Mơ thấy tình yêu đồng tính: Yêu một người giống bản thân mình –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
1. Bảo quản hoa ly cắt cành sau thu hoạch:
- Ở độ ẩm tương đối > 95%.
- Bảo quản ở nhiệt độ thấp để ngăn mất nước.
![]() |
| Bạn nên bảo quản ở nhiệt độ thấp để ngăn mất nước. |
- Sau khi cắt gốc khỏi cây mẹ phải bảo đảm thông mạch dẫn, ngăn ngừa vi khuẩn sinh trưởng, tạo điều kiện cho hoa hút đủ nước và dinh dưỡng nuôi cây hoa ly được lâu dài.
- Phải cung cấp dinh dưỡng hợp lý cho từng loại hoa ly tết cắt cành.
Cuộc sống hiện nay hoa ly tết cắt cành sau khi mua về được sử dụng cắm vào bình, ta nên cắm ngay vào nước và khi bắt đầu cắm hoa vào bình ta cắt bớt phần gốc, thao tác này cũng nên thực hiện trong nước để đảm bảo không khí không tràn vào thân cành hoa.
Khi cắt cành hay tỉa lá phải dùng dụng cụ sạch, sắc bén, cắt dứt khoát, nên thực hiện việc cắm hoa vào buổi sáng sớm.
![]() |
| Khi cắt cành hay tỉa lá phải dùng dụng cụ sạch, sắc bén, cắt dứt khoát. |
Một số mẹo sau giúp chúng ta có được một bình hoa như ý.
- Loại bỏ tất cả phần lá nằm dưới nước, vì lá nằm trong nước dễ bị thối, ảnh hưởng đến chất lượng bình hoa.
- Kiểm tra mực nước trong bình cắm và thay nước thường xuyên, kịp thời cắt bỏ phần thân bị hư hại.
- Đặt bình hoa nơi thoáng gió, tránh ánh nắng trực tiếp, tốt nhất là phòng lạnh. Không nên đặt gần bếp, dưới quạt máy.
![]() |
| Đặt bình hoa nơi thoáng gió, tránh ánh nắng trực tiếp. |
Để hoa tươi lâu, ta có thể dùng những dung dịch tự chế sau:
+ 1 lít nước + 1 muỗng nước chanh tươi + 1 muỗng đường +1/2 muỗng trà thuốc tẩy.
+ 60g nước xúc miệng +4,5 lít nước. Listerine và bactericide được xem như 1 loại acid giúp hoa hút nước tốt.
| ► Lịch ngày tốt gửi đến độc giả những câu chuyện về thế giới tâm linh huyền bí có thật |
![]() |
| Ảnh minh họa |
![]() |
| Ảnh minh họa |
| Năm hàng can | Tuế Đức (tốt) Ngày hàng can |
Kim Thần Thất Sát (xấu) Ngày hàng chi |
Thần Ác Đại Bại (xấu) Ngày can chi |
| Giáp và Kỷ | Giáp | Ngọ, Mùi | - Mậu Tuất tháng 3 - Quý Hợi tháng 7 - Bính Thân tháng 10 - Đinh Hợi tháng 11 |
| Ất và Canh | Canh | Thìn, Tỵ | - Nhâm Thân tháng 4 - Ất Tỵ tháng 9 |
| Bính và Tân | Bính | Dần, Mão | - Tân Tỵ tháng 3 - Canh Thìn tháng 9 - Giáp Thìn tháng 10 |
| Đinh và Nhâm | Nhâm | Tuất, Hợi | |
| Mậu và Quý | Mậu | Thân, Dậu | - Kỷ Sửu tháng 6 |
Theo Bàn về lịch vạn niên
![]() |
| (Ảnh chỉ mang tính chất minh họa) |
Doanh nhân Bính Tuất (1946): nam giới chọn Đinh Hợi, Mậu Tý, Tân Mão; nữ giới chọn Kỷ Hợi, Quý Mão, Ất Tỵ.
Doanh nhân Mậu Tuất (1958): nam giới chọn Kỷ Hợi, Ất Mão; nữ giới chọn Kỷ Hợi, Quý Mão, Ất Tỵ.
Doanh nhân Canh Tuất (1970): nam giới và nữ giới đều chọn Canh Tuất, Bính Thìn, Kỷ Mùi.
Doanh nhân Nhâm Tuất (1982): nam giới chọn Ất Hợi, Bính Tý, Mậu Dần, Tân Tỵ; nữ giới chọn Nhâm Tuất, Bính Dần, Mậu Thìn.
(Theo Việt Báo)
Lựa chọn loại xe có lẽ không khiến nhiều người vất vả nhưng màu sắc lại là một vấn đề. Trong khi nhiều người trung thành với màu sắc yêu thích thì có những người khác xem xét các yếu tố thực tế khác nhau như khí hậu, khả năng lộ bụi bẩn. Nếu như bạn vẫn chưa quyết định được màu sắc thích hợp thì nên cân nhắc đến cả yếu tố phong thủy.
Trong phong thủy, mỗi người có một con số “huyền bí” tương ứng được gọi là “quái số”. Quái số được quy định theo bát quái cho phép mọi người xác định điểm may mắn nhất cho bản thân, giúp thăng hoa cho sự nghiệp, các mối quan hệ, giao dịch kinh doanh và trong bất kì tình huống thực tế nào phát sinh trong cuộc sống.
1. Cách tính “Quái số”
- Cộng hai số cuối của năm sinh của bạn lại với nhau. Ví dụ: nếu bạn được sinh vào năm 1974, bạn sẽ lấy 7 + 4 = 11.
- Nếu được kết quả là số có hai chữ số, cộng tiếp hai số đó lại với nhau. Sử dụng ví dụ trên sẽ là: 7 + 4 = 11, sau đó 1 + 1 = 2.
+ Nếu bạn là phụ nữ, cộng thêm 5 với kết quả thứ hai. Riêng đối với nữ sinh sau năm 2000, thì cộng 6.
+ Nếu bạn là nam giới, lấy 10 trừ đi số kết quả thứ hai. Đối với nam sinh sau năm 2000 lấy 9 trừ đi tổng số
Bằng ví dụ trên, ta có kết quả như sau:
+ Phụ nữ sinh năm 1974:
7 + 4 = 11.
1 + 1 = 2.
2 + 5 = 7.
Như vậy, 7 là “quái số” của bạn.
+ Đàn ông sinh năm 1974:
7 + 4 = 11.
1 + 1 = 2.
10 - 2 = 8.
Như vậy, 8 là “quái số” của bạn.
2. Chọn màu xe thích hợp dựa trên Quái số
Mỗi quái số tượng trưng cho một nguồn năng lượng nhất định ứng theo chu kỳ tự nhiên. Mọi người thường thấy mình hợp với một số hơn so với các số khác. Mỗi số như vậy lại tương ứng với những màu nhất định.
Một chiếc xe có màu sắc hợp phong thủy sẽ giúp gia đình an lành hơn trên từng cây số.
![]() |
![]() |
Mỗi người khác nhau đều có thuộc tính Ngũ hành riêng, tranh trang trí hhác nhau cũng có thuộc tính Ngũ hành khác nhau. Nếu Ngũ hành của tranh trang trí có thể bổ trợ cho thuộc tính ngũ hành của chủ nhân thì tranh treo trong nhà sẽ như gấm thêm hoa. Những năm tuổi khác nhau cùng ở một chỗ sẽ tạo ra hiệu ứng khác nhau, chủ nhà nếu có thể lựa chọn được bức tranh trang trí hình con giáp phù hợp vói năm tuổi của bản thân thì sẽ có tác dụng rước lấy may mắn, cát tường.

Quy luật tương sinh tương khắc của Ngũ hành
Các nhà hiền triết cổ đại đem sinh mệnh vạn vật trong vũ trụ phân thành năm yếu tố cơ bản, năm yếu tố đó gọi là “Ngũ hành”, tức Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.
a. Ngũ hành tương sinh:
Tương sinh là biểu thị quan hệ giữa hai vật có tác dụng thúc đẩy, xúc tiến, hỗ trợ, bảo vệ lẫn nhau. Quy luật tương sinh của Ngũ hành như sau:
Mộc sinh Hỏa: Mộc có thể dùng để đốt lửa.
Hỏa sinh Thổ: Hỏa có thể thiêu đốt vạn vật thành đất.
Thổ sinh Kim: Kim thuộc là vật chất được tôi luyện từ trong bùn đất.
Kim sinh Thủy: Kim thuộc về chất rắn, sau khi được làm nóng chảy sẽ từ thể rắn chuyển sang thể lỏng, chất lỏng thuộc Thủy.
Thủy sinh Mộc: Thủy là nguồn sinh trưởng của cây cối.
b. Ngũ hành tương khắc:
Tương khắc là biểu thị quan hệ giữa hai sự vật có tác dụng cản trở, phương hại, ức chế, phá hoại và làm suy thoái lẫn nhau. Quy luật tương khắc của Ngũ hành như sau:
Mộc khắc Thổ: Cây cối phá đất mà ra, gốc của cây nằm trong bùn đất, có thể làm đất tơi xốp, vì vậy mà khắc Thổ.
Thổ khắc Thủy: Nước đến đất ngăn.
Thủy khắc Hỏa: Nước có thể dập tắt lửa.
Hỏa khắc Kim: Lửa có thể làm tan chảy kim loại.
Kim khắc Mộc: Những công cụ kim loại có thể chặt gãy cây cối.
Thuộc tính Ngũ hành của tranh trang trí chủ yếu do ba yếu tố chủ đề, chất liệu và màu sắc của tranh quyết định. Thuộc tính Ngũ hành của một bức tranh trước tiên phải dựa vào nội dung chủ đề tranh để phán đoán. Thuộc tính Ngũ hành của chủ đề tranh đã trình bày rất chi tiết trong bảng bên trên, như tranh tùng bách Ngũ hành thuộc Mộc, tranh tuấn mã Ngũ hành thuộc Hỏa, tranh kiến trúc Ngũ hành thuộc Thổ, tranh gà trống Ngũ hành thuộc Kim, tranh cá bơi Ngũ hành thuộc Thủy. Tuy nhiên cũng có những nội dung tranh có hai loại Ngũ hành trở lên, như tranh phong cảnh sơn thủy Ngũ hành bao gồm Thủy, Thổ hoặc Thủy, Mộc hoặc Thủy, Mộc, Thổ. Tranh sư tử, hổ Ngũ hành gồm Mộc và Hỏa; tranh rồng xanh Ngũ hành gồm Thủy và Thổ. Có những bức tranh có nhiều hình tượng nội dung, chúng có thể đại diện cho nhiều thuộc tính Ngũ hành. Nếu nội dung trong tranh có nhiều loại Ngũ hành hoặc thuộc tính Ngũ hành không rõ ràng thì có thể không cần suy xét đến thuộc tính Ngũ hành cẩn thận.
Nếu một bức tranh làm từ một loại chất liệu rất rõ ràng, chất liệu đó lại chiếm không gian tương đối lớn thì thuộc tính Ngũ hành của bức tranh trang trí đó nên lấy Ngũ hành của chất liệu làm cơ sở. Như tranh vẽ trên tre trúc, tranh khắc gỗ, Ngũ hành thuộc Mộc; tranh đèn trang trí Ngũ hành thuộc Hỏa; tranh gốm sứ, tranh ngọc thạch, tranh pha lê Ngũ hành thuộc Thổ; tranh đồng Ngũ hành thuộc Kim; tranh bình cá treo tường Ngũ hành thuộc Thủy...
Nếu bức tranh lấy một hoặc hai loại màu sắc làm chủ đạo thì phải xem xét màu sắc Ngũ hành của bức tranh. Thông thường màu sắc của tranh rất đa dạng nên không nhất thiết phải xem xét Ngũ hành trong màu sắc.
Mỗi người đềụ có thuộc tính Ngũ hành, vì thế đối với tranh nhân vật cũng không thể không suy xét đến thuộc tính Ngũ hành. Khi xác định thuộc tính Ngũ hành của tranh nhân vật, ngoài việc xem xét chất liệu tranh còn phải xem xét cảnh vật trong bức tranh. Nếu trong tranh ngoài hình tượng nhân vật ra không có cảnh vật hoặc cảnh vật không rõ ràng thì có thể căn cứ vào màu sắc chủ đạo để phán đoán thuộc tính Ngũ hành của bức tranh.
Lựa chọn tranh treo trang trí tương hợp với Ngũ hành hỷ, dụng của mỗi người
Mỗi người đều có Ngũ hành hỷ dụng và Ngũ hành kỵ thần. Nếu chọn được bức tranh có thuộc tính Ngũ hành là Ngũ hành của íỉỷ, Dụng thần thì có thể khiến cho cuộc sống của chủ nhân thêm tốt đẹp. Nếu Ngũ hành của bức tranh là kỵ thần của chủ nhân thì có thể mang lại những ảnh hưởng xấu.
Có thể đưa ra ví dụ như một người đàn ông sinh vào 23 giờ ngày 25 tháng 11 năm 1964, Ngũ hành hỷ, dụng thần là Hỏa, Thổ; Ngũ hành của kỵ thần là Mộc. Vậy người này nên lựa chọn tranh trang trí có Ngũ hành thuộc Hỏa, Thổ mà không nên lựa chọn tranh trang trí có Ngũ hành thuộc Mộc.
Hành: HỏaLoại: Thiện TinhĐặc Tính: Gia tăng phúc thọ, cứu khốn phò nguy, giải trừ nhiều bệnh tật, tai họa.
Phụ tinh. Sao thứ 2 trong 12 sao thuộc vòng sao Thái Tuế theo thứ tự: Thái Tuế, Thiếu Dương, Tang Môn, Thiếu Âm, Quan Phù, Tử Phù, Tuế Phá, Long Đức, Bạch Hổ, Phúc Đức, Điếu Khách, Trực Phù.
Vị Trí Đắc Địa Của Thiếu Dương
Hai gò má (lưỡng quyền) được khoa nhân tướng học ngày nay đưa vào hạng mục “tướng của xương” để xem xét góp phần phân tích và dự báo về “đường đời” của mỗi người trong cuộc nhân sinh…
Nhất là hai gò má của phụ nữ thường được gợi lên bằng các hình dung từ bay bướm như: má hồng, má phấn, má đào… Phụ nữ có má đào là “má đỏ như quả đào chín”, má phấn là “má tô phấn, thường chỉ người gái giang hồ” và má hồng dùng “tỷ dụ người đẹp” . Song đó chỉ là những cách gọi dựa phần lớn vào sắc diện bên ngoài; chứ thực tướng của các “gò má” được quyết định bởi cấu trúc của phần xương bên trong.
Đối với phụ nữ mà nói thì đôi gò má trên gương mặt chính là nơi thể hiện cá tính của người này trong cuộc sống hôn nhân và sự nghiệp của họ.

Vì thế để xem xét nhân tướng cho rạch ròi, người ta đã gọi lưỡng quyền ở mỗi người (cả nam lẫn nữ) bằng hai tên gọi: “gò Tây” (gò má phía bên phải của khuôn mặt) và “gò Đông” (gò má phía bên trái của khuôn mặt), chẳng hạn:
Theo nhân tướng học thì người phụ nữ có khuôn trăng đầy đặn với hai gò Đông – Tây nằm cân xứng ở hai bên mặt thì là người phụ nữ có mệnh số cao, tương lai có thể vào hàng phu nhân quyền quý trong xã hội.
Nếu xương ở hai gò má không nhô cao lắm và nằm cân xứng nhau ở vị trí ngang với tóc mai là tướng tốt, sẽ đem đến nhiều điều may mắn, thuận lợi và sức khỏe ngay từ tuổi hoa niên. Còn như xương gò má kéo dài đến hai bờ tóc mai và nhô lên có sắc hồng hoặc có ánh vàng trơn láng vào giờ Ngọ, sẽ được nhiều người mến mộ, theo đuổi và thương yêu.
Xương gò má cùng các xương khác trong người đại thể có nhiều tướng trạng khác nhau, song theo các nhà nghiên cứu và dịch thuật có uy tín về nhân dạng học như Lê Giảng, Hoài Chiêm Tinh, Mã Khắc Hồng, Mai Giáo Chủ, thì tất cả các xương có một số đồng dạng về nhân tướng sau đây.
Hễ xương lộ ra quá mức sẽ thường gặp chuyện tranh chấp, cãi vã với người chung quanh. Hễ xương nhô ra có hình nhọn sẽ gặp trắc trở trong công việc kinh doanh vào tuổi trung niên. Người ta còn gọi gò Đông là “Đông nhạc” và gò Tây là “Tây nhạc”.
Người phụ nữ có Đông nhạc cao và cân xứng với Tây nhạc sẽ sống thọ – cao và nhô lên sát hai bên tai thuộc dạng xương Phượng Vỹ, tức đuôi con chim phượng, nếu theo nghiệp võ sẽ thành đạt vào hàng tướng tá quan quyền…
Gò má nhô cao
Đối với những người phụ nữ có gò má quá cao là những người nhân tướng học cho là xấu số nhất. Người phụ nữ có gò má quá cao có tướng sát phu, gây hại cho chồng còn, thường xuyên gặp chuyện tranh chấp cãi vã với người xung quanh. Những người phụ nữ này thường không gây được thiện cảm đối với người lớn tuổi. Đôi gò má quá cao cũng làm gương mặt người phụ nữ trở nên già nua, góc cạnh hơn, mất đi tính thẩm mỹ của gương mặt.
Nhiều người Á Đông ủng hộ với quan điểm gò má cao sát chồng nhưng cũng chưa có bất kì một bằng chứng khoa học nào chứng minh cho điều ấy. Ngược lại, ở các nước phương Tây những người phụ nữ gò má cao luôn được đánh giá là người có cá tính mạnh mẽ và cuộc sống hôn nhân của họ không hề bị ảnh hưởng bởi quan điểm trên.
Trong công việc, cá tính mạnh mẽ ấy chính là ý trí kiên cường vượt qua mọi khó khăn, có khả năng gánh vác được nhiều việc quan trọng. Hơn nữa, tính cách cởi mở với mọi người giúp người phụ nữ chiếm được cảm tình của gia đình và bạn bè của mình. Đối với những người phụ nữ gò má cao và chóp mũi to, đây quả là sự kết hợp tuyệt vời. Chủ nhân vốn hiền lành và lương thiện này sẽ gặp nhiều may mắn và thành công hơn trên mọi lĩnh vực.
Người phụ nữ có gò má cao thường là người đạt được sự giàu có nhất định bởi theo nhân tướng học, người phụ nữ có gò má cao thường tích cực có ý chí phấn đấu, tuy nhiên do quyền hành cao hơn năng lực bản thân, nên để củng cố quyền hành cần phải cố gắng quá nhiều, thậm chí dùng cả thủ đoạn, dẫn tới chỗ trở thành kẻ hung hăng, tiểu nhân, dẫn tới hậu quả xấu cho người đó, vậy coi như gò má xếp nhầm chỗ (cao hơn mũi) không tốt.

Cung gò má quá to
Người phụ nữ có cung gò má quá to: Chủ nhân bản tính khá ương ngạnh và cố chấp. Thường gây mâu thuẫn với mọi người xung quanh vì không chịu nhường nhịn mọi người cuộc sống hôn nhân vì thế cũng có phần khó khăn.
Cung gò má nở rộng
Việc sở hữu đôi gò má nở to được xem là một hình mẫu lý tưởng, bởi chủ nhân của đôi gò má này là người có trí tuệ sắc sảo, có tinh thần cảnh giác cao và đặc biệt là khả năng nhìn xa trông rộng. Hầu hết ở họ điểm chung nổi bật nhất là có tố chất làm lãnh đạo. Nhờ vào ưu điểm đặc biệt này, bạn có thể thành công ở hầu hết các lĩnh vực kinh tế với tư cách là đầu tàu.
Nếu người phụ nữ cung gò má nở rộng, mũi nhỏ, thì là người phụ nữ tính tình nóng vội, hay can thiệp chuyện của chồng, gây chuyện thị phi, đa nghi điều này khiến vợ chồng hay xảy ra mâu thuẫn. Cần phải biết kiềm chế và suy nghĩ chín chắn trước khi phát ngôn.
Gò má vừa rộng vừa cao
Trong cuộc sống, người này tự tin làm việc độc lập mà không cần nhận sự giúp đỡ của một ai khác khiến mọi người tưởng rằng bạn theo chủ nghĩa cá nhân. Đôi khi họ lại hơi quá tập trung vào giai đoạn ăn mừng chiến thắng làm bạn bè và người thân hiểu lầm rằng họ tự đắc. Nhưng nhờ sự chân thành, nỗ lực không ngừng khắc phục những nhược điểm của mình, mọi người không chỉ hiểu họ hơn mà còn ủng hộ họ thực hiện tiếp những hoài bão của mình. Phụ nữ độ tuổi trung niên là khoảng thời gian họ gặt hái được nhiểu thành công nhất.
Gò má thấp
Người phụ nữ sở hữu kiểu gò mà này thường nung nấu trong mình nhiều ước mơ và hoài bão cháy bỏng. Tuy nhiên, điểu đó chưa đủ để biến chúng thành sự thật nếu kế hoạch và chiến lược thực hiện không được triển khai. Lý do lớn nhất là họ vẫn chưa đủ lòng tin để xúc tiến một mình và họ lo sợ về khả năng thất bại cao. Đôi lúc tính cách rụt rè, nhút nhát, hướng nội đã làm cản trở họ thực hiện niềm đam mê. Điều quan trọng của mẫu người phụ nữ sở hữu loại gò má này chính là củng cố lòng tin vào chính mình.
Gò má tròn đầy đặn
Lưỡng quyền đầy đặn: là người có ý chí kiên cường, tinh thần phấn đấu cao, có năng lực ứng phó. Nếu phụ nữ tướng này sẽ là tướng vượng phu (giúp ích cho chồng trong sự nghiệp và cuộc sống). Phụ nữ có gò má đầy đặn, cao, tròn và thanh, không lộ xương là tướng gò má đẹp. Họ sẽ đạt được nhiều thành công trong sự nghiệp ở tuổi trung niên.
Không thích sự gò bó, thích phiêu lưu, chan hòa, hướng ngoại, khao khát sự chú ý của mọi người và có khả năng ứng phó với tình huống là những tính cách điển hình của người này. Trên con đường sự nghiệp, họ tỏa sáng và được sống thực với con người mình nhất chính là những công việc liên quan tới nhóm ngành giải trí như diễn viên điện ảnh, người mẫu, hoặc nhà báo…v..v.
Mặc dù áp lực công việc luôn đè nặng đôi vai nhưng sự thông minh và khéo léo của mình đã giúp họ cân bằng được mọi việc. Trong cuộc sống hạnh phúc gia đình, họ không chỉ là một người vợ, người mẹ chăm sóc chồng con chu đáo mà còn là nguồn động viên kịp thời cho những người thân yêu.

Gò má hai bên không cân xứng
Với những người phụ nữ có gò má hai bên không cân xứng nhau hay cái cao cái thấp thì được dự đoán là là người gặp khó khăn trên đường làm ăn,đường tình yêu gặp nhiều trở ngại, phải lớn tuổi mới lập gia đình. Tục ngữ xưa cũng đã đúc kết việc hai gò má không cân xứng nhau thành câu:
“Gò má mà chẳng cân phân. Cuộc đời cam chịu lắm phần lao đao”.
Nếu hai gò má sát gần với đuôi lông mày, hậu vận sẽ có phần khá hơn, vì được sự giúp đỡ của quý nhân và con cháu.
– Phụ nữ có gò má thanh, tròn và ẩn, mắt và mũi thanh, chủ nhân là mẫu người vợ hiền, mẹ giỏi, có thể lấy được người chồng thành đạt, có trách nhiệm với gia đình.
– Phụ nữ có bờ gò má cao tới Thiên Thương (phía trên chân mày), chủ nhân là người từng trải, song, hôn nhân không mấy tốt đẹp, gia đình gặp chuyện xung khắc hoặc ly tán.
– Cung gò má của người phụ nữ nhô cao, chủ nhân cả đời nghèo hèn. Cung gò má lõm, chủ nhân không giúp được gì cho chồng con.
– Cung gò má quá to, chủ nhân bản tính dữ dằn, không hiếu thuận, hôn nhân cũng không mấy tốt đẹp, cuộc sống vất vả, về già cô độc.
– Cung gò má nhô cao, trán cao, chủ nhân có lối sống không lành mạnh, có thể khắc tới ba đời chồng.
– Cung gò má cao và to, bàn tay to, chủ nhân có thể chịu đựng được gian khổ, giỏi lập nghiệp nhưng khó hưởng phúc của chồng con.
– Cung gò má cao nhưng mũi lại nhỏ, chủ nhân hay làm trái lời chồng, chồng gặp nhiều khó khăn, cuộc sống hôn nhân không mấy tốt đẹp.

– Cung gò má nở rộng, mũi nhỏ, chủ nhân tính tình nóng vội, hay can thiệp chuyện của chồng, gây chuyện thị phi, đa nghi và đời sống hôn nhân không tốt đẹp.
– Cung gò má có sắc khí vàng tươi, môi đỏ, chủ nhân là cánh tay đắc lực của chồng con, được hưởng hạnh phúc đến già. Nếu có sắc khí vàng sẫm, chủ nhân có cuộc sống nghèo hèn.
– Sắc khí cung gò má xanh biếc, chủ nhân có tâm ý độc địa, khắc chồng, gia đình tan vỡ.
– Cung gò má lúc trắng, lúc đỏ gọi là “khuôn mặt đào hoa”, chủ nhân có lối sống buông thả, hời hợt trong chuyện tình cảm.
– Cung gò má và một số bộ phận khác có sắc trắng bệch, chủ nhân khắc chồng con, hôn nhân không mấy tốt đẹp.
Trong nhiều nhân vật của bộ Tam Quốc diễn nghĩa, Tào Tháo (sinh năm 155 – mất năm 220) là một trong những người nổi tiếng nhất và để lại nhiều ấn tượng sâu sắc với những người say mê pho truyện này.
Ông là nhà chính trị, quân sư kiệt xuất cuối đời Đông Hán trong lịch sử Trung Hoa, sáng lập nên triều đại Tào Ngụy thời Tam Quốc và để lại cho hậu thế quá nhiều đánh giá khác nhau, có khi đối lập nhau. Vậy ông là người anh hùng hay kẻ gian hùng? Phân tích lá số, ta sẽ sáng tỏ thêm đôi điều về con người và cuộc đời ông, cũng để phần nào giải đáp cho câu hỏi ấy.

Tào Tháo sinh giờ Tuất, ngày 6/12 năm Ất Mùi (155). Khi lập lá số tử vi thoạt nhìn dễ tưởng rằng đây là một lá số quá bình thường, bởi không thấy ngay những cách cục đặc biệt vẫn nói trong sách Tử vi. Kỳ thực, với người mệnh Kim, được thế cục Thổ phù sinh là thuận “thiên thời”. Người âm nam, cung mệnh ở Mão (âm Mộc) là thuận cách; người mệnh Kim ở cung Mộc thì tuy khắc chế được, làm chủ tình hình, nhưng cũng mất phần “địa lợi” từ nhỏ đến năm 30 tuổi, thủa thiếu thời vất vả, cô độc, phải làm con nuôi họ khác. Nhưng cũng vì thế mà tạo cho ông tính cách tự chủ, độc lập, quyết đoán rất cao.
Đặc biệt nhất là bộ chính tinh thủ Mệnh; Các sao Vũ Khúc – Thất Sát đều là âm Kim, hợp mệnh cả âm dương, ngũ hành, nên tính cách và khả năng của ông bao gồm cả văn lẫn võ cách. Sao Vũ Khúc, trong bộ “Tứ Phủ Vũ Tướng” – chủ về lãnh đạo, chỉ huy, chiến lược còn sao Thất Sát, trong bộ “Sát Phá Tham”, chủ quyền biến, sát phạt, hành động, xông pha nơi sa trường. Đặc sắc hơn nữa là mệnh ông có sao Bạch Hổ (đồng hành Kim với mệnh) đóng đúng Tam hợp tuổi (tam hợp Thái Tuế). Ông có lòng tự hào, tự tôn rất cao về sứ mệnh cải cách của mình và đã làm làm tới cùng, cứng rắn kiên định, bất chấp gian nguy, bất chấp tất cả, dùng mọi mưu kế, kể cả tàn nhẫn và thủ đoạn để thành công, miễn là “mục đích biện minh cho phương tiện”.
Nhớ lúc Tào Tháo vung ngọn giáo nói trước ba quân, trên mũi soái thuyền trước trận Xích Bích trên dòng Trường Giang: “Ta cầm cây giáo này phá giặc Khăn Vàng, bắt Lữ Bố, thu Viên Thuật, diệt Viên Thiệu, vẫy vùng ngang dọc khắp trong thiên hạ, thật chẳng phụ trí tài của kẻ trượng phu…” mới thấy hết cá tính và hùng khí trong con người mệnh âm Kim, mang cách: “Sát Phá Tham” này!
Nhưng có lẽ, vì các sao trong cách này chủ yếu là hãm địa, nằm trong tam hợp Mệnh – Thân là “âm” (Hợi-Mão-Mùi), ông lại là âm nam nên tính cách có phần thâm hiểm, nhiều thủ đoạn, dám tàn nhẫn nếu cần. Bởi vậy, người đời vẫn coi ông là kẻ gian hùng. Câu chuyện Tào Tháo một tay chém chết oan cả nhà Lã Bá Sa, tiếm quyền át vua Hiến Đế … chỉ là một vài trong nhiều chuyện “gian hùng” của ông. Thêm nữa, cung Quan có các sao Tử Vi, Thái Tuế gặp Triệt; sao Thái Dương, Điếu Khách ngộ Tuần, lại thêm sao Mộ, Đà La, Quả Tú đồng cung nên danh tiếng sau này cứ bị lấp đi, ánh sáng trời như có mây che kín; lúc ông có quyền uy, có miệng mà không giãi bày được … đành để lại bao sự đàm tiếm, ngộ nhận từ lớp người hậu thế.

Phần “sao” thì thuận mệnh như vậy, nhưng với ông, phần “cung” lại là cả một thiệt thòi, bất lợi. Mệnh đóng cung Mão (âm Mộc) bị cung Thiên Di ở Dậu (âm Kim) khắc, tức về “địa lợi” thì kém hơn về thế, luôn bị khắc – nhập so với các đối thủ, gặp nhiều khó khăn, trở lực trên đường sự nghiệp, nhất là trước năm 30 tuổi. Cũng may, từ Đại vận 35-44 tuổi vào cung Tý (Cự Môn – Thiên Khôi đắc cách) khắc thắng được các đối thủ ở phương Ngọ (Thiên Cơ, Đại Hao ngộ Triệt) nhưng các cuộc chiến đều cam go, có thắng có bại chứ không phải “Bách chiến bách thắng”.
Đắc cách nhất là đại vận 45 54 tuổi trùng với cung an “Thân”, lại là tam hợp tuổi, có đủ Tướng – Ấn (Tướng Quân, Quốc Ấn), Tứ Linh (Thanh Long, Phượng Cát, Bạch Hổ, Hoa Cái). Đại vận này ở cung Hợi (âm Thuỷ) khắc thắng phía đối nghịch ở Tỵ (âm Hoả); nhưng cũng không bề vì tam hợp cung này là Mộc (Hợi – Mão – Mùi) vẫn ở dưới cơ tam hợp Kim (Tỵ – Dậu – Sửu) của thời thế. Thêm nữa, sao Tử Vi gặp Triệt, trong bối cảnh tranh chấp (Tử Vi – Phá Quân) và tính thế rối ren, loạn lạc (cung Mùi – chính là quẻ Địa Hoả minh di; thời mù mịt, ánh sáng bị che lấp). Có lẽ thế, mặc dù thừa đủ cơ hội, ông cũng không lên làm vua mà dành ngôi báu cho con mình. Ông mệnh Kim, cả hai Đại vận này đều là hành Thuỷ, mệnh phải sinh xuất nên đủ thấy ông ham tâm tổn trí lớn đến thế nào; cũng rõ thêm về tài năng, trí tuệ và mưu cơ của ông ghê gớm, vượt lên hoàn cảnh đến thế nào … Do vậy, ông phải chịu tổn thọ và chỉ hưởng dương được 65 tuổi mà thôi.
Người xưa nói: “Cái quan định luận”, đánh giá về Tào Tháo là việc của lịch sử, nhưng cần gắn với điều kiện thời thế cụ thể khi ấy mới thật là công bằng, khách quan. Thật ra, với người được cách tam hợp Thái Tuế như ông, ở bất cứ hoàn cảnh nào cũng còn tư cách, trong sâu thẳm tâm can vẫn giữ được tấm lòng sắt son, dám làm và chịu hy sinh danh tiếng vì đại nghiệp. Vươn tới nhữg điều cao cả lớn hơn bản thân mình.
Người Hùng Tào Tháo có gian không ?
Tào Tháo là một nhân vật có thể nói là rất quan trọng ở cuối thời Hậu Hán (25-220 Tây Lịch) đã làm tốn hao quá nhiều bút mực trong lịch sử Trung Quốc và sách vở tiểu thuyết diễn nghĩa ngày nay. Có một số tác phẩm phê bình ông là một danh sĩ có giá trị dính liền sau quân sư Gia Cát Lượng và trên cả Quan Vân Trường, một trượng phu trung tín nghĩa khí không ai bì, là bộ ba danh nhân trong thuở bấy giờ.
Lòng tôi vẫn ước ao được thấy lá số của ông, vì một sự tình cờ mới rồi có ông bạn người Việt gốc Hoa cho biết là Tào Mạnh Đức tuổi Ất Mùi (155 TL.), sanh ngày 6 tháng 12 giờ Tuất và chết năm Kỷ Hợi (220TL) tức là thọ 65 tuổi.
Người tuổi Ất Mùi mệnh đóng tại Mão, Thân ở Hợi. Người này không hẳn là người không những chỉ nghĩ đến việc tiến thân lao đầu làm việc mà làm việc có suy tính thức thời và cũng không phải là người không có tâm hồn nghĩ đến nước đến dân (đúng Tam hợp tuổi). Vũ Sát thủ Mệnh là bức Vạn Lý trường thành dựng đứng lên con người này: Vũ khúc đắc địa, còn Thất Sát không kém phần hiên ngang đối với tuổi Ất, thực ra rất ít khi được hai sao cùng thủ Mệnh lại được đồng hành với Mệnh, nhất là mạng Kim chỉ có hai cung Mão phải là tuổi Ất và Dậu, phải là tuổi Tân Vũ-Sát mới đắc cách.
Đã là tuổi Ất Mùi mệnh đóng tại Mão có Vũ Sát thủ mệnh thêm Tả Hữu phò tá, tôi xin thú thật không biết tả sao cho hết cái đặc biệt của Tào Thừa Tướng, và thành thật phục cái người đã xắp đặt Tào Tháo đứng liền sau Khổng Minh là người có tài xét người rất giỏi, là người biết cái chân giá trị của Tào Công.
Dầu vậy Mệnh ở cung Mão đem so với đối phương (Dậu) bị ở thế khắc nhập nghĩa là mình yếu kém hơn người, nhưng Tào là người thấu hiểu biết rõ kẻ đối đầu (Phủ, Tướng, Không, Kiếp) chỉ là một đoàn người ô hợp nên vẫn thắng như thường như đuổi Đổng Trác, đánh Viên Thiệu để đưa thân thế ông lên địa vị một chánh khách quan trọng của thời cuộc.
Số người nào Mệnh Thân đã đóng đúng tam hợp tuổi là người biết mình, biết người có lòng tự hào rất cao cho nên Tháo tự đặt mình là anh hùng của thời cuộc khi đối ẩm với Lưu Bị ở Hứa Xương và lúc cầm giáo đứng ở mũi thuyền trên dãy trường giang trong trận Xích Bích bảo các tùy tùng: “Ta cầm cây giáo này phá giặc khăn Vàng, bắt Lã Bố, diệt Viên Thuật, thu Viên Thiệu, khi vào Hà Bắc lúc tới Liêu Đông vẫy vùng ngang dọc trong thiên hạ, thật chẳng phụ tài khí kẻ trượng phu”
Ta phải chịu Tháo mỗi câu nói, mỗi cử chỉ đều có suy tính đối với nhà chính trị cho là thủ đoạn (vị trí của Thân có Liêm Tham ở Hợi) và luôn luôn dựa trên cái thế mạnh của vô lực (Liêm Tham, Hữu Bật, Hỏa Tinh) mà vẫn có chính nghĩa được người theo (vị trí tam hợp tuổi). Hai việc trên không phải là không có ý dò tâm tình Lưu Bị và áp đảo khủng bố tinh tinh thần kẻ dưới tay, cũng như khen Quan Vân Trường là một đại trượng phu trung tín và nghĩa khí trước mặt thuộc hạ không ngoài cố ý nhắc nhở mấy người hãy trung thành với ta như ông mặt đỏ râu dài đối với Lưu Bị. Trường hợp này là thủ đoạn của những lãnh tụ (Vũ Sát và Liêm Tham) khác hẳn và là đàn anh của những tiểu xảo man trá của phường tiểu nhân (Không Kiếp).
Người ta chê trách Tào Tháo là gian hùng có lẽ ở bộ Sát Phá Tham hãm địa này. Xin thưa rằng, nếu là tuổi Tỵ Dậu Sửu thì thật là một tay gian hùng bất mãn, với tuổi Hợi Mão Mùi đứng ở trên cái thế chính nghĩa rõ ràng, dầu sao vẫn là người có tâm hồn phục vụ cho quê hương đất nước.
Bộ Sát Phá Tham này thêm Vũ Khúc tức là đủ bộ Kim Tinh (Vũ Khúc Âm Kim, Thất SátDương Kim) kèm thêm Bạch Hổ (Kim) thủ mệnh làm sao cản nổi người này hành động không cứng rắn mạnh tay cưa đứt đục khoét còn có tính cách thâm độc nữa là khác (Ân Tuế đóng Âm cung và Vũ Khúc lại là Âm kim) không thể nể nang cảm tình để di lụy mai hậu, xét ra cần để làm gương.
Một cái nghi án ở cung Quan Tử Phá (thần bất trung, tử bất hiếu) có Hóa Khoa với sứ mạng đủ tư cách điều chỉnh, vì thế Tào Tháo đâu có hạ bệ vua Hiến Đế để chiếm ngôi, ông vẫn bị mang tiếng gian hùng vì Liêm, Tham, Hỏa, Tướng-Ấn. Một ngôi vị thừa tướng đủ uy quyền hiếp vua kiểu chúa Trịnh và vua Lê Việt Nam lấy danh nghĩa phò vua trị loạn chư hầu, vì thế ngôi Thái Tuế mới bị triệt thành một nghi án.
Tào Tháo xuất thân làm hiếu liêm, một chức vị hành chánh địa phương năm 20 tuổi (đại vận ở Dần) rồi thấy nó không hợp với sở nguyện của mình, ông từ chức năm 30 tuổi (đại vận ở Sửu Không Kiếp). Ông lui về đọc sách đem hết tâm trí vào việc rèn luyện về chính trị và quân sự lập đảng phái mộ quân đứng lên dẹp loạn khăn vàng đến 45 tuổi có căn bản chiếm cứ được Duyên Châu (đại vận ở Hợi) từ đó tung hoành giết Lã Bố, diệt Viên Thuật, phá Viên Thiệu cho đến 54 tuổi (năm giao vận sang Tuất) bị thua trận Xích Bích mang quân về Bắc và cái thế tam phân của nước Tàu bắt đầu hình thành cho đến khi Lưu Bị vào Xuyên chiếm thành đô lập nổi cái thế của Tây Thục kình chống với Bắc Ngụy Tào Tháo và Đông Ngô Tôn Quyền.
Tào Tháo chết năm Kỷ Hợi, hưởng thọ 65 tuổi là thời gian nhẩy đến cung Dậu. Không biết câu nói của ông thầy tướng Hứa Thiện có bị sau này sửa chữa hay không, chỉ thấy sách truyện ghi lại là Tháo rất bái phục lời nói phê bình mình: “Người là một vị tôi có tài trong thời bình, cũng là một kẻ gian hùng trong thời loạn” .
Thời đại độc tài phong kiến người thống trị luôn luôn củng cố địa vị thường dùng đủ cách ngu dân bằng mọi phương pháp có cả đạo đức, luân lý như trung quân ái quốc bắt buộc người dân dầu có tài ba cách mấy cũng phải tận tâm hy sinh tôn thờ ông vua vô tài kém đức, nếu hành động trái lại là gian hùng bá đạo bị coi là ngụy quyền.
Tào Tháo sinh vào buổi loạn ly nếu không dùng sức mạnh làm sao bình được đất nước, hầu hết các thủ lãnh chư hầu toàn là con nhà quí tộc lòng tham không đáy. Cái gương Khổng Phu Tử đời Xuân Thu muốn thực hiện hòa bình bằng giải pháp ôn hòa đều không được ai nghe , ngài đành ôm hận thành người nặng lo mà không kết quả. Vậy người hùng Tào Tháo xét theo số tưởng ghép chữ thủ đoạn thì trúng vì giang sơn tổ quốc là của chung toàn dân, không phải là cơ nghiệp dành riêng cho một dòng họ thụ hưởng ngôi cao vĩnh viễn, người có tài hoán cải được thời cuộc có lợi cho dân cho nước, dầu ít hay nhiều lâu hay mau bị gán chữ gian hùng chưa chắc đã là hợp lý.
– Chữ Đạo (thể hiện dạng chữ viết tiếng Hán: 道), có nhiều ý nghĩa khác nhau, không phải ai cũng lĩnh hội hết. Dưới góc nhìn Phật giáo, Đạo là rất cao siêu, khó mà giải rõ nghĩa được vì Đạo không có hình trạng như các sự vật ở thế gian.
![]() |
![]() |
Học một điều thôi, có thể sinh trăm phúc, nghênh vạn lành
1./ Các tiết khí trong một năm.
Tiết khí: là 24 điểm đặc biệt trên quỹ đạo của Trái Đất xung quanh Mặt Trời, mỗi điểm cách nhau 15°. Với cách chia đó, trong một năm sẽ bao gồm có 24 tiết khí.

Tiết khí có xuất xứ từ Trung Quốc.
Tiết khi được sử dụng trong công tác lập lịch của các nền văn minh phương đông cổ đại như Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên để đồng bộ hóa các mùa.
Ở Việt Nam có một số học giả phân biệt tiết và khí. Họ cho rằng cứ một tiết lại đến một khí. Tuy nhiên để dễ hiểu, nhiều người vẫn gọi chung là tiết khí hoặc đơn giản chỉ là tiết.
Tên và ý nghĩa của 24 tiết khí sẽ được hiểu như sau:

>> Xem thêm NGÀY TỐT XÂU 2016 mới nhất!
>> Xem thêm XÔNG ĐẤT 2016 mới nhất!
2./ Tiết khí Tiểu Tuyết?
Tiểu tuyết: là một trong 24 tiết khí của của các lịch Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên.
Đây là một khái niệm trong công tác lập lịch của các nước Đông Á chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Quốc cổ đại.

Theo cách tính hiện đại, với điểm xuân phân là gốc có kinh độ Mặt Trời bằng 0°, thì điểm diễn ra hay bắt đầu tiết Tiểu tuyết ứng với kinh độ Mặt Trời bằng 240°
Theo quy ước, tiết tiểu tuyết là khoảng thời gian bắt đầu từ khoảng ngày 22 hay 23 tháng 11 tùy theo từng năm, khi kết thúc tiết lập đông và kết thúc vào khoảng ngày 7 hay 8 tháng 12 (dương lịch) khi tiết đại tuyết bắt đầu.
Tiết khí đứng ngay trước Tiểu tuyết là Lập đông và tiết khí kế tiếp sau là Đại tuyết.
Lịch Trung Quốc, cũng như lịch ở các nước Đông Á cổ đại bao gồm Việt Nam, bị nhiều người lầm là âm lịch thuần túy, dẫn đến ngộ nhận về việc tiết khí nói chung và Tiểu tuyết nói riêng được tính theo chu kỳ của Mặt Trăng quay xung quanh Trái Đất.
Trên thực tế lịch Trung Quốc cổ đại là một loại âm dương lịch, trong đó tiết khí, từ thời Hán Vũ Đế, đã được tính theo vị trí của Trái Đất trong chu kỳ chuyển động trên quỹ đạo xung quanh Mặt Trời.
Ngày bắt đầu tiết Tiểu tuyết do vậy được tính theo cách tính của dương lịch hiện đại và nó thông thường rơi vào ngày 22 hay 23 tháng 11 dương lịch.
>> Xem thêm VẬN HẠN 2016 mới nhất!
>> Xem thêm TUỔI LÀM ĂN 2016 thuận lợi nhất!
3./ Ý nghĩa của tiết khí này nó đánh dấu mốc thời gian mà thời tiết bắt đầu thay đổi.

Đối với vùng Trung Hoa cổ đại, Tiểu Tuyết báo hiệu tuyết xuất hiện. Thời tiết trước đó đã vào Đông, với những cơn gió lạnh lẽo, thì sau ngày Tiểu Tuyết thời tiết càng lạnh hơn với hạt tuyết rơi.
Còn ở Việt Nam, không có tuyết, nên tiết khí này còn được gọi là tiết “Heo may”. Phải chăng báo hiệu những cơn gió heo may bắt đầu thổi? Thời tiết trở lên lạnh hơn, khô hanh hơn.
Một số hình ảnh thời tiết khi gió heo may về.



Tiểu tuyết cũng như 24 tiết khí khác trong năm. Nó như là một công cụ đo thời gian, thể hiện sự vận động, thay đổi thời tiết cũng như các mùa trong năm của cha ông ta xưa./
| Tên sao | Đẩu phận | Âm dương ngũ hành | Hóa | Chủ | Tứ hóa |
| Vnă xương | Trung thiên đẩu | Âm kim | Văn khôi | Khoa giáp | Bính: khoa, Tân: tị |
Thuộc tính âm dương ngũ hành của sao Văn Xương là dương kim, là trợ tinh của chòm Trung Thiên Đẩu, hóa khí là văn khôi, chủ về khoa giáp. Sao Văn Xương cùng với sao Văn Khúc, Tả Phù, Hữu Bật, thiên Khôi, Thiên Việt được gọi được gọi chung là lục cát tinh. Sở dĩ gọi chúng là cát tinh, vì chúng đều có công năng phò tá, nếu gặp được cách tốt hoặc chính tinh miếu vượng thì chẳng khác nào hổ thêm cánh, làm tăng thêm thuận lợi và phát triển. Nếu gặp phải các sao lạc hãm, cát tinh sẽ là Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp, Kình Dương, Đà La, có thể trung hòa sự uy hiếp của sát tinh, thậm chí có thể dẫn chúng tới phát triển theo chiều hướng tốt.
Sao Văn Xương chủ về khoa cử, là đứng đầu trong văn khôi, nhưng cần phải cần cù khổ luyện mới có thành tựu. Sao Văn Xương rất thích gặp sao Hóa Khoa, miếu vượng lại gặp hóa khoa thì tài năng trong lãnh vực văn nghệ và học thuật càng bộc lộ rõ rệt. Sao Văn Xương nếu gặp sao Thái Dương, Thiên Lương, Lộc Tồn tại các cung vị tam phương tứ chính gọi là cách "Dương Lương Xương Lộc", chủ về tiền tài và chức tước càng đẹp, tham dự các kì thi quan trọng chắc chắn sẽ đậu.
Khi sao Văn Xương nhập cung miếu vượng, là có tài năng trong lãnh vực văn nghệ. Khi Văn Xương lạc hãm, thì tài năng khó bộc lộ. Nếu lạc hãm lại gặp Hóa Kỵ chủ về thành tích học tập không cao, có trí cũng khó thành, thường xuyên thi rớt, thậm chí còn dở dang việc học, dễ nảy sinh tâm lý bi quan và chán nản. Tiểu hạn, lưu niên mà gặp Văn Xương lạc hãm Hóa Kị thì cần phải lưu ý những sơ xuất về văn thư đơn từ, nếu không dê vướng vào kiện tụng, học sinh thì cần chú ý tới thành tích học tập.
Sao Văn Xương lạc hãm lại gặp tứ sát tinh là Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La là chủ về khôn vặt, thích tranh cãi với người khác để khoe tài ăn nói, có thể kiếm sống bằng tài nghệ đặc thù. Sao Văn Xương là sao văn, Sao Vũ Khúc là sao võ, Văn Xương gặp Vũ Khúc là người văn võ song toàn.
Ca quyết
Văn Xương chủ khoa giáp; Thìn Tị thị vượng địa
Lợi Ngọ hiềm Mão Dậu; hỏa sinh nhân bất lợi
Mi mục định phân minh; tướng mạo cực tuấn lệ
Hỉ vu kim thủy nhân; quan quý song toàn mỹ
Tiên nan nhi hậu dị; trung hiểu hữu thanh danh
Nghĩa là:
Văn Xương chủ về khoa giáp; Thìn, Tỵ là cung vượng
Ưa Ngọ ghét Mão Dậu; sinh năm hỏa là bất lợi
Mặt mày sáng sủa; dung mạo đẹp vô cùng
Người kim, thủy ưa gặp; giàu sang được song toàn
Trước khó mà sau dễ; trung niên có tiếng tăm
Thái Dương nhiều phúc ấm; có nên ở bảng vàng
![]() |
![]() |
![]() |
| ► Bói tình yêu để biết nhân duyên của bạn |
Gan bàn tay màu hồng nhuận
Nếu bàn tay của bạn có màu hồng hào, tươi sáng đồng thời sắc hồng phân bố đều trên toàn bộ gan bàn tay thì bạn đang sở hữu một đôi bàn tay mang lại nhiều may mắn cho mình. Những người có đặc điểm này thường rất nghiêm túc và có trách nhiệm với mọi việc mình làm. Việc gì họ cũng muốn làm tốt nhất có thể và tự mình hoàn thành mà không muốn nhờ vả hay cần bất kì ai giúp đỡ. Điều này cũng thể hiện rằng họ khá đa nghi và thiếu sự tin tưởng đối với những người xung quanh. Do đó họ thường khá vất vả, chật vật vì không chịu mở lời hợp tác với mọi người, tâm thế cũng thường xuyên trong trạng thái bất ổn, thiếu cân bằng, tuy nhiên đến cuối cùng họ vẫn đạt được thành công muốn có, hoàn toàn dựa vào năng lực và bản lĩnh của chính mình.
Gan bàn tay tối màu
Những người sở hữu đôi bàn tay có gam màu tối và bàn tay khô, thô ráp thường là những người khá nhút nhát, rụt rè. Họ thường muốn ở trong vỏ bọc yên ổn, an toàn mà ngại đương đầu với những thử thách. Tốt nhất họ không nên tham gia vào những công việc có sự mạo hiểm như đầu tư vào tài chính, kinh doanh hay các công việc tiềm ẩn những nguy hiểm nhất định để tránh rước phải những tổn thất nặng nề. Nếu gan bàn tay của bạn dần dần chuyển sang màu sáng hơn thì chúc mừng bạn, vận mệnh của bạn đang tiến triển theo hướng rất tích cực đấy. Gan bàn tay màu vàng nhạt
Những người có gan bàn tay màu vàng nhạt chứng tỏ sức khỏe của họ đang gặp phải vấn đề khá lớn, đặc biệt là liên quan đến tuyến gan và tụy. Bạn cần đi khám sức khỏe để có hướng điều trị dứt điểm, khắc phục điều bất lợi này nếu không cả sức khỏe, tài vận cũng như công việc của bạn sẽ “xuống dốc không phanh” trong một khoảng thời gian rất ngắn.
Gan bàn tay sáng trắng
Nếu bạn có đôi bàn tay có gam màu sáng trắng thì xin chúc mừng, bạn đang sở hữu đôi bàn tay mang lại nhiều may mắn cho bản thân. Những người có đặc điểm này thường gặp nhiều may mắn trong tiền bạc, họ dễ thành công trong việc kinh doanh, buôn bán cũng như đầu tư tài chính. Họ thường có cuộc đời sung túc, viên mãn mà ít gặp phải khó khăn, trắc trở. Nếu gan bàn tay càng ngày càng ngả sang màu trắng sáng thì chứng tỏ bạn ngày càng may mắn và thành công cả trong công việc và cuộc sống. 
Gan bàn tay xanh xao
Những người có đôi bàn tay xanh xao thường có tính cách khá đặc biệt. Họ thường khá nhỏ mọn, hẹp hòi và ít khi giúp đỡ người khác. Tiếp xúc với họ phải khá thận trọng vì họ dễ nảy sinh sự đố kị và có thể hại bạn để vượt lên trên những thành công của bạn. Họ cũng khá ỷ lại, thiếu sự chủ động trong công việc, luôn muốn được người khác nâng đỡ mà ít cố gắng, vì thế những nhà quản lí cũng có thể dựa vào đặc điểm nhân tướng này cộng với quan sát tỷ mỉ để đưa ra quyết định đúng đắn.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Đáp án:
A. Hai tay chống hông.
B. Hai tay nắm hờ hoặc đan xen vào nhau trước bụng.
C. Một chân đứng thẳng, chân kia để ở tư thế thoải mái, hơi cong hoặc bắt chéo.
D. Hai tay đút trong túi quần.
E. Tư thế đứng không cố định, luôn thay đổi không ngừng.
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
| A | B | C | D | E |
Mr.Bull
![]() |
Đọc vị cá tính của bạn qua hình ảnh Bạn nhìn thấy điều gì trong 3 hình ảnh dưới đây? |
Buông xả mọi phiền não trong cuộc sống để tâm bình an là niềm hạnh phúc lớn nhất của mỗi người…
Ai cũng biết hạnh phúc được xây dựng trên nền tảng sự bình an và tự tại. Đây là ước mơ của cuộc đời mà con người chúng ta ai cũng mong mỏi đạt tới.
Theo vòng quay thời gian khiến cho nhịp sống càng trở nên hối hả và gấp gáp hơn. Con người luôn lo toan và tất bật với miếng cơm manh áo để sinh tồn thì việc tìm được sự thanh thản trong tâm hồn không phải điều dễ dàng. Bởi vậy, tại sao có rất nhiều người giàu sang, đạt được những gì mình mong muốn nhưng vẫn không cảm nhận được hạnh phúc. Bởi họ luôn gặp phải căng thẳng, đấu tranh để giữ vững những gì mà mình đang có.
Trong cuộc sống, khi cảm thấy quá mệt mỏi và căng thẳng thì có rất nhiều người tìm tới nguồn cội tâm linh như đi chùa lễ Phật để cầu may, cầu an hoặc đọc những cuốn sách Phật Pháp với mong muốn tìm về sự bình an và giải tỏa những bế tắc.
Khi đức Phật còn tại thế, Ngài có đặt một câu hỏi cho một vị Sa môn là: “Tuổi thọ của con người dài trong bao lâu?” và vị Sa môn đã trả lời là: “Chỉ dài bằng một hơi thở”. Đức Phật nói: “Đúng vậy. Ông là người hiểu đạo” (trích trong Kinh Tứ Thập Nhị Chương).
Cuộc sống mỗi con người chúng ta chỉ tồn tại trong một hơi thở vậy tại sao chúng ta cứ để tâm mình mãi luẩn quẩn trong “u mê” và “phiền não”?
Nếu như con người biết buông xả trong đời sống hiện tại. Buông đi những lợi danh, buông đi những hận thù chấp nhặt. Đồng thời xả đi những mưu cầu tính toán cho bản thân, xả đi những “tham – sân – si” trong cuộc sống thường nhật thì sẽ tự tìm thấy cho mình niềm an vui và thanh thản trong tâm hồn.
Bởi khi biết buông xả thì tâm ta mới trong sáng để vượt qua những cám dỗ của tham, sân, si, của mạn nghi ác kiến để rồi nhìn thấy niềm vui xung quanh ta.
Có buông xả được thì lòng ta mới rộng mở, ai nói gì không vừa ý cũng bỏ qua mà không chấp. Nếu ai có làm điều gì xúc phạm cũng dễ dàng tha thứ, mà nếu có giận có buồn thì chỉ một vài phút hoặc một vài giờ, cùng lắm qua một đêm rồi quên hết đi cho đời mình được an vui.
Nhưng hãy hiểu rằng buông xả không có nghĩa là buông bỏ, dẹp hết tất cả để chỉ lo cho bản thân mình. Không có nghĩa là chối bỏ, trốn tránh trách nhiệm trong cuộc sống.
Là người con Phật, chúng ta buông xả nhưng phải luôn giữ trọn vẹn trách nhiệm của một con người. Để bồ đề tâm thêm vững chắc, để trả ơn công lao sinh thành của cha mẹ, để vẫn chu toàn mọi việc, mọi bổn phận.
Tất cả được làm với tấm lòng bao dung mở rộng như một vị Bồ tát, xử xự theo tinh thần “Từ – Bi – Hỷ – Xả”. Còn đích đến nào tuyệt với hơn khi biết tìm lại và trở về với chính cuộc sống nội tâm của chúng ta, để trở về với sự thanh thản trong tâm hồn.
Bởi khi tâm hồn trong sáng, vui vẻ, là chúng ta đang tiến dần đến mục tiêu, thành công của cuộc sống mà chúng ta mong đợi. Chúng ta làm việc sẽ tốt hơn, sống đam mê hơn, nhân hậu, tha thứ và rộng mở, học thêm được nhiều điều…
Song quan trọng nhất là chúng ta được hạnh phúc, nhận nhiều yêu thương khi biết buông xả, có lẽ đó chính là quy luật và cũng là nghệ thuật sống, mang lại sự bình an cho mỗi người..
Đây là quẻ Quan Âm thứ 97 được xây dựng trên điển cố: Lục xuất Kỳ Sơn hay sáu lần ra Kỳ Sơn.
Quẻ trung bình thuộc cung Hợi. Mọi việc do sự an bình số phận, không cần quá hao tâm tổn sức mưu tính được hơn.
Thử quái đương phong điềm chúc chi tượng. Phàm sự hư danh bắt lợi dã.
Kỳ Sơn, nằm ở phía đông huyện Lễ của tỉnh Cam Túc ngày nay. Thời Hán xây thành trên bờ phía bắc của sông Tây Hán Thủy, rất kiên cố, tức là thôn Kỳ Sơn ngày nay, đây chính là vị trí chắc chắn sẽ dẫn đến tranh chấp trong quân sự. “Kỳ Sơn” trong điển cố Gia Cát Lượng sáu lần ra Kỳ Sơn, chính là địa điểm này.
Lần thứ nhất ra Kỳ Sơn: Mùa xuân năm Kiến Hưng thứ 6 (tức năm 228), quân Thục chuẩn bị tiến đánh phía bắc, tướng tĩnh là Ngụy Diên đề xuất kế tập kích chiếm Đồng Quan, nhưng Gia Cát Lượng không theo. Gia Cát Lượng cử Triệu Vân, Đặng Ngải dẫn quân làm nghi binh, từ Cơ Cốc dàn trận như muốn tấn công về hướng bắc bắt đầu từ đạo Tà Cốc, để thu hút quân Ngụy. Hành động của quân Thục rất hiệu quả, Ngụy Minh Đế Tào Duệ ờ Lạc Dương đã phái cánh quân ờ Quan Hữu của Đô đốc Tào Chân đến huyện Mi chặn quân Triệu Vân, vì thế Gia Cát Lượng đích thân dẫn quân chủ lực tiến về Kỳ Sơn. Khắp nước Ngụy đều sợ hãi, các Thái thú ba quận Thiên Thủy, Nam An và An Định lần lượt bỏ quận chạy về hướng đông. Gia Cát Lượng thừa thế bao vây Kỳ Sơn. Tào Chân dẫn quân đến nghênh chiến. Gia Cát Lượng sai Tham quân Mã Tắc dẫn quân đến Nhai Đình chặn Trương Hợp. Sau khi Mã Tắc đến Nhai Đình, lại không tuân theo sự bố trí của Gia Cát Lượng, cũng không tiếp nhận lời khuyên của Vương Bình, không hạ trại ở nơi đường lớn, mà lại lên núi đóng quân. Đến khi Trương Hợp đến, trước tiên là bao vây quân Thục ở trên núi, cắt hết nguồn nước, lại thúc quân ò ạt tấn công, quân Thục đại bại, Mã Tắc bỏ chạy, Nhai Đình thất thủ. Lần ra Kỳ Sơn thứ nhất của Gia Cát Lượng đã thất bại.
Lần thứ hai ra Kỳ Sơn: Mùa đông năm Kiến Hưng thứ 6, Gia Cát Lượng lợi dụng cơ hội Lục Tốn bên Đông Ngô đánh bại Đại tư mã Tào Hưu nước Ngụy, lại xuất quân đánh nước Ngụy. Tháng mười hai, Gia Cát Lượng dẫn quân ra Tán Quan, bao vây Trần Thương. Nhưng quân Ngụy sớm đã đắp thành Trần Thương phòng bị, Gia Cát Lượng sai người đi thuyết phục tướng giữ thành là Hách Chiêu đầu hàng, nhưng không thành công. Gia Cát Lượng dẫn quân tấn công thành Trần Thương, hai bên đánh nhau kịch liệt hơn hai mươi ngày, không phân thắng bại. Sau đó Gia Cát Lượng thấy Phí Diệu, Trương Hợp của quân Ngụy đem quân tiếp viện đến, đành phải lui quân.
Lần thứ ba ra Kỳ Sơn: Mùa xuân năm Kiến Hưng thứ 7, Gia Cát Lượng cử Trần Thức đánh Vũ Đô và Âm Bình, cuối cùng đã chiếm được hai quận này một cách thuận lợi. Sau đó, Gia Cát Lưựng vỗ yên người dân tộc Đê và dân tộc Khương ở vùng đất này, để lại quân trấn giữ, còn mình dẫn quân trở về Hán Trung. Do chiếm được hai quận thành công, nên Gia Cát Lượng được thăng chức làm Thừa tướng.
Lần thứ tư ra Kỳ Sơn. Tháng bảy năm Kiến Hưng thứ 8, Tào Ngụy từ khách trở thành chủ, xuất quân đánh Thục. Tư Mã Ý, Trương Hợp, Tào Chân đều thống lĩnh đại quân của lộ mình, cùng nhau đánh Hán Trung. Gia Cát Lượng tăng cường phòng thủ, điều Lý Nghiêm dẫn hai vạn quân tiếp viện cho Hán Trung, còn mình dẫn đại quân nghênh chiến ở Thành Cố và Xích Bản. Lại lệnh cho Ngụy Diên dẫn quân theo hướng tây vào đất Khương, tấn công quân Ngụy của nhóm Quách Hoài. Đến tháng chín năm đó, quân Thục đã đánh bại sự tấn công của quân Ngụy.
Lần thứ năm ra Kỳ Sơn: Tháng hai năm Kiến Hưng thứ 9, Gia Cát Lượng lại dẫn quân tấn công Kỳ Sơn một lần nữa. Lúc này, Đại tư mẫ Tào Chân của Ngụy bị bệnh, Ngụy Minh Đế lệnh cho Tư Mã Ý dẫn quân giao chiến với Gia Cát Lượng. Vừa mới xuất trận, Gia Cát Lượng đã đánh bại tướng Ngụy là Quách Hoài và Phí Dao, lại thừa thắng thu hoạch lúa mạch cùa vùng Thượng Khuê làm quân lương. Tư Mã Ý cố thủ nơi hiểm trở không chịu ra, Gia Cát Lượng đành phải dẫn quân quay về.
Lần thứ sáu ra Kỳ Sơn: Gia Cát Lượng xét thấy mỗi lần ra Kỳ Sơn, đều vì lương thực cạn mà phải lui quân, cho nên sau năm Kiến Hưng thứ 9, đã khuyến khích quân sĩ chú trọng luyện tập võ nghệ, cho quân đội nghỉ ngơi ba năm, để chuẩn bị lương thảo cần dùng khi chiến đấu. Đến tháng hai năm Kiến Hưng thứ 12, Gia Cát Lượng điều động quân đội ra khỏi Tà Cốc, lại sai sứ giả giao ước với Đông Ngô cùng xuất binh đánh Tào Ngụy. Hai quân Thục – Ngụy giằng co nhau ờ sông Vị Thủy. Đến tháng tám năm đó, Gia Cát Lượng do lao lực nhiều mà sinh bệnh, qua đời trong doanh trại, hưởng thọ năm mươi tư tuổi.
Rằm tháng Giêng là một trong những ngày lễ quan trọng trong năm của người Việt, cũng là ngày trăng tròn đầu tiên của năm. Vào ngày này, mọi người thường lên chùa cúng sao giải hạn, ước nguyện điều lành cho gia đình.
Rằm tháng Giêng năm nay rơi vào ngày 12 tháng 1 Dương lịch. Ngày này thích hợp cho việc đính hôn, cúng tế, cầu phúc, cầu tự, tắm gội, nhận con nuôi, thăm hỏi người thân bạn bè, nhập học, chữa bệnh, đào giếng, xây đắp ao hồ, mua gia súc. Kị kết hôn, nhập trạch, tang lễ, an táng. Tuy nhiên, nếu cần làm việc gì bạn nên xem kĩ để chọn giờ cho phù hợp.
Ngoài ra vào ngày này hàng năm còn có một số kiêng kị mọi người nên biết để có một năm thuận lợi, nếu tránh được sẽ tốt cho vận khí của bạn và gia đình.
1. Trẻ con khóc sẽ làm gia đình không may mắn, dễ xảy ra một số việc không mong muốn, vào ngày này cha mẹ không nên để con cái khóc nhiễu.
2. Tránh đánh vỡ, làm hỏng đồ đạc trong nhà, bởi vì điều đó đồng nghĩa với việc năm tới tài phúc hao tổn.
Làm vỡ đồ ngày Rằm tháng Giêng có thể đem đến nhiều xui xẻo. Ảnh minh họa
3. Kiêng đi đến những nơi âm khí nặng như mồ mả, nơi hoang vu hoặc bệnh viện, nhất là những người sức khỏe yếu kém.
4. Mang ít tiền bạc, đồ vật có giá trị bên người. Nếu mất mát tài sản vào ngày này thì năm nay tài vận của bạn sẽ kém đi.
5. Rằm tháng Giêng không được cho người khác mượn tiền, nếu bạn cho mượn nghĩa là bạn cũng cho đi tài khí của mình.
6. Không được để thùng gạo trong nhà lộ đáy, thùng gạo trống rỗng chẳng khác gì nhà bạn sẽ đói kém.
7. Chú ý không để quần áo bị rách, theo quan niệm xưa thì nếu quần áo rách, năm tới bạn sẽ bị vận rủi đeo bám.
8. Ngày này không được sát sinh, nếu không tài vận suy giảm, gặp tai nạn, bệnh tật.
9. Tránh mặc đồ màu trắng và màu đen vì hai màu này liên quan đến người đã mất. Người mặc hai màu đen trắng vào ngày này làm việc gì cũng khó thành.
10. Họa từ miệng mà ra, lời đã nói ra không thu lại được. Vì vậy không nói lời hạ tiện và nói “sạch“ bạn nhé.
Cách hóa giải hướng nhà xấu hường nhà xấu luôn mang lại điều không may mắn vậy giải quyết nó như thế nào hãy tham khảo bài viết dưới đây
Cách hóa giải hướng nhà xấu Có hai loại năng lượng rất cơ bản trong phong thủy là sinh khí và tà khí. Sinh khí (Sheng chi) được gọi là hơi thở của Rồng. Nguồn năng lượng này rất tốt, mang đến những điều tốt đẹp. Tà khí (Shar chi) thì ngược lại, là nguồn năng lượng xấu gây ra mọi loại vấn đề.
Một trong những nguồn của tà khí (shar chi) là năng lượng mũi tên độc. Các mũi tên độc là năng lượng tiêu cực, xuất phát từ bất cứ thứ gì có hình thái góc cạnh hướng vào cửa chính, cơ thể con người hoặc ngôi nhà của bạn.
Mũi tên độc phong thủy gây ra nhiều tổn thất nghiêm trọng cho cuộc sống của con người.
Chúng thường xảy ra tại các giao điểm hình chữ T, nơi một con đường chấm dứt trực tiếp ngay phía trước một ngôi nhà. Nó cũng có thể xuất phát từ góc cạnh của các bức tường hoặc đồ nội thất. Các điểm này có thể tấn công cơ thể bạn trong khi bạn làm việc hoặc ngủ.
Điều tồi tệ của các mũi tên độc là chúng có thể gây ra những tổn thất nghiêm trọng, chẳng hạn như mất việc làm, mất tiền của, sức khỏe suy giảm.
Việc quan trọng là đánh giá bất kỳ không gian nào bạn dành nhiều thời gian để tìm ra sự hiện diện và ảnh hưởng của các mũi tên độc. Đôi khi chúng rất rõ ràng, đôi khi lại không. Nhưng ảnh hưởng của chúng là không thể phủ nhận.
Tham khảo những bí quyết sau đây để hiểu thêm về mũi tên độc trong phong thủy, làm thế nào để xác định và hóa giải chúng:

1. Cách hóa giải hướng nhà xấu Mũi tên độc bên ngoài có hại nhiều hơn bên trong ngôi nhà
Ngôi nhà hoặc văn phòng nằm ở ngõ cụt hoặc ngã ba luôn phải hứng chịu mũi tên độc phong thủy.
Nếu bạn có một ngôi nhà hoặc văn phòng nằm ở ngõ cụt hoặc ngã ba thì vị trí này có thể gây ra những thiệt hại to lớn. Những ngôi nhà xung quanh có thể tạo ra mũi tên độc bởi vì chúng có rất nhiều góc độ khác nhau. Nếu bạn gặp một vài khó khăn trong cuộc sống, hãy kiểm tra bên ngoài nhà ở hoặc văn phòng để xác định xem có mũi tên độc nào đang chĩa thẳng vào con đường của bạn không.
Các mũi tên độc chĩa vào hướng Đông, Đông Nam hoặc Tây Nam sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của bạn, bao gồm sức khỏe, tiền tài và các mối quan hệ.
2. Chú ý khi hoàn cảnh của bạn thay đổi, đặc biệt vào những thời điểm sau:
– Khi bạn đã di chuyển và nhận thấy rằng gia đình mình không yên ổn. Đi bộ xung quanh ngôi nhà để xem xét có mũi tên độc nào đang chĩa vào nhà bạn hay không.
– Khi những đứa trẻ trong nhà không nghe lời hoặc thường xuyên ốm đau. Trẻ em thường chịu ảnh hưởng của mũi tên độc trước người lớn. Cần lưu ý nếu những đứa trẻ hay gặp vấn đề trong cuộc sống hàng ngày.
Khi sắp xếp đồ dùng trong nhà cần chú ý xem chúng có tạo ra các mũi tên độc hay không
– Nếu bạn mắc phải một số bệnh hoặc những khó khăn tài chính thì hãy kiểm tra lại xung quanh nhà hoặc văn phòng. Đôi khi, việc thay đổi cách sắp xếp đồ dùng trong nhà cũng vô tình tạo ra các mũi tên độc.
– Nếu nhà bạn nằm trên khúc quanh của một con đường hoặc dòng chảy của nước cũng có thể tạo ra năng lượng mũi tên độc.
3. Ngăn chặn năng lượng tiêu cực bằng chướng ngại vật
Chuông gió, rèm cửa, mành chướng… là những rào cản dễ thiết kế.
Các chướng ngại vật (rào cản) là một cách hiệu quả khác để xử lý nguồn năng lượng tiêu cực và các mũi tên độc. Dựng một số loại rào cản để ngăn chặn và xử lý chúng. Các rào cản hiệu quả bao gồm cây xanh, tường rào, chuông gió, gương hoặc đá. Một loại rào cản khác có thể dùng là màn hình, rèm cửa hoặc mành chướng.
4. Vận dụng 5 yếu tố phong thủy cơ bản để kiểm soát mũi tên độc
Nếu mũi tên độc đến từ một hướng cụ thể, bạn có thể sử dụng vòng tròn hủy diệt năng lượng để chống lại chúng. Ví dụ, nếu mũi tên đến từ:
– Hướng Bắc: Dựng một bức tường hoặc chồng một đống đá.
– Hướng Nam: Dựng một bức tường hoặc thiết kế hẳn một tiểu cảnh nước.
– Hướng Tây Nam hoặc Đông Bắc: Trồng cây xanh hoặc xây hàng rào.
Tiểu cảnh nước có khả năng hóa giải mũi tên độc xuất phát từ hướng Nam của ngôi nhà.
– Hướng Tây Nam hoặc Đông: Đặt một vật rào cản làm bằng kim loại để chặn đứng nguồn năng lượng xấu. Một quả cầu hình tròn hoặc bếp nướng ngoài trời sẽ có hiệu quả. Bạn có thể treo một chiếc chuông gió 6 thanh ở giữa vị trí mũi tên và ngôi nhà hoặc văn phòng của bạn. Chuông gió sẽ phân tán nguồn năng lượng “hung hăng”.
– Hướng Tây hoặc Tây Bắc: Những chiếc đèn sẽ làm tiêu tan nguồn năng lượng tiêu cực nếu chúng xuất phát từ hai hướng này. Bạn có thể cân nhắc sơn đỏ một bức tường. Màu đỏ tượng trưng cho yếu tố Hóa phá hủy yếu tố Kim ở hướng Tây và Tây Bắc.
5. Cảnh giác mũi tên độc chĩa vào cửa nhà
Cửa nhà chính là nơi vô cùng quan trọng nên cần kiểm soát nguồn năng lượng tiêu cực chiếu vào nó.
Cửa ra vào là một phần rất quan trọng của ngôi nhà. Nếu có các mũi tên độc chĩa vào nó thì có thể bạn sẽ mất đi các cơ hội tốt đẹp và gặp những khó khăn về tài chính. Vì vậy, hãy cẩn thận kiểm tra khu vực trước cửa nhà cả bên trong lẫn bên ngoài.
Mũi tên độc phổ biến nhất là khi cửa ra vào và cửa sau nằm trên một đường thẳng hoặc khi mở cửa ra vào thì bạn có thể nhìn xuyên suốt toàn bộ ngôi nhà. Như vậy, năng lượng đi vào sẽ đi ra nhanh chóng. Điều này thực sự nguy hiểm.
Tránh lựa chọn đồ nội thất có quá nhiều góc cạnh trong phòng ngủ để hạn chế tạo ra mũi tên độc.
Nếu đồ nội thất hoặc các bức tường chiếu thẳng vào cơ thể bạn, tệ nhất là vào phần đầu, hãy đặt một cái gì đó để ngăn chặn các mũi tên độc. Nên chọn bàn đầu giường có góc tròn hơn là các cạnh góc vuông. Đối với các bức tường, bạn hãy sử dụng màn khi đi ngủ hoặc che vật gì đó phía trước.
7. Mũi tên độc hướng vào bàn làm việc
Công việc hàng ngày của chúng ta cũng có biết bao nhiêu là vất vả, nhưng nó đặc biệt trở nên khó khăn hơn nếu bàn làm việc là mục tiêu chính của những mũi tên độc.
Vận dụng tốt cây xanh là giải pháp tuyệt vời xử lý mũi tên độc tại vị trí làm việc.
Đặt một cây xanh dáng cao phía trước các góc hoặc thay đổi vị trí bàn làm việc nếu có thể. Một giải pháp khác là treo một chiếc chuông gió dài phía trước các góc nhọn. Nếu mũi tên độc xuất phát từ phía Bắc? Đặt một chậu cây xanh ở hướng này để xử lý nguồn năng lượng tiêu cực.
| ► Lịch ngày tốt tổng hợp mọi thông tin về mười hai con giáp bạn nên xem |
![]() |
![]() |
3 con giáp có “tiền vào như nước sông Đà” trong tháng 7
– Nốt ruồi nằm ngay đuôi lông mày: Bạn là người thích du lịch và luôn luôn di chuyển.
– Nốt ruồi nằm giữa lông mày: Bạn có phong cách sống vô cùng tinh tế, luôn quan tâm đến cuộc sống vật chất, không ngừng khẳng định địa vị xã hội của mình và dễ dàng tìm được một công việc tốt. Do đó, nốt ruồi nằm giữa lông mày được xem là vật mang lại may mắn cho người sở hữu nó.
– Nốt ruồi nằm dưới mắt: Bạn luôn gặp vấn đề trong cuộc sống tình cảm. Nốt ruồi nằm dưới mắt hay được gọi là những “nốt ruồi khóc” bởi người sở hữu luôn phải buồn bã và gặp nhiều chuyện xui xẻo trong tình yêu.- Nốt ruồi nằm dưới lông mày: Bạn là một người rất quyến rũ, đầy thu hút và thường là người đào hoa (có chút lăng nhăng).

Thật tuyệt nếu bạn có nốt ruồi trên trán vì theo chiêm tinh, chúng là biểu tượng của sự may mắn.
Nếu nốt ruồi nằm ngay giữa trán như con mắt thứ ba của Thần Shiva, bạn là người vô cùng thông minh, sáng suốt, nhìn trước được tương lai và có cách hành xử rất logic.
Những nốt ruồi ở phần trên của tai có nghĩa là thông minh trong khi nốt ruồi ở phần dưới lại có nghĩa rằng người sở hữu có xu hướng theo đuổi sự nghiệp cá nhân hơn là cộng tác với người khác.
Người đàn ông có nốt ruồi trên đầu mũi thường có tính cách rất dễ chịu. Họ rất quyến rũ và được nhiều người yêu quý.
Nốt ruồi trên má, đặc biệt khi nó nằm ở dưới, ngụ ý rằng bạn là kẻ rất may mắn và có cuộc sống hôn nhân trên cả tuyệt vời. Bạn thường sống khá ấm áp, thu hút và đầy cá tính.
Nếu có nốt ruồi ở phần trên của má thì bạn là người khá cứng đầu, hơi hung hăng, thích chỉ đạo và vô cùng quyền lực. Bạn là người năng động, biết cách toả sáng và luôn được mọi người yêu quý. Bạn ngoài ra cũng khá vui vẻ và nói hơi nhiều.
Những nốt ruồi này được xem là nhân tố làm nên vẻ đẹp của người phụ nữ.
Nếu có nốt ruồi ở môi trên, bạn chắc chắn khá dễ gần, thân thiện và thích trò chuyện với người khác. Bạn cũng là người sành ăn, có một cuộc sống tốt và giữ địa vị cao trong xã hội.
Ai cũng cầu mong sức khỏe, tài lộc, may mắn, tiền bạc, hạnh phúc và tình yêu trong cuộc sống. Điều đó lý giải vì sao ngày nay nhiều người coi trọng phong thủy với mong muốn có những nguồn năng lượng tốt bổ trợ và thay đổi vận mệnh tốt lên của mình.
![]() |
| Những lọ hoa héo khiến căn nhà vừa xấu vừa làm người khác đánh giá chủ nhà không chăm chút cho gia đình. Ảnh: Lolitas. |
Phong thủy trong cuộc sống, công việc đang là xu hướng được rất nhiều người đi theo. Nếu biết vận dụng thuật phong thủy tốt, gia chủ sẽ nhận được những nguồn khí bổ trợ tốt. Tuy nhiên, cũng có những việc làm không thuận với phong thủy, khiến họ chưa nhận được nguồn năng lượng tích cực. Dưới đây là 7 điều nên tránh làm trong phong thủy:
1. Kê một bên giường quá sát với tường
Đây được coi là sai lầm phổ biến nhất trong cách bày trí phòng ngủ của rất nhiều người. Việc chiếc giường bị kê quá sát với tường nhà hoặc nằm trong một góc phòng sẽ phong tỏa mọi nguồn năng lượng thịnh vượng khi bạn đang say ngủ. Chúng ta ngủ hằng ngày là để thư giãn, tĩnh dưỡng và trẻ hóa, và việc kê sai giường sẽ khiến quá trình ấy thu giảm đáng kể. Vị trí giường ở góc nhà sẽ khiến chủ nhân khó thoát ra khỏi giường khi có những tình huống bất ngờ xảy ra. Thêm vào đó, một chiếc giường không thoáng cả hai bên sẽ là trở ngại lớn cho các cặp vợ chồng, dễ gây cho họ những mối bất hòa không đáng có.
2. Để hành lang tối và cửa ra vào không sinh động
Một sai lầm đáng kể đến từ việc trang trí ngôi nhà đó là để hành lang tối, không có đèn thắp sáng, cộng với việc gia chủ để mặc cửa ra vào bị rợp bóng cây hoặc kém màu sắc tươi tắn, sinh động. Bố trí cửa ra vào đầy đủ ánh sáng, quang đãng, sinh động sẽ giúp ngôi nhà thu hút được những nguồn năng lượng tốt, mang đến niềm hạnh phúc, vui vẻ cho các thành viên trong gia đình và khách ghé thăm. Thêm vào đó, tuyệt đối không để hành lang gợi lên cảm giảm tối sâu hun hút. Hãy lắp đặt hệ thống ánh sáng vừa đủ, trang trí các bức tranh nghệ thuật hoặc đặt chậu cây cảnh… để hành lang mang màu sắc tươi tắn, đáng yêu.
3. Đặt tivi trong phòng ngủ
Sẽ là một sai lầm nghiêm trọng nếu gia đình bạn đang đặt một chiếc tivi trong phòng ngủ. Đó được xem là kẻ giết chết các mối quan hệ vợ chồng một cách thầm lặng. Tivi, đồ điện tử hay máy chơi game là những đồ vật khiến vợ chồng dễ xa cách nhau tại chính căn phòng ngủ của bạn. Hãy nhớ, phòng ngủ là không gian riêng tư, nghỉ ngơi đầy lãng mạn của mỗi người, mỗi cặp vợ chồng, vì thế, hãy cố gắng để chúng không bị tác động bởi các đồ vật khác.
4. Để hệ thống ống nước rò rỉ
Mặc dù rất ít người coi trọng và lưu tâm, nhưng để hệ thống ống nước nhà bạn rò rỉ mà không sửa chữa ngay, đồng nghĩa với việc năng lực tài chính, năng lượng cá nhân, thậm chí là sức khỏe của gia chủ đang có vấn đề. Nếu chủ nhân ngôi nhà không có kinh nghiệm thì hãy gọi ngay đội sửa chữa đến càng sớm càng tốt. Tuy nó là một vấn đề nhỏ nhưng để lâu ngày sẽ ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của gia đình bạn và làm tiêu tan những nguồn khí tích cực của ngôi nhà.
5. Bày trí những bức tranh không phù hợp
Nếu chủ nhân ngôi nhà là người yêu thích các bức tranh nghệ thuật liên quan đến chiến tranh, tôn giáo, đồ cổ kỳ lạ thì hãy treo chúng ở một gian phòng riêng. Bởi nó ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý của các thành viên còn lại của gia đình và khách ghé thăm. Trong các gian phòng khách, phòng ngủ, phòng trẻ… bạn nên treo những bức tranh sinh động, màu sắc hài hòa, tươi tắn, đáng yêu để mang đến cảm giác chào đón, nồng hậu, vui vẻ cho mọi người.
6. Lắp các tấm gương lớn đối diện nhau
Trong phong thủy, việc lắp hai tấm gương đối diện nhau ở hai bên bức tường là điều tối kỵ. Bởi khi đó, vùng không gian ở giữa hai gương sẽ là những nguồn năng lượng phản xạ, đối lập nhau, khiến cho gia chủ và người thân gặp phải nguồn khí không có lợi. Thay vào đó, gia chủ có thể đặt những chậu cây cảnh nhỏ xinh, đặt những bình thủy sinh để tô điểm cho ngôi nhà mà vẫn khiến không gian sâu rộng, tươi mát.
7. Để cây cảnh đã chết trong nhà hoặc ngoài sân
Nếu không muốn người khác hiểu rằng nguồn sinh khí trong căn nhà bạn đang héo mòn và chết dần thì tuyệt đối không được để cây cảnh, chậu hoa, bình hoa đã héo úa và chết trong nhà hoặc ngoài sân. Điều lưu tâm cơ bản nhất của chủ nhân ngôi nhà là luôn tạo cho căn nhà mang vẻ sức sống, tươi mới. Do đó, hãy nên chú ý đến các loại cây trồng trong nhà bạn. Chăm sóc chúng thật tốt, rửa bụi bẩn, thay nước và thay hoa đều đặn. Hãy để hoa, cây cảnh mang sức sống, sự tươi mới và sinh động theo đúng nghĩa của nó.
Đăng Linh
Người tuổi Tuất thường khá hướng nội, ít thể hiện cảm xúc. Họ cũng có tính hơi cố chấp. Điều này đôi khi gây cho họ phiền phức.
|
|
|
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Ðề cập tới văn hóa, phong tục của một dân tộc là một đề tài hết sức phức tạp, vì mỗi dân tộc không ít thì nhiều là một đơn vị đặc thù, dầu vậy tính cách đặc thù văn hóa này không khải là cô lập, nhưng là kết tinh vừa tế nhị vừa phức tạp qua sự giao tiếp với các dân tộc khác, với những nền văn minh khác. Văn hóa, phong tục tập quán của nfười Việt cũng thế, là những tinh hoa đã được gạn lọc, biến hóa qua cuộc sống dân tộc của biết bao nhiêu thời đại, qua việc tiếp xúc với nền văn minh, những nguồn tư tưởng sâu rộng nhất, mạnh mẽ nhất của nhân loại như Hoa-Ấn, Hy-La. Ở đây khi chọn đề tài "Ông bà tổ tiên" liên hệ với việc truyền giáo, chúng ta đã thu hẹp phạm vi không thảo luận những liên hệ Lão giáo và Phật giáo, nhưng chỉ chú tâm vào Nho giáo và Kitô giáo có liên quan tới vấn đề "lễ nghi" đối với ông bà tổ tiên. Trước tiên chúng ta truy xét lý do tại sao người Việt thành kính ông bà tổ tiên, thứ tới thảo luận lý do người Việt Công giáo trong quá trình lịch sử gặp phải những khó khăn khi bầy tỏ lòng thành kính này theo như phong tục tập quán của mình. Cuối cùng chúng ta tự hỏi có thể học được gì trong kinh nghiệm lịch sử này để hy vọng có thể suy tư về một thần học bản vị hóa việc thành kính ông bà tổ tiên?
1. Nguồn Gốc Tôn Kính Ông Bà Tổ Tiên
Tuy ai cũng biết mỗi người, mỗi gia đình đều có ông bà tổ tiên riêng, nhưng nói tới việc tôn kính ông bà tổ tiên cách chung là chấp nhận những điểm tương đồng của những nền văn hóa Viễn Ðông trong lịch sử ít nhiều đã chịu ảnh hưởng của Nho học, như Trung Hoa, Ðại Hàn, Nhật Bản, Việt Nam. Nên ở dây khi bàn về nguồn gốc tôn kính ông bà tổ tiên hay ở phần sau thảo luận những tranh chấp về "lễ nghi" thì những tài liệu của các quốc gia trên đều có thể dùng để bổ túc cho nhau để hiểu rõ vấn đề.
Việt ngữ dùng danh từ "tôn giáo" để chỉ chung các tín ngưỡng. Chữ "tôn" cũng còn một âm nữa là "Tông" nguyên ủy chỉ ông "thứ tổ" (ông tổ thứ hai), rồi dùng rộng hơn nữa để chỉ nơi thờ kính tổ tông, cũng như chỉ các giáo phái, học phái. Như vậy, "tôn giáo" theo ngữ văn là thực hiện lòng hiếu kính đối với tổ tông, tổ tiên. Lòng hiếu kính này được biểu tỏ nôm na theo lối bình dân như:
"ăn quả nhớ kẻ trồng cây,
uống nước nhớ tới nguồn", hoặc:
"Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra,
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn đạo hiếu mới là đạo con".
Hay Nguyễn Du viết trong truyện Kiều:
"Tâm thành đã thấu đến trời,
Bán mình là hiếu, cứu người là nhân".
hay ở đoạn khác:
"Lấy tình thâm, trả tình thâm,
Bán mình đã động hiếu tâm đến trời".
Như vậy căn nguyên tôn kính ông bà tổ tiên ở đâu? Phải chăng là một sự tôn kính "Thần Thánh" theo phẩm trật? Như sách Lễ Ký, thiên Khúc-lễ-hạ đã chép: "Thiên tử tế thiên địa, tế tứ phương, tế sơn xuyên, tế ngữ tự, chư hầu phương tự, tế ngũ tự (tức là tế Thần cửa, ngõ, giếng, bếp và giữa nhà), chư hầu tế phương mình ở, tế ngũ tự, quan đại phu tế ngũ tự, kẻ sĩ tế tổ tiên). Thực ra đây là những phương châm cho những nền văn hóa chịu ảnh hưởng Khổng học, nên dù ở Thiên An Môn bên Trung Hoa hay ở Ðàn Nam Giao tại Huế, việc tế trời chỉ có nhà vua mới có quyền đứng chủ tế. Trong lễ tế Nam Giao, trên Viên-Ðàn ở giữa là bàn Thời Trời Ðất, hai bên có hai hàng hương án song hành thờ các Tiên Ðế. Xem như thế, thừ Vua quan tới thứ dân, tế tự là việc rất quan trọng, lễ nghi được minh định có trật tự, chung qui vào hai nguyên ủy là Trời và Tổ, vì "vạn vật bản hồ Thiên, nhân bản hồ Tổ" (Lễ ký) (dịch: muôn vật gốc ở Trời, người gốc ở Tổ). Nhưng thực ra hai nguyên ủy này chỉ bắt nguồn bởi một mà thôi, vì các Tổ Tiên tuy sinh ra người, nhưng tất cả đều do Trời sinh dưỡng, như Kinh Thi chép: "Thiên sinh chưng dân, hữu vật hữu tắc dân chi bỉnh di, hiếu thị ý đức" (Trời sinh ra dân, có hình phép, dân giữ tính thường, mới có đức tốt).
"Ông Trời" là nguyên ủy của muôn loài, nên tế Trời là quan trọng nhất, do đó không phải ai cũng được phép mà chỉ có Thiên Tử, dân chi phụ mẫu, mới được trực tiếp hành lễ mà thôi. Ông Trời tuy rất gần kề đại chúng trong cuộc sống, khi vui khi buồn đều có thể gọi "Trời ơi" được, nhưng họ không được phép trực tiếp cúng tế, nên thường kêu cầu tới Tổ Tiên hay cúng tế các thiểu thần. Chính vì thế mà Trần Trọng Kim đã viết: "Việc thờ Trời, thờ quỉ thần và tổ tiên, tuy là phân biệt, nhưng kỳ thực cũng là theo một lý cả, và chính là cái tôn giáo đặc biệt của những dân tộc theo văn minh Tầu ở Á đông". Dù được trực tiếp tế tự "Trời" hay chỉ gián tiếp qua Thần Thánh, tổ tiên, người Việt đều tin tưởng vào sự liên đới "Thiên nhân tương dữ". Theo đó con người được phú cho nhân tính để nhận ra thiên lý, để mô phạm Thiên tính, để trong cuộc sống họ thực thi nhân đạo hợp với Thiên đạo. Nói cách khác: "Trời đối với quần chúng như một nguyên ủy tiền định con người, nhưng vượt trên con người, định đoạt sinh tử, phúc họa, giầu nghèo. Họ kêu Trời vì Trời không xa ta. Trời thấu suốt tất cả, cả những tâm tư thầm kín. Họ kêu Trời vì Trời toàn năng, không mù quáng trong việc xét xử. Trời công minh vì thưởng kẻ lành, phạt kẻ dữ".
Nho gia thừa hưởng tư tưởng Khổng tử tin Trời là chủ tể vũ trụ, điều hòa mọi biến hóa bởi vậy tri Thiên mệnh là nguồn gốc và lý tưởng của tu tâm và dưỡng tính của bậc quân tử". "Bất tri mệnh vô dĩ vi quân tử dã" (Luận Ngữ; Nghiêu viết, XX) (dịch: không biết mệnh Trời thì không lấy gì làm quân tử). Khi bậc quân tử quyết tâm học biết và tuân theo mệnh Trời tức là sống trong tâm tình Kính và Thành. Mặc dù khi họ cúng tế thì biểu tỏ lòng chân thành: "tế thần như thần tại" (Luận Ngữ: Bát dật, III) (dịch: tế thần như có thần ở đó); nhưng đồng thời "kính quỉ thần nhi viễn chi" (Luận Ngữ: Ung giả, VI) (dịch: quỉ thần thì kính mà xa ra), vì theo Khổng tử con người làm sao biết được thế giới quỉ thần cao xa, u ẩn, nếu có tưởng tượng ra không khỏi bầy ra những điều huyền hoặc, dẫn đường cho mê tín. Như vậy, Khổng tử tuy rất trọng lễ, coi nghi thức là bày tỏ lòng Thành Kính, nhưng đồng thời cũng coi thực hành đạo Nhân là sống Thành Kính hợp với Thiên mệnh là rất quan trọng. "Quân tử thể nhân túc dĩ trưởng nhân, gia hội túc dĩ hợp lễ, lợi vật túc dĩ hòa nghĩa, trinh cố túc dĩ sự" (Kinh Dịch:Văn Ngôn truyện) (dịch: quân tử lấy cái nhân làm thể là đủ làm trưởng thành cho người, hợp các cái tốt đẹp là đủ làm cho hợp lễ, lợi cho vạn vật là đủ làm hòa cái nghĩa, biết cái trinh-chính mà cố giữ là đủ lam gốc cho mọi sự). Vậy đạo Nhân là gì? "là Cung, khoan, tín, mẫn, huệ". Khổng tử giải thích thêm: "Cung thì không khinh nhờn, khoan thì được lòng người, tín thì người ta tin cậy được, mẫn thì có công, huệ thì đủ khiến được người" (Luận Ngữ: Dương Hóa, XVII). truy ngồn năm cái kết quả diễn đạt đạo Nhân này, chúng ta sẽ tìm ra cái Nhân Tâm Thành Kính. Tam đạo là quan trọng như thế, nên sau này, mặc dù Mạnh tử và Tuân tử mỗi người phát huy Khổng học theo đường hướng riêng, một người coi trọng "Nhân" là bảo tồn tính bản thiện của con người, một người trọng "Lễ" để chế ngự tính bản ác của người, nhưng tất cả hai đều công nhận sự trọng yếu của tâm đạo: bảo tồn lương tâm (Mạnh Tử), tu dưỡng tâm tri (Tuân tử). Ði xa hơn nữa, Mặc tử phê bình chỉ trích Nho đạo cũng vì trong thực tế tâm đạo đã bị nghi lễ tha hóa làm mất tính cách phổ biến của tâm đạo vậy.
Ðạo hiếu là một đặc tính của đạo tâm, làm cho con người tỏ lòng Thành Kính đối với cha mẹ, tiền nhân, nên chỉ nuôi dưỡng cha mẹ mà không có lòng hiếu thảo thì làm sao gọi là hiếu được! Lòng hiếu thảo này phụng sự cha mẹ lúc các ngài còn sống, tang lễ nếu các ngài quá cố: "sống thì lấy lễ mà thờ, chết thì lấy lễ mà táng, lấy lễ mà tế" (Luận Ngữ: Vi chính II). Hiếu đễ đối với cha mẹ tức là kính những người cha mẹ đã tôn trọng, yêu những người cha mẹ đã yêu mến, lễ tế những bậc cha mẹ đã lễ tế. Ðó là nguồn gốc của tôn kính tổ tiên vậy. Bởi đó Tăng tử nói: "Thận chung, truy viễn, đức qui hậu hĩ" (Luận Ngữ: Học Nhi, I) (dịch: cẩn thận lúc cha mẹ chết, nhớ đến tổ tiên xa, thì cái đức của dân trở nên hậu).
Tư tưởng đạo hiếu đã thấm nhuần vào lòng người Việt trở thành một phần quan trọng của Việt tính. Kính bái tổ tiên là chân nhận giới vô hình và hữu hình luôn luôn có sự liên lạc mật thiết với nhau. Ðó là cách diễn tả sự hiệp thông giữa ông bà cha mẹ và con cháu, giữa người sống và cả chết, là dịp đoàn tụ của đại gia đình. Quan niệm vong hồn gia tiên luôn gần gũi với con cháu được diễn tả bằng nhiều cách khác nhau. Ðại đa số quần chúng Việt Nam được coi là theo "đạo Ông Bà" thường có phong tục làm lễ cáo gia tiên, trong mọi tuần tiết, hoặc ngày kị giỗ, hoặc khi có việc hiếu hỉ, tang chay. Toan Ánh diễn giải thêm: Những biến cố quan trọng trong gia đình, lẽ tất nhiên gia trưởng đều có lễ cáo gia tiên, như: sinh con cái, con cái đầu cữ, đầy tháng, đầy năm, con cái bắt đầu đi học, sửa soạn đi thi, thi đỗ, dựng vợ gả chồng cho con... hay nhiều khi chỉ sửa sang lại nhà cửa, nhất là những di sản của tiền nhân để lại. Vui đã thế, buồn cũng khấn trình tổ tiên để các ngài biết và phù hộ, như việc làm ăn thua lỗ, có người đi xa, có người mệnh một... Ngoài những biến cố trong gia đình ra, gia trưởng cũng kính cáo những việc quan trọng khác xẩy ra trong làng nước, như làng có cướp tới, đất nước sinh loạn lạc hay những tin vui trong thôn xã,... Tất cả những kính cáo, trình khấn trên mục đích để tổ tiên hiệp thông hay phù trợ trong những khi vui cũng như lúc buồn. Tùy từng trường hợp, tùy từng gia cảnh mà sửa soạn lễ. Nhiều khi gia chủ chỉ cần sửa soạn cái lễ nhỏ, như chén trà, đĩa xôi, nải chuối. Cũng có khi lễ lạc linh đình. Toan Ánh kết luận: "Con cháu nhớ đến tổ tiên thì cúng, năng cúng bái càng tỏ rõ lòng hiếu thảo của mình đối với các cụ. Sống khôn chết thiêng, các cụ thấy con cháu hiếu kính, ất vong hồn cũng vui mừng".
Nói tới cúng vái tổ tiên tức là phải nói tới bàn thờ gia tiên. Bàn thờ này mặc dù trang trí có khác nhau, nhưng đại để đều có bài vị, bình hương, nến sáp... Nếu là bàn thờ họ thường đặt trong miếu đường, chính giữa có bàn thờ riêng thờ ông "Thủy Tổ" của dòng họ. Còn các bàn thờ biệt tông, biệt phái khác trong mỗi ngày giỗ kỵ của tông, phái mình mới được bày ra. Trên bàn thờ Thủy Tổ luôn có cuốn gia phả ghi rõ danh tánh các chi nhánh dòng họ. Nhiều khi gia phả này được ghi khắc trên tường sau bàn thờ Thủy Tổ.
Quần chúng tuy một đàng muốn bày tỏ lòng hiếu kính mình đối với tổ tiên, nhưng họ không thể phân biệt rõ ràng như những nho sĩ "vụ dân chi nghĩa, kính quỉ thần nhi viễn chi", nên thực hành đạo hiếu và thờ quỉ thần đã trở thành lẫn lộn. Vì muốn bảo vệ phần mộ ông cha, nên nhớ tới Thần Thổ Công, Thần Hà Bá. Ngoài ra còn có những thần tại gia khác như: Thần Tài, Thần Tiên Sư (hay Thánh Sư, Nghệ Sư, tức là ông tổ mỗi nghề), Ðức Quan Thánh... để bảo vệ che chở mình hay giúp phát tài,... Chính vì thế mà khi các nhà truyền giáo Tây Phương tới Việt Nam hay Trung Hoa gặp phải những khó khăn làm sao thấu hiểu tinh thần, nhất là về tinh thần "lễ nghi" tôn kính ông bà tổ tiên.
2. Tôn Kính Tổ Tiên Liên Hệ Tới Việc Truyền Giáo:
Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam cũng như ở Trung Hoa bắt đầu bằng những bước dò dẫm, va chạm những khó khăn về phiên dịch, vì hai loại ngôn ngữ biểu tả hai văn hóa quá khác nhau, nên không biết phải làm sao mới có thể đạt tới việc "bản vị hóa" chân chính được. Thoạt đầu những nhà truyền giáo tiên khởi dùng ngôn ngữ địa phương để phiên âm những từ căn bản của Kitô giáo, như thánh Phanxicô Xavier đã Nhật âm hóa tiếng Latinh: Deus Pater, Deus Filius, Deus Spiritus Sanctus là: Deusu Patere, Deusu Hiiruo va Deusu Spiritusu Santa (có khoảng 50 ngữ vựng căn bản như thế). Nhưng cách phiên âm này đã gặp những khó khăn lớn, vì hoặc là âm đó có một nghĩa khác trong ngôn ngữ là "Deusu" làm trò cười cho nhiều Phật đồ Nhật, vì họ liên tưởng tới một âm tương tự là "daiuso", có nghĩa là "Nói dối đại tài". Thấy cách phiên âm này không ổn, nên các nhà truyền giáo kế vị các bậc tiên khởi này như A. Valignano, M. Ricci, A. Schall, A. de Rhodes v.v... đã học hỏi ngôn ngữ và tư tưởng địa phương để Kitô giáo được thích ứng với môi trường mới. Trong lúc phiên dịch và thích ứng này đã xảy ra cuộc tranh chấp về "lễ nghi". Cuộc tranh chấp này mặc dù đầu tiên là bàn về hai phương pháp truyền giáo được hai phe (một bên là dòng Tên, một bên là dòng Ðaminh, dòng Phanxicô và hội Thừa Sai Balê) chủ trương, nhưng dần dần đã vượt qua phạm vi thuần túy truyền giáo và tôn giáo trở thành một tranh chấp bị những ảnh hưởng chính trị, quyền bính chi phối, nên đã trở thành một tấm bi kịch của lịch sử truyền giáo ở Viễn Ðông. Ở đây chúng ta chỉ có thể chú tâm tới những dự kiện chính yếu mà thôi.
Trước tiên chúng ta bàn về vấn đề phiên dịch. Sau khi thảo luận những khả thể dịch chữ, "Deus", các nhà truyền giáo đã đồng ý dùng chữ "Thiên Chúa". Nhưng dùng cách thế nào để giải thích chữ "Thiên Chúa" thì hai phe có những lập trường khác nhau. Một bên cho rằng dùng chữ "Thiên Chúa" để chỉ Deus thì phải hiểu hoàn toàn khác, hoàn toàn độc lập, không thể dùng một từ ngữ nào như "Thiên", "Thượng Ðế" để diễn giải được, vì "Thiên" theo ý họ "chỉ có nghĩa là bầu trời" (ciel materiel et visible), còn quan niệm "Thượng Ðế" là quan niệm dân ngoại thường dùng, nếu ta dùng sẽ rơi vào giới "vô thần" như dân ngoại. Một bên khác cho rằng chữ "Thiên Chúa" mặc dù là chữ ghép mới để chỉ Deus, nhưng có thể dùng những quan niệm sẵn có trong kinh điển Trung Hoa xưa như "Thiên", "Thượng Ðế" để người Trung Hoa có một mấu cứ để thăng hóa, nhờ đó mới dễ dàng hiểu rõ nghĩa thực sự của "Thiên Chúa" được. Thực ra, hai bên dùng hai phương pháp thần học cổ điển vẫn dùng là: phương pháp "phủ nhận" (via negotiva) và phương pháp "sánh loại" (via analogia). Ðứng trên phương pháp học không có chi đáng bàn cãi, nhưng động lực nao khiến họ chọn hai phương pháp này để nói lên thái độ của họ đối với nền văn hóa địa phương. Ðó mới là điều quan trọng. Dù sao đi nữa, sự kiện xẩy ra trong lịch sử là: Giám Mục Charles Maigrot, đặc sứ tông tòa ở Phúc Kiến đã nhân danh Thánh Bộ truyền giáo tuyên bố: từ ngữ "Thiên Chúa" phải được dùng để chỉ chữ "Deus" còn những tiếng khác như "Thiên" và "Thượng Ðế" thì không được dùng.
Ðối với người Công Giáo Việt Nam hiện nay, ta dùng chữ "Thiên Chúa" trong văn chương, nhưng cũna dùng chữ "Ðức Chúa Trời" theo nghĩa bình dân để chữ "Deus". Trong khi đó những người không Công Giáo thường dùng "Ông Trời" (Trung Hoa dùng chữ Lão Thiên) để chỉ Ðấng Tối Cao. Thực ra, quan niệm "Trời" không phải chỉ là "bầu trời", nhưng cũng là "Hóa Công", đấng sinh thành vũ trụ, vì vậy tại sao chúng ta không thể dùng những quan niệm đã có sẵn trong kinh điển Trung Hoa, đã được nhiều người biết tới để giải thích một quan niệm chí ư "trừu tượng", đối với họ hoàn toàn mới lạ như Deus. Phải chăng phản đối dùng những quan niệm như "Thượng Thiên", "Hiển Thiên", "Hoàng Thiên", "Thượng Ðế" để giải thích chữ "Thiên Chúa", vì các nhà truyền giáo sợ người Trung Hoa, Việt Nam không hiểu xác thực được nghĩa Deus của Kitô giáo, hay là các nhà truyền giáo đó đã không hiểu rõ được những quan niệm trên trong tư tưởng Trung Hoa? Trần Văn Hiến Minh còn đi xa hơn nữa, khi ông quả quyết: "Quan niệm một Tiên Chúa có ngôi vị, Thượng Ðế là một trực giác đầu tiên của người Trung Hoa từ xa xôi bao ngàn năm trước. Tất cả cuộc sống Trung Hoa cổ kính đều qui hướng vào đó". Ðề mục họ Trần nêu ra có thể là một đề tài thảo luận hào hứng, nhưng vượt qua phạm vi của bài nói chuyện này. Dù "Thượng Ðế" theo người Trung Hoa hiểu có "ngôi vị" hay không, cũng không thể là lý do chính đáng không dùng những quan niệm đó để "giải thích" tiếng "Thiên Chúa" được.
Như vậy ta thấy được tranh luận về mấy danh từ trên không phải chỉ là một cuộc thảo luận lý thuyết thần học hay ngôn ngữ, văn chương, nhưng là tỏ rõ đường hướng của hai phe đối với vấn đề truyền giáo: giáo hội có thể dùng di sản văn hóa của địa phương để diễn đạt giáo lý, nghi lễ của mình hay không? Mà được phép dùng tới mức nào? Tại sao có thể dùng hay bị cấm dùng như vậy?
Bây giờ chúng ta trực tiếp đề cập tới cuộc tranh luận "lễ nghi". Vấn đề chính của cuộc tranh chấp này là câu hỏi: lễ nghi đối với tổ tiên là "tôn thờ" tổ tiên vì nghi thức này có tính cách tôn giáo. Tôn thờ tổ tiên là những người theo "đạo Ông Bà". Nói cách khác, nghi lễ tôn thờ này được cử hành trong những nơi nhất định (chủ đường hay tông đường hoặc tại gia, trước bàn thờ tổ), có những qui định riêng (thành văn hoặc bất thành văn) và đối tượng của đạo này là "tôn thờ Bài Vị" của những người quá cố, Bài Vị này là chỗ của các Hồn người quá cố "cư ngụ". Khi hành lễ gia trưởng chắp vái hay quì lạy, dâng hương, báo cáo, cầu xin trước bàn thờ vong linh có đốt nến và bày những lễ cúng như hoa quả, bánh rượu... lễ nghi này cũng giống như lễ nghi trước phần mộ khi mai táng hay trong các dịp kỵ lễ. Sau khi đã mô tả những chi tiết trên, cộng thêm sự ghi chú những tính cách tôn giáo của đạo ông bà, các vị thừa sai này đã đặt những câu hỏi xin thánh bộ giải quyết, như: xin hỏi người Kitô hữu có được phép cử hành những nghi lễ và dâng cúng trước bài vị theo như tập tục ở chủ đường hoặc nơi phần mộ hay trước linh cửu? Và nếu họ được phép làm như vậy thì họ có thể tham dự với dân ngoại hay hành lễ một mình? Hay câu hỏi: Người Kitô hữu có được dựng bài vị tổ tiên ở trong nhà mình với chữ khắc "Thần Chủ" không? Dĩ nhiên những câu hỏi này đã được sửa soạn bằng những "mô tả" hàm xúc một câu trả lời phủ nhận. Có người còn đi xa hơn nữa, coi việc "Tôn thờ tổ tiên" ở Trung Hoa giống hệt như việc thờ phượng các thầ Manes xưa ở Hy lạp hay La Mã: "Theo lịch xưa của người La Mã khi thời thờ ẩu thần còn hiển trị, có nhắc tới một dịp lễ gọi là "Feralia", bắt đầu từ 20 tháng 2 kéo dài tới cuối tháng 2. Lễ này là dịp tôn thờ các Thần Manes. Dân ngoại đem thịt đặt trên mộ các người quá cố để họ hưởng, như tiến sĩ Varron đã giải thích. Ðó cũng là những việc mà những người Trung Hoa hành lễ ở các chùa chiền, trên phần mộ hay trong tư thất trước bài vị tổ tiên". Sự so sánh này đặt người hữu trách trước một sự lựa chọn không thể chối được: Nếu xưa giáo hội đã hủy bỏ phong tục thờ tà thần Manes, tại sao ngày nay lại có thể cho phép làm như thế ở trung Hoa. Lý chứng này càng ảnh hưởng tới người hữu trách khi người đó không hiểu thấu hiện trạng phức tạp ở miên Viễn Ðông.
Trong khi đó, phe khác coi nghi lễ đối với ông bà tổ tiên là sự "tôn kính" bày tỏ lòng hiếu đễ của con cái đối với bậc tiền nhân, dù khi còn sống hay đã quá cố. Trước tiên họ nhận định những nghi lễ trong các chùa chiền hay trước những thần tượng bày rải rắc khắp nơi là có tính cách tôn giáo và nhuốm nhiều màu sắc mê tín, dị đoan. Họ cũng công nhận thái độ mê tín này có thể ảnh hưởng tới việc tôn kính tổ tiên, nếu không được giải thích minh bạch giữa nơi tôn thờ và tôn kính: Ngược với "chùa miếu" là nơi tôn thờ các thần thánh, "đường" nơi có tính cách "trung tính" (có thể dùng liên quan tới tôn giáo hay không). Do đó, "chủ đường" hay "tông đường" (hay nói nôm na là "chỗ dành cho tổ tiên") là "nơi" kính nhớ ông bà tổ tiên để tỏ lòng biết ơn với những người quá cố, cũng như phong tục tập quán địa phương có những "nơi" riêng trọng kính các vị tiền bối lúc sinh thời. Còn Bài Vị thực ra không phải là "bàn thờ" thực, nhưng thường là một thanh gỗ được sửa soạn tươm tất ở trên đó có ghi danh tánh ông bà tổ tiên được bày trên án hương. Tuy Bài Vị "là biểu tượng" cho vong linh người quá cố, nhưng không phải là chỗ "cư ngụ" của hồn linh đó. Các vị này giải thích: trong quá khứ người Trung Hoa có thói quen tìm một người "thay thế" cho một người thân quá cố. Phong tục này được chuyển hóa bằng việc dùng bài vị như là biểu tượng của người quá cố ở giữa con cái. "Bài vị được dựng nên không phải để đánh dấu sự hiện hữu của một linh hồn mà người ta tin rằng linh hồn đó cư ngụ ở bài vị, nhưng đúng hơn là để thức tỉnh một thái độ luân lý và sự biểu tượng này có thể coi như sự hiện diện của một thân xác". Trong khi đó, việc "hóa" vàng giấy, đốt những đồ vật làm bằng giấy cho tổ tiên dùng là những điều mê tín, dị đoan cần cấm bỏ. Ngược lại, những cử chỉ bái lạy hay quỳ gối là những cung cách người Trung Hoa thường dùng để tỏ lòng tôn kính đối với bậc trên, dù những người này còn sống hay đã qua đời. Ðiều đáng chú ý là, chính vua Khang Hy ngày 30.11.1700 đã tự tay chứng thực bản văn do các cha dòng tên thảo nói những lễ nghi tôn kính Khổng Tử, tổ tiên là những hình thức bày tỏ lòng thành kính mà thôi: "Nói là Khổng Tử được thờ phượng để xin sự khôn ngoan hay để xin được thăng chức hay thêm bổng lộc là không đúng... Dựng bài vị tiền nhân quá cố không có nghĩa là linh hồn tổ tiên được nghĩ là thực sự ngự trị trong miếng gỗ này... Mục đích thực sự của nghi lễ tôn kính tổ tiên là con cháu trong một dòng tộc không được phép quên, nhưng luôn luôn tưởng nhớ tới tổ tiên cho đến muôn đời". Nhưng lời chứng thực của vị hoàng đế trung Hoa, người có thẩm quyền nói lên ý nghĩa thực sự của phong tục tập quán, đã không được tòa thánh thời đó lưu ý tới.
Trên đây là lược thuật tổng quát lập trường của hai phe phái về vấn đề đối với tổ tiên có liên hệ đến việc truyền giáo. Cuộc tranh chấp "lễ nghi" này đã tạm thời kết thúc khi Ðức Giáo Hoàng Clement XI ngày 20.11.1704 đã quyết định:
- Cấm dùng chữ "Thiên" hay "Thượng Ðế" để giải nghĩa "Thiên Chúa". Theo đó không được dùng "mensa seu altare" (bàn thờ) để "kính Thiên" trong nhà thờ.
- Người Kitô hữu không được phép tổ chức hay tham gia những lễ nghi theo như phong tục đối với Khổng Tử hay những người quá cố. Do đó cũng không được phép lập "chủ đường", miếu đường", cũng không được phép dâng lễ vật trong miếu đường hay gia thất vì những nghi thức này liên hệ tới mê tín ("tamquam superstitione inseparabilia"). Tông huấn (Ex illa die) đã được quyết định, đã được đặc sứ tòa thánh, Hồng Y De Tournon mang sang Trung Hoa để ban hành. Sau ba lần De Tournon hội kiến với Hoàng Ðế Khang Hy, Tông huấn đã không được chính thức ban hành cho tới ngày 19.3.1715 mới được Giám Mục đầu tiên của địa phận Bắc Kinh Charles Castorano ban hành. (Trong khi đó De Tournon đã mất ngày 8.6.1710 ở Macao). Tông huấn "Ex illa die" được chính thức ban hành gây ra nhiêu phản ứng khác nhau, nhưng khi phải quyết định phát thệ "chống lễ nghi" theo chỉ thị của tòa thánh, các nhà truyền giáo đã anh dũng bỏ lập trường riêng để chấp nhận tông huấn "Ex illa die". Về phần Khang Hy, ông thấy Công Giáo chống đối lễ nghi và tập tục Trung Hoa đối với Khổng Tử và tổ tiên, đã đổi thái độ từ thân thiện sang nghịch thù. Nhưng cuộc tranh chấp chưa kết thúc, vì chính Ðức Clement XI lại sai một đặc sứ khác là Charles Ambrose Mezzabarba, tân giáo phụ của Alexandria tới Bắc Kinh ngày 26.12.1720. Sau khi đã hội kiến, lắng nghe các nhà truyền giáo báo cáo và đã được tiếp kiến Hoàng Ðế, C. A. Mezzabarba đã trở về Maccao và thảo một bức thư mục vụ ca ngợi tinh thần phục tùng và thống nhất của các nhà truyền giáo, đồng thời đã liệt kê "Tám điều được phép" để dễ dàng thực hành mục vụ. "8 điều được phép này" đã được ban hành ngày 4.11.1721, nới rộng những điều cấm ngặt của tông huấn "Ex illa die". Tỉ dụ: được lập "bài vị" trên đó chỉ được phép ghi tên người quá cố. Tất cả các lễ nghi trung Hoa đối với tổ tiên nếu không pha trộn mê tín mà chỉ có tính cách "dân sự" (Civil) thì đều được phép tổ chức hay tham dự. Hay là: được phép dùng nến, hương, hoa quả, để tỏ lòng tôn kính và biết ơn đối với người quá cố... "8 điều được phép này" đã làm sống lại cuộc tranh chấp "lễ nghi" một lần nữa, nhất là sau khi đặc sứ C.A. Mezzabarba đã trở về Âu Châu. Một đàng khác, Dũng Thành kế vị Khang Hy được một năm thì ra chỉ thị trục xuất những nhà truyền giáo trừ những người được mời ở lại. Tình trạng hỗn độn này cuối cùng đã được chấm dứt với Tông huấn "Ex Quo Singulari" do Ðức Benedictus XIV ban hành ngày 11.1.1742. Tông huấn này là tông huấn cuối cùng cấm ngặt "lễ nghi" đối với tổ tiên và rút lại tất cả những điều cho phép trước kia. Ðức Benedictus XIV đã minh định: "không phải xấu vì bị cấm, nhưng bị cấm vì xấu".
3. Bàn Về Việc Tranh Chấp "Lễ Nghi"
Trong quá trình tranh chấp như chúng ta thấy ở trên khó mà phân định được "bị cấm vì xấu" hay "xâu vì bị cấm". Ngay cả khi đã bị cấm nhưng trên thực tế chỉ là tránh né vấn đề hơn là giải quyết vấn đề. Bằng chứng là sau gần 200 năm bị cấm ngặt, ngày 8.12.1939 thánh bộ truyền giáo đã hủy bỏ việc bắt các nhà truyền giáo phải tuyên thệ chối bỏ "lễ nghi" mà tông huấn năm 1742 đã đòi buộc và đồng thời tuyên bố các Kitô hữu và các nhà truyền giáo ở trung Hoa, Việt Nam... đối với việc tôn kính Khổng Tử và tổ tiên cần có một cái nhìn "mới". Cái nhìn mới này sau công đồng Vaticanô II đã trở thành một khía cạnh quan trọng để thành lập một nền thần học bản vị hóa. Như vậy Bản vị hóa không những chỉ được phép mà phải được khuyến khích. Ðứng trên một thái độ mới này nhìn lại lịch sử tranh chấp chúng ta dễ có cái nhìn khách quan hơn.
Trước tiên chúng ta nhận định "mạch sống" của hai phe. Một bên đứng trên quan điểm của người trí thức, của tân nho gia đời Minh, để tìm hiểu ý nghĩa của các nghi lễ. Nếu lễ nghi đối với hổng Tử, tổ tiên thuộc về tôn kính hơn là tôn thờ thì hiển nhiên thuộc về phạm vi luân lý hơn là tôn giáo. Quả thực các nhà trí thức Trung Hoa đã hiểu như thế, vì vậy lập trường của các nhà truyền giáo này đã được Hoàng Ðế Khang Hy chứng thực. Chúng ta thấy hiện nay những "lễ nghi" tưởng niệm Khổng Tử hay các vị tiên đế đã mang một ý nghĩa hoàn toàn "dân sự". Các nhà trí thức Việt Nam như Trần Văn Chương, Hồ Ðắc Diễm, Nguyễn Văn Huyên, Trần Trọng Kim v.v... cũng cho những nghi lễ tôn kính ông bà là bày tỏ lòng con cái hiếu thảo đối với tổ tiên, là hành động muốn luôn tưởng nhớ tới tổ tiên mà thôi. Vì thế cúng bái ông bà tổ tiên theo như tập tục không phải là hành động của "niềm tin", nghĩa là qua đó cắt nghĩa một sự mầu nhiệm liên quan tới sự sống và sự chết, cũng không phải là hành động "phi lý" nhưng là những củ chỉ "tự nhiên" (theo phong tục tập quán của một nền văn hóa) do tấm lòng hiếu thảo thôi thúc. Cũng vì thế những việc dâng hương cúng quả, tiến rượu bày cỗ trước Bài vị không mang một ý nghĩa phụng dưỡng vật chất nào cả. Quan trọng nhất là vì nhớ tới ông bà tổ tiên nên con cái cháu chắt thấy họ có bổn phận phải sống như một người tốt, một tôi trung, một đệ tử thành tín, một người chồng gương mẫu, một người vợ hiền, một người con thảo... để khỏi làm nhơ danh tiền nhân. Ðây là quan niệm tôn kính tổ tiên trong mạch suấng của trueỳn thống nho học đặt nặng trên bổn phận luân lý.
Trong khi đó các nhà truyền giáo khác đứng trên phương diện của giới bình dân coi việc tôn kính ông bà tổ tiên là một lễ nghi tôn giáo, vì vậy họ nghĩ rằng cho phép cử hành những nghi thức này tức là hỗn hợp các tôn giáo, làm tha hóa, làm tha hóa Kitô giáo và làm hoang mang lòng các tín hữu. Do đó, họ xin tòa thánh qui định rõ ràng để dễ thực hành mục vụ. Ở đây ngôn ngữ là vấn đề then chốt. Nhưng để giải quyết nạn ngôn ngữ thiếu minh bạch mà cấm dùng ngôn ngữ đó thì không phải là giải pháp thỏa đáng, vì nếu không dùng chữ "Thiên" để giải thích "Thiên Chúa" thì khi dùng chữ "Thiên Chúa" người địa phương cũng không thể hiểu khác hơn mạch sống văn hóa của họ được. Cũng vậy, gọi Khổng Tử là "Thần nhân" thì ý nghĩa của chữ "Thần" này không thể hiểu theo một mạch văn hóa khác được (tỉ dụ như thánh nhân theo nghĩa hẹp của Giáo Hội Công Giáo). Cũng thế, những hạn ngữ như "Altare", "Sacrificium", genuflectio, templum... là những từ ngữ tùy theo nền văn hóa Âu Châu hay Trung Hoa, Việt Nam mà mang một ý nghĩa khác nhau. Nếu dùng cái nhìn của nền văn hóa Âu châu phán đoán những hiện trạng của nền văn hóa Á Châu tức là đã tách những dự kiện, hình ảnh tượng trưng ra khỏi mạch sống văn hóa. Nếu hai nền văn hóa đó quá khác nhau và chưa hiểu nhau được, thì làm sao tránh khỏi được những ngộ nhận. Nếu quyền phán quyết dành cho một phía khi chưa thấu triệt vấn đề thì phán đoán đó làm sao tránh khỏi những thiên kiến?
Tóm lại, cuộc tranh chấp "lễ nghi" nói lên những khó khăn mà một thần học bản vị hóa trong một môi trường cụ thể đã gặp phải và dần dần vượt qua. Cuộc tranh chấp trên không những chỉ bộc lộ hai phe đứng trên hai phạm vi khác nhau để nhìn một vấn đề mà cũng đứng trong những giai đoạn tiến tới thần học bản vị hóa khác nhau, nên gặp nhau trong đối thoại. Sự tranh chấp lễ nghi trở thành một thảm kịch trong lịch sử truyền giáo ở Viễn Ðông, vì giải quyết sự tranh chấp đã không nằm trong mạch sống đó, nhưng ở ngoài và ở trên mạch sống văn hóa, nên không thấu đáo được những nhu cầu sống của giáo hội địa phương.
Như vậy, đề cập tới vấn đề "Ông Bà Tổ Tiên" có liên quan tới việc truyền giáo tức là phản tỉnh một nền thần học bản vị hóa. Bản vị hóa không có nghĩa là chỉ hội nhập và chấp nhận những gì có sẵn trong nền văn hóa đó, nhưng đồng thời cũng thăng hóa những giá trị đó. Vậy theo đó ý nghĩa của lễ nghi đối với ông bà tổ tiên là gì? Nếu chỉ coi lễ nghi đối với tổ tiên là cách bày tỏ lòng hiếu đễ, tức là thực thi một bổn phận luân lý, thì chưa chứng minh lý do tại sao con người đòi buộc phải thực hành luân lý như vậy. Nếu ta coi sự đòi buộc đó là một sự tự minh (self-evident) thì hoặc là rơi vào chủ nghĩa độc đoán (dogmatism) hoặc chủ trương thuyết "vô tri thức" (agnosticsm) như khuynh hướng của một số nhà nho tân thời ở Ðài Loan hiện nay. Cả hai khả thể trên chỉ là né tránh vấn đề mà không giúp chúng ta hiểu tại sao con người phải thi hành bổn phận luân lý với tổ tiên. THực ra khi những nhà truyền giáo dòng Tên chủ trương coi lễ nghi tôn kính ông bà thuộc phạm vi luân lý, họ tin rằng một khi đã tìm ra ý nghĩa nguyên ủy và chính yếu của lễ nghi này, họ có thể giáo dục quần chúng gọi bỏ những mê tín mọc rườm rà bên ngoài và cuối cùng có thể biến hóa những bổn phận luân lý đó cho họp với niềm tin Kitô giáo. Như vậy, mặc dù học nhấn mạnh "lễ nghi" này thuộc phạm vi luân lý, nhưng ngầm xác định cn bản của luân lý không thể tách rời khỏi niềm tin tôn giáo được. Mối liên hệ giữa luân lý và tôn giáo này có thể dùng tư tưởng sẵn có trong kinh điển Trung Hoa như niềm tin "Thiên nhân tương dữ" và "vạn vật bản hồ thiên, nhân bản hồ tổ" để giải thích. Theo đó tôn kính ông bà không thể độc lập với việc Kính Thiên, nhưng cũng không thể đặt ngang hàng với việc Kính Thiên, nhưng cũng không thể đặt ngang hàng với việc kính Thiên được, vì con người cũng là thành phần của vạn vật mà nguyên ủy của vạn vật là Thiên. Hiểu như thế, việc tôn kính ông bà tổ tiên không những không phản với đạo Công Giáo mà còn bộc lộ được tính cách đặc biệt đông phương, đạo hiếu của người Việt, đồng thời qua việc đưa hành động tôn kính này hòa hợp với tinh thần Kitô giáo, chúng ta vừa thăng hóa vừa qui tụ những giá trị luân lý và những hình thức bày tỏ trên về cội gốc của muôn loài: chúng ta hiếu thảo cha mẹ vì Chúa là Cha chúng ta đã dậy như thế. Nói cách khác, một khi việc tôn thờ "Trời". "Thượng Ðế"... những danh từ chỉ Thiên Chúa ẩn hình (Deus absconditus) được niềm tin do Ðức Kitô mặc khải soi chiếu, canh cãi và hoàn hảo hóa, thì những hành động có tính cách nhân bản của một nền văn hóa cũng được xác định và thăng hóa theo đúng mức nahn bản của nó.
4. Kết luận
Thảo luận việc tôn kính ông bà tổ tiên liên hệ tới việc truyền giáo là dịp may hiếm có để chúng ta suy tư về một khía cạnh của nền thần học bản vị hóa Việt Nam. Trong bài học lịch sử trên chúng ta nhận ra hậu quả của một cuộc tranh chấp lễ nghi mà đã bị tách rời khỏi mạch sống văn hóa và bị phán quyết do những người chưa thấu đáo ý nghĩa của nó. Tấm bi kịch này là một điển hình của bước khó khăn trong cuộc gặp gỡ của hai nền văn hóa cổ truyền, mạnh mẽ nhưng khác nhau, khi hai nền văn hóa đó thiếu uyển chuyển nên ngăn cản việc thăng hóa tới một hợp đề bao gồm một nền nhân bản phong phú hơn. Sau công đồng Vaticanô II việc tích cực tìm hiểu nền văn hóa địa phương, xác định những giá trị nhân bản chân chính của những tôn giáo khác, những luồng tư tưởng khác trở thành một nhu cầu thường nhật của mỗi giáo hội địa phương. Chúng ta nghiên cứu việc tôn kính ông bà tổ tiên liên hệ với việc truyền giáo ở Việt Nam, ở Trung Hoa, không phải để nuối tiếc một dịp may đã qua, nhưng quan trọng hơn là tìm thấy những ý nghĩa có liên quan tới cuộc sống đạo hiện tại của chúng ta. Nói cách khác sau khi đã nhận định lòng hiếu thảo là một giá trị nhân bản căn bản của nền văn hóa ảnh hưởng nho học, và ý thức được những lễ nghi tôn kính khác với những mê tín dị đoan, chúng ta tự hỏi, chúng ta có thể thực hiện những hình thức, "lễ nghi" nào để biểu tỏ lòng thành kính, hiếu đễ của chúng ta? Nhưng để những nghi thức đó không rơi vào trạng thái "vụ hình thức" "cố chấp" chiếu lệ. điều quan trọng nhất là tấm lòng người Việt thành kính mà chúng ta có thể gọi là "Tâm Việt". Tâm Việt đối với ông bà tổ tiên là một khía cạnh biểu lộ của Tâm Việt. Khía cạnh này không thể tách rời khỏi lòng thành đối với Thượng Ðế được, nếu không Tâm Việt này sẽ thiếu nguồn sống và trở thành độc đoán. Bởi đó Tâm Việt là nguồn sống của "Việt tính". Dĩ nhiên Tâm Việt này còn có thể biểu lộ theo những cách thế khác tùy theo ta nhìn từ Phật Giáo hay Lão Giáo mà trong bài này chúng ta không có dịp để bàn tới. Có Tâm Việt như vậy chúng ta mới có thể bước thêm một bước nữa là đi tìm một hợp đề của Tâm Việt trong môi trường cụ thể mà chúng ta đang sống ở hải ngoại này. Hợp đề này là một mức độ nhân bản cao hơn vì nó được cải hóa và bổ túc do hai nền văn hóa khác nhau. Tiên chuẩn canh cải và hoàn thiện này không gì khác hơn là một nhân bản thuần túy: Hiện Thân của một mẫu mực Thiên Nhân tương dữ, Thiên Nhân hợp nhất, Thiên Chúa Nhập Thể.