Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

Các lễ hội tiêu biểu trong ngày 2 tháng 8 âm lịch - Lễ Hội Mai Viên

Lễ Hội Mai Viên được tổ chức vào ngày mùng 2 tháng 8 âm lịch hàng năm tại huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Các lễ hội tiêu biểu trong ngày 2 tháng 8 âm lịch - Lễ Hội Mai Viên

Các lễ hội tiêu biểu trong ngày 2 tháng 8 âm lịch - Lễ Hội Mai Viên

Lễ Hội Mai Viên

Thời gian: tổ chức vào ngày mùng 2 tháng 8 âm lịch.

Địa điểm: huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.

Đối tượng suy tôn: nhằm suy tôn Thành Hoàng Làng là nhị vị công chúa Áo Đỏ Đại Vương.

Nội dung: Hội Mai Viên có lễ dâng hương cúng Thành hoàng được diễn ra trong một bầu không khí trang nghiêm. Lễ vật dùng để dâng cúng là: lợn đen, xôi, rượu. Phần hội cũng khá đông vui, nam nữ thanh niên tổ chức các tiết mục liên hoan văn nghệ.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Các lễ hội tiêu biểu trong ngày 2 tháng 8 âm lịch - Lễ Hội Mai Viên

Đặc tính của sao Thiên Hình trong Tử Vi

Sao Thiên Hình ở Mệnh là người trực tính, nóng nảy, ngay thẳng, đoan chính, có năng khiếu phán xét tinh vi, phân xử tỉ mỉ, công bình, quả cảm

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đặc tính của sao Thiên Hình trong Tử Vi

Đặc tính của sao Thiên Hình trong Tử Vi

Tìm hiểu về đặc tính của sao Thiên Hình trong Tử Vi

Tên sao Âm dương - ngũ hành Hóa Chủ Bị khảo
Thiên hình Dương hỏa Cô độc và hình khắc Tổn thương, kiện tụng, cô độc Nhập miếu chủ về có tài cán, quyền uy, nắm giữ binh quyền

Thuộc tính âm dương ngũ hành của sao Thiên Hình là dương hỏa, hóa khí là cô khắc, chủ về hình thương, kiện tụng, cô độc. Sao Thiên Hình nhập miếu sẽ trở thành thần Thiên Hỷ, có tài cán quyền uy, chưởng quản binh quyền; nếu gặp sao Thái Dương chủ về nghiệp võ quý hiển. Gặp cát tinh Văn Xương, Văn Khúc, chủ về nắm quyền giữ biên cương.

Sao Thiên Hình chủ cung thân, cung mệnh, chủ về bề ngoài hùng dũng, uy vũ bất khuất, độc lập tự chủ, có tài cán, nhưng cá tính kiêu ngạo, cô độc khó gần gũi, có quan niệm và cách phán đoán giá trị thi phi khác người, không có duyên với người thân, thích đoán mệnh hoặc tự nghiên cứu bệnh lý, có duyên với tôn giáo. Chỉ khi nào nhập miếu tại bốn cung Dần, Mão, Dậu, Tuất mà gặp cát tinh mới chủ về cát lợi, nắm quyền lực lớn. Ở sáu cung Thân, Tí, Thìn, Tị, Ngọ, Hợi là bình hòa; ở hai cung Sửu, Mùi là lạc hãm, nếu trong hai hạn mà gặp phải thì chủ về xuất gia, kiện tụng, mất mát tiền của, cần đặc biệt đề phòng hỏa hoạn, tai họa bất ngờ.

Sao Thiên Hình nhập cung mệnh, phần nhiều có thể nỗ lực, tích cực, biết nắm bắt trọng điểm, thiện ác phân minh, tuân thủ pháp luật, bộc lộ sắc xảo. Cần chú ý tới ngôn ngữ, hành vi của bản thân để tránh bị người khác hiểu lầm.

Sao Thiên Hình còn là sao nợ nần, nếu nhập các cung Mệnh, Thân, Tài, Quan thường có hiện tượng tiền của quay vòng, đến rồi lại đi.

Sao Thiên Hình nhập miếu ưa được gặp sao Thái Dương, ngoài ra còn thích các sao Tử Vi, Thiên Tướng, Thiên Lương, Tham Lang, Cự Môn, nếu theo các ngành nghề pháp luật, y khoa, quân đội, cảnh sát, tôn giáo thì có thể thành tựu. Sao Thiên Hình thích nhất là gặp sao Văn Xương, Văn Khúc tại cung vượng, có thể phát cả nghiệp văn lẫn võ, hoặc trở thành quan tòa, thầy thuốc nổi tiếng. Nếu đồng cung với sao Kình Dương, lại gặp sát tinh, Hóa Kị, khó tránh khỏi tai họa tổn thương.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đặc tính của sao Thiên Hình trong Tử Vi

Đặc trưng tướng mặt người có tỉ lệ li hôn cao

Cuộc sống hôn nhân gia đình hạnh phúc hay không phần lớn phụ thuộc vào tính cách và thái độ của mỗi người. Nếu không kiểm soát tốt cảm xúc, quá nóng vội hoặc
Đặc trưng tướng mặt người có tỉ lệ li hôn cao

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

không kiên định sẽ dẫn tới tình trạng li hôn.


► Bói tình yêu theo ngày tháng năm sinh để biết hai bạn có hợp nhau không
  Dưới đây là những dấu hiệu cho thấy người có hôn nhân không hạnh phúc hoặc có thể sẽ phải li hôn hoặc tái hôn.
1. Lông mày đứt giữa   Trong Nhân tướng học, lông mày dày, mau và liền mạch đại diện cho vận thế sự nghiệp tốt và là người có tinh thần trách nhiệm trong công việc cũng như cuộc sống gia đình.

Ngược lại, nếu lông mày đứt giữa là người có tính tình nóng nảy, cổ quái, quá cầu toàn vào sự hoàn hảo trong hôn nhân nên thường không cảm thấy hạnh phúc với cuộc sống gia đình. Theo đó, người này có tỉ lệ li hôn khá cao.

Dac trung tuong mat nguoi co ti le li hon cao hinh anh
cãi nhau
2. Sơn Căn có nếp nhăn ngang   Nếu Sơn Căn có nếp nhăn ngang (còn gọi là Hoành văn), là dấu hiệu cho thấy hôn nhân gặp trục trặc hoặc có sóng gió trong cuộc sống gia đình. Ngoài ra, số lượng của nếp nhăn ngang này còn đại diện cho sóng gió hôn nhân. Nếu là 1 đường thì dễ li hôn, 2 đường dễ tái hôn.   3. Sống mũi có đốt nhô lên   Người có tướng mũi mà phần giữa sống mũi có đốt hoặc tật nhô lên thì tính tình kì quái, không có chủ kiến cá nhân mà a dua theo phong trào. Người này không biết cách ứng xử khéo léo và hài hòa khiến cuộc sống gia đình căng thẳng, đi vào bế tắc, li hôn là điều khó tránh.   4. Trán cao và hói   Đa phần những người trán cao và hói hói đều có tâm lí thiên về sự nghiệp, coi công việc trên tất cả. Khi vướng vận cuộc sống gia đình, họ cảm thấy thiếu thời gian cũng như không gian để phát triển sự nghiệp, từ đó hay cáu bẳn, giận hờn vô cớ khiến chuyện “cơm không lành, canh chẳng ngọt” thường xuyên xảy ra. 
5.  Ấn Đường có nếp nhăn hình chữ Bát (八)   Ấn Đường là vị trí giữa hai đầu lông mày. Nếu trên đó có nếp nhăn hoặc vân hình chữ Bát là biểu hiện kém thuận lợi trong sự nghiệp và trục trặc về tình duyên, hôn nhân. Nếu thấy nếp nhăn này xuất hiện, mệnh chủ phải cẩn trọng suy xét lại tình cảm đôi bên, cố gắng cứu vãn tình thế trước khi quá muộn.   Linh Lan (Theo MGSP)  
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đặc trưng tướng mặt người có tỉ lệ li hôn cao

Phong thủy bàn làm việc cho người mệnh Mộc

Phong thủy bàn làm việc cho người mệnh Mộc: Công danh sự nghiệp của người mệnh Mộc lên như diều gặp gió nếu bài trí bàn làm việc đúng ngũ hành.
Phong thủy bàn làm việc cho người mệnh Mộc

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Chỉ với một vài cách bài trí hợp phong thủy và chuẩn theo ngũ hành, công danh sự nghiệp của người tuổi Mộc sẽ lên như diều gặp gió.

  Trong ngũ hành, yếu tố Mộc tượng trưng cho thế giới cây cỏ tự nhiên nên năng lượng được sinh ra từ hành Mộc có tính sinh sôi, mềm dẻo và phát triển không ngừng. Người thuộc mệnh Mộc thường là người yêu thích thế giới tự nhiên, có tinh thần hướng ngoại, thích khám phá, du lịch, cũng vì thế mà tính cách của họ rất nhiệt tình, cởi mở và ngay thẳng, luôn có tinh thần đón nhận cái mới và luôn xác định được mục đích trong cuộc sống.   Do đó những yếu tố phong thủy khi bài trí bàn làm việc cho người mệnh Mộc cũng cần đảm bảo những tiêu chí trên.

1. Hướng bàn làm việc
 
Theo phong thủy văn phòng, bàn làm việc của người mệnh Mộc nên quay về một trong các hướng Đông Bắc, Tây, Tây Bắc, Tây Nam. Bàn phải hướng ra cửa, nhưng không đối diện thẳng với cửa phòng.

Muon phat tai nguoi menh Moc cho coi thuong ban lam viec hinh anh
Ảnh minh họa

Bên cạnh đó, không nên đặt bàn ở trung cung (chính giữa phòng), tránh kê bàn nơi góc nhọn, góc khuất, cuối hành lang, lối đi. Không đặt bàn ngay trước cột vuông hay dưới xà ngang và hướng ra toilet hoặc cầu thang.
  Ngoài ra, không nên kê bàn quay mặt vào tường và cần phải ghi nhớ, sau lưng người ngồi phải có một điểm tựa (có thể là tường, tủ, ...) thì mới chuẩn phong thủy bàn làm việc.   2. Hình dáng bàn làm việc   Những người mệnh Mộc nên sử dụng bàn làm việc dạng hình uốn lượn, có góc lượn tròn. Đây là kiểu bàn tượng trưng cho hành Thủy, theo quy luật tương sinh thì Thủy sinh Mộc, rất tốt. Kích thước bàn làm việc nên cân xứng với các vật dụng trên bàn, không nên quá chật làm giảm hứng thú làm việc, cũng không nên quá rộng tạo cảm giác bất ổn. 

Muon phat tai nguoi menh Moc cho coi thuong ban lam viec hinh anh 2
Ảnh minh họa
  3. Màu sắc bàn làm việc
 
Nên sử dụng các loại bàn làm việc, đồ vật trang trí cho người mệnh Mộc có màu tương hợp thuộc hành Mộc, hoặc màu tương sinh thuộc hành Thủy như xanh lá, nâu, xanh lam, vàng nhạt, xanh đậm, đen…
 
Trong đó, hai màu nhiều ưu điểm nhất là nâu và xanh lá. Màu nâu - màu của gỗ, tốt cho các cung Tài Lộc, cung Gia Đạo, cung Danh Vọng.  
► Tham khảo thêm: Mệnh Mộc hợp màu gì theo ngũ hành tương sinh

Theo
Ngày nay
 
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phong thủy bàn làm việc cho người mệnh Mộc

Những vết bớt bẩm sinh phải chăng là dấu hiệu của kiếp trước?

Có những đứa trẻ sinh ra đã tồn tại những vết bớt và đốm tích kì lạ ẩn chứa câu chuyện về kiếp trước. Đây là theo nghiên cứu của một nhà khoa học.
Những vết bớt bẩm sinh phải chăng là dấu hiệu của kiếp trước?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Có những đứa trẻ sinh ra đã mang trên mình những vết bớt và đốm tích kì lạ tưởng chừng như đơn giản nhưng đằng sau nó lại ẩn chứa câu chuyện về kiếp trước. Những vết bớt ấy được cho là dấu hiệu của kiếp trước theo nghiên cứu của một nhà khoa học.

Một bà lão ở Thái Lan lâm chung với ước nguyện cuối đời được đầu thai thành cậu bé. Cô con gái đã nhúng ngón tay vào hồ trắng đánh một dấu lên cổ bà. Không lâu sau cô hạ sinh được một cậu bé kháu khỉnh với một vết trắng sau cổ chính xác với vết hồ trắng cô đánh dấu lên cổ mẹ lúc chết.

Khi cậu bé biết nói, thật kỳ lạ cậu luôn miệng đòi chiếm hữu những thứ của bà ngoại trước kia khăng khăng như thể chúng là của cậu vậy.

Đây chỉ là một chuyện kể trong rất nhiều trường hợp được kể lại bởi tiến sỹ Jim Tucke tại Đại học Virginia trong đó ông cho rằng vết bớt khi sinh thường có liên quan đến kiếp sống trước đó của họ.

Vào cuối đời của tiến sỹ lan Stevenson, công việc mà tiến sỹ Tucker đang tiếp tục, là điều tra 210 trường hợp những đứa trẻ sinh ra với vết bớt hoặc khuyết tật có liên quan đến ký ức từ kiếp trước.

Stevenson đã thu thập được một báo cáo khám nghiệm tử thi 49 trường hợp. Trong đó có tới 43% các trường hợp vết thương tích và vết chàm trong khoảng 10 cm2 cách nhau trên cơ thể, một số người thì những vết đó không tản ra mà nối liền nhau trên cùng một vị trí.

Phong tục ở một số nơi khác, người ta thường làm dấu người chết với nhọ nồi hoặc hồ dán để có thể dễ dàng nhận ra khi họ đầu thai.

Dưới đây là một vài ví dụ vết bớt khi sinh có liên hệ tới ký ức từ kiếp trước được nghiên cứu bởi tiến sỹ Stevenson.

Một cậu bé sinh ra ở Ấn Độ với bàn tay phải cụt ngón đã có lần nhớ lại kiếp sống trước của mình nơi cậu từng bị dính tay vào máy nghiền thức ăn và bị cắt bỏ.

vết bớt

Một cậu bé nữa ở Thổ Nhỹ Kỳ với tai phải dị hình đã nhớ lại cậu từng bị bắn và giết chết ở cự ly gần vào một bên đầu.

Một cậu bé nữa ở Thổ Nhỹ Kỳ với tai phải dị hình đã nhớ lại cậu từng bị bắn và giết chết ở cự ly gần vào một bên đầu.

Một cậu bé khác có tên là Maha Ram ở Ấn Độ có thể nhớ mình bị giết trong một kiếp sống trước đó với một khẩu súng ngắn . Anh có thể nhớ một cách đầy đủ chi tiết về kiếp sống trước của mình và kể cho Stevenson với hi vọng tìm lại được kết quả khám nghiệm tử thi người được nghi là chuyển sinh đời này của cậu.

Và thật trùng hợp, kết quả cho thấy những vết bớt trên ngực Ram rất tương xứng với những vết đạn trong kiếp trước.

Và còn nhiều chuyện trùng hợp khác về vết bớt khi sinh và mối liên quan kiếp trước hiện vẫn chưa được xác minh hay chia sẽ trên các blog thảo luận trong quá khứ.

Bàn về trường hợp kỳ lạ khác về vết bớt, Karen Kubiko lúc còn học trung học cô đã đăng ảnh của mình với một vết bớt trên cổ và sau này cô đăng một hình khác nhưng không có vết bớt nữa. Cô cho biết vào năm 2011 cô bỗng nhiên nhớ lại được trong một kiếp sống trước cô từng là Helen một người phụ nữ bị trúng một viên đạn lạc bắn vào cổ và chết năm 1927.

Thế nên vết bớt để lại trên cổ cô chính là nơi viên đạn bắn vào cổ Helen trong kiếp trước. Sau khi cô nhớ lại được những điều này, vết bớt kia dần dần biến mất.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những vết bớt bẩm sinh phải chăng là dấu hiệu của kiếp trước?

Sơ lược về lịch sử Tử Vi Trung Hoa nói chung và Trung Châu phái nói riêng

Bài viết sơ lược về lịch sử Tử Vi Trung Hoa và Trung Châu Phái. Mời các bạn cùng đọc!
Sơ lược về lịch sử Tử Vi Trung Hoa nói chung và Trung Châu phái nói riêng

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nguồn: TRUNG CHÂU TỬ VI ĐẨU SỐ TAM HỢP PHÁI - NGUYỄN ANH VŨ dịch.

Tương truyền, Tử Vi Đẩu Số có nguồn gốc từ Khâm Thiên Giám của triều đại nhà Đường, ở Lạc Dương, Trung Châu.

Trung Châu là tên một vùng đất cổ, tức "Trung Thổ", "Trung Nguyên". Theo nghĩa rộng, "Trung Châu" là chỉ toàn nước Trung Hoa, còn gọi là "Thần Châu", "Hoa Hạ". Nghĩa ban đầu của "Trung Châu" là chỉ vùng đất thuộc tỉnh Hà Nam ngày nay, hay thuộc lưu vực sông Hoàng Hà. Vì vùng đất này ở giữa Cửu Châu thời cổ đại nên có tên gọi này. Phần lớn thời gian trong lịch sử, vùng đất này là trung tâm văn hóa, chính trị, và Kinh Tế của Trung Quốc. Thời cổ, Lạc Dương là vùng đất trọng yếu của Trung Châu tọa lạc ở bờ nam sông Hoàng Hà, miền tây tỉnh Hà Nam, phía Bắc dựa núi Mang Sơn, phía nam đối diện Long Môn, phía tây liền với Tần Lĩnh, phía đông là vách núi Tung sơn, ở giữa là một vùng bình nguyên. Nơi này địa hình hiểm yếu, đất đai phì nhiêu, nguồn nước dồi dào; trong lịch sử, đây là vùng đất mà các binh gia phải chiếm lấy, còn là nơi lý tưởng để lập quốc đô. Bắt đầu từ năm 770 TCN, trước sau đã có chín vương triều là Đông Chu, Đông Hán, Tào Ngụy, Tây Tấn, Bắc Ngụy, Tùy, Đường, Hậu Lương, và Hậu Đường, chọn nơi này làm kinh đô, vì vậy Lạc Dương được gọi là "Cửu Triều Cố Đô".

Vào thời Đường, thiên văn học và chiêm tinh học từ phía Tây Vực du nhập vào Trung Quốc đã thúc đẩy Tinh Mệnh Học của Trung Quốc phát triển một bước lớn, từ đó lịch pháp và bát tự sinh thần trở thành nhân tố trọng yếu trong Tinh Mệnh Học. Những hoạt động sôi nổi này chủ yếu tập trung ở Lạc Dương, Trung Châu.

Trong số các Đạo kinh truyền lại từ đời Đường có Bắc Đẩu Kinh, Nam Đẩu Kinh, Phật thuyết bắc đẩu thất tinh Diên Mệnh kinh, trong đó đã có những ghi chép tường tận về phương pháp bài bố sao mệnh chủ và sao thân chủ như trong Tử Vi Đẩu Số. Theo quan niệm của đương thời, sao mệnh chủ và sao thân chủ luôn là mấu chốt quan trọng của kiếp số nhân sinh, vì vậy Đạo Giáo có "Kì an lễ đẩu", "Kì nhương khoa nghi" (một loại nghi lễ cúng sao trong đạo giáo). Trong bắc đẩu kinh còn đề cập 12 cung, "Giáp cát trợ tinh", cho đến các cách cục hung dẫn đến các loại mệnh vận tai kiếp như trong Tử Vi Đẩu Số. Điều này cho thấy 3 cuốn kinh kể trên có liên quan mật thiết đến Tử Vi Đẩu Số sau này. Nếu các bản chú giải kinh văn thời ấy còn lưu truyền cho đến ngày nay, có lẽ chúng ta sẽ biết yếu quyết của Tử Vi Đẩu Số vào thời ấy tường tận hơn. Hiện tượng chọn Tử Vi làm sao tôn quý nhất trong 14 chủ tinh có nguồn gốc từ Bắc Đẩu Kinh, Nam Đẩu Kinh, trong đó ẩn chứa khái niệm "số" trong Huyền Học, hậu thế gọi là "Tử Vi Đẩu Số" thực sự có hàm ý uyên nguyên của nó.

Sau thời Bắc Tống, các hệ thống tinh mệnh học dần dần hoàn thiệt, Ngũ Tinh Thuật (Thất Chính Tứ Dư) và Tử Bình thuật đã phát triển thành 2 lưu phái Tinh Mệnh học lớn ở Trung Quốc. Trong đó, Ngũ Tinh thuật phái Cẩm Đường là chi phái Thất Chính Tứ Dư nổi tiếng nhất thời ấy, nguồn gốc xuất phát từ Mật Tông, tổ sư là Nhất Hạnh(CN. năm 683 - 727), người đời Đường, tên tục là Trung Trục, có sách truyền lại là Hư Thục Ngũ Tinh nguyên lưu; truyền đến tăng Xuân ở núi Thanh Thành, Xuân truyền cho tăng Phổ Trừng ở Giang Tây, Trừng truyền cho Tứ Minh tăng Huệ Minh ở Chiết Giang, Minh truyền lại cho quốc sư nước Liêu là Gia Luật Sở Tài. Gia Luật là một dòng họ quý tộc nổi tiếng đời Liêu, có rất nhiều người làm quan lớn và văn nhân học sĩ. Ba quyển Tinh Mệnh Tổng Quát là do Hàn Lâm học sĩ Gia Luật Thuẩn biên soạn. Sách sử không ghi tên ông, cho nên trong Tứ Khố đề yếu nghi là sách thác danh, nhưng trong quyển đầu ghi: "Nguyên Tự" thiên Gia Luật Thuần viết vào niên hiệu Thống Hòa thứ 2 (CN, ngày 10, tháng 9 năm 984); Văn Hồ các thư mục ghi là một bộ, không phân chia số sách; Lục Trúc Đường thư mục chia làm 5 sách, nhưng không ghi số quyển; bộ sách này thấy chép trong Vĩnh Lạc đại điển và Tứ Khố toàn thư, ngoài nhân gian không có truyền bản nào khác. Ngoài ra, bộ Hư Thục Ngũ Tinh nguyên lưu còn được chùa Thiên Giới cất giữ một bản; vào niên hiệu Hồng Vũ thứ 6, truyền lại cho Thương Quý Đổng. Truyền bản ngày nay phần nhiều là Cẩm Đường Ngũ Tinh, Chỉ Kim Hư Thục Ngũ Tinh Thiên Cơ thất ngũ phú. Do đó có thể thấy phái Cầm Đường là một phân chi Tinh Tông quan trọng. Còn có thể khảo chứng thư tịch Tinh tông trong bộ sách Trương Quả tinh tông chép trong Tứ Khố toàn thư, và Tinh Mệnh tố nguyên do Trương Quả trước tác, thân thế Trương Quả có ghi chép trong Tân Đường truyện - Phương Kĩ truyện. So sánh đối chiếu với phương pháp đoán mệnh của Thất Chính Tứ Dư, người ta thấy có nhiều dấu vết diễn biến thành Tử Vi Đẩu Số ngày nay.

Trong suốt khoảng thời gian từ đời Tống đến đầu đời Nguyên, Tử Vi Đẩu Số hầu như im hơi lặng tiếng, người ta không tìm thấy một văn bản nào khác liên quan đến Tử Vi Đẩu Số. Hiện chỉ lưu giữ được 1 bản chép tay sách các cổ quyết của Tử Vi Đẩu Số đời Nguyên.

Đến đời Minh, giai đoạn cuối thời kì chấp chính của Chu Nguyên Chương, vị vua khai quốc triều Minh này đã hạ lệnh cấm dân gian không được học thiên văn, cho nên Tinh tông mệnh lí học dần dần bị chìm trong bóng tối, mãi đến niên hiệu Gia Tĩnh thứ 26 (CN năm 1547) mới giải trừ luật cấm học thiên văn.

Tinh tông mệnh lí học thoát khỏi lệnh cấm này, dần dần từng bước hoàn thiện hệ thống. Tên gọi "Tử Vi Đẩu Số" sớm nhất được thất trong Tục Đạo Tạng, do Trương Quốc Tường, Chính Nhất thiền sư đời thứ 50 của đạo giáo, tập thành vào thời Minh Thần Tông niên hiệu Vạn Lịch thứ 35 (1607), trong đó có 3 quyển Tử Vi Đẩu Số, không rõ tác giả, căn cứ nội dung của 3 quyển Tử Vi Đẩu Số này thì đúng là thuật "Thập Bát Phi Tinh". Đầu đời Thanh, trong Tử bộ thuật số của Tứ Khố toàn thư, tổng cộng ghi nhận được 50 loại thuật số, bao gồm cả "Thập Bát Phi Tinh" và "Tử Vi Đẩu Số". Cũng chính vì vậy mà một số học giả cho rằng Tử Vi Đẩu Số là hình thức cải cách của "Thập Bát Phi Tinh" được thu thập trong Tục Đạo Tạng.

Tuy triều Minh cấm dân gian học thiên văn, nhưng cơ cấu triều đình vẫn có một cơ quan chuyên trách về khí tượng và thiên văn, gọi là "Khâm Thiên Giám", cho nên môn học thuật này vẫn phát triển trong cung đình hoàng gia. Vì nhân tố hoàn cảnh thời đại, Đẩu Số bị khoác lên một bức màn che, làm tăng vẻ thần bí của nó. Tử vi Đẩu Số bắt nguồn từ ngũ tinh thuật, do xuất phát từ Khâm Thiên Giám đời Đường ở Lạc Dương, Trung Châu, nên còn gọi là "Khâm Thiên Giám Bí Cấp".

Sách Tử Vi Đẩu Số toàn thư và Tử Vi Đẩu Số toàn tập đều đề do Trần Đoàn cuối đời Ngũ Đại sáng tác, trong dân gian thì lưu truyền thuyết Lữ Đồng Tân truyền Tử Vi Đẩu Số cho Trần Hi Di. Trần Hi Di lại mang Tử Vi Đẩu Số truyền cho các đồ đệ của mình, trong suốt mấy trăm năm, Tử Vi Đẩu Số mang hình thức bí truyền từ đời này sang đời sau, đây là một trong những nguyên nhân khiến sách Tử Vi Đẩu Số xuất hiện rất hiếm hoi.

Khoảng niên hiệu Gia Tĩnh đời Minh, La Hồng Tiên, một nhà kham dư gia ở Cát Thủy, Giang Tây, khắc in và lưu truyền sách Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư. Về sau Phan Hi Doãn, hiệu là Phụ Tử Tử ở Giang Tây, biên tập sách Tử Vi Đẩu Số Toàn Tập, và hậu thích của Phan Hi Doãn là Dương Nhất Vũ ở Quan Tây, Phúc Kiến tăng bổ.

Hiện nay hai bản TVĐS này là tư liệu hàng đầu để nghiên cứu TVĐS cổ đại, nhưng đều là bản khắc vào thời kì Đồng Trị đời Thanh. Xét về nội dung thì biết được hai bản này về đại thể thì đại đồng tiểu dị, và không phải do một người biên soạn.

Vào khoảng cuối đời Minh đầu đời Thanh, toán học và Thiên Văn Học phương tây theo các giáo sữ Mục Ni Các, Thang Nhược Vọng, Nam Hoài Nhân, v.v... truyền vào Trung Quốc. Theo đó, Tinh Tông mệnh lí học và Trạch Cát thuật lại hưng khởi, càng làm cho khoa Tử Bình hưng thịnh hơn. Khoa Tử Bình đồng thời cũng hấp thu tinh hoa của Tinh Tông mệnh lí học. Việc ứng dụng các thần sát cũng xuất hiện nhiều trong khoa Tử Bình, còn khoa Tử Vi Đẩu Số thì ít người biết đến, nên càng mang sắc thần bí.

Trước năm 1950, phương thức đoán mệnh ở Đài Loang phần lớn chỉ dùng khoa Tử Bình. Sau đó trên thị trường lưu truyền cuốn Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư, do Trúc Lâm thư cục xuất bản vào năm 1958, sách đề do Hi Di Trần đoàn trước tác, ban đầu chi làm 2 tập, về sau in gộp thành một tập.

Trong khoảng thời gian từ 1947 - 1955, toàn Đài Loan không có thêm bộ TVĐS nào khác. Mãi đến giữa tháng 2, năm 1966, Phúc Châu Xuất Bản Xã mới xuất bản Thập Bát Phi Tinh Sách Thiên Tử Vi Đẩu Số toàn tập, đề tác giả là Đại Tống Hoa Sơn Hi Di Trần Đồ Nam, người tăng bổ là Bạch Ngọc Thiềm. Chủ của bộ sách cổ này là Thiết Bản Đạo Nhân Trần Nhạc Kì.

Điều đáng chú ý là, sách này ở phần phàm lệ của tác giả đề rằng:" Tử Vi Đẩu Số truyền thế, chia ra hai phái Nam Bắc, sách này thuộc Bắc Phái, là chính thống chân truyền, ứng nghiệm vô song, còn Nam Phái là bản lưu truyền trong dân gian, do hậu nhân ngụy thác tên của Hi Di, không ứng nghiệm, là ngụy thư gạt người..."

Bản sách này tự xưng thuộc Bắc phái, thực ra so với bản Thập Bát Phi Tinh Sách Thiên Tử Vi Đẩu số Toàn Tập do Tập Văn thư cục xuất bản năm 1971, nội dung hoàn toàn tương đồng, chỉ khác là không có câu kể trên.

Giữa TVĐS toàn thư và TVĐS Toàn tập có nhiều chỗ khác biệt, như sau:

(1) Mệnh Chủ:

Trong TVĐS Toàn Thư lấy địa chi cung mệnh làm chủ. Còn trong TVĐS toàn tập thì lấy địa chi năm sinh làm chủ.

(2) Tứ Hóa:
Năm CAnh và năm Nhâm phương pháp an khác nhau. Trong quyển 2 TVĐS toàn thư, phương pháp an của năm Canh là "Nhật Vũ Đồng Âm"; nhưng trong quyển 4 thì lại có mục cổ lệ, phương pháp an là "Nhật Vũ Đồng Tướng"; phương pháp an của năm Nhâm là "Lương Vi Phủ Vũ". Trong TVĐS toàn tập, phương pháp an của năm Canh là "Nhật Vũ Âm Đồng"; phương pháp an của năm nhâm là "Lương Vi Phụ Vũ".

(3) Hỏa Tinh, Linh Tinh:

Trong quyển 2 của TVĐS toàn thư, chỉ lấy địa chi của năm sinh làm chủ, không thấy nói phải phối hợp với giờ sinh hay không; nhưng theo cổ lệ ghi trong quyển 4 thì lại thấy rất rõ ràng là không phối hợp với giờ sinh (ngoài ra, bản đầu tiên còn ghi người sinh năm Tị Dậu Sửu thì Hỏa Tinh ở cung Mão, Linh Tinh ở cung Tuất); phương pháp an trong TVĐS toàn tập là lấy địa chi năm sinh phối hợp với giờ sinh.

(4) Độ sáng của sao:

Trong quyển 2 và quyển 3 của Tử Vi Đẩu Số toàn thư có liệt kê thành 1 bảng các sao ở 12 cung có 7 cấp độ sáng: miếu, vượng, đắc địa, lợi ích, bình hòa, không đắc địa, hãm. Trong TVĐS toàn tập không có bảng liệt kê này, nhưng có "Vượng cung hãm địa cát hung chi đồ" và "Thập nhị cung Lộc Quyền Khoa Kỵ miếu vượng luận"

(5) Đại Hạn:

Trong TVĐS toàn thư, khởi đại hạn là dương nam âm nữ lấy ttru7o7co1 cung mệnh 1 cung (tức là cung phụ mẫu), đi thuận; âm nam dương nữ thì từ sau cung mệnh một cung (tức cung huynh đệ), đi nghịch. Còn trong TVĐS toàn tập, khởi đại hạn từ cung mệnh rồi mới đi thuận hay đi nghịch.

(6) Lưu niên Thái Tuế Thần Sát:

Trong Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư, lưu niên thái tuế thần sát chỉ có "Tứ Phi tinh quyết Tang Hổ Khách Phù", tức là chi an năm thần sát của "lưu niên Thái Tuế thập nhị chi Thần Sát". Trong Tử Vi Đẩu Số toàn tập, lưu niên Thái Tuế thần sát thì an 11 cát thần, 47 hung sát, tổng cộng 58 thần sát.

TVĐS toàn thư và TVĐS toàn tập đều có ghi phương pháp an lưu niên tam cát thần "Thiên Đức, Nguyệt Đức, Giải Thần", phà phi thiên tam sát "Tấu Thư, Tướng Quân, Trực Phù".

(7) Thiên Không và Địa Không:

Trong TVĐS toàn thư lấy địa chi giờ sinh đi nghịch và đi thuận để an Thiên Không, Địa Kiếp. Còn TVĐS toàn tập thì lấy Thiên Không của TVĐS toàn thư gọi thành Địa Không; còn lấy địa chi của năm sinh an một sao khác trước Thiên Không một cung. Do đó có thể biết, Thiên Không và Địa Kiếp của TVĐS toàn thư chính là Địa Không Địa Kiếp của TVĐS toàn tập; còn Thiên Không của TVĐS toàn tập khác với Thiên Không của TVĐS Toàn Thư.

Có một số sao thần sát trong hai cuốn đều có cách an và có giải thích (như Thiên Mã, Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Hồng Loan, Thiên Không, Địa Kiếp, Hóa Kị, Thiên Thương, Thiên Sứ, Thiên Hình, Thiên Riêu, Thiên Khốc, Thiên Hư); có một số sao thần sát trong 2 cuốn đều có phương pháp an nhưng không có giải thích (như Thiên Hỉ, Tam Thai, Bát Tọa, Đài Phụ, Phong Cáo, Long Trì, Phượng Các, Tiệt Không, Tuần Không); có một số sao trong TVĐS toàn thư không có, nhưng trong TVĐS toàn tập có phương pháp an (như Thiên Tài, Thiên Thọ, Thiên Quan, Thiên Phúc, Ân Quang, Thiên Quý, Cô Thần, Quả Tú, Kiếp Sát, Hoa Cái, Đào Hoa Sát, Đại Hao, Phá Toái, Địa Không).

Điều đáng ngạc nhiên là, có một số sao như Giải Thần, Thiên Vu, Phỉ Liêm, Thiên Nguyệt, Âm Sát, trong TVĐS toàn thư lẫn TVĐS toàn tập đều không có, nhưng hiện nay sách TVĐS nào cũng thấy.

Hai Bộ Sách TVĐS toàn thư và TVĐS toàn tập có một điểm chung, đó là đều đề cập đến La Hồng Tiên. Theo truyền thuyết, vào đời Minh, La Hồng Tiên từng chỉnh lí Đẩu Số, nhưng về sau sự phát triển cũng không có chứng cứ rõ ràng. Hai bản TVĐS toàn thư và toàn tập lưu truyền trong dân gian vào khoảng cuối triều Minh đầu triều Thanh, nhưng thời bấy giờ dường như ít người xem trọng TVĐS, cho nên phát triển khá chậm, trong khi đó khoa Tử Bình lại rất thịnh hành. Lúc sách TVĐS được đưa vào Đạo Tạng, Đẩu Số vẫn im hơi lặng tiếng (xét về mặt văn bản). Mãi đến năm 1911, TVĐS tuyên vi của Quan Vân Chủ Nhân (thuộc Bắc Phái) mới tái hệ thống, chú giải, bình luận TVĐS một lần nữa.

Năm 1950, xuất hiện hai nhân vật khá quan trọng trong lịch sử phát triển TVĐS, đó là Thiết Bản Đạo Nhân và Hà Mậu Tùng (cao thủ Tam Hợp Phái). Tư tưởng của một phái muốn phát huy ảnh hưởng, thu nhận môn đồ, trước thư lập thuyết là điều bắt buộc, nhưng trong số môn đồ phải có người dương danh thiên hạ mới càng quan trọng, trong 2 người kể trên, Hà Mậu Tùng lão tiên sinh đúng là có đủ 2 điều kiện này. Đại đệ tử của ông là Tử Vân, nhờ trước thư lập thuyết, nói những điều tiền nhân chưa nói, ngày nay đã trở thành nhất đại tông sư trong giới nghiên cứu đẩu số.

Trong khoảng thập nhiên 50 của thế kỷ 20, TVĐS danh gia Lục Bân Triệu (cao thủ Tam Hợp Phái) đến Hương Cảng công khai trương bảng đoán mệnh, độ chính xác khá cao khiến ông nổi tiếng như cồn, ông còn mở lớp dạy, về sau những bài giảng của ông được xuất bản với tên Tử Vi Đẩu Số Giảng Nghĩa. Trong thời kì này còn có một người nổi danh trước Lục Bân Triệu là Trương Khai Quyển, biệt hiệu "Vô Muộn Trai Chủ", với cuốn Tử vi Đẩu Số mệnh lý nghiên cứu, được Vương Đình Chi xưng tụng là cao thủ Bắc Phái.

Vào thập niên 60 của thế kỷ 20, trong giới nghiên cứu Đẩu Số ở Đài Loan xuất hiện một người tên là Trương Diệu Văn, đại tông sư của "Thái Phái". Vốn là tiến sĩ kinh tế học, vào khoảng những năm 1966 trở về trước ông ở Nhật Bản dạy học, tự xưng mình là truyền nhân đời thứ 13 của Minh Đăng phái (tức Thấu Phái). Năm 1967 ông trở về Đài Loan, mang TVĐS của Thấu Phái truyền bá tại Đài Loan. Phái Đẩu Số này có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của TVĐS ở Đài Loan giai đoạn này. Các bản dịch Đẩu Số từ tiếng Nhật sang tiếng Hán cũng dần dần xuất hiện, thời kì đầu có A Bộ Thái Sơn, về sau có Bảo Lê Minh, v.v... đều là các tác gia thuộc nhóm nghiên cứu đẩu số Đông Dương.

Đương thời, có rất nhiều bản dịch TVĐS của A Bộ Thái Sơn xuất hiện ở Đài Loan, cho nên ông khá nổi tiếng. Ông là người trong thấu phái, Đẩu Số của ông đương nhiên theo phương pháp "quá tiết khí".

Tương truyền người sáng lập Thấu Phái là một phụ nữ đời Minh tên Mai Tố Hương.

Thấu phái gọi Đẩu Số là "Tử Vi chiêm tinh thuật"; phái này thần thoại hóa các "tinh diệu", lấy bối cảnh cuộc chiến tranh giữa nhà Ân và nhà Chu thời viễn cổ, mang các nhân vật trong Phong Thần diễn nghĩa gán vào các tinh diệu. Đặc điểm của Thấu phái là vấn đề "quá tiết khí" khi khởi mệnh bàn. Đến khoảng giữa thập niên 80 của thế kỉ trước, do giới nghiên cứu Đẩu Số ngày càng tăng và càng chuyên sâu hơn, đương thời, quan điểm này của Trương Diệu Văn bị khá nhiều học giả Đẩu Số công kích. Do đó Thấu Phái Đẩu Số lưu truyền đến ngày nay ko còn như trước kia, phần lớn đều bỏ không dùng nguyên tắc "quá tiết khí".

Khoảng giữa thập niên 70 của thế kỉ trước, TVĐS ở Đài Loan dần dần thịnh hành. Trong số các nhân vật xuất hiện vào thời kì này có một người đáng được đề cập, đó là Lương Tương Nhuận, ông là lão tiền bối trong giới nghiên cứu Tử Bình, các tác phẩm về TVĐS của ông cũng rất có giá trị, phần nhiều viết chung với bà Lương Thiên Lan.

Trước năm 1981, trong giới nghiên cứu Đẩu Số còn có ba người khác nổi tiếng khác là Lục Dị Công, Khổng Nhật Xương, Chung Trực Lâm.

Có thể nói trước thập niên 80 của thế kỉ 20, TVĐS giống như đang ở trong thời kì tiềm phục, cho đến năm 1982, TVĐS tân thuyên của Tuệ Tâm Trai Chủ ra đời, giới nghiên cứu Đẩu Số mới nổi cơn sóng gió mạnh kéo dài hơn 10 năm. Trong quá trình này, nhiều phương diện bí truyền ẩn tàng của TVĐS đã được đưa ra ánh sáng.

Người gây ảnh hưởng sớm nhất ở giai đoạn này có thể nói là Tuệ Tâm Trai Chủ, tên tuổi của bà có ấn tượng rất sâu trong phần lớn độc giả ở Đài Loan và Hương Cảng. Trước năm 1980, người học Đẩu Số phần nhiều tham dự các lớp học nhỏ là chính, nhưng từ lúc Tuệ Tâm Trai Chủ bắt đầu bàn luận Đẩu Số trên báo, giống như đã thổi vào Đẩu Số một luồng sinh khí mới. Tuệ Tâm Trai Chủ đã sử dụng ngôn ngữ thường ngày dễ hiểu để giải thích Đẩu Số, khiến những điều cổ truyền khó hiểu trở thành rất dung dị. Bộ sách TVĐS tân thuyên có thể nói là rất thành công, về sau bà viết thêm nhiều cuốn khác cũng đều thành công. Sự thành công của bộ sách TVĐS tân thuyên không phải là ngẫu nhiên, nó đã làm cho độc giả thời ấy có thể tự lập mệnh bàn và tự mình phân tích từng cung. Nhưng do bà dùng cách giải đoán từng cung cho dễ hiểu, nên cũng khiến người đọc dễ hiểu lầm về kĩ thuật và quy tắc luận đoán Đẩu Số. Tóm lại, đối tượng của bà là đại chúng phổ thông, vì vậy có mặt hạn chế, không đi sâu vào sự tinh tế của Đẩu Số, nhưng cũng không phải là không có tuyệt kĩ.

Từ lúc Đẩu Số bắt đầu được xem trọng, nhiều tác phẩm Đẩu Số ra đời, thuyết của các nhà trăm hoa đua nở. Một số thì giảng giải tâm pháp cổ truyền, một số thì chủ trương Đẩu Số và Tử Bình phối hợp tham chiếu, một số thì thần bí hóa, mang Đẩu số gộp chung với tôn giáo, một số khác thì tuyên bố mình được truyền bí pháp chép tay của tiên sư, v.v... Trung số này đáng chú ý có những người sau đây:

- Ngô Tình, đáng tiếc sách của ông này hầu như đã tuyệt bản, rất khó mua trên thị trường. Ông phê bình Đẩu Số cổ truyền rất nghiêm túc. Một số đặc điểm trong sách của ông như: Phần lớn các sao nhỏ trong Đẩu Số ông đều không dùng tới, Thiên Thương và Thiên Sứ theo thuyết cổ truyền có thể đoán sinh tử, ông cho rằng chỉ hù dọa người ta; thuyết "miếu, vượng, lợi, hãm" cũng không dùng, v.v... Thuyết của ông toàn bộ trọng điểm nằm ở sự biến hóa của tứ hóa, cho rằng Hóa Lộc và Hóa Kị mới là nhân tốt quyết định. Đồng thời ông còn nhấn mạnh mình có "bí kíp ngàn năm bất truyền". Thuyết của ông ngày nay ảnh hưởng mạnh trong lưu phái Phi Tinh trong Bắc Phái TVĐS.

- Sở Hoàng, phải kể là người đầu tiên công khai phương pháp bày bố tinh bàn trên bàn tay, trước ông, các sách Đẩu Số phần lớn đều chỉ căn cứ vào "cổ quyết". Ông trước thư lập thuyết, chủ trương Đẩu Số và Tử Bình phối hợp tham chiếu, trong Đẩu Số còn ứng dụng một số nguyên lí đoán mệnh của Tử Bình. Trong thuyết tương sinh tương khắc, tác giả còn sáng tạo ra lí luận "Lạp Hoàn", dùng để giải thích vận tác giữa các tinh diệu với phép tắc bát tự, cũng được cho là thành một pháo.

- Chính Huyền Sơn Nhân, là người sáng lập ra thuyết "thiên địa nhân TVĐS", nói Đẩu Số là do "thần tiên" dạy cho ông. Chính Huyền Sơn Nhân viết rất nhiều sách Đẩu Số, trong đó nói nhiều về quá trình và tinh thần cầu đạo của ông. Chính Huyền Sơn Nhân mang các sao trong TVĐS liên hệ với chư vị tiên nhân ở trên trời, thần bí hóa TVĐS đến cực độ. Đồng thời, chủ trương "Cung can phi xuất tiên thiên tứ hóa tinh".

- Phan Tử Ngư trương bản đoán mệnh khá sớm, học trò rất đông, trước tác cũng không ít, phải kể là rất thịnh hành một thời. Đặc sắc trong các trước tác Đẩu Số của ông là lời đoán mệnh phán như đinh đóng cột.

- Tử Vân là học trò của Hà Mậu Tùng, một cao thủ Tử Vi Đẩu Số thời kì đầu. Năm 1987, ông xuất bản cuốn Đẩu Số dữ nhân sinh, làm chấn động giới nghiên cứu Đẩu Số ở Đài Loan và Hương Cảng. Trong cuốn Đẩu Số dữ nhân sinh, Tử Vân tự thuật quá trình nghiên cứu Đẩu Số của mình, và thuyết minh quan điểm của ông về tính chất và ứng dụng của 12 cung. Trong thời gian này, sách Đẩu số liên tục được xuất bản với số lượng lớn, nhưng phần nhiều chẳng có cống hiến gì. Riêng sách của Tử Vân tiên sinh được cho là đã bổ sung những chỗ trống trong Đẩu số cổ truyền. Ngày nay trong giới nghiên cứu Đẩu Số, người được tôn là bá chủ về phương diện kĩ thuật luận đoán chính là Tử Vân tiên sinh. Nhất là vào năm 1990, trong Đẩu số luận hôn nhân, Tử Vân tiên sinh đã đưa ra thuyết "Thái Tuế nhập quái pháp" và nguyên tắc "Tương khê", đã giải quyết vấn đề kĩ thuật mà cả trăm năm nay không cách nào giải thích, nhờ vậy cũng đã giải quyết chỗ khiếm khuyết trong bộ Hiện đại Tử Vi của nhóm Liễu Vô Cư Sĩ. Thuyết này đã biết Đẩu Số thành một phương pháp chỉ ra xu thế và phương hướng của mệnh vận; từ đó Đẩu Số có cách để phân biệt những người sinh ra cùng một giờ có mệnh vận khác nhau. Đây đúng là một bước đột phá trong lịch sử phát triển TVĐS.

Vai trò của Tử Vân tiên sinh rất quan trọng trong hệ phái Tam Hợp. Về cơ bản, phương pháp luận Đẩu Số của ông cũng tương tự như Vương Đình Chi, lấy truyền thống làm chính tông, làm khung giá cho phép luận đoán, lấy bối cảnh thực tế để diễn giải, tổng hợp cổ kim, và rất chú trọng phương diện tâm lí, sinh lí, nhân tính để ứng dụng trong luận đoán.

Trước năm 1989, Tử Vân đã cho ra đời bộ Đẩu Số luận danh nhân, các sách này đã gây sự chú ý trong giới nghiên cứu Đẩu Số, va đã có uy danh. Năm 1990, trong lúc thị trường chứng khoán của Đài Loan đang từ thịnh chuyển thành suy, phong trào đầu tư vào cổ phiếu bị giảm mạnh, Tử Vân lại hoàn thành cuốn Đẩu Số luận cầu tài, sách này đưa ra phương pháp luận đoán mới, bổ sung phép đoán của tiền nhân, cho rằng, hễ tiền có được nhờ đầu cơ hay đầu tư, cần phải xem cung phúc đức. Tức là, tiền kiếm được không do sức lực hay trí lực của bản thân thì không xem ở cung tài bạch. Trong cuốn đẩu số luận hôn nhân, về phương diện lí luận và thực tế luận đoán của Đẩu Số, đều có sự phát triển mang tính đột phá.

Ngày nay, địa vị của Tử Vân trong giới nghiên cứu Đẩu Số ở Đài Loan được xếp ngang hàng với Vương Đình Chi của Trung Châu Phái ở Hương Cảng. Học trò của ông cũng rất đông, trong số đó nổi tiếng nhất là Liễu Vô Cư Sĩ và Tuệ Canh. Ngày nay ở Đài Loan tên tuổi Liễu Vô Cư Sĩ cũng khá lớn.

Trong số những người còn lại phải kể đến Khôn Nguyên và Vu Ngoan Dã Nông, thực ra đây chỉ là một người, "Vu Ngoan Dã Nông" là biệt danh mà sau này ông ít dùng đến. Khôn Nguyên có nhiều bút danh như Hoàn Hữu Thủy Ngân, Lam Thần, Trịnh Giả Học. Trước tác Tử Vi Đẩu Số của ông có bộ Tử Vi Đường Áo khá nổi tiếng.

Kế đến là Phál Quảng Cư Sĩ và Nam Bắc Sơn Nhân, trong hai người thì Pháp Quảng Cư Sĩ trước tác nhiều hơn, ông có một bộ tùng thuy Truy Tung Chính Thống Đẩu Số, khá thịnh hành vào thời điểm đó, hơn nữa còn có tính liên tục khá mạnh, kéo dài cho đến ngày nay. Còn Nam Bắc Sơn Nhân, tên thật là Đồng Bành Niên, đương thời lấy danh nghĩa "Chính Tông Bác Phải TVĐS" để đoán mệnh, tác phẩm xuất bản không nhiều, chỉ có một quyển Chính Tông TVĐS toàn thư mà thôi.

Bắt đầu từ năm 1984, TVĐS bước vào thời đại mới, có thể quy công cho một nhóm người, trong số đó có 2 nhân vật trung tâm là Hoàng Trung Lâm, và Chu Vi. Nhờ nỗ lực của họ, Đẩu Số hiện đại hóa dần dần rõ nét, lí thuyết mệnh lí mang tính khoa học bắt đầu được xây dựng. Hoàng Trung Lâm có bút danh là Liễu Vô Cư Sĩ, vốn là một kí giả, về sau ông nghiên cứu mệnh lí và bắt đầu viết sách đẩu số vào năm 1981. Năm 1984 ông viết cuốn Tử Vi luận mệnh, làm cho ông có tiếng nói trong giới nghiên cứu đẩu số. Cuốn sách này khá thành công, sau đó trong khoảng thời gian từ năm 1985 đến 1986 ông đã hoàn thành bộ sách quan trọng 7 quyển là Hiện đại tử vi, đây là bước đầu tiên quan trọng trong công cuộc hiện đại hóa Đẩu Số.

Nội dung cuốn Tử Vi luận mệnh chủ yếu là phê phán các tác phẩm của các đại sư thời đó, và từ những luận chứng của mình, tác giả đã đưa ra quan niệm và kĩ thuật luận mệnh mới. Đương nhiên lúc đó các đại sư cũng phản kích dữ dội. Sau cuốn TV mệnh luận, LVCS trở thành nhân vật ưu tú mới trong giới nghiên cứu Đẩu Số. Nhờ phương pháp luận và mô thức khảo cứu hiện đại, Liễu Vô Cư Sĩ còn được coi là nhân vật trí thức phát biểu về mệnh lý truyền thống.

Bộ hiện đại tử vi ra đời từ năm 1985 đến 1986, tổng cộng gồm 7 tập. Về tác giả, ngoài Liễu Vô Cư Sĩ, còn có giáo sư Hứa Hưng Trí, thuật sĩ Tuệ Canh, Quách tiên sinh, Tượng Sơn Cư Sĩ, Phi Vân Cư Sĩ,...

Trong bộ hiện đại Tử Vi (HĐTV) có một phần gọi là "Tử Vi quảng trường", tức là phần đăng thư do độc giả gửi đến và giải đáp của các tác giả, đây cũng là một sáng kiến, và cũng là nhân tố khiến bộ sách này có sức ảnh hưởng khá lớn vào lúc đó. Bộ HĐTV mỗi tập đều có đặc sắc, nhất là tập 7, có nhiều quan niệm đáng chú ý. Điều đáng được nhắc đến là nỗ lực hiện đại hóa Đẩu Số của bộ sách này. Trong đó đưa ra quan điểm cần nhấn mạnh tính thời đại trong việc tìm hiểu bản chất của Đẩu Số. Một số vấn đề khác còn đợi sự nỗ lực của hậu học. Phương hướng của phái Hiện Đại là sử dụng logic để khảo nghiệm mệnh lý, từ đó xác nhận khả năng và chỗ hạn chế của đẩu số, đây là bước tiến lớn trong việc hiện đại hóa đẩu số. Vì trước đó, quan niệm của người luận mệnh đẩu số là: bất kể sự tình nào cũng đều có thể dựa vào mệnh bàn mà đoán ra, dù mệnh tạo có quan hệ với người khác hay không. Nhưng trong bộ HĐTV lại phủ định nguyên tắc bành trướng này, chủ trương rằng, đối với những sự vật mà bản thân mình có thể quyết định được, Đẩu Số mới có thể luận đoán, nếu mệnh tạo không có quan hệ gì với người khác thì không cách nào luận đoán, trừ phi ở trong mối quan hệ với họ. Đây là thành tựu lớn của bộ Hiện Đại Tử Vi, tuy chỉ hoàn thành một nửa trước. Về nửa sau liên quan đến "điều kiện ở trong mối quan hệ" thì phải đợi sư phụ của ông là Tử Vân giảng giải.

Vào tháng 3 năm 1985, trong giới nghiên cứu Đẩu Số xảy ra một sự kiện lớn, đó là sự xuất hiện của bộ sách "thiên cổ bí cấp" gọi là Hoa Sơn Khâm Thiên Tứ Hóa Tử Vi Đẩu Số phi tinh bí nghi, là bí truyền của Tố Tâm Lão Nhân truyền lại cho Sái Minh Hoành. Sự xuất hiện của nó tạo thành một trào lưu cực lớn về sau, ban đầu được rao bán trên tạp chí Tinh tướng với giá một vạn năm ngàn nguyên (đơn vị tiền tệ của Đài Loan), sau giá nâng lên tới ba trăm vạn nguyên.

Phi Tinh phái là một chi của Bắc phái TVĐS cũng nổi rộ lên trong thời kì này, hiện đang rất thịnh hành ở Đài Loan và Trung Quốc lục địa. Đại biểu nổi tiếng hiện nay là Lương Nhược Du mà sự phụ của Lương Nhược Du là Chu Thanh Hà, một cao thủ tiền bối của Phi Tinh Phái, nội dung TVĐS của phái này sẽ được trình bày đầy đủ trong Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tứ Hóa Phái của cùng tác giả Nguyễn Anh Vũ.

Có nhiều người cho rằng TVĐS Phi Tinh phái là do người cận đại phát minh. Sở dĩ có sự hiểu lầm này, là do họ cứ nghĩ rằng TVĐS phi tinh bí nghi của Sái Minh Hoành là căn nguyên Phi Tinh phái. Rất nhiều người cho rằng TVĐS của Phi Tinh phái là do Sái Minh Hoành tự sáng chế ra.

Thực ra, trước khi TVĐS phi tinh bí nghi lưu truyền rộng rãi, lí luận TVĐS của Phi Tinh phái đã xuất hiện từ lâu. Vả lại, Phi Tinh Phái cũng có nhiều phân chi, Sái Minh Hoành cũng là một chi phái trong số đó, nhưng là phái được nhiều người biết đến vào thời kì này.

Ngoại trừ các bậc tiền bối như Ông Phúc Dụ, Phương Ngoại Chân, Từ Tăng Sinh, và Lương Nhược Vọng (học trò Sái Minh Hoành)... còn có một số người ít ai biết đến ở Trung Quốc lục địa, nhưng cũng là cao thủ truyền dạy theo truyền thống Bắc Phái Phi Tinh. Ngay như ở Đài Loan, chỉ nói số đồng môn cùng lứa với Sái Minh Hoành, ít nhất cũng có năm người. Hơn nữa, Sái Minh Hoành trong quyển 1 của Khâm Thiên tứ hóa TVĐS phi tinh bí nghi cũng có nói, "bí nghi" là do ông tập đại thành truyền thống Phi Tinh TVĐS. Cho nên, phải nói "bí nghi" là sở học của ông được truyền thừa mới đúng. Ví dụ như "Phi Tinh chuyển yết quan quyết" trong Khâm Thiên tứ hóa TVĐS phi tinh bí nghi (Phan Tử Ngư gọi là "Phi Yến Quỳnh Lâm", ông được bí truyền từ TQ lục địa) đã lưu truyền rộng rãi trước khi "bí nghi" xuất hiện, rất nhiều phái xem nó là "bí bảo".

Tử Vi đẩu số của bắc phái Phi Tinh (hay còn gọi là Tứ Hóa Phái) có nhiều truyền thừa khác nhau, lí luận của các chi hệ đều đại đồng tiểu dị. Đương nhiên, trong đó cũng có xuất hiện tư duy mới. Như "Đồng bộ đoán quyết" của Phương Ngoại Nhân chính là phát hiện độc đáo, nhưng nếu nghiên cứu tỉ mỉ nội chung của nó, chúng ta sẽ phát hiện kết luận của Phương Ngoại Nhân không tách rời lí luận cơ bản của Bắc Phái Phi Tinh, Phương Ngoại Nhân cũng nói thẳng, "Đồng bộ đoán quyết" chỉ là suy luận ra từ nền tảng truyền thống, chứ không phải là phát minh nguyên lý gì.

Tử Vi Đẩu Số đang trong giai đoạn hưng khởi, sự xuất hiện một nguồn tư liệu mới đã gây thêm hứng thú cho giới nghiên cứu Đẩu Số. Truyền thống Bắc Phái Phi Tinh đặc biệt ở chỗ vận dụng tứ hóa khác với truyền thống của Tam Hợp Phái. Phái này cho rằng sau khi lập xong mệnh bàn tiên thiên, trong 12 cung đều có thiên can riêng, thiên can của cung mệnh ngoại trừ dùng để tương phối với địa chi (nạp âm) để tính toàn bày bố 14 chính tinh, nó còn được dùng để bày ra một bộ tứ hóa, như vậy mệnh bàn tiên thiên sẽ thêm một tầng biến hóa, việc luận đoán cũng theo đó mà thâm sâu hơn. Càng tinh vi hơn là, không phải chỉ có cung mệnh phi xuất một bộ tứ hóa, mà 11 cung còn lại cũng vậy.

Trước tác của các cao thủ nổi tiếng trong Bắc Phái Phi Tinh gồm có Sái Minh Hoành, Tử Dương, Từ Tăng Sinh, Phương Ngoại Nhân, Khuyến Học Trai Chủ, Lương Nhược Du,v.v... đều có cống hiến đã kể. Phương pháp luận mệnh của họ khá phức tạp, nếu có điều kiện các bạn nên tìm hiểu trong Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tứ Hóa Phái của cùng tác giả Nguyễn Anh Vũ.

Cũng trong khoảng thời gian này Vương Đình Chi xuất hiện và tự xưng mình là truyền nhân của phái Trung Châu, công nhận Tử vi Đẩu Số Giảng Nghĩa của Lục Bân Triệu là truyền bản của Khâm Thiên Giám Bí Cấp, và tiết lộ nội dung bí truyền Tử Vi Tinh Quyết của môn phái Trung Châu. Ảnh hưởng của Vương Đình Chi khá lớn ở Hương Cảng, về sau lan rộng qua Đài Loan, Singapore, Bắc Mĩ, v.v... kéo dài cho đến ngày nay. Phương pháp luận mệnh của ông là nội dung chủ yếu của bộ Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái mà chúng tôi biên soạn để giới thiệu đến bạn đọc ở đây.

Nhờ sự thành công của bộ Hiện Đại Tử Vi, một số tác giả cũng bắt đầu viết sách, như Đường Sơn Dật Sĩ, Tuệ Canh, v.v... Trong số đó, các công trình của Tuệ Canh Thuật Sĩ là có ảnh hưởng nhất. Tác phẩm của Tuệ Canh là Tử Vi Đẩu Số khai vận toàn tập, trong đó quan niệm và ứng dụng của 12 cung, cho tới tính chất các tinh diệu đều được ông giảng giải rất tinh tế. Đây là sự kiện xảy ra sau năm 1988.

Cũng trong khoảng thời gian này, có một số học giả mới cũng trước thư lập thuyết, trong đó cũng có vài người đáng chú ý, như Ngô Đông Tiều trong Đẩu số tân quan niệm, Trần Thế Hưnh trong Tử Vi Đẩu Số đạo luận, Phúc Canh trong Đẩu Số tâm lí học, Tượng Sơn Cư Sĩ trong Thiên Tinh Đẩu Số bí cấp và Thiên Tinh Đẩu Số chân cơ điển phạm. Nhưng sách này phần lớn thảo luận về đặc tính cơ bản của tinh diệu và các cách cục, cũng có thành tựu.

Trong thời gian này, Liễu Vô Cư Sĩ mang Tử Vi Đẩu Số tuyên vi và Tử Vi Đẩu Số toàn tập ra chú giải; sau đó ông còn đem hết tâm lực ra để hệ thống hóa phương pháp Đẩu Số của mình, lúc này Liễu Vô Cư Sĩ đã dần dần có những quan điểm khác với sư phụ của mình là Tử Vân. Ông đề xuất một số điều, ví dụ như: Bỏ Lộc Tồn, Thiên Mã và các sao cấp 2; ông còn đề xuất: phế bỏ Hóa Quyền và Hóa Khoa, tứ hóa chỉ còn Hóa Lộc và Hóa Kị; ngoài ra còn có một số nguyên tác "khoa học thích dụng tính".

Lúc này TVĐS lộ rõ sức quyến rũ của nó. Ngày nay, có thể nói TVĐS chia thành hai dòng chính:

- Một là, chủ yếu lấy tinh diệu để luận đoán, gọi chung là Tam Hợp Phái (hay Nam Phái). Trong số các chi lưu thuộc Tam Hợp Phái, thì phái Trung Châu Vương Đình Chi là có hệ thống hoàn bị nhất.
- Hai là, chủ yếu lấy "tứ hóa" để luận đoán, gọi chung là Tứ Hóa Phái (hay Bắc Phái). Trong số các chi lưu thuộc hệ phái Tứ Hóa, thì Khâm Thiên Môn là có hệ thống nghiêm cẩn nhất.

Riêng tại Trung Hoa lục địa, trào lưu nghiên cứu thuật số nói chung, TVĐS nói riêng, cũng khá rầm rộ. Các lưu phái Tử Vi Đẩu Số ở đây phần lớn đều có khuynh hướng tổn hợp hai dòng chủ lưu kể trên. Đáng kể nhất có:

- Tử Vi phái do Vũ Quảng Thịnh sáng lập, chủi trương dung hợp tinh hoa của các phái hệ, với nguyên tắc "Đơn giản và trực tiếp thâm nhập chủ đề". Lí luận đẩu số của ông rất có giá trị tham khảo.

- "Kì Môn Phái", đại biểu hiện nay là Đại Đức Sơn Nhân với bộ Tử Vi Đẩu Số tinh thành, v.v... Ông chủ trương lấy các nguyên tắc của bản môn làm nền tảng, và cũng dung hợp tinh hoa của các phái để luận đoán.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sơ lược về lịch sử Tử Vi Trung Hoa nói chung và Trung Châu phái nói riêng

Tướng người mắt lồi –

1. Thế nào là tướng mắt lồi – Dạng mắt có mí trên dày và sụp xuống rõ rệt làm cho nhãn cầu lồi ra. – Mắt lồi nhưng có mí trên và mí dưới đều dày, tạo thành 1 vòng tròn quanh mắt thì được gọi là “viên nhãn” 2. Tính cách của người phụ nữ có tướng mắt
Tướng người mắt lồi –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tướng người mắt lồi –

Cửa thông luôn

Trong Phong Thủy cửa thông luôn là cần thiết. Đặt cửa thất cách gây hậu quả xấu và sự lục đục trong nhà chủ nhân. Cửa thông luôn ngay hàng với nhà thường là tốt và mở ra hông xếp lên nhau. Tuy nhiên tránh làm phòng tắm cửa đôi. Điều này làm người nhà nhà mắc bệnh dọc theo đường giữa cột sống và giữa vùng bụng truớc (theo mạch Nhâm, Đốc) từ đó sức khỏe và tiền bạc đội nón ra đi.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Các chữa: Treo gương trên hai cánh cửa nhìn ra lối đi.

Nếu cánh cửa chính đối thẳng với cửa hậu thì vượng khí vào rồi ra đi quá nhanh khiến cho nhiều cơ hội đến rồi tuột khỏi tầm tay người trong nhà. Khoảng cách hai cửa này càng ngắn thì càng làm cho hoàn cảnh thêm khó khăn – mà khoảng cách càng xa thì càng tốt hơn vì điều này tạo cơ hội cho sự vận hành của khí.

Cách chữa: treo khánh, cây kiểng hoặc thủy tinh cầu nhằm tán khí và rải cơ may đều khắp trong nhà

Nắm vặn cửa đụng nhau như nghiến răng óc thể gây xung đột trong nhà.

Cách chữa: để chữa hết lời qua tiến lại thì hoặc là sơn một chấm đỏ ngang tầm mắt trên nhai cánh cửa hay làm cách thế này cột một băng lụa đỏ dài khỏang 50cm đến 80cm vào từng nắm vặn cửa rồi cắt đi nửa băng.

Hãy coi chừng cửa đối diện thông luôn cho hơi lệch đi một chút. Nó có thể gây trở ngại cho sức khỏe, sự nghiệp và gia đình. Cách xếp đặt nguy hiểm này coi như “vết cắn trộm” và làm lây tính các này sang người trong nhà. Góc các khung cửa sắc như dao cũng ảnh hưởng xấu đến người nhà.

Cách chữa: treo một vật dùng trang hoàng ngay tầm mắt, nơi bắt mắt ở khung cửa.

Nếu một cửa ra vào lớn hơn cửa đối diện, nó có thể tốt hơn hay xấu tùy theo trường hợp. Tốt nếu cửa lớn mở vào phòng rộng như phòng ngủ hay phòng khách. Còn cửa nhỏ hơn cho nhà kho hay phòng tắm. Nhưng nếu cửa lớn hơn mở vào nhà bếp hay nhà kho và cửa nhỏ hơn mở ra phòng ngủ thì xấu vì như người Trung Hoa nói rằng: “lớn nuốt nhỏ”. Khí của nhà bếp, phòng tắm hay nhà kho sẽ tràn ngập khí phòng ngủ, như thế sinh họat ở nhà sẽ giảm sút đi. Ví dụ cửa ra vào lớn hơn mỡ ra phòng tắm làm phí thì giờ và thường gây ra những bệnh ở vùng bụng. Người nhà này có thể bị những rối lọan về tiêu hóa hay bàng quang, hay đi khỏi nhà và tốn nhiều thì giờ sửa sọan ra đi. Nếu cửa lớn hơn mở ra nhà kho, người trong nhà sẽ có khuynh hướng để thì giờ lo trang điểm. Nếu cửa lớn hơn mỡ ra nhà bếp, người ở nhà sẽ bị ám ảnh với nấu nướng, đồ ăn và đồ uống.

Cách chữa: Treo một cái gương rọi lên cửa lớn hơn để chiếu vào phòng ngủ, như thế cả hai cửa ra đường như dẫn đến phòng ngủ.

Để cho nhà cửa và văn phòng có sự hòa điệu, một tình trạng khác cần tránh là một hành lang nhỏ có nhiều cửa ra vào. Mỗi cửa biểu hiện cho một cái mồm khác nhau với tiếng nói riêng của nó. Để tránh cho nguời nhà khỏi cãi cọ tai tiếng ta treo những gương soi trên cửa ra vào hay đặt đèn cho sáng sủa hoặc treo khánh trên cao.

Một cửa ra vào ở cuối hành lang dài sẽ làm sức khỏe người nhà nguy hiểm, lại thêm các chứng rắc rối về đường tiêu hóa sẽ gây ra vì dòng khí di chuyển nhanh, thổi tuột trên tuờng làm cho người nhà cảm thất bứt rứt khong yên tác động vào thần kinh và sự tiêu hóa của người ta và làm cho họ dễ nổi giận.

Một cửa ra vào ở cuối hành lang cũng gây nên tử vong và có thể cản trở dịp may mắn, thăng tiến trong nghề nghiệp làm ăn.

Cách chữa: treo gương soi trên cửa đó hay trên tường để chuyển hướng dòng khí mạnh và để tạo tầm nhìn dài hơn, nhờ thế người trong nhà có ấn tựong và hy vọng vào sự thăng tiến. Không treo gương thì họ sẽ không có đường tiến. hành lang phải gây thoáng cho khí vận hành và thóang cho tương lai người ở đó.

Theo tập quán người Trung Hoa tránh đặt ba cửa ra vào và cửa sổ hay nhiều hơn nửa trong một loạt nối tiếp nhau (cửa sổ thì tưong đối không có vấn đề như cửa ra vào). Những sự dị đoan cho rằng khí bay thành hàng thẳng; vì thế màn che đựơc dùng để cản lai các ảnh hưởng độc hại.

Căn bản thì dãy ô cửa sắp thành hàng thẳng; vì thế màn che được dùng để cản lại các ảnh hưởng độc hại. Căn bản thì dãy ô cửa sấp thành hàng tạo ra đường lưu chuyển khí quá nhanh. Do cản trở khí của người trong nhà, làm hại sức khỏe, sự tưong quan cá nhân và hòa hợp nội tại của họ. những người này có thể bị đưa dọc theo mạch nhân và đốc, vùng bụng và lưng, thông thường thì có những vấn đề trong hệ tiêu hóa và ruột non.

Dòng khí lưu chuyển nhanh cũng có thể làm thành một hàng rào chắn vô hình và gây ra các liên hệ căng thẳng ở nhà hay ở nơi làm việc để chặn đứng dòng khí lưu chuểyn quá nhanh hãy treo khánh hay trái thủy tinh cầu để làm tán khí.

Kích thước cửa là điều quan trọng. một cửa ra vào phải tương đương vừa cỡ so với căn nhà hay kích thước từng buồng. Một cửa tương đối nhỏ sẽ họat động như một cái mồm hay một rốn hơi nhỏ mà nó không đủ chỗ cho khí tốt đi vào và luân chuyển vì thế nó làm giảm sút sức khỏe, thịnh vượng và hạnh phúc của người trong nhà.

Cách chữa: treo một ấm gường bên trên hay cả hai mặt cửa ra vào để tạo ra chiều cao rộng hơn.

Nếu một cửa ra vào quá rộng ở trong nhà hay trong phòng thì khí sẽ tràn ngập vào phòng cho nên của cải và dịp may có vào bao nhiêu đi nữa thì người trong nhà đó cũng không thể giữ đựơc của

Cách chữa: Sơn phản màu sậm phòng tiền sảnh như đen, xanh sậm, nâu, tím v.v... hay đặt một vật nặng nơi cửa vào nhưng không gần cửa quá.

Tỉ lệ cửa ra vào và cửa số thì cũng được xem xét kỹ vì nó ảnh hưởng đến họat động trong gia đình. Cửa ra vào đại diện cho miệng mồm của cha mẹ. Cửa sổ cho tiếng nói của các con. Nếu cửa sổ nhiều hơn cửa ra vào với tỉ lệ ba trên một thì sẽ gây ra tranh cãi vì quá nhiều ý kiến, con cái hay cãi lời cha mẹ. Tương tự như thế nếu cửa sổ tỏa rộng hơn cửa ra vào thì trẻ con có khuynh hướng coi thường sự chỉ bảo, kỷ luật của cha mẹ. một cửa sổ lớn rộng với những ô nhỏ thì được.

Cách chữa: để tạo sự hòa hợp trong gia đình treo một cái chuông hay khánh nhạc gần cửa ra vào như thế khi mở cửa thì tiếng nói của cha mẹ sẽ được nghe thấy rõ ràng.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cửa thông luôn

Luận về Dịch Mã

Dịch Mã chỉ là một phụ tinh nhưng lại đóng những vai trò khá quan trọng trong một lá số. Có thể nói từ lá số của một bậc quân vương, một danh tướng, một thương gia, hay một người bình dân mà đến thời điểm nào đó trong cuộc đời tạo dựng được những công danh sự nghiệp cho mình thì hầu như lá số của họ không thể không có sự góp phần của Thiên Mã. Lý do thật đơn giản vì Thiên Mã là biểu tượng của tài năng. Bởi vậy, một lá số mà cung Mệnh và cung Thân có Thiên Mã tọa thủ gọi là cách Dịch Mã.
Luận về Dịch Mã

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Người ta thường cho rằng Thiên Mã thuộc hành Hỏa và trong 12 cung của lá số Thiên Mã chỉ đóng ở 4 cung là Dần, Thân, Tỵ, Hợi, và chỉ đắc địa ở hai cung Dần và Tỵ mà thôi. Trong khoa Tử Vi, Thiên Mã là biểu tượng của chân tay, hoặc phương tiện di chuyển như xe cộ, tàu bay, tàu hỏa…Đặc tính chủ yếu của người Dịch Mã là tính năng động, tháo vác, đảm đang, quán xuyến, thích di chuyển, thích tranh cãi, hay thay cũ đổi mới…Vởi những đặc tính ấy cho nên Thiên Mã không chỉ ảnh hưởng ở hai cung Mệnh và Thân mà nó còn tác động mạnh mẽ vào các cung chính như Quan Lộc, Thiên Di…là những lãnh vực của công danh và sự nghiệp. Tuy nhiên khi nói đến mẫu người Dịch Mã, chúng ta phải hiểu rõ ý nghĩa của chữ “dịch” là xê dịch, chuyển đổi, di chuyển, biến động… do đó cũng có người cho rằng hành của Thiên Mã thay đổi theo hành của cung mà Thiên Mã tọa thủ. Có nghĩa là, khi Mã tọa thủ ở Dần (hành Mộc) thì Mã ứng với người mạng Mộc và Hỏa. Ở cung Tỵ thì Mã ứng cho người mạng Hỏa và Thổ. Khi ở cung Thân thì Thiên Mã ứng với người mạng Kim và Thủy…v.v. Nhu vậy, khi hành của Thiên Mã ứng hợp với hành của Mệnh thì đương số là người có tài năng và có hoàn cảnh cơ hội để thi thố hết tài năng của mình. Còn ngược lại thì tuy có tài, có nghị lực nhưng cuộc đời lại không được những vận hội may mắn, không được đời biết đến khiến cho tài năng phải bị mai một như một kẻ sinh bất phùng thời.

Người có Mệnh an ở hai cung Dần Thân có Tử Phủ và Thiên Mã tọa thủ đồng cung gọi là cách Phù Dư Mã, là ngựa kéo xe cho Vua chỉ những người có tài năng, giữ những chức vụ cố vấn, phụ tá cho các cấp chỉ huy của một đơn vị quân đội, hay giám đốc của một cơ sở hành chánh, thương mại…Hoặc cũng có thể là những người không giữ một chức vụ gì chính thức nhưng ra đời thường được kề cận với những người có quyền thế trong xã hội.

Người có Thiên Mã thủ Mệnh và có Nhật Nguyệt đồng cung hay hợp chiếu là cách Thư Hùng Mã. Một đôi ngựa tốt, chỉ người văn võ song toàn, nhưng cách này thường phát về văn nghiệp hơn là võ nghiệp. Đây là mẫu người có kiến thức sâu rộng, có trình độ học vấn, có năng khiếu về các ngành như ngoại giao, chính trị, văn học và nghệ thuật. Nếu đã đi vào những lãnh vực vừa nêu trên thì mẫu người Thư Hùng Mã này sẽ đạt được những công danh sự nghiệp một cách dễ dàng, và có người có thể thành công trên cả hai lĩnh vực cùng một lúc. Chẳng hạn họ có thể là một nghệ sĩ nổi danh lại vừa giàu có nhờ làm thương mại. Người Thư Hùng Mã có khả năng song thủ hỗ bác tương tự như người có Thân cư trong tam hợp Phúc, Di, và Phu Thê. Người có Thiên Mã gặp Lộc Tồn đồng cung là cách Chiết Tiễn, có nghĩa là bẻ roi đánh ngựa, giục ngựa lên đường, chỉ người có tài. Khởi sự làm gì cũng được may mắn thuận lợi. Nếu Thiên Mã ở Mệnh có Lộc Tồn ở Thiên Di xung chiếu thì đây là cách Lộc Mã Giao Trì, ngựa ăn cỏ trên cách đồng xanh, là người được vận hội may mắn, được thừa hưởng những công lao thành qủa của người khác làm. Và theo ý nghĩa của Lộc Tồn là lộc trời cho, nên cả hai cách vừa nêu trên cũng chỉ những người trở nên giàu có nhờ trúng số, hoặc được thừa hưởng tài sản của ông bà, cha mẹ để lại. Người có Lộc Mã mưu sự chuyện gì hãy nên mạnh dạn vì thường được may mắn.

Người có Thiên Mã thủ Mệnh gặp Hỏa Tinh hay Linh Tinh là Chiến Mã, ngựa xuất trận. Cách này chỉ người có tài năng là thường là phát về võ nghiệp nếu gặp một lá số tốt. Đây là số của những quân nhân được thăng cấp rất nhanh chóng. Tuy nhiên cách Chiến Mã này tiềm tàng những tai họa về chân tay như thương tật hay tàn khuyết nếu không có những cách hóa giải. Nếu đủ bộ Mã Hỏa Linh thì có thể tay chân bị tê bại từ nhỏ, hoặc bị bại liệt do các chứng bệnh khác đưa đến như bị tai biến mạch máu não, tiểu đường .v.v…

Người có Thiên Mã thủ Mệnh gặp Thiên Khốc, Điếu Khách là cách Mã Khốc Khách, có nghĩa là ngựa đeo lục lạc vàng, chỉ những người có tài năng, có danh tiếng trong một lãnh vực nào đó. Hạn gặp Mã Khốc Khách thì vận hội may mắn đã đến, là thời điểm mà danh tiếng của mình được người đời biết đến. Đối với một lá số trung bình thì đương số cũng gặp được những cơ hội may mắn như được cấp trên giao phó công việc và được tín nhiệm hay thăng thưởng do khả năng và những thành qủa tốt đẹp của mình. Người có Thiên Mã thủ Mệnh gặp Phi Liêm đồng cung hay xung chiếu gọi là cách Phi Mã, là ngựa có cánh bay như trong truyện thần thoại của Hy Lạp, ý nghĩa cũng tương tự như Mã Khốc Khách, chỉ người có tài năng và được nhiều may mắn, làm việc gì cũng thành chông dễ dàng và nhanh chóng. Hạn gặp Phi Mã là có sự thay đổi, hoặc di chuyển. Nếu khởi sự một điều gì trong hạn này thì chớ có ngần ngại vi Phi Mã đáo hạn là thời cơ đã đến. Người có cách Phi Mã thường thích hợp với những công việc đi đây đi đó, cuộc đời là những chuyến hành trình không dứt.

Thiên Mã thủ Mệnh gặp Thiên Hình đồng cung là cách Phù Thi Mã, là ngựa kéo xe tang. Người có cách này suốt đời cực khổ, làm việc gì cũng khó khăn trắc trở, thành ít bại nhiều, và thường gặp toàn những chuyện xui xẻo, đau thương, buồn khổ, tang tóc triền miên. Hạn gặp Mã Hình thì phải hết sức thận trọng trong mọi việc, vì những gì sẽ đến trong thời gian này chỉ là những chuyện buồn hoặc ngoài sự mong đợi của mình. Thiên Mã thủ Mệnh gặp Đà La đồng cung gọi là Mã Đà hay Chiết Túc Mã. Có ý nghĩa là ngựa què, chỉ những người không được may mắn, hay gặp khó khăn trắc trở. Cuộc đời nhìn chung toàn là những lao đao lận đận. Cùng là một việc, người khác làm thì thuận lợi may mắn, mình làm thì khó khăn, trở ngại. Bởi vậy trên phương diện dùng người, thì giao một công việc cần có kết qủa sớm, hay một kế hoạch quan trọng cho người có số Mã Đà hay đang trong vận Mã Đà thì đây là một quyết định từ sai lầm đến mạo hiểm của người có trách nhiệm.

Thiên Mã thủ Mệnh gặp Tuyệt đồng cung, gọi là Mã Tuyệt hay Cùng Đồ Mã. Có nghĩa là ngựa chạy đến đường cùng, chỉ người làm việc thường thất bại, cuộc đời thường lâm vào cảnh bế tắc. Tương tự nếu Mã thủ Mệnh gặp tuần triệt, gọi là Tử Mã, nghĩa là ngựa chết, ngựa vô dụng, ý nghĩa và tai họa còn nặng hơn Cùng Đồ Mã.  
 
Thiên Mã là một trong những lưu tinh (sao lưu) khi xem hạn. Có nghĩa l2 vị trí của Thiên Mã sẽ thay đổi theo mỗi năm và gọi là Lưu Thiên Mã. Đó cũng là ý nghĩa thứ ba của chữ “Dịch” khi gọi Thiên Mã là Dịch Mã.

Khi xem hạn, nếu thấy Thiên Mã và Lưu Thiên Mã đồng cung, xung chiếu hay hợp chiếu thì những điều sau đây sẽ xảy đến trong vận hạn: mua xe, đổi xe, đổi chổ ở, đổi việc làm, đi du lịch v.v…Có thể chỉ xảy ra một sự việc mà thôi. Ví dụ: nếu đã đổi chổ ở thì sẽ không thay đổi việc làm, đi xa v.v… Nhưng cũng rất có thể xảy ra hai sự việc cùng một lúc. Những gì thay đổi trong vận hạn ít nhiều tùy theo vị trí của Thiên Mã và Lưu Thiên Mã đồng cung hay xung chiếu. Mức độ tốt xấu của sự việc còn tùy thuộc vào những sao chi phối trong hạn đó. Có thể là bị mất việc (không tốt) phải tìm việc khác. Cũng có thể vì được thăng chức nên phải giữ công việc khác (tốt).

Tóm lại, khi nói đến Thiên Mã điều quan trọng mà chúng ta phải cân nhắc là hành của Thiên Mã và hành của bản Mệnh. Nếu cả hai cùng hành, hoặc hành của Mã sinh cho hành của bản Mệnh thì Mã này mới là Mã của mình. Ngược lại nếu không đồng hành thì Mã này chỉ là cái bóng mà thôi.

Trên thực tế chúng ta thấy hai lá số đều có Thiên Mã thủ Mệnh nhưng khả năng và sự may mắn của hai người hoàn toàn khác nhau rất nhiều. Người có Thiên Mã không hợp với bản Mệnh thì cũng là người có tài năng nhưng tánh tình rụt rè, nhút nhát, thiếu lòng tin, và không có ý chí phấn đấu để nắm lấy cơ hội, cho nên cuối cùng dễ trở thành bất đắc chí.

Với một lá số trung bình trở lên, người Dịch Mã là người đa tài. Họ có nhiều năng khiếu nổi bật và có thể thành công trên nhiều lãnh vực khác nhau. Họ là những người năng động, thích sự đổi thay và những chuyến hành trình như những bông hoa tô thắm cho cuộc đời của họ. Về khía cạnh này, cá tính của người Dịch Mã có phần nào giống như mẫu người Thân Cư Thiên Di mà chúng ta đã đề cập trước đây.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Luận về Dịch Mã

Xem tình duyên của người tuổi Thìn nhóm máu A

Nhìn chung, những người tuổi Thìn nhóm máu A không biết cách thể hiện tình cảm với người mình yêu. Ngay cả khi ở những thời điểm quan trọng nhất,
Xem tình duyên của người tuổi Thìn nhóm máu A

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nhìn chung, những người tuổi Thìn nhóm máu A không biết cách thể hiện tình cảm với người mình yêu. Ngay cả khi ở những thời điểm quan trọng nhất, họ cũng để lỡ mất  nhiều cơ hội tốt.

nguoi tuoi Ngo coi tinh yeu la tren het
 

Điều đặc biệt ở những người này khi yêu là họ rất ít khi thể hiện tình cảm của mình ra bên ngoài. Trừ khi là người mà họ thầm yêu trộm nhớ bấy lâu nếu không họ sẽ không bao giờ chủ động tìm cách tiếp cận. Vì vậy, khi kết thành đôi thì tình yêu của họ sẽ vô cùng hạnh phúc và bền chặt.

Nếu vì một lí do gì đó mà họ phải chia tay người mình yêu thì họ sẽ vẫn nhớ về người đó. Họ coi đây là động lực để cố gắng tiến lên trong công việc và sự nghiệp sau này.

Khi xây dựng gia đình, đàn ông tuổi này vẫn luôn cố gắng làm tròn trách nhiệm của người chồng tốt, một người cha mẫu mực. Mặc dù đôi lúc dấu ấn về cuộc tình trong quá khứ còn vương vấn trong tim nhưng trong cuộc sống hiện tại, họ luôn biết chừng mực, tuân thủ các quy tắc đạo đức trong xã hội để không làm gì có lỗi với gia đình, vợ con.

Sau khi kết hôn, nữ giới tuổi này sẽ trở nên nhu mì, hiền dịu hơn. Họ sẽ là người mẹ đảm đang chăm lo tốt cho con của mình để chồng hoàn toàn yên tâm phát triển sự nghiệp. 

(Theo 12 con giáp về tình yêu hôn nhân)

 

 


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tình duyên của người tuổi Thìn nhóm máu A

Đối tượng 12 chòm sao ghét, thà ế chứ không yêu

Thế giới 7 tỉ người, vậy mà sao hội FA vẫn đông đảo rộn ràng và có khuynh hướng ngày càng tăng như vậy chứ. Cùng xem đối tượng 12 chòm sao ghét để biết lý do
Đối tượng 12 chòm sao ghét, thà ế chứ không yêu

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Thế giới 7 tỉ người, vậy mà sao hội FA vẫn đông đảo rộn ràng và có khuynh hướng ngày càng tăng như vậy chứ. Phải chăng là yêu cầu quá cao, thước đo trong lòng quá khắt khe hay thực sự là chẳng thể tìm được người phù hợp với mình. Cùng xem đối tượng 12 chòm sao ghét, có chết cũng không yêu được nhé.

Doi tuong 12 chom sao ghet, tha e chu khong yeu
 

Bạch Dương: người không hợp tính

  Bạch Dương là chòm sao rất chú ý tới tính hài hòa, phù hợp khi yêu một người. Cảm giác này vừa thân thuộc vừa gần gũi, giống như là bạn bè, càng giống anh em. Chỉ cần là có thể dựa vào nhau, có chung đề tài trò chuyện và có những sở thích cùng nhau bồi dưỡng.    Nhiều người cho rằng yêu nhau thì tự khắc sẽ hợp nhau, hai người cùng thay đổi, trợ giúp để phù hợp hơn với nửa kia của mình. Nhưng riêng với Bạch Dương thì không thể có chuyện đó được, không hợp chính là không yêu, chẳng lẽ ngồi cùng nhau im phăng phắc mà chịu đựng được sao.  

Kim Ngưu: người không hào phóng

  Đừng tưởng rằng Kim Ngưu là người keo kiệt. Họ thích tiền, điều này không sai nhưng cần cù tiết kiệm, tiêu tiền chính đáng mới là những nhận xét đúng về chòm sao này. Khi cần, Ngưu chan sẵn sàng vung một khoản tiền lớn để phục vụ bản thân, giúp đỡ người khác mà không mảy may tiếc rẻ.    Đối tượng 12 chòm sao ghét với Kim Ngưu chính là người không hào phóng. Vốn biết hưởng thụ cuộc sống và không hoang phí nên chòm sao này cực kì ghét người tính toán chi li, từng đồng từng hào đều không buông khiến mọi thức trở nên chặt chẽ, ngột ngạt. 
Xem thêm bài viết Bí mật 12 chòm sao - Khả năng thiên bẩm từng cung hoàng đạo

Song Tử: người không hài hước

  Tiêu chuẩn chọn người yêu của Tử nhi không khắt khe gì cả, họ chỉ tuyệt đối không yêu người vô vị khô khan mà thôi. Thử nghĩ mà xem. Song Tử nhanh nhẹn, hoạt ngôn là thế, thích nói cười là thế mà lại gặp đối tượng cả ngày khô như ngói, bói không ra một câu chuyện cười thì thật là thảm họa.   Với chòm sao này, vui vẻ là quan trọng nhất, người thiếu hụt tế bào hài hước chắc chắn sẽ khiến họ cảm thấy ủ rũ, không chịu đựng nổi. Chỉ ngồi chung thôi cũng thấy áp lực rồi huống hồ là yêu, tốt nhất cứ tránh xa ra, thà độc thân vui tính còn hơn là chịu khổ.  

Cự Giải: người không quan tâm gia đình

  Là chòm sao yêu gia đình số 1, không có việc gì không suy nghĩ cho người thân đầu tiên nên Cự Giải coi tiêu chuẩn người yêu quan trọng nhất chính là biết quan tâm gia đình. Yêu nhau cần phải thể hiện tình cảm và có hành động thiết thực dành cho gia đình của họ, như vậy mới chân thực và bền vững.   Những người cho rằng tình yêu là việc riêng tư của hai người chắc chắn sẽ không thể lọt vào mắt xanh của Cự Giải. Ban đầu họ nhịn, càng về sau mà không chuyển biến thì tránh xa cho lành. Yêu ai thì yêu, không yêu thì ở vậy chứ quyết không đồng ý kết đôi với người lờ người thân của mình đi.   

Sư Tử: người không nghe lời


Nguoi khien 12 chom sao ghet
 
Cả nam và nữ Sư Tử đều là người theo chủ nghĩa độc tôn, có cái tôi cá nhân rất lớn. Chòm sao này thích nhất là được người khác phục tùng, nghe lời, phiền chán nhất là đối phương có ý định “làm phản”, thích chống đối. Muốn yêu trước hết phải ngoan, cứ ngoan đi thì sẽ được yêu.   Sư Tử không thể yêu người có cá tính quá quật cường giống họ, kết quả sẽ chỉ toàn tranh chấp và cãi cọ mà thôi, không phải người này bị thương thì cũng là người kia đau khổ. Nhất định họ sẽ yêu thích người ngoan ngoãn, nhường nhịn và hiển lành để chịu được tính cách của mình.  

Xử Nữ: người không đáng tin 
 

Dù yêu tha thiết tới đâu, ghi lòng tạc dạ ra sao thì Xử Nữ vẫn không thể buông bỏ được tính cảnh giác cao độ của mình. Bẩm sinh mang theo tâm lý phòng bị nên yêu nhất định phải tin, người chỉ cần có chút mảy may nghi vấn là chòm sao này lập tức cho vào danh sách đen ngay.   Thiếu hụt cảm giác an toàn còn đáng sợ hơn là không yêu, đau nhiều không bằng đau ít. Ngay khi mới bắt đầu, phát hiện ra người đó có điểm không trung thực, che giấu thì lập tức loại khỏi vòng tuyển chọn. Người khiến 12 chòm sao ghét thì nhiều nhưng người làm Xử Nữ ghét nhất lại chỉ có dạng này thôi.  

Thiên Bình: người không nổi trội

  Thế nào là nổi trội? Thiên Bình sẽ trả lời rành mạch: người nguyện làm theo ý Bình nhi, tận lực hoàn thiện bản thân từ trong ra ngoài, từ ngoại hình tới nội hàm để trở thành người nổi bật. Với chòm sao hãnh tiến, cố gắng không ngừng thì đó chính là yêu cầu cơ bản nhất.   Tâm thái của Thiên Bình không thể chịu được người thua kém, chỉ biết yên phận và chịu đựng, càng không khoan dung nổi người sẽ làm mình mất mặt. Vì thế, không yêu thì thôi, yêu thì phải chọn người xứng đáng, tránh trường hợp gặp kẻ chẳng ra gì làm mình buồn phiền.
Xem thêm bài viết Khắc tinh khiến 12 chòm sao nam ngoan ngoãn cúi đầu
 

Hổ Cáp: người không xuất sắc

  Phương diện tình cảm của Hổ Cáp có khuynh hướng hoàn mỹ, hoặc độc thân tự do tự tại hoặc yêu người mỹ mãn hoàn hảo, không có điểm gì để chê, tạo thành một cặp đẹp đôi khiến ai ai cũng phải ghen tị. Chính vì vậy nên tiêu chuẩn chọn người yêu của họ đặt sự xuất sắc lên hàng đầu.   Họ coi trọng mặt mũi, người làm họ tự hào mới xứng để yêu. Mất công yêu người tầm thường, chẳng có năng lực thì chỉ tổ thiệt thân và làm mình bực bội. Hổ Cáp nghĩ như vậy đấy, họ khắt khe lắm, chọn tới chọn lui, so qua so lại chứ không phải nghe theo con tim đâu.  

Nhân Mã: người không hào hiệp 

  Nhân Mã phiền chán những người thích rao giảng đạo đức vì họ là chòm sao bất cần đời mà. Nhiệt tình, phóng khoáng, phương châm tình cảm không quá mức nghiêm trọng, cũng chẳng thận trọng như những chòm sao khác, cứ vui vẻ là được, thoải mái là tiến tới thôi.    Nếu muốn dọa Mã Mã chạy mất thì cứ bày ra bộ mặt nghiêm túc đi, họ sẽ bị hù phát khiếp cho mà xem. Gặp người quá câu nệ, thích tính chuyện xa xôi, không có dáng vẻ hào hiệp tự nhiên giống như mình thì đảm bảo Nhân Mã sẽ chẳng bao giờ nói chuyện yêu đương gì được đâu.  

Ma Kết: người không ổn định


Doi tuong 12 chom sao khong ua
 
Suy nghĩ thực tế, lý trí và lo lắng cho tương lai nên Mã Kết ngay từ khi chưa yêu đã nghĩ tới chuyện người đó lương bao nhiêu, công việc có tốt không, sau khi kết hôn có thể cùng cáng đáng gia đình không. Họ lặng lẽ đi điều tra đối phương, biết rõ ngọn nguồn tông tích nhà người ta mới yên lòng.   Đối tượng 12 chòm sao không ưa muôn hình vạn trạng còn đối tượng Ma kết ghét chỉ có một, chính là lông bông. Gặp phải loại này thì lập tức không từ mà biệt, chạy nhanh trước khi kịp có bất cứ quan hệ dây dưa gì. Kết Kết chẳng tự tin bắt đầu tình yêu sống dựa vào hơi thở và những lời đường mật đâu.  

Bảo Bình: người không linh hoạt

  Chòm sao Bảo Bình thông minh, tư duy tốt, tâm hồn bay bổng, giàu tính hiếu kì và nhiệt tâm. Người yêu nhất định phải biết phối hợp với họ trong việc tìm tòi khám phá những thứ hay ho mới mẻ, rong chơi lạc thú. Nếu người ấy chẳng chút linh hoạt thì thật là chán chết.    Mất hứng thì làm sao mà nói tới chuyện yêu đương gì nữa. Nên để trở thành đối tượng trong tầm ngắm của Bảo Bảo nhất định phải thú vị và biết cách rộng mở tâm hồn mình ra, theo kịp bước chân phiêu lưu và trí tưởng tượng phong phú của họ nhé.
Xem thêm bài viết Phản ứng của 12 chòm sao khi nhặt được tiền

Song Ngư: người không lãng mạn 

  Lúc nào chòm sao này cũng thanh minh mình không phải chỉ biết nằm mơ giữa ban ngày nhưng đối với ái tình lãng mạn thì vẫn say mê không dứt ra được. Tuy không thừa nhận nhưng yêu cầu trong tình yêu của Ngư nhi quan trọng nhất vẫn là có thể mang tới những giây phút ngọt ngào, hạnh phúc giống như cổ tích.   Người ấy có thể không có tiền, không có học thức, không có tướng mạo nhưng nhất định không được khô khan, không được thiếu tình thú. Phải biết ngắm trăng trên trời, nhìn mây bay trên núi, nói những lời tha thiết êm tai, biết tặng quà, biết bày trò để Song Ngư vui vẻ. Nếu không có thì yêu làm gì cơ chứ. 
Hé lộ cung hoàng đạo thông minh nhất trong 12 chòm sao Biết điều khiến 12 chòm sao nữ cảm động, chinh phục nàng chẳng khó 12 chòm sao làm gì để đối phó với tiểu nhân nơi công sở
Trình Trình
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đối tượng 12 chòm sao ghét, thà ế chứ không yêu

Người mặc màu đỏ thường hạnh phúc, giàu có

Màu đỏ không chỉ thể hiện vẻ đẹp khó cưỡng mà còn mang lại nhiều may mắn cho người mặc.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Theo quan niệm truyền thống ở các nước châu Á, màu đỏ vẫn gắn với sự giàu có và quyền lực. Những vị thần thường hay được vẽ mặt đỏ và một vị thần với những chiếc áo đỏ sẽ là vị thần của sự giàu có, sung túc. Đá quý màu đỏ cũng đã được coi là nắm giữ quyền hạn thể hiện sự chinh phục, sức mạnh và sự thành công. Hồng ngọc và ngọc hồng lựu từ lâu đã được cho là bảo vệ chống lại tà khí.

Trong phong thủy, màu đỏ là màu quyền lực để cầu mong thành công, thịnh vượng và giàu có. Nhưng nó cũng là một màu để bảo vệ khỏi những điều tà. Trong kinh doanh, rất nhiều nhà hàng, công ty,...sử dụng màu đỏ làm màu sắc chủ đạo. 

Từ xưa đến nay, rất ít màu sắc có sức mạnh và ảnh hưởng như màu đỏ. Nó có khả năng tác động đến cả người mặc và người nhìn. Màu đỏ tăng cho người mặc sự tự tin và sức mạnh. Ở châu Á, màu đỏ có nhiều ý nghĩa nhưng chủ yếu tượng trưng cho hạnh phúc và may mắn. Các cô dâu trong lễ cưới truyền thống luôn mặc đồ màu đỏ để mong đợi những điều tốt đẹp nhất cho cuộc hôn nhân sắp tới. Ở phương Tây, những người phụ nữ mặc đồ đỏ lại mong muốn phô bày sự quyến rũ chết người của mình.

Vậy đâu là lí do các sao nổi tiếng trong và ngoài nước lại chuộng màu đỏ đến vậy?

- Màu đỏ là màu của may mắn.

Trong phong thủy, đỏ là màu sắc biểu trưng cho hạnh phúc và thành công. Sử dụng màu đỏ thường xuyên giúp cuộc sống luôn tràn đầy năng lượng tích cực và vận động. Màu đỏ kích hoạt các nguồn năng lượng nhanh, mạnh thích hợp cho thế giới showbiz luôn sôi động. 

 nguoi mac mau do thuong hanh phuc, giau co - 1

Màu đỏ hay được các sao Việt lựa chọn đi dự sự kiện

Do vậy, các chuyên gia phong thủy hay khuyên mọi người đang mong cầu may mắn nên sử dụng các đồ trang sức có họa tiết đỏ. Trong nhà, các món đồ nội thất hay trang trí nên có họa tiết đỏ hay là buộc một dải ruy băng đỏ trong phòng ngủ. Ngoài ra, để tăng thêm các năng lượng tích cực nên treo một dải đồng xu với dây đỏ treo vào túi xách, hành lý, ngăn kéo bàn làm việc,...

 nguoi mac mau do thuong hanh phuc, giau co - 2

Chỉ một vài đồ nội thất đỏ trong nhà cũng giúp tăng may mắn trong gia đình

- Màu đỏ đóng một vai trò quan trọng trong thời trang.

Đối với phụ nữ, màu đỏ là một màu sắc khoe khéo nhất nét quyến rũ trời sinh của mình. Đối với nam giới, màu đỏ lại thể hiện một sự uy phong trong thần thái. Theo nghiên cứu, màu đỏ, gắn liền với bản năng sâu thẳm trong con người có liên quan đến sự duy trì nòi giống. Chính vì thế, nam giới luôn thích nhìn những phụ nữ môi đỏ, má hồng vì não bộ của họ được kích thích mạnh. Trong tiềm thức, những người phụ nữ như vậy sẽ dễ dàng sinh con đẻ cái.

 nguoi mac mau do thuong hanh phuc, giau co - 3

 nguoi mac mau do thuong hanh phuc, giau co - 4

Trong thời kì mang bầu, Hà Tăng thích mặc đồ màu đỏ. Mặc đồ đỏ khiến mọi người cảm giác căng tràn sức sống. 

- Màu đỏ là màu của sức mạnh.

Khi bạn muốn nổi bật, hãy mặc màu đỏ. Đây là màu sắc hoàn hảo cho các cô gái muốn mình là duy nhất. Đó là màu của sự tự tin và quả quyết. Mặc màu này khi bạn đã sẵn sàng để trở thành tâm điểm của đám đông - dù là người hâm mộ hay ông chủ của bạn.

 nguoi mac mau do thuong hanh phuc, giau co - 5

- Màu đỏ bảo vệ tiền bạc.

Túi xách và ví màu đỏ thích hợp cho phụ nữ để bảo vệ của cải và thu nhập của họ. Điều này đặc biệt đúng trong năm 2015, khi mọi người phải cẩn thận về tài chính khỏi thất thoát vì tiền (mộc) không hợp với năm Ất Mùi (thổ). Mang theo một chiếc ví màu đỏ sẽ giúp làm tăng năng lượng tích cực để tích lũy của cải và kích thích thu nhập. Có lẽ vẫn tốt hơn là bạn có thể tìm thấy một chiếc ví màu đỏ bên trong một chiếc túi xách!

 nguoi mac mau do thuong hanh phuc, giau co - 6

 nguoi mac mau do thuong hanh phuc, giau co - 7

Túi xách đỏ giúp bảo vệ tiền bạc của bạn trong năm nay

- Màu đỏ thể hiện sức sống.

Phụ nữ thường thể hiện được sức sống căng tràn của mình với màu đỏ. Trong năm Ất Mùi, ngôi sao hung ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe, tài chính. Vì vậy, mặc màu đỏ trong năm nay có thể cung cấp thêm năng lượng để chống lại bệnh tật và mệt mỏi. Đeo một chiếc vòng màu đỏ giúp cân bằng tâm trí vì cổ tây là phần cơ thể đại diện cho tâm thức.

- Màu đỏ tạo nên hạnh phúc

Những người phụ nữ đeo một chiếc nhẫn màu đỏ trên bàn tay phải sẽ có được nhiều mối quan hệ khăng khít hơn so với những người để bàn tay trần. Đeo một chiếc nhẫn đỏ sẽ giúp phụ nữ quyến rũ hơn trong mắt một nửa kia. Giày cao gót cũng được cho là kích thích nửa kia hơn những màu sắc khác. Đặc biệt, không gì có thể kích thích hơn trong màn đêm với một bộ đồ lót đỏ mỏng manh mà sexy khó cưỡng.

 nguoi mac mau do thuong hanh phuc, giau co - 8

Màu đỏ thể hiện vẻ quyến rũ khó cưỡng của phái đẹp

 nguoi mac mau do thuong hanh phuc, giau co - 9

Phòng ngủ màu đỏ đầy phong tình của gia đình Hoa hậu Hà Kiều Anh


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Người mặc màu đỏ thường hạnh phúc, giàu có

Đặt tên hay cho người tuổi Dần

Căn cứ vào bản tính của loài hổ, mối quan hệ tương sinh tương khắc với những con giáp còn lại mà đặt tên hay cho người tuổi Dần.
Đặt tên hay cho người tuổi Dần

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Căn cứ vào đặc điểm về bản tính của loài hổ và các mối quan hệ tương sinh tương khắc với những con giáp còn lại mà đặt tên hay cho người tuổi Dần, mang lại may mắn và sự hưng thịnh.
 

1. Dựa vào thói quen sinh hoạt
Nguồn thức ăn chính của loài hổ là thịt. Do đó, những tên hay cho người tuổi Dần nên chứa bộ Nhục hoặc Tâm.
 
Những tên thích hợp: Hữu, Thanh, Bằng, Thắng,  Chí, Thiêm, Trung, Hằng, Ưu, Cung, Huệ, Tứ, Tình, Hoài…
 
Ngoài ra, những tên có chứa bộ Y, Sam, Mịch, Cân, Thái cũng thích hợp để đặt tên cho người tuổi Dần. Bởi trên mình hổ có nếp vằn, do đó càng tăng thêm uy phong và sự mạnh mẽ cho nó.
 
Những tên có chứa các bộ này: Biểu, Sam, Bùi, Ngạn, Đồng, Bân, Bành, Chương, Hình, Thái, Ảnh, Tịch, Thường…

Dat ten hay cho nguoi tuoi Dan hinh anh
Đặt tên hay cho người tuổi Dần

2. Dựa vào đặc tính sinh sống
Loài hổ thường ẩn náu trong rừng sâu và được gọi là chúa tể sơn lâm. Theo đó, nên đặt những tên có chứa bộ Sơn, Mộc, Lâm. Điều này khiến hổ có thể phát huy đầy đủ tiềm năng của mình.
 
Những tên hay cho người tuổi Dần: Đại, Cương, Nhạc, Phong, Tuấn, Côn, Lam, Loan, Mộc, Tùng, Bách, Liễu, Bính, Đào, Trụ, Kiệt, Lương, Lạc, Sâm, Cơ, Nghiệp….
 
Ngoài ra, những tên thích hợp để đặt cho người tuổi Dần nên có bộ Vương, Quân, Lệnh, Đại, do hổ xưng chúa tể sơn lâm. Những tên này thích hợp để phát huy quyền lực và nắm vững đại quyền.
 
Những tên thích hợp: Ngọc, Cửu, Linh, Cầu, Châu, Lâm, Cầm, Dao, Thụy, Bích, Phu, Thái, Thiên…
3. Dựa vào mối quan hệ tương sinh với những con giáp khác
Dần – Ngọ - Tuất thuộc mối quan hệ tam hợp nên có thể giúp đỡ lẫn nhau, có quý nhân phù trợ. Do đó, nên đặt tên cho người tuổi Dần bằng những chữ có bộ Mã, Ngọ, Nam, Hỏa và Khuyển.
 
Những tên thích hợp: Mã, Tuấn, Phùng, Hoàng, Liệt, Hoán, Kiệt, Trạng, Hiến, Du, Địch, Thành, Thịnh, Mãnh, Quốc… Ngoài ra, có thể đặt tên có các bộ như Thủy, Băng do Thủy sinh ra Dần, sinh ra Mộc như: Băng, Lăng, Cầu, Mi, Pháp, Thái, Thiêm, Đàm, Lâm, Hàm, Nguyên, Hán…
4. Những tên cần tránh
Cần tránh những tên có bộ Thân, Viên, Xước, Cổn, Trùng, vì Dần, Thân xung nhau, Dần Tỵ có mối tương hại.
 
Những tên nên tránh: Tấn, Tuần, Địch, Thuật, Phùng, Thông, Liên, Cầu, Tạo, Tiến, Dật, Đạo, Đạt, Viễn, Tuyển, Thiệu, Quách, Quảng, Xuyên, Nhân, Hồng, Thục, Điệp, Dung, Huỳnh, Tiên, Trọng, Bảo, Thân, Hựu, Đức, Đắc, Tuần, Lại…
 
Nên tránh dùng những tên có chứa bộ Nhật (không thích hợp với hổ, vì hổ sống ở trong hang núi hoặc bóng cây); bộ Điền (không thích hợp vì có nghĩa là hổ bị lừa gạt).
 
Những tên nên tránh: Đán, Minh, Tảo, Côn, Xuân, Cảnh, Tình, Thời, Thần, Huy, Hiểu, Thịnh, Phương, Hoa, Vân, Cần, Chi, Đài, Anh, Trang, Hà, Thảo, Bình, Diệp, Bội, Dung, Huệ, Tân, Phan, Nam, Điện, Giới, Lưu, Đương…
 
Khi đặt tên cho người tuổi Dần, nên tránh những tên có bộ Khẩu vì khi hổ há miệng ra “không làm thương người khác mà lại làm hại chính mình”, khiến hổ phải chịu cảm giác khốn cùng, không dễ phát huy uy lực của mình.
 
Những tên có chứa bộ khẩu nên tránh: Đài, Chỉ, Danh, Hữu, Sử, Cát, Đồng, Khả, Hợp, Hàm, Phẩm, Ca, Triết, Thương, Viên, Á, Đồng, Gia…
 
ST  
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đặt tên hay cho người tuổi Dần

Xem tuổi mệnh gì –

Tra cứu Mệnh và Cung từ 1924 đến 2043. Qua bảng tra cứu bạn có thể biết Năm 2013 mệnh gì cung gì. Bạn vào bảng, nhìn vào hàng năm: 2013, nếu là nữ thì Cung Khảm thuộc Thủy, nam thì cung Khôn thuộc Thổ. Còn mệnh chung là mệnh Thủy. NĂM TUỔI CUNG HÀNH

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tra cứu Mệnh và Cung từ 1924 đến 2043.

Qua bảng tra cứu bạn có thể biết Năm 2013 mệnh gì cung gì. Bạn vào bảng, nhìn vào hàng năm: 2013, nếu là nữ thì Cung Khảm thuộc Thủy, nam thì cung Khôn thuộc Thổ. Còn mệnh chung là mệnh Thủy.

28_55

NĂM TUỔI CUNG HÀNH
NAM NỮ
1924 Giáp Tý Tốn: Mộc Khôn: Thổ Kim +
1925 Ất Sửu Chấn: Mộc Chấn: Mộc Kim –
1926 Bính Dần Khôn: Thổ Tốn: Mộc Hỏa +
1927 Đinh Mão Khảm: Thủy Cấn: Thổ Hỏa –
1928 Mậu Thìn Ly: Hỏa Càn: Kim Mộc +
1929 Kỷ Tỵ Cấn: Thổ Đoài: Kim Mộc –
1930 Canh Ngọ Đoài: Kim Cấn: Thổ Thổ +
1931 Tân Mùi Càn: Kim Ly: Hỏa Thổ –
1932 NhâmThân Khôn: Thổ Khảm: Thủy Kim +
1933 Quý Dậu Tốn: Mộc Khôn: Thổ Kim –
1934 GiápTuất Chấn: Mộc Chấn: Mộc Hỏa +
1935 Ất Hợi Khôn: Thổ Tốn: Mộc Hỏa –
1936 Bính Tý Khảm: Thủy Cấn: Thổ Thủy +
1937 Đinh Sửu Ly: Hỏa Càn: Kim Thủy –
1938 Mậu Dần Cấn: Thổ Đoài: Kim Thổ +
1939 Kỷ Mão Đoài: Kim Cấn: Thổ Thổ –
1940 Canhthìn Càn: Kim Ly: Hỏa Kim +
1941 Tân Tỵ Khôn: Thổ Khảm: Thủy Kim –
1942 Nhâm Ngọ Tốn: Mộc Khôn: Thổ Mộc +
1943 Qúy Mùi Chấn: Mộc Chấn: Mộc Mộc –
1944 GiápThân Khôn: Thổ Tốn: Mộc Thủy +
1945 Ất Dậu Khảm: Thủy Cấn: Thổ Thủy –
1946 BínhTuất Ly: Hỏa Càn: Kim Thổ +
1947 Đinh hợi Cấn: Thổ Đoài: Kim Thổ –
1948 Mậu Tý Đoài: Kim Cấn: Thổ Hỏa +
1949 Kỷ Sửu Càn: Kim Ly: Hỏa Hỏa –
1950 Canh Dần Khôn: Thổ Khảm: Thủy Mộc +
1951 Tân Mão Tốn: Mộc Khôn: Thổ Mộc –
1952 NhâmThìn Chấn: Mộc Chấn: Mộc Thủy +
1953 Quý Tỵ Khôn: Thổ Tốn: Mộc Thủy –
1954 Giáp Ngọ Khảm: Thủy Cấn: Thổ Kim +
1955 Ất Mùi Ly: Hỏa Càn: Kim Kim –
1956 Bính thân Cấn: Thổ Đoài: Kim Hỏa +
1957 Đinh Dậu Đoài: Kim Cấn: Thổ Hỏa –
1958 Mậu Tuất Càn: Kim Ly: Hỏa Mộc +
1959 Kỷ Hợi Khôn: Thổ Khảm: Thủy Mộc –
1960 Canh Tý Tốn: Mộc Khôn: Thổ Thổ +
1961 Tân Sửu Chấn: Mộc Chấn: Mộc Thổ –
1962 Nhâm Dần Khôn: Thổ Tốn: Mộc Kim +
1963 Quý Mão Khảm: Thủy Cấn: Thổ Kim –
1964 GiápThìn Ly: Hỏa Càn: Kim Hỏa +
1965 Ất Tỵ Cấn: Thổ Đoài: Kim Hỏa –
1966 Bính Ngọ Đoài: Kim Cấn: Thổ Thủy +
1967 Đinh Mùi Càn: Kim Ly: Hỏa Thủy –
1968 Mậu Thân Khôn: Thổ Khảm: Thủy Thổ +
1969 Kỷ Dậu Tốn: Mộc Khôn: Thổ Thổ –
1970 CanhTuất Chấn: Mộc Chấn: Mộc Kim +
1971 Tân Hợi Khôn: Thổ Tốn: Mộc Kim –
1972 Nhâm Tý Khảm: Thủy Cấn: Thổ Mộc +
1973 Quý Sửu Ly: Hỏa Càn: Kim Mộc –
1974 Giáp Dần Cấn: Thổ Đoài: Kim Thủy +
1975 Ất Mão Đoài: Kim Cấn: Thổ Thủy –
1976 BínhThìn Càn: Kim Ly: Hỏa Thổ +
1977 Đinh Tỵ Khôn: Thổ Khảm: Thủy Thổ –
1978 Mậu Ngọ Tốn: Mộc Khôn: Thổ Hỏa +
1979 Kỷ Mùi Chấn: Mộc Chấn: Mộc Hỏa –
1980 CanhThân Khôn: Thổ Tốn: Mộc Mộc +
1981 Tân Dậu Khảm: Thủy Cấn: Thổ Mộc –
1982 NhâmTuất Ly: Hỏa Càn: Kim Thủy +
1983 Quý Hợi Cấn: Thổ Đoài: Kim Thủy –
1984 Giáp tý Đoài: Kim Cấn: Thổ Kim +
1985 Ất Sửu Càn: Kim Ly: Hỏa Kim –
1986 Bính Dần Khôn: Thổ Khảm: Thủy Hỏa +
1987 Đinh Mão Tốn: Mộc Khôn: Thổ Hỏa –
1988 Mậu Thìn Chấn: Mộc Chấn: Mộc Mộc +
1989 Kỷ Tỵ Khôn: Thổ Tốn: Mộc Mộc –
1990 Canh Ngọ Khảm: Thủy Cấn: Thổ Thổ +
1991 Tân Mùi Ly: Hỏa Càn: Kim Thổ –
1992 NhâmThân Cấn: Thổ Đoài: Kim Kim +
1993 Quý Dậu Đoài: Kim Cấn: Thổ Kim –
1994 GiápTuất Càn: Kim Ly: Hỏa Hỏa +
1995 Ất Hợi Khôn: Thổ Khảm: Thủy Hỏa –
1996 Bính Tý Tốn: Mộc Khôn: Thổ Thủy +
1997 Đinh Sửu Chấn: Mộc Chấn: Mộc Thủy –
1998 Mậu Dần Khôn: Thổ Tốn: Mộc Thổ +
1999 Kỷ Mão Khảm: Thủy Cấn: Thổ Thổ –
2000 Canhthìn Ly: Hỏa Càn: Kim Kim +
2001 Tân Tỵ Cấn: Thổ Đoài: Kim Kim –
2002 Nhâm Ngọ Đoài: Kim Cấn: Thổ Mộc +
2003 Qúy Mùi Càn: Kim Ly: Hỏa Mộc –
2004 GiápThân Khôn: Thổ Khảm: Thủy Thủy +
2005 Ất Dậu Tốn: Mộc Khôn: Thổ Thủy –
2006 BínhTuất Chấn: Mộc Chấn: Mộc Thổ +
2007 Đinh hợi Khôn: Thổ Tốn: Mộc Thổ –
2008 Mậu Tý Khảm: Thủy Cấn: Thổ Hỏa +
2009 Kỷ Sửu Ly: Hỏa Càn: Kim Hỏa –
2010 Canh Dần Cấn: Thổ Đoài: Kim Mộc +
2011 Tân Mão Đoài: Kim Cấn: Thổ Mộc –
2012 NhâmThìn Càn: Kim Ly: Hỏa Thủy +
2013 Quý Tỵ Khôn: Thổ Khảm: Thủy Thủy –
2014 Giáp Ngọ Tốn: Mộc Khôn: Thổ Kim +
2015 Ất Mùi Chấn: Mộc Chấn: Mộc Kim –
2016 Bínhthân Khôn: Thổ Tốn: Mộc Hỏa +
2017 Đinh Dậu Khảm: Thủy Cấn: Thổ Hỏa –
2018 Mậu Tuất Ly: Hỏa Càn: Kim Mộc +
2019 Kỷ Hợi Cấn: Thổ Đoài: Kim Mộc –
2020 Canh Tý Đoài: Kim Cấn: Thổ Thổ +
2021 Tân Sửu Càn: Kim Ly: Hỏa Thổ –
2022 Nhâm Dần Khôn: Thổ Khảm: Thủy Kim +
2023 Quý Mão Tốn: Mộc Khôn: Thổ Kim –
2024 GiápThìn Chấn: Mộc Chấn: Mộc Hỏa +
2025 Ất Tỵ Khôn: Thổ Tốn: Mộc Hỏa –
2026 Bính Ngọ Khảm: Thủy Cấn: Thổ Thủy +
2027 Đinh Mùi Ly: Hỏa Càn: Kim Thủy –
2028 Mậu Thân Cấn: Thổ Đoài: Kim Thổ +
2029 Kỷ Dậu Đoài: Kim Cấn: Thổ Thổ –
2030 CanhTuất Càn: Kim Ly: Hỏa Kim +
2031 Tân Hợi Khôn: Thổ Khảm: Thủy Kim –
2032 Nhâm Tý Tốn: Mộc Khôn: Thổ Mộc +
2033 Quý Sửu Chấn: Mộc Chấn: Mộc Mộc –
2034 Giáp Dần Khôn: Thổ Tốn: Mộc Thủy +
2035 Ất Mão Khảm: Thủy Cấn: Thổ Thủy –
2036 BínhThìn Ly: Hỏa Càn: Kim Thổ +
2037 Đinh Tỵ Cấn: Thổ Đoài: Kim Thổ –
2038 Mậu Ngọ Đoài: Kim Cấn: Thổ Hỏa +
2039 Kỷ Mùi Càn: Kim Ly: Hỏa Hỏa –
2040 CanhThân Khôn: Thổ Khảm: Thủy Mộc +
2041 Tân Dậu Tốn: Mộc Khôn: Thổ Mộc –
2042 NhâmTuất Chấn: Mộc Chấn: Mộc Thủy +
2043 Quý Hợi Khôn: Thổ Tốn: Mộc Thủy –


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tuổi mệnh gì –

Chớ nên mạo hiểm nếu nằm mơ thấy cầu (P2)

Xây cầu hoặc sửa cầu là công việc nặng nhọc, nhưng nếu bạn nằm mơ thấy mình xây hoặc sửa cầu ngụ ý mọi việc suôn sẻ hoặc sự nghiệp thăng tiến.
Chớ nên mạo hiểm nếu nằm mơ thấy cầu (P2)

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

 Xây cầu hoặc sửa cầu là công việc nặng nhọc, nhưng nếu bạn nằm mơ thấy mình làm công việc này trong giấc mơ thì lại là cát mộng, ngụ ý mọi việc suôn sẻ hoặc sự nghiệp thăng tiến.
 

Giải mã giấc mơ thấy cây cầu:

Mơ thấy cây cầu bị đổ vỡ ngụ ý không hài lòng với bản thân, thường xuyên tự trách mình, nếu bạn gặp những việc không thuận lợi thì cũng nên dũng cảm đối diện với nó.


Cho nen mao hiem neu nam mo thay cau P2 hinh anh
 
Mơ thấy cầu bị đảo ngược ngụ ý nhiều việc trong cuộc sống biến hóa nhanh chóng và bạn không biết cách để ứng phó.
 
Mơ thấy một cây cầu đổ nát ngụ ý bạn sắp mất đi những đồ vật mà mình vô cùng quý trọng.

 
Mơ thấy mình đi qua cầu ngụ ý cuộc sống của bạn sắp có nhiều chuyển biến hoặc bản thân bạn bị ép buộc đưa ra một quyết định gì đó mà kết quả sẽ ảnh hưởng tới tương lai của bạn.

 
Mơ thấy mình không đi qua được cầu ám chỉ bản thân bạn quá chìm đắm trong quá khứ.

 
Mơ thấy mình đi qua cầu an toàn là điềm báo mọi việc bạn làm đều phải đơn độc nhưng cuối cùng cũng thành công.

 
Mơ thấy khi đi qua cầu nhưng lại trở ngại cảnh báo gặp chuyện không thuận lợi trở ngại sự phát triển của bạn, nhưng chỉ cần bạn nỗ lực chăm chỉ thì sẽ khắc phục được khó khăn, đạt được thành công.

 
Mơ thấy mình qua cầu thì đột nhiên cầu trở nên dài mặc dù bạn có chút e sợ nhưng vẫn cố gắng đi đến hết có nghĩa biểu hiện tính cách của bạn một người điềm đạm, không hay hoảng sợ, có khí phách, bạn hiểu tình trạng của mình nên dù có rơi và khó khăn thì bản lĩnh sẽ giúp bạn chiến thắng thách thức.

 
Mơ thấy bạn cùng người khác qua cầu ngụ ý mối quan hệ xã giao khá ổn định, có bạn bè giúp đỡ mình vượt qua khó khăn.

 
Mơ thấy mình đi qua cầu độc mộc ngụ ý tính cách độc lập, gần đây công việc xuất hiện áp lực nhưng bạn không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc hoàn thành nó.

 
Mơ thấy mình xây cầu ngụ ý mặt sự nghiệp bạn có đột phá mới, có thành tựu.

 
Mơ thấy mình sửa cầu ngụ ý mọi việc thuận lợi, hiền hoà.


Cho nen mao hiem neu nam mo thay cau P2 hinh anh 2
 
Mơ thấy cầu trên biển biểu thị khả năng vượt qua trở ngại và thành công, bạn sẽ đạt được mục đích dự kiến.

 
Mơ thấy mình đi trên cầu treo, cầu treo đung đưa khiến bạn hoảng sợ ngụ ý sự tranh chấp giữa bạn và người thân nhưng không nghiêm trọng, chủ yếu là những việc nhỏ nhặt trong gia đình.

 
Mơ thấy mình đi trên cầu sắt ngụ ý những ngày này bạn sẽ cảm thấy thư thái nên tham gia nhiều các hoạt động vui chơi giải trí có trí tuệ.

 
Mơ thấy mình đi trên cầu đường bộ ngụ ý thường ngày xuất hành bạn cần chú ý an toàn giao thông, nghiêm cấm đi lại nhiều những nơi có xe cộ qua lại.

 
Mơ thấy mình đi lại trên lan can cầu ngụ ý mình sắp gặp vận may, có thể gặp bất ngờ về vật chất, nó cũng ám chỉ mối quan hệ xã giao của bạn rất thuận lợi.
 

Lichngaytot.com
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chớ nên mạo hiểm nếu nằm mơ thấy cầu (P2)

Bảng hiệu công ty như nào là hợp phong thủy?

Bảng hiệu là biểu tượng cho cả doanh nghiệp, là một yếu tố quan trọng để lấy được thiện cảm của khách hàng. Vì vậy, việc lựa chọn một vị trí tốt để đặt phong thủy có ý nghĩa quan trọng đối sự phát triển bền vững của chính doanh nghiệp đó.
Bảng hiệu công ty như nào là hợp phong thủy?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bảng hiệu là biểu tượng cho cả doanh nghiệp, là một yếu tố quan trọng để lấy được thiện cảm của khách hàng. Vì vậy, việc lựa chọn một vị trí tốt để đặt phong thủy có ý nghĩa quan trọng đối sự phát triển bền vững của chính doanh nghiệp đó.

Nguyên tắc đầu tiên nhất là bảng hiệu của công ty không được để dưới đất vì sẽ tạo nên nhiều năng lượng âm, bất lợi cho việc làm ăn kinh doanh.

Tùy vào mênh tuổi và thiết kế của từng công ty mà lựa chọn cho mình hướng đặt bảng hiệu phù hợp. Với mỗi hướng khác nhau sẽ có những lưu ý nhỏ khi đặt bảng hiệu:

Đối với hướng Đông: bảng hiệu nên treo cao vừa phải để đón năng lượng của trời đất khi mặt trời mọc.

Đối với hướng Đông - Nam: nên đặt bảng hiệu cao vừa phải. Nếu quá cao sẽ ngăn chặn dòng sinh khí, vận may đến với doanh nghiệp.

Đối với hướng Nam: bảng hiệu nên cao vừa phải. Nếu quá cao tức dương khí quá cao, ngũ hành không cân bằng và không tốt cho sự phát triển của công ty.

Với hướng Tây – Nam: bảng hiệu tốt nhất nên đặt cao cách mặt đất khoảng 6m

Đối với hướng Tây: bảng hiệu cao vừa phải, nếu thấp quá sẽ có va chạm giữa các nhân viên.

Đối với hướng Tây – Bắc, Bắc: bảng hiệu nên cao vừa phải

Đối với hướng Đông – Bắc: bảng hiệu nên thấp để tránh sự nghi kị, bất hòa giữa các thành viên trong công ty.

Khi tìm được vị trí đặt bảng hiệu thích hợp bạn phải lưu ý tránh trường hợp tầm nhìn phía trước bảng hiệu bị chắn bởi xa lộ, cầu vượt ở trên cao , tháp phát sóng và những loại tháp khác , những nhà cao tầng xung quanh , đường ray trên cao.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bảng hiệu công ty như nào là hợp phong thủy?

Tuổi Tý hợp với tuổi nào trong tình yêu, hôn nhân

Người tuổi Tý thông minh, tài năng và thành công trong cuộc sống. Trong hôn nhân, tuổi Tý hợp với tuổi nào để có được hạnh phúc viên mãn?
Tuổi Tý hợp với tuổi nào trong tình yêu, hôn nhân

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Người tuổi Tý thông minh, nhanh nhẹn, là mẫu người tài năng và thành công trong cuộc sống. Vậy trong tình yêu thì sao, tuổi Tý hợp với tuổi nào, nên kết hôn với tuổi nào để có được hạnh phúc viên mãn?

Người tuổi Tý thuộc sao Thiên Quý, trời sinh thông minh đĩnh ngộ, chí hướng cao xa, đam mê danh vọng, thường giành được nhiều thành công trong cuộc sống. Người tuổi Tý giỏi kiếm tiền, cũng biết cách tích lũy tiền bạc nên cả đời sung túc, giàu sang.

Có điều, chính vì được rất nhiều quý tinh phù trợ, bản thân họ lại quá đỗi xuất sắc nên dễ bị ganh ghét, cũng khó tìm được người phù hợp để yêu đương. Song một khi đã tìm được đối tượng thì họ luôn chân thành, nghiêm túc và coi hôn nhân là đích đến cuối cùng của tình yêu. Vậy người tuổi Tý hợp với tuổi nào? Nên chọn kết đôi với con giáp nào để có được hôn nhân hạnh phúc dài lâu?


Tuoi Ty hop voi tuoi nao trong tinh yeu, hon nhan hinh anh
 

Tuổi Tý với tuổi Sửu là lục hợp, vì thế người tuổi Sửu là đối tượng thích hợp nhất với tuổi Tý để yêu đương. Hôn nhân giữa tuổi Tý và tuổi Sửu cũng được đánh giá là cực kì mỹ mãn. Tý Ngọ tương xung, người tuổi Tý tối kị kết hôn với người tuổi Ngọ, nếu không hôn nhân sẽ không được tốt đẹp. Tuổi Tý với tuổi Mão tương hình, còn với tuổi Mùi là tương hại, do đó không nên tìm đối tượng là người tuổi Mão và tuổi Mùi. Hai người tuổi Tý nếu ghép đôi sẽ tương hình, tốt nhất không nên kết hôn với người cùng tuổi. 
 
Sau đây hãy cùng tìm hiểu chi tiết trong tình yêu và hôn nhân gia đình nam nữ tuổi Tý hợp với tuổi nào nhất.
 

1. Nữ tuổi Tý hợp nam tuổi nào?
 

Nữ tuổi Tý + Nam tuổi Sửu = Lục hợp
 

Tuy tính cách có chút khác biệt, song cặp đôi này lại vô cùng hòa hợp. Điểm yếu của người này lại là điểm mạnh của người kia, vì thế mà có thể bổ trợ rất nhiều cho nhau. Hôn nhân giữa 2 con giáp này được đánh giá là cực kì mỹ mãn.
 
Đàn ông tuổi Sửu tính cách trầm ổn, siêng năng cần cù, chịu khó chịu khổ. Tuy không biết dỗ ngọt hay nói lời hoa mỹ, cũng không phải tuýp người lãng mạn, song người này có thể mang lại hạnh phúc cho cô gái tuổi Tý, là chỗ dựa đáng tin cậy trong suốt cuộc đời. Còn sự dịu dàng, chu đáo của cô nàng này lại chính là điểm mà chàng trai thấy ấm áp, an tâm. Họ đều mong muốn có được cuộc sống ổn định, hài hòa và mơ ước được chung tay vun đắp tổ ấm hạnh phúc, an lành.
 

Nữ tuổi Tý + Nam tuổi Thìn  = Tam hợp
 

Cặp đôi này có thể bù trừ cho nhau về tính cách, cả hai đều giỏi tích lũy, đầu tư tài chính. Hai con giáp này kết đôi sẽ có cuộc sống hôn nhân hạnh phúc và nền tảng kinh tế vững chắc.
 
Chàng trai tuổi Thìn khỏe mạnh, thông minh, làm việc quên mình, hết lòng phấn đấu vì vợ con, còn cô nàng tuổi Tý lại khéo léo đảm đang, biết tạo cảm giác ấm áp cho gia đình. Đôi bên nương tựa lẫn nhau, cùng nhau tiến bộ, là sự kết hợp hoàn hảo cho hôn nhân hạnh phúc.
 

Nữ tuổi Tý + Nam tuổi Thân = Tam hợp
 

Đây là cặp đôi có chung quan điểm về gia đình. Cuộc sống hôn nhân hài hòa, hạnh phúc sẽ giúp cả hai phát huy được khả năng của mình ở mức tốt nhất, kinh tế sung túc, giàu sang. 
 
Đàn ông tuổi Thân là mẫu người ưa tư duy, có thể tính toán chu toàn mọi việc. Cô gái tuổi Tý lại là mẫu phụ nữ của gia đình, biết vun vén, chăm lo cho cuộc sống vợ chồng. Cặp đôi này luôn ngưỡng mộ lẫn nhau, biết nhìn vào mặt tốt của nhau nên gia đình lúc nào cũng hòa thuận, vui vẻ.


 
 

2. Nam tuổi Tý hợp nữ tuổi nào?
 

Nam tuổi Tý + Nữ tuổi Sửu = Lục hợp
 

Nam tuổi Tý với nữ tuổi Sửu, đây là sự lựa chọn tuyệt vời cho đàn ông tuổi Tý. Hai người sẽ tạo thành một đôi hoàn hảo. Cô gái tuổi này luôn thủy chung như nhất, lại khéo léo tình cảm, giúp chàng trai tuổi Tý luôn cảm thấy ấm áp, có động lực phấn đấu để chăm lo cho hạnh phúc lứa đôi, là trụ cột gia đình trong mọi sóng gió cuộc đời.
 
Hai con giáp này cũng rất hợp ý nhau trong phân chia nghĩa vụ gia đình, cả hai đều muốn gách vác bớt trách nhiệm cho người kia, thể hiện tình yêu thương trong từng việc nhỏ. Sự ăn ý này khiến cho cuộc sống gia đình ngày càng đầm ấm, hạnh phúc.
 

Nam tuổi Tý + Nữ tuổi Thìn = Tam hợp
 

Tính cách hai người đều thẳng thắn dứt khoát, giỏi giang tài cán. Bản thân mỗi người đều rất giỏi giang và tự tin, họ sẵn sàng tin tưởng lẫn nhau, cũng biết để cho đối phương có không gian riêng. Trong cuộc sống, hai người này cũng luôn lạc quan, biết tìm niềm vui từ những điều bình dị, tạo cảm giác tươi mới cho đời sống lứa đôi.
 
Chàng trai tuổi Tý rất ngưỡng mộ tài năng của cô nàng tuổi Thìn, tuy đôi lúc cô nàng có chút kiêu kì, hư vinh nhưng trong mắt chàng trai đấy lại là một điểm đáng yêu. Nếu kết hôn, cặp đôi này dễ dàng có được cuộc sống hạnh phúc như ý.
 

Nam tuổi Tý + Nữ tuổi Thân = Tam hợp
 

Sự kết hợp này tương đối mỹ mãn, là đáp án hoàn hảo cho câu hỏi tuổi Tý hợp với tuổi nào. Cả hai cùng coi trọng sự nghiệp, có ý chí kiên cường, lại biết thấu hiểu và thông cảm cho khó khăn, khuyết điểm của đối phương. Dù trong chuyện gì giữa họ cũng đều có sự ăn ý khó tả, luôn giúp đỡ, hỗ trợ nhau, cùng phấn đấu đi đến thành công.
 
Cô gái tuổi Thân dịu dàng, khéo léo, chàng trai tuổi Tý lại anh dũng can trường. Hai bên cùng quan tâm và thấu hiểu lẫn nhau, không gì có thể chia cách được. 
Hy Vũ
Tuổi Tý cung Bạch Dương: Hòa đồng, không thích an phận Người tuổi Tý nhóm máu AB: Hài hước, chủ động nhưng lại rất bảo thủ Xem tình duyên năm 2017 của người tuổi Tý

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tuổi Tý hợp với tuổi nào trong tình yêu, hôn nhân

Sao Đẩu Quân

Hành: Hỏa Loại: Ác Tinh Đặc Tính: Cô độc, khó tánh, ngăn nắp, giữ của lâu bền
Sao Đẩu Quân

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Hành: HỏaLoại: Ác TinhĐặc Tính: Cô độc, khó tánh, ngăn nắp, giữ của lâu bền
Ý Nghĩa Đẩu Quân Ở Cung Mệnh

Tính Tình
Đẩu Quân có nghĩa là nghiêm nghị, chặt chẽ, khắc kỷ. Người có Đẩu Quân thủ Mệnh thường cô độc, ít bạn do sự khó tính hoặc câu chấp. Về điểm này, Đẩu Quân giống đặc tính của Cô Thần, Quả Tú. Nếu gặp sát tinh thì gian xảo, quỉ quyệt.
Công Danh Tài Lộc
Đẩu Quân chủ sự gìn giữ của cải lâu bền. Do đó, sao này rất đắc dụng ở cung Tài, Điền và biểu tượng cho sự cầm của, giữ của.
Ý Nghĩa Đẩu Quân Ở Cung Quan Lộc
Thường làm việc cố định, ít dời chỗ, làm chỗ nào rất lâu. Duy trì được chức vụ, quyền hành. Tuy nhiên, vì Đẩu Quân là sao cô độc nên đóng ở Quan sẽ ít được người giúp việc.
Ý Nghĩa Đẩu Quân Ở Cung Thiên Di Hay Nô Bộc

  • Ít bạn, không thích giao thiệp với bạn bè.
Ý Nghĩa Đẩu Quân Ở Cung Tử Tức
  • Đẩu Quân là sao hiếm muộn, chủ sự chậm con, hiếm con, giống như sao Lộc Tồn, Cô Thần, Quả Tú, Phi Liêm...
Ý Nghĩa Đẩu Quân Ở Cung Phu Thê
Nói chung, sao Đẩu Quân ở cung Phu Thê thì cô đơn, ít được người bạn đời hiểu biết. Tuy nhiên, chúng ta cần phân biệt hai trường hợp:
  • Gặp nhiều sao tốt đẹp: Vợ chồng hòa thuận.
  • Gặp nhiều sao xấu: Thường bị hình khắc, tai ương hoặc ít ra là cô độc, bị bỏ quên (như vợ cả có chồng ngoại tình).
Ý Nghĩa Đẩu Quân Ở Cung Tài Bạch
  • Có khả năng giữ của, hà tiện, tiêu xài kỹ..
Đẩu Quân Khi Vào Các Hạn
  • Hạn có sao Đẩu Quân, Kình Dương, Thiên Hình, là hạn bị hình thương, bị cưa cắt hay bị mổ xẻ.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sao Đẩu Quân

Xem tướng khuôn mặt –

Thứ nhất, khuôn mặt chữ Do với phần thiên đình (trán) hẹp và dài, địa các (cằm) nở to tạo thành tướng cách hữu địa vô thiên. Đàn ông có khuôn mặt chữ Do, chủ về 20 năm đầu của cuộc đời cô đơn, khổ sở, di sản tổ tiên để lại không đáng kể, tự lực cánh

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Man Thinking About Paint Colors

sinh, từ thuở trung niên mới có thể khá giả.

kienthuc-kho176-khuonmat5

Đàn bà có tướng mặt hình chữ Do thì hay gặp cảnh khốn khổ. Nếu ngũ quan tương xứng tốt và cân xứng thì con cháu làm nên. Nếu chỉ có vẻ kiều mỹ bề ngoài mà không có vẻ oai nghiêm thì phúc lộc chỉ ở mức bình thường.

kienthuc-kho176-khuonmat6

Khuôn mặt hình chữ Giáp là phần trán nở rộng và cao, cằm hẹp và dài, hình thể ẻo lả tạo thành tướng cách hữu thiên vô địa. Người có tướng này phần lớn không đủ tài lộc. Nếu thanh nhiều trọc ít thì từ nhỏ đến 25 tuổi thường được hưởng kiếp sống thanh nhành nhưng không tránh khỏi cảnh tiền phú hậu bần. Nếu ngũ quan khuyết hãm thì vãn cận lại càng thê thảm.

kienthuc-kho176-khuonmat7

Khuôn mặt hình chữ Thân có phần trán trên nhỏ gọn, dưới nở, hai gò má và mi nở cả chiều ngang và chiều dọc, phần cằm hẹp mà dài. Người có khuôn mặt chữ Thân tuổi trẻ gặp nhiều vất vả. Nếu ngũ quan toàn hảo, thần thái thanh nhã thì có phần phú quý, đa thọ nhưng về già cô độc.

kienthuc-kho176-khuonmat8

Khuôn mặt chữ Điền là khuôn mặt có phần trán vuông, nảy nở, phía cằm đầy đặn, vuông vắn. Người có khuôn mặt chữ Điền có vận mệnh khả quan từ trẻ đến già. Nếu có ngũ quan toàn hảo, khí chất siêu phàm thì quý hiển vô cùng.

Người có khuôn mặt chữ Điền nhưng có bộ vị ngắn, nhỏ, thân hình lùn và mập, sắc da trắng bệch thường tổn thọ. Nếu ngũ quan tuy không khuyết hãm nhưng không toàn mỹ thì chỉ có chút ít của cải.

kienthuc-kho176-khuonmat10

Khuôn mặt hình chữ Đồng có tam đình trên khuôn mặt đều cân xứng, nảy nở, không có bộ vị nào hỏng về hình thức và thực chất. Đây được coi là khuôn mặt thượng cách. Đàn ông có khuôn mặt chữ Đồng thì ba giai đoạn: trẻ, trung niên và già đều hanh thông về mọi phương diện.

Đàn bà mà có tướng mặt chữ Đồng thường suốt đời được hưởng hạnh phúc, không biết đau khổ là gì.

kienthuc-kho176-khuonmat12

Khuôn mặt chữ Vượng có thiên đình nảy nở cân xứng, trung đình vuông vức nhưng trơ xương, hạ đình nảy nở nhưng thịt ít, xương nhiều. Người có gương mặt chữ Vượng thường tài lộc bất toàn. Nếu ngũ quan ngắn thì có danh không có lộc, hoặc có lộc lại vô danh khó có danh lợi song toàn.

kienthuc-kho176-khuonmat13

Người có khuôn mặt tròn, mắt tròn, tay tròn và miệng gần như tròn được gọi là khuôn mặt chữ Viên. Người có khuôn mặt chữ Viên mà da trắng, khí sắc trì trệ thì thường chết yểu. Nếu ngũ quan phá, liệt cách thì đời sống bệnh tật, vất vả.

kienthuc-kho176-khuonmat14

Thiên đình cao mà hẹp, phần trung đình ngắn và thiếu nảy nở, phần hạ đình dài mà hẹp gọi là khuôn mặt chữ Mộc. Đây là tướng hạ cách. Nếu ngũ quan không lệch lạc, phá hãm thì thuở nhỏ có thể an nhàn nhưng về sau dần lụi bại. Đàn bà có tướng mặt như trên thì hình phu khắc tử nhưng lại rất thọ. Sự khắc chồng con và cô độc nặng nhẹ tùy theo thần khí và ngũ quan tốt xấu.

kienthuc-kho176-khuonmat15

Khuôn mặt không cân xứng, thiếu ngay thẳng, ngũ quan lệch lạc thì gọi là khuôn mặt chữ Dung. Người có khuôn mặt này hình thê khắc tử, cơ khổ lênh đênh đến già.

kienthuc-kho176-khuonmat16

Nếu khuôn mặt phần bên trái vuông vắn, đều đặn và nảy nở, phần cằm đầy và rộng nhưng phần lưỡng quyền thấp và hẹp gọi là khuôn mặt hình chữ Phong. Nếu thân thể hư nhược, ngũ quan bình thường thì người có khuôn mặt chữ Phong tạm đủ ăn đủ mặc, trung niên trắc trở, dần suy sụp. Thân thể hư nhược nhưng ngũ quan toàn hảo thì có thể tạm gọi là phú quý nếu thân cận với quý nhân.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tướng khuôn mặt –

Xem bói tay, ý nghĩa các đốt ngón tay

Ngửa lòng bàn tay, duỗi thẳng (nam trái nữ phải), quan sát ba đốt ngón tay xem đốt nào dài nhất.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Ngửa lòng bàn tay, duỗi thẳng (nam trái nữ phải), quan sát ba đốt ngón tay xem đốt nào dài nhất. Đốt dài nhất chính là đại diện cho ưu điểm, sở trường của bạn, đồng thời cũng có thể bạn đã bắt đầu bước vào vận đỏ.

Đốt ngón tay khác nhau, vận thế khác nhau

Ngón cái
Đốt thứ nhất của ngón cái: Đại diện cho ý chí và sự mạnh yếu của ý thức cái tôi.
Đốt thứ hai ngón cái: Đại diện cho khả năng tư duy logic.
Đốt thứ ba ngón cái: Đại diện khả năng xử lý vấn đề liên quan đến tình cảm.

dot-ngon-tay

Ngón trỏ
Đốt thứ nhất ngón trỏ: Đại diện cho khả năng trực giác, mức độ tự tin, cái tôi.
Đốt thứ hai ngón trỏ: Đại diện cho chí tiến thủ và sự hiếu thắng.
Đốt thứ ba ngón trỏ: Đại diện cho nhu cầu cơ bản của con người.

Ngón giữa
Đốt thứ nhất ngón giữa: Đại diện cho đạo đức và phản ánh đặc trưng tình cảm.
Đốt thứ hai ngón giữa: Đại diện cho tinh thần trách nhiệm và mong muốn tạo dựng sự nghiệp.
Đốt thứ ba ngón giữa: Đại diện cho nhu cầu hiện thực của con người.

Ngón vô danh
Đốt thứ nhất ngón vô danh: Đại diện cho khả năng nghệ thuật, tu dưỡng bản thân và đặc trưng tính cách.
Đốt thứ hai ngón vô danh: Đại diện cho danh tiếng và khát vọng sống.
Đốt thứ ba ngón vô danh: Đại diện cho trực giác, tài hoa, dục vọng.

Ngón út
Đốt thứ nhất ngón út: Đại diện cho ham muôn thể hiện và khả năng biện luận.
Đốt thứ hai ngón út: Đại diện cho khả năng nhẫn nại và khả năng thực tiễn.
Đốt thứ ba ngón út: Đại diện cho khả năng suy nghĩ, ý chí và thể lực.

Xem vận thế dựa vào các đốt ngón tay 

Đường vân của đốt thứ nhất ngón cái giống như con mắt dược gọi là con mắt văn chương: Biểu thị thành tích đạt được trên con đường học tập.
Đốt thứ nhất ngón cái giống như đầu rắn, đốt thứ hai nhỏ mảnh: Biểu thị là người khó kết giao nhưng có tài vận.
Đốt thứ hai ngón cái có thể tùy ý gập lại: Biểu thị là người háo sắc, đê tiện.
Ngón trỏ lệch sang ngón giừa: Biểu thị được cha mẹ quan tâm, yêu quý.
Nửa đốt thứ nhất của ngón trỏ hướng tới ngón giữa: Biểu thị là người ôn hòa, không thích thể hiện mình.
Ngón giữa gập sang ngón trỏ: Biểu hiện là người rất hiếu thuận với cha mẹ.


Ngón giữa gập sang ngón vô danh: Biểu thị sự quan tâm tới  nửa còn lại của mình.
Ngón vô danh cong vể phía ngón giữa: Cho thấy ngưòi này biết bảo vệ người bạn đời.
Đốt đầu tiên của ngón vô danh có vân ngang: Biểu thị sự coi
trọng con cái, có phương pháp thoát khỏi hiện thực, nói chung họ là người cần được quan tâm, chăm sóc.
Đốt thứ ba ngón vô danh quá dày: Biểu thị nhu cầu tính dục mạnh.
Cuối ngón út và đốt đầu tiên ngón vô danh: Biểu thị không quan tâm tới con cái.
Ngón út căng: Biểu thị con cái mình lúc nhỏ được nuôi dưỡng, chăm sóc ở một nhà khác.

Ngón trỏ

Đốt trên Khá dài biểu thị khả năng quan sát tốt; khá ngắn, khá dày biểu thị nhu cáu vật chất rất cao.
Đốt giữa Khá dài biểu thị làm việc hiệu quả cao, khá ngắn biểu thị chí khí không đủ.
Đốt dưới Khá dài biểu thị thích chỉ huy người khác, khá ngắn biểu thị cuộc sôhg thanh nhàn, khá mỏng biểu thị lòng yêu thích nghệ thuật

Ngón giữa

Đốt trên Khá dài biểu thị lãm việc cẩn thận, khá ngắn biểu thị tính tình ổn dịnh, khá mỏng biểu thị có lòng hoải nghi lớn.
Đốt giữa Khá dài biểu thị tính tinh vội vàng, hấp tấp, khá ngắn biểu thị sự yêu thích khoa học, khá dày biểu thị sựyèu thích nghệ thuật.
Đốt dưới Đường khá dài, biểu thị cái tối, đường khá ngắn biểu thị sự nho nhã.

Ngón vô danh

Đốt trên Khá dài biểu thị là người thích nghệ thuật, quá dày thì có khuynh hướng yêu bản thãn, khá mỏng biểu thị thích đối đầu với thử thách.
Đốt giữa Khá dài biểu thị sự yêu thích nghệ thuật, khá ngắn, khá dày biểu thị không có duyên với nghệ thuật.
Đốt dưới Khá dài biểu thị nhu cầu học hỏi cao, khá ngắn biểu thị khả năng thưởng thức kém.

Ngón út

Đốt trên Khá dài biểu thị tài ăn nói rất tốt, khá ngắn biểu thị khả năng tính due kém.
Đốt giữa Khá dài biểu thị có đẩu óc kinh bang tế thế, khá ngắn biểu thị khống có tài lãnh đạo, khá dày biểu thị trong lòng nham hiểm.
Đốt dưới Khá dài thể hiện sự thuần khiết, dáng yêu. Khá ngắn thể hiện sức tưởng tượng kém.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem bói tay, ý nghĩa các đốt ngón tay

Những kiêng kỵ khi đặt tên cho người tuổi Dần

Để chọn được một cái tên cát tường cho người tuổi Dần, bạn cần có hiểu biết về sự hợp - xung của 12 con giáp và một số nét văn hóa, ngôn ngữ Trung Quốc (bởi
Những kiêng kỵ khi đặt tên cho người tuổi Dần

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

văn hóa Việt Nam chịu ảnh hưởng khá rõ nét của văn hóa Trung Quốc).

Vì tuổi Dần xung với tuổi Thân nên khi đặt tên cho người tuổi Dần bạn cần tránh những từ thuộc bộ Thân, bộ Viên như: Thân, Viên, Viễn, Viện…

Tuổi Dần cũng tương khắc với tuổi Tỵ, vì vậy những tên chữ thuộc bộ Quai xước - tượng hình như con rắn - cũng cần tránh. Ví dụ như: Tuần, Tấn, Phùng, Thông, Liên, Tiến, Đạo, Đạt, Vận, Thiên, Tuyển, Hoàn, Vạn, Na, Thiệu, Đô, Diên, Đình, Xuyên, Hồng, Thục, Điệp, Dung, Vĩ, Thuần…

Tên người tuổi Dần cần biểu thị sự oai phong, lẫm liệt

Hổ được ví là “chúa tể rừng xanh”, thích sống ở rừng sâu núi thẳm, nơi vắng bóng người và là loài không thích bị chế ngự. Vì vậy, bạn cần tránh dùng tên có bộ Nhân, bộ Sách như: Nhân, Giới, Kim, Đại, Trượng, Tiên, Tráng, Trọng, Doãn, Bá, Hà, Tác, Ý, Bảo, Tuấn, Luân, Kiệt, Kiều, Đắc, Luật, Đức…

Hổ thường sinh sống trong rừng âm u và không thích nơi có nhiều ánh sáng. Do đó, những chữ có bộ Nhật, bộ Quang - mang nghĩa biểu thị ánh sáng cũng cần tránh. Ví dụ như: Nhật, Đán, Tinh, Minh, Vượng, Xuân, Ánh, Tấn, Thời, Yến, Tính, Huân…

Khi hổ xuống đồng cỏ hoặc xuống ruộng lúa thì sẽ mất đi quyền năng của chúa tể rừng xanh và dễ mắc bẫy. Những chữ có bộ Thảo, bộ Điền như: Phương, Hoa, Vân, Chi, Phạm, Hà, Anh, Danh, Trà, Vinh, Bình, Như, Thanh, Cúc, Lệ, Dung, Vi, Cương… cũng cần tránh khi đặt tên cho người tuổi Dần.

Khi hổ nhe nanh là biểu thị có sự chẳng lành. Vì vậy, những chữ thuộc bộ Khẩu như: Đài, Khả, Thượng, Đồng, Hợp, Hậu, Cát, Như, Hòa, Đường, Viên, Thương, Hỉ, Gia, Quốc, Viên, Đoàn… cần được loại bỏ.

Hổ và rồng luôn tranh đấu (long hổ đấu), vì vậy những tên có chứa chữ Long, Thìn, Bối như: Thìn, Long, Trinh, Tài, Quý, Phú, Thuận, Nhan… không phải là sự lựa chọn tốt cho người tuổi Dần.

Hổ bị giam giữ trong nhà sẽ mất hết uy phong, do đó tên người tuổi Dần không nên có những chữ thuộc bộ Môn như: Nhàn, Nhuận, Lan…

Hổ phải to, khỏe mới có được vẻ oai phong, lẫm liệt. Vì vậy, tên người tuổi Dần cần tránh những từ biểu thị nghĩa nhỏ, yếu như: Tiểu, Thiếu...

Theo Đặt tên cho con theo 12 con giáp


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những kiêng kỵ khi đặt tên cho người tuổi Dần

4 cách làm đơn giản giúp cho ngôi nhà được thịnh vượng –

Nhiều nhà phong thủy học cho rằng góc trong phía bên trái của căn phòng (nhìn từ cửa chính) có liên quan mật thiết đến vấn đề tiền bạc. Những cách làm đơn giản sau sẽ giúp bạn nhanh chóng có được sự thịnh vượng: 1. Dọn sạch những gì bừa bộn trong phò

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nhiều nhà phong thủy học cho rằng góc trong phía bên trái của căn phòng (nhìn từ cửa chính) có liên quan mật thiết đến vấn đề tiền bạc. Những cách làm đơn giản sau sẽ giúp bạn nhanh chóng có được sự thịnh vượng:

1. Dọn sạch những gì bừa bộn trong phòng làm việc, phòng khách, nhà bếp và phòng ngủ vì sự lộn xộn là dấu hiệu của năng lượng bị ứ đọng. Nó có thể làm cản trở, tắc nghẽn dòng lưu thông của tài lộc.

phong thuy phong khach-2

2. Sửa chữa ngay những đồ đạc bị hỏng hay không hiệu quả đang nằm ở vị trí “hút tiền”. Chẳng hạn như: ngăn kéo tủ bị kẹt, chiếc đồng hồ chạy sai giờ hay đèn bàn chập chờn…

Điều nhỏ nhặt này có thể gây những tác động lớn tới sự hưng thịnh của gia đình bạn. Vì vậy, bạn hãy bắt tay vào sửa chữa để chúng hoạt động tốt để có được tài lộc như ý.

3. Trang trí những vị trí quan trọng của phòng làm việc, phòng khách, nhà bếp và phòng ngủ đó bằng những biểu tượng của sự phát đạt như: những đồng tiền vàng, vài nhánh cây phát lộc…

Ngoài ra, việc treo những bức tranh liên quan đến tiền bạc và có ý nghĩa đặc biệt với bạn như: một ngôi nhà mơ ước hay chiếc ô tô đắt tiền, sang trọng, hợp thời trang… cũng sẽ mang lại hiệu quả tốt cho tài vận của bạn.

4. Tạo điểm nhấn nơi góc phòng bên trái phía trong bằng màu xanh lá cây và màu tía. Việc dùng những quả nho thật hoặc giả để trang trí cũng là một ý tưởng hay.

Bạn cần thay thường xuyên để chúng luôn được tươi mới. Ngoài ra, bạn nên kẹp sổ sách vào một bìa sách màu xanh lá cây, tím, đỏ hoặc đen… và đặt trên bàn góc trong phòng làm việc của mình.

Những cách trên sẽ là trợ thủ đắc lực cho sự thịnh vượng của bạn. Tuy nhiên, để có được điều đó, bạn cần làm chủ được số tiền chi tiêu hàng ngày; số tiền còn lại trong tài khoản; tiền mặt còn trong ví.

Nguồn: tổng hợp


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 4 cách làm đơn giản giúp cho ngôi nhà được thịnh vượng –

Phật dạy 20 điều khó của con người

Phật dạy người sống trên đời có 20 cái khó. 20 điều khó của con người là những việc mà phải vượt qua những tâm lý thường tình, những chông gai trắc trở.
Phật dạy 20 điều khó của con người

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Phật dạy người sống trên đời có 20 cái khó. 20 điều khó của con người là những việc mà phải vượt qua những tâm lý thường tình, những chông gai trắc trở của cuộc sống mới có thể đạt được. Phật pháp vô biên, thiên địa bao la, thiện ác tùy tâm, tiến tới vô thường mới là đạo lý chân chính.

Phat day 20 dieu kho can buoc con nguoi tien toi hanh phuc hinh anh
 
1. Bần cùng bố thí đệ nhất khó. Bố thí giúp người khác là chuyện rất tốt, là nghiệp lành mà càng tích càng có phúc. Nhưng khó nhất ở trên đời không phải là vì có nên bố thí, vì thừa nên cho đi mà là chia sẻ cả khi mình cũng đói khổ, khó khăn, xuất phát từ chân tâm.   2. Phú quý học đạo đệ nhị khó. Phật dạy 20 điều khó của con người thì cái khó thứ hai là giàu sang mà vẫn chuyên tâm học đạo. Bởi hoàn cảnh tốt thường khiến con người hưởng thụ, không tĩnh tâm, danh lợi khiến người ta kiêu căng, ỷ thế. Vượt qua những điều này để khiêm tốn lễ nghĩa hướng về đạo phải thật có chí, coi vinh hoa như cảnh mộng.   3. Tận mệnh ắt phải chết là đệ tam khó. Hồng trần sinh ly tử biệt không thể không có ngày chia ly, ai chẳng ham sống sợ chết. Nhân sinh từ trước tới nay đều vô thủy, vô chung, mệnh tới nhân gian là cõi tạm, hiểu được điều này, coi việc sống chết như lẽ tự nhiên là điều khó.   4. Có được kinh Phật là đệ tứ khó. Gặp kinh, giác ngộ kinh, hiểu được Phật pháp, giáo lý đều phải nhờ duyên trong đời.   5. Thấy được giá trị của Phật là đệ ngũ khó. Không phải cứ bái Phật dâng lễ là hiểu được giá trị của Phật, người mà lòng giác ngộ, hiểu lễ nghi, hướng tới học Phật, noi gương Phật để thực hành trong đời mới thực sự là trân trọng giá trị của Phật.   6. Nhẫn nại chịu đựng là điều khó thứ sáu trong 20 điều khó của đời người mà Phật dạy. Dục vọng của con người là vô biên, tài sắc danh lợi đều khó chối bỏ, vượt qua được mà không lưu luyến là điều không dễ dàng.   7. Không tham cầu điều tốt là là điều khó thứ bảy. Tất cả chúng sinh đều có lòng tham, một đời tâm bất an. Nên tinh tiến khí trừ ngoài thân để trong lòng yên tĩnh, tâm nhẹ nhàng.   8. Bị nhục mà không sân là điều khó thứ tám. Trong luân lý nhà Phật, tham sân si là ba nguồn gốc tạo nên sự đau khổ, nhiễu nhương của cuộc đời. Nếu có thể rộng lòng nhẫn nại, bị làm nhục cũng không oán hận thì mới đích thực được giải thoát.   9. Không tham quyền thế là điều khó thứ chín. Chấp nhất quyền lực, hướng tới vị trí cao, nịnh nọt lấy lòng, không chịu được cơ hàn thì ai cũng làm được. Cái khó là không sa vào dục vọng tầm thường như vậy, sống đạm bạc giản đơn mà vẫn vui vẻ.   10. Gặp chuyện không quan tâm là điều khó thứ mười. Thiên hạ vốn phiền lòng vì tính toán, để ý từng chuyện, thả ra tuy khó nhưng thanh tâm, lòng thanh thản, không bị trói buộc.
Phat day 20 dieu kho can buoc con nguoi tien toi hanh phuc hinh anh
 
11. Học hành rộng rãi uyên bác là điều khó thứ mười một. Chuyên tâm học tập đã khó, thâm nhập tìm tòi nghiên cứu còn khó hơn. Việc trở thành người có trí tuệ thông sâu, năng lực mạnh mẽ cần bền lòng, bền chí.   12. Diệt trừ ngạo mạn là điều khó thứ mười hai. Nông cạn, khoe khoang chẳng lợi gì, no đủ hanh thông biết cúi đầu mới là chuyện tốt. Diệt trừ kiêu căng, khiêm tốn cung kính, hiểu lễ ở đời.   13. Không khinh việc học là cái khó thứ mười ba. Sóng lớp sau xô lớp trước, người sau vượt trôi hơn người trước là lẽ thường tình nên ở bất cứ vị trí nào cũng phải tôn trọng việc học tập, tiếp tục trau dồi chính mình.   14. Tâm bình đẳng là điều khó thứ mười bốn. Trời sinh chúng sinh như nhau, cùng là mạng, cùng nhân phẩm. Nhìn phẩm cấp, vị trí, học vị, tài sản mà phân sang hèn, quý tiện thì dễ, học bình đẳng mới thật gian nan.   15. Không nói thị phi là điều khó thứ mười lăm. Khẩu nghiệp là họa lớn, quản tốt miệng của mình mới an lành.    16. Tôn kính tri thức là điều khó thứ mười sáu. Thấy thầy tốt bạn hiền thì mở rộng nội tâm mà đón nhận, học tập.   17. Chăm chỉ học đạo là điều khó thứ mười bảy. Phật tính có sẵn trong mỗi con người, lười biếng thì mất đạo, bồi dưỡng ắt thành công.   18. Hóa độ người khác là điều khó thứ mười tám, Chúng sinh khó dạy, khuyên người khác hướng về điều thiện không dễ, phải kiên trì, chân tâm, bỏ nhiều thời gian công sức.   19. Thấy cảnh bất động là điều khó thứ mười chín. Tâm không chuyển theo cảnh, dù ở điều kiện nào cũng vẫn giữ được tấm lòng thiện lương, tốt lành như vốn có.    20. Tiện tay hóa duyên là điều khó thứ hai mươi. Bất biến tùy duyên đều làm tròn lý lẽ, chỉ hướng về con người, về đạo.   Phật đưa ra 20 điều khó của con người, mong rằng chúng sinh thấu hiểu, tự sửa bản thân, dần dần đẩy lui mọi thói xấu, tự vượt qua được tất cả những khó khăn, cản trở để hướng tới cuộc sống an lành.
Hà cớ gì cổ nhân có câu “Bệnh từ miệng vào, họa từ miệng ra” Gái kém duyên, muộn chồng lạc quan hơn khi nghe lời Phật dạy Lời Phật dạy: Đoán biết người có vận mệnh tốt hay xấu chỉ cần nghe họ nói
Thái Vân

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phật dạy 20 điều khó của con người

Đánh giá chính xác phong thủy nhà ở –

Phong thuỷ nhà ở chính là bố cục môi trường trong ngoài nhà và nơi có nhà, bố cục này là dựa trên nguyên lý và cơ sở khoa học tự nhiên dưới tiền đề thuận theo khoa học tự nhiên, con người theo đó tiến hành cải tạo môi trường và điều kiện nơi ở, tạo r

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

a sự tương đồng với khí trường tự nhiên hoặc thích hợp với môi trường của khí trường nơi con người sinh tồn, mà môi trường loại này phái làm cho con người cảm thấy hài lòng vừa ý, khoẻ mạnh thoải mái, gia đình hưng vượng.

xay-nha-hop-phong-thuy

1. Nhà ở phải sạch sẽ, nếu không dễ sinh sự chẳng lành.

Cụ thể cần chú ý những điểu sau:

–     Đất làm nhà không chọn nơi đã từng là bãi tha ma, trạm giết mổ, bãi than hoặc bãi rác, những nơi này đều là môi trường thu hút vi khuẩn đến sinh sống, ảnh hưởng đến sức khoẻ người trong nhà.

–     Đồ vật trên nền đất chưa được thu dọn gọn sạch để thích hợp cho sử dụng làm nền nhà. Người ta thường chú trọng đến môi trường ăn uống, không thích ngồi ăn ở nơi có đồ vật bừa bãi, nếu không thu dọn gọn gàng sẽ ảnh hưởng đến tâm lý người sử dụng.

–     Kị đất bồi không sạch. Đất sử dụng bồi thêm cho nền nhà nếu chứa rác hoặc là đất lấy từ bãi tha ma là không sạch.

–     Đất bồi ven sông ẩm ướt khí nặng, dễ sinh ruồi muỗi gây bệnh truyền nhiễm, nước dùng có khi cũng bị ô nhiễm.

–     Nơi đã từng xảy ra hung sát hoặc tai hoạ lớn thì cần phải tránh, nếu không sau này dễ ảnh hưởng, sinh chuyện không tốt.

2. Chú trọng trung tâm nhà

Nếu như giữa nhà có giếng trời, quyền uy của chủ nhà không dễ được người khác tôn trọng. Vị trí trung tâm nhà nếu có hình thế của một giếng trời sẽ làm cho chủ nhà mất đi trọng tâm, như vậy thì khó có thể ngưng tụ được quyền uy.

Trong nhà không được đặt la bô ở vị trí trung tâm. Ví trí trung tâm nhà giống như trái tim của một con người, không được để bất kỳ vật gì nghi là ô uế ở đó. Nhưng nếu ở vị trí này đã có phòng vệ sinh thì cũng hết sức tránh đặt la bô vào đúng điếm trung tâm.

3. Ngoại hình sát của nhà ở

Về phương diện ngoại hình, các học giả phong thuỷ truyền thống thường đặc biệt nhấn mạnh mấy vấn đề như sau:

–     Mớ cửa ra không nên có núi chắn gần trước mặt. Vì nếu núi chắn quá gần nhà sẽ dễ gây áp lực tâm lý, luôn có cảm giác gặp trở ngại.

–     Địa thế không nên quá cao, nếu không sẽ chiêu thu phong sát, cô linh, kị nhất là tựa vào sườn núi. Những tình huống này là tránh thế gió và không khí lạnh, có thể ảnh hưởng đến sức khoẻ, mà nhà tựa lưng vào vách núi rất dễ xảy ra sự cố nguy hiểm.

–     Bên ngoài nhà không nên có vùng trũng hoặc cửa sông. Ở nơi như vậy dễ phạm thuỷ hoạn, điều kiện vệ sinh lại không tốt.

–     Nền đất không bằng phẳng, gọn gàng, vuông vắn, ví dụ như đất hình tam giác hoặc đất khuyết góc. Gọi là an thân mới lập mệnh, nếu như nền móng không ổn định thì chân đứng sao có thể vững dược.

–     Cửa chính của nhà kị đối diện với chỗ đường giao nhau. Nếu không dễ gây mất đoàn kết trong gia đình, trong nhà mọi người nghi kị bất hoà.

–     Lộ xung ngã ba đường, dễ xảy ra tai hoạ vô cớ, gặp nạn đâm xe hại thân. Nhưng nếu người kinh doanh buôn bán thì ở vị trí này lại thích dụng, tuy nhiên phái có biện pháp hoá giải xung sát, phải phối hợp với các điều kiện môi trường khác.

–     Nhà ở kị đối diên với khe tiếp giáp giữa hai toà nhà. Nằm ở vị trí chiếu thẳng với khe tiếp giáp giữa hai toà nhà sẽ có phong thế mạnh, ánh hưởng đến sự an toàn của nhà.

–     Đối diện thẳng dọc sống nhà hoặc góc tường bên ngoài nhà khác. Nếu như vậy sẽ ảnh hưởng đến bình ổn tâm lý.

–     Trước cửa có gạch đá phế thải, rác vứt thành đống. Mở cửa ra nhìn thây ngay cảnh lộn xộn, ô tạp, trong lòng cảm thây buồn phiền.

–     Trước cửa có lều đổ nát. Theo phong thuỷ thì đây là tổn đinh sát, ảnh hưởng của nó giống như trước nhà có đống rác thải, sẽ gây cảm giác thất bại.

–     Kị nơi miếu tự và nha môn. Đâv là những nơi thường có âm khí hoặc hung án, đều là những hình ảnh không tốt lành gì.

–     Nhà có nhiều song sắt nghiêm mật như nhà tù. Nhiều người vì để phòng chống kẻ trộm nên thường bố trí chăn song sắt ở những nơi như cửa sổ, mái nhà, tuy vì mục dích chống trộm nhưng cần phải tránh dùng sơn màu đỏ để sơn cho các thanh chắn song, nếu không sẽ phạm phải tù ngục sát.

4. Phối trí trong nhà

–     Cửa: Cửa là chỗ ra vào nhà, cũng là nơi thu nạp khí, rất quan trọng, mọi hung cát, phúc hoạ đều quyết định ở đó. Cửa không được nghiêng lệch, cao thấp lộn xộn, cầu thang không được trực xung với cửa, giữa cửa và nhà phải có sự hài hoà, phải có cả cửa trước cửa sau, phòng dùng chung tốt nhất phía sau phải lưu thông khí tốt.

–     Bếp: Bước vào cứa nhìn ngay thây bếp hoặc lối đi vào cửa chiếu thẳng vào bếp là xâu, bếp đun đối diện với nhà vệ sinh hoặc bị xà nhà chiếu thẳng vào cùng là những điều cấm kị.

–     Nhà vệ sinh: Bước vào cửa gặp nhà vệ sinh, nhà vệ sinh đối diện với cửa nhà đều là những bố cục không tốt.

–      Phòng ngủ: Cửa nhà tránh trực xung với phòng ngu, giường không được kê thẳng dưới xà nhà, cầu thang không nên bố trí chỗ có giường, ga trải giường khổng để có gương chiếu vào.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đánh giá chính xác phong thủy nhà ở –

Tướng màu sắc lông mày –

Màu sắc mày thuộc “thường biến”. Lúc thành đạt, khỏe mạnh màu lông mày tươi nhuận. Khi trẻ, khi trung niên, khi già, khi bệnh hoạn, thì màu sắc của chính lông mày đó sẽ thay đổi. Vì vậy tướng màu sắc mày chỉ nêu tiêu biểu “đột biến” để tham khảo: - S
Tướng màu sắc lông mày –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tướng màu sắc lông mày –

Những con giáp nên lấy nhau, sẽ được quý nhân hết lòng phù trợ

Người ta yêu và lấy nhau cũng là do duyên phận, song có những con giáp nên lấy nhau bởi họ là sự kết hợp hoàn hảo, được quý nhân hết lòng trợ giúp, may mắn
Những con giáp nên lấy nhau, sẽ được quý nhân hết lòng phù trợ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

ngập tràn.   Có những người khi sống cảnh độc thân thì vận khí không được tốt cho lắm, hiếm khi gặp may mắn, cũng không có nhiều thành công. Tuy nhiên, khi họ tìm được đúng người để nên duyên đôi lứa thì vận khí cứ thế không ngừng tăng tiến, may mắn ùn ùn kéo tới, lắm khi chỉ ra ngõ thôi cũng nhặt được tiền.   Nó cũng giống như khi một bàn tay khó bề làm mọi chuyện, nhưng khi có hai bàn tay thì làm gì cũng dễ dàng, người này bổ sung cho người kia, thiếu sót được bù đắp, ưu điểm được nhân đôi, chẳng có gì là không thể vượt qua. Cả hai đều có vận trình càng ngày càng thêm tốt đẹp.    Xem bói tử vi thì thấy trong số 12 con giáp, có những con giáp nên lấy nhau bởi cuộc sống sau hôn nhân của họ sẽ vô cùng hạnh phúc khi được quý nhân không ngừng nâng đỡ, vận đỏ như son, niềm vui tới tấp. Cùng theo dõi nội dung dưới đây để biết họ là ai nhé.  

1. Người tuổi Dần nên duyên với người tuổi Mùi: Thu hút quý nhân


nhung con giap nen lay nhau se duoc quy nhan phu tro
 
Hai con giáp này đến với nhau tạo nên một cặp đôi hoàn hảo. Vận khí giữa hai người này có mối liên hệ đặc biệt không thể tách rời. Khi đã thành một thể thống nhất hoàn chỉnh thì vận may của họ tăng tiến không ngừng nhờ được bổ trợ cho nhau. Sức hút của họ thể hiện ở việc họ luôn may mắn được quý nhân giúp đỡ, mà quý nhân dường như tự tìm đến vậy.   Vốn bản thân hai người đã mạnh hơn khi kết duyên cùng nhau, nay lại được quý nhân trợ lực nên vận trình càng thêm vượng phát, niềm vui tới tấp, thành công dồn dập. Quả là một cặp đôi trời sinh, đây là những con giáp nên lấy nhau, nếu không sẽ lỡ mất biết bao vận may cuộc đời.  

2. Người tuổi Tuất nên duyên với người tuổi Hợi: Quý nhân bằng lòng giúp đỡ


nhung con giap ket doi se hanh phuc
 
Nếu bạn và người yêu vừa hay cầm tinh con Tuất và con Hợi thì còn chần chờ gì nữa mà không cùng nhau gây dựng hạnh phúc trăm năm, bởi hai bạn chính là những cặp đôi con giáp hợp tuổi nhau trong tình yêu hôn nhân. Khi ở bên nhau, hai bạn có một sự hài hòa khó tả, tạo nên không khí vô cùng hòa hợp, có thể giúp cho vận trình của cả hai người thăng tiến vượt bậc.   Sẽ có rất nhiều người tự nguyện giúp đỡ, sẵn lòng tương trợ hai bạn mỗi khi có khó khăn, giúp các bạn nhìn thấy được tia sáng phía cuối đường hầm, cũng mở ra nhiều cơ hội phát triển trong tương lai. Chỉ cần người tuổi Tuất và người tuổi Hợi ở bên nhau, sự tâm đầu ý hợp giữa họ cũng là một thỏi nam châm hút quý nhân đến gần.  

3. Người tuổi Dậu nên duyên với người tuổi Tý: Vận quý nhân hưng vượng


cap doi con giap hop nhau
 
Trước khi kết đôi với nhau, người tuổi Dậu và người tuổi Tý có vận khí không mấy may mắn, vận trình không có nhiều điều nổi bật, thậm chí còn khá bất ổn. Song khi nên duyên đôi lứa thì mọi chuyện hoàn toàn đổi khác, vận trình thăng cấp vượt bậc, khiến ai ai cũng phải bất ngờ. Chẳng phải tự nhiên mà người ta nói hai người này là những con giáp nên lấy nhau để khỏi bỏ lỡ cơ duyên trời định.   Dường như ngọn lửa tiềm tàng phía trong họ chỉ khi gặp nhau mới được kích hoạt, giúp cho ngọn lửa đó bùng cháy mãnh liệt, giúp cho bản mệnh thành công không ngừng, vận đỏ như son, may mắn liên tiếp kéo tới. Đồng thời, người tuổi Dậu và người tuổi Tý ở bên nhau sẽ dẫn động quý nhân vận, chẳng cần phải lo lắng mỗi khi gặp khó khăn, trở ngại.   Vận quý nhân của hai người càng ngày càng thêm hưng vượng, trong cuộc sống có rất nhiều người sẵn lòng đưa tay nâng đỡ họ, giúp họ có thêm nhiều cơ hội để phát huy khả năng của bản thân và giành được những mục tiêu to lớn.
Hy Vũ

Bày cách gặp quý nhân cực dễ, cực hay, phát vận liền tay Cách xác định quý nhân vận theo tử vi 8 nốt ruồi mang quý nhân tới giúp bạn làm giàu

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những con giáp nên lấy nhau, sẽ được quý nhân hết lòng phù trợ

Ý nghĩa hình xăm vô cực –

Ý nghĩa hình xăm vô cực : Hình xăm vô cực thể hiện một cái gì đó đi mãi mãi. Nó là gì mà đi mãi mãi phụ thuộc vào lý do tại sao một người nào đó đã nhận nó. Nó có thể được cho một "tình yêu mà đi mãi mãi" nó có thể được cho "sức mạnh mà đi mãi mãi" m

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Ý nghĩa hình xăm vô cực :
Hình xăm vô cực thể hiện một cái gì đó đi mãi mãi. Nó là gì mà đi mãi mãi phụ thuộc vào lý do tại sao một người nào đó đã nhận nó.

y-nghia-hinh-xam-vo-cuc

Nó có thể được cho một “tình yêu mà đi mãi mãi” nó có thể được cho “sức mạnh mà đi mãi mãi” một “bộ nhớ mà đi mãi mãi,” bất cứ điều gì bạn muốn.

y-nghia-hinh-xam-vo-cuc-2Ý nghĩa hình xăm vô cực này thể hiện sự trẻ trung mãi mãi.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Ý nghĩa hình xăm vô cực –
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd