Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

Quẻ Quan Âm: Hồng Vũ Khán Ngưu

Quẻ Quan Âm thứ 76 Quẻ Quan Âm: Chu Nguyên Chương Khán Ngưu đoán rằng phải chờ đợi thời cơ, không được liều lĩnh làm bừa
Quẻ Quan Âm: Hồng Vũ Khán Ngưu

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đây là quẻ Quan Âm thứ 76 được xây dựng trên điển cố: Chu Nguyên Chương khán ngưu hay Chu Nguyên Chương chăn trâu.

Quẻ trung bình thuộc cung Ngọ. Dù có được căn cơ tốt đẹp nhưng phải tĩnh lại để mà chời đợi thời cơ. Mưu tính và hành động phải căn cứ vào hoàn cảnh thực tế, nhất thiết không được liều lĩnh cố chấp nhất nhất theo ý chủ quan của mình.

Thử quái ngư long vị biến chi tượng. Phàm sự đãi thời chí khả dã.

Điển cố quẻ Quan Âm: Chu Nguyên Chương Khán Ngưu

“Hồng Vũ” là niên hiệu của Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương (1328 – 1398), ờ đây chỉ Chu Nguyên Chương.

Quê hương của Chu Nguyên Chương là huyện Cú Dung tỉnh Giang Tô, tổ tiên của Chu Nguyên Chương đời đời làm nghề cày cấy. ông nội của Chu Nguyên Chương là Chu Sơ Nhất, vì không chịu được sự bóc lột của địa chủ và triều đình, đã đưa gia đình trốn đến Tứ Châu bên bờ sông Hoài để khai hoang canh tác. Sau khi Chu Sơ Nhất qua đời, gia đình rất nghèo khó, cha của Chu Nguyên Chương là Chu Ngũ Tứ phải chuyển nhà hết nơi này đến nơi khác, sau cùng mới định cư ở làng Đông, huyện Chung Ly của Hào Châu, Chu Nguyên Chương ra đời ở đây.

Khi Chu Nguyên Chương mười tuổi, người cha vì trốn chạy thuế má lao dịch nặng nề, lại một lần nữa chuyển nhà, đến Cô Trang ờ làng Thái Bình làm ruộng cho địa chủ Lưu Đức, Chu Nguyên Chương chăn trâu cho nhà Lưu Đức.

Năm 1343, Hào Châu xảy ra nạn hạn hán. Mùa xuân năm sau, lại xảy ra nạn châu chấu rất nghiêm trọng, lúa của trang trại bị châu chấu ăn hết sạch. Họa vô đơn chí, tiếp đó lại xuất hiện dịch bệnh. Trong một thời gian ngắn, nhà nào cũng có người chết, trong một thôn, một ngày chết đến mười mấy người. Không lâu sau, gia đình Chu Nguyên Chương cũng bị nhiễm bệnh dịch. Chưa đầy nửa tháng, cha, anh trai và mẹ là Trần thị của Chu Nguyên Chương đều lần lượt qua đời. Chu Nguyên Chương và người anh thứ hai tận mắt chứng kiến từng người thân ra đi, không những không có tiền mua quan tài, thậm chí đến miếng đất để chôn cất người thân cũng không có, hai người khóc lóc thảm thiết, làm kinh động đến người hàng xóm là Lưu Kế Tố, người hàng xóm bèn cho anh em họ một mảnh đất.

Để sinh sống, Chu Nguyên Chương cùng anh trai, chị dâu và cháu buộc phải phân ly, mỗi người tự đi tìm đường sống. Chu Nguyên Chương lúc này chẳng có đường nào mà đi, chợt nhớ đến ngôi chùa Hoàng Giác mà từ nhỏ đã phát nguyện đi tu, vì thế liền vào chùa cạo đầu làm hòa thượng, được làm hành đồng (*), hàng ngày làm những việc quét dọn,

(*) Hành đồng: Còn gọi là đồng hành, đạo giả, đồng thị, tăng đổng, chỉ những chú tiểu làm việc lặt vặt trong chùa: thắp hương, đánh chuông đánh trống, nấu cơm, giặt quần áo ở trong chùa.

Nhưng không lâu sau, lương thực trong chùa cũng không đủ cho các hòa thượng nữa, trong chùa cũng không nhận được bố thí, trụ trì chùa là pháp sư Cao Bân chỉ còn cách giải tán các sư tăng, cho các hòa thượng đi khắp nơi hóa duyên. Chu Nguyên Chương mới làm hành đồng được năm mươi ngày, không còn cách nào khác, đành phải rời chùa đi lang thang xin ăn. Lúc này Chu Nguyên Chương được mười bảy tuổi.

Cuộc sống lang thang gian khổ đã hình thành nên tính cách kiên định và quả cảm của Chu Nguyên Chương, nhưng cũng khiến cho ông trở nên tàn nhẫn và đầy nghi kỵ.

Sau đó Chu Nguyên Chương gia nhập đội quân Hồng Cân của Quách Tử Hưng, tham gia khởi nghĩa nông dân. Sau khi ông thay thế Quách Tử Hưng, đi chinh phạt khắp nơi, đánh bại thế lực Trần Hữu Lượng mạnh hơn mình, tiêu diệt Trương Sĩ Thành ở Triết Giang, dìm chết Hàn Lâm Nhi, tiến về phía bắc đánh Trung Nguyên, cuối cùng, vào tháng giêng năm 1368, ông xưng đế ở ứng Thiên, đặt tên nước là Đại Minh, lập niên hiệu là Hồng Vũ, chọn ứng Thiên làm kinh đô.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Quẻ Quan Âm: Hồng Vũ Khán Ngưu

Bộ Tứ Đức trong Tử Vi

Tứ Đức (Nguyệt Đức, Thiên Đức, Phúc Đức, Long Đức)
Bộ Tứ Đức trong Tử Vi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Ngũ hành 
Nguyệt Đức, Thiên Đức hành Hỏa 
Phúc Đức hành Thổ 
Long Đức hành Thủy 

Đặc tính về cách an sao 
Nguyệt Đức, Thiên Đức, Phúc Đức thì thuộc tam hợp Dương Tử Phúc của vòng Thái Tuế trong đó Nguyệt Đức đồng cung với Tử Phù, Phúc Đức đồng cung với Thiên Đức. Nguyệt Đức và Thiên Đức, Phúc Đức luôn luôn tam hợp với sự xuất hiện của Đào Hoa, Thiên Không và Kiếp Sát trong tam hợp 

Nguyệt Đức thì sẽ đồng cung với Đào, Hồng, Hỉ hay Kiếp Sát. Nguyệt Đức đồng cung với Hồng hay Hỉ đều có Quả Tú xung chiếu, với Đào Hoa thì có cả bộ Cô Quả tam hợp và với Kiếp Sát thì không bao giờ gặp Cô Quả 
Nguyệt Đức bao giờ cũng gặp ít nhất là hai sao của bộ tam minh 

Thiên Phúc Đức khi đồng cung với Đào, Hồng hay Hỉ đều có Tam Minh và không bao giờ gặp Cô Quả. Nếu không đồng cung với Đào, Hồng hay Hỉ thì sẽ có ít nhất hai sao của bộ tam minh và ít nhất một sao Cô Quả: nếu có hai sao Đào Hồng hay Đào Hỉ tam hợp thì sẽ có Quả Tú thủ, Cô Thần Hồng Loan (hay Hỉ) đồng cung tam chiếu, nếu có Đào Hỉ tam chiếu thì đồng cung với Kiếp Sát và có Cô Thần xung chiếu 

Long Đức nằm trong bộ Âm Long Trực, không khi nào có Đào Hoa đồng cung, luôn nhị hợp với Thiên Khốc và luôn luôn có Thiếu Dương, Thiên Không xung chiếu và không bao giờ có đủ bộ tam minh. Luôn có ít nhất một hoặc hai sao của bộ tam minh: khi gặp một sao thì là Hồng hay Hỉ tam chiếu nhưng không gặp Cô Quả Kiếp Sát, nếu gặp hai sao trong đó có Đào Hoa (khi có Đào Hoa thì Đào tại vị trí xung chiếu) thì có đủ bộ Cô Quả, có Hồng hay Hỉ tam chiếu (Bộ Không Đào xung chiếu, Cô Quả, Hồng hay Hỉ tam hợp) còn nếu có Hồng Hỉ thì có Cô Thần, Kiếp Sát xung chiếu, Hồng hay Hỉ thủ (bộ Cô Thần, Kiếp Sát, Hồng, Hỉ) 
Khi đồng cung với Hỉ hoặc Hồng thì Long Đức mới bị Kiếp Sát xung chiếu 
Long Đức đồng cung với Thiên Hỉ hoặc Hồng Loan đều có Hồng Hỉ với Cô Thần, Thiên Không, Kiếp Sát xung chiếu 

Song Long cách (Long Đức Thanh Long đồng cung) 
Chỉ có các tuổi Bính Đinh, Mậu Kỷ, Nhâm Quí mới có khả năng có cách Song Long, chủ về may mắn. Các cung Thủy và Hỏa (Hợi, Tí, Tỵ, Ngọ) không bao giờ có Song Long đồng cung và các tuổi Thìn, Tuất, Tỵ, Ngọ không bao giờ có 
Dương Nam, Âm Nữ: 
Tuổi Bính Tí cung Mùi (có Lưu Hà đồng cung), Đinh Sửu cung Thân (có Lưu Hà đồng cung), Mậu Tí cung Mùi, Kỷ Sửu cung Thân, Nhâm Ngọ cung Sửu, Quí Mùi cung Dần (có Lưu Hà đồng cung) 
Âm Nam, Dương Nữ: 
Bính Thân cung Mão (có Lưu Hà tam hợp), Đinh Dậu cung Mão (có Quan Phúc đồng cung), Mậu Thân cung Mùi, Kỷ Dậu cung Thìn (có Khôi Việt chiếu), Nhâm Dần cung Dậu (có Khôi Việt chiếu), Quí Mão cung Tuất (có Lưu Hà tam hợp) 

Theo kinh nghiệm thì cách Song Long xung chiếu, tam hợp cũng rất đẹp 
Ý nghĩa 
Bốn sao này là phúc thiện tinh 
Chủ đức độ, khoan hòa, đoan chính, nhân hậu, từ tâm 
Chế được tính dâm đãng của Đào Hồng (hoặc các sao dâm tinh khác) vì bản chất đoan chính 
Giải được bệnh tật nhỏ, giảm trừ được phần nào tai họa, tật bệnh, hung nguy. Là cứu tinh, chuyên giải hung nguy nhưng cần căn cứ vào hung tinh loại nào để quyết đoán phú quí, bần tiện, thọ yểu. Hội với hung sát tinh thì không nhập đảng tác hại, hội với cát tinh thì gia tăng sự tốt đẹp. Theo kinh nghiệm thì Tứ Đức không có khả năng đương đầu với Không Kiếp (tối kỵ gặp), Hỏa Linh hãm 

Mệnh có Thiên Đức Nguyệt Đức (còn được gọi là bộ lưỡng Đức) thủ khi đồng cung với Đào, Hồng thì tuy còn tính dâm nhưng là chính dâm chứ không ngoại tình, tại nữ Mệnh thì là người duyên dáng, xinh tươi, có tài cư xử lịch thiệp 

Theo VVT thì Lưỡng Đức hội với Long Đức, Phúc Đức cư chiếu Mệnh Thân thì phù trì đắc lực, dù có lâm hạn đổ vỡ cũng không bị tuyệt địa nên người có sao Đức Mệnh Thân dú sao cũng được hưởng ân huệ, giữ được cái cốt cách của người phong lưu, không quá khốn cùng, cửa nhà bán sạch tra chân vào cùm 

Long Đức tại cung Thìn nhiều người cho rằng là cách may mắn (gọi là Long cư Long vị) vì cung Thìn có nghĩa là Long, là rồng. Trong trường hợp này chỉ có Thiên Hỉ tại Tí chiếu 

Theo kinh nghiệm thì người có Long Đức thủ Mệnh thì là người rất hiền lương, lương thiện, không làm việc xấu, không có tính ranh ma, không lấn người, không hay tranh đấu hơn thua với đời, cho dù có Không Kiếp xâm phạm cũng không làm việc mờ ám, tọa thủ tại cung nào cũng đem đến sự êm đềm cho cung đó, tại Phụ, Huynh, Phu Thê, Tử, Nô đều chủ sự hiền lành lương thiện 

Thiên Đức, Nguyệt Đức, Giải Thần, Thiên Quan, Thiên Phúc đều là các sao giải họa: 
Thiên Nguyệt Đức, Giải Thần tàng, Cùng là Quan Phúc một làng (đoàn) trừ hung (NMB, VVT, 19) 
Thiên Nguyệt Đức có Giải Thần, Cùng là Quan Phúc một làng trừ hung (QXT) 
Thiên Nguyệt Đức tọa chiếu phương, Cùng là Quan, Phúc trừ hung cứu người (AB340) 
Thiên Đức, Nguyệt Đức, Thiên Quan, Giải Thần, Thiên Phúc một làng trừ hung (B103) 

Mệnh hay Phu Thê có Thiên Đức hay Nguyệt Đức thủ gặp Đào Hoa hay Hồng Loan thì thì là người xinh đẹp, lấy được vợ hiền chồng sang. TVT ghi Đào Hoa hay Tham Lang miếu vượng vì Tham Lang cũng là Đào Hoa tinh: 
Thiên Nguyệt Đức ngộ Đào Hồng, Trai lấy vợ đẹp, gái chồng giầu sang (VVT) 
Thiên Nguyệt Đức ngộ Đào tinh, Trai xinh gái đẹp vợ lành chồng sang (15) 
Thiên Nguyệt Đức ngộ Đào tinh, Trai lấy vợ đẹp, gái lành chồng sang 
Thiên Nguyệt Đức ngộ Hồng thực nghiệm, Được chồng sang vợ đẹp hòa đôi (B112) 
Thiên Nguyệt Đức Đào Hồng cung Phối, Gái chồng sang, trai hội giai nhân 

Nguyệt Đức có khả năng giải được Liêm Phá hãm tại Mão Dậu, là người nhân từ, hạn nếu gặp cũng không lo ngại điều xấu xảy ra: 
Phá Liêm hãm địa cư Mão Dậu băng Nguyệt Ðức (gặp Nguyệt Ðức) dĩ từ nhân (10) 
Phá tại Mão Dậu khá kinh, Gặp sao Nguyệt Đức phúc lành lại qua 
Phá phùng Mão Dậu khá phiền, Thấy sao Nguyệt Đức tế liền lại qua (QXT) 

TVT và Nguyễn Mạnh Bảo cho rằng hạn đến cung Mão Dậu có Kiếp Đà tất nhiều ưu phiền lo lắng nhưng nếu gặp sao Nguyệt Đức (hoặc Thiên Giải) thì tai qua nạn khỏi: 
Kiếp Đà hai gã khả ưu, Gặp sao Thiên Giải đảo cầu khả yên, 
Vận phùng Mão Dậu khả phiền, Thấy sao Nguyệt Đức tế liền lại qua (B35) 
Vận phùng Mão Dậu khá phiền, gặp sao Nguyệt Đức nạn liền tai qua (25) 

Thái Âm Thiên Mã Đức Ân hội họp thì nhờ vợ mà giàu có. Theo Nguyễn Mạnh Bao thì Đức là Thiên Đức. Chỉ có vị trí Dần Thân (tuổi Tỵ Hợi) thì Thiên Đức mới có Mã nhị hợp: 
Thái Âm Thiên Mã Đức (Thiên Đức) Ân, Cửa nhà hào phú của nhân vợ giầu.
 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bộ Tứ Đức trong Tử Vi

Vận mệnh đời người chịu sự ảnh hưởng của những quy luật nào?

Mỗi người đều có một Vận Mệnh (mạng) riêng của mình chứa đựng sinh lực của bản thân trong đó, bệnh có thể chữa được nhưng mệnh thì không.
Vận mệnh đời người chịu sự ảnh hưởng của những quy luật nào?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Mỗi người đều có một Mệnh (mạng) riêng của mình chứa đựng sinh lực của bản thân trong đó, bệnh có thể chữa được nhưng vận mệnh thì không.


► Mời các bạn xem Tử vi 2017, Lịch 2017 đã được cập nhật tại Lichngaytot.com

Van menh doi nguoi chiu su anh huong cua nhung quy luat nao hinh anh
Ảnh minh họa

 
Khi được sinh ra từ một giai đoạn nào đó – suy hay vượng – của cha mẹ sẽ tạo ra cho người con một cái vỏ để sẵn sàng chứa đựng nhận thức, chứa đựng sinh lực của người con đó. Rồi qua thực tiễn học tập, rèn luyện, giao tiếp, người ta tiếp thu những kiến thức sống, với tính năng động của hoạt động ý thức mà chỉ con người mới có, con người vận dụng nó làm vốn sống cho mình. Cái khuôn mệnh của người nào to sẽ chứa được nhiều kiến thức hơn, khuôn mệnh của ai nhỏ thì sự thành đạt cũng chỉ dừng ở một chừng mực nhất định. Người xưa có câu “Chữa được bệnh, không chữa được mệnh” là vì vậy.  

Quy tắc Hợp - Khắc - Hình - Hại của Thiên can và Địa chi

Tứ trụ là 4 điều kiện về thời gian để nhận biết về vận mệnh của một con người, đó là năm sinh (cầm tinh con gì – theo tuổi âm lịch), tháng sinh, ngày sinh và giờ sinh.   Các quy tắc hợp – khắc – hình – hại của thiên can và địa chi là xem xét trong phạm vi tứ trụ của một con người (chứ không phải người này với người kia là hợp hay khắc !).  

Âm dương và ngũ hành của Thiên can

  Có 10 thiên can: Giáp - Ất - Bính - Đinh- Mậu - Kỷ - Canh - Tân - Nhâm - Quý 
 
Can dương: GIÁP – BÍNH – MẬU – CANH – NHÂM
 
Can âm: ẤT – ĐINH – KỶ – TÂN – QUÝ
 
Ngũ hành của thiên can:   GIÁP – ẤT thuộc MỘC.
 
MẬU – KỶ thuộc THỔ.
 
BÍNH – ĐINH thuộc HOẢ.
 
CANH – TÂN thuộc KIM.
 
NHÂM – QUÝ thuộc THUỶ.

Âm dương và ngũ hành của địa chi
  12 địa chi: TÝ – SỬU – DẦN – MÃO – THÌN – TỊ – NGỌ – MÙI – THÂN – DẬU – TUẤT – HỢI   Chi dương: TÝ – DẦN – THÌN – NGỌ – THÂN – TUẤT
 
Chi âm: SỬU – MÃO – TỊ – MÙI – DẬU – HỢI

Ngũ hành của 12 địa chi:   DẦN – MÃO thuộc MỘC TỊ – NGỌ thuộc HOẢ THÌN – TUẤT – SỬU – MÙI thuộc THỔ HỢI – TÝ thuộc THUỶ THÂN – DẬU thuộc KIM QUY TẮC SINH – KHẮC CỦA CAN   Trong tứ trụ, xem ngũ hành của các can (can năm, can tháng, can ngày và can giờ sinh) để biết sinh hay khắc.   Nếu khắc tức là người có tứ trụ đó hay gặp những chuyện không may trong cuộc sống, gọi là HUNG; nếu sinh tức là hay gặp may mắn, dễ thành đạt trong cuộc sống, gọi là CÁT.   Sự “tương sinh” giữa hai can bên cạnh nhau có lực mạnh hơn hai can cách nhau (Thí dụ: can năm sinh can tháng, can tháng sinh can năm hay can tháng sinh can ngày, can ngày sinh can giờ, hay can ngày sinh can tháng, can giờ sinh can ngày là sự tương sinh của hai can bên cạnh nhau, còn như can năm sinh can ngày hay can năm sinh can giờ, can tháng sinh can giờ hay can ngày sinh can năm là sự tương sinh của hai can cách nhau vì có một can ở giữa). Khi có sự tương sinh, can sinh thì khí bị giảm, mà can được sinh thì khí sẽ mạnh thêm.   Khắc cách can mà can ở giữa hóa khắc thì không còn gọi là khắc nữa. (Ví dụ: can Bính HỎA khắc can Canh Kim, nhưng ở giữa có can thuộc THỔ sẽ là cho Bính Hỏa “xì hơi” (yếu đi để sinh THỔ), sau đó THỔ lại sinh Kim, như vậy là liên tục sinh, không còn là khắc nữa. Trong khi có “tương khắc”, cả hai can đều bị tổn thương, can bị khắc tổn thương nhiều hơn can khắc.   Trong khắc có hợp cũng không còn là khắc nữa (Thí dụ: Bính HỎA khắc Canh KIM, nhưng trong Tứ trụ có can Tân, mà Bính – Tân hợp thành THỦY, mà THỦY thì khắc HỎA, do đó Bính HỎA khắc không khắc nổi Canh KIM nữa).


Thiên can hợp hóa:
 

– Lấy can ngày làm chủ – can tháng hoặc can giờ (hai can kế bên) là hợp, còn chi tháng nếu là ngũ hành giống nhau thì mới gọi là hợp hóa.   – Can của năm và tháng cùng hợp, chi của năm cùng ngũ hành nên được hóa (thí dụ: Năm Canh, tháng Ất hợp thành KIM, chi năm là Thân Kim – hợp hóa).   – Can ngày hợp với can tháng, hoặc can ngày hợp với can giờ, chi tháng không hóa, nhưng ngũ hành mà nó hóa ở trong ba chi còn lại hợp thành cục hoặc hội cục thì cũng có thể nói đến sự hợp hóa (thí dụ : Ngày Canh, tháng Ất hợp thành KIM, chi tháng không phải tháng Thân hoặc tháng Dậu nhưng 3 chi của Năm – Ngày – Giờ hợp thành Thân – Tý – Thìn hoặc Thân – Dậu – Tuất thì sự hợp đó có hóa)  

Ngũ hợp của thiên can hóa ngũ hành:

  Giáp hợp với Kỷ hóa thành THỔ
 
Ất hợp với Canh hóa thành KIM
 
Bính hợp với Tân hóa thành THỦY
 
Đinh hợp với Nhâm hóa thành MỘC
 
Mậu hợp với Quý hóa thành HỎA
 
(*) Giáp hợp Kỷ hóa THỔ: Là sự hợp trung chính. Chủ về yên phận thủ thường, trọng chữ tín. (Nhưng nếu trong mệnh cục không có THỔ mà có “thất sát” thì người đó thiếu tình nghĩa, gian giảo nhiều, không biết liêm sỉ, tính thô thiển).   1. Can ngày Giáp hợp Kỷ:   Nếu gặp Ất MỘC (các can còn lại có Ất) thì thê tài ngầm hao tổn. Nếu gặp Đinh HỎA (các can còn lại có Đinh) thì được lộc cũng như không. Nếu gặp Tân KIM (các can còn lại có Tân) thì cao sang, nhà cao cửa rộng. Nếu gặp Mậu THỔ (các can còn lại có Mậu) thì nhà cửa lộng lẫy, giàu sang. Nếu gặp Quý THỦY (các can còn lại có Quý) thì cuộc đời dần dần hạnh phúc. Nếu gặp Canh KIM (các can còn lại có Canh) thì nhà hưng thịnh. Nếu gặp Bính HỎA (các can còn lại có Bính) thì hưởng lộc dồi dào.
 
(*) ẤT hợp Canh hóa KIM: Đó là sự hợp chủ về nhân nghĩa. Người đó cương nhu đều có, trọng nhân nghĩa. (Nhưng nếu trong Tứ trụ có “thiên quan” hoặc vận kém (sinh vào năm TUYỆT của cha mẹ) thì tính tình cố chấp, không nhân nghĩa).   2. Can ngày Ất hợp Canh (can ngày là Ất, các can còn lại có Canh):   Nếu gặp Bính HỎA thì cuộc sống khó khăn. Nếu gặp Nhâm THỦY thì vinh hoa. Nếu gặp Đinh HỎA thì cuộc sống vui vẻ, tươi đẹp như mùa xuân. Nếu gặp Kỷ THỔ thì vàng bạc đầy nhà. Nếu gặp Tân KIM thì cuộc đời như cỏ mùa thu gặp sương gió. Nếu gặp Giáp MỘC thì lúa gạo đầy kho.
 
3. Can ngày Canh hợp Ất:   Nếu gặp KIM (Canh , Tân) thì sẽ bị hao mòn dần. Nếu gặp Bính HỎA thì ốm đau. Nếu gặp Đinh HỎA thì như rồng gặp mây. Nếu gặp Quý THỦY thì ruộng vườn trôi nỏi và sống thọ. Nếu gặp Nhâm THỦY thì tài lộc ngày càng tiến. Nếu gặp Mậu THỔ thì không giàu sang cũng sẽ nổi tiếng.
 
(*) Bính hợp Tân hóa THỦY: Là sự hợp uy nghiêm, trí lực dồi dào. (Nhưng nếu trong Tứ trụ có “thất sát” hoặc vận kém – sinh vào năm TUYỆT của cha mẹ – thì tính tình thô bạo, vô tình vô nghĩa).   4. Can ngày Bính hợp Tân:   Nếu gặp Mậu THỔ thì công thành, danh toại. Nếu gặp Ất MỘC thì quyền cao chức trọng. Nếu gặp Quý THỦY và Kỷ THỔ thì cửa nhà khang trang, giầu có nổi tiếng. Nếu gặp Nhâm THỦY và Thìn THỔ thì tai họa, đại bại.
 
5. Can ngày Tân hợp Bính:   Nếu gặp Mậu THỔ, Canh KIM thì công thành danh toại.   (*) Đinh hợp nhâm hóa MỘC: Là sự hợp chủ về nhân nghĩa, người như thế có tính hiền từ và tuổi thọ cao. (Ở phụ nữ nếu trong mệnh có “Thủy cục” vượng quá làm “xì hơi” Mộc thì đó là sự hợp dâm loạn. Nếu sinh vào năm TUYỆT của cha mẹ thì phá nhà vì tửu sắc).   6. Can ngày Đinh hợp Nhâm:   Nếu gặp Bính HỎA thì hàng năm nhàn nhã. Nếu gặp Tân KIM thì hay gặp may mắn, phú quý, song toàn. Nếu gặp Mậu THỔ thì cuộc sống an nhàn. Nếu gặp Quý THỦY thì lẻ loi nơi chân trời góc biển. Nếu gặp Ất MỘC thì cả đời không có tài lộc. Nếu gặp Canh KIM thì cuộc đời không có danh vọng. Nếu gặp Giáp MỘC thì tài lộc dồi dào, chức phận thanh cao. Nếu gặp Kỷ THỔ thì công danh thành đạt, tài lộc dồi dào.

7. Can ngày Nhâm hợp Đinh:   Nếu gặp Giáp MỘC thì thường hay thất bại. Nếu gặp Tân KIM thì điền trang bát ngát. Nếu gặp Bính HỎA thì trở thành anh hùng hào kiệt. Nếu gặp Quý THỦY thì buôn bán vất vả. Nếu gặp Kỷ THỔ thì có chức có quyền. Nếu gặp Mậu THỔ thì bồng bềnh trôi nổi. Nếu gặp Canh KIM thì mọi việc không thành. Nếu gặp Ất MỘC thì dễ bị chết yểu.
 
(*) Mậu hợp Quý hóa HỎA : Đó là sự hợp vô tình, giống như người diện mạo tuấn tú nhưng trong lòng không có tình nghĩa. Nếu là nam giới thì hay lang thang chơi bời, nhưng nếu là nữ giới thì lại dễ lấy được chồng đẹp trai, tuấn tú.
8. Can ngày Mậu hợp Quý:   Nếu gặp Ất MỘC thì cuối đời có thể thành đạt. Nếu gặp Nhâm THỦY thì tự lập làm giàu. Nếu gặp Bính HỎA thì khó nhọc mà không có phúc lộc. Nếu gặp Canh KIM thì mọi việc thường dễ dàng suôn sẻ. Nếu gặp Kỷ THỔ thì vợ con bị tổn hại. Nếu gặp Tân KIM thì là người thông minh, nhiều mưu lược.
 
9. Can ngày Quý hợp Mậu:   Nếu gặp Bính TÂN thì cuộc đời nhiều thành đạt, mà cũng nhiều thất bại. Nếu gặp Giáp MỘC thì suốt đời vất vả, lao tâm, lao lực. Nếu gặp Đinh HỎA thì kho tàng đầy ắp. Nếu gặp Canh KIM thì nhiều ruộng vườn, của cải. Nếu gặp Ất MỘC thì quyền cao chức trọng. Nếu gặp Nhâm THỦY thì tài lộc song toàn. Nếu gặp Tân KIM thì tài lộc lúc được, lúc mất. Nếu gặp Kỷ THỔ thì tiền đồ học hành thăng tiến.
 
Thiên can một âm hợp một dương mà hóa ra ngũ hành, từ đó có thể nhận biết sự mạnh – yếu – vượng – suy của mệnh, nó có vai trò quan trọng làm tăng thêm sự sinh phù hay khắc chế cho nhật nguyên (hay một bản mệnh nào đó).

 

Địa chi hợp hóa:
 

(*) Lục hợp của địa chi hóa ngũ hành:   Tý hợp với Sửu thành THỔ Ngọ hợp với Mùi thành THỔ Dần hợp với Hợi thành MỘC Mão hợp với Tuất thành HỎA Thìn hợp với Dậu thành KIM Tị hợp với Thân thành THỦY
 
(*) Địa chi tam hợp hóa thành ngũ hành:   Thân – Tý – Thìn hợp thành Thủy cục. Hợi – Mão – Mùi hợp thành Mộc cục. Dần – Ngọ – Tuất hợp thành Hỏa cục. Tị – Dậu – Sửu hợp thành Kim cục.
 
Khi giữa các địa chi trong tứ trụ có lục hợp hoặc tam hợp cục là chủ về người đó có dung nhan đẹp, tính cách thanh lịch, thần khí ổn định, yêu cuộc sống, lòng dạ thẳng thắn, linh lợi, thông minh hoạt bát.   Hợp cục là Cát thần thì tốt. Hợp cục là Hung thần thì xấu.   Nếu Can thì KHẮC nhưng Chi lại SINH thì tuy gặp Hung nhưng được cứu. Nếu Can thì SINH nhưng Chi lại KHẮC thì là trước tốt, sau xấu.   NHỮNG QUY TẮC XUNG – HÌNH – HẠI CỦA ĐỊA CHI
Trong tứ hành xung:   Tý – Ngọ và Tị – Hợi là sự xung khắc của Thủy – Hỏa Dần – Thân và Mão – Dậu là sự xung khắc của Kim – Mộc Thìn – Tuất – Sửu – Mùi giống nhau về ngũ hành nên chỉ nói xung, không nói khắc. Tý hình Mão, Mão hình Tý – là hình phạt vô lễ. Dần hình Tị, Tị hình Thân, Thân hình Tị – là hình phạt do đặc quyền đặc lợi dẫn đến. Thìn – Ngọ – Dậu – Hợi hình phạt lẫn nhau là tự hình.
 
VẬN của mỗi người là sự chuyển động của Mệnh trong quá trình sống. Trong suốt quá trình đó Mệnh của con người chịu tác động của rất nhiều quy luật tâm sinh lý, nhiều khi có cả sự tác động của các quy luật tự nhiên.   Tứ trụ là MỆNH, hay từ Bát Quái để tìm ra MỆNH, còn vận trình là VẬN. Mệnh và Vận hợp lại là VẬN MỆNH cả cuộc đời một con người.   Mệnh và Vận kết hợp với nhau sẽ biết được Cát – Hung – Họa – Phúc. Mệnh và Vận như thuyền với nước, gắn chặt với nhau. Nước có thể chở thuyền đi, cũng có thể lật thuyền.   Mệnh của ai đó có thể có được nhiều cung tốt, nhưng người đó sinh vào năm TUYỆT của cha mẹ thì dù VẬN tốt đến mấy thì VẬN MỆNH cũng không khá hơn được, người đó vẫn có thể bệnh tật hoặc công danh sự nghiệp không ra sao, rồi tuổi thọ cũng sẽ bị ảnh hưởng (đoản thọ).  

Có 2 quy luật sinh tồn của con người mà người xưa đã tìm ra đó là VÒNG TRÀNG SINH và THẬP BÁT CỤC.

  Trong khoa học hiện đại có một cách tính vận hạn là dựa vào NHỊP SINH HỌC.   Nhịp sinh học (tiếng Anh : biorhythm) là một chu trình giả thiết về tình trạng sức khỏe, năng lực sinh lý, cảm xúc, hoặc trí thông minh của mỗi cá nhân.   (*) Ba đường nhịp sinh học chính là:   SỨC KHỎE: Có chu kỳ 23 ngày (theo dõi tình trạng thể chất và sức khỏe). TÌNH CẢM: Có chu kỳ 28 ngày (theo dõi năng lượng ổn định và tích cực của tinh thần, cách nhìn về cuộc sống cũng như năng lực cảm thông và xây dựng mối quan hệ với người khác). TRÍ TUỆ: Có 33 ngày (bằng lời nói, bằng khả năng tính toán, khả năng tưởng tượng, khả năng sáng tạo cũng như năng lực để áp dụng lý trí phân tích thế giới xung quanh). (*) Bốn đường nhịp sinh học phụ là:   Trực giác: Đường này có chu kỳ 38 ngày và nó ảnh hưởng đến nhận thức, linh cảm, bản năng và “giác quan thứ sáu”. Thẩm mỹ: Đường này có chu kỳ 43 ngày và nó mô tả sự quan tâm đến cái đẹp và sự hài hòa. Nhận thức: Đường này có chu kỳ 48 ngày và nó thể hiện khả năng cảm nhận được cá tính riêng. Tinh thần: Đường này có chu kỳ 53 ngày và nó mô tả sự ổn định bên trong và thái độ thoải mái của bạn. Muốn tính vận hạn của một người bằng nhịp sinh học phải biết ngày sinh, sau đó lập biểu đồ (đồ thị theo hình sin), những điểm gặp nhau của nhiều chu kỳ là điểm xấu, ngày hôm đó dễ gặp những chuyện không may, đặc biệt xấu về sức khỏe.   Nắm vững những quy luật đó người ta có thể tự hiểu biết về mình và dự báo cho mình những thời kỳ tốt xấu về công việc, về tình cảm và về sức khỏe. Hiểu biết là cơ sở cho lòng tin và nghị lực sống một cách có ý nghĩa nhất trong cuộc sống hiện đại.   ST.

Khám phá bí mật sinh ra gặp toàn may mắn của người tuổi Mùi Rước dâu tuổi Thân, cả nhà chồng nhận vinh hoa Họa tiểu nhân quấy phá 4 con giáp trong năm 2017

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Vận mệnh đời người chịu sự ảnh hưởng của những quy luật nào?

Cách bài trí và sắp xếp tủ lạnh hợp phong thủy

Tủ lạnh không chỉ đơn thuần là một vật gia dụng mà còn là nơi giúp thu hút vượng khí và bổ trợ cho cả gia đình. Vì vậy cần bố trí tủ lạnh một cách hợp lý và gọn gàng sẽ có lợi cho sức khỏe, sự phát triển của gia chủ.
Cách bài trí và sắp xếp tủ lạnh hợp phong thủy

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Theo phong thủy, vị trí đặt tủ lạnh tốt nhất trong ngôi nhà là tại phòng bếp. Tủ lạnh vốn thuộc kim, phòng bếp lại là nơi hỏa vượng, mà theo quan hệ ngũ hành tương sinh thì hỏa khắc kim. Do đó, để tủ lạnh trong bếp sẽ có tác dụng làm cân bằng tính hỏa.

Tuy nhiên, gia chủ cần chú ý, không nên kê tủ lạnh đối diện hoặc gần bếp vì hơi lạnh từ tủ lạnh và khí nóng từ bếp xung khắc với nhau sẽ gây ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của gia chủ.

Với người thuộc mệnh thủy, nếu sự nghiệp không thuận lợi thì nên kê tủ lạnh ở nơi làm việc. Trong đó có thể để bia, nước, nước đá để sự nghiệp được thăng tiến và giúp tài vận hanh thông. Để hỗ trợ cho mệnh của mình, người mệnh thủy cũng có thể kê thêm một chiếc tủ lạnh khác trong phòng khách.

Những người mệnh mộc thì không nên kê tủ lạnh ở gần mà nên kê tủ lạnh ở góc khuất trong ngôi nhà. Trong các quán bar, người ta thường bố trí tủ lạnh trong tủ gỗ. Đối với những người không hợp với kim, đây là một cách rất tốt để hóa giải ảnh hưởng xấu từ tủ lạnh.

Ngoài ra, bạn nên đặt tủ lạnh ở hướng Bắc là thích hợp nhất. Không nên đặt tủ lạnh đối diện với cửa bởi có thể khiến tài lộc của gia chủ không ổn định, thậm chí có thể dẫn đến nguy cơ thất bát.

Cách lựa chọn màu tủ lạnh hợp phong thủy

Tủ lạnh là một trong những đồ dùng không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày, nhưng đối với một số người, nó lại kị về mệnh. Để bố trí tủ lạnh hợp phong thủy, chọn màu tủ lạnh hợp với mệnh của gia chủ thì nên chọn màu sắc tủ lạnh phù hợp. Một mặt có thể hóa giải tác dụng không mong muốn đối với người xung khắc kim, đồng thời lại có tác dụng hỗ trợ với người hợp mệnh kim.

Theo thuyết ngũ hành tương sinh, kim tương ứng với màu trắng, mộc tương ứng với màu xanh lá cây, hỏa tương ứng với màu đỏ và tím, thủy tương ứng với màu đen và xanh lam, thổ tương ứng với màu vàng và nâu. Những người kị với kim có thể chọn tủ lạnh có màu đỏ, tím hoặc xanh lá cây để hạn chế tính kim của tủ lạnh. Những người hợp với kim thì nên chọn tủ lạnh màu vàng, trắng, nâu để tăng thêm vận may.

Không được để trống tủ lạnh

Tủ lạnh có liên quan với thức ăn của người sử dụng. Thức ăn trong tủ lạnh dồi dào ngụ ý rằng chủ nhân không phải lo lắng về cơm ăn áo mặc. Ngược lại, tủ lạnh nếu bị bỏ trống thì có nghĩa là tình hình kinh tế không khả quan, bởi vậy, tủ lạnh nên để đầy đủ thức ăn.

Dọn dẹp tủ lạnh theo định kỳ

Tủ lạnh có sự liên quan mật thiết với tài vận của gia chủ, do vậy, chủ nhân cần thường xuyên lau chùi tủ lạnh sạch sẽ. Như vậy mới khiến tài lộc sinh sôi.

Không đặt đồ điện hoặc các đồ vật trên nóc tủ lạnh

Để tiết kiệm không gian, có người đã đặt lò vi sóng, lò nướng hay máy xay sinh tố lên trên nóc tủ lạnh. Chưa nói về vấn đề phong thủy, về khoa học, sóng điện từ do các thiết bị điện này phát ra đã ảnh hưởng không tốt cho sức khỏe người sử dụng.

Ngoài ra cũng không nên để đồ vật lên trên tủ lạnh. Nhiều người có thói quen tiện tay để các đồ vật lên tủ lạnh, lâu ngày nóc tủ lạnh sẽ trở thành nơi chứa đồ. Việc này tưởng chừng như vô thưởng vô phạt, nhưng thực chất nó lại ảnh hưởng đến sự tụ tài. Vì vậy, tốt nhất nên lau chùi tủ lạnh sạch sẽ, cả bên trong lẫn bên ngoài.

(Theo Báo Xây dựng Online)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cách bài trí và sắp xếp tủ lạnh hợp phong thủy

Giải mã giấc mơ thấy cha mẹ đã mất –

Nếu ta mơ thấy cha hoặc mẹ vốn đã qua đời, bạn hãy chờ đợi, tin tức quan trọng có thể sẽ đến. Nếu bạn nói chuyện với cha hoặc mẹ quá cố trong mơ, tin tức tốt lành sẽ sớm xuất hiện, có thể là dưới hình thức thừa kế hay sẽ có một điềm báo khác. Có rất
Giải mã giấc mơ thấy cha mẹ đã mất –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Giải mã giấc mơ thấy cha mẹ đã mất –

Đời sống chăn gối viên mãn nhờ kích hoạt sao Đào Hoa

Muốn đời sống chăn gối hòa hợp, sung mãn, đừng quên kích hoạt sao Đào Hoa.
Đời sống chăn gối viên mãn nhờ kích hoạt sao Đào Hoa

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


 
Sao Đào Hoa tượng trưng cho quan hệ trai gái và đời sống tình dục mạnh mẽ, phong phú của đương số. Đặc điểm của Đào Hoa là cuộc sống tính dục dồi dào, mãnh liệt, thiên về ham muốn quan hệ xác thịt. Căn cứ theo tuổi âm lịch sẽ biết được sao lợi hướng nào và thời gian nào vượng nhất để kích hoạt sao Đào Hoa. Cụ thể:
 
- Tuổi Tý: Đào Hoa vượng tại Dậu
 
- Tuổi Sửu: Đào Hoa vượng tại Ngọ
 
- Tuổi Dần: Đào Hoa vượng tại Mão
 
- Tuổi Mão: Đào Hoa vượng tại Tý
 
- Tuổi Thìn: Đào Hoa vượng tại Dậu
 
- Tuổi Tỵ: Đào Hoa vượng tại Ngọ
 
- Tuổi Ngọ: Đào Hoa vượng tại Mão
 
- Tuổi Mùi: Đào Hoa vượng tại Tý
 
- Tuổi Thân: Đào Hoa vượng tại Dậu
 
- Tuổi Dậu: Đào Hoa vượng tại Ngọ
 
- Tuổi Tuất: Đào Hoa vượng tại Mão
 
- Tuổi Hợi: Đào Hoa vượng tại Tý
 
Ví dụ:
 
- Tuổi Tỵ sao Đào Hoa ở Ngọ, vậy thời gian từ 11 giờ đến 13 giờ (giờ Ngọ) là vượng nhất, không gian ở phía Nam, phòng ngủ ở chính Nam là lợi nhất. Đồng thời, năm Ngọ, tháng Ngọ, ngày Ngọ, giờ Ngọ là những thời gian lợi nhất để kích hoạt vận đào hoa cho tình duyên và hỷ sự.
 
- Tuổi Ngọ sao Đào Hoa ở Mão, vậy thời gian từ 5 giờ đến 7 giờ (giờ Mão) là vượng nhất, không gian ở phía Đông, phòng ngủ ở chính Đông là lợi nhất. Đồng thời, năm Mão, tháng Mão, ngày Mão, giờ Mão là những thời gian lợi nhất để kích hoạt vận đào hoa cho đời sống tình dục viên mãn.
 
- Tuổi Mùi sao Đào Hoa ở Tý, vậy thời gian từ 23 giờ đến 1 giờ (giờ Tý) là vượng nhất, không gian ởphía Bắc, phòng ngủ ở chính Bắc là lợi nhất. Đồng thời, năm Tý, tháng Tý, ngày Tý, giờ Tý là những thời gian lợi nhất để kích hoạt vận đào hoa cho tình duyên và hỷ sự.
 
- Tuổi Thân sao Đào Hoa ở Dậu, vậy thời gian từ 17 giờ đến 19 giờ (giờ Dậu) là vượng nhất, không gian ở phía Tây, phòng ngủ ở chính Tây là lợi nhất. Đồng thời, năm Dậu, tháng Dậu, ngày Dậu, giờ Dậu là những thời gian lợi nhất để kích hoạt vận đào hoa, thúc đẩy đời sống tình dục.
 
Sau khi tìm được vị trí sao Đào Hoa, cần chuẩn bị bình hoa  và số lượng hoa theo quy ước:
 
Người tuổi Tý: Dùng bình hoa màu xanh lam - Số lượng hoa: 1 bông.
 
Người tuổi Sửu: Dùng bình hoa màu vàng - Số lượng hoa:  5 bông.
 
Người tuổi Dần: Dùng bình hoa màu xanh lá cây - Số lượng hoa: 4 bông.
 
Người tuổi Mão: Dùng bình hoa màu xanh lá cây - Số lượng hoa: 4 bông.
 
Người tuổi Thìn: Dùng bình hoa màu vàng - Số lượng hoa: 5 bông.
 
Người tuổi Tỵ: Dùng bình hoa màu đỏ - Số lượng hoa sử dụng: 9 bông.
 
Người tuổi Ngọ: Dùng bình hoa màu đỏ - Số lượng hoa: 9 bông.
 
Người tuổi Mùi: Dùng bình hoa màu vàng - Số lượng hoa: 5 bông.
 
Người tuổi Thân: Dùng bình hoa màu trắng - Số lượng hoa: 7 bông.
 
Người tuổi Dậu: Dùng bình hoa màu trắng - Số lượng hoa: 7 bông.
 
Người tuổi Tuất: Dùng bình hoa màu vàng - Số lượng hoa: 5 bông.
 
Người tuổi Hợi: Dùng bình hoa màu xanh lam - Số lượng hoa: 1 bông.
 
Hoa dùng kích hoạt phải tươi, không được khô héo, úa rũ. Màu sắc hoa phải tươi tắn, như đỏ, vàng, hồng, tím,... làm màu sắc chủ đạo. Không dùng hoa có màu sắc đen hoặc tối, sẫm để kích hoạt vận đào hoa.
 
Đặt bình hoa vào vị trí (hướng) sao Đào Hoa của bản Mệnh vượng nhất.

► Xem thêm: Phong thủy nhà ở chuẩn giúp phát tài phát lộc, tránh tai ương

ST
 
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đời sống chăn gối viên mãn nhờ kích hoạt sao Đào Hoa

Tìm hiểu kiến thức cơ bản về tướng nốt ruồi

Ai cũng có nốt ruồi, nhưng tướng nốt ruồi ở nam giới và nữ giới mang ý nghĩa khác nhau dù ở cùng một vị trí.
Tìm hiểu kiến thức cơ bản về tướng nốt ruồi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

– Ai cũng có nốt ruồi, nhưng tướng nốt ruồi ở nam giới và nữ giới mang ý nghĩa khác nhau dù ở cùng một vị trí. Do đó, khi xem bói tướng nốt ruồi cần tìm hiểu cặn kẽ vấn đề này để không bị nhầm lẫn.


1. Tướng nốt ruồi   Tướng nốt ruồi được chia thành hai loại, tướng hung và tướng cát. Theo một vài quan điểm nhân tướng, những nốt ruồi ở những vị trí kín trong cơ thể đa phần là tướng cát, nốt ruồi lộ rõ ra bên ngoài là đa phần hung.   
Tim hieu kien thuc co ban ve tuong not ruoi hinh anh
 
Một vài tài liệu khác lại chia tướng nốt ruồi làm 3 khu vực chính, bao gồm: nốt ruồi ở đầu và mặt; nốt ruồi ở tay chân và nốt ruồi ở các phần còn lại trên cơ thể. Mỗi khu vực lại có những vị trí hung cát khác nhau. Trong đó tướng nốt ruồi trên đầu và mặt có ảnh hưởng lớn, được lưu truyền rộng rãi hơn cả.   Thông thường, nốt ruồi son là cát, nốt ruồi màu nâu nhạt là hung, nốt ruồi đen mà bóng và đậm cũng có thể coi là cát tướng.
2. Ý nghĩa của một số nốt ruồi trên cơ thể   - Nốt ruồi ở trán thì phú quí, trên đỉnh đầu thì có uy quyền trong xã hội, hai bên tai đề phòng tai họa, phía ngoài lông mày bên trái thì tốt, trên sống mũi thì khắc con, bên trái mép miệng thì bần tiện, sát mép miệng thì có tài ăn nói…
 
- Nốt ruồi ngay nhân trung: dễ sinh đôi, gần nhân trung thì đông con, trong mắt bên trái thì hại chồng, giữa cằm thì không tốt, khó hợp tác làm ăn với người khác…
 
Tim hieu kien thuc co ban ve tuong not ruoi hinh anh 2
 
- Nốt ruồi trên môi bên trái thì vướng khẩu thiệt, gần nhân trung bên trái thì sống lâu, nằm ở eo bên hông phải: thông minh…
 
- Nốt ruồi dưới ngực bên phải và gần bụng thì làm việc như ý, trên lưng tay phải gần vai thì con người rộng rãi…
 
- Nốt ruồi ở hai khuỷu tay thì cuộc sống giàu có, phú quý, trong hai cánh tay dễ bị tai nạn bất ngờ, ở ống chân thì bôn ba đau khổ…

Lưu ý: Tướng nốt ruồi ở nam giới và nữ giới khác nhau. Có thể cùng tại một vị trí nhưng lại mang ý nghĩa không giống nhau. Do đó, để biết thêm chi tiết về ý nghĩa nốt ruồi trên toàn cơ thể con người, bạn có thể xem TẠI ĐÂY
  Việt Hoàng
Bạn hiểu thế nào về xem bói tướng mặt?
Xem bói tướng mặt hay còn gọi là xem tướng mặt, bói tướng mặt, tướng mặt là cách luận mệnh thông qua việc quan sát những đặc trưng trên khuôn mặt. Đây là nghệ

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tìm hiểu kiến thức cơ bản về tướng nốt ruồi

Mơ thấy ruột: Nên kết hợp hài hòa giữa lao động và nghỉ ngơi, chú ý đến việc ăn uống –

Mơ thấy ruột nhắc nhở bạn nên kết hợp hài hòa giữa lao động và nghỉ ngơi. Ruột là bộ phận trong bộ máy tiêu hóa của con người, có tác dụng tiêu hóa và hấp thu thức ăn. Sự tốt xấu của ruột và dạ dày trực tiếp ảnh hưởng đến chức năng tiêu hóa và hấp th
Mơ thấy ruột: Nên kết hợp hài hòa giữa lao động và nghỉ ngơi, chú ý đến việc ăn uống –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mơ thấy ruột: Nên kết hợp hài hòa giữa lao động và nghỉ ngơi, chú ý đến việc ăn uống –

Xem phong thủy nhà bếp, chọn hướng đại cát đại lợi

Hướng nhà bếp tốt, phong thủy nhà bếp lành sẽ mang tới cực kì nhiều điều may mắn cho ngôi nhà
Xem phong thủy nhà bếp, chọn hướng đại cát đại lợi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Rất nhiều người khi bố trí nhà cửa thường quan tâm tới phong thủy phòng ngủ, phòng khách nhưng lại bỏ qua nhà bếp vì cho rằng nó không quan trọng. Nhầm to nhé, hướng nhà bếp tốt, phong thủy nhà bếp lành sẽ mang tới cực kì nhiều điều may mắn cho ngôi nhà đấy.

Xem phong thuy nha bep, chon huong dai cat dai loi hinh anh 2
 
Trong phong thủy nhà bếp, việc quan trọng nhất, cần thiết nhất là chọn được hướng đẹp. Hướng bếp thích hợp không chỉ có thể đón lành tránh dữ mà còn phát vận, chiêu tài, hóa giải một số điểm không hay, bổ sung vận khí cho toàn gia trạch.   Ngược lại, đặt bếp ở hướng xấu, hướng hung thì hai phương diện bị ảnh hưởng nặng nề nhất là sức khỏe và tài lộc của người trong nhà. Cùng điểm qua một số hướng nhà bếp tốt và những hướng xấu không nên đặt bếp để có thêm hiểu biết áp dụng vào chính ngôi nhà của mình nhé.  

1. Hướng nhà bếp xấu

  Phương Nam đối với nhà bếp là phương vị hung. Theo ngũ hành, phương Nam thuộc Hỏa, bếp cũng tính Hỏa, Hỏa càng thêm Hỏa, quá vượng lại sinh khắc chế với Thủy – chủ quản tài chính nên cực kì hung. Hỏa vượng nhiệt cao dễ dẫn tới hỏa hoạn, cháy nổ, rủi ro lại thêm gió Nam nhiệt khí khiến bụi bặm, ô uế thổi tung từ bếp tới tất cả các phòng trong nhà.   Phương Tây Nam là hung vị, tuyệt đối không nên đặt bếp. Tây Nam thuộc ngũ hành Thổ, Hỏa sinh Thổ tiêu hao, không hề tốt. Xét trên phương diện khí hậu, sau giờ Ngọ (từ 11h đến 13h) thì nhiệt khí mạnh bắt đầu giảm, lực của ánh mặt trời yếu đi, hướng mặt trời lặn trong sách cổ gọi là “quỷ môn”, vừa không may mắn lại không tốt cho việc bảo quản thực phẩm.   Trung tâm ngôi nhà là nơi không tốt để đặt bếp. Xét về phong thủy nhà ở, chính giữa nhà là nơi tụ khí, cần có sự sạch sẽ trang nghiêm và thông thoáng. Bếp là nơi nấu nướng, thường xuyên có mùi, thức ăn thừa, dầu mỡ mắm muối, tuyệt đối không thể duy trì yêu cầu phong thủy ở vị trí này.   Lý luận phong thủy cổ đại cho rằng nhà bếp có hỏa khí nếu thiết lập tại trung tuyến (phương Tý, Ngọ, Mão, Dậu) hoặc tứ ngung tuyến (Càn, Tốn, Cấn, Khôn) sẽ dễ phát sinh hỏa hoạn, cần đặc biệt chú ý. Nên mời thầy xem hoặc tự tính toán, xác định phương hướng bằng la bàn trước khi quyết định đặt bếp.  

2. Hướng nhà bếp tốt

  Từ bát quái ngũ hành xem xét, phương Đông là cung Chấn, thuộc Mộc, Mộc sinh Hỏa, đại cát. Mặt trời mọc từ phía Đông, ánh sáng ôn hòa ấm áp, không khí tươi tắn mới mẻ, đặt bếp sẽ rất hợp vệ sinh, đẹp phong thủy.   Đông Nam cũng là hướng mặt trời nhô lên, đặc biệt là vào mùa đông, ánh mặt trời ấm áp, bốn mùa đều sung túc sáng sủa, đông không quá lạnh, hè không quá nóng, có lợi cho việc duy trì độ tươi mới của thực phẩm lại giữ vệ sinh nhà bếp, đảm bảo độ thông thoáng, sạch sẽ nên là hướng tốt để đặt bếp.   Phong thủy nhà bếp còn nhắc nhở, nếu đặt bếp ở hướng Bắc – một hướng không cát không hung thì cần lưu ý tới màu sắc. Nơi này hãy bố trí màu ấm, mang tới cảm giác mạnh. Nếu nhà bếp hướng Đông Nam, sử dụng màu mát lạnh để giảm nhiệt, mang tới cảm giác dễ chịu cho người sử dụng. Màu trắng là sắc thái cát tường, nếu bố trí màu này trong bếp sẽ có nhiều điểm thuận lợi. Một là sạch sẽ, vệ sinh; hai là bình ổn tâm tình, tạo sự thu giãn thoải mái, thả lỏng hoàn toàn. Điều này rất có lợi cho tiêu hóa, sức khỏe và tinh thần của người trong nhà.
Xem phong thuy nha bep, chon huong dai cat dai loi hinh anh 2
 
Nguyên tắc bố trí phong thủy phòng bếp khá đơn giản, nhà bếp hẹp thì dùng màu nhạt và lạnh để tăng độ sáng sủa; nhà bệp rộng thì ưu tiên màu ấm nóng để tạo không khí thân thiện, đầm ấm, nhiệt tình, gia tăng cảm giác muốn ăn, kích thích ngon miệng.   Như vậy, gia chủ cần quan tâm tới việc chọn hướng bếp tốt, tránh hướng bếp xấu dựa trên bố cục gia cư, từ đó chọn màu sắc thích hợp để bày trí. Càng dụng tâm bỏ công sức để gia tăng phong thủy nhà bếp sẽ càng thuận lợi trong việc thúc đẩy vận khí, tài khí của toàn gia.
13 mẹo đơn giản để nhà bếp hợp phong thủy Vì sao phong thủy nhà ở cấm kị nhà bếp và nhà vệ sinh gần nhau? Gặp họa khôn lường với 7 kiểu nhà bếp
Thái Vân

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem phong thủy nhà bếp, chọn hướng đại cát đại lợi

TRUY TÌM QUÝ NHÂN CỦA 12 CON GIÁP

Quý nhân của 12 con giáp: Người xưa có câu vận khí tốt không bằng gặp quý nhân nhằm đề cao vai trò của người trợ giúp trên đường đời của mỗi con người.
TRUY TÌM QUÝ NHÂN CỦA 12 CON GIÁP

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Người xưa có câu “vận khí tốt không bằng gặp quý nhân” nhằm đề cao vai trò của người trợ giúp trên đường đời của mỗi con người.


“Quý nhân phù trợ” hay “quý nhân giúp đỡ” là cụm từ thường xuyên xuất hiện trong cuộc sống thường nhật. Tuy nhiên, nếu hỏi “Quý nhân của bạn là ai?”, chưa chắc bạn đã có câu trả lời đúng nhất. Dân gian có câu: “Việc tốt không bằng vận khí tốt, vận khí tốt không bằng quý nhân tốt”. Chúng ta có thể thấy rằng tầm quan trọng của quý nhân trong cuộc sống thường nhật, với sự trợ giúp của họ, mọi việc gặp hung hóa cát.


1. Quý nhân của người tuổi Tý

Mối quan hệ tam hợp: Thân Tý Thìn
Mối quan hệ lục hợp: Tý Sửu
Do đó, quý nhân phù trợ của người tuổi Tý là tuổi Sửu, Thân và Thìn.
Phương vị quý nhân phù trợ: Đông Nam, Tây Bắc, Đông Bắc

2. Quý nhân của người tuổi Sửu


Mối quan hệ tam hợp: Tỵ Dậu Sửu
Mối quan hệ lục hợp: Tý Sửu
Do đó, quý nhân phù trợ của người tuổi Sửu là tuổi Tỵ, Dậu và Tý.
Phương vị quý nhân phù trợ: Đông Nam, Tây, Bắc

Truy tim quy nhan cua 12 con giap hinh anh
Ảnh minh họa

3. Quý nhân của người tuổi Dần


Mối quan hệ tam hợp: Dần Ngọ Tuất
Mối quan hệ lục hợp: Dần Hợi
Do đó, quý nhân phù trợ của người tuổi Dần là tuổi Tuất, Ngọ, Hợi.
Phương vị quý nhân phù trợ: Nam, Tây Bắc

4. Quý nhân của người tuổi Mão

Mối quan hệ tam hợp: Hợi Mão Mùi
Mối quan hệ lục hợp: Mão Tuất
Do đó, quý nhân phù trợ của người tuổi Mão là tuổi Mùi, Tuất, Hợi.
Phương vị quý nhân phù trợ: Tây Nam, Tây Bắc

5. Quý nhân của người tuổi Thìn

Mối quan hệ tam hợp: Thân Tý Thìn
Mối quan hệ lục hợp: Thìn Dậu
Do đó, quý nhân phù trợ của người tuổi Thìn là tuổi Tý, Thân, Dậu.
Phương vị quý nhân phù trợ: Bắc, Tây Nam, Tây

6. Quý nhân của người tuổi Tỵ

Mối quan hệ tam hợp: Tỵ Dậu Sửu
Mối quan hệ lục hợp: Tỵ Thân
Do đó, quý nhân phù trợ của người tuổi Tỵ là tuổi Dậu, Sửu, Thân.
Phương vị quý nhân phù trợ: Đông Bắc, Tây Nam, Tây

7. Quý nhân của người tuổi Ngọ

Mối quan hệ tam hợp: Dần Ngọ Tuất
Mối quan hệ lục hợp: Ngọ Mùi
Do đó, quý nhân phù trợ của người tuổi Ngọ là tuổi Dần, Mùi, Tuất.
Phương vị quý nhân phù trợ: Đông Bắc, Tây Bắc, Tây Nam

Truy tim quy nhan cua 12 con giap hinh anh 2
Ảnh minh họa

8. Quý nhân của người tuổi Mùi

Mối quan hệ tam hợp: Hợi Mão Mùi
Mối quan hệ lục hợp: Ngọ Mùi
Do đó, quý nhân phù trợ của người tuổi Mùi là tuổi Mão, Ngọ, Hợi.
Phương vị quý nhân phù trợ: Đông, Nam, Tây Nam

9. Quý nhân của người tuổi Thân

Mối quan hệ tam hợp: Thân Tý Thìn
Mối quan hệ lục hợp: Thân Tỵ
Do đó, quý nhân phù trợ của người tuổi Thân là tuổi Tý, Tỵ, Thìn
Phương vị quý nhân phù trợ: Bắc, Đông Nam

10. Quý nhân của người tuổi Dậu


Mối quan hệ tam hợp: Tỵ Dậu Sửu
Mối quan hệ lục hợp: Thìn Dậu
Do đó, quý nhân phù trợ của người tuổi Dậu là Sửu, Thìn, Tỵ.
Phương vị quý nhân phù trợ: Đông Bắc, Đông Nam

11. Quý nhân của người tuổi Tuất

Mối quan hệ tam hợp: Dần Ngọ Tuất
Mối quan hệ lục hợp: Mão Tuất
Do đó, quý nhân phù trợ của người tuổi Tuất là tuổi Dần, Mão, Ngọ.
Phương vị quý nhân phù trợ: Nam, Đông, Đông Bắc

12. Quý nhân của người tuổi Hợi

Mối quan hệ tam hợp: Hợi Mão Mùi
Mối quan hệ lục hợp: Dần Hợi
Do đó, quý nhân phù trợ của người tuổi Hợi là tuổi Mão, Mùi, Dần.
Phương vị quý nhân phù trợ: Tây Nam, Đông Bắc, Đông

► Khám phá: Tử vi trọn đời của bạn bằng công cụ xem bói tử vi chuẩn xác

Theo Khám phá

 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: TRUY TÌM QUÝ NHÂN CỦA 12 CON GIÁP

Tên nào thuộc vần P mang lại nhiều may mắn cho chủ nhân?

Cái tên là người bạn tri kỷ gắn bó với mỗi người suốt cả cuộc đời. Vì vậy mà tên gọi có ý nghĩa vô cùng quan trọng và cần được cân nhắc kỹ lưỡng trước khi đặt
Tên nào thuộc vần P mang lại nhiều may mắn cho chủ nhân?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

cho ai đó.

Pha:  Là người đa sầu, đa cảm, lắm bệnh tật, đoản thọ hoặc khó hạnh phúc, nếu kết hôn muộn sẽ đại cát.

Ten nao thuoc van P mang lai nhieu may man cho chu nhan hinh anh
Tên bắt đầu bằng chữ cái P mang lại nhiều may mắn

Phái: Tính cương nghị, anh hùng, hào hiệp, đi xa gặp quý nhân, trung niên vất vả, cuối đời hưng vượng.

Phàm: Cuộc đời thanh nhàn, phú quý, làm ăn xa quê được tài lộc, con cháu ăn nên làm ra.

Phạm: Học thức phong phú, đa tài, trung niên vất vả, cuối đời cát tường, xuất ngoại gặp nhiều may mắn.

Phấn: Anh minh, đa tài, có số thanh nhàn, phú quý. Trung niên bình dị, cuối đời hưng vượng, gia cảnh tốt, số có 2 vợ.

Phán: Số ít may mắn, nhiều phiền muộn, vất vả, trung niên có thể gặp tai ương, cuối đời hưởng phúc.

Phất: Khó hòa hợp với người xung quanh, thuở nhỏ vất vả, trung niên có nhiều thành tựu.

Phi: Tính khí ôn hòa, thành thật, nên kết hôn muộn, cả đời thanh nhàn hạnh phúc.

Phỉ: Tính tình quyết đoán, danh lợi rạch ròi, trung niên cát tường, không phải lo nghĩ nhiều.

Phiến: Số khắc bạn đời, khắc con cái, hay lo nghĩ, cả đời vất vả, gặp nhiều tai ương.

Phiệt: Vất vả đủ đường, khắc bạn đời, khắc con cái, cuối đời cát tường, được con cái báo hiếu.

Phó: Tính cách bảo thủ, cuộc đời thanh nhàn, bình dị, trung niên vất vả, cuối đời cát tường, con cháu ăn nên làm ra.

Phố: Công chính liêm minh, trí dũng song toàn, cuộc đời thanh nhàn, phú quý, thành công, hưng vượng.

Phồn: Nếu là nam sẽ có số khắc bạn đời, khắc con cái, nên kết hôn muộn, trung niên sống bình dị, cuối đời cát tường. Nếu là nữ có thể mắc bệnh hoặc gặp bất hạnh.

Phóng: Cuộc đời bôn ba, vất vả hoặc bệnh tật, đoản mệnh, gặp trở ngại trong tình cảm, trung niên vất vả, cuối đời hưởng phúc.

Phong: Là người cương trực, nghĩa lợi rạch ròi, có số thanh nhàn, phát tài, phát lộc. Xuất ngoại sẽ được thành công, có quý nhân phù trợ.

Phòng: Đa tài, số được hưởng phúc lộc vẹn toàn, trung niên vất vả, cuối đời cát tường.

Phỏng: Số được quý nhân phù trợ, cuộc đời thanh nhàn, lanh lợi. Trung niên vất vả, gặp nhiều tai ương, cuối đời yên ổn, hạnh phúc.

Phú: Đa tài, nhanh trí, nội tâm sầu muộn, có tài nhưng không gặp thời, trung niên vất vả, cuối đời hưng vượng.

Phụ: Khắc mọi người, đau ốm nhiều, đoản thọ, kỵ xe cộ, tránh sông nước, khó thành công.

Phù: Là người hám danh, lanh lợi, trung niên vất vả hoặc gặp phải tai ương, cuối đời hưởng phúc từ con cái.

Phủ: Là người tài năng, tính cách ôn hòa, hiền hậu, trung niên thành công, hưng vượng, gia cảnh tốt.

Phu: Trời sinh vốn thông minh, đa tài. Trung niên bôn ba vất vả, cả đời vinh hoa phú quý.

Phục: Nam sẽ là đấng anh hùng, nữ sẽ là bậc giai nhân, cả đời sống thanh đạm, có phẩm chất tốt đẹp. Trung niên gặp nhiều tai ương, cuối đời phát tài, phát lộc.

Phùng: Cuộc đời thanh nhàn, phúc thọ song toàn, trung niên vất vả bôn ba, cuối đời cát tường.

Phụng: Số khắc cha mẹ, khắc bạn đời, khắc con cái. Trung niên vất vả, lắm bệnh tật hoặc phải lo lắng nhiều, cuối đời thành công, hưng vượng.

Phương: Thông minh, lanh lợi, cả đời yên ổn, bình dị. Trung niên gặp có thể gặp điều không may, về già hưởng phúc.

Phường: Là người trọng tín nghĩa, chịu thương, chịu khó, trung niên cát tường, con cháu ăn nên làm ra, cuối đời hưng vượng.

Theo Tên hay thời vận tốt


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tên nào thuộc vần P mang lại nhiều may mắn cho chủ nhân?

Ý nghĩa sao Thiên Hỷ - Thiện tinh chủ sự vui vẻ

Sao Thiên Hỷ là một cát tinh, Thiên Hỷ có nghĩa là vui vẻ, vui tính, thích cảnh vui, chuyện vui, biết thưởng thức, hài hước, có óc hài hước.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Ý nghĩa sao Thiên Hỷ - Thiện tinh chủ sự vui vẻ

Ý nghĩa sao Thiên Hỷ - Thiện tinh chủ sự vui vẻ

Hành: Thủy

Loại: Thiện Tinh

Đặc Tính: Vui vẻ, cưới hỏi, hỷ sự

Tên gọi tắt thường gặp: Hỷ

Là một phụ tinh. Một trong nhóm sao Đào Hoa, Hồng Loan, Thiên Hỷ. Gọi tắt là bộ Tam Minh (Đào Hồng Hỷ).

Ý Nghĩa Của sao Thiên Hỷ:

Sao Thiên Hỷ là một cát tinh, Thiên Hỷ có nghĩa là vui vẻ, vui tính, thích cảnh vui, chuyện vui, biết thưởng thức, hài hước, có óc hài hước. Đem lại những sự may mắn, đáng mừng. Về hai điểm này, sao Thiên Hỷ và sao Hỷ Thần có đặc tính giống nhau. Nếu hai sao hội tụ, người ấy vui tính, dễ cười, có óc hài hước, pha trò, tạo hỷ khí với người chung quanh.

Ngoài ra, sao Thiên Hỷ còn có lợi ích cho việc cưới hỏi và sinh nở.

Ý Nghĩa sao Thiên Hỷ Ở Cung Mệnh:

Tính Tình: Người có dung mạo đẹp đẽ, vui tính, có óc hài hước, thích chuyện vui, cảnh vui, hay gặp sự may mắn.

Ý Nghĩa sao Thiên Hỷ Ở Cung Phụ Mẫu:

Được hưởng phúc, gia đạo, gia tộc có sự hòa thuận, vui vẻ. Mồ mả tổ tiên ông bà chôn cất ở chỗ đất tốt nên con cháu được phát đạt. Nếu có bệnh tật, tai nạn cũng được giảm chế.

Gặp sao Hỷ Thần, mồ mả phát phúc.

Ý Nghĩa sao Thiên Hỷ Ở Cung Quan Lộc:

Làm các nghề giải trí, nghệ thuật thì tốt và nổi tiếng.

Gặp sao Đào Hoa, Hồng Loan, trẻ tuổi đã làm nên lúc sự nghiệp, nhờ phái nữ mà thăng tiến.

Gặp sao Đào Hoa, Hồng Loan, Tấu Thư, Vũ Khúc, làm nghề ca xướng (nghệ sĩ, ca sĩ, kịch sĩ có tiếng).

Ý Nghĩa sao Thiên Hỷ Ở Cung Phu Thê:

Việc cưới xin dễ dàng, vợ chồng thuận hòa, vui vẻ, khá giả.

Gặp sao Hồng Loan, Đào Hoa, sánh duyên cùng người đẹp đẽ, vợ hay chồng có tính phong lưu, lãng mạn.

Nếu thêm sao Thiên Riêu, Thai, có ngoại tình.

Ý Nghĩa sao Thiên Hỷ Ở Cung Huynh Đệ:

Anh chị em khá giả, thuận hòa, có người nổi tiếng trong nghề nghệ thuật, giải trí, ca hát.

Thiên Hỷ Khi Vào Các Hạn

Sao Thiên Hỷ, Hồng, Đào: Có tình duyên, có bồ bịch.

Sao Thiên Hỷ, Hồng, Tả, Hữu, Long, Phượng, Riêu: Có hỷ sự, thành gia thất.

Song Hỷ, Đào, Hồng, Khôi, Việt: Sinh đẻ quý tử.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Ý nghĩa sao Thiên Hỷ - Thiện tinh chủ sự vui vẻ

Luận giải mối quan hệ giữa tình yêu và giờ sinh theo tử vi

Mỗi người khi sinh ra đều có bát tự riêng, ảnh hưởng đến nhiều phương diện. Gần đây, các chuyên gia đã chỉ ra mối quan hệ giữa quan điểm tình
Luận giải mối quan hệ giữa tình yêu và giờ sinh theo tử vi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Mỗi người khi sinh ra đều có bát tự riêng, ảnh hưởng đến nhiều phương diện như: vận thế, sự nghiệp, tiền tài, hôn nhân,... Gần đây, các chuyên gia đã chỉ ra mối quan hệ giữa tình yêu và giờ sinh, hãy cùng ## tìm hiểu thêm.

► Bói tình yêu theo ngày sinh để biết xung hợp và hóa giải

Mẹo tử vi đơn giản giúp tăng lương thành công trong năm mới Lá số tử vi của phụ nữ lấy chồng giàu sang Giải thích quan hệ hợp, xung, khắc của 12 con giáp

Luan giai moi quan he giua tinh yeu va gio sinh theo tu vi hinh anh
 
Giờ Tý (23 giờ - 1 giờ)
giờ thần đầu tiên trong 24 giờ thần của mỗi ngày, bởi vì trong số mệnh ngũ hành, giờ Tý có ngụ ý là khoảng cách của hai ngày. Vậy nên, trên phương diện tình cảm, mệnh chủ sinh vào giờ thần này luôn có tính chủ động. Tý vi Thủy, Thủy trụ đào hoa, người ra đời vào giờ thần này thường không cự tuyệt những người đến với mình, là điển hình của hình tượng đa tình.   Giờ Sửu (1 giờ - 3 giờ) Giờ Sửu là thời điểm hừng đông, vạn vật vẫn còn đang say giấc. Giờ Sửu đại diện cho Thổ trong Ngũ hành, do thiếu ánh sáng trong khoảng thời gian này, nên người trụ giờ Sửu khá nội tâm trong chuyện tình cảm. Khi yêu thích người sinh ra trong giờ Sửu, bạn cần phải là người chủ động "giữ lửa", như vậy mối tình mới dài lâu.

Những nàng giáp lỗ cả tình lẫn tiền trong tình yêu
Tình yêu viên mãn là điều mọi cô gái mong muốn, tuy nhiên những nàng giáp sau đây hay gặp trắc trở trong tình duyên, dễ lỗ cả tình lẫn tiền.

 
Giờ Dần (3 giờ - 5 giờ) Đây là khoảng thời gian bắt đầu xuất hiện ánh sáng. Giờ Dần trong địa chi đại diện cho Mộc, là khí trường thuộc Dương, có xu hướng chủ động. Vậy nên, người sinh vào thời điểm này khá lạc quan và vui vẻ về vấn đề tình cảm. Theo quan điểm tình yêu và giờ sinh, khi ở bên những người này luôn có niềm vui bất ngờ   Giờ Mão (5 giờ - 7 giờ) Giờ thần Mão thuộc Thổ của Địa chi, hoa cỏ khi thấy ánh sáng sẽ phái triển sinh sôi này nở. Ngoài ra, Mão còn đại diện cho đào hoa, thuộc khí trường Chính đào hoa. Vì vậy, người sinh ra trong khoảng thời gian nầy khá thuận lợi về mặt tình duyên  
Luan giai moi quan he giua tinh yeu va gio sinh theo tu vi hinh anh 2
 
Giờ Thìn (7 giờ - 9 giờ) Vào giờ Thìn, mặt trời đã lên cao, ánh sáng chiếu rọi xuống mặt đất, vạn vật đều vui vẻ tiếp nhận ánh sáng. Mệnh chủ trong khoảng thời gian này trong phương diện tình cảm luôn rạng ngời, có kiến giải riêng về tình yêu, thuộc trường phái chủ động.   Giờ Tỵ (9 giờ - 11 giờ) Tỵ đại diện cho Hỏa trong Ngũ hành, thời điểm này nhiệt độ bắt đầu dâng cao. Vậy nên, những người trụ giờ sinh ngày rất yêu thích kiểu tình yêu "tiếng sét ái tình", "tốc chiến tốc thắng" trong tình cảm.  
Luan giai moi quan he giua tinh yeu va gio sinh theo tu vi hinh anh 3
 
Giờ Ngọ (11 giờ - 13 giờ) Ngọ là một trong "tứ đào hoa". Đào hoa vào thời điểm giữa trưa làm con người yêu thích nhất, tuy nhiên cũng rất nguy hiểm. Vậy nên, mệnh chủ giờ Ngọ tốt nhất nên tự vấn bản thân liệu mối tình đang nhem nhóm đấy có tốt cho bản thân   Giờ Mùi (13 giờ - 15 giờ) Giờ Mùi thuộc Thổ khô nóng, Thổ trường mang khói, có nghĩa là gây khó khăn cho sự phát triển của thực vật. Bát tự trụ giờ thần này không chịu được sự tức giân của đổi phương do tính khí của bản thân không tốt, vậy nên cuộc tình luôn gặp trục trặc, cãi vã.   Giờ Thân (15 giờ - 17 giờ) Giờ Thân là buổi chiều trong ngày, là Ngũ hành thuộc Kim sắc nhọn, nên người có giờ sinh này có tính cách thẳng thắn. Vậy nên, khi có tình cảm với mệnh chủ giờ Thân, bạn cũng cần điềm đạm, hiền lành, nếu không dễ dẫn đến lục đục.  
Luan giai moi quan he giua tinh yeu va gio sinh theo tu vi hinh anh 4
 
Giờ Dậu (17 giờ - 19 giờ) Vào giờ Dậu, mặt trăng và các vị tinh tú bắt đầu xuất hiện trên bầu trời, thế nên người sinh giờ Dậu luôn hy vọng tạo ra và nhận được sự lãng mạn trong tình yêu. Khi "người thương" sinh vào giờ thần Dậu, thì mối tình đó rất đẹp và đáng trân trọng.   Giờ Tuất (19 giờ - 21 giờ)  Đây là thời điểm trời tối, đại diện Thổ khí trong Ngũ hành. Tuất Thổ tàng vật, những người có giờ sinh này có tính cách tốt, chấp nhận khuyết điểm của người khác. Vậy nên, tình cảm của họ có xu hướng là sự bao dung.   Giờ Hợi (21 giờ - 23 giờ) Giờ Hợi là Thủy của sông lớn, Thủy chủ lưu động. Mệnh chủ có tính cách tươi sáng, dứt khoát, hỷ nộ ái ố đều thể hiện rõ ràng. Khi tiếp xúc với họ, không cần phải lo sợ việc giấu diếm. Tương tự trên phương diện tình cảm, họ cũng rất thẳng thắn, đáng được trân trọng.
Chi Nguyễn
  Những con giáp thích hợp ăn chay để tăng vận khí Những con giáp cả đời chôn chặt mối tình đầu trong tim Con giáp nào nhớ lâu thù dai vào... điểm danh  

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Luận giải mối quan hệ giữa tình yêu và giờ sinh theo tử vi

Những kiểu nhà vệ sinh không hợp phong thuỷ? –

Nhà vệ sinh là nơi loại trừ chất thải, do đó không được thiêt kế ở vị trí quan trọng trong nhà, song vì một lý do nào đó mà khi thiết kế nó trái với phong thuỷ nhà ở. Những kiểu nhà vệ sinh sau đây được coi là không hợp phong thuỷ, bạn nên xem qua để

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

chắc chắn rằng nhà vệ của mình không mắc phải và nếu mắc phải thì khắc phục bằng cách nào:

–    Cửa phòng vệ sinh hoặc bồn cầu đối diện cửa chính: Cửa chính là nơi nạp khí, nếu bô” trí như vậy sẽ khiến sinh khí bị xâm phạm do có các luồng uế khí toả ra. Cách tốt nhất là chuyển hướng cửa phòng vệ sinh và hướng bồn cầu.

104_Thiet-ke-phong-ve-sinh-trong-nha

–  Nhà vệ sinh đổi diện phòng ăn: Làm mất vệ sinh do các uế khí xâm nhập vào phòng ăn. Khắc phục bằng cách làm lại hướng phòng vệ sinh.

–  Nhà vệ sinh ngay sát cửa chính. Nếu nhà vệ sinh có hai gian thì chuyển thành nhà kho. Nếu không thể sửa chữa thì phải có thêm rèm cửa mới thích hợp.

Thông thường, nhà vệ sinh thường đặt ở vị trí phía sau, bên phải của nhà, phải có khoảng cách nhất định với nhà để tránh mùi xú uế.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những kiểu nhà vệ sinh không hợp phong thuỷ? –

Hướng kê giường hợp người sinh năm 1967 tuổi Đinh Mùi –

Hướng kê giường tuổi Đinh Mùi: - Năm sinh dương lịch: 1967 - Năm sinh âm lịch: Đinh Mùi - Quẻ mệnh: Càn Kim - Ngũ hành: Thiên Hà Thủy (Nước trên trời) - Thuộc Tây Tứ Mệnh, nhà hướng Bắc, thuộc Đông Tứ Trạchh - Hướng tốt: Tây Bắc (Phục Vị); Đông Bắc (

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Hướng kê giường tuổi Đinh Mùi:

– Năm sinh dương lịch: 1967

– Năm sinh âm lịch: Đinh Mùi

– Quẻ mệnh: Càn Kim

– Ngũ hành: Thiên Hà Thủy (Nước trên trời)

– Thuộc Tây Tứ Mệnh, nhà hướng Bắc, thuộc Đông Tứ Trạchh

– Hướng tốt: Tây Bắc (Phục Vị); Đông Bắc (Thiên Y); Tây Nam (Diên Niên); Tây (Sinh Khí);

– Hướng xấu: Bắc (Lục Sát); Đông (Ngũ Quỷ); Đông Nam (Hoạ Hại); Nam (Tuyệt Mệnh);

file.446108

Phòng ngủ:

Vị trí phòng ngủ trong nhà và vị trí giường ngủ trong phòng ngủ nên ưu tiên ở hướng tốt (các hướng Sinh Khí, Thiên Y, Diên Niên, Phục Vị)

Gia chủ mang mệnh Thủy, Kim sinh Thủy, nên hướng giường nên quay về hướng thuộc Kim, là hướng Tây Bắc; Tây; 

Nếu tính cho các phòng ngủ của các thành viên khác trong gia đình, thì cần tính hành ứng với mỗi thành viên.

Màu sơn trong phòng ngủ, màu sắc rèm cửa nên sử dụng màu Trắng, Xám, đây là màu đại diện cho hành Kim, rất tốt cho người hành Thủy.

Tủ quần áo nên kê tại các góc xấu trong phòng để trấn được cái xấu, là các góc Ngũ Quỷ, Hoạ Hại, Lục Sát, Tuyệt Mệnh.

Giường ngủ cần tránh kê dưới dầm, xà ngang, đầu giường tránh thẳng với hướng cửa mở vào, thẳng với hướng gương soi.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Hướng kê giường hợp người sinh năm 1967 tuổi Đinh Mùi –

Sao Thái Âm - Biểu tượng của mặt trăng, người mẹ, bà nội và vợ

Sao Thái Âm là biểu tượng của mặt trăng, người mẹ, bà nội, bà vợ. Thái Âm sẽ tăng thêm vẻ đẹp nếu gặp các sao như Đào Hoa, Hồng Loan, Thiên Hỷ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Sao Thái Âm - Biểu tượng của mặt trăng, người mẹ, bà nội và vợ

Sao Thái Âm - Biểu tượng của mặt trăng, người mẹ, bà nội và vợ

Sao Thái Âm thuộc chòm sao Bắc Đẩu tinh (tính Âm Thủy) tên thường gọi là Nguyệt.

Sao Thái Âm miếu địa tại: Dậu, Tuất, Hợi.

Vượng địa tại: Thân, Tý.

Đắc địa tại: Sửu, Mùi.

Hãm địa tại: Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ.

Cung mệnh có sao Thái Âm đắc địa, vượng địa hay miếu địa tọa thủ là người có thân hình to lớn, hơi cao, da trắng, mặt vuông vắn, đầy đặn, đẹp đẽ mắt sáng, rất thông minh, tính khoan hòa, nhân hậu và từ thiện, ưa thích văn chương, mỹ thuật được hưởng giàu sang và sống lâu.

Sao Thái Âm miếu địa, vượng địa: Sinh vào ban đêm mới thuận lý, rất sáng sủa tốt đẹp. Nếu sinh vào khoảng mùng 1 tới ngày 15 vào ban đêm là thượng huyền rất rực rỡ.

Thái Âm sẽ tăng thêm vẻ đẹp nếu gặp các sao như Đào Hoa, Hồng Loan, Thiên Hỷ. Và giảm bớt tốt đẹp khi gặp các sao Thiên Riêu, Đà La, Hóa Kỵ, Kình Dương, Không, Kiếp.

Thái Âm miếu địa, vượng địa mà gặp sao Tuần, triệt án ngữ sẽ bị che lấp đi ánh sáng trở thành mờ ám và xấu xa. Nhưng ngược lại nếu Hãm địa mà gặp Tuần, triệt án ngữ thì lại trở nên sáng sủa và tốt đẹp.

Đắc địa cần Tuần, triệt án ngữ để tăng thêm vẻ sáng sủa tốt đẹp. Nếu đắc địa gặp Hóa Kỵ đồng cung thì thật là hoàn mỹ được ví như mặt trăng được tỏa sáng có mây năm sắc chầu 1 bên.

Sao Thái Âm miếu địa, vượng địa ứng hợp với âm nam và âm nữ.

Cung mệnh có sao Thái Âm mà sinh vào ban đêm thì thuận lý vô cùng rực rỡ, ngược lại sinh vào ban ngày thì trở nên kém sáng sáng sủa và tốt đẹp.

Thái Âm đắc địa nếu không gặp Tuần, triệt án ngữ tuy vô bệnh tật, vẫn có tài lộc, nhưng không thể quý hiển được.

Thái Âm miếu địa, đắc địa hay vượng địa gặp các sao xấu hội họp như: Kỵ, Riêu, Hình tất không được hưởng giàu sang trọn vẹn, mắt kém thường có bệnh về đường tiêu hóa, hay mắc tai nạn, tuổi thọ suy giảm.

Thái Âm đắc địa gặp Hóa Kỵ đồng cung và không bị sát tinh xâm phạm, chắc chắn là được hưởng phú quý.

Thái Âm bị hãm địa thì thân hình nhỏ, hơi cao, mặt dài và kém thông minh, tính ương ngạnh, thích giao du chơi bời, ưa ngâm hoa vịnh nguyệt, không tham cầu danh lợi suốt đời chẳng mấy khi được xứng ý toại lòng, rất vất vả thường phải ly tổ buôn ba, lại hay đau yếu, mắt kém khó thoát được tai nạn nếu trong mình không có dị tật tất, không thể sống lâu được.

Nguyệt Hãm địa tại cung Mão, Tỵ (âm cung) cũng không đến nỗi mờ ám xấu xa lắm, vẫn được cơm no và áo ấm. Chẳng đáng lo ngại về những sự chẳng lành xảy ra trong đời.

Nguyệt hãm đại gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp như Xương, Khúc, Khôi, việt, Tả, Hữu, Khoa, Quyền, Lộc, Đào, Hồng, Hỷ tất cũng có danh tài và gia tăng tuổi thọ.

Thái âm dù đắc địa, vượng địa hay miếu địa tọa ở mệnh có thiên hình đồng cung ắt có dị tật ở mắt do kim khí, vật nhọn gây ra.

Thái âm đắc địa hay vượng địa, hãm địa gặp tuần, triệt án ngữ nên lập gia đình muộn hoặc lấy lẽ mới tránh khỏi được những ưu phiền đau đớn vì chồng con.

Sao Thái Âm hãm địa là một người dâm dật, suốt đời vất vả và có nhiều bệnh tật. Nếu gặp thêm nhiều sao xấu xa mờ ám hội họp thì thật là chung thân cùng khốn, cô đơn, phải lang thang phiêu bạt, hay đau yếu chân tay không có dị tật thì mắt cũng mù lòa.

 

 

 


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sao Thái Âm - Biểu tượng của mặt trăng, người mẹ, bà nội và vợ

Như thế nào thì được gọi là người Cư sĩ thuần thành?

Thật ra, người cư sĩ thuần thành Phật tử chân chính cần phát huy tu tập theo lời Thế Tôn đã dạy để tự hoàn thiện mình và góp phần xiển dương Chánh pháp
Như thế nào thì được gọi là người Cư sĩ thuần thành?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Để tiến xa hơn, người cư sĩ phát tâm tu tập về lòng tin, giữ giới, bố thí, yết kiến các Tỷ-kheo, nghe pháp, thọ trì những pháp đã nghe, suy nghĩ đến nghĩa lý các pháp đã thọ trì, và quan trọng nhất là thực hành các pháp đã nghe hiểu ấy

1. – Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu, ở khu vườn Nigrodha. Rồi Thích tử Mahànàma đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ rồi ngồi xuống một bên, bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, cho đến như thế nào là người nam cư sĩ?
– Này Mahànàma, khi nào quy y Phật, quy y Pháp, quy y chúng Tăng, cho đến như vậy, này Mahànàma, là người nam cư sĩ thuần thành

2. – Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là người nam cư sĩ giữ giới?

– Này Mahànàma, khi nào người nam cư sĩ từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu, cho đến như vậy, là người nam cư sĩ thuần thành

3. – Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là người nam cư sĩ thuần thành , vì tự lợi chứ không vì lợi tha?

– Này Mahànàma, khi nào nam cư sĩ thành tựu lòng tin cho mình, không có khích lệ người khác thành tựu lòng tin; thành tựu giữ giới cho mình, không có khích lệ người khác thành tựu giữ giới, thành tựu bố thí cho mình, không khích lệ người khác thành tựu bố thí;

  • muốn tự mình đi đến yết kiến các Tỷ-kheo, không có khích lệ người khác đi đến yết kiến các Tỷ kheo;
  • chỉ tự mình muốn nghe diệu pháp, không khích lệ người khác nghe diệu pháp;
  • tự mình thọ trì những pháp đã được nghe, không khích lệ người khác thọ trì những pháp đã được nghe;
  • tự mình suy nghĩ đến ý nghĩa các pháp đã thọ trì, không khích lệ người khác suy nghĩ đến ý nghĩa các pháp đã thọ trì;
  • sau khi tự mình biết nghĩa, biết pháp, thực hiện tùy pháp, đúng Chánh pháp, không khích lệ người khác thực hiện tùy pháp, đúng Chánh pháp.

Cho đến như vậy, này Mahànàma, là nam cư sĩ thuần thành  vì tự lợi, không phải vì lợi tha.

4. – Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là nam cư sĩ thực hành vừa tự lợi, vừa lợi tha?

– Này Mahànàma, khi nào nam cư sĩ tự mình thành tựu lòng tin và khích lệ người khác thành tựu lòng tin; khi nào tự mình giữ giới và khích lệ người khác giữ giới; khi nào tự mình bố thí và khích lệ người khác bố thí; khi nào tự mình muốn đi đến yết kiến các Tỷ-kheo và khích lệ người khác đi đến yết kiến các Tỷ-kheo; khi nào tự mình muốn nghe diệu pháp và khích lệ người khác nghe diệu pháp; khi nào tự mình thọ trì những pháp đã được nghe và khích lệ người khác thọ trì những pháp đã được nghe; khi nào tự mình suy nghĩ đến ý nghĩa các pháp đã thọ trì và khích lệ người khác suy nghĩ đến ý nghĩa các pháp đã thọ trì; sau khi tự mình biết nghĩa, biết pháp, thực hiện pháp đúng Chánh pháp, khích lệ người khác sau khi biết nghĩa biết pháp, thực hiện pháp đúng Chánh pháp. Cho đến như vậy, này Mahànàma, là nam cư sĩ thuần thành vì tự lợi và lợi tha.

(Kinh Tăng Chi Bộ III, chương 8, phẩm Gia chủ)

SUY NGHIỆM:

Thông thường, người Phật tử sau khi quy y Tam bảo, thọ trì năm giới cấm được chư Tăng khuyến khích tu học, tụng niệm, làm việc thiện và tham gia các Phật sự nói chung. Những pháp tu ấy được xem như phận sự căn bản của người Phật tử. Tuy vậy, đi sâu vào chi tiết, cụ thể về phận sự của người cư sĩ, Đức Thế Tôn đã khái quát thành bốn pháp tu: 1-Quy y Tam bảo, 2-Thọ trì năm giới, 3-Tự lợi, 4-Lợi tha.

Khi một người đối trước Tam bảo, tự mình ba lần nói lời phát nguyện trọn đời quy y Phật – quy y Pháp – quy y Tăng, sẽ chính thức trở thành Phật tử. Điều cần lưu ý ở đây là tự mình phát nguyện quy y trực tiếp với Tam bảo (không vắng mặt), không bị ai ép buộc, phải đủ nhận thức để tự giác phát nguyện (không quá nhỏ dại) thì pháp quy y mới thành tựu.

Sau khi quy y, dù không bắt buộc thọ hết cùng lúc cả năm giới cấm, nhưng Thế Tôn luôn khuyến khích các cư sĩ phát tâm thọ trì đầy đủ. Bởi năm giới là chuẩn mực đạo đức căn bản mà người cư sĩ phải thành tựu, trước để xây dựng hạnh phúc và an lạc trong đời sống thế tục hiện tại, sau làm nền tảng để thăng hoa tâm linh và thành tựu các quả vị.

Để tiến xa hơn, người cư sĩ phát tâm tu tập về lòng tin, giữ giới, bố thí, yết kiến các Tỷ-kheo, nghe pháp, thọ trì những pháp đã nghe, suy nghĩ đến nghĩa lý các pháp đã thọ trì, và quan trọng nhất là thực hành các pháp đã nghe hiểu ấy trong đời sống hàng ngày. Đây gọi là tự lợi.

Tuy vậy, tự lợi và lợi tha phải song hành mới viên mãn hạnh nguyện của người cư sĩ. Do đó, vừa tu tập vừa khích lệ những người khác tu tập như mình (hoằng pháp) là pháp tu quan trọng mà hàng cư sĩ luôn phấn đấu để thành tựu.

Trong bối cảnh các thế lực ngoại đạo đang nỗ lực cải đạo, các tà sư tà giáo (điển hình như Thanh Hải, Duy Tuệ…) núp bóng Phật giáo để phá hoại Chánh pháp ngày càng gia tăng, thiết nghĩ người cư sĩ thuần thành Phật tử chân chính cần phát huy tu tập theo lời Thế Tôn đã dạy để tự hoàn thiện mình và góp phần xiển dương Chánh pháp.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Như thế nào thì được gọi là người Cư sĩ thuần thành?

34 chiêu thay da đổi thịt hoán đổi cuộc đời (P2)

Nhân tướng học cho rằng tướng tại tâm, tâm tốt thì tướng đẹp. Thay đổi tướng mạo không phải điều dễ nhưng cũng không quá khó khăn nếu bạn răn mình, làm theo
34 chiêu thay da đổi thịt hoán đổi cuộc đời (P2)

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

những điều tốt dưới đây. 


34 chieu thay da doi thit hoan doi cuoc doi P2 hinh anh goc
 
34 chieu thay da doi thit hoan doi cuoc doi P2 hinh anh goc 2
 

34 chieu thay da doi thit hoan doi cuoc doi P2 hinh anh goc 3
 
34 chieu thay da doi thit hoan doi cuoc doi P2 hinh anh
 
 
34 chieu thay da doi thit hoan doi cuoc doi P2 hinh anh goc 4
 

34 chieu thay da doi thit hoan doi cuoc doi P2 hinh anh goc 5
 

34 chieu thay da doi thit hoan doi cuoc doi P2 hinh anh goc 6
 

34 chieu thay da doi thit hoan doi cuoc doi P2 hinh anh goc 7
 

34 chieu thay da doi thit hoan doi cuoc doi P2 hinh anh goc 8
 

34 chieu thay da doi thit hoan doi cuoc doi P2 hinh anh goc 9
 

34 chieu thay da doi thit hoan doi cuoc doi P2 hinh anh goc 10
 

34 chieu thay da doi thit hoan doi cuoc doi P2 hinh anh goc 11
 
34 chieu thay da doi thit hoan doi cuoc doi P2 hinh anh goc 12
 

34 chieu thay da doi thit hoan doi cuoc doi P2 hinh anh goc 12
 

34 chieu thay da doi thit hoan doi cuoc doi P2 hinh anh goc 14
 

34 chieu thay da doi thit hoan doi cuoc doi P2 hinh anh goc 15
 

34 chieu thay da doi thit hoan doi cuoc doi P2 hinh anh goc 16
 
► Xem tướng các bộ phận cơ thể đoán vận mệnh chuẩn xác

Kiếm Phong

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 34 chiêu thay da đổi thịt hoán đổi cuộc đời (P2)

Giải mã quan hệ tam hình Dần Thân Tị

Tam hình Dần Thân Tị có quan hệ tương hình, ảnh hưởng lẫn nhau. Mối quan hệ này có nhất thiết sẽ là đối lập toàn diện, gây đại họa hay không.
Giải mã quan hệ tam hình Dần Thân Tị

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tam hình Dần Thân Tị có quan hệ tương hình, ảnh hưởng lẫn nhau. Mối quan hệ này có nhất thiết sẽ là đối lập toàn diện, gây đại họa hay không, hãy cũng ## tìm hiểu.


► Lịch ngày tốt gửi đến bạn đọc công cụ xem bói tử vi chuẩn xác theo ngày tháng năm sinh

Giai ma quan he tam hinh Dan Than Ti hinh anh 2
 
Tương hình là một loại quan hệ của các địa chi với nhau, có tính chất đặc thù nhất là dễ tạo ra thương tổn. Nếu mở rộng phạm vi ứng dụng thì nếu không thương tổn cũng hao tài tốn của. Hình trong bát tự rất nhạy, người xưa khi giảng về quan hệ địa chi thường nhấn mạnh “hình, xung, hợp, hại”, đặt hình ở vị trí đầu tiên.    Tam hình Dần Thân Tị, ba địa chi gặp nhau tạo thành thế hình. Người mà bát tự có đủ 3 địa chi này tức là mệnh cách phạm tam hình, thực tiễn cho thấy, đây là cách cục tử vi không tốt. Người này nếu có thể trưởng thành bình thường thì sẽ không gặp tai nạn rủi ro quá lớn nữa nhưng người thân lại nảy sinh tại họa, nghiêm trọng còn có người thân chết trẻ. 
 
Giai ma quan he tam hinh Dan Than Ti hinh anh 2
 
Thực chất tam hình Dần Thân Tị là Trường Sinh lẫn nhau. Dần giấu Giáp Bính Mậu, Thân giấu Mậu Canh Nhâm, Tị giấu Bính Mậu Canh. Ba địa chi này xung đột với nhau, nếu bát tự Mộc vượng thì Thổ suy, Thủy vượng thì Hỏa nhược, Hỏa vượng thì Kim nguy, Kim vượng thì Mộc yếu. Vì thế, muốn hóa giải thế tam hình trong tử vi, không cần chú ý tới quá trình, chỉ xem kết quả là được.   Ví dụ như quẻ Càn ngày Canh Thân sinh năm Canh Dần tháng Tân Tị tạo thành tam hình, rất dễ gặp họa về xe cộ. Dần Tị Thân tam hình gây sóng gió nhưng họa không nặng, chủ yếu là lái xe không cẩn thận đụng phải người già. Nếu bản mệnh thành thật chịu trách nhiệm thì mọi sự sẽ không quá to tát, chỉ mất chút tiền bạc nhưng mọi sự sẽ êm thấm, chuyện lớn hóa nhỏ.

Giai ma quan he tam hinh Dan Than Ti hinh anh 2
 
Hay sinh ngày Đinh Tị gặp tháng Giáp Thân năm Canh Dần, phạm tam hình rõ ràng. Nếu vì tháng xung mà ngồi nhà tránh họa, tạm dừng hết mọi công việc thì rất hại. Vì nguyên cục là Hỏa Thổ Kim vượng, dễ tổn thương Thủy Mộc, Thủy là con, Mộc là cha mẹ nên càng tránh càng tai. Hãy vận dụng phục mệnh hoặc cải mệnh Hậu thiên để đem tai họa hạ xuống mức thấp nhất.

Tam hình Sửu Mùi Tuất, tưởng xấu mà hóa giàu
Trong 12 địa chi có những tổ hợp tương hình, tương xung, tương hại lẫn nhau, trong đó Sửu Mùi Tuất tam hình không ai không biết. Tam hình thường là xấu, nhưng
  Trần Hồng
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Giải mã quan hệ tam hình Dần Thân Tị

Top 5 chòm sao không đơn giản như vẻ bề ngoài

Trong mắt mọi người có thể họ là những kẻ hời hợt, sống đơn giản và có đôi chút bất cần. Thế nhưng, sự thật lại không phải như vậy…
Top 5 chòm sao không đơn giản như vẻ bề ngoài

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Trong mắt mọi người có thể họ là những kẻ hời hợt, sống đơn giản và có đôi chút bất cần. Thế nhưng, sự thật lại không phải như vậy…


► Xem thêm: Bí ẩn 12 cung hoàng đạo và Mật ngữ 12 chòm sao mới nhất

Top 5 chom sao khong don gian nhu ve be ngoai hinh anh 2
Ảnh minh họa
Bảo Bình: Không thể nhìn thấu tâm can   Với bản tính luôn thích hành động một mình kiểu “đơn thương độc mã”, kết hợp với lối tư duy trừu tượng và khá kỳ lạ nên rất khó để mọi người có thể đọc được Bảo Bình đang nghĩ gì. Bảo Bình cũng thuộc tuýp người thông minh, có năng lực sáng tạo, suy nghĩ sâu sắc và thấu đáo nên họ cũng dễ dàng che giấu tâm tư của mình.   Ngoài ra, Bảo Bình còn có khả năng chế ngự và thao túng đối phương, theo dõi đối phương bằng con mắt tinh ranh và sắc sảo nên nếu có người yêu là Bảo Bình thì bạn chớ dại mà lừa dối họ nhé, họ sẽ nhanh chóng phát hiện ra thôi.   Ma Kết: Nội tâm sâu sắc
 
Mọi người thường bị đánh lừa bởi vẻ ngoài điềm tĩnh của Ma Kết, trong mắt mọi người Ma Kết luôn gắn với hình tượng một con người nghiêm túc, chân thật và không bao giờ có từ "thủ đoạn" trong từ điển. Tất nhiên, nói như vậy không có nghĩa là Ma Kết xấu xa, đơn giản chỉ là họ có lớp vỏ bề ngoài mạnh mẽ, với việc đối nhân xử thế họ luôn suy nghĩ một cách thận trọng. 
 
Có thể bạn sẽ cảm thấy đôi chút khó chịu vì những lo xa quá đà của Ma Kết, nhưng yên tâm những lo xa đó là hoàn toàn đúng bởi mỗi khi nói ra những suy nghĩ của mình thì Ma Kết đã cân nhắc rất là tỉ mỉ rồi.
 
Song Tử : Tâm tư không hề đơn giản
 
Là người hoạt bát và tinh nghịch thế nhưng Song Tử lại rất nhạy cảm và mang trong mình một tâm tư sâu sắc. Nói cách khác, Song Tử không hề "hời hợt"  như vẻ bề ngoài mà bạn vẫn thấy. Đối với mọi việc Song Tử cũng luôn suy đi tính lại, nghĩ trước nghĩ sau chứ không hề phát ngôn bừa bãi, tâm tư của họ cũng không đơn giản chút nào. Khi bạn muốn phân thắng bại trong tranh luận, bạn sẽ thấy một Song Tử với những lý lẽ đầy sắc sảo, thậm chí giảo hoạt sẵn sàng tranh thắng bại tới cùng với bạn.
 
Hổ Cáp: Có thù phải trả
 
Nếu không phải bạn thân thì ít ai dám đùa giỡ với Hổ Cáp. Mang vẻ bề ngoài lạnh lùng, có đôi chút bất cần nhưng thực chất họ vẫn luôn âm thầm quan sát và đánh giá về đối tượng. Trực giác nhạy bén và khả năng phân tính có thể giúp họ đưa ra những kết luận chính xác về chân tướng đối phương.

Top 5 chom sao khong don gian nhu ve be ngoai hinh anh 2
Ảnh minh họa

 
Ngoài ra, điều đáng gờm ở con người này là đừng đắc tội với họ, vì câu châm ngôn bất hủ của họ chính là “Có thù không báo phi quân tử”!   Thiên Bình: Sắc sảo từ trong
 
Đúng như chính biểu tượng của họ, cán cân công lý Thiên Bình luôn đòi hỏi sự công bằng, vì vậy, tâm tư của Thiên Bình luôn có những quy tắc chuẩn mực mà bạn không thể phạm vào.
 
Sự sắc sảo ở họ không chỉ là các xử sự ôn hòa mà còn ở hình tượng cá nhân, lúc nào cũng lịch thiệp, điềm đạm và đây thật sự là lớp mặt nạ đáng sợ che đậy những suy nghĩ sâu kín khó ai đoán được.
 
Lichngaytot.com
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Top 5 chòm sao không đơn giản như vẻ bề ngoài

Luận về Cô Thần-Quả Tú

Cô Thần với Quả Tú là hai sao đi cặp (đối tinh). Hai sao trên không bao giờ xuất hiện ở Mão Dậu và Tí Ngọ, doanh trại cố định của Đào Hoa. Nhưng theo thế tam hợp nó vẫn gây ảnh hưởng cho các sao ở Tí Ngọ Mão Dậu.
Luận về Cô Thần-Quả Tú

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Cô Thần Quả Tú đều chủ về hình khắc cô đơn, phân ly. Nó tác động mạnh đối với các cung Phụ Mẫu, Phu Thê, Tử tức. Nhưng khi Cô Thần vào cung Phúc Đức thì cá tính mạnh mẽ thích tự lập, không dựa dẫm, tùy thuộc.

Cô Thần vào Điền Trạch được kể là tốt đẹp, dễ gầy dựng cửa nhà. Nhưng Quả Tú có ảnh hưởng vào cung phối ngẫu hơn Cô Thần vì có những cung vị chỉ chịu ảnh hưởng xung chiếu của một trong hai sao này. Phu Thê mà có những sao này mang tính phù động như Thiên Cơ, Cự Môn gặp Quả Tú vợ chồng khó ở, khó gần nhau.

Quả Tú vào Phụ Mẫu, mà Mệnh Thân lại thấy Thái Âm, Hóa Kị ắt xảy đến tình trạng “tùy nương cải giá” nghĩa là có bố dượng. Quả Tú đứng với Vũ Khúc ở cung phối ngẫu vợ chồng càng dễ hình khắc phân ly vì lý do chẳng ai chịu nhường ai, ai cũng muốn lấn quyền.

Hồng Loan đứng với Cô Quả chuyện hình khắc phân ly nặng hơn có thể sát hại.

Hồng Loan Cô Quả chẳng hay
Quả phu có kẻ tháng ngày cô đơn


Hóa Lộc, Lộc Tồn có thể làm giảm ảnh hưởng của Quả Tú được.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Luận về Cô Thần-Quả Tú

Chuyện kể về Tô Tiểu Muội

Tô Tiểu Muội là một nữ nhi văn hoa thơ phú giỏi giang, tương truyền còn biết võ công, là em gái của Tô Đông Pha, một trong bát đại gia đường đời Tống
Chuyện kể về Tô Tiểu Muội

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Chuyện kể về Tô Tiểu Muội, là em gái của Tô Đông Pha – một nhà văn, nhà thơ nổi tiếng đời Tống, được mệnh danh là một trong Bát đại gia Đường Tống.

Tại Châu Mi, thuộc Tứ Xuyên có một người họ Tô tên Tuần, tự là Minh Doãn biệt hiệu là Lão Tuyền. Ông ta là một nhà thông thái, có tiếng là học giỏi cho nên được người thời đó kính trọng và tôn là Lão Tô.

Lão Tô sinh được ba con, hai trai, một gái. Đứa con trai lớn là Đại Tô, tên Thức, tự Tử Chiêm, biệt hiệu là Đông Pha. Đứa con trai kế là Tiểu Tô, tên Triệt, tự Tử Do, biệt hiệu là Dĩnh Tấn. Cả hai đều nổi tiếng hay chữ, kinh luân nặng túi, thi phú đầy lòng. Anh em cùng đậu Tiến sĩ một khoa làm đến chức Hàn lâm học sĩ, nổi tiếng nơi triều đình.

Còn người con gái, tuy phận liễu bồ, song chữ nghĩa cũng không kém. Nàng tên là Tiểu Muội, tánh hay đọc, làm thơ, ngoài ra không còn dự vào công việc gì khác cả. Năm Tiểu Muội lên 16, Lão Tô cố kén rễ đông sàng, nhưng lựa mãi mà không có ai đáng mặt làm chồng cái cô nữ thi sĩ ấy.

Tể tướng cầu thân cho con trai

Bỗng một hôm, Tể tướng Kinh quốc công Vương An Thanh sai người mời Lão Tô sang dinh để uống rượu chơi.

An Thanh là một người nổi tiếng bậc đại hiền song có tánh kỳ dị, hàng tháng không rửa mặt, giặt áo, do đó Lão Tô cho là một kẻ “bất cận nhân tình” và đoán rằng lão này lúc đắc ý sẽ trở nên một gian thần phản quốc. Vì thế Lão Tô đã từng viết quyển “Biệt gian luận” để châm biếm. Lão An Thanh vẫn nuôi hận trong lòng, chờ cơn trả oán, nhưng về sau thấy hai đứa con của Lão Tô đều đổ tiến sĩ, làm đến chức Hàn lâm học sĩ nên đổi oán thành than.

Còn Lão Tô, thấy An Thanh nắm trong tay trọng quyền, nếu gây chuyện sợ hại đến đường tiến thủ của hai con mình nên cũng làm lành trong việc giao du.

Hôm ấy Lão Tô đến dinh. Tô Thanh hai người đang đối ẩm với nhau rất tương đắc, thì An Thanh khoe rằng ông ta có một đứa con trai, đọc sách chỉ đọc qua một lần đã thuộc lòng ngay.

Lão Tô đang lúc hứng chí, không nín được bèn nói :
— Hai đứa con trai tôi cho việc ấy là thường sự, cả đến đứa con gái tôi, coi qua một lần sách vở đều nhớ không sót một chữ nào.

An Thanh nghe nói mặt buồn dàu dàu nghĩ rằng :
— Như vậy tức là bao nhiêu tú ký My Sơn đã ung đúc vào nhà họ Tô cả.

Tô lão nói lỡ lời, trong lòng cũng hối hận, nên nói thêm qua loa vài câu nữa rồi cáo biệt ra về.

An Thanh sai tiểu đồng vào phòng học công tử lấy một quyển vở, thân đệ đến trước mặt Lão Tô nói :
— Đây là bài của cháu nó học, vậy hiền đại nhân chấm xem nếu có chỗ nào sơ suất phiền đại nhân chỉ bảo cho.

Tô Lão không từ chối, cất tập vở vào tay áo rồi ra về.

Về đến nhà ông ta cởi áo vào phòng ngủ khì. Khi tỉnh rượu mới sực nhớ đến câu chuyện ấy, và nghĩ rằng :
— An Thanh đưa vở của con trai y cho ta chấm, như thế là có ý cầu thân. Nhưng làm thân với người ta không muốn thực là một tai hại.

Tuy nghĩ thế, Tô Lão cũng lấy vở ra xem, quả trong đó văn chương tuyệt tác, thật là một đấng tài hoa.

Phúc động lòng vài tài năng, Tô Lão nảy ra một ý kiến, muốn thử lòng đứa con gái mình xem sao, bèn kêu a hườn đến bảo :
— Bài vở này của một chàng trai trình đệ ta phê chấm, nhưng ta bận việc, đưa nhờ tiểu thư của mi duyệt xem, xem xong phê vào đó rồi mang ra đây ngay.

Nói, Tô Lão vừa rọc bỏ cái tên Vương Nu trên mặt sổ, rồi trao cho a hườn.

Liễu hoàn, tên con a hườn của Tiểu Muội, cầm vở đi thẳng vào phòng thuật lại đúng như lời Tô Lão đã dặn.

Tô Tiểu Muội, tay cầm bút son, chấm phá một lúc rồi than rằng :
— Văn chương tuyệt tác song tú khí phát tiết đến tận cùng, e khó bề mà trường cửu.

Bèn cầm bút son phê trên mặt quyển :
— Tài này dùng để chiếm đoạt cao khoa có thừa xong hưởng tuổi trời chẳng đủ.

Tiểu Muội phê xong giao cho Liễu Hoàn kính trình thân phụ.

Tô Lão thoáng thấy lời phê của con gái mình, thất kinh, nói :
— Lời phê thế này nếu An Thanh mà trông thấy thì bất tiện lắm.

Nghĩ đi nghĩ lại, Tô Lão xé mặt quyển, đổi giấy, và viết lại một câu để làm vừa lòng An Thanh, rồi cho gia đinh đem sang nhà trả lại.

Chiều hôm sau, có một sai quan của Vương phủ đến thưa rằng :
— An tướng công, vì một tài đức của Tiểu thơ, nên cho tôi đến đây cậy lời mai mối, chẳng biết tôn ý ra sao ?

Tô Lão lựa lời từ chối khéo :
— Tướng phủ hạ cố cầu thân, tôi đâu chẳng dám tuân lời, song tiện nữ của tôi tài sơ, trí thiển, lại xấu xa, không xứng đáng với công tử đâu.

Sai quan về bẩm lại. An Thanh thấy mặt quyển đã đổi giấy, lại từ chối như thế, trong lòng không vui, song cũng bỏ qua câu chuyện hôn nhân.

Trong thời đó, ai ai cũng biết rằng nhà họ Tô, anh em trong nhà hay dùng văn chương thi phú mà trêu ghẹo lẫn nhau, cái tiếng ấy vang dội khắp cả vùng đều biết tiếng.

Ví dụ như Đông Pha râu rậm, Tiểu Muội nhạo rằng:

Khẩu đốc kỷ hồi vô mịch xứ,
Hốt văn mao là hữu thanh truyền
Dịch :
Mồm mép nơi đâu không thấy rõ
Bỗng nhiên râu vẳng tiếng truyền ra

Tiểu Muội trán dồ, Đông Pha nhạo lại rằng:

Vị xuất đồng trung tam ngũ bộ,
Ngạnh đầu trên đáo họa đường tiền
Dịch :
Trong sân chưa quá năm ba bước
Trước cỗng đã nhô chiếc trán dô

Tô Đông Pha mặt dài, Tiểu Muội nhạo rằng:

Khứ niên nhất điểm tương tư lệ,
Chí kim lưu bất đáo tư liên
Dịch :
Giọt lệ tương tư xưa chảy mãi
Đến nay gò má vẫn chưa qua

Tiểu Muội mắt sâu, Đông Pha nhạo lại:

Kỷ hồi thức lệ thâm nan đáo
Lưu thuốc uống dương lưỡng đạo truyền
Dịch :
Mắt sâu lệ chảy lau không tới
Linh láng đôi giòng mãi chẳng thôi

Tô Tiểu Muội thử chồng trong đêm động phòng

Các sĩ phu hay được tin tể tướng An Thanh cầu hôn cho con bất thành nên tấp nập đem văn đến cửa nhà họ Tô bán rao ầm ĩ.

Tô Lão truyền bắt bọn cầu thân xuất tĩnh văn bài đệ cho Tiểu Muội tự ý lựa chọn người chồng là tưởng.

Trong số bài vở rất đông, nhưng chỉ có một quyển Tô Tiểu Muội phê :
— Ngày nay tuy tú tài, ngày kia sẽ học sĩ. Rất tiếc hai Tô đồng thời nếu không hoàng bàng một thưở.

Tô Lão xem quyển, biết con gái mình vừa ý, bèn dở bìa quyển ấy xem thấy đề tên Tú tài Tần Quán.

Tô Lão lập tức truyền cho bọn gia nhân, hễ thấy tên Tần Quán đến thì mời vào.

Nhưng khốn thay, cái gã Tần Quán kia người quận Cao Đưu đất Dương Châu — tuy tài cao học rộng — cũng theo đòi thiên hạ, đem ngọc bán rao, song lại sợ tổn thương đến danh dự nên không cùng với mọi người đến ngưỡng cửa họ Tô chầu chực.

Tô lão thấy Tần Quán không đến, đành sai người đến ngọ sở tìm đón.

Tần Quán tuy trong lòng hí hửng muốn chọc ghẹo khách anh tài, nghe Tô Tiểu Muội tiếng tăm lừng lẩy, cũng muốn được cầu thân, song chưa thấy được dung nhan, lại nghe đồn trán nàng cao như núi, mắt thẳm tợ sông, trong lòng cũng ngan ngán, muốn kiếm dịp nào để gặp mặt, coi hơn thiệt thế nào rồi sẽ định.

Vừa lúc ấy chàng lại nghe tin đúng ngày mồng một tháng hai Tiểu Muội đến chùa dâng lễ.
Thế là dịp tốt. Ngày hôm đó thấy Tần Quán dậy thật sớm, ăn mặc nâu sòng, trá hình một tăng sĩ du phương, cổ đeo chuỗi hộc, đầu thắt khăn vải.

Trông vào gương, chàng ta mỉm cười tự nghĩ :
— Nếu mình đi tu thật thì chắc làm cho các bà vãi si mê không ít.

Chàng ta lấy làm tự đắc cho sắc đẹp của mình, ung dung bước đến chùa Đông Nhạc.

Giữa lúc đó, kiệu hoa của Tiểu Muội cũng vừa đi đến. Tần Quán trông thấy nàng, tuy mặt nàng không phải bực “chìm đáy nước cá lờ đờ lặn, lỉnh da trời nhạn ngẩn ngơ sa”, nhưng chứa đựng một cái gì uy nghi, đoan chính.

Muốn thử chút tài năng, Tần Quán đứng đợi dâng hương xong, mới bước đến nói :
— Tiểu thư hữu phúc, hữu thọ, nguyện phát từ bi… (Tiểu thư có phúc, có thọ, xin mở lòng từ bi).

Biết chàng trai kia có ý ghẹo mình, Tô Tiểu Muội nối lời đáp :
— Đạo nhân hà đức, hà năng cảm cầu bố thí ? (Đạo nhân có đức, có tài gì mà dám xin bố thí ?) Tần Quán nói tiếp :
— Nguyện tiểu thư, thân như được thụ, bách bệnh bất sinh… (Cầu chúc tiểu thư mình như cây thuốc, trăm bịnh không sinh).

Tiểu Muội vừa bước đi, vừa quay đầu lại đáp :
— Tùy đạo nhân khâu thổ liên hoa, bán văn vô cả (Dù đạo nhân miệng nở hoa sen, nửa đồng không có).

Trần Quán nói thêm :
— Tiểu nương tử nhất thiên hoan hỷ, như hà triết thủ bảo sơn ? (Tiểu nương tử một trời hoan hỉ, tại sao lại khép non vàng ?) Tiểu muội bồi thêm một câu :
— Phong đạo nhân điểm địa tham si, ma đắc tùy thân kim huyệt (Phong đạo nhân lắp đất tham si, đâu được thâu vào hang bạc).

Đáp xong câu ấy, Tiểu Muội bước lên kiệu.

Các nhà sư trong chùa đi theo đưa Tiểu Muội được nghe các lời đối đáp ấy, lấy làm lạ, chẳng hiểu tên đạo nhơn nào, từ đâu đến mà lại sỗ sàng như vậy.

Vừa định quay lại để trách cứ thì tên đồng tử đến bên người đạo nhân kia, kính cẩn nói :
— Xin công tử về nhà thay áo.

Chờ người đạo nhân đi khỏi, người giữ chùa hỏi nhỏ đồng tử :
— Người đó là ai thế ?

Đồng tử đáp :
— Đó là công tử Tần Quán, tự là Thiếu Du, một danh tài ở đất Dương Châu, ai ai mà chẳng biết…

Người giữ chùa nghe nói thất kinh, đem chuyện ấy thuật lại với một người trong chùa. Và chẳng bao lâu, tiếng ấy đồn khắp đó đây.

Thiếu Du thấy nhan sắc Tiểu Muội không đẹp nhưng mặn mà, đem lòng kính mến, liền đến nhà Tô Lão để cầu thân.

Tô Lão nhận lời. Thiếu Du lập tức đem nạp đồ sính lễ.

Lúc bấy giờ, vào đầu tháng hai. Tần Thiếu Du nóng thành hôn, nhưng Tiểu Muội xem văn, đoán biết khoa thi này, thế nào Thiếu Du cũng đậu tiến sĩ, muốn rằng vị tân lang của mình, ít ra ngày họp cẩn cũng có bào gấm hia thêu, nên thưa với Tô Lão xin hoãn cuộc thành hôn lại đã.

Kịp đến mồng ba tháng ba, triều đình mở khoa thi kén chọn nhân tài, Tần Thiếu Du quả nhiên thi đậu, bảng vàng đề tên.

Khoa thi đã đỗ, Tần Quán lại càng nóng lòng cưới vợ, vội vã đến xin làm lễ cưới ngay ngày hôm ấy.

Tô Lão thấy chàng rễ mình quá bôn bức, cười xòa, và nói :
— Ngày hôm nay yết bảng ắt là ngày lành, vậy ta cho nghĩa tế thành hôn tại tệ xá trong đêm nay có được chăng ?

Còn gì mừng rỡ hơn nữa. Tần Thiếu Du lạy tạ đền ơn…

Đêm ấy trời trăng vằn vặc, bầu trời trong suốt, gieo vào lòng người một tâm hồn man mác, như muốn giúp cho đôi tình nhân văn học một nguồn cảm giác xa xuôi.

Sau khi dự tiệc, Thiếu Du toan bước vào động đào để xem hoa nở, thì thấy cửa phòng tiểu thơ đóng kín, trước cửa có để một bàn án nhỏ, đủ cả văn phòng từ bửu, lại có thêm ba phong thơ và ba cái chén : một chén ngọc, một chén vàng, và một chén bằng sứ.

Thấy con Liễu Hoàn đứng lấp ló, Tần công tử tưởng nó chực mở cửa cho mình, bèn nói :
— Vào báo cho tiểu thơ biết, tân lang đã đến sao không chịu ra mở cửa ?

Liễu Hoàn cung kính đáp :
— Tiện tỳ tuân lệnh tiểu thơ ra đây để nhắc cho công tử rõ rằng trên án thư có ba đề mục, nếu đáp trúng cả ba, tôi xin mở cửa ngay.

Thiếu Du nói :
— Ba cái chén ấy dùng đựng gì thế ?

Nữ tỳ đáp :
— Chén ngọc đựng rượu, chén vàng đựng trà, chén sứ đựng nước lã. Nếu trúng cả ba đề mục tôi sẽ dùng chén ngọc dâng ba lần rượu trước khi mở cửa vào phòng ; nếu chỉ đáp trúng hai đề mục thì tôi dùng chén trà dâng một chén nước để công tử giải khát, chờ đến đêm mai sẽ lại ; còn nếu đáp trúng một đề mục thì tôi sẽ dâng cho công tử một chén nước lã và phạt ở ngoài hiên đọc sách ba tháng.

Thiếu Du nghe xong, trong lòng hậm hực, nhưng không biết phải làm sao, chẳng lẽ từ chối cuộc chơi ấy thì còn gì là một trượng phu, nên gượng cười đáp :
— Nơi chốn trường thi, ngàn vạn anh tài tranh đoạt, thế mà ta còn chưa sợ thay, huống chi ở đây chỉ là một đề thi thử thách, đâu có đáng kể !

Liễu Hoàn cũng không vừa, nghe Tần Quán tự phụ như vậy, vội nói ngay :

— Tiểu thơ của tôi không thể ví với các khảo quan, chỉ lôi những sáo cũ ra mà lòe thí sinh. Ở đây có ba đề mục. Thứ nhất là bốn câu, công tử phải trả lời bằng 4 câu thơ ẩn nghĩa của bài thơ xướng là đúng. Thứ hai cũng là bốn câu thơ, trong đó có bốn danh nhân thời cổ, công tử biết đặng bốn tên ấy, mà trả lời thì đúng. Thứ ba, đề tài này dễ hơn, công tử chỉ phải đối một vế câu đối bảy chữ mà thôi.

Nói xong, Liễu Hoàn kính cẩn dâng cho Tần Quán một phong thư. Tần Quán bóc thư ra, thấy bốn câu thơ viết trên một tờ hoa tiên.

Đồng thiết đầu hồng dã
Lâu nghĩ thướng phấn tường
Âm dương vô nhị là
Thiên địa ngã trung ương…

Đồng thiết quặn lò lớn : ẩn nghĩa chữ “hóa” Ong kiến lên tường vôi : ẩn nghĩa chữ “duyên” Âm dương không hai đường : ẩn nghĩa chữ “đạo” Giữa trời đất có ta : ẩn nghĩa chữ “nhân” Thiếu Du xem xong mỉm cười và nghĩ thầm :
— Theo người khác thì khó thực, nhưng ta, ta là người đã giả đạo nhân để ghẹo nàng trước kia, nay nàng lại làm một đề thơ có hàm ý chữ “hóa duyên đạo nhân” thì chẳng khó khăn gì, ý nàng muốn trêu ta về câu chuyện ở chùa hôm nọ.

Nghĩ xong, bèn lấy bút viết bài thơ trả lời :

Hóa công hà ý bả xuân thôi
Duyên đáo danh vên hoa tự khai
Đạo thị xuân phong chân hữu chu?
Nhân nhân bất cảm thướng hoa đài

Dịch :

Hóa công sao khéo giục xuân hoài
Duyên đến vườn thơm hoa tự khai
Đạo ấy, giờ xuân đà có chu?
Nhân nhân, ai dám tới hoa đài

Liễu Hoàn thấy Thiếu Du viết xong, vội vã tiếp lấy đem vào trình cho Tiểu Muội.

Tiểu Muội xem qua mỉm cười nói :
— “Hóa duyên đạo nhân” ý ! ra cũng giỏi đấy.

Thiếu Du lại giở phong bì thứ hai, thấy trong đó cũng một bài thơ đề :

Cường gia thắng tổ hữu thi vi
Tạc bích thâu quang dạ độc thư
Phùng tuyến lộ trung thường ức mẫu
Lão ông chung nhật ỷ môn lư

Dịch :

Con lại hơn cha chẳng kẻ bì,
Dục tường mượn sáng đọc bài thi
Vá may buồn bã thường trông me.
Tựa cửa lão ông đợi suốt ngày

Câu “Cường gia thắng tổ” nghĩa là “Tôn Quyền” “Tạc bích thâu quan” nghĩa là “Khổng Minh” “Thường ức mẫu” nghĩa là “Tử Tư” “Lão ông tựa cửa” nghĩa là “Thái Công Vọng” Thiếu Du xem xong lấy bút đền liền bốn tên ấy với những lời chú giải.

Liễu Hoàn lại tiếp lấy đem vào dâng cho Tiểu Muội xem, Tiểu Muội cũng chắc lưỡi khen thầm.

Đã trả lời được hai đề thi khó khăn rồi, bây giờ đến đề thi thứ ba là một câu đối. Thiếu Du thở ra khoan khoái, tưởng chừng như mình sắp được vào phòng rồi, mặt mày hớn hở, bóc đề bài thứ ba ra xem; trong ấy viết :

Bế môn, suy xuất song tiền nguyệt

Khi mới đọc xong, Thiếu Du cho là một vế đối rất dễ, nhưng lòng anh chàng lúc này đã quá nóng nảy, ý tứ không còn tập trung nữa, tâm hồn như đang lạc loài trong cõi mộng thần tiên, thành thử nghĩ hoài mà không ra ý.

Giữa lúc đó Đông Pha chưa ngủ, biết rằng đêm hợp cẩn thế nào đứa em gái mình cũng “chơi ác” để làm khốn vị tân lang, bèn đến gần khuê phòng nghe ngóng. Vừa đến nơi, thấy Thiếu Du chắp tay thơ thẩn mãi trong sân, miệng lẩm bẩm câu :

Bế môn, suy xuất song tiền nguyệt

Đông Pha mỉm cười, tự bảo :
— Đúng rồi ! Cô em gái mình đang đưa vế đối ấy để làm khó dễ vị tân lang của hắn ; ý muốn giúp đỡ cho Thiếu Du một chút cho xong chuyện, xong sợ Thiếu Du tự ái, chẳng biết phải làm sao. Đông Pha suy nghĩ một lúc rồi lượm một hòn đá nhỏ ném vào mặt hồ gần đấy.

Nước trong hồ đang im lìm trong giấc ngủ, bỗng cau mày, vừng trăng tan rã ra từng mảnh, nước bắn vào mặt Thiếu Du.

Như chiêm bao sực tỉnh, Thiếu Du hội ý, chạy vào án thư cầm bút đối rằng :

Đầu thạch xung khai tỉnh để thiên
(Ném đá vỡ trời tung đáy nước)

Để đối với câu của Tiểu Muội :

Bế môn suy xuất song tiền nguyệt
(Đóng cửa đùa trăng ra trước sân)

Liễu Hoàn vừa nạp bài thi chót vào cho Tiểu Muội chưa bao lâu, thì bỗng “kẹt” một tiếng, cánh cửa “động đào” mở rộng, một tên tùy nữ từ bên trong bước ra, tay dâng chén ngọc đầy rượu và nói :
— Thật là một đấng tài hoa. Tiểu thơ tôi xin mời công tử cạn ba chén.

Thiếu Du đắc ý uống liền. Uống xong, bên trong lại có hai con tùy nữ khác bước ra, kính cẩn đưa chàng vào phòng huê chúc.

Mối tình giai nhân tài tử thấm thía vô cùng…

Một thời gian sau, vì tài năng lừng lẫy, Thiếu Du được triều đình bổ nhậm đến chức Hàn Lâm học sĩ. Còn Tô Tiểu Muội thanh danh càng ngày càng lừng lẫy, được Hoàng thái hậu mời vào cung để xướng họa suốt ngày đêm.

Về sau, Tiểu Muội mất sớm, Thiếu Du thương tiếc quá, không tục huyền, giữ mãi mối tình thơ, gói trong niềm ân ái, đến chết vẫn chưa phai.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chuyện kể về Tô Tiểu Muội

Có hay không việc linh hồn tái sinh?

Theo Alexander Berzin - một học giả, dịch giả và giảng viên Phật giáo Tây Tạng chủ yếu về đề tài truyền thống Tây Tạng, thì việc tái sinh là có thật.
Có hay không việc linh hồn tái sinh?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Dưới đây là những câu hỏi và câu trả lời của học giả Phật giáo Alexander Berzin về vấn đề tái sinh có thật hay không?


Co hay khong viec linh hon tai sinh hinh anh 2
Ảnh minh họa

Hỏi: Ông có tin vào tái sinh hay không?

  Đáp: Tôi tin có tái sinh, nhưng phải mất một thời gian lâu tôi mới đi đến kết luận này. Sự tin tưởng về tái sinh không đến ngay lập tức. Có những người sinh trưởng ở những nơi mà niềm tin về tái sinh là một thành phần trong nền văn hóa của họ. Đây là trường hợp tại nhiều nước Á châu, vì người dân đã nghe kể về những chuyện tái sinh từ lúc còn bé, nên họ tin tưởng một cách tự nhiên. Tuy nhiên, với những người như chúng tôi, lớn lên trong nền văn hóa Tây phương, thoạt tiên, điều này có vẻ thật lạ lùng. Niềm tin này không đến một cách đột ngột, với tiếng nhạc trỗi lên, cầu vồng hiện ra trên trời và ta thốt lên rằng: “Hallelujah, bây giờ thì tôi đã tin rằng có tái sinh rồi.” Sự việc thường không xảy ra như vậy.   Số đông quần chúng cần một thời gian dài mới quen thuộc với ý niệm về tái sinh. Tôi cũng đã trải qua nhiều giai đoạn trong tiến trình đưa đến sự xác tín vào tái sinh. Trước hết, tôi phải có tinh thần cởi mở để nghĩ rằng: “Tôi không thật sự hiểu tái sinh là gì.” Việc chấp nhận rằng ta không thấu hiểu về tái sinh là điều quan trọng, vì đôi khi ta có thể phủ nhận tái sinh, và điều ta phủ nhận là một ý nghĩ sai lầm về tái sinh mà chính Phật giáo cũng bác bỏ. Một người có thể nghĩ rằng, “ Tôi không tin vào tái sinh vì tôi không nghĩ là có một linh hồn có cánh bay từ thân này qua thân khác.” Phật giáo cũng đồng ý như vậy, “Chúng tôi cũng không tin vào một linh hồn có cánh bay.” Để đi đến quyết định xác tín vào tái sinh, tôi phải tìm hiểu khái niệm này trong Phật giáo và nó không giản dị cho lắm. Nó vô cùng tinh vi, như tôi đã giải thích trước đây về tâm thức và năng lượng vi tế nhất, cùng với những bản năng đi kèm theo nó.   Thế rồi tôi nghĩ mình sẽ có một ít bán tín bán nghi về tái sinh. Tạm thời, chúng ta hãy xem là có sự tái sinh. Thế thì điều gì sẽ xảy ra khi ta nhận thức sự hiện hữu của mình bằng cách này? Ta có thể thiết lập tất cả những pháp tu của Bồ Tát, ta có thể thừa nhận mọi người đã từng là mẹ của mình và nhờ vậy, cảm thấy một sự liên hệ nào đó với tất cả mọi người.   Rồi những việc xảy ra trong đời tôi cũng có thể giải thích được. Tại sao một người có quá trình đào tạo như tôi lại rất thích học tiếng Trung Hoa? Tại sao Ấn Độ lại có sức lôi cuốn đến nỗi tôi phải đến đó và tu học với những người Tây Tạng? Xét vào những sở thích của gia đình tôi và môi trường nơi tôi sinh trưởng, chúng chẳng giải thích được tại sao tôi lại thích thú vào những điều này. Tuy nhiên, khi nghĩ đến vấn đề tái sinh thì tôi thấy việc này có thể giải thích được. Tôi phải có những liên hệ với Ấn Độ, Trung Quốc và Tây Tạng trong những kiếp khác, điều này khiến cho tôi có sự thích thú với những nơi này, với ngôn ngữ và văn hóa của các nước này. Tái sinh bắt đầu giải thích được nhiều điều mà tôi thắc mắc từ lâu, nhưng không thể tìm ra được câu trả lời nào khác; nếu không có nghiệp và những tiền kiếp, thì ta không thể giải thích được những gì xảy ra trong đời hiện tại của tôi. Tái sinh cũng giải thích được những giấc mơ quen thuộc cứ tái diễn trong giấc ngủ của tôi. Cứ như thế mà tôi dần dần trở nên quen thuộc với ý niệm tái sinh.   Tôi đã tu học tại Ấn Độ mười chín năm và tôi có nhiều đặc ân cũng như cơ hội để học hỏi với nhiều vị thầy rất cao tuổi, lúc họ còn tại thế. Những người này đã qua đời, đã tái sinh và hiện nay tôi lại gặp họ như những đứa trẻ. Tôi đã quen biết họ trong hai kiếp sống.
Co hay khong viec linh hon tai sinh hinh anh 2
Ảnh minh họa
Có một thời điểm nào đó trên đường tu của Phật pháp mà bạn có thể kiểm soát được những tái sinh của mình. Bạn không cần phải là một vị Phật hay một hành giả đã giải thoát, một A La Hán, thì mới làm được việc này. Tuy nhiên, bạn cần phải là một vị Bồ Tát. Bạn phải tu hành đến một trình độ cao cấp trên đường tu mật tông và có một nguyện ước mãnh liệt muốn tái sinh vào sắc tướng nào đó để có thể giúp đỡ mọi người. Có những pháp quán tưởng và phương pháp giúp bạn chuyển hóa cái chết, thân trung ấm và tái sinh. Nếu bạn đã tinh thông ở cấp độ này thì bạn có thể kiểm soát việc tái sinh của mình. Có khoảng một ngàn người Tây Tạng đạt được trình độ này và khi sau khi họ qua đời, người ta lại tìm ra được họ. Trong hệ thống Tây Tạng, những người này được gọi là tulkus. Tulku là một vị lama tái sinh, được ban danh hiệu là Rinpoche. Tuy nhiên danh hiệu Rinpoche không chỉ được dùng cho các tulku hay những vị tái sinh thôi. Nó còn được dùng cho các vị trụ trì hay cựu trụ trì của một tu viện. Không phải ai được gọi là Rinpoche cũng là một vị lama tái sinh cả.   Tôi cũng xin nêu ra một điều là chữ lama được dùng theo nhiều cách khác nhau, tùy theo từng truyền thống ở Tây Tạng. Trong một vài truyền thống, lama đề cập đến bậc thầy tâm linh rất cao cấp, ví dụ như một vị geshe – người có bằng cấp tương đương với tiến sĩ trong Phật học – hay một vị lama tái sinh. Trong vài truyền thống khác, chữ lama được dùng để gọi một vị sư trong một cộng đồng. Vị sư này đã trải qua ba năm nhập thất và đã học được một số nghi lễ. Họ đi từ làng này qua làng khác để làm lễ cúng tế cho dân làng. Vì thế, danh hiệu lama có thể có nhiều ý nghĩa khác nhau.   Có khoảng một ngàn người được công nhận là lama tái sinh hoặc tulkus. Họ được nhận ra bằng những điều họ biết, hoặc qua những chỉ dấu khác như các vị vấn linh (oracle), hay từ những dấu hiệu đáng kể đã xảy ra trong môi trường. Thị giả của vị lama quá cố sẽ đi tìm vị tái sinh mới. Họ sẽ đem theo những vật dụng mà vị lama tiền thân thường dùng trong các nghi lễ và những vật sở hữu của vị ấy, cùng với các vật khác tương tự với những món vật này. Đứa trẻ phải có khả năng nhận ra những vật sở hữu của nó trong đời trước. Ví dụ như Đức Dalai Lama đương thời đã nhận ra được những người đến tìm Ngài. Ngài gọi đúng tên của từng người và bắt đầu nói chuyện với họ bằng thổ ngữ Lhasa, không phải là thổ ngữ nơi Ngài đang sinh trưởng. Những dấu hiệu như thế giúp họ nhận ra đứa bé.   Tôi rất xúc động khi gặp lại các vị thầy của tôi trong hậu thân của họ. Xúc động nhất là khi tôi gặp lại Ling Rinpoche, người đã từng làm trợ giáo của Đức Dalai Lama đương thời. Rinpoche cũng là một đại sư đứng đầu truyền thống Gelug (phái Cách-lỗ). Khi viên tịch, Ngài đã nhập định gần hai tuần lễ, mặc dù Ngài đã tắt thở và theo phương diện y khoa, Ngài được xem như đã chết. Tuy nhiên, tâm thức vi tế của Ngài vẫn lưu lại trong thân Ngài. Tâm thức vô cùng vi tế của Ngài đã an trụ trong thiền định thậm thâm. Vùng xung quanh tim Ngài vẫn còn một ít hơi ấm và Ngài đã ngồi trong tư thế tọa thiền mà cơ thể không hề bị hư hoại. Khi Ngài chấm dứt thiền định, đầu Ngài nghiêng sang một bên và một ít máu mũi chảy ra. Vào lúc đó, tâm thức Ngài đã rời khỏi nhục thân của Ngài.   Tại Dharamsala, nơi tôi sống, hiện tượng này xảy ra hai, ba hay bốn lần mỗi năm. Điều này không phải là hiếm có, mặc dù một hành giả phải đạt được trình độ tâm linh cao cấp mới làm được điều này. Khả năng này có thể đạt được.   Vị tái sinh của Ling Rinpoche được công nhận khi Ngài được một tuổi chín tháng. Thông thường thì trẻ con không được nhận diện sớm như vậy, vì khi đứa bé lớn hơn chút nữa, khoảng ba hay bốn tuổi, chúng có thể nói chuyện hay tự đưa ra vài dấu hiệu. Đứa bé được đưa về nhà, nơi vị tiền thân đã ở, và một buổi lễ rất lớn được tổ chức để chào mừng vị tái sinh. Mấy ngàn người đã đứng hai bên đường, và tôi được may mắn ở trong đám người ấy. Ai cũng mặc áo quần đặc biệt và ca hát vui vẻ. Đó là một ngày thật vui tuơi.

 

Hỏi: Đứa trẻ được nhận diện như thế nào?

  Đáp: Đứa bé được công nhận qua các vị vấn linh và môi giới, cũng như bằng khả năng tự nhận ra những vật dụng của mình từ đời trước. Ngoài ra, em bé cũng biểu tỏ một vài nét đặc trưng qua sắc tướng, ví dụ như vị tiền thân thường cầm chuỗi tràng hạt (mala) bằng hai tay, thì em bé này cũng làm y như vậy. Em còn nhận ra những người ở trong nhà của vị tiền thân nữa.   Tuy nhiên, điều thuyết phục tôi nhất là cách cư xử của chú bé trong buổi lễ. Chú bé được đưa vào trong nhà, nơi một pháp tòa đã được dựng lên gần khung cửa nhìn ra một hàng ba rất lớn và có đến hai ba ngàn người tụ tập ngoài sân. Hầu hết trẻ con dưới hai tuổi sẽ rất sợ hãi trong trường hợp này, nhưng chú bé này thì không hề biết sợ. Bé được đặt lên trên pháp tòa. Thông thường thì một đứa trẻ sẽ đòi đi xuống và khóc lóc nếu không được làm như vậy. Thế nhưng em bé này đã ngồi xếp bằng không xê dịch trong một tiếng rưỡi đồng hồ, trong khi mọi người đang làm lễ chúc thọ (long-life puja) cho em. Em chăm chú vào mọi việc đang xảy ra và không hề tỏ vẻ khó chịu giữa đám đông.
Co hay khong viec linh hon tai sinh hinh anh 2
Ảnh minh họa
Một phần của buổi lễ gồm có việc cúng dường vị lama và cầu chúc Ngài sống lâu. Đoàn người tuần tự diễu hành, mỗi người dâng lên Ngài một lễ vật như tượng Phật, kinh điển, bảo tháp nhỏ, một bộ cà sa và nhiều vật khác nữa. Khi có người dâng lễ vật, Ngài phải nhận bằng hai tay và trao lễ vật ấy cho một người đứng ở phía bên trái của Ngài. Em bé làm như vậy một cách hoàn hảo khi nhận từng lễ vật. Thật là một điều phi thường! Làm sao ai có thể dạy cho một đứa bé một tuổi chín tháng cách cư xử như vậy? Không thể nào được!   Khi buổi lễ chấm dứt, mọi người xếp hàng để được Ngài ban phước. Được một người khác bế, em bé đưa tay theo đúng cách để ban phước cho từng người một. Với sự chú tâm hoàn toàn, không hề chán nản hay mệt mỏi, em bé đã ban phước cho hai hay ba ngàn người như thế. Sau đó, Đức Dalai Lama thọ trai với em. Em bé chỉ khóc một lần duy nhất và tỏ vẻ không bằng lòng khi Đức Dalai Lama từ giã ra về. Em không muốn Ngài đi.   Thật ra, em bé này đã dùng tay ban phước cho nhiều người trước khi được công nhận là Ling Rinpoche. Em đã sống trong viện mồ côi với người anh, vì mẹ em đã từ trần không lâu, sau khi sanh em ra. Ba em rất nghèo nên đành phải gửi hai đứa con vào cô nhi viện. Em bé đã ban phước cho nhiều người trong cô nhi viện và người anh của bé, khoảng ba hay bốn tuổi, đã nói với mọi người rằng, “Em tôi rất đặc biệt. Nó là một lama, một Rinpoche. Đừng làm điều gì xấu đối với nó. Hãy đối xử với nó một cách đặc biệt.”   Những vị Ling Rinpoche tiền thân đã là sư phụ của ba vị Dalai Lama liên tiếp. Một vị là sư phụ của Đức Dalai Lama thứ mười hai, vị Ling Rinpoche kế tiếp là sư phụ của Đức Dalai Lama thứ mười ba, và vị tiếp theo là thầy của Đức Dalai Lama thứ mười bốn. Dĩ nhiên, người ta xem vị Ling Rinpoche tái sinh này là thầy của vị Dalai Lama trong kiếp tương lai.   Chứng kiến những trường hợp này tạo cho tôi nhiều ấn tượng mạnh về sự khả thi của những đời sau. Thế nên, nhờ sự suy xét, nhờ được nghe những mẫu chuyện và nhìn thấy những việc như trên, ta sẽ dần dần chấp nhận sự hiện hữu của đời sống trong quá khứ và vị lai. Bây giờ, nếu có ai hỏi tôi rằng, “ Ông có tin vào những kiếp vị lai không?”, tôi xin trả lời là, “Có, tôi tin vào những đời sau.”

 

Hỏi: Có phải các vị lama tái sinh chỉ được tìm thấy trong cộng đồng người Tây Tạng hay không?

  Đáp: Không đâu, có khoảng bảy vị đã được tìm ra ở các nước Tây phương. Một trong những vị này, Lama Osel, tái sinh của Lama Thubten Yeshe, là một em bé người Tây Ban Nha. Việc gặp gỡ Lama Osel đã thuyết phục được những người đã từng quen biết Lama Yeshe, khiến họ tin tưởng vào sự tái sinh.   Alexander Berzin Singapore 10 tháng Tám, 1988 Trích đoạn đã được duyệt lại từ Berzin, Alexander and Chodron, Thubten. Glimpse of Reality. Singapore: Amitabha Buddhist Centre, 1999.

ST.

Những câu chuyện luân hồi chưa thể lý giải (phần 1)
Khoa học hiện đại vẫn chưa thể chứng minh được việc có kiếp sau hay kiếp trước của con người hay không? Tất cả vẫn chìm trong kỳ bí với nhiều sự việc luân hồi
Những câu chuyện luân hồi chưa thể lý giải (phần 2)
Khoa học hiện đại vẫn chưa thể chứng minh được việc có kiếp sau hay kiếp trước của con người hay không? Tất cả vẫn chìm trong kỳ bí với nhiều sự việc luân hồi

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Có hay không việc linh hồn tái sinh?

Sao Thái Tuế

Hành: Hỏa Loại: Phù Tinh, Hình Tinh Đặc Tính: Lý luận, quan tụng, thông minh, sắc bén Tên gọi tắt thường gặp: Tuế Sao chủ của vòn...
Sao Thái Tuế

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Hành: HỏaLoại: Phù Tinh, Hình TinhĐặc Tính: Lý luận, quan tụng, thông minh, sắc bénTên gọi tắt thường gặp: Tuế
Sao chủ của vòng sao Thái Tuế gồm 12 sao theo thứ tự: Thái Tuế, Thiếu Dương, Tang Môn, Thiếu Âm, Quan Phù, Tử Phù, Tuế Phá, Long Đức, Bạch Hổ, Phúc Đức, Điếu Khách, Trực Phù.

Ý Nghĩa Thái Tuế Ở Cung Mệnh
Tính Tình
Cung Mệnh có sao Thái Tuế thì có tài ăn nói, nói năng lưu loát, hoạt bát, giỏi về tranh biện, lý luận, biện chứng, có tài về khoa kiện tụng.
Công Danh Tài Lộc
Có lợi về công danh cho những nghề nghiệp cần dùng đến khoa ngôn ngữ như trạng sư, giáo sư, chính trị gia.
Phúc Thọ Tai Họa

  • Hay bị nói xấu, chỉ trích, công kích, cãi vã, bút chiến.
  • Hay bị kiện cáo.
Sao Thái Tuế bao giờ cũng hội chiếu với Quan Phù, chỉ sự báo oán vì mích lòng, kiện thưa vì lời nói chạm tự ái. Đây là hậu quả của tính nhiều chuyện, tính chỉ trích, nói xấu, gieo thù oán.
Thái Tuế nếu gặp Sát tinh: Tổn thọ, tổn danh, tổn tài hay bị kiện cáo, báo thù, tai nạn. Tóm lại, Thái Tuế là sao chủ về lời nói và những hậu quả tốt xấu do ngôn ngữ mà có.
Những Bộ Sao Tốt
Thái Tuế, Xương Khúc, Khôi Việt: năm sao này kết thành bộ văn tinh rất đẹp cho việc học hành, thi cử, làm quan.
Những Bộ Sao Xấu
  • Thái Tuế, Hoa Cái hay Thái Tuế , Hóa Kỵ: Ăn nói kiêu kỳ, mất cảm tình.
  • Thái Tuế, Đào, Hồng: Bị phụ tình, cô độc, thất tình.
  • Thái Tuế, Thiên Hình: Bị tai bay vạ gió, có thể bị kiện, bị tù.
  • Thái Tuế, Đà La, Hóa Kỵ: Người quê kệch, ngu độn; gây ngăn trở công việc hại đến quyền thế, tài lộc.
Ý Nghĩa Thái Tuế Ở Cung Phụ Mẫu
Trong nhà thiếu hòa khí hay có sự tranh chấp. Cha mẹ và con không hợp tánh nhau. Nếu Thái Tuế gặp thêm nhiều Sát Tinh, nhất là Đà, Kỵ xâm phạm, cha mẹ xa cách nhau. Gia đình ly tán. Ngoài ra, cha mẹ thường hay gặp tai họa, đáng lo ngại nhất là mắc kiện cáo.
Ý Nghĩa Thái Tuế Ở Cung Phúc Đức
Không được hưởng phúc, trong họ thiếu hoà khí, thường có sự tranh chấp lẫn nhau.
Ý Nghĩa Thái Tuế Ở Cung Điền Trạch
Thái Tuế nếu gặp các sao tốt như Tam Thai, Bát Tọa, Tả Phù, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, thì nhà cửa vững vàng. Đi với các sao xấu như Thiên Hình, Thiên Riêu, Địa Không, Địa Kiếp, Kình Dương, Đà La, Đại Hao, Tiểu Hao, lận đận về nhà cửa, xích mích, bị lừa.
Ý Nghĩa Thái Tuế Ở Cung Quan Lộc
Thường làm các nghề chủ về dùng lời nói, lý luận, hoặc nghề có liên quan đến pháp luật như nghề luật sư, giáo sư, thẩm phán, trưởng tòa. Nếu làm chính trị, thiên về đối lập, hay chỉ trích và bị chỉ trích trong nghề nghiệp.
Ý Nghĩa Thái Tuế Ở Cung Nô Bộc
Ra ngoài có nhiều tham vọng, ưa thích chơi với người có chức cao quyền rộng, hay kén chọn bạn bè. Người làm nghề nhà giáo có cách này, nếu có nhiều sao tốt, thì học trò của mình sau này công danh rực rỡ, làm nổi tiếng cho thầy.
Ý Nghĩa Thái Tuế Ở Cung Thiên Di
Thái Tuế ở cung Thiên Di thì hay bị miệng tiếng khẩu thiệt trong việc giao thiệp, hay bị kiện cáo, cãi vã với người ngoài.
Ý Nghĩa Thái Tuế Ở Cung Tật Ách
Hay bị chuyện thị phi, kiện cáo, tù tội, đánh đập, mổ xẻ, tai nạn dọc đường.
Ý Nghĩa Thái Tuế Ở Cung Tài Bạch
Đi với sao tốt thì dễ kiếm tiền, nói ra tiền. Đi với sao xấu như Đà La, Hóa Kỵ, Địa Không, Địa Kiếp thì hay gặp sự tranh chấp về tiền tài, dù có kiếm tiền nhanh, có lợi bất ngờ cũng hay sinh tai họa, rủi ro.
Ý Nghĩa Thái Tuế Ở Cung Tử Tức
Con cái không hợp tính cha mẹ.
Ý Nghĩa Thái Tuế Ở Cung Phu Thê
  • Vợ chồng bất hòa, hay cãi vã, lắm lời, có thể ly dị, ly hôn, nếu gặp sao xấu, trừ phi vợ hay chồng hành nghề luật sư, thẩm phán.
  • Nương tựa nhau, dính dấp nhau nhiều vì quyền lợi, danh tiếng, địa vị, dư luận, ảnh hưởng bên ngoài rất nặng vào đời sống riêng tư.
Ý Nghĩa Thái Tuế Ở Cung Huynh Đệ
Anh chị em trong gia đình tuy có sự khắc khẩu, khác chí hướng, nhưng vẫn có sự giúp đỡ qua lại, trong anh chị em có người cô độc, đau bệnh.
Thái Tuế Khi Vào Các Hạn
  • Có cãi vã, đôi chối trong năm đó, có đi dạy học.
  • Bị thất tình, cô độc.
  • Nên cần cẩn thận khi lập gia đình.
  • Hạn gặp sao Thái Tuế thì hay sinh ra quan tụng, khẩu thiệt, ở Cung Mệnh thì thời vận gian truân vất vả.
  • Gặp sao Đà La, Kiếp Sát, là hạn ra ngoài lắm tai nạn, nguy hại đến tính mạng.
  • Ở Cung Dần hoặc Cung Dậu mà gặp sao Thái Tuế, Thiên Hình, Kình Dương thì hay gặp chuyện thị phi, tai bay vạ gió, khẩu thiệt, tai tiếng, tù tội.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sao Thái Tuế

Lưu ý khi đặt tên cho con

Tên mỗi người có thể nói lên rất nhiều điều, chính vì vậy đặt tên cho con khi chào đời cũng là một vấn đề khiến nhiều bậc cha mẹ băn khoăn.
Lưu ý khi đặt tên cho con

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Vậy làm thế nào để chọn một cái tên vừa hay lại vừa hợp tình hợp lý? Hầu hết các gia đình đều muốn những điều tốt nhất cho con cái của mình, vì vậy việc tìm kiếm một tên để gắn với con suốt cuộc đời cũng trở thành nỗi niềm trăn trở của không ít bậc phụ huynh.

Tuy nhiên, để tránh những tình trạng đặt tên khiến con cái lớn lên phải khó xử hoặc không thích nhắc đến tên mình mỗi khi giao tiếp, bố mẹ cần lưu ý một số điều sau:

1. Để ý đến văn hoá đất nước

Mỗi quốc gia dân tộc đều có một nền văn hoá riêng. Bạn đừng cố ý muốn cho con mình nổi bật bằng cách đặt tên con thật khác thường, trái với văn hoá của nước mình. Sở thích của bạn trong một lúc nhất thời nhưng sẽ gây ra khó xử cho con bạn sau này, nhất là khi chúng trưởng thường, có nhận thức về văn hoá.

2. Xem lại gia phả

Gia đình nào cũng có một cây gia đình, nghĩa là có nhiều cấp bậc từ cao xuống thấp, chính vì vậy, để tránh “phạm huý” tốt hơn hết bạn hãy xem lại gia phả. Điều này bạn có thể tham khảo ý kiến của trưởng họ, trưởng gia tộc hoặc các bô lão trong họ.

3. Xem xét nghĩa của cái tên

Khi chọn một cái tên cho con, bạn nên xem xét kỹ ý nghĩa của cái tên đó. Cha mẹ thường thích đặt kỳ vọng vào con cái bằng cách gửi gắm vào cái tên. Nhiều người lớn lên tự hào khi được cha mẹ chọn cho một cái tên thật hay, thật ý nghĩa. Nhưng cũng không ít người lại bồng bột đặt cho con mình những cái tên “độc” chỉ nhằm thoả mãn sự ích kỷ của cá nhân hoặc đặt tên con do quá phẫn nỗ hay không hài lòng về điều gì đó.

4. Xem xét cách phát âm của tên

Đừng đặt cho con những cái tên có cách phát âm hoặc các viết khác thường. Một cái tên hay không phải được tạo ấn tượng từ việc “chỉnh sửa” âm vần. Trẻ sẽ bối rối khi bị bạn bè phát hiện ra cái tên mình có cách phát âm khác hẳn với quy luật.

5. Đặt tên theo giới tính

Nhiều cha mẹ vì quá kỳ vọng, quá mong muốn có con trai nên khi sinh con gái lại thường đặt theo tên con trai hoặc ngược lại, thích con gái mà đẻ con trai thì chuyển luôn cái tên con gái đó cho đứa con trai mới sinh.

Điều này sẽ gây rắc rối cho trẻ khi đến trường và khi giao tiếp. Không những vậy, những người mang cái tên “khác giới” cũng thường phải gặp không ít khó khăn, rắc rối trong đời sống hàng ngày, ví dụ như sự nhầm lẫn giới tính trong giấy tờ.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Lưu ý khi đặt tên cho con

Lý giải tục thắp hương tổ tiên, thần thánh

Đã có rất nhiều lý giải về tục thắp hương của người Việt. Nhưng khi nghe lý giải của PGS.TS Trình Năng Chung, tôi thấy khá mới lạ.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Chúng tôi có nhiều dịp gặp gỡ, trò chuyện cùng một số nhà nghiên cứu văn hóa, khảo cổ học. Trong những câu chuyện về văn hóa tâm linh, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, còn nhiều người vẫn hiểu một cách mơ hồ khi thực hiện hành vi văn hóa tín ngưỡng, chính vì thế nên việc giới thiệu cho người dân biết được nguồn gốc, ý nghĩa của tục thắp hương tổ tiên, thần, thánh, Phật... là điều cần thiết.

Loài người đã thắp hương cách đây gần 6.000 năm

Theo một số nhà nghiên cứu văn hóa và khảo cổ học thì chúng ta chưa thể khẳng định được cái nôi của tục thắp hương cho tổ tiên, thần linh... là ở đâu. Tuy nhiên, từ những tư liệu khảo cổ học cho thấy, tục thắp và dâng hương cho tổ tiên, thần linh có từ cách đây gần 6.000 năm.

PGS.TS Trình Năng Chung, Viện Khảo cổ học Việt Nam cho biết: “Trong một khu mộ thuộc thời đại đá mới ở vùng Punjab, Ấn Độ người ta đã phát hiện được những lọ gốm bên trong có tro than của một loại  chất đốt có mùi thơm. Đây có lẽ là dấu tích sớm nhất về tục đốt hương dành cho người quá cố. Khu mộ có niên đại cách ngày nay 5.700 năm. Ngoài ra, trong các đền thờ của vua chúa Ai Cập cổ đại có tuổi gần 5.000 năm cách nay cũng phát hiện được nhiều hình chạm khắc tường miêu tả cảnh dâng hương lên các vị thần.

Từ những tư liệu này, các nhà khảo cổ học đã đi đến kết luận đây chính là dấu hiệu của việc thắp hương thờ cúng người chết và thần linh. Ở Trung Quốc, trong một khu mộ thời Chiến Quốc (2.500 năm cách nay) ở vùng Chiết Giang, người ta đã phát hiện những chiếc đỉnh gốm, bên trong bị ám khói do một loại thực vật có hương thơm bị đốt. Còn ở Việt Nam, trong truyền thuyết vùng đất Tổ Phú Thọ có nhắc đến việc các Vua Hùng có nghi thức dâng hương khấn trời đất, thần linh trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh. Điều này đưa đến giả thuyết rằng, tục thắp hương của người Việt cổ đã có cách đây khoảng gần 4.000 năm”.

thaphuong410
Dân gian quan niệm thắp hương là sự kết nối giữa con người và thần thánh...

Bí ẩn số 3

Tục thắp và dâng hương đã đi vào đời sống văn hóa tín ngưỡng của người Việt Nam như một nét đẹp truyền thống, rất gần gũi, thiêng liêng.

Khi tìm hiểu thông tin về tục thắp hương, chúng tôi đã nhận được nhiều lý giải thú vị về con số 3. Theo lý giải của PGS. TS Trình Năng Chung thì “trong thuyết âm dương lưỡng hợp, số lẻ tượng trưng cho cõi dương, số chẵn tượng trưng cho cõi âm. Số dương nhỏ nhất là 1, số âm nhỏ nhất là 2, cộng hai số nhỏ của âm và dương bằng 3 (1 + 2 = 3). Đây là con số tượng trưng cho sự hòa hợp giữa âm và dương, là sự phát triển bền vững trường tồn, may mắn, thuận lợi. Trong đó, bội số của 3 là 9, tượng trưng cho đỉnh cao hạnh phúc, an lành viên mãn.

Do vậy, trong khi thực hành hành vi thắp và dâng hương trong lễ cúng tổ tiên, thần, thánh người ta thắp hương theo con số lẻ là 1, 3, 5, 7, 9. Tuy nhiên, khi thắp hương người ta thường thắp 3 nén, vừa đủ gói trọn triết lý sâu xa con số 3 như trên đã diễn giải. Trong thực tế, có người thắp 1 nén hương khi thờ cúng cũng được, nhưng đây chưa phải là con số đẹp, mà phải là 3 nén. Điều cốt yếu là chính ở lòng thành người thắp và dâng hương”.

Trong tang ma, khi thắp hương cho người chết thì có sự khác biệt so với thắp hương cho tổ tiên. Theo quan niệm dân gian cho rằng, người mới chết chỉ được thắp 2 nén hương, bởi từ lúc chết đến 3 ngày sau, linh hồn vẫn còn ở lại chốn trần gian. Vì vậy, 3 ngày sau khi chết người ta mới thắp 3 nén hương với ý nghĩa rằng, linh hồn người chết đã siêu thoát.

thaphuong2.jpg
Nhà Phật quan tâm đến “tâm hương” hơn là thắp bao nhiêu nén hương.

Nói về sự khác biệt trong quan niệm thắp 3 nén hương khi cúng tổ tiên, thần, thánh... Hòa thượng, Đại đức Thích Tâm Kiên, Trụ trì chùa Một Cột giải thích: Đối với nhà Phật, việc thắp hương có đôi chút khác biệt so với chúng sinh. Theo đó, người đến chùa thắp hương có thể thắp 1, 2 hoặc 3 nén... cũng được. Sở dĩ có điều này là do nhà Phật quan niệm việc thắp hương là xuất phát từ cái tâm của con người, chỉ cần tâm hướng Phật thì tấm lòng được thanh thản... Vì điều này nên nhà chùa thường không đặt ra luật lệ nào đối với chúng sinh khi dâng hương cửa Phật.

Đại đức Thích Tâm Kiên cho rằng, mặc dù nhà Phật không đặt ra luật lệ chặt chẽ đối với chúng sinh khi lên chùa thắp hương, nhưng xét quan niệm văn hóa truyền thống thì người dân nên thắp 3 nén hương khi lên chùa là đẹp nhất, nó tượng trưng cho sự kết nối giữa người trần với Đức Phật, giúp tâm hồn thanh tịnh, trong sáng hơn.

“Trong quy định của nhà Phật có 5 loại hương chính là giới hương, định hương, tuệ hương, giải thoát hương và giải thoát tri kiến hương. 5 loại hương này được phân theo cấp độ cao thấp khác nhau. Thấp nhất là giới hương dùng để tâm hồn con người tự trút bỏ những ác ma, tham sân, si... cao nhất là giải thoát tri kiến hương, đây là loại hương chỉ có những người tinh thông giáo lý nhà Phật, một lòng hướng Phật mới có được và loại hương này chỉ có trong tâm mỗi người chứ không thể tìm thấy ở ngoài”.

Hòa thượng, Đại đức Thích Tâm Kiên

 

Theo Văn Quách
Kiến thức


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Lý giải tục thắp hương tổ tiên, thần thánh

Tướng lòng bàn tay –

Tướng lòng bàn tay chủ yếu là các chỉ tay, các gò trong lòng tay (khu ốc). Các gò - Khu ốc trong lòng bàn tay đều có thông tin có ý nghĩa, bao gồm nhiều lĩnh vực nhân cách một con người. Trên quan điểm tứ chi như bốn mùa của thời khí Xuân, Hạ, Thu, Đ
Tướng lòng bàn tay –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tướng lòng bàn tay –
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd