Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

Cách đàn ông sợ vợ trong tử vi

Những bộ sao nói về cách sợ vợ, nể vợ của người đàn ông trong lá số tử vi. Những bộ sao nói lên bản lĩnh của người vợ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Cách đàn ông sợ vợ trong tử vi

Cách đàn ông sợ vợ trong tử vi

Những bộ sao nói lên bản lĩnh của người vợ:

Thất Sát hay Hóa Quyền ở cung Thê: Sát là sao nóng tính, uy dũng, oai phong, cương nghị, hiếu thắng, tự ái đối với cả hai phái. Dù đắc địa hay hãm địa, bản chất cương cường không biến thể bao nhiêu nên nữ mệnh có sao này tọa thủ càng có khuynh hướng đóng vai chủ động trong việc liệu công việc trong gia đình và giao tế ngoài xã hội. Hóa Quyền chỉ sự hiếu thắng, háo quyền, thích chỉ huy, hay dựa vào quyền thế kẻ khác, đặc biệt là của chống. Từ đó, hậu quả khả hữu là hay hiếp chồng, lấn lướt người chồng, lợi dụng quyền lực của chồng. Cả hai sao đi chung là hai yếu tố căn bản của một phụ nữ hiên ngang đối với chồng. Sát hay Quyền càng đắc địa, tính tình càng cương ngạnh.

Tướng Quân hay Thiên Tướng ở cung Thê: Thiên Tướng là quyền tinh và dũng tinh nên đàn bà có sao này nóng nảy và bất nhẫn như Thất Sát, mặt khác lại có tính ghen tuông mãnh liệt. Nếu đắc địa, Thiên Tướng còn có ý nghĩa tư chế ít nhiều, thường có xu hướng cao thượng hơn, cụ thể là dùng nghị lực của mình để thuyết phục chồng, áp lực chồng làm việc hay. Nếu hãm địa, tính tình trở nên bộc trực, nóng nảy, liều lĩnh, miễn đạt ý muốn, bất chấp hay dở. Tướng Quân, tuy là phụ tinh, nhưng đồng nghĩa với Thiên Tướng, duy có nóng tính, táo bạo, liều lĩnh nhiều hơn. Ngoài ra, còn có tính kiêu căng, có óc lãnh tụ, có tinh thần sứ quân, háo quyền, nặng tính chất vũ phu và độc lập hơn Thiên Tướng rất nhiều, nết ghen cũng không thiếu. Cả hai sao nếu đồng cung được gọi là "lưỡng tướng". Cung Thê của đàn ông gặp bộ sao này thì rất sợ vợ còn cung Mệnh của phụ nữ có hai sao này thì hay lấn hiếp chồng. Nếu được cát tinh phù trợ thì áp lực của vọ có chiều hướng tốt, có lợi cho chồng, kiểu như vượng phu. Kỳ dư thì thường bất lợi và hay trái đạo phu thê.

Thân cư Thê: có thể là (i) phải nhờ vả nhiều nơi người vợ vì chính hoạt động của vợ có ảnh hưởng sâu rộng và trực tiếp đến hậu vận của chồng; (ii) sợ vợ, nể vợ hoặc do bản tính cố hữu hoặc do nguyên nhân kể trên.

Hóa Quyền ở cung Nô: đây là cách sợ vợ bé hay sợ nhân tình của người chồng đã đa mang. Người đa thê mà gặp sao này ở Nô thường lục đục với gia đình chính thức. Nếu có Thiên Tướng hay Tướng Quân ở Nô nữa thì mức độ chi phối của nhân tình và vợ lẽ rất quyết định. Nếu có thêm các sao thủ đoạn, chua ngoa nữa (như Phục Binh, Thái Tuế, Hóa Kỵ) thì vợ lẽ, nhân tình đó tác oai, tác quái vô cùng. Nếu Hóa Quyền chỉ hội chiếu vào Nô thì ảnh hưởng đó gián tiếp, giai đoạn và cơ hội mà thôi.

Những bộ sao nóilên tư thế trội yếu của người vợ:

Thông thường có những tài tinh ở Thê trội yếu như: Hóa Lộc hay Lộc Tồn ở Thê - Vũ Khúc, Thiên Phủ ở Thê - Hóa Lộc hay Lộc Tồn, Ân Quang, Thiên Quý ở Thê - Tử Vi, Thiên Tướng ở Thê - Long, Phượng, Lộc, Mã ở Thê và nhiều bộ sao giàu có chỉ di sản, tư sản, tạo sản của người vợ.

Nếu các bộ sao giàu ngụ ở Thê thì tất sẽ vắng bóng ở cung Mệnh, Thân, Tài, Quan của nam số. Nếu những cung này xấu thì chồng nghèo hơn vợ và phải "thực lộc chi thê".

Nếu Thái Âm sáng sủa ở Thê thì tư thế của vợ mạnh và nếu sao tọa thủ Mệnh của người chồng lại lép vế thì nam số thường nương thế vợ để tiến thân.

Thân cư Thê có Thái Âm sáng sủa: sợ và nể vợ khá rõ ràng. Thái Âm càng sáng, sự nghiệp vợ càng hiển. Nếu đồng cung với Thiên Cơ ở Thân (Thiên Cơ chỉ sự khó tính, ghen tuông) thì ý nghĩa trên càng được xác nhận. Trong mọi vị trí mà Thái Âm sáng sủa (Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tý) đóng ở Thê thì trai lấy vợ vừa đẹp, vừa giàu, thường nể vợ và phải nhờ vợ mới có danh. Nếu có thêm cả Lộc, Quyền thì tính sợ vợ càng chắc chắn.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cách đàn ông sợ vợ trong tử vi

Sông thần, núi thánh tạo nên đế chế Thành Cát Tư Hãn

Vào thế kỷ 13, trên lục địa Á – Âu từng xuất hiện 1 đoàn kỵ binh mà chỉ nghe tên nó cũng đủ cho người ta phải khiếp sợ.Thủ lĩnh của đội quân ấy là Thành Cát Tư
Sông thần, núi thánh tạo nên đế chế Thành Cát Tư Hãn

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Vào thế kỷ 13, trên lục địa Á – Âu từng xuất hiện 1 đoàn kỵ binh mà chỉ nghe tên nó cũng đủ cho người ta phải khiếp sợ.Thủ lĩnh của đội quân ấy là Thành Cát Tư Hãn, ông vua khai quốc của triều đại nhà Nguyên, đồng thời cũng là người sáng lập ra Đế quốc Mông Cổ rộng lớn trải dài từ châu Á sang châu Âu. Vậy điều gì đã khiến một thủ lĩnh bộ lạc ở vùng thảo nguyên xa xôi trở thành vị hoàng đế của cả một đế chế? 

Song than, nui thanh tao nen de che Thanh Cat Tu Han hinh anh
 
Hồ Bối Gia Nhĩ sinh thành vương khí Thành Cát Tư Hãn sinh ra tại bộ lạc Khất Nhan, một bộ tộc Mông Cổ sinh sống ở phía Tây Bắc của Trung Quốc, nay là khu vực Hồ Bối Gia Nhĩ. Hiện tại hồ Bối Gia Nhĩ thuộc lãnh thổ của Nga, tuy nhiên, thời cổ đại, nó do một số dân tộc ở phía Bắc của Trung Quốc khống chế.   Tới khi tộc Mông Cổ phát triển mạnh mẽ, hồ Bối Gia Nhĩ trở thành Long Hưng thủy thành của người Mông Cổ.   Sở dĩ gọi là thủy thành bởi vì nó là thành trì được xây dựng trên hình thế của các nguồn nước như sông, hồ hoặc biển. Tác dụng chính của thủy thành chính là tạo nên ranh giới của nước.   Quan niệm phong thủy cho rằng, nếu như nước có ranh giới thì long khí sẽ không bị phân tán, ngược lại, sẽ là nơi sinh khí tích tụ, tất sẽ trở thành một nơi đất lành về phong thủy.   Nếu như là nước biển thì lấy chỗ nước triều dâng cao nhất chính là nơi đại cát (tốt nhất). Còn nếu như là nước sông thì lấy việc uốn khúc quanh co của dòng chảy là nơi đại cát.   Nếu như là nước suối thì lấy chỗ dòng chảy khoan thai, chậm rãi làm nơi đại cát.   Nếu là hồ thì lấy nơi mặt nước tĩnh lặng, mặt hồ giống như một tấm gương lớn là nơi đại cát. Tất nhiên ở đây chỉ mới nói tới cái thế của nước, ngoài ra nó còn phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố con người.   Các hồ nước ở hồ Bối Gia Nhĩ rất rộng lớn, vì vậy, xét về thế của nguồn nước thì có thể khẳng định nơi đây là 1 mảnh đất cực tốt về mặt phong thủy mà khó nơi nào có thể tìm thấy được.   Hơn nữa, những hồ nước ở hồ Bối Gia Nhĩ cũng là những hồ nước sâu nhất từng được phát hiện từ trước tới nay, sâu tới mức không thể nhìn thấy đáy.   Chính “thủy thành” này đã đem lại sự may mắn đặc biệt cho tộc người Mông Cổ. Ngoài ra, hồ Bối Gia Nhĩ không chỉ là 1 tòa “thủy thành” rộng lớn mà còn tĩnh lặng như đại dương rộng lớn của tự nhiên.   Bối Gia Nhĩ, trong tiếng của người Mông Cổ có nghĩa là “đại dương của tự nhiên”.   Các nhà phong thủy cho rằng, sự hưng- suy, phúc- họa của con người đều có liên quan tới vị trí địa lý. Hồ Bối Gia Nhĩ với địa thế của nó đã tạo nên một vùng đất có phong thủy cực tốt, tất yếu sẽ sản sinh “chân long thiên tử”.   Sự bảo hộ của núi Thánh Hồ Bối Gia Nhĩ đã nuôi dưỡng khí vương giả của gia tộc Thiết Mộc Chân, tuy nhiên, nó không thể bảo vệ gia tộc Thiết Mộc Chân đến vạn đời. Khi thời đại của Hải Đô đã trở thành quá khứ, gia tộc của Thiết Mộc Chân buộc phải tìm tới một nơi định cư khác, và họ đã tới núi Bất Nhi Hãn.   Khi linh khí của Bối Gia Nhĩ hợp nhất với sự hùng tráng của núi Bất Nhi Hãn thì cũng là thời điểm “chân long” xuất thế đã gần kề. Nếu như Bối Gia Nhĩ giúp gia tộc Thiết Mộc Chân hình thành vương khí thì chính núi Bất Nhi Hãn đảm trách việc bảo hộ vương khí này.   Đã rất nhiều lần Bất Nhĩ Hãn cứu gia tộc Thiết Mộc Chân thoát khỏi hiểm nguy, chờ tới ngày “chân mệnh thiên tử” chào đời.   Theo sách “Mật sử Mông Cổ” ghi chép thì khi tổ tiên của Thiết Mộc Chân di cư tới khu vực núi Bất Nhi Hãn thì phát hiện ra rằng, ngọn núi này cao hơn bất cứ ngọn núi nào khác trong vùng.   Họ cho rằng đây là ngọn núi cao nhất thế giới, không có ngọn núi nào cao hơn do vậy mới gọi nó là Hãn Sơn (hãn nghĩa là ít có, hiếm có).   Bất Nhi Hãn Sơn tức là ngọn núi Đại Khẳng Đắc ở Mông Cổ ngày nay. Khu vực Đại Khẳng Đắc là nơi sinh thành của rất nhiều con sông ở Trung Á.   Ngoại trừ sông Onon, sông Kherlen và sông Tuul đều bắt nguồn từ khu vực này. Chính vì vậy, nơi đây còn có tên gọi là “nơi đầu nguồn của 3 con sông”.
 
Đây là khu vực cây cối xanh tươi, đất đai màu mỡ, tạo nên những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của Mông Cổ.
 
Thời cổ đại, bất Nhi Hãn Sơn được gọi là Lang Cư Tư Sơn, là nơi cư ngụ chính của Lang Tộc. Địa thế của ngọn núi này rất hùng tráng, khí thế bất phàm, lưng dựa vào nhiều dãy núi, phía trước lại rộng rãi, có sông chảy qua, Bạch Hổ, Thanh Long bao quanh huyện chính ở 2 bên phải trái.   Theo miêu tả của sách Sơn Kinh về hướng của long mạch thì đây chính là nơi giao nhau của phần đuôi Đoái Long ở phía Bắc Hoa Hạ và Chấn Long ở phía Đông Hoa Hạ. Vì thế, đây là nơi hội tụ được đặc tính của cả 2 long mạch này.   Nếu như một ngày nào đó “chân long” xuất hiện, thì chắc chắn người đó sẽ làm nên sự nghiệp “kinh thiên động địa”. Bất Nhi Hãn Sơn là nơi chôn cất của cha ruột Thành Cát Tư Hãn. Theo quan niệm phong thủy truyền thống, tổ tiên được chôn đúng long huyệt thì đời sau nhất định sẽ xuất hiện thiên tử.
 
Vì thế, việc Thành Cát Tư Hãn trở thành ông vua khai quốc triều Nguyên, hoàng đế của Đế chế Mông Cổ chắc chắn có liên quan tới việc chôn cất cha mình.   Sách “Sơn Kinh” còn nói rằng, mỗi 1 dãy núi ở đây đều là nơi người ta phải tranh chấp. Mỗi dãy núi dường như kéo dài bất tận, kéo dài tới tận vùng sa mạc ở phía Bắc, khí thế rất mạnh mẽ.   Quả thực, trong suốt cuộc đời của Thành Cát Tư Hãn, ông đã tham gia rất nhiều cuộc chiến và không ít lần được chính ngọn núi này bảo vệ, thoát khỏi những cơn nguy hiểm.
 
Đó có lẽ là lý do mà cho đến tận cuối đời, Thành Cát Tư Hãn vẫn rất thích ngọn núi này. Mỗi khi có sự việc lớn, Thành Cát Tư Hãn đều vào núi này làm lễ để nhờ núi Thánh chỉ cho mình cách giải quyết vấn đề tốt nhất.
 
 ST  
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sông thần, núi thánh tạo nên đế chế Thành Cát Tư Hãn

Giấc mơ người mang bệnh “ỷ lại tinh thần” –

Jung là một học giả, đồng thời cũng là một thầy thuốc. Khi quan điểm phiếm tính luận của Freud bị phê phán gay gắt, Jung đưa ra phương pháp phóng đại - một loại phương pháp giải thích các giấc mơ mới. Phương pháp phóng đại nguyên hình giấc mơ của Jun

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Jung là một học giả, đồng thời cũng là một thầy thuốc. Khi quan điểm phiếm tính luận của Freud bị phê phán gay gắt, Jung đưa ra phương pháp phóng đại – một loại phương pháp giải thích các giấc mơ mới. Phương pháp phóng đại nguyên hình giấc mơ của Jung là một loại phương pháp tổng hợp có trình độ cao.

Giấc mơ người mang bệnh

Jung có một người bệnh, ông ta ghi lại tất cả hơn 400 giấc mơ có liên hệ với nhau.

Người nằm mơ là một người theo đạo Ki-tô, không phải là giáo sĩ. Do những giấc mơ, ông không hứng thú mấy với tôn giáo. Người này kể: “Tôi mơ thấy có nhiều phòng, bên ngoài như sân khấu kịch, lại giống như bối cảnh của vũ đài. Có người nói lần sau sẽ biểu diễn hí kịch. Có một gian phòng, trên tường treo một tấm biểu ngữ khiến người ta phải chú ý. Tấm biểu ngữ viết:

Đây là giáo đường Ki-tô thế giới,

Là giáo điíờng của Thượng đế

Tất cả những ai tự giác bản thân,

Những người là công cụ của Thiủỵng đế đều có thể tiến đến.

Bên dưới có khắc dòng chữ nhỏ:

Giáo đường này do Ki-tô và Phao-lô xây dựng.

Tôi nói với bạn tôi:

–      Chúng ta hãy đến xem.

Bạn tôi trả lời:

–     Tôi xem không ra, tại sao lại có nhiều người tụ tập ở đây? Để có cảm tình với tôn giáo chăng?

Nhưng tôi nói:

–     Đây là một giáo đồ mới. Anh không có cách nào để hiểu được điều này.

Một người đàn bà đứng bên cạnh gật đầu tán thành.

Lúc này tôi mới phát hiện trên tường có khắc một đoạn văn, nội dung như sau:

Các binh sĩ!

Khi các anh cảm thấy mình ở dưới quyền uy của Tlnỉợng Đế, không cần trực tiếp nói chuyện với Thượng Đế, bởi vì Thượng Đế không nghe thấy gì cả.

Chúng tôi nghiêm chỉnh yêu cầu anh không cần mê muội

bằn luận về ân huệ giữa Thượng Đế với anh.

Như thế chỉ mất công vô ích.

Bất cứ sự việc gì có giá trị, khó có thể nói suông.

Điều trị bệnh tinh thần bắt nguồn từ quan điểm tự nhiên, tôn giáo và võ thuật cổ đại. Tôn giáo và võ thuật cho rằng bệnh tật là tà linh, là biểu hiện sự đau khổ.

Lý luận chủ yếu của quan điểm tự nhiên là để bác sĩ, thầy thuốc, hộ lý quan tâm đến người bệnh, giúp đỡ người bệnh khôi phục lý trí, tăng cường lòng tin chông lại bệnh tật.

Người ốm thường có tâm lý muốn trốn tránh bệnh tật của mình hoặc không muôn thừa nhận tình hình nghiêm trọng của bệnh tật. Cuối thế kỷ XVIII, một bác sĩ y khoa nổi tiếng cho rằng con người nếu ở trạng thái ngủ say sẽ làm cho nhiều căn bệnh tiêu tan và đã sáng tạo ra cách điều trị bằng thuật thôi miên.

Vào thế kỷ XIX, Freud đã sáng lập học thuyết phân tích tinh thần, được ứng dụng rộng rãi. Từ thập kỷ 50 của thế kỷ XX đến nay đã vận dụng phương pháp điều trị theo dõi hành vi phản xạ có điều kiện và phương pháp điều trị theo yêu cầu giúp đỡ về mặt tâm lý đối với người bệnh.

Theo con sô” thống kê chưa đầy đủ, có đến hơn 300 phương pháp điều trị tâm lý, trong đó có 10 loại được dùng nhiều nhất. Ai cũng có thể nắm vững phương pháp và quy luật để chữa bệnh khiến tâm lý ổn định và lành mạnh. Chúng tôi xin trình bày một số phương pháp chữa bệnh tâm lý sau:


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Giấc mơ người mang bệnh “ỷ lại tinh thần” –

Tiền tài cứ mãi "bốc hơi" nếu bạn cứ bỏ vật này vào ví tiền

Muốn tiền vô như nước, hãy tiễn những vật sau ra khỏi chiếc ví của bạn.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Ví tiền là một kho báu nho nhỏ của mỗi người, cũng như nhiều đồ vật khác, ví tiền nếu dùng đúng cách sẽ mang lại nhiều tài lộc hơn cho gia chủ, và một vài típ sau sẽ cải thiện phong thủy để giúp tiền vô bóp bạn nhiều hơn. 
1. Dùng bóp tiền thẳng
Chúng ta thường có thói quen sử dụng bóp gấp để tiết kiệm chỗ và dễ đút vào túi mang theo bên mình. Nhưng việc này lại vô tình khiến tờ tiền bị gấp gãy kém thoải mái, từ đó cản trở việc thu hút tiền tài vào cho gia chủ. Vì thế, hãy đổi sang sử dụng bóp thẳng để mở đường tài vận đến bóp hơn bạn nhé. 
2. Đặt tiền vào tất cả các ngăn
bop-tien
(Ảnh: Internet)
Đặt tiền vào tất cả các ngăn sẽ giúp cho chiếc ví của bạn luôn trong tình trạng đầy đủ, không rỗng ruột. Đừng chỉ đặt tiền vào 1 ngăn duy nhất và bỏ trống các ngăn còn lại, vì khi hết tiền đột ngột bạn chẳng còn ngăn nào của ngân khố để bù đắp đâu. 

3. Tuyệt đối không để hóa đơn trong bóp
Theo quan niệm về phong thủy, giữ một vật tượng trưng cho khoản tài lộc đã mất đi chẳng khác nào kích thêm sự “hao tài”. Chính vì thế đừng bỏ hóa đơn vào bóp nếu muốn chặn đường tài lộc của mình bạn nhé. 
4. Chọn màu ví phù hợp với mệnh
bop-tien-2
(Ảnh: Internet)
Hãy chọn màu ví bổ trợ theo thuyết ngũ hành kim-mộc-thủy-hỏa-thổ phù hợp với vận mệnh của chính mình để tăng thêm may mắn, hút kim tiền. Ngược lại, nếu màu ví khắc với cung mạng thì sẽ đem lại điềm vận không hay. 

Cách chọn màu sắc bóp/ví hợp với mệnh để tiền luôn sinh sôi nảy nở:
Người mệnh Kim (kim loại): mệnh Kim nên sử dụng bóp/ví có tông màu sáng và những sắc ánh kim vì màu trắng là màu sở hữu của bản mệnh. Ngoài ra kết hợp với các tông màu nâu, màu vàng vì đây là những màu sắc sinh vượng (Hoàng Thổ sinh Kim). Những màu này luôn đem lại niềm vui, sự may mắn cho người sử dụng. Và tránh những màu sắc kiêng kỵ như màu hồng, màu đỏ, màu tím (Hồng Hoả khắc Kim). 
Người mệnh Mộc (cây cỏ): nên sử dụng bóp/ví tông màu xanh ngoài ra kết hợp với tông màu đen, màu xanh biển sẫm (nước đen sinh Mộc). Bên cạnh đó, nên tránh dùng những tông màu trắng và sắc ánh kim (Màu trắng bạch kim khắc Mộc). 
Người mệnh Thuỷ (nước): nên sử dụng bóp/ví tông màu đen, màu xanh biển sẫm, ngoài ra kết hợp với các tông màu trắng và những sắc ánh kim (Màu trắng bạch kim sinh Thuỷ). Tránh dùng những màu sắc kiêng kỵ như màu vàng đất, màu nâu (Hoàng thổ khắc Thuỷ). 
Người mệnh Hoả (lửa): nên sử dụng bóp/ví tông màu đỏ, màu hồng, màu tím ngoài ra kết hợp với các màu xanh (Thanh mộc sinh Hoả). Tránh dùng những tông màu đen, màu xanh biển sẫm (nước đen khắc Hoả).
Người mệnh Thổ (đất): nên sử dụng bóp/ví tông màu vàng đất, màu nâu, ngoài ra có thể kết hợp với màu hồng, màu đỏ, màu tím (Hồng hoả sinh Thổ). Màu xanh là màu sắc kiêng kỵ mà bạn nên tránh dùng (Thanh mộc khắc Thổ). 

Một số lưu ý khác để làm giàu cho ví tiền:
- Không nên ôm đồm tất cả mọi thứ để vào ví tiền như điện thoại, móc khóa... bạn nên đầu tư 1 chiếc bóp nhỏ khác để các vật linh tinh này tránh cản tài lộc vào ví
- Giữ vệ sinh ví sạch sẽ, loại bỏ các giấy tờ đã cũ, không cần thiết ra khỏi ví để ví được thông thoáng hơn. 
- Nếu mua ví làm quà tặng thì bạn nên để kèm thêm 1 vài tờ tiền mệnh giá nhỏ với mong muốn người nhận ví có nhiều may mắn, tài lộc với chiếc ví bạn tặng.

(Tổng hợp)

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tiền tài cứ mãi "bốc hơi" nếu bạn cứ bỏ vật này vào ví tiền

Nguyên tắc khác tính ngày xung tuổi –

Tính ngày xung tuổi trên cơ sở thuyết Ngũ Hành với hai quy luật tương sinh và tương khắc giữa can với can và chi với chi. Biết rằng Ngũ Hành gồm Kim - Thủy - Mộc - Hỏa - Thổ. Mỗi Thiên Can và Địa Chi đều thuộc về một Hành nào đó và chúng hoặc tương s

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tính ngày xung tuổi trên cơ sở thuyết Ngũ Hành với hai quy luật tương sinh và tương khắc giữa can với can và chi với chi. Biết rằng Ngũ Hành gồm Kim – Thủy – Mộc – Hỏa – Thổ. Mỗi Thiên Can và Địa Chi đều thuộc về một Hành nào đó và chúng hoặc tương sinh là: Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim… Hoặc theo quy luật tương khắc là: Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thuỷ, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim.

2011771450232

Ngoài quy luật tương sinh, tương khắc chung, các Địa chi còn phân ra sáu cặp Địa chi xung nhau rất mạnh. Đó là:

–     Dần xung Thân và ngược lại – Thìn xung Tuất và ngược lại.

–     Tị xung Hợi và ngược lại – Tý xung Ngọ và ngược lại.

–     Mão xung Dậu và ngược lại – Sửu xung Mùi và ngược lại.



Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nguyên tắc khác tính ngày xung tuổi –

Những con giáp đã yêu không bao giờ buông tay

Người tuổi Tuất cũng là một trong những con giáp đã yêu không bao giờ buông tay, quyết son sắt thủy chung với tình yêu của đời mình.
Những con giáp đã yêu không bao giờ buông tay

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

– Người tuổi Tuất được biết đến như một kiểu mẫu của sự thủy chung, chân thành, tính tình hào phóng nhưng cũng khá truyền thống, không dễ bị cuốn theo những tham vọng vật chất tầm thường của cuộc sống, đã yêu là không bao giờ buông tay.

 
Những con giáp đừng hỏi “Tại sao yêu nhau không đến được với nhau” Con giáp đào hoa nhất tháng 7, sợ gì kiếp FA đeo bám Người tuổi nào dễ bỏ lỡ hạnh phúc của chính mình? Thế giới của những con giáp không thể sống thiếu điện thoại
  1. Quý cô tuổi Sửu   Cô nàng tuổi Sửu sở hữu tính cách nội hàm, sâu sắc, xử lý sự việc điềm tĩnh, cương nhu cân bằng, lại hành sự kiên nhẫn. Dù là trong công việc, tình yêu hay cuộc sống nói chung, họ hiếm khi bỏ cuộc giữa chừng, trừ những trường hợp bất khả kháng.  
Nhung con giap da yeu khong bao gio buong tay hinh anh 2
 
Nhất là trong tình yêu, nàng giáp này đã yêu là không bao giờ buông tay, kể cả khi đối phương có dấu hiệu phai nhạt tình cảm, họ sẽ tìm đủ mọi cách để lấp đầy “chỗ hổng” đó, tình yêu lại được thổi nguồn sinh khí mới.    Khi đã “nhắm” chàng trai nào đó, họ hạ quyết tâm theo đuổi tới cùng, dù khó khăn trùng trùng cũng không hề nao núng. Với họ, từ bỏ người yêu, tình yêu chỉ khi nào con tim không còn chung nhịp đập, nếu còn, vẫn cố vớt vát.    2. Quý cô tuổi Tuất   Người tuổi Tuất được biết đến như một kiểu mẫu của sự thủy chung, chân thành, tính tình hào phóng nhưng cũng khá truyền thống, không dễ bị cuốn theo những tham vọng vật chất tầm thường của cuộc sống.   
Nhung con giap da yeu khong bao gio buong tay hinh anh 2
 
Nhưng nội tâm của con giáp này khá yếu đuối, nhất là khi một mình, bị sự cô đơn lấn chiếm, họ cảm tưởng như cả thế giới bao la này chỉ có riêng họ độc bước, thật thê thảm làm sao.   Vì thế, khi đã gặp được đối tượng tâm đầu ý hợp, dù trải qua muôn ngàn sóng gió, xa xôi cách trở về không gian, thời gian, khoảng cách địa lý, họ vẫn kiên trì theo đuổi tới cùng. Đây cũng là một trong những con giáp đã yêu không bao giờ buông tay, quyết son sắt thủy chung với tình yêu của đời mình.   3. Quý cô tuổi Hợi
 
Nhung con giap da yeu khong bao gio buong tay hinh anh 2
 
Điềm tĩnh, lạc quan và luôn tìm thấy sự an yên trong tâm hồn chính là những đặc điểm thường thấy ở người tuổi Hợi. Trong tình yêu, họ chân thành, cuồng nhiệt tới mức có những khi mù quáng, hy sinh tất thảy vì nửa kia, trong khi bản thân chịu không ít thiệt thòi.   Vậy mà, một câu trách móc, thậm chí ngay cả một tiếng thở dài cũng không hề xuất hiện. Con giáp này cam tâm tình nguyện để yêu và được yêu, được sống trong thế giới lãng mạn, cảm xúc thăng hoa của tình yêu.    Dù cho ngay lần đầu gặp gỡ, đối phương chưa có ấn tượng hay cảm tình với cô nàng tuổi Hợi, nhưng cái tính cách vui tươi, hồn nhiên của họ sớm làm phái mạnh phải rung rinh xao động.   
► Xem thêm: Những câu nói hay về tình yêu ý nghĩa, sâu sắc nhất

Hoàng Lam
Con giáp bất chấp thủ đoạn để đạt được mục đích
Để chinh phục được mục tiêu đề ra, người tuổi Thìn phấn đấu không mệt mỏi, bất chấp cả sức khỏe cũng như mọi cái giá phải trả. Với họ, cuộc sống là không ngừng

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những con giáp đã yêu không bao giờ buông tay

Kinh Phòng với Kinh Thị Dịch truyện

Đặc trưng của Dịch học Kinh Phòng là chiêm nghiệm, Kinh thị Dịch học mở đầu cho phái tượng số, là gốc của tượng số, gốc của thuật số. Tác giả: Hà Uyên
Kinh Phòng với Kinh Thị Dịch truyện

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bốn cống hiến lớn của Kinh Phòng là: Bát cung quái thuyết; Nạp Giáp thuyết; Quái khí thuyết; Âm dương ngũ hành thuyết. Do làm rõ được về tai dị nên được nhà Vua ban thưởng. Với đặc điểm học thuật chiêm nghiệm khí số cho xã hội thông qua tai dị trong thiên nhiên trên nền tảng “thiên nhân cảm ứng”.

Bát cung quái thuyết lấy cơ sở về thứ tự các quẻ Càn-Chấn-Khảm-Cấn-Khôn-Tốn-Ly-Đoài của “Thuyết quái”. Trong đó 4 quẻ Càn-Chấn-Khảm-Cấn là 4 cung Dương, còn 4 quẻ Khôn-Tốn-Ly-Đoài là 4 cung Âm.

Căn cứ vào sự phân vạch của quẻ, 8 quẻ thuần là quẻ “thống suất” gọi là quẻ mẹ, các hào của quẻ “thống suất” đều cố định không biến, 7 quẻ bị “thống suất” đều gọi là “kiến quái”, gọi là quẻ con, vì những hào của chúng đều có biến đổi. Kinh Phòng căn cứ vào Dịch nói: “tinh khí vi vật, du hồn vi biến”. Quy luật biến đổi là hào Dương biến đổi thành hào Âm, hào Âm biến đổi thành hào Dương.

Quẻ Đời 1 lấy hào 6 là hào bất biến.

Gọi là quẻ Đời 2, là từ 8 quẻ mẹ mà Dịch gọi là “Bát thuần”, do hào đầu tiên biến đổi mà thành.

Quẻ đời 3 là do sự niến đổi của 2 hào đầu của quẻ mẹ mà thành, hoặc là do từ quẻ Đời 1 biến đổi hào 2 mà thành.

Quẻ Đời 4 là do sự biến đổi của hào 1-2-3 của quẻ mẹ mà thành, hoặc là do từ quẻ Đời 2 biến đổi hào 3 mà thành.

Quẻ Đời 5 là do sự biến đổi của hào 1-2-3-4 từ quẻ mẹ mà thành, hoặc là do từ quẻ Đời 3 biến đổi hào 4 mà thành.

Quẻ Đời 6 là do sự biến đổi của các hào 1-2-3-4-5 từ quẻ mẹ mà thành, hoặc là do từ quẻ Đời 4 biến đổi hào 5 mà thành.

Quẻ Đời 7 được gọi là quẻ Du hồn, căn cứ từ quẻ Đời 6 mà biến đổi hào 4

Quẻ Đời 8 được gọi là quẻ Quy hồn, căn cứ từ quẻ Đời 7, biến đổi cả 3 hào hạ quái quẻ Du hồn mà thành.

Kinh Phòng căn cứ vào cấu tạo ngôi vị của quẻ 6 hào, lấy hào Sơ (hào 1) làm Khởi đầu (chung), lấy hào Trên (hào 6) làm Kết thúc (thủy), với nền tảng Càn Khôn làm đầu cuối của Âm Dương, nên hào 6 của quẻ “Bát thuần” không biến đổi.

Chữ “đời” ở đây là gọi là Thế là do hào biến đổi làm chủ của quẻ biến, gọi là hào “cư Thế”. Quẻ Đời 1-2 gọi là Địa dịch, quẻ Đời 3-4 gọi là Nhân dịch, quẻ Đời 5-6 gọi là Thiên dịch. Quẻ Du hồn và Quy hồn gọi là Quỷ dịch. Quẻ Đời 1 ở đây lấy hào bất biến làm chủ, tức là hào 6 của quẻ “bát thuần”.

Về phương diện ngôi vị hào, hào đầu gọi là Nguyên sĩ, hào 2 gọi là Đại phu, hào 3 gọi là Tam công, hào 4 gọi là Chư hầu, hào 5 gọi là Thiên tử, hào 6 gọi là Tông miếu, gọi như vậy với mục đích để phân rõ đẳng cấp tôn ti.

Gọi là Thế - Ứng, tức là chỉ sự tương ứng của 3 hào dưới với 3 hào trên trong mỗi cung, tức là hào đầu tương ứng với hào 4, hào 2 tương ứng với hào 5, hào 3 tương ứng với hào trên. Trong đó, hào làm chủ là hào “cư thế”, thì khi chiêm nghiệm, hào Ứng phải theo hào làm chủ, đó là hào Thế, hào Ứng (để phán đoán) là hào có quan hệ mật thiết với đối tượng chiêm nghiệm, ví như giữa vợ chồng, giữa anh em, vì giữa họ có tình cảm tương ứng với nhau. Định cát hung thì lấy hào cư Thế làm chủ.

THUYẾT NẠP GIÁP

Càn Khôn là gốc của Âm Dương, là đầu cuối của Âm Dương 64 quẻ cho nên lần lượt nạp Giáp Ất Nhâm Quý. Khi nạp Thiên can vào quẻ thì căn cứ theo số thứ tự Tiên thiên bát quái của quẻ phối với thứ tự của 10 Thiên can như sau: Càn 1 đứng đầu nạp Giáp mộc đứng đầu của Thiên can, Càn thuộc dương nạp Giáp cũng thuộc dương. Tiếp đến Đoài 2 phối với cặp Thiên can Bính-Đinh thuộc Hỏa, Đoài thuộc Âm nên phối với Đinh cũng thuộc Âm. Tiếp đến Ly 3 phối với cặp Thiên can Mậu-Kỷ thuộc Thổ, quẻ Ly thuộc Âm nên phối với can Kỷ thuộc âm. Tiếp đến Chấn 4 phối với cặp Thiên can Canh-Tân thuộc Kim, quẻ Chấn thuộc Dương nên phối với can Canh thuộc Dương. Càn Khôn đối ứng, trời đất định vị, Giáp dương nạp Càn dương, nên Ất âm nạp vào Khôn âm. Cấn Đoài đối ứng, núi đầm thông khí, Đoài âm nạp can Đinh âm, nên Cấn dương nạp can Bính dương. Khảm Ly đối ứng, Thủy Hỏa tương tề, Ly âm nạp Kỷ âm nên Khảm dương nạp Mậu dương. Chấn Tốn đối ứng, sấm gió cùng nhau, Chấn dương nạp can Canh dương, nên Tốn âm nạp can Tân âm. Còn lại cặp Nhâm Quý thuộc Thủy, nạp vào 2 quái phụ mẫu Càn Khôn, Nhâm dương nạp theo Càn dương, Quý âm nạp theo Khôn âm. Kinh Phòng căn cứ theo thứ tự Ngũ hành Mộc-Hỏa-Thổ-Kim-Thủy phối ứng với số Tiên thiên Ngũ hành 3-2-5-4-1, cặp số 3-2 thuộc Xuân-Hạ mà Dương trước Âm sau, cặp 4-1 thuộc Thu-Đông mà Dương sau Âm trước.

THUYẾT NẠP ĐỊA CHI

“Định cát hung chỉ lấy tượng của một hào”.

Kinh Phòng lần lượt cho 6 hào của 64 quẻ đối ứng với 12 địa chi, với quy luật phân theo Chi âm và Chi dương tương ứng với số chẵn lẻ rồi cho đối ứng với 384 hào. Chi dương đi thuận chiều vì dương chủ tiến, Chi âm đi ngược chiều vì Âm chủ lùi, vì 8 quẻ thì có 4 quẻ thuộc dương, 4 quẻ thuộc âm, mà 12 Chi lại có những 6 chi dương và 6 chi âm. Âm theo Ngọ, Dương theo Tý, Tý-Ngọ phân đường đi, Tý đi phía trái, Ngọ đi phía phải. Tháng 11 tháng 5 là tháng Tý Ngọ lần lượt phối hợp với hào Sơ và hào 4 quẻ Càn. Tháng 12 và tháng 6 là tháng Sửu Mùi lần lượt phối hợp với hào Sơ và hào 4 của quẻ Khôn, vì căn cứ theo “thuyết quái” nói Càn Khôn là quẻ Cha Mẹ. Thể của quẻ Dịch phải đủ 6 vạch mới thành, 6 vạch lại phân chia ngôi âm ngôi dương mới thành quẻ, mới phản ánh cụ thể mối quan hệ sinh khắc giữa Bố Mẹ và Con của 8 cung quái với vị trí 6 hào. Như quẻ Càn thuộc Kim là quẻ Bố Mẹ, hào Sơ thuộc Thủy, Kim sinh Thủy, mẹ sinh con, cho nên là cát, hào 4 thuộc Hỏa, Hỏa khắc Kim, con khắc mẹ là hung. Như vậy có nghĩa là tương sinh là thuận, tương khắc là hung, mẹ sinh con là đại cát, con khắc mẹ là đại hung. Kinh Phòng nói: Quỷ bát quái là hào “học”, tài là hào “chế”, trời đất là hào “nghĩa”, phúc đức là hào “bảo”, đồng khí là hào “chuyển”.


THUYẾT QUÁI KHÍ

Kinh Phòng lấy 64 quẻ 384 hào ứng với 1 năm, nói “ hào đầu trên, hào hai giữa, hào ba dưới, số của tháng 3 thành ra tháng 1. Hào đầu 3 ngày, hào hai 3 ngày, hào ba 3 ngày, tất cả là 9 ngày, còn dư ra một ngày gọi là ngày nhuận. Mười ngày của hào đầu là Thượng tuần, mười ngày của hào hai là Trung tuần, mười ngày của hào ba là Hạ tuần, 3 tuần là 30 tích tuần”.

“ Thành tháng, tích tháng thành năm, 8 lần 8 là 64 quẻ, chia ra 64 quẻ phối với 384 hào thành 32 x 360 = 11520 thẻ. Khí dịch 24 tiết khí phối hợp với Ngũ hành, thì mọi việc từ đạo Trời, đến vận mệnh con người, đến Trăng, Sao, ta đều có thể thấy được mọi chuyện cát hung rõ ràng”.

Âm sinh dương tiêu, dương sing âm diệt, hai khí giao nhau, thì vạn vật mới sinh ra. Dương nhập vào âm, âm nhập vào dương, hai khí giao hỗ không ngừng, cho nên gọi thế là “sinh”. Dương trong âm, âm trong dương, hai khí âm dương hòa vào nhau mà thành “tượng”. Kinh Phòng căn cứ vào âm dương khí hóa, âm dương thăng giáng và âm dương tiêu trưởng chuyển hóa đưa ra nguyên lý quẻ ẩn - hiện, trong đó quẻ “hiện” là quẻ hướng ngoại, lộ mặt, còn quẻ “ẩn” thì hướng nội, tiềm ẩn. Nói chung, tượng quẻ dương phần nhiều là quẻ “hiện”, tượng quẻ âm phần nhiều là quẻ “ẩn”. Ví như quẻ Càn có tượng thuộc dương, phối Thiên thuộc Kim, nó với quẻ Khôn là một cặp đối ứng “ẩn - hiện”. Quẻ Khôn có tượng thuộc âm, phối hợp với Địa thuộc Thổ, khi phối với quẻ Càn là một cặp đối ứng “ẩn - hiện”. Nguyên lý “ẩn - hiện” trong tượng hào của quẻ vốn “ngụ hàm” với nhau, như hào Sáu đầu của quẻ Khôn nói “ lý sương kiên băng chí” thích là “ rồng đánh nhau ở cánh đồng, máu chúng chảy ra đen vàng”. Rồng tính dương là đặc tính của Càn dương, nói nên mối quan hệ “ẩn - hiện” của hai quẻ Càn – Khôn, cấu thành cặp quẻ đối ứng với nhau. Không những hai quẻ Càn Khôn đối ứng với nhau, mà giữa 64 quẻ cũng cấu thành từng cặp “ẩn - hiện” với nhau. Khi chiêm nghiệm theo “ẩn - hiện”, ta có thể từ hai mặt chính - phản, tăng lượng thông tin về chiêm nghiệm được nhiều hơn, đó là mối quan hệ giữa hai mặt chính - phản của âm – dương. Theo Kinh Phòng, sự biến hóa âm dương là nguyên nhân khiến cho các thiên thể trong vũ trụ vận động, âm dương thăng giáng là quy luật vận động của Vũ trụ, sự chuyển hóa âm dương tiêu trưởng phản ánh mối liên hệ nội bộ âm dương.

Kinh Phòng nhấn mạnh rất nhiều vào sự chiêm nghiệm, ông cho rằng mục đích của sự nghiên cứu Dịch quái là ở chỗ “định cát hung, rõ được mất”, do đó ông sáng tạo ra quẻ 8 cung, phát huy mối quan hệ ngang dọc, là cốt để “định dự cát hung”. Ông nói “ Nghĩa về cát hung, bắt đầu ở Ngũ hành, kết thúc ở Bát quái. Nghĩa lý về âm dương là sự phân định về Năm, Tháng. Một khi Năm, Tháng đã phân định thì sẽ đoán định được cát hung”. Phần lớn vật chất dương là “hư”, vật chất âm là “thực”, “hư” là bề ngoài của dương, “thực” là bên trong của âm, “hư” là bề gnoài của “thực”, “thực” là phần bên trong của “hư”.

Thuyết Quái khí là sự đối ứng giữa 64 quẻ và 34 tiết khí, bao gồm Tứ thời và 24 khí, thuyết này bắt nguồn thuyết quái khí của Mạnh Hỷ, bao gồm ba nội dung sau:

- Thuyết quái khí Tứ chính quái: lấy bốn quẻ Khảm - Chấn – Ly – Đoài làm tượng ứng với 24 tiết khí, mỗi quẻ có 6 hào ứng với 6 tiết khí. Trong đó, quẻ Khảm ứng với 6 tiết khí từ tiết Đồng chí đến tiết Kinh trập. Quẻ Chấn ứng với 6 tiết khí từ tiết Xuân phân đến tiết Mang chủng. Quẻ Ly ứng với 6 tiết khí từ tiết Hạ chí đến tiết Bạch lộ. Quẻ Đoài ứng với 6 tiết khí từ tiết Thu phân đến tiết Đại tuyết. Trong bốn quẻ này, 6 hào của mỗi quẻ, từ hào Đầu đến hào Trên, lại phân ra làm chủ 6 tiết, như hào Đầu quẻ Khảm, làm chủ việc của tiết Đông chí, hào 2 tiêt Tiểu hàn, hào 3 tiết Đại hàn, hào 4 tiết Lập xuân, hào 5 tiết Vũ thủy, hào Trên tiết Kinh trập.

- Thuyết Thập nhị bích quái (nguyệt quái): là thuyết 12 quẻ ứng với 12 tháng. Mỗi một quẻ ứng với 2 tiết khí, 12 quẻ ứng với 24 tiết khí.

(Sưu tầm)

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Kinh Phòng với Kinh Thị Dịch truyện

Mũi hếch, răng hô trọn đời mạt vận

Mũi hếch chính là tướng mũi hướng lên trời, răng hô là kiểu răng nhô ra. Theo nhân tướng học thì người này thường xuyên gặp khó khăn, vận mệnh lên xuống không được như ý muốn.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Mũi hếch   Người có tướng mũi hướng lên trời lại là người có tâm lý nhạy bén, đầu óc cực kỳ linh hoạt vật nên khả năng thích ứng cũng như năng lực giao tiếp thể hiện rất mạnh. Tuy nhiên, những suy nghĩ của họ lại khá ngây thơ, hời hợt, thiếu dũng khí và sự kiên nhẫn nên đôi khi khó chấp nhận sự thật. Nếu muốn thành công thì người này phải có người hướng dẫn và giúp đỡ.  

Mui hech, rang ho tron doi mat van hinh anh
Ảnh minh họa

  Người phụ nữ mũi hếch lại thêm lỗ mũi to (được người ta ví như có 3 cái miệng) thì cá tính khá mạnh mẽ nhưng cũng rất chanh chua, tướng mũi như vậy cũng khó có thể tụ tài, hôn nhân cũng gặp nhiều trắc trở. Đàn ông mà có tướng mũi như trên thì cũng khó có thể tụ tài, ngược lại, nguy cơ tán tài rất cao, mối quan hệ xã hội, giao tiếp với mọi người xung quanh cũng không được tốt cho lắm, vận mệnh lên xuống thất thường, không được như ý muốn.   Răng hô
 
Người răng hô tuy tướng tạo không đẹp nhưng nhanh mồm nhanh miệng, dù vậy cũng không có đầu óc quan sát, dễ đắc tội với người khác chỉ vì lời nói (vạ miệng). Người này tính tình cực kỳ cố chấp, thường đề cao bản thân mình, đôi khi khiến cho người khác cảm thấy hành động của mình thật khoa trương, khó nhận được cảm tình.

Mui hech, rang ho tron doi mat van hinh anh
Ảnh minh họa
  Bởi do người này cố chấp mà không chịu tiếp thu ý kiến của người khác nên cuộc sống ít có bạn bè, phương diện sự nghiệp cũng khó phát triển vì không đủ tính cẩn thận, vì vậy mà nhân duyên cũng gặp nhiều trắc trở và khó khăn, phải trải qua thời gian dài mới có hiệu quả.   Mũi vừa hếch, răng vừa hô   Tướng mũi hướng lên trời là tướng tán tài, mặc dù răng hô là tướng tụ tài nhưng cũng không thể bù đắp lại khuyết điểm kia. Người hội tụ đủ 2 loại tướng mạo trên là người dễ xúc động nhưng tính tình lại khá táo bạo, có thể nói người này trong lời nói và ý nghĩ thường tồn tại mâu thuẫn, điều này cũng có ảnh hưởng lớn tới phúc khí của bản thân.   Theo góc độ thẩm mỹ, tuy rằng tướng mạo trên hoàn toàn có thể làm phẫu thuật cho đẹp hơn thế nhưng điều quan trọng nhất vẫn là nên khống chế dã tính của bản thân.
Phương Thùy

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mũi hếch, răng hô trọn đời mạt vận

Mơ thấy bắp ngô: Hy vọng thành hiện thực –

Tất cả những hình ảnh có liên quan đến bắp ngô trong mơ đều tượng trưng cho niềm hy vọng của bạn đã trở thành hiện thực. Mơ thấy bắp ngô là điềm tốt, tượng trưng cho mọi thành công. Hình ảnh một đồng ngô xanh xuất hiện trong mơ có nghĩa những hy vọn
Mơ thấy bắp ngô: Hy vọng thành hiện thực –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mơ thấy bắp ngô: Hy vọng thành hiện thực –

Chùa Ông - Cần Thơ

Chùa Ông là một công trình kiến trúc có giá trị về lịch sử văn hóa được bảo tồn khá tốt, được đông đảo người dân yêu quí trân trọng giữ gìn
Chùa Ông - Cần Thơ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Chùa Ông có tên gốc tiếng Hán là Quảng Triệu Hội Quán. Đây là một ngôi chùa của người Việt gốc Hoa tại Cần Thơ, và là một di tích lịch sử cấp quốc gia kể từ năm 1993. Chùa nằm tại số 32 đường Hai Bà Trưng, thuộc phường Tân An, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

Sở dĩ chùa có tên Quảng Triệu Hội Quán vì chùa vốn là hội quán của một nhóm người Hoa thuộc hai phủ Quảng Châu và Triệu Khánh (đều thuộc tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc) theo dòng di dân sang lưu trú ở đất Trấn Giang (tức Cần Thơ xưa) vào thế kỷ 17-18. Người dân vẫn quen gọi là Chùa Ông, vì ở chính điện thờ Quan Thánh Đế quân – Quan Công.

Chùa được xây dựng vào năm Quang Tự thứ 20 (1894) và cho đến ngày nay diện mạo chùa được giữ khá nguyên vẹn từ hình dáng bên ngoài đến chạm trổ nội điện. Hầu hết vật liệu như cột gỗ, đá làm trụ chân cột, liễn đối, kèo, chuông đồng, lư hương,… đều được đưa từ Quảng Đông sang.

Chùa được trang trí bằng những hình nhân bằng sành sứ tái hiện những điển tích, truyền thuyết Trung Hoa trên bờ nóc và hai bên cổng tam quan. Hai cột đá chính của cổng tam quan được trang trí thêm đôi lân, mái ngói âm dương với các gờ bó ngói ống men xanh thẫm, bờ nóc trang trí những hình lưỡng long chầu nguyệt,… bằng gốm sứ đủ màu.

Kiến trúc chùa được xây dựng theo hình chữ “Quốc” với các dãy nhà khép kín vuông góc với nhau. Ở giữa chùa có một khoảng không gian trống gọi là sân thiên tỉnh (giếng trời). Trong sân đặt hai bộ bát bửu, chậu kiểng, bàn hương án. Bên trong “Tiền Điện” được bố trí theo thứ tự rõ ràng: bên trái thờ Mã Tiền tướng quân và bên phải thờ Phúc Đức Chính Thần và sân thiên tỉnh. Các tượng Quan Công, Thiên Hậu Thánh Mẫu, Phật Bà Quan Âm được làm bằng nhiều chất liệu khác nhau, nét mặt, dáng điệu đều theo một quy ước.

Chùa có dáng vẻ uy nghiêm nhờ 6 hàng cột gỗ nâng đỡ vòm mái. Bên trên, hệ thống kèo được chạm trổ một cách công phu. Khắp nơi trong chùa trang trí nhiều bức phù điêu hoành tráng, màu sắc rực rỡ với nội dung phong phú được rút ra từ các huyền thoại, lịch sử Trung Quốc: Tam quốc chí, Bát Tiên, Đông Chu Liệt Quốc,… hoặc những đề tài quy ước mai, lan, cúc, trúc, lưỡng long chầu nguyệt, cá hóa tiên, chim phụng,… Đặc biệt, trong chùa có chiếc chuông đồng đúc từ năm 1892.

phu dieu
Phù điêu trong chính điện

Lễ hội tiêu biểu nhất của chùa Ông là lễ đấu đèn được tổ chức 10 năm một lần vừa quyên góp tiền giúp các cơ sở từ thiện, xây nghĩa trang, trường học, giúp đỡ trẻ mồ côi trong thành phố. Mọi người đều có thể tham gia để được sở hữu chiếc đèn mình yêu thích. Theo quan niệm của người Hoa, sở hữu chiếc đèn lồng là tượng trưng cho sự may mắn, thành đạt, hạnh phúc.

, đây cũng là nơi thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước viếng thăm.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chùa Ông - Cần Thơ

5 nét tướng mạo của người phú quý

Ngón tay dài là đặc điểm của những người tự lập, không thích sống dựa dẫm vào người khác cho dù họ sinh ra trong gia đình giàu sang phú quý.
5 nét tướng mạo của người phú quý

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1. Trán rộng và cao

Vầng trán rộng, cao và nhẵn tạo cho khuôn mặt nét phóng khoáng, thông minh và dễ gây thiện cảm. Hơn nữa, những người như vậy lại rất khéo léo trong cách ứng xử vì họ thường sinh ra trong gia đình lễ giáo hoặc quyền quý. Khi lấy được thiện cảm của người đối diện, họ dễ gặp vận may và được quý nhân phù trợ. 

Đặc biệt, nếu là nữ, bạn là đối tượng được nhiều chàng hướng đến. Nhân tướng học cho rằng những cô gái có trán rộng và cao như một biểu hiện cho thấy lối suy nghĩ thoáng đạt, có khí chất và biết quan tâm mọi người một cách đúng mực. 

2. Nụ cười tươi tắn

Nụ cười được xem là điểm nhấn trên khuôn mặt, có vai trò thu hút và tạo thiện cảm với đối phương. Chưa cần xét đến tính cách, thói quen, bạn đã được điểm cộng khi sở hữu nụ cười tỏa nắng. Thậm chí, nó có thể làm tan chảy trái tim nhiều người, nên chuyện họ sẵn sàng ra tay giúp đỡ bạn cũng chỉ là việc nhỏ.

Hơn nữa, nếu thêm yếu tố khóe miệng rộng và má lúm đồng tiền, chắc chắn bạn sẽ tìm được nhiều sự đồng cảm và may mắn trong cuộc sống hơn nữa.

3. Mắt to, lông mày rậm, dài

Những người sở hữu đặc điểm cặp mắt to, lông mày dài rậm và lông mi cong được cho là rất có khí chất. Kiên trì là ưu điểm tuyệt đối của bạn. Cho dù làm bất kỳ việc gì, bạn sẽ không lùi bước và bỏ cuộc. Nghĩa là dù may mắn chưa đến sớm, thì cuối cùng nó cũng sẽ gặp bạn và mang lại thuận lợi, suôn sẻ trong cuộc sống.

Ngoài ra, đôi mắt to còn thể hiện tinh thần tràn đầy sức sống của bạn. Người khác cảm thấy an toàn và dễ chịu khi song hành cùng bạn, giúp bạn luôn gặp may trên phương diện tình cảm.

5 nét tướng mạo của người gặp phú quý

4. Ngón tay dài

Ngón tay dài là đặc điểm của những người tự lập, không thích sống dựa dẫm vào người khác cho dù họ sinh ra trong gia đình giàu sang phú quý. Hơn nữa, họ còn rất biết cách quản lý tiền bạc, chi tiêu hợp lý và gặp vận may về tài chính. Những cô gái có ngón tay dài thường đảm đang, nết na nên được nhiều người yêu mến. Họ coi trọng tình cảm và sống hòa đồng.

5. Dái tai dày, tai áp sát vào đầu

Hội tụ đầy đủ hai đặc điểm này ở tai nghĩa là bạn luôn gặp vận đại may rồi nhé! Đầu tiên, dái tay dày thường được xem là biểu hiện của người có phúc lộc, may mắn của họ luôn đến bất ngờ. Không chỉ vậy, họ luôn được mọi người quan tâm và tạo cơ hội sớm vươn tới đỉnh cao danh vọng. 

Thứ hai, những ai có tai áp sát vào đầu, vành tai trong và ngoài rõ ràng thường thông minh, có tướng lãnh đạo. Họ sẽ gặp vinh hoa phú quý, gặp dữ hóa lành trong những biến cố.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 5 nét tướng mạo của người phú quý

Khám phá giấc ngủ của 12 chòm sao

Giấc ngủ của 12 chòm sao thể hiện cá tính rất riêng của mỗi người. Cùng khám phá nhé!
Khám phá giấc ngủ của 12 chòm sao

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Kham pha giac ngu cua 12 chom sao hinh anh
 
Bạch Dương

Bạch Dương là những kẻ năng động và thường có xu hướng khó ngủ. Những giấc mơ của họ thường sôi nổi, sống động và ngập tràn màu sắc. Bạch Dương thường cảm thấy khó khăn để tìm được sự tĩnh tại khi ngả người xuống gối mỗi đêm, thậm chí họ phớt lờ lợi ích của những giấc ngủ ngon. Tư thế nằm nghiêng là một gợi ý đáng thử để cải thiện giấc ngủ cho Bạch Dương.
 
Kim Ngưu
Giấc ngủ của Kim Ngưu dễ bị chập chờn nếu họ không được thoải mái. Kim Ngưu rất nhạy cảm với môi trường xung quanh. Họ có xu hướng ngủ lâu và rất trân trọng giấc ngủ. Kim Ngưu hay mơ những giấc mơ nhiều ý nghĩa và ngủ ngon nhất chính tại nơi làm việc.   Song Tử

Song Tử là những con nghiện công việc. Họ có thể sống sót dù có ngủ rất ít, tuy vậy họ cũng vẫn sẽ nhanh chóng phải lãnh hậu quả về sức khỏe. Tâm trí của Song Tử thường luôn trong tình trạng chạy đua với thời gian và làm việc quyết liệt, bởi thế giấc ngủ thường khó đến. Nhiều Song Tử thậm chí coi giấc ngủ là bất tiện và chứng khó ngủ cho họ thêm thời gian quý báu để làm việc.
 
Cự Giải

Cự Giải dễ có những cơn ngủ ngắt quãng, chập chờn bởi họ rất thường mơ thấy ác mộng về đêm. Họ có khi phí phạm thời gian ngủ của mình bằng cách giở đi giở lại những rắc rối trước khi ngả lưng. Bởi vậy, Cự Giải thường lơ mơ và ít khi nào hoàn toàn tập trung.
 
Sư Tử

Đa phần Sư Tử là những kẻ cứ đặt lưng là ngủ và có thể thiếp đi rất dễ dàng, trừ khi họ bị xì-trét. Họ trân trọng những giấc ngủ và rất cầu kỳ trong việc chuẩn bị chiếc giường sao cho sang trọng và hỗ trợ tốt nhất cho giấc ngủ ngon. Sư Tử thường mơ những giấc mơ ý nghĩa, thậm chí có tác dụng dự báo.
 
Xử Nữ

Xử Nữ không thể ngủ khi bị xì-trét hay khi môi trường quanh họ quá bất tiện. Thói quen suy nghĩ quá nhiều và tiêu cực của Xử Nữ khiến họ khó mà bình tâm trước khi ngủ. Xử Nữ sẽ hoạt động tốt hơn nếu họ tạo được đồng hồ sinh học cho giấc ngủ.

Thiên Bình

Thiên Bình thường trở mình quá nhiều khi ngủ. Họ có thể sống sót dù ngủ ít trong một thời gian ngắn, sau đó thì ngủ bù cả ngày. Một giấc ngủ đủ với những quãng ngủ hợp lý là dấu hiệu tốt cho thấy sự cân bằng trong nội tâm của Thiên Bình.
 
Thần Nông

Giấc ngủ của Thần Nông được quyết định bởi tâm trạng của họ. Một Thần Nông đang hăng hái có thể ngủ rất ít, họ sẽ ngủ muộn hết mức có thể một khi sự tập trung được đẩy lên cao. Ngược lại, một Thần Nông khi không hạnh phúc sẽ siêu nhạy cảm và cần ngủ rất nhiều.
 
Nhân Mã

Nhân Mã có thể ngủ rất ít khi bận rộn song họ lại có xu hướng mệt mỏi suốt cả ngày hôm sau. Họ có thể đẩy lùi cơn buồn ngủ khi hăng hái và hưng phấn về điều gì đó mỗi đêm. Giấc mơ của Nhân Mã thường chứa đựng nhiều trăn trở và suy nghĩ.
 
Ma Kết

Ma kết rất trân trọng giấc ngủ và thích ngủ nướng, đó thậm chí còn là một trong những sở thích lớn nhất của Ma Kết. Một Ma Kết khi căng thẳng có thể mắc chứng khó ngủ - dấu hiệu của một nội tâm kiệt quệ.

Bảo Bình

Bảo Bình hay gặp chứng khó ngủ, hay trăn trở và không thoải mái trong giấc ngủ. Việc suy nghĩ nhiều và phức tạp khiến Bảo Bình khó tĩnh tâm để ngủ. Ngoài ra, thói quen sử dụng thiết bị công nghệ và đọc sách trước giờ ngủ cũng khiến Bảo Bình ngủ ít hơn.

Song Ngư

Giấc ngủ giống như chất gây nghiện đối với Song Ngư. Trong tất cả các Cung Hoàng đạo, Song Ngư chính là chòm sao vô địch ngủ nhiều. Bản chất dễ tiếp thu, lĩnh hội của Song Ngư khiến họ gần như tiêu hao hết năng lượng cho mọi hoạt động trong ngày, giấc ngủ chính là phương pháp hữu hiệu để Song Ngư tái tạo năng lượng. Các Song Ngư thường xuyên ở trạng thái mơ màng, còn những giấc mơ của họ cũng rất phong phú và sống động.

► Xem thêm: Mật ngữ 12 chòm sao, Horoscope được cập nhật mới nhất

Thùy Dương ( Theo Astrolocherry)


 
 
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Khám phá giấc ngủ của 12 chòm sao

Cách xác định Đại vận

Chỉ dựa vào Tứ Trụ liệu đã đủ để dự đoán vận mệnh của con người hay không ? Hoàn toàn chưa đủ, muốn dự đoán có độ chính xác cao, người ta cần phải biết đại vận và tiểu vận của Tứ Trụ đó. Vậy thì đại vận và tiểu vận là gì ? Và cách xác định chúng như thế nào ?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

I – Cách xác định đại vận

1 - Đại vận 
Từ xa xưa cho tới ngày nay, mỗi người đều cảm thấy rằng cuộc đời thường không thuận buồm xuôi gió, mà có những khoảng thời gian tốt, xấu, may và rủi khác nhau. Người thì sự may mắn dồn dập đến từ khi vẫn còn trẻ, có người thì ở tuổi trung niên, lại có người chỉ đến khi đã về già, sự sui sẻo cũng vậy, ở mỗi người mỗi khác. Từ thực tế khách quan này mà người ta đã tìm ra cách xác định các khoảng thời gian may rủi khác nhau đó cho các Tứ Trụ là 10 năm và chúng được gọi là các đại vận. Cách xác định các đại vận hoàn toàn phụ thuộc vào tháng sinh của người đó như sau :

a – Nam sinh năm dương và nữ sinh năm âm 
Người mà can năm sinh của người đó là dương đối với nam như Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm và can năm sinh của người đó là âm đối với nữ như Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý thì được tính theo chiều thuận của bảng nạp âm, bắt đầu can chi ngay sau lệnh tháng làm đại vận đầu tiên, tiếp theo là đại vận thứ 2,... 
Ví dụ : Nam sinh vào năm Mậu Tý tháng Mậu Ngọ thì người này có can năm là Mậu tức là can dương nên đại vận đầu tiên phải tính theo chiều thuận theo bảng nạp âm là Kỷ Mùi, đại vận sau là Canh Thân, Tân Dậu,... 
Ví dụ : Nữ sinh vào các năm Quý Sửu tháng Mậu Ngọ thì người này có can năm là Quý tức là can âm nên đại vận đầu tiên cũng tính theo chiều thuận như ví dụ trên là Kỷ Mùi, đại vận thứ hai là Canh Thân, Tân Dậu,...

b – Nam sinh năm âm và nữ sinh năm dương 
Người mà can năm sinh là âm đối với nam như Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý và người mà can năm sinh là dương đối với nữ như Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm thì phải tính ngược lại đối với bảng nạp âm, bắt đầu can chi ngay trước lệnh tháng làm đại vận đầu tiên, sau là đại vận thứ hai,...
Ví dụ : Nam sinh vào năm Quý Dậu tháng Mậu Ngọ, vì can năm của người này là Quý tức là can âm nên đại vận đầu tiên phải tính ngược theo bảng nạp âm ngay trước lệnh tháng là Đinh Tị, đại vận thứ hai là Bính Thìn, Ất Mão ,....
Ví dụ : Nữ sinh vào năm Mậu Thân, tháng Mậu Ngọ vì can năm là Canh tức là can dương nên đại vận đầu tiên phải tính ngược với bảng nạp âm là Đinh Tỵ, sau là Bính Thìn, Ất Mão,....

II - Thời gian bắt đầu đại vận

1 - Nam sinh năm dương và nữ sinh năm âm 
Vậy thì khi nào các đại vận sẽ bắt đầu ? Phải chăng tất cả mọi người là như nhau? Hoàn toàn không phải như vậy, nó phụ thuộc hoàn toàn vào ngày sinh của người đó so với ngày giao lệnh (tức là ngày thay đổi từ tháng này sang tháng khác của lịch Can Chi) của tháng trước hoặc tháng sau so với tháng sinh của người đó (lệnh ở đây nghĩa là chi của 1 tháng mang hành gì thì hành đó sẽ nắm lệnh trong tháng đó). 

Đối với nam sinh năm dương và nữ sinh năm âm, ta tính theo chiều thuận của bảng nạp âm từ ngày sinh đến ngày giao lệnh của tháng sau (theo lịch Can Chi) xem được bao nhiêu ngày, và bao nhiêu giờ. Sau đó cứ 3 ngày quy đổi là 1 năm, thừa 1 ngày được tính thêm là 4 tháng, thừa 2 ngày được tính thêm là 8 tháng, cứ thừa 1 tiếng được tính thêm là 5 ngày còn cứ thiếu 1 tiếng thì phải trừ đi 5 ngày. Cộng tất cả lại sẽ được bao nhiêu năm, tháng, ngày thì đó chính là sau khi sinh được từng đó thời gian sẽ bước vào đại vận đầu tiên.

Ví dụ : Nam sinh ngày 12/2/1976 lúc 3,01’ có tứ trụ:

Bính Thìn - Canh Dần - ngày Giáp Ngọ - Bính Dần

Ta thấy đây là nam sinh năm dương nên tính theo chiều thuận từ ngày sinh 12/2 lúc 3,01´ a.m. đến giao lệnh của tháng sau là ngày 5/3 lúc 18,48´ (tính tròn là 19,00’), thì được 22 ngày (vì đây là năm nhuận nên tháng 2 có 29 ngày ) và thêm 16 tiếng. 22 ngày quy đổi được 7 năm 4 tháng (vì thừa 1 ngày đổi thành 4 tháng), còn 16 tiếng quy đổi thành 2 tháng và 20 ngày (16.5 ngày = 80 ngày). Tổng cộng được tất cả là 7 năm 6 tháng và 20 ngày. Tức là sau khi sinh ra được 7 năm 6 tháng và 20 ngày thì người này bắt đầu bước vào đại vận đầu tiên. Chính xác ngày 2/9 năm1983 người này bắt đầu bước vào đại vận Tân Mão (từ 2/9/1983 đến 2/9/1993). Từ ngày 2/9 năm 1993 bắt đầu đại vận thứ 2 là Nhâm Thìn (2/9/93 đến 2/9/03). Các đại vận sau tính tương tự theo đúng chiều thuận của bảng nạp âm. Mỗi đại vận chỉ kéo dài đúng 10 năm.

Có thể biểu diễn các đại vận và thời gian của chúng như sau :



Năm 1983 bắt đầu đại vận trừ đi năm sinh là năm 1976 được 7 năm, tức là khi 7 tuổi người này bắt đầu bước vào đại vận Tân Mão và được tính chính xác đến tháng 9 của năm 1983 . 
Nữ sinh vào năm âm cũng tính theo chiều thuận như vậy.

2 - Nữ sinh năm dương và nam sinh năm âm 
Đối với nữ sinh vào năm dương và nam sinh vào năm âm thì chúng ta tính theo chiều nghịch từ ngày sinh đến ngày giao lệnh của tháng trước liền với tháng sinh xem được bao nhiêu ngày, bao nhiêu giờ và cũng quy đổi như trên ta sẽ biết được khi nào bắt đầu đại vận đầu tiên.

Ví dụ : Nữ sinh ngày 12/3/1952 lúc 22,00’ có tứ trụ:

Nhâm Thìn - Quý Mão - ngày Đinh Tị - Tân Hợi 

Vì là nữ sinh vào năm có can là Nhâm tức can dương nên ta phải tính từ ngày sinh ngược lại tới ngày giao lệnh của tháng trước (tức là tính theo chiều ngược). Cụ thể ta tính từ ngày sinh 12/3 lúc 22,00´ đến đến ngày giao lệnh của tháng trước là ngày 5/3 lúc 23,00´ ta được 7 ngày quy đổi được 2 năm 4 tháng và từ 22,00’ đến 23,00’ là thiếu 1 tiếng tức phải trừ đi 5 ngày (Chú ý: Nếu giờ giao lệnh là 21.00' thì ta phải cộng thêm 5 ngày). Ta quy đổi được 2 năm 3 tháng và 25 ngày. Vậy thì người này ngày 7 tháng 7 năm 1954 bắt đầu bước vào đại vận đầu tiên là Nhâm Dần và các đại vận sau tính theo chiều ngược của bảng nạp âm như sau :



Đối với nam sinh năm Âm cũng tính theo chiều ngược như vậy.

Nguồn: phuclaithanh.com


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cách xác định Đại vận

Bình hoa phòng ngủ chuẩn phong thủy cho các chị em

Bài trí bình hoa phòng ngủ chuẩn phong thủy không những giúp bạn cân bằng không gian phòng ngủ, tạo mỹ quan mà còn góp phần thúc đẩy các nguồn năng lượng tích
Bình hoa phòng ngủ chuẩn phong thủy cho các chị em

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

– Bài trí bình hoa phòng ngủ chuẩn phong thủy không những giúp bạn cân bằng không gian phòng ngủ, tạo mỹ quan mà còn góp phần thúc đẩy các nguồn năng lượng tích cực, tăng cường sức khỏe, vận đào hoa cho bạn.



1. Lựa chọn màu sắc bình hoa

Khi lựa chọn màu sắc trong phòng ngủ, dù là sơn tường, đồ nội thất hay bình hoa trang trí, người ta thường tránh dùng các gam màu quá nóng, lòe loẹt. Vì những màu sắc này tạo cảm giác chói mắt, gây ra hiện tượng khó ngủ, ngủ không sâu giấc hoặc dễ gặp ác mộng.

Vì thế, khi lựa chọn bình và hoa trong phòng ngủ, bạn cần nhớ nguyên tắc: “Bình màu nhạt, hoa tươi tắn”. Như vậy, vừa đảm bảo sự hài hòa về màu sắc, lại tạo ra yếu tố phong thủy tốt, thúc vượng sức khỏe và vận đào hoa, giúp chị em có ngày Quốc tế phụ nữ 8/3 vui tươi phơi phới, tràn đầy niềm vui.

Binh hoa phong ngu chuan phong thuy cho cac chi em hinh anh
 
2. Nên để bình trống, cắm hoa giả hay thật?


Bình hoa có thể để trống, dùng như một món đồ trang trí trong nhà. Tuy nhiên, với bình hoa ở trong phòng ngủ, bạn không nên để trống. Đồng thời cũng không nên cắm hoa giả. Vì hoa giả không có sinh khí nên chẳng thể phát huy được tác dụng phong thủy tốt, ảnh hưởng xấu tới sức khỏe gia chủ.

Ngoài ra, hoa giả còn mang cảm giác về sự giả tạo. Nếu dùng hoa giả trong phòng ngủ, người độc thân khó tìm được đối tượng ưng ý, người đã kết hôn thì đời sống vợ chồng bất thuận.

Binh hoa phong ngu chuan phong thuy cho cac chi em hinh anh 2
 
3. Vị trí để bình hoa


Theo phong thủy phòng ngủ, vị trí để bình hoa khá quan trọng, không được tùy ý bày biện, sẽ gây ra trường khí nhiễu loạn, ảnh hưởng không tốt cho gia chủ.

Có thể căn cứ vào yếu tố ngũ hành của bản thân để chọn vị trí, phương hướng đặt bình hoa cho phù hợp. Ví dụ: người thuộc ngũ hành Kim, nên đặt bình hoa ở tướng Tây; người ngũ hành Mộc, nên đặt bình hoa ở hướng Đông...

Binh hoa phong ngu chuan phong thuy cho cac chi em hinh anh 3
 
4. Lựa chọn kích cỡ bình hoa


Căn cứ vào diện tích, không gian phòng ngủ mà lựa chọn bình hoa có kích cỡ sao cho phù hợp. Nếu phòng ngủ rộng, đặt bình hoa nhỏ tạo cảm giác lạc lõng, không phù hợp. Ngược lại, phòng ngủ hẹp lại đặt bình hoa lớn gây mất cân bằng không gian, khiến phòng càng chật hẹp.

Bài trí bình hoa phong thủy phòng ngủ chuẩn phong thủy không những giúp bạn cân bằng không gian phòng ngủ, tạo mỹ quan mà còn góp phần thúc đẩy các nguồn năng lượng tích cực, tăng cường sức khỏe, vận đào hoa cho bạn.

Ngân Hà
 
6 mẹo phong thủy tình yêu nhanh tiễn cũ, đón mới
Bạn vừa chia tay người yêu? Bạn đang thất tình? Bạn vẫn chưa quên được tình cũ? Hãy áp dụng ngay 6 mẹo phong thủy tình yêu giúp bạn nhanh


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bình hoa phòng ngủ chuẩn phong thủy cho các chị em

Chọn nhẫn đính hôn chớ quên phong thủy

Đối với hôn nhân, việc lựa chọn chiếc nhẫn đính hôn là điều rất quan trọng. Tuy nhiên, ngoài tính thẩm mỹ, bạn nên cân nhắc về mặt phong thủy.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Hỏi: Có quan niệm cho rằng nhẫn đính hôn kim cương có ba viên là không tốt về mặt phong thủy, có người gọi nó là nhẫn kỷ niệm. Trong khi đó, nhẫn đính hôn truyền thống có một viên kim cương chính, có thể có thêm các viên kim cương nhỏ hơn bên cạnh lại rất hợp phong thủy. Ngoài ra, việc chọn mua nhẫn đính hôn có thiết kế lồng vào nhau được khuyên là không nên. Xin hỏi những quan niệm này có đúng hay không?

Trả lời:

Phong thủy đồ trang sức là một chủ đề phổ biến bởi vì khi được lựa chọn một cách chính xác, nó sẽ là trở thành người bảo vệ mạnh vẽ và tiếp thêm sinh lực cho năng lượng cá nhân của bạn.

Về cơ bản, các tiêu chuẩn phong thủy trang sức tốt hay xấu đều dựa trên năng lượng được tạo ra bởi những viên kim cương và các tinh thể, đá quý khác nhau trong từng bối cảnh cụ thể. Vì vậy, câu hỏi về thiết kế chiếc nhẫn đính hôn có ba viên kim cương là rất thú vị!

 chon nhan dinh hon cho quen phong thuy - 1

Nhẫn kim cương tượng trưng cho lời hứa cam kết để yêu thương, tôn trọng và tình yêu vĩnh cửu.

Nếu bạn nhìn vào lịch sử của chiếc nhẫn đính hôn sẽ thấy rằng đã có rất nhiều loại đá quý và thiết kế khác nhau được sử dụng, không chỉ riêng mình kim cương. Hầu hết đều chứa đựng ý nghĩa sâu xa và ngôn ngữ phức tạp riêng. Đá Saphia (còn gọi là Ngọc bích) được sử dụng vì hàm nghĩa lòng trung thành và sự tận tâm; đá Hồng Ngọc tượng trưng cho năng lượng của sự đam mê và đá Ngọc lục bảo có ý nghĩa là sức sống và sự may mắn.

Thực tế, kim cương được coi là “ông hoàng đá quý” vì nó là loài đá quý tự nhiên cứng và sáng nhất. Kim cương có đặc tính bảo vệ và tác dụng chữa bệnh mạnh mẽ. Do đó, nó là biểu tượng hoàn hảo để thể hiện tình yêu vĩnh cửu. Năng lượng của nó được đánh giá là kết tinh của sự thủy chung và lòng tin vào một mối quan hệ trọn vẹn.

 chon nhan dinh hon cho quen phong thuy - 2

Nhẫn có đính 3 viên kim cương mặc dù vẻ ngoài rất đẹp, sang trọng nhưng nó lại bị xem là không tốt về mặt phong thủy.

Chiếc nhẫn truyền thống có một viên kim cương được xem là lý tưởng nhất theo phong thủy vì nó hàm nghĩa "một" và "duy nhất". Bên cạnh đó, năng lượng chứa đựng trong một viên kim cương lớn sẽ dồi dào hơn ba viên nhỏ.

Nhẫn đính hôn gồm một viên kim cương lớn, có thể có thêm những viên nhỏ bên cạnh cũng rất tốt về mặt phong thủy. Nó biểu tượng cho cặp đôi luôn bên nhau gắn bó hạnh phúc. Trong khi đó, số 3 mang hàm nghĩa bất lợi cho tình yêu và hôn nhân.

 chon nhan dinh hon cho quen phong thuy - 3

Chiếc nhẫn truyền thống có một viên kim cương mang hàm nghĩa "một" và "duy nhất" chính là lựa chọn hoàn hảo.

Lưu ý khi chọn mua nhẫn đính hôn:

Chọn mua nhẫn đính hôn là việc rất quan trọng. Nếu bạn chưa có kinh nghiệm và băn khoăn không biết làm thế nào để tìm thấy chiếc nhẫn hoàn hảo thì hãy tham khảo một số lời khuyên tuyệt vời sau đây:

- Xác định mức ngân sách tối đa bạn có thể chi trả cho chiếc nhẫn. Các nhân viên bán hàng thường làm cho bạn nghĩ rằng tình yêu của bạn quan trọng và phải đặt nó trên tất cả, bao gồm cả chiếc nhẫn. Vì thế, tốt hơn hết, bạn cần tự đặt ra cho mình một mục tiêu rõ ràng trước khi bước chân vào tiệm trang sức. Đẹp, phù hợp thôi chưa đủ, chiếc nhẫn còn phải vừa với túi tiền của bạn.

- Chọn nhẫn bạch kim hay vàng? Hiện đại hay truyền thống? Cầu kỳ hay đơn giản?... sẽ là những băn khoăn khiến bạn mệt mỏi. Việc chọn mua chiếc nhẫn sẽ dễ dàng hơn nếu bạn biết trước mình, có thể cả “người ấy” thích gì. Và nếu nó đơn giản thì bạn hãy tìm một chiếc nhẫn đơn giản miễn sao hợp túi tiền và làm cho người yêu bạn vui là được.

- Chọn một loại đá trang sức trong cửa hàng đã được thợ kim hoàn thiết kế sẵn theo kiểu mà bạn thích, nếu điều kiện tốt hơn bạn có thể chọn kim cương.

 chon nhan dinh hon cho quen phong thuy - 4

Ngoài ý nghĩa phong thủy, tính thẩm mỹ, giá cả,... là những điều không thể bỏ qua khi chọn mua nhẫn đính hôn.

- Bạn có thể đặt cửa hàng thiết kế theo ý bạn. Thêm hay bớt vài viên đá chẳng hạn, chạm lộng lẫy hoặc thêm các chi tiết khác. Bạn có thể chọn màu vàng, trắng hoặc vàng, bạch kim, hoặc thậm chí titan.

- Tối đa hóa ngân sách của bạn nếu dự định của bạn là muốn mua nhẫn kim cương lớn, bạn sẽ phải cân đối lại ngân sách. Yêu cầu một viên với diện tích bề mặt lớn hơn nó sẽ không lấp lánh nhiều nhưng nó sẽ trông lớn hơn và sẽ tốn số tiền lớn. Thay vì mua một chiếc nhẫn đính hôn bằng kim cương, hãy tìm hiểu thêm một loại đá quý khác ít tốn kém (như thạch anh, topaz xanh, saphia) hai bên là hai viên kim cương nhỏ. Chọn bạc thay vì bạch kim cũng tốt.

- Nếu bạn muốn đi mua nhẫn thì đừng đi một mình vào cửa hàng trang sức. Vì đi một mình bạn sẽ không biết lựa chọn thế nào vì có quá nhiều sự lựa chọn. Nếu có thể, bạn nên rủ người yêu, bạn thân hoặc mẹ của bạn đi cùng để giúp bạn lựa chọn. Như vậy bạn sẽ nhận được sự góp ý để chọn cho mình chiếc nhẫn ưng ý hơn.

 chon nhan dinh hon cho quen phong thuy - 5

Lựa chọn được chiếc nhẫn kim cương phù hợp về kiểu dáng và màu sắc cho lễ đính hôn sẽ mang lại cho bạn và người ấy một tình yêu trọn vẹn.

- Nếu bạn suy nghĩ việc đưa người yêu đi mua sẽ mất đi yếu tố bất ngờ, thì bạn phải chắc chắn rằng cô ấy thích chiếc nhẫn đính hôn của mình tự mua. Ngày càng có nhiều cặp vợ chồng đang làm theo cách này.

- Hãy tìm hiểu thương hiệu có uy tín thông qua bạn bè và gia đình. Trước khi bạn mua, tìm hiểu những chính sách hoàn trả hoặc trao đổi dễ dàng với nhiều lý do khác.

- Và cuối cùng bạn không quên lấy giấy chứng nhận về viên kim cương hay giấy bảo hành về chiếc nhẫn đính hôn. Như giấy kiểm định GIA, màu sắc, cắt rõ ràng và carat cũng như hình dạng kích cỡ.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chọn nhẫn đính hôn chớ quên phong thủy

Mơ thấy đôi mắt: Sẽ có tình yêu chân thật –

Chàng trai trẻ 28 tuổi kể lại giấc mơ của mình như sau: Trong mơ, tôi thấy mình đang vẽ tranh nơi đồng xanh bao la. Hôm đó, hình như là một ngày đầu hạ, hoa cỏ đua nhau khoe sắc dưới ánh nắng hè. Lúc đấy, một bé gái từ đâu chạy đến gần chỗ tôi, em nh
Mơ thấy đôi mắt: Sẽ có tình yêu chân thật –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mơ thấy đôi mắt: Sẽ có tình yêu chân thật –

Rước bệnh vào người vì kê giường ngủ thiếu chuẩn

Việc kê giường vi phạm vào các quy tắc phong thủy như kê giường đối diện của ra vào có thể gây ra những tác động xấu ảnh hưởng tới sức khỏe của gia chủ.
Rước bệnh vào người vì kê giường ngủ thiếu chuẩn

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Việc kê giường vi phạm vào các quy tắc phong thủy như kê giường đối diện cửa ra vào có thể gây ra những tác động xấu ảnh hưởng tới sức khỏe của gia chủ. 

Đầu giường hướng về phía cửa: Sẽ gặp các bệnh về thần kinh như đau đầu, đau nửa đầu hoặc có thể gặp ác mộng. 
 
Cửa hướng thẳng vào ngang giường: Gia chủ dễ mắc các bệnh về dạ dày hoặc về nội tạng trong bụng. 

Ruoc benh vao nguoi vi ke giuong ngu thieu chuan hinh anh
Không nên kê giường có tầm nhìn trực tiếp ra cửa
Cửa hướng về phía trái giường: Sẽ gây ra các cơn đau ở ngực phải và bệnh về gan.
 
Cửa hướng về phía phải giường: Sẽ gây ra cơn đau ở ngực trái và vấn đề về dạ dày.
 
Chân giường hướng thẳng về phía cửa: Sẽ gây ra các căn bệnh liên quan đến các bộ phận dưới. Ví dụ như sưng chân hay thậm chí các tai nạn dẫn đến phải phẫu thuật chân.

Những căn phòng khiến bạn khó thoát khỏi “kiếp FA”
Bạn luôn thắc mắc không hiểu vì sao mình đẹp trai, xinh gái, công việc lại ổn định, tính tình cũng chẳng tới mức khó ưa, vậy mà tại sao lúc nào cũng cô đơn lẻ
Các cách hóa giải:

Đầu tiên, bạn hãy di chuyển giường tới một vị trí không trực tiếp nhìn ra cửa. Tuy nhiên biện pháp này đôi khi không khả quan vì không gian bó buộc. Thứ hai, bạn có thể xem xét tới việc đặt một tấm bình phong (không được trong suốt và xuyên thấu vì như vậy sẽ phản tác dụng) giữa giường và cửa để chặn Sát khí. 
 
Cuối cùng, nếu tất cả các biện pháp trên không khả thi, bạn có thể treo dây cát tường xâu 5 đồng xu ngũ đế trước cửa ra vào để hóa giải Sát khí.
 
► Xem thêm: Phong thủy nhà ở chuẩn giúp phát tài phát lộc, tránh tai ương

Phạm Yến (Theo Fengshui Beginner)    
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Rước bệnh vào người vì kê giường ngủ thiếu chuẩn

Đọc vị tính cách qua độ dài các ngón tay

Xòe bàn tay và quan sát xem độ dài các ngón tay thuộc kiểu nào dưới đây, bạn sẽ hiểu hơn về tính cách của chính mình.
Đọc vị tính cách qua độ dài các ngón tay

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo



Doc vi tinh cach qua do dai cac ngon tay hinh anh 2
 
Kiểu A - Người quyến rũ nhưng sống thực tế

Đa phần những người sở hữu kiểu tay mà ngón đeo nhẫn dài hơn ngón trỏ thường có ngoại hình ưa nhìn, quyến rũ và có sức lôi cuốn “khó cưỡng”. Người này có tài ăn nói, nhờ vậy mà có thể linh hoạt xoay sở trong bất cứ tình huống nào.

Doc vi tinh cach qua do dai cac ngon tay hinh anh 2
 
Hơn thế, tính cách người này khá quyết đoán, giải quyết mọi vấn đề một cách nhanh gọn. Dù có lối sống thực tế, nhưng họ cũng giàu lòng trắc ẩn, hay giúp đỡ mọi người xung quanh.

Nghề nghiệp thường thấy của những ai có độ dài các ngón tay như vậy là nhà khoa học, kĩ sư, quân nhân... Bên cạnh đó, nếu thuộc nhóm này, bạn có khả năng chơi cờ hoặc giải ô chữ rất giỏi. Ngoài ra, khả năng kiếm tiền của nhóm này nhiều hơn so với người ở nhóm khác.

Kiểu B - Kiểu người tự tin, quyết đoán


Doc vi tinh cach qua do dai cac ngon tay hinh anh 2
 
Xem bói tướng tay
cho biết, người có tay ngón đeo nhẫn ngắn hơn ngón trỏ thường thuộc tuýp tự tin, quyết đoán, nói là làm và có tham vọng khá lớn trong sự nghiệp. Họ thích làm việc độc lập, có định hướng rõ ràng, chúa ghét bị người khác quấy rầy, đồng thời không thích gây sự chú ý như những người thuộc kiểu A trên.

Tự tin là vậy, nhưng trong chuyện tình cảm họ lại ít khi chủ động. Thông thường, đối phương là người bày tỏ tình cảm trước.

Sở hữu đường chỉ tay chữ M, bạn vô cùng đặc biệt
Người có chữ M trong lòng bàn tay thường là nhà lãnh đạo tuyệt vời và có sự nghiệp phát triển rực rỡ. Bạn có chữ M đặc biệt đó không?
Kiểu C - Người đơn giản, yêu hòa bình

Doc vi tinh cach qua do dai cac ngon tay hinh anh 2
 
Chủ nhân của tướng tay mà độ dài ngón trỏ và ngón đeo nhẫn bằng nhau thường có lối sống đơn giản, hòa đồng và rất yêu hòa bình, ghét sự phức tạp, xung đột. Họ trung thực, nhẹ nhàng và biết quan tâm tới mọi người xung quanh. Với họ, không gì quan trọng hơn là những mối quan hệ hài hòa, cuộc sống bình yên.

Tuy vậy, nếu tinh thần áp lực hay bị dồn nén lâu ngày, họ cũng nổi cơn thịnh nộ như ai.

► Tự xem chỉ tay đơn giản để luận giải về cuộc đời, vận mệnh của bản thân

Giang Nguyễn (Theo Higherperspectives)

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đọc vị tính cách qua độ dài các ngón tay

Những ngoại lệ của khoa Tử vi

Khi phân tích đối tượng con người, ta co 1dị thấy rằng khoaTử-Vi chỉ chú mục tìm hiểu kiếp số của con người sống, của con người toàn diện,của con người thế tục mà thôi. Như vậy, không phải ất cứ ai cũng là đối tượngcủa Tử-Vi. Mặc dù nào cũng có một lá số, nhưng có vài loại nằm ngoài tầm nghiêncứu của khoa Tử-Vi. Những ngoại lệ này gồm có: bào thai, người chết, người áinam ái nữ, tu sĩ, cư sĩ và thuật sĩ. Tấtcả các loại người này được xem như ngoại lệ ?
Những ngoại lệ của khoa Tử vi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1– Bào thai

Bào thai dù là người sống, nhưng chưa sinh. Vì chưa sinh nên chưa có cuộc sống ngoài thế gian, nhất là chưa thể biết được nam hay nữ, chưa có ngày, tháng, giờ, năm sinh để lấy lá số. Khoa Tử-Vi không nghiên cứu bào thai. Sau này chưa có ai thử làm công việc này. Có người cho rằng có thể lấy ngày thụ thai làm ngày sinh cho bào thai, căn cứ vào đó mà lấy lá số cho bào thai để tìm hiểu vận kiếp của bào thai suốt thời gian 9 tháng trong bụng mẹ.

Tuy nhiên, sự nới rộng phạm vi nghiên cứu con người từ lúc chưa sinh gặp nhiều khó khăn và nghịch thế. Khó khăn vì khó biết được giờ thụ thai chính xác. Lúc đậu thai không có triệu chứng gì báo hiệu thời điểm tinh trùng vào quả trứng. Nghịch thế là, vì dù có lấy lá số cho bào thai được đi nữa, người giải đoán làm cách nào để gạn lọc các sao áp dụng cho bào thai, các sao không áp dụng cho bào thai ? Các sao trong lá số bao hàm các biến cố và cá tính của người đã sinh chớ không phải của người chưa sinh.

2-  Người chết

Phật lý cho rằng người chết còn có một kiếp sống ở thế giới khác để chờ luân hồi đầu thai lại trên một người mới. Nhưng, khoa Tử-Vi không chấp nhận phật lý luân hồi. Người nào chết là hết kiếp sống trần gian. Khoa Tử-Vi không dùng ngày giờ chết để lấy số cho một âm hồn. Lý do là vì khoa Tử-Vi không phải là khoa học huyền bí, không khảo sát cõi âm, không cho rằng con người còn có kiếp sống nào khác hơn trần thế. Khoa Tử-Vi không có kỹ thuật nào truy tầm linh hồn kẻ quá vãng để biết nó phiêu bạt nơi đâu. Vì vậy, thuật cầu cơ rất trái ngược với quan niệm thế tục của Tử-Vi. Tuy khoa này có chịu ít nhiều ảnh hưởng của khoa địa lý Trung Hoa, nhưng vẫn không cảm nhận ảnh hưởng nào của người đã chết trên cuộc đời người còn sống. Tử-Vi học chỉ vay mượn nơi khoa điạ lý vài ý niệm để xét âm phần (địa thế, hình sắc và thế đất) để giải đoán về mồ mả tổ tiên, nhưng lại không cho điều đó có một hiệu lực gì đáng kể trên con người và đời người. Có quan điểm nhân bản gạt bỏ hẳn phần giải đoán mồ mả tổ tiên trong giải đoán Tử-Vi, vì nó không bổ ích gì mà còn làm cho khoa này trở nên thần bí.

Tóm lại, theo chủ thuyết sinh của Khổng học, khoa Tử-Vi chỉ nghiên cứu người còn sống. Kẻ chết là một ngoại lệ, ngòai phạm vi khảo sát.

3.– Những người ái nam, ái nữ

Đó là những người mà ta thường gọi là lại cái.

Tuy họ có một ngày sinh, có một kiếp sống hẳn hòi, nhưng họ không có phái nhất định: có thể xem họ là nam, cũng thể cho là nữ. Duy vì kỹ thuật lấy số đòi hỏi tính chất nam hay nữ cho rõ rệt để có thể an sao, cho nên gặp trường hợp ái nam ái nữ, không có thể lấy số được.

Kỹ thuật y học giải phẫu ngày nay có thể giúp xác định phái của người ái nam ái nữ. Có lẽ kể từ ngày được xác định, lá số có thể lấy được, dựa vào ngày sinh. Nhưng, vì trường hợp này quá ư hiếm hoi và quá ư đặc biệt cho nên... chưa có ai rút tỉa kinh nghiệm trong việc tìm tòi điểm đó.

4.– Những tu sĩ, cư sĩ và thuật sĩ

Ba loại người này tự ý đặt mình và ra ngoài vòng tục lụy, không màng đến phú quý vinh hoa, không sợ chết, sợ khổ, lấy sự tiết chế tình dục làm phương châm sinh hoạt.

Tu sĩ và cư sĩ đã chọn một ý thức hệ  vọng đạo chớ không theo đời, thoát tục chớ không vướng tục, xem nhân thế như tạm bợ, xem niết bàn như cứu cánh. Nhãn quan phi thế tục của họ khiến họ trở thành người ngoại lệ của đối tượng Tử-Vi.

Thuật sĩ là người chống lại bản năng, cố ý tìm sự khổ nhục thể xác để tập sự cho linh hồn chịu đựng giỏi hơn, cũng không mang đến vinh hoa phú quý. Ý thức hệ của họ khác với nhân sinh quan của đại chúng.

Đó là nói về các tu sĩ, cư sĩ tu Phật hay tu tiên chân chính, không cần biết đến số kiếp, vận mạng. Còn đối với vài lối tu theo Tin Lành, tu mà còn sống với đời để sửa đời, còn làm bóng xã hội, còn có vợ con (Tin Lành) thì vẫn còn áp dụng được lá số Tử-Vi.

Đối với thuật sĩ cơ hội hay tài tử, chỉ tập khổ nhục để biểu diễn, kỳ dư vẫn sống như phàm nhân thì vẫn là đối tượng của Tử-Vi.

5. – Tập thể

Có người cho rằng Tử-Vi có thể áp dụng để xem vận mệnh ch một tập thể nào đó, dùng ngày thành lập làm ngày sinh để lấy số, dùng lối suy luận tương tự để đoán số. Ví dụ như đối với một hiệp hội hoặc một nội các thì lấy ngày giờ ra mắt chính thức làm thời điểm lấy số. Rồi tùy theo các sao quý, phú, bệnh, họa mà suy luận về sự thịnh, suy, nguy, diệt cho hiệp hội hoặc nội các.

Cũng theo quan điểm này, cũng có thể xem vận mệnh cho một quốc gia bằng Tử-Vi, cũng lấy ngày sinh cho lá số quốc gia.

Đây là một quan điểm mới mẻ và táo bạo, cho đến nay chưa thấy ai áp dụng hay thí nghiệm. Duy pải công nhận rằng việc áp dụng Tử-Vi cho tập thể bao hàm nhiều cách, hoặc dựa vào ngày giờ cho phép lập hội, ngày giờ ký Sắc lệnh lập Nội các, hoặc dựa vào ngày giờ hội hoặc nội các ra mắt quốc dân. Còn đối với quốc gia, ngày sinh sẽ phức tạp hơn nhiều. Ví dụ như đối với Việt Nam, có thể chọn ngày Giỗ Tổ Hùng Vương hay ngày Quốc Khánh cũng hữu lý cả. Vì vậy, việc suy đoán vận mệnh dễ sai lầm. Hơn nữa, đời sống của một tập thể, của quốc gia không giống đời sống của một cá nhân. Trên một lá số nào đó, có thể đoán ngày chết của cá nhân, nhưng không ai dám quả quyết rằng tập thể hay quốc gia trúng số sẽ bị tiêu diệt cùng lúc.

Vì vậy, có thể nói rằng Tử-Vi không áp dụng cho tập thể và càng không áp dụng được cho quốc gia.

Lược trích cuốn "Tử vi tổng hợp" của Nguyễn Phát Lộc

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những ngoại lệ của khoa Tử vi

Tại sao nhà ở lại chọn hướng Tây Nam hoặc Đông Nam là tốt nhất? –

Do vị trí địa lý đặc thù của Trung Quốc mà hướng Nam được coi là hướng tốt nhất để làm nhà. Những di chỉ khảo cổ đã cho chúng ta thấy hầu hết mọi căn nhà thời đồ đá đều là tọa Bắc hướng Nam, tức là hướng Tý Ngọ (theo phong thuỷ). Tuy nhiên do vĩ độ v

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Do vị trí địa lý đặc thù của Trung Quốc mà hướng Nam được coi là hướng tốt nhất để làm nhà.

Những di chỉ khảo cổ đã cho chúng ta thấy hầu hết mọi căn nhà thời đồ đá đều là tọa Bắc hướng Nam, tức là hướng Tý Ngọ (theo phong thuỷ). Tuy nhiên do vĩ độ và kinh độ khác nhau nên toạ Bắc hướng Nam chếch Đông, toạ Bắc hướng Nam chếch Tây là hướng tốt nhất.

p56

Thông thường, các thầy phong thuỷ không đề xướng xây nhà hướng chính Nam hoặc chính Bắc. Nguyên nhân là do chính Nam chính Bắc là tướng đế vương, theo phong thuỷ đó là hướng “lên voi xuống chó”. Cái gọi là “Sáng quân vương, chiều trộm cướp” là có ý chỉ điều đó. Cho nên người dân bình thường không chịu nổi hướng đó.

Làm nhà hướng Tây Nam hoặc Đông Bắc có thể tránh được ánh nắng chói chang của mùa hè, nhưng lại ấm áp vào mùa đông, có thể sát khuẩn khiến sức đề kháng của con người tăng mạnh, giảm phát sinh bệnh tật. Tục ngữ có câu: “Cửa chính hướng Nam, con cháu không lạnh. Cửa chính hướng Bắc, con cháu chịu tội”. Câu nói này không phải là không có lý. Vì thế khi chọn hướng nên chọn hướng Tây Nam hoặc Đông Nam là tốt nhất.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tại sao nhà ở lại chọn hướng Tây Nam hoặc Đông Nam là tốt nhất? –

5 chòm sao ngốc nghếch, chậm chạp trong tình cảm

Làm người ai cũng muốn nhanh nhẹn, hoạt bát, đi trước nhưng 5 chòm sao ngốc nghếch dưới đây lúc nào cũng chậm hơn người khác nửa bước trong chuyện tình cảm.
5 chòm sao ngốc nghếch, chậm chạp trong tình cảm

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nhiều khi không phải là họ chậm đâu, chỉ vì tính cách mà phải theo sau thôi, thông cảm cho họ nha.

5 chom sao ngoc nghech, cham chap trong tinh cam hinh anh
 

Bạch Dương: trời sinh đại khái

  Bạch Dương kích động, nhiệt tình, thần kinh đột phá hơn người, ai mà có ý định sử dụng phương thức hàm súc nội tâm để thể hiện tình cảm với họ thì đảm bảo là cừu trắng không hiểu đâu. Cho dù nói đến tận nơi họ cũng không hiểu, không thể trách được, bẩm sinh đã qua loa đại khái như vậy rồi đấy.   Nhiều người thấy như vậy thì rất tức giận, phản ứng lúc nào cũng chậm chạp, nói dễ nghe thì là chòm sao ngốc nghếch nhưng nói khó nghe thì là ngu xuẩn đấy. May thay tuy đơn giản nhưng trí thông minh không thấp nên đối phó cũng không quá tệ, giả mù giả điếc cho qua, cuối cùng cũng lờ mờ nhận thấy người ta có ý với mình. Tốt nhất có chuyện gì cần thông báo với Bạch Dương thì hãy thật lớn tiếng, thất trực tiếp vào nhé.
Xem thêm bài viết 3 cặp đôi hoàng đạo duyên nông phận cạn, gặp nhau chỉ là tiếng thở dài

Ma Yết: quá mức lý trí

  Nói Ma Kết ngốc đương nhiên là không phải, chi bằng nói họ chậm nhiệt thì chính xác hơn. Họ yêu thích yên tĩnh là thật, yêu thích náo nhiệt cũng là thật nhưng trời sinh có sự kiềm chế mạnh, ít bộc lộ tình cảm. Kết Kết ghét nhất là ràng buộc, muốn trầm mặc một mình một góc khiến người khác khó tiếp cận, càng không muốn việc riêng tư bị người khác bàn tán.   Mềm không được cứng không xong, quá lạnh lùng, quá bình tĩnh, hoàn toàn không tiếp thu được những nhiệt tình thái quá. Người khác vui rồi họ vẫn chưa vui, người khác thân rồi họ vẫn chưa thân, phải qua một thời gian tìm hiểu lâu dài, đặc biệt xác định rồi mới tiếp thu được sự thay đổi. Nên phải đến khi mối quan hệ chín chắn, họ mới gật đầu đồng ý được, chậm mà chắc.  

Kim Ngưu: trời sinh chậm chạp


5 chom sao ngoc nghech, cham chap trong tinh cam hinh anh
 
Nói tới phương diện chậm chạp trong tình cảm thì Kim Ngưu nhất định chiếm hạng nhất. Khả năng nhận biết của họ cực kém, đây cũng là nhược điểm trí mạng của chòm sao ngốc nghếch này. Huống hồ, chỉ có tiền tài mới mang lại cảm giác an toàn nên họ thường xuyên dùng vật chất để biểu đạt tình cảm, rất trực tiếp nhưng cũng rất thô thiển.   Để hướng dẫn Ngưu chan dần nhanh nhẹn hơn, biết cách bày tỏ tấm lòng hơn thì phải tiếp xúc nhiều, chia sẻ nhiều để họ hiểu đồng thời kiên trì chờ đợi cho tới khi thật sự thấm nhuần, đạt được thành tựu,Có thể nói yêu Kim Ngưu nhất định phải từ từ, nhẫn nại.
Xem thêm bài viết Yêu là yêu, những chòm sao đơn thuần nhất trong tình cảm
 

Nhân Mã: ngây ngốc không nhận rõ

  Mã Mã vừa ngốc lại vừa lười, vô tâm vô tính, nhất định chẳng nhận ra những tín hiệu rắc rối phức tạp của tình yêu, chẳng phân biệt được là tình bạn hay hơn cả tình bạn. bẩm sinh khuyết thiếu trí tưởng tượng lãng mạn, chỉ tiếp thu được những ám chỉ đơn giản mà thôi, việc họ thường xuyên không hiểu người khác có ý đồ gì diễn ra như cơm bữa vậy.   Thực ra Nhân Mã rất ghét phiền phức, họ chỉ thích suy nghĩ đơn giản nên chuyện gì không rõ ràng thì dứt khoát giả bộ không biết để bản thân được thoải mái, yên tĩnh. Tiếp cận họ phải thật sáng tỏ, yêu là nói luôn, thích là tiến tới chứ không có kiểu ngại ngùng e ấp đợi chờ, mất điểm lắm.
Xem thêm bài viết Xử Nữ và Nhân Mã - cặp đôi hoàng đạo cần hiểu nhiều hơn yêu
 

Cự Giải: quen ẩn giấu tâm tư

  Là chòm sao có tính cách nhạy cảm, tâm tư tỉ mỉ, không thích ảo tưởng, không thích tự cho là đúng. Khi chưa làm rõ được tình hình, để tránh những hiểu ầm không cần thiết Cự Giải chủ yếu là thăm dò, kín đáo, không bộc lộ thái độ. Đối với họ thờ ơ, không động lòng chính là một loại phương thức tự bảo vệ mình.    Khuyết thiếu lòng tin lại không biết cách biểu đạt nội tâm nên Cự Giải bài xích những chuyện vui đùa bỡn cợt, người mà tiếp cận họ bằng phương pháp này cầm chắc thất bại. Người ta có thể yêu nhau khi vừa quen biết nhưng với chòm sao ngốc nghếch này, ít thì vài tháng, nhiều thì cả năm mới dám mở lòng ra đón nhận tâm tư tình cảm của đối phương.
Sao Kim nghịch hành, 4 chòm sao vượng đào hoa trong tết Đoan Ngọ Gợi ý điểm du lịch lý tưởng cho 12 cung hoàng đạo Những lý do khiến Hổ Cáp mạnh mẽ cũng phải bật khóc
Thái Vân

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 5 chòm sao ngốc nghếch, chậm chạp trong tình cảm

6 sai lầm phổ biến khi lắp rèm cửa

Bề ngang của rèm bằng đúng kích thước cửa, thanh treo quá mảnh mai... là những điều bạn nên tránh.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1. Không đo chính xác kích thước

6-sai-lam-pho-bien-khi-lap-rem-cua

Thao tác đo đạc đơn giản giúp bạn tiết kiệm công sức và tiền bạc.

Điều đầu tiên bạn cần làm trước khi lắp rèm là đo kích thước cửa sổ và quyết định chọn rèm có chiều dài, rộng như thế nào. Làm cẩn thận ngay từ bước đầu giúp bạn không cần phải trở lại cửa hàng khi rèm và thanh treo không phù hợp.

2. Treo rèm quá thấp

6-sai-lam-pho-bien-khi-lap-rem-cua-1

Cách treo rèm giúp nhà thoáng hơn.

Bạn nên treo rèm cao gần sát trần nhà để giúp cho căn hộ có cảm giác cao hơn, nhất là trong các phòng nhỏ. Đừng chỉ vì tiết kiệm chút vải mà bạn cảm thấy không ưng ý sau khi lắp rèm xong.

3. Rèm không đủ bề ngang

6-sai-lam-pho-bien-khi-lap-rem-cua-2

Kích thước rèm luôn rộng hơn 2-2,5 lần cửa sổ.

Bạn đừng nghĩ rèm cần mua có kích thước ngang đúng bằng cửa sổ. Bởi khi kéo kín lại, bạn vẫn cần rèm có độ rủ nhất định. Theo kinh nghiệm của những người may rèm, chiều ngang rèm bằng 2-2,5 lần chiều ngang cửa sổ.

4. Không là ủi rèm trước khi treo

6-sai-lam-pho-bien-khi-lap-rem-cua-3

Giặt là rèm là điều nên làm trước khi treo chúng lên cửa sổ.

Bạn quá háo hức để cửa sổ được mới mẻ, tránh được nắng gắt nên bỏ qua khâu giặt là. Tuy nhiên, chỉ một chút vội vã đó sẽ khiến khung cửa trở nên luộm thuộm, lộ sự cẩu thả của chủ nhà.

5. Chọn thanh treo sai

6-sai-lam-pho-bien-khi-lap-rem-cua-4

Có nhiều loại thanh treo với kích thước, khả năng chịu lực và hình dạng khác nhau.

Tùy thuộc vào độ nặng, nhẹ của vải mà cần có thanh treo phù hợp, đủ khả năng đỡ. Nhiều người thích sử dụng các loại vải dày dặn nên nếu thiết bị quá mảnh mai sẽ nhanh bị hỏng. Ngoài ra, bạn cần chọn thanh treo có thiết kế, màu sắc phù hợp với rèm.

6. Sử dụng rèm phủ sàn với nhà có trẻ nhỏ và thú nuôi

6-sai-lam-pho-bien-khi-lap-rem-cua-5

Nhà có trẻ nhỏ nhưng sử dụng rèm quá dài sẽ nhanh hỏng.

Loại rèm phủ xuống mặt sàn đem tới phong cách sang trọng cho căn nhà. Tuy nhiên, bạn phải chắc chắn con nhỏ và các chú chó, mèo không quậy phá. Nếu không, rèm sẽ nhanh rách, bẩn, thậm chí bị kéo hỏng.

Lam Huyền (Theo House Beautiful)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 6 sai lầm phổ biến khi lắp rèm cửa

Quan điểm phong thủy cho phòng làm việc bình thường –

Cửa chính lớn mà đối thẳng với cửa trong văn phòng chính là sự xung khí phong thủy, dòng khí chảy dễ chạy thẳng vào, dễ dẫn đến những việc nhân sự miệng lười không hay, cần thiết khi tiến hành cách ly phải cân nhắc kỹ. Tất nhiên là không thể vừa bước

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

vào cửa lớn liền đối thẳng với cửa nhà vệ sinh.

phonglamviecdep2

Văn phòng của ỏng chủ nhất định phải là một gian phòng độc lập, không thể mở rộng không gian, bởi vì nghiệp vụ của công ty nhất định phải có tính cơ mật, không thể đưa thêm những tấm bình phong, trong các căn phòng của ông chủ và chủ quản, nên thích hợp và nhỏ một chút củng được, không thể to quá mà không phù hợp. Thông thường những kiến trúc công trình toà nhà văn phòng bên các đường phố đều có kỵ lầu, chính vì vậy mà ở tầng hai cần phải có không gian là nơi có kỵ lầu, các phòng ở trên kỵ lầu không thể làm phòng quyết sách của các nhà chủ quản, chỉ có thể làm các phòng dùng có các nhân viên, bởi vì những kỵ lầu phía dưới các trần nhà, là nơi người đi lại rất nhiêu, dòng khí hỗn loạn, khí trường cũng thường bị nhũng nhiễu.

Chính vì vậy mà trên tầng không thể làm nơi quyết sách được, ngoài ra có không ít những tiểu thương nhân còn lấy tầng dưới làm những cửa hàng, tầng hai làm nơi ở. Lúc này cần chú ý, nhà vệ sinh ở tầng hai không thể đặt ở tầng có phòng hàm việc của ông chủ, các bàn đón tiếp và thần vị đặt ở trên.

Thông thường trong một căn phòng, trên nguyên tắc phân chia bố trí các phòng, phải phối hợp “long biên” và “hổ biên”, cũng chính là nội bộ bên trong của văn phòng, có sự phân chia bên trái liền phải, một nửa bên thuộc long nên đặt phòng làm việc của ỏng chủ, phòng nghiệp vụ, phòng tài vụ; những phòng khác thì đặt ở bên hổ: mỗi vị trí của của văn phòng cần xem xét, tốt nhất là đặt ở bên động long biên, sự nghiệp mới có thể hưng thịnh phát đạt.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Quan điểm phong thủy cho phòng làm việc bình thường –

Cách xem tướng phụ nữ phong trần –

Trong mỗi cử chỉ, lời nói, cách ăn uống, phụ nữ phong trần luôn có vẻ yểu điệu rất kiểu cách. Đại thể, tướng người phụ nữ phong trần được thể hiện qua 1 số nét tướng sau: - Khuôn mặt nhỏ nhắn nhưng dáng người to thô, da trên người thô ráp hơn da mặt
Cách xem tướng phụ nữ phong trần –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cách xem tướng phụ nữ phong trần –

Những con giáp hạnh phúc trong tình yêu hôn nhân

Ai quan niệm “Hôn nhân là nấm mồ của tình yêu” thì không rõ, nhưng những con giáp hạnh phúc trong tình yêu hôn nhân dưới đây, điều đó không hề đúng.
Những con giáp hạnh phúc trong tình yêu hôn nhân

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

– Ai quan niệm “Hôn nhân là nấm mồ của tình yêu” thì không rõ, nhưng với những con giáp hạnh phúc dưới đây, điều đó không hề đúng, trái lại, càng kết hôn lâu càng viên mãn.

 
3 con giáp luân phiên đóng vai ông Tơ bà Nguyệt cực duyên Sinh vào ngày đen tối này 12 con giáp nữ sẽ khổ muôn đời Điều 12 con giáp cần làm để bình an vượt qua tháng cô hồn

1. Cô nàng tuổi Tuất

  Trong danh sách con giáp hạnh phúc, hôn nhân càng kéo dài càng viên mãn chắc chắn có tên người tuổi Tuất. Tình yêu đến với cô nàng tuổi Tuất trong 12 con giáp không hề dễ dàng. Họ phải trải qua không ít mối tình sóng gió mới có thể tiến tới hôn nhân hạnh phúc. Hơn ai hết, họ trân trọng điều đó, tìm mọi cách để vun đắp cho tổ ấm gia đình ngày càng rực rỡ.    Vốn thuộc tuýp hướng nội, các nàng tuổi Tuất không thích khoa trương, chọn cho mình lối sống đơn giản, quan tâm nhiều hơn tới mọi người xung quanh, bỏ ngoài tai những lời đàm tiếu, tập trung chăm chút gia đình. Chính vì thế, cuộc sống hôn nhân của tuổi Tuất ngày càng viên mãn theo thời gian. 

Nhung con giap hanh phuc trong tinh yeu hon nhan hinh anh 2
 
 

2. Cô nàng tuổi Hợi

  Mang trong mình tâm hồn trong sáng, lối tư duy tích cực và nhạy bén, cô nàng tuổi Hợi dễ được mọi người yêu mến. Khi đã yêu anh chàng nào đó, họ quyết tâm sẽ “về chung một nhà” ngay từ những ngày đầu mới yêu. Bằng tình yêu chân thành, sự quyết tâm cao độ, họ luôn đạt được điều mình mong muốn.   Tương tự tuổi Tuất, hôn nhân đến với tuổi Hợi cũng không hề dễ dàng gì. Họ dành rất nhiều thời gian để kén chọn, tìm bằng được người có sự đồng điệu về tâm hồn. Nhưng khi đã xác định xây dựng gia đình, sự do dự bỗng biến thành quyết đoán, nỗ lực bảo vệ tổ ấm bé nhỏ của mình. Thế mới nói đây là một trong những con giáp hạnh phúc trong hôn nhân.

12 con giáp nam muốn yêu là phải “xài chiêu” Nhập hội cùng những con giáp quá coi trọng “nước sơn”

Nhung con giap hanh phuc trong tinh yeu hon nhan hinh anh 2
 

3. Cô nàng tuổi Dần

  Trông bề ngoài cô nàng tuổi Dần có vẻ dữ dằn thế thôi, nhưng thực chất bên trong con giáp này lại là cả một thế giới nội tâm yếu đuối, không ngừng kiếm tìm tình yêu lãng mạn.    Tuy vậy, sự lãng mạn của họ không hề xa rời thực tế, trái lại, đó là thứ gia vị để giữ lửa cho tình yêu luôn gắn kết bền chặt, trường tồn theo thời gian.    Kết hôn càng lâu, tuổi Dần càng cảm thấy thỏa mãn với cuộc hôn nhân của mình. Bởi họ đã sống và cống hiến hết mình, không phải hối tiếc vì bất cứ điều gì. Họ cho đi mà không mong ngày được báo đáp, cứ vô tư thế nên cuộc sống càng an yên do đó mà họ chính là con giáp hạnh phúc nhất trong tình yêu.  
► Cùng bói tình yêu theo ngày tháng năm sinh để biết hai bạn có hợp nhau không

Nam Anh
 
Những con giáp có vận thế mạnh và yếu nhất tháng 8 năm 2016
Đứng đầu con giáp có vận thế mạnh nhất trong tháng 8 không ai khác chính là tuổi Tý, nhưng chia buồn với người tuổi Dần khi xếp ở vị trí “độn sổ”.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những con giáp hạnh phúc trong tình yêu hôn nhân

Sơ lược về lịch sử Tử Vi Trung Hoa nói chung và Trung Châu phái nói riêng

Bài viết sơ lược về lịch sử Tử Vi Trung Hoa và Trung Châu Phái. Mời các bạn cùng đọc!
Sơ lược về lịch sử Tử Vi Trung Hoa nói chung và Trung Châu phái nói riêng

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nguồn: TRUNG CHÂU TỬ VI ĐẨU SỐ TAM HỢP PHÁI - NGUYỄN ANH VŨ dịch.

Tương truyền, Tử Vi Đẩu Số có nguồn gốc từ Khâm Thiên Giám của triều đại nhà Đường, ở Lạc Dương, Trung Châu.

Trung Châu là tên một vùng đất cổ, tức "Trung Thổ", "Trung Nguyên". Theo nghĩa rộng, "Trung Châu" là chỉ toàn nước Trung Hoa, còn gọi là "Thần Châu", "Hoa Hạ". Nghĩa ban đầu của "Trung Châu" là chỉ vùng đất thuộc tỉnh Hà Nam ngày nay, hay thuộc lưu vực sông Hoàng Hà. Vì vùng đất này ở giữa Cửu Châu thời cổ đại nên có tên gọi này. Phần lớn thời gian trong lịch sử, vùng đất này là trung tâm văn hóa, chính trị, và Kinh Tế của Trung Quốc. Thời cổ, Lạc Dương là vùng đất trọng yếu của Trung Châu tọa lạc ở bờ nam sông Hoàng Hà, miền tây tỉnh Hà Nam, phía Bắc dựa núi Mang Sơn, phía nam đối diện Long Môn, phía tây liền với Tần Lĩnh, phía đông là vách núi Tung sơn, ở giữa là một vùng bình nguyên. Nơi này địa hình hiểm yếu, đất đai phì nhiêu, nguồn nước dồi dào; trong lịch sử, đây là vùng đất mà các binh gia phải chiếm lấy, còn là nơi lý tưởng để lập quốc đô. Bắt đầu từ năm 770 TCN, trước sau đã có chín vương triều là Đông Chu, Đông Hán, Tào Ngụy, Tây Tấn, Bắc Ngụy, Tùy, Đường, Hậu Lương, và Hậu Đường, chọn nơi này làm kinh đô, vì vậy Lạc Dương được gọi là "Cửu Triều Cố Đô".

Vào thời Đường, thiên văn học và chiêm tinh học từ phía Tây Vực du nhập vào Trung Quốc đã thúc đẩy Tinh Mệnh Học của Trung Quốc phát triển một bước lớn, từ đó lịch pháp và bát tự sinh thần trở thành nhân tố trọng yếu trong Tinh Mệnh Học. Những hoạt động sôi nổi này chủ yếu tập trung ở Lạc Dương, Trung Châu.

Trong số các Đạo kinh truyền lại từ đời Đường có Bắc Đẩu Kinh, Nam Đẩu Kinh, Phật thuyết bắc đẩu thất tinh Diên Mệnh kinh, trong đó đã có những ghi chép tường tận về phương pháp bài bố sao mệnh chủ và sao thân chủ như trong Tử Vi Đẩu Số. Theo quan niệm của đương thời, sao mệnh chủ và sao thân chủ luôn là mấu chốt quan trọng của kiếp số nhân sinh, vì vậy Đạo Giáo có "Kì an lễ đẩu", "Kì nhương khoa nghi" (một loại nghi lễ cúng sao trong đạo giáo). Trong bắc đẩu kinh còn đề cập 12 cung, "Giáp cát trợ tinh", cho đến các cách cục hung dẫn đến các loại mệnh vận tai kiếp như trong Tử Vi Đẩu Số. Điều này cho thấy 3 cuốn kinh kể trên có liên quan mật thiết đến Tử Vi Đẩu Số sau này. Nếu các bản chú giải kinh văn thời ấy còn lưu truyền cho đến ngày nay, có lẽ chúng ta sẽ biết yếu quyết của Tử Vi Đẩu Số vào thời ấy tường tận hơn. Hiện tượng chọn Tử Vi làm sao tôn quý nhất trong 14 chủ tinh có nguồn gốc từ Bắc Đẩu Kinh, Nam Đẩu Kinh, trong đó ẩn chứa khái niệm "số" trong Huyền Học, hậu thế gọi là "Tử Vi Đẩu Số" thực sự có hàm ý uyên nguyên của nó.

Sau thời Bắc Tống, các hệ thống tinh mệnh học dần dần hoàn thiệt, Ngũ Tinh Thuật (Thất Chính Tứ Dư) và Tử Bình thuật đã phát triển thành 2 lưu phái Tinh Mệnh học lớn ở Trung Quốc. Trong đó, Ngũ Tinh thuật phái Cẩm Đường là chi phái Thất Chính Tứ Dư nổi tiếng nhất thời ấy, nguồn gốc xuất phát từ Mật Tông, tổ sư là Nhất Hạnh(CN. năm 683 - 727), người đời Đường, tên tục là Trung Trục, có sách truyền lại là Hư Thục Ngũ Tinh nguyên lưu; truyền đến tăng Xuân ở núi Thanh Thành, Xuân truyền cho tăng Phổ Trừng ở Giang Tây, Trừng truyền cho Tứ Minh tăng Huệ Minh ở Chiết Giang, Minh truyền lại cho quốc sư nước Liêu là Gia Luật Sở Tài. Gia Luật là một dòng họ quý tộc nổi tiếng đời Liêu, có rất nhiều người làm quan lớn và văn nhân học sĩ. Ba quyển Tinh Mệnh Tổng Quát là do Hàn Lâm học sĩ Gia Luật Thuẩn biên soạn. Sách sử không ghi tên ông, cho nên trong Tứ Khố đề yếu nghi là sách thác danh, nhưng trong quyển đầu ghi: "Nguyên Tự" thiên Gia Luật Thuần viết vào niên hiệu Thống Hòa thứ 2 (CN, ngày 10, tháng 9 năm 984); Văn Hồ các thư mục ghi là một bộ, không phân chia số sách; Lục Trúc Đường thư mục chia làm 5 sách, nhưng không ghi số quyển; bộ sách này thấy chép trong Vĩnh Lạc đại điển và Tứ Khố toàn thư, ngoài nhân gian không có truyền bản nào khác. Ngoài ra, bộ Hư Thục Ngũ Tinh nguyên lưu còn được chùa Thiên Giới cất giữ một bản; vào niên hiệu Hồng Vũ thứ 6, truyền lại cho Thương Quý Đổng. Truyền bản ngày nay phần nhiều là Cẩm Đường Ngũ Tinh, Chỉ Kim Hư Thục Ngũ Tinh Thiên Cơ thất ngũ phú. Do đó có thể thấy phái Cầm Đường là một phân chi Tinh Tông quan trọng. Còn có thể khảo chứng thư tịch Tinh tông trong bộ sách Trương Quả tinh tông chép trong Tứ Khố toàn thư, và Tinh Mệnh tố nguyên do Trương Quả trước tác, thân thế Trương Quả có ghi chép trong Tân Đường truyện - Phương Kĩ truyện. So sánh đối chiếu với phương pháp đoán mệnh của Thất Chính Tứ Dư, người ta thấy có nhiều dấu vết diễn biến thành Tử Vi Đẩu Số ngày nay.

Trong suốt khoảng thời gian từ đời Tống đến đầu đời Nguyên, Tử Vi Đẩu Số hầu như im hơi lặng tiếng, người ta không tìm thấy một văn bản nào khác liên quan đến Tử Vi Đẩu Số. Hiện chỉ lưu giữ được 1 bản chép tay sách các cổ quyết của Tử Vi Đẩu Số đời Nguyên.

Đến đời Minh, giai đoạn cuối thời kì chấp chính của Chu Nguyên Chương, vị vua khai quốc triều Minh này đã hạ lệnh cấm dân gian không được học thiên văn, cho nên Tinh tông mệnh lí học dần dần bị chìm trong bóng tối, mãi đến niên hiệu Gia Tĩnh thứ 26 (CN năm 1547) mới giải trừ luật cấm học thiên văn.

Tinh tông mệnh lí học thoát khỏi lệnh cấm này, dần dần từng bước hoàn thiện hệ thống. Tên gọi "Tử Vi Đẩu Số" sớm nhất được thất trong Tục Đạo Tạng, do Trương Quốc Tường, Chính Nhất thiền sư đời thứ 50 của đạo giáo, tập thành vào thời Minh Thần Tông niên hiệu Vạn Lịch thứ 35 (1607), trong đó có 3 quyển Tử Vi Đẩu Số, không rõ tác giả, căn cứ nội dung của 3 quyển Tử Vi Đẩu Số này thì đúng là thuật "Thập Bát Phi Tinh". Đầu đời Thanh, trong Tử bộ thuật số của Tứ Khố toàn thư, tổng cộng ghi nhận được 50 loại thuật số, bao gồm cả "Thập Bát Phi Tinh" và "Tử Vi Đẩu Số". Cũng chính vì vậy mà một số học giả cho rằng Tử Vi Đẩu Số là hình thức cải cách của "Thập Bát Phi Tinh" được thu thập trong Tục Đạo Tạng.

Tuy triều Minh cấm dân gian học thiên văn, nhưng cơ cấu triều đình vẫn có một cơ quan chuyên trách về khí tượng và thiên văn, gọi là "Khâm Thiên Giám", cho nên môn học thuật này vẫn phát triển trong cung đình hoàng gia. Vì nhân tố hoàn cảnh thời đại, Đẩu Số bị khoác lên một bức màn che, làm tăng vẻ thần bí của nó. Tử vi Đẩu Số bắt nguồn từ ngũ tinh thuật, do xuất phát từ Khâm Thiên Giám đời Đường ở Lạc Dương, Trung Châu, nên còn gọi là "Khâm Thiên Giám Bí Cấp".

Sách Tử Vi Đẩu Số toàn thư và Tử Vi Đẩu Số toàn tập đều đề do Trần Đoàn cuối đời Ngũ Đại sáng tác, trong dân gian thì lưu truyền thuyết Lữ Đồng Tân truyền Tử Vi Đẩu Số cho Trần Hi Di. Trần Hi Di lại mang Tử Vi Đẩu Số truyền cho các đồ đệ của mình, trong suốt mấy trăm năm, Tử Vi Đẩu Số mang hình thức bí truyền từ đời này sang đời sau, đây là một trong những nguyên nhân khiến sách Tử Vi Đẩu Số xuất hiện rất hiếm hoi.

Khoảng niên hiệu Gia Tĩnh đời Minh, La Hồng Tiên, một nhà kham dư gia ở Cát Thủy, Giang Tây, khắc in và lưu truyền sách Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư. Về sau Phan Hi Doãn, hiệu là Phụ Tử Tử ở Giang Tây, biên tập sách Tử Vi Đẩu Số Toàn Tập, và hậu thích của Phan Hi Doãn là Dương Nhất Vũ ở Quan Tây, Phúc Kiến tăng bổ.

Hiện nay hai bản TVĐS này là tư liệu hàng đầu để nghiên cứu TVĐS cổ đại, nhưng đều là bản khắc vào thời kì Đồng Trị đời Thanh. Xét về nội dung thì biết được hai bản này về đại thể thì đại đồng tiểu dị, và không phải do một người biên soạn.

Vào khoảng cuối đời Minh đầu đời Thanh, toán học và Thiên Văn Học phương tây theo các giáo sữ Mục Ni Các, Thang Nhược Vọng, Nam Hoài Nhân, v.v... truyền vào Trung Quốc. Theo đó, Tinh Tông mệnh lí học và Trạch Cát thuật lại hưng khởi, càng làm cho khoa Tử Bình hưng thịnh hơn. Khoa Tử Bình đồng thời cũng hấp thu tinh hoa của Tinh Tông mệnh lí học. Việc ứng dụng các thần sát cũng xuất hiện nhiều trong khoa Tử Bình, còn khoa Tử Vi Đẩu Số thì ít người biết đến, nên càng mang sắc thần bí.

Trước năm 1950, phương thức đoán mệnh ở Đài Loang phần lớn chỉ dùng khoa Tử Bình. Sau đó trên thị trường lưu truyền cuốn Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư, do Trúc Lâm thư cục xuất bản vào năm 1958, sách đề do Hi Di Trần đoàn trước tác, ban đầu chi làm 2 tập, về sau in gộp thành một tập.

Trong khoảng thời gian từ 1947 - 1955, toàn Đài Loan không có thêm bộ TVĐS nào khác. Mãi đến giữa tháng 2, năm 1966, Phúc Châu Xuất Bản Xã mới xuất bản Thập Bát Phi Tinh Sách Thiên Tử Vi Đẩu Số toàn tập, đề tác giả là Đại Tống Hoa Sơn Hi Di Trần Đồ Nam, người tăng bổ là Bạch Ngọc Thiềm. Chủ của bộ sách cổ này là Thiết Bản Đạo Nhân Trần Nhạc Kì.

Điều đáng chú ý là, sách này ở phần phàm lệ của tác giả đề rằng:" Tử Vi Đẩu Số truyền thế, chia ra hai phái Nam Bắc, sách này thuộc Bắc Phái, là chính thống chân truyền, ứng nghiệm vô song, còn Nam Phái là bản lưu truyền trong dân gian, do hậu nhân ngụy thác tên của Hi Di, không ứng nghiệm, là ngụy thư gạt người..."

Bản sách này tự xưng thuộc Bắc phái, thực ra so với bản Thập Bát Phi Tinh Sách Thiên Tử Vi Đẩu số Toàn Tập do Tập Văn thư cục xuất bản năm 1971, nội dung hoàn toàn tương đồng, chỉ khác là không có câu kể trên.

Giữa TVĐS toàn thư và TVĐS Toàn tập có nhiều chỗ khác biệt, như sau:

(1) Mệnh Chủ:

Trong TVĐS Toàn Thư lấy địa chi cung mệnh làm chủ. Còn trong TVĐS toàn tập thì lấy địa chi năm sinh làm chủ.

(2) Tứ Hóa:
Năm CAnh và năm Nhâm phương pháp an khác nhau. Trong quyển 2 TVĐS toàn thư, phương pháp an của năm Canh là "Nhật Vũ Đồng Âm"; nhưng trong quyển 4 thì lại có mục cổ lệ, phương pháp an là "Nhật Vũ Đồng Tướng"; phương pháp an của năm Nhâm là "Lương Vi Phủ Vũ". Trong TVĐS toàn tập, phương pháp an của năm Canh là "Nhật Vũ Âm Đồng"; phương pháp an của năm nhâm là "Lương Vi Phụ Vũ".

(3) Hỏa Tinh, Linh Tinh:

Trong quyển 2 của TVĐS toàn thư, chỉ lấy địa chi của năm sinh làm chủ, không thấy nói phải phối hợp với giờ sinh hay không; nhưng theo cổ lệ ghi trong quyển 4 thì lại thấy rất rõ ràng là không phối hợp với giờ sinh (ngoài ra, bản đầu tiên còn ghi người sinh năm Tị Dậu Sửu thì Hỏa Tinh ở cung Mão, Linh Tinh ở cung Tuất); phương pháp an trong TVĐS toàn tập là lấy địa chi năm sinh phối hợp với giờ sinh.

(4) Độ sáng của sao:

Trong quyển 2 và quyển 3 của Tử Vi Đẩu Số toàn thư có liệt kê thành 1 bảng các sao ở 12 cung có 7 cấp độ sáng: miếu, vượng, đắc địa, lợi ích, bình hòa, không đắc địa, hãm. Trong TVĐS toàn tập không có bảng liệt kê này, nhưng có "Vượng cung hãm địa cát hung chi đồ" và "Thập nhị cung Lộc Quyền Khoa Kỵ miếu vượng luận"

(5) Đại Hạn:

Trong TVĐS toàn thư, khởi đại hạn là dương nam âm nữ lấy ttru7o7co1 cung mệnh 1 cung (tức là cung phụ mẫu), đi thuận; âm nam dương nữ thì từ sau cung mệnh một cung (tức cung huynh đệ), đi nghịch. Còn trong TVĐS toàn tập, khởi đại hạn từ cung mệnh rồi mới đi thuận hay đi nghịch.

(6) Lưu niên Thái Tuế Thần Sát:

Trong Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư, lưu niên thái tuế thần sát chỉ có "Tứ Phi tinh quyết Tang Hổ Khách Phù", tức là chi an năm thần sát của "lưu niên Thái Tuế thập nhị chi Thần Sát". Trong Tử Vi Đẩu Số toàn tập, lưu niên Thái Tuế thần sát thì an 11 cát thần, 47 hung sát, tổng cộng 58 thần sát.

TVĐS toàn thư và TVĐS toàn tập đều có ghi phương pháp an lưu niên tam cát thần "Thiên Đức, Nguyệt Đức, Giải Thần", phà phi thiên tam sát "Tấu Thư, Tướng Quân, Trực Phù".

(7) Thiên Không và Địa Không:

Trong TVĐS toàn thư lấy địa chi giờ sinh đi nghịch và đi thuận để an Thiên Không, Địa Kiếp. Còn TVĐS toàn tập thì lấy Thiên Không của TVĐS toàn thư gọi thành Địa Không; còn lấy địa chi của năm sinh an một sao khác trước Thiên Không một cung. Do đó có thể biết, Thiên Không và Địa Kiếp của TVĐS toàn thư chính là Địa Không Địa Kiếp của TVĐS toàn tập; còn Thiên Không của TVĐS toàn tập khác với Thiên Không của TVĐS Toàn Thư.

Có một số sao thần sát trong hai cuốn đều có cách an và có giải thích (như Thiên Mã, Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Hồng Loan, Thiên Không, Địa Kiếp, Hóa Kị, Thiên Thương, Thiên Sứ, Thiên Hình, Thiên Riêu, Thiên Khốc, Thiên Hư); có một số sao thần sát trong 2 cuốn đều có phương pháp an nhưng không có giải thích (như Thiên Hỉ, Tam Thai, Bát Tọa, Đài Phụ, Phong Cáo, Long Trì, Phượng Các, Tiệt Không, Tuần Không); có một số sao trong TVĐS toàn thư không có, nhưng trong TVĐS toàn tập có phương pháp an (như Thiên Tài, Thiên Thọ, Thiên Quan, Thiên Phúc, Ân Quang, Thiên Quý, Cô Thần, Quả Tú, Kiếp Sát, Hoa Cái, Đào Hoa Sát, Đại Hao, Phá Toái, Địa Không).

Điều đáng ngạc nhiên là, có một số sao như Giải Thần, Thiên Vu, Phỉ Liêm, Thiên Nguyệt, Âm Sát, trong TVĐS toàn thư lẫn TVĐS toàn tập đều không có, nhưng hiện nay sách TVĐS nào cũng thấy.

Hai Bộ Sách TVĐS toàn thư và TVĐS toàn tập có một điểm chung, đó là đều đề cập đến La Hồng Tiên. Theo truyền thuyết, vào đời Minh, La Hồng Tiên từng chỉnh lí Đẩu Số, nhưng về sau sự phát triển cũng không có chứng cứ rõ ràng. Hai bản TVĐS toàn thư và toàn tập lưu truyền trong dân gian vào khoảng cuối triều Minh đầu triều Thanh, nhưng thời bấy giờ dường như ít người xem trọng TVĐS, cho nên phát triển khá chậm, trong khi đó khoa Tử Bình lại rất thịnh hành. Lúc sách TVĐS được đưa vào Đạo Tạng, Đẩu Số vẫn im hơi lặng tiếng (xét về mặt văn bản). Mãi đến năm 1911, TVĐS tuyên vi của Quan Vân Chủ Nhân (thuộc Bắc Phái) mới tái hệ thống, chú giải, bình luận TVĐS một lần nữa.

Năm 1950, xuất hiện hai nhân vật khá quan trọng trong lịch sử phát triển TVĐS, đó là Thiết Bản Đạo Nhân và Hà Mậu Tùng (cao thủ Tam Hợp Phái). Tư tưởng của một phái muốn phát huy ảnh hưởng, thu nhận môn đồ, trước thư lập thuyết là điều bắt buộc, nhưng trong số môn đồ phải có người dương danh thiên hạ mới càng quan trọng, trong 2 người kể trên, Hà Mậu Tùng lão tiên sinh đúng là có đủ 2 điều kiện này. Đại đệ tử của ông là Tử Vân, nhờ trước thư lập thuyết, nói những điều tiền nhân chưa nói, ngày nay đã trở thành nhất đại tông sư trong giới nghiên cứu đẩu số.

Trong khoảng thập nhiên 50 của thế kỷ 20, TVĐS danh gia Lục Bân Triệu (cao thủ Tam Hợp Phái) đến Hương Cảng công khai trương bảng đoán mệnh, độ chính xác khá cao khiến ông nổi tiếng như cồn, ông còn mở lớp dạy, về sau những bài giảng của ông được xuất bản với tên Tử Vi Đẩu Số Giảng Nghĩa. Trong thời kì này còn có một người nổi danh trước Lục Bân Triệu là Trương Khai Quyển, biệt hiệu "Vô Muộn Trai Chủ", với cuốn Tử vi Đẩu Số mệnh lý nghiên cứu, được Vương Đình Chi xưng tụng là cao thủ Bắc Phái.

Vào thập niên 60 của thế kỷ 20, trong giới nghiên cứu Đẩu Số ở Đài Loan xuất hiện một người tên là Trương Diệu Văn, đại tông sư của "Thái Phái". Vốn là tiến sĩ kinh tế học, vào khoảng những năm 1966 trở về trước ông ở Nhật Bản dạy học, tự xưng mình là truyền nhân đời thứ 13 của Minh Đăng phái (tức Thấu Phái). Năm 1967 ông trở về Đài Loan, mang TVĐS của Thấu Phái truyền bá tại Đài Loan. Phái Đẩu Số này có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của TVĐS ở Đài Loan giai đoạn này. Các bản dịch Đẩu Số từ tiếng Nhật sang tiếng Hán cũng dần dần xuất hiện, thời kì đầu có A Bộ Thái Sơn, về sau có Bảo Lê Minh, v.v... đều là các tác gia thuộc nhóm nghiên cứu đẩu số Đông Dương.

Đương thời, có rất nhiều bản dịch TVĐS của A Bộ Thái Sơn xuất hiện ở Đài Loan, cho nên ông khá nổi tiếng. Ông là người trong thấu phái, Đẩu Số của ông đương nhiên theo phương pháp "quá tiết khí".

Tương truyền người sáng lập Thấu Phái là một phụ nữ đời Minh tên Mai Tố Hương.

Thấu phái gọi Đẩu Số là "Tử Vi chiêm tinh thuật"; phái này thần thoại hóa các "tinh diệu", lấy bối cảnh cuộc chiến tranh giữa nhà Ân và nhà Chu thời viễn cổ, mang các nhân vật trong Phong Thần diễn nghĩa gán vào các tinh diệu. Đặc điểm của Thấu phái là vấn đề "quá tiết khí" khi khởi mệnh bàn. Đến khoảng giữa thập niên 80 của thế kỉ trước, do giới nghiên cứu Đẩu Số ngày càng tăng và càng chuyên sâu hơn, đương thời, quan điểm này của Trương Diệu Văn bị khá nhiều học giả Đẩu Số công kích. Do đó Thấu Phái Đẩu Số lưu truyền đến ngày nay ko còn như trước kia, phần lớn đều bỏ không dùng nguyên tắc "quá tiết khí".

Khoảng giữa thập niên 70 của thế kỉ trước, TVĐS ở Đài Loan dần dần thịnh hành. Trong số các nhân vật xuất hiện vào thời kì này có một người đáng được đề cập, đó là Lương Tương Nhuận, ông là lão tiền bối trong giới nghiên cứu Tử Bình, các tác phẩm về TVĐS của ông cũng rất có giá trị, phần nhiều viết chung với bà Lương Thiên Lan.

Trước năm 1981, trong giới nghiên cứu Đẩu Số còn có ba người khác nổi tiếng khác là Lục Dị Công, Khổng Nhật Xương, Chung Trực Lâm.

Có thể nói trước thập niên 80 của thế kỉ 20, TVĐS giống như đang ở trong thời kì tiềm phục, cho đến năm 1982, TVĐS tân thuyên của Tuệ Tâm Trai Chủ ra đời, giới nghiên cứu Đẩu Số mới nổi cơn sóng gió mạnh kéo dài hơn 10 năm. Trong quá trình này, nhiều phương diện bí truyền ẩn tàng của TVĐS đã được đưa ra ánh sáng.

Người gây ảnh hưởng sớm nhất ở giai đoạn này có thể nói là Tuệ Tâm Trai Chủ, tên tuổi của bà có ấn tượng rất sâu trong phần lớn độc giả ở Đài Loan và Hương Cảng. Trước năm 1980, người học Đẩu Số phần nhiều tham dự các lớp học nhỏ là chính, nhưng từ lúc Tuệ Tâm Trai Chủ bắt đầu bàn luận Đẩu Số trên báo, giống như đã thổi vào Đẩu Số một luồng sinh khí mới. Tuệ Tâm Trai Chủ đã sử dụng ngôn ngữ thường ngày dễ hiểu để giải thích Đẩu Số, khiến những điều cổ truyền khó hiểu trở thành rất dung dị. Bộ sách TVĐS tân thuyên có thể nói là rất thành công, về sau bà viết thêm nhiều cuốn khác cũng đều thành công. Sự thành công của bộ sách TVĐS tân thuyên không phải là ngẫu nhiên, nó đã làm cho độc giả thời ấy có thể tự lập mệnh bàn và tự mình phân tích từng cung. Nhưng do bà dùng cách giải đoán từng cung cho dễ hiểu, nên cũng khiến người đọc dễ hiểu lầm về kĩ thuật và quy tắc luận đoán Đẩu Số. Tóm lại, đối tượng của bà là đại chúng phổ thông, vì vậy có mặt hạn chế, không đi sâu vào sự tinh tế của Đẩu Số, nhưng cũng không phải là không có tuyệt kĩ.

Từ lúc Đẩu Số bắt đầu được xem trọng, nhiều tác phẩm Đẩu Số ra đời, thuyết của các nhà trăm hoa đua nở. Một số thì giảng giải tâm pháp cổ truyền, một số thì chủ trương Đẩu Số và Tử Bình phối hợp tham chiếu, một số thì thần bí hóa, mang Đẩu số gộp chung với tôn giáo, một số khác thì tuyên bố mình được truyền bí pháp chép tay của tiên sư, v.v... Trung số này đáng chú ý có những người sau đây:

- Ngô Tình, đáng tiếc sách của ông này hầu như đã tuyệt bản, rất khó mua trên thị trường. Ông phê bình Đẩu Số cổ truyền rất nghiêm túc. Một số đặc điểm trong sách của ông như: Phần lớn các sao nhỏ trong Đẩu Số ông đều không dùng tới, Thiên Thương và Thiên Sứ theo thuyết cổ truyền có thể đoán sinh tử, ông cho rằng chỉ hù dọa người ta; thuyết "miếu, vượng, lợi, hãm" cũng không dùng, v.v... Thuyết của ông toàn bộ trọng điểm nằm ở sự biến hóa của tứ hóa, cho rằng Hóa Lộc và Hóa Kị mới là nhân tốt quyết định. Đồng thời ông còn nhấn mạnh mình có "bí kíp ngàn năm bất truyền". Thuyết của ông ngày nay ảnh hưởng mạnh trong lưu phái Phi Tinh trong Bắc Phái TVĐS.

- Sở Hoàng, phải kể là người đầu tiên công khai phương pháp bày bố tinh bàn trên bàn tay, trước ông, các sách Đẩu Số phần lớn đều chỉ căn cứ vào "cổ quyết". Ông trước thư lập thuyết, chủ trương Đẩu Số và Tử Bình phối hợp tham chiếu, trong Đẩu Số còn ứng dụng một số nguyên lí đoán mệnh của Tử Bình. Trong thuyết tương sinh tương khắc, tác giả còn sáng tạo ra lí luận "Lạp Hoàn", dùng để giải thích vận tác giữa các tinh diệu với phép tắc bát tự, cũng được cho là thành một pháo.

- Chính Huyền Sơn Nhân, là người sáng lập ra thuyết "thiên địa nhân TVĐS", nói Đẩu Số là do "thần tiên" dạy cho ông. Chính Huyền Sơn Nhân viết rất nhiều sách Đẩu Số, trong đó nói nhiều về quá trình và tinh thần cầu đạo của ông. Chính Huyền Sơn Nhân mang các sao trong TVĐS liên hệ với chư vị tiên nhân ở trên trời, thần bí hóa TVĐS đến cực độ. Đồng thời, chủ trương "Cung can phi xuất tiên thiên tứ hóa tinh".

- Phan Tử Ngư trương bản đoán mệnh khá sớm, học trò rất đông, trước tác cũng không ít, phải kể là rất thịnh hành một thời. Đặc sắc trong các trước tác Đẩu Số của ông là lời đoán mệnh phán như đinh đóng cột.

- Tử Vân là học trò của Hà Mậu Tùng, một cao thủ Tử Vi Đẩu Số thời kì đầu. Năm 1987, ông xuất bản cuốn Đẩu Số dữ nhân sinh, làm chấn động giới nghiên cứu Đẩu Số ở Đài Loan và Hương Cảng. Trong cuốn Đẩu Số dữ nhân sinh, Tử Vân tự thuật quá trình nghiên cứu Đẩu Số của mình, và thuyết minh quan điểm của ông về tính chất và ứng dụng của 12 cung. Trong thời gian này, sách Đẩu số liên tục được xuất bản với số lượng lớn, nhưng phần nhiều chẳng có cống hiến gì. Riêng sách của Tử Vân tiên sinh được cho là đã bổ sung những chỗ trống trong Đẩu số cổ truyền. Ngày nay trong giới nghiên cứu Đẩu Số, người được tôn là bá chủ về phương diện kĩ thuật luận đoán chính là Tử Vân tiên sinh. Nhất là vào năm 1990, trong Đẩu số luận hôn nhân, Tử Vân tiên sinh đã đưa ra thuyết "Thái Tuế nhập quái pháp" và nguyên tắc "Tương khê", đã giải quyết vấn đề kĩ thuật mà cả trăm năm nay không cách nào giải thích, nhờ vậy cũng đã giải quyết chỗ khiếm khuyết trong bộ Hiện đại Tử Vi của nhóm Liễu Vô Cư Sĩ. Thuyết này đã biết Đẩu Số thành một phương pháp chỉ ra xu thế và phương hướng của mệnh vận; từ đó Đẩu Số có cách để phân biệt những người sinh ra cùng một giờ có mệnh vận khác nhau. Đây đúng là một bước đột phá trong lịch sử phát triển TVĐS.

Vai trò của Tử Vân tiên sinh rất quan trọng trong hệ phái Tam Hợp. Về cơ bản, phương pháp luận Đẩu Số của ông cũng tương tự như Vương Đình Chi, lấy truyền thống làm chính tông, làm khung giá cho phép luận đoán, lấy bối cảnh thực tế để diễn giải, tổng hợp cổ kim, và rất chú trọng phương diện tâm lí, sinh lí, nhân tính để ứng dụng trong luận đoán.

Trước năm 1989, Tử Vân đã cho ra đời bộ Đẩu Số luận danh nhân, các sách này đã gây sự chú ý trong giới nghiên cứu Đẩu Số, va đã có uy danh. Năm 1990, trong lúc thị trường chứng khoán của Đài Loan đang từ thịnh chuyển thành suy, phong trào đầu tư vào cổ phiếu bị giảm mạnh, Tử Vân lại hoàn thành cuốn Đẩu Số luận cầu tài, sách này đưa ra phương pháp luận đoán mới, bổ sung phép đoán của tiền nhân, cho rằng, hễ tiền có được nhờ đầu cơ hay đầu tư, cần phải xem cung phúc đức. Tức là, tiền kiếm được không do sức lực hay trí lực của bản thân thì không xem ở cung tài bạch. Trong cuốn đẩu số luận hôn nhân, về phương diện lí luận và thực tế luận đoán của Đẩu Số, đều có sự phát triển mang tính đột phá.

Ngày nay, địa vị của Tử Vân trong giới nghiên cứu Đẩu Số ở Đài Loan được xếp ngang hàng với Vương Đình Chi của Trung Châu Phái ở Hương Cảng. Học trò của ông cũng rất đông, trong số đó nổi tiếng nhất là Liễu Vô Cư Sĩ và Tuệ Canh. Ngày nay ở Đài Loan tên tuổi Liễu Vô Cư Sĩ cũng khá lớn.

Trong số những người còn lại phải kể đến Khôn Nguyên và Vu Ngoan Dã Nông, thực ra đây chỉ là một người, "Vu Ngoan Dã Nông" là biệt danh mà sau này ông ít dùng đến. Khôn Nguyên có nhiều bút danh như Hoàn Hữu Thủy Ngân, Lam Thần, Trịnh Giả Học. Trước tác Tử Vi Đẩu Số của ông có bộ Tử Vi Đường Áo khá nổi tiếng.

Kế đến là Phál Quảng Cư Sĩ và Nam Bắc Sơn Nhân, trong hai người thì Pháp Quảng Cư Sĩ trước tác nhiều hơn, ông có một bộ tùng thuy Truy Tung Chính Thống Đẩu Số, khá thịnh hành vào thời điểm đó, hơn nữa còn có tính liên tục khá mạnh, kéo dài cho đến ngày nay. Còn Nam Bắc Sơn Nhân, tên thật là Đồng Bành Niên, đương thời lấy danh nghĩa "Chính Tông Bác Phải TVĐS" để đoán mệnh, tác phẩm xuất bản không nhiều, chỉ có một quyển Chính Tông TVĐS toàn thư mà thôi.

Bắt đầu từ năm 1984, TVĐS bước vào thời đại mới, có thể quy công cho một nhóm người, trong số đó có 2 nhân vật trung tâm là Hoàng Trung Lâm, và Chu Vi. Nhờ nỗ lực của họ, Đẩu Số hiện đại hóa dần dần rõ nét, lí thuyết mệnh lí mang tính khoa học bắt đầu được xây dựng. Hoàng Trung Lâm có bút danh là Liễu Vô Cư Sĩ, vốn là một kí giả, về sau ông nghiên cứu mệnh lí và bắt đầu viết sách đẩu số vào năm 1981. Năm 1984 ông viết cuốn Tử Vi luận mệnh, làm cho ông có tiếng nói trong giới nghiên cứu đẩu số. Cuốn sách này khá thành công, sau đó trong khoảng thời gian từ năm 1985 đến 1986 ông đã hoàn thành bộ sách quan trọng 7 quyển là Hiện đại tử vi, đây là bước đầu tiên quan trọng trong công cuộc hiện đại hóa Đẩu Số.

Nội dung cuốn Tử Vi luận mệnh chủ yếu là phê phán các tác phẩm của các đại sư thời đó, và từ những luận chứng của mình, tác giả đã đưa ra quan niệm và kĩ thuật luận mệnh mới. Đương nhiên lúc đó các đại sư cũng phản kích dữ dội. Sau cuốn TV mệnh luận, LVCS trở thành nhân vật ưu tú mới trong giới nghiên cứu Đẩu Số. Nhờ phương pháp luận và mô thức khảo cứu hiện đại, Liễu Vô Cư Sĩ còn được coi là nhân vật trí thức phát biểu về mệnh lý truyền thống.

Bộ hiện đại tử vi ra đời từ năm 1985 đến 1986, tổng cộng gồm 7 tập. Về tác giả, ngoài Liễu Vô Cư Sĩ, còn có giáo sư Hứa Hưng Trí, thuật sĩ Tuệ Canh, Quách tiên sinh, Tượng Sơn Cư Sĩ, Phi Vân Cư Sĩ,...

Trong bộ hiện đại Tử Vi (HĐTV) có một phần gọi là "Tử Vi quảng trường", tức là phần đăng thư do độc giả gửi đến và giải đáp của các tác giả, đây cũng là một sáng kiến, và cũng là nhân tố khiến bộ sách này có sức ảnh hưởng khá lớn vào lúc đó. Bộ HĐTV mỗi tập đều có đặc sắc, nhất là tập 7, có nhiều quan niệm đáng chú ý. Điều đáng được nhắc đến là nỗ lực hiện đại hóa Đẩu Số của bộ sách này. Trong đó đưa ra quan điểm cần nhấn mạnh tính thời đại trong việc tìm hiểu bản chất của Đẩu Số. Một số vấn đề khác còn đợi sự nỗ lực của hậu học. Phương hướng của phái Hiện Đại là sử dụng logic để khảo nghiệm mệnh lý, từ đó xác nhận khả năng và chỗ hạn chế của đẩu số, đây là bước tiến lớn trong việc hiện đại hóa đẩu số. Vì trước đó, quan niệm của người luận mệnh đẩu số là: bất kể sự tình nào cũng đều có thể dựa vào mệnh bàn mà đoán ra, dù mệnh tạo có quan hệ với người khác hay không. Nhưng trong bộ HĐTV lại phủ định nguyên tắc bành trướng này, chủ trương rằng, đối với những sự vật mà bản thân mình có thể quyết định được, Đẩu Số mới có thể luận đoán, nếu mệnh tạo không có quan hệ gì với người khác thì không cách nào luận đoán, trừ phi ở trong mối quan hệ với họ. Đây là thành tựu lớn của bộ Hiện Đại Tử Vi, tuy chỉ hoàn thành một nửa trước. Về nửa sau liên quan đến "điều kiện ở trong mối quan hệ" thì phải đợi sư phụ của ông là Tử Vân giảng giải.

Vào tháng 3 năm 1985, trong giới nghiên cứu Đẩu Số xảy ra một sự kiện lớn, đó là sự xuất hiện của bộ sách "thiên cổ bí cấp" gọi là Hoa Sơn Khâm Thiên Tứ Hóa Tử Vi Đẩu Số phi tinh bí nghi, là bí truyền của Tố Tâm Lão Nhân truyền lại cho Sái Minh Hoành. Sự xuất hiện của nó tạo thành một trào lưu cực lớn về sau, ban đầu được rao bán trên tạp chí Tinh tướng với giá một vạn năm ngàn nguyên (đơn vị tiền tệ của Đài Loan), sau giá nâng lên tới ba trăm vạn nguyên.

Phi Tinh phái là một chi của Bắc phái TVĐS cũng nổi rộ lên trong thời kì này, hiện đang rất thịnh hành ở Đài Loan và Trung Quốc lục địa. Đại biểu nổi tiếng hiện nay là Lương Nhược Du mà sự phụ của Lương Nhược Du là Chu Thanh Hà, một cao thủ tiền bối của Phi Tinh Phái, nội dung TVĐS của phái này sẽ được trình bày đầy đủ trong Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tứ Hóa Phái của cùng tác giả Nguyễn Anh Vũ.

Có nhiều người cho rằng TVĐS Phi Tinh phái là do người cận đại phát minh. Sở dĩ có sự hiểu lầm này, là do họ cứ nghĩ rằng TVĐS phi tinh bí nghi của Sái Minh Hoành là căn nguyên Phi Tinh phái. Rất nhiều người cho rằng TVĐS của Phi Tinh phái là do Sái Minh Hoành tự sáng chế ra.

Thực ra, trước khi TVĐS phi tinh bí nghi lưu truyền rộng rãi, lí luận TVĐS của Phi Tinh phái đã xuất hiện từ lâu. Vả lại, Phi Tinh Phái cũng có nhiều phân chi, Sái Minh Hoành cũng là một chi phái trong số đó, nhưng là phái được nhiều người biết đến vào thời kì này.

Ngoại trừ các bậc tiền bối như Ông Phúc Dụ, Phương Ngoại Chân, Từ Tăng Sinh, và Lương Nhược Vọng (học trò Sái Minh Hoành)... còn có một số người ít ai biết đến ở Trung Quốc lục địa, nhưng cũng là cao thủ truyền dạy theo truyền thống Bắc Phái Phi Tinh. Ngay như ở Đài Loan, chỉ nói số đồng môn cùng lứa với Sái Minh Hoành, ít nhất cũng có năm người. Hơn nữa, Sái Minh Hoành trong quyển 1 của Khâm Thiên tứ hóa TVĐS phi tinh bí nghi cũng có nói, "bí nghi" là do ông tập đại thành truyền thống Phi Tinh TVĐS. Cho nên, phải nói "bí nghi" là sở học của ông được truyền thừa mới đúng. Ví dụ như "Phi Tinh chuyển yết quan quyết" trong Khâm Thiên tứ hóa TVĐS phi tinh bí nghi (Phan Tử Ngư gọi là "Phi Yến Quỳnh Lâm", ông được bí truyền từ TQ lục địa) đã lưu truyền rộng rãi trước khi "bí nghi" xuất hiện, rất nhiều phái xem nó là "bí bảo".

Tử Vi đẩu số của bắc phái Phi Tinh (hay còn gọi là Tứ Hóa Phái) có nhiều truyền thừa khác nhau, lí luận của các chi hệ đều đại đồng tiểu dị. Đương nhiên, trong đó cũng có xuất hiện tư duy mới. Như "Đồng bộ đoán quyết" của Phương Ngoại Nhân chính là phát hiện độc đáo, nhưng nếu nghiên cứu tỉ mỉ nội chung của nó, chúng ta sẽ phát hiện kết luận của Phương Ngoại Nhân không tách rời lí luận cơ bản của Bắc Phái Phi Tinh, Phương Ngoại Nhân cũng nói thẳng, "Đồng bộ đoán quyết" chỉ là suy luận ra từ nền tảng truyền thống, chứ không phải là phát minh nguyên lý gì.

Tử Vi Đẩu Số đang trong giai đoạn hưng khởi, sự xuất hiện một nguồn tư liệu mới đã gây thêm hứng thú cho giới nghiên cứu Đẩu Số. Truyền thống Bắc Phái Phi Tinh đặc biệt ở chỗ vận dụng tứ hóa khác với truyền thống của Tam Hợp Phái. Phái này cho rằng sau khi lập xong mệnh bàn tiên thiên, trong 12 cung đều có thiên can riêng, thiên can của cung mệnh ngoại trừ dùng để tương phối với địa chi (nạp âm) để tính toàn bày bố 14 chính tinh, nó còn được dùng để bày ra một bộ tứ hóa, như vậy mệnh bàn tiên thiên sẽ thêm một tầng biến hóa, việc luận đoán cũng theo đó mà thâm sâu hơn. Càng tinh vi hơn là, không phải chỉ có cung mệnh phi xuất một bộ tứ hóa, mà 11 cung còn lại cũng vậy.

Trước tác của các cao thủ nổi tiếng trong Bắc Phái Phi Tinh gồm có Sái Minh Hoành, Tử Dương, Từ Tăng Sinh, Phương Ngoại Nhân, Khuyến Học Trai Chủ, Lương Nhược Du,v.v... đều có cống hiến đã kể. Phương pháp luận mệnh của họ khá phức tạp, nếu có điều kiện các bạn nên tìm hiểu trong Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tứ Hóa Phái của cùng tác giả Nguyễn Anh Vũ.

Cũng trong khoảng thời gian này Vương Đình Chi xuất hiện và tự xưng mình là truyền nhân của phái Trung Châu, công nhận Tử vi Đẩu Số Giảng Nghĩa của Lục Bân Triệu là truyền bản của Khâm Thiên Giám Bí Cấp, và tiết lộ nội dung bí truyền Tử Vi Tinh Quyết của môn phái Trung Châu. Ảnh hưởng của Vương Đình Chi khá lớn ở Hương Cảng, về sau lan rộng qua Đài Loan, Singapore, Bắc Mĩ, v.v... kéo dài cho đến ngày nay. Phương pháp luận mệnh của ông là nội dung chủ yếu của bộ Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái mà chúng tôi biên soạn để giới thiệu đến bạn đọc ở đây.

Nhờ sự thành công của bộ Hiện Đại Tử Vi, một số tác giả cũng bắt đầu viết sách, như Đường Sơn Dật Sĩ, Tuệ Canh, v.v... Trong số đó, các công trình của Tuệ Canh Thuật Sĩ là có ảnh hưởng nhất. Tác phẩm của Tuệ Canh là Tử Vi Đẩu Số khai vận toàn tập, trong đó quan niệm và ứng dụng của 12 cung, cho tới tính chất các tinh diệu đều được ông giảng giải rất tinh tế. Đây là sự kiện xảy ra sau năm 1988.

Cũng trong khoảng thời gian này, có một số học giả mới cũng trước thư lập thuyết, trong đó cũng có vài người đáng chú ý, như Ngô Đông Tiều trong Đẩu số tân quan niệm, Trần Thế Hưnh trong Tử Vi Đẩu Số đạo luận, Phúc Canh trong Đẩu Số tâm lí học, Tượng Sơn Cư Sĩ trong Thiên Tinh Đẩu Số bí cấp và Thiên Tinh Đẩu Số chân cơ điển phạm. Nhưng sách này phần lớn thảo luận về đặc tính cơ bản của tinh diệu và các cách cục, cũng có thành tựu.

Trong thời gian này, Liễu Vô Cư Sĩ mang Tử Vi Đẩu Số tuyên vi và Tử Vi Đẩu Số toàn tập ra chú giải; sau đó ông còn đem hết tâm lực ra để hệ thống hóa phương pháp Đẩu Số của mình, lúc này Liễu Vô Cư Sĩ đã dần dần có những quan điểm khác với sư phụ của mình là Tử Vân. Ông đề xuất một số điều, ví dụ như: Bỏ Lộc Tồn, Thiên Mã và các sao cấp 2; ông còn đề xuất: phế bỏ Hóa Quyền và Hóa Khoa, tứ hóa chỉ còn Hóa Lộc và Hóa Kị; ngoài ra còn có một số nguyên tác "khoa học thích dụng tính".

Lúc này TVĐS lộ rõ sức quyến rũ của nó. Ngày nay, có thể nói TVĐS chia thành hai dòng chính:

- Một là, chủ yếu lấy tinh diệu để luận đoán, gọi chung là Tam Hợp Phái (hay Nam Phái). Trong số các chi lưu thuộc Tam Hợp Phái, thì phái Trung Châu Vương Đình Chi là có hệ thống hoàn bị nhất.
- Hai là, chủ yếu lấy "tứ hóa" để luận đoán, gọi chung là Tứ Hóa Phái (hay Bắc Phái). Trong số các chi lưu thuộc hệ phái Tứ Hóa, thì Khâm Thiên Môn là có hệ thống nghiêm cẩn nhất.

Riêng tại Trung Hoa lục địa, trào lưu nghiên cứu thuật số nói chung, TVĐS nói riêng, cũng khá rầm rộ. Các lưu phái Tử Vi Đẩu Số ở đây phần lớn đều có khuynh hướng tổn hợp hai dòng chủ lưu kể trên. Đáng kể nhất có:

- Tử Vi phái do Vũ Quảng Thịnh sáng lập, chủi trương dung hợp tinh hoa của các phái hệ, với nguyên tắc "Đơn giản và trực tiếp thâm nhập chủ đề". Lí luận đẩu số của ông rất có giá trị tham khảo.

- "Kì Môn Phái", đại biểu hiện nay là Đại Đức Sơn Nhân với bộ Tử Vi Đẩu Số tinh thành, v.v... Ông chủ trương lấy các nguyên tắc của bản môn làm nền tảng, và cũng dung hợp tinh hoa của các phái để luận đoán.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sơ lược về lịch sử Tử Vi Trung Hoa nói chung và Trung Châu phái nói riêng

Tướng đường chỉ tay: Tâm tính – Tâm đạo – Tâm huyết –

Đường tâm tính nằm trên đường trí tuệ - Trí đạo và dưới các Gò Sao Mộc, Sao Thổ, Mặt Trời. Đường tâm tính chỉ ham muốn, khuếch đại, bành trướng, tình cảm và nhân cách, tính tình của con người. Tuy vậy những thông tin trên vẫn còn bị ảnh hưởng ít nhiề
Tướng đường chỉ tay: Tâm tính – Tâm đạo – Tâm huyết –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tướng đường chỉ tay: Tâm tính – Tâm đạo – Tâm huyết –
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd