Tướng tai và các dự báo |
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
1. Không nên bày kỳ lân chưa được khai quang
Chú thích: Khai quang là 1 nghi lễ, sau khi hoàn thành tượng, chọn ngày lành dỡ bỏ miếng lụa đỏ trên đầu để bắt đầu thờ cúng.

Kỳ lân nếu chưa khai quang sẽ không thể ngăn sát khí, xua đuổi tà mà ngược lại còn đem lại điềm xấu cho gia đình.
Kỳ lân dùng để ngăn sát khí, cho nên cần phải dùng kỳ lân đã khai quang. Nếu như kỳ lân chưa được khai quang sẽ không có tác dụng ngăn sát khí xua đuổi tà, có thể sẽ bị những vật không tốt lành chiếm giữ, từ đó đem đến điều xấu cho gia đình.
2. Không được đặt ngoài cửa sổ
Thời cổ đại, long, lân, quy, phụng được coi là tứ linh vật. Nếu như đặt hoặc treo kỳ lân trên cửa sổ nghĩa là không tôn trọng, thậm chí là coi thường linh vật, sẽ gặp phản phệ mang điềm xấu cho gia đình.
3. Người hoặc ngành nghề bất lương không thích hợp bày kỳ lân

Kỳ lân tuy là linh vật may mắn nhưng lại không thích hợp với những người hoặc ngành nghề bất lương.
Tương truyền kỳ lân thích nhất là giúp đỡ những người tốt, đặc biệt chú ý đến những người hiếu thảo và lương thiện, cho nên còn được gọi là “nhân thú” (loài thú có lòng nhân từ). Khi kỳ lân gặp người xấu sẽ đuổi theo người đó mà cắn, cho nên một số ngành nghề gian trá liên quan đến cờ bạc, thuốc phiện, buôn lậu… cho dù là công ty hay là trong nhà đều không nên đặt kỳ lân.
Vậy đặt kỳ lân như thế nào mới hợp phong thủy?
- Nếu như đặt ở công ty, kỳ lân nên đặt một đôi trên bàn làm việc, bên trái và bên phải mỗi bên một con, đầu hướng về phía cửa, đuôi hướng về phía mình để nhanh chóng đạt được sự thăng tiến trong sự nghiệp.

Đặt tượng kỳ lân trên bàn làm việc để nhanh chóng đạt được sự thăng tiến trong sự nghiệp.
- Nếu như đặt ở trong nhà, kỳ lân có thể đặt nhiều vị trí tùy mục đích. Nếu như cầu quý tử có thể đặt trong phòng ngủ, mong muốn sự nghiệp học hành tấn tới có thể đặt một đôi trong phòng sách. Ngoài ra, kỳ lân có thể đặt trong phòng khách, thể hiện sự tôn sùng đối với linh vật, đem may mắn và bình an cho cả gia đình.
Trong ngày rằm tháng 7 hàng năm, một mùa lễ phật giáo sẽ được tổ chức ở khắp các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Người Nhật Bản gọi đây là ngày Obon, người Trung Quốc gọi đây là ngày Vu Lan Bồn hay Ô Lam Bà Na, người Việt Nam gọi tắt ngày này là ngày Vu Lan, hay Vu Lan báo hiếu. Trong tâm thức của người dân Việt Nam, ngày lễ Vu Lan tức ngày 15 tháng 7 âm lịch từ lâu đã trở thành một ngày quan trọng không thể thiếu bởi nó mang nhiều ý nghĩa thiêng liêng, cao cả. Chúng ta sẽ cùng Phong thủy số tìm hiểu ý nghĩa ngày lễ Vu Lan ngay sau đây.

Ngày Vu Lan là ngày gì? Ý nghĩa của ngày lễ Vu Lan là gì? Đây có lẽ là thắc mắc của khá nhiều người, đặc biệt là các bạn trẻ. Trước tiên, chúng ta sẽ cùng đi tìm hiểu về nguồn gốc của ngày Vu Lan.
Vu Lan hay còn gọi là Vu Lan báo hiếu, Vu Lan bồn, có nguồn gốc từ chữ phạn là Ullambana. Theo phật thoại kể lại rằng:
Tôn giả Mục Kiền Liên, người là đệ tử xuất chúng của Đức Phật. Ngày có phật pháp vô biên, nhưng không vì thế mà ngài quên đi người mẹ đã sinh thành ra mình. Mẹ ngài là bà Thanh Đề, đã mất. Sau khi tu được khả năng dùng tuệ nhãng quan sát khắp 4 phương 8 hướng, ngài đã dùng tuệ nhãn để tìm xem người mẹ của mình đang như thế nào. Do khi còn sống, bà Thanh Đề cực kỳ tham lam và độc ác, do đó khi mất, bà bị đày xuống 8 tầng đại ngục, thân thể chỉ còn da bọc xương, ăn không được ăn uống không được uống. Thấy thế Mục Kiền Liên vô cùng thương xót đã dùng phép thần thông đưa cơm xuống cho mẹ.
Nhưng do nghiệp lực quá lớn, tội chưa trả hết, nên khi cầm bát cơm ấy trên tay, nó liền biến thành than đỏ, không thể ăn được, bà Thanh Đề đau khổ 1 phần thì ngài Kiền Liên đau đớn gấp bội phần.
Do quá xót xa, ngài liền cầu cứu đến Đức Phật. Quá cảm động trước tấm lòng hiếu thảo của Mục Kiền Liên, Đức Phật liền chỉ cách rằng “đến ngày rằm tháng 7 âm lịch, chư phật chư tăng sẽ làm lễ cúng dàng. Ông hãy nhờ các chư phật chư tăng khắp mười phương cầu nguyện cho mẹ thì mới có thể siêu thoát, một mình ông sẽ không thể làm được gì”.
Nghe lời phật dậy, vào đúng ngày rằm tháng 7, tôn giả Mục Kiền Liên liền thỉnh các chư tăng cùng cầu nguyện, cuối cùng không chỉ bà Thanh Đề được siêu thoát mà tất cả các vong linh khác cũng nương vào đó mà được siêu thoát.
Kể từ đó, hàng năm, cứ đến ngày 15/7 âm lịch, phật tử khắp nơi lại tưng bừng tổ chức ngày lễ Vu Lan tri ân, báo ân đến với ông bà bố mẹ kiếp này cũng như nhiều kiếp khác.
Sau khi tìm hiểu về nguồn gốc của ngày Vu Lan có lẽ phần nào trong chúng ta cũng sẽ thấy được ý nghĩa ngày lễ Vu Lan ở trong đó.
Ngày lễ Vu Lan là dịp nhắc nhở con cháu nhớ tới công ơn dưỡng dục sinh thành của cha mẹ, ông bà, tổ tiên. Ngoài ra, ngày lễ Vu Lan còn mang ý nghĩa giáo dục đầy nhân văn, dậy con người ta phải viết từ bi hỉ xả, ăn quả nhớ kẻ trồng cây..
Ngày lễ Vu Lan là ngày báo ân, báo hiếu không chỉ với cha mẹ hiện tiền mà còn cả cha mẹ ở nhiều đời nhiều kiếp khác.
Văn khấn Gia tiên ngày mùng Một Tết đầu năm âm lịch
Theo phong tục ngày Tết cổ truyền, thì ngày 30 Tết (hoặc ngày 29 Tết, nếu tháng thiếu), thì nhà nhà đều sắm lễ “Rước Ông bà” về cùng với con cháu trong 3 ngày Tết, để tỏ lòng hiếu thảo của con cháu với Tổ tiên.
Trong 3 ngày Tết này, thông thường con cháu đều cúng Gia tiên tiền tổ, ông bà, mỗi ngày 1 lần.
Lễ vạt dâng cúng trong lễ tạ năm mới gồm:
Nam mô A Di Đà Phật
Nam mô A Di Đà Phật
Nam mô A Di Đà PhậtKính lạy: Các cụ Tổ khảo, Tổ tỷ, bá thúc huynh đệ, đường thượng tiên linh, và các hương hồn nội tộc, ngoại tộc.
Hôm nay là ngày mùng một Tết, tháng Giêng, năm ………
Chúng con là: ………………
Tuổi: ……………………………….Hiện cư ngụ tại số nhà …….. Đường…….. Khu phố ……
Phường ……………Quận………..Thành phố……………..
Nay theo tuế luật, âm dương vận hành tới tuần Nguyên đán, mồng một đầu xuân, mưa móc thấm nhuần, đón mừng năm mới. Con cháu tưởng niệm ân đức Tổ tiên như trời cao biển rộng, khôn đem tấc cỏ báo đáp ba xuân. Do đó, chúng con cùng toàn thể con cháu trong nhà sửa sang lễ vật, oản quả hương hoa kính dâng trước án.
Kính mời các cụ Cao tằng Tổ khảo, Cao tằng Tổ tỷ, bá thúc đệ huynh, cô di tỷ muội, nam nữ tử tôn nội ngoại, cúi xin thương xót con cháu, linh thiêng giáng về linh sàng, phù hộ độ trì con cháu, năm mới an khang, mọi bề thuận lợi, sự nghiệp hanh thông, bốn mùa không hạn ách nào xâm hại, tám tiết có điềm lành tiếp ứng.
Tín chủ lại mời các vị vong linh, tiền chủ, hậu chủ ở trong đất này cùng về hâm hưởng.
Giải tấm lòng thành cúi xin chứng giám.
Phục duy cẩn cáo!
Vấn đề xem hạn, đại hạn, tiểu hạn để biết những sự việc biến đổi trong thời gian tới là điều rất nhiều người học tử vi mong mỏi học tập và xem cho thành thục. Xem hạn không phải quá khó nhưng cũng không phải dễ. Để luận đoán hạn và kết luận chính xác, người xem cần phải suy luận thực sự kỹ càng và tỉ mỉ.
Trong bài đầu tiên hướng dẫn về cách xem đại hạn và tiểu hạn cơ bản, chắc chắn nhiều người đã xác định được phương pháp xem hạn một cách tương đối tổng quan. Ở bài này, chúng tôi xin gửi tới quý vị và các bạn cách xem hạn chi tiết hơn. Hi vọng mọi người ngày càng tiến bộ, xem bách phát bách trúng.

1.Lưu ý chung về Hạn
Khi xem xét Hạn ta luôn lấy các cung số của bản thân làm gốc (Mệnh Thân Tài Quan Tật). Cho dù ở bất cứ Đại Vận, Tiểu Vận,… nào Cung số nào thì các tính chất của Mệnh Thân Tài Quan Tật không thay đổi. Có chăng họ chỉ thay đổi cách nhìn nhận mà thôi.
Đại Vận là hoàn cảnh tác động lên ta, ta phải đối mặt trong giai đoạn 10 năm của Đại Vận. Trong 10 năm đó bản thân ta vẫn vậy, hoàn cảnh đó tác động tới ta ra sao mà thôi từ đó vẫn cái nghiệp đó, cái nghề đó, cái tính cách đó hay tai Ách đó ta thế nào với hoàn cảnh đó.
Tiểu Vận là hoàn cảnh ta phải đôi mặt trong một năm ta đi qua. Xấu tốt tùy thuộc vào cách cục của Phi tinh lưu động tại mỗi năm.
Tương tự với Nguyệt vận và thời vận,… cũng hiểu như vậy.
Khi xem xét về Hạn (Đại Hạn hay Tiểu Hạn hay Nguyệt hạn,…) thì cung nhập Hạn là cung số tại giai đoạn đó ta phải bận tâm nhiều, chịu sự chi phối nhiều nhưng không phải chỉ xem xét ở cung đó thôi. Ta phải xem xét được toàn bộ 12 cung số trên lá số Tử Vi để quyết đoán.
Có khi Tiểu Hạn xấu nhưng Mệnh Hạn tốt có khi ta vẫn toại ý thì ta đoán khác và ngược lại.
Một năm bất kỳ ta hoàn toàn tìm được các cung xấu tốt ra sao.
Để có thể xem xét được Hạn cần phân định được các nhóm sao cơ bản trong Tử Vi để xem xét. Nguyên tắc bao giờ cũng cần có 2 bộ sao cùng đặc tính gặp nhau mới xảy ra sự kiện đó.
2.Hạn và quy tắc định Hạn
Đại Hạn đầu tiên đóng tại Mệnh;
Không dùng lưu niên Đại Hạn. Chỉ dùng Đại Hạn và Tiểu Hạn;
Nguyệt hạn, Nhật hạn áp dụng như Tiểu Hạn. Tất cả đều được xem xét tại gốc Tiểu Hạn.
Không quan tâm đến hạn Nhi đồng, như 1 tuổi coi ở đâu, 3 tuổi coi ở đâu,… chỉ quan tâm đến Tiểu Hạn. Và hãy chờ nhập vào số cục rồi hãy xem. Dễ hiểu là Hỏa Lục Cục hãy chờ đến 6 tuổi ta hãy xem.
● Đại Hạn: là thời gian 10 năm (thập niên), được tính dựa theo Cục và tuổi Âm, Dương. Mỗi thập niên được ghi vào một cung, bắt đầu từ cung Mệnh trở đi trong đó:
Dương Nam, Âm Nữ thì ghi theo chiều Thuận, Âm Nam, Dương Nữ thì ghi theo chiều Nghịch.
Thủy Nhị Cục bắt đầu bằng 2, rồi 12, 22, 32… Mộc Tam Cục bắt đầu bằng số 3, rồi 13, 23, 33… Kim Tứ Cục bắt đầu bằng số 4, rồi 14, 24, 34… Thổ Ngũ Cục bắt đầu bằng số 5, rồi 15, 25, 35… Hỏa Lục Cục bắt đầu bằng số 6, rồi 16, 26, 36…
Phương pháp xác định Cục sẽ được trình bày ở Phần tiếp theo của Tài liệu.
Thí dụ: Dương nam, Mộc Tam Cục, bắt đầu ghi số 3 ở cung Mệnh, rồi ghi số 13 ở cung Phụ Mẫu, ghi 23 vào cung Phúc Đức,…
● Tiểu Hạn: là thời gian 1 năm, được ghi theo vòng chu vi Địa bàn, mỗi cung ghi một tên. Nếu là Trai thì ghi theo chiều Thuận. Gái thì ghi theo chiều Nghịch. Cách xác định gốc Tiểu Vận được tổng hợp trong “Bảng 3-2” sau đây:
Năm sinh
Cung khởi lưu niên
Dần, Ngọ, Tuất
Thìn
Thân, Tý, Thìn
Tuất
Tỵ, Dậu, Sửu
Mùi
Hợi, Mão, Mùi
Sửu
Bảng 3-2: bảng định khởi Lưu niện Tiểu Vận
Ví dụ: 3 tuổi Hợi, Mão hay Mùi thì ghi chữ Hợi, chữa mão hay chữ Mùi ở
cung Sửu.
● Nguyệt Hạn: là thời gian 1 tháng;
● Nhật Hạn: là thời gian trong ngày;
● Thời Hạn: là các giờ trong 1 ngày.
3.Những lý luận về Đại Hạn và phương pháp xem Đại Hạn
Như vậy ta cần hiểu Đại Vận là hoản cảnh sống mới tác động lên ta (Mệnh Thân Tật,..) là giai đoạn 10 năm mà ta phải đối mặt. Xấu tốt tùy thuộc vào Đại Hạn có các Sao, Bộ sao có phù hợp với các cách cục ở Mệnh Thân hay không.
Khi ta hiểu Đại Hạn là hoàn cảnh ta tới đó; vi như người sinh ra tại Hà Nội (Mệnh họ) nhưng lại có những giai đoạn vào Sài Gòn làm việc, có những giai đoạn lại vào Đà Nẵng làm việc,… thì coi như Sài Gòn hay Đà Nẵng là một hoàn cảnh mới, môi trường mới giống như Đại Hạn. Khi ta tới đó Mệnh Thân Tật ta có gì thì ta vẫn vậy. Không thể hiểu khi đến đó ta lại là người có tính cách khác, ta vẫn phải là ta, đi đâu cũng là ta, tới Đại Vận nào cũng là ta, ta đến Sài Gòn hay đến Đà Nẵng thì kiến thức, tri thức, nghiệp vụ, tình cảm, tính cách trước ta thế nào giờ ta vẫn vậy có chăng là trước ta đang thiếu gì thì đến đây có gì, trước ta đang sợ gì thì đến đây có gì mà thôi. Giống như ta đang ở Hà Nội, được đi đường tốt nhưng lại phải đi tới vùng sâu vũng xa mà đường xá khó đi, như vậy là hoàn cảnh khắc nghiệt,….
Điều cần thiết nhất vẫn là nhớ, hiểu được lý tính các sao, các bộ sao quan trong, các sao cần gặp và kỵ gặp với mỗi sao, bộ sao.
Cần phân định các nhóm sao trong Tử Vi để quyết đoán.
Vi dụ 1; một người có thiên hướng chuyển động nhưng cả một thời gian dài, có khi từ bé tới 30 tuổi họ cũng không đi đâu quá xa cả. Nhưng đến 1 Đại Vận X nào đó có ít nhất một bộ sao cùng tính chất chuyển động. Khi đó họ sẽ đi.
Vi dụ 2; Một người có Bộ CƠ NGUYỆT ĐỒNG LƯƠNG hay SÁT PHÁ THAM đáo hạn HỎA LINH rất mệt mỏi nếu có BỆNH PHÙ hay DIÊU Y ở Mệnh Thân, Tật hay tại gốc Đại Hạn mà Mệnh SÁT PHÁ THAM rất dễ vào bệnh viện,….
Ví dụ 3: Người có TỬ VI tại Mệnh nếu không có TẢ HỮU thì làm vua cũng như không vì không có quần thần nhưng khi đáo hạn có TẢ HỮU tất có quần thần,…
4.Những lý luận về Tiểu Hạn, Nguyệt Hạn, Thời Hạn,… và phương pháp xem
Để xem xét Tiểu Hạn, Nguyệt Hạn, Thời Hạn người xem Hạn cần lưu được các sao lưu động.
Trong pham vi của phương pháp Tử Vi này chúng ta sử dụng khoảng 46 sao lưu động cho phần Tiểu Hạn. Khi xem xét đến Nguyệt Hạn ta lưu thêm các sao Tháng (5 sao), xem xét đến Nhật Hạn Lưu thêm các sao Ngày và các sao an theo Ngày và Tháng (2 sao) xem đến thời hạn lưu thêm các sao Giờ và các sao an theo Ngày và Giờ
(10 sao).
Sử dụng Can Chi của Năm, Tháng, Ngày Giờ để tiến hành Lưu sao
Sau khi an toàn bộ các sao lưu động của Năm hoặc Tháng hoặc Ngày hoặc Giờ ta coi bản đồ các sao này như 1 lá số thứ 2. Mang lá số cố định ghép với lá số Phi tinh lưu động để xem xét. Quan tâm tới tính kết bộ giữa các sao để quyết đoán, cần phân định các nhóm sao trong Tử Vi để quyết đoán. Đặc biệt là các sao và nhóm sao Kỵ nhau. Quan tâm tới Tứ Hóa của năm, bộ Tam Minh và ngôi sao PHƯỢNG CÁC để quyết đoán ảnh hưởng tốt đẹp hay kết quả của 1 năm lên các cung số.
a. Tiểu Hạn
Được hiểu như ý nghĩa của Đại Hạn, tuy nhiên phương pháp luận đoán lại chủ yếu dựa vào Lưu Phi Tinh của năm nghiên cứu, xem xét.
Liên tưởng tới các phương trình phản ứng Hóa học hay sử dụng chất xúc tác để gây phản ứng. Để dễ hiểu ta cũng coi các sao Lưu động như các chất xúc tác để đánh thức các sao cố định. Ví dụ: Một cung có TRIỆT cố định, đến năm có Lưu TRIỆT ở cung đó được xem là xấu, khi đó ý nghĩa của TRIỆT được phát tác. Một người muốn thay đổi cũng cần có các sao, bộ sao lưu động hội về cung cần thay đổi để có sự thay đổi. Một cung Điền Trach có HÓA LỘC cố định đến năm có Lưu HÓA LỘC tại đó tất sẽ sinh ra LỘC,… Cung có Tai, Ách, Họa, Nạn cần các sao để kích động cho Tai, Ách, Họa, Nạn tác họa. Ví như năm nào có KHÔI VIỆT đặc biệt là VIỆT lưu vào cung Tật rất vất vả với Tật Ách,… muốn có sự khơi sự (lập công tý hay làm một việc gì đó) cần có sự kích hoạt để ngôi sao có ý nghĩa KHỞI SỰ được đánh thức,…. Và mọi vấn đề khác cũng vậy cả mà thôi.
Như vậy để xem Tiểu Hạn, cần có các công thức luận đoán Hạn như: Hạn tình cảm (yêu, phản, chia tay, lập gia đạo,….), Hạn Tang chế, Hạn Chuyển động, Hạn nhà đất, Hạn công việc, Hạn sinh con, Bệnh tật, Kiện cáo, Bắt bớ, Tai nạn,… để xem xét luận đoán.
Về cơ bản cung số nào có bộ Tam Minh ta tìm thấy vui mừng ở cung số đó, cung số nào có LỘC ta tìm thấy tiền bạc tại cung đó, cung số nào có QUYỀN hay KHOA tức ở đó có dấu hiệu của hai sao này, cung số nào có BỆNH PHÙ tất liên quan đến ốm đau, bệnh tật, lo lắng suy nhược… Cung số nào có PHƯỢNG CÁC thì cung số đó được xem là hay. Ngôi sao PHƯỢNG CÁC có ảnh hưởng rất mạnh tới tính chất tốt đẹp của bộ TANG HƯ KHÁCH. PHƯỢNG CÁC làm cho 1 năm tưởng xấu lại hóa hay khi đi vơi bộ TANG HƯ KHÁCH,…. Đặc biệt cần nhớ một số cách cục đặc biệt để luận đoán vd: bộ THÂT SÁT BÁCH HỔ, ĐÀO HOA TANG MÔN, HỒNG LOAN BẠCH HỔ,… để quyết đoán nhanh về tính chất phức tạp không thuận lợi tại cung số có bộ sao này lưu vào.
b. Nguyệt Hạn và Thời Hạn,…
Không xem xét như các phương pháp khác, TVUD không xem xét theo phép an Tháng, Ngày, Giờ sau đó chạy quanh 12 Cung số.
Tất cả các Tháng, ngày, giờ nằm chung trong 1 cung Tiểu Hạn quan trong ta xem thế nào, dùng cái gì để xem mà thôi.
Vẫn là Phi Tinh lưu động, ứng với các Tháng, Ngày, Giờ ta luôn có cả Can Chi. Cũng giống như xem Tiểu Hạn ứng với Can Chi của Tháng, Ngày, Giờ nào ta dùng Phi Tinh tương ứng.
Khi xem xét đến Tháng, Ngày, giờ ngoài tính chất kết bộ của các sao thì các ngôi sao đơn lẻ rất quan trọng. Dùng bộ KHÔI VIỆT để kích hoạt ý nghĩa các sao và kết hợp với tính chất kết bè, bộ để luận đoán.
VD: Ngày X tại lá số của A tại vị trí THIÊN ĐỒNG (nằm bất cứ ở đâu) thấy lưu VIỆT của ngày thì ngày hôm đó A dễ có việc đi làm phúc hay được ngươi khác làm phúc,… Cần hiểu các ý nghĩa của sao để xem xét
5.Mệnh Hạn
Bạn đọc thường thấy người viết hay nhắc đến từ Mệnh Hạn nhưng có lẽ đa phần các bạn không quan tâm đến. Và chúng ta thường quan tâm đến Tiểu Hạn hay Đại Hạn mà thôi.
Mệnh hạn nghe có vẻ mơ hồ và khó hiểu. Thật ra cũng dễ hiểu và đến lúc các bạn cần hiểu. Vì Mệnh Hạn cũng là cái Hạn tại Mệnh đừng hiểu lầm từ này ghép đôi của Mệnh và Hạn và Mệnh hạn là từ riêng dung đẻ chỉ sự tốt xấu tai cung Mệnh của năm ấy.
Ví dụ như thế này bạn dễ hiểu. một người có chính tinh tọa thủ tại Mệnh bất kể nó hợp Mệnh hay là không. Ví dụ THÁI DƯƠNGcho là sáng sủa tốt đẹp nhưng không phải bao giờ họ cũng đắc ý và thành công, cũng không phải là do họ gặp Tiểu Hạn xấu hay Đại Hạn xấu. Mà còn do cái năm ấy không hợp với họ.
Ví dụ, người THÁI DƯƠNG rất kỵ năm Giáp, tất nhiên tháng Giáp ngày Giáp đều kỵ vì chữ Giáp, hóa khí THÁI DƯƠNG là HÓA KỴ. Từ đó người THÁI DƯƠNG dễ bị người ta ghét, nghi kỵ (nghi ngờ) rồi cấm đoán. Tự nhiên người THÁI DƯƠNG năm ấy vụng về hơn, hoặc cũng chẳng vụng về nhưng tự nhiên dưới con mắt nhiều người dễ bị ghét bỏ hơn, bình thường họ vẫn thế. Nhưng hôm nay họ dễ bị người ta chỉ trích, dễ ghét chưa kìa hay tự đắc, hoặc thấy kênh kiệu, hoặc là khoe khoang… và họ tìm ra được cái để chỉ trích nhưng năm trước đây, ngày trước đây họ lại không chỉ trích.
Lại ví dụ tiếp, Mệnh DƯƠNG LƯƠNG tại Mão vào năm Giáp ngoài lưu KỴ còn thêm lưu KÌNH, cái đố kỵ đó càng thêm mạnh mẽ. Hoặc bộ KỴ ĐÀ nếu như Mệnh ÂM DƯƠNG tại Sửu. Hoặc Mệnh có bộ CỰ NHẬT tại Tuất như trường hợp THÁI DƯƠNG tại Tuất lưu Hóa Kỵ tại đó còn làm cho cả CỰ MÔN bị mất tác dụng.
Ta hãy hình dung một người tự nhiên năm ấy bị xấu đi do Mệnh hạn, di chuyển trong Đại Hạn tương đối xấu và Tiểu Hạn cũng tương đối xấu. Tất mọi việc càng dễ thêm xấu. Với người THÁI DƯƠNG họ kỵ năm Giáp nhưng lại hợp năm Canh (do Canh và Giáp xung nhau, chữ Canh THÁI DƯƠNG hóa khí là HÓA LỘC) và năm TÂN hóa khí thành quyền. Nếu Đại Hạn hay Tiểu Hạn tương đối xấu nhưng gặp năm Mệnh hạn tốt đẹp cũng trở thành dễ chịu.
Cũng lý luận như thế người ÂM DƯƠNG chịu liền 2 năm Giáp Ất bị lưu KỴ. Trừ các trường hợp kỳ tài không nói làm gì nhưng các trường hợp cung Mệnh vốn đã không tốt đẹp bị lưu Kỵ thêm Kình hay Đà rất xấu cho các trường hợp NHẬT NGUYỆT. Tât nhiên người NHẬT NGUYỆT hợp các năm Mậu Đinh Canh Tân.
Theo những lý luận đã có, người có LIÊM TRINH rất kỵ các năm Bính, THAM LANG kỵ năm Quý. Nếu chỉ có KỴ thôi đã phiền lại có thêm ĐÀ, KÌNH TRIỆT càng phiền nhiều hơn. Những chi tiết này làm cho vận hạn đã xấu lại càng xấu hơn.
Chỉ có các sao không có hóa khí như bộ PHỦ TƯỚNG… là ít chịu hóa khí tác động, vì bộ này chủ yếu là đa phần được người ta thương. Nó bi xấu là do các chính tinh khác tác động. Và bị xấu do hàng Can Chi sẽ đề cập ở dưới.
Trên là phần lưu hóa khí các năm. Phần các sao trong bộ Can Chi cũng thế. Các sao CỰ MÔN, PHÁ QUÂN tọa thủ Mệnh không thích lưu LỘC TỒN hội họp tại Mệnh mà nó chỉ thích sao HAO. Bộ PHỦ TƯỚNG không hợp với KÌNH TRIỆT. THIÊN CƠ rất kỵ TANG MÔN. TỬ VI rất kỵ THIÊN HƯ TUẾ PHÁ, nhất là Hư TRIỆT… Nếu có những sao kỵ tất nhiên cũng có những sao đem lại vui mừng như ĐÀO HỒNG HỈ, Song Hỉ và Tứ Linh che chở Mệnh làm cho cung Mệnh có giá trị hơn. Như thế có nghĩa là Mệnh hạn năm này có thể tốt hay xấu, đối đầu với Đại, Tiểu Hạn.
Ngoài ra chú ý các bộ Can Chi tại cung Tật Ách, lưu tại cung Mệnh thường đem lại những tai ách. Một sao thuộc hàng Can thiên về việc làm và 1 sao thuộc hàng Chi thiên về trạng thái. Kể cả các trường hợp lưu tại Đại Hạn, Tiểu Hạn cũng là xấu vì nó đại diện cho tai ách.
Cũng thế các bộ Can Chi tại các cung, lưu động tại Mệnh hay đai Tiểu Hạn tất nhiên có việc liên quan đến cung đó. Ví dụ bộ Can Chi của cung huynh đệ lưu tại Mệnh hay đại, Tiểu Hạn tất nhiên có vấn đề liên quan, tốt xấu còn tùy thuộc vào hung cát tinh để luận đoán.

6.Cách tính Can Chi của tháng
Dựa trên cơ sở Can của năm theo lịch kiến dần (nguyên tắc ngũ dần)
Trước hết tháng giêng là tháng Dần, tháng Hai là tháng Mão…, mỗi tháng đi với một Chi nhất định
Muốn biết Can của tháng thì áp dụng phương pháp sau gọi là phương pháp Ngũ Dần:
Năm Giáp và Kỷ tháng giêng là tháng Bính Dần
Năm Ất và Canh tháng giêng là tháng Mậu Dần
Năm Bính và Tân tháng giêng là tháng Canh Dần
Năm Đinh và Nhâm tháng giêng là tháng Nhâm Dần
Năm Mậu và Quí tháng giêng là tháng Giáp Dần
7.Cách tính Can Chi của ngày
Dựa trên Can Chi của tháng. Theo nguyên tắc tháng giêng là tháng Giáp Tí thì ngày mùng một sẽ là ngày Giáp
Tí, mùng hai sẽ là Ất Sửu…Vì số ngày trong năm không chia chẵn cho 60, nên ta không thể có qui tắc tính Can Chi của ngày dựa trên Can Chi tháng được mà phải
tra lịch.
8.Cách tính Can Chi của giờ
Căn cứ vào Can Chi của ngày theo nguyên tắc ngũ Tý
Ngày Giáp và Kỷ giờ Tý là Giáp Tý;
Ngày Ất và Canh giờ Tý là Bính Tý;
Ngày Bính và Tan giờ Tý là Mậu Tý;
Ngày Đinh và Nhâm giờ Tý là Canh Tý;
Ngày Mậu và Qui giờ Tí là Nhâm Tý.
Vấn đề về tình yêu đôi lứa luôn rất được mọi người quan tâm, và đặt ra nhiều câu hỏi trong đó rất nhiều người thắc mắc những đồ vật nào ảnh hưởng đến tình yêu đôi lứa? Khi bày trí căn phòng, bạn nên để ý vài chi tiết dưới đây nếu không muốn sống mãi kiếp FA. Củ thể như thế nào các bạn cùng đọc bài viết sau để có thêm kiến thức và gìn giữ tình yêu của mình nhé!
Nội dung
Việc lưu giữ đồ vật của tình cũ không những khiến bạn khó quên quá khứ mà còn nhắc bạn nhớ về người ta với những so sánh khập khiễng. Kết quả, nó ảnh hưởng đến mối tình hiện tại, nó khiến người mới nhận ra bạn vẫn chưa sẵn sàng để bước vào cánh cửa khác. Hãy nhớ, chuyện đã qua đừng bới nó lại.
Khi bước vào tình yêu, đồ vật đơn lẻ như ghế đơn, giường đơn hoặc những thứ gợi lên sự cô độc rất cần thay thế bằng vật dụng có đôi có cặp. Điều đó sẽ giúp bạn tiến xa và có khả năng tiến tới hôn nhân dễ dàng hơn.
Hiện người trẻ rất thích phơi bày sự cá tính và nói lên cái tôi của bản thân qua cách bài trí căn phòng, điều đó thật sự đáng báo động. Việc bài trí quá lố, thể hiện cá tính quá mức sẽ khiến bạn trở nên cô độc, người khác khó tiếp cận và tạo khoảng cách nhất định trong tình yêu.

Các bạn nữ rất thích bài trí căn phòng đầy ắp búp bê và thú nhồi bông. Những đồ vật này tuy dễ thương nhưng nếu quá nhiều sẽ khiến đối phương có cảm giác bạn chưa trưởng thành, còn trẻ con và thiếu thực tế.
Những đồ vật có góc cạnh hoặc sắc bén nên hạn chế bài trí trong căn phòng, nó vô tình khiến chủ nhân cảm thấy nặng nề về mặt tâm lý, cũng như khiến người đang yêu cảm thấy áp lực về chuyện tình cảm.
Ở một miền đất mới, các vị sư phải tự xây dựng lại mọi thứ. Họ mua đất, gạch, dụng cụ và bắt tay vào làm việc. Một chú tiểu được giao xây bức tường với 1000 viên gạch.
Chú rất tập trung vào công việc, luôn kiểm tra xem viên gạch đã thẳng thớm chưa, hàng gạch có ngay ngắn không. Công việc tiến triển khá chậm vì chú làm rất kỹ lưỡng. Tuy nhiên, chú không lấy đó làm phiền lòng bởi vì chú biết mình sắp sửa xây một bức tường tuyệt đẹp đầu tiên trong đời. Cuối cùng, chú cũng hoàn thành công việc vào lúc hoàng hôn buông xuống.

Khi đứng lui ra xa để ngắm lại thành quả công trình lao động của mình, chú bỗng cảm thấy có gì đó đập vào mắt mình: Mặc dù chú đã rất cẩn thận khi xây bức tường, song vẫn có 2 viên gạch bị đặt nghiêng. Và điều tồi tệ nhất là 2 viên gạch đó nằm ngay chính giữa bức tường. Chúng như đôi mắt đang trừng trừng nhìn chú. Điều đó khiến chú tiểu cảm thấy vô cùng thất vọng.
Kể từ đó, mỗi khi du khách đến thăm ngôi đền, chú tiểu đều dẫn họ đi khắp nơi, trừ đến chỗ bức tường mà chú xây dựng.
Một hôm, có 2 nhà sư già đến tham quan ngôi đền. Chú tiểu đã cố đưa họ sang hướng khác nhưng 2 người vẫn nằng nặc đòi đến khu vực có bức tường mà chú xây dựng.
Một trong 2 vị sư khi đứng trước công trình ấy đã thốt lên: “Ôi, bức tường gạch mới đẹp làm sao!”.
“Dạ ngài nói thật chứ? Ngài không thấy 2 viên gạch xấu xí ngay ở giữa bức tường kia ư?” – Chú tiểu kêu lên trong ngạc nhiên.
“Có chứ, nhưng ta cũng thấy 998 viên gạch còn lại đã ghép thành một bức tường tuyệt đẹp thế nào!” – Vị sư già từ tốn trả lời.
Đôi khi chúng ta quá nghiêm khắc với bản thân mình, khi cứ luôn nghiền ngẫm nhưng lỗi lầm mà ta đã mắc phải, cho rằng cả thế giới đều nhớ đến nó và quy trách nhiệm cho ta. Chúng ta đã hoàn toàn quên rằng đó chỉ là 2 viên gạch xấu xí giữa 998 viên gạch hoàn hảo.
Và đôi khi, chúng ta lại quá nhạy cảm với lỗi lầm của người khác. Khi bắt gặp ai mắc lỗi, ta nhớ kỹ từng chi tiết. Và hễ có ai nhắc đến tên người đó, ta lại ngay lập tức liên hệ đến lỗi lầm của họ.
Hãy mở rộng tâm hồn của mình ra, khi đó chúng ta sẽ thấy rằng: Cuộc sống này thật tốt đẹp biết bao!
![]() |
| Ảnh minh họa |
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Theo phong thủy, một số vị trí làm việc không tốt không những ảnh hưởng đến việc phát triển sự nghiệp của bạn mà thậm chí còn có thể dẫn đến nguy cơ khiến bạn bị sa thải, nhất là đối với nam giới công danh, sự nghiệp như là mạng sống thứ hai của họ. Xưa nay mọi người vẫn quan niệm “thành gia lập nghiệp” là tiêu chí của một người đàn ông trưởng thành. Vì thế, tránh để đường công danh sự nghiệp của nam giới bị ảnh hưởng bởi phong thủy xấu không đáng có.
Cấm kị xà ngang chèn ép Theo phong thủy, xà ngang chèn ép là điều đại kỵ, điều này sẽ gây nên áp chế vận thế của con người. Cho nên trước khi vào ở nên dùng các phương pháp trang trí, cải tạo để hóa giải. Trong trường hợp đã vào ở thì không nên đặt giường ngủ, bàn ghế, sofa phía dưới xà ngang.
![]() |
| Ngôi nhà cần phải đầy đủ ánh sáng mới giúp con người thoải mái, phấn chấn. |
![]() |
| Ảnh minh họa |
Năm mới 2016 của bạn như thế nào? Hãy xem ngay TỬ VI 2016 mới nhất nhé!
Chỉ còn ít ngày nữa thôi là bước sang năm mới Bính Thân 2016 rồi, gia đình bạn đã có cách bày những vật phẩm phong thủy trong nhà để rước lộc vào nhà chưa? Các vật phẩm phong thủy dùng để hóa giải tà khí và mang lại sinh khí cho một năm mới sắp đến. Tuy nhiên bày chúng như thế nào để hợp phng thủy thì không phải ai cũng biết. Hãy cùng lịch vạn niên 365 xem cách bày vật phẩm phong thủy cho đúng hướng tài lộc năm 2016 nhé.
1. Đồng xu cổ
Vào năm 2016, treo một dải xu 6 đồng tiền buộc với nhau bằng chỉ đỏ ở hướng Đông Bắc để tránh xui xẻo hoặc tại trung tâm ngôi nhà để tăng sinh khí. Mọi người trong nhà sẽ được nguồn năng lượng tích cực bảo vệ, ít bệnh tật. Nếu treo xu ở hướng Tây Nam sẽ có lợi cho tiền tài và sự nghiệp.
2. Đá tinh thể
Trong phong thủy, tinh thể được sử dụng rộng rãi trong nhà ở hoặc văn phòng. Chúng không chỉ đẹp mà còn có tác dụng thu hút sinh khí, tránh sát khí. Năm 2016, gia chủ nên bày thạch anh tím, thạch anh hồng hay hóa thạch ốc amonit tại góc phía Đông và Tây Nam nếu muốn thành công trong sự nghiệp và dồi dào tiền bạc.
3. Muối
Theo quan niệm của người xưa, muối mặn có thể xua đuổi tà ma, đem lại nhiều may mắn trong gia đình. Do vậy, người xưa có câu:"Đầu năm mua muối, cuối năm mua vôi".
Khoảng chiều ngày cuối năm, bạn nên thay một lọ nước muối mới cho gia đình sau khi cả nhà và mọi thành viên trong gia đình đã sạch sẽ. Cho muối vào đầy 3/4 bát hoặc ly thủy tinh rồi đặt 6 đồng xu (mặt dương ngửa lên) theo hình vòng tròn vào bát. Cho nước từ từ vào và đặt bát lên một miếng vải lót. Trong suốt một năm, không che miệng bát và để yên tại cùng một vị trí, không xê dịch hay động chạm. Đặt bát muối tại góc Đông Bắc để tránh xui xẻo hoặc hướng Tây Nam để hút tài lộc.
>>> Năm mới 2016 AI xông đất nhà bạn? Sẽ mang lại nhiều may mắn tài lộc?
Xem ngay XEM TUỔI XÔNG ĐẤT 2016 mới nhất>>>
4. Cây đá quý
Cây đá quý là vật phẩm phong thủy dùng để đẩy lùi tà khí, thu hút tài lộc. Mỗi loại cây tạo dáng khác nhau lại đi kèm với loại đá quý khác nhau. Gia chủ nên chọn đúng loại đá quý hợp với mệnh của mình để đạt được hiệu quả tốt nhất. Trong năm 2016 nên đặt cây đá quý ở hướng chính Đông hoặc chính Tây.
5. Hồ Lô
Từ lâu, hồ lô đã được coi là một bảo bối đối với những người chuyên nghiên cứu về phong thủy. Chúng dùng để hút may mắn, đẩy tà khí, bảo vệ mọi người trong nhà. Thông thường nhất là Hồ lô được làm từ kim loại hoặc gỗ, nhưng bạn cũng có thể tìm thấy hồ lô tạc từ đá quý.
Vào năm 2016, bạn nên treo một bình hồ lô kim loại tại góc phía Tây nếu muốn công thành danh toại. Nếu trong nhà có người bệnh thì đặt bình hồ lô ở khu vực trung tâm hay Đông Bắc.
6. Thiềm thừ (Cóc 3 chân)
Bên cạnh Tỳ Hưu, Thiềm Thừ được coi là con vật linh thiêng trong phong thủy. Trên lưng cóc có những nốt sần đặc biệt, người ta gọi là chòm sao Đại Hùng, bên cạnh lưng cóc có mang theo hai xâu tiền cổ và 3 chân cóc đạp lên hai lớp tiền cổ. Cóc phong thủy mang lại điềm lành và tài lộc.
Trong năm 2016, cách tốt nhất và đúng nhất là đặt cóc hướng vào phía trong nhà, hướng vào bàn thờ ông địa, thần tài tượng trưng cho việc cóc mang tài lộc nhảy vào trong nhà.
7. Cây tre tài lộc
Cây tre tài lộc không chỉ là biểu tượng của trường thọ và sức khỏe, mà còn là biểu tượng mạnh mẽ của tài lộc. Vào năm 2016, cây tre tài lộc hợp với hướng Tây và Đông, tránh đặt nó ở vị trí trung tâm của ngôi nhà. Những vật phẩm phong thủy này đều mang ý nghĩa rất lớn. Nếu đặt chúng đúng hướng thì sẽ mạng lại tài lộc, may mắn và hạnh phúc cho gia đình.
>> Đã có VẬN HẠN 2016 mới nhất. Hãy xem ngay, trong năm 2016 vận mệnh bạn như thế nào nhé! >>
![]() |
| Ảnh minh họa |
![]() |
| Ảnh minh họa |
Tuổi Tý
Đứng đầu trong 12 Con Giáp về khả năng vượt qua khó khăn là người tuổi Tý. Tử vi người tuổi Tý là người có trí tuệ nhanh nhạy, ý trí kiên cường và sự kiên trì tới cùng.
![]() |
Người tuổi Tý là một trong những “đại diện” hội tụ đủ tố chất ấy. Khi làm bất cứ việc gì, con giáp này đều tâm niệm, bản thân phải làm tròn nghĩa vụ hoặc chí ít cũng không phải hổ thẹn với chính mình. Họ thà bình thường chứ quyết không làm những việc tầm thường, ảnh hưởng đến phẩm chất đạo đức của mình.
Tuổi Dậu
Đã là người tuổi Dậu ai nấy đều thông minh, nhanh nhẹn và khả năng thích ứng với điều kiện sống cực tốt. Họ có thể sống tốt trong điều kiện thiếu thốn vật chất, thậm chí là có chút hiểm nguy rình rập. Người tuổi Dậu cho rằng, chuyện thành bại ở mỗi người do chính họ quyết định và không bao giờ đổ lỗi cho hoàn cảnh.
![]() |
Trong công việc, con giáp này kiên định, quyết đoán và khả năng chịu áp lực tốt nên được đồng nghiệp và cấp trên dành tình cảm ưu ái. Không bao giờ có chuyện người tuổi Dậu đang làm việc gì đó lại bỏ dở giữa chừng vì lý do chán nản. Họ quyết không làm những thứ quá tầm thường khiến mọi người phải chỉ trỏ bàn tán về mình.
Tuổi Hợi
Là người chăm chỉ và “hậu phương” vững chắc cho gia đình, người tuổi Hợi luôn biết cách làm thế nào để hài hòa cuộc sống và các mối quan hệ. Con giáp sở hữu tính cách chân thành, hay giúp đỡ người khác và không kém phần thông minh lanh lợi này không bao giờ khiến ai đó phải hoài nghi về năng lực cũng như lòng bao dung của mình.
![]() |
Họ nói được làm được và không bao giờ từ bỏ mục tiêu đã đề ra, dù mục tiêu ấy dành cho bản thân hay cho người nào khác. Cuối cùng mọi sự nỗ lực của người tuổi Hợi đều được mọi người, xã hội ghi nhận một cách xứng đáng.
Bài viết của tác giả Huyền Linh
Người xưa bảo: “Nhất ẩm, nhất trác, giai do tiền điện” (Ăn uống, cử động đều đã định trước), “Mưu sự tại nhơn, thành sự tại Thiên” (Mưu tính nơi người mà thành bại do Trời).
Người xưa lại bảo “Đức năng thắng số” (Phúc đức có thể thắng số mệnh) “Nhân lực thắng Thiên” (Khả năng con người có thể cải số Trời)…
Hai lập luận trên đây tương đối mâu thuẫn, mà từ lâu chúng ta còn phân vân, không rõ luận thuyết nào đúng hơn, vì mỗi luận thuyết đều có những sự tích chứng minh.
Như bảo số mệnh do Trời thì có những người số chết đói, chết đuối dù có né tránh, rốt cuộc vẫn chết đói, chết đuối.
Còn bảo Đức năng thắng số thì cũng có những trường hợp đáng lẽ phải chết đói, chết yểu, mà nhờ biết tu tỉnh, làm nhiều âm đức, được thoát chết, sống lâu, lại khá giả chẳng hạn.
Vậy luận thuyết nào đúng hơn? Chúng tôi xin có đôi lời góp ý cùng quý bạn.
Số mệnh con người, do đâu?
Con người được hình thành bởi hai phần chính: thể xác do cha mẹ sinh ra và linh hồn tiếp nhận nơi Tạo hóa, và linh hồn là Tiểu Linh-Quang trong khối Đại Linh Quang của Tạo hóa. Vậy con người là một Tiểu Thiên địa, hay một Tiểu Vũ trụ.
Nhưng phải chăng Tạo hóa bất công, khiến con người có kẻ giàu sang, sung sướng, người lại nghèo hèn, khốn khổ, dù cùng sinh ra trên một dãy đất, trong một gia đình, hoặc cùng một năm, tháng, ngày, giờ với nhau?
- Chắc hẳn không phải thế.
Các tôn giáo và hầu hết loài người đều tin rằng có Thượng Đế, Chúa tể Càn Khôn, cầm quyền thưởng phạt muôn loài.
Nhưng tôi trộm nghĩ, tuy Thượng Đế là đấng Chí tôn, quyền năng vô tận, nhưng cạnh Ngài còn có một cái “Luật” mà Lão Tử tạm dùng chữ “ĐẠO” để gọi, đó là luật Trời, hay Thiên lý, mà Thượng Đế tùng theo, để điều hành vũ trụ (cũng như một Quốc gia, tuy vị Nguyên thủ là trên cao nhưng vẫn phải tuân hành Hiến pháp).
Do đó, sở dĩ có kẻ sướng người khổ là do số mệnh an bài, nhưng số mệnh chẳng phải do “ông Trời” hay các vị Thánh Thần sắp đặt, cho người này giàu, bắt người kia nghèo mà là do “NGHIỆP” (Karma) của chính con người, tức luật Nhân quả.
Nghiệp và luật Nhân Quả
Không ai có thể biết được con người có từ bao giờ, trải qua bao nhiêu kiếp, nhưng theo thuyết luân hồi thì hẳn đã quá nhiều!
Mỗi kiếp, con người đã làm bao nhiêu điều lành lẫn điều dữ, phước có, tội có năm này tháng nọ chất chồng, có khi chưa chịu thưởng phạt đúng mức đã mãn số, lại luân hồi kiếp mới để “trả đũa” cũ và lại tạo thêm “Nhân” mới.
Bởi thế mà trong lá số Tử Vi của một người, có những sao tốt, sao xấu lẫn lộn, cung này cung nọ liên quan chằng chịt nhau, biểu hiện cái “Nghiệp” của người ấy, trông cây gì được quả nấy, như bóng với hình, mà trong đó Vận hạn là con đường bắt buộc cá nhân phải trải qua để trả Nghiệp cũ (thưởng lẫn phạt), đồng thời tạo Nghiệp mới.
Nghiệp có lành có dữ thì Vận số có tốt có xấu. Vận tốt thì được thụ hưởng giàu sang sung sướng, vận xấu thì chịu nghèo hèn, hoạn nạn nhưng cán cân nghiệp lành, nghiệp dữ không đều, thì vận số cũng không đều nhau, do đó Họa và Phúc lẫn lộn hoặc nhiều hoặc ít, chẳng hạn tuy giàu sang mà đau ốm, vợ chồng căn đắng, con cái hư hỏng, hay ngược lại tuy nghèo hèn mà ít nạn tai, vợ chồng hòa thuận, con cháu hiếu thảo….
Cải số mệnh được không?
Như đa trình bày ở trên, thì số mệnh đã an bài do nghiệp của nhiều tiền kiếp, hễ vay ắt phải trả, cho nên số mệnh con người như đã được lồng vào một cái khung và vận hạn ví như một con đường duy nhất, bắt buộc con người phải đi qua, một lộ trình vạch sẵn.
Bởi vậy trên nguyên tắc, số mệnh là số mệnh, khó mà cải đổi được cái căn bản, tức cái khung của số mệnh, hay là những “nghiệp lớn”.
Nghĩa là nghiệp cũ phải trả, dù thụ hưởng hay bị hình phạt. Do đó chúng ta thấy có những người hung ác mà vẫn giàu sang, phè phỡn, còn người hiền lương, tu niệm, làm phúc lại cứ gặp hoạn nạn, là vì nghiệp cũ chưa “thanh toán” xong, mà “Nhân” mới chưa kịp có “hiệu lực”.
Tuy nhiên, con người có thể cải được một phần số mệnh vận hạn của mình, nhưng rất ít, hơn nữa, chẳng phải ai cũng có khả năng hoán cải, dù có cải cũng chỉ cải được vận số nhỏ, tức các nghiệp nhỏ thôi. Cũng ví như “cái khung” vẫn y nguyên, mà “cái cảnh” có thể thêm hoặc bớt. Đó là tạo “nhân” (tốt xấu) mới để bù đắp “quả” (xấu tốt) cũ.
Tôi xin đơn cử vài ví dụ, nếu dễ cải được số thì thuở xưa Văn Vương đã chẳng bị giam cầm 7 năm nơi Dũ Lý, Khương Tử Nha chẳng đợi đến 70 tuổi mới đặng công hầu. Tôn Tẫn khỏi bị chặt chưn và bảo vệ nước Yên khỏi bị Tần thôn tính. Khổng Minh thống nhất được giang sơn thời Hớn mạt. Hạng Võ và Hàn Tín đều anh hùng. Hạn xấu đến, đều chết thảm; lại như Lương Võ Đế cất 72 ngôi chùa mong cải số, rốt cuộc vẫn chết đói ở Đái Thành.
Ngay thế kỷ hiện tại, những nhân vật muốn xoay thời tạo thế, đem tài trí đấu tranh, mà không thuận với cơ trời rồi ra vẫn thất bại.
Chính tôi, sau gần 20 năm xem tướng số đã được chứng kiến nhiều trường hợp, có những người, sau khi đoán là vận hạn xấu, tôi khuyên nên an phận, chớ mưu sự to, liều lĩnh mà thất bại hoặc gặp nạn. Mặc dù tin số mạng song họ tự tin, cố đem tài sức, mưu trí (xin lưu ý là tài sức chứ không phải Đức) chống lại số mệnh, mà càng hoạt động to lớn, càng sa lầy hơn.
Lại có những trường hợp, khách xem về các sự việc bình thường hằng ngày, để biết thành bại, đắc thất, sau khi gieo quẻ Dịch, quẻ ứng xấu, tôi bảo thẳng với khách là không hy vọng gì… khách buồn bã ra về, dùng mọi phương tiện, mưu mẹo, kể cả tiền bạc, cố xoay sở, nhưng rồi vẫn không kết quả, (vì hoàn cảnh không thuận lợi, được cái này hỏng cái kia, như định mệnh khiến xui như vậy) rốt lại số vẫn là số!
Cải số bằng cách nào?
Theo thiển ý riêng tôi thì có thể tạm chia thành 2 phương thức: “tiêu cực” và “tích cực”
- Về “tiêu cực” thì tương đối đơn giản hơn, có nghĩa ăn ở và hành động thuận theo số mệnh và Thiên Lý. Không gieo gió thì khỏi gặt bão. Khi gặp vận tốt thì nương đó tiến lên để thành đạt. Lúc gặp vận xấu thì chớ liều lĩnh, làm bạo, thấy hao tài thì chớ cho vay mượn, thấy đau ốm thì gìn giữ sức khỏe, thấy nạn tai thì tránh xe cộ, sông nước, thấy thị phi quan sự thì nên nhẫn nhịn, tránh phạm pháp…Tuy đến Năm, Tháng, Ngày, Giờ đó, vẫn bị hạn, song có thể nhẹ bớt ít nhiều.
Như có một tuổi Tân Mùi, thường nhờ tôi đoán số, đầu tháng 4 năm rồi, tôi có xem cho ông và đoán rằng khoảng giữa tháng ông có tai nạn nhẹ, độ hơn tuần lễ sau, ông đến nhà tôi với mấy vết băng ở mặt và tay chân. Hỏi ra mới biết ông vừa ngộ nạn vì xem Lam lật, bị xây xát cả người.
Ông nhờ tôi xem tiếp coi còn xui rủi nữa không? Tôi gieo quẻ Dịch, lần này quẻ ứng bổn mạng cũng xấu, e còn tai nạn nữa. Ông nhờ tôi đoán kỹ xem ứng vào ngày x tháng x…sau đó ít lâu ông lại đến, khen tôi đoán rất đúng và thuật rằng: “Chính cái ngày ấy, ông cố ở nhà suốt ngày, không ra khỏi cửa, 8 giờ tối ông giăng mùng đọc báo, kể như yên ổn. Nhưng đến 10 giờ đêm, trước khi ngủ, ông xuống nhà sau đi tiểu, bất ngờ trợt chân ngã té nằm sóng sượt bất tỉnh dưới đất, may người nhà hay kip đỡ lên xoa bóp, mấy phút sau mới tỉnh.
Ông kết luận “tưởng ở nhà yên thân, té ra cũng bị! Nhưng may là ở trong nhà chỉ bị xoàng, chứ nếu ngoài đường sá, chắc nặng hơn, chưa biết tới đâu”. Còn nhiều trường hợp tương tự, kể ra e chán ngấy.
- Về phương diện “tích cực” phức tạp hơn, nhưng tựu trung là cố gắng làm nhiều việc “Âm đức” để hóa giải các nghiệp nặng. Nhưng phải thật thành tâm, đầy thiện ý, hành động một cách tự nhiên theo lương tâm không tính không vụ lợi, không cầu danh, thì việc làm tuy nhỏ mà có khi Âm đức lại to.
Chớ không phải ỷ có nhiều tiền, vung tiền của phi nghĩa ra, gọi là bố thí, làm phước, để được khen ngợi, ca tụng, hoặc giả làm lấy có, lấy lệ, cúng chùa, lễ Phật, giải sao hạn…tuy là những việc làm có tánh cách từ thiện, cũng hay, cũng là những “Nhân” lành, song chưa thể gọi là “Âm đức” được. Vì Tạo hóa chí công vô tư, hẳn không vì nhiều tiền mà cho nhiều phúc, còn ít tiền lại cho ít phúc hay sao?
Tôi xin đơn cử vài việc làm có tánh cách Âm đức. Như thấy vợ chồng người ta xích mích, định lìa bỏ nhau, mình cố công khuyên bảo, trợ giúp cho họ hòa hiệp, sống chung lại; Thấy người chết đuối, mình chẳng ngại nguy hiểm, cứu vớt người ta sống lại; Thấy người nguy ngặt, động lòng trắc ẩn, mình tận tâm giúp đỡ, có bao nhiêu giúp bấy nhiêu, mà không nghĩ đến sự đền bồi, hay được người ca tụng…như thế mới gọi là “Âm đức”, có tác động mạnh đến “Nghiệp”, cảm động lòng trời, mới có ảnh hưởng ngay vào số mệnh và vận hạn (Như tích ông Lê Bùi Độ đời Đường trả đai ngọc cho người, chuộc mạng cha, chẳng hạn).
Một vài phương thức khác
- Nhờ Đức tin và lòng thành, tức những người tiền căn, hiện kiếp có sự liên quan, giao cảm với cõi Trung giới hay cõi Âm, nay vận hạn tuy xấu, gặp hoạn nạn, nhưng ăn ở hiền lương, ngay thật, lại có đức tín và lòng thành khắc được Thánh Thần và các vong linh quá vãng phù trợ, thấy dữ hóa lành.
- Mồ mả tổ tiên, phúc đức hay tội lỗi của ông bà cha mẹ cũng ảnh hưởng rất nhiều đến vận số con người. Ví dụ: vận hạn đang xấu, có ông cha quá vãng mà an táng nơi đất kết phát thì có ảnh hưởng tốt. Hoặc biết con cái số phải long đong mà cha mẹ biết làm phúc chứa đức thì con cái được nhờ, sớm thì hiện tại, chậm thì tương lai.
- Ngoài ra, vấn đề chỗ ở, nhà cửa, bếp núc cũng có ảnh hưởng một phần vào vận số con người. Chẳng hạn như số mệnh đã tốt mà chỗ ở được vùng đất tốt, nhà cửa bếp núc day đúng phương hướng với mạng, thì sự tốt tăng thêm. Nếu vận hạn xấu mà dời chỗ ở cho hạp phong thổ, nhà, bếp day hướng tốt hạp với cung Mạng của mình thì cũng đỡ được khá nhiều.
Để tạm kết luận bài này, tôi xin thưa cùng quý bạn rằng: Chúng ta nằm trong “quỹ đạo” của Nghiệp, chi phối bởi số mệnh, cho nên số - mệnh vẫn là số mệnh. Chúng ta tìm hiểu số mệnh để ăn ở, hành động hợp với số mệnh hay Thiên lý, để lánh dữ tìm lành.
Chúng ta đừng tự phụ bảo rằng cải được số mệnh bằng tài sắc và mưu trí, đã vô ích mà còn nặng nghiệp hơn đấy!
Nếu chúng ta có một định số kém sáng sủa, chúng ta cũng chớ quá bi quan, phó mặc Hóa công, tới đau hay đó, rồi cái gì cũng Số, cái gì cũng Mệnh! Không làm gì cả, cũng vô ích. Mà chúng ta phải cố công bồi tu Âm đức để hóa giải Nghiệp cũ (tùy theo cán cân Đức và Số).
Ví dụ phúc đức tạo ra chưa đủ đền bù Nghiệp cũ quá nặng, chúng ta có thể hãnh diện rằng đã giep được “Nhân” lành, mà khi Nghiệp cũ trả xong chắc chăn “Quả” lành sẽ đến.
Cũng xin lưu ý quý bạn là chính ta mới có thể tự cải số chung ta mà thôi. Ngoài ta ra không ai cải số giùm ta được, kể cả các đấng vô hình.
Vậy quý bạn hãy suy ngẫm kỹ về cúng kiến, lễ bái, cầu đồng cốt hay dùng bùa phép. Có dịp, tôi xin trở lại với những đề tài mới
KHHB số 74C2
n đoán ban đầu thay đổi, có khả năng dẫn đến sai sót.

Đứng bên ngoài căn nhà đoán định tất cả các vị trí, tưởng tượng khả năng bố cục trong nhà. Căn cứ vào thế vận và bát quái để đoán định những vấn đề gì sẽ phát sinh, sau đó nghĩ cách giải quyết những vấn đề có khả năng phát sinh đó. Lúc này, thầy phong thuỷ mới bước vào nhà để kiểm chứng những suy đoán của mình vừa nãy có chính xác không. Tiếp đó, nói hết tình hình cho gia chủ, cố gắng tránh suy nghĩ trong nhà vì từ trường của ngôi nhà sẽ làm nhiễu loạn, ảnh hưởng đến tính chính xác của sự phán đoán.
Nếu thầy phong thuỷ đứng ở vị trí Ngũ Hoàng sát của căn nhà để giảng giải phong thuỷ cho khách hàng thì những điều ông ta nói ra không phải là phong thuỷ tốt nhất. Ngược lại, nếu ông ta chỉ đứng ở vị trí cát tinh giảng giải cho khách hàng thì cũng không chính xác lắm, khả năng ảnh hưởng của cát tinh mà báo chuyện vui chứ không báo điềm xấu. Vì thế, trong quá trình giảng giải, thầy phong thuỷ phải đi quan sát toàn bộ vị trí trong nhà và đưa ra những kết luận mà mình quan sát được cho chủ nhà biết.
Tóm lại, khi xem phong thuỷ cho một căn nhà nào đó, nhất định phải đứng ở bên ngoài quan sát kỹ một khoảng thời gian. Sau khi đã có suy đoán thì mới vào trong nhà quan sát để kiểm tra xem suy đoán đó chính xác hay không rồi nói cho chủ nhà biết để tránh phong thủy, từ trường của căn nhà làm nhiễu loạn, mà từ đó đưa ra những suy đoán thiếu tính chính xác.
![]() |
Gọi tên những con giáp không có sự nghiệp thuận lợi trong năm 2016![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
| ► Xem bói 2016 để biết vận mệnh, công danh, tình duyên của bạn |
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
oa học môi thâm còn là biểu hiện xấu cảnh cáo sức khỏe có vấn đề và cơ thể chứa nhiều nguy cơ bệnh tật. Vậy ý nghĩa của câu Mắt trắng môi thâm là gì?

Nội dung
Những người sở hữu môi thâm thường không nhận được ánh mắt thiện cảm từ người đối diện thì trong nhân tướng học, môi thâm lại là một trong chín tướng ác của người phụ nữ. Chính vì lẽ đó, con gái môi thâm hay gặp phải nhiều phiền muộn và rắc rối.
Trong dân gian, các cụ ta khi nói về “gái môi thâm thì sao” đã có câu: “Những người mắt trắng môi thâm, Ví chẳng hại chồng thì cũng hại con.”. Mặc dù quan niệm dân gian chỉ mang tính chất tương đối nhưng từ xưa đến nay, những người con gái môi thâm không tránh khỏi cảm giác mặc cảm, chán nản và tự ti vì diện mạo của mình không được đánh giá tốt.

Theo tướng số, con gái môi thường bị coi là những người không chung thủy, không đoan chính thậm chí còn dâm đãng và lăng loàn. Mà người xưa thường gọi gái môi thâm thì sao là “dâm phụ”.
oa học môi thâm còn là biểu hiện xấu cảnh cáo sức khỏe có vấn đề và cơ thể chứa nhiều nguy cơ bệnh tật.
“Những người mắt trắng, môi thâm,
Trai thì xảo quyệt gái thì điêu ngoa”
Hai câu ca dao trên đây, mà các nhà đoán số, tướng số vịnh theo đó mà làm về Ấn tướng để ám chỉ kẻ tiểu nhân hoặc những phường buôn hương bán phấn.
Câu trên chỉ về Ấn tướng của mắt, chỉ về con mắt trắng, những người có con mắt mà tròng đen nhỏ, tròng trắng nhiều, khi nhìn lên mà kẻ đối diện cứ tưởng rằng mắt họ chẳng có tròng đen.
Những người có cặp mắt như thế thì phần đông họ là người tiểu nhân, đàn ông thì gian xảo đàn bà thì trắc nết lăng loàn. Những người như thế nên tránh xa thì phải.
Còn có những người mà có đôi mắt nhìn chớp lia lịa, thì đó là những người thiếu thành thật, họ có thể nói khác mà đến lúc làm thì lại làm khác.
Còn những người khi nhìn người, nhìn vật mà theo một con mắt lại, hạng người đó thì lại ưa nghệ thuật có khiếu thẩm mỹ. Trái lại những người có hai con mắt một to một nhỏ thì đó là (lưỡng mục bất đồng, nhân tâm bất chính) trong thâm tâm họ tính toán sự lừa đảo người khác (mắt lé).
“Người nào tí hí mắt lươn,
Trai thì trộm cướp gái buôn chồng người”.
Câu này cũng đồng nghĩa gần giống như hai câu trên, có khác là ở đàn bà thì họ có số làm đĩ, vì đàn ông thì gian manh xảo quyệt, họ không thành thật với ai bao giờ, nếu gặp trường hợp những người có Ấn tướng khuyên quý vị nên xa lánh tốt hơn.
Ấn tướng về mũi: Những người bình thường mà lúc nói chuyện mũi thường hay khẹt khẹt thì đó những người ưa lý luận, hay làm thầy thiên hạ, tự coi mình là hơn kẻ khác, hoặc thình thoảng mũi cứ nở phồng lên phồng xuống thì đó là những người ham muốn địa vị cao sang, tham sống, lúc nào cũng sợ chết, thích lòe loẹt thích ăn uống, chịu hưởng thụ nhiều chỉ nghĩ đến mình, chết ai thây kệ.
“Những người mũi thẳng dâng cao,
Chính nhân quân tử, công hầu có khi”.
Câu này có ý nói người nào mũi cao và thẳng thì đường công danh thật lớn có danh vị quan trọng xã hội. Dù học thức của họ chẳng đến đâu mà những người có mũi này cũng sẽ thành công mai hậu. Nên biết đây là Hiện tướng chứ không phải là Ấn tướng.
Còn những người có mũi thấp và nhỏ lông mũi hếch lên lúc thở nghe hơi ra khì khì, thì đó là tướng người nghèo khổ, tay làm hàm nhai chớ chẳng giàu có, số cơ cực.
Lông mũi cuốn lại bò quanh,
Đó là Ấn tướng gian manh trong đời,
Tướng này thích lấy vợ người,
Khi mà hữu sự chạy dài có khi
Bốn câu này ám chỉ người nào có lông mũi quăn queo xoắn quanh lỗ, thì tâm tánh của người đó bất chính, tà tâm ưa thích sự gian lận, không ngay thẳng, người hèn, tội lỗi, khi làm việc thì biếng nhác. Những người này khó mà trung thành với ai dù với vợ của họ cũng thế, người ta có thể gọi là sâu bọ trong xã hội.
Những người không điếc, không lãng tai, nhưng khi nghe ai nói hoặc nghe bất cứ một tiếng động gì của sự vật mà bất cứ nhỏ hay lớn đều nghiêng tai tỏ vẻ lắng nghe thì đó gọi là Ấn tướng. Ấn tướng đó cho biết hạng người này, ưa sự nghi ngờ cho nên khó mà ghi được lòng tin với người đó. Ngoài xã hội họ chẳng tin ai, mà trong gia đình ngay chính vợ con của họ, họ cũng đa nghi vậy. Vì thế mà trong gia đình hay bị xào xáo nhất là ghen tuông vì tánh đa nghi.
“Nghiêng tai nghe thử tiếng đời,
Hỏi ai trả giá, hỏi người nào ngay.
Nghe luồng gió thổi cây lay,
Tướng quân trộm đạo đang bày trò gian.”
Bốn câu thơ trên đây có thấy rõ sự đa nghi quá lố của những người có tật nghiêng tai nghe ngóng.
Những người có Ấn tướng này rất khó mà thành công trên đường đời, bởi họ hay đa nghi chẳng tin ai cũng vì thế mà không gây được cảm tình với ai thành ra thất bại vì chung quanh chẳng có người ưa thích.
Oan hồn, hồn ma, ma, cô hồn gọi chung là “ma”:
Bàn đến “ma”, “hồn ma bóng uế” đối với Phật giáo là việc không tưởng! Người Phật giáo cũng không tin là có ma. Phật giáo quan niệm ma là những nghiệp lực, chướng duyên cản trở quá trình tu chứng của người đệ tử đức Phật, như: ma tiền tài, ma danh vọng, ma sắc đẹp, ma ngủ nghỉ, ma ngũ dục… chứ không có vấn đề ma nhác, ma hiện hình cho người đời thấy, ma báo mộng, đưa tin…
Theo từ điển Việt Nam của Thanh Nghị thì hồn ma, oan hồn là bóng hình quái dị của người đã chết mà lắm người tin rằng có thể hiện ra. Như nói “ma da” là ma dưới nước, oan hồn, ma xó, cô hồn. Hồn ma là sự ám ảnh đối với người sống, “hồn ma” là hiện tượng mà mọi người tin là có, hoặc có thể xuất hiện bất cứ lúc nào và “hồn ma” có thể xuyên qua khe hở, qua cửa, qua tất cả vật thể để đến với người sống, lúc bấy giờ người sống gọi là “ma nhác”. Câu chuyện “ma” là câu chuyện vô cùng hấp dẫn, nói mãi không hết chuyện “ma”. Người sợ “ma” bao nhiêu thì thích nghe nói chuyện “ma” bấy nhiêu… Thật ra “hồn ma” là một hiện tượng “vô thể” đối lập với “hữu thể”!
Như người bệnh mới vừa bị cưa mất khúc chân, người đó vẫn còn cảm giác bên khúc chân bị cưa mất về sự đau đớn, nhức nhối. Sự đau đớn nhức nhối ở khoản không bên khúc chân vừa bị cưa mất gọi là “chân ma”.
Nghe nói có người chết trên giường bệnh trong một bệnh viện lớn, vắng vẻ, xe hồng thập tự vừa đưa xác người chết xuất viện về quê… việc nầy đối với các Bác sĩ thì chẳng là gì! Nhưng với người bình thường vừa đến đây có cảm giác lành lạnh sờ sợ, khi vào bên trong đi ngang các phòng bệnh, nghe chuyền tai nơi đây hôm qua có người chết vừa đem ra khỏi giường… Cái cảm giác có người chết nằm trên giường, hôm qua còn người nằm, hôm nay không còn người nằm, liền nảy sanh sợ chỗ đó gọi là “sợ hồn ma bóng uế”.
Đối với các tôn giáo:
Nói đến ma, hồn ma, oan hồn, mọi người tiến bộ trên hành tinh nghĩ ngay đến tôn giáo, chỉ có những người làm công tác tôn giáo mới hóa giải vấn đề hồn ma. Một số tôn giáo và nền văn hóa dân gian quan niệm, con người gồm thể xác (mang tính chất vật chất) và linh hồn (mang tính chất phi vật chất). Khi thể xác chết, linh hồn xuất khỏi thể xác. Nếu linh hồn đó không có cơ hội đầu thai hoặc nơi trú ngụ chung với các linh hồn khác mà tương tác với cõi thực có con người sẽ gọi là “ma”, “hồn ma”; nhưng nếu các phần phi vật chất đó tương tác với cõi thực của con người theo tình cảm, theo trách nhiệm được giao của các tôn giáo thì lại gọi là “hồn”, “linh hồn”, “thánh”, “thần”, “thiên sứ”.
Theo Phật giáo:
Con người, nói chung là chúng sanh sau khi chết, không có một linh hồn, oan hồn nào tồn tại sau khi thân ngũ uẩn tan rã! Thân chúng sanh gọi là thân ngũ uẩn hay ngũ ấm, gồm có sắc, thọ, tưởng hành và thức: sắc dụ cho máu thịt gân xương v.v… và tâm (thọ, tưởng, hành, thức) dụ cho tâm thức, sự hiểu biết tạo ra nghiệp lực, hình thành một con người.
Có thể hiểu cách khác: thân người gồm có đất, nước, lửa, gió (là máu, thịt, gân, xương), tâm là thức đại, không đại (là sự hiểu biết); sau khi qua đời, đất, nước, lửa, gió được trả về với đất, nước, lửa, gió; thức đại, không đại được trả về với hư không và sau 49 ngày tái sanh theo nghiệp lực đã tạo. Như vậy, không còn gì ở lại thế gian nữa, làm gì có hồn ma hay oan hồn?
Việc cúng cầu siêu cho hương linh người qua đời, ngày kỵ giổ mời ông bà về thọ hưởng là đứng về mặt tín ngưỡng tưởng niệm người quá cố. Tưởng niệm không phải tin rằng có linh hồn tồn tại sau khi chết, tưởng niệm nói lên đạo đức của người con Phật, không quên ân sâu nghĩa nặng của cửu huyền thất tổ, ông bà cha mẹ, quá thế nhiều đời, cũng như cha mẹ tại tiền. Tưởng niệm cũng chính là để đáp ân sanh thành dưỡng dục của người con Phật mà thôi, hoặc cúng thí thực cho các “oan hồn” được siêu thoát là vì phát huy lòng từ thiện: người chết còn nghĩ đến huống gì người đói nghèo!
Con người hình dung về hồn ma:
Cho đến nay, hồn ma vẫn là bí ẩn đối với nhân loại, có những câu chuyện hư cấu về hồn ma, nhưng cũng không thể kết luận được có phải hư cấu hay không. Sự bí ẩn của hồn ma xuất phát từ giới hạn tri thức và hiểu biết của con người (nói chung) và các nhà khoa học (nói riêng).
Hồn ma thường được miêu tả là một dạng người, nhưng thông thường là “trắng bạc”, “cái bóng lờ mờ”, “nửa trong suốt”, hay “tựa như sương mù”, “đống đen thùi lùi”. Hồn ma không có cơ thể sống như con người, hoặc chỉ là bộ xương người biết đi. Xã hội của các oan hồn theo nhiều người là “âm phủ” còn chỗ ở của hồn ma là cái mộ (sống cái nhà, thác cái mồ) vì vậy họ xây dựng nhà mồ rất đẹp có nhiều nghĩa địa khang trang như một thành phố. Nhưng hồn ma cũng có thể vương vất ở những nơi tăm tối, vắng vẻ nơi có liên quan đến họ khi còn sống.
Ở một số tín ngưỡng dân gian:
Người có “duyên” với hồn ma mới có thể nhìn thấy hồn ma hoặc chỉ những người có khả năng đặc biệt còn gọi là các nhà ngoại cảm là có thể thấy và tương tác với hồn ma. Nhiều người cho rằng oan hồn (ma) có khả năng biết tất cả những gì người sống nghĩ, có khả năng biết được các việc đã, đang và sắp xảy ra, hoặc có khả năng tác động lên thể xác, lời nói của người sống như hiện tượng lên đồng, tác động lên cảm quan người sống như dắt người sống đi lạc vào bụi, xúi người sống ăn đất mà tưởng ăn bánh hoặc hồn ma có thể tác động lên vật chất như tạo ra tiếng động, tắm trong nhà tắm nữa đêm, rung cây, xô lệch bàn ghế…
Oan hồn theo nghĩa đen tức là người chết không do từ một nguyên nhân cố định (bệnh chết, già chết) như xe đụng hết, bị lạc đạn chết, bị chết vì nước, lửa, lốc xoáy… gọi là chết oan, chết tức tửi. Người chết không có người cứu, không có người tụng kinh, đưa linh, nên người đời gọi đó là những oan hồn, còn ẩn khuất đâu đây chưa siêu thoát. Cứ nghĩ như thế mãi theo thời gian và cho rằng người chết đó không siêu thoát nên thành “ma đói, ma ngã ba đường cái, ma oán, oan hồn, cô hồn”.
Lời khuyên:
Bạn có thấy những oan hồn, nghe những sinh hoạt của oan hồn, nghe tiếng nước chảy trong bồn tắm, nghe trong người của Bạn có hiện tượng khác, ngầy ngật, ợ ngáp, khó thở… đó là do nghiệp thức của Bạn cảm ứng.
Người đời nói chuyện “hồn ma” vì thấy có “hồn ma”. Khi các Bạn nghĩ đến ma, thấy ma, nói chuyện ma, nghi có ma ở nơi nào đó thì Bạn cảm thấy sợ sệt, nhất là những nơi vắng vẻ… Theo Sư thì hôm nay chúng ta sợ “ma sống” hơn là “ma chết”, “ma xã hội đen” đấy Bạn ạ!
Về đạo đức tâm linh, Bạn niệm thần chú Vãng sanh, thần chú thất Phật diệt tội chân ngôn (Thập chú trong kinh Nhựt Tụng), Bạn chỉ còn thấy đức Phật, Bồ Tát, nên không còn thấy “hồn ma bóng uế” nữa!
Khi mở đầu việc làm nhà, dựng cửa…, mọi người thường quan tâm tới phong thủy nhà. Từ xa xưa cho tới nay, cư dân Việt hiện đại vẫn gặp ít nhiều khó khăn ngay từ bước khởi đầu, nhất là việc xem hướng nhà.
Có 4 tiêu chí sau đây để đánh giá tốt xấu cho phương hướng nhà
Tốt xấu theo khí hậu
Hướng nam và lân cận nam (đông nam và tây nam) là những hướng tốt với địa lý, khí hậu Việt Nam. Những hướng này có gió mát và ánh sáng ổn định, không khí ấm áp. Trong khi đó, hướng tây, tây bắc thì nắng gắt và rất nóng vào buổi chiều. Hướng đông thì chói vào buổi sáng và chịu thêm gió lạnh tướng đông bắc lân cận. Do vậy, đa phần các ngôi nhà truyền thống của ông cha ta đều quay cửa chính về hướng lân cận nam, quay đầu hồi về hướng tây. Một công trình kiến trúc nếu không được hưởng khí hậu phù hợp thì tuổi thọ công trình sẽ giảm, tác động xấu đến người cư ngụ.
Tốt xấu theo hướng mệnh trạch
Căn cứ năm sinh (âm lịch), thì dịch học phương đông quy định mỗi người (nam và nữ) sẽ có mệnh cung tương ứng với tám hướng trong tự nhiên theo tám quẻ của bát quái, phân thành hai nhóm là nhóm đông tứ mệnh và tây tứ mệnh. Có thể tham khảo các cuốn sách về Dịch học và văn hóa truyền thống phương đông để dễ tìm ra cung mệnh của mỗi người. Cũng vì mỗi tuổi khác nhau nên dù có hai ngôi nhà giống hệt nhau ở cạnh nhau cũng có thể hợp với người này mà không hợp với người kia.

Tốt xấu theo phong vị
Hướng phong vị là hướng của một vùng, một vật hay người so với một điểm gốc nào đó. Ví dụ ở Tp HCM, quận 4 nằm về hướng nam so với chợ Bến Thành nhưng lại là hướng bắc so với khu Phú Mỹ Hưng. Xem hướng phương vị cũng như hướng mệnh trạch là để bố trí, xếp đặt các không gian vào vị trí thích hợp theo cát hung của mỗi người. Cũng chính từ điểm gốc, nơi chủ thể tọa và quay mặt nhìn về một hướng thì xung quanh vị trí ấy sẽ xác định được bên nào là trái, phải, đâu là trước, sau để từ đó đưa ra giải pháp thích ứng. Tốt nhất là phía trước nhà thoáng và phía sau có chỗ dựa lưng.
Tốt xấu theo hướng giao tiếp
Ngoài việc đối phó với môi trường thiên nhiên, con người cũng phải ứng xử với xã hội. Do đó, ngôi nhà phải quay mặt (hoặc cửa, lối vào) ra những vị trí thuận lợi cho việc đi lại, giao tiếp, buôn bán. “Nhất cận thị, nhị cận giang, ba cận lộ”. Có những ngôi nhà được hướng khí hậu, nhưng nằm trong ngõ quá nhỏ, ra vào khó khăn, hoặc nằm bên đường xa lộ cao tốc khó rẽ vào được thì hướng giao tiếp cũng xấu đi. Đi vào nội thất, ta thấy có người ngồi làm việc theo hướng mệnh trạch là hợp, nhưng nếu ngồi vậy mà lại thành quay lưng ra cửa, úp mặt vào tường, giao tiếp khó khăn thì cũng cần xem lại.
![]() |
Thăng quan tiến chức trong năm Bính Thân chỉ nhờ các vật phẩm phong thủy![]() |
| ► Xem bói ngày sinh để biết tình yêu, hôn nhân, vận mệnh, sự nghiệp của mình |
Huyệt Thái Dương được coi là vị trí của “Cung Thiên Di” hay còn gọi là “Cung Dịch Mã”, là vị trí tiết lộ việc đi lại, du lịch, dịch chuyển.
Khi có nốt ruồi xấu ở đây, nghĩa là việc xuất hành đi du lịch hay làm ăn bên ngoài của bạn gặp nhiều điều bất lợi, còn nếu là nốt ruồi thiên tướng thì có nghĩa là bạn luôn gặp may mắn có lợi khi đi du lịch, đi xa.
Vị trí giữa hai lông mày được coi là “Cung sự nghiệp” trong Nhân tướng học, tượng trưng cho sự thăng tiến và phát triển trong sự nghiệp, dựa trên khí sắc ở bộ phận này có thể tiên lượng được họa phúc trong cuộc đời một con người.

Nếu xuất hiện nốt ruồi thiên tướng ở vị trí này nghĩa là bạn sẽ có một sự nghiệp thành đạt, nhưng nếu đó là một nốt ruồi xấu thì khoảng năm 28 tuổi bạn sẽ gặp vấn đề nghiêm trọng trong hôn nhân hoặc chuyện tình cảm.
Vị trí giữa mắt và lông mày được coi là “Cung điền trạch”. Khi có nốt ruồi xuất hiện tại đây chứng tỏ bạn là một người liêm khiết, thanh tú, đa tài đa nghệ, hay được người đi trước nâng đỡ coi trọng, cuộc sống hôn nhân hạnh phúc mĩ mãn.
Tuy nhiên nếu đó là nốt ruồi xấu thì bạn sẽ phải thường xuyên thay đổi nơi ở, những nơi bạn sinh sống hay có những hiện tượng khó lí giải xuất hiện như cơm bữa. Do đó, bạn chớ nên đầu cơ vào lĩnh vực bất động sản, nếu không sẽ chỉ chuốc lấy những thất bại nặng nề.
Môi trên có nốt ruồi trong tướng học được coi là phúc tướng, biểu hiện việc cả đời được sung túc no ấm, không phải lo cái ăn cái mặc.
Ngoài việc thường xuyên được mời đi ăn uống, bạn cũng là người theo chủ nghĩa “ăn ngon”, mối quan hệ trong làm ăn buôn bán rất tốt đẹp, chỉ có duy nhất một nhược điểm là đôi khi hơi quá thẳng thắn, dễ đắc tội với người; mệnh kỵ Thủy nên trong đời ít nhiều sẽ gặp nạn về đường thủy.
Những người có nốt ruồi ở cằm là người có duyên về địa ốc, điền trạch, khi về già. Bạn sẽ có khối bất động sản đồ sộ hoa lệ, bên cạnh đó cũng tiết lộ bạn là người rất chú trọng việc thưởng thức phong vị của cuộc sống.
Nốt ruồi trong lòng bàn tay thể hiện bạn là một người rất thông minh và không bao giờ thiếu tiền, khi về già sẽ gặt hái được thành tựu to lớn.
Nếu mu bàn tay có nốt ruồi thì biểu lộ bạn là người thích quản lý tiền bạc, sau khi kết hôn bạn sẽ là người nắm giữ kinh tế trong nhà, là người có khát vọng mạnh mẽ.
Trong tướng học đây được coi là vị trí “Thái Hà”, tượng trưng cho những con người lí trí và tài năng. Khi lông mày có nốt ruồi thiên tướng nghĩa là bạn sẽ luôn ngập tràn niềm vui, mối quan hệ của bạn với mọi người thường rất tốt, làm ăn được hanh thông thuận lợi.
Còn nếu ở đây xuất hiện nốt ruồi xám thì có nghĩa là anh chị em ruột hoặc anh chị em họ sẽ có người gặp bất hạnh, nếu không phải tứ chi hay bị thương thì cũng dễ vướng chuyện ngoại tình. Khi bạn 33, 34 tuổi cần đặc biệt chú ý nhắc nhở người thân.
Nếu trên xương gò má xuất hiện nốt ruồi thiên tướng nghĩa là trên con đường quan trường bạn sẽ có vị trí và quyền lực nhất định, nếu đó là nốt ruồi xấu thì bạn dễ tin người, nên cũng dễ bị người khác bán rẻ, trong tình yêu hay gặp cảnh có kẻ thứ ba xen ngang tranh cướp, làm việc tốt cũng dễ bị kẻ khác tranh công. Không chỉ vậy, bạn cũng có nguy cơ tiềm ẩn về bệnh tim và tuần hoàn máu, do đó nên chú ý đề phòng chăm sóc bản thân hằng ngày.
Trong 12 cung Diện tướng học, mũi được coi là “Cung Tài Bạch”, mũi càng dày, đầy đặn thì thu nhập càng cao, cánh mũi càng tròn trịa thì tích lũy được càng nhiều. Nếu trên mũi bỗng xuất hiện nốt ruồi có nghĩa là bạn có nguồn thu dồi dào thời gian gần đây, nếu là nữ giới nghĩa là đường chồng con không được tốt lắm, hay phải buồn sầu lo nghĩ cho một nửa của mình.
Về tật ách cần đề phòng bị trĩ, đặc biệt khi vào thời điểm 40 tuổi nếu trên cánh mũi có nốt ruồi thì rất dễ rơi vào tình trạng tiền tài tiêu tán mà không ngăn được. Các mốc quan trọng cần đặc biệt chú ý trong đời gồm: 44 tuổi, 45 tuổi, 49 tuổi, 50 tuổi.
Nếu có nốt ruồi ở vị trí này thì bạn là người di chuyển rất nhiều, có cơ hội được đi đây đó và du lịch nước ngoài. Trong chốn quan trường, bạn là người có khả năng hô phong hoán vũ. Ngón chân có nốt ruồi biểu hiện bạn là người trung hậu thật thà, hay được bạn bè, cấp dưới giúp đỡ, bảo vệ, tương lai sau này là người có sự nghiệp hiển vinh rạng rỡ.
| ► Lịch ngày tốt gửi đến độc giả những câu chuyện về giải mã giấc mơ và thế giới tâm linh huyền bí có thật? |
![]() |
Sinh năm 2000 là năm Canh Thìn, thuộc mệnh Kim (Bạch lạp Kim – vàng sáp ong).
Những người sinh năm 2000 tức là sinh từ ngày 7 tháng 2 năm 2000 đến 27 tháng 1 năm 2000 theo dương lịch.Thuộc mệnh Kim trong ngũ hành, tuổi con Rồng.
Nữ sinh năm 2000 thuộc cung Chấn. Quẻ mệnh: Càn Kim thuộc Tây Tứ mệnh.
.jpg)
Màu sắc hợp: màu vàng, nâu, thuộc Thổ (Kim sinh Thổ, tương sinh là tốt)
Màu sắc tương vượng: Màu trắng, bạc, kem, thuộc hành Kim
Màu sắc kị: Màu đỏ, hồng, cam, tím thuộc hành Hỏa
Tây Bắc - Phục vị : Được sự giúp đỡ .
Đông Bắc - Thiên y : Gặp thiên thời được che chở .
Tây - Sinh khí : Phúc lộc vẹn toàn .
Tây Nam - Diên niên : Mọi sự ổn định
Hướng xấu:
Bắc - Lục sát : Nhà có sát khí .
Đông - Ngũ qui : Gặp tai hoạ .
Nam - Tuyệt mệnh : Chết chóc .
Đông Nam - Hoạ hại : Nhà có hung khí .
Cuộc đời của tuổi Canh Thìn có nhiều cái hay đẹp về nghề nghiệp lẫn công danh, có số hưởng nhiều tài lộc vào thời trung vận. Cuộc sống hoàn toàn đầy đủ và hưởng được nhiều phúc đức, tuy vào tiền vận có nhiều lo buồn về vấn đề công danh sự nghiệp, nhưng vào trung vận thì được hưởng khá tốt về tiền bạc cũng như mọi việc trên đời này.
Cuộc đời người Canh Thìn có nhiều may mắn trên sự nghiệp, cuộc đời. Cuộc đời toàn được hưởng được nhiều may mắn và đạt được nhiều thắng lợi cho bản thân.
Về vấn đề tình duyên, tuổi Canh Thìn được nhiều may mắn có số đào hoa, cuộc sống có phần thắng lợi về tình duyên. Tuy nhiên với những người tuổi Canh Thìn thì được chia ra làm 3 trường hợp sau:
Nếu sinh vào tháng 1, 6 âm lịch thì nữ mệnh Canh Thìn có thay đổi về 3 lần tình duyên và hạnh phúc.
Nếu sinh vào những tháng 2, 5, 8, 9, 10, 11 âm lịch thì có hai lần thay đổi tình duyên, hạnh phúc.
Nếu bạn sinh nào những tháng sau: 3, 4, 7, 12 âm lịch thì thì cuộc đời bạn được hưởng tình duyện hạnh phúc hoàn toàn, không phải thay đổi tình duyên lần nào cả.
Phần công danh không được lên cao, chỉ ở mức trung bình. Với nữ sinh năm 2000 thì hợp với việc làm ăn, buôn bán thương mại, gia đạo được êm ấm, đầy đủ, con gái vui vẻ hạnh phúc.
Sự nghiệp mau phát triển và có đầy đủ khả năng tạo lấy sự nghiệp riêng.Về sự nghiệp có nhiều cơ hội và vững chắc vào tuổi trung niên, sau khi 30 tuổi. Tiền bạc dễ tạo, có cơ hội làm giàu vào năm 34 tuổi trở đi. Nữ tuổi Canh Thìn rất tốt về đường tài lộc lẫn tình cảm.
Trong việc kết duyên với lựa chọn cho việc xây dựng hạnh phúc, cần phải lựa chọn cho hợp với tuổi làm ăn và đẩy mạnh cuộc sống lên đên mức độ tột cùng của cuộc sống. Về vấn đề tình duyên cũng quan trọng, có thể ảnh hưởng đến vận mệnh cuộc đời của bạn. Nếu lựa chọn kết hôn với những tuổi này thì cuộc sống của nữ Canh Thìn hoàn toàn vui tươi và được hưởng đầy phú quý. Những tuổi mà nữ mệnh sinh năm 2000 nên kết hôn là: Canh Thìn (2000), Bính Tuất (2006), Kỷ Sửu (2009), Đinh Sửu (1997).
Khi kết hôn với những tuổi Canh Thìn, Bính Tuất: cuộc đời của bạn sẽ được sống trong giàu sang, phú quý. Với tổi Kỷ Sửu, Đinh Sửu thì cuộc sống của bạn luôn vui tươi và đầy đủ; có thể tạo được cuộc sống hạnh phúc.
Những năm mà tuổi Canh Thìn không nên kết hôn là năm bạn ở các tuổi: 15, 17, 23, 27, 29, 35, 39.
Nếu bạn sinh vào những tháng này thì sẽ có hơn 2 lần chồng, hoặc bạn sẽ phải gặp cảnh đau buồn về chồng con nếu bạn sinh vào những tháng 1, 2, 4 và 5 âm lịch.
Từ năm 17 đến năm 20 tuổi:
Năm 17 tuổi, có nhiều dịp may đưa đến, nhất là vào những tháng 7, 11 âm lịch, vào hai tháng này có thể thâu đoạt được nhiều thắng lợi về đường tài lộc và tình cảm.
Năm 18 tuổi thì đạt được nhiều thắng lợi trong cuộc đời, vào tháng 4 và tháng 6 cẩn thận trong vấn đề nghề nghiệp và tiền bạc; ngoài ra những tháng khá thì chỉ được trung bình.
Năm 19 tuổi, năm này có nhiều xugn kị vào thagns 6, 8 âm lịch, nên cẩn thận vào hai tháng này, còn những tháng khác thì tài lộc bình thường.
Năm 20 tuổi thì tốt cho việc làm ăn, phát triển về vấn đề tiền bạc, năm này kỵ đi xa.
Từ năm 21 đến năm 25 tuổi:
Năm 21 tuổi: năm này có nhiều cái đẹp, cả năm làm ăn khá, trừ tháng 9 có chuyện nhỏ gặp xui xẻo.
Năm 22 tuổi: Những tháng đầu năm thì gặp nhiều chuyện phiền lòng, không may mắn, những tháng cuối năm khá tốt.
Năm 23 tuổi, có chuyện xui xẻo vào những tháng 4 và 6, tháng 9 có tài lộc, những tháng khác êm xuôi.
Năm 24 tuổi khá, nhưng tài lộc chỉ ở mức bình thường.
Năm 25 tuổi không nên đi xa, hùn hạp buôn bán hay những giao dịch về tiền bạc thì bất lợi.
Từ năm 26 đến năm 30 tuổi:
Năm 26 tuổi có lợi nhỏ, cả năm đều vào mức trung bình.
Năm 27 tuổi, không được tốt lắm, năm này nên đi xa thì tốt, làm ăn cầm chừng, không thu được nhiều kết quả về tài lộc cũng như tình cảm.
Năm 28 tuổi, này nay công việc gia đình khá tốt, cẩn thận không mang tiếng thị phi, dễ mắc tai tiếng năm nay không nên giao dịch về tiền bạc cũng như tình cảm.
Vào năm 29 tuổi thì tài lộc vượng phát, tâm tính yêu vui và yên ấm.
Năm 30 tuổi thì mọi việc chỉ được trung bình, mọi việc bình yên không có gì xảy ra.
Từ năm 31 đến năm 35:
Năm 31 tuổi, năm nay kỵ đi xa hay làm ăn lớn sẽ bị thất bại.
Năm 32 tuổi không được may mắn, cần cẩn trọng chú ý trong việc giao dịch tiền bạc.
Năm 33 tuổi, năm này kị nhất là tháng giêng, những tháng khác thì bình thường. Việc gia đình và làm ăn kinh doanh chỉ cầm chừng, không phát triển và cũng không tốt đẹp.
Năm 34 tuổi thì sự nghiệp phast triển và thu được nhiều tài lộc , cẩn thận vào tháng 3 âm lịch đề phòng tai nạn.
Năm 35 tuổi, năm nay vững chắc nên mọi việc làm ăn và co nhiều thâu tóm về lợi lộc trong làm ăn.
Từ năm 36 đến năm 40 tuổi:
Năm 36 tuổi, nhiều triển vọng, năm này có thể phát tài to, nên thận trọng về việc giao dịch tiền bạc hay xuất phát tiền bạc đúng mức. Vào năm 37 tuổi, năm này không được tốt đẹp cho lắm, bạn nên cẩn thận về việc gia đình có nhiều việc buồn phiền xảy ra, nhất là tháng 4 và tháng 8, hai tháng này xung khắc với tuổi. Năm 38 tuổi, có hy vọng thành công về sự nghiệp cũng như vấn đề về công danh, bạn nên cố gắng làm vẹn toàn công việc. Vào năm 39 tuổi, cả năm bình thường. Vào năm 40 tuổi, những tháng đầu năm hơi xấu, những tháng cuối năm thì khá hơn, tháng 12 là tháng đại lợi, có triển vọng về tiền bạc.
Từ năm 41 đến năm 45 tuổi.
Năm 41 tuổi có đau bệnh trong người hoặc trong gia đình có người đau ốm về bệnh tật. Năm 42 tuổi, có tin xa về con cái hay về gia đình thân tộc. Năm 43 tuổi, vào năm này đại xung kỵ cho tuổi bạn, nên đừng đi xa hay xuất hành vào những tháng 6 và tháng 8, có thể gặp tai nạn chết người. Năm 44 tuổi bình thường, mọi coogn việc đều tiến triển chậm chạp. Năm 45 tuổi, năm này có tài lộc nhỏ vào những tháng giêng và tháng 7, những tháng khác trung bình.
Từ năm 46 đến năm 50 tuổi:
Năm 46 tuổi thì tình trạng sức khỏe yếu ớt, năm này khó thoát được bênh hoạn. Năm 47 tuổi thì khá tốt, bổn mạng được vững vàng. Năm 48 tuổi năm này tài lộc hư hao, con cái có phần suy yếu về bổn mạng. Năm 49 và 50, hai năm này vẫn sống trong tình trạng bình thường, xung kỵ vào tháng 5 năm 49 tuổi và tháng 7 năm 50 tuổi.
Nếu để ý, ta thấy trong nhà và cửa hàng buôn bán của người Hoa thường có bài trí những đồ vật đặc biệt như tượng Thần Tài, Quan Công, lại có cả cóc ba chân, rồi treo thêm những tấm gương lớn hoặc chùm đồng xu cổ…
Cách làm như vậy là để tạo ra biểu tượng của tài lộc và vận may trong cuộc sống cũng như kinh doanh.
Rước thần tài vào nhà
Theo quan niệm dân gian, có rất nhiều vị thần thánh được xem là Thần Tài. Hình ảnh Thần Tài thường được mô tả nhiều nhất là dáng người mập mạp, bụng phệ để trần, miệng cười tươi, tay cầm quạt… Tích xưa cho biết vị thần này tên là Trương Thiếu Anh. Vị thần tài ngồi tựa trên một con cọp, tượng trưng cho việc ông đã chế ngự được con thú này, đồng thời ngụ ý rằng trưng bày tượng thần tài trong năm Dần được xem là rất may mắn.
Nếu bạn là người không thích thờ phụng thì có thể treo một chùm chín đồng xu cổ được xâu lại bằng sợi chỉ đỏ ở hướng phú quý để kích hoạt năng lượng chủ của những đồng xu đó và cũng tạo được sự thịnh vượng.
Vị trí đặt Thần Tài

Vị trí tốt nhất để đặt tượng Thần Tài là trên bàn hoặc trên tủ cao khoảng 76 đến 83cm, đối diện với cửa chính để khi bước vào nhà là bạn nhìn thấy thần tài. Trong Phong thủy, điều này có ý nghĩa là vị thần tài đón khí mới tràn vào nhà và chuyển khí thành năng lượng thịnh vượng luân chuyển trong nhà.
Nếu không thể đặt đối diện với cửa chính, có thể đặt Thần Tài trong phòng khách, chéo góc với cửa ra vào. Không nên đặt Thần Tài trong phòng ngủ hoặc phòng ăn.
Ngoài Thần Tài được mô tả như trên, trong dân gian còn thờ các vị thánh khác như Quan Công, Phật Di Lạc.
Cóc ba chân: biểu tượng của tài lộc
Trong Phong thủy, cóc là sinh vật được cho là mang lại điềm lành. Người Hoa tin rằng nếu họ nhà cóc ở dưới giếng, ao, hồ sau nhà thì gia đình bạn có thể tránh khỏi những nguy hiểm và vận rủi rình rập.
Cóc ba chân được xem là biểu tượng rất may mắn. Nó thường ngậm ba đồng tiền xu trong miệng, tượng trưng cho việc cóc mang vàng vào nhà.
Đừng để cóc đối diện trực tiếp với cửa chính vì có nghĩa là để cho vàng ra khỏi nhà. Vị trí tốt nhất để đặt cóc ba chân là góc đối diện chéo với cửa chính, mặt hướng vào trong như thể cóc đang nhảy vào nhà. Cóc cũng có thể nằm bên dưới gầm bàn, bên trong tủ hoặc giấu dưới ghế, những đồ đạc khác…
Không nên đặt cóc ba chân trong nhà bếp, phòng tắm hoặc nhà vệ sinh. Nếu đặt ở những nơi này, thay vì mang tài lộc đến, cóc trở nên hung dữ và thu hút khí chủ về vận rủi tàn phá năng lượng tốt đẹp trong nhà. Ngoài ra, cũng không nên để cóc trong phòng ngủ.
Nuôi rùa để tạo vận may
Theo Phong thủy, rùa là con vật mang lại may mắn và sự bảo vệ cho gia đình. Vì vậy, để thu hút tài lộc, vận may vào nhà, bạn có thể nuôi rùa. Thời phong kiến Hồng Kông, những gia đình giàu có, quan lại đều có ao rùa. Tại Malaysia, có thể nhìn thấy ao rùa trong đền thờ Kel Lok Si ở đồi Penang và ở cao nguyên Genting.
Rùa được xem là con vật linh thiêng mang lại điềm lành và có năng lực bảo vệ rất mạnh. Vì vậy, bất cứ ai nuôi rùa cũng đều có thể hưởng được sự may mắn do rùa mang lại.
Muốn nuôi rùa, hãy mua một cái chậu bằng gốm sứ có đường kính khoảng 20cm. Đổ nước đến nửa chậu và đặt một hòn đá nhỏ ở giữa để rùa vừa có thể ở trong nước, vừa bò lên hòn đá trên mặt nước.
Nên thay nước ba lần mỗi tuần. Nếu sử dụng nước máy thì nên để nước ra ngoài một thời gian giúp cho chlorine bốc hơi hết trước khi thay nước trong chậu. Thức ăn của rùa bao gồm các loại cá nhỏ hoặc rau xanh.
Không cần thiết nuôi nhiều rùa, chỉ nuôi một con là được vì số 1 là số của hướng Bắc, là hướng hợp với rùa. Do đó, về mặt Phong Thủy tốt nhất chỉ nên nuôi một con và đặt chậu ở hướng Bắc. Nếu rùa chết, bạn không nên lo lắng, chịu khó thay ngay con khác. Lý do là rùa chết tức đã làm xong nghĩa vụ bảo vệ gia đình bạn.
Tăng doanh thu bằng tiếng chuông ngân
Theo quan niệm từ xưa, chuông ngân mang ý nghĩa báo hiệu tin mừng, được xem là biểu tượng mang lại may mắn và tài lộc. Đối với những người buôn bán, treo dãy chuông nhỏ bằng kim loại trong cửa hàng sẽ tạo ra năng lượng luân chuyển năng động. Mỗi khi có khách bước vào, chuông sẽ ngân vang như chào đón người mang đến vận may nhằm tăng doanh thu của cửa hàng.
Chuông có thể làm bằng bất cứ loại kim loại nào, đồng thời có thể buộc bằng dây ruy-băng để kích hoạt năng lượng dương. Treo sáu hoặc bảy cái chuông là lý tưởng nhất.
Có hai phương pháp treo chuông ở cửa như sau:
– Treo chuông vào tay nắm cửa ở phía ngoài cửa hàng.
– Treo chuông ở phía trên cửa, sao cho mỗi khi mở cửa, chuông sẽ ngân lên.
Bạn có thể treo chuông có kích cỡ nhỏ ở bên trong cửa hàng, dọc theo tường phía Tây, Tây Bắc hoặc đối diện trực tiếp với cửa vào, hay treo cao lên trần nhà để thu hút khí thịnh vượng vào cửa hàng.
Gương: Biểu tượng tăng gấp đôi
Thương nhân người Hoa trước đây thường rất thích lắp những tấm gương lớn ở bên trong cửa hàng với ý nghĩa làm tăng gấp đôi các sản phẩm và tượng trưng cho sự buôn bán phát đạt của cửa hàng, lại tạo ra một khối lượng năng lượng dương rất lớn vì nó làm tăng gấp đôi các hoạt động trong cửa hàng. Ngoài ra, họ còn gắn gương để phản chiếu máy thu ngân với mong muốn tăng doanh thu lên gấp đôi.
Dùng gương là cách tốt nhất để khuếch đại tất cả năng lượng tích cực trong kinh daonh. Có thể dùng gương bọc các cột và tủ, lắp đặt gương trên tất cả các bức tường quanh cửa hàng, ngoại trừ bức tường đối diện với cửa ra vào. Bằng cách này, tất cả sản phẩm trưng bày trong cửa hàng và khách hàng đều được phản chiếu nhân đôi, cũng có nghĩa là tăng gấp đôi doanh thu.
![]() |
| Ảnh minh họa |
![]() |
| Ảnh minh họa |