -----------Tuất
Từ 9 --------11 ----------- Tị Từ 21 --------23 ----------Hợi 
Tức là cứ 120 phút (hai tiếng) tương ứng với một giờ của lịch can chi.

Ví dụ : 23 giờ 18 phút ngày 16/5 thuộc về ngày nào của lịch can chi? Theo lịch can chi thì từ 23,00’ ngày 16/5 trở đi thuộc về ngày hôm sau, tức là phải thuộc ngày 17/5.
Khi đã biết Địa chi của giờ rồi thì hàng Can của nó hoàn toàn phụ thuộc vào Can của trụ ngày như sau : 
Các ngày có can là Giáp và Kỷ có các giờ lần lượt là : Giáp Tý, Ất Sửu, Bính Dần, Đinh Mão, Mậu Thì , ............. , Ất Hợi (các can tuân theo quy luật vòng tròn như đã nói ở trên) .
Các can ngày là Ất và Canh có các giờ lần lượt: Bính Tý,.............., Đinh Hợi. 
Các................... Bính và Tân............................. : Mậu Tý,..............., Kỷ Hợi.
Các ...................Đinh –Nhâm ........................... : Canh Tý,.............., Tân Hợi.
Các ...................Mậu – Quý ............................. : Nhâm Tý,............., Quý Hợi.

Ví dụ : Các can của giờ Mão và Ngọ của ngày Đinh Dậu theo lịch can chi là gì ? Can của ngày Đinh theo như trên ta có các giờ lần lượt là : Canh Tý, Tân Sửu, Nhâm Dần, Quý Mão, Giáp Thìn, Ất Tỵ, Bính Ngọ, Đinh Mùi, ..... Vì vậy can của giờ Mão là Quý Mão và giờ Ngọ là Bính Ngọ.

Đến đây ta có trụ thứ tư, đó là trụ giờ

Chúng ta đã có đủ bốn trụ của một người.

Ví dụ 1 : Một người sinh ngày 12/11/1965, lúc 8,00 am, có tứ trụ : 
Năm Ất Tị - tháng Đinh Hợi - ngày Canh Ngọ - giờ Canh Thìn.

Ví dụ 2 : Nữ sinh ngày 5/2/1968 lúc 2,07’ có tứ trụ: 
Đinh Mùi - Quý Sửu - ngày Ất Tị - Đinh Hợi. 

Ví dụ 3 : Nữ sinh ngày 5/2/1968 lúc 2,08’ có tứ trụ : 
Mậu Thân - Giáp Dần - ngày Ất Tị - Đinh Hợi.

Qua ví dụ 2 và 3 chúng ta thấy hơn nhau 1 phút là sang năm khác, tháng khác và tứ trụ sẽ khác nhau. Cho nên giờ và phút để xác định lệnh tháng là vô cùng quan trọng trong việc xác định tứ trụ.
Nếu theo cách xác định mặt trời ở đúng đỉnh đầu tại địa điểm nơi người đó được sinh là 12,00’ thì cách xác định giờ sinh ở bảng trên chỉ đúng với những người được sinh ở vị trí đúng giữa múi giờ đó, còn những người được sinh trong cùng một múi giờ mà ở càng xa điềm giữa của múi giờ đó về hai bên thì sai số về phút càng lớn (có thể từ -60’ tới +60’). 
Cho nên trong các trường hợp này tốt nhất là lấy cả hai tứ trụ để dự đoán. Đến khi trong thực tế xẩy ra các sự kiện phù hợp với tứ trụ nào thì tứ trụ đó mới được xem là chính xác cho người đó.

Bảng tra can giờ theo can ngày 




Theo tôi chỉ khi nào con người xác định được trụ thứ 5, tức trụ phút này thì môn dự đoán theo Tứ Trụ mới thật sự là hoàn hảo. Bởi vì như chúng ta thấy bốn trụ không có tính đối xứng mà trụ ngày phải ở giữa và mỗi bên phải có hai trụ mới hợp lý. Hơn nữa chúng ta thấy cách xác định trụ tháng và trụ giờ giống nhau bởi đơn vị 12 (12 tháng, 12 giờ), còn cách xác định trụ năm và trụ ngày giống nhau bởi đơn vị 60 (tuân theo bảng nạp âm 60 năm Giáp Tý) thì không có lý do gì để không sử dụng trụ phút cũng được xác định theo đơn vị 60 (cứ hai phút bình thường được tính thành một phút theo lịch Can Chi và nó cũng tuân theo bảng nạp âm 60 năm Giáp Tý).

Theo sự suy luận của tôi thì cách xác định phút nó cũng giống như cách xác định năm và ngày của lịch can chi, nhưng chúng ta không biết Họ đã dựa vào nền tảng nào để xác định chúng. Bởi vậy muốn xác định phút theo lịch can chi, chúng ta phải có một vài ví dụ của những cặp sinh đôi chỉ cách nhau vài phút. Dùng phương pháp suy luận ngược, chúng ta dựa vào những sự kiện lớn đã phát sinh ra của các cặp sinh đôi này như tai nạn, ốm đau, ... , nhất là cái chết của họ và nếu chúng ta sử dụng phương pháp tính điểm hạn này để tính các điểm hạn thì may ra có thể xác định được chính xác can chi của phút sinh của mỗi người này. Sau đó các phút khác sẽ được xác định theo bảng nạp âm 60 năm Giáp Tý, hoàn toàn tương tự như xác định năm và ngày.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đặc trưng của tứ trụ

Xem tướng phụ nữ khắc chồng

Danh xưng hình khắc ở đây có nghĩa rất rộng rãi. Nhẹ thì hàm ý rằng khi lấy chồng, vợ chồng sẽ xung đột, gia đạo sóng gió, ít khi có hạnh phúc, nặng thì biểu lộ sự hung hiểm xảy đến cho người chồng công danh sự nghiệp, sức khoẻ hoặc sinh mạng, vợ chồng chia ly hay đứt đoạn. Ngoài ra khi luận đoán về sự hình khắc của phụ nữ đối với chồng, ta còn cần phải đặc biệt chú ý đến chính bản thân người chồng nữa.
Xem tướng phụ nữ khắc chồng

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nếu toàn thể bộ vị của người chồng tốt đẹp, nhất là mạng cung thê thiếp không khuyết hãm thì sự tai hại của hình khắc giảm thiếu rất nhiều. Trái lại, bản thân người chồng (cả hình tướng lẫn tâm tướng) đều dưới mức trung bình thì sự tác dụng của hình khắc do người vợ đem lại sẽ rất lớn và có ảnh hưởng sâu rộng đến mọi lãnh vực sinh hoạt của đấng phu quân. Xin độc giả lưu ý điểm này trước khi đoán xét về tướng hình khắc chồng của phụ nữ. Đại để các dấu sau đây đều bị tướng học liệt kê vào tướng phụ nữ khắc chồng:

- Phía dưới hai mắt vô bệnh tật mà có sắc khí xanh xám .
- Mắt lớn lồi (nhỏ và dài mà lồi thì đỡ tai hại hơn). Lông mày thưa vàng và ngắn .
- Mày thô, mắt có sát khí
- Hai mép miệng và hai phát lệnh đều có nốt ruồi
- Phần sống mũi nổi gân máu
- Trán cao, hai phần Nhật Nguyệt giác nổi cao và hướng lên
- Tiếng nói như nam giới hoặc oang oang như sấm động hoặc âm thanh sắc cao như sói vào tai người nghe
- Trán vuông, mày lớn cao và đậm
- Xương lưỡng quyền vừa thô vừa lộ
- Trán lồi, cổ ngắn, hoặc trán cao mặt hãm
- Mũi hếch thấp, mắt thuộc loại tam tứ bạch, hoạc hình tam giác mà lộ hung quang. Có đủ tất cả là tướng đại hình khắc và yểu
- Sắc da mặy thô xạm như màu đất chết
- Mặt chè bè về chiều ngang (phần Trung đình) mà lại sát thanh nghĩa là tiếng nói lanh lảnh như tiếng kim khí va chạm nhau khiến người nghe cảm thấy ớn lạnh xương sống .
- Trán hẹp, nhọn, tai thấp hoặc trán nhỏ nhọn hẹp và lông mày giao nhau
- Trán có tật bẩm sinh (vết sẹo, vằn trán thuộc loại loạn văn rất rõ lúc còn niên thiếu) .
- Mũi hếch, tai khuyết hãm, mày thô và mắt có tia máu ăn lan từ tròng trắng xuyên qua lòng đen đén đồng tư, thuật ngữ tướng học gọi là Xích mạch xâm đồng
- Sơn căn có nốt ruồi và dưới mắt có nhiều vết nhăn (đây nói phụ nữ ở trung niên trở lại)
- Xương lưỡng quyền nổi cao và nhọn như chỏm núi
- Tác có phù quang (trơ trẽn không có sinh khí), da trắng và khô mốc
- Mặt dài quá, cộng với miệng lớn (thành ngữ nói là miệng ngoác tới tận mang tai như miệng cá sấu)
- Ấn đường có một lằn sâu chạy thẳng lên trán, thuật ngữ tướng học gọi là Luyến trâm văn .
- Lông mày thưa và mường tượng như co rút lại (nghĩa là đầu và lông chân mày lớn ngang nhau trái với lẽ thường là đầu lông mày thon dần còn chân lông mày lớn)
- Cốt cách thô lỗ, tóc cứng như rễ tre
- Xương che lỗ tai (mạng môn cốt) nổi cao.

Nguồn: Tổng hợp.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tướng phụ nữ khắc chồng

Hóa giải phòng ngủ trên bếp –

Trong phong thủy quan niệm, bếp nấu tránh đặt dưới phòng ngủ. Vì thế, tùy vào không gian nhà nên có cách bố trí sao cho tránh được yếu tố này. Theo chuyên gia phong thủy, một trong các yếu tố tránh của phong thủy là phòng ngủ trên bếp nấu, đặc biệt l

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Trong phong thủy quan niệm, bếp nấu tránh đặt dưới phòng ngủ. Vì thế, tùy vào không gian nhà nên có cách bố trí sao cho tránh được yếu tố này.

hoa-giai

Theo chuyên gia phong thủy, một trong các yếu tố tránh của phong thủy là phòng ngủ trên bếp nấu, đặc biệt là giường ngay trên đầu bếp thì càng cần phải tránh. Bởi bếp thuộc tính hỏa, trong quá trình nấu nướng khí hỏa sẽ bốc lên các không gian bên trên và ảnh hưởng đến người cư ngụ trong các phòng đó. Dù là nhà mái bê tông, thì việc này cũng cần tránh bởi khói và hơi nóng bốc lên cũng có thể làm phần mái này có nhiệt độ tăng cao hơn.

Trong khi đó, phòng ngủ luôn cần sự yên tĩnh, mát lành. Vì thế, khi giường ngủ kê ngay trên bếp sẽ rất khó chịu, khó ngủ. Phong thủy cho rằng, giường ngủ đặt trên bếp có thể khiến người ngủ trên đó dễ nảy sinh tâm lý nóng nảy, khó chịu hoặc hay ốm đau.

Khi gặp tình huống này, gia chủ nên thay đổi cách bố trí các phòng trong nhà. Ví dụ, nên di chuyển phòng ngủ sang một không gian khác và thay vào đó là phòng đọc, phòng sinh hoạt chung…

Đối với các trường hợp nhất thiết phòng đó phải là phòng ngủ thì gia chủ vẫn có thể linh hoạt bằng cách kê giường ngủ sao cho vị trí không trùng với bếp nấu bên dưới. Phía tầng giướng nên trùng là tủ lạnh, bồn rửa chén, bàn ăn… Tuy nhiên, các trường hợp này cần được bố trí sao cho hài hòa, tránh sắp xếp lộn xộn làm ảnh hưởng đến bố cục chung của toàn căn nhà.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Hóa giải phòng ngủ trên bếp –

Nghề nghiệp phù hợp với người tuổi Dậu

Người tuổi Dậu không quá quan tâm đến tiền bạc và là mẫu người có tinh thần tự lập cao. Họ luôn biết trân trọng những gì đã đạt được và biết vượt qua khó khăn
Nghề nghiệp phù hợp với người tuổi Dậu

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Người tuổi Dậu không quá quan tâm đến tiền bạc và là mẫu người có tinh thần tự lập cao. Họ luôn biết trân trọng những gì đã đạt được và biết vượt qua khó khăn trong cuộc sống để vươn lên. Tính cách này có thể mang đến cho họ sự phù hợp khi bước chân vào lĩnh vực chính trị.

Bên cạnh đó, họ còn là người có tư duy nhạy bén và lòng dũng cảm. Nếu hoạt động ở lĩnh vực an ninh, quân đội họ sẽ mau chóng được đề bạt lên chức vụ cao.

Ngoài ra, người tuổi Dậu còn có thể lực tốt, sức khỏe dẻo dai, ưa thích các hoạt động thể thao, nếu trở thành vận động viên cũng rất phù hợp với họ.

Khả năng thuyết phục tốt,  tài tạo lập quan hệ, người cầm tinh con gà hoàn toàn có thể đảm đương công việc ngoại giao. Đó là lĩnh vực mà họ nên thử sức mình nếu muốn trở nên nổi tiếng và có cơ hội làm giàu.

Người tuổi Dậu còn rất khéo tay, tỷ mỷ, cẩn thận và cần mẫn, đặc biệt là nữ giới. Do vậy, họ cũng nên tìm đến những công việc như liên quan đến hóa trang, may mặc hay lĩnh vực giải trí.

(Theo 12 con giáp về sự nghiệp cuộc đời)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nghề nghiệp phù hợp với người tuổi Dậu

Mơ thấy ăn thịt bò: Có cơ hội cứu vãn trong chuyện làm ăn buôn bán –

Bò là động vật có vú, mạnh mẽ, cho sức kéo, sữa và thịt. Nếu mơ thấy thịt bò sống, bạn có thể giữ vững bí mật đời sống riêng tư. Mơ thấy cảnh người khác mời bạn ăn thịt bò, nhưng bạn lại từ chối, hàm ý trong cuộc sống hiện thực, nếu bạn cần sẽ có ngư
Mơ thấy ăn thịt bò: Có cơ hội cứu vãn trong chuyện làm ăn buôn bán –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mơ thấy ăn thịt bò: Có cơ hội cứu vãn trong chuyện làm ăn buôn bán –

Để hóa giải kiêng kỵ phong thủy đạt hiệu quả

Phong thuỷ Nhà ở là một vấn đề quan trọng liên quan đến đời sống của chúng ta, một căn nhà tốt về mặt phong thủy đảm bảo cho gia đình được êm ấm hạnh phúc, tiền bạc làm ra tích lũy được, con cái ngoan hiền hiếu thảo. Trái lại một căn nhà có khuyết điểm về phong thủy thường mang lại nhiều trở ngại và bất ổn trong cuộc sống. Khi mua nhà hay thuê nhà ai ai cũng mong muốn có được một căn nhà hoàn chỉnh về phong thủy.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Thế nhưng trên thực tế hiếm khi các bạn có được cơ hội đó bởi nhiều yếu tố sau:
- Căn nhà hợp với chủ cũ khác tuổi tác của mình nên vấn đề phong thủy cũng có phần sai biệt.
- Sự thiết kế của căn nhà không phù hợp với nhu cầu hạnh phúc của gia đình trong mỗi giai đoạn cuộc đời.
Vì thế khi vào ở một căn nhà chúng ta phải biết rõ khuyết điểm của căn nhà và khoa phong thủy có tác dụng điều chỉnh hay hóa giải những khuyết điểm kể trên để cuộc sống ngày càng tươi đẹp hơn.

Phương cách hóa giải phong thuỷ thì nhiều và đa dạng phong phú. Thế nhưng để chọn lựa phương cách hóa giải phong thuỷ phù hợp với mức độ ảnh hưởng xấu để không gây ra những ảnh hưởng phụ khác đó là điều nên thận trọng. Và để hóa giải phong thủy của một căn nhà chúng ta cần phải nghiên cứu từng bước một.
Nghiên cứu toàn bộ khuyết điểm Phong thuỷ căn nhà:
Ðây là bước đầu tiên cũng là bước quan trọng nhất quyết định thành công hay thất bại trong việc hóa giải. Nếu công việc này làm không hiệu quả hay thiếu sót thì việc hóa giải chỉ nửa vời không đạt được kết quả mong muốn.
Nhiều người cho rằng gia chủ có một căn nhà hợp hướng là tốt đủ rồi, không cần quan tâm đến những điều khác. Ðây là một điều sai lạc vô cùng. Một căn nhà tốt phải hội đủ và hài hòa tất cả yếu tố phong thủy trong căn nhà chứ không chỉ riêng phương hướng là đủ. Ví dụ một căn nhà vượng Sơn vượng Hướng nhưng tọa tạc trên một mảnh đất tam giác, đất nghiêng trủng, hay là ở trong nhà có bếp lò, nhà cầu, cầu thang nằm sai vị trí các Cung (Linh Thần hoặc Chính Thần) thì cũng không tốt. Tóm lại có rất nhiều điều cần phải quan tâm đến khi muốn biết một căn nhà hợp phong thủy hay không.
Khi xem phong thủy một căn nhà là phải tổng hợp tất cả các yếu tố trong và ngoài căn nhà chứ không nên dựa vào một vài đặc điểm nào đó mà bỏ quên đặc điểm khác (Phong thuỷ Hình Thế và Phong thuỷ Lý Khí tương hợp).

Tìm biết hết tất cả khuyết điểm của căn nhà là một điều cần thiết, vì có như vậy chúng ta mới có thể hóa giải triệt để những ảnh hưởng xấu đối với căn nhà. Có thể tạm phân loại các khuyết điểm về phong thủy như sau :
- Hình thể nhà và đất: Do khuyết điểm của thế đất không bằng phẳng, hình dáng khuyết tật, nhà cửa xây dựng mất cân đối, các cung vị bát quái bị lồi lõm.
- Những tác hại xấu do bên ngoài: như là ngã ba đâm vào, đòn dông, cột đèn, cây cổ thụ, biển báo, độ dốc, ao hồ sông rạch, núi đồi cản trở.
- Âm dương (Linh & Chính): Một căn nhà gặp khuyết điểm về âm dương thường rơi vào trường hợp cô dương hay cô âm: Trường hợp cô dương (hay dương thịnh) như sáng quá, chói lòa, màu sắc rực rỡ, ồn ào, náo nhiệt. Hay cô âm (hay âm thịnh) như u tối, thiếu ánh sáng, trống vắng, thiếu sinh khí, màu sắc ảm đạm, âm u, ẩm mốc bẩn thỉu mang nhiều âm khí đều không tốt cho gia chủ, ảnh hưởng đến hạnh phúc vợ chồng.
- Những tác hại xấu từ bên trong: Thường do sự bài trí các công nămg không đúng phương vị (Cung) hoặc như là kê bàn, ghế, tủ, góc nhà tạo nhiều cạnh đâm vào cửa chính, phòng ngủ, xà nhà chắn ngang đầu… Những yếu tố xấu này thường ảnh hưởng đến sức khỏe của những người sống trong nhà.
- Ngũ hành: Một căn nhà phạm khuyết điểm về ngũ hành thường do việc bố trí phòng ốc hay trang trí không thích hợp như là phối trí màu sắc, bông hoa, cây cỏ, bàn thờ, bếp, bồn cá, lò sưởi không đúng phương vị. Nếu có sự xung khắc thường mang lại sự xung đột bất hòa trong cuộc sống.
- Phòng ốc: Sự bố trí phòng ốc trong căn nhà được hài hòa thuận vị là điều tốt đẹp. Thế nhưng nếu bố trí nghịch vị thì cần phải có sự hóa giải đúng mức và kịp thời. Ví dụ như cửa phòng ngủ trực diện với phòng tắm; phòng ngủ nằm ngay trên bếp, bàn thờ; cầu thang trổ ra cửa vv. Phòng tắm nằm ngay trên, phía trước cửa chính; cầu thang đổ ra cửa; ba cửa nhà thông thương; nhà hay phòng có hai lối rẽ; nền nhà cao thấp hay khuyết góc.
Nhu cầu hạnh phúc của gia đình:

Ðây là bước thứ hai cũng không kém phần quan trọng. Cần biết đâu là nhu cầu hạnh phúc của gia đình trong đại vận hiện tại thì mới có thể đề ra những biện pháp hóa giải hữu hiệu. Ví dụ: Một gia đình lớn tuổi nhu cầu hạnh phúc chính yếu nhất là sức khỏe và tuổi thọ. Nếu có hóa giải khuyết điểm căn nhà thì phải chọn lựa những biểu tượng mang tính hòa hợp tươi vui nhưng trầm mặc như là rùa, hồ lô, sáo trúc, tùng, tượng ngư tiều canh độc.
Trái lại vợ chồng son trẻ có làm ăn ở nhà, không muốn bị quấy nhiễu hạnh phúc có thể hóa giải phong thủy bằng những biểu tượng mang thể loại mạnh mẽ hơn như thú dữ, xương rồng, thanh kiếm, mũi tên sắc, súng đại bác.
Trường hợp vợ chồng gay cấn, xung đột mong muốn có hạnh phúc thì nên chọn những biểu tượng phong thủy như Long Phụng hòa minh, đôi chim tỉa cánh, bông hoa mang màu sắc tươi mát và thích hợp với ngũ hành của hai người.
Trở lại ví dụ đầu tiên, nếu căn nhà xấu đối với người lớn tuổi mà dùng các biểu tượng như thú dữ, hay vật dụng hung hãn, chẳng những không có tác dụng tốt lại còn gây thêm áp lực nặng nề hay tạo thêm cảm giác lo ngại cho người lớn tuổi.
Chúng ta có thể phân loại nhu cầu hạnh phúc của gia đình như sau : Tiền tài, hạnh phúc – sức khỏe, tuổi thọ – con cái (Phú - Quý - Gia Đạo). Tùy theo nhu cầu hạnh phúc của gia đình để chọn lựa những biểu tượng hóa giải thích hợp.
Phương cách hoá giải phong thuỷ:
Có nhiều phương cách hóa giải thế nhưng trước khi quyết định chọn lựa một phương cách hóa giải thích hợp cần phải quan tâm đến 2 điểm:
1) Khi dùng hóa giải tại cung nào nên chú ý đến ngũ hành của cung đó, để sử dụng các biểu tượng phong thủy thích hợp với hành của cung đó. Ví dụ khi muốn thay đổi hay phát triển công việc, thì công việc đầu tiên phải tăng cường cung Tài Lộc căn nhà, cung đó thuộc hành gì?, do Sao nào quản?. Do vậy những vật dụng tăng cường cung này phải tương sinh với Cung đó.
2) Khi hóa giải một khuyết điểm của căn nhà nên sử dụng đúng mức biện pháp hóa giải, để tránh những ảnh hưởng phụ do hóa giải quá độ gây ra. Ví dụ: khi hóa giải một phòng tắm xấu ở giữa nhà (trung cung) có thể che kiếng là đủ, chứ không nên vừa dùng kiếng, lại thêm cây kiểng hay dùng súng đại bác để bắn tiêu khuyết điểm này.
Ngoài hai yếu tố trên, chúng ta cũng không phải dễ dàng để chọn lựa một biểu tượng thích hợp vì rằng có nhiều biểu tượng hóa giải có cùng tác dụng thì biết chọn biểu tượng nào. Vì thế một biểu tượng hoàn hảo nhất để hóa giải phong thủy phải đạt được các tiêu chuẩn sau đây:
Hợp Phong Thủy: Ðây là tiêu chuẩn quan yếu đầu tiên, cần phải đạt được. Trong trường hợp có nhiều biểu tượng có cùng tác dụng thì biết chọn lựa thứ nào. Ví dụ: để hóa giải một cái đòn dông đâm vào cửa chính chúng ta có thể dùng nhiều phương pháp như: trụ phun nước, dời cửa chính,... nhưng chúng ta chỉ nên chọn lựa một biểu tượng thích hợp nhất mà thôi. Do vậy trước khi quyết định chúng ta phải dựa đến tiêu chuẩn thứ hai.
* Hợp nhu cầu hạnh phúc gia đình: Như trên đã nói, đối với người lớn tuổi mong muốn bình an dĩ hòa vi quý thì nên chọn lựa những biểu tượng nhẹ nhàng, không gây tác hại cho người khác mà cũng có thể đạt mục đích yêu cầu của mình. Trở lại ví dụ trên, chúng ta có thể chọn lựa biện pháp trụ phun nước. Thay vì chúng ta chọn những biểu tượng công phá có thể gây hại cho người khác và cho chính mình mà thôi. Trường hợp có nhiều biểu tượng đạt được hai tiêu chuẩn trên thì biết chọn biểu tượng nào. Chúng ta nên chọn biểu tượng phù hợp với tiêu chuẩn thứ ba.
* Hợp thẩm mỹ, nhu cầu văn hóa gia đình: Ngoài những biểu tượng căn bản chúng ta cũng có thể sáng tạo những biểu tượng khác đạt được mục đích trên lại phù hợp với nhu cầu thẩm mỹ, hay địa vị gia chủ trong xã hội nữa. Ví dụ: ở khu vực kinh doanh người Mỹ có khi chúng ta dùng những vật dụng đầy thẩm mỹ khác chẳng hạn.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Để hóa giải kiêng kỵ phong thủy đạt hiệu quả

Có nên làm cửa sổ quá rộng ở phòng ngủ không? –

Phòng ngủ thường được thiết kế ở chính giữa ngôi nhà bởi nó là điểm ngưng kết khí, là chỗ cốt lõi của vượng khí cả ngôi nhà. Bao quanh cơ thể chúng ta là một trường năng lượng. Độ mạnh yếu của trường năng lượng này ảnh hưởng trực tiếp tới tác dụng mà

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Phòng ngủ thường được thiết kế ở chính giữa ngôi nhà bởi nó là điểm ngưng kết khí, là chỗ cốt lõi của vượng khí cả ngôi nhà.

av

Bao quanh cơ thể chúng ta là một trường năng lượng. Độ mạnh yếu của trường năng lượng này ảnh hưởng trực tiếp tới tác dụng mà nó bảo vệ cơ thể lớn hay nhỏ. Bởi vậy bạn cần phải duy trì cơ thể mình có trường năng lượng mạnh nhất.

Nếu trổ cửa sổ phòng ngủ quá lớn, sẽ khiến vượng khí thoát ra ngoài, khi nghỉ ngơi trong phòng bạn sẽ bị mất vượng khí, hụt hơi, uể oải

Mặt khác, vì cửa sổ quá rộng ánh nắng chiếu vào nhà quá nhiều, gây chói mắt và nóng nực, khiến bạn khó chịu, mất bình tĩnh, dễ bực bội cáu gắt.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Có nên làm cửa sổ quá rộng ở phòng ngủ không? –

Thiệu Khang Tiết với mai hoa dịch số

Thiệu Khang Tiết đời Bắc Tống nhờ có được quyển sách kỳ bí đã phát hiện ra bí quyết Dịch suy diễn ra số. Khi xem hoa mai đã đoán ra sự việc nên phép coi này gọi là Mai hoa dịch số

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Thiệu Khang Tiết (còn gọi Thiếu Tử), tên thật là Thiệu Ung, tự là Nghiên Phu, hiệu là Khang Tiết, người Hà Nam sinh vào thời Bắc Tống Chân Tông Đại Trung Tương Phù tứ niên (Năm 1011 công nguyên) mất năm thứ mười đời Thần Tông Hy Ninh (1077 công nguyên). Khang Tiết sống vào những năm đầu đời Tống Nhân Tông, Tống Anh Tông và Tống Thần Tông, chính là thời kỳ mà nền sản xuất phát triển tương đối ổn định trong giai đoạn vương triều Bắc Tống thống nhất gần 100 năm. Do vậy, Thiệu được yên tâm đọc sách và dốc lòng vào trước thuật.

mai hoa dịch số

Nguồn gốc tên Mai Hoa số

Thiệu Ung thờ Lý Chi Tài làm thầy (Lý Chi Tài là học trò của Mục Tu, thầy của Mục Tu là Trần Đoàn - ông tổ khoa Tử Vi) nhận được đồ 64 quẻ bát quái “Hà Đồ” và “Lạc Thư” của Phục Hy. Điều truyền lại của Lý Chi Tài, xa có đoạn tự mà Thiệu Ung đã tìm hiểu được: “Nhận thức sự vật thống nhất với nhau sâu sắc thấm thía, đến nơi đến chốn, mênh mông rộng lớn…” phần lớn đều biết được cả. Về sau ngài học được ở Ích lão Đức Ích Thiệu "Làm khởi phát sự cao minh của trí tuệ để quan sát sự vận hóa, của Trời, Đất, sự tiêu trưởng của âm dương, xa thì biết được sự biến hóa của cuộc thế từ xưa đến nay, nhỏ thì biết được tính tình của cỏ cây muông thú, tạo dựng nên kiến thức sâu sắc, mọi người không ai nhầm lẫn nhưng không phải giống tượng loại để tìm ra điển hình". Từ đó suy ra được lời chỉ giáo thâm ý về Tiên Thiên của Phục Hy.

Khi mới đặt chân đến đất Lạc, lau sậy trùm ngập lối đi, mưa gió triền miên. Ung phải còng lưng gánh củi để nuôi cha mẹ. Cuộc sống tuy khổ ải muôn phần, nhưng Ung vẫn tự nhiên như không, lòng lại vui vẻ, người khác không thể biết được. Gặp khi cha mẹ qua đời, ngài bùi ngùi hết lễ làm con. Phú Bật, Tư Mã Quang, Lã Công Trứ… các bậc hiền triết dời đến Lạc Trung, tất cả đều quý trọng Ung, mời Ung cùng làm nhà để ở. Ung theo từng vụ trồng tỉa nên cơm áo cũng đủ dùng. Ung đặt tên cho ngôi nhà của mình là “An lạc oa”, do đó mà tư xưng hiệu của mình là An Lạc tiên sinh.

Ban ngày thắp hương. Ban đêm ngồi trầm tư mặc tưởng, vào đúng bữa ăn thì uống rượu ba bốn tuần, gần say thì dừng lại, thường không bao giờ để cho mình quá chén, lúc hứng lên thì ngâm nga tự vịnh. Vào mùa xuân và mùa thu, ngài đi chơi trong thành, thường không xuất du khi mưa gió, khi đi thì ngồi lên chiếc xe nhỏ có một người kéo, lòng tùy theo sở thích của mình. Chiêm bốc nổi tiếng nhất của tiên sinh có thể nói khi ông ở Lạc Dương – Thiên Tân, nghe tiếng kêu của chim đỗ quyên mà dự đoán được Hoàng đế sắp khởi dụng phương Nam, chính trị sẽ có biến loạn, tức là cuộc biến Vương An Thạch.

Các trước tác của Thiệu Khang Tiết gồm: Mai Hoa Dịch Số, Hoàng Cực Kinh Thế, Quan Vật Nội Thiên, Ngư Tiều vấn đối, Tập thơ Quân Xuyên, Nhượng Sơn tập, Tử Bá Ôn biệt truyện

Khi chưa đạt cảnh giới, Thiệu Khang Tiết đã dán Dịch lên vách, tâm trí hướng vào đó, mắt nhìn vào đó. Khi đã đạt được cái lý của Dịch rồi, tiên sinh lại muốn tạo các số của Dịch mà vẫn chưa tìm ra được đường lối. Một hôm đang ngủ trưa thì có con chuột chạy qua chiếc gối của tiên sinh, gặm rồi kêu lên mấy tiếng. Con chuột chạy khỏi thì chiếc gối vỡ ra. Trong gối có chữ, lấy xem thì thấy: “Chiếc gối này bán cho Thiệu Khang Tiết, ngày … tháng … năm … chuột cắn vỡ ra.” 

Tiên sinh thấy lạ vô cùng bèn tìm đến nhà người bán gối để hỏi. Người bán gối nói: "Trước có một người tay cầm “Chu Dịch” ngồi nghỉ, lấy chiếc gối lên xem. Chữ này chắc của ông ta đó thôi. Cách đây cũng không lâu lắm đâu. Tôi có biết nhà ông ta".

Tiên sinh theo người làm gối đi tìm tới nhà thì biết ông ta đã mất. Nhưng có để lại một cuốn sách và dặn người nhà rằng “ Ngày … tháng … năm … giờ … có một vị tú sĩ đến nhà, thì sẽ trao cuốn sách này cho ông ta. Thế là có thể kết thúc công việc của đời ta được rồi.”

Người nhà lấy cuốn sách trao cho tiên sinh. Thiệu Khang Tiết vô cùng vui mừng, đem ngôn từ và bí quyết của “Dịch” suy ra diễn số. Tiên sinh nói với người con của ông già đã qua đời rằng “Khi còn sống, cha anh đã chôn vàng ở phía Tây Bắc giường ngủ, anh cứ đào lên lấy tiền buôn bán và lo việc ma chay”.

Người con nghe lời quả đào được vàng. Tiên sinh cầm sách đem về. Sau xem hoa mai thấy chim sẻ tranh giành nhau đoán biết tối hôm sau có người con gái đến bẻ hoa bị ngã rồi bị té gãy tay. Tiên sinh bói đều trúng cả. Hậu thế truyền nhau mà đặt tên là “Quan Mai số” hay Mai Hoa dịch số.

Câu chuyện Đoán hoa mẫu đơn

Ngày 16 tháng 3 năm Tị vào giờ Mão, Thiệu Khang Tiết cùng khách đến thăm và thưởng thức hoa mẫu đơn tại nhà ông Tư Mã Ôn. Đúng vào lúc hoa mẫu đơn đang nở rực rỡ cả lên, ông khách hỏi : "Hoa tươi đẹp như thế này, cũng có số định chăng?".

Tiên sinh nói: "Bất luận cái gì đều có số cả. Hơn nữa chỉ cần hỏi là có thể xem quẻ được ngaỵ".

Nói rồi liền xem một quẻ mẫu đơn nở. Dùng năm Tị là số 6, tháng 3 số 3, ngày 16 số 16 hợp lại được 6 + 3 +16 = 25; 25 chia 8 = 3 dư 1, số 1 tương ứng với quẻ "Càn" làm quẻ trên, Dùng 25 cộng với số giờ Mão là 4 tất sẽ là 25 + 4 = 29, đem số 29 trừ 8 ta có 29 chia 8 = 3 dư 5, số dư 5 ứng với quẻ "Tốn" làm quẻ dưới, đặt ở dưới quẻ "Càn" ; "Càn" là trời, "Tốn" là gió. 

Trời ở trên gió ở dưới là: Thiên phong quẻ "Chấn". Đó chính là trùng quái mà ta xem được. Lại dùng 29 chia 6 tất sẽ có: 29 : 6 = 4 dư 5; số dư 5 hào đối ứng là hào thứ 5 của quẻ "Chấn". Hào thứ 5 của quẻ "Chấn" là hào dương, biến thành hào âm, thì được quê "Đĩnh" là biến quái. Bốn hào trung gian của quẻ "Khảm" tương hỗ được hai quẻ "Càn" có ba vạch.

Do đó, Tiên sinh Khang Tiết nói với khách rằng "Kỳ lạ thật đấy. Những đoá hoa mai đẹp này nở vào giờ Ngọ, trưa ngày mai sẽ bị ngựa xéo nát hết mất thôi. Khách hoảng hốt không tin. Quả nhiên vào giờ ngọ ngày hôm sau, có một vị đại quan quyền quý đến xem hoa mẫu đơn, thế là hai con ngựa cắn nhau chạy lung tung vào cụm hoa chà đạp nát hết cả vườn mẫu đơn.

Tại sao vậy? Bởi vì, quẻ trên của quẻ "Khảm" là "Càn", "Càn" là kim, quẻ dưới là "Tốn". "Tốn" là mộc. Kim khắc mộc. Quẻ "Tốn" làm thể, hỗ quái lại xuất hiện hai quẻ "Càn", Kim khắc "Tốn" của thể Mộc quá nhiêu, trong quẻ đều không có tin tức của sinh mệnh, cho nên biết rõ mẫu đơn tất sẽ bị hủy diệt. Tại sao biết vào giờ Ngọ? Biến hào được "Ly" tượng minh: Cho nên có thể có dự đoán chứng minh chính xác như đã thuật rõ ở trên kia.

Câu chuyện gõ cửa mượn đồ

Vào giờ Thìn một tối mùa đông, Thiệu Khang Tiết tiên sinh vừa mới ngồi xuống bên lò sưởi, thì bỗng có tiếng người gõ cửa. Bắt đầu gõ 1 tiếng rồi dừng lại, tiếp đó lại gõ liên 5 tiếng. Thiệu tiên sinh bảo người gõ cửa chớ có nói mục đích đến vì việc gì, để nguời con trai của tiên sinh đoán một quẻ cho người gõ cửa, xem ý ông ta muốn mượn một vật gì. Dùng số 1 chỉ cho một tiếng đối ứng là quẻ "Càn" làm quẻ trên, dùng số 5 chỉ 5 tiếng, đối ứng với 5 là quẻ "Tốn" làm quẻ dưới. Lại dùng số 1 của quẻ Càn với số 5 của quê "Tốn" cộng thêm với số 10 giờ Dậu tất có 1 + 5 + 10 = 16. Dùng 16 chia 6 tất sẽ có 16 : 6 = 2 (lân)  dư 4 được quẻ "Càn" trên, que "Tốn" dưới, tất là Thiên phong quẻ "Chấn"

Hào thứ tự của quẻ "Chấn" dương hào biến thành âm hào, tất sẽ là quẻ "Tốn" trên, quẻ "Tốn" dưới, được quẻ biến. Bốn hào giữa của quẻ "Khảm" hỗ thể tất sẽ được hỗ quái là quẻ "Càn". Quẻ "Càn" hỗ dưới là hai quẻ "Càn". Một quẻ "Càn" trong quẻ gốc hợp lại liền có 3 quẻ "Càn" kim, hai quẻ "Tốn" mộc sẽ là mộc ở trong kim, hoặc kim mộc phối hợp. Lại căn cứ kim trong quẻ "Càn" ngắn, mộc trong quẻ "Tốn" dài, nên xác định là đến mượn "búa".

Người con của Thiệu Khang Tiết đoán: "Kim ngắn", "mộc dài" là đồ vật dùng trong sản xuất, vật mà người đó muốn mượn đó là "cái cuốc". Thiệu Khang Tiết nói: "Không đúng! Nhất định là búa", tiên sinh liền hỏi người tới mượn, quả nhiên là người ấy mượn búa. 

Người con Thiệu Khang Tiết hỏi vì nguyên nhân nào. Thiệu Khang Tiết nói: "Đoán số cần phải biết rõ sự lý. Dùng quẻ để suy đoán thì có thể là búa cùng có thể là cuốc. Dùng lý để suy đoán, ban đêm họ mượn cuốc để làm gì?. Tất nhiên là họ mượn búa. Có lẽ chỉ là việc họ cần bổ củi đêm đó thôi. Đối với việc đoán số cần phải cắt nghĩa rõ ràng nguồn gốc lý của sự vật, đó là nguyên tắc quan trọng trong việc suy đoán bốc quẻ. Đại để là số không lấy lý để suy thì không thấy hết được sự bí mật lắt léo riêng của công việc suy đoán sự việc. Con người làm số học cần phải ghi nhớ kỹ lưỡng điều đó".

Câu chuyện biển treo ở chùa Tây Lâm

 Có lần, ngẫu nhiên Thiệu Khang Tiết nhìn thấy chữ "lâm" ở trên tấm biển đồ rây lâm không có hai cái móc. Vì việc đó ông đã bốc quẻ, chữ Tây có 7 nét, ứng với 7 nét là quẻ Cấn , làm quẻ trên dùng 8 nét của chữ "lâm" xác định làm quẻ dưới, ứng với 8 nét là quẻ "khôn". Que trên "Cấn", quẻ dưới "Khôn", được quẻ gốc là quẻ "Bác sơn địa. Dùng 7 của quẻ "Cấn" trên với 8 của quẻ "Khôn" dưới thành 15; lấy 15:6=2 dư số là 3 làm động hào. Tất nhiên hào thứ 3 của quẻ "Bác" là âm hào biến thành hào dương. Quẻ "Bác" biến thành quẻ "Cấn". Hỗ thể quái trong 4 hào quẻ Bác là "Khôn" trên "Khôn" dưới.

Do đó đoán quẻ nói rằng: "Chùa là nơi để cho các nhà sư thuộc về thuần dương ở. Mà ngày nay lại được hào trùng âm, hơn thế, lại có điểm chinh phạt của quần âm bóc lột dương. Suy xét cho kỹ thì ở trong chùa này vì nguyên nhân có đàn bà (người âm) dẫn tới tai họa. Hỏi thăm tra xét kỹ, thì quả như vậy. Liền nói với hoà thượng ở trong chùa rằng "Tại sao không thêm 2 cái móc vào chữ "lâm". Nếu làm như vậy thì sẽ hết tai hoạ của người âm". Các nhà sư cho là phải, bèn thêm 2 cái móc vào tròn chữ "lâm". Từ đó trong chùa binh an vô sự.

Chùa là nơi để cho các nhà sư ở mà lại được quẻ thuần âm cho nên không may mắn. Lại thêm quẻ "Bác" có ý nghĩa là nhiều âm bóc lột dương, cho nên có tai họa của đàn bà. Nếu thêm 2 cái móc vào trên chữ"Lâm" liền trở thành 10 nét: 10 - 8 = 2 dư số là 2 ứng với quẻ "Đoài", lại thêm quẻ "Cấn" ở trên "Đoài" dưới. Quẻ "Tốn" hào thứ 5 là âm hào biến thành dương hào, liền được quẻ biến là quẻ "Trung phù". Quẻ hỗ thể của quẻ "Tốn" là quẻ "Khôn" quẻ "Chấn". Chữ "Lâm" đã được mài tổn lại được tăng thêm 2 cái móc câu, bắt đầu dùng hỗ thể làm thành sinh thể, cho nên được quẻ cát, có thể được kết quả là an toàn, vô sự.

Tất cả đây đều dùng phương pháp được số trước rồi dùng số dể đoán. Phương pháp này là phương pháp số Tiên thiên.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Thiệu Khang Tiết với mai hoa dịch số

Nhìn thời điểm chuột rút nắm rõ điềm báo hung cát

Mỗi sự biến hóa của con người đều mang lại điềm báo nhất định. Trong các cách bói vui, dựa vào thời điểm bị chuột rút luôn được nhiều người sử dụng.
Nhìn thời điểm chuột rút nắm rõ điềm báo hung cát

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Mỗi sự biến hóa của con người đều mang lại điềm báo nhất định. Trong các cách bói vui, dựa vào thời điểm bị chuột rút luôn được nhiều người sử dụng.


 
Nhin thoi diem chuot rut nam ro diem bao hung cat hinh anh
 
Chuột rút vốn là phản ứng tự nhiên của cơ thể, song lại đem đến nhiều ý nghĩa như điềm báo về tương lai. Các nhà tử vi đã dựa vào thời gian xảy ra hiện tượng đó để đưa ra dự đoán:

Giờ Tý (23 giờ - 1 giờ)
Có tiền bối đến giúp, đại cát
Giờ Sửu (1 giờ - 3 giờ) Cát tường tìm đến, đại cát
Dự đoán gia vận đi xuống với 5 điềm báo phong thủy
Vận thế của mỗi người và gia vận luôn có mối quan hệ với phong thủy trong nhà. 5 điềm báo phong thủy dưới đây chính là lời nhắc nhở cho việc gia vận đang đi

Giờ Dần (3 giờ - 5 giờ) Hóa hung thành cát   Giờ Mão (5 giờ - 7 giờ) Sắp có tiền tài, đại cát lợi
Giờ Thìn (7 giờ - 9 giờ) Đại hung sắp đến, gia chủ cẩn thận
Giờ Tỵ (9 giờ - 11 giờ) Sắp gặp khách quý hoặc bạn thân, đại cát
Giờ Ngọ (11 giờ - 13 giờ) Sắp có ưu phiền
Nhin thoi diem chuot rut nam ro diem bao hung cat hinh anh 2
 
Giờ Mùi (13 giờ - 15 giờ) Sắp có hỷ sự, đại cát
Giờ Thân (15 giờ - 17 giờ) Sắp có thị phi, hóa giải được hóa cát   Giờ Dậu (17 giờ - 19 giờ) Vì tiền tài phải gặp nạn, đại hung
Giờ Tuất (19 giờ - 21 giờ) Có người từ phương xa tới, đại cát   Giờ Hợi (21 giờ - 23 giờ) Hỷ sự sắp đến, đại cát
► Tham khảo thêm: Giải mã những giấc mơ và điềm báo hung cát
6 loại hoa quả không thể không sử dụng trong tiết Tiểu Mãn Chi Nguyễn
 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nhìn thời điểm chuột rút nắm rõ điềm báo hung cát

Những con giáp đào hoa, vừa yêu vừa sợ

Hầu hết, những con giáp đào hoa, không chỉ tuổi trẻ mà tới khi về già cũng vậy, nếu xác định gắn bó với họ lâu dài thì nên thận trọng.
Những con giáp đào hoa, vừa yêu vừa sợ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Hầu hết, những con giáp đào hoa này đều rất "đỏ" về tình duyên, không chỉ tuổi trẻ mà tới khi về già cũng vậy, chính vì thế, nếu xác định gắn bó với họ lâu dài thì nên thận trọng.


► Xem bói tình duyên theo ngày tháng năm sinh để biết hai bạn có hợp nhau không

Nhung con giap dao hoa, vua yeu vua so hinh anh 2
Ảnh minh họa
 

Người tuổi Ngọ
 

Rất khó để kiềm chân con giáp đào hoa tuổi Ngọ vì họ yêu thích tự do. Họ ghét việc bị trói buộc trong khuôn mẫu và đóng khung trong những mối quan hệ quen thuộc. Họ luôn muốn được giao lưu, kết bạn với thật nhiều người trong cuộc sống. Không chỉ vậy quan điểm về tình yêu của họ cũng rất khác biệt, họ dễ dàng kết đôi nhưng chỉ vì những hiểu lầm hay tranh cãi nhỏ cũng có thể trở thành lý do để họ chấm dứt bất kỳ mối quan hệ nào. Chính sự phóng khoáng và cởi mở này trong tính cách của họ khiến người yêu hay bạn đời của họ luôn cảm thấy thiếu cảm giác an toàn khi ở bên họ. Một nửa của tuổi Ngọ luôn lo sợ sẽ mất họ bất cứ lúc nào.
Nhung con giap dao hoa, vua yeu vua so hinh anh 2
Ảnh minh họa

Người tuổi Dậu


Người tuổi Dậu yêu sâu đậm nhưng lại khá đa tình, tức là nếu lỡ say nắng ai, họ cũng rất khó để quên. Chưa kể, người tuổi Dậu cũng có nhiều người theo đuổi.
 
Họ rất giỏi giang, sắc xảo và rất mềm mỏng khi xử lý tình huống, quyết đoán với chủ kiến của bản thân. Càng trưởng thành thì sức hút này càng tăng chứ chưa bao giờ giảm bớt bởi sự quyến rũ “chết người” của họ.
Nhung con giap dao hoa, vua yeu vua so hinh anh 2
Ảnh minh họa

Người tuổi Tỵ

  Người tuổi Tỵ rất có sức lôi cuốn, bí hiểm, họ đào hoa, phong lưu, yêu nhiều và cũng có rất nhiều vệ tinh xoay quanh. Những người tuổi Tỵ là những người giàu tự tôn, ngạo nghễ, luôn có sức hút mạnh với người khác giới do đó mà được đánh giá là con giáp đào hoa.   Phụ nữ tuổi Tỵ rất độc lập, có khả năng giao tiếp, luôn lẳng lặng quan sát mọi người xung quanh. Họ lại có khí chất rất nhẹ nhàng, quý phái luôn khiến đàn ông phải dõi theo.   ST.
Biến động trong vận trình của 12 con giáp tiết Lập Đông Ghen tị với 5 con giáp trời sinh số hưởng Lấy vợ tuổi Ngọ cả họ được nhờ

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những con giáp đào hoa, vừa yêu vừa sợ

Sài Gòn với những ngôi chùa "nhất" Việt Nam

Những ngôi chùa ở Sài Gòn có nhiều cái “nhất” ở Việt Nam, với đời sống tâm linh phong phú, đặc sắc, trải qua nhiều thế hệ.
Sài Gòn với những ngôi chùa "nhất" Việt Nam

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Sài Gòn là nơi có những ngôi chùa nhiều cái “nhất” ở Việt Nam, với đời sống tâm linh phong phú, đặc sắc, trải qua nhiều thế hệ.

Sai Gon voi nhung ngoi chua nhat Viet Nam hinh anh
Chùa Vĩnh Nghiêm

1. Giác Lâm – chùa “già” nhất Sài Gòn

Chùa Giác Lâm là ngôi chùa ở Sài Gòn thành lập năm 1744 là một trong những ngôi chùa có mặt sớm nhất ở đất Gia Định còn tồn tại đến nay, do cư sĩ Lý Thụy Long, người Minh Hương (người Trung Quốc) xây dựng.
 
Chùa là ngôi Tổ đình danh tiếng bậc nhất, chứa đựng nhiều tư liệu quý báu về lịch sử, văn hóa, nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, tôn giáo như hoành phi, câu đối, bàn thờ, đồ thờ cổ… Riêng bộ tượng Thập Bát La Hán là minh chứng rõ nét nhất cho quá trình phát triển của Phật giáo ở Nam Bộ.
 
2. Chùa Vĩnh Nghiêm – Nơi có tháp đá cao và công phu nhất Việt Nam

Chùa Vĩnh Nghiêm là ngôi chùa lớn và nổi tiếng của Sài Gòn. Chùa được ghi nhận là nơi có tháp đá cao nhất và công phu nhất Việt Nam, với 7 tầng, cao 14m được khánh thành vào năm 2003. Tháp được xây dựng với nghệ thuật trổ đá dày đặc, công phu với hoa văn, họa tiết điêu khắc phủ kín, tất cả đều theo phong cách văn hóa Lý – Trần.
 
3. Chùa Xá Lợi – Chùa có tháp chuông cao nhất Việt Nam 

Chùa Xá Lợi ở Sài Gòn không chỉ được biết đến với kiến trúc và cảnh quan tuyệt đẹp mà còn khá nổi tiếng với những dấu chứng lịch sử về cuộc đấu tranh của Phật tử chống lại chế độ độc tài Ngô Đình Diệm kỳ thị và đàn áp tôn giáo.
 
Chùa được xây dựng để thờ xá lợi Phật tổ nên được đặt tên là chùa Xá Lợi. Chùa Xá Lợi là ngôi chùa đầu tiên của thành phố được xây dựng theo lối kiến trúc mới, trên là bái đường, phía dưới là giảng đường. Chùa nổi tiếng là nơi có tháp chuông cao nhất Việt Nam gồm 7 tầng, cao 32m, khánh thành vào năm 1961.

4. Chùa Vạn Đức – Chùa có chánh điện cao nhất Việt Nam 

Tòa chánh điện chùa Vạn Đức cao 43,5m, là toà chánh điện cao nhất hiện nay. Công trình mất 2 năm với hơn 60 thợ xây để thực hiện. Ngoài giá trị về mặt thẩm mỹ, thâm nghiêm, ngôi chùa ở Sài Gòn này còn là một kiểu mẫu cho nghệ thuật tạo hình trong kiến trúc hiện đại.   
► Xem lịch âm và giờ hoàng đạo chuẩn xác tại Lichngaytot.com

ST

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sài Gòn với những ngôi chùa "nhất" Việt Nam

Nguyên tắc căn bản giải đoán một lá số Tử Vi

Bài viết trình bày những nguyên tắc căn bản giải đoán một lá số Tử Vi của tác giả Cam Vũ. Đây là một kinh nghiệm rất đáng quý để người học tử vi học tập noi theo.
Nguyên tắc căn bản giải đoán một lá số Tử Vi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bài viết của tác giả Cam Vũ, được trích từ phần cuối cuốn Tử Vi Chỉ Nam của Song An Đỗ Văn Lưu. Đây là một bài viết rất hay và đầy đủ trình bày cách giải đoán một lá số Tử Vi.

Sau khi bạn đã lấy được lá số, để phần giải đoán ít thiếu sót, ta cần lưu ý những điều sau:

1. Tương quan giữa hành của bản Mệnh và hành của Cục

Cục có nghĩa là cách cục, hay còn gọi là cuộc, là cái thế cuộc mà ta đang sống – hay nói đúng hơn chính là cái môi sinh mà bản mệnh ta đang ngụp lặn trong đó.

a. Hành Cục sinh Mệnh

Thí dụ: Mệnh Thổ, Hỏa Lục Cục, Hỏa sinh Thổ, người được hoàn cảnh ưu đãi, để gặp may may mắn, để thuận lợi.

b. Mệnh Cục tương hòa

Thí dụ: Thổ Mệnh, Thổ ngũ Cục: người để hòa mình với hoàn cảnh, với đời sống bên ngoài.

c. Mệnh sinh Cục

Thí dụ: Thổ mệnh, Kim tứ cục: thổ sinh kim, người phải sinh cho môi sinh tức là vất vả, hay làm lợi cho thiên hạ.

d. Mệnh khắc Cục

Thí dụ: Thổ Mệnh, Thủy nhị Cục, Thổ khắc thủy, cuộc đời có nhiều trở ngại, hay làm hỏng đại sự, thành công trong nghị lực.

e. Cục khắc Mệnh

Thí dụ: Thổ Mệnh, Mộc tam Cục Mộc Khắc Thổ: đang thương, người hay bị môi sinh không thích hợp với mình, sự thành công nếu có đòi hỏi phải trải qua gian khổ.

2. Tương quan giữa Can và Chi của năm sinh

Can là Thiên Can, Chi là Địa Chi – Can Chi kết hợp với nhau như sự giao hòa của trời đất, giống như 1 cây gồm 2 phần gốc và ngọn.

a. Can Chi Tương Hòa

Thí dụ: Giáp Dần, Mộc, Dần mộc là người sinh ra từ họ có căn bản vững chải có đủ khả năng để đạt được cái mình đã có.

b. Chi sinh Can

Thí dụ: Ất Hợi: Hợi thủy sinh Ất mộc do may mắn mà thành công chứ thực lực, khả năng chưa đạt được đến mức độ ấy. Cuộc đời họ là một chuỗi dài may mắn tiếp nhau để có từ thành công này đến thành công khác.

c. Can sinh Chi

Thí dụ: Canh Tý, canh kim sinh tý thủy người được trời ưu đãi để làm việc, vừa có khả năng vừa gặp may thuận lợi để đưa đến thành công cách dễ dàng.

d. Can khắc Chi

Thí dụ: Canh Dần: canh kim khắc dần mộc người hay gặp nhiều nghịch cảnh dễ sẵn sàng làm đổ vỡ sự nghiệp, ở những mẫu người này cần đòi hỏi họ phải có 1 lá số với các sao đi đúng bộ thật tốt mới mong nên danh phận nhưng cũng vẫn trải qua nhiều nỗi thăng trầm.

e. Chi khắc Can

Thí dụ: Ất Dậu: Dậu kim khắc Ất mộc thành công trong khó khăn, sự nghiệp hay bị gẫy đổ lung tung để rồi lại xây dựng lại. Nói tóm lại thiếu may mắn.

3. Đem hành của bản mệnh so sánh với hành của 12 cung số

Ðể biết sự sinh khác giữa mình với những người liên hệ, bản mệnh là ta, cung an mệnh là nhà, là cái mà bao quản cho ta, các sao ví như đồ đạc, tiện nghi mà ta phải xử dụng, nếu tương sinh hoặc đồng hành, thời tốt mà làm lợi cho ta, nếu bị khắc thời bất lợi. Nếu bản mệnh tương hòa hay tương sinh với cung bản mệnh, cung an mệnh ở tại Dâu là kim khắc mộc. Thì đoán tìm đến các sao thủ và chiếu xem có sao nào đồng hành với bản mệnh không rồi lại thấy nếu sinh vào giờ kim xà thiết tỏa nữa thì thật là chết non chẳng sai mà đã chết non thì các cung liên hệ chẳng còn gì để bàn nữa.

Cho nên phú tử vi mới có câu:

Ðào Hồng ngộ kiếp Không đồng thủ
Xá bàn chi bần lũ yểu vong.

Thí dụ như lá số: Quí Dậu tháng 5 ngày 30 giờ Sửu – Âm Nữ kim mệnh, Hỏa cục, Mệnh lập ở Ngọ. Cung Ngọ là hỏa khắc mệnh kim, lại có Đào, Jồng gặp Không Kiếp nên đã chết từ lúc 3 tuổi.

Sau khi đã so sánh với cung mệnh rồi, thì lần lượt xem đến 11 cung kế tiếp để xem sự khắc hợp thế nào?

Thí dụ: người có Mệnh Mộc, cung Mệnh ở Dần cũng là hành Mộc, như vậy:

Phụ Mẫu nào ở Mão Mộc là tương hòa, con người giữ được chữ hiếu và cũng được cha mẹ yếu thương, Phúc Đức ở Thìn Thổ là khắc (mệnh Mộc khắc Thổ) là không tìm được sự giúp đỡ của họ hàng và bản thân cũng không tìm thấy sự an ủi, thoải mái đối với họ hàng.

Ðiền, Quan ở Tỵ là Hỏa, Mộc sinh Hỏa cho nên sẽ vất vả với công danh, với nhà cửa.

Nô ở Mùi, Tài ở Tuất, Bào ở Sửu đều thuộc Thổ cả ta cứ luận như ở cung Phúc Ðức - nghĩa là phải vất vả với bạn bè, anh em và tiền bạc vì Mộc khắc Thổ. Ách ở đâu là Kim khắc Mệnh Mộc có nghĩa là mỗi khi bị bệnh tật hay tai nạn thì khó mà tránh được dễ dàng.

Cung Di ở Thân là kim khắc mộc: nghĩa là đứng trước một đối tượng người này hay bị ở vào tư thế lép vế dù rằng có khi mình hơn họ về phương diện nào đó.

Tử và Thê ở Hợi và Tý thuộc thủy sinh cho mệnh ở Dần, nếu lập gia đình, có con cái, thì cuộc đời sẽ thấy thoải mái hơn và nếp sống trong gia đình với vợ con cũng đặt được sự yêu thương thuận thảo.

Như trên là nguyên tắc và thí dụ, đối với các trường hợp khác cũng vậy cứ dùng ngũ hành sinh khắc của mệnh và 12 cùng mà suy, hễ khắc thì không hợp, tương hòa hay sinh thì được sự phù trợ, tùy theo cung sinh hay khắc.

4. Đặc tính ngũ hành và vị trí miếu, hãm của các sao

Để xếp hạng cách cục được hướng cho mỗi người, nhất là 14 chính tinh và các trung tinh. Hiểu rõ tính chất của mỗi sao, các sao đi như thế nào là đúng bộ, có phá lẫn nhau không, các sao Thủ và chiếu mệnh có đồng hành với bản mệnh không?

Thí dụ: bộ Nhật Nguyệt cần có Ðào Hồng Xương Khúc, bộ Tử Phù Vũ Tướng cần Tả, Hữu, Tam Hóa, bộ Sát Phá Tham cần Lục Sát Tinh đắc địa, bộ Cơ Nguyệt Ðồng Lương cần Tam Hóa, Quang Quý, Thai Tọa, phá của các cách, nhưng xin quí đọc giả lưu ý phần tính chất các sao là 1 trong những yếu tố quan trọng nhất để đoán tử vi được chính xác, nó cũng là 1 yếu tố để gây hứng khởi cho người xem và được xem tử vi.

Một người có số dù các sao đã đi đúng bộ nhưng không có chính tinh đồng hành với mệnh thì cũng chẳng tốt gì, dù mệnh có chính tinh hay trung tinh đi đúng bộ, lại có chính tinh đồng hành làm lòng cốt, nhưng lại gặp phá cách thì cũng vất đi mà thôi.

Thí dụ: Tử Phủ Vũ Tướng Hội Tam Hóa, Tả Hữu, nhưng lại gặp cả Không Kiếp, là cách để ngộ hung đồ. Lúc ấy Tả Hữu sẽ kết hợp bè đang với Không Kiếp và Quyền, Lộc lúc ấy chính là cái mồi để cho lũ hung đồ Không Kiếp làm rắc rối cho mình.

Có thuộc rõ tính chất của từng sao thì mình mới luận được nhiều điều dị biệt trong lá số, mới nắm được cái lý biến hóa vô cùng của Tử Vi, tại sao cũng số như vậy mà người này thế này người kia thế kia. Tại sao theo sách thường thì Ðào Hồng Nhật Nguyệt là thi đỗ mà nay người ấy lại chẳng đậu, chẳng hóa ra các người đi trước sai cả hay sao, nhưng nếu xét cho kỹ thì mới thấy được cái đã phá đi mất tính chất tốt đẹp ấy. Nói tóm lại, gặp sao tốt phải xem ngũ hành để mình có được hưởng hay không? Rồi xem có bị phá cách không? Gặp hung tinh xem có đắc địa không? Tất cả các bàng tinh (sao nhỏ) có nhập bộ không? Có phù trợ đắc lực hay hợp với bộ chính
tinh của mình không? Có nhiều người đã cho rằng môn Tử Vi cần đơn giản hơn, bỏ bớt các sao nhỏ đi không cần dùng tới, nói như thế thì các bậc tôn sư ngày xưa lập và theo môn Tử Vi lại làm thừa sao? Sao các cụ không bỏ bớt mà phải chờ đến lượt mình. Sự thật, nếu thuộc kỹ, các tính chất cả các sao nhỏ mới tìm thấy các vi điệu, cái lý thú của Tử Vi.

Thí dụ: như sao Phượng Các và Giải Thần luôn luôn đi với nhau, có người bảo sao không bỏ bớt 1 sao mà lại phải để cả hai, thực ra vì cái lý khi tiểu hạn gặp Phượng Các tất có ốm đau nặng, nên Giải Thần phải luôn luôn đi
kèm để giải đi cái hung hãn của Phượng Các. Lại như Thiên Riêu, Thiên Y lúc nào cũng đồng cung vì lấy lý rằng: thầy thuốc luôn luôn phải biết cả Y, Dược. Luôn bào chế, nhưng cho dù thế sự ngày này biến đổi đã phân ra
làm Y, Nha, Dược hỏi về cách dùng thuốc. Chính là tính chất Thiên Y vậy.

Những suy luân tiếp theo và những kinh nghiệm về hợp cách và phá cách sẽ được trình bày ở mục Tử Vi vấn đáp.

5. Vị trí các sao với 12 cung

Sau khi đã xem đến ngũ hành, đắc tinh miếu, hãm. Bộ cách các chính tinh hợp nhau, phá cách và các sao Phù trợ lại cần phải để ý lại 1 lần nữa xem vị trí các sao nằm trên 12 cung số có đúng với các sao nằm trên 12 cung số, có đúng với tính chất của nó không? Tài tinh phải cư Tài Bạch, Phúc Tinh phải cư Phúc Ðức, Quyền tinh phải ở Quan lộc, Uy Dũng chỉ tinh nên ở mệnh với nam nhân, còn nữ nhân mà có Uy Dũng tinh thủ chiếu mệnh là phá cách, cuộc đời sẽ cô đơn vất vả, và có nhiều oan trái dù có nhiều cát tinh phù trợ sao tuy đi đúng bộ, đắc địa nhưng nằm nghịch vị trí thì cũng không tốt, ví như Phá chẳng nên cư ở Nô Bộc, Thê Thiếp, Tài Tinh là Lộc Tồn, Hỏa Lộc nên tránh xa cung Tật Ách, các sao cứu giải cần đóng ở Ách, Phúc tinh nếu đóng ở Phúc Ðức thì tốt hơn các cung khác.

6. Vị trí cung Mệnh với Thái Tuế, thứ đến xem cung Mệnh nằm ở đâu với vòng Thái Tuế

a. Nếu mệnh nằm trong tam hợp tuổi

Thí dụ người tuổi Dần có mệnh lập ở Dần, Ngọ hay Tuất tức là vị trí Thái Tuế, Quan Phủ, Bạch Hổ vì sao Thái Tuế an theo năm sinh, sinh năm nào Thái Tuế cư cung có tên của năm ấy; tức là loại người luôn luôn tự mắc cho mình lấy 1 tinh thần trách nhiệm, hay can dự vào những chuyện bất bình, gánh vác việc người, có lòng hào hiệp, chính vì vậy mà Phú Ma Thị có câu "Thân cư Thái Tuế dữ nhân qua hợp", Thân đây chính là Thân Mệnh vậy, các cổ thư khi bàn đến tính chất của Thái Tuế đều cho như một cái gì không tốt đẹp lắm; nào là đa chiêu thị phi khẩu thiệt, ít cảm tình, kiêu kỳ lý luận chính vì cái lý sự đời nhiều cảnh trái ngang, mà đã là chính nhân quân tử thì làm sao lại hòa mình với sói lang được, nên phải đứng riêng, ra tay nghĩa hiệp nên hay bị thiên hạ gây ác cảm, cái tính chất của Thái tuế như vậy cho nên bao chiều chung quanh luôn luôn có Long Phượng Cái Hổ, là tứ linh phục châu - bởi vậy người Thái Tuế không cần Tam hóa, cũng vẫn phong lưu, vẫn được người đời khi ghét nhưng vẫn phải nể. Vì ghét đây vẫn chỉ là ghét vì thói thường, vì sự can thiệp của Thái Tuế mà cản trở việc làm mờ của họ. Nhưng người Thái Tuế vẫn đứng trên lẽ phải, do đó mà người có Thái Tuế thường hay tự hào, đôi khi kiêu ở ngầm trong chính bản thân họ, trong tâm hay khinh thường đối tượng. Sách nói Thái tuế khinh người quả là không sai.

Khi Mệnh có Thái Tuế, tức đi Phu mẫu Phải ở thế tam hợp với Thiên Không, có nghĩa là từ khi sinh mình ra thì công việc, sự nghiệp của cha mẹ đang trên đà xuống dốc nếu không muốn nói là suy sụp.

b. Nếu mệnh nằm trong tam hợp lấn tuổi

Thí dụ: tuổi dần ngọ tuất mà mệnh nằm ở 1 trong 3 cung Hợi Mão Mùi, tức là ở thế lấn và luôn luôn có Thiên Không, vì Thiên Không an ở đằng trước theo chiều thuận (chiều kim đồng hồ), trước Thái tuế 1 cung, ở đây lại chia làm 3 trường hợp:

  1. Thiên Không ở tứ chính: tý, ngọ, mão, dậu tức là người khôn ngoan, lấn lướt, luôn luôn phải hơn người mới chịu, sắc sảo - nếu tại Mệnh thì đó là tư tưởng nhưng nếu tại Thân thì sự lấn lướt mà tục ngữ Việt Nam gọi là "khôn ăn người" lại tỏ ra bằng hành động.
  2. Thiên Không ở thế tứ mộ: Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Ðây là vị trí Thiên Không hoạt động mãnh liệt nhất, phá tán nhất, gây nhiều đổ vỡ nhất, vì Thiên Không là hành Hỏa sinh cho cung Thổ, tức là người hay thích đạp đổ tất cả những gì có từ trước để xây dựng lại theo ý của mình, loại người nguy hiểm, ác nếu có nhiều hung tinh gây bè kết đảng xúi giục.
  3. Thiên Không ở thế tứ sinh: Dần, Thân, Tỵ, Hợi ở đây Thiên Không có Hồng Loan đi kèm, Không là sắc sắc không không, là vạn sự giai không Hồng Loan ngoài các ý nghĩa khác còn có ý nghĩa tương cho của chúa, cửa thiên đường - như ngầm nói lên con người có Thiên Không ở tứ sinh đã ngộ được chữ không ở đời mình, khéo tu thì tránh được phiền não.
  4. Nhưng dù ở vị trí nào thì bản chất Thiên Không vẫn là vạn sự giai không, lo toan, khôn ngoan cho lắm thì kết quả sau cùng cũng vẫn là chữ không. Chỉ có những chân tu, nhưng người chọn theo cửa không thì mới được thoải mái vì không có thì không mất. Ví như kẻ trộm đi lấy tiền của 1 người túi rỗng thì phỏng có được gì, mà người bị trộm kia thì có gì để mất, nhưng đáng tiếc thay, trên đời này vòng danh lợi luẩn quẩn mấy ai đã ngộ được chữ "Không" ấy.

c. Mệnh ở Tam Hợp: Tang Môn, Ðiếu Khách, Tuế Phá tức là lấn với cung tuổi 2, hay lùi sau 2 cung

Ðây là loại người hay bất mãn, than vãn để đi đến đối lập, cuộc đời hay gặp nghịch cảnh để khơi nỗi niềm bất mãn lên cao nhưng nếu gặp Thiên Mã đồng hành bản mệnh thì lại giúp cho họ có 1 nghị lực vững vàng để sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn tiến đến thành công.

d. Mệnh ở thế lùi với cung tuổi

Tức là mệnh 6 cung sau cung tuổi, thí dụ tuổi dần ngọ tuất có mệnh ở tỵ dậu sửu, với vòng Thái Tuế là: Trực phù, Thiếu âm, Long Ðức là loại người hiền từ căn bản, hay nhịn không hơn thua, chó sủa mặc chó, đường ta ta cứ di, nhưng hành động lại vụng về chuyên đào giếng cho thiên hạ uống nước.

Nếu mệnh ở thế lùi cung tuổi thì Phu mẫu lại thế Thái Tuế và có Long Phượng Cái Hổ, như thế là từ khi sinh ra mình, cha mẹ sẽ ăn nên làm ra sự nghiệp thăng tiến.

Ðến đây, xin kính cẩn tri ơn cụ Thiên Lương, nhưng phổ biến việc khai triển vòng Thái Tuế và các kinh nghiệm có tính cách nghiệm lý của cụ về Tử Vi, đã gây 1 tiếng vang chấn động trong làng Tử Vi mà các cổ thư hay các cụ tiền bối của ta vì hữu ý hay vô tình không nói đến. Cụ đã mở ra, đã chứng minh, đã xây dựng thành công Tử Vi là cả một nguyên lý học, dạy con người ở đời phải sống thế nào cho được thoải mái, chứ không phải chỉ thu hẹp Tử Vi như một môn bói toán, với những định luật bắt buộc có tính cách cố định, như những ai kia hằng quan niệm.

7. Xem cung nhị hợp

CÁC CUNG NHỊ HỢP GỒM CÓ:

  • Tý hợp Sửu
  • Dần hợp Hợi
  • Mão hợp Tuất
  • Thìn hợp Dậu
  • Ngọ hợp Mùi
  • Tỵ hợp Thân

Nhưng cần lưu ý thế nhị hợp giữa 2 cung sinh xuất, hay sinh nhập, muốn biết cung nào sinh xuất hay sinh nhập cho cung nào cần biết thế tam hợp và hành của tam hợp.

  • Tam Hợp: Dần Ngọ Tuất thuộc Hỏa
  • Tam Hợp: Thân, Tý, Thìn thuộc Thủy
  • Tam Hợp: Hợi, Mão, Mùi thuộc Mộc
  • Tam Hợp: Tỵ, Dậu, Sửu thuộc Kim.

Như thế: 4 thế tam hợp chỉ có bốn hành Hỏa, Thủy, Mộc, Kim còn hành Thổ đi đâu mất? Trong dịch học có nói Thổ là trung ương, ứng với số 5, còn gọi là Ngũ Trung trong ngũ hành Kim Thủy Mộc Hỏa Thổ thì hành Thổ là chính cho nên Tử Vi, Thiên Phủ là 2 sao đứng đầu của 2 nhóm chính tinh đều thuộc Thổ - ở đây ta thấy các Tam hợp Dần Ngọ Tuất tuy thuộc hành Hỏa, nhưng trong đó đã có Tuất Thổ, Thân Tý, Mùi thuộc Mộc có Mùi Thổ, Tỵ Dậu Sửu thuộc Kim có Sửu Thổ.

Ðem hành của Tam Hợp so sánh với thế nhị hợp ta có:

  • Thân Tý Thìn: hành Thủy được Tỵ Dậu, Sửu hành Kim sinh nhập, hay Tỵ Dậu Sửu nhị hợp và sinh xuất Thân, Tý, Thìn.
  • Dần, Ngọ, Tuất, hành Hóa được Hợi, Mão, Mùi sinh nhập, hay Hợi, Mão, Mùi sinh Dần, Ngọ, Tuất.

Như vậy, trên lá số có 12 cung, có 6 cung được sinh nhập và 6 cung sinh xuất:

  • 6 cung sinh nhập là: Dần, Ngọ, Tuất, Thân, Tý, Thìn.
  • 6 cung sinh xuất là: Tỵ Dậu, Sửu, Hợi, Mão, Mùi.

Ðể cho dễ nhớ hơn, trong thế nhị hợp của 12 cung thì 6 cung dương là sinh nhập, còn lại 6 cung âm là sinh xuất.

Ứng dụng:

  • Nếu mệnh nằm ở cung âm là sinh xuất tức là người hào sảng, phóng khoáng dễ tha thứ, rồi xem đến cung nhi hợp là cung nào, tức là người hay lo toan yêu thương cho đối tượng thuộc cung ấy.
    Thí dụ: mệnh ở Sửu- như thế Tý là cung huynh đệ-cung mệnh nhị hợp và sinh xuất cho huynh đệ tức là người hết lòng thương yêu, hy sinh quyền lợi của mình cho anh chị em.
  • Nếu mệnh nằm ở cung dương là thế sinh nhập tức là ở thế thu vào, thế hưởng lợi, là người kỹ lưỡng làm việc gì cũng suy xét, tính toán cẩn thận. Lại xem đến cung nhị hợp là cung thuộc quan hệ nào, thì người ấy (bản mệnh) nhận được sự bao dung giúp đỡ che chở của đối tượng nhị hợp ấy.
    Thí dụ: mệnh ở Thìn, nhị hợp và được nó ở Dậu sinh nhập cho mệnh như thế là người có cuộc sống gắn liền với bè bạn, luôn luôn được bạn giúp đỡ, tóm lại số nhờ bạn.

Các cung khác cũng luận như vậy. Cung an Thân cũng luận như thế vì Thân ở đây chính là cái ta vậy. Thứ đến luân đến yếu tố sao của cung nhị hợp: khi coi cung nhị hợp phải để ý xem có chính tinh nhị hợp, phải để ý xem có chính tính nhị hợp hay không?

Nếu có mới là bảo đảm nhị hợp còn nếu không chỉ là hư vị mà thôi. Thí dụ: Tử vi ở cung Ngọ (dương) nhị hợp với cung Mùi (âm) nếu lấy lý âm dương mà suy thì âm phò dương tức Mùi sinh Ngọ - nhưng hễ cứ Tử Vi cư Ngọ thì cung Mùi bao giờ cũng vô chính diệu mà đã vô chính hiệu thì lấy gì kết đôi với Tử Vi đây? Như thế thì cung Ngọ không thể hưởng được các sao ở cung Mùi.

8. Xem cung xung chiếu

Như thế nào thì hưởng thế xung chiếu? Cung Thiên Di luôn luôn ở thế xung chiếu với cung Mệnh tức là thế đối nghịch với mình, sách xưa nói Thiên Di là ra ngoài, phải hiểu rằng Thiên Di chính đối phương của mình, vì thế mới có câu:

Ðối phương hung đương đầu ác bổng.
Ðối phương cát ngưỡng diện xung phong.

Nếu cung Thiên di khắc cung Mệnh tất không được hưởng cung Thiên Di, mà còn xấu rứa là khác, nếu cung đi và tam hợp của đi có nhiều hung sát tinh hội họp.

Thí dụ: người có mệnh lập ở Dần, Thiên di ở Thân mà tam hợp Thân Tý, Thìn lại có sát tinh, thì khi ra đời hay bị thua kém. Chỉ được hưởng cung Thiên Di khi cung mệnh khắc cung di, đây chính là lúc áp dụng coi chính điệu xung chiếu như chính diệu tọa thủ đối với cung vô chinh diệu. Thí dụ: người mệnh lập ở Thân có Thiên Di ở Dần, Thân khắc Dần nên mới thu hút được các sao ở cung Dần sang, coi như ở thế bị khắc thì đã bị khắc rồi thì còn lấy của đối phương làm sao được?

9. Cách cuộc tốt xấu của các cung liên hệ

Phải để ý Thân, Mệnh, Tài, Quan có bi Tuần Triệt xâm phạm không? Tật ách có được Tuần, Triệt hay các sao cứu giải như Hoa Khoa cư ở đấy không?

Sau khi đã biết được tổng quát cuộc đời và các cung liên hệ như Bào, Thê, Tử..  thì coi đến hạn.

10. Cách coi hạn

Trong lá số Tử Vi có 2 loại hạn. Tiếng hạn đây chỉ có nghĩa như 1 khoảng thời gian có giới hạn mà trong đó mình sẽ gặp hay được hướng những gì chứ không phải hạn đây là tai nạn.

  • Ðại hạn: khoảng chừng 10 năm.
  • Tiểu hạn: khoảng 1 năm.

A. Ðại Hạn

Trước hết phải xem yếu tố đại cuộc, tổng quát xem đại hạn ấy có thuận lợi cho mình không? Bằng cách dùng tam hợp tuổi của mình so sánh với hành tam hợp của từng đại hạn để xem xung khắc thế nào?

  1. Ðược tương hòa: tức là vận đáo Thái Tuế đắc Long Phượng Cái Hổ
    - Nếu gặp nhiều cát tinh thủ chiếu, đang gặp tai nạn thì cũng được cứu giải mà qua khỏi
    - Nếu gặp nhiều hung tinh phá cách mát mặt với đời.
    Thí dụ như người tuổi Dần, Ngọ, Tuất, đại hạn 10 năm đến cung Dần, Ngọ, Tuất.
  2. Ðược tương sinh: hành của tam hợp, đại hạn.. sinh hành của tuổi, thì đủ: tuổi Dần, Ngọ, Tuất, Đại hạn đến cung Hợi, Mão, Mùi (mộc sinh Hỏa) được thuận nhập có nhiều thuận lợi may mắn, sức khỏe tốt.
  3. Tam Hợp của tuổi khắc Tam hợp đại hạn
    Thí dụ: Dần, Ngọ, Tuất là Hỏa đáo vận Tỵ, Dậu, Sửu là Kim khắc xuất, tức là mình đi khắc người ta, vất vả không tốt.
  4. Tam Hợp đại hạn khắc tam hợp tuổi
    Thí dụ: tuổi Dần Ngọ, Tuất đại vận đến cung Thân, Tý, Thìn là Thủy khắc Hỏa, là khắc nhập tức là bị người ta khắc mình, rất xấu, dù các sao trong Ðại Hạn có tốt mấy đi nữa thì cũng bị giảm đi rất nhiều.

Sau khi đã xem đến Ngũ Hành Sinh Khắc để biết trong đại hạn 10 năm ấy, có được thuận lợi hay không, phải để ý đến các sao thủ mệnh thuộc bộ nào, có hợp bộ với các sao trong đại hạn hay là bị các sao của hạn làm phá cách đi. Thí dụ: mệnh Nhật Nguyệt tối kỵ hạn gặp Hình Kỵ, mệnh Thất Sát kỵ hạn gặp Kình Ðà, tối độc mệnh có Lục Sát Tinh, hạn lại gặp Ðại hao, Phá quân như trên chỉ là thí dụ điển hình, nhiều cách, nhiều sao phá nhau đã được trình bày trong bất cứ các sách Tử Vi nào cũng có, nhưng truy nguyên cũng suy từ tính chất các sao mà ra, ta cứ học kỹ tính chất các sao mà r, ta cứ học kỹ tính chất các sao nghiền ngẫm, sẽ tìm được sự sinh khắc chế hóa thật là kỳ thú, nhiều khi thấy tốt đấy mà không phải là vậy, nhìn phớt thấy toàn sao tốt, nhưng chỉ một sao nhỏ cũng làm cho phá cách đi, tỷ như có người con gái mệnh có Ðào hoa ngộ Thiên Không, Hình, Riêu mà sao không lẳng lơ dâm đãng, lại thật là đúng đắn, vì có sao Nguyệt Ðức ở đấy, sao nãy hóa giải được tính hoa nguỵêt của đào hồng, hay người mệnh Hỏa mà hạn gặp sao Thủy thì không những chẳng được hưởng mà còn mang họa nữa là khác. Tóm lại: các sao trong hạn phải hợp bộ với bản mệnh và hợp bộ với bản mệnh và hợp hành với mệnh của mình thì mới được hưởng – rồi xem lại đến hành của tam hợp đại hạn ấy mình được sinh khắc thế nào mà chế hóa đi - cho tinh tường của Tử Vi cũng là chỗ này vậy.

Khi xem đại hạn nên chú ý đến các sao trong hạn, tuy hợp bộ nhưng tính chất có khác biệt với các sao ở mệnh không nếu có thì người ấy đến đại hạn đó sẽ đổi nghề, thí dụ: người mà các sao thủ mệnh là văn tinh như Xương Khúc Khôi Viêt.. nhưng đến Ðại Hạn lại gặp võ cách như Binh Hình Tướng Ấn, Sát Phá Tham tức là người ấy sẽ đổi văn ra võ, lại như người đang là võ cách đến đại hạn gặp toàn văn tinh, quí tinh nhưng sao an nhàn thì quyết là đổi võ ra văn, hay 1 người có số thầy – thuốc – nhưng đến đại hạn lại gặp Kình đã đắc địa. Các sao mồm mép như Cựu cơ và các Tài tinh, mà không gặp các Quý Tinh như Quan Phúc, Quang Quí, thì đại hạn ấy sẽ đổi nghề thầy thuốc ra thương mại.

Các trường hợp khác cũng vậy cứ tính chất các sao mà suy. Ở đây tôi chỉ xin phép để nhắc lại với quý đọc giả cái kỳ thú do sự nghiệm lý ở Tử Vi mà thôi cái Dịch học của Á Ðông ta biến hóa vô cùng dù viết cho có thiên kinh vạn quyển cũng bất tận - nhưng quy lại cũng chỉ có 1 nguyên tắc là Âm Dương, Ngũ Hành sinh khắc chế hóa nên người học Tử Vi cũng vậy, cứ nghiền ngẫm cho kỹ tính chất các sao và đặc tính của mỗi cung số là nắm được chìa khóa, đi từ gốc đi lên ta sẽ không bị lạc vào rừng, sở dĩ có trường hợp “a diêu” tử vi là vì có nhiều người khi cầm 1 quyển sách chỉ muốn đoán ngay được cái vận mạng của con người, nên chỉ lật phần lý giải mã không xem kỹ những nguyên tắc – có biết đâu phần phụ cũng như lý giải chỉ là những trường hợp điển hình tổng quát để giúp ta theo đó mà biến hóa cái cần bàn ra hơn nữa.

B. Tiểu Hạn

Tiểu hạn là những gì xảy ra trong 1 năm, đến với con người, trước khi đi vào tính chất các sao trong cung Tiểu hạn, nên lưu ý đến xung khác với tuổi của mình không, thí dụ như tuổi Canh Dần đến năm Bính Thân, Thiên Can là Bính Hỏa khắc Canh Kim, Ðịa Chi là Thân Kim khắc Dần Mộc. Như vậy gọi là năm Thiên khắc Ðịa Xung, độc lắm, thế nào cũng có 1 vài rắc rối xảy ra. Dù gặp nhiều sao tốt cũng bị giảm bớt đi, nếu có nhiều sao xấu thì lại càng hung bạo.

  • Xem đến hành của năm tiểu hạn là hành gì, sinh khắc với bản mệnh thế vững hay không? Thí dụ: năm nay Tân Dậu là Hành Mộc, sẽ Thiên Khắc địa xung với người tuổi Ất Mão, và tất cả mọi người tuổi Mão đối với năm nay đều là năm xung, làm ăn sẽ không khá và có khi là còn gặp tai nạn nữa, vì là năm Mộc cho nên tốt cho những có mệnh Mộc hay Hỏa, vất vả cho mệnh Thủy - lao đao, bất lợi cho mệnh Thổ.
  • Kể đến đem hành của bản mệnh so sánh với hành của cung tiểu hạn để xem sự tốt xấu thế nào. Vì đây chính là cái căn bản, cái gốc, yếu tố sao chỉ là cái thân, cái ngọn để đoán tiểu hạn.

Về mục này trong cổ thư về Tử Vi có bài Phú như sau:

1. Kim nhân ngộ khảm mệnh tử thương
2. Mộc mệnh lạc hy hữu họa ương.
3. Thủy ngộ càn cung ứng khiến trệ.
4. Hỏa lai đoài thương hảo nan toàn.
5. Thổ khắc đông nam phung chấn tốn
6. Tu phòng nùng huyết cập kinh hoàng.
7. Túng nhiên cát điệu tương phùng chiếu.
8. Vị miễn quan tai náo nhất tràng.

Xin được giải như sau:

  • Người mệnh Kim mà tiểu hạn đi đến cung Tí là cung Khảm thuộc hành Thủy thì bị thương hại vì bản mệnh kim sinh xuất cho cung Tí là Ðại hải Thủy, như thế ắt mệnh sẽ bị suy tàn.
  • Người bản mệnh Mộc hạn đi đến cung Ngọ là quẻ Ly hành Dương Hỏa Mệnh Mộc sinh cho cung Ngọ là Lôi Trung Hỏa, tất được sang nhưng để rồi lại tan ra tro bụi, nên không tránh khỏi tai ương họa hại để tổn đến bản thân.
  • Người mệnh Thủy mà hạn đến cung Dần quẻ Cấn – Hành Thổ là ngưng chi bế tắc –mệnh Thủy bị Thổ khắc cho nên kiếm vận bị bế tắc – như ngòi lạch bị chận ngưng.
  • Người Mệnh Thủy mà hạn đến cung Dần quẻ cấn - Hành Thổ là ngưng chi bế tắc – mệnh Thủy bị Thổ khắc cho nên kiếm vận bị bế tắc – như ngòi lạch bị chận ngưng.
  • Người mệnh Hỏa hạn đến cung Dậu quẻ đoài thuộc Kim - tức là mệnh Hỏa khắc cung Kim tức là không có chỗ nương thân - vì mình khắc chỗ đứng của mình mà Hỏa khắc Kim thì rồi Hỏa bị sa lầy vì nếu Kim bị khắc sẽ sinh ra Thủy mà khắc ngược lại Hỏa. Trong ngũ hành tương khắc chỉ có hành kim là đặc biệt.
  • Người Mệnh Thổ hạn đi đến cung Mão, quẻ chấn, thuộc Mộc, khắc mệnh Thổ, là chỗ đứng khắc mình nặng nhất ở cung Chấn vì chấn là tượng cho lôi đình, sấm sét nên những sự việc không hay xảy đến cho người mệnh Thổ có lưu hàn ở cung Mão, thường xảy ra bất ngờ và mãnh liệt.

Tất cả trường hợp trên phải đề phòng bệnh tật tai ương - và rất cần gặp được Tuần Triệt án ngữ – hay cát tinh hợp chiếu thì mới ra khỏi, nhưng cũng gặp 1 phen hoảng vía.

Kế đến là chú ý đến các sao trong cung tiểu hạn, nếu Ðại Hạn đáo cung Thái Tuế làm cho con người được nhẹ bước thang mây bao nhiêu, thì tiểu hạn Thái Tuế lại rắc rối bấy nhiêu vì vậy nên cụ Lê Quý Ðôn mới có câu:

Quan phủ Thái Tuế một đoàn
Ðêm ngày chầu chực của công mỏi mòn.

Tiểu hạn Thái Tuế tất có sự thị phi quan tại khẩu thiệt phải liên quan đến chốn công môn. Khi xem tiểu hạn thì lấy sao của tiểu hạn phối hợp với gốc đại hạn và cung mệnh, để xem các bộ sao nhập bộ nhau ra sao mà đoán, tùy theo tính chất của nó, sau khi suy ra được tốt xấu thế nào, về phương diện nào thì lại phải chế hóa với các yếu tố đã trình bày ở trên xem xấu tốt tới độ nào?

Nhưng điều quan trọng khi đoán hạn, nếu thấy cát tinh cung chiếu phải để ý xem có sao nào làm cho phá cách không nếu thấy số xấu quá, gặp toàn hung tinh, hay nghịch lý âm dương ngũ hành thì phải đi tìm Tuần, Triệt và các sao cứu giải xem nằm ở đâu, có chiếu vào hạn để cứu khốn phò nguy hay không?

Còn như muốn biết cách cuộc của 1 người thuộc loại như văn đoàn, hay võ cách, thương mại hay tiện nhân, thọ yểu ra sao thì cứ lấy tính chất các sao thủ và tam hợp chiếu với mệnh, lại lấy ngũ hành của bản mệnh sánh với ngũ hành của chính tinh thủ chiếu rồi để ý xem có ác sát tinh nhập mệnh không mà đoán, sẽ thấy rõ được cái dự thảo mà Thượng Ðế đã dành cho mình do cái nhân của mình đã gieo từ tiền kiếp – để rồi cho mình tự do chọn lối sống thế nào mà ngay từ cái đời hiện tại vẫn có thể tu sửa để tránh được những phiền não mà kiếp người trong cõi nhân sinh không mấy ai thoát khỏi.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nguyên tắc căn bản giải đoán một lá số Tử Vi
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd