Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

Phòng khách hợp phong thủy –

Phòng khách là nơi tiếp đón khách khứa và diễn ra nhiều hoạt động lớn nhỏ hàng ngày của cả gia đình bạn. Vị trí và cách bài trí căn phòng này rất quan trọng bởi bên cạnh việc thể hiện cá tính của gia chủ, nó còn giúp xua đuổi điều dữ, đón điều may mắ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

n đến với gia đình.

av

Để bố trí phòng khách hợp lý, chủ nhà nên xem xét kĩ lưỡng đến vị trí, hình dạng, ánh sáng, trần nhà, sàn nhà, nội thất, kết cấu của căn phòng. Những yếu tố này nếu phù hợp với phong thủy, sẽ giúp gia đình hòa thuận, có lợi cho sự nghiệp cũng như các mối quan hệ xã hội của cả gia đình.

Kết cấu bên trong và ngoài phòng khách

Theo thuật phong thủy, loại phòng khách có hình vuông hoặc chữ nhật được xem là lý tưởng nhất, bởi sự vuông vức này tượng trưng cho sự vững vàng, chắc chắn và may mắn. Cũng theo thuật này, phòng khách không vuông vức cũng dễ đem đến tâm lý không yên ổn cho gia chủ; phòng khách dài và hẹp dễ biểu tượng cho sự thiếu rộng lượng; phòng khách dạng chữ L không chỉ khó để bố trí nội thất mà ngụ ý chỉ sự hạn hẹp.

Vị trí

Vị trí phòng khách tốt nhất nên nằm ở ngay sát cửa chính dẫn vào ngôi nhà. Từ thời cổ đại, người xưa đã áp dụng nguyên tắc xây dựng phòng khách đằng trước, phòng ngủ đằng sau nhằm thu hút sinh khí từ cửa chính vào, tạo nên bầu không khí trong lành cho ngôi nhà. Ngày nay, đa số các phòng khách đều được thiết kế theo kiểu cửa chính liền vói phòng khách. Đây là cách bố trí đúng.

Nên bố trí phòng khách ở vị trí trung tâm bởi đây là không gian chung, là nơi hội tụ các chức năng của cả ngôi nhà. Ánh sáng ở đây phải đầy đủ và nhiều hơn các phòng khác. Lối đi cũng cần tránh đi xuyên qua phòng theo hướng dọc và ngang.

Đối với những ngôi nhà phải đi qua một hành lang mới đến được phòng khách, gia chủ nên đảm bảo hành lang phải đủ rộng (từ 1,5 mét trở lên), sạch sẽ và đầy đủ ánh sáng, để không làm trở ngại đến sinh khí của phòng khách. Tuyệt đối tránh thiết kế bếp hoặc nhà vệ sinh ngay sau cửa chính, bởi điều này sẽ phá vỡ bố cục “tàng phong tụ khí”…

Bảo đảm sự ngăn nắp, sạch sẽ

Sự lộn xộn sẽ cản trở và phá vỡ sự lưu thông của khí. Điều này sẽ phá hỏng không gian sống thoải mái, an toàn của bạn. Việc thu dọn nên được thực hiện một cách kiên nhẫn, ít nhất mỗi tuần một lần.

Một phòng khách lưu giữ năng lượng tích cực của sự tươi vui và tiêu trừ năng lượng tiêu cực của bề bộn sẽ chào đón may mắn và thịnh vượng vào nhà bạn.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phòng khách hợp phong thủy –

Khám phá giấc ngủ của 12 chòm sao

Giấc ngủ của 12 chòm sao thể hiện cá tính rất riêng của mỗi người. Cùng khám phá nhé!
Khám phá giấc ngủ của 12 chòm sao

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Kham pha giac ngu cua 12 chom sao hinh anh
 
Bạch Dương

Bạch Dương là những kẻ năng động và thường có xu hướng khó ngủ. Những giấc mơ của họ thường sôi nổi, sống động và ngập tràn màu sắc. Bạch Dương thường cảm thấy khó khăn để tìm được sự tĩnh tại khi ngả người xuống gối mỗi đêm, thậm chí họ phớt lờ lợi ích của những giấc ngủ ngon. Tư thế nằm nghiêng là một gợi ý đáng thử để cải thiện giấc ngủ cho Bạch Dương.
 
Kim Ngưu
Giấc ngủ của Kim Ngưu dễ bị chập chờn nếu họ không được thoải mái. Kim Ngưu rất nhạy cảm với môi trường xung quanh. Họ có xu hướng ngủ lâu và rất trân trọng giấc ngủ. Kim Ngưu hay mơ những giấc mơ nhiều ý nghĩa và ngủ ngon nhất chính tại nơi làm việc.   Song Tử

Song Tử là những con nghiện công việc. Họ có thể sống sót dù có ngủ rất ít, tuy vậy họ cũng vẫn sẽ nhanh chóng phải lãnh hậu quả về sức khỏe. Tâm trí của Song Tử thường luôn trong tình trạng chạy đua với thời gian và làm việc quyết liệt, bởi thế giấc ngủ thường khó đến. Nhiều Song Tử thậm chí coi giấc ngủ là bất tiện và chứng khó ngủ cho họ thêm thời gian quý báu để làm việc.
 
Cự Giải

Cự Giải dễ có những cơn ngủ ngắt quãng, chập chờn bởi họ rất thường mơ thấy ác mộng về đêm. Họ có khi phí phạm thời gian ngủ của mình bằng cách giở đi giở lại những rắc rối trước khi ngả lưng. Bởi vậy, Cự Giải thường lơ mơ và ít khi nào hoàn toàn tập trung.
 
Sư Tử

Đa phần Sư Tử là những kẻ cứ đặt lưng là ngủ và có thể thiếp đi rất dễ dàng, trừ khi họ bị xì-trét. Họ trân trọng những giấc ngủ và rất cầu kỳ trong việc chuẩn bị chiếc giường sao cho sang trọng và hỗ trợ tốt nhất cho giấc ngủ ngon. Sư Tử thường mơ những giấc mơ ý nghĩa, thậm chí có tác dụng dự báo.
 
Xử Nữ

Xử Nữ không thể ngủ khi bị xì-trét hay khi môi trường quanh họ quá bất tiện. Thói quen suy nghĩ quá nhiều và tiêu cực của Xử Nữ khiến họ khó mà bình tâm trước khi ngủ. Xử Nữ sẽ hoạt động tốt hơn nếu họ tạo được đồng hồ sinh học cho giấc ngủ.

Thiên Bình

Thiên Bình thường trở mình quá nhiều khi ngủ. Họ có thể sống sót dù ngủ ít trong một thời gian ngắn, sau đó thì ngủ bù cả ngày. Một giấc ngủ đủ với những quãng ngủ hợp lý là dấu hiệu tốt cho thấy sự cân bằng trong nội tâm của Thiên Bình.
 
Thần Nông

Giấc ngủ của Thần Nông được quyết định bởi tâm trạng của họ. Một Thần Nông đang hăng hái có thể ngủ rất ít, họ sẽ ngủ muộn hết mức có thể một khi sự tập trung được đẩy lên cao. Ngược lại, một Thần Nông khi không hạnh phúc sẽ siêu nhạy cảm và cần ngủ rất nhiều.
 
Nhân Mã

Nhân Mã có thể ngủ rất ít khi bận rộn song họ lại có xu hướng mệt mỏi suốt cả ngày hôm sau. Họ có thể đẩy lùi cơn buồn ngủ khi hăng hái và hưng phấn về điều gì đó mỗi đêm. Giấc mơ của Nhân Mã thường chứa đựng nhiều trăn trở và suy nghĩ.
 
Ma Kết

Ma kết rất trân trọng giấc ngủ và thích ngủ nướng, đó thậm chí còn là một trong những sở thích lớn nhất của Ma Kết. Một Ma Kết khi căng thẳng có thể mắc chứng khó ngủ - dấu hiệu của một nội tâm kiệt quệ.

Bảo Bình

Bảo Bình hay gặp chứng khó ngủ, hay trăn trở và không thoải mái trong giấc ngủ. Việc suy nghĩ nhiều và phức tạp khiến Bảo Bình khó tĩnh tâm để ngủ. Ngoài ra, thói quen sử dụng thiết bị công nghệ và đọc sách trước giờ ngủ cũng khiến Bảo Bình ngủ ít hơn.

Song Ngư

Giấc ngủ giống như chất gây nghiện đối với Song Ngư. Trong tất cả các Cung Hoàng đạo, Song Ngư chính là chòm sao vô địch ngủ nhiều. Bản chất dễ tiếp thu, lĩnh hội của Song Ngư khiến họ gần như tiêu hao hết năng lượng cho mọi hoạt động trong ngày, giấc ngủ chính là phương pháp hữu hiệu để Song Ngư tái tạo năng lượng. Các Song Ngư thường xuyên ở trạng thái mơ màng, còn những giấc mơ của họ cũng rất phong phú và sống động.

► Xem thêm: Mật ngữ 12 chòm sao, Horoscope được cập nhật mới nhất

Thùy Dương ( Theo Astrolocherry)


 
 
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Khám phá giấc ngủ của 12 chòm sao

Truy tìm nguồn gốc loài chó ma có ánh mắt giết người

Chó ma – loài động vật kì bí, có ánh mắt giết người đến nay vẫn chỉ tồn tại trong những câu truyện dân gian hay lời kể truyền tai nhau nghe.
Truy tìm nguồn gốc loài chó ma có ánh mắt giết người

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


► Đọc thêm: Chuyện tâm linh huyền bí bốn phương có thật

Truy tim nguon goc loai cho co anh mat giet nguoi hinh anh
 
Chó ma, hay còn gọi là “hung tinh” bởi nó báo hiệu sự chết chóc, có xuất phát từ nước Anh. Theo mô tả, đó là giống to hơn chó rất nhiều, lông màu đen xù xì, có răng nanh sắc nhọn, đôi mắt phát sáng như lân tinh. Nếu nhìn thẳng vào đôi mắt ấy, cái chết sẽ tới gõ cửa nạn nhân trong vòng 1 năm.    Ở Anh, câu chuyện về sinh vật này phổ biến nhiều đến độ, mỗi vùng lại có những biến thể riêng, cách lý giải khác nhau về chúng.   Vùng Dartmoor, mọi người đồn đại, chó ma là hồn ma của tên điền chủ ác độc Cabell, người đã bán linh hồn mình cho quỷ dữ để được giàu có. Khi gã chết đi, vì mong muốn không ai đụng vào gia tài của mình nên đã hóa thành bóng ma chó đen để bảo vệ của cải.   Theo lời kể của dân quanh vùng Suffolk, một điều kỳ lạ đã xảy ra vào 4/8/1577. Trong lúc những giáo dân của Bungay đang tập trung tại nhà thờ, một cơn bão bỗng ập đến bất ngờ. Bầu trời đen kịt, từ giữa cơn bão, một con chó đen đột ngột xuất hiện. Nó chạy về phía nhà thờ khiến cho tất cả giáo dân hoảng loạn và bỏ chạy. Nó lao vào hai người đang quỳ cầu nguyện, giết chết họ gần như ngay lập tức và làm cho một người khác co quắp vì lửa thiêu.   Một truyền thuyết khác xuất hiện ở nhà tù Newgate vào năm 1596, khi một người bị quy là phù thủy đã bị tù nhân giết chết và ăn thịt. Từ đó, nhà tù này luôn bị ám ảnh bởi một con chó khổng lồ, được cho là hồn ma báo oán của người bị quy phù thủy kia. Bất cứ tù nhân nào cố gắng chạy trốn khỏi đây đều chết một cách bí ẩn.   Những bóng ma chó đen được đồn đại rằng chúng hay viếng thăm những nơi rất đặc biệt như pháp trường hoặc những khu nghĩa địa. Người ta thường nhìn nó như một linh hồn trừng phạt những tội ác. Những câu chuyện về con chó đen có đôi mắt rực lửa lan truyền khắp mọi nơi, trở thành chủ đề bàn tán của rất nhiều người. Nhiều người khẳng định họ đã bắt gặp chó ma, nhưng không có bằng chứng xác đáng nào chứng minh lời nói đó là thật.   Conan Doyle đã dựa trên câu chuyện này để tạo ra một trong những cuốn tiểu thuyết ăn khách nhất thời bấy giờ: “Con chó săn của dòng họ Baskervilles” (1902). Hay chó ma cũng xuất hiện trong bộ truyện đình đám Harry Potter của J.K Rolling.   ST  
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Truy tìm nguồn gốc loài chó ma có ánh mắt giết người

SAO LỰC SĨ TRONG TỬ VI

lực sĩ (Hỏa) *** 1. Ý nghĩa cơ thể và tướng mạo: Lực Sĩ ở Mệnh là người có sức vóc, khỏe mạnh, ăn uống...
SAO LỰC SĨ TRONG TỬ VI

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

lực sĩ (Hỏa) 



***

1. Ý nghĩa cơ thể và tướng mạo: Lực Sĩ ở Mệnh là người có sức vóc, khỏe mạnh, ăn uống khỏe, thân hình vạm vỡ.

2. Ý nghĩa tính tình:             - nhanh nhẹn, can đảm             - tính tình mạnh bạo             - khả năng ăn nhậu vượt bậc Nếu đi với Thiên Trù thì là người ăn khỏe, thích ăn uống, tiệc tùng. Nếu thêm Hóa Lộc thì càng sành về ăn uống, thích ăn, ăn ngon, ăn nhiều, tìm lạc thú trong sự ăn uống.             - có uy quyền, uy lực, hay giúp đỡ người khác

3. Ý nghĩa của lực sĩ và một số sao khác:
Lực, Mã: chỉ tài năng tổ chức và sức khỏe vật chất, bộ sao cần thiết của võ tướng, vừa có dũng, vừa có mưu.
Lực Kình: Kình là phá tinh đi với Lực làm mất hiệu lực của Lực. Có nghĩa bóng là có tài năng công lao nhưng không được sử dụng, ban thưởng; bất mãn.
Lực, Tuần, Triệt: đau ốm, mất sức.
Lực, Binh, Hình: trộm đạo, người dùng sức khỏe làm việc phi pháp và thường có tòng phạm.
Lực, Hình hay Hổ: người có chí khí sắt đá
Nói chung, gặp nhiều sao tốt, Lực Sĩ sẽ làm tốt thêm, đem lại may mắn một cách nhanh chóng. Ngược lại, nếu gặp sao xấu thì tác họa xấu và nhanh.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: SAO LỰC SĨ TRONG TỬ VI

Mạn đàm về: Tam nam bất phú/ tứ nữ bất bần

Ngạn ngữ người Việt có câu: “Tam nam bất phú - Tứ nữ bất bần”Hiểu đơn giản: Gia đình nào sinh được (chỉ) 3 người con trai thì gia đình đó không thể giàu. Còn gia đình nào sinh được (chỉ) 4 người con gái thì gia đình đó không thể nghèo.
Mạn đàm về: Tam nam bất phú/ tứ nữ bất bần

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

  >> Năm mới 2016 sắp tới. Ai XÔNG ĐẤT nhà bạn phù hợp nhất mang lại tài lộc, may mắn cho bạn cả năm. Hãy XEM TUỔI XÔNG ĐẤT 2016 mới nhất nhé!

Ngạn ngữ người Việt có câu: “Tam nam bất phú - Tứ nữ bất bần”

Hiểu đơn giản: Gia đình nào sinh được (chỉ) 3 người con trai thì gia đình đó không thể giàu. Còn gia đình nào sinh được (chỉ) 4 người con gái thì gia đình đó không thể nghèo.

Tại sao lại có ý nghĩa như vậy?

Con trai thường hay lêu lổng, không chí thú làm ăn, cha mẹ lại phải chi phí những việc lớn cho các “quý tử” như: Học hành, cưới vợ, làm nhà... nên tốn hết tiền bạc của cha mẹ đã kiến tạo, vì thế mới nghèo.

Con gái thường chịu thương chịu khó, cha mẹ không phải chi phí các việc lớn như gia đình có con trai nên tiền của tích góp được mà trở nên giàu. Ngày xưa con gái không được đi học, khi lấy chồng thì cơ bản gia đình chồng lo cho đám cưới thông qua thách cưới của họ nhà gái. Vì theo tục lệ cưới xin ngày xưa, nhà gái thách cưới rất cao, có những chàng trai vì nhà nghèo không có tiền cưới vợ nên phải ở vậy suốt đời. Gia đình sinh ba con trai, lo vợ cho con xong thì khuynh gia bại sản

Đấy là hiểu đơn giản là sinh nhiều (3) con trai sẽ nghèo nhưng theo thực ra cổ nhân chỉ mượn câu “tam nam bất phú” để ám chỉ điều “huyền bí và tối kỵ” của con số 3 huyền cơ trong văn hóa tín ngưỡng của người Việt, nếu không đã không có câu “Tứ tử trình làng” để nói về sự vinh hoa phú quý của một gia đình khi sinh được bốn người con trai. Ngay trong câu “Tam nam bất phú / Tứ nữ bất bần” đã là một đôi câu đối hoàn chỉnh về sự huyền bí (sinh, tử, sang, hèn...) của các con số 3 và 4 trong tín điều của người Việt.

Tín ngưỡng của người Việt Nam:

Người Việt Nam thường rất tin vào những điều trên. Đây là một ví dụ về câu chuyện mẹ chồng với quan niệm “ tam nam bất phú”:

Khi tôi mang bầu và sinh con đầu lòng là con trai, ai trong nhà cũng vui mừng vì chồng tôi là con cả và là nam duy nhất trong nhà. Mẹ chồng chăm chút tôi và cháu trai như mẹ đẻ. Suốt thời gian ở cữ, tôi được mẹ tự tay chăm sóc chứ không gửi về nhà ngoại vì mẹ không yên tâm giao cháu đích tôn của mình cho ai. Quan điểm đó, dù có chút ích kỉ nhưng tôi cũng không thể nào phủ nhận được sự chu đáo và cẩn thận mà mẹ chồng dành cho tôi và con trai mình.

Khi con trai tôi được hai tuổi thì vợ chồng tôi tính sinh thêm đứa nữa. Tôi biết ý mẹ chồng muốn tôi sinh thêm một đứa con trai nữa cho yên tâm. Nhưng là một người mẹ, tôi cũng muốn có một cô con gái để còn làm điệu và cũng chính là thỏa mãn những ước muốn mà khi còn là trẻ con, tôi đã không có cơ hội. Hơn nữa, có đứa con gái thì sau này tôi còn có đứa tâm sự, ngủ cùng và thủ thỉ với mẹ đủ thứ trên đời, chứ con trai lấy vợ xong là chỉ biết có vợ thôi chứ có còn nhìn thấy mẹ nữa đâu.

Vậy mà trời chẳng chiều lòng người, gần bốn tháng tôi đi siêu âm, bác sĩ nhắc khéo: Con giống cha. Nhưng hoảng hơn nữa là hai đứa giống cha.

Cứ nghĩ có ba đứa như cu Bin mà tôi hãi, toát cả mồ hôi. Về nói với mẹ chồng, tưởng mẹ vui lắm, ai ngờ tôi lại thấy mẹ chồng thoáng nét đăm chiêu. Không biết bà lo lắng điều gì? Chẳng phải mọi thứ còn vượt cả mong ước của mẹ đó sao? Bây giờ thì cả nhà sẽ chẳng có giây phút nào yên ổn đấy chứ! Mẹ cũng sẽ chẳng có thời gian mà buồn.

Ngày tôi sinh con trong bệnh viện, hai đứa trẻ sinh đôi đẹp như tranh vẽ. Ai cũng nói không nghĩ là trẻ sinh đôi vì hai con đều bụ bẫm. Mẹ chồng tôi cũng không giấu được nụ cười trên môi. Nhưng hôm sau, khi tôi vừa tập tễnh đi vệ sinh về phòng thì nghe thấy câu chuyện của mấy bà đi trông người đẻ nói chuyện với nhau. Mấy bà hỏi mẹ chồng là tôi sinh con đầu lòng sao?

Mẹ tôi bảo: Là lần hai, lần trước một thằng cu rồi các bà ạ.

Thế là mấy bà nhao nhao lên: Ba thằng con trai à? Thế thì lại phải thêm đứa nữa thôi, “Tam nam bất phú” mà

Mẹ chồng tôi vẻ mặt cũng lo lắng trả lời: Tôi cũng biết thế, nhưng mà không biết tụi nó có chịu không nữa.

Các bà lại góp vào: Không chịu là không chịu thế nào? Sau này xảy ra chuyện không hay ngồi đó mà than trời! Thì ra mẹ lo chuyện: Tam nam bất phú!

Sau đó mẹ có bóng gió đôi lần với tôi về chuyện nhà ông A ở làng bên ba con trai nên tan cửa nát nhà, vợ thì chết sớm, còn con, thằng thì trộm, thằng thì nghiện ; Rồi nhà bà B, ba con trai nên làm đâu hỏng đấy, hai vợ chồng quần quật làm mà chẳng khá lên được… Rồi mẹ bảo: Nhà mình có ba đứa rồi, con nhìn người ta lấy gương mà liệu. Mẹ cũng chỉ vì lo cho các cháu, lo cho vợ chồng chúng mày mà thôi! Để hai đứa lớn lớn rồi sinh luôn đi, trai gái đều được. Mẹ khỏe còn chăm nom cho, vất một chút, nhưng các cụ chả bảo: con cái là phúc của cha mẹ sao? Càng nhiều con càng nhiều phúc…

Đây chỉ là 1 câu chuyện nhỏ về nhưng chúng ta cũng có thể thấy quan niệm tam nam bất phú có ảnh hưởng không hề nhỏ trong suy nghĩ của người Việt Nam.

Thực tế như thế nào?

Thực tế, nhiều gia đình sinh 3 con trai mà kinh tế (bố mẹ) vẫn thuộc diện khá giả, có gia đình còn thuộc diện giàu “nứt đố đổ vách”, “tư sản hiện đại”. Sự giàu có đó còn kéo dài đến tận đời con, đời cháu sau này...

Vậy nên hiểu câu: “Tam nam bất phú” như thế nào? Theo thiển ý của người viết, chữ phú ở đây không nên hiểu theo nghĩa chỉ sự giàu có mà hiểu theo nghĩa chỉ sự phú quý thì mới thấy được “ẩn ý” mà cổ nhân đúc kết.

Qua kiểm chứng những gia đình có 3 anh em trai (chỉ 3 anh em trai rất hiếm gặp, mà cơ bản có thêm chị em gái)thấy thường sảy ra (ít nhất là 2/3) các tình huống:

  1. Bất hòa trong gia đình, kể cả sau này khi 3 anh em trai đã yên bề gia thất.
  2. Tai họa sảy ra cho 1 trong 3 người con trai: Nặng thì có người chết sớm (thường là chết trẻ, chưa có con cái), nhẹ thì bị tàn tật như thối tai, què chân hoặc những chứng bệnh nan y khó chữa..
  3. Đường hôn nhân của 1 trong 3 anh em trai gặp phải trắc trở, thiếu may mắn, không được trọn vẹn.

Có lẽ, đây mới là điều mà cổ nhân đúc kết: Nhà có 3 anh em trai thì khó có được sự phú quý, phúc thọ.

Làm thế nào để tránh được tai họa?

Cổ nhân đã nói “có thờ có thiêng, có kiêng có lành” vậy nên theo tín ngưỡng của người Việt Nam để tránh những tai họa có thể xảy ra thì những gia đình nhà có 3 con trai nên:

  1. Ba anh em trai nên sống xa nhau (về khoảng cách địa lý), càng xa càng tốt.
  2. Bố mẹ nên nhận một người con trai làm nghĩa tử, hoặc nếu bố mẹ khuất bóng rồi thì ba anh em cùng nhận thêm một anh hoặc em trai kết nghĩa.
  3. Nên làm con nuôi dòng họ khác (gia đình nghĩa phụ phải có con trai) để tránh cảnh huynh đệ tương tàn và đem lại may mắn cho bản thân.
  4. Lấy đức để cải số.

>> Xem ngay TỬ VI 2016 mới nhất!

>> Xem ngay VẬN HẠN 2016 mới nhất!


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mạn đàm về: Tam nam bất phú/ tứ nữ bất bần

Những nguyên tắc giải đoán Tử vi

Chúng tôi xin được hân hạnh cống hiến quý bạn tập tự điển Tử Vi, các bạn có thể giải đoán các nét căn bản Tử Vi một cách giản dị, từ đây mà tạo thêm các kinh nghiệm, VĂN XƯƠNG VĂN KHÚC, Là văn tinh, chủ về văn chương, mỹ thuật, cũng chủ về công danh, thi cử.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Chúng tôi xin được hân hạnh cống hiến quý bạn tập tự điển Tử Vi, các bạn có thể giải đoán các nét căn bản Tử Vi một cách giản dị, từ đây mà tạo thêm các kinh nghiệm. Sở dĩ ghi thành tự điển theo thứ tự A, B, C, là để các bạn tìm tòi cho dễ lúc thực dụng. Bây giờ xin tiếp tục nêu lên những nguyên tắc giải đoán lá số Tử Vi

VĂN XƯƠNG VĂN KHÚC

 Là văn tinh, chủ về văn chương, mỹ thuật, cũng chủ về công danh, thi cử.

 Ở Mệnh có Xương, Khúc là người đẹp đẽ, thông minh, học giỏi, thích văn chương, nghệ thuật. Ở Mệnh các cô gái, là biểu hiện vừa sự thông minh, vừa sự dâm đãng. Nhưng có những cách xấu thêm vào mới thật là dâm đãng, được các cách tốt chế hóa đi thì lại khá.

 Gặp các sát tinh Kỵ, Riêu, mới thật là dâm đãng.

 Đến hạn, gặp Xương, Khúc mà không bị phá cách, là thi đậu, thêm danh vọng.

THIÊN KHÔI, THIÊN VIỆT

 Là văn tinh, cũng là quý tinh, chủ về công danh, khoa cử, quyền tước.

 ở Mệnh là người thông minh, thích văn chương, học giỏi, nhân hậu. Gặp Hỏa, Linh, Hình lại hỏng, thêm tai họa.

 Thiên khôi ngộ Triệt bị giảm nhiều thành cách xấu biểu hiện nạn lớn.

TẢ PHỤ, HỮU BẬT

 Là trợ tinh, chủ về quyền, về sự phò tá, sự giúp đỡ. Gặp những sao tốt thì làm cho tốt đẹp thêm. Nhưng bị những sao xấu thì lại làm cho xấu hơn.

LỘC TỒN

 Vừa là tài tinh, vừa là quý tinh, phúc tinh. Biểu hiện quyền, lộc, và phúc. Được Lộc Tồn tại Mạng là người thông minh, học giỏi, nhân hậu, ở Tài Lộc, và tránh được các tai họa. Tuy nhiên, Lộc Tồn thường chỉ có một thứ ảnh hưởng. Thí dụ: Tránh được tai họa, thì không giầu… Làm cho thêm phúc thọ và tài lộc.

 Người nào có những cách dâm đãng (như Đào, Hồng) được Lộc Tồn thì sự dâm đãng bị chế ngự.

HÓA LỘC

 Cũng như Lộc Tồn, vừa là tài tinh, vừa là phúc tinh. Giảm chế các tai họa, làm cho nhiều tài lộc. Ở Tài Bạch và Điền Trạch mà có Hóa Lộc là giầu có.

 Ở cùng cung với Lộc Tồn lại kém, vì khắc nhau. Một sao đóng, một sao chiếu là song Lộc, thì tốt. Hoặc hai sao chiếu Mệnh thì tốt.

 Gặp Tham, Vũ đồng cung thì tốt.

 Gặp các sao xấu như Hao, Kiếp, Không, Thiên Không thì lại hao tán, suy bại, Hóa Lộc mất ảnh hưởng.

HÓA QUYỀN

 Chủ về quyền tướng. Có Hóa Quyền tại Mạng là người có quyền.

 Gặp các sao tốt thì làm tốt thêm.

 Nhưng Quyền gặp các sao xấu, chẳng hơn gì.

HÓA KHOA

 Là sao chủ về thi cử và là phúc tinh.

 Có Hóa Khoa tại Mạng là người có công danh khoa bảng, thông minh, học giỏi, lại tránh được các tai họa. Hạn gặp Hóa Khoa là được thi đậu, hoặc giải được tai họa. Hóa Khoa cùng với Xương, Khúc, Khôi, Việt là những văn tinh, hướng con người vào nghiệp văn hoặc vào chức nghiệp không phải là võ. Được cả bộ Khoa, Quyền, Lộc là được phú, quý, nhiều công danh và tài lộc. Hóa Khoa không sợ sát tinh.

 Tam Hóa liên châu là bộ ba Khoa-Quyền-Lộc đi trong ba cung liền nhau, do đây gặp Mạng, Thân hay một hạn nào đó mà chỉ dính đến một trong ba sao đó, cũng được ảnh hưởng của ba sao. Hóa Khoa không bị sát tinh giảm.

THIÊN MÃ

 Thiên Mã là ngựa trời. Chủ về sự lanh lẹ, thay đổi, di chuyển, và có ý nghĩa tài lộc, công danh, phúc thọ. Nhưng Mã sẽ tốt hay xấu là do những sao khác gặp phải.

 Mã đóng tại Mạng là người tài. Nếu lại thêm Tử, Phủ đồng cung, là có uy quyền, giầu sang, có phúc thọ. Gặp Nhật, Nguyệt chiếu, hoặc có Lộc Tồn đồng cung, hoặc Lộc Tồn chiếu (Lộc Mã giao trì) cũng có những cái tốt về công danh, tiền tài, phúc thọ.

 Mã, Khốc, Khách gặp nhau là ngựa có nhạc, có người cưỡi giỏi, là một cách của người có công danh võ nghiệp, hạn gặp Mã, Khốc, Khách là thăng tiến. Mã gặp Hỏa hay Linh cũng tốt vậy.

 Mã gặp Đà thì hỏng, đó là ngựa què, ở Mạng hay ở Quan Lộc thì công danh hay bị gãy. Mã gặp Hình là hiệu báo tai nạn, tai họa. Mã tại Hợi là ngựa cùng đường, hoặc gặp Tuyệt, đều là hiệu bế tắc. Mã gặp Tuần, Triệt là ngựa chết, là tai họa.

LONG TRÌ, PHƯỢNG CÁC

 Cặp sao này chủ sự thông minh, nhân hậu, vui vẻ, nếu ở Mạng. Gặp tại Hạn là được gia đạo yên vui, được sáng láng cửa nhà, may mắn, danh tài hưng vượng, có sự cưới hỏi hoặc sự sanh nở tốt.

 Cùng với Xương, Khúc, Khôi, Việt, Tả, Hữu, tạo thành quần thần tốt phò tá cho Tử, Phủ.

 Gặp Phi Liêm có may mắn và vui mừng nhanh chóng.

TAM THAI, BÁT TỌA

 Cặp sao này chủ sự thông minh và thành công. Gặp tại Hạn là được sự may mắn, nhà cửa thêm rộng rãi.

ÂN QUANG, THIÊN QUÝ

 Chủ sự thông minh, vui vẻ, nhân hậu, ân nghĩa, từ thiện, và giải được các tai ương, có những may mắn không bị sát tinh giảm chế. Được cặp sao này, thì chế ngự được tánh chất dâm đãng của Đào, Hồng

ĐÀO HOA, HỒNG LOAN

 Chủ sự vui vẻ, sự thành công, gia cảnh hưng vượng. Nhưng cũng chủ về sự lẳng lơ của đàn bà, sự đa tình. Chủ về đàn bà con gái: gặp tại Hạn là sự báo hỉ hôn nhân, hoặc sự sanh nở con gái. Cũng chủ về sự thi cử tốt, được công danh, được vui mừng.

 Được Đào, Hồng, Hỉ thêm cho Nhật, Nguyệt, càng sáng ra. Đào Hồng đi với Tử, Phủ hay Nhật, Nguyệt thì các sao này tốt thêm.

 Cung Mệnh, Thân có Đào, hay Hồng tọa thủ, hai đời vợ hay hai đời chồng. Nhưng có nhiều cách để phá đi. Hoặc gia thêm sát tinh, là kém thọ, nửa đường gẫy cánh. Đàn bà có Đào hay Hồng tọa thủ, gia thêm Riêu, Đà, Kị, là người bất chính về tình ái. 

THIÊN HỈ

 Chủ sự vui vẻ, may mắn. Gặp tại Hạn, là có vui mừng về công danh, thi cử, sanh đẻ, cưới hỏi.

THAI PHỤ, PHONG CÁO

 Chủ về công danh, bằng sắc. Gặp tại Hạn, là có lợi về thi cử công danh

QUỐC ẤN

 Chủ về công danh, chức vị và quyền hành (có ấn là có quyền). Gặp tại Hạn có lợi cho thi cử và sự cầu công danh. Nhưng gặp Tuần, Triệt lại hỏng việc, vị mất chức, xuống chức.

ĐƯỜNG PHÙ

 Chủ sự thành đạt về công danh và về nhà đất cao đẹp hơn. Nhưng gặp Bạch Hổ đồng cung lại chủ sự bắt bớ, tù đầy.

THIÊN THỌ

 Chủ sự nhân hậu, từ thiện, thêm phúc thọ.

BÁC SĨ

 Chủ sự thông minh, nhân hậu, cứu giải bệnh tật. Gặp tại Hạn là được lợi về sự thi cử, học hành.

LƯU NIÊN VĂN TINH

 Chủ về văn chương, sự học, sự thi cử, sự thông minh. Gặp tại hạn là có lợi cho sự thi cử và công danh.

HOA CÁI

 Chủ sự thành công, sự quyền quý, lợi cho việc thi cử, và cầu công danh.

 Tại Mạng mà gặp Hổ, Long, Phượng, hợp thành bộ Tứ Linh (4 con vật linh), là dấu hiệu phú quý, được công danh, uy quyền.

 Nhưng Hoa Cái gặp Mộc Dục, Thiên Riêu là chủ sự dâm đãng.

 Mệnh có Hoa Cái, Tấu Thư tọa thủ đồng cung là người thanh cao và thành công.

THIÊN TRÙ

 Chủ về sự ăn uống và tài lộc.

THIÊN QUAN, THIÊN PHÚC QUÝ NHÂN

 Chủ về sự đức độ, nhân hậu, từ thiện. Là những sao cứu tật bệnh, họa hại, giải trừ nguy nan, gia tăng phúc thọ.

THIÊN GIẢI, ĐỊA GIẢI, GIẢI THẦN

 Là những sao giải trừ tật bệnh, tại họa, và gia tăng phúc thọ. Chủ sự nhân hậu, từ thiện… Người già gặp Giải Thần tại Hạn, thì dễ chết (Giải cái khổ là làm cho mau chết). Điền Trạch, Tài Bạch có Giải Thần thì nghèo (của bị Giải đi).

THIÊN ĐỨC, NGUYỆT ĐỨC

 Chủ sự đức độ và ngay chính. Giải trừ tật ách nhỏ. Chế ngự được tánh dâm đãng của Đào, Hồng.

THIÊN Y

 Chủ sự cứu giải bệnh tật. Nhiều bác sĩ có Thiên Y tại Mạng, Thân, Thiên Di, Quan Lộc. Thêm Thiên Hình là bác sĩ chuyên giải phẫu.

THIẾU DƯƠNG, THIẾU ÂM

 Là những sao song hành với Thái Dương, Thái Âm, nhưng chỉ là những trung tinh. Chủ sự thông minh, vui vẻ, nhân hậu, giải trừ tật ách. Thiếu Dương gia thêm sức sáng cho Thái Dương, Thiếu Âm gia thêm sức sáng cho Thái Âm, và phải đồng cung mới được vậy.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những nguyên tắc giải đoán Tử vi

Sức mạnh tôn giáo ở ngôi làng không cửa

Niềm tin tâm linh và sức mạnh tinh thần của các vị thần có tác động mạnh mẽ tới mức ít ai ngờ. Những người dân Shani Shingnapur ở bang Maharashtra, Ấn Độ tin
Sức mạnh tôn giáo ở ngôi làng không cửa

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

vào thần linh đến độ làm nhà không cửa trong suốt hơn 20 năm.


► Đọc thêm: Chuyện tâm linh huyền bí bốn phương có thật

Suc manh ton giao o ngoi lang khong cua hinh anh
 
Truyền thuyết kể rằng, vào thế kỷ trước, trong một trận ngập lụt, một phiến sắt kỳ lạ và một phiến đá đã trôi dạt vào bờ của con sông gần ngôi làng. Những người chăn nuôi gia súc tò mò chọc vào phiến đá thì nó bắt đầu chảy máu.
 
Đêm đó, thần Shani (thần Sông) đã xuất hiện trong giấc mơ của vị trưởng làng, tiết lộ rằng phiến đá là hiện thân của thần. Thần sẽ luôn ở bên, che chở, bảo vệ cho dân làng trước mọi hiểm nguy nên không cần tới những cánh cửa.
 
Từ đó, với niềm tin tâm linh mãnh liệt, người dân ở làng không làm cửa cho bất kì ngôi nhà nào. Từ nhà dân cho tới các công trình công cộng, thậm chí cả nhà vệ sinh ở ngôi làng này đều không có cửa. Tiền bạc cũng như đồ trang sức quí giá đều được được cất giữ trong những chiếc hộp không khóa.
 
Mỗi khi có khách đến nhà, thay vì gõ cửa, họ gọi Rani để thông báo cho chủ nhân và sẽ được ra đón.
 
Tất cả những người dân trong làng đều tin rằng, thần Shani đang hiện hữu ngay bên cạnh, ngăn chặn, trừng phạt những kẻ có ý định xấu, khiến chúng không bao giờ xâm phạm được tới mình.   Niềm tin tâm linh ấy không chỉ khiến ngôi làng trở nên nổi tiếng bởi việc không có cửa mà còn giúp cho nạn trộm cắp không tồn tại ở đây. Tất cả người dân đều an tâm và sống thành thực với nhau, không bao giờ phải bận tâm tới việc quản lý tài sản, đề phòng kẻ gian. Điều đó cho thấy, sức mạnh tinh thần đôi khi có hiệu quả lớn hơn bất kì một chế tài luật pháp nào.
ST
 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sức mạnh tôn giáo ở ngôi làng không cửa

Sao xấu: Nguyệt Hư, Hoàng Sa, Lục Bất Thành, Nhân Cách, Thần Cách

Sao Nguyệt Hư (Nguyệt Sát): xấu với việc giá thú, mở cửa, mở hàng. Ngày xuất hiện trong tháng (âm lịch): tháng 1: ngày Sửu.
Sao xấu: Nguyệt Hư, Hoàng Sa, Lục Bất Thành, Nhân Cách, Thần Cách

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


1. Sao Nguyệt Hư (Nguyệt Sát): xấu với việc giá thú, mở cửa, mở hàng

Ngày xuất hiện trong tháng (âm lịch):

Tháng 1: ngày Sửu; tháng 2: ngày Tuất; tháng 3: ngày Mùi; tháng 4: ngày Thìn; tháng 5: ngày Sửu; tháng 6: ngày Tuất; tháng 7: ngày Mùi; tháng 8: ngày Thìn; tháng 9: ngày Sửu; tháng 10: ngày Tuất; tháng 11: ngày Mùi; tháng 12 ngày Thìn.

Sao xau Nguyet Hu, Hoang Sa, Luc Bat Thanh, Nhan Cach, Than Cach hinh anh
Tranh Cát Tường

2. Sao Hoàng Sa: xấu với việc xuất hành

Ngày xuất hiện trong tháng (âm lịch):

Tháng 1: ngày Ngọ; tháng 2: ngày Dần; tháng 3: ngày Tý; tháng 4: ngày Ngọ; tháng 5: ngày Dần; tháng 6: ngày Tý; tháng 7: ngày Ngọ; tháng 8: ngày Dần; tháng 9: ngày Tý; tháng 10: ngày Ngọ; tháng 11: ngày Dần; tháng 12: ngày Tý.

3. Sao Lục Bất Thành: xấu với việc xây dựng

Ngày xuất hiện trong tháng (âm lịch):

Tháng 1: ngày Dần; tháng 2: ngày Ngọ; tháng 3: ngày Tuất; tháng 4: ngày Tỵ; tháng 5: ngày Dậu; tháng 6: ngày Sửu; tháng 7: ngày Thân; tháng 8: ngày Tý; tháng 9: ngày Thìn; tháng 10: ngày Hợi; tháng 11: ngày Mão; tháng 12: ngày Mùi.

4. Sao Nhân Cách: xấu đối với giá thú, khởi tạo

Ngày xuất hiện trong tháng (âm lịch):

Tháng 1: ngày Dậu; tháng 2: ngày Mùi; tháng 3: ngày Tỵ; tháng 4: ngày Mão; tháng 5: ngày Sửu; tháng 6: ngày Hợi; tháng 7: ngày Dậu; tháng 8: ngày Mùi; tháng 9: ngày Tỵ; tháng 10: ngày Mão; tháng 11: ngày Sửu; tháng 12: ngày Hợi.

5. Sao Thần Cách: kỵ tế tự

Ngày xuất hiện trong tháng (âm lịch):

Tháng 1: ngày Tỵ; tháng 2: ngày Mão; tháng 3: ngày Sửu; tháng 4: ngày Hợi; tháng 5: ngày Dậu; tháng 6: ngày Mùi; tháng 7: ngày Tỵ; tháng 8: ngày Mão; tháng 9: ngày Sửu; tháng 10: ngày Hợi; tháng 11: ngày Dậu; tháng 12: ngày Mùi.

Theo Bàn về lịch vạn niên

 
 
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sao xấu: Nguyệt Hư, Hoàng Sa, Lục Bất Thành, Nhân Cách, Thần Cách

Chùa Võng Thị - Hà Nội

Chùa Võng Thị là một quần thể kiến trúc đẹp với hàng chục bức chạm khắc tinh tế, những pho tượng cổ mang giá trị nghệ thuật cao.
Chùa Võng Thị - Hà Nội

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Chùa Võng Thị nằm ở phía Tây Hồ Tây (Hà Nội), có tên gọi khác là Vinh Khánh Tự. Chùa được khởi dựng từ thời vua Lý Nhân Tông. Đến những năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ, chùa từng bị san phẳng, toàn bộ tượng Phật bị giặc đốt bỏ, ném tro xuống hồ Tây. Trên nền dấu tích cũ, sư Thầy Thích Đàm Đạo đã tôn tạo xây dựng lại chùa theo lối kiến trúc cổ đời nhà Lý.

Chùa Võng Thị rộng chừng 5.000m2, nằm ven hồ Tây lộng gió. Từ trước ra sau, những gốc nhãn hàng trăm năm tuổi phủ bóng lên mái chùa tôn nghiêm. Chùa nằm trong làng Võng Thị, một làng cổ của Hà Nội. Trước kia, dân làng chủ yếu sinh sống bằng nghề đánh cá và “seo” giấy. Nơi đây từng hình thành nên một chợ bán lưới đánh cá cho những người làm nghề ngư phủ quanh hồ Tây nên làng có tên là Võng Thị. Cụm di tích chùa và đình Võng Thị cũng được người dân gọi theo tên làng.

Chùa cổ Võng Thị là một quần thể kiến trúc đẹp với hàng chục bức chạm khắc tinh tế, những pho tượng cổ mang giá trị nghệ thuật cao. Học sinh trường Mỹ thuật Đông Dương và nhiều họa sĩ trong đó có họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung thường lui đến chùa để nghiên cứu nghệ thuật kiến trúc và chạm trổ truyền thống.

Từ trước những năm 1990, chùa được dân làng tôn tạo lại theo các hướng cửa khác nhau. Lần thì hướng cửa chùa thẳng ra hồ Tây, lần thì hướng cửa chùa theo hướng Đông Nam. Cho đến thời điểm hiện nay thì chùa được trùng tu mở cửa theo hướng Tây.

Trên chính điện của chùa hiện có một số pho tượng quý được sơn son thiếp vàng như tượng Thích ca giáo chủ, tượng ngài A Nan và Ca Diếp, tượng Bồ tát Quan Âm thiên thủ thiên nhãn, 7 pho Thất Phật Thế Tôn, tòa Cửu Long. Ngoài ra, sư Thầy còn đặt đúc một pho tượng Phật Di lặc bằng đồng từ Ý Yên, Nam Định, chuẩn bị cung thỉnh về chùa. Bên trái chính điện là gian thờ Tam tòa Thánh Mẫu, còn ở phía sau là lầu Địa Tạng.

Chùa Vinh Khánh đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử – văn hóa quốc gia.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chùa Võng Thị - Hà Nội

Ý nghĩa sao Thiên Quan - Thiên Phúc

Người có sao thiên quan - thiên phúc ở mệnh là người thích làm phúc, bố thí cúng dường, trọng nghĩa khinh tài. Dù gặp Sát Tinh cũng vẫn cứ tốt! Gặp Không Kiếp cũng không thể phá hại được.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Ý nghĩa sao Thiên Quan - Thiên Phúc

Ý nghĩa sao Thiên Quan - Thiên Phúc

SAO THIÊN QUAN (hành Hỏa)

SAO THIÊN PHÚC ( hành Hỏa)

 

1. Ý nghĩa của thiên quan, thiên phúc: Cả 2 đều là phúc tinh và đồng nghĩa với nhau:

a. Về tính tình: - có thiện tâm, nhân hậu, hiền lành, đức độ, hay làm việc thiện, hay cứu giúp người - có tín ngưỡng, tin tưởng nơi Phật Trời, nhân quả - có khiếu đi tu, có thể đắc quả Hai sao này giống nghĩa với Tứ Đức và Thiên Giải, Địa Giải, Giải Thần

b. Về phúc thọ: - chủ sự cứu giải tai họa, giảm bớt hung nguy - giảm bệnh tật - tăng phúc thọ do việc tu nhân tích đức, giúp người, người giúp

 

2. Ý nghĩa của thiên quan, thiên phúc và một số sao khác: - Thiên Tướng, Riêu, Y và Thiên Quan, Thiên Phúc: bác sĩ rất mát tay, lương y chữa bệnh giỏi

- Cơ Nguyệt Đồng Lương, Thiên Quan, Thiên Phúc: lương y, người hảo tâm, phúc thiện, hay làm công tác xã hội.

- Tử, Tham đồng cung: đi tu, cứu độ được nhiều người.

ý Nghĩa sao Thiên Quan - Thiên Phúc ở các cung:

Mệnh: là người thích làm phúc, bố thí cúng dường, trọng nghĩa khinh tài. Dù gặp Sát Tinh cũng vẫn cứ tốt! Gặp Không Kiếp cũng không thể phá hại được. Người có căn tu trong nhiều đời kiếp, mọi việc xấu tốt sắp tới có giác quan thứ 6 linh cảm biết trước. Hoặc ở Mệnh, nếu đương số chí thành mở miệng kêu trời cứu thì sẽ có trời CHE, nếu kêu đất cứu thì sẽ có đất CHỠ, những người này cầu nguyện sẽ có thần linh đến chứng dám, cứu giúp. Nếu chí nguyện tu hành, thì sẽ có Long Thần Hộ Pháp đến che chỡ đỡ đần

Phụ Mẫu: nếu họ khá giả thì họ sẽ lo cho cha mẹ, nếu họ nghèo khổ thì được cha mẹ lo, và luôn được hưởng phúc lộc do cha mẹ để lại bằng Âm Đức hay Dương Đức.

Phúc đức: Có Duyên với Tổ Nghiệp, hoặc trong dòng họ đời trước có tu bồi nhân lành lớn, hoặc có người tu hành chuyển nghiệp cho dòng họ… Hoặc dù mồ mã hay trong dòng họ có gặp xấu cũng gặp chân sư cứu giúp giải trừ hay chuyển đối…

Điền trạch: thì có người để gia tài lại cho giống như Quang Quý. Đồng thời có thể đứng ra thành lập những cơ quan từ thiện, tuỳ theo nhiều ít, tuy theo cùng điền tốt xấu. Của cải vật chất họ có thể cho người không luyến tiếc. Ai xin nếu họ có thể cho thì cho ngay, bất kể vật đó quý giá đến đâu. (Đây là loại người Thí Vô Uý. Tại sao lại gọi là thua lỗ?).

Quan lộc: Nếu số tốt liên quan đến tu hành, hoặc có thể làm trong bang Hộ Trì Tam Bảo hoặc đi tu, hoặc làm việc trong các cơ quan từ thiện, nhân sinh…

Nô: có Duyên chơi được với bạn bè tốt hoặc các bạn đồng tu, hoặc các tiên nhân (không phải mấy ông tiên đánh cờ hay nhậu nhẹt đâu nhé), hoặc được cơ hội học hỏi các bậc chân tu đắc đạo…

Di: Ra đường gặp quý nhân giúp đỡ, dễ gặp cơ may đến những nơi an lành, thường gặp thuận lợi tốt đẹp… nói chung ra đường dễ gặp thiên thời địa lợi nhân hòa.

Tật: gặp nạn thường có quý nhân hay thần linh che chỡ. Dĩ nhiên, ở cung Tật thì không bằng cung Mệnh, vì lỡ Mệnh xấu hay Vận xấu có thể chết yểu như thường.

Tài: Có thể cho tiền của hoặc đôi khi ngay cả gia tài sự nghiệp để làm từ thiện. Những người dám bố thí những mãnh đất công viên, thư viện… phải có Quan Phúc trong Mệnh Thân và Tài Điền hoặc xung hoặc giáp hợp. Đây là loại người Thí Vô Uý. (Thiết tưởng người có tiền cho như vậy sao gọi là thua lỗ về tài được).

Tử Tức: Nếu cung Tử Tức xấu xa, có Quan Phúc thì nuôi con nuôi sẽ có con (đây gọi là làm phúc để được phúc), hoặc chẳng cần phải xin con nuôi, chỉ cần chí thành cầu đảo như ăn chay nằm đất hay tụng Kinh trì Chú… thì nhất định sẽ có con (vì người có Nhân Duyên từ những đời trước sẽ đầu thai đến làm con). Nếu cung Tử đẹp thì con là thần nhân giáng thế. Khác hơn Ân Quang Thiên Quý vì đối với Quang Quý nếu cung Tử xấu xa, thì cho dù là con nuôi hay con ruột vẫn trở thành phá gia chi tử như thường.

Phu Thê: Vợ chồng là người có lòng từ thiện, chí ít đó là người chồng hay vợ đã có Duyên Lành từ tiền kiếp. (Nếu Quang Quý ở cung Phu Thê là Duyên Nợ tiền kiếp, nếu gặp Sát Tinh thì đó là Nghiệp Quả phải trả, muốn bỏ cũng bỏ không được. Sống trong đau khổ). Nếu cung Phu Thê có Quan Phúc thủ, thì dù ở đó có Đào Hoa ngộ Không Kiếp, Hình vẫn thường an lành không đổ vỡ và không đau khổ (dù gặp khó khăn cũng có quý nhân giúp đỡ hay giải bày cho). Hoặc vận đến gặp cách đó cũng chẳng sợ. Thế mới biết uy lực cứu giải của Quan Phúc lớn mạnh đến mức nào.

Huynh Đệ: nếu họ khá hơn anh chị em thì họ sẽ lo cho Huynh Đệ, nếu họ nghèo khổ thì sẽ được anh chị em giúp đỡ. Và được giúp đỡ tận tình vô điều kiện.

Ý vô tận ngôn, mong quý vị tự nghiền ngẫm và triển khai, hiểu ý thì mong hãy quên lời, chớ nên chấp chặt vào Văn Tự, mặt chữ.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Ý nghĩa sao Thiên Quan - Thiên Phúc

Xem tướng: Độ dài ngón tay đeo nhẫn nói gì về bạn –

Ngón tay đeo nhẫn ngắn hơn ngón giữa thường có phản ứng nhanh, nắm bắt vấn đề nhạy bén nhưng lại quá đa nghi, thiếu trung thực… Độ dài ngón đeo nhẫn nói gì về bạn? Theo nhân tướng học, đặc điểm của ngón tay có thể phản ánh phần nào tính cách, năng lự

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Ngón tay đeo nhẫn ngắn hơn ngón giữa thường có phản ứng nhanh, nắm bắt vấn đề nhạy bén nhưng lại quá đa nghi, thiếu trung thực…

Độ dài ngón đeo nhẫn nói gì về bạn?

Theo nhân tướng học, đặc điểm của ngón tay có thể phản ánh phần nào tính cách, năng lực của mỗi người.

image_36661_tay

1. Ngón tay đeo nhẫn dài hơn ngón trỏ: thường rất yêu thích âm nhạc, hội họa và có năng khiếu nghệ thuật. Nếu đi theo con đường này, họ sẽ dễ dàng đạt được những thành tích cao trong sự nghiệp.

2. Ngón tay đeo nhẫn bằng ngón trỏ chỉ cần nỗ lực là có thể gặt hái được nhiều thành công trên hầu hết các lĩnh vực.

3. Ngón đeo nhẫn ngắn hơn ngón trỏ có tinh thần vươn lên mạnh mẽ nhưng lại khô khan, lãnh đạm, thiếu tình người.

4. Ngón đeo nhẫn dài hơn ngón giữa là người có cá tính mạnh nhưng không giỏi giao tiếp.

5. Ngón tay đeo nhẫn bằng ngón giữa vốn rất tự tôn, thích hư vinh, háo thắng; cuộc đời thường long đong, lận đận.

6. Ngón tay đeo nhẫn ngắn hơn ngón giữa thường có phản ứng nhanh, nắm bắt vấn đề nhạy bén nhưng lại quá đa nghi, thiếu trung thực.

7. So với ngón út, người có ngón đeo nhẫn rất dài, ý thức hợp tác cao, giỏi giao tiếp, có tài nghệ thuật.

8. Ngón đeo nhẫn và ngón út dài bằng nhau là người đa tài đa nghệ.

9. Ngón đeo nhẫn ngắn hơn ngón út thì chủ nhân có năng lực sáng tạo cao, tư duy sắc bén, tuy nhiên lại thiếu năng lực giải quyết vấn đề trong thực tiễn.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tướng: Độ dài ngón tay đeo nhẫn nói gì về bạn –

10 điều soi sáng cho khoa nghiệm lý tử vi

Bài viết "10 điều soi sáng cho khoa nghiệm lý tử vi" trình bày kinh nghiệm của GS Lê Trung Hưng trong việc giải đoán lá số tử vi. Đây là những điều soi sáng cho việc giải đoán, nghiệm lý lá số tử vi.
10 điều soi sáng cho khoa nghiệm lý tử vi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Giáo sư Lê Trung Hưng là một nhà nghiên cứu về khoa Tử vi. Ông thâu thập được rất nhiều kinh nghiệm, qua các lá số của thân nhân, bạn bè, ông lại có biệt tài dẫn giải các kinh nghiệm đó theo lối trình bày pha trộn cả Đông phương và khoa học Tây phương. Nhưng ông không có coi số cho thiên hạ.

Điều đáng quý ở ông cũng như ở cụ Thiên Lương, là dẫn giải tường tận những kinh nghiệm đạt được trong Tử vi, hoặc là kinh nghiệm riêng, hoặc là kinh nghiệm được truyền thụ do cụ Thiên Lương, hoặc là những kinh nghiệm cũ được hiểu qua ánh sáng mới. Giai phẩm Khoa học Huyền Bí được hân hạnh đăng những bài dẫn giải của giáo sư Lê Trung Hưng, và rồi sau này, sẽ còn trình giải thêm nữa về những điểm đã được nêu ra tại đây.

I- PHẦN KHAI TỪ:

Khoa huyền bí Đông Phương thật vô cùng phong phú, nào bốc dịch, nào thần tướng diện, nào nhâm độn, nào địa lý … nhưng phải thành tâm mà nói thêm: Khoa Tử-vi Đẩu Số có những nét khả tín nhất. Bởi lẽ môn này đã căn cứ vào những yếu tố thời gian tương đối đặc thù của mỗi cá nhân: năm, tháng, ngày và giờ sinh, tạo thành sử mệnh cho mỗi cá nhân một cách huyền diệu. Khoa Tử-vi mỗi ngày càng phơi bày nét chính xác của một ngành học nhuốm tính cách nghiệm lÝ và nhân văn, nó bộc lộ rõ rệt cái khuynh hướng của mỗi số mạng, nó chỉ vẽ dù là bàng bạc cái nghiệp của con người trong cuộc sống, cũng như thể hiện được tinh thần tự do của con người (Xưa nay nhận định thằng thiên cũng nhiều – Nguyễn Du). Định Mệnh trong Tử-Vi chỉ có nghĩa là một khuyến cáo (hơn là một loan báo), kêu gọi chúng nhân tự điều chỉnh đời sống, công danh của mình, để hóa giải phần nào cái căn quả nhận chịu ở đời này (Đức năng thắng số), rồi từ đó tạo cơ duyên hạnh phúc trên căn bản tự giác tự tha. Tử-Vi có ưu điểm là phải luận giải (khoa Áo-Bí biện chứng) tích cực, chứ không phải phú đoÁn tiêu cực như cổ nho, vô tình làm làm cho Tử-vi bị du vào địa hạt huyền bí (hiểu theo nghĩa bao gồm những luận cứ viễn vông). Tử-Vi không thể hiểu theo nghĩa huyền bí thiếu xác tín, mà phải hiểu là khoa nghiệm lý (nghiệm cái lý của siêu việt tính). Thế nên những công trình nào quyết tâm đi tìm cái chân lý tiềm ẩn trong bản số Tử-vi, cũng nên quảng bá, truyền thông cho tha nhân cùng soi sáng. Trong phạm vi bài tham luận này, kẻ viết chỉ xin triển khai một vài điểm kinh nghiệm đã thấy cảm ứng khá rõ rệt.

II- PHẦN KINH NGHIỆM THÂM CỨU

Gồm có 10 chủ đề diễn ý một cách tương đối nét tinh hoa của bản số Tử-vi

1/ Đức trọng qủy thần kinh: Thiên đức, Nguyệt đức, Phúc đức, Long đức, Thiên quan và Thiên phúc.
2/ Huyền thọai của chính diệu: Tứ Hóa (Hóa Khoa, Hóa Quyền, Hóa Lộc, Hóa Kị)
3/ Tha nhân là địa ngục: Thế tương quan Cung Mệnh – Cung Di
4/ Cơn bĩ cực hồi thái lai: Vòng ThÁi tuế trong đại hạn và tiểu hạn
5/Thuận thiên giả tồn nghịch thiên giả vong: Thế ngũ hành sinh nhập ở Tứ sinh và Tứ tuyệt
6/Tham thì thâm: Thế lấn của vòng Thái tuế
7/ Đời là bể khổ: Vai trò của Thiên mã
8/ Chung thân đối kháng: sao Thiên Tài
9/-Bản tính nhân chi sơ: người âm, Dương với cung âm, Dương
10/Thời thế tạo anh hùng: các sao trong lưu niên tiểu hạn.

1- Đức trọng quỷ thần kinh: Thiên Đức, Nguyệt Đức, Phúc Đức, Long Đức, Thiên Quan và Thiên Phúc.

Trong hàng ngũ các sao hiền của bản số Tử vi mỗi người, ai cũng biết, mà cũng ít ai lưu tâm đến, đó là bộ Tứ đức và bộ Quý nhân. Tánh chất của bản thiện thường là hành động trong âm thầm, không lớn lối, không vung vít như bộ hung tinh chiến lược (Lục sát). Quý vị cứ kiểm nghiệm mà xem bộ Tứ đức và lưỡng Quý nhân luôn hóa giải dễ dàng những tai ương do hai quỷ tinh Tuần và Triệt gây ra (huống hồ là Thiên Không, xá gì ). Hay nói một cách khác bộ Tứ đức và lưỡng Quý nhân không sợ sự kềm kẹp cương tỏa của Tuần trung và Triệt lộ. Ngược lại nhiều khi chính nhờ bộ Tứ đức và lưỡng quý nhân này đã chiêu hồi Tuần trung và Triệt lộ để giải tỏa các hung tinh khác. Cho nên vào đại hạn hay tiểu vận có bộ Tứ đức hay bộ Quý nhân này trấn áp, thì cứ yên tâm về sự xuất hiện của hai quỷ tinh Tuần trung và Triệt lộ, chính sao Tuần còn mở đầu cho một hạnh thông nữa là đàng khác.

2- Huyền thoại của chính diệu: Tứ Hóa

Nhiều người say mê môn Tử-vi thường có thói quen đam mê luôn bộ Tứ hóa đắc cách và cho rằng Hóa Khoa, Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Kỵ (đóng ở Tứ mộ) là bốn sao thần thánh đem bóng dáng hạnh phúc lại cho mình, rồi nhiều khi quên đi cả các chính diệu hiện diện tại cung có Tứ Hóa ấy. Đây là một sự nhầm lẫn cần phải phản tỉnh ngay: Khoa Tử-vi gắn liền với sinh hoạt nghiệm lý mà cố tử vi gia Thiên Lương đã dày công chủ trương khi còn sinh tiền, nên lúc nào cũng cần phải có sự suy luận và kiểm nghiệm tánh chất của mỗi dữ kiện. Do lẽ ấy, bốn sao Từ Hóa chỉ là bộ mặt mới mà thôi. Thí dụ tuổi Kỷ thì chính diệu Tham Lang có bộ mặt mới là Hóa Quyền, mà tuổi Ất thì Hóa Quyền lại là hậu thân của Thiên Lương. Nói cách khác, tùy theo thập can mà chính diệu thủ lãnh những vai trò mới như sau:

- Chủ về thi cử, phước lành: Hóa Khoa.
- Chủ về địa vị: Hóa Quyền.
- Chủ về tiền của: Hóa Lộc.
- Chủ về sự thầm lặng: Hóa Kỵ.

Thành ra khi thấy Tứ Hóa xuất hiện ở cung nào, ta nên hiểu rằng chính diệu đã biến ảo ra, nhận lãnh sứ mạng nói trên mà thôi. Nói cho cùng, thì không có sao Hóa Khoa, Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Kỵ (hiểu theo nghĩa là những tinh đẩu riêng biệt) mà Tứ Hóa chỉ là sự biến thái của chính diệu tùy theo Thập can vậy.

3- Tha nhân là địa ngục

Trong vị trí tuần tự 12 cung trên bản số Từ-vi, cung Mệnh và cung Thiên Di luôn luôn đối mặt nhìn nhau. Đây là ý nghĩa thâm sâu của người sáng chế ra khoa nghiệm lý này: Mệnh là ta, Thiên Di là tha nhân (chứ không phải sự đi xa như nhiều sách đoán luận giải ). Đời sống là trường tranh đấu, ta muốn tồn tại thì phải ganh đua với chúng nhân trong xã hội, thế nên tha nhân vừa nhìn ta để học hỏi, vừa để đối phó. Ngược lại, ta nhìn tha nhân cũng với cung cách này. Điều kiện hòa đồng là cần, nhưng phải có sự khắc chế mới đủ nghĩa sống ở đời (lẽ mâu thuẫn lấy biến dịch làm căn bản nhân sinh), trong ý nghĩa Dịch động ấy, lấy luật Ngũ hành làm luận cứ cho sự tương giao của hai cung Mệnh & Di.

Vậy khi nào hành của cung Mệnh chế ngự được hành của cung Di thì người ấy mới mong ra đời được đắc thắng và kính nể, bằng trái lại, hành của cung Di áp đảo được hành của cung Mệnh thì rõ ràng là người ấy thường chịu nhiều thua thiệt trước thế nhân.

4- Cơn bỉ cực, hồi thái lai

Vòng Thái Tuế, khi còn sanh tiền cố Tử-vi gia Thiên lương đã dày công phu triển khai tầm quan trọng, để giúp cho người xem Tử vi nhận biết rõ đại vận hên xui. Đại cương cung nào chứa vòng Tam hạp của Thái Tuế, Quan Phù, Bạch Hổ thì Đại hạn mười năm tại cung đó là thời vận tốt.

Thí dụ: Mệnh tại cung Dậu, tuổi Mẹo Âm Nam, Kim Cục, thì theo chiều nghịch; cung Dậu 4-13, cung Thân 14-23, cung Mùi 24-33... Vòng Thái Tuế gác đầu 3 cung Hợi-Mão-Mùi, do đó Đại vận 10 năm từ 24-33 tuổi là lúc thịnh thời gặp nhiều may mắn của đương số. Tuy nhiên tùy theo 3 đầu cung tam hạp của Vòng Thái Tuế, nếu gặp đầu cung:

- Có sao Thái Tuế là đắc thời một cách chánh đáng.
- Có sao Quan Phù là đắc thời trong sự tính toán.
- Có sao Bạch Hổ là đắc thời trong sự làm việc thái quá vất vả.

Cho nên người xem số Tử-vi, thấy đến Đại vận nằm trong tam hợp Vòng Thái Tuế, được kể như đã tới hồi thái lai, thoải mãi. Nhưng có điểm khá cẩn trọng, nếu tiểu vận (một năm) phải đề phòng sự thiệt thòi xui rủi đưa tới:

- Tiểu vận đến cung chứa sao Thái Tuế: đáo tụng đình.
- Tiểu vận đến cung chứa sao Quan Phù: thị phi tai tiếng.
- Tiểu vận đến cung chứa sao Bạch Hổ: đau ốm tai nạn.

Tóm lại: Đại vận nằm trong tam hạp Vòng Thái Tuế là hên, may mắn (tới mức độ nào còn phụ thuộc vào nhiều các sao khác nữa!?..), nhưng 10 năm đó thì đề phòng 3 năm tiểu hạn lại lâm vào trở lại 3 cung tam hạp của Vòng Thái Tuế thì lại gặp chuyện xui rủi vậy. Đó là ý nghĩa thứ hai của hạn tam tai mà cố Tử-vi gia Thiên Lương đã dày công khám phá.

Cho nên quý vị thấy hạn Tam tai ghi trong sách:

- Tuổi Dần Ngọ Tuất: 3 năm Thân Dậu Tuất là Tam tai.
- Tuổi Thân Tý Thìn: 3 năm Dần Mão Thìn là Tam tai.
- Tuổi Tỵ Dậu Sửu: 3 năm Hợi Tý Sửu là Tam tai.
- Tuổi Hợi Mão Mùi: 3 năm Tỵ Ngọ Mùi là Tam tai.

sao lại có khi đúng có khi sai, ấy là vì lẽ trên.

5- Thuận thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong: Thế ngũ hành sinh nhập tại Tứ Sinh và Tứ Tuyệt.

Mười hai cung của bản số Tử-vi, tuy mang 12 chủ đề khác nhau nhưng chúng lại có những gắn bó kỳ lạ, nếu chịu khó luận giải luật ngũ hành của từng cung trên căn bản:

- 4 Cung Tứ Sinh: Dần, Thân, Tỵ, Hợi.
- 4 Cung Tứ Tuyệt: Tý, Ngọ, Mão, Dậu.

Ta thấy 4 cung Tứ Sinh và Tứ Tuyệt khác nhau từng đôi một:

- Cung Tỵ (Hỏa) đối lập với cung Hợi (Thủy)
- Cung Thân (Kim) đối lập với cung Dần (Mộc)
- Cung Ngọ (Hỏa) đối lập với cung Tý (Thủy)
- Cung Mão (Mộc) đối lập với cung Dậu (Kim)

Vậy khi các cung nói trên mang chủ đề gì (trong 12 chủ đề: Mệnh, Phụ, Phúc, Điền, Quan, Nô, Di, Ách, Tài, Tử, Phối, Bào) thì chúng xung khắc nhau như bản chất cung của nó.

Ví dụ: Tuổi Âm Nam, Mệnh an tại Dậu, ta có:

- Tiền bạc (cung Tỵ) khắc chế với cung Phúc Đức (cung Hợi)
- Huynh Đệ (cung Thân) không hạp với bạn bè (cung Dần)
- Nhà đất (cung Tý) không hạp với hàng con cái (cung Ngọ)
- Bản Mệnh cung (cung Dậu) bất hòa đồng với tha nhân (cung Mão)

Các sự xung khắc trên là một điều loan báo đối với đương số. Để tùy nghi chọn lựa một trong hai điều: Hoặc chọn Tiền Bạc hay chọn Phúc Đức; hoặc muốn Con Cái an toàn hay muốn Nhà đất khang trang...

6- Tham thì thâm: Luật thừa trừ tính theo vòng Thái Tuế

Vòng Thái Tuế ngòai ý nghĩa cho biết thời may vận tốt của mười năm, nó còn cung cấp một đặc tính qúy báu khác, là tìm biết căn tính của mỗi người, cũng như thử thách của đương số trong sinh hoạt thường nhật. Ta nên để ý:

- Tuổi Âm Nam và Dương Nữ: trước khi tới thời kỳ 10 năm của Vòng Thái Tuế, đã gặp 10 năm của Vòng Thiếu Dương, Tử Phù, Phước Đức.

- Tuổi Âm Nữ và Dương Nam: lại gặp Vòng Thiếu Dương, Tử Phù, Phước Đức sau khi đã an hưởng 10 năm của Vòng Thái Tuế, Quan Phù, Bạch Hổ.

Cả hai cách trên đều cho ta thấy: Xét luật Ngũ hành thì Vòng Thiếu Dương, Tử Phù, Phước Đức ở thế lấn so với Vòng Thái Tuế, Quan Phù, Bạch Hổ.

Thí dụ: Tuổi Tuất - Dương Nam, thì Vòng Thái Tuế là Hỏa, còn Vòng của Thiếu Dương, Tử Phù, Phước Đức là Mộc, mà Mộc sinh Hỏa (có nghĩa là mình đang gặp tối đa thuận lợi, lấn tới lấy thời gian Mộc để dưỡng cái TA -Hỏa). Lợi thì có lợi thật, nhưng Luật thừa trừ đã xuất hiện, để ổn định cái bất công, cho nên khi ai bước vào thời kỳ này (Vòng Thiếu Dương) sẽ phải gặp sao Thiên Không ở cung với Thiếu-Dương, đó là nét thâm thúy và đầy nhân -văn, tính nhất của khoa Tử-vi: Ở đời không nên tham vọng, vì quá đáng sẽ gặp "Thiên-Không ở cuối đường hầm" (Hạn Thiên Không thì ai biết xem Tử-vi, đều rõ cái tai hại của nó).

7- Đời là bể khổ

Sao Thiên Mã là nghị lực của đời người nhưng còn biểu tượng cả chiếc xe đi của đương số. Nếu xét Ngũ hành của cung mà Thiên Mã đóng, với Ngũ hành của bản Mệnh, chúng ta sẽ thấy ngay những mối tương quan có tính cách cảnh cáo hay nhẹ cũng là báo trước về chiếc xe mà đương số sử dụng trong mưu sinh ở đường đời:

- Hành Mã khắc hành của bản Mệnh: Chết vì tai nạn xe cộ, bị thương nặng về tay chân...

- Hành Mã sinh hành của bản Mệnh: Xe cộ luôn an toàn, giúp đỡ người thật đắc dụng.

- Hành Mệnh khắc hành của Mã: Xe cộ luôn ở trạng thái hư hao, gây tốn kém cho chủ.

- Hành Mệnh sinh hành của Mã: Coi chừng mất xe.

- Hành Mã đồng hành với bản Mệnh: Bình thường trong mọi chuyện xe cộ, cũng như lúc di chuyển.

Kết hợp với những sao tại Lưu Tiểu hạn và lưu Đại hạn, từ đó mà suy luận cụ thể chi tiết ra trong từng trường hợp cụ thể của bản số Tử-vi.

Thí dụ: Người tuổi Tân Tỵ (Hành Kim). Thiên Mã đóng ở cung Hợi (Thủy). Vậy tức là Mệnh Kim sinh xuất Mã Thủy, ít nhất trong đời phải mất xe một lần (dù là xe gì... đi nữa, kể cả trường hợp mình đi mượn xe của người khác nữa!?... Các bạn thử chiêm nghiệm xem...). Người Nhâm Ngọ (Mộc) có Thiên Mã đóng cung Thân thì nên cẩn thận lắm vì Mã Kim khắc Mệnh Mộc. Vai trò của sao Thiên Mã xét theo khía cảnh này, đã được nhiều người kiểm chứng, thấy hiệu nghiệm rõ ràng.

8- Chung thân đối kháng

Sao Thiên Tài trong Tử-vi quả là có vai trò độc đáo, nó luôn luôn làm điều trái ngược lại tinh thần của cung mà nó đóng. Sao Thiên Tài ví như vị Thiên Sứ có nhiệm vụ đảo ngược tình hình ở cung mà Thiên Tài phải hiện diện: nhiều sao đẹp mà gặp Thiên Tài (đồng cung) thì kể như vô dụng, mà nhiều sao xấu gặp Thiên Tài hóa ra đắc dụng. Đắc biệt những cung tiềm ẩn tính cách lượng số (như cung Huynh Đệ, Tử-Tức, Tài Bạch) thì sự hiệu nghiệm nói trên của Thiên Tài quả không sai lệch. Thành ra, điều kết luận về sao này, ta phải nhìn nhận quả là "Thiên Tài" hiếm có vậy.

9- Bản tính nhân chi sơ

Khoa Tử-vi Đẩu số, ngoài việc tiên tri các điều công danh, thọ yểu, giàu nghèo... của mỗi con người, nó còn là khoa tâm lý thực nghiệm khá chính xác. Quý vị thích nghiên cứu trong tinh thần triết học, hãy để ý sự kiện (Đã được nghiệm lý) sau đây: Áp dụng luật tính âm-dương cho bản mệnh với cung Mệnh là:

- Người Âm đóng cung Âm: thế lưỡng Âm nên thái quá nhu nhược, rất thâm trầm, khôn ngoan...

- Người Dương đóng cung Dương: thế lưỡng Dương nên quá cương, rất nóng nảy đến độ hồ đồ võ phu...

- Ngừơi Dương đóng cung Âm: có thực nhưng kín đáo nhún nhừơng, biết mình, biết người...

- Ngừoi Âm đóng cung Dương: người sống giả tạo, nhiệt tình vay mượn...

Ví dụ: Người Quý Mùi (Mệnh Âm) Cung Mệnh đóng tại Dần (Cung Dương), nên chưa xét đoán chi tiết, ta có ngay một ý niệm là người không có bản lãnh, biết ít mà phô trương thì nhiều, sống tạm bợ với nhiệt tình vay mượn...

10- Thời thế tạo Anh-hùng

Tiểu hạn mỗi năm được xác định tại một cung. Người xem Tử-vi hay có thói quen lấy cung tam Hợp và cung Nhị hợp với cung lưu niên, để giải đoán vận hạn hên xui của một năm (giống như cách xem đại hạn 10 năm). Thật ra muốn tìm hiểu thời kỳ đại hạn là hay hoặc dở ta chỉ nên luận giải về vòng Thái tuế, còn tiểu hạn một năm phải bám sát các Sao ngụ trong cung lưu niên. Một năm cũng có thời kỳ riêng của mỗi hành trong Ngũ hành:

  • 2 tháng rưỡi đầu mùa Xuân: hành Mộc
  • 2 tháng rưỡi đầu mùa Hè: hành Hỏa
  • 2 tháng rưỡi đầu mùa Thu: hành Kim
  • 2 tháng rưỡi đầu mùa Đông: hành Thủy
  • 15 ngày cuối mỗi mùa: hành Thổ.

Rồi từ căn bản này, ta đối chiếu với các hành của sao trong cung lưu niên muốn xem, và phải để ý đến tính chất: sao thuộc hành nào sẽ hoạt động (giống như phiên trực của quân đội) vào thời gian của hành ấy (chứ không thể có sự hoạt động nhất loại của các sao trong suốt năm mà người đời thường chọn ngày cúng sao hạn là vì vậy).

Thí dụ: Người Mệnh Thổ, lưu niên tại cung Tý có các sao:

  • Hành Mộc: Đào Hoa, Ân Quang, Hóa Quyền.
  • Hành Hỏa: Thiên Khôi, Thiên Đức, Địa Kiếp, Phi Liêm.
  • Hành Thổ: Phúc Đức, Tuyệt, Thiên Tài, Tả Phù.
  • Hành Kim:Thiên Khôi (đới Kim), Tả Phù (đới Kim), Hồng Loan (đới Kim)
  • Hành Thủy: Tham Lang, Hồng Loan.

Ta giải đáp dễ dàng niên hạn của đương số như sau:

  • Mùa Xuân: Có quý nhân giúp đỡ, thăng tiến công danh rất mau.

  • Mùa Hè: May rủi liền nhau, càng cao danh vọng càng dày gian nan.

  • Mùa Thu: Trở lại sự bình yên, có bằng hữu thuận thảo.

  • Mùa Đông: Tình cảm thoải mái, yên vui...

  • Riêng 15 ngày cuối mỗi mùa (Thổ) gặp các sao Phúc Đức, Tuyệt, Thiên Tài, Tả Phù nên hay có chuyện lo nghĩ, nhờ Thiên Tài hóa giải nhóm hung tinh: Tuyệt và Tả Phù... thành ra cũng qua khỏi vào phút chót.

Khi áp dụng luật Ngũ Hành cho sao theo mùa, ta không nên quên so sánh Ngũ Hành của sao với Ngũ Hành của Cung, để thấy rõ hơn cường độ hoạt động của các Sao bị ảnh hưởng như thế nào trong mùa của nó.

Qua ví dụ nêu trên: Cung Tý là Thủy, đương nhiên các sao Mộc tăng cường lực, các sao Kim bị suy nhược, các sao Thổ bị trở ngại và các sao Thủy khởi sắc nhất (giống như: Giang san nào anh hùng nấy - Rừng nào Cọp ấy)

Tóm lại, bài viết này không ngoài mục đích muốn cống hiến người hâm mộ Tử-vi một vài quan điểm mới, để cùng nhau soi sáng một khoa học cổ điển (vốn bị hiểu lầm là lạc hậu, thoái hóa) có giá trị cao độ của ngành nghiệm lý xã hội.

(Trích từ Báo KHHB của GS Lê Trung Hưng)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 10 điều soi sáng cho khoa nghiệm lý tử vi

Sơn Căn: Vị trí và đặc điểm tướng cách

Trong Nhân tướng học, Sơn Căn là vị trí ở giữa hai phần mắt, vùng dưới Ấn Đường (khoảng cách giữa hai mắt) và là nơi cao nhất trên sống mũi.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1. Vị trí của Sơn Căn   Trong Nhân tướng học, Sơn Căn là vị trí ở giữa hai phần mắt, vùng dưới Ấn Đường (khoảng cách giữa hai mắt) và là nơi cao nhất trên sống mũi.   

Vi tri va dac diem cua tuong Son Can hinh anh
 
Vị trí của Sơn Căn cũng chính là cung Tật Ách, chủ về bệnh tật. Vậy nên, qua tướng Sơn Căn có thể đoán biết được sức khỏe xấu tốt, triệu chứng của bệnh, lục phủ ngũ tạng khỏe hay yếu, tuổi thọ của con người.    Theo một vài quan điểm khác, ngoài biểu thị về sức khỏe, Sơn căn còn có mối liên hệ với phong thủy âm trạch (mộ phần) và dương trạch (nhà ở).   2. Đặc điểm tướng cách của Sơn Căn   Sơn Căn thấp lõm    Chủ nhân khó có thể gặt hái được thành công trong sự nghiệp, gia cảnh bần cùng, thường có nhiều bệnh tật. Nữ giới thường rất phóng túng trong hành vi tình dục, trong họ dường như không tồn tại quan niệm đạo đức truyền thống. Nếu có thêm lông mày rậm là tướng dâm loạn, chuyện tình cảm rất tùy tiện, đa phần đều làm gái làng chơi.   Nam giới có Sơn Căn thấp lõm thường không có chủ kiến, dục vọng “ái ân” lớn, vì thế dễ dàng phản bội vợ con, bạn bè. Đa phần những người có Sơn Căn thấp lõm đều rất tự ti, tiêu cực, bi quan, 70% bệnh tật đều đến từ tâm lý của chính họ.  
Vi tri va dac diem cua tuong Son Can hinh anh 2
 
Sơn Căn đứt đoạn   Chủ nhân hay có bệnh tật, thường gặp phải những chuyện ngoài ý muốn, đa phần đều liên quan đến sự an nguy của tính mạng, không nhận được ân phúc của tổ tiên. Những người này nên đi xa quê hương lập nghiệp thì mới phát tài.    Sơn Căn nhỏ hẹp   Chủ nhân của tướng Sơn Căn nhỏ hẹp là người ích kỷ, tính cách hung bạo, kém kiên nhẫn, dễ vì nóng nảy mà dẫn đến những hành động sai lầm.    Sơn Căn có nếp nhăn   Sơn Căn có nếp nhăn thẳng thì cả đời không có con cháu, phải nhận con nuôi hoặc làm con nuôi người khác. Người này phải cẩn thận đối với những tai nạn ngoài ý muốn, đặc biệt là chuyện xe cộ. Nếp nhăn chạy thẳng từ ấn đường đến chuẩn đầu là điềm báo của việc chết không toàn thây, cẩn thận với những tai nạn.   Nếu nếp nhăn nằm ngang thì phải cẩn thận với bệnh tật ẩn trong người và những trở ngại trong hôn nhân, đến 35 - 36 tuổi thì sự nghiệp gặp trắc trở, có thể dẫn đến phá sản. Là nam giới sẽ có vợ phẫu thuật vùng bụng, là nữ thì bị phẫu thuật vùng bụng. Có bao nhiêu nếp nhăn ngang thì chủ bị bấy nhiêu lần nguy hiểm. Nếp nhăn sâu thì mức độ nguy hiểm lớn và ngược lại, nếp nhăn nông thì nguy hiểm vừa phải.   Sơn Căn có nếp nhăn nằm ngang mà cùng lúc đường Sinh đạo trong lòng bàn tay bị đứt đoạn hoặc có đường cắt ngang thì chủ bị tai nạn xe. Bất kể là nam hay nữ, vào khoảng 41 tuổi sẽ gặp phải chuyện thị phi và phá tài.   Sơn Căn có 1 nếp nhăn nằm ngang là điềm báo phải đi xa nơi quê cha đất tổ mới lập nên sự nghiệp. Nếu có 2 nếp nhăn thì cha mẹ mâu thuẫn, anh em không hòa thuận. Có 3 nếp nhăn thì chủ nhân lập nghiệp từ 2 bàn tay trắng, hôn nhân trắc trở một đôi lần, có bệnh về dạ dày.   Nếu Sơn Căn có xương nhô lên, nhĩ quách lật ra ngoài thì chủ nhân có lối sống hời hợt, phóng túng quá độ, trái với quan niệm đạo đức truyền thống, dễ rơi vào những chuyện tình yêu chị em, cha con…    Sơn Căn có xương nhô lên và tạo thành đốt   Sự nghiệp và chuyện hôn nhân của người này gặp nhiều trắc trở. Nếu có nốt ruồi hoặc khí ngưng tụ không thông thoát thì chủ nhân sức khỏe kém, nhiều bệnh tật. Là nam giới, dễ bị phụ nữ lôi kéo. Là nữ, dễ bị đàn ông lừa gạt và khó tránh khỏi bệnh tật.     Sơn Căn có nốt ruồi    Cuộc sống gia đình không thuận buồm xuôi gió, nữ 2 đời chồng, nam 2 đời vợ. Nếu nốt ruồi xuất hiện tại niên thượng, thọ thượng thì chủ sẽ chết vì tai nạn, cả đời sẽ gặp nhiều họa nạn tù ngục; nốt ruồi ở bên trái - phải cánh mũi thì đa phần đều mắc bệnh dạ dày hoặc dạ dày bị ảnh hưởng xấu do uống thuốc…   Việt Hoàng
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sơn Căn: Vị trí và đặc điểm tướng cách

Bản kinh Vu Lan báo hiếu dễ đọc cho người tụng niệm tại gia

Tháng 7 mùa Vu Lan, con cái hướng về cha mẹ với tấm lòng thành kính, tụng kinh Vu Lan hồi hướng cho đấng sinh thành, diệt trừ ác nghiệp, tích thêm phúc đức.
Bản kinh Vu Lan báo hiếu dễ đọc cho người tụng niệm tại gia

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đây là hoạt động có ý nghĩa nhân văn, nhân đạo cao cả của Phật giáo, không chỉ đề cao hiếu đạo mà còn tôn vinh đạo làm người.

Ban kinh Vu Lan bao hieu de doc cho nguoi tung niem tai gia
 
Xuất phát từ tích Mục Kiền Liên – đại đệ tử của Đức Phật bày lễ cúng, tập hợp sức mạnh của chúng tăng để cứu mẹ thoát khỏi giới ngạ quỷ; lễ Vu Lan báo hiếu được tổ chức vào Rằm tháng 7 hàng năm nhằm mục đích hồi hướng tới cha mẹ đã khuất trong hiện tại và trong 7 kiếp trước đồng thời tích phúc đức cho cha mẹ đang sống.   Trong ngày lễ này không thể thiếu nghi thức tụng kinh Vu Lan để cha mẹ tiền kiếp siêu sinh, cha mẹ kiếp này an lạc, nếu cha mẹ còn sống thì khuyến khích cha mẹ cùng tụng niệm, tu tập. Đó chính là đạo hiếu, thể hiện tấm lòng thơn thảo của con cái với những bậc sinh thành, dưỡng dục.   Kinh Vu Lan báo hiếu thường tụng trong mùa Vu Lan  từ mùng 1 tới Rằm tháng 7. Ngoài ra, ngày nào cũng có thể tụng, tụng vào thời điểm nào, ở địa điểm nào đều tốt cả. Tốt nhất là nên tụng trước ban Phật, ban Tam bảo hoặc tượng Phật, tranh ảnh Phật. Làm lễ chay tịnh, đốt hương, dâng hoa quả rồi tiến hành tụng kinh.
Xem thêm bài viết Tụng kinh Vu Lan - trọn phận làm con, trọn đạo làm người
 

kinh vu lan
 
Dưới đây là bản kinh Vu Lan phiên âm Hán – Việt dễ đọc và dễ thuộc, mời quý vị tham khảo để có thể tự tụng niệm tại gia.

 
KINH VU LAN BÁO ÂN CHA MẸ   (Niêm hương bạch Phật, trì chú, lạy Phật)      (Khai chuông mõ, tán hoặc xướng bài “cúng hương”)   Nguyện thử diệu hương vân Biến mãn thập phương giới Cúng dường nhất thiết Phật Tôn Pháp chư Bồ tát Vô biên Thanh Văn chúng Cập nhất thiết Thánh Hiền Duyên khởi quang minh đài Quá ư vô biên giới Vô biên Phật độ trung Thọ dụng tác Phật sự Phổ huân chư chúng-sanh Giai phát Bồ-đề tâm Viễn ly chư vọng-nghiệp Viên thành Vô thượng đạo. Nam mô Hương Vân Cái Bồ-tát (3 lần)   (Đại chúng cùng tụng) Nam mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ-tát (3 lần)  (Xướng hoặc Tán 4 câu sau) Phật thân sung mãn ư pháp giới Phổ hiện nhất thiết quần sanh tiền Tùy duyên phú cảm mỵ bất châu Nhi hằng xử thử bồ-đề tọa. Nam mô Thập phương thường trú Tam Bảo(3 lần)   (Đại chúng lạy 3 lạy rồi quỳ xuống, tiếp theo chủ sám xướng) Khể thủ Tam giới Tôn Quy mạng thập phương Phật Ngã kim phát hoằng nguyện Trì tụng Vu lan – Báo ân kinh Thượng báo tứ trọng ân Hạ tế tam đồ khổ Nhược hữu kiến văn giả Tất phát bồ-đề tâm Tận thử nhất báo thân Đồng sanh Cực Lạc Quốc.   (Đại chúng cùng tụng) Nam mô Bổn Sư Thích Ca mưu ni Phật(3 lần) Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp Bách thiên vạn kiếp nan tao ngộ Ngã kim kiến văn đắc thọ trì Nguyện giải Như Lai chân thật nghĩa!  
Xem thêm bài viết Nên làm gì trong ngày Vu Lan báo hiếu?
 
VU LAN BỒN KINH   (Đại chúng quỳ hoặc ngồi để tụng) Nam mô Vu-lan Hội thượng Phật Bồ-tát (3 lần) Phật thuyết Vu Lan Bồn kinh: (Tây Tần Tam-Tạng Pháp-sư Trúc-Pháp-Hộ dịch)   Văn như thị: Nhất thời Phật tại Xá-Vệ quốc, Kỳ-thọ Cấp-Cô-Độc viên. Đại Mục-Kiền-Liên, thỉ đắc lục-thông, dục độ phụ mẫu, báo nhũ bộ chi ân; tức dĩ đạo nhãn quán thị thế-gian: Kiến kỳ vong mẫu sanh ngạ quỉ trung, bất kiến ẩm thực, bì cốt liên lập. Mục-Liên bi ai, tức dĩ bát thạnh phạn, vãng hướng kỳ mẫu. Mẫu đắc bát phạn, tiện dĩ tả thủ chướng bát, hữu thủ chủy thực, thực vị nhập khẩu, hóa thành hỏa thán, toại bất đắc thực. Mục-Liên đại khiếu, bi hào thế khấp, trì hoàn bạch Phật, cụ trần như thử.   Phật ngôn: “Nhữ mẫu tội căn thâm kết, phi nhữ nhất nhân lực sở nại hà! Nhữ tuy hiếu thuận, thanh động thiên địa, thiên thần, địa kỳ, tà ma, ngoại đạo, đạo sĩ, tứ thiên vương thần, diệc bất năng nại hà! Đương tu thập phương chúng Tăng oai thần chi lực, nãi đắc giải thoát. Ngô kim đương thuyết cứu tế chi pháp, linh nhất thiết nạn giai ly ưu khổ”.   Phật cáo Mục-Liên: “Thập phương chúng Tăng, thất nguyệt thập ngũ nhật, Tăng tự-tứ thời, đương vị thất thế phụ mẫu, cập hiện tại phụ mẫu, ách nạn trung giả, cụ phạn bách vị, ngũ quả, cấp quán bồn khí, hương du, đính chúc, sàng phu ngọa cụ, tận thế cam mỹ, dĩ trước bồn trung, cúng dường thập phương đại đức chúng Tăng.    Đương thử chi nhật, nhất thiết Thánh chúng, hoặc tại sơn gian thiền định, hoặc đắc tứ đạo quả, hoặc tại thọ hạ kinh hành, hoặc lục-thông tự tại giáo hóa Thanh Văn, Duyên Giác, hoặc thập địa Bồ-Tát đại nhân, quyền hiện Tỷ-kheo tại đại chúng trung, giai đồng nhất tâm thọ bát-hòa-la phạn. Cụ thanh-tịnh giới Thánh chúng chi đạo, kỳ đức uông dương.   Kỳ hữu cúng dường thử đẳng tự-tứ Tăng giả, hiện thế phụ mẫu, lục thân quyến thuộc, đắc xuất tam đồ chi khổ, ứng thời giải thoát y thực tự nhiên. Nhược phụ mẫu hiện tại giả, phước lạc bách niên, nhược thất thế phụ mẫu sanh Thiên, tự tại hóa sanh, nhập thiên hoa quang.
 
Thời, Phật sắc thập phương chúng Tăng, giai tiên vị thí chủ gia chú nguyện, nguyện thất thế phụ mẫu, hành thiền định ý, nhiên hậu thọ thực. Sơ thọ thực thời, tiên an tại Phật tiền, tháp tự trung Phật tiền, chúng tăng chú nguyện cánh tiện tự thọ thực”.   Thời Mục-Liên Tỳ-kheo cập đại Bồ-Tát chúng, giai đại hoan hỉ, Mục-Liên bi đề khấp thanh, thích nhiên trừ diệt.   Thời Mục-Liên mẫu, tức ư thị nhật, đắc thoát nhất kiếp ngạ quỉ chi khổ.   Mục-Liên phục bạch Phật ngôn: “Đệ tử sở sanh mẫu đắc mông Tam-Bảo công đức chi lực, chúng Tăng oai-thần chi lực cố; nhược vị lai thế, nhất thiết Phật đệ tử, diệc ưng phụng Vu-Lan bồn, cứu độ hiện tại phụ mẫu, nãi chí thất thế phụ mẫu khả vị nhĩ phủ?”   Phật ngôn: “Đại thiện khoái vấn! Ngã chánh dục thuyết, nhữ kim phục vấn.   Thiện nam tử! Nhược Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Quốc vương, Thái tử, Đại thần, Tể-tướng, Tam công, Bách quan, Vạn dân, Thứ nhân hành từ hiếu giả, giai ưng tiên vị sở sanh hiện tại phụ mẫu, quá khứ thất thế phụ mẫu, ư thất nguyệt thập ngũ nhật, Phật hoan hỉ nhật, Tăng tự-tứ nhật, dĩ bách vị phạn thực, an Vu-Lan bồn trung, thí thập phương tự-tứ Tăng.    Nguyện sử hiện tại phụ mẫu, thọ mạng bách niên vô bệnh, vô nhất thiết khổ não chi hoạn, nãi chí thất thế phụ mẫu ly ngạ quỉ khổ, sanh Nhân Thiên trung, phước lạc vô cực.   Thị Phật đệ tử tu hiếu thuận giả, ưng niệm niệm trung thường ức phụ mẫu, nãi chí thất thế phụ mẫu, niên niên thất nguyệt thập ngũ nhật, thường dĩ hiếu từ, ức sở sanh phụ mẫu, vị tác Vu-Lan bồn, thí Phật cập Tăng, dĩ báo phụ mẫu trưởng dưỡng từ ái chi ân, nhược nhất thiết Phật đệ tử ưng đương phụng trì thị pháp”.   Thời Mục-Liên Tỳ-Kheo, tứ bối đệ tử hoan hỉ phụng hành.   Nam mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ-tát (3 lần)
Rằm Tháng 7 kể chuyện Lễ Vu Lan của Phật giáo Vu Lan báo hiếu, ngẫm về đạo làm con Chớ nhầm lẫn giữa lễ Vu Lan và lễ cúng Cô hồn
Tâm Lan

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bản kinh Vu Lan báo hiếu dễ đọc cho người tụng niệm tại gia

Sao Địa Không

Hành: Hỏa Loại: Sát Tinh Đặc Tính: Trở ngại, thất bại, bần hàn, tai nạn, tác hại, gian xảo, kích động Tên gọi tắt thường gặp: Không
Sao Địa Không

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Phụ tinh. Thuộc bộ sao đôi Địa Không và Địa Kiếp. Phân loại theo tính chất là Sát Tinh, Hung Tinh.
Cũng là một trong 6 sao của bộ Lục Sát Tinh gồm các sao Kình Dương, Đà La, Địa Không, Địa Kiếp, Linh Tinh, Hỏa Tinh (gọi tắt là Kình Đà Không Kiếp Linh Hỏa).
Cũng là 1 trong 4 sao của cách Hình Riêu Không Kiếp (Thiên Hình, Thiên Riêu, Địa Không, Địa Kiếp).
Khi đóng trong cung không có chính tinh gọi là cách hung hoặc sát tinh độc thủ.
Khi có sao Địa Kiếp trong cùng một Cung Tỵ hoặc Cung Hợi gọi là cách Không Kiếp đồng cung Tỵ Hợi.
Khi một trong các Cung Tý, Cung Tuất, Cung Thìn, Cung Ngọ có sao Địa Không thì tại Cung Hợi hoặc Cung Tỵ thuộc cách giáp Không Kiếp.
Vị Trí Ở Các Cung

  • Đắc Địa: Dần, Thân, Tỵ, Hợi.
  • Hãm Địa: Tý, Sửu, Mão, Thìn, Ngọ, Mùi, Dậu, Tuất.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Mệnh
Tướng Mạo
Sao Địa Không ở Mệnh thì thân hình thô xấu, da kém vẻ tươi nhuận.
Tính Tình
  • Địa Không đắc địa: Có mưu trí, thâm trầm và lợi hại, rất can đảm, táo bạo, dám nói, dám làm, kín đáo, bí mật, hay giấu diếm, hay suy xét, mưu trí cao thâm, thủ đoạn. Những đặc tính này đúng cho cả phái nam và nữ.
  • Địa Không hãm địa: Ích kỷ, tự kỷ ám thị, suy tật xấu của người từ tật xấu của mình, xảo quyệt, gian tà, biển lận, tham lam.
Công Danh Tài Lộc
Sao Địa Không cho dù đắc địa cũng không bảo đảm trọn vẹn và lâu dài công danh và tài lộc. Sự nghiệp sẽ hoạch phát nhưng hoạch phá nghĩa là tiến đạt rất nhanh chóng song tàn lụi cũng lẹ. Uy quyền và tiền bạc phải gặp nhiều thăng trầm, lúc thịnh lúc suy; nếu có phú quý lớn thì hoặc không hưởng được lâu, hoặc phải có lần phá sản, lụn bại.
Nếu hãm địa, nhất định phải cực kỳ nghèo khổ, vất vả, không có sự nghiệp và sinh kế để nuôi thân. Sao Địa Không giáp Mệnh cũng liên lụy ít nhiều đến bản thân, công danh, tài lộc như phải vất vả, tha phương lập nghiệp, bị mưu hại, trộm cắp.
Phúc Thọ Tai Họa
Đắc địa: Cuộc đời phải vất vả cực nhọc, tuy tai họa tiềm tàng, nhưng không mấy hung hiểm. Dù sao, phải chịu nhiều cảnh thăng trầm, khi vinh, khi nhục. Nếu gặp phải sát tinh, thì sự phá hoại dễ dàng phát tác mau chóng.
Hãm địa: Địa Không ví như một nghiệp chướng bám vào vận mệnh con người, có ảnh hưởng đa diện và nặng nề, cụ thể như:
  • Bị tật nguyền vĩnh viễn, bệnh nặng.
  • Hung họa nhiều và nặng nề.
  • Nghèo khổ, cô độc, vô sản, phải đi xa làm ăn.
  • Yểu mạng.
Những Bộ Sao Tốt
Địa Không đắc địa gặp Thiên Tướng, Thiên Mã, Hóa Khoa: Những sao này thủ Mệnh là người tài giỏi, lập được sự nghiệp lừng lẫy trong cảnh loạn ly.
Địa Không đắc địa với phi thường cách: Phi thường cách hoặc gồm Tử Phủ, Vũ, Tướng đắc địa, hoặc gồm Sát, Phá, Liêm, Tham đắc địa, được sự hội tụ của cát tinh đắc địa như Tả, Hữu, Khôi, Việt, Xương, Khúc, Long, Phượng, Đào, Hồng, Khoa, Quyền, Lộc và của sát tinh đắc địa như Kình, Đà, Không, Kiếp, Hình, Hổ. Đây là cách nguyên thủ, đế vương, hội đủ tài đức và vận hội, có cả lương thần và hảo tướng trợ giúp, xây dựng chế độ, để danh tiếng lừng lẫy cho hậu thế.
Những Bộ Sao Xấu
  • Địa Không với Thiên Hình, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh: Nếu cùng đắc địa cả thì phú quý được một thời. Nếu cùng hãm địa cả thì rất nguy hiểm tính mạng, sự nghiệp, tài danh, suốt đời gặp nhiều chuyện đau lòng. Dù đắc hay hãm địa, cả trai lẫn gái đều khắc vợ, sát phu.
  • Địa Không, Thiên Cơ (hay Hỏa): Bị hỏa tai như cháy nhà, phỏng lửa.
  • Địa Không, Tham Lang đồng cung: Bị thủy tai (chết đuối, bị giết dưới nước), nếu không cũng chật vật lang thang độ nhật, dễ sa vào đường tù tội.
  • Địa Không (Kiếp) Phục Binh, Thiên Hình, Hóa Kỵ: Gian phi, trộm cướp, du đãng.
  • Địa Không, Trực Phù, Thiên Khốc, Điếu Khách, Cự Môn, Nhật: Cách này biểu hiện cho tai họa, tang khó, đau buồn liên tiếp và chung thân bất hạnh.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Phụ Mẫu
  • Cha mẹ mất sớm, chết sớm, chết thảm, bị hình tù, ly cách.
  • Không nhờ vả được cha mẹ mà có khi phải gánh nợ di truyền của cha mẹ để lại.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Phúc Đức
  • Sao Địa Không đắc địa, thì hưởng lộc một thời.
  • Sao Địa Không hãm địa, chủ sự bất hạnh lớn về nhiều phương diện, giòng họ sa sút, lụn bại, vô lại, cường đạo, sự nghiệp tan tành, tuổi thọ bị chiết giảm, đau ốm triền miên vì một bệnh nan y.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Điền Trạch
  • Địa Không đắc địa, có điền sản một dạo, nhưng phải mua đi bán lại luôn.
  • Địa Không hãm địa, vô sản, bị sang đoạt, bị phá sản, bị tai họa về điền sản (cháy nhà, nhà sập ...) hoặc sang đoạt, tạo điền sản bằng phương tiện táo bạo, ám muội.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Quan Lộc
  • Công danh thấp kém, làm ăn rất chật vật.
  • Bị khinh ghét, dèm pha, không thăng tiến.
  • Bị mất chức ít nhất một lần.
Nếu đắc địa, có bộc phát được một thời nhưng sau cũng tàn lụi, hoặc phải lên voi xuống chó.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Nô Bộc
  • Tôi tớ phản chủ, hại chủ, giết chủ.
  • Bạn bè xấu, tham lận, lường gạt.
  • Nhân tình ám hại, bêu xấu, bòn của.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Thiên Di
  • Ra ngoài làm ăn vất vả, phải bon chen, đôi khi có sựï gây gỗ, bực mình.
  • Công danh vất vả, làm ăn lúc được lúc không, làm nghề cực nhọc.
  • Tình cảm bạc bẽo, có số ly hương, đi xa, mồ côi, nếu không thì gia đạo cũng ly tán, xa cách.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Tật Ách
Sát tinh này có rất nhiều đặc tính bệnh lý, hầu hết là rất nặng. Nó gây thương tàn cho bộ phận cơ thể đi kèm, dù sao đó chỉ xung chiếu hay bàng chiếu. Cuộc đời hay gặp tai nạn, trắc trở, bệnh khó chữa, có ám tật.
  • Địa Không, Thiên Đồng: Ruột dư phải mổ, hay bệnh thận phải mổ, bệnh mật có sạn.
  • Địa Không, Đế Vượng: Gãy xương sống, sái xương sống.
  • Địa Không, Hỷ Thần: Bệnh trĩ kinh niên hay bệnh mụn nhọt lớn ở mông.
  • Địa Không, Phá Toái: Đau yết hầu, ung thư cổ họng.
  • Địa Không, Thai: Bào thai chết trong bụng mẹ, mẹ cố ý phá thai.
  • Địa Không, Hóa Kỵ: Ngộ độc bị phục độc.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Tài Bạch
  • Địa Không nếu đắc địa: thì hoạch phát nhanh chóng một thời, nhưng về sau phá sản cũng rất nhanh. Thường thường kiếm tiền bằng những phương cách táo bạo (buôn lậu, ăn cướp, sang đoạt) và ám muội (đầu cơ, oa trữ, buôn bán đồ quốc cấm).
  • Địa Không nếu hãm địa: Vô sản, bần nông.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Tử Tức
  • Không con, hiếm muộn, ít con, phải ở xa con cái.
  • Sát con rất nhiều.
  • Con du đãng, đĩ điếm không nhờ vả được mà còn phải bị di lụy.
  • Con phá sản nghiệp cha mẹ.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Phu Thê
Có những ý nghĩa sau:
  • Sát phu, sát thê, góa bụa bất ngờ.
  • Có thể không có gia đình.
  • Nếu có gia đình thì sát hay phải xa cách nhau lâu dài vì tai nạn xảy ra cho một trong hai người.
  • Phải hai, ba lần lập gia đình, lần nào cũng nhanh chóng.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Huynh Đệ
Có những ý nghĩa sau:
  • Không có anh chị em hoặc anh chị em ly tán.
  • Có anh chị em dị bào, có người đau ốm bệnh tật, có tật nguyền, hoặc đoản thọ, chết yểu.
  • Không nhờ vả được anh chị em mà còn phải bị liên lụy vì họ (vì Địa Không bấy giờ giáp Mệnh).
Địa Không Khi Vào Các Hạn
Nếu đắc địa, sẽ bộc phát tài danh mau lẹ, nhưng phải làm bệnh nặng về phổi, mụn nhọt, hoặc phải đi xa.
  • Nếu hãm địa, rất nhiều tai nguy về mọi mặt:
  • Bị bệnh nặng về vật chất và tinh thần (lo buồn).
  • Bị mất chức, đổi chỗ vì kỷ luật.
  • Bị hao tài, mắc lừa, mất của, thất tình.
  • Bị kiện cáo.
  • Bị chết nếu gốc nhị Hạn xấu.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sao Địa Không

Lễ Thành hoàng ở Đình, Đền, Miếu

Lễ Thành hoàng ở Đình, Đền, Miếu. Thành Hoàng là bậc tiền nhân đã có công với cộng đồng làng xã, dân tộc trong lịch sử đấu tranh giữ nước và dựng nước của người Việt Nam. Tham khảo bài viết để biết văn khấn cúng lễ Thành Hoàng ở đình, đền, miếu

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


1. Ý nghĩa:

Theo tập tục văn hoá truyền thống, ở mỗi tỉnh thành, làng, xã Việt Nam đều có các Đình, Đến, Miếu, Phủ là nơi thờ tự Thần linh, Thành Hoàng, Thánh Mẫu.

Các vị thần linh, Thành Hoàng, Thánh Mẫu là các bậc tiền nhân đã có công với cộng đồng làng xã, dân tộc trong lịch sử đấu tranh giữ nước và dựng nước của người Việt Nam.

Ngày nay, theo nếp xưa người Việt Nam ở khắp mọi miền đất nước hàng năm vẫn đi lễ, đi trẩy Hội ở các Đình, Đền, Miếu, Phủ vào các ngày lễ, tết, tuần tiết, sóc, vọng và ngày Hội, để tỏ lòng tôn kinh, ngưỡng mộ biết ơn các bậc Tôn thần đã có công với đất nước.

Đình, Đền, Miếu, Phủ cùng với sự lưu truyền sự linh diệu của các thần trong nhiều trường hợp đã đi vào trang sử oai hùng của dân tộc Việt Nam góp phần không nhỏ vào việc duy trì tình cảm yêu nước. Nơi thờ tự Đình, Đền, Miếu, Phủ còn là những nơi sinh hoạt tâm linh, tín ngưỡng. Con người hy vọng rằng bằng những hành vi tín ngưỡng, có thể cầu viện đấng Thần linh phù hộ cho bản thân, cùng gia đình, cộng đồng được an khang, thành đạt và thịnh vượng, yên bình, biến hung thành cát, giải trừ tội lỗi…

2. Sắm lễ:

Theo phong tục cổ truyền khi đến Đình, Đền, Miếu, Phủ nên có lễ vật có thể to, nhỏ, nhiều, ít, sang, mọn tuỳ tâm. Mặc dù ở những nơi này thờ Thánh, Thần, Mẫu nhưng người ta vẫn có thể sắm các lễ chay như hương hoa quả, oản,… để dâng cũng được.

- Lễ Chay: Gồm hương hoa, trà, quả, phẩm oản… dùng để lễ ban Phật, Bồ Tát (nếu có).
Lễ chay cũng dùng để dâng ban Thánh Mẫu.

- Lễ Mặn: Nếu Quý vị có quan điểm phải dùng mặn thì chúng tôi khuyên mua đồ chay hình tướng gà, lợn, giò, chả.

- Lễ đồ sống: Tuyệt đối không dùng các đồ lễ sống gồm trứng, gạo, muối hoặc thịt tại các ban quan Ngũ Hổ, Bạch xà, Thanh xà đặt ở hạ ban Công Đồng Tứ phủ.

- Cỗ sơn trang: Gồm những đồ đặc sản chay Việt Nam: Không được dùng cua, ốc, lươn, ớt, chanh quả… Nếu có gạo nếp cẩm nấu xôi chè thì cũng thuộc vào lễ này.

- Lễ ban thờ cô, thờ cậu: Thường gồm oản, quả, hương hoa, gương, lược… Nghĩa là những đồ chơi mà người ta thường làm cho trẻ nhỏ. Nhưng lễ vật này cầu kỳ, nhỏ, đẹp và được bao trong những túi nhỏ xinh xắn, đẹp mắt.

- Lễ thần Thành Hoàng, Thư điền: Phải dùng chay mới có phúc và những lời cầu nguyện được linh ứng.

3. Hạ lễ

Sau khi kết thúc khấn, lễ ở các ban thờ, thì trong khi đợi hết một tuần nhang có thể viếng thăm phong cảnh nơi thừa tự, thờ tự.

Khi thắp hết một tuần nhang có thể thắp thêm một tuần nhang nữa. Thắp nhang xong, vái 3 vái trước mỗi ban thờ rồi hạ sớ đem ra nơi hoá vàng để hoá.

Hoá sớ xong mới hạ lễ dâng cúng khác. Khi hạ lễ thì hạ từ ban ngoài cùng vào đến ban chính. Riêng các đồ lễ ở bàn thờ Cô, thờ Cậu như gương, lược… thì để nguyên trên bàn thờ hoặc giả nơi đặt bàn thờ này có nơi để riêng thì nên gom vào đó mà không đem về.

4. Văn khấn

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

- Con lạy chín phương trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

- Con kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

- Con xin kính lạy ngài Kim Niên Đương cai Thái tuế chí đức Tôn thần.

- Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành Hoàng chư vị Đại Vương.

Hương tử con là…………Ngụ tại…………


Hôm nay là ngày...... tháng.....năm..............

Hương tử con đến nơi.....................thành tâm kính nghĩ: Đức Đại Vương nhận mệnh Thiên đình giáng lâm ở nước Việt Nam làm Bản cảnh Thành Hoàng chủ tể một phương bấy nay ban phúc lành che chở cho dân. Nay hương tử chúng con thành tâm dâng lên lễ bạc, hiến tế hương hoa, phẩm oản......

Cầu mong đức Bản cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương chứng giám, rủ lòng thương xót, phù hộ che chở cho chúng con sức khỏe dồi dào, mọi sự tốt lành, lắm tài nhiều lộc, an khang thịnh vượng, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm.

Hương tử con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật! (3 lần)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Lễ Thành hoàng ở Đình, Đền, Miếu

Bệnh hoa mắt muỗi bay với con sâu trong giấc mơ –

Bệnh muỗi bay là bệnh của mắt, tuy bên ngoài không thấy nhãn cầu có dấu vết gì nhưng sáng ra thấy có nhiều điểm bay tán loạn trong mắt, giống như các con muỗi bay. Mắt có hiện tượng như thế gọi là ảo thị. Có một cô gái làm việc ở một cơ quan hàng khô

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bệnh muỗi bay là bệnh của mắt, tuy bên ngoài không thấy nhãn cầu có dấu vết gì nhưng sáng ra thấy có nhiều điểm bay tán loạn trong mắt, giống như các con muỗi bay. Mắt có hiện tượng như thế gọi là ảo thị.

Bệnh hoa mắt

Có một cô gái làm việc ở một cơ quan hàng không kể cho mọi người nghe về giấc mơ của cô: Một hôm đang nằm nghỉ, cô mơ thấy mình bay trên không, có lúc bay rất tự do. Bay một lúc cô lại trở về máy bay và phát hiện trên vách trong máy bay có rất nhiều côn trùng nhỏ, đen như hắc ín bám, trên chén trà, ngay cả người cũng đầy loại trùng này. Chẳng có cách nào đuổi được chúng, các con trùng bay đầy gian phòng khiến cô không trông thấy gì, cô không chịu được, kêu to và tỉnh dậy.

Mấy ngày sau cô mới biết mình bị mắc bệnh đau mắt hoa có muỗi bay, đành nghỉ công tác.

Bệnh này do cảm ứng tâm lý mà có, các con trùng bay trong ảo giác, bất cứ mở mắt hay nhắm mắt đều có cảm giác như thế.

Khi thấy hiện tượng như thế phải đi bệnh viện kiểm tra ngay.

Nếu trẻ em mơ thấy như thế thì phải đi khám, xác định xem loại bệnh gì vì bệnh hoa mắt như có muỗi bay rất ít gặp ở trẻ em.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bệnh hoa mắt muỗi bay với con sâu trong giấc mơ –

Ba cha tám mẹ là những ai ?

Theo "Thọ mai gia lễ": Ba cha là: Thân phụ: Cha sinh ra mình. Kế phụ: Sau khi cha chết, mẹ lấy chồng khác, chồng mới của mẹ là kế phụ hay, bố dượng. Dưỡng phụ: Bố nuôi.
Ba cha tám mẹ là những ai ?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tám mẹ là:

  1. Đích mẫu: Vợ cả của bố.
  2. Kế mẫu: Khi còn nhỏ mẹ đã mất, cha lấy vợ khác để nuôi nấng mình.
  3. Từ mẫu: Mẹ chết từ tấm bé, cha sai người vợ lẽ nuôi mình bú mớm.
  4. Dưỡng mẫu: Mẹ nuôi, cha mẹ nghèo cho mình để người khác nuôi.
  5. Xuất mẫu: Là mẹ sinh ra mình nhưng bị cha ruồng rẫy.
  6. Giá mẫu: là mẹ sinh ra mình, nhưng khi cha mất thì đi lấy chồng khác.
  7. Thứ mẫu: Là mẹ sinh ra mình nhưng là vợ lẽ của cha.
  8. Nhũ mẫu: Mẹ vú, cho mình bú mớm từ khi còn tấm bé.

Trên đây là định nghĩa theo "Thọ mai gia lễ", chưa nói đến những người đã lấy vợ lấy chồng thì cha mẹ vợ, cha mẹ chồng cũng như cha mẹ mình. Vậy thì, còn ba loại nhạc phụ và tám loại nhạc mẫu. Tất cả phải 6 cha, 16 mẹ.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Ba cha tám mẹ là những ai ?

Hướng bố trí hòn non bộ trong phong thủy

Hòn non bộ là bộ phận quan trọng trong tạo cảnh sân vườn. Do vậy không thể thiết kế một cách đơn lẻ mà cần có sự phối hợp với nhiều yếu tố khác.
Hướng bố trí hòn non bộ trong phong thủy

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Hòn non bộ là bộ phận quan trọng trong tạo cảnh sân vườn. Do vậy không thể thiết kế một cách đơn lẻ mà cần có sự phối hợp với nhiều yếu tố khác.

 
Sự phối hợp giữa hòn non bộ và các loại cây cối to nhỏ ở vị trí đẹp cần có diện tích khá rộng. Dưới đây là hướng bố trí hòn non bộ theo phong thủy:

Hướng Tây: Thiết kế hòn non bộ ở hướng này là cát. Nếu có thể phối hợp với các loại cây cối, cỏ hoa để tránh nắng thì sẽ càng tốt hơn.

Hướng Tây Bắc: Thiết kế hòn non bộ ở hướng này là đại cát nhưng cần phải phối hợp trồng thêm các loại cây cối thì gia vận mới hưng thịnh được.

Hướng Bắc: Có thể thiết kế hòn non bộ ở hướng này. Địa hình có thể cao một chút. Nếu trồng các loại cây phù hợp thì bố cục non bộ sẽ càng trở nên đẹp hơn. Tuy nhiên, tránh sự hiện diện của quá nhiều cây cối.

Hướng Đông Bắc: Có thể thiết kế hòn non bộ ở hướng này. Hướng này hòn non bộ làm cao 1 chút thì tốt hơn vì nó mang ý nghĩa ổn định về tài sản; sự đoàn kết 1 nhà và có người kế nghiệp tốt.

Hướng Nam: Hòn non bộ thiết kế ở hướng này không tốt vì nó mang ý nghĩa là tài trí và năng lực bị chôn vùi, không thể phát huy được.

Hướng Tây Nam: Đây là hướng bất lợi, không phù hợp cho việc thiết kế hòn non bộ.

(Theo Phong thủy vườn tược nhà ở cây xanh trong nhà)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Hướng bố trí hòn non bộ trong phong thủy

Hoàn thiện bản thân - Chương 2: Pháp Luân Công

CHƯƠNG II: PHÁP LUÂN CÔNG Pháp Luân Công bắt nguồn từ Pháp Luân Tu Luyện Ðại Pháp của Phật Gia, nó là một phương pháp tu luyện khí công đặc biệt của Phật Gia, nhưng chính nhờ nó có các đặc tính riêng biệt mà làm cho nó nổi bật lên giữa các đường lối tu luyện trung bình khác trong Phật Gia. Hệ thống tu luyện này là một phương pháp tu luyện đặc biệt và cấp tốc nên vẫn thường đòi hỏi người tu phải có một tâm tính thật cao và căn cơ thật tốt 1 .

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Ðể giúp cho nhiều người luyện công lên cao được, đồng thời vẫn thỏa mãn yêu cầu của phần đông các người quyết chí tu luyện, tôi đã chỉnh đốn lại và cập nhật toàn bộ các phương pháp tu luyện này để thích hợp cho việc quảng bá trong quần chúng, mặc dù được sửa đổi, nó này vẫn vượt xa những kết quả và trình độ khi tập luyện các công pháp.

1. Vai trò của Pháp Luân

Pháp Luân của Pháp Luân Công có được cùng đặc tính với vũ trụ, nó là mô hình nhỏ của vũ trụ. Người tu luyện theo Pháp Luân Công sẽ không chỉ có khả năng phát triển các công năng và công lực một cách nhanh chóng, mà họ cũng sẽ phát triển được một Pháp Luân với uy lực vô tỷ trong thời gian thật ngắn. Sau khi Pháp Luân được thành hình, nó tồn tại dưới dạng một linh thể 2, nó luôn luôn quay tự động không ngừng nghỉ nơi vùng bụng dưới của người luyện công, liên tục thu hút và chuyển hóa năng lượng từ vũ trụ, và cuối cùng là biến đổi nó thành ra công trong bản thể của người luyện công, vì vậy nó đạt được hiệu quả của pháp luyện người 3, nói cách khác, mặc dầu người ta không thể luôn luôn luyện tập, nhưng Pháp Luân vẫn không ngừng luyện người. Khi quay vào trong Pháp Luân độ chính mình, nó làm cho người tu luyện mạnh mẽ hơn và khỏe mạnh hơn, thông minh và khôn ngoan hơn, và bảo vệ cho người tu không bị sai lệch, nó cũng có thể giữ cho người tu không bị quấy nhiễu bởi những người với tâm tính thấp kém. Khi quay ra ngoài Pháp Luân độ cho người, nó có thể chữa bệnh và trừ tà cho người khác, điều chỉnh mọi trạng thái bất thường. Pháp Luân quay không ngừng nơi vùng bụng dưới, nó quay chín lần theo chiều kim đồng hồ và sau đó chín lần ngược chiều kim đồng hồ. Khi quay theo chiều kim đồng hồ nó thu hút năng lượng thật mãnh liệt của vũ trụ, năng lượng to lớn phi thường. Khi công lực tăng trưởng thêm nữa, sức xoay chuyển trở nên mạnh hơn nhiều, một trạng thái mà không thể đạt được khi cố gắng dùng ý hút đầy khí từ đỉnh đầu. Khi quay ngược chiều kim đồng hồ, nó phóng thích năng lượng và cứu độ tất cả chúng sinh, cũng như điều chỉnh mọi trạng thái bất thường, người nào ở gần người tu sẽ được ảnh hưởng tốt. Trong tất cả các cách tập khí công được giảng dạy trong nước của chúng ta (Trung quốc), Pháp Luân Công là công pháp đầu tiên và duy nhất đạt được tiêu chuẩn pháp luyện người.
Pháp Luân rất quý báu, không thể mua được bằng số tiền lớn nào. Khi giao Pháp Luân cho tôi, sư phụ của tôi dạy rằng: Pháp Luân không thể được truyền cho bất cứ người nào, tất cả mọi người dù đã tu luyện hàng ngàn năm và muốn nó, nhưng họ không thể có được. Ðiều này chỉ được truyền cho một người theo đường lối tu luyện của chúng tôi sau một thời gian thật là lâu, không như những thứ nào đó mà được truyền cho một người cứ mỗi vài chục năm, vậy nên Pháp Luân thật cực kỳ quý giá. Bây giờ, mặc dầu chúng tôi phổ truyền trong công chúng và biến nó thành ít mạnh mẽ, nó vẫn còn thật là quý giá. Ðối với người tu có nó, họ đã tiến được nửa đoạn đường tu luyện, những gì còn lại là để cho quý vị nâng cao tâm tính của mình, và sẽ có một cấp khá cao đang chờ quý vị. Dĩ nhiên, người không có duyên phận sẽ ngưng tập luyện sau khi bắt đầu một thời gian, và rồi thì Pháp Luân sẽ không còn tồn tại trong người họ nữa.
Pháp Luân Công là công pháp thuộc Phật Gia, nhưng nó hoàn toàn vượt ra ngoài phạm vi của Phật Gia, nó luyện theo cả toàn vũ trụ. Trong quá khứ tu luyện trong Phật Gia chỉ nói về những nguyên lý của Phật Gia, trong khi tu luyện theo Đạo Gia chỉ nêu lên những nguyên lý của Đạo Gia, cả hai trường phái đều không có cắt nghĩa thấu đáo căn bản của vũ trụ. Vũ trụ cũng như con người, ngoại trừ cấu trúc vật chất ở bên ngoài, nó cũng có đặc tính riêng của nó, một cách vắn tắt là nó có thể được tóm gọn trong ba chữ, đó là "Chân Thiện Nhẫn". Tu luyện theo Đạo Gia chủ yếu ngộ về "chân", nói chân thật, làm việc chân thật, trở về nguồn cội, và sau cùng thành một chân nhân. Tu luyện theo Phật Gia chú trọng về "thiện", làm sản sinh tâm đại từ bi, cứu độ chúng sinh. Pháp môn của chúng ta tu theo "Chân Thiện Nhẫn" cùng một lúc, tức là trực tiếp tu luyện theo đặc tính căn bản của vũ trụ, và cuối cùng là đạt được sự đồng hóa cùng vũ trụ 4.
Pháp Luân Công là công pháp tu cả tâm lẫn thân, khi công lực và tâm tính đã đạt đến một trình độ nào đó, là đến lúc để đạt tới trạng thái khai ngộ (khai công) trong thế gian này, tu thành một cơ thể không bao giờ bị hư hoại 5. Nói chung Pháp Luân Công được chia thành thế gian pháp và xuất thế gian pháp mà bao gồm nhiều cấp bậc. Tôi hy vọng rằng mọi người quyết chí sẽ chuyên cần tu luyện, không ngừng nâng cao tâm tính, đạt đến viên mãn.

2. Hình dáng của Pháp Luân

Pháp Luân của Pháp Luân Công là một vật thể có linh tính, xoay tròn và cấu thành từ vật chất cao năng lượng. Nó chuyển động xoay tròn theo đúng luật chuyển động của toàn vũ trụ. Ở một mức độ nào đó, Pháp Luân là một mô hình nhỏ của vũ trụ. Ở giữa Pháp Luân là dấu hiệu chữ Vạn (chu Van) của Phật Gia. Nó là trung tâm của Pháp Luân. Màu sắc của nó gần giống như màu vàng kim với nền màu đỏ sáng chói. Nền của vòng tròn bên ngoài thì màu cam. Bốn dấu hiệu Thái Cực và bốn chữ Vạn của Phật Gia được xếp đặt xen kẽ nhau theo tám hướng. Thái cực gồm có màu đỏ và đen thuộc về Đạo Gia, trong khi Thái Cực với màu đỏ và xanh thuộc về Tiên Thiên Đại Đạo. Bốn chữ Vạn nhỏ cũng có màu vàng kim. Nền của Pháp Luân có màu thay đổi theo chu kỳ: đỏ, cam, vàng, xanh lá cây, xanh dương, chàm, và tím. Những màu này rất đẹp. Các màu của chữ Vạn chính giữa và Thái Cực thì không thay đổi. Các Pháp Luân với kích thước khác nhau này tự xoay chuyển, và chữ Vạn cũng vậy. Pháp Luân có cội rễ từ trong vũ trụ. Vũ trụ đang xoay chuyển, tất cả các thiên hà đang xoay chuyển, vì vậy, Pháp Luân cũng đang xoay chuyển. Những người đã mở Thiên mục ở cấp thấp, họ có thể nhìn thấy Pháp Luân đang quay vòng như một cây quạt; còn những người mở Thiên mục ở cấp cao, họ có thể thấy nguyên hình Pháp Luân rất đẹp và sáng chói, điều này khuyến khích người tu phấn đấu mạnh mẽ để tiến lên.

3. Ðặc Ðiểm Của Pháp Luân Công

(1) Pháp luyện nhân

Người tập Pháp Luân Công sẽ không chỉ có khả năng làm tăng Công lực và công năng một cách mau chóng, nhưng cũng sẽ có khả năng luyện thành Pháp Luân. Pháp Luân có thể được tạo thành trong một thời gian rất ngắn, và một khi thành hình, nó rất là mạnh mẽ. Nó có thể che chở cho người tu khỏi bị sai đường. Thêm vào đó, nó có thể bảo vệ người tu không bị quấy rầy bởi những người có tâm tính thấp kém. Nó cũng là một phương pháp tu luyện hoàn toàn khác hẳn với lý thuyết của các phương pháp tu luyện truyền thống. Vì Pháp Luân tự nó xoay chuyển không ngừng nghỉ sau khi được thành lập, nó tồn tại dưới dạng thức của một linh thể, thu hút năng lực một cách liên tục và thường xuyên ở vùng bụng dưới của người tu. Pháp Luân xoay vòng để tự động thu hút năng lượng từ vũ trụ. Chính vì nó xoay chuyển không ngừng nghỉ, nó đạt được mục đích của "Pháp Luyện Nhân", nó liên hệ đến việc Pháp Luân luyện người không ngừng nghỉ ngay khi người ta không luôn luôn luyện tập. Như mọi người đều biết, người thường phải làm việc ban ngày và nghỉ ban đêm, còn lại rất ít thời giờ cho việc tu luyện. Ðể đạt được trạng thái tu luyện 24 giờ một ngày, phương pháp được gọi là luôn luôn nghĩ đến việc tu luyện không có hiệu lực, và sử dụng các phương pháp khác vẫn khó lòng đạt đến mục đích thật sự tu luyện 24 giờ một ngày. Tuy nhiên, Pháp Luân xoay chuyển không ngừng nghỉ, gom góp và chuyển hóa khí được hấp thụ từ vũ trụ bằng cách quay vào bên trong. Ðiều này được thực hiện ở mọi vị trí của Pháp Luân, ngày lẫn đêm, không bao giờ ngừng lại. Nó biến đổi khí thành một chất liệu ở cao tầng, sau cùng biến nó thành công mang trên thân người tu. Ðây gọi là "Pháp Luyện Nhân". Tu luyện theo Pháp Luân Công hoàn toàn khác với bất kỳ trường phái nào khác và các môn phái tu luyện khí công đan đạo. Ðiểm nổi bật nhất của Pháp Luân Công là luyện một Pháp Luân thay vì luyện đan. Cho đến nay, trong các phương pháp tu luyện được phổ truyền, không kể đến từ trường phái nào hay đường lối tu luyện nào, có thể là chi nhánh của Phật giáo, Đạo giáo, Phật Gia, Đạo Gia, hay thuộc các hệ phái rải rác trong quần chúng, tất cả đều luyện đan. Nhiều đường lối tu luyện bàng môn khác cũng giống như vậy. Chúng được gọi là khí công đan đạo. Sự tu hành của các tăng, ni và các đạo sĩ, tất cả đều phát xuất từ cách tu luyện đan này. Nếu được hỏa táng sau khi viên tịch, chúng sẽ tạo thành các viên xá-lợi mà thành phần cấu tạo của chúng chưa được khám phá ra bởi các thiết bị khoa học tân tiến. Nó rất là cứng, chắc và rất đẹp. Thật ra, nó là chất liệu ở cao tầng được tích tụ từ các không gian khác, chứ không phải trong không gian của chúng ta. Ðó là Đan. Rất khó cho người theo khí công đan đạo để đạt được trạng thái giác ngộ trong một kiếp người. Trước kia, có rất nhiều người luyện theo khí công đan đạo đã cố gắng để vận chuyển Đan đi lên. Một khi nó chạy lên đến Nê hoàn cung, nó không có thể xuất ra ngoài, vì vậy những người này bị kẹt ở đây. Vài người rất muốn cho nó nổ tung ra, nhưng không biết làm cách nào. Một số người làm như thế này: Ông nội của người đó không thành công. Khi sắp chết, ông nội nhả ra và giao lại cho người cha. Người cha cũng không thành công. Khi chết, người cha cũng nhả ra và giao lại cho người con. Cho đến bây giờ, anh ta vẫn là người tầm thường. Quả thật là quá khó! Dĩ nhiên, cũng có nhiều phương pháp tu luyện đứng đắn. Nó tương đối khá tốt nếu quý vị có thể có được sự chân truyền. Tuy nhiên, vị thầy có thể không dạy cho quý vị những thứ thật sự ở cao tầng.

(2) Tu luyện chủ ý thức

Mọi người đều có một chủ ý thức (nguyên thần). Người ta thường tùy thuộc vào chủ ý thức khi thi hành các nhiệm vụ và xem xét các vấn đề. Ngoại trừ chủ ý thức,cũng có một hay nhiều phụ ý thức trong bản thể con người, cũng như các tín hiệu được thừa hưởng từ các tổ tiên trong gia đình. Phụ ý thức có cùng tên với chủ ý thức, nhưng thông thường nó có nhiều khả năng hơn và cũng ở cấp cao hơn chủ ý thức. Phụ ý thức không bị mê hoặc bởi cám dỗ của xã hội người thường của chúng ta và có thể nhìn thấy các không gian riêng biệt của nó. Nhiều công pháp tu luyện theo lối luyện phụ ý thức, theo đó thì cơ thể vật chất và chủ ý thức chỉ có nhiệm vụ chuyên chở. Người tu luyện thường không biết đến những điều này. Và họ có thể vẫn cảm thấy rất thoải mái về chính họ. Khi đang sống trong xã hội, thật rất khó để một người từ bỏ điều thực tiễn, nhất là những điều mà người đó gắn bó vào. Vì vậy, nhiều phương pháp tu luyện nhấn mạnh đến việc tập luyện khi đang ở trong trạng thái hôn mê, một trạng thái hôn mê hoàn toàn. Khi sự chuyển hóa xảy ra trong lúc đang hôn mê, phụ ý thức đang qua sự chuyển hóa và được nâng cấp. Ngày nào đó, phụ ý thức hoàn tất sự tu luyện và mang công của quý vị đi. Không còn lại gì cho chủ ý thức và bản thể thật của quý vị hết, và cả đời tu luyện của quý vị sẽ tiêu tan hết. Ðiều này thật đáng tiếc. Một số thầy khí công danh tiếng sử dụng mọi loại công năng vĩ đại và nhờ nó mà được nổi danh và được kính nể; tuy nhiên, họ vẫn không nhận thức được là công của họ không tăng trưởng trên chính cơ thể của họ. Pháp Luân Công của chúng ta tu luyện trực tiếp về chủ ý thức, nó đòi hỏi Công phải thật sự tăng trưởng trên cơ thể của quý vị. Dĩ nhiên, phụ ý thức cũng sẽ được chia phần, vì là phần quan trọng thứ nhì sau chủ ý thức, nó cũng đang thăng tiến. Phương pháp tu luyện của chúng ta đòi hỏi một tâm tính thật gắt gao, để cho quý vị rèn luyện tâm tính của mình và thăng tiến trong trong mọi hoàn cảnh phức tạp nhất của xã hội người thường, như hoa sen mọc lên giữa bùn lầy. Vì vậy quý vị được chứng đắc trong sự tu luyện của mình. Ðây là lý do tại sao Pháp Luân Công quý báu như vậy. Nó quý báu vì chính quý vị đạt được Công. Nhưng, nó cũng rất khó khăn. Sự khó nhọc dựa trên sự kiện là quý vị đã chọn một đường đi mà sẽ hướng dẫn quý vị tu luyện trong các hoàn cảnh phức tạp nhất. Vì mục đích tập luyện là tu luyện chủ ý thức, chủ ý thức phải được sử dụng để điều khiển sự tu luyện. Những gì chủ ý thức quyết định là dứt khoát; nó không được chuyển qua cho phụ ý thức. Nếu không, sẽ có một ngày khi phụ ý thức hoàn tất sự tu luyện của nó ở một cấp cao và mang Công theo với nó. Vì vậy, là chủ bản thể và chủ ý thức, quý vị sẽ không còn lại gì cả. Khi quý vị tu luyện ở cao tầng, nó không thể chấp nhận được khi chủ ý thức của quý vị ngay cả không ý thức được mình đang tu luyện, như là quý vị đang ngủ mê vậy. Quý vị phải biết rõ rằng mình đang tập luyện, tu luyện đến cao tầng và nâng cao tâm tính của mình. Chỉ như vậy quý vị sẽ kiểm soát được hành động của mình và có thể đạt được công. Nhiều lần khi quý vị lơ đễnh, quý vị có thể hoàn tất điều gì đó mà ngay cả không biết làm sao nó đã được làm. Thật ra, chính là phụ ý thức đã đóng vai trò trong đó. Phụ ý thức đã chủ động. Nếu quý vị ngồi thiền nơi đó, và quý vị mở mắt nhìn trước trán mình, quý vị sẽ thấy rằng có một quý vị khác ngồi đối diện. Nếu quý vị ngồi thiền quay về hướng bắc, nhưng bỗng nhiên, quý vị thấy mình ngồi tại hướng nam và quý vị bắt đầu nghĩ rằng: "Làm sao ta đi ra ngoài?", rồi thì đây là người thật của quý vị xuất ra. Cái đang ngồi đó là cơ thể của quý vị và phụ ý thức. Những điều này có thể phân biệt được. Quý vị không được hoàn toàn quên hẳn mình khi đang tập luyện Pháp Luân Công. Quên chính mình tức là không theo đúng Đại Pháp của sự tu luyện Pháp Luân Công. Quý vị phải giữ tâm của mình được sáng suốt khi tập luyện. Quý vị sẽ không đi sai lệch nếu chủ ý thức của quý vị mạnh mẽ trong lúc luyện tập, và những điều tầm thường không thể làm hại đến quý vị. Nếu chủ ý thức yếu đi, những thứ lạ có thể xâm nhập vào cơ thể quý vị.

(3) Tu luyện không kể phương hướng hay giờ giấc

Nhiều phương pháp tu luyện rất chú trọng về phương hướng và thời điểm tốt nhất để luyện tập. Chúng ta không chú trọng về những điều này. Tu luyện Pháp Luân Công là chiểu theo đặc tính của vũ trụ và những nguyên lý diễn hóa của vũ trụ mà luyện. Vì vậy, chúng ta không chú trọng về phương hướng hay thời điểm. Các bài tập của chúng ta tương đương với tập luyện trong lúc đang ngồi trên Pháp Luân, nó có ở mọi hướng và luôn luôn xoay vòng. Pháp Luân của chúng ta hòa nhịp với cả vũ trụ. Vũ trụ đang chuyển động, giải Ngân hà đang chuyển động, chín hành tinh đang quay chung quanh mặt trời và trái đất chính nó cũng đang quay. Hướng nào là đông, nam, tây hay là bắc? Người sống trên trái đất nghĩ ra các phương hướng. Vì vậy, bất kỳ hướng nào quý vị đối diện, quý vị sẽ đang đối diện với mọi hướng. Một số người nói rằng tốt nhất là tập luyện lúc giữa đêm, có người nói lúc đúng ngọ, hay một thời điểm nào khác. Chúng ta cũng không bận tâm về vấn đề này vì Pháp Luân sẽ luyện quý vị khi quý vị không đang tập luyện. Pháp Luân đang giúp cho quý vị tu luyện ở mọi thời điểm, đó là "Pháp luyện nhân". Trong khí công đan đạo, người ta luyện đan; trong Pháp Luân Công, nó là pháp luyện người. Thực hành càng nhiều càng tốt khi quý vị có thì giờ. Tập ít đi khi quý vị không có nhiều thì giờ. Nó rất là thoải mái.

4. Tính mệnh song tu

Pháp Luân Công tu luyện tâm lẫn thân. Qua sự tu luyện, bản thể thật của quý vị được thay đổi trước. Không để mất bản thể thật, chủ ý thức hợp với cơ thể vật chất thành một, hoàn tất sự tu luyện một cách trọn vẹn.

(1) Thay đổi của bản thể

Một cơ thể con người gồm có thịt, máu và xương, với các thành phần và cấu trúc phân tử khác nhau. Nhờ tu luyện, thành phần nguyên tử của cơ thể con người được chuyển hóa thành chất liệu ở cao tầng. Vì vậy những bộ phận trong cơ thể con người không còn là những chất liệu nguyên thủy nữa, nhưng thay vào đó chúng đã trải qua một sự thay đổi căn bản về các chất lượng ở bên trong. Tuy nhiên, người tu tu luyện và sinh sống giữa những người thường, và không có thể vi phạm các tình trạng của xã hội loài người. Vì vậy, sự thay đổi như thế này không biến đổi các cấu trúc phân tử nguyên thủy, cũng không thay đổi thứ tự sắp xếp các phân tử. Nó chỉ thay đổi các thành phần nguyên tử nguyên thủy. Xác thịt của con người vẫn mềm mại, xương cốt vẫn rắn chắc và máu vẫn ở thể lỏng. Khi bị đứt tay người ta vẫn chảy máu. Theo học thuyết Ngũ hành của Trung Quốc cổ đại, "kim, mộc, thủy, hỏa và thổ" tạo nên vạn vật. Nó cũng như vậy đối với cơ thể con người. Khi người tu trải qua các sự biến đổi của bản thể thật của họ, có được các chất liệu ở cao tầng thế vào các thành phần nguyên tử nguyên thủy, tới lúc đó cơ thể con người không còn cấu tạo bởi các chất liệu nguyên thủy nữa. Ðiều này chính là điều được gọi là "không trong ngũ hành". Ðặc điểm nổi bật nhất của các phương pháp tu luyện tâm lẫn thân là nó kéo dài mạng sống và chống lão hóa. Pháp Luân Công của chúng ta có được cái đặc điểm nổi bật này. Pháp Luân Công có tác dụng như sau: nó thay đổi từ căn bản các thành phần phân tử của cơ thể con người, gom góp lại và chứa các chất liệu cao tầng trong mọi tế bào, và cuối cùng để cho các chất liệu ở cao tầng thay thế các thành phần của tế bào. Bằng cách đó, sự già nua sẽ không xảy ra. Người ta quả thật không còn trong ngũ hành, biến cơ thể của họ thành một cơ thể gồm có các chất liệu ở các không gian khác. Nó không còn bị giới hạn bởi không gian và thời gian của chúng ta nữa, người này sẽ trẻ mãi. Trong lịch sử, có nhiều vị cao tăng sống rất thọ. Bây giờ, có người sống tới vài trăm năm đi ngoài đường, và quý vị không có thể nói họ là ai. Họ trông rất trẻ và mặc quần áo giống người thường nên quý vị không thể phân biệt được. Tuổi thọ của con người không thể quá ngắn ngủi như hiện nay. Nói từ khía cạnh khoa học tân thời, người ta phải có khả năng sống đến hơn 200 tuổi. Theo các hồ sơ có một người tên là Femcath ở Anh quốc sống được 207 năm. Một người tên là Mitsu Taira ở Nhật sống đến 242 tuổi. Dưới thời nhà Ðường ở xứ ta (Trung Quốc) có một thầy tu tên là Huệ Chiêu (Hui Zhao) sống đến 290 tuổi. Theo sổ bộ của quận Vĩnh Thái (Yong Tai) thuộc tỉnh Phúc Kiến, Trần Khuyên (Chen Jun) sinh vào năm đầu của thời Trung Hòa (Zhong He) (năm 881 sau công nguyên) dưới triều vua Hi Tông (XiZong) của nhà Ðường. Ông mất dưới thời Thái Ðịnh (Tai Ding) của triều đại nhà Nguyên (năm 1324 sau công nguyên), sau khi sống được 443 tuổi. Những điều này được hỗ trợ bởi các hồ sơ và có thể tra cứu được. Chúng không phải là các chuyện thần thoại. Nhờ tu luyện, các người tu Pháp Luân Công làm giảm bớt các vết nhăn trên mặt một cách rõ rệt, và gương mặt hồng hào, khỏe mạnh và sáng sủa. Cơ thể của họ cảm thấy rất nhẹ nhàng và thư giãn, và không có dấu hiệu mệt mỏi khi đi bộ hay làm việc. Ðây là một hiện tượng thông thường. Nó cũng là lý do tại sao dáng vóc của tôi, theo các người khác nói lại, vẫn không thay đổi sau 20 năm. Chính tôi đã tu luyện trong nhiều chục năm. Pháp Luân Công của chúng ta có chứa đựng một nguyên lý tu thân rất vững vàng. Khi về già, người tu theo Pháp Luân Công trông khác với người thường thật rõ rệt. Họ trông không giống với số tuổi đời của họ. Vì vậy, đặc điểm nổi bật nhất của các phương pháp tu luyện tâm lẫn thân là gia hạn mạng sống, làm chậm sự lão hóa và kéo dài tuổi thọ.

(2) Pháp Luân chu thiên

Cơ thể của chúng ta là một tiểu vũ trụ. Năng lượng của cơ thể con người luân chuyển vòng quanh cơ thể, nó được gọi là chuyển động của tiểu vũ trụ, và cũng được gọi là chuyển động của vòng Chu Thiên. Vòng Chu Thiên nối liền hai mạch Nhâm và Ðốc, theo các xếp loại về cấp bậc, chỉ là một vòng Chu Thiên cạn dưới làn da. Nó không có hiệu lực để tu mệnh. vòng Tiểu Chu Thiên, theo nghĩa thật sự, di chuyển bên trong cơ thể đi từ Nê Hoàn Cung đến Đan Điền. Nhờ sự nội chuyển này, nó làm mở tung mọi kinh mạch bắt đầu từ bên trong cơ thể ra đến bên ngoài. Pháp Luân Công của chúng ta đòi hỏi tất cả các kinh mạch đều được mở ra ngay từ đầu. Vòng Ðại Chu Thiên là vận chuyển của kỳ kinh bát mạch và đi vòng quanh cơ thể theo một vòng tuần hoàn. Khi vòng Ðại Chu Thiên được mở ra, nó sẽ mang đến trạng thái là người đó có thể bay khỏi mặt đất. Ðây là cái mà người ta muốn nói là "Bạch Nhật Phi Thăng", như được chép lại trong Đan Kinh. Tuy vậy, thường là một điểm nào đó trong cơ thể của quý vị sẽ bị khóa lại để cho quý vị không thể nào bay lên được. Tuy vậy, nó sẽ mang đến cho quý vị trạng thái như vậy: quý vị sẽ đi bộ nhanh hơn và không cần ráng sức, và khi quý vị đi lên dốc, quý vị sẽ cảm thấy như có ai đẩy phía sau quý vị. Sự khai mở của vòng Ðại Chu Thiên cũng có thể mang lại một loại công năng: nó có thể làm cho khí giữa các bộ phận khác nhau trong cơ thể hoán đổi vị trí. Khí của tim di chuyển đến dạ dày; khí của dạ dày đi đến ruột,v..v. Khi công lực được gia tăng thêm, khả năng này biến thành công năng di chuyển đồ vật từ xa (công năng ban vận) nếu khí được phóng ra ngoài cơ thể. Loại vòng Chu Thiên này cũng còn được gọi là "Tý Ngọ Chu Thiên" hay là "Càn Khôn Chu Thiên". Tuy vậy các chuyển động của nó vẫn chưa đạt được mục đích là chuyển hóa bản thể. Còn có một vòng Chu Thiên tương tự khác nữa được gọi là vòng "Mão Dậu Chu Thiên". Ðây là cách chuyển vận của Mão Dậu Chu Thiên: nó phát xuất từ huyệt Hội âm hoặc huyệt Bách hội, di chuyển dọc theo phía ngoài của cơ thể nơi tiếp giáp giữa mặt âm và dương. Vòng Chu Thiên trong Pháp Luân Công lớn hơn các chuyển động của Kinh Lạc và Bát Mạch được bàn tới trong các pháp tu luyện trung bình. Nó là sự chuyển động của các kinh mạch xuyên tréo khắp cơ thể con người. Nó đòi hỏi tất cả các mạch phải được mở hoàn toàn ngay lập tức, và tất cả cùng nhau di chuyển. Những điều này đã được gắn sâu vào trong Pháp Luân Công của chúng ta, nên quý vị không cần phải cố ý luyện tập nó, cũng không cần phải hướng dẫn nó với ý nghĩ của quý vị. Nếu quý vị làm điều đó, quý vị sẽ đi sai đường. Tôi đã gắn khí cơ (bộ máy khí) bên ngoài cơ thể của quý vị trong lớp học. Nó luân chuyển một cách tự động. Khí cơ là thứ đặc biệt của sự tu luyện ở cao tầng, và là một phần của những gì làm cho sự tu luyện của chúng ta được tự động. Cũng như Pháp Luân, nó xoay chuyển không ngừng nghỉ, hướng dẫn tất cả các năng lượng bên trong kinh mạch của cơ thể chuyển động xoay tròn. Mặc dầu quý vị không có luyện tập vòng Chu Thiên, thật ra, những kinh mạch này đã được hướng dẫn xoay vòng, và phía ngoài cũng như phía sâu trong cơ thể đều cùng nhau chuyển động toàn diện. Chúng tôi sử dụng các bài tập để gia tăng sức mạnh của khí cơ hiện diện ở phía ngoài cơ thể.

(3) Khai mở kinh mạch

Mục đích khai mở kinh mạch là làm cho năng lượng chuyển động, để thay đổi các thành phần phân tử của tế bào và để chuyển hóa nó thành chất liệu ở cao tầng. Các kinh mạch của người không tu thì bị tắc nghẽn và rất là hẹp. Kinh mạch của người tu sẽ dần dần sáng sủa hơn, làm thông các vùng bị tắc. Kinh mạch của người tu lâu năm sẽ được nới rộng ra. Chúng sẽ còn nới rộng hơn nữa khi tu luyện ở cao tầng. Một số người có kinh mạch rộng như một ngón tay. Tuy vậy, sự khai mở các kinh mạch tự nó không phản ảnh các trình độ tu luyện, hoặc bề cao của Công. Nhờ tu luyện, các kinh mạch sẽ được sáng sủa hơn và nới rộng hơn, và dĩ nhiên sẽ liên kết với nhau để trở thành một khối đồng nhất. Tới lúc đó, người này không còn có kinh mạch hay các huyệt châm cứu nữa.

Trái lại, toàn thân của họ tất cả đều là kinh mạch và các huyệt châm cứu. Ngay cả đến lúc này, nó không có nghĩa là người này đã đạt được sự tu luyện. Nó chỉ phản ảnh một trình độ nào đó trong tiến trình tu luyện Pháp Luân Công. Khi đạt đến giai đoạn này, người ta đã đạt tới đoạn cuối của sự tu luyện thế gian pháp. Cùng lúc đó, nó mang đến một trạng thái giống như là sự xuất hiện ở bên ngoài của Tam Hoa Tụ Ðỉnh. Một số lớn công đã được phát triển, với mọi hình dạng, và cột trụ công cũng rất là cao. Thêm nữa, ba đóa bông đã xuất hiện trên đỉnh đầu, một bông giống như là hoa cúc và một bông khác là hoa sen. Cả ba đóa hoa đều quay tròn, và cùng lúc, thay phiên nhau xoay chung quanh chính nó. Mỗi đóa hoa có một cột trụ rất cao ở bên trên, cao tới tận trời. Ba cột trụ này cũng quay tròn và xoay chung quanh chính nó cùng lúc với các đóa hoa. Người ta sẽ cảm thấy bộ đầu trở nên nặng nề. Tới điểm này, người ta đang ở bậc cuối cùng của sự tu luyện thế gian pháp.

5. Ý niệm

Tu luyện Pháp Luân Công không kèm theo ý niệm. Ý niệm tự nó không đạt được gì cả, nhưng nó có thể đưa ra các mệnh lệnh. Cái mà thật sự thi hành là các công năng, nó có khả năng suy nghĩ của một linh thể và có thể nhận chỉ thị từ các tín hiệu đến từ bộ óc. Nhưng nhiều người, nhất là những người trong lĩnh vực khí công, có rất nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này. Họ cho rằng ý niệm có thể làm được rất nhiều việc. Có người nói đến việc sử dụng ý niệm để phát triển các công năng, để mở thiên mục, để chữa bệnh và di chuyển đồ vật từ xa, v..v. Hiểu như vậy là sai. Ở các cấp thấp, người thường sử dụng ý niệm để điều khiển các giác quan và tứ chi. Ở các cấp cao, ý niệm của người tu tiến cao hơn một bậc, nó ra lệnh cho các quyền năng để thi hành các công tác. Nói cách khác, các công năng nhận mệnh lệnh từ ý niệm. Ðây là cách mà chúng ta xem xét ý niệm. Ðôi khi chúng tôi thấy một vị thầy khí công trị bệnh cho người khác. Các bệnh nhân nói rằng họ trở nên khá hơn ngay cả khi vị thầy chưa động đến ngón tay nữa, và họ nghĩ rằng bệnh được chữa bằng ý niệm. Thật ra, người ta sử dụng một loại của công năng và ra lệnh cho nó trị bệnh, hoặc làm điều gì khác.

Vì công năng di chuyển trong một không gian khác, người thường không thể thấy bằng mắt của họ. Những người không hiểu cho rằng đó là kết quả của ý niệm. Có người tin rằng ý niệm có thể dùng để trị bệnh, nhưng đó là hướng dẫn người ta đi lạc đường. Quan điểm này phải được làm sáng tỏ.

Ý nghĩ của con người là một loại tín hiệu, một loại năng lượng và cũng là một dạng của vật chất. Khi người ta nghĩ về các vấn đề gì, bộ óc phát ra một rung động. Ðôi khi nó thật là hữu hiệu khi niệm chú. Tại sao vậy. Vì vũ trụ cũng có tần số rung động của chính nó. Khi tần số câu chú của quý vị trùng hợp với tần số của vũ trụ, nó có thể có hiệu lực. Muốn cho chắc chắn có hiệu lực, nó phải là một chú rất nhỏ vì các điều tà ma không được phép tồn tại trong vũ trụ. Ý niệm cũng là một lối suy nghĩ đặc biệt. Pháp Thân của các thầy khí công cao cấp được kiểm soát và nhận mệnh lệnh từ ý nghĩ của bản thể chính. Pháp Thân cũng có suy nghĩ riêng của nó, nó có khả năng độc lập để tự giải quyết các vấn đề và thi hành các công tác. Nó là một cá thể hoàn toàn độc lập.

Nhưng cùng lúc, Pháp Thân hiểu ý nghĩ của bản thể chính của các thầy khí công và thi hành các công tác dựa theo các ý nghĩ đó. Chẳng hạn như nếu vị thầy Khí công muốn trị bệnh cho một cá nhân nào đó, Pháp Thân của ông ta sẽ đi đến đó. Nếu không có ý nghĩ đó, nó sẽ không đi. Khi nó thấy một điều gì thật tốt và nên làm, nó sẽ tự mình làm điều đó. Có thầy chưa đạt đến trạng thái giác ngộ. Có một số điều ông ta chưa được biết, nhưng Pháp Thân của ông ta đã biết rồi.
Ý niệm cũng bao gồm ý nghĩa của linh cảm. Linh cảm không đến từ chủ ý thức của con người. Kiến thức căn bản của chủ ý thức rất là hạn hẹp. Nó sẽ không làm được nếu chỉ dựa vào chủ ý thức để thử đưa ra giải pháp gì mà chưa có trong xã hội này. Linh cảm đến từ phụ ý thức. Có người tham gia vào các công trình sáng tạo hay nghiên cứu khoa học. Khi họ bị kẹt sau khi tận dụng bộ óc của họ, họ bỏ ngang, nghỉ xả hơi một hồi, hay là đi bộ ngoài trời. Đột nhiên, linh cảm đến với họ mà không cần suy nghĩ. Họ lập tức bắt đầu ghi chép mọi điều xuống một cách nhanh chóng.

Vì vậy họ đã sáng chế ra được điều gì. Ðây là vì khi chủ ý thức quá mạnh, nó kiểm soát bộ óc. Nó bị kẹt. Khi chủ ý thức buông lỏng, phụ ý thức bắt đầu hoạt động. Rồi nó kiểm soát bộ óc. Phụ ý thức, thuộc về một không gian khác, không bị kiềm chế bởi không gian này, và nó có khả năng sáng tạo những điều mới lạ. Nhưng phụ ý thức không thể vượt quá hay là cản trở các tình trạng của xã hội người thường, cũng không có thể ảnh hưởng đến sự tiến bộ của phát triển trong xã hội.
Linh cảm đến từ hai nguồn gốc. Một là do được cung cấp bởi phụ ý thức. Phụ ý thức không bị lạc giữa cạm bẫy của thế giới này và có thể tạo ra linh cảm. Nguồn gốc khác nữa đến từ các mệnh lệnh và hướng dẫn của một linh thể ở cao tầng. Khi được hướng dẫn bởi một linh thể ở cao tầng, tâm người ta đã được mở rộng và có thể sáng tạo những thứ thật quan trọng. Sự phát triển toàn vẹn của xã hội và của vũ trụ có các nguyên lý riêng của nó. Không có gì xảy ra do sự ngẫu nhiên hết.

6. Tầng thứ tu luyện của Pháp Luân Công

(1) Tu luyện ở cao tầng

Pháp Luân Công tu luyện ở một cấp thật cao, vì vậy công được phát sinh rất mau. Ðại đạo rất đơn giản và dễ dàng. Trên căn bản tổng quát, Pháp Luân Công có rất ít động tác. Tuy vậy, nó kiểm soát tất cả các bộ phận của cơ thể, kể cả những thứ sẽ được sinh ra. Chừng nào tâm tính có thể được tăng lên, công sẽ tăng thật mau, nó đòi hỏi rất ít cố gắng của ý định, hay sử dụng phương pháp đặc biệt nào, hay bắt lò luyện đan. Dựa vào sự hướng dẫn của ý định có thể rất là phức tạp và có thể dễ dàng đi sai lệch. Nơi đây chúng tôi cung cấp một lối tu luyện thích hợp nhất và tốt nhất, tuy vậy cũng là khó nhất. Ðể cho người tu đạt đến trạng thái Thân Trắng Như Sữa (nãi bạch thể), nó sẽ mất hơn chục năm, nhiều chục năm, hay ngay cả lâu hơn nữa theo các pháp môn khác. Tuy nhiên, chúng tôi sẽ mang quý vị đến trạng thái này ngay lập tức. Trình độ này có lẽ đã vượt qua trước khi quý vị ngay cả cảm nhận được nó. Nó có lẽ kéo vài khoảng vài giờ. Sẽ có một ngày quý vị cảm thấy rất nhạy cảm, và chỉ một lúc sau, quý vị sẽ không còn cảm thấy nhạy cảm như vậy nữa. Thật ra, quý vị vừa mới trải qua một cấp bậc lớn.

(2) Các hình thức biểu lộ của công

Sau khi trải qua sự điều chỉnh của cơ thể vật chất, học viên Pháp Luân Công đã đạt đến một trạng thái thích hợp cho việc tu luyện Ðại Pháp. Ðây là trạng thái ‘nãi bạch thể’. Công chỉ có thể được tạo thành sau khi chúng được điều chỉnh tới trạng thái này. Người có thiên mục mở ở cấp cao có thể thấy công phát triển trên làn da của người đó, rồi nó được thu hút vào trong cơ thể của người tu. Kế đó nó được tạo thành lần nữa và hấp thụ vào trong cơ thể lần nữa, và cứ tiếp tục như vậy, đi từ lớp này đến lớp khác, đôi khi rất nhanh chóng. Ðây là công của đợt đầu. Sau khi công đã được phát triển trong đợt đầu, cơ thể của người tu không còn là một cơ thể thường nữa. Sau khi đạt đến “nãi bạch thể” người ta sẽ không bao giờ bị bệnh nữa. Cơn đau có thể xuất hiện đó đây hay là sự khó chịu ở vùng nào đó, tương tự như bệnh tật, nhưng nó không phải là bệnh. Nó gây ra bởi nghiệp lực. Sau đợt phát triển công lần thứ nhì, các linh thể đã tăng trưởng thật lớn. Chúng có thể di chuyển và trò chuyện. Ðôi khi chúng nó được sinh sản rải rác, đôi khi tụ lại rất đông đúc. Chúng cũng có thể nói chuyện với nhau nữa. Một khối năng lượng thật lớn được chứa đựng trong các linh thể này, nó được dùng để thay đổi bản thể thật sự.
Khi tu luyện theo Pháp Luân Công đến một cấp thật cao, đôi khi Hài-nhi (Anh hài) xuất hiện cùng khắp cơ thể con người. Chúng nó rất là nghịch ngợm, thích nô đùa và rất rộng lượng. Cũng có thể một linh thể khác được sinh ra. Ðó là Nguyên Anh. Nó ngồi trên tòa sen trông thật đẹp. Nguyên Anh được sinh ra do sự tương hội giữa Âm và Dương trong cơ thể con người. Người tu nam cũng như nữ đều có thể luyện thành Nguyên Anh. Lúc đầu Nguyên Anh rất nhỏ, nhưng nó lớn dần, và cuối cùng nó to lớn cũng bằng và trông giống như người tu. Nó ở phía trong cơ thể của người tu. Khi người có công năng nhìn người đó, họ sẽ nói rằng người đó có hai cơ thể. Thật ra, người đó đã luyện thành cơ thể thật của mình. Thêm vào đó, có nhiều Pháp Thân cũng có thể được phát sinh nhờ sự tu luyện. Một cách tổng quát, các công năng được phát triển trong vũ trụ, tất cả đều có thể được phát triển trong Pháp Luân Công; các công năng được phát triển trong các pháp môn tu luyện khác, tất cả cũng được bao gồm trong Pháp Luân Công.

(3) Tu luyện xuất thế gian pháp

Nhờ tập luyện, người tu làm cho các kinh mạch của mình nới rộng hơn và rộng hơn nữa, nối liền với nhau thành một khối. Ðó là tu luyện đến trạng thái không còn kinh mạch hay huyệt châm cứu nữa. Nhưng nói khác đi, kinh mạch và các huyệt châm cứu hiện diện ở khắp nơi. Ðiều này cũng chưa có nghĩa là quý vị đạt được Ðạo. Nó chỉ phản ảnh một trình độ nào đó trong tiến trình tu luyện Pháp Luân Công. Khi đạt đến trạng thái này, người ta đi đến cuối đường của sự tu luyện Thế Gian Pháp. Công phát triển được rất là mạnh mẽ, và có đủ mọi hình dáng. Cột trụ công cũng rất cao. Thêm vào đó, ba đóa hoa xuất hiện trên đỉnh đầu. Tới lúc đó, người này đã hoàn tất bước cuối cùng của Thế Gian Pháp.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Hoàn thiện bản thân - Chương 2: Pháp Luân Công

Gợi ý cách đặt giường trong phòng ngủ khai thông vận trình

Cách đặt giường trong phòng ngủ có thể làm tăng lên hoặc giảm đi vận trình của chủ nhân, vì vậy nhất định phải lưu ý những nguyên tắc cần thiết.
Gợi ý cách đặt giường trong phòng ngủ khai thông vận trình

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Phòng ngủ là nơi chúng ta dành nhiều thời gian để nghỉ ngơi, nạp năng lượng nên có ảnh hưởng rất nhiều tới vận khí. Cách đặt giường trong phòng ngủ có thể làm tăng lên hoặc giảm đi vận trình của chủ nhân, vì vậy nhất định phải lưu ý những nguyên tắc cần thiết.

Goi y cach dat giuong trong phong ngu khai thong van trinh hinh anh
 

1. Kê giường ngủ hợp mệnh

 

Ngũ hành có Kim, Mộc, Thủy, Hòa, Thổ. Mệnh của mỗi người đều tương ứng với một trong năm ngũ hành đó. Nên chọn hướng giường hợp với mệnh của chủ nhân thì vận trình sẽ hanh thông, suôn sẻ, đặc biệt là về phương diện sức khỏe và tình cảm.   Dựa vào nguyên lý ngũ hành tương sinh tương khắc cũng như ngũ hành ứng với phương, người mệnh Thổ và mệnh Kim nên kê giường hướng Đông Bắc, Tây Bắc, Tây Nam và Tây. Người mệnh Hỏa, Mộc, Thủy hãy kê giường hướng Bắc, Đông Nam, Đông, Nam.    Ngoài ra, cũng có thể dựa vào bát trạch mệnh lý để chọn hướng giường tốt. Người thuộc Đông tứ mệnh nên kê giường ở phương Đông tứ trạch, người thuộc Tây tứ mệnh nên kê giường ở phương Tây tứ trạch. Nên chọn sao cho giường được kê ở hướng Phục Vị - là hướng biểu đạt về sự an ổn, tĩnh tại, rất có phúc lộc.    Đông tứ mệnh bao gồm mệnh Chấn Mộc, Tốn Mộc, Ly Hỏa, Khảm Thủy với các phương tương ứng lần lượt là Đông, Đông Nam, Nam, Bắc. Tây tứ mệnh bao gồm mệnh Khôn Thổ, Cấn Thổ, Càn Kim, Đoài Kim với các phương tương ứng lần lượt là Tây Nam, Đông Bắc, Tây Bắc, Tây.   Cách đặt giường trong phòng ngủ theo mệnh, với đầu giường kê ở hướng tốt, hợp với ngũ hành bản mệnh sẽ mang tới sinh khí dồi dào, giúp bạn ngủ ngon giấc, có sức khỏe tốt và gặp nhiều may mắn trong chuyện tình cảm riêng. Đặt giường đúng vị trí còn có thể giúp vận trình sự nghiệp thăng tiến, gia trạch thuận hòa, tinh thần phấn chấn, đặc biệt có lợi.
Goi y cach dat giuong trong phong ngu khai thong van trinh hinh anh
 
Với trường hợp vợ chồng có mệnh không hòa hợp thì một trong những cách để hóa giải mệnh xung khắc là kê giường ngủ ở hướng có ngũ hành trung gian. Ví dụ như vợ mệnh Thủy, chồng mệnh Hỏa là không tốt vì Thủy khắc Hỏa, vợ khắc chồng. Có thể cải thiện tình hình bằng cách tăng cường ngũ hành Mộc trong cuộc sống của hai người vì Thủy sinh Mộc, Mộc lại sinh Hỏa, thế là bình hòa. Kê giường ở hướng thuộc ngũ hành Mộc là hướng Đông thì sẽ tốt lành, giảm bớt xung khắc một cách đáng kể.  

2. Kê giường ngủ hợp phong thủy

  Cách đặt giường trong phong ngủ không thể không chú ý tới phong thủy. Phong thủy phòng ngủ có tầm quan trọng khó chối cãi trong tổng thể chung của phong thủy nhà ở. Khi chọn vị trí kê giường, nhất thiết phải ghi nhớ những điểm như sau:   - Giường ngủ không kê đối diện cửa. Cửa là nơi luồng khí xâm nhập, có cả khí tốt lẫn khí xấu, nếu giường đối diện cửa ra vào thì khí xấu sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới người ngủ trên giường.   - Giường ngủ không kê đối diện nhà vệ sinh, xú uế không tốt tới sức khỏe của chủ nhân, lâu dần có thể sinh bệnh về lưng, thận.   - Giường ngủ không kê đối diện gương, vật có phản quang như ti vi vì chúng sẽ sản sinh ra hung sát, gây hại cho sức khỏe và vận trình của người nằm trên giường.
Goi y cach dat giuong trong phong ngu khai thong van trinh hinh anh
 
- Giường ngủ không kê sát cửa sổ, nhất là trường hợp đầu giường ở cạnh cửa sổ. Những luồng khí độc dễ dàng xâm nhập khiến chủ nhân bị ốm, không khỏe mạnh; đồng thời có thể ảnh hưởng tới chất lượng giấc ngủ do môi trường bên ngoài tác động như tiếng ồn, thời tiết, ánh sáng,…   - Giường ngủ không nên đặt dưới xà nhà, sẽ mắc phải cấm kị phong thủy là “xà ngang áp đỉnh”, khiến chủ nhân ngủ không ngon giấc, thường gặp áp lực nặng nề về tinh thần, vận trình nhiều xui rủi.   - Giường ngủ nên kê ở nơi mà đầu giường có chỗ dựa vững chắc như tường, giá sách lớn,… để chủ nhân có cảm giác an tâm, ngủ ngon giấc hơn, vận trình cũng nhờ đó mà vững vàng như được nâng đỡ.   - Giường ngủ nên kê ở nơi thông thoáng, ba bên đều không có đồ vật cản trở, tuyệt đối không có những vật sắc nhọn như giá sách, móc treo quần áo, ăng ten, cạnh bàn,…   Cách đặt giường trong phòng ngủ cần tuân thủ những nguyên tắc về mệnh lý và phong thủy để đón lành tránh dữ, hướng cát tị hung, chủ nhân hanh thông và luôn khỏe mạnh. 

Kê giường kiểu này vừa ngủ ngon lại không lo tiêu tán tiền của Bé dễ ốm đau, cáu kỉnh nếu ngủ giường tầng thường xuyên Xác định hướng kê giường ngủ phong thủy cho 12 con giáp luôn khỏe mạnh
Trần Hồng

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Gợi ý cách đặt giường trong phòng ngủ khai thông vận trình

Chùa Vẽ - Hải Phòng

Chùa Vẽ là ngôi chùa thờ Phật của Đoạn Xá, là một công trình kiến trúc nghệ thuật cổ còn khá nguyên vẹn, nguy nga. Chùa Vẽ có tên chữ là Hoa Linh Tự
Chùa Vẽ - Hải Phòng

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Chùa Vẽ là ngôi chùa thờ Phật của Đoạn Xá, là một công trình kiến trúc nghệ thuật cổ còn khá nguyên vẹn, nguy nga. tọa lạc tại số 443, đường Đà Nẵng, Quận Hải An, Tp.Hải Phòng. Được Trụ Trì bởi Ni sư Thích Tâm Chính. Chùa Vẽ có tên chữ là Hoa Linh Tự, gắn liền với những sự kiện oanh liệt chống ngoại xâm của quân dân ta trong chiến thắng Bạch Đằng năm 938 của Ngô Vương Quyền và chiến thắng Bạch Đằng năm 1287- 1288 của quân dân ta thời Trần. Đây là ngôi chùa thờ Phật của Đoạn Xá, phường Đông Hải, quận Hải An, cách trung tâm thành phố Hải Phòng khoảng 10km.

Lịch Sử: Tương truyền rằng, các thám tử của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã sử dụng ngôi chùa này để quan sát đồn trại giặc và vẽ sơ đồ chuẩn bị cho trận đánh Bạch Đằng năm 1288 thắng lợi.

Kiến Trúc: Chùa Vẽ là một công trình kiến trúc nghệ thuật cổ còn khá nguyên vẹn, nguy nga. Chùa mang kiến trúc hình chữ “Đinh” (J) gồm 5 gian tiền đường và 4 gian chuôi vồ. Kèm hai bên hậu cung là hai ngôi nhà chè nhỏ, nơi đặt bàn thờ “Tam toà Thánh Mẫu” và “Đức Ông bản thổ”. Các cột của toà nhà được làm hoàn toàn bằng gỗ lim nguyên cây, cao to lừng lững, một vòng tay người ôm không xuể. Bàn thờ Trần Hưng Đạo, vị tổng chỉ huy quân đội nhà Trần được lập ở gian phía trái toà tiền đường. Tượng Hưng Đạo Vương và tượng đôi ngựa chiến hồng bạch của ông là những tác phẩm điêu khắc cực kỳ sống động.

Toà Tam Bảo được bày trọn trong tòa hậu cung. Hàng trên cùng là bộ tượng Tam Thế, tiếp đến là bộ Di Đà Tam Tôn là những tượng pháp kinh điển của nhà Phật. Đứng song hàng với tòa Phật điện là nhà thờ tổ 5 gian cùng quay hướng đông nam.

Trong nhà thờ tổ, chính giữa đặt bàn thờ đức Ngô vương Quyền, ông tổ trung hưng dân tộc; bên cạnh phải là bàn thờ sư tổ, bên trái là bàn thờ Hậu phật. Tượng sư tổ có 5 pho, trung tâm là tượng tổ dòng Thiền Bồ Đề Đạt Ma, chung quanh là tượng các vị cao tăng trụ trì tại chùa. Tượng Hậu phật gồm 6 pho, tất cả đều là phụ nữ có khuôn mặt phúc hậu và quý phái. Đây là những tác phẩm nghệ thuật mang tính tả thực, mỗi người có một vẻ mặt riêng rất gần gũi với đời thường, không câu nệ, gò bó.

Sáu pho tượng Hậu Phật trong Chùa Vẽ
Sáu pho tượng Hậu Phật trong Chùa Vẽ

Thăm chùa Vẽ ngày nay, chúng ta không có dịp được chiêm ngưỡng đầy đủ những tượng pháp, nghi trượng và đồ thờ tự trong nguyên trạng, nhưng những hiện vật còn được bảo tồn đều là cổ vật quý giá, đặc biệt là hệ thống tượng tháp, tượng thánh thần, tượng Hậu phật, tượng Sư tổ.

Với những công trình kiến trúc nghệ thuật đặc sắc kể trên và ý nghĩa lịch sử của chùa, năm 1994, Bộ Văn hoá – Thông tin đã công nhận Chùa Vẽ là di tích lịch sử Quốc gia.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chùa Vẽ - Hải Phòng

Khổ Qua không trở nên ngọt được!

Ở ngôi chùa nọ, có một lần chúng đệ tử cùng nhau xuống núi hành hương. Lúc này, sư phụ mang đến một trái khổ qua và nó

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Ở ngôi chùa nọ, có một lần chúng đệ tử cùng nhau xuống núi hành hương. Lúc này, sư phụ mang đến một trái khổ qua và nói:

kho-qua

- “Mang trái khổ qua này theo bên mình, nhớ là ngâm nó vào mỗi con sông thánh mà các con đi qua. Hơn nữa, nhớ mang chúng vào Chánh điện nơi các con thờ phụng, đặt lên bàn cúng bái, thờ cúng nó, lúc quay về, thì đem theo cùng về”.

Chúng đệ tử đi viếng qua rất nhiều sông thiêng và đền chùa, cũng luôn theo lời sư phụ dặn dò mà làm. Sau khi quay về, họ đem trái khổ qua đưa lại cho sư phụ. Và rồi, sư phụ lại bảo họ đem khổ qua nấu chín, lúc ăn tối sẽ dùng. Đến bữa cơm tối, sư phụ cắn một miếng khổ qua, sau đó nhẹ nhàng nói:

“Kì lạ thật! Ngâm qua nhiều sông thánh như thế, tiến vào nhiều đền chùa như thế, trái khổ qua vậy mà vẫn không trở nên ngọt.”

Chúng đệ tử nghe xong, lập tức đều tỉnh ngộ.

SUY NGHIỆM

Đắng là bản chất của khổ qua, nó sẽ không vì ngâm nước thánh hay để vào các đền chùa mà thay đổi. Cuộc sống của con người cũng giống như vậy, sẽ không vì bạn đạt được địa vị gì, giành được học vị gì hay là lạy lục cúc bái một vị thần linh nào đó mà thay đổi.

Con người sống ở đời, không nên trông mong cuộc sống sẽ không có “bi ai thống khổ”, việc nên trông mong là tự thân ta có dược bản lãnh chịu đựng được cái khổ để từ đó mà trưởng thành, mà thấu hiểu nhân sinh…

Khổ do hoàn cảnh là một chuyện, nhưng tâm hồn ta có vì hoàn cảnh mà khổ theo, đó là một chuyện khác.

Namo Buddhaya


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Khổ Qua không trở nên ngọt được!

Bốn phương vị trong bố cục phong thủy: trước, sau, trái, phải đại diện cái gì? –

Vận dụng phong thuỷ có một khẩu quyết rất quan trọng, đó là “tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ, tiền Chu Tước, hậu Huyền Vũ”. Đây là câu quyết xuất hiện sớm nhất và cũng thực dụng nhất, nó còn gọi là “Tứ linh sơn quyết”. Linh sơn quyết là câu quyết phong th

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Vận dụng phong thuỷ có một khẩu quyết rất quan trọng, đó là “tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ, tiền Chu Tước, hậu Huyền Vũ”.

Đây là câu quyết xuất hiện sớm nhất và cũng thực dụng nhất, nó còn gọi là “Tứ linh sơn quyết”. Linh sơn quyết là câu quyết phong thuỷ mở rộng của 28 vì tinh tú trên trời, là một cách bố cục liên quan đến thiên tượng. Trên thực tế, trong Phong thuỷ học ngoài tứ linh ra còn có một linh nữa đó là câu trần đại diện cho vị trí trung gian. Thanh Long, Bạch Hổ, Chu Tước, Huyền Vũ là bốn thú thần trong truyền thuyết cổ đại.

p64

Những năm học thuyết ngũ hành thịnh hành, các nhà ngũ hành đã dựa vào ngũ hành âm dương trong Đông, Tây, Nam, Bắc để phối ra năm loại màu sắc. Mỗi loại màu ứng với một thú thần và một thần linh. Đông là màu xanh da trời, phối với rồng; Tây là màu trắng, phối với Hổ; Nam là màu đỏ, phối với chim tước, Bắc là màu đen, phối với võ; ở giữa (trung gian) là màu vàng, phối với câu trần.

“Tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ” có nghĩa khi chúng ta ngồi từ hướng sơn nhìn ra trước mặt, bên trái và bên phải đều xuất hiện sơn bảo vệ. Như một người giơ hai cánh tay ra ôm trọn lấy phần không gian trước mặt. Thanh Long, Bạch Hổ đối ứng với nhau, Thanh Long chủ cát, chủ tiền tài, địa vị, quý nhân phù trợ, sự nghiệp hưng thịnh còn Bạch Hổ chủ hung, chủ tử vong, tai hoạ đường sá, máu chảy, tiểu nhân. Trong môi trường phong thuỷ, nếu rồng mạnh hổ yếu thì sự nghiệp hưng thịnh, luôn được quý nhân phù trợ. Nếu hổ mạnh rồng yếu thì có nghĩa Bạch Hồ ức hiếp Thanh Long, kêu gọi tiểu nhân, sự nghiệp không thuận, lãnh đạo nghi kỵ người hiền, thuộc hạ đố kỵ lẫn nhau, tiêu nhân chọc gậy bánh xe.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bốn phương vị trong bố cục phong thủy: trước, sau, trái, phải đại diện cái gì? –

Xem ngày tốt bốc lại bát hương cuối năm

Người Việt Nam và một số nước Châu Á thường có bát hương thờ tổ tiên hoặc thờ Phật trong nhà. Đây là một nét văn hóa trong Phật giáo, thể hiện lòng thành kính của con cháu với tổ tiên ông bà cũng như các vị thần linh và cầu mong sự bình an, tỏ lòng hiếu thuận.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nhiều người thường nghĩ người bốc bát hương phải do người cao minh, thường là các thầy hoặc pháp sư. Trên thực tế, ai cũng có thể bốc được bát hương, song đích thân gia chủ bốc là tốt nhất. Đó phải là người thành tâm và chân tay sạch sẽ.


Ảnh: Mạnh Linh

Quy trình:

1. Lau rửa sạch: Giã gừng cho vào rượu trắng, dùng khăn sạch nhúng rượu gừng và lau bát hương, để khô.

2. Nên: Có cốt (tro đốt bằng rơm nếp, có bán tại các hàng mã) và một trong các thất bảo của nhà Phật (ưu tiên đá quý, ngọc như hổ phách, lưu ly, thạch anh... vì có trường khí cao, mua ở các cửa hàng đá quý).

- Không nên: Cho giấy trang kim, hạt nhựa... bán sẵn ở các hàng mã. Cũng không nên cho bùa chú, linh phù... của đạo gia, mật tông... vào bát hương vì sẽ gây ra trường khí âm bất lợi.

3. Rửa tay sạch sẽ, lần lượt bốc bát hương. Thông thường có ba bát cho thần linh, gia tiên và bà cô.

Bốc lần lượt từng nắm cốt vào bát. Để cho yên tâm, Phật gia thường khuyên đếm theo số sinh như "sinh, lão, bệnh, tử". Lần lượt đếm và bốc cho đến khi gần đầy miệng bát. Nhớ nắm cuối cùng dừng lại ở số "sinh".

Không dốc, đổ cho đầy bát hương, mà nên bốc từng nắm. Trước khi bốc bát hương nào thì trong đầu cũng phải nghĩ là "Con ... (họ tên)... xin bốc bát hương cho thần linh (thần linh/gia tiên/bà cô)".

Bốc xong để riêng từng vị trí, tránh nhầm lẫn. Nếu sợ nhầm, có thể viết giấy dán bên ngoài, đến khi đưa lên ban thờ cần bỏ ra.

4. Bốc xong đặt bát hương lên ban thờ. Bát hương thần linh ở giữa, bát hương bà cô ở tay trái từ trong nhìn ra, bát hương gia tiên bên tay phải. 

5. Sắm lễ: Hoa tươi, quả tươi, nước sạch bày lên bàn thờ. Mở rộng cửa ra vào trước khi thắp hương. Lúc mới đầu mỗi bát hương thắp 3 nén, những lần sau chỉ cần một nén là đủ. Nếu có chân nhang cũ có thể cắm lại mỗi bát 3 chân nhang.

6. Bố trí: Bát hương đã đặt lên ban thờ cần giữ nguyên vị trí, không xê dịch. Sau bát hương là phần thờ cúng, chỉ nên để ảnh gia tiên (nếu có), không bày rượu, vàng mã... ở đây. Tất cả đồ thờ dâng lên (hoa tươi, quả tươi...) cần ở phía trước hay bên cạnh bát hương.

7. Thời gian: Một số ngày, giờ thích hợp gần đây để bốc bát hương là: 8h ngày 10/12 âm lịch (thứ 5), 14h ngày 14/12 âm lịch (thứ 2), 14h ngày 16/12 âm lịch (thứ 4), 16h ngày 17/12 âm lịch (thứ 5), 12h ngày 20/12 âm lịch (chủ nhật), và 8h 21/12 âm lịch (thứ 2).

Nguyễn Mạnh Linh
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem ngày tốt bốc lại bát hương cuối năm

Bảy điều suy ngẫm – Dalai Lama

Qua bảy điều suy ngẫm trên, con người sẽ học được những đức tính cần thiết như yêu thương, khéo léo. Qua đó, mối quan hệ sẽ được phát triển trong cuộc sống.
Bảy điều suy ngẫm – Dalai Lama

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bảy điều suy ngẫm

Khỏe, không phải là nhấc lên Mạnh, mà là để xuống Nhẹ

Kính, không phải là đối với Trên, mà là đối xử với Dưới

Ðẹp, không phải là hút Người Vào, mà là giữ người Ở Lại

Xấu, không phải tại Gương Mặt, mà ở tại Cách Sống

Khéo, không phải tạo điều To, mà là làm điều Nhỏ

Hay, không phải là Ngạc Nhiên, mà là sự suy ngẫm Thú Vị

Buồn, không phải do Bên Ngoài, mà vì ẩn ở Bên Trong.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bảy điều suy ngẫm – Dalai Lama

Mặt sưng vù, chảy dịch vì thẩm mỹ cho đúng phong thủy

Không ít bệnh nhân bị tai biến khi tiến hành thẩm mỹ, đặc biệt là thẩm mỹ theo phong thuỷ.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Thẩm mỹ để đổi đời

Xu thế phẫu thuật thẩm mỹ ngày càng nở rộ, không chỉ ở các thành phố lớn mà các tỉnh lẻ khác cũng bắt đầu có nhu cầu phẫu thuật thẩm mỹ. Đặc biệt là việc thẩm mỹ cho hợp phong thủy. Thẩm mỹ hợp phong thủy không chỉ xảy ra ở nữ giới mà ngay cả nam giới cũng rất thích thú.

Gương mặt bị coi là không hợp với tướng số chủ nhân, chị Vũ Thùy Linh trú tại Hải Phòng kiên quyết thẩm mỹ bởi vì từ khi ra trường đã 3 năm cô không thể tìm được công việc ưng ý. Lý do cô tin là do khuôn mặt không tương xứng với tướng số của mình. Mắt của Linh hai bên không cân, một bên mí lót, một bên hai mí. Còn mũi lại tẹt, nên Linh coi đó là gương mặt này “phản chủ”, khiến công việc của Linh luôn trắc trở.

Phẫu thuật thẩm mỹ cũng có thể gây tai biến bất cứ lúc nào

Linh quyết định đi tạo mí và nâng mũi với mong muốn thay đổi phong thủy, tướng mạo, hòng có một công việc mong muốn. Tổng chi phí hết hơn 30 triệu đồng, Linh khá hài lòng với gương mặt của mình.

Còn trường hợp của Bùi Đức Hoàng trú tại Sơn Tây, Hà Nội thì khác. Hoàng cho biết cậu luôn tự ti với gương mặt không cân với cái mũi nhỏ, lỗ mũi như đầu tăm, mắt híp híp, rãnh tai phẳng. Điều này khiến Hoàng làm đến đâu đều thua lỗ đến đó.

Để đổi đời, Hoàng quyết định đi tái tạo lại gương mặt mình. Dù ý kiến của Hoàng bị mọi người phản đối bởi gương mặt cha mẹ sinh ra như nào không nên thay đổi nhưng Hoàng đã tìm hiểu rất kỹ và cậu quyết định phẫu thuật thu gọn cánh mũi, sửa đôi mắt híp và tạo dái tai dày và to để tạo ra một hình tướng vương giả.

Sau phẫu thuật, Hoàng tin rằng mọi thứ của mình đều ổn. Hoàng không ngần ngại mà chia sẻ bí mật của mình lên các trang mạng xã hội của nhóm thì thầm dao kéo.

phẫu thuật thẩm mỹ

Cẩn trọng tai biến

Phẫu thuật thay đổi tướng mạo thành công như Hoàng và Linh không phải hiếm nhưng cũng có nhiều người bị tai biến vì muốn có ca phẫu thuật như ý.

Trường hợp của chị Nguyễn T. H trú tại Hà Nội vừa phải vào bệnh viện Đại học Y cấp cứu vì má sưng, chảy dịch, nguy cơ nhiễm trùng máu rất cao.

Chị H. cho biết trước đó chị đi coi bói, thầy bảo nếu chị có một lúm đồng tiền bên trái chắc chắn chị sẽ rất giàu. Nghe thấy thế, chị về tìm hiểu và biết ở một số nơi phẫu thuật tạo lúm đồng tiền. Chị H. không ngần ngại chi tiền đi tạo lúm đồng tiền. Niềm hi vọng gương mặt tròn có thêm má lúm đồng tiền làm điểm nhấn sẽ giúp chị H thành công hơn trong cuộc sống. Nào ngờ, sau 1 tháng phẫu thuật chị bị viêm vết mổ má lúm khiến nửa mặt sưng vù lên.

TS.BS. Nguyễn Huy Thọ, Nguyên chủ nhiệm khoa Phẫu thuật hàm mặt và Tạo hình, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, cho biết, trào lưu đi sửa tướng xuất phát từ quan niệm của người Á Đông. Bởi theo quan niệm này, chiếc mũi, nốt ruồi, khuôn mặt, khóe miệng là những yếu tố quan trọng trong việc đánh giá vận mệnh của mỗi người.

Nếu với đàn ông, đầu mũi to, miệng rộng biểu hiện dồi dào về tiền tài và sức khỏe thì với phụ nữ lại bị coi là “hao tán tiền của”, ảnh hưởng đến chồng con. “Không ít cô gái trẻ đến với chúng tôi vì muốn cải thiện đôi mắt một mí vì thiếu một cái rãnh sâu để hứng tài lộc; hoặc sửa lại hàng cung mày rậm, gò má cao vì mẹ chồng tương lai cho rằng đó là tướng không tốt. Cũng có khi chị em đến thẩm mỹ chỉ đơn giản vì muốn có chiếc rốn “hứng tiền” và cũng “đẹp mắt” khi đi tắm biển”.

TS Thọ cũng gặp không ít trường hợp bị tai biến phẫu thuật thẩm mỹ. Phẫu thuật thẩm mỹ dù là thẩm mỹ nhưng nó cũng phải tuân thủ các quy định của phẫu thuật nói chung và phải được phẫu thuật ở các cơ sở uy tín, không nên đến các cơ sở có điều kiện chật hẹp, phòng vô trùng không đảm bảo, tay nghề phẫu thuật viên cũng phải chú ý.

Theo TS Thọ phẫu thuật dù là “chỉnh tướng, đổi vận” hay vì mục đích gì thì “cái đẹp và an toàn vẫn phải được đặt lên hàng đầu. Có những bệnh nhân họ đòi hỏi phẫu thuật theo đúng tướng mạo và họ chấp nhận đánh đổi bằng mọi giá. Đây là quan niệm sai lầm nguy hiểm cho chính người muốn đổi đời nhờ phẫu thuật thẩm mỹ theo tướng số.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mặt sưng vù, chảy dịch vì thẩm mỹ cho đúng phong thủy
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd