Tướng đường chỉ tay trí tuệ –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
![]() |
| ► Lịch ngày tốt gửi đến độc giả những câu chuyện về thế giới tâm linh huyền bí có thật? |
Trong Nguyệt Ba động trung ký viết: Đầu là chủ của ngũ tạng, là bá chủ của các bộ vị trên cơ thể, bốn phương tám hướng đều phải đoan chính. Tai trái là hướng Đông, tai phải là hướng Tây, mũi là hướng Nam, Xương ngọc chẩm là hướng Bắc. Gò má trái là hướng Đông Nam, gò má phải là hướng Tây Nam. Các hướng phải đoan chính, tiếp đến lại quan sát tới xương đầu.
Đầu không có xương khác loại thì khó có thế đoán biết được tướng quý. Gọi là 9 kiểu xương: Một là xương gò má, hai là xương dịch mã, ba là xương tướng quân, bốn là xương nhật giác, năm là xương nguyệt giác, sáu là xương long cung, bảy là xương phục tê, tám là xương cự ngao, chín là xương long giác.
Đông nhạc, Tây nhạc nhô cao tạo thành xương gò má. Xương gò má nhô cao nối liền với Thiên thương tạo thành xương dịch mã. Nối tiếp với tai đó là xương tướng quân. Gờ mi trái nhô lên là xương nhật giác. Gò mi phải nhô lên là xương nguyệt giác. Vòm mắt nhô lên là xương long cung. Trên mũi có một xương nhô lên kéo dài tới sau đầu gọi là xương phục tê. Sau tai có một đoạn xương vòng ra phía sau đầu nhô lên là xương cự ngao. Xương hai bên lông mày nhô lên là xương long giác, cũng còn có tên gọi là xương phụ. Có 9 kiểu xương trên đây đều thuộc tướng cách của người làm quan hàng tam phẩm.
Bạch Vân Tử nói: Trán nhọn như dao, đầu vú nhỏ, đàn ông thì là nô bộc, phụ nữ thì sẽ là người lưu lạc phong trần.
Trong Thời hậu ca lại viết: Bộ vị Biên địa lệch không cao, rộng không được một ngón tay đặt vào, người như vậy cả đời không được vinh hoa phú quý.
Tống Tề Khưu nói: Nếu Ấn đường của trán đi lên tới Thiên đình mà có xương gồ lên, người như vậy phát đạt từ nhỏ, hơn nữa còn có được vinh hoa phú quý.
Bộ vị Biên địa và Sơn lâm đều phải đầy đặn, nếu lõm xuống là tướng bần tiện.
Khi Quách Lâm Tông xem tướng người, cho rằng có Tứ học đường:
Một là Quan học đường, mắt là Quan học đường, mắt dài lại thanh tú là quan hiển quý.
Hai là Lộc học đường, trán là Lộc học đường, người có trán rộng mà đầy đặn nhô cao, chủ phú quý.
Ba là Nội học đường, 2 hàm răng thẳng mà khít, cho thấy người này trung thực tín nghĩa; nếu 2 hàm răng thưa, nhỏ nhọn, cho thấy người này cuồng vong tự đại.
Bốn là Ngoại học đường, nằm ở trước cửa tai, nếu đầy đặn, sáng bóng cho thấy tài văn chương xuất chúng lưu danh bốn bể; nếu xám đen như bụi cho thấy là kém cỏi.
Trong Tam phụ tân thư viết: Trên trán có sắc tối mờ mịt, quanh năm gặp nạn, khốn đốn. Khóe mắt có màu xanh đen, người quân tử sẽ bị phá sản, kẻ tiểu nhân sẽ bị hình trượng.
Trên bộ vị Bác sỹ thường xuất hiện sắc đỏ, tím, vàng. Phụ nữ mang thai ở bộ vị này nếu xuất hiện màu xanh đen cũng sẽ bị tai ương.
Mắt mũi cùng đỏ mưu sự khó thành. Đồng thời cũng phải cẩn thận khi cưỡi ngựa, đề phòng tai nạn về chân tay.
Bộ vị Lực sỹ phải nhô lên, 2 gò má có sắc xanh đen, đàn ông có nạn quan trường, phụ nữ hiếm muộn đường con cái.
Khóe miệng có khí đen như khói như sương, mắt, tai, miệng, mũi, Nhân trung, Ngũ quan không tề chỉnh phần đa đều có tai ương.
Bộ vị Tang môn dưới mắt, trắng như bột, không những sẽ có chuyện buồn đau khóc lóc mà còn báo hiệu tương lai sẽ bị khốn đốn mà khắc khổ.
Ấn đường hiển hiện màu đỏ vàng, cả năm cát tường, nếu không phải là thay triều đổi đại còn có thể triều kiến quân vương.
Hai bên Dịch mã trái phải xuất hiện sắc đỏ tía thông lên Thiên thương là điềm báo sẽ có chuyện vui.
Màu sắc hai bên cánh mũi thanh khiết cho thấy không có tai họa, thân tâm an lạc.
Phương vị: Người mệnh Khôn (Thổ) có bốn hướng tốt đó là Tây Nam (Phục vị), Tây (Thiên y), Tây Bắc (Diên niên), Đông Bắc (Sinh khí). Và bốn hướng xấu là Đông (Họa hại), Bắc (Tuyệt mệnh), Nam (Lục sát), Đông Nam (Ngũ quỷ).
Chọn hướng cửa nhà cho người mệnh Khôn: nên lấy tọa Đông Nam hướng Tây Bắc (trường tồn, bền vững), tọa Đông Bắc hướng Tây Nam (bình ổn), tọa Đông hướng Tây (sức khỏe, mau lành bệnh), hoặc tọa Tây Nam hướng Đông Bắc (Phát triển).
Màu cửa hợp với người mệnh Khôn: vàng, nâu, xám, xanh lá, , đỏ, cam, tím.
Chọn phòng ngủ và hướng để đầu khi ngủ: nên chọn hướng Tây Nam, Tây Bắc, Đông Bắc, Tây.
Hướng đặt bếp: miệng bếp tốt nhất là hướng Đông Bắc, nếu gia chủ mắc bệnh lâu năm khó chữa thì nên chuyển hướng cửa bếp sáng phía Tây, như vậy sẽ giúp người đó mau lành bệnh hơn.
Lưu ý: chọn hướng nhà và hướng cửa nhà được xem cho đàn ông trụ cột gia đình. còn hướng bếp, hướng cửa bếp, hướng giường thì xem cho đàn bà.
Hướng bàn làm việc cho người mệnh Khôn: quay lưng hướng Tây Nam, mặt hướng Đông Bắc.
Màu sắc phong thủy hợp với người mệnh Khôn: Hỏa - (đỏ, tím, cam); Thổ - (Vàng, coffee).
Màu sắc kỵ: Mộc - (xanh da trời, xanh lá); Kim - (vàng kim, trắng).
Màu trung tính: Thủy - (đen, xanh lam).
Màu khai vận: Màu vàng (trong ngũ hành, trong Thổ có Kim, màu sắc có thể làm tăng thêm vận khí là màu vàng, màu coffee, tiếp theo là màu vàng kim và màu trắng).
Màu suy: màu xanh lục, màu xanh lam.
Con số khai vận: 0 và 5
số suy: 3 và 8
con số thích hợp trong xây dựng: 1, 2, 5, 6, 7, 10, 11, 12, 15, 16, 17, 20, 21, 22, 25, 26, 27, 30, 31...
Bảng tra nhanh màu sắc cũng như là con số phong thủy của người mệnh Khôn
| Khôn (Thổ) | Nên | Không nên |
| Màu sắc | đỏ, tím, cam, vàng, coffee | xanh da trời, xanh lá cây |
| Con số | 0 và 5 | 3 và 8 |
![]() |
![]() |
| ► Tham khảo thêm những thông tin về: Phong thủy nhà ở và các Vật phẩm phong thủy chuẩn xác nhất |
![]() |
| Ảnh minh họa |
Theo quan niệm dân gian, người tuổi Mùi sinh ra gặp toàn may mắn và có phước an lành. Người này tính cách ôn hòa, trầm tĩnh, trọng tình trọng nghĩa, sống có trước có sau. Họ luôn suy xét kĩ càng mọi việc, nhìn vấn đề dưới mọi góc độ trước khi quyết định. Nhìn bề ngoài họ nhẹ nhàng, ít khi bày tỏ ý kiến, song thực sự đây là những người hiểu biết sâu rộng.
Người sinh năm Mùi thường có vẻ bề ngoài bắt mắt, lại có thần thái quyến rũ, hút hồn người khác phái. Đặc biệt, sự thoải mái và tự do khi ở bên những người này là điều mà nhiều người cực kì mong muốn. Có người từng nói, “Yêu người tuổi Mùi, gặp toàn chuyện vui” cũng chính là vì thế.
Vậy trong tình yêu hôn nhân, người tuổi Mùi hợp với tuổi nào? Họ nên lựa chọn bạn đời ra sao. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu nhé.
![]() |
![]() |
![]() |
Hầu đồng là gì? Có lẽ rất nhiều người Việt đã từng chứng kiến hoặc biết tới hầu đồng nhưng lại hiểu sai hoặc hiểu chưa đầy đủ về ý nghĩa của hoạt động tâm linh này.
![]() |
![]() |
công việc của chúng ta.
Chính vì vậy, nắm rõ được những tác động của việc bài trí sẽ giúp chúng ta sắp xếp căn phòng làm việc của mình 1 cách hợp lý, cân đối và phù hợp với phong thủy, từ đó phát ra trường năng lượng tích cực làm cho cuộc sống và công việc của chúng ta được tốt hơn.
Bàn làm việc phù hợp



Không gian làm việc tốt


Tuổi Tỵ: Gồm có các tuổi sinh năm: 1941 – 1953 – 1965 – 1977 – 1989 – 2001. Những người tuổi Tỵ để thu hút vận may và tài lộc cho mình thì nên chọn tranh phong thủy nào? Hãy đọc bài viết sau để có thêm kiến thức tranh phong thủy cho mình nhé!
Nội dung

Tuổi Tỵ khi muốn chọn tranh phong thủy để mang lại may mắn, thì nên chọn một trong các loại tranh sau:
Đại bàng tung cánh, rồng bay là những tranh thích hợp nhất với người tuổi tỵ; ngoài ra có mẫu đơn, cá chép ao sen, tùng hạc…
Đại bàng và hổ có 5 đức: Văn – Vũ – Dũng – Tín – Nhân. Hai loại này thuộc linh vật, đặc biệt hiệu quả trong trấn quỷ trừ tà; gia đạo khang ninh, cát tường như ý, treo ở phòng khách còn có thể trừ họa đào hoa; Mẫu đơn vinh hoa phú quý, cá chép ao sen mạnh khoẻ trường thọ; tùng hạc diên niên, giữ phúc vĩnh hằng.
Đại bàng treo bên ở phòng khách, đầu hướng ra ngoài, kỵ treo phòng ngủ, phòng đọc, phòng thờ. Các tranh còn lại treo phòng khách, phòng làm việc đều tốt, treo sau lưng chỗ ngồi.
1. Làm điều ác, thu lợi từ việc hãm hại người khác là điều gây họa mà phong thủy tốt cũng không tránh được. Khổng Tử răn rằng, hôm nay hại người ắt mai người sẽ hại lại, bằng không, của bất chính không bền lâu, người bất nhân không hưởng thọ.
2. Không chăm lo, hiếu kính đúng mực với người lớn tuổi. Trưởng bối là cội rễ, lưu truyền gia phong, nếp nhà. Nhà không có cội như cây không có rễ, sớm ngày tàn lụi.
3. Suy rộng ra, một quốc gia là một gia đình lớn, quốc gia mà kẻ vô đạo lên nắm quyền, người gian ác được trọng dụng hơn hiền tài thì ắt đi vào diệt vong. Trí tuệ và đức độ là điều mạnh hơn phong thủy. Mỗi quốc gia đều lựa chọn kinh đô hoặc những công trình kiến trúc bề thế ở vị trí đắc địa, đẹp về phong thủy. Nhưng phong thủy tốt mà chính quyền không tốt, thì không thể phát triển hưng thịnh.
4. Văn hóa dân tộc là nền móng quốc gia. Văn hóa vững thì quốc gia mạnh, văn hóa yếu thì quốc gia suy đồi. Người già biết làm gương, con trẻ biết học hỏi, ấy là phúc phần mà không phong thủy nào có thể mang lại. Nhược bằng ngược lại thì phong thủy hay cũng chẳng để làm gì.
5. Lời răn về phong thủy của Khổng Tử còn mở rộng ra, mỗi quốc gia như một gia đình trong thế giới rộng lớn. Người có đạo đức, trí tuệ và tâm huyết bị thay thế bởi những kể tham lam, vô độ, tàn bạo trong những vị trí chủ chốt, thì thế giới đi vào con đường lầm lạc. Thế giới lầm lạc thì quốc gia chịu ảnh hưởng, gia đình chịu họa lây.
Vì thế, phúc phận, điều hay tốt của một gia đình, một quốc gia, cả thế giới không gói gọn trong phong thủy, hướng nhà, cuộc đất mà là đức nghiệp được gây dựng sâu xa. Như câu “đức năng thắng số” là vậy. Người đức độ, kẻ hiền lương, thì địa thế xấu đến đâu cũng ắt thành đại nghiệp. Theo Qtcs
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thùy Dung (##)
![]() |
![]() |
| ► Xem bói theo khoa học tử vi để biết tình yêu, hôn nhân, vận mệnh, sự nghiệp của mình |
Nếu buồn bã, hãy gặp những con giáp này là vui ngay
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thanh Vân (##)
Theo triết lý Trung Hoa, phong thủy tạo ra sự cân bằng và hài hòa xung quanh những vật thể sống. Với thời đại này, chúng ta vẫn có thể áp dụng phong thuỷ để tạo để sống trong môi trường tốt hơn, và thân thiện với môi trường.
Phong thủy cổng nhà
Chiếc cổng là ấn tượng đầu tiên khi một người nhìn thấy ngôi nhà của bạn. Vì vậy phải khiến cho các vị khách cảm thấy thân thiện khi bước vào nhà.
Giữ cho cổng nhà luôn sạch đẹp và không có bất kỳ sự cản trở nào.
Cổng tốt nhất là kéo vào khi đi ra, cũng có nghĩa là khi về nhà bạn đẩy cổng vào bên trong nhà. Như thế cái cổng đó mang ý nghĩa chào đón.
Phong thuỷ nhà bếp
Bạn không nên đặt một tấm gương sau bếp, hoặc tấm inox sáng bóng sau lưng bếp như một số người đã hướng dẫn để làm rộng bếp, hay hoá giải bếp ở hướng xấu, để tiện việc lau dọn sạch sẽ,.v.v...Vì họ không am tường hoặc không biết rằng điều đó sẽ ảnh hưởng đến hôn nhân gia đình, bạn có muốn ba mình hay mình có tình nhân, hay có quan hệ ngoài hôn nhân hay không? Tuỳ bạn quyết định.
Nhà bếp không nên đối diện nhà vệ sinh. Nếu có, thì nên khép kín cửa và đóng nắp toilet lại.
Phong thuỷ Phòng tắm và nhà vệ sinh
Luôn luôn đóng nắp toilet khi không dùng đến, vì có thể thủy là kỵ thần của một hay vài thành viên trong gia đình.
Giữ toilet sạch sẽ, dùng thùng đựng rác có nắp đậy để giữ vệ sinh.
Sàn toilet luôn sạch và khô ráo.
Phong thủy Phòng khách
Làm cho năng lượng có sự di chuyển trong nhà bằng việc gắn thêm những quả cầu pha lê phía trên trần nhà. Chắc chắn chúng sẽ làm tăng tính thẩm mĩ của gian phòng hơn.
Thay vì để những khoảng “chết” trong phòng, bạn nên đặt một chậu cây cảnh, bức tranh nhiều màu sắc hay cảnh vật bắt mắt sẽ rất sống động.
Không bao giờ đặt đồ nội thất (ghế quay lại cửa).
Luôn luôn có đủ ghế trong phòng khách và phòng ăn. Không nên để lưng ghế quay mặt ra cửa. Và điều quan trọng là phải sắp xếp sao cho có đủ không gian để mọi người có thể di chuyển dễ dàng.
Không nên để hoa khô trong nhà. Vì chúng không sống được lâu, thậm chí có thể gây ra tác động tiêu cực làm ảnh hưởng đến sự thịnh vượng cho nhà bạn. Bạn nên trang trí bằng hoa tươi hoặc hoa lụa sẽ mang lại sự tươi mới hơn cho ngôi nhà.
Đồ đạc theo quan niệm phong thuỷ
Giữ những cây chổi, giẻ lau sàn và thùng rác khuất tầm nhìn. Điều đó quan trọng cho sự tồn tại của gia đình và giữ những kẻ quấy rối ở bên ngoài, không cho chúng xâm nhập. Giống như là thần chổi giữ nhà giúp bạn vậy.
Suối nước, cây cối, tổ chim dọc theo con đường xuyên qua vườn sẽ mang lại sự cân bằng và xác định mức độ của năng lượng ngôi nhà. Nhưng tuyệt đối không làm cản trở hoặc áp chế lối đi vào nhà.
Một chiếc chuông gió gắn ở cửa sẽ làm xao lãng những năng lượng tiêu cực xâm nhập vào nhà.
Phong thuỷ Cửa và cầu thang
Nếu bạn có kế hoạch làm một ngôi nhà mới phải đảm bảo rằng cửa trước không đối diện cửa sau. Nếu điều đó không thể tránh khỏi, bạn nên có một bức mành giữa hai cửa để năng lượng không vào cửa trước và ra cửa sau.
Tránh đề cầu thang ngay trước cửa chính vì khi bạn mở cửa thì năng lượng theo cầu thang lên thẳng tầng trên, và năng lượng sẽ thoát ra ngoài nhanh hơn (không tụ khí được). Nếu đã ở tình thế đó, bạn có thể giải quyết bằng chiếc bình phong để thay đổi, điều tiết năng lượng.
Phong thuỷ Phòng ngủ
Phòng ngủ của bạn phải là một phòng riêng tư, ở đây sẽ không bị các vị khách và người viếng thăm nhìn thấy.
Không nên có quá nhiều cửa sổ trong phòng ngủ sẽ khiến cho năng lượng bị rối loạn.
Không nên có gương giáp mặt giường, để giải quyết vấn đề này là bạn chỉ cần một mảnh vải phủ gương mỗi tối trước khi đi ngủ.
Không nên có máy tập thể dục trong phòng ngủ, vì phòng ngủ lấy tịnh làm chủ, tránh động, ánh sáng chịu ấm.
Tránh có quá nhiều đồ điện tử trong phòng ngủ và không để bất cứ thứ gì dưới giường.
Nếu có một chút âm thanh nhẹ nhàng trong phòng ngủ thì thật tuyệt. Nó sẽ giữ cho bạn sự điềm tĩnh và thư giãn sau khi bạn dành quá nhiều thời gian cho công việc và các cộng sự.
Theo phong thủy, căn bếp chính là trái tim của ngôi nhà.
Theo quan niệm phong thủy của người xưa, bếp đóng một vai trò quyết định sự thịnh vượng, nguồn tài lộc của cả gia đình. Việc bày biện bếp ra sao, đặt bếp hướng nào thì hợp theo quan niệm phong thủy là việc không hề xưa cũ…
Nói đến phong thủy nhà bếp nhiều người coi đó là việc mê tín dị đoan. Thế nhưng, nếu chú ý kỹ sẽ thấy đây là điều rất có khoa học mà ông cha ta phải trải qua cả ngàn năm mới đúc kết được, nó thuộc về khoa học thống kê.

Việc đặt bếp theo phong thủy không quá khó, nếu bạn nắm được những bí quyết sau:
Theo đó, bạn không nên đặt bếp đối diện với cửa nhà vệ sinh. Vì nhà vệ sinh là nơi có chứa nhiều vi trùng có hại rất dễ lây bệnh cho người qua đường ăn uống.
Hướng cho bếp phải hợp với cung bổn mạng, toạ hung mà hướng cát. Hoả môn (của bếp) cần đặt ở hướng lành vừa trấn áp được khí hung vừa hút được khí lành. Nó sẽ giúp cho tài lộc của gia chủ hưng vượng.
Bếp cũng không nên đặt hướng sát so với nhà. Bếp đặt ở hướng sát thường làm thận suy, mắt kém, bị bệnh huyết áp hay bị phong tà gây lở ngứa.

Nếu nhà bạn ở hướng Đông thì sát ở cung Thân, nhà hướng Tây thì sát ở cung Tỵ, hướng Nam thì sát ở cung Hợi, hướng Bắc thì sát ở cung Thìn, hướng Đông-nam thì sát ở cung Dậu, Tây bắc thì sát ở cung ngọ…
Nên nhớ tránh đặt bếp gần phòng ngủ hoặc đối diện với phòng ngủ. Bếp là nơi nấu nướng, thường xuyên sinh nhiệt. Khi đun nấu, khói dầu mỡ sinh ra từ bếp rất độc hại, không tiện để gia chủ nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng. Cũng không nên đặt ở góc tường hoặc góc nhọn, ngoài trường hợp bất khả kháng.
Muốn thức ăn nấu ra luôn ngon thì bạn nên đặt bếp ở hướng Thiên y, tất nhiên là có phần đóng góp của tay nghề nấu nướng của các nội tướng. Đặc biệt, đặt bếp theo hướng này có lợi cho sản phụ.

Bạn cũng cần tránh đặt bếp ngay dưới xà ngang. Bởi xà ngang áp trên bếp chủ hao tài tốn của. Vị trí gian bếp nên đảm bảo ánh sáng hài hoà, tránh bị quá ẩm thấp, tối tăm, phải có cửa thông gió, khử mùi để không khí lưu thông.
Theo phong thủy, thế bếp còn phải tránh gió, tránh những nơi có đường đi nếu không gia chủ sẽ gặp bất lợi về tài lộc. Bếp cần được đặt ở cung tương hợp và cung sơn chủ (mặt hậu của nhà) nên phải được đặt ở vị trí trong cùng của nhà. Cửa vào bếp phải tương hợp với nơi đặt bếp thì tài lộc của gia chủ sẽ phát, gia đình thịnh vượng.

Màu sắc gian bếp phải hài hoà. Dưới bếp không nên để đọng nước. Bởi thủy hoả đạo tặc, nước để đọng dưới bếp khiến cho gia chủ dễ mắc bệnh thần kinh, khí huyết, bị rối loạn tâm lý, đặc biệt không tốt cho nhà có phụ nữ mang thai. Nếu bạn chưa có em bé thì đường con cái rất khó khăn dù cả hai không hề mắc bệnh gì về vấn đề sinh sản.

Bếp cũng không nên đặt trên giếng nước, hầm rút. Đặt bếp ở những vị trí này gia chủ và người thân thường hay ốm đau, thường mất hoà khí trong nhà.
Trong những ngôi nhà hiện đại, bếp thường kết hợp cùng máy hút khói, bồn rửa chén. Bạn cần đặt máy hút khói ngay trên bếp. Còn bồn rửa chén thì không được cao hơn bếp, cách xa nơi đỏ lửa ít nhất 60 cm.
Học thuyết Âm dương được thể hiện rất đầy đủ trong kinh dịch. Cái gọi là thái cực sinh lưỡng nghi, thái cực là chỉ trạng thái hỗn độn lúc ban đầu của vũ trụ, là thể hỗn độn của trời đất, càn khôn, cương nhu, âm dương, có thể mãi mãi phân thành hai, lưỡng nghi chỉ sự trời đất, mở rộng ra là chỉ tất cả sự vật đều có thể phân thành hai , chỉ sự tương đối của tất cả sự vật hiên tượng

Ví dụ: Âm dương trong hiện tượng xã hội
-Nam là dương còn nữ là âm
-Quân tử là dương còn tiểu nhân là âm
Học thuyết ngũ hành cho rằng, tất cả sự vật trên thế giới đều do sự vận động biến hóa của 5 vật chất cơ bản là:
Hoả (lửa), Thổ (Đất), Kim (Kim loại), Thuỷ (nước, chất lỏng). Mộc (cây cỏ) tạo nên, thế giới chỉ là một trạng thái vận động tương sinh và tương khắc của ngũ hành mà thôi.
Ngũ hành có quy luật sinh, khắc chế hoá lẫn nhau.
- Ngũ hành sinh:
Ngũ hành sinh thuộc lẽ thiên nhiên
Nước nuôi dưỡng cây trồng (Thuỷ sinh mộc- màu xanh)
Gỗ cháy sinh ra lửa (Mộc sinh hoả- màu đỏ)
Lửa cháy hết thành than (Hoả sinh thổ: Màu vàng)
Lòng đất tạo nên kim loại trắng ( Thổ sinh kim: màu trắng)
Kim loại nung chảy thành nước (Kim sinh thuỷ- màu đen)
- Ngũ hành khắc:
Ngũ hành tương khắc (lẽ xưa nay)
Cây phá đất mà mọc lên ( Mộc khắc thổ: Tụ thắng tán)
Đất có thể ngăn nước (Thổ khắc Thuỷ: Thực thắng hư)
Nước có thể dập lửa (Thuỷ khắc hoả: chúng thắng quả, nhiều thắng ít)
Lửa có thể đốt cháy kim loại (Hoả khắc kim: Tinh thắng kiên)
Thép cứng rèn dao chặt cỏ cây ( Kim khắc mộc: cương thắng nhu).
Ngũ hành chế hoá: Chế hoá là ức chế và sinh hoá phối hợp nhau. Chế hoá gắn liền cả tương sinh và tương khắc. Luật tạo hoá là: mọi vật có sinh phải có khắc, có khắc sinh, mới vận hành liên tục, tương phản tương thành với nhau.
Ngũ hành là nền tảng cơ bản của bộ môn khoa học tâm linh, tử vi sử dụng học thuyết ngũ hành trong rất nhiều yếu tố của mình như: cung, sao, mệnh .v.v.v
![]() |
| (Ảnh chỉ mang tính minh họa) |
Tình yêu không chỉ là những nụ hôn đắm say mà còn cần cả sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Những cô gái tuổi Mùi thích nhận được sự quan tâm và chiều chuộng của người mình yêu. Một chút nũng nịu, một chút giận hờn là nét đáng yêu của họ trong mắt các chàng.
Không phải là những người đào hoa nhưng họ cũng có sức hấp dẫn đối với người khác giới. Họ có nhiều cơ hội để lựa chọn người yêu, chọn bạn đời. Tuy nhiên điều đáng tiếc là không ít người lại rơi vào vòng tam giác tình ái. Người mà họ thật lòng yêu thương lại không thể cùng sánh bước trên con đường đời.
Với nhiều người trong số họ, tình yêu và hôn nhân được xây dựng trên cơ sở tình bạn. Sự hiểu biết, cảm thông lẫn nhau là điều mà họ cảm thấy an tâm khi bước vào cuộc sống lứa đôi. Tuy nhiên điều này có thể khiến đời sống vợ chồng thiếu nồng thắm và sức hấp dẫn mới lạ. Sự đơn điệu và tẻ nhạt đôi khi cũng là điều khó tránh khỏi.
Khi gặp chuyện không vui giữa hai vợ chồng, hình ảnh "người xưa" có thể trở về trong tâm trí của họ. Tuy nhiên, với họ, gia đình vẫn là tất cả và dù trải qua nhiều khó khăn trong đời sống tình cảm, họ vẫn biết hướng tới người thân và gia đình của mình.
(Theo 12 con giáp về tình yêu hôn nhân)
![]() |
![]() |
![]() |
Chọn quà ý nghĩa dành tặng 12 con giáp ngày 8/3 (P1)
Chọn quà ý nghĩa dành tặng 12 con giáp ngày 8/3 (P2)
Hành Hỏa chỉ mùa hè, lửa và sức nóng. Hỏa có thể đem lại ánh sáng, hơi ấm và hạnh phúc, hoặc có thể tuôn trào, bùng nổ và sự bạo tàn. Ở khía cạnh tích cực, Hỏa tiêu biểu cho danh dự và sự công bằng. Ở khía cạnh tiêu cực, Hỏa tượng trưng cho tính gây hấn và chiến tranh.

1. Về màu sắc :
Màu hợp nhất cho người mệnh Hỏa là các màu thuộc hành Mộc: xanh lá cây, xanh da trời. Gỗ cháy sinh ngọn lửa, nghĩa là Mộc sinh Hỏa. Chính vì vậy, có màu xanh lá cây, xanh da trời là màu lý tưởng mà người mệnh Hỏa nên dùng. Màu xanh nhẹ nhàng bạn có thể dễ dàng kết hợp hơn đối với ngôi nhà của bạn, đối với trang sức cho bạn như ngọc lục bảo, đá peridot.
Màu sắc kỵ với người mệnh Hỏa: Màu đen, xám, xanh biển sẫm, thuộc hành Thủy, khắc phá hành Hỏa của mệnh cung, xấu. Nếu bạn thích đá quý thì cũng không nên đeo các màu này mà lựa chọn theo màu xanh ra trời, màu xanh lá cây, màu đỏ, màu hồng, màu da cam sẽ tốt cho sức khỏe và đem đến may mắn cho bạn.
2. Nghề nghiệp phù hợp với người mệnh Hỏa
Người mệnh Hỏa cần hành Mộc thì hợp với nơi làm việc phương Đông. Hợp với nghề mộc, nghề, gỗ giấy, kinh doanh các mặt hàng gỗ, giấy, hoa, cây cảnh, vật phẩm tế lễ hoặc hương liệu.
3. Tình Duyên cho người mệnh Hỏa
Ba loại Phúc Đăng Hỏa (lửa đèn dầu), Lư Trung Hỏa (lửa bếp lò) và Sơn Đầu Hỏa (lửa trên núi) gặp hành Thủy sẽ khắc kỵ. Khi gặp nước ba thứ lửa trên sẽ bị dập tắt, đúng nghĩa Thủy khắc Hỏa, thuộc diện khắc nhập mất phần phúc.
Còn Thiên Thượng Hỏa (lửa trên trời) và Tích Lịch Hỏa (lửa sấm sét) lại cần phối hợp với hành Thủy, bởi có nước thì càng phát huy được tính chất, khí âm (thủy) gặp khí dương (hỏa) sẽ gây ra sấm sét.
Vạn vật được sinh ra do âm dương giao hòa, vạn vật cũng biến dịch đắp đổi nhau như sáng tối, thịnh suy, cứng mềm, nóng lạnh, động tịnh, tốt xấu, sướng khổ, sống chết … Sự đắp đổi nhau theo nguyên tắc trong âm có dương và trong dương có âm. Không thể có một vật độc dương hoặc độc âm. Vật được gọi là dương vì dương thịnh âm suy và Vật được gọi là âm vì âm thịnh dương suy.
I- Âm dương luận.
1/ “Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật”.
– Đạo là gì, là Thiên lý, là nguyên lý vận động của tự nhiên.
– Nhất là gì, là Thái cực là thể duy nhất của Đạo.
– Nhị là gì, là nhất âm nhất dương.
– Tam là gì, là sự giao hòa âm dương theo nguyên lý vận động của Đạo, nhờ sự giao hòa âm dương mà vạn vật sinh ra.
2/Âm Dương biến dịch.
– Âm dương biến dịch theo đâu, âm dương biến dịch theo lý biến dịch của Thiên lý (của trời đất) nghĩa là Dịch Lý.
– Lý biến dịch của Thiên lý theo nguyên lý nào, theo nguyên lý phản phục như sáng tối, mưa nắng, nóng lạnh…
– Vạn vật được sinh ra do âm dương giao hòa, vạn vật cũng biến dịch đắp đổi nhau như sáng tối, thịnh suy, cứng mềm, nóng lạnh, động tịnh, tốt xấu, sướng khổ, sống chết…Sự đắp đổi nhau theo nguyên tắc trong âm có dương và trong dương có âm. Không thể có một vật độc dương hoặc độc âm. Vật được gọi là dương vì dương thịnh âm suy và Vật được gọi là âm vì âm thịnh dương suy.
– Vì vậy “ Vạn vật phụ âm nhi bão dương, xung khí dĩ vi hòa”
II- Ngũ hành luận.
1/ Ngũ hành tương Sinh
Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ
2/ Ngũ hành tương Khắc
Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa
3/ Ngũ hành tương Lưỡng (giống nhau)
Kim gặp Kim, Thủy gặp Thủy, Mộc gặp Mộc, Hỏa gặp Hỏa, Thổ gặp Thổ.
4/ Âm dương Ngũ hành tức là Ngũ hành Âm và Ngũ hành Dương (mỗi hành đều có âm và dương)
a/ Ngũ hành Dương gặp Ngũ hành Dương và Âm gặp Âm gọi là Thiên, nghĩa là thiên lệch hay còn gọi toàn Dương, toàn Âm – sự vật biểu hiện hủy diệt .
b/ Ngũ hành Âm gặp Ngũ hành Dương hay ngược lại gọi Chính, nghĩa là Âm Dương tương phối “nhất âm nhất dương chi vị đạo” – vạn vật biểu hiện hòa bình và sinh sôi nẩy nở.
III/ Chế hóa Ngũ hành
Để chế hóa được Ngũ hành thì dựa vào Ngũ hành Bất cập hay Ngũ hành Thái quá. Xin lược chép lại trong sách của cụ Hải Thượng Lãn Ông (Thánh y nước Việt):
1/Ngũ hành Thái quá.
a. Mộc – Khuếch tán khí ôn hòa quá sớm làm cho vạn vận sớm phát dục.
b. Hỏa – Khuếch tán khí cường liệt, làm cho vạn vật đốt cháy chẳng yên.
c. Thổ – Có khí nồng hậu rắn chắc trở lại làm cho vạn vật không thể thành hình.
d. Kim – Có khí cứng cỏi làm cho vạn vật ngay thẳng.
e. Thủy – Có khí đầy tràn, làm cho vạn vật phiêu lưu không thể về chỗ thái quá là làm mất sức bình thường.
2/ Ngũ hành Bất cập.
a. Mộc – Không có khí ôn hòa, làm cho vạn vật rũ rượi không phấn chấn.
b. Hỏa – Ít khí ấm áp làm cho vạn vật ảm đạm không sáng.
c. Thổ – Không có khí sinh hóa, làm cho vạn vật yếu đuối không có sức.
d. Kim – Không có khí cứng cỏi, làm cho vật mềm giãn không có sức đàn hồi.
e. Thủy – Không có khí phong tàng làm cho vạn vật khô queo.
3/ Ngũ hành Bình khí.
a. Mộc – Nó phân bố ra khí ôn hòa, làm cho vạn vật tươi tốt.
b. Hỏa – Sáng chói mà có cái khí thịnh trưởng, làm cho vạn vật dồi dào.
c. Thổ – Đầy đủ khí sinh hóa vạn vật, làm cho vạn vật được đầy đủ hình thể.
d. Kim – Phát ra khí yên tĩnh hòa bình, làm cho vạn vật kết quả.
e. Thủy – Có khí tĩnh mịch hòa thuận, làm cho vạn vật bế tàng.
4/ Sinh khắc nghi kỵ
Sinh:
a. Thổ sinh kim, thổ nhiều thì kim bị vùi – kim nhiều thì thổ yếu.
b. Hỏa sinh thổ, hỏa nhiều thì thổ tiêu rụi – thổ nhiều thì hỏa tối.
c. Mộc sinh hỏa, mộc nhiều thì hỏa không cháy – hỏa nhiều thì mộc cháy.
d. Thủy sinh mộc, thủy nhiều thì mộc trôi – mộc nhiều thì thủy cạn.
e. Kim sinh thủy, kim nhiều thì thủy tràn – thủy nhiều kim chìm.
Khắc:
a. Kim khắc mộc, mộc nhiều kim cùn – kim nhiều mộc gãy.
b. Mộc khắc thổ, thổ nhiều mộc gãy – mộc nhiều thổ nghiêng đổ.
c. Thổ khắc thủy, thủy nhiều thổ trôi – thổ nhiều thì thủy ứ.
d. Thủy khắc hỏa, hỏa nhiều thủy cháy – thủy nhiều hỏa diệt.
e. Hỏa khắc kim, kim nhiều hỏa ngưng – hỏa nhiều kim tiêu.
IV- Thiên lý hay nguyên lý vận động của tự nhiên
1/ Lý giao hòa và mâu thuẫn
Vạn vật sinh ra do âm dương giao hòa. Trong mỗi sự vật, cặp âm dương này lại phát sinh mâu thuẫn. Trong sự giao hòa có sự mâu thuẫn và mâu thuẫn đem đến sự giao hòa, không riêng một vật nào mà vạn vật, toàn thể giới tự nhiên đều có liên hệ giao hòa với nhau. Mâu thuẫn dễ nhận ra nhất là mâu thuẫn trong quan hệ giữa người với người và mâu thuẫn trong nội tâm mỗi người. Chính vì vậy phải giải quyết được hai thái cực ngược nhau, mới tránh được tiêu diệt nhau, và luôn điều chỉnh cho hòa nhau mới hòa bình.
2/ Lý phản phục tuần hoàn.
Âm dương hoà đồng biến dịch sinh hóa nên sự vật cũng sinh hóa theo lẽ phản phục tuần hoàn. Trái đất quay xung quanh mặt trời, sinh ra bốn mùa tám tiết là biểu hiện sinh động của luật phản phục tuần hoàn. Đời người vinh nhục, được thua, còn mất, sinh tử cũng là biến dịch theo luật phản phục tuần hoàn của trời đất.
V- Âm Dương Ngũ hành của Can Chi và phương vị.
1/ Âm dương ngũ hành của 10 Can
Giáp Ất mộc, Bính Đinh hỏa, Mậu Kỷ thổ, Canh Tân kim, Nhâm Quý thủy
– Giáp Ất Mộc Đông phương, phân lưỡng nghi: Giáp dương, Ất âm.
– Bính Đinh Hỏa Nam phương, phân lưỡng nghi: Bính Dương, Đinh âm.
– Mậu Kỷ thổ Trung ương, phân lưỡng nghi: Mậu dương, Kỷ âm.
– Canh Tân kim Tây phương, phân lưỡng nghi: Canh dương, Tân âm.
– Nhâm Quý thủy Bắc phương, phân lưỡng nghi: Nhâm dương, Quý âm.
Bốn mùa:
– Mùa xuân sinh khí bắt đầu động lên, cây cỏ đâm chồi nẩy lộc, ngôi vị Đông phương, ngày là Giáp Ất.
– Mùa hạ sinh khí tiếp thu hỏa khí vạn vật sịnh trưởng biến hóa nhờ hỏa, ngôi vị Nam phương, ngày là Bính Đinh.
– Mùa thu vạn vật đổi thay hình dạng, vẻ buồn bã âm thầm lặng lẽ, ngôi vị Tây phương, ngày là Canh Tân.
– Mùa đông vạn vật ẩn náu, có vẻ như khiêm nhường như nước chảy nhũn nhặn, như là mai phục, thực là đứng đầu ngũ hành, ngôi vị Bắc phương, ngày là Nhâm Quý.
– Thổ ở trung ương, nơi xuất tinh khí ra để nuôi dưỡng vạn vật và thu khí về làm cho vạn vật vẻ như bị tiêu diệt. Ngôi vị ở trong, ý như thông suốt mọi việc. Ngày là Mậu Kỷ.
2/ Âm dương ngũ hành của 12 chi
Dần Mão mộc, Tỵ Ngọ hỏa, Thân Dậu kim, Hợi Tý thủy, Thìn Tuất Sửu Mùi thổ.
– Dần Mão mộc Đông phương, phân lưỡng nghi: Dần dương, Mão âm.
– Tỵ Ngọ hỏa Nam phương, phân lưởng nghi: Tỵ âm, Ngọ dương.
– Thân Dậu kim Tây phương, phân lưỡng nghi: Thân dương, Dậu âm.
– Hợi Tý thủy Bắc phương, phân lưỡng nghi: Hợi âm, Tý dương.
– Thìn Tuất Sửu Mùi thổ cuối 4 mùa, phân lưỡng nghi: Thìn (đông) Tuất (tây) dương, Sửu (bắc) Mùi (nam)âm.
Bạch hổ thông nghĩa nói:
– Thiếu dương hiện ra ở Dần, thịnh tại Mão, suy ở Thìn.
– Thái dương hiện ra ở Tỵ, thịnh tại Ngọ, suy ở Mùi.
– Thiếu âm hiện ra ở Thân, thịnh tại Dậu, suy ở Tuất.
– Thái âm hiện ra ở Hợi, thịnh tại Tý, suy ở Sửu.
3/ Can chi sinh khắc: Bảo – Nghĩa – Chế – Chuyên – Phạt nhật.
“Độn Giáp kinh” nói rằng: Ngày Bảo là can sinh chi – Ngày Nghĩa là chi sinh can. Ngày Chế là can khắc chi, ngày này lợi hành quân. Ngày Phạt chi khắc can, ngày này kỵ đánh dẹp, chinh phạt, xuất quân, cướp đất. Ngày Chuyên can chi ngũ hành tương đồng, ngày này kỵ xuất quân.”
“Tào Chấn Khuê nói rằng: Can sinh chi đó là được thiên thời. Chi sinh can được địa lợi đấy. Can khắc chi được nhân hòa, ta có thể chế kẻ khác được. Vì thế can là trời, là ta; chi là đất là kẻ khác. Ngày Phạt, kẻ kia khắc ta. Can là tôn (quí), là ta chi là kẻ kia, ấy là ti phạt vào tôn, kẻ khác khắc ta đó là nghịch vậy. Nay can chi đồng loại, kẻ khác với ta cùng đức, thế hai bên tương địch, bất phân thắng phụ (bại) vì vậy kỵ xuất quân.”
4/ Ngũ hành 4 mùa và tàng ẩn trong con người.
“Muôn vật đều có thủy có chung. Mỗi một năm có ba ngươn Thượng-ngươn, Trung-ngươn và Hạ-ngươn rồi trở lại Thượng-ngươn nữa. Mỗi tháng có 3 tuần. Thượng-tuần, Trung-tuần và Hạ-tuần. Mỗi tuần có 10 ngày. Mỗi ngày chia làm 12 giờ, Khởi đầu giờ Tý đến giờ Hợi là cùng, rồi khởi đầu lại Tý nữa. Ấy là luật tuần hoàn của vũ-trụ.”
“Mùa Xuân thuộc Mộc. Mộc là cây dùng làm biểu hiện cho tất cả sự vật sinh-tồn của hóa công. Những sinh vật, động vật, sở dĩ có sự sống nối liền nhau không ngừng là nhờ đức của hành Mộc. Cho nên cổ-nhân mới đặt Mộc là đức nguyên và để khí đầu cho mỗi mùa trong vạn vật của trời đất, làm cho đức lớn của trời đất được thêm nẩy nở ; do đó đức Khổng sau này cũng lấy đây làm ngũ-thường (Thiên địa chi đại đức viết sanh), cho nên đức lớn của con người là lòng Nhân.”
“Mùa Hạ Hỏa vượng, bởi Mộc sanh Hỏa mà Hỏa là lửa. Lửa đây là lử Thiên, lửa trời soi tỏ vũ-trụ. Lửa người là sức mạnh của tâm linh bồng bột, hay làm cho con người thường đi quá trớn, nên cổ-nhân mới lấy chữ Lễ để buộc ràng do Lễ tiếp theo Lễ-nhân.”
“Hoả là mặt trời soi khắp nơi để bồi dưỡng muôn loài và duy-trì cuộc sinh-tồn của vũ-trụ, không có lửa đầm ấm thì cỏ cây muôn loài không phát triển được.”
“Mùa Thu Kim vượng. Kim tượng-trưng cho nguồn lợi ích vô biên của tạo-hóa; mùa Thu cũng là bắt đầu có Bát-quái và quẻ Càn. Càn là Kim mà Kim tức là vàng bạc kim khí. Bởi cớ ấy đức hành Kim là Lợi, vì đó mà con người muốn kìm hãm vào lòng ích kỷ dục-lợi cầu-danh thì phải biến trong chữ Nghĩa mà Nghĩa nối liền theo Lễ-Nhân.”
“Mùa Đông thuộc Thủy, Kim sanh Thủy mà Thủy là nước ; nước giữa tạo-vật là nước thiêng-liêng, còn nước trong lòng người là dòng nước ý-thức ; ngọn nước thiêng-liêng, dòng nước ý-thức, lý-trí, nên đức của nước là Trinh. Vậy con người cần phải liêm-khiết trong sạch. Mỗi một năm thì con người thêm một tuổi, đầy đủ kinh nghiệm biết rộng, hiểu xa, nhờ đó mà đức của nước là Trí, nên kêu là đức Trí.”
“Nhưng Trí mà xảo-quyệt tàn ác ích-kỷ hại nhân là bẩm sinh con người vào hành Thổ. Vì Thổ là vật-chất (hậu-thiên) nên có sinh, có tử. Bởi vì Trí (đúng là Thổ đứng giữa bốn hành, có lẽ nhầm) đứng giữa bốn hành và bốn hướng.”
“Nếu muốn cho bốn đức tính Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí được hoàn hảo và đầy đủ con người cần thêm một đức tính cuối cùng là Tín.”
“Có Tín có nghĩa mới đẹp lòng thiên hạ và có Trí mới toàn thiện và phụ vào Nhân mới toàn-mỹ.”
“Cho nên tạo-hóa sinh ra mỗi một hành hợp với hai hành và khắc hai hành. Có xung có khắc, cộng hai sinh hai khắc cùng với một chủ vị ở giữa là năm (ngũ hành).”
“Thủy hợi với Kim và Mộc nhưng khắc với Thổ và Hỏa. Nước chui xuống đất đó là khắc nhập. Nước làm tắt lửa đó là khắc xuất.”
“Đến lượt Kim thì hợp với Thổ và thủy nhưng lại khắc với Mộc và Hỏa.”
“Kim khí chém đứt cây, cưa đứt gỗ đó là khắc nhập. Kim khi bị lửa đốt cháy chảy ra đó là khắc xuất.”
“Luật khắc cũng như luật sinh có khắc xuất thì cũng có khắc nhập.”
“Nước với lửa là hai thể đối lập, nhưng nước và lửa tuân theo một định luật. Tuy bề ngoài khắc nhau nhưng bề trong vẫn tiếp ứng nhau. Lửa và nước nếu không giao hợp với nhau là quẻ Vị-tế, tức là nước ở dưới lửa ở trên thì không khắc. Bằng cho Ký-tế nước ở trên lửa ở dưới thì nước sẽ làm lửa tắt thế là khắc nhau. Người ta muốn cho nước với lửa không khắc thì mượn trung gian hành Thổ mà ngăn cách nhau nghĩa là : Nói về hữu vi thì phải lấy nồi đất đựng nước mà nấu thì nước sôi lửa không tắt.”
VI/ Nguyên lý An vòng Tràng sinh theo Cổ nhân.
1. Tràng sinh an tại tứ sinh (không phân âm dương): Dần, Thân, Tỵ, Hợi.
– Mộc Tràng sinh ở Hợi, Vượng ở Mão, Mộ tại Mùi.
– Hỏa Tràng sinh ở Dần, Vượng ở Ngọ, Mộ ở Tuất.
– Kim Tràng sinh ở Tỵ, Vượng ở Dậu, Mộ ở Sửu.
– Thủy Tràng sinh ở Thân, Vượng ở Tý, Mộ ở Thìn.
– Thổ Tràng sinh ở Thân, Vượng ở Tý, Mộ ở Thìn.
2. Thiên Can Sinh Vượng Tử – Nguyên lý Dương tử Âm sinh và ngược lại Âm tử thì Dương sinh.
Thập Thiên can phân âm dương:
Can dương: Giáp Bính Mậu Canh Nhâm.
Can dương: Ất Đinh Kỷ Tân Quý.
a) Can dương Giáp Bính Mậu Canh Nhâm chuyển thuận chiều.
– Giáp Mộc Sinh tại Hợi, Vượng ở Mão, Tử ở Ngọ.
– Bính Hỏa Sinh tại Dần, Vượng ở Ngọ, Tử ở Dậu.
– Mậu Thổ Sinh tại Dần, Vượng ở Ngọ, Tử ở Dậu.
– Canh Kim Sinh tại Ty, Vượng ở Dậu, Tử ở Tý.
– Nhâm Thủy Sinh tại Thân, Vượng ở Tý, Tử ở Mão.
b) Can âm Ất Đinh Kỷ Tân Quý chuyển nghịch chiều.
– Ất Mộc sinh tại Ngọ, Vượng ở Dần, Tử tại Hợi.
– Đinh Hỏa sinh tại Dậu, Vượng ở Tỵ, Tử ở Dần.
– Kỷ Thổ sinh tại Dậu, Vượng ở Tỵ, Tử ở Dần.
– Tân Kim sinh tại Tý, Vượng ở Thân, Tử ở Tỵ.
– Quí Thủy sinh tại Mão, Vượng ở Hợi, Tử ở Thân.
c) Thuyết này luận về Thổ không phân âm dương.
Thổ tràng sinh tại Ngọ, Vượng ở tứ quý, Khắc ở Dần mão, bị tiết khí ở Thân Dậu, Tài ở Hợi Tý. Vì Thổ là mẹ vạn vật nên Thổ không có Tử, nếu Thổ tử thì tất cả đều chết, lý này thuận với tự nhiên.
VII/ Ngũ hành Hóa, Lục Hợp và Tam Hợp – Lục xung và Lục Hại.
1/ Ngũ Hành Hợp Hóa
Giáp với Kỷ hợp hóa Thổ, Ất với Canh hợp hóa Kim, Bính với Tân hợp hóa Thủy, Đinh với Nhâm hợp hóa Mộc, Mậu với Quý hợp hóa Hỏa.
Thứ tự 10 Can phối ghép số Hà Đồ thì:
1 là Giáp, 6 là Kỷ nên Giáp hợp Kỷ
2 là Ất, 7 là Canh nên Ất hợp Canh.
3 là Bính, 8 là Tân nên Bính hợp Tân.
4 là Đinh, 9 là Nhâm nên Đinh hợp Nhâm.
5 là Mậu, 10 là Quý nên Mậu hợp Quý.
Con số lấy 6 vị làm hợp.
2/ Lục Hợp Ngũ Hành
Theo Hiệp Kỷ Biện Phương Thư nói: Ngũ tinh gia lại lấy Dần hợp Hợi thuộc Mộc, Mão hợp Tuất thuộc Hỏa, Thìn hợp Dậu thuộc Kim, Tí hợp Sửu vì ở dưới nên thuộc Thổ, Ngọ hợp Mùi lại ở bên trên nên Ngọ là Thái Dương còn Mùi thuộc Thái Âm.
3/Tam Hợp Ngũ Hành.
Thân Tí Thìn hợp Thủy cục, Hợi Mão Mùi hợp Mộc cục, Dần Ngọ Tuất hợp Hỏa cục, Tỵ Dậu Sửu hợp Kim cục gốc từ Sinh Vượng Mộ vòng Tràng sanh mà ra.
4/ Ngũ Hành Lục Xung (sát)
Can và Chi thứ tự 7 vị xung nhau. Từ Giáp đến Canh là 7, từ Tí đến Ngọ cũng là 7 nên lấy 7 vị làm xung. Quẻ Càn và Quẻ Khôn hào 7 là cực khí âm dương, số cùng của Trời Đất.
5/ Lục Hại.
Lục Hại sinh ra từ Lục Hợp nghĩa là không hòa thuận.
Tý hợp với Sửu mà Mùi lại xung Sửu, nên Tý Mùi Hại nhau.
Sửu hợp với Tí mà Ngọ lại xung Tí, nên Sửu Ngọ hại nhau.
Dần hợp với Hợi mà Tỵ lại xung Hợi, nên Dần Tỵ Hại nhau.
Mão hợp Tuất mà Thìn lại xung Tuất, nên Mão Thìn hại nhau.
Thìn hợp với Dậu mà Mão lại xung Dậu, nên Mão Thìn hại nhau
Tỵ hợp với Thân mà Dần lại xung Thân, nên Tỵ Dần hại nhau.
Ngọ hợp với Mùi mà Sửu lại xung Mùi, nên Ngọ Sửu hại nhau.
Mùi hợp với Ngọ mà Tí lại xung Ngọ, nên Mùi Tí hại nhau.
Thân hợp với Tỵ mà Hợi lại xung Tỵ, nên Thân Hợi hại nhau.
Dậu hợp với Thìn mà Tuất lại xung Thìn, nên Dậu Tuất hại nhau.
Tuất hợp với Mão mà Dậu lại xung Mão, nên Tuất Dậu hại nhau.
Hợi hợp với Dần mà Thân lại xung Dần, nên Thân Dần hại nhau.
VIII/ Ngũ Hành biến tướng (Dịch Mã)
Dần Ngọ Tuất Dịch-mã ở Thân
Thân Tý Thìn Dịch-mã ở Dần
Tị Dậu Sửu Dịch-mã ở Hợi
Hợi Mão Mùi Dịch-mã ở Tị
Hiệp Kỷ Biện Phương nói: Dịch-mã là số cùng, mà cùng thì phải biến:
1/ Số của Dần Ngọ Tuất Hỏa cục, gặp Thân hóa tướng biến, vì Hỏa sinh ở Mộc mà Mộc lại tuyệt ở Thân, Thân lại là nơi Thủy sinh nên Hỏa biến tướng.
2/ Số của Thân Tý Thìn Thủy cục, gặp Dần hóa tướng biến, vì Thủy sinh ở Kim mà Kim lại tuyệt ở Dần, Dần lại là nơi Hỏa sinh, nên Thủy biến tướng.
3/ Số của Tị Dậu Sửu Kim cục, gặp Hợi hóa tướng biến, vì Kim sinh ở Hỏa Thổ mà Hỏa Thổ tuyệt ở Hợi, Hợi lại là nơi Mộc sinh để sinh Hỏa, ấy là Kim biến mà không cùng.
4/ Số của Hợi Mão Mùi Mộc cục, gặp Tị hóa tướng biến, vì Mộc sinh ở Thủy, mà Thủy tuyệt ở Tị, Tị lại là nơi Kim sinh, nên Mộc biến tướng.
Ý nghĩa của Dịch-mã là tuyệt sứ mà phùng sinh.
BỐN MÙA NGŨ HÀNH VƯỢNG TƯỚNG
Mùa Xuân (72 ngày) hành : Mộc vượng; Hỏa tướng; Thủy hưu; Kim tù; Thổ tử.
Mùa Hạ (72 ngày) hành : Hỏa vượng; Thổ tướng; Mộc hưu, Thủy tù; Kim tử.
Mùa Thu (72 ngày) hành : Kim vượng; Thủy tướng; Thổ hưu; Hỏa tù; Mộc tử.
Mùa Đông (72 ngày)hành : Thủy vượng; Mộc tướng; Kim hưu, Thổ tù; Hỏa tử.
Tứ quý (18 ngày cuối tháng thìn, tuất, sửu, mùi cộng lại 72 ngày) : Thổ vượng; Kim tướng; Hoả hưu; Mộc tù; Thủy tử.
Hành đương lệnh là vượng, ví dụ là Ta đương vượng chính ngôi (ngã); Cha mẹ sinh ra Ta thì Hưu; Con của Ta sinh ra là Tướng; Kẻ khắc Ta phải bị Tù (nhốt lại), ấy là nhờ con Ta là Tướng đi bắt mà nhốt lại; và tất nhiên người bị Ta khắc sẽ Tử.
Xét về hành, mùa Xuân hành Mộc nghĩa là Mộc vượng. Hay còn gọi mùa xuân hành Mộc, không có nghĩa chỉ riêng có hành Mộc mà có đủ thêm 4 hành kia. Nếu coi một mùa là một thể thống nhất, thì có đủ ngũ hành không thể chia cắt, tùy theo mùa đương lệnh mà hành chính danh chính vị.
Cũng lý ấy suy ra,ví dụ người nạp âm mệnh Mộc thì Mộc chính danh chính vị làm chủ, nghĩa là Mộc vượng; Hỏa tướng; Thủy hưu; Kim tù; Thổ tử trong mệnh ấy.
(Theo Pháp Vân – Phòng sách tư liệu
Hành: Kim
Loại: Quý Tinh, Quyền Tinh
Đặc Tính: Chức vị, quyền hành, chức vụ, danh tiếng, quần áo tề chỉnh
Phụ Tinh. Sao thứ 3 trong 12 sao thuộc vòng sao Trường Sinh theo thứ tự: Trường Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng.
Sao Quan Đới chủ về công danh, chức vụ, quyền lực, nên thành công trong công danh, chức vụ, thi cử.
Gặp các sao tốt như Hóa Khoa, Hóa Quyền, Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt, thi đỗ và làm nên sự nghiệp.
Nếu gặp các sao Địa Không, Địa Kiếp, TUẦN, TRIỆT thì số mạng công danh không bền, thời trẻ tuổi thường vất vả, xa cách người thân, hoặc mồ côi, làm gì cũng hay gặp trở ngại, điều oan trái, người có đau bệnh, thương tích.
Quan Đới gặp nhiều sao mờ ám xấu xa thì gây rắc rối, phiền nhiễu, ngăn trở mọi công việc; còn gặp nhiều sát bại tinh, Quan Đới ví như sợi dây thắt cổ, trói buộc, tự ải.
Quan Đới: gặp nhiều sao mờ ám xấu xa thì gây rắc rối, phiền nhiễu, ngăn trở mọi công việc. - gặp nhiều sát bại tinh, Quan Đới ví như sợi dây thắt cổ, trói buộc, tự ải.
Về phúc thọ, tai họa: Quan Đới báo hiệu cho cái chết bất đắc kỳ tử và mau chóng - Quan Đới, Tang, Hổ: chết bất ngờ vì đứt gân máu - Quan Đới, Không, Hỏa: chết vì súng đạn, lửa, bom Tọa thủ ở bất cứ cung nào chỉ người, cách chết bất đắc này sẽ xảy ra cho người đó.
Về công danh: chỉ sự háo danh, háo quyền từ đó có nghĩa phụ là có chức vị, quyền thế. Về điểm này, Quan Đới giống như Thai Phụ, Phong Cáo, Hóa Quyền.
Về vật dụng: Quan Đới là cái đai, biểu tượng cho chức vị, quyền hành
Quan Đới là đệ tam giai đoạn bắt đầu trưởng thành:
Quan đới nghĩa đen là mũ mão thắt lưng. Khi luận đoán thì Quan Đới là sự trưởng thành, đứng cung nào đều mang tính chất chín chắn, phát triển.
Quan Đới vào Quan Lộc tượng trưng cho hy vọng phát triển sự nghiệp, vào cung Phúc Đức là đầu óc tư tưởng đã thành thục. Quan Đới đứng với các sao Không và Hoa Cái là có khuynh hướng triết lý.
Quan Đới vào các cung Phụ Mẫu, Huynh Đệ, Nô Bộc trợ giúp cho các sao tốt đã sẵn có ở các cung này. Quan Đới gặp Long Trì Phượng Các, Thiên Tài, Văn Xương, Văn Khúc thì gia tăng thông minh và tài nghệ.
Quan Đới đứng với Thái Tuế, Địa Kiếp lại thành ra gia nhân nhà quyền thế. Quan Đới gặpnhiều sát bại tinh biến thành cái tròng lọng, hay một sợi dây câu thúc vì công danh mà khổ.
Nằm ở trung tâm thị trấn Thanh Hà, Chùa Minh Khánh là một trong những kiến trúc cổ đẹp nhất Hải Dương. Chùa Minh Khánh gắn liền với tên tuổi một vị vua anh minh Trần Nhân Tông nhà tu hành đắc đạo, là vị sơ tổ đầu tiên của thiền phái Trúc Lâm Việt Nam (Trúc lâm tam tổ). Bảo vật quý nhất của chùa là chín hạt xá lợi, tương truyền là xá lợi của chính đức Phật hoàng.
Chùa Minh Khánh còn có tên khác là chùa Hương Đại, theo tên gọi làng do vua Trần Nhân Tông đặt. Ngôi chùa được xây dựng vào thời Lý và được trùng tu tôn tạo nhiều lần vào các thế kỷ sau. Trong kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ II, vua Trần Nhân Tông đã lấy đất này làm nơi dựng căn cứ.
Ngôi chùa là nơi vua ngự. Dấu tích còn in trong những tên gọi như: Xóm gạo (nơi giã gạo cho vua và quân sĩ), xóm Kỳ (nơi chuyên may cờ), xóm Ngự Dội (nơi vua tắm), xóm Chiêng (nơi quân nhạc đóng), đống Quan Cư (nơi vua quan họp bàn), đống Tràng Bắn (nơi tập bắn của quân sĩ)…
Trong thời gian ở đây, ngài đã được nhân dân trong làng hết lòng giúp đỡ. Cảm động về thịnh tình, ông đã đặt tên cho làng là Hương Đại (túi thơm). Cũng tại chùa Minh Khánh, trước khi xuất quân, đức vua lập đàn tế Phật, tế trời đất rồi cắt máu ăn thề với quyết tâm tiêu diệt giặc Nguyên Mông.
Hiện trước tiền đường còn có một tháp nhỏ gọi là Lưu huyết thư tháp ghi dấu sự kiện này. Trong chùa còn 13 đạo sắc phong từ thời Lê, 16 tấm bia đá cổ. Với những giá trị đó, từ năm 1925, chùa đã được Toàn quyền Đông Dương ký quyết định xếp hạng di tích cùng 4 ngôi chùa khác của tỉnh Hải Dương cũ.
Chùa Minh Khánh có quy mô to lớn, gồm tam quan ba tầng, mái chồng diêm, tiền đường, tam bảo, điện Phật, nhà tổ, giải vũ, nhà tăng, nhà khách… tất cả là 84 gian trên mặt bằng 14 ngàn mét vuông. Phía sau còn có hai dãy hành lang nối thẳng vào điện thờ Phật. Ngoài ra còn là các kiến trúc khác như nhà tăng, nhà khách, vườn hoa.
Đặc biệt hiện trong chùa Minh Khánh còn cất giữ 9 hạt màu đen, có lỗ xỏ, tương truyền là xá lị của Phật hoàng Trần Nhân Tông.
Bên cạnh kiến trúc quy mô, đẹp đẽ, xưa kia chùa Minh Khánh nổi tiếng khắp vùng bởi lễ hội hằng năm được tổ chức công phu và đặc sắc. Hội chùa Minh Khánh bắt nguồn từ kỷ niệm ngày mất của vua Trần Nhân Tông vào mùng Một tháng 11 Âm lịch. Hội chính thức bắt đầu vào ngày 30/10, kết thúc vào chiều 1/11, nhưng trước đó cả tuần, mấy xã xung quanh chùa đều nô nức chuẩn bị.
Chùa Minh Khánh không những là một danh thắng kỳ thú còn là chốn linh thiêng để các phật tử hành hương chiêm bái. Với những giá trị lịch sử văn hóa được bảo tồn, năm 1990 Chùa Minh Khánh được công nhận là di tích lịch sử – văn hóa cấp Quốc gia.
Như chúng ta đã biết, Vũ Khúc là sao thứ 6 của Bắc Đẩu, thuộc âm kim. Trong Đẩu Số, Vũ Khúc là sao tiền tài. Nó khác với Thái Âm, Thái Âm thiên về "tính"; còn Vũ Khúc thì thiên về "chất". Cho nên Thái Âm chủ về kế hoạch, khá trừu tượng, còn Vũ Khúc thì chủ về hành động, rất cụ thể. Vì vậy, so sánh hai sao, Thái Âm thể hiện một cách nhu hòa, Vũ Khúc thế hiện một cách cứng rắn.
Thường thì sao có tính cứng rắn nhất định sẽ bất lợi về lục thân, cứng rắn ắt đồng thời mang "tính cô độc và hình khắc". Cho nên luận đoán cát hung của Vũ Khúc trong mệnh bàn, thường sẽ vì cung viên khác nhau mà có cách đánh giá khác nhau. Ở cung tài bạch, cung sự nghiệp, thậm chí ở cung phúc đức, đều không kị sự cứng rắn của Vũ Khúc. Nhưng ở cung mệnh, cung phụ mẫu, cung huynh đệ, cung phu thê, cung tử nữ, và cung giao hữu, sẽ ngại tính "cô độc và hình khắc" của Vũ Khúc.

Đặc biệt là cung phu thê, nếu có tính chất "cô độc và hình khắc", đời người dễ có nhiều khiếm khuyết đáng tiếc. Trong xã hội cổ đại phái nữ không có sự nghiệp riêng, sau khi lây chồng thì lấy sự nghiệp của chồng làm sự nghiệp của mình, do đó rất ngại Vũ Khúc tọa cung phu thê, cổ nhân gọi là "Quả Tú". Còn đối với nam mệnh, bất quá chi ngại "vợ đoạt quyền chồng" mà thôi.
Kình Dương, Đà La rất dễ làm mạnh thêm tính cứng rắn, "cô độc và hình khắc" của Vũ Khúc. Vì vậy Vũ Khúc không nên bị chúng hội chiếu. Lúc Vũ Khúc Hóa Kị, hoặc Vũ Khúc đồng độ với sao có Hóa Kị, rât sợ Kình Dương và Đà La giáp cung. Kình Dương và Đà La giáp Hóa Kị của Vũ Khúc, là kết câu khá xấu trong Đẩu Số.
Nhưng khi Vũ Khúc tọa cung tài bạch và cung sự nghiệp, Vũ Khúc lại không sợ Kình Dương, Đà La. Bởi vì tính cứng rắn sẽ được thúc đẩy rất tốt khiến Vũ Khúc tích cực tiến thủ, nhưng phát triển tới đỉnh sẽ dễ thành "không từ thủ đoạn", câu "Vũ Khúc hội Kình Dương, Đà La, chủ về gian trá ", chính là nói cho tính chất này. Nhưng trong trường hợp này Kình Dương, Đà La chẳng đại biểu cho sự tiến thủ thất bại của Vũ Khúc.
Dù là Vũ Khúc Hóa Kị, có Kình Dương, Đà La đến giáp cung, cũng không nhất định là đại biểu cho sự nghiệp thất bại, nhưng có thể vì vậy mà tích cực tiến thủ quá đáng, không tự lượng sức, đầu tư quá lớn, dẫn đến không thể tiếp tục, như tục ngữ nói "mười cái hủ mà chỉ có chín cái nắp", vì vậy mà dẫn đến trở ngại và kinh tế khó khăn mà thôi.
Thứ mà Vũ Khúc sợ thực sự là, có Hỏa Tinh và Linh Tinh đồng độ hoặc hội chiếu, chủ về có tranh chấp không lành mạnh, bị bóc lột, giành giật, xâm phạm lợi ích, trộm cắp. Cổ nhân nói "Vũ Khúc có Tinh, Linh Tinh đồng cung, vì tiền tài mà bị cướp ", tức là lí lẽ này. Nói "bị cướp", không nhất định là cướp bóc, mà chỉ là tranh chấp, giành giật.
Cổ nhân còn nói: "Vũ Khúc, Kinh Dương, Đà La ngại Hỏa tú, mất mạng vì tiền." Đây là nói vế tình hình có Hỏa Tinh đổng độ, và có Kinh Dương, Đà La hội chiếu. Kình Dương, Đà La chẳng phải loại sao tốt lành gì, nhưng đến mức "mất mạng vì tiền tài", chủ yếu còn là vì Hỏa Tinh đồng độ (thực ra Linh Tinh đồng độ cũng vậy).
Có các sao nào có thế điều hòa tính cứng rắn "cô độc và hình khắc" của Vũ Khúc không?
Trước tiên phải kể đến Văn Xương, Văn Khúc. Các sao này nếu thành đôi mà bay vào cung độ Vũ Khúc tọa thủ (đặc biệt là cung Vũ Khúc độc tọa), sẽ khiến Vũ Khúc trở nên khá nhu hòa, nhưng đồng thời cũng sẽ khiến Vũ Khúc biến thành do dự, thiếu quyết đoán.
Kế đến là Thiên Phủ. Thiên Phủ có tính "kho chứa", lại thuộc dương thổ, do đó có thể thu liễm tính cứng rắn của Vũ Khúc (giống như Gia Cát Lượng thu phục Trương Phi), đồng thời giảm thiểu tính "cô độc và hình khắc" của Vũ Khúc. Cho nên các cung viên lục thần, trong các tinh hệ Vũ Khúc, rất ưa "Vũ Khúc, Thiên Phù". Cổ nhân thậm chí đã nói: "Vũ Khúc, Thiên Phủ đổng cung ở Tí hay Ngọ, chủ về sống thọ", tức là lí lẽ này.
Tiếp đến nữa, có thể điều hòa tính cứng rắn và "hình khắc" của Vũ Khúc là Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc. Vũ Khúc rất ưa Vũ Khúc Hóa Lộc, kế đến là Tham Lang Hóa Lộc và Liêm Trinh Hóa Lộc, sau đó là Phá Quân Hóa Lộc. Vũ Khúc Hóa Lộc là có nhiều cơ duyên phát đạt; haị sao Tham Lang và Liêm Trinh mà Hóa Lộc thì chủ về có tiền mà chẳng hao tổn tinh thần quá nhiều; Phá Quân Hóa Lộc thì lao tâm lao lực.
Vũ Khúc quản tiền bạc, được sao lộc là "đồng khí", còn là "gặp sao lộc thì bị kềm chê, vì vậy biến đổi tính cứng rắn của nó.
Về phương diện tổ hợp tinh hệ, Vũ Khúc tổ hợp thành tinh hệ đồng độ với năm sao Thiên Phủ, Tham Lang, Thiên Tướng, Thất Sát, Phá Quân; trong đó "Vũ Khúc, Thiên Phủ" ắt sẽ đối cung với Thất Sát; Vũ Khúc, Thất Sát" ắt sẽ đối cung với Thiên Phủ; "Vũ Khúc, Thiên Tướng" ắt sẽ đối cung với Phá Quân; "Vũ Khúc, Phá Quân" ắt sẽ đối cung với Thiên Tướng; "Vũ Khúc, Tham Lang" đối cung sẽ không có chính diệu, nhưng khi Vũ Khúc độc tọa, ắt sẽ đối nhau với Tham Lang.
Do đó có thể nói, "Vũ Khúc, Thiên Phủ, Thất Sát" ở các cung Tí Ngọ, Mão, Dậu là một hệ thống; "Vũ Khúc, Phá Quân, Thiên Tướng" ở các cung Dần, Thân, Tị, Hợi cũng là một hệ thống; "Vũ Khúc Tham Lang" ở các cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thành một hệ thống.
Trong ba hệ thống, hệ thống "Vũ Khúc, Phá Quân, Thiên Tướng" mang tính "cứng rắn, cô độc và hình khắc" nhất; bởi vì Vũ Khúc không ưa Phá Quân, gặp Phá Quân càng biến tính cứng rắn của Vũ Khúc thành "nóng nảy, quyết đoán", thường dễ vì thiếu suy nghĩ hoặc không có kế hoạch dài lâu, hay vì xung động nhất thời mà dẫn đến thất bại. Cổ nhân nói: "Vũ Khúc, Phá Quân khó quý hiển " tức là nói lí lẽ này.
Vũ Khúc ưa hội hợp với Lộc Tồn, không ưa Lộc Tồn đồng độ. Bởi vì khi Lộc Tồn đồng độ, ắt sẽ có Kình Dương, Đà La đến giáp cung. Ở cung mệnh, chủ về tự tư tự lợi, chỉ nghĩ đến bản thân ở cung tài bạch và cung sự nghiệp thì chủ về bị trở ngại; ở cung độ lục thân thì chủ về duyên phận mong manh.
Vũ Khúc ưa Hóa Lộc, chủ về có thể phát giàu có; cũng ưa Hóa Quyền, chủ về có tiền bạc để sử dụng, hoặc chủ về một mình phụ trách công việc; Hóa Khoa thì hơi kém, bất quá chỉ chủ về có tiếng tăm mà thôi. Hóa Kị thì "cô độc và hình khắc", túng thiếu gây trở ngại, phá tán, thất bại.
Lúc luận đoán đại hạn và lưu niên, tứ hóa của Vũ Khúc thường ảnh hưởng rất lớn đến toàn cục, nhất là Hóa Kị. Cần phải quan sát kĩ xem cung nào bị Hóa Kị đến để làm trọng điểm cho việc luận đoán.
- Tài tinh Vũ Khúc cũng có nhiều khuyết điểm
Trong Tử Vi Đẩu Số có ba chính diệu được coi là "tài tinh" (sao tiền tài), gồm: Vũ Khúc, Thiên Phủ và Thái Âm. Nhưng ba sao đều có đặc tính khác nhau. Trong ba sao tiền tài này, Vũ Khúc hơi có tính chất "cô độc và hình khắc", rất có ảnh hưởng đối với hôn nhân. Thông thường, nữ mệnh không ưa Vũ Khúc, bởi vì cổ thư nói: "Vũ Khúc là sao cô quả", do đó chủ về bất lợi đối với chồng, hình khắc hay sinh li.
Nếu nghiên cứu tỉ mỉ tính chất của Vũ Khúc, thực ra có lúc tình huống chưa chắc đã nghiêm trọng như vậy. Bởi vì tính chất "cô độc và hình khắc" của Vũ Khúc hoàn toàn là vì tính cương nghị của nó. Trước kia phụ nữ không có sự nghiệp riêng, chỉ có thể mang tính cách cương nghị ra phát huy trong gia đình, khiến người chồng cảm thấy thiếu sự ấm áp trong gia đình. Phụ nữ thời hiện đại có thể có sự nghiệp riêng, giả dụ như có thể phát huy đặc tính của Vũ Khúc trong sự nghiệp, không ở nhà suốt ngày đối mặt với chồng, thì không đến nỗi không thể phát huy tính dịu dàng của phái nữ, sẽ khiến gia đình tràn đầy hòa khí.
Nhưng dù là vậy, tình hình vợ chồng gần nhau thì ít mà xa nhau thì nhiều là không tránh được. Đây là nhược điểm của Vũ Khúc trong nữ mệnh.
Một đặc tính khác của Vũ Khúc là, rất sợ "Hóa Kị", chủ về tình cảm vợ chồng xảy ra sự thay đổi, hoặc chủ về tiền ra như nước chảy, thậm chí sẽ mắc nợ. Người sinh năm Nhâm, Vũ Khúc Hóa Kị, nếu rơi vào cung mệnh, cung điền trạch, cung phu thê, cung tài bạch, cung sự nghiệp đều có chỗ không hay. Nhưng nếu các sao phối hợp tốt, thì chỉ không thích hợp tự kinh doanh làm ăn mà thôi. Vương Đình Chi từng gặp một vị bác sĩ ngoại khoa, Vũ Khúc Hóa Kị ở cung sự nghiệp, nhưng vẫn giàu có.
Ngoại trừ Hóa Kị, Vũ Khúc còn kị gặp Hỏa Tinh và Linh Tinh. Cổ nhân có thuyết "Vũ Khúc, Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng cung, vì tiền mà bị cướp". Nói "vì tiền mà bị cướp", có lúc không nhất đinh là bị cướp đoạt thực sự, nhiều khi là tiền bạc tổn thất một cách vô vị mà thôi.
Cho nên nếu Vũ Khúc và Hỏa Tinh tọa mệnh, có lúc sẽ bị phá tài, phép hóa giải là giao quyền tài chính cho ngưòi phối ngẫu. Nhưng nếu cung phu thê cũng không được tốt, thế thì khá phiền phức rồi.
Vũ Khúc vốn là sao tiền tài, nhưng lại có không ít khuyết điểm, đủ thây sao tiền tài có lúc chưa chắc là chuyện tốt.
- Vũ Khúc quan hệ mật thiết với "Sát, Phá, Lang"
Vũ Khúc phối hợp với các sao khác, tổng cộng có 6 tinh huống như dưới đây.
Các tổ hợp trên cho thấy, Vũ Khúc có quan hệ rất mật thiết với Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang. "Sát, Phá, Lang" không phải là tổ hợp "hiền hòa", chúng cũng gây ảnh hưởng đến tính chất của Vũ Khúc.
Nếu cung phu thê là Vũ Khúc và Thiên Phủ, cung mệnh ắt sẽ là Tham Lang; nếu phu thê là Vũ Khúc và Thiên Tướng, cung mệnh ắt sẽ là Thất Sát; điều này còn cho thấy Vũ Khúc bất kể như thế nào, đều không thoát khỏi ảnh hưởng của "Sát, Phá, Lang", còn có quan hệ mật thiết với Thất Sát và Tham Lang. Cổ nhân không thích nữ mệnh gặp Vũ Khúc ở cung mệnh hoặc cung phu thê, cũng có nguyên nhân của nó, đó là vì không ưa mối quan hệ của nó với "Sát, Phá, Lang".
Nếu chiếu theo thuyết của cổ nhân, Vũ Khúc chỉ có một tổ hợp khá tốt, đó là "Vũ Khúc gặp Tham Lang, Thất Sát và Liêm Trinh, nên đi kinh doanh làm ăn". Then chốt của tổ hợp này là Liêm Trinh, khiến cho tính chất của toàn bộ các sao thay đổi.
Vũ Khúc phối hợp các sao khác khó mà đòi tốt, vì vậy càng không nên gặp tứ sát Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dưong và Đà La. Thuyết của cổ nhân là "Vũ Khúc, Hỏa Tinh, Linh Tinh đổng cung, vì tiền mà bị cướp"; "Vũ Khúc gặp Kinh Dương, Đà La, chủ về cô độc và hình khắc"; "Vũ Khúc, Kình Dương, Đà La kiêm Hỏa Tinh, thì vì tiền mà mất mạng"; "Vũ Khúc gặp tứ sát tinh xung phá, chủ về cô độc, nghèo nàn, phá tướng, thậm chí yểu mạng".
- "Vũ Khúc, Thiên Phủ" đồng cung, phải xem sao phụ tá
Vũ Khúc thủ mệnh ở hai cung Tí hoặc Ngọ, ắt sẽ đồng cung với Thiên Phủ, Thiên Phủ là chủ tinh của Nam Đẩu, mà còn có tính chất "kho chứa", phối hợp với Vũ Khúc, là Vũ Khúc được làm sao tiền tài, cho nên phối hợp đặc cách.
Trong Tử Vi Đẩu Số có một nguyên tắc đặc biệt, bạn đọc không thể không biết, đó là các chủ tinh đều ưa có tá diệu ủng hộ. Chủ tinh trong Đẩu SÔ; Bắc Đẩu là Tử Vi, Trung Thiên là Thái Dương, Nam Đẩu tức là Thiên Phủ. Hiện Thiên phủ và Vũ Khúc đồng cung, đương nhiên cũng thích có tá diệu ủng hộ. Nói "tá diệu" tức là Tả Phụ, Hữu Bật; Văn Xương, Văn Khúc; Thiên Khôi, Thiên Việt.
Cổ nhân nói: "Vũ Khúc và Thiên Phủ đồng cung, gặp Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, chủ về thi cử đỗ đạt cao"; "Vũ Khúc và Thiên Phủ đồng cung với Tả phụ, hội hợp Hữu Bật đầy tớ nhiều như mây"; "Vũ Khúc và Thiên Phủ đổng cung, được Thiên Khôi, Thiên Việt vây chiếu, tựa như là quan thuế." Các thuyết này đều rất có lí lẽ, đó là do ảnh hưởng của chủ tinh Nam Đẩu gặp tá diệu.
Cho nên nếu nhìn từ mặt tốt, "kho chứa" của Thiên Phú ắt sẽ nhờ gặp "sao tiền tài" Vũ Khúc mới khởi sắc. Nhưng giả dụ không gặp tá diệu, mà lại gặp lục sát Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La, Địa Không, Địa Kiếp, thì tính chất sẽ thay đổi rất lớn.
Thiên Phủ gặp sát tinh, gọi là "kho lộ"; Vũ Khúc gặp sát tinh, khiến tính chất "cô khắc hình kị" phát huy; do đó chủ về suy nghĩ nông cạn, tự tư, ích ki, công phu hàm dưỡng không đủ, thậm chí còn gian trá; người có tính cách như vậy, lập thân xử thế đương nhiên dễ sống cô lập.
Cổ nhân còn nói: "Vũ Khúc và Thiên Phủ đồng cung ở Tí hoặc Ngọ, có tứ sát đổng độ ắt sẽ vì tiền mà bị cướp", thuyết nàỵ cũng rất có lí lẽ, bởi vì người sống cô lập mà "kho lộ", không giữ phẩm cách, lại suy nghĩ nông cạn thiển cận, đương nhiên dễ bị cướp. Nói "bị cướp", thực ra cũng bao gốm tranh chấp trong sự nghiệp, có tính chất "bị đoạt tiền" ở bên trong.
Chỗ để phân biệt là hội hợp với sát tinh nào; gặp Kình Dương là điềm ứng bị cướp rất nặng, gặp Đà La thì chỉ bị người ta đoạt tiền trong lúc tranh chấp.
Nhưng Hỏa Tinh thường thường lại có thể kiềm chế tính xấu của Kình Dương, do đó đã gặp Kình Dương mà còn gặp Hỏa Tinh cùng ở một cung, thif điềm ứng với tiền mà bị cướp có thể giảm đi nhiều.
- "Vũ Khúc, Tham Lang" thủ mệnh, cách cục cao hay thấp?
Vũ Khúc ở hai cung Sửu hoặc Mùi, nhất định sẽ đồng cung với Tham Lang, đây là phối hợp có tính chất rất phức tạp. Cổ nhân nói: "Vũ Khúc, Tham Lang ở cung Mộ, ba mươi tuổi mới phát phúc", nếu mệnh cục kết cấu như trên, nhất định phải trải qua gian nan trước, sau trung niên mới từ từ bước vào hoàn cảnh thuận lợi.
Cổ nhân còn nói: "Vũ Khúc, Tham Lang đồng cung, chủ về nịnh nọt, gian tham." Đây là vì cổ nhân cho rằng Vũ Khúc có lối suy nghĩ nông cạn mà phối hợp với Tham Lang có tính phong hoa tuyết nguyệt, không những dễ khiến mệnh tạo thành xảo trá, mà còn dễ thành a dua nịnh nọt.
Nhưng thuyết này chỉ nhấn mạnh mặt xấu. Thực ra nếu nhìn từ mặt tốt, Tham Lang có tính chất khéo ăn khéo ở, Vũ Khúc cũng có khí cương chính. Cho nên người có "Vũ Khúc, Tham Lang" thủ mệnh, nếu được giáo dục tốt, và có hun đúc tu dưỡng phẩm đức, thì cũng rất có thể thành một người giỏi tự lập, còn cực kì lợi về kinh doanh làm ăn. Tuy hơi keo kiệt, bủn xin, nhưng cũng có thể coi đó là đức tính cần kiệm, chẳng xấu tệ như cổ nhân đã nói.
Tham Lang ở Mộ Khố (tức Thìn, Tuất, Sửu, Mùi), rất ưa gặp Hỏa Tinh, đây gọi là cách "Hỏa Tham"; kế đến là ưa gặp Linh Tinh, gọi là "Linh Tham cách", chủ về có quyền uy. Cho nên cổ nhân cũng nói: "Vũ Khúc, Tham Lang thủ cung mệnh, có Hỏa Tinh, Linh Tinh đổng độ, chủ về uy trấn biên cương." Tức là mệnh võ tướng, nhưng cũng khó tránh gian khổ.
Ờ xã hội hiện đại, không dễ làm võ tướng, nhưng đương nhiên cũng chủ về có quyền uy. Nếu gặp thêm Kình Dương hoặc Đà La, thì lại Tất dễ biến thành người trong hắc đạo (xã hội đen).
"Vũ Khúc, Tham Lang" thủ cung mệnh, gặp Hóa Kị, còn gặp thêm một trong tứ sát tinh, cổ nhân gọi là "người trong giới có tay nghề", chủ về tay nghề tình xảo. Vương Đình Chi nói ông đã gặp hai người thuộc cách cục này, một người làm thợ kim hoàn, một người là bác sĩ ngoại khoa, cách cục chính thì tương đổng, nhưng hậu thiên có biến hóa lớn như vậy, đủ thấy người có mệnh cách này, vấn đề tu dưỡng hậu thiên và gia cảnh xuất thân là cực kì quan trọng.
Người sinh cùng năm, cùng tháng, cùng ngày, cùng giờ, mệnh bàn tương đồng, nhưng sẽ có mệnh vận và tao ngộ khác nhau. Bởi vì Tử Vi Đẩu Số không chủ trương túc mệnh, chi cho rằng các sao phối hợp, có thể sản sinh một khuynh hướng nhất định mà thôi. Do đó bác sĩ ngoại khoa và thợ kim hoàn có thể có cùng một mệnh cục.
n muộn. Kim có thể là một món hàng xinh xắn và quý giá mà cũng có thể là đao kiếm.

– Tích cực: Mạnh mẽ, có trực giác và lôi cuốn.
– Tiêu cực: Cứng nhắc, sầu muộn và nghiêm nghị.
Dưới đây là cách đặt tên cho con theo mệnh Kim, các tên thuộc mệnh Kim bao gồm:

– Cho bé gái, có những cái tên hay như:

– Cho bé trai, có những cái tên đẹp như:
Đó là những cái tên thật ý nghĩa để các bạn có thể lựa chọn và đặt tên phong thủy mệnh Kim cho bé. Những cái tên này sẽ đơn giản hóa cho các mẹ mỗi khi phải bỏ nhiều thời gian để lựa chọn một cái tên phù hợp với con yêu của mình.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thanh Vân (##)
Thời gian: tổ chức vào ngày 19 tháng 5 âm lịch.
Địa điểm: xã Thái Đào, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
Đối tượng suy tôn: nhằm suy tôn tướng Quân Vũ Thành.
Nội dung: lễ tế dâng hương và tưởng nhớ đến tướng quân Vũ Thành. Phần hội có thi đấu vật, đu, cờ người, cờ tướng, cướp cầu.
![]() |
![]() |
| ► Cùng xem những tiết lộ thú vị về 12 cung hoàng đạo tình yêu |
Muốn vượng vận, 12 con giáp nên đi đâu trong tết Đoan Ngọ