Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

Mẹo phong thủy khi đi du lịch ngày lễ tết

Đầu năm mới là dịp các gia đình chuẩn bị cho những chuyến du lịch xa. Để chuyến đi an toàn, tràn đầy niềm vui, mọi người cần chú ý mẹo phong thủy du lịch.
Mẹo phong thủy khi đi du lịch ngày lễ tết

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đầu năm mới là dịp các gia đình chuẩn bị cho những chuyến du lịch xa. Để chuyến đi an toàn, tràn đầy niềm vui, mọi người cần chú ý những điều mẹo phong thủy du lịch dưới đây.


Meo phong thuy khi di du lich ngay le tet hinh anh
 
1. Mang vật may mắn, tránh vật không hay

Mẹo phong thủy du lịch cần thiết nhất là mỗi người hãy đem theo đồ vật may mắn, có tác dụng tìm lợi tránh hại dành riêng cho mình. Ví dụ, nam đeo Quan Âm, nữ mang Phật, chuỗi hạt gỗ đào, nút thắt Đồng Tâm, đồ vật có màu đỏ như tất đỏ, mũ đỏ,… Bên cạnh đó, không nên mang các đồ vật thuộc hành Kim phát ra tiếng như lục lạc, chuông.   2. Hoạt động cùng nhóm

Khi đi du lịch đến những nơi lạnh lẽo, âm khí nặng, số lượng người lớn đem lại nhiều điều tốt, đặc biệt là nguồn năng lượng. Hơn nữa, không nên tách đoàn hưởng ngoạn, nhằm phòng tránh những sự việc bất ngờ xảy ra.   3. Một số hoạt động nên diễn ra trước 15 giờ

Các hoạt động du lịch như thăm di tích, lăng điện,… tốt nhất nên diễn ra trước 15 giờ để đảm bảo dương khí đủ thịnh, không tổn hại tới sức khỏe.

4. Đi qua đường hầm tránh cười đùa

Khi ra vào đường hầm có cửa hình vuông, cần chú ý tránh nói lời bất kính hoặc cười đùa, khi phát sinh sự việc bất ngờ, không nên quay lại nhìn, không huýt sáo.   5. Du lịch tại ngoại ô, cẩn thận khi ở một mình
Meo phong thuy khi di du lich ngay le tet hinh anh 2
 
Nhiều người thích thuê phòng đơn để nghi ngơi, mặc dù không thể phê phán, tuy nhiên từ góc nhìn phong thủy du lịch, phòng đôi được cho là tốt nhất. Nếu thuê phòng đơn sẽ tiêu hao nguồn năng lượng của chủ nhân khi du lịch.

6. Vào phòng khách, nên để giày bên ngoài

Trong tiếng Hán, "giày" đồng âm với "tà", chính vì vậy vào buổi tối ngủ tại nhà người khác hay đến khách sạn, nên cởi giày trước khi vào phòng và mũi giày hướng ra ngoài, điều này ảnh hưởng đến sức khỏe của chủ nhân.   7. Không nên cầm nắm đồ vật lạ

Nhiều người khi đi du lịch cảm thấy vui vẻ khi thấy những đồ vật mới lạ, tuy nhiên có thể nhiều điều không tốt hay xảy ra từ đó. Các chuyên gia cho rằng, không phải đồ kỷ niệm du lịch nào cũng phù hợp với bản mệnh của mọi người, cần thận trọng khi cầm nắm và mang về nhà.
 
Đặt tượng Quan Công bảo hộ bình an trong xe ô tô
Theo phong thủy truyền thống, Quan Công là vị Võ Tài Thần quản lý tài vận, trấn trạch. Đặt tượng Quan Công phong thủy trong ô tô là cách cầu

8. Không nên lưu lại lâu tại nơi có âm khí ở ngoại ô

Những nơi không nên lưu lại lâu như: nơi dã ngoại tựa âm khí, dưới cầu, đường hầm, cây lớn do từ thuyết Âm Dương Ngũ hành, đó là nơi cực âm, không thích hợp ở lại.   9. Nên để lộ trán

Khi đi dã ngoại, cho dù là ngồi xe hay đi bộ, cần phải chú ý để lộ trán, không nên để tóc hay mũ che đi bởi lẽ trán là Thần Đăng của con người.    10. Cẩn thận khi chụp ảnh

Mọi việc đều cần sự cẩn thận, cho dù là chụp ảnh đồ vật bình thường, cũng phải suy nghĩ kĩ, nếu phạm phải những điều cấm kỵ trong phong thủy sẽ ảnh hưởng đến chủ nhân. Sau đây là những điều cần tránh khi chụp ảnh:
 
- Tại lăng mộ, đặc biệt là sau 15 giờ
 
- Tại các cây trăm tuổi, nghìn tuổi do những loài cây trên có linh tính
 
- Chụp ảnh với gương vào buổi tối do gương có tính âm
 
- Chụp ảnh 3 người, đặc biệt là trong hợp tác hay với đồng nghiệp
 
- Chụp dưới chân tháp hoặc chùa
 
- Chụp ảnh cho phụ nữ có thai: phụ nữ có thai không nên chụp ảnh tại nơi có âm khí nặng
 
- Chụp ảnh đồ cổ, nhà cổ
 
- Chụp ảnh dưới đường dây hoặc góc tường: do có thể đem đến sát khí hoặc âm quỷ khó hóa giải
11. Thận trọng khi mua đồ

Khi đi mua đồ cần phải cẩn trọng, tìm hiểu rõ, nếu không nếu mua và mang đồ vật mang linh tính về nhà sẽ ảnh hưởng đến gia vận.   12. Chọn ngày khi hưởng tuần trăng mật

Meo phong thuy khi di du lich ngay le tet hinh anh 3
 
Các chuyên gia cho rằng nên chọn ngày xuất hành khi hưởng tuần trăng mật để không bị ngày xung kỵ ảnh hưởng đến việc tốt.   13. Cần thận với tiền bạc mang theo

Khi đi du lịch ngày lễ tết, nên cẩn thận với việc bảo quản tiền bạc, đặc biệt không nên đặt tại túi áo túi quần. Nếu đầu năm để mất tiền, ảnh hưởng đến đường tài vận trong năm. 
14. Tránh nghỉ tại gian cuối của khách sạn

Khi nghỉ tại khách sạn hoặc nhà nghỉ, nên tránh căn phòng cuối. Nếu không thể tránh khỏi, nên nằm quay ngược đầu giường.
► Xem ngày tốt để xuất hành thuận lợi tại Lichngaytot.com

Chi Nguyễn

Xem thêm Clip: Mẹo hay khi tặng quà ngày Tết 
 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mẹo phong thủy khi đi du lịch ngày lễ tết

Chùa Bích Động - Ninh Bình

Chùa Bích động là một trong những điểm hấp dẫn nhất xứ sở du lịch này. Chùa Bích Động tọa lạc trên dãy núi đá vôi, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.
Chùa Bích Động - Ninh Bình

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Ninh Bình là xứ sở chùa chiền ở Việt Nam – khu điểm du lịch trọng điểm quốc gia Việt Nam. Chùa Bích động là một trong những điểm hấp dẫn nhất xứ sở du lịch này. Chùa Bích Động tọa lạc trên dãy núi đá vôi Trường Yên, xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.

Chùa Bích Động nguyên có tên “Bạch Ngọc Thanh Sơn Đồng” – có ý nghĩa một ngôi chùa bằng đá rất đẹp và trong trắng như ngọc ở nơi sơn cùng thủy tận. Chùa được xây dựng trên dãy núi đá vôi, đây là một di tích lịch sử văn hóa thuộc khu du lịch quốc gia Tam Cốc – Bích Động đã được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt. Đây là một kiểu động phổ biến ở Ninh Bình, động Bích Động là một trong những thắng cảnh nổi tiếng được mệnh danh là “Nam Thiên đệ nhị động” – động đẹp thứ nhì của trời Nam chỉ sau động Hương Tích (Hà Tây cũ).

Chùa xây dựng vào sườn núi và được chia làm ba cấp gọi là: chùa Hạ, chùa Trung và chùa Thượng, nằm trên dãy Ngũ Nhạc sơn, trên núi có hình tượng ông Quan Vân đội mũ cánh chuồn, ngắm nhìn bốn phía như đang chiêm ngưỡng và giới thiệu một thắng cảnh tuyệt đẹp của đất Hoa Lư. Phía trước là cánh đồng Tràng Thi và một dòng sông uốn khúc xuyên qua nhiều thung lũng và núi non hiểm trở, bao bọc xung quanh là dãy núi Phi Vân trùng điệp. Đây đã từng là nơi tập luyện thủy binh chống quân xâm lược Nguyên- Mông lần thứ nhất của đời nhà Trần.

Câu chuyện kể gắn liền với Bích Động bắt nguồn từ hai vị sư tên Trí Kiên và Trí Khê quê ở Nam Định trong hành trình thuyết pháp, truyền bá đạo Phật, năm 1705 dừng chân ở núi Bích Động khi ấy mới chỉ có một ngôi chùa nhỏ, đã quyên góp thập phương để xây dựng ba ngôi chùa dựa lưng vào vách núi, giữa thiên nhiên đất trời giao hòa đẹp lộng lẫy như hiện nay.

Bước vào chùa Hạ, một bức Đại tự bằng chữ Hán ở chính giữa có ghi “Thanh thản cổ mộ” – thanh bạch từ xưa đến nay. Trên cùng là tòa tam thế. Ba vị này là người biết trước được mọi việc ở ba thế giới khác nhau là Thượng giới, Hạ giới và Âm giới. Kế đến là ba vị Phật, ngồi chính giữa là đức Phật Di Đà, bên phải là Quan Âm Bồ Tát, bên trái là Đại Thế Trí Bồ Tát.

Vị ngồi hàng thứ ba, đầu đội vương miện là bà chúa Ba- Công chúa thứ ba đời vua Trang Vương đi tu đắc đạo thành Phật (còn gọi là Phật Bà nghìn mắt nghìn tay). Vị đứng thứ tư mặc áo đỏ, tay chỉ thiên, tay chỉ địa là Thích Ca Mâu Ni (còn gọi là Phật Tổ Như Lai). Người mặc võ phục đứng bên phải là Bát Đại Kim Cương, đứng bên trái là đại diện cho tứ trực công tào- coi xét việc chính sự trong giới nhà Phật. Cuối cùng là ba vị ngồi bên trái là Chí Kiên, Chí Thể và Chí Tâm đã có công thành lập và xây dựng nên chùa Bích Động. Hai tượng Phật đá bên ngoài là Nam Tào- Bắc Đẩu, coi xét sổ sanh tử. Tấm bia lớn bằng đá bên phải là tên những người đóng góp xây dựng chùa Bích Động.

Từ chùa Hạ bước lên khoảng hơn 100 bậc theo đường hình chữ S tới lưng chừng dãy núi Ngũ Nhạc là chùa Trung. Chùa này đã trải qua ba thời kỳ có tên khác nhau: thời kỳ đầu (1428) có tên là chùa Động, đến 1740, đời vua Lê Cảnh Hưng, chùa này được mở mang, xây dựng thêm và được đặt tên là: Bạch Ngọc Thạch Sơn Đồng. Đến 1786 dưới thời vua Tự Đức được đặt tên là chùa Bích Động. Phía trên của mái chùa có mười chữ Hán màu vàng là: Giá Lam Thần Đại Hùng Bảo Điện Nam Thiên Tổ- nghĩa là tất cả các vị sư tổ ở trời Nam này đều xuất phát từ chùa Bích Động ra đi. Về mặt bài trí ở chùa Trung, Phật Tổ Như Lai có cửu long phù giá. Hai tượng ngồi phía ngoài là Vân Thù Bồ Tát, bên trái là Phổ Hiền Bồ Tát, bên trong chính cung là Thánh hiền (ai muốn học hành thành đạt thì cầu vị này) v.v…

Ở chùa Trung còn có đường lên Động Tối. Ngay trước cửa động, một chiếc chuông đồng cổ kính với những đường nét chạm trổ rất tinh xảo. Nhìn ra phía ngoài là cầu Giải Oan. Hầu hết khách qua đây thường “thỉnh” lên ba tiếng chuông ngân nga như để “giải oan” cho tâm hồn mình ở nơi cửa Phật được thanh thản.

Trong động có ba pho tượng đá sừng sững uy nghi. Chính giữa là đức Phật Di đà, bên phải là Vân Thù Bồ Tát, bên trái là Quan Âm Thị Kính và hình tượng Lão Thọ bằng đá, biểu tượng cho sự trường tồn bất tử v.v…

Những bậc đá lên chùa Thượng được đẽo gọt, xếp thành 40 bậc cấp. Có thể nhìn thấy rõ đá được xếp thành tường trên cao để tạo thành một khoảng sân nhỏ trước chùa. Chùa Thượng chính là ngôi chùa đầu tiên được xây dựng ở Bích Động. Chùa nhỏ, bên trong chỉ có thể đứng khoảng năm người là chật. Cửa chùa đóng, nhưng có thể nhìn từ bên ngoài nhìn vào thấy thờ Phật Bà Quan Âm.

chùa bích động
Chùa Trung – Chùa Bích Động – Ninh Bình

Hai bên chùa có hai miếu thờ; hướng bắc thờ Sơn thần, hướng nam thờ Thổ địa. Cạnh chùa có một bể nước được gọi là “bể nước Cam Lồ”. Tục truyền, ngày xưa ở quanh chùa Thượng có loại cây tên Sơn Kim Cúc. Cây nở ra hoa màu vàng, cánh hoa nhỏ, phơi khô làm trà; người ta cho biết loại trà này là loại thuốc trị bệnh mắt mờ.

Bỏ ra một quãng đường khá dài dưới chân núi để lên chùa Thượng. Trong không gian phiêu bồng, bước chân qua cây cầu bao quanh hoa sen nở, rồi lên tận chùa Thượng đi tìm hoa Sơn Kim Cúc, ngắm nhìn núi Ngũ Nhạc giao hòa, đủ thỏa lòng một chuyến hành hương cổ tự giữa non sông.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chùa Bích Động - Ninh Bình

Tìm hiểu phong thủy cho doanh nghiệp –

Một điều khá quan trọng trong phong thủy là nên lưu ý đến những gì khách sẽ nhìn thấy khi họ ghé thăm văn phòng của bạn. Tốt nhất là không nên để họ nhìn thẳng vào khu vực làm việc chính. Khi bài trí công ty theo phong thủy, một số phòng có chức năng

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Một điều khá quan trọng trong phong thủy là nên lưu ý đến những gì khách sẽ nhìn thấy khi họ ghé thăm văn phòng của bạn. Tốt nhất là không nên để họ nhìn thẳng vào khu vực làm việc chính.

Khi bài trí công ty theo phong thủy, một số phòng có chức năng đặc thù như nhà vệ sinh, nhà ăn và nhà để xe vì thích hợp với nhiều hướng hơn so với các phòng khác nên ta có thể dễ dàng thay đổi vị trí của chúng.

cho-thue-van-phong-quan-3-loyal-building-dia-oc-kim-quang-13

Một điều khá quan trọng trong phong thủy là nên lưu ý đến những gì khách sẽ nhìn thấy khi họ ghé thăm văn phòng của bạn. Tốt nhất là không nên để họ nhìn thẳng vào khu vực làm việc chính. Công ty nào cũng có những lúc làm việc căng thẳng nên đừng để khách và những khách hàng tiềm năng chứng kiến cảnh tất bật, hối hả trong công việc thường nhật của công ty hay bất ngờ nghe vọng đến tai những cuộc tranh cãi gay gắt.

Vì vậy các cửa ra vào không nên đặt ngay trong tầm nhìn của khách và phải bố trí khung cảnh nơi tiếp khách sao cho thân thiện và thú vị để khách có được cảm giác thanh thản, hưng phấn.

Lối vào

Lối vào mang đến điều tốt lành khi nó được đặt ở hướng hợp với mệnh theo ngũ hành của người chủ công ty – căn cứ trên quái số của người chủ. Nếu không thể định đoạt được vấn đề này (thông thường là vậy) thì bạn có thể sắp xếp khu vực làm việc và bàn làm việc của mình theo hướng hợp với bạn.

Lối vào đặt ở hướng Đông kích thích dòng năng lượng tăng trưởng, trong khi lối vào ở hướng Tây có tác dụng khơi dậy tính bền vững. Cho dù cửa xoay về hướng nào đi nữa bạn cũng phải bảo đảm các hành đều được cân bằng.

Phòng tắm và phòng vệ sinh

Thông thường, rất khó sắp xếp vị trí cho phòng tắm và phòng vệ sinh. Không bao giờ được đặt chúng nhìn về phía cửa ra vào của văn phòng. Tốt hơn hết là đặt chúng ở phía ngoài. Nếu đặt ở bên trong thì hệ thống thoát khí phải hoạt động tốt. Cửa ra vào phòng tắm phải luôn được đóng kín và được thiết kế sao cho khi mở cửa, vẫn không trông thấy bàn cầu ở bên trong. Những khu vực này cần được giữ sạch sẽ để tạo cảm giác dễ chịu.

Bếp ăn cho nhân viên

Khu vực thích hợp để đặt bếp ăn là các hướng: Đông, Đông Nam, Nam và Tây Nam. Sự sạch sẽ và thông thoáng là những yếu tố quan trọng bảo đảm cho bầu không khí ở các nơi này luôn trong lành và dễ chịu.

Cầu thang

Bất kỳ loại cầu thang nào cũng không nên đặt ở hướng Bắc, Tây Bắc hay trung tâm của tòa nhà.

Bãi đậu xe

Nơi thích hợp nhất để bố trí bãi đậu xe của công ty là hướng Đông, Đông Nam và Tây Bắc.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tìm hiểu phong thủy cho doanh nghiệp –

Những bài thơ hay chúc mừng đám cưới

Những bài thơ hay chúc mừng đám cưới. Đám cưới là sự kiện trọng đại trong đời, còn gì vui hơn nếu người thân, bè bạn. Hãy tặng cho họ những vần thơ hay nhất
Những bài thơ hay chúc mừng đám cưới

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Những bài thơ hay chúc mừng đám cưới. Đám cưới là sự kiện trọng đại trong đời, còn gì vui hơn nếu người thân, bè bạn của bạn đang háo hức chuẩn bị cho ngày trọng đại ấy. Bạn hãy chọn ngay cho mình một trong bài thơ hay chúc mừng đám cưới sau đây để làm quà tặng độc đáo cho những người thân yêu ấy.

Những bài thơ hay chúc mừng đám cưới

Mồi kia đã có trên bàn
Bên cạnh lại có ngập tràn là bia
Nào ta cùng hãy khui ra
Rót vào ly đá để cùng nhau chúc mừng
Chúc cho long phụng tương phùng
Chúc cho hai họ nên bà con tiên
Hạnh phúc luôn mãi vẹn nguyên
Xin mời quý vị hãy cùng nâng ly

———

Tôi xin chúc các cụ ông cụ bà
Sống lâu sống khoẻ trẻ không già
Hai họ thông gia tình gắn kết
mãi giữ lương duyên thủa ban đầu

———-

Xin chúc các cô gái chưa chồng
mau mau thanh toán nạn nằm không
tìm hoài tìm mãi rồi sẽ thấy
Để cuối năm nay sẽ lấy chồng

Tôi lại xin chúc các chàng trai
Chưa có bạn gái phải tìm hoài
Chưa có đi tìm rồi sẽ có
Để rồi đám cưới như hôm nay

Tôi cũng lại chúc chú rể cô dâu
Sống mãi bên nhau đến bạc đầu
Đầu lòng sinh trai, sau sinh gái
Họ hàng hai bên thoả nổi lòng

Gái… đẹp duyên nữ tú
Trai… tốt lứa nam thanh
Chim khôn chọn nhánh lựa cành
Gái khôn chọn chốn trai lành gửi thân

Yêu nhau thì phải thương nhau
Thương nhau thì phải yêu nhau
Yêu nhau thì phải đi tàu đi xe
Chiều chiều ra đúng bờ tre
Muốn về thăm quê mẹ thì khỏi đi xe đò
Ngày vui tiéng hát điẹu hò
Tàu anh qua núi xin mời lắng nghe

Chúc mừng đám cưới (tên cô dâu)
Trăm năm hạnh phúc chứa chan nghĩa tình
Đẹp trai tài giỏi (tên chú rể)
(Tên cô dâu) lí lắc xinh xinh quá nào
Hai người hạnh phúc biết bao
Chữ yêu thắm thiết ngọt ngào bay bay
Tình yêu mộng đẹp đắm say
Hai người vui vẻ tháng ngày yêu đương
Chúc cho tình đẹp mãi dường
Vui nhau chung sống yêu thương chẳng ngừng
Chúc cho đám cưới tưng bừng
Một đôi tài sắc khách mừng quá đông
Một đêm hoa chúc động phòng
Vu sơn tuyệt đỉnh mênh mông dạt dào
Một tuần trăng mật đẹp sao
Chúc cho mãi mãi ngọt ngào bên nhau

Hôm nay đám cưới của em
Họ hàng hang hốc đến xem rộn ràng
Đáng nhẽ pháo nổ đùng đoàng
Nhưng bởi cấm pháo, cả làng im re

Tám giờ có 1 chiếc xe
Cắm đầy hoa hoét le te đi vào
Trẻ con bu tới ào ào
Đứa thì sờ lốp, đứa vào bóp phanh

Mẹ em la ó thất thanh:
“Tiên sư bố lũ trẻ ranh quê mùa”
Bố em thấy thế nói đùa:
“Bà lên thành phố mới vừa mấy năm”

Trang điểm thuê hết năm trăm
Đang từ đầu ngõ xăm xăm đi vào
Gặp ai cũng toét miệng chào
Thì ra léo biết đứa nào cô dâu

Chín giờ khách khứa đã bâu
Ồn ào náo nhiệt như trâu xổng chuồng
Cô dâu trang điểm trong buồng
Một lũ gái gú dựa tường đứng xem

Mười giờ đã thấy bem bem
Xe nhà chú rể màu kem, đi vào
Chú rể đáng mặt anh hào
Cao đúng mét rưỡi, đang chào bà con

Chủ hôn đứng dậy lon ton
Quát tháo inh ỏi như còn thanh niên
Hai họ chào hỏi liên miên
Cô dâu chú rể thì đần mặt ra

Mong sao đám cưới qua loa
Để đêm hí hí, thế là xong phim
Bao năm mỏi gối đi tìm
Giờ coi như đã chết chìm cùng nhau

Chủ hôn nói một lúc lâu
Bỗng nhiên Mic tịt (đầu dây bị chờn)
Chả biết làm cách nào hơn
Chủ hôn ngồi xuống, kệ con bà mày

Bây giờ đến đoạn trao tay
Chú rể rút nhẫn mặt mày buồn thiu
Khách khứa thì líu tìu tìu
Đứa bảo 2 chỉ, đứa thì một cây

Cô dâu hỏi nhỏ: “vàng tây?”
Chú rể quắc mắt: “Tây thế léo nào?
Nhẫn anh mua tận Hàng Đào
Em an tâm nhé! Thôi, vào thắp hương!”

Cả 2 đứng trước hương đường
Cô dâu tranh thủ soi gương, vuốt đầu
Chú rể nét mặt âu sầu
Cắm đầu xuống vái, rất lâu, rồi chuồn

Cô dâu cũng có vẻ buồn
Nắm tay bà mẹ, lệ tuôn ầm ầm
Chú rể đóng cửa đánh rầm
Cô dâu giật thót, đâm đầu vào xe

Đến chiều đám cưới vắng hoe
Cô dâu gọi điện: “đã về đến nơi”
Bố em thở hắt một hơi
“Thế là cục nợ có nơi rước rồi”

Cưới nhau từ thưở hai mươi ba
Đến khi hai mươi tám đậm đà năm con ..(hì..hì..)
Năm con đâu đã muốn dừng.
Lỡ (tên cô dâu) muốn nữa biết làm sao đây???
(Tên chú rể) rằng:Lấy chồng thì phải chiều chồng
Anh sao tui vậy cả nhà đông vui!!!(mắc cỡ wá đi…hi…hi…)

Hãy sát đôi đầu, hãy kề đôi ngực
Hãy trộn nhau đôi mái tóc ngắn dài
Những cánh tay hãy quấn riết đôi vai
Và dâng cả tình yêu lên sóng mắt

Hãy khắng khít những cặp môi gắn chặt
Cho anh nghe đôi hàm ngọc của răng
Trong say sưa, anh sẽ bảo em rằng
Gần hơn nữa thế vẫn còn xa lắm

Đêm,đêm,đêm….

Lống nga lống ngống canh dài

Tay chân bủn rủn biết làm gì đây

Chao ơi sao sợ thế này

Có người nào biết chỉ giùm tui chăng ?????

Quen nhau mình tưởng quen chơi
Ai ngờ cưới thiệt mừng ơi là mừng
Trăm năm biết có chăng gì
Cưới nhau thì phải trọn đời bên nhau
Dù cho núi lở sông mòn
Tình ta mãi đẹp, không mòn như sông.

MÙA CƯỚI
Không khí mùa này thấy vui ghê!
Thay phiên đám cưới thấy mà mê!
Mai mốt vào mùa mưa khỏi lạnh
Sang năm con cháu có đầy đàn!!!!

Còn dăm bữa nữa tới ngày vui
(Tên cô dâu, chú rể) nên đôi kết vợ chồng
Chúc cho lửa mặn hương nồng!
Răng long đầu bạc vẫn còn có nhau.

Ngày xưa hai chữ làm quen
Quen rồi bốn chữ chúng mình yêu nhau
Và rồi hai chữ trọn đời
Bây giờ bốn chữ suốt đời bên nhau

Ngày xưa hai chữ làm quen
Quen rồi bốn chữ chúng mình yêu nhau
Và rồi hai chữ trọn đời
Bây giờ bốn chữ suốt đời bên nhau.

MỪNG BỜM LẤY VỢ

Hôm nay Bờm lấy vợ rồi
Từ nay Bờm hết đơn côi một mình
Vợ Bờm trông thật là xinh
Đôi mắt ánh nến lung linh nhìn Bờm
Còn Bờm tóc chải thật thơm
Miệng cười lỏn lẻn dễ thương quá chừng
Cái thời lãng tử đã dừng
Từ nay Bờm phải cầm chừng nghe chưa!
Không được đi sớm về trưa,
Không được để vợ nắng mưa một mình
Vợ giận thì cứ làm thinh
Người ta bớt nóng thân chinh dỗ dành:
Thôi mà! Em giận chi anh?
Anh tuy khờ dại, nhưng anh thiệt tình.
Anh trôi như dải lục bình
May nhờ em vớt , giờ mình có nhau.
Lòng anh nguyện ước trước sau
Yêu em mãi mãi như cau yêu trầu
Đến khi trăm tuổi bạc đầu
Vẫn còn nồng đượm như ngày đầu tiên.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những bài thơ hay chúc mừng đám cưới

Những vật phẩm phong thủy trừ tà, hóa sát (P4) –

34. Thập Nhị Hoa Giáp Là biểu tượng của 12 con giáp. Có khi nó gồm đủ 12 con giáp, nhưng có 1 con lớn làm chủ đạo, các con kia xung quanh, khi đó sẽ là vật Áp Tuế, chuyên Hóa Giải cho những người bị hạn Thái Tuế, hay làm nhà mà phạm Hướng Thái Tuế Kh

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

34. Thập Nhị Hoa Giáp

Là biểu tượng của 12 con giáp. Có khi nó gồm đủ 12 con giáp, nhưng có 1 con lớn làm chủ đạo, các con kia xung quanh, khi đó sẽ là vật Áp Tuế, chuyên Hóa Giải cho những người bị hạn Thái Tuế, hay làm nhà mà phạm Hướng Thái Tuế

12-con-giap-1

Khi đứng riêng rời thì nó dùng để kích hoạt cho những trường hợp Tam Hạp: Ví như người tuổi Thân Tý Thìn thì chọn các con vật trong bộ ba Thân (Khỉ) – Tý (Chuột) – Thìn (Rồng) đặt ở các vị trí tương ứng.

Trong các trường hợp các Vật Khí này được làm kèm với các thỏi vàng, đồng tiền vàng thì chuyên để kích hoạt Tài Lộc cho các tuổi trong bộ Tam Hạp.

Riêng với trường hợp con giáp là Hổ, thì hình tượng Hổ trong Vật Khí luôn là biểu tượng của sức mạnh, uy quyền, nên nó là vật dùng thích hợp nhất với các người lãnh đạo, người làm sếp trong các cơ quan, công ty trong các tuổi Dần – Ngọ – Giáp – Tân (nhưng không là Giáp Thân).

35. Kỳ Lân Tống Tử

Đây là do điển tích ngày xưa khi mẹ Khổng Tử trước khi mang thai Ngài, thì nằm mộng thấy 1 đứa bé cởi trên lưng con Kỳ Lân, sau đó thụ thai sinh ra Ngài, nên sau đó người ta xem như đây là biểu tượng tốt để báo hiệu có con, và dùng nó như 1 vật kích hoạt về đường Tử Tức. Thường là biểu tượng này bằng đồng, cũng có bằng tranh nhưng rất ít thấy.

36. Tháp Văn Xương

Đây là hình tượng tháp 7 tầng hay 9 tầng tại Hồng Kông, Bình Sơn nguyên lãng, chuyên dùng để kích hoạt cho việc học vấn, tri thức. Tháp Văn Xương có nhiều chất liệu, có loại bằng đồng, có loại bằng Thạch Anh, có loại bằng Pha Lê. Đúng ra trong Phong Thủy, Tháp Văn Xương không quan trọng việc chọn số tầng, bởi Tháp Văn Xương bên Hồng Kông có nơi làm 7 tầng, có nơi làm 9 tầng. Do đó, các bạn nào đã mua về nhà mà nghe mọi người kháo nhau phải đủ 9 tầng hay 7 tầng mới tốt thì cũng đừng lo ngại hay băn khoăn.

37. Pháp Trượng

Đây là biểu tượng tối cao tượng trưng cho quyền lực trong Tôn Giáo. Pháp Trượng có thể làm bằng nhiều chất liệu khác nhau: đồng sáng, gỗ quý, ngọc quý. Nó thường dùng cho những người có chức sắc trong các cơ quan nhà nước, các vị lãnh đạo công ty tượng trưng cho uy quyền, ngăn ngừa tiểu nhân, đem lại quyền lực.

38. Tam Đa

Hầu như ai cũng biết Tam Đa chính là: Phúc Lộc Thọ. Bộ Tam Đa có thể bằng gốm sứ, bằng đồng, bằng đá quý, bằng hình tượng Phong Thủy Luân, bằng tranh Phúc Lộc Thọ toàn đồ. Biểu tượng Tam Đa tượng trưng cho 3 vị Thần đem lại may mắn, sức khỏe, hạnh phúc cho mọi người, mọi nhà nên thường người ta hay trưng bày trong nhà.

39. Pha Lê

Pha Lê có 2 loại: thiên nhiên và nhân tạo. Loại thiên nhiên tốt hơn loại nhân tạo rất nhiều, nhưng cũng đắt hơn rất nhiều. Pha Lê tuy trong tiếng Hoa gọi là “shui jing” (Thủy Tinh) nhưng nó thực ra lại mang Hành Thổ, vì bản chất Thủy Tinh vốn dĩ là loại đá ở dưới biển sâu hàng trăm ngàn năm.

Trong Phong Thủy, Pha Lê có công dụng giải trừ vận rủi, đem lại may mắn cho người dùng nó, nên Pha Lê trở thành vật trang sức được nhiều người ưa chuộng (phần vì nó rất đẹp, ra ánh nắng nó tỏa đủ 7 màu như 7 sắc cầu vồng). Pha Lê ngoài việc làm đồ trang sức ra, nó còn được dùng làm Tháp Văn Xương, Kim Tự Tháp để kích hoạt, Hóa Giải trong Phong Thủy.

40. Tam Dương Khai Thái

Đây là biểu tượng 3 con dê đứng chung với nhau, thường được làm bằng đồng. Đó là lấy ý nghĩa từ trong Kinh Dịch mà ra:

* Kinh Dịch nói về quẻ Thái: Thái, tiểu vãng, đại lai, cát hanh. Hàm ý quẻ Thái tượng kẻ tiểu nhân lánh xa, người quân tử đến gần, tượng thông thuận, hanh thông, cát tường.
* Đại tượng truyện quẻ Địa Thiên Thái nói “Thiện Địa giao thái, hậu dĩ tài thành Thiên Địa chi đạo”. Ta thấy tượng của quẻ là Càn 3 vạch dương liền dưới quẻ Khôn 3 hào Âm đứt đoạn, 2 quẻ trên dưới mâu thuẫn nhau, tượng khí trời thì giáng xuống, khí đất từ dưới xông lên, 2 khí giao nhau nhờ đó mà vũ trụ giao hòa, các vật, sự việc đối nghịch nhau trở thành vuông tròn, thành tựu.

Quẻ Thái nói chung là biểu hiện điều tốt lành, cho nên mới có câu “hết cơn Bĩ cực tới hồi Thái lai” (Bĩ là quẻ Thiên Địa Bĩ, Thái tức là Thái của quẻ Địa Thiên Thái) để chỉ khi ta qua hết cơn khốn đốn đến vận hanh thông trở lại. Quẻ Thái tốt là nhờ sự nghịch đảo của quẻ Càn bên dưới, mà Càn có 3 hào Dương. Người ta lấy sự đồng âm trong Hán Ngữ mà chọn chữ Dương là dê, 3 hào Dương trở thành hình tượng 3 con dê là thế. Thay vì 3 hào Dương khai mở ra quẻ Thái lại trở thành 3 con dê đem lại quẻ Thái, đem lại sự thông thuận.

Tóm lại, người đang gặp vận rủi cần chuyển hóa thời vận thì nên đặt biểu tượng này, để cầu mong đem lại sự thông thuận như ý quẻ Thái.

41. Chiêu Tài Kim Tiền

cay kim tien_brca

Là các đồng tiền có khắc bốn chữ “Chiêu Tài Tiến Bảo” hoặc “Kim Ngọc Mãn Đường” xâu kết lại với nhau, chuyên dùng kích hoạt Tài Lộc. Có thể là 3 đồng tiền kết với nhau bằng dây ruy băng đỏ để treo trên tay nắm cửa hay bỏ trong bóp, hoặc dán trên bìa cuốn số ghi doanh thu để giúp tăng thu nhập. Có khi là xâu 8 đồng tượng trưng cho Bát Bạch Vượng khí của Vận Tám, mà chữ Bát cũng đồng âm như chữ Phát trong tiếng Hoa. Cũng có khi là một xâu gồm 10 đồng tiền, hàm ý Thập toàn Thập mỹ.

42. Bình An Kim Tiền

Là tiền đồng lớn có khắc bốn chữ “Xuất nhập bình an”. Nó có công dụng hoá giải Khai Khẩu Sát, hoặc ngăn ngừa đàn bà trong nhà lắm lời. Mặt khác, nếu dùng 2 đồng tiền này dưới gối sẽ giúp cho mối quan hệ vợ chồng được tốt đẹp hơn.

43. Tiên Nữ Hoa Đào

Thường gặp nhất là bằng tranh với hình vẽ Tiên nữ tay cầm cành hoa đào. Đôi khi hình tượng này cũng có trong các đĩa kiểu Hồng Kông, có giá để trưng bày. Đây là vật mang lại tài lộc, công danh và hỷ tín cho người nữ, nhưng phải là người nữ chưa có chồng mới dùng được (nam giới thì vô hiệu quả).

44. Phong Chuỷ Điểu

Đây là vật khí hoá sát dùng hình tượng một loài thú thượng cổ, thân như mình chuột, có mỏ như mỏ chim, ức dưới có vảy như vảy rồng, có 2 sừng trên đầu. Mỏ con thú này có ngậm một cái vòng tròn, hai bên có 2 cái giá để thắp đèn cầy đỏ (phải là màu đỏ mới được), bên trong chỗ cắm đèn cầy đó có 2 mảnh kim loại đính bên trong có biểu tượng ngọn lửa.

Đây là vật Chuyên Trị sao Tam Bích Si Vưu tinh gây chuyện thị phi, tiểu nhân, quan phi cực kỳ hay và hiệu quả.

45. Thập Bát Chiêu Tài

Đây là một hình thái hơi lạ của Cóc ba chân (thiềm thừ). Thường được làm bằng chất liệu đồng, có hình dáng một con cóc ba chân miệng ngậm đồng tiền, nhưng phía thân sau của nó gác lên trên một nải chuối có 18 quả, có sợi xích vòng quanh một quả chuối dính vào trên đầu cóc ba chân và nối với một miếng ngọc bội, một sợi xích khác dính liền dưới ức cóc ba chân nối với đồng tiền trong miệng nó, và một miếng ngọc bội.

Cóc ba chân là biểu tượng Chiêu Tài, Chuối (ba tiêu) cũng là Chiêu Tài, số 18 khi phát âm lên theo tiếng Hoa đồng âm với hai chữ Thật Phát. Nên khi đi chung với nhau, chúng là một biểu tượng Chiêu Tài rất mạnh. Vật khí này thích hợp nhất với sao Lục Bạch, đặc biệt khi Lục Bạch ở phương Bắc càng tuyệt vời.

46. Lăng Giác Bảo

Thường được làm bằng chất liệu gốm sứ, với các hoa văn xung quanh. Nó có hình dạng như một cái thố có nắp chụp bên trên, có ba chân đế bên dưới, hai bên tay cầm thì lại nhọn, màu vàng kim, và có hình dáng như hai cái sừng gọi là Hoàng kim giác. Các hoa văn xung quanh có hình hoa Mẫu đơn gọi là Phú Quý hoa. Trên nắp có biểu tượng Tam Đa (quả thạch lựu tượng trưng cho Đa Lộc, quả đào tiên tượng trưng cho Đa Thọ, quả Phật thủ tượng trưng cho Đa Phúc).

Cho nên, vật khí này là vật Chiêu Tài Nạp Phúc rất hay, rất thích hợp với sao Nhất Bạch, đặc biệt khi Nhất Bạch tại Trung Cung.

47. Đại Chú Tiệp

Có hình dáng là một bó những đoạn trúc ngắn. Vì chữ Chú và chữ Trúc đồng âm, bản thân cây trúc có rất nhiều Tiết (đốt, mắt), chữ Tiết lại đồng âm với chữ Tiệp, hàm ý thi cử đỗ đạt, công tác thành công. Xung quanh bó trúc, ở đoạn ống giửa hai đốt có ghi bốn chữ “Tiết tiết cao thăng” hàm ý chiêu Quý nhân đến. Cả bó trúc đó có rất nhiều đốt, gọi là “Đa tiết Văn Xương trúc”. Trên bó trúc là những thỏi vàng xếp thành bệ. Trên bệ là một con Đại ngao Ngư với đầu giống đầu Rồng, với hàm ý “Độc chiếm ngao đầu” – chiếm đầu bảng.

Vật khí này còn có tên là “Đại Văn Xương”, “Vạn ý tiết tiết cao thăng”. Nó là vật kích hoạt cho sao Văn Xương Tứ Lục rất hay, nhất là khi sao Tứ Lục đóng tại Cấn phương.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những vật phẩm phong thủy trừ tà, hóa sát (P4) –

12 điều kiêng kỵ ở nhà bếp

Một số kiêng kỵ ở nhà bếp để bạn có một không gian bếp với kiến trúc hài hòa phong thủy.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


1. Kiêng bếp nấu đặt ngược hướng nhà


Bếp đặt ngược hướng nhà là bếp ngoảnh lưng về hướng cửa nhà, ví dụ nhà tọa nam hướng về bắc mà bếp lại tọa bắc hướng về nam, như vậy không lành.

2. Kiêng đường từ cửa đâm thẳng vào bếp

Theo quan niệm truyền thống ở trung quốc thì bếp nấu là chỗ nấu nướng nuôi sống cả nhà vì vậy không nên đặt quá lộ liễu, đặc biệt là không nên để cửa nhìn thẳng vào bếp nấu vì như vậy nó sẽ dẫn khí từ ngoài xông thẳng vào không lợi, sẽ mất mát, như cổ nhân dạy: “Cửa nhà thẳng vào bếp, gia súc sẽ dễ mất”.

3. Kiêng cửa chính nhìn thẳng vào bếp

Bếp nấu không nên để lộ, ở ngoài cửa chính nhà ở nhìn thấy bếp, đương nhiên là không lành, còn đứng ngoài cửa bếp có thể nhìn thấy bếp cũng không lành.

4. Kiêng nhà bếp đặt đối diện với nhà vệ sinh

Bếp nấu là nơi nấu đồ ăn thức uống cho cả nhà, vì vậy cần phải giữ vệ sinh, nếu không thì bệnh tật sẽ vào người qua đường ăn uống, làm hại đến sức khỏe. Nhà vệ sinh có rất nhiều thứ bẩn và vi trùng vì vậy bếp nấu không nên đặt gần nhà vệ sinh. Đặc biệt cửa bếp không đặt đối diện với nhà vệ sinh.

5. Kiêng nhà bếp đối diện với cửa phòng ngủ

Bếp là nơi nấu nướng, thậm trí còn nóng bức, không nên đặt đối diện với phòng ngủ, Như vậy ảnh hưởng đến sức khỏe người ở trong phòng, dễ sinh bệnh.



6. Kiêng bếp sát giường ngủ

Bếp lửa nóng, khi đun nấu khói dầu mỡ cũng không có lợi cho sức khỏe, vì vậy bếp nấu thẳng hướng với cửa phòng không tốt và bếp đặt sát phòng ngủ đặc biệt là với giường ngủ cũng không tốt.

7. Kiêng để sau bếp là khoảng không

Bếp nên tựa vào tường, sau bếp không nên là khoảng không (không có tường kín). Nếu như phía sau bếp là cửa chính cho ánh sáng chiếu qua cũng không tốt, vì rằng như vậy sẽ giống như sách cổ đã nói: “Cửa bếp nấu kiêng cho ánh sáng chiếu vào”.

8. Đặt bếp trên rãnh mương nước


Bếp thuộc hỏa, hỏa vốn kỵ nước, nước và lửa không dung hòa, vì vậy lửa không nên để gần nước quá. Nếu như bếp đặt trên đường nước là không thích hợp.

9. Kiêng có xà ngang đè lên trên

Phong thủy học có câu: “Xà ngang đè lên trên” bất lợi. Giường ngủ hoặc ghế ngồi phía trên có xà ngang là không tốt, xà ngang đè lên trên bếp cũng không tốt. không tránh được người nhà bị ốm đau bệnh tật, đặc biệt có hại cho sức khỏe vợ chồng, “dưới xà có bếp, nữ chủ nhà tổn hao”.

10. Kiêng mặt trời chiếu xiên khoai

Theo phong thủy học thì nhà bếp hướng tây, đặc biệt là bếp là nơi đun nấu nếu bị mặt trời chiếu xiên từ hướng chính tây vào là rất không tốt, cho rằng như thế rất ảnh hưởng đến sức khỏe mọi người trong nhà, cho nên cần phải tránh.

11. Kiêng để góc nhọn chiếu thẳng vào bếp

Phong thủy học cho rằng góc nhọn sắc, dễ gây thương tổn, vì vậy rất kiêng có góc nhọn chiếu thẳng vào bếp! Bếp nấu là nơi nấu ăn nuôi sống cả nhà, nếu như bị góc nhọn chiếu thẳng vào sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe người trong nhà.

12. Kiêng nước lửa đụng nhau

Bếp thuộc hỏa, còn chậu rửa bát thì chứa nước (thủy), vì vậy hỏa và thủy không nên để quá gần nhau; đặc biệt là bếp kẹt giữa 2 bên là nước, ví dụ đặt bếp giữa 1 bên là máy giặt, 1 bên là chậu rửa. 

Internet


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 12 điều kiêng kỵ ở nhà bếp

Đoán tướng và phúc tướng qua tướng ăn, nói, cười, đi….

Các nhà nghiên cứu nhân tướng học hiện đại cũng đã chú ý rất nhiều đến các tướng biểu lộ ra bên ngoài (ngoại biểu) để xét đoán về tâm lý, cᬠtính và có thể cả tương lai của một người…
Đoán tướng và phúc tướng qua tướng ăn, nói, cười, đi….

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Năm mới 2016 của bạn như thế nào? Hãy xem ngay TỬ VI 2016 mới nhất nhé!

Các nhà nghiên cứu nhân tướng học hiện đại cũng đã chú ý rất nhiều đến các tướng biểu lộ ra bên ngoài (ngoại biểu) để xét đoán về tâm lý, cá­ tính và có thể cả tương lai của một người…

Có câu: "Đức năng thắng số" Số mệnh là điều hoàn toàn có thể thay đổi: tùy thuộc vào đức của mỗi người, đức do ông bà cha mẹ truyền lại.   Nghệ thuật coi tướng được đúc kết từ kinh nghiệm hàng ngàn năm của Trung Quốc. Nó đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người chúng ta.  Ví dụ: Con người ai cũng thích người đẹp, không thích người xấu. Những người mặt mũi sáng sủa thì bao giờ cũng được trọng hơn những người mặt mày tối tăm. Hay những người cao lớn, dung mạo đẹp đẽ thì bất luận già trẻ lớn bé, giàu nghèo, sang hèn ai ai trông thấy cũng mến, cũng thích. Xét ở mặt đối lập, chưa hẳn xấu xí chưa hẳn đã là bất lợi. Như thầy bói Quỷ Cốc Tử thuộc loại quái tướng, mặt mũi cực kì xấu xí, lộ hầu, lộ răng nhưng tài năng thì đã trở thành bất tử, lưu truyền hàng ngàn năm nay. Tuy nhiên, những gì thuộc về tướng mạo, số mệnh, vận mệnh chỉ nên xem như tham khảo, góp một phần nhỏ vào việc biết mình, biết người vậy.

Tướng đi

Trước hết là tướng “đi” mà trong văn học Việt Nam qua một bài thơ nổi tiếng của Nguyễn Nhược Pháp ta thấy cô gái đi chùa Hương không dám đi mau vì “ngại chàng chê hấp tấp – số gian nan không giàu”. Còn dưới mắt các nhà nghiên cứu nhân tướng học, cách đi vội vã, vội vàng là biểu lộ của người có tính tình khá “nóng”, dễ “nổi giận” và hay “gây sự”.

Nếu “đi như chạy” càng khổ nữa, vì dễ làm “đổ tiền, đổ gạo” rơi vãi trên đường. Tới đây lưu ý bạn đọc cũng đừng có cái nhìn quá “một chiều” về những điều không tốt của tướng đi đó. Vì nếu người đàn ông có tướng đi nhanh như vậy, thậm chí lúc nào cũng như muốn “vượt lên” phía trước – đành rằng cũng khó mà “giàu lên” nhưng lại là người biết “nhìn xuống”, có lòng thương kẻ nghèo hơn mình và biết ứng xử nhanh nhẹn, ứng cơ, hợp lý đấy!

Người có “dáng đi đỏng đảnh” như các chú vịt là người rất thích quyến rũ kẻ khác giới. Người có “dáng đi uốn éo” như rắn với cái đầu động đậy nhẹ theo từng bước chân, là người có “trái tim lạnh”, thường mưu lợi riêng cho mình dù phải gây thiệt thòi cho kẻ khác.

Đi như con hạc chân cất cao khỏi mặt đất là người thích giấu mình trong đời sống nội tâm, kín đáo và khó chinh phục.

Đang đi mà đầu thường cúi xuống, lại hơi nghiêng về phía trước là người trầm mặc, mộng mơ và hay thay đổi bạn tình.

Đi mà từ bụng tới mông đều nhích động nhẹ nhàng là người vui vẻ, nhẫn nhịn và biết chiều chuộng bạn đời.

Đi với bước chân kéo lê trên mặt đất một cách chậm rãi là người đa cảm, dễ hờn, dễ giận, nhưng cũng dễ dỗ dành và rất chóng nguôi ngoai.

Đi mà lưng thẳng với những bước chân đều đặn hướng tới trước, thân người tới sau, là người có biệt tài nào đó, có tính cương nghị, nhiều thành công và là chỗ dựa đáng tin cậy cho người bạn trăm năm của mình.

Tướng đứng

Đi là vậy, mà “đứng” cũng có tướng riêng. Nếu không đứng hiên ngang “quân tử” như dáng cây trúc thì cũng đừng cong lưng mềm quá như cây liễu. Còn ở khoảng “trung đạo” với dáng đứng như cây thông của Nguyễn Công Trứ cũng là khó lắm: “làm cây thông đứng giữa trời mà reo”!.

Tướng ngồi

Tướng “ngồi” không yên với cái đầu chốc chốc lắc qua lắc lại là người làm ăn khó nên nổi, tiền bạc hao hụt, nên làm lành tu phước để hóa giải.

Người ngồi nghiêng qua một bên, khi bên trái, lúc nghiêng bên mặt (dầu không bị tật) đó là tướng của người không được may mắn, thường gặp đổ vỡ trong hôn nhân và bất lợi trong công việc kinh doanh mua bán.

Người ngồi vững như bức vách, như trái núi, đứng lên có dáng thẳng người, điềm tĩnh, đi nhẹ nhàng thoải mái, là người có phong thái sang cả, tướng quý.

Tướng “cười”

Cái cười của Hoạn Thư trong truyện Kiều là một “tướng dữ” mà Nguyễn Du ghi nhận: ngoài thì “thơn thớt nói cười” nhưng trong lòng “nham hiểm giết người không dao”. Cười chỉ “động nhẹ khóe môi” (không cất rõ tiếng) mà vai và lưng người ấy lại rung chuyển là tướng của người nhiều toan tính, ngầm “mưu sự” bên trong, dễ dẫn đến thành công cho mình, nhưng lạnh lùng trước những tổn thất xảy đến cho chính bạn đồng hành với họ.

Ngược lại, người có giọng cười sảng khoái, vang vang, thân mình rung động không ngớt – là người rộng lượng, tự tin, biết chia sớt lợi lộc của mình cho các bạn đồng hành hoặc cộng sự.

Người cười tuy thành tiếng nhưng tiếng cười không chịu thoát ra khỏi cổ một cách thông thoáng thoải mái mà như bị “nghẹn” lại bên trong (có thanh mà không có vận) là người mang mâu thuẫn nội tâm, muốn chinh phục người khác nhưng lại e ngại và không thích giao du, nên dễ rơi vào trầm cảm.

Tướng “nói”

Tướng “nói” – vốn cũng là đối tượng xem xét của nhân tướng học. Đang nói chuyện không chịu nhìn trực diện vào người đang đối thoại với mình, mà nhìn nghiêng nhìn xéo là tướng của người không được công minh, thiếu ngay thẳng.

Khi nói hai bàn tay có thói quen xoa vào nhau, hoặc hai tay khoa lên khoa xuống không đúng lúc là tướng của người không thật lòng, đa nghi và rất khó hợp tác. Khi nói thường ngó trước dòm sau, hoặc nhìn qua phải qua trái một cách vô cớ, là người có mưu mô đang giấu kín.

Tướng “ăn”

“Ăn” cũng thành… “tướng”! Thật vậy, người có phong cách ăn uống gọn gàng nhanh chóng nhưng không phải là ăn ngồm ngoàm hay ăn lấy ăn để kiểu nhử kịp thở thì là một trong những tướng quý.

Người ăn chậm nhưng không rề rà, mà ăn khoan thai một cách tự nhiên, không làm ra vẻ chậm quá mới là tốt. Nếu người ăn ngồi không ngay ngắn, thức ăn nhai trong miệng rồi, lại đưa ra đầu lưỡi, vừa ăn vừa nhìn quanh quất là tướng người bần tiện.

Tướng nằm ngủ

“Nằm” cũng có quý tướng và phúc tướng. Quý tướng là người nằm có dáng thanh thoát như rồng, mắt nhắm, môi ngập, nhưng lộ thần sắc tươi hồng trên gương mặt.

Phúc tướng là người nằm ngủ thường hay nằm nghiêng về bên phải, hai chân duỗi ra thư thả, tay trái đặt theo thân mình, tay phải đưa lên trong tư thế đỡ lấy khuôn mặt, hai môi vẫn hồng khi ngủ say – đó còn là tướng của người trường thọ, thông minh.

Trái lại người ngủ nhưng hai mắt vẫn mở to, nhìn thấy được con ngươi đen bất động trong tròng mắt là tướng chết bất đắc kỳ tử, có thể bị tử nạn bất ngờ trong lúc xa nhà.

Tướng người ngủ với miệng mở ra lộ cả hàm răng, thỉnh thoảng lại nghiến răng kèn kẹt trong đêm tối, là tướng sẽ chết vì gươm đao hoặc súng đạn.

Nằm ngủ mà không ngửa người ra theo lẽ bình thường, lại hay úp mặt xuống chiếu là tướng suy tàn, túng thiếu, có thể qua đời vì bạo bệnh hoặc thiếu đói. Nằm ngủ mà thỉnh thoảng mở miệng nói huyên thuyên đủ chuyện, nhưng là những chuyện không có đầu có đuôi tựa như người mê sảng là tướng làm tôi tớ, nếu có chút hư danh lợi lạc nào đó, đến cuối đời vẫn phải chịu hư hao mất mát…

>>> Năm mới 2016 AI xông đất nhà bạn? Sẽ mang lại nhiều may mắn tài lộc?

Xem ngay XEM TUỔI XÔNG ĐẤT 2016 mới nhất>>>

Xem tướng chọn sếp tốt?

Sự nghiệp của bạn có thể thành công hay không, ngoài tài năng và nhiệt huyết của bản thân, bạn cũng nên biết cách chọn cho mình một vị sếp.

Một số gợi ý về nét tướng của người sếp tốt dưới đây có thể sẽ rất hữu ích đối với bạn.

- Nhãn thần đoan chính, thần thái thanh thoát nhưng phải có vẻ uy nghiêm, tròng trắng và tròng đen rõ ràng, phân minh. Ông chủ có nét tướng này là người thông minh, sức khỏe tốt; có tấm lòng lương thiện, biết phân biệt phải – trái.

- Sống mũi không quá cao, chóp mũi không quá nhọn. Nếu người có mũi cao và đường sống mũi bị lộ thì sự nghiệp gặp nhiều trở ngại, khó có được sự ủng hộ của người cấp dưới. Người có chóp mũi nhọn và không đầy đặn thường kiêu ngạo, hay chỉ trích người khác sau lưng. Họ cũng rất chi li, tính toán về mặt lợi ích với cấp dưới.

Các bước xem tướng người chính xác nhất

Trong nhân tướng học, để xem tướng của một người tốt hay xấu, bạn có thể dựa theo trình tự 8 bước dưới đây.

1. vẻ uy nghi

Uy nghi ở đây toát lên từ đôi mắt, lưỡng quyền và thần sắc. Bề ngoài oai vệ, nghiêm trang, chỉnh tề, không có vẻ dữ tợn là tướng tốt.

2. Coi dáng đi, dáng đứng, dáng ngồi và cả dáng nằm ngủ

Dáng đi phải thẳng, linh hoạt, khi đi thân hình không lay động. Ngồi lâu không mê muội, càng ngồi lâu tinh thần càng sảng khoái. Ánh mắt trong sáng, có hồn, nhìn lâu không mờ.

3. Xem tướng đầu và tướng trán vì đầu là chủ toàn thân, nguồn gốc của tứ chi

Đầu vuông, đỉnh đầu nhô cao là người có địa vị cao trong xã hội. Đầu tròn là tướng giàu có và trường thọ. Trán rộng thì vừa sang vừa quý. Đầu lệch từ nhỏ thì cuộc đời vất vả, nhiều sóng gió. Trán thấp là người khá bướng bỉnh.

4. Coi ngũ nhạc, tam đình

Ngũ nhạc

Lưỡng quyền (hai gò má hay còn gọi là Đông nhạc và Tây nhạc) cần ngay ngắn, đầy đặn, không nhọn, không lệch, lẹm. Trán (Nam nhạc) cần ngay ngắn, không vát, không lõm, không thấp. Mũi (Trung nhạc) cũng cần ngay ngắn, sống mũi thẳng, không được vẹo, nhọn, gẫy khúc. Cằm (Bắc nhạc) cần cân đối, hài hòa với khuôn mặt.

Tam đình

Trán, đầu và cằm cần dài ngắn cân xứng, hài hòa.

5. Coi ngũ quan, lục phủ

Ngũ quan

Lông mày (bảo thọ quan) nên cong, dài, cách mắt hai phân là tốt. Đuôi mày nên chếch lên phía thái dương. Người nào có bộ lông mày thô đậm, áp xuống mắt thì thuộc tướng xấu.

Mắt (giám sát quan) phải sáng, tròng đen, tròng trắng rõ ràng.

Tai (thám thính quan) không căn cứ to nhỏ, chỉ cần luân quách (vành tai ngoài và vành tai trong) rõ ràng, phân minh. Tai trắng hơn da mặt thì cực tốt. Tai cao hơn lông mày, màu sắc tai hồng nhuận, lỗ tai nhỏ là loại tai tướng tốt.

Mũi (thẩm biện quan) nên đầy đặn, cao, sống mũi thẳng, không vẹo, không thô, không nhỏ quá.

Miệng (xuất nạp quan) có đôi môi hồng, răng trắng, nhân trung sâu dài là tướng tốt.

Lục phủ

Ngoài việc là khái niệm dùng để chỉ 6 bộ phận trong cơ thể người, lục phủ còn được dùng để chỉ ba cặp xương ở hai bên mặt. Trong phép quan sát lục phủ, phải lấy xương làm điểm chủ yếu, xương thịt phải chắc, cân xứng, hài hòa với nhau, thịt không lấn át xương, xương không quá nhiều so với thịt, thần sắc tươi tỉnh là tướng tốt.

6. Coi lưng, bụng

Ngực bằng, đầy, eo tròn, lưng đầy và bụng dưới to hơn bụng trên, da dẻ mịn màng là tốt. Kỵ lưng thành hố sâu, lưng mỏng, vai lệch. Mông cần nở nang, đầy đặn, không nên lớn thô.

7. Coi chân, tay

Tay phải dài, bàn chân phải có bụng chân, chớ có nổi gân chằng chịt; màu sắc hồng nhuận, da thịt mềm mại.

8. Coi tiếng nói và tâm trạng

Muốn nhìn sự việc trong tâm thì coi đôi mắt. Mắt hiền, mắt ác cho biết tâm hiền hay ác. Vui buồn hay sướng khổ cũng đều biểu hiện qua đôi mắt.

Giọng nói nghe tròn, ấm, vang, rõ ràng, dứt khoát, nhanh chậm có trật tự, to thì vang như chuông mà nhẹ thì nghe thì nghe như tiếng ngọc va vào nhau.

Các gương mặt theo nhân tướng học

Hơn 6 tỷ người trên quả đất hiện nay chẳng có người nào có gương mặt giống người nào một cách tuyệt đối, song qua nhân tướng học từ xưa cũng rút ra được những “mẫu số chung” để đúc kết một số hình dạng của các gương mặt.

Bộ mặt chia làm 12 cung, mỗi cung chủ về một việc:

1. Ấn đường (ở giữa hai bên lông mày) gọi là mệnh cung, chủ về bản mệnh. Hễ sáng sủa nở nang thì chắc là người phúc hậu khoa hoạn, ngấn da rối rít thì tổn thọ.

2. Hai bên mũi gọi là cung tài bạch: chủ về của cải. Hễ phổng pháp sáng sủa, chắc giàu có; hình như huyền đảm thì giàu to. Nếu nhọn hớt mỏng méo, tất nghèo hèn.

3. Hai bên đầu lông mi gọi là huynh đệ, chủ về anh em. Lông mi dài tốt thì anh em đông đúc vui vẻ, thưa ngắn thì anh em ly biệt cô độc, có lông mọc ngược thì chắc anh em thù nhau. Thanh mà có vẻ, tất là người quý hiển thanh cao. Lông mi dài, chủ thọ.

4. Hai mắt gọi là điền trạch, chủ về cửa nhà ruộng nương. Nếu trong trẻo, đen trắng phân minh. Hễ minh nhuận chắc cửa nhà giàu có; nếu đê hãm hôn ám thì chắc điền trạch phá hại. Con mắt lại là tinh tú nhất cả trong người, nhiều sự quan hệ ở đó.

5. Ngọa tàm (hai ổ dưới mắt) gọi là cung nam nữ, chủ về con cái. Hồng hào đầy đặn, lắm con. Dưới mắt bên tả có cái ngấn ngọa đàm, chủ sinh quý tử.

6. Ngư vĩ (hai bên đuôi mắt) gọi là cung thê thiếp, chủ về đường vợ chồng. Sáng sủa không có ngấn sâu thì vợ chồng hay; đầy đặn lắm vợ nhiều con, lõm thấp là dâm loạn.

7. Địa các (dưới cằm) gọi là cung nô bộc, chủ về việc tôi tớ. Đầy đặn: nhiều tôi tớ, khuyết lõm, không đứa nào.

8. Sơn côn (sống mũi) gọi là cung tật ách, chủ về tật bệnh. Đầy đặn thì ít tật bệnh; sâu lõm thâm tím, hay đau yếu.

9. Hai bên gò má cạnh trái tai gọi là cung thiên di, chủ về đi ra ngoài. Sáng sủa ra ngoài hay, đen tối hoặc lõm thấp và có nốt ruồi, không nên đi xa.

10. Đỉnh trán gọi là cung quan lộc, chủ về việc công danh. Sáng sủa đầy đặn, công danh thanh thản.

11. Hai bên sát trái tai, ngoài cung thiên di, gọi là cung phúc đức, chủ thể về phúc ấm nhà mình. Đầy đặn sáng sủa thì chắc được hưởng phúc lộc vô cùng.

12. Gò trán đôi bên gọi là cung phụ mẫu, chỉ về việc cha mẹ. Cao và sáng sủa, cha mẹ sống lâu, hắn hãm, cha mẹ có bệnh. Lệch góc bên tả, cha mất trước, lệch góc bên hữu, mẹ mất trước.

Trên bộ mặt lại chia làm tam đình : Thượng đình từ chân tóc đến lông mày, chủ về tiền vận, nở nang sáng sủa thì tiền vận hay. Trung đình từ lông mày đến dưới mũi, chủ  trung vận, đầy đặn ngay ngắn thì trung vận sướng. Hạ đình từ dưới mũi đến cằm, chủ hậu vận, đầy đặn nở nang thì hậu vận thanh thản.

Đoán nhân cách qua đôi tai của bạn

Giống như mắt, môi… tai cũng là bộ phận quan trọng được các nhà nhân tướng học chú ý xem xét khi phân tích, nhận định một con người.

1. Tai nhỏ

Những người sở hữu đôi tai nhỏ thường có khả năng tập trung tốt, hay chú ý tới tiểu tiết trong mọi việc. Họ thường không gặp quá nhiều khó khăn để nhận thấy điều mình cần cũng như đường đi nước bước của bản thân trong cuộc sống. Hòa nhã mà mạnh mẽ, linh hoạt mà quyết đoán, những người này luôn nỗ lực hết mình để đạt được mục tiêu đã đề ra.

2. Tai lớn

Có một bí mật thú vị là hầu hết những người tai lớn đều không gặp phải bất cứ khúc mắc hoặc sự thiếu rõ ràng nào về giới tính của bản thân. Họ được trời phú cho một sức khỏe tốt, cơ thể và tinh thần luôn tràn đầy sức sống, nhờ thế khả năng miễn dịch của họ tương đối tốt, ít khi ốm vặt. Nhưng một khi đã ốm, họ thường ốm rất nặng, hoặc mắc phải một căn bệnh vô cùng nan giải. Nhìn chung, những người có đôi tai lớn thường rất công bằng, khách quan; ham học hỏi và khám phá. Những người phụ nữ có đôi tai lớn thường rất mạnh mẽ, ăn to nói lớn suy nghĩ vượt xa tầm ngọn cỏ, không thua kém gì cánh mày râu.

3. Tai ở vị trí cao hơn bình thường so với đầu

Những người có đôi tai như vậy thường rất lạc quan, luôn suy nghĩ tích cực, dễ bị kích thích bởi những điều lạ lùng, mới mẻ. Họ có tính cách khá bốc đồng, thất thường, cả thèm chóng chán. Điểm mạnh của họ là khả năng tư duy logic, suy nghĩ nhanh. Với trí tuệ như vậy, họ thích được giao du, kết bạn với những người lớn tuổi hơn mình, hơn là qua lại cùng bạn bè đồng trang lứa.

4. Tai ở vị trí thấp hơn bình thường so với đầu

Những người này có tính cách rất thực tế, chăm chỉ và tham công tiếc việc. Khả năng đồng cảm, sẻ chia của họ rất tốt, vì vậy họ phù hợp hơn cả với công việc liên quan tới sự chăm sóc người khác. Đặc biệt, sở trường của họ là làm việc theo nhóm. Khi ấy, họ điều hòa các thành viên còn lại rất tốt cũng như biết cách vận dụng khả năng của từng người để đạt được kết quả chung hoàn hảo cho tất cả.

>>Đã có VẬN HẠN 2016 mới nhất. Hãy xem ngay, trong năm 2016 vận mệnh bạn như thế nào nhé!

 


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đoán tướng và phúc tướng qua tướng ăn, nói, cười, đi….

Nhận biết tướng thọ yểu –

Theo Ma-y thần tướng Quách Lâm Tông có đưa ra 8 hình tướng nói đến thọ yểu. Ông cho rằng Nhân trung là cung thọ yểu, song chưa đủ xác đáng mà còn phải xem thần khí là chủ nên phải xem xét kỹ thần sắc một người mới có thể nói thọ hay yểu. 1. Thần khí
Nhận biết tướng thọ yểu –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nhận biết tướng thọ yểu –

Những nốt ruồi đào hoa trên cơ thể đàn ông và phụ nữ

Nam giới có tướng nốt ruồi ở môi trên thường sở hữu biệt tài ăn nói khéo léo, biết cách chiều lòng người. Vì thế, đi tới đâu người này cũng được hàng tá cô gái
Những nốt ruồi đào hoa trên cơ thể đàn ông và phụ nữ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

– Đào hoa là một trong những yếu tố khiến đời sống tình cảm của một số người vô cùng phong phú, nhiều màu sắc. Nhưng đào hoa tới mức trăng hoa thì lại là điều không nên. Những tướng nốt ruồi dưới đây sẽ “tố” bản chất lăng nhăng của chủ nhân.

  1. Nốt ruồi trên cơ thể đàn ông   - Nốt ruồi ở chóp mũi: Thông thường đàn ông có nốt ruồi ở mũi có dục vọng cao, tiêu tiền hào phóng. Nếu sắc khí nốt ruồi này không tốt chứng tỏ khả năng “cưa gái” rất tinh vi, tán cô nào cô ấy đổ, thậm chí không ít lần lừa gạt đối phương.  
Nhung not ruoi dao hoa tren co the dan ong va phu nu hinh anh
 
- Nốt ruồi ở môi trên: Nam giới có tướng nốt ruồi ở môi trên thường sở hữu biệt tài ăn nói khéo léo, biết cách chiều lòng người. Vì thế, đi tới đâu người này cũng được hàng tá cô gái vây xung quanh. Anh chàng này không những háo sắc, mà lại còn lăng nhăng, yêu thì nhiều mà hiếm khi xác định chung tình trọn vẹn với một người.

- Nốt ruồi ở khóe miệng: Gặp chàng trai có nốt ruồi ở khóe miệng, quý cô phải hết sức đề phòng. Tránh tình trạng chỉ vì nghe những lời đường mật mà ngã vào lòng họ. Đàn ông có nét tướng cách này rất trăng hoa, tán gái như xiếc, dục vọng “chăn gối” lại cao.
  Bật mí thú vị ít biết về nốt ruồi ở cằm nam giới 4 nốt ruồi trên mặt đàn ông là khắc tinh của vợ Những nốt ruồi trên cơ thể ảnh hưởng trực tiếp tới tài vận
2. Nốt ruồi trên cơ thể phụ nữ
  - Nốt ruồi ở đuôi mắt: Trong mắt cánh mày râu, chủ nhân của tướng nốt ruồi này rất dịu dàng, yểu điệu, nên hay được họ cưng chiều hết mực. Lâu dần, người này sẽ quen với sự cưng chiều ấy, nếu đối phương không đáp ứng được, họ sẽ chuyển sang đối tượng mới.  
Nhung not ruoi dao hoa tren co the dan ong va phu nu hinh anh
 
- Nốt ruồi ở rốn: Đây được coi là nốt ruồi đào hoa. Cô gái có nốt ruồi này được nhiều chàng trai theo đuổi. Đời sống tình cảm vô cùng phong phú, cuộc sống hôn nhân cũng khá hạnh phúc. Tuy nhiên, một số người lại sử dụng thế mạnh đó để “đứng núi này trông núi nọ”, khiến mọi người xung quanh nghi ngờ về sự chung thủy của họ.   - Nốt ruồi trên đường Pháp lệnh: Pháp Lệnh là đường vân chạy từ hai bên cánh mũi xuống tới cằm. Đường này biểu tượng cho tuổi thọ, năng lực chỉ huy và địa vị của con người trong xã hội. Phụ nữ có nốt ruồi trên đường Pháp lệnh đa phần xuất thân trong gia đình có điều kiện kinh tế tốt, tính cách hào phóng, luôn tìm kiếm cảm giác mới lạ và có tính thách thức, mạo hiểm cao. Họ chủ động trong tình yêu, đã yêu ai sẽ chinh phục tới cùng, hiếm khi bỏ cuộc giữa chừng.   - Nốt ruồi ở vị trí sát gần lông mày: Nữ giới có nốt ruồi này tính tình phóng khoáng nhưng cũng khá đa tình. Tình cảm không chuyên nhất, nên phải trải qua khá nhiều mối tình mới tìm được bến đỗ hạnh phúc.

Ngoài ra nốt ruồi ở tai phụ nữ cũng mang nhiều ý nghĩa đến tính cách và vận mệnh.
  Hoàng Lam   8 nét tướng của kẻ gian tà nịnh hót cần tránh xa
Người có kiểu miệng méo, lệch, không cân xứng thì nói 10 câu, 9 câu là giả dối. Nếu có thêm đặc điểm là môi trên quá mỏng tới mức không che kín hàm răng, đây

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những nốt ruồi đào hoa trên cơ thể đàn ông và phụ nữ

Nốt ruồi trên môi nói lên điều gì ở bạn.

Nốt ruồi trên môi nói lên điều gì ở bạn? Đối với nốt ruồi nếu mọc ở một vị trí tốt sẽ mang lại may mắn và tài lộc cho người sở hữu. Tuy nhiên nếu mọc không đúng chỗ thì sẽ mang tới điềm báo xấu cho cuộc sống tương lai của bạn.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nốt ruồi trên môi nói lên điều gì ở bạn? Đối với nốt ruồi nếu mọc ở một vị trí tốt sẽ mang lại may mắn  và tài lộc cho người sở hữu. Tuy nhiên nếu mọc không đúng chỗ thì sẽ mang tới điềm báo xấu cho cuộc sống tương lai của bạn. Vậy nốt ruồi trên môi nói lên điều gì? Cùng Phong thủy số khám phá ý nghĩa nốt ruồi trên môi này nhé.

Nốt ruồi trên môi nói lên điều gì ở bạn.

Nốt ruồi ở môi dưới.

Vị trí nốt ruồi ở môi có ý nghĩa là gì? Nốt ruồi ở môi dưới thể hiện bạn là một người dễ gần, có tác phong làm việc cẩn thận, tỉ mĩ, nên dễ dàng đạt được sự tín nhiệm của cấp trên và đồng nghiệp. Ý nghĩa của nốt ruồi ở môi dưới cũng giống như ý nghĩa của nốt ruồi ở mơi dưới bên trái và nốt ruồi ở môi dưới bên phải.

Về phương diện tình cảm thì người có nốt ruồi ở môi dưới thường khéo léo che đậy tình cảm của mình, thích được người khác chủ động yêu thương. Nhất là đối với những người nữ thì họ hay bị động trong tình cảm, dễ bị bạn trai thất vọng. Họ có thể rung cảm trước một bạn trai thực sự nhưng không thường xuyên bày tỏ tình cảm với đối phương.

Nốt ruồi ở môi trên:

Nếu bạn có nốt ruồi ở môi trên thì có ý nghĩa rằng bạn sẽ không bao giờ rơi vào cảnh nghèo túi, thường xuyên được thưởng thức các món ăn sơn hào hải vị, mà được người khác bao ăn chứ ít khi phải bỏ tiền túi. Ý nghĩa của nốt ruồi ở môi trên cũng giống như nốt ruồi ở các vị trí như: nốt ruồi ở môi trên bên phải, nốt ruồi ở môi trên bên trái đều mang ý nghĩa về tài lộc cho bản thân người sở hữu.

Nhưng về phương diện tình cảm thì theo một số nhà nhân tướng học thì nốt ruồi trên môi ở đàn ông và phụ nữ đều có ý nghĩa là nốt ruồi sắc dục. Người có nốt ruồi ở môi thường dễ bị tranh chấp hay gặp nhiều phiền phức về tình cảm trai gái, hay có những mối tình tay ba, tay bốn. Những người có nốt ruồi ở vị trí này thường có dục vọng rất mạnh, trong tình yêu họ luôn chủ động tìm đến đối tượng hợp với mình, khéo léo bộc lộ tâm tư tình cảm, không thích gò bó trong lễ nghi truyền thống. Tuy đây là một tuýp người yêu nhanh nhưng tan vỡ cũng nhanh, nhưng thường cuối cùng họ lại là đối tượng bị tổn thương nhất.

Trên đây là bài viết tổng hợp các quan niệm về “ nốt ruồi ở môi trên và môi dưới nói lên điều gì” hay “ nốt ruồi ở môi có ý nghĩa gì?”. Để tham khảo những bài viết hữu ích khác, bạn có thể xem thêm tại đây:

+ Nốt ruồi trên môi có ý nghĩa gì?

+ Nốt ruồi ở yết hầu là tốt hay xấu

+ Nốt ruồi ở vai phải có ý nghĩa gì?

Key liên quan: nốt ruồi ở môi, nốt ruồi ở môi dưới, nốt ruồi ở môi trên, nốt ruồi trên môi dưới, bí ẩn nốt ruồi trên môi, nốt ruồi ở môi dưới có ý nghĩa gì, nốt ruồi ở môi trên bên trái, nốt ruồi môi dưới, nốt ruồi son trên môi, nốt ruồi ở môi dưới nói lên điều gì, nốt ruồi môi trên, nốt ruồi ở môi dưới bên trái, nốt ruồi dưới môi, nốt ruồi trên môi trên bên trái, nốt ruồi son ở môi dưới, nốt ruồi trên môi phụ nữ, ý nghĩa nốt ruồi son trên môi, nốt ruồi ở môi trên bên phải, nốt ruồi ở trên môi, nốt ruồi ở môi dưới bên phải, nốt ruồi trên môi trên, nốt ruồi trên môi có ý nghĩa gì, nốt ruồi trên môi đàn ông​


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nốt ruồi trên môi nói lên điều gì ở bạn.

Những loại cây hợp mệnh Kim giúp phát tài phát lộc?

Theo ngũ hành tương sinh thì cây hợp mệnh Kim là những loại cây thuộc hành Kim hoặc hành Thổ. Mệnh Kim hợp cây có màu vàng hoặc hoa màu vàng, màu trắng
Những loại cây hợp mệnh Kim giúp phát tài phát lộc?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Theo thuyết ngũ hành tương sinh thì cây hợp mệnh Kim là những loại cây thuộc hành Kim hoặc hành Thổ, đó là cây có màu vàng hoặc hoa màu vàng, màu trắng, màu bạc...   Mệnh Kim hợp cây gì? Theo phong thủy thì không phải bất cứ loại cây nào cũng có thể trồng được trong không gian ngôi nhà của bạn bởi có những cây sẽ mang lại sinh khí cùng may mắn cho gia chủ nhưng cũng có những cây mang tới những điều không may.    Vì vậy việc lựa chọn cây trồng cần phải được cân nhắc và tìm hiểu kỹ lưỡng. Cân bằng âm dương trong cơ thể mỗi người sẽ mang lại lợi ích lớn nhất không chỉ cho sức khỏe mà còn cho mọi lĩnh vực khác của cuộc sống. Lựa chọn cây xanh đúng với mệnh sẽ giúp cho điều hòa âm dương, khiến cho những người trong gia đình có thể tìm thấy sự tĩnh tại trong tâm hồn.   

1. Nét chung về người mệnh Kim

  Người mệnh Kim có tính cách cứng rắn, mạnh mẽ, độc đoán và đầy tham vọng, họ dốc lòng dốc sức theo đuổi cao vọng. Là những nhà tổ chức giỏi, họ độc lập và vui sướng với thành quả riêng của họ. Tin vào khả năng bản thân nên họ kém linh động mặc dù họ tăng tiến là nhờ vào sự thay đổi. Đây là loại người nghiêm túc và không dễ nhận sự giúp đỡ.      Về màu sắc hợp mệnh Kim, người mệnh Kim hợp với màu sắc thuộc hành Thổ (Thổ sinh Kim) và hành Kim nâu đất, màu vàng sậm, màu ánh kim, màu bạc và màu trắng.   

2. Mệnh Kim hợp cây gì theo ngũ hành?

  Những người mệnh Kim nên trồng cây gì trong nhà? Theo Ngũ hành tương sinh trong phong thủy thì Thổ sinh Kim, vì vậy cây hợp mệnh Kim ngoài các cây thuộc hành Kim ra thì bạn cũng có thể trồng các cây thuộc hành Thổ. Một số cây trồng thuộc hành Kim được nhiều người yêu thích nhất hiện nay có thể kể đến như cây hoa kim ngân, hoa ngọc lan, mễ lan, cửu lý hương, kim bách hợp, hàm tiếu và cây kim quế.    Màu trắng và màu bạc thuộc hành Kim nên có thể chọn các loại cây có hoa trắng như: cây bạch lan, cửu ly hương, trà phúc kiến... Lưu ý là không nên trồng cây có màu đỏ, hoa đỏ vì màu đỏ tượng trưng cho mệnh Hỏa làm suy yếu mệnh Kim.   Màu sắc thuộc hành Thổ là màu vàng, vì thế nên lựa chọn trồng những cây có lá, thân hoặc hoa màu vàng thì sẽ thích hợp nhất như cây hoa mai vàng, cây đỗ quyên, tre thân vàng, cây hoa ngâu, sen đá nâu, cây hoàng liên gai, cây bách Nhật Bản, cây hoa mai vàng, cây tre thân vàng, cây hoa ngâu, cây kim ngân, cây hoa ngọc lan, cây mễ lan, cây cửu lý hương, cây kim bách hợp, cây hàm tiếu, cây kim quế….     Về dáng cây, gia chủ mệnh Kim nên chọn các cây dạng lá kim, cành sắc, nhọn như cây Tùng và nên chọn loại chậu trồng bằng kim loại.   Muốn tăng vận khí của bản thân thì người mệnh Kim nên để 4 hoặc 9 chậu cảnh trong nhà là thích hợp nhất.  

Cây cau Nhật


 
 Rất nhiều người lựa chọn cây cảnh này để trồng trước hiên để mang lại tài lộc vào nhà, đặc biệt là những quý ông thuộc mệnh Kim. Cau Nhật có tác dụng thanh lọc không khí, át chế các nguồn năng lượng xấu, chống độc tố xâm nhập vào nhà, hấp thu các chất độc và biến các chất độc thành nguồn thức ăn chuyển xuống rễ để nuôi sống cây.   

Cây hoa hồng vàng

 
 
 Màu vàng của hoa hồng rất hợp với người mệnh Kim. Những đóa hồng vàng sẽ đem lại niềm vui và may mắn cho người mệnh Kim. Thời gian gần đây, các chị em công sở có thú chơi hoa nhập ngoại nên bạn có thể chọn lựa nhiều giống hoa hồng vàng ngoại nhập có phom dáng đẹp và thơm hương.    

Cây cọ cảnh

 
 
 Cây hợp mạng Kim còn có cây cọ cảnh với những phiến lá lớn hình quạt có tác dụng hấp thụ những độc tố tồn tại trong không gian kín. Cọ cảnh được nhiều bạn trẻ yêu thích bởi dáng vẻ mang nét hiện đại.  

Cây đế vương

 
 
Cây trầu bà đế vương có lá tròn, to, mọc hướng lên… phù hợp theo đặc tính dương trong Kinh dịch (dương, hướng lên, động) là loại cây có lợi cho tài lộc khi đặt trong phòng khách. Cây rất phù hợp cho những người làm lãnh đạo, quản lý… Và đặc biệt rất thích hợp với những người Mệnh Kim.   

Cây Kim ngân  

Nhung loai cay hop menh Kim giup phat tai phat loc hinh anh
 
Kim ngân là một trong những cây phong thủy được nhiều người ưa chuộng nhất, riêng tên của loài cây này (kim ngân – tiền vàng ) đã mang đến ý nghĩa giàu có và may mắn. Nó thường được đặt ở khu vực tốt nhất là gần cửa chính của ngôi nhà.   Cây Kim ngân được cho là có khả năng thu hút sự giàu có và vận may cho gia chủ. Đặc biệt, cây còn có thể thu hút tiền tài bằng cách cân bằng các nguồn năng lượng chi phối tài chính.  

Cây Kim tiền

 
 
 Cây kim tiền là loại cây hợp mệnh Kim. Đây là loài cây rất được ưa chuộng để trồng trong gia đình, cây có thể phát triển tốt nơi ánh sáng thấp, râm mát, không cần tưới nước thường xuyên và đặc biệt có biệt tài thanh lọc không khí, loại bỏ khói bụi, khí độc. Cây càng vươn cao, càng nảy chồi non càng nhiều may mắn. Đặc biệt, nếu cây Kim tiền nhà bạn ra hoa thì đó là dấu hiệu của sự may mắn. Chiêu tài khai vận với cây kim tiền không hề có chút nào!    HaTra Màu sắc phù hợp nhất với người mệnh Kim Góc trắng tinh khôi cho chủ nhà mệnh Kim Những mẫu phòng ngủ hút mắt cho riêng người mệnh Kim
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những loại cây hợp mệnh Kim giúp phát tài phát lộc?

Những lỗi phong thủy phòng ngủ gây mất ngủ và cách cải thiện

Nhiều người ngủ không ngon giấc, mất ngủ không rõ nguyên do. Hãy xem lại phong thủy phòng ngủ nhà bạn có mắc phải những lỗi dưới đây hay không.
Những lỗi phong thủy phòng ngủ gây mất ngủ và cách cải thiện

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nhiều người ngủ không ngon giấc, mất ngủ không rõ nguyên do. Hãy xem lại phong thủy phòng ngủ nhà bạn có mắc phải những lỗi dưới đây hay không, nếu có thì cần cải thiện ngay để lấy lại những giấc ngủ ngon.

Nhung loi phong thuy phong ngu gay mat ngu va cach cai thien
 
Lỗi phong thủy phòng ngủ ảnh hưởng tới chất lượng giấc ngủ rất nhiều, chú ý 6 tình huống sau:  

1. Phòng ngủ quá lớn
 

Phong thủy phòng ngủ cho rằng, phòng ngủ chỉ nên có diện tích vừa phải, phòng quá lớn khiến người ta không có cảm giác an toàn, giấc ngủ tự nhiên không thoải mái, không ngon giấc.   

2. Trần nhà cao, mái nghiêng hoặc cửa sổ ở mái nhà

  Khi nằm ở trên giường mà phát hiện khoảng cách giữa giường và trần nhà quá cao hoặc giường đối diện cửa sổ trên mái nhà thì chắc chắn chất lượng giấc ngủ sẽ bị ảnh hưởng, thường xuyên mất ngủ, ngủ chập chờn, không tròn giấc. 
Xem thêm bài viết Những lỗi phong thủy phòng ngủ khiến vợ chồng không hòa hợp

3. Phòng ngủ quá sáng hoặc quá tối

  Hiện nay nhiều người thích phòng ngủ có một mặt là cửa kính lớn để tạo cảm giác thoáng đãng, sáng sủa nhưng đó lại là một trong những lỗi phong thủy phòng ngủ khiến chủ nhân bị mất ngủ. Phòng thu hút quá nhiều ánh sáng, bên ngoài cửa sổ phòng ngủ có đèn thì khó ngủ là chuyện dễ hiểu.   Ngược lại, phòng không có cửa sổ hoặc cửa sổ quá nhỏ, sau khi tắt đèn phòng rơi vào trạng trái tuyệt đối âm u cũng không hề cát lợi, có cảm giác mình đang nằm trong phần mộ, âm thầm sợ hãi mà ngủ không ngon. 

4. Phía trên treo đèn nhọn

  Trần nhà treo đèn chùm không phải trường hợp hiếm nhưng tuyệt đối không nên treo những loại có hình nhọn bởi chúng sẽ sản sinh ra sát khí, ảnh hưởng tới thân thể. Đen chiếu thẳng xuống vị trí nào khi nằm ngủ thì vị trí đó sẽ xuất hiện bệnh tật, hung hiểm nhất là phần đầu. 
 

5. Giường bốn phía có xung sát

  Bốn phía quanh giường mà phạm các tình huống: đối diện cửa, dựa lưng vào bồn cầu hoặc kệ bếp, đầu giường có xà ngang áp đỉnh hoặc điều hòa không khí chèn ép, đầu giường hướng ra cửa, đầu giường quay về phía nhà vệ sinh,… đều sản sinh ra sát khí rất có hại cho người nằm ngủ. 
Xem thêm bài viết Phong thủy phòng ngủ: Có nên lắp đặt điều hòa ở đầu giường?

6. Dưới gầm giường có thiết bị điện hoặc đồ vật sắc nhọn

  Dưới gầm giường không nên cất giữ dao kéo, công cụ bằng sắt, thiết bị điện có , vi lượng phóng xạ  (như màn hình, ti vi, đồ điện cũ) các loại. Với phòng ngủ của thai phụ thì điều này lại càng cấm kị vì rất có hại cho sức khỏe của chủ nhân.   Để cải thiện phong thủy phòng ngủ, nâng cao chất lượng giấc ngủ, có thể áp dụng một số biện pháp:
loi phong thuy phong ngu
 
Ở phòng ngủ bày đan diện bát quái, Tề Thiên đại thánh, cây bầu trấn trạch trừ tà, tháp Văn Xương và phù bình an có tác dụng hóa giải những lỗi phong thủy kể trên đồng thời tăng thêm sự mạnh mẽ về tinh thần giúp chủ nhân có giấc ngủ ngon.   Đan diện bát quái: bát quái là Thần Hộ Mệnh của vạn vật, là vật phong thủy phù hộ tử tôn thịnh vượng. Có thể nghênh tường hưởng phúc, khử ôn khu dịch, lại có thể hóa giải sát khí, thu nạp tụ tài.   Tề Thiên đại thánh: Thần thông quảng đại, hàng yêu trừ ma, hóa tai thành tường.   Cây bầu trấn trạch trừ tà: cây bầu có tác dụng thu nhập sát khí, hình dáng dưới to trên nhỏ, sát khi dễ vào mà khó ra. Khi gặp cục diện phong thủy bế tắc, lỗi phong thủy xà ngang áp đỉnh, đường xung hay hình sát thì dùng cây bày có thể giải hung hiểm.    Phòng ngủ mà mở cửa sổ ra thấy bệnh viện, nhà tang lễ, nghĩa trang, miếu thờ, nhà tù, bãi rác, tầng hầm, bãi đậu xe,… thì đối với sức khỏe và tâm trạng có ảnh hưởng tiêu cực. Phương pháp giải quyết là treo cây bầu phong thủy ở cửa sổ, chặn đứng mọi sát khí.    Tháp Văn Xương: Tháp Văn Xương là gió trong, pháp khí nên bày ở Văn Xương Vị để thúc đẩy sự nghiệp, học nghiệp, mang tới hanh thông trong công việc và thi cử. Đặc biệt là đối với nhân viên văn phòng, có thể tăng cao hiệu suất công tác, giúp sự nghiệp tiến bộ, công thành danh toại; đối với cùng trẻ nhỏ cũng trợ giúp rất lớn, tập trung ý chí, kết quả học tập tăng nhanh như gió. Bày trong phòng ngủ vừa tăng may lại hóa giải những khí xấu, mang tới giấc ngủ trọn vẹn, bảo vệ sức khỏe và tinh thần. 
Tất tật những điều cần biết để bố trí phòng ngủ chuẩn phong thủy Lưu ý cần biết về phong thủy phòng ngủ khi có người qua đời Cách trang trí phòng ngủ đẹp, hợp phong thủy
Thái Vân
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những lỗi phong thủy phòng ngủ gây mất ngủ và cách cải thiện

Ý nghĩa sao Bát Tọa - Là sao cát tinh chủ sự tốt lành

Tam Thai, Bát Tọa, Mộ: Đây là cách gọi là Mộ trung Bát Tọa, chủ sự quý hiển làm nên, nhất là tọa thủ ở bốn cung Tứ Mộ là Thìn, Tuất, Sửu, Mùi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Ý nghĩa sao Bát Tọa - Là sao cát tinh chủ sự tốt lành

Ý nghĩa sao Bát Tọa - Là sao cát tinh chủ sự tốt lành

Hành: Mộc

Loại: Cát Tinh

Đặc Tính: Khoan hòa, bệ vệ, học hành, khoa giáp, quý hiển, tốt lành

Tên gọi tắt thường gặp: Tọa

Là một phụ tinh. Thuộc bộ sao đôi Tam Thai và Bát Tọa. Gọi tắt là bộ sao Thai Tọa. Phân loại theo tính chất là Đài Các Tinh.

Ý Nghĩa sao Bát Tọa Ở Cung Mệnh:

Tướng Mạo: Bát Tọa là cằm, phần hạ đỉnh trên tướng mặt.

Tính Tình: Bát Tọa ở Mệnh là người khôn ngoan, phúc hậu, thích thanh nhàn.

Ý Nghĩa sao Bát Tọa Với Các Sao:

Tam Thai, Bát Tọa, Mộ: Đây là cách gọi là Mộ trung Bát Tọa, chủ sự quý hiển làm nên, nhất là khi cả ba sao được tọa thủ ở bốn cung Tứ Mộ là Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Cách này ở cung Mệnh hay cung Quan là thích hợp.

Sao Tam Thai, sao Bát Tọa, sao Đào Hoa: Nếu ở cung Quan thì tài đắc quan từ lúc tuổi trẻ, ra làm việc sớm. Việc tiếp giáp Thai, Tọa cũng tốt như Thai Tọa tọa thủ.

Ý Nghĩa sao Bát Tọa Ở Cung Phụ Mẫu:

Cha mẹ danh giá, có tiếng.

Ý Nghĩa Bát Tọa Ở Cung Phúc Đức:

Được hưởng phúc, họ hàng đông người, danh giá, có người làm nên sự nghiệp.

Ý Nghĩa Bát Tọa Ở Cung Điền Trạch:

Gia tăng sự thuận lợi về mưu cầu nhà cửa.

Ý Nghĩa Bát Tọa Ở Cung Quan Lộc:

Gia tăng sự thuận lợi về mưu cầu công danh, thi cử, chức vụ, học hành.

Ý Nghĩa Bát Tọa Ở Cung Nô Bộc:

Bè bạn đông đảo, và có danh chức.

Ý Nghĩa Bát Tọa Ở Cung Thiên Di:

Ra ngoài có oai phong.

Được người mến chuộng.

Có quý nhân giúp đỡ.

Ý Nghĩa Bát Tọa Ở Cung Tật Ách:

Giải trừ được tai nạn, bệnh tật nhỏ.

Ý Nghĩa Bát Tọa Ở Cung Tài Bạch:

Gia tăng sự thuận lợi, dễ dàng khi mưu cầu về tiền bạc, lợi lộc, có quý nhân giúp đỡ.

Ý Nghĩa Bát Tọa Ở Cung Tử Tức:

Gia tăng số lượng con cái, con cái có công danh sớm.

Ý Nghĩa Bát Tọa Ở Cung Phu Thê:

Người hôn phối danh giá, có tài năng.

Ý Nghĩa Bát Tọa Ở Cung Huynh Đệ:

Gia tăng số lượng anh chị em, có người danh giá, làm nên sự nghiệp.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Ý nghĩa sao Bát Tọa - Là sao cát tinh chủ sự tốt lành

Xem tuổi có hợp với số điện thoại không –

Ngày nay khi chiếc điện thoại đã gần như không thể thiếu trong cuộc sống của chúng ta thì việc chọn một sim số đẹp và hợp tuổi của bạn cũng không đơn giản chút nào. Như thế nào là một sim số đẹp, làm thế nào để chọn được một sim số đẹp hợp tuổi phong

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

thủy tốt để mang lại sự may mắn tài lộc trong cuộc sống chúng ta ?

Dựa trên nguyên lý của 64 Quẻ Khí Kinh Dịch, các con số được tính toán trong Tổng hòa của cả một dãy số chứ không riêng gì 1 vài con số.

Với mỗi Mệnh đều có những Quẻ khí Đặc trưng bao hàm Ý nghĩa và Giá trị khác nhau sử dụng với mục đích khác nhau. Tuy nhiên, nó đều được nằm trong 1 quy luật hết sức chặt chẽ.

– Một Sim số hợp phong thủy phải hội đủ các yếu tố như sau:
+ Một Sim số có phong thủy tốt phải là con số Cân bằng Âm Dương
+ Một Sim số tốt phải là con số Tương Sinh giữa Ngũ hành của Dãy Số với Ngũ hành của Người Sử dụng
+ Một Sim số tốt phải là con số chứa Vượng khí, may mắn, tốt lành, đại cát
+ Một Sim số tốt phải có Quái khí hàm chứa các yếu tố tương hỗ cho Người dùng, ứng với Quẻ khí mang điềm Cát ( Cát tường)..

xem phong thuy 12 con giap

 

Một số quẻ tốt xấu ứng với bản mệnh

– Người Mệnh Mộc nên dùng số có Quẻ khí: Phong Lôi Ích, Bát Thuần Chấn, Sơn Lôi Di.
Mạng Mộc gồm có các tuổi: Nhâm Ngọ1942 & Quý Mùi1943; Canh Dần1950 & Tân Mão1951; Mậu Tuất1958 & Kỷ Hợi1959; Nhâm Tý1972 & Quý Sửu1973; Canh Thân 1980 & Tân Dậu1981; Mậu Thìn1988 & Kỷ Tỵ1989.

– Người Mệnh Hỏa nên dùng số có Quẻ khí: Bát Thuần Tốn, Lôi Phong Hằng, Thiên Phong Cấu, Lôi Thủy Giải, Hỏa Phong Đỉnh…

Mạng Hỏa gồm có các tuổi:Giáp Tuất 1934 & Ất Hợi 1935; Mậu Tý 1948 & Kỷ Sửu 1949; Bính Thân 1956 & Đinh Dậu 1957; Giáp Thìn 1964 & Ất Tỵ 1965; Mậu Ngọ 1978 & Kỷ Mùi 1979; Bính Dần 1986 & Đinh Mão 1987.

– Người Mệnh Kim nên dùng số có Quẻ khí: Phong Sơn Tiệm, Sơn Trạch Tổn, Thủy Sơn Kiểm, Bát Thuần Đoài…

Mạng Kim, gồm có các tuổi: Nhâm Thân 1932 & Quý Dậu 1933; Canh Thìn 1940 & Tân Tỵ 1941; Giáp Ngọ 1954 & Ất Mùi 1955; Nhâm Dần 1962 & Quý Mão 1963; Canh Tuất 1970 & Tân Hợi 1971; Giáp Tý 1984 & Ất Sửu 1985.

– Người Mệnh Thổ nên dùng số có Quẻ khí: Trạch Hóa Cách, Phong Hỏa Gia Nhân, Lôi Hỏa Phong, Sơn Hỏa Bỉ.

Mạng Thổ gồm có các tuổi: Mậu Dần 1938 & Kỷ Mão 1939; Bính Tuất 1946 & Đinh Hợi 1947; Canh Tý 1960 & Tân Sửu 1961; Mậu Thân 1968 & Kỷ Dậu 1969; Bính Thìn 1976 & Đinh Tỵ 1977; Canh Ngọ 1990 & Tân Mùi 1991.

– Người Mệnh Thủy nên dùng số có Quẻ khí: Trạch Địa Tụy, Sơn Thiên Đại Súc, Lôi Thiên Đại Tráng…

Mạng Thủy gồm có các tuổi: Bính Tý 1936 & Đinh Sửu 1937; Giáp Thân 1944 & Ất Dậu 1945; Nhâm Thìn 1952 & Quý Tỵ 1953; Bính Ngọ 1966 & Đinh Mùi 1967; Giáp Dần 1974 & Ất Mão 1975; Nhâm Tuất 1982 & Quý Hợi 1983.

Dưới đây cách chọn phong thủy số điện thoại đẹp hợp tuổi – theo mệnh

Ví dụ: Người tuổi mạng Mộc hợp nhất số điện thoại có số cuối là 1, vì Thủy (1) sinh Mộc là quan hệ tương sinh.

Ngược lại: người tuổi mạng Mộc không hợp với số có số cuối là 6,7, vì Kim(6,7) khắc Mộc: quan hệ tương khắc.

Năm sinh (âm lịch) Từ tháng năm đến tháng năm (theo dương lịch) Cung Mạng Nên lựa số có số tận cùng:
Năm
Sinh
Tuổi T: tương sinh C: cùng cung mạng
1975 ẤT MÃO 11/02/1975  -> 30/01/1976 THỦY T:6,7; C: 1
1976 BÍNH THÌN 31/01/1976  -> 17/02/1977 THỔ T: 9: C: 0,2,5,8
1977 ĐINH TỴ 18/02/1977  -> 06/02/1978 THỔ T: 9; C: 0,2,5,8
1978 MẬU NGỌ 07/02/1978  -> 27/01/1979 HỎA T: 3,4; C: 9
1979 KỶ MÙI 28/01/1979  -> 15/02/1980 HỎA T: 3,4; C: 9
1980 CANH THÂN 16/02/1980  -> 04/02/1981 MỘC T:1 C:3,4
1981 TÂN DẬU 05/02/1981  -> 24/01/1982 MỘC T:1 C:3,4
1982 NHÂM TUẤT 25/01/1982  -> 12/02/1983 THỦY T:6,7; C: 1
1983 QUÝ HỢI 13/02/1983  -> 01/02/1984 THỦY T:6,7; C: 1
1984 GIÁP TÝ 02/02/1984  -> 19/02/1985 KIM T: 0,2,5,8 ; C: 6,7
1985 ẤT SỬU 20/02/1985  -> 08/02/1986 KIM T: 0,2,5,8 ; C: 6,7
1986 BÍNH DẦN 09/02/1986  -> 28/01/1987 HỎA T: 3,4; C: 9
1987 ĐINH MÃO 29/01/1987  -> 16/02/1988 HỎA T: 3,4; C: 9
1988 MẬU THÌN 17/02/1988  -> 05/02/1989 MỘC T:1 C:3,4
1989 KỶ TỴ 06/02/1989  -> 26/01/1990 MỘC T:1 C:3,4
1990 CANH NGỌ 27/01/1990  -> 14/02/1991 THỔ T: 9: C: 0,2,5,8
1991 TÂN MÙI 15/02/1991  -> 03/02/1992 THỔ T: 9; C: 0,2,5,8
1992 NHÂM THÂN 04/02/1992  -> 22/01/1993 KIM T: 0,2,5,8 ; C: 6,7
1993 QUÝ DẬU 23/01/1993  -> 09/02/1994 KIM T: 0,2,5,8 ; C: 6,7
1994 GIÁP TUẤT 10/02/1994  -> 30/01/1995 HỎA T: 3,4; C: 9
1995 ẤT DẬU 31/01/1995  -> 18/02/1996 HỎA T: 3,4; C: 9
1996 BÍNH TÝ 19/02/1996  -> 06/02/1997 THỦY T:6,7; C: 1
1997 ĐINH SỬU 07/02/1997  -> 27/01/1998 THỦY T:6,7; C: 1
1998 MẬU DẦN 28/01/1998  -> 15/02/1999 THỔ T: 9: C: 0,2,5,8
1999 KỶ MÃO 16/02/1999  -> 04/02/2000 THỔ T: 9; C: 0,2,5,8
2000 CANH THÌN 05/02/2000  -> 23/01/2001 KIM T: 0,2,5,8 ; C: 6,7
2001 TÂN TỴ 24/01/2001  -> 11/02/2002 KIM T: 0,2,5,8 ; C: 6,7
2002 NHÂM NGỌ 12/02/2002  -> 31/01/2003 MỘC T:1 C:3,4
2003 QÚY MÙI 01/02/2003  -> 21/01/2004 MỘC T:1 C:3,4


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tuổi có hợp với số điện thoại không –

Liệu Hari Won và Trấn Thành có phải cặp đôi hoàn hảo?

Đám cưới cặp đôi Hari Won và Trấn Thành trong thời gian vừa qua đã tốn không ít giấy mực của báo chí, liệu sự kết hợp giữa Bảo Bình và Cự Giải có hoàn hảo?
Liệu Hari Won và Trấn Thành có phải cặp đôi hoàn hảo?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


► Cùng bói cung hoàng đạo để tìm những điều thú vị về bạn

Lieu Hari Won va Tran Thanh co phai cap doi hoan hao hinh anh
Sự kết hợp giữa Bảo Bình thông minh...

 

Trấn Thành - Chàng trai Bảo Bình đa tài

  Sinh vào ngày 5/2, Trấn Thành là một chàng trai Bảo Bình điển hình với trí thông minh sáng tạo, ngôn ngữ linh hoạt, tư duy nhạy bén và rất lý trí. Điều này dễ nhận thấy trong các vai diễn của Trấn Thành, ngay cả khi ứng biến trên sân khấu, chàng trai này luôn khiến cho khán giả cười nghiêng ngả với những màn đáp trả bạn diễn duyên dáng và khéo léo.
 
Mặt trời Bảo Bình luôn mang một tinh thần tự do, phóng khoáng, đôi khi còn có chút lập dị và luôn muốn được tỏa sáng và được thật nhiều người biết đến.
 
Với Mặt Trăng Kim Ngưu (hành tinh thể hiện cảm xúc, nội tâm bên trong), cho thấy Trấn Thành có năng khiếu nghệ thuật bẩm sinh, trong cuộc sống khá điềm tĩnh, quan tâm mọi người với trái tim nồng ấm. Trên các sân khấu hài hay trong các chương trình truyền hình, bên cạnh một Trấn Thành tưng tửng nhí nhố, còn là một Trấn Thành rất dễ mau nước mắt trước một tiểu phẩm hay, xúc động trước một hoàn cảnh nào đó đáng thương, đặc biệt.  

 

Hari Won - Cô nàng Cự Giải đa cảm

  Sinh vào ngày 23/6, Hari Won là cô nàng Cự Giải cẩn trọng, nhạy cảm, tốt bụng, biết quan tâm đến cảm xúc và giúp đỡ mọi người. Cô nàng Cự Giải luôn mong muốn được sống trong một môi trường gia đình ổn định, tủ đầy thức ăn và được sống gần những người mà cô nàng quan tâm như một gia đình.
 
Điểm yếu của cô nàng chính là tính tình hay thay đổi, quá nhạy cảm, mong manh dễ vỡ và thường hay lo lắng đến mức thái quá. Điều này luôn khiến cho cô nàng Cự Giải luôn có nhu cầu về một cuộc sống yên ổn và an toàn.
 
Với Mặt Trăng nằm ở cung Sư Tử, Hari Won rất hào phóng, độc lập, vui vẻ nhưng nhạy cảm đến mức dễ cảm thấy bị xúc phạm. Chỉ cần có ai đó tỏ thái độ hay một hành động nào đó vô tâm một chút là có thể khiến cô ấy bị tổn thương.
 
Cô nàng cũng có nhiều vận may trong chuyện tiền bạc, có thể là do được thừa kế hay qua hôn nhân. Cô cũng có một con mắt thẩm mỹ tinh tường, đam mê đàn hát và rất mê ăn uống. Do vậy, lúc nào cũng trong tình trạng bị thừa cân. Con đường tình yêu không trải hoa hồng   Mặt Trời Bảo Bình và Mặt Trời Cự Giải không có nhiều điểm chung, nhưng nằm ở vị trí cặp 1- 6 (vị trí gần đối đỉnh) nên sẽ tạo nhiều tò mò cho nhau, dễ thu hút nhau không vì bất kỳ một lý do gì cả. Khi quyết định tiến tới một mối quan hệ, sự kết hợp giữa cung Nước và cung Khí không mấy hòa hợp khiến cặp đôi này có thể sẽ gặp phải một vài thách thức.
 
Mặt trăng Kim Ngưu và Mặt Trăng Sư Tử nằm ở góc 1 - 4, góc cản trở, do vậy cặp đôi này thường không hợp nhau về mặt cảm xúc.
 
Sự lạnh lùng đầy ý chí của Bảo Bình sẽ khiến cho một Cự Giải đa cảm luôn khát khao tình cảm thấy buồn. Bảo Bình đề cao thực tế còn Cự Giải chỉ tin vào bản năng và đề cao trực giác, do vậy nếu có đến với nhau, yêu nhau, sớm hay muộn mâu thuẫn cũng sẽ xảy ra.
Lieu Hari Won va Tran Thanh co phai cap doi hoan hao hinh anh
... và Cự Giải đa cảm xúc

 
Trấn Thành có sao Kim (hành tinh chủ quản của tình yêu) nằm ở cung Ma Kết. Điều này cho thấy Trấn Thành không phải là một chàng trai đào hoa hay lăng nhăng. Chỉ có điều, sự hoạt ngôn và phương thức biểu đạt và cách nói chuyện của Trần Thành lại thường khá ngọt ngào, nhất là với phái nữ nên khiến rất nhiều cô nàng lầm tưởng và mơ mộng. Anh chàng sẽ bất chấp tất cả để theo đuổi người mà anh ta ưng ý.
 
Hari Won có sao Kim ở cung Kim Ngưu, điều này cho thấy cô nàng còn là người trìu mến và lãng mạn, không yêu bốc đồng, thiên về tình cảm hơn là và rất trung thành với người mình yêu. Một mối tình tan vỡ sẽ có tác động nặng nề đến tình cảm của cô, vì vậy, cô nàng thường mất khá nhiều thời gian để có thể lựa chọn cho mình một người yêu hợp lý.
 
Ma Kết và Kim Ngưu nằm ở góc hòa hợp (góc 1 - 5) do vậy cách yêu của hai người này khá hòa hợp: Cự Giải nhạy cảm sẽ có cảm giác như được che chở bởi một Bảo Bình có trái tim nồng ấm;
 
Sự thay đổi tâm trạng liên tục của Cự Giải đôi khi khiến Bảo Bình cảm thấy khó khăn, nhưng dần dần Bảo Bình sẽ học được cách xử lý nó, bởi Bảo Bình có khả năng thích ứng linh hoạt;
 
Sự hoạt ngôn của Bảo Bình cùng cách thể hiện khéo léo sẽ tác động đến Cự Giải, có thể khiến cô nàng bớt suy nghĩ và lo âu...   Tuy nhiên, mối quan hệ này cũng tiềm ẩn nhiều xung đột. Sự lo lắng thái quá của Cự Giải thường khiến Bảo Bình mệt mỏi. Mặc dù đã cố gắng điềm tĩnh để giải quyết nhưng đến một lúc nào đó Bảo Bình khó kiềm chế được mình. Bảo Bình tuy không muốn can thiệp quá sâu vào đời tư của Cự Giải, nhưng những câu hỏi anh ta đặt ra liên tiếp cũng khiến Cự Giải có cảm giác như bị quấy rầy.
 
Nhìn chung, mối quan hệ của họ không phải là con đường trải đầy hoa hồng. Cách tốt nhất để giảm thiểu sự khác biệt là phải tham gia vào tất cả mọi hoạt động, sở thích của nhau. Để có một mối quan hệ lâu dài, tình yêu của họ phải luôn được vun đắp bằng tình thương yêu và sự tôn trọng nhau một cách tuyệt đối.
 
Điều đặc biệt là Tiến Đạt - người cũ của Hari Won cũng là chàng trai cung Bảo Bình. Điều này đủ thấy, Bảo Bình và Cự Giải luôn có sức hút với nhau, tuy nhiên để đi đến cuối con đường thì phải để tương lai trả lời.
 
Tóm lại những phân tích trên chỉ là để các Cự Giải và Bảo Bình tham khảo, đối chiếu với chính mình, không có gì phải lo lắng cả. Mọi thứ đều có vị trí của nó, nhưng nếu bạn không biết vị trí nào mới đúng, vậy thì nghĩ ngợi nhiều làm gì, cứ để tự nhiên sắp đặt đi. Chuyện của Hari Won và Trấn Thành cũng vậy!  
ST.
3 chòm sao đã lên kế hoạch cực hay cho năm 2017 rực rỡ Top 3 chòm sao thăng chức tăng lương nhanh nhất năm 2017 Đi tìm một nửa phù hợp nhất với cô nàng Bạch Dương (Phần 1)

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Liệu Hari Won và Trấn Thành có phải cặp đôi hoàn hảo?

Làm sao để đặt tên con theo tuổi, hợp mệnh

Ngoài ý nghĩa tên theo vần, bạn có thể xem tuổi và bản mệnh của con để đặt tên cho phù hợp. Tên hay và hợp tuổi, mệnh sẽ đem lại nhiều điều tốt đẹp cho con

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Ngoài ý nghĩa tên theo vần, bạn có thể xem tuổi và bản mệnh của con để đặt tên cho phù hợp. Một cái tên hay và hợp tuổi, mệnh sẽ đem lại nhiều điều tốt đẹp cho con bạn trong suốt đường đời. Bạn có thể tham khảo cách đặt tên con theo tuổi, theo bản mệnh.

dat-ten-con-theo-tuoi,-hop-menh

Đặt tên cho con theo tuổi

Để đặt tên theo tuổi, bạn cần xem xét tuổi Tam Hợp với con bạn. Những con giáp hợp với nhau như sau:

Thân – Tí – Thìn
Tỵ – Dậu – Sửu
Hợi – Mão – Mùi
Dần – Ngọ – Tuất
Dựa trên những con giáp phù hợp bạn có thể chọn tên có ý nghĩa đẹp và gắn với con giáp Tam Hợp.

Ngoài ra cần phải tránh Tứ Hành Xung:

Tí – Dậu – Mão – Ngọ
Thìn – Tuất – Sửu – Mùi
Dần – Thân – Tỵ – Hợi

Đặt tên cho con theo bản mệnh

Bản mệnh được xem xét dựa theo lá số tử vi và theo năm sinh, tùy theo bản mệnh của con bạn có thể đặt tên phù hợp theo nguyên tắc Ngũ Hành tương sinh tương khắc. Dựa theo Tử Vi, các tuổi tương ứng sẽ như sau:

Thìn, Tuất, Sửu, Mùi cung Thổ
Dần, Mão cung Mộc
Tỵ, Ngọ cung Hỏa
Thân, Dậu cung Kim
Tí, Hợi cung Thủy

Bạn có thể kết hợp theo từng năm sinh để lựa chọn tên theo bản mệnh phù hợp nhất, ví dụ:

Canh Dần (2010), Tân Mão (2011): Tòng Bá Mộc (cây tòng, cây bá)

Nhâm Thìn (2012), Quý Tỵ (2013): Trường Lưu Thủy (nước chảy dài)

Giáp Ngọ (2014), Ất Mùi (2015): Sa Trung Kim (vàng trong cát)

Bính Thân (2016), Đinh Dậu (2017): Sơn Hạ Hỏa (lửa dưới núi)

Mậu Tuất (2018), Kỷ Hợi (2019): Bình Địa Mộc (cây mọc đất bằng)

Như vậy, nếu con bạn mệnh Mộc thì bạn có thể chọn tên liên quan tới Thủy (nước), Mộc (cây) hay Hỏa (lửa) để đặt tên cho con bởi Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa… Các tuổi khác cũng tương tự, dựa vào Ngũ Hành tương sinh, tránh tương khắc sẽ giúp mọi sự hạnh thông, vạn sự như ý.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Làm sao để đặt tên con theo tuổi, hợp mệnh

Đeo tất chân phong thủy sai cách, cẩn thận xui xẻo ập tới

Đeo tất chân phong thủy sai cách, chủ nhân sẽ không ngờ tới những xui xẻo mà mình gặp phải, đặc biệt là về sức khỏe.
Đeo tất chân phong thủy sai cách, cẩn thận xui xẻo ập tới

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

– Một đôi tất (vớ) nhỏ xíu nhưng nếu bạn không biết cách phối hợp sao cho hài hòa về mặt phong thủy, e rằng xui xẻo sẽ gõ cửa nhà bạn lúc nào không hay.



1. Đeo tất chân ngược mùa

Không ít trường hợp thích đeo tất chân kiểu ngược mùa. Mùa hè nóng bức lại thích sính những đôi tất dạy dặn, mùa đông lạnh giá lại chỉ mang theo những chiếc tất mỏng tang. Điều này ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe của bạn, dễ dẫn tới những bệnh liên quan đến hệ thống bài tiết của da như viêm lỗ chân lông, nổi mụn, mẩn ngứa...

Tất nhiên, khi sức khỏe của bạn không được đảm bảo thì dù cho có tìm cách “chấn phong thủy” tới mức nào đi nữa cũng không ăn thua. Vì thế, đeo tất chân phong thủy phải hết sức lưu ý điều này.

Deo tat chan phong thuy sai cach, can than xui xeo ap toi  hinh anh
 
2. Đeo tất kiểu ngược giới tính


Những cô nàng thích phong cách tomboy thích sính những kiểu tất của nam giới để “đồng bộ hóa” phong cách của mình, âu cũng là chuyện thường tình.

Trong phong thủy, điều này cũng ảnh hưởng không nhỏ tới tình cảm, cách suy nghĩ của cá nhân mỗi người. Vì thế, nên tránh chọn tất không phù hợp với giới tính của mình để không phải rơi vào những tình trạng dở khóc dở cười, không tốt về mặt tinh thần.

Đeo tất chân sai cách, cẩn thận xui xẻo ập tới (P2)
– Xét theo góc độ phong thủy, khi đi tất có màu không phù hợp bản mệnh còn ảnh hưởng tới vận thế của bạn, dễ có kẻ tiểu nhân đeo bám, tìm
3. Đi tất cọc cạch nhằm mục đích chơi trội


Một số bạn có sở thích khá dị, đi tất cọc cạch, mỗi bên chân một kiểu dáng hay màu sắc tất khác nhau. Hành động này vô hình chung ảnh hưởng tới tài vận của chủ nhân, dễ gây ra hiện tượng phá tài, rơi rớt tài lộc.

Về tình cảm, cách đi tất này cũng có thể tạo ra đào hoa sát, khiến bạn dễ vướng vào những mối quan hệ rắc rối.

Deo tat chan phong thuy sai cach, can than xui xeo ap toi  hinh anh 2
 
4. Đi tất rách lỗ chỗ


Tất rách lỗ chỗ được các bạn trẻ cho rằng là thời trang, là “mốt”. Nhưng trong phong thủy, nó lại gây điều bất lợi cho tình cảm lứa đôi. Bạn sẽ có cảm giác tình yêu gặp trở ngại, khó được viên mãn, tròn đầy.

Vì thế, nếu đôi tất đã rách, bạn nên thay mới càng sớm càng tốt, để tinh thần luôn trong trạng thái vui vẻ, từ đó tình cảm ắt thăng hoa.

5. Đi tất second-hand

Cũng giống như đồ lót, đi tất của người khác, tất đã qua sử dụng sẽ không mang lại vận khí tốt lành cho bạn.

Nếu đã có người yêu hoặc đã lập gia đình, tình cảm lứa đôi gặp không ít trục trặc. Đi tất second-hand sẽ thu hút đào hoa sát, khiến bạn dễ dàng vướng vào những mối quan hệ phức tạp, tìm mãi không có lối thoát.

Bên cạnh đó, bạn cũng không nên cho người khác tất cũ hoặc bản thân mình đã dùng qua, kẻo sẽ liên lụy tới chính bản thân mình và người khác.

(Còn nữa)

Hoàng Lam

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đeo tất chân phong thủy sai cách, cẩn thận xui xẻo ập tới

Phu nữ có nét tướng này đảm bảo đàn ông chết mê chết mệt

Khi chọn người phụ nữ cho cuộc đời, người đàn ông thường có một số tiêu chí nhất định. Dưới đây là một số đặc điểm ở phụ nữ đàn ông rất thích.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Mặt tròn phúc hậu

Theo quan niệm của dân gian, những người có khuôn mặt tròn thường là người phúc hậu, đoan trang, biết kính trên nhường dưới khiến không khí gia đình yên ấm hòa thuận. Với đa số đàn ông đây là yếu tố đầu tiên đảm bảo cho hạnh phúc gia đình. Đặc biệt với những người phụ nữ có gương mặt tròn và làn da trắng hồng được cho là người phụ nữ rất vượng về đường con cái. Việc sinh nở và nuôi dạy con cái rất khéo léo. Vì vậy những cô gái có gương mặt tròn thường được đàn ông săn đón.

Ánh mắt trong sáng

Một người phụ nữ có ánh mắt trong sáng luôn thu hút đàn ông. Những người phụ nữ có đôi mắt này thường có thần, có khát vọng, tính tình hiền dịu, nói chung, đàn ông thường chết mê người phụ nữ có đôi mắt như thế.

Ảnh minh họa

Hàm răng trắng và đều

Theo quan điểm nhân tướng học, đa phần nữ giới sở hữu hàm răng trắng ngọc ngà và đều tăm tắp thường có năng lực tiết chế cảm xúc bản thân rất tốt.

Thêm nữa, người này còn rất biết cách quản lý tài chính. Lúc chưa kết hôn, biết cách tiêu tiền để tận hưởng cuộc sống, sao cho xứng đáng với công sức mình bỏ ra. Sau khi lập gia đình, họ có thể kiểm soát được ham muốn bản thân, mua sắm những đồ thiết yếu, không bao giờ xa hoa, lãng phí.

Đây chính là nét tướng cách ở phụ nữ cần kiệm, biết vun vén cho gia đình. Lấy được người vợ như vậy, quý ông hoàn toàn yên tâm phấn đấu cho sự nghiệp, gia đình lúc nào cũng trong ấm ngoài êm.

Gò má cao vừa phải

Nếu trán và cằm đã tương đối đẹp thì cần phải phối hợp với xương gò má. Mỗi người đàn ông luôn cần một cô vợ đảm, mà hai bên gò má của người phụ nữ chính là sự động viên của người chồng. Vì thế gò má của người phụ nữ không được phép quá cao.

Những người phụ nữ có hai bên má cao vừa phải sẽ là những người nội trợ đảm đang, là hậu phương vững chắc cho người chồng sau những giờ làm việc căng thẳng, mệt mỏi.

Giọng nói nhẹ nhàng, ôn hòa

Nữ giới có giọng nói nhẹ nhàng, ôn hòa thể hiện sự điềm tĩnh trong tính cách. Người này ít khi nổi cáu hay trút giận cho mọi người xung quanh mà không có lý do chính đáng.

Cuộc sống sau hôn nhân của người này khá êm đềm, không khí gia đình lúc nào cũng ấm áp, bình yên nhờ sự coi sóc của họ.

Ngoài tính cách hài hòa, đa phần phụ nữ có nét tướng cách này đều có thân hình ưa nhìn, sức khỏe dồi dào, vận khí rất tốt, gián tiếp giúp gia đình thêm hưng vượng. Đây chính là mẫu phụ nữ mà các quý ông nhiệt tình săn đón.

Theo: Khỏe & Đẹp


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phu nữ có nét tướng này đảm bảo đàn ông chết mê chết mệt

Văn phòng tại gia cần phải điểm xuyết hoặc trang trí những gì? –

Dùng những bức ảnh bạn bè thân hữu để tăng thêm sức sống cho văn phòng của mình, biểu hiện nguyện vọng làm việc tương lai. Tại vị trí vừa tầm nhìn của bạn khi đứng nên treo một vài hức ảnh cảnh vật tự nhiên dẹp mắt, đem lại cho mình một điểm nhìn, mở

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

ra cánh cửa sáng tạo.

phong-lam-viec-tai-nha

Đặt những bồn hoa cây cảnh gần những vị trí đặt máy tính để có thể phát tán được sóng điện từ có hại. Phía sau lưng phải là bức tường chắc chắn, một chiếc bàn gỗ vững chắc khiến bạn có thể hoàn thành được mục tiêu để ra và nâng cao được sự khích lệ nỗi lực. Màu đỏ và màu vàng kím đem lại tài phú và tiến bộ.

Nói đến văn phòng tại gia, bạn hoàn toàn có quyền tự quyết định việc tu sửa phong cách và bố cục bên trong, cho nên không nên áp dụng các phong cách một cách cứng nhắc hay chỉnh tề hoạch nhất. Vừa có thể lựa chọn được màu sắc và những vật phẩm trang trí yêu thích hoặc đưa ra những bức ảnh gia đình, cũng có thể tăng thêm phương thức cá tính hóa trong xử lý công việc. Tất nhiên, để công việc của bọn thường xuyên được vận chuyển, còn cần phải lăp đặt thêm một số thiết bị điện khí khác.

Vật cát tường: Tượng Phật Di Lạc

Giải thích: Phật Di Lạc là thần chiêu tài, củng là thần bảo vệ sức khỏe và bình an.

Tác dụng: Đặt ở phòng lớn hoặc phòng khách, có tác dụng chiêu tài tiến bảo, tài đến tài tụ.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Văn phòng tại gia cần phải điểm xuyết hoặc trang trí những gì? –

Mơ thấy chim vẹt: Gánh chịu khó khăn và bị lời đơm đặt ra vào –

Chim vẹt trong mơ mang ý nghĩa của sự khó khăn và những lời đơm đặt. Nếu mơ thấy chim vẹt đứng trên mặt đất, dự báo bạn sẽ kết giao cùng người bất tài vô dụng; mơ thấy chim vẹt bị nhốt trong lồng, bạn sắp gặp phải nhiều khó khăn bất ngờ; chim vẹt là
Mơ thấy chim vẹt: Gánh chịu khó khăn và bị lời đơm đặt ra vào –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mơ thấy chim vẹt: Gánh chịu khó khăn và bị lời đơm đặt ra vào –

Mơ thấy ví tiền: lành hay dữ?

Giấc mơ liên quan đến ví tiền ứng với điển tích “Tái ông thất mã”, có thể mang đến cả điềm lành lẫn những điều không tốt.
Mơ thấy ví tiền: lành hay dữ?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

 Giấc mơ liên quan đến ví tiền ứng với điển tích “Tái ông thất mã”, có thể mang đến cả điềm lành lẫn những điều không tốt.

Mo thay vi tien lanh hay du hinh anh
Nếu bạn mơ thấy có người mang ví tới cho mình thì đó là điềm may đấy nhé

  Xin chúc mừng nếu trong mơ bạn thấy có người mang ví đến cho mình! Đó là điềm báo bạn sẽ được của một cách bất ngờ.   Nếu trong mơ bạn nhặt được ví không có tiền thì đừng vội thất vọng. Hãy cảm ơn cái ví rỗng bởi nhờ nó bạn sẽ gặp vận may.   Nếu nhặt được ví đầy tiền bạn cũng đừng vội mừng! Ngược lại, đề phòng kỹ hơn là điều không bao giờ thừa; bởi trong thời gian sắp tới bạn có thể bị mất thứ gì đó.   Nên chuẩn bị đón nhận một món lợi nho nhỏ nếu đêm qua bạn mơ thấy mình đánh rơi ví và tìm lại được.   Mơ nhặt được ví (nhưng chưa biết ở trong có tiền hay không) là điềm bạn sẽ thu hồi được khoản nợ của đối tác “dai như đỉa”.   Giấc mơ thấy mình làm mất ví mà không biết mất từ bao giờ chứa đựng nhiều ý nghĩa. Bạn sẽ thất vọng về tình yêu hay tình bạn hoặc gặp chuyện buồn với những người mà bạn yêu quý. Nó cũng có thể là lời cảnh báo nên đề phòng bởi có người luôn rình rập để “phỗng tay trên” một món lợi mà đáng ra bạn được hưởng.    Mơ thấy người khác mất ví là lời tiên liệu cần thiết để bạn chủ động tránh những chuyện không may đang rình rập.
Theo Sách Giải mã giấc mơ
 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mơ thấy ví tiền: lành hay dữ?

Những chòm sao nữ khiến các chàng trai muốn chinh phục ngay lần gặp đầu –

Đứng hạng nhất là Thiên Bình bởi tính cách dễ mến mà kiêu sa; hạng nhì Bảo Bình, hạng ba Kim Ngưu…Nên khiến các chàng trai muốn chinh phục. Vậy những chòm sao nữ khác thì sao? Hãy cùng khám phá những chòm sao nữ khiến các chàng trai muốn chinh phục n

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đứng hạng nhất là Thiên Bình bởi tính cách dễ mến mà kiêu sa; hạng nhì Bảo Bình, hạng ba Kim Ngưu…Nên khiến các chàng trai muốn chinh phục. Vậy những chòm sao nữ khác thì sao? Hãy cùng khám phá những chòm sao nữ khiến các chàng trai muốn chinh phục ngay lần gặp đầu trong bài viết sau.

Nội dung

  • 1 Những chòm sao nữ khiến các chàng trai muốn chinh phục
    • 1.1 Hạng nhất: Thiên Bình
    • 1.2 Hạng nhì: Bảo Bình
    • 1.3 Hạng 3: Kim Ngưu
    • 1.4 Hạng 4: Bò Cạp
    • 1.5 Hạng 5: Nhân Mã

Những chòm sao nữ khiến các chàng trai muốn chinh phục

Hạng nhất: Thiên Bình

Ấn tượng để lại trong lần gặp mặt đầu tiên của những cô nàng Thiên Bình là sự “vừa đủ” của mình. Họ không quá phô trương, cũng không quá khép mình trước mặt đối phương.

thien-binh-4807-1403109673

Tính cách hòa đồng, dễ mến mà vẫn tạo vẻ kiêu sa, kích thích sự hiếu kỳ của đối phương. Bởi thế hộ đầu keo mới mê mệt và tỏ ý muốn chinh phục những cô nàng Thiên Bình ngay từ giây phút đầu tiên gặp gỡ.

Hạng nhì: Bảo Bình

Sự năng động, hoạt bát, nhạy bén nhưng lại không quá phô trương và vô cùng đáng yêu của những cô nàng Bảo Bình là “liều thuốc” mê hoặc đối phương ngay từ lần đầu gặp mặt.

bao-binh-9182-1403109674

Ngoài ra, chòm sao này rất coi trọng ấn tượng đầu tiên, nên họ luôn chủ động tạo dựng hình ảnh đẹp trong mắt mọi người ở bất cứ đâu.

Hạng 3: Kim Ngưu

kim-nguu-8097-1403109674

Đây là chòm sao đáng tin cậy. Ngay trong lần gặp gỡ đầu, bạn sẽ thấy những cô nàng Kim Ngưu rất nhiệt tình và dễ mến, càng tiếp xúc lâu càng thấy họ hòa đồng và đáng tin cậy. Đó là lý do tại sao các chòm sao nam thích “mê mệt” các nàng Kim Ngưu đến vậy.

Hạng 4: Bò Cạp

Chòm sao này sẽ chủ động để tạo ấn tượng khó phai trong lòng đối phương ngay từ lần hẹn hò đầu. Dường như Bò Cạp sinh đã có sức hút mãnh liệt với người khác giới rồi.

bo-cap-9351-1403109674

Thường thì họ không để lộ tình ý của mình mà chỉ úp mở để đối phương tự tìm hiểu và đoán biết. Sức lôi cuốn của những cô nàng Bò Cạp chính là ở điểm biết “đánh thức” sự tò mò của người khác một cách khéo léo.

Hạng 5: Nhân Mã

Trong lần gặp đầu, những cô nàng Nhân Mã thường chủ động bắt chuyện với đối phương. Tuy nhiên, việc có thể nói chuyện một cách cởi mở và suôn sẻ hay không lại tùy thuộc vào khả năng của bạn. Nhân Mã biết cách “bật đèn xanh” cho đối phương một cách hài hòa, khôn khéo.

nhan-ma-7210-1403109674

Họ không bao giờ để lộ suy nghĩ thực của mình cho đối phương biết trong lần đầu gặp mặt. Muốn hiểu và chinh phục được trái tim Nhân Mã đòi hỏi đối phương phải cực kỳ kiên nhẫn.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những chòm sao nữ khiến các chàng trai muốn chinh phục ngay lần gặp đầu –

Các lễ hội ngày 24 tháng giêng âm lịch - Hội Chùa Muống

Hội Chùa Muống đượctổ chức từ ngày 24 tới ngày 27 tháng giêng âm lịch tại xã Ngũ Phúc, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Các lễ hội ngày 24 tháng giêng âm lịch - Hội Chùa Muống

Các lễ hội ngày 24 tháng giêng âm lịch - Hội Chùa Muống

Hội Chùa Muống

Thời gian: tổ chức từ ngày 24 tới ngày 27 tháng 1 âm lịch.

Địa điểm tổ chức: xã Ngũ Phúc, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.

Đối tượng suy tôn: Kỷ niệm ngày mất của sư Tuệ Nhẫn (nguyên là Vương Thiên Huệ, hiệu Quán Viên, pháp hiệu Tuệ Mẫn, biệt hiệu là Thánh Tổ Non Đông.).

Nội dung: Hội chùa Muống bắt nguồn từ kỉ niệm ngày mất của sự Tuệ Nhẫn. Ngày khai hội diễn ra lễ rước bánh giầy quanh chùa trước khi đưa vào tiền đường thờ thánh Tổ, đây là một nghi thức quan trọng mang ý nghĩa mong muốn có một mùa màng bội thu. Ngày 27 là ngày trọng hội, khách đến dự rất đông. Lễ rước được thực hiện như các đền và đình làng, gồm có bát biểu, tàn, long, đòn bát cống rước tượng Thánh tổ Non Đông, Thánh phụ, Thánh mẫu. Đoàn rước đi xung quanh chùa rồi ra tam quan làm lễ, xong lại chuyển vào chùa để các thần tượng được an vị.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Các lễ hội ngày 24 tháng giêng âm lịch - Hội Chùa Muống

12 Nam thần của vòng tròn hoàng đạo là ai?

Các mỹ nam Việt gần đây xuất hiện liên tiếp với vẻ ngoài vô cùng long lanh, chẳng kém các
12 Nam thần của vòng tròn hoàng đạo là ai?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

"nam thần" của màn ảnh hoa ngữ chút nào đâu nhé! 


► Xem tử vi ngày mới và tuần mới của bạn được cập nhật liên tục và chính xác nhất

Song Tử - Isaac (13/06/1988)


12 Nam than cua vong tron hoang dao la ai hinh anh
 
Liên tục xuất hiện trong danh sách các 'nam thần' được báo chí ca tụng, chàng trai Song Tử Isaac ngày càng chinh phục được nhiều 'fan' hâm mộ bởi ngoại hình 'không tì vết' của mình.

 

Cự Giải - Sơn Tùng M-TP (05/07/1994)


12 Nam than cua vong tron hoang dao la ai hinh anh
 
Sở hữu lượng 'fan' hùng hậu, biệt đội Sky hẳn không ngừng ngất ngây trước vẻ đẹp cá tính nhưng vẫn ẩn chứa nét thân thiện của 'sếp'.  

Nhân Mã - Noo Phước Thịnh (18/12/1988)


12 Nam than cua vong tron hoang dao la ai hinh anh
 
Liên tiếp khuynh đảo các sân khấu truyền hình trực tiếp, Noo Phước Thịnh không ngừng đốn tim biết bao 'fan' nữ trẻ.  

Bạch Dương - Dương Minh Tuấn (11/04/1995)


12 Nam than cua vong tron hoang dao la ai hinh anh
 
Được mệnh danh là 'anh trai quốc dân', anh chàng này là một 'fashionisto' đang được giới trẻ khá yêu thích.  

Kim Ngưu - Quang Đăng (06/05/1989)


12 Nam than cua vong tron hoang dao la ai hinh anh
 
Nổi lên từ cuộc thi Thử thách cùng bước nhảy 2012, Quang Đăng là một trong những 'dancer' có gương mặt hút hồn trên các sàn diễn Việt.

 

Sư Tử - Bình An (15/08/1993)


12 Nam than cua vong tron hoang dao la ai hinh anh
 
Gương mặt mới được chào đón trong 5S Online, sau đó là Zippo, Mù tạt và Em - Bình An (Alvin Ichi) nhanh chóng trở thành 'hotboy' với gương mặt Hàn Quốc được chú ý.  

Xử Nữ - Dũng Bino (27/08/1990)


12 Nam than cua vong tron hoang dao la ai hinh anh
 
Chàng MC Xử Nữ điển trai, đa tài này cũng vừa điểm danh vào bảng bình chọn 'Top 10 mĩ nam điển trai nhất Việt Nam' của cộng đồng mạng Thái Lan.  

Thiên Bình - Lam Trường (14/10/1974)


12 Nam than cua vong tron hoang dao la ai hinh anh
 
Qua bao nhiêu năm, anh hai Thiên Bình Lam Trường vẫn thuộc 'top' những mỹ nam đẹp bất chấp thời gian.

 

Bọ Cạp - Bê Trần (05/11/1990)


12 Nam than cua vong tron hoang dao la ai hinh anh
 
Chàng 'hotboy' Bọ Cạp trẻ tuổi, tự tin với ngoại hình 'baby' - Bê Trần, đang liên tục gây sốt trên cả lĩnh vực điện ảnh và truyền hình.

 

Ma Kết - Ken Lous Tuấn Phong (05/01/1994)


12 Nam than cua vong tron hoang dao la ai hinh anh
 
Nhà thiết kế trẻ Ken Lous Tuấn Phong được mệnh danh là 'chàng trai đẹp nhất Việt Nam' và cũng đang ôm mộng xây dựng một thương hiệu thời trang cho riêng mình.  

Bảo Bình - Huỳnh Anh (28/01/1992)


12 Nam than cua vong tron hoang dao la ai hinh anh
 
Được biết đến với gương mặt đậm nét Hàn Quốc, Bảo Bình Huỳnh Anh dường như đã mở đầu cho cơn sốt săn lùng 'hotboy' Việt 9x trong làng giải trí.  

Song Ngư - Nguyễn Hữu Vi (10/03/1992)


12 Nam than cua vong tron hoang dao la ai hinh anh
 
Á vương 3 Mister Global 2014 - Song Ngư Hữu Vi - là một trong những gương mặt mới của danh sách 'nam thần' Việt.
ST.
3 chòm sao nữ kém duyên, đừng tính chuyện chồng con trong năm 2016 12 mẹ chồng hoàng đạo xuất chiêu trị con dâu nhỏ Chỉ điểm cách 12 chòm sao tiêu tiền tiết lộ giàu nghèo

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 12 Nam thần của vòng tròn hoàng đạo là ai?

Mơ thấy đom đóm: Để lộ tung tích bí hiểm –

Đom đóm thường có màu đỏ cam hay vàng xanh, phần đuôi có thể phát quang, cho thấy hành tung bí hiểm của bạn sẽ bị phơi bày tất cả. Cho nên, nếu bạn đang dự định làm việc gì không chính đáng, tất nhất hãy đừng thực hiện.Các con số liên quan đến giấc m
Mơ thấy đom đóm: Để lộ tung tích bí hiểm –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mơ thấy đom đóm: Để lộ tung tích bí hiểm –

Chiêm tinh học và thuật bói toán tại việt nam cổ truyền

Một bài dịch rất hay về bói toán cổ truyền tại việt nam. Mời các bạn cùng đọc.
Chiêm tinh học và thuật bói toán tại việt nam cổ truyền

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Alexei Volkov

(University of Tsinghua, Beijing)

CHIÊM TINH HỌC VÀ THUẬT BÓI TOÁN TẠI VIỆT NAM CỔ TRUYỀN

Ngô Bắc dịch

Lời Người Dịch:

Dưới đây là bản dịch của một bài viết hiếm hoi của một tác giả Tây Phương về khoa Chiêm Tinh Học và Thuật Bói Toán tại Việt Nam từ xa xưa. Bởi phải chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa kéo dài cả nghìn năm lệ thuộc, chiêm tinh học và thuật bói toán Việt Nam đều bắt nguồn từ các kinh sách của Trung Hoa. Tác giả đã hoàn toàn dựa vào các sự phân tích hàn lâm, tức trên sách vở không thôi, và không nêu ra các sự khảo sát về mặt thực hành. Trong thực tế, đã có ít nhiều sự khác biệt trong sự thực hành, đôi khi chỉ trên hình thức, tạo ra sự khác biệt của khoa chiêm tinh và thuật bói toán của Việt Nam với Trung Hoa. Chẳng hạn như phép bói Bát Tự hay cách lập quẻ bằng giờ, ngày, tháng, năm sinh và giới tính vốn thông dụng tại Trung Hoa nhưng hầu như rất ít được áp dụng tại Việt Nam, hay trong bản tử vi của Việt Nam, con Mèo (Mão) đã thay cho con Thỏ trong 12 con vật thuộc địa chi của tử vi Trung Hoa.

Điều lạ lùng là tác giả không hề nói gì về Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, người được xem là nhà tiên tri nổi tiếng nhất của Việt Nam, kẻ mà người dân Việt Nam nào cùng nghe biết đến qua các lời được cho là sấm truyền của cụ trong hơn 500 năm qua, tuy chẳng hiểu biết một cách xác thực về nhân vật gần như huyền thoại này./-

***

Dẫn Nhập: Bối Cảnh Lịch Sử

Miền bắc của Việt Nam ngày nay đã từng chính thức trở thành một tỉnh của Đế Quốc Nhà Hán Trung Hoa vào cuối thế kỷ thứ 2 Trước Công Nguyên [từ giờ trở đi viết tắt là TCN, chú của người dịch], song các sự trao đổi trí thức giữa miền này với các phần khác của Trung Hoa đã hiện diện từ lâu trước thời điểm đó. Khi Việt Nam thôi không còn là một tỉnh của Trung Hoa trong thế kỷ thứ 10 Sau Công Nguyên [SCN], quốc gia Việt Nam mới khai sinh đã thực hiện một hệ thống thư lại tương tự như hệ thống của triều đại nhà Tống Trung Hoa (960-1279), kể cả các định chế giáo dục và hệ thống khảo thí. Ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa vẫn còn mạnh trong suốt các triều đại Việt Nam liên tiếp nhau, và còn trở nên mạnh hơn trong và sau sự chiếm đóng ngắn ngủi của Trung Hoa tại Việt Nam trong các năm 1407-1427. Chính sách thực dân của Pháp đã khởi sự với chiến dịch Nam Kỳ (Cochinchina) trong các năm 1858-1862 đánh dấu bước khởi đầu của một sự suy sụp mau chóng học thuật Trung-Việt cổ truyền và phát súng ân huệ quyết định đã được bắn ra với sự xóa bỏ hệ thống khảo thí quốc gia trong năm 1919.

Trong thời kỳ mà Việt Nam là một tỉnh chính thức của đế quốc Trung Hoa (giờ đây thường được nói đến bởi các tác giả Việt Nam như thời “đô hộ của giặc Tàu”), chính quyền địa phương đã sử dụng tiếng Hoa cổ diển cho các tài liệu chính thức, trong giáo dục, và các cuộc khảo thí quốc gia. Các tài liệu sớm nhất (các bi ký trên các bia đá của thiên niên kỷ đầu tiên SCN) không chứa đựng, hay rất ít, các chữ “địa phương” được sắp xếp trên căn bản của Hán tự. Sau khi có sự tách biệt Việt Nam ra khỏi Trung Hoa trong thế kỷ thứ 10, một số lượng gia tăng các chữ địa phương xuất hiện trong các tài liệu văn bản. Chữ viết địa phương thiết kế trên căn bản Hán tự và dùng để ký tự ngôn ngữ Việt Nam được gọi là chữ Nôm . 2 Vài lần các nhà cai trị Việt Nam đã cố gắng để dùng chữ Nôm làm ngôn ngữ cho việc soạn thảo văn kiện chính thức và học thuật thay cho tiếng Hoa (Hán: 漢) cổ điển, nhưng Hoa ngữ cổ điển vẫn còn được dùng thường xuyên hơn. Ngay này từ ngữ “các sách Hán Nôm 漢 ” được dùng để chỉ toàn thể sưu tập các sách Việt Nam viết bằng Hoa ngữ cổ điển hay bằng tiếng Việt (dùng chữ Nôm), hay bằng cả hai ngôn ngữ hỗn hợp).

Vào cuối thế kỷ thứ 19, chính quyền thực dân Pháp đã diệt trừ một cách có hệ thống hệ thống chữ viết Hán Nôm cổ truyền, một phần vì ngộ nhận một cách ngây thơ, phần kia bị giải thích một cách cố ý bởi các kẻ bênh vực cho chính sách thực dân Pháp, như một dấu hiệu đô hộ chính trị và văn hóa của Trung Hoa trên Việt Nam. Sự sử dụng hệ thống ký âm dùng mẫu tự La Tinh với các dấu nhấn biến âm được đặt ra bởi các nhà truyền giáo Công Giáo hồi cuối thế kỷ thứ 16 và đầu thế kỷ thứ 17 (một cách mỉa mai, ngày nay được nói đến ở Việt Nam là Quốc Ngữ 國 語, “ngôn ngữ dân tộc”) nguyên thủy được nghĩ như một giải pháp cho vấn đề phát sinh từ những khó khăn được kinh nghiệm bởi các công chức của chính quyền thực dân khi dùng tiếng Việt. Cùng lúc, nó được nhận thức như một phương tiện để diệt trừ sự lệ thuộc vào hệ thống giáo dục kiểu Trung Hoa và, sau cùng, để thay thế nó bằng giáo dục hiện đại của Pháp. 4 Các phong trào chống thực dân của Việt Nam giành được động lực hồi đầu thế kỷ thứ 20 cũng bênh vực cho Quốc Ngữ viết bằng mẫu tự [La Tinh] là quan trọng cho cuộc giải phóng dân tộc và cho sự hiện đại hóa nhanh chóng xứ sở. 5 Sau này, khi sự giảng dạy của và bằng tiếng Pháp bị gián đoạn (trong thập niên 1940 tại miền Bắc) hay giảm bớt (tại Miền Nam), chữ Quốc Ngữ sau rốt trở thành ngôn ngữ viết duy nhất được sử dụng bởi nhóm dân tộc đa số của Việt Nam, người Kinh (hay Việt, ngày nay cấu thành khoảng 85% của toàn thể dân chúng.) Hậu quả, di sản văn chương của hơn mười thế kỷ của sự phát triển độc lập của dân tộc bị mất đi chỉ trong vòng vài thập niên, và ngày nay chỉ còn một ít cá nhân có khả năng đọc được các văn bản cổ viết bằng chữ Hán Nôm. Hơn nữa, trong suốt các cuộc chiến tranh xảy ra tại Việt Nam trong thế kỷ thứ 20, các sách được bảo tồn tại Thư Viện Hoàng Triều tại Huế cũng như tại các sưu tập tư nhân bị tổn hại, phá hủy, hay mất mát. Liên quan đến các sách về bói toán, trong các năm 1948-49, 1956, 1968, và 1976, chính quyền [cộng sản] Việt Nam đã thực hiện vài chiến dịch nhằm vào việc diệt trừ “các mê tín dị đoan”, đặc biệt về bói toán, trong đó các dụng cụ và sách vở được sử dụng bởi các nhà bói toán chuyên nghiệp bị tịch thu. 6 Để kết luận, tại Việt Nam trong vài thập niên qua một số lượng lớn lao các sách liên hệ đến thuật bói toán đã bị mất mát, hủy diệt, hay trở nên không thể cung ứng cho các nhà nghiên cứu.

Chiêm Tinh Học Việt Nam:

Các Nguồn Tài Liệu Chính Yếu Và

Văn Chương Thứ Yếu

Lịch sử của thuật bói toán được thực hành bởi nhóm dân tộc đa số, người Kinh [tiếng Việt trong nguyên bản, chú của người dịch] theo sự hiểu biết của tôi, chưa bao giờ được thảo luận một cách có hệ thống trong các ấn phẩm bằng ngôn ngữ Tây Phương. 7 Các nỗ lực đầu tiên để nghiên cứu và trình bày các nguồn văn liệu Việt Nam cũng như các sự thực hành thực tế của các người bói toán được thực hiện bởi các học giả thực dân Pháp Gustave Dumouyier (1850-1904) và Georges Coulet (tích cực trong thập niên 1920). 8 Một sự giới thiệu văn minh Việt Nam được viết cho khối độc giả đại chúng bởi Nguyễn Văn Huyên đề cập rất ngắn vài loại bói toán, đặc biệt những loại liên quan đến các cách thức lên đồng (mediumistic practices). 9 Các tác giả Huard và Durand (1954) đưa ra một sự phác họa đại cương thuật bói toán Việt Nam (trong trường hợp này rõ ràng để chỉ thuật bói toán của người Kinh, bởi các tác giả không hề nói tới bất kỳ nhóm dân tộc ít người nào khác); họ liệt kê địa lý phong thủy (geomancy), chiêm tinh (astrology), “phù thủy: sorcery”, xem tướng (physiognomy), và “xem bói bằng chân tay thú vật [xem chân gà?]: zoochiromancy” như các hình thức được thực hành rộng rãi nhất của thuật bói toán. 10 Nguồn gốc Trung Hoa của truyền thống bói toán Việt Nam không được thảo luận bởi Huard và Durand, nhưng họ có đề cập đến tập khảo cứu chiêm tinh Zi wei dou shu quan shu (tiếng Việt là Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư) 紫微斗數全書 của tác giả Trung Hoa Chen Tuan 陳摶 [tiếng Việt là Trần Đoàn, chú của người dịch] (cũng được gọi là Chen Xiyi 陳希夷 [Trần Hi Di, ND], 871-989) như là tập cẩm nang bói toán phổ thông nhất tại Việt Nam. 11

Các khảo luận còn tồn tại về thuật bói toán có thể được thấy liệt kê trong hai thư mục tiêu chuẩn về các sách Hán-Nôm. Một trong chúng là một thư tịch song ngữ (tiếng Việt và tiếng Pháp) bởi Trần Nghĩa và François Gros (1993), và thư mục kia là một thư tịch được biên soạn (bằng Hán tự) bởi Liu Chun-Yin 劉春銀 (Lưu Xuân Ngân), Wang Xiaodun 王小盾 (Vương Tiểu Thuẫn) và Trần Nghĩa 陳義 (Liu và các tác giả khác, 2002). Thư tịch của họ Trần và Gros (1993) gồm 5,038 đầu mục thư tịch liệt kê số tài liệu lưu trữ của thu viện Viện Nghiên Cứu Hán-Nôm (Hà Nội), các thư viện của Trường Viễn Đông Bác Cổ (École française d’Extrême-Orient (từ giờ trở đi viết tắt là EFEO) và Hội Á Châu học (Société Asiatique (cả hai ở Paris), cũng như một số thư viện Việt Nam và Nhật Bản. Mỗi đầu mục của thư tịch bao gồm các phần chú giải ngắn bằng tiếng Việt và tiếng Pháp; các nhan đề của các quyển sách được liệt kê theo thứ tự mẫu tự ABC trong hệ thống ký âm Quốc Ngữ. Để xác định các sách về thuật bói toán, người ta có thể sử dụng một bảng chỉ dẫn theo đầu mục (index) được cung cấp ở cuối thư tịch. Các sách về chiêm tinh học được tìm thấy trong phân mục Tín ngưỡng dân gian (các tín ngưỡng truyền thống) chứa đựng các sự tham chiếu đến các tác phẩm thuộc vào một loạt rộng rãi nhiều ngành học thuật, từ “nhân chủng học: anthropology” và “tôn giáo: religion” đến “văn chương: literature”. Hệ thống phân loại này gây khó khăn cho việc nhận dạng các sách liên quan đặc biệt đên khoa chiêm tinh. Thư tịch của họ Liu và các tác giả khác (2002) thì dựa trên thư tịch của Trần và Gros (1993), nhưng các đầu mục thư tịch trong đó được tái sắp xếp theo hệ thống Trung Hoa cổ truyền thành “bốn loại” (“các kinh sách”: 經 (kinh), “các biên tập về lịch sử”: 史 (sử), “các trường phái triết học”: 子 (tử), và “sưu tập văn chương”: 集 (tập). Các sách về bói toán được tìm thấy trong mục “số mệnh học: numerology” (shushu 數 術: số thuật) thuộc loại “tử: sách về các trường phái triết học” và được phân chia thành năm phân loại: xem thế đất: geomancy (kanyu 堪 輿: kham dư), chiêm tinh học (xingming 星 命: tinh mệnh), bói toán dựa trên 6 hào (hexagrams) của Yijing [Dịch Kinh] (Yigua 易 卦: dịch quái), xem tướng (physiognomy) và các loại linh tinh liên hệ đến bói toán (xiangfa zazhan 相 法 雜 占: tướng pháp tạp chiêm), và “xóc quẻ xin xâm: tallies and omens” (qianchen 籤 讖: thiêm sấm). Tuy nhiên, một sự kiểm tra lướt nhanh trên phần về bingjia: binh gia 兵 家 (nghệ thuật quân sự) trong sách của họ Liu và các tác giả khác (2002) cho thấy rằng nó cũng chứa đựng các tác phẩm mà các sự mô tả chúng khiến nghĩ rằng chúng có thể trình bày các phương pháp bói toán liên hệ đến các vấn đề quân sự. Tương tự, các quyển chuyên về Yijing (Dịch Kinh) trong loại “kinh: canonical books” 經 và một số khảo luận y học chứa đựng các sự trình bày về các phương thức bói toán hay các sự thảo luận về các nền tảng triết lý và lý thuyết của thuật bói toán.

Cả hai thư tịch Trần và Gros (1993) và Liu và các tác giả khác (2002) đều không liệt kê các sách được bảo tồn trong vài sưu tập lớn chứa đựng các văn bản về chiêm tinh học. 12 Cũng có lý do để tin tưởng rằng một số các sách Hán-Nôm về chiêm tinh học từ thư viện Hoàng Triều tại Huế vẫn còn tồn tại; không may, chúng được bảo tồn trong các sưu tập tư nhân và do đó vẫn chưa được cung ứng cho sự nghiên cứu có hệ thống. Tổng quan về các tài liệu chính yếu trong bài viết này chính vì thế nhất thiết vẫn chưa đầy đủ.

Các Cơ Sở Chiêm Tinh Và Thiên Văn Của Việt Nam:

Một Tổng Quan

Theo quyển [Đại] Việt Sử Lược [大] 越 史 略 (Sơ Lược Lịch Sử [Đại] Việt) trong thời khoảng từ thế kỷ thứ 2 TCN đến năm 1225 và được xem bởi một số sử gia là niên sử Việt Nam xưa nhất còn tồn tại, 13 các nhà cai trị Việt Nam đã khởi sự xây dựng các cơ sở thiên văn/chiêm tinh tại kinh đô Thăng Long昇 龍 (tức Hà Nội ngày nay) ngay từ năm 1029, khi vị Hoàng Đế thứ nhì của nhà (Hậu) Lý (後) 李 朝 (1009-1225), Thái Tông 太 宗 (tên cá nhân là Lý Phật Mã 李 佛 瑪, trị vì 1028-1054), ra lệnh tái xây cất Càn Nguyên Điện 乾 元 殿 sau trận động đất năm 1017; 14 các cơ sở mới xây dựng gồm có điện thờ Trời: Phụng Thiên Điện 奉 天 殿 mà trên nóc điện có đặt một Tòa Tháp Chính Ngọ (Chính Dương Lâu 正 陽 樓) với một đồng hồ nước bên trong. 15 Rõ ràng hoàn toàn có xác suất rằng các sự quan sát thiên văn và chiêm tinh tại các triều đình của các nhà vua Việt Nam có thể đã khởi sự sớm hơn nữa, vào cuối thế kỷ thứ 10, gần như ngay sau khi Việt Nam giành được sự độc lập khỏi Trung Hoa. Thời điểm khi các sự quan sát đầu tiên được thực hiện có thể được tính toán phỏng đoán trên căn bản các tài liệu về các vụ nhật thực (xem bên dưới).

Trong năm 1206, cơ sở thiên văn này đã bị hư hại vì hỏa hoạn, và nó đã chỉ được phục hồi vào một thời gian nào sau đó 16, điều, trên lý thuyết, có thể là lý do tại sao các niên sử Việt Nam [Đại] Việt Sử Lược [大] 越 史 略 và Đại Việt Sử Ký Toàn Thư 大 越 史 記 全 書không có các tài liệu về các vụ nhật thực xảy ra giữa các năm 1206 và 1242. 17 Hai cơ sở nhiều xác suất nhất liên hệ đến các hoạt động thiên văn và chiêm tinh được mô tả là tọa lạc gần Cung Điện [Nhà Vua] trong một bản sao lục hồi thế kỷ thứ 17 tập Hồng Đức Bản Đồ 洪 德 版 圖 (Các Bản Đồ [của Việt Nam] được in dưới thời Hồng Đức) soạn thảo năm 1490 (Hình 1), 18, đó là Phụng Thiên Phủ 奉 先 府(Văn Phòng Thờ Phụng Trời) và Ti [Ty] Thiên Giám 司 天 監 Si tian jian, ty phụ trách Quan Sát Các Hiện Tượng Trên Trời). 19

Hình 1: Bản đồ Hà Nội từ tập Hồng Đức Bản Đồ

(hướng Tây ở trên cùng) cho thấy các địa điểm của Ti Thiên Giám 司 天 監 (A),

Phụng Thiên Phủ奉 先 府 (B), và Quốc Tử Giám 國 子 監 ©.

Posted Image

Ngay dù tên gọi Phụng Thiên Phủ có nói đến Trời và hiển nhiên gần giống như Phụng Thiên Điện 奉 先 殿 của nhà (Hậu) Lý, tôi giờ này không hay biết về bất kỳ bằng chứng nào khiến nghĩ rằng các chức năng của [Phụng Thiên] Phủ có dính líu đến việc ghi chép thời gian hay các hoạt động khác liên quan đến các sự quan sát thiên văn. Ti Thiên Giám được trình bày trên bản đồ tọa lạc phía nam của Cung Điện Hoàng Triều nằm giữa Phụng Thiên PhủQuốc Tử Giám 國子監, cơ quan thẩm quyền bậc đại học. Danh xưng của định chế kể trước, Ti Thiên Giám 司天監, giống y như tên của cơ quan đối tác phía Trung Hoa của nó; tại Trung Hoa, tên này được đặt cho Văn Phòng Thiên Văn/Chiêm Tinh lần đầu tiên trong thế kỷ thứ 10 và được dùng hầu như một cách có hệ thống trong thời nhà Nguyên (bắt đầu từ thập niên 1260), nhà Minh, và (một cách không chính thức) dưới thời nhà Thanh. 20 Thời điểm chính xác của sự thiết lập Ti Thiên Giám của Việt Nam không được hay biết.

Điều vẫn chưa rõ rằng liệu “Ti Thiên Giám” nguyên thủy hồi đầu thế kỷ thứ 11 có phải đã được xây dựng tại địa điểm được thể hiện trên bản đồ hay không. Rất nhiều phần nó đã bị đóng cửa trong thời gian chiếm đóng của Trung Hoa (1407-1427), bởi nếu không, nó sẽ thách đố quyền hạn chuyên độc của các nhà chiêm tinh chính thức của Trung Hoa trong việc thực hiện và giải thích các sự nhận xét về thiên văn học. Người ta có thể ức đoán rằng định chế này đã được mở cửa lại không lâu sau sự triệt thoái của quân đội Trung Hoa, và đã duy trì hoạt động trong suốt thế kỷ thứ 17, khi một bản sao lục trình bày nơi Hình 1 được in ra.

Điều cũng không được rõ là cách thức mà các nhân viên làm công việc thiên văn/chiêm tinh đã được huấn luyện ra sao, song có thể hữu lý để ức đoán rằng các nhà cầm quyền Việt Nam đã thiết lập một chương trình giáo dục đặc biệt để huấn luyện các nhà thiên văn học và chiêm tinh học tương lai, giống như trường hợp của Trung Quốc. Ti Thiên Giám chính vì thế sẽ chịu trách nhiệm về việc thực hiện các sự quan sát, giải thích các dữ liệu về thiên văn học và khí tượng học, thi hành các sự tính toán niên lịch, tiên đoán các vụ nhật thực, và huấn luyện các nhân viên tương lai. Có rất nhiều xác suất rằng định chế này đã có một thư viện chuyên khoa lưu trữ các tác phẩm về thiên văn học và chiêm tinh học được giả định không có lưu hành ở bên ngoài văn phòng. Một mảnh bằng chứng gián tiếp hậu thuẫn cho giả định này được tìm thấy trong sưu tập các pháp điển Trung Hoa Song hui yao 宋 會 要, Tống hội yếu. Trong một tài liệu đề năm 1107 nó có lưu ý rằng các sứ giả Việt Nam sang Trung Hoa đã cố tìm mua sách thuộc nhiều khoa học, và rằng họ được phép để mua mọi văn bản ngoại trừ các sách được xem “bị cấm đoán”, tức, liên quan đên thuật bói toán, yin-yang (âm dương), niên lịch, và số mệnh học (numerology); chính sự lưu ý này xem ra làm ta suy nghĩ rằng các sứ giả đã đặc biệt chú ý đến các sách về các đề tài này. 21 Các nỗ lực để thụ đắc các sách vở liên hệ đến các niên lịch (và, với nhiều xác suất nhất, đến chiêm tinh học) tiếp tục cho đến đầu thế kỷ thứ 14. 22

Học trình của khoa Toán Học: Suan xue 算 學 Trung Hoa hồi đầu thế kỷ thứ 12 bao gồm một số chủ đề liên hệ trực tiếp đến sách lịch và khoa chiêm tinh, đặc biệt đến điều được gọi là “ba lược đồ: schemes” hay “ba biểu thức vũ trụ”: san shi 三 式, tam thức, có nghĩa ba phương pháp chính yếu của thuật bói toán (xem bên dưới), cũng như các văn bản chiêm tinh học không được xác định khác. 23 Nếu các sách vở thiên văn học và chiêm tinh học được bao gồm trong học trình của ngành học được nói là “đếm, tính: 算” (Toán trong tiếng Việt, Suan trong tiếng Hán) tại Việt Nam, khi đó các cuộc khảo thí quốc gia về “tính toán” được đề cập đến trong các tài liệu lịch sử có thể bao gồm các phần liên quan đến sự tinh toán để làm sách lịch và chiêm tinh, như trong trường hợp tại Trung Hoa dưới thời nhà Tống. 24 Có hiện hữu các tài liệu về các cuộc khảo thí quốc gia về “tính toán” được tổ chức tại Việt Nam trong năm 1077, 25 1261, 26 1363, 27 1404, 28, 1477, 29 1507, 30 và 1762. 31

Các sự trình bày về các hoạt động của các nhà thiên văn học và chiêm tinh học chuyên nghiệp được sử dụng bởi các nhà cầm quyền Việt Nam có thể được tìm thấy trong các hồi ký của các Tu Sĩ Dòng Tên người Ý Đại Lợi, Christophoro Borri (1583-1632) và Giovanni Filippo de Marini (1608-1682), các kẻ đã lần lượt đến thăm Đàng Trong: Cochinchina (Trung Kỳ Việt Nam) và Đàng Ngoài: Tonkin (Bắc Kỳ Việt Nam). Sự mô tả của Borri cho thấy rằng không chỉ Chúa Đàng Trong (Cochinchina), mà cả các ông hoàng, đều có các nhà chiêm tinh riêng của mình với công việc gồm cả sự tính toán các vụ nhật thực; de Marini mô tả một nghi thức đặc biệt được giả định sẽ được thực hiện bởi nhà vua trong ngày có nhật thực. 32 Các sự trình bày này khiến ta nghĩ rằng vào khoảng thế kỷ thứ 17, các nhà thiên văn học Việt Nam thụ hưởng một quy chế quan chức khá cao, rằng họ đã sử dụng các phương pháp của Trung Hoa về sự tiên đoán các vụ nhật thực, và rằng đôi khi họ không thể điều chỉnh một cách chính xác các phương pháp này với các vị trí (có nghĩa miền bắc và miền trung Việt Nam) nơi mà các vụ nhật thực được giả định sẽ được quan sát.

Một định chế chính thức chịu trách nhiệm về các công việc thiên văn và làm sách lịch tiếp tục hiện hữu tại Việt Nam cho đến thế kỷ thứ 20. Một sự trình bày (có niên kỷ năm 1930) về văn phòng thiên văn/chiêm tinh Khâm Thiên Giám 欽 天 監, cơ quan kế nhiệm Ti Thiên Giám 司 天 監, 33 mô tả cơ cấu và nhân viên văn phòng thiên văn/chiêm tinh tọa lạc tại Huế, kinh đô của triều Nguyễn (1802-1945), và thuật lại một cách ngắn gọn lịch sử của nó, bắt đầu từ thời Hoàng Đế Minh Mạng (trị vì từ 1820-1841). 34

Các Sự Quan Sát Thiên Văn

Được Thực Hiện Tại Việt Nam

Tác giả Ho Peng Yoke trong bài viết của ông (1964) có cung cấp một danh sách các vụ nhật thực được đề cập tới trong bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư 大 越 史 記 全 書 như được quan sát tại Việt Nam. Sự phân tích của họ Hồ chứng tỏ rằng “phần lớn các tài liệu ban đầu của quyển Đại Việt Sử Ký Toàn Thư được rút ra từ các nguồn sách vở Trung Hoa, kể cả các lỗi sai lầm của chúng” (trang 128). Các tài liệu về các vụ nhật thực trong các Niên Sử đã không được phát hành một cách đồng nhất: có 21 vụ nhật thực trong thời khoảng từ 205 TCN đên 122 TCN, một vụ nhật thực cho mỗi năm 41, 479 và 547 SCN, 35 và sau đó một loạt 45 vụ nhật thực cho thời khoảng từ 993 SCN đến 1671 SCN. Các tài liệu liên quan đến các vụ nhật thực từ năm 205 TCN đến 547 SCN, theo ý kiến của tác giả họ Hồ, được sao chép từ các tài liệu của Trung Hoa. Chính vì thế, người ta dễ bị cám dỗ để nghĩ rằng sự khởi đầu của một sự quan sát (tương đối) có hệ thống của các vụ nhật thực tại Việt Nam có thể trùng hợp với sự thiết lập công tác thiên văn / chiêm tinh tại kinh đô. 36 Bộ [Đại] Việt Sử Lược nêu ở trên cũng chứa đựng các sự ghi chép về các vụ nhật thực, song các sự ghi chép này không giống với các vụ được liệt kê trong bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. Một cách cụ thể hơn, [Đại] Việt Sử Lược chứa đựng các sự ghi chép chỉ có năm vụ nhật thực, trong đó vụ sớm nhất có nhật kỳ là ngày 15 Tháng Hai 1040; 37 vụ nhật thực này, được thực sự nhìn thấy tại Việt Nam, cũng được liệt kê trong bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. 38 Điều đáng chú ý, bốn vụ thiên thực còn lại được ghi chép trong bộ [Đại] Việt Sử Lược đã không được tìm thấy trong bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. Chỉ có một vụ trong đó, vụ nhật thực vào ngày 11 Tháng Ba, 1206, phù hợp với một vụ thiên thực thực sự xảy ra (ngay dù rất nhiều phần nó đã không được nhìn thấy tại Việt Nam); 39 hai trong số ba vụ thiên thực còn lại đã xảy ra trong các năm hơi khác biệt với những năm được nêu ra trong bộ [Đại] Việt Sử Lược, 40 trong khi có một sự ghi chép không phù hợp với bất kỳ vụ thiên thực thực sự nào có thể xảy ra hoặc trước hay sau đó, trừ khi cả tháng và năm của vụ thiên thực đã bị thay đổi một cách đáng kể bởi các nhà biên soạn bộ sử ký hay bởi các người sao chép sau này. 41

Các Khảo Luận Về Chiêm Tinh Học:

Các Nhận Xét Dẫn Nhập

Các khảo luận về chiêm tinh học được bảo tồn trong các sưu tập các sách Việt Nam viết bằng tiếng Hán và tiêng Nôm được liệt kê trong thư tịch ở cuối bài viết này; độc giả có thể nhìn thấy rằng trong phần lớn các trường hợp, người ta đối diện với các bản chép tay không ghi niên đại của nguyên bản không xác định chắc chắn. Các sách được in thường có mang các niên kỳ xuất bản, và các niên kỳ này tương đối gần đây, từ cuối thế kỷ thứ 19 đến đầu thế kỷ thứ 20. Những niên kỳ muộn màng này của các ấn phẩm không nhất thiết tương ứng với thời điểm thực sự của sự biên soạn; tuy nhiên, không có bằng chứng vững chắc ngược lại, điều xem ra hợp lý để nghĩ rằng phần lớn các tài liệu hiện tồn của Việt Nam về chiêm tinh học đã thực sự được sản xuất ra tương đối muộn, ngay dù, một cách giả thiết, chúng có thể dựa trên các nguồn tài liệu xưa hơn. Sự phát biểu này không phủ nhận về mặt lịch sử văn liệu chiêm tinh học xưa hơn nhiều rất có thể đã hiện hữu tại Việt Nam. Có hai lý do để phát biểu như thế: trước tiên, các định chế chính thức đối phó với các vấn đề thiên văn và chiêm tinh được thiết lập tại nước Việt Nam độc lập hồi đầu thế kỷ thứ 11 hẳn phải sở hữu một số văn bản liên hệ đến các hoạt động của chúng; thứ nhì, có các sự đề cập đến các tác phẩm chiêm tinh có ảnh hưởng được soạn thảo bởi các học giả Việt Nam không còn hiện hữu nữa. Thí dụ, điều được hay biết rằng Trần Nguyên Đán 陳 元旦 (1325-1390), một cố vấn cao cấp cạnh Hoàng Đế Việt Nam, có soạn thảo quyển khảo luận Bách Thế Thông Kỷ Thư 百 世 通 紀 書 (Văn Bản Niên Sử Bao Quát Một Trăm Thế Hệ); tập khảo luận này bị mất, nhưng, theo một sự trình bày được tìm thấy trong một văn bản hơi muộn hơn, nó có chứa đựng một sự tái thiết niên biểu Trung Hoa (?) và một sự tính toán (hồi tố?) các vụ thiên thực. 42

Theo các sự tường thuật quy ước, một số lượng lớn lao các sách trong các thư viện chính quyền Việt Nam đã bị mất vì cháy hay tịch thu bởi quân xâm nhập Trung Hoa hồi cuối thế kỷ thứ 14 – đầu thế kỷ thứ 15. Nếu, theo các truyền thuyết, vụ hỏa hoạn xảy ra trong cuộc lục soát kinh đô bởi người Chàm hồi năm 1371 đã hủy diệt bừa bãi một số không rõ các thư viện, quân xâm lăng Trung Hoa đã tịch thu theo lời cáo giác một số lượng lớn lao các quyển sách và chuyển chúng về Trung Hoa, đã nhắm, với nhiều xác xuất nhất, một cách đặc biệt vào các sách vở bị nhìn như khẳng định một cách biểu trưng sự độc lập của quốc gia Việt Nam, tức, trước tiên, các niên sử địa phương, các sách lịch, các văn bản thiên văn học và chiêm tinh học. 43

Sự truy tầm các tài liệu Việt Nam về chiêm tinh học cũng bị khó khăn bởi cơ cấu hỗn hợp của các văn bản hiện tồn; một số các thủ bản (sách chép tay) được bảo tồn trong các thư viện là các sưu tập của các văn bản thuộc nhiều bản chất khác nhau có thể chứa đựng các phần sao chép từ các sách về chiêm tinh học. Một vài khảo luận chiêm tinh học được ghi trong thư tịch của Trần và Gros 1992 và Liu và các tác giả khác chứa đựng các phụ lục đôi khi gồm một số văn bản chiêm tinh học không quan trọng với các nhan đề khác biệt thường không liên hệ với nhau và với các luận thuyết chính yếu (muốn có các thí dụ, xem bên dưới). Hơn nữa, ngay cả khi nhan đề của một khảo luận trùng hợp với nhan đề của một văn bản chiêm tinh học Trung Hoa nổi tiếng, nó rất có thể là một sự tóm lược hay một biến thể của chủ đề trong nguyên bản Trung Hoa, hay một ấn bản với các lời bình luận bằng tiếng Hán cổ điển hay tiếng Nôm được thêm vào bởi các tác giả Việt Nam. Đây là lý do tại sao các nguồn tài liệu chiêm tinh học chủ yếu được tìm thấy trong thư tịch dưới đây không thể được xem là hoàn chỉnh; tuy thế, nó cho phép chúng ta được nhìn thấy, đến một mức độ nào đó, những loại văn bản chiêm tinh học nào thường được sao chép và bình luận nhiều nhất.

Trong đoạn kế tiếp tôi sẽ thảo luận một cách ngắn gọn các nguồn tài liệu hiện tồn. Cuộc thảo luận được chia nhỏ thành hai phần: trước tiên, tôi sẽ giới thiệu ba hệ thống chính yếu của chiêm tinh học Trung Hoa và trình bày ngắn gọn các khảo luận Việt Nam hiện tồn rõ ràng bị ảnh hưởng bởi chúng; thứ nhì, tôi sẽ, cũng ngắn gọn như thế, thảo luận cơ cấu của một khảo luận Việt Nam dựa trên một nguyên mẫu Trung Hoa.

Ba Truyền Thống Chiêm Tinh Học Trung Cổ

Của Trung Hoa và

Sự Đón Nhận Chúng Tại Việt Nam

Ba truyền thống ảnh hưởng nhất của chiêm tinh học Trung Hoa, được trình bày trong học trình của Trường Toán Học thời nhà Tống như “ba lược đồ [chiêm tinh]” hay “ba bảng vũ trụ” (san shi 三 式 tam thức là các hệ thống bói toán Tai yi 太 乙: thái ất, Qimen dunjia 奇門遁甲: Kỳ Môn Độn Giáp, và Liu ren 六 壬 Lục Nhâm. 44

(1) Hệ Thống Thái Ất (Tai Yi).

Tại Trung Hoa, hệ thống này được chấp nhận bởi Phòng Thiên Văn dưới thời nhà Đường (618-907) và được sử dụng suốt thời nhà Tống (960-1279). 45 Yan Dunjie 嚴 敦 杰 Nghiêm Đôn Kiệt (1917-1988) khám phá rằng các kỹ thuật bói toán của truyền thống này đã sẵn hiện diện hồi đầu thế kỷ thứ 6 SCN. 46 Văn bản nền tảng của truyền thống này là quyển Taiyi jinjing shijing 太 乙 金 鏡 式 經 Thái Ất Kim Kính Thức Kinh (Cẩm Nang Gương Vàng cho Biểu Đồ Vũ Trụ Thái Ất) của Wang Ximing 王 希 明 Vương Hy Minh (nhà Đường), được bảo tồn (có lẽ với các sự bổ túc sau này) trong tuyển tập Trung Hoa thế kỷ thứ 18 Si ku quan shu 四 庫 全 書 (Tứ Khố Toàn Thư). Cách thức bói toán liên quan đến sự vận dụng một bảng bói toán (hay, có thể, một biểu đồ) vẽ một vòng tròn trung tâm và bốn lớp vòng tròn đồng tâm được chia thành 16 phần trên mỗi vòng tròn. Lớp đầu tiên được ghi đầy bằng các con số từ 1 đến 4 và từ 6 đến 9, tạo thành, cùng với số 5 tại vòng tròn trung tâm, một hình vuông ma thuật; lớp vòng tròn đầu tiên cũng chứa 8 hình ba hào (trigrams) và một số dấu hiệu quay tròn tuần hoàn. Lớp kế tiếp chứa danh tính của “các tác nhân thần thánh: divine agents”, và lớp thứ ba, tên của các tỉnh của Trung Hoa. 47 Lớp sau cùng thì để trống và được giả định sẽ được lấp kín trong tiến trình bói toán. Như tác giả họ Ho nêu ý kiến, các sự áp dụng phương pháp này chính yếu liên hệ đến các sự vụ quân sự, song đã có những trường hợp khi sự bói toán liên can đến các hiện tượng thiên nhiên, chẳng hạn như các vụ động đất, giông bão với sấm sét, và ngay cả các vụ thiên thực. 48

Trong số các văn bản Việt Nam hiện tồn có hai tập khảo luận trực tiếp liên hệ đến truyền thống này: Thái Ất Dị Giản Lục 太 乙 易 簡 錄 (Tài liệu giản lược [liên can đến bói toán theo phương pháp] Thái Ất và theo Kinh Dịch) [A38] và quyển Thái Ất Thống Tông Bảo Giám 太 乙統 宗 寳 鑑 (Gương Quý Báu của Các Nguồn Gốc Thống Nhất của [các phương pháp của] Thái Ất [A39]. Quyển khảo luận kể tên trước được quy cho sự trước tác của danh sĩ Lê Quý Đôn 黎貴 惇 (1726-1784). Theo quyển tiểu sử của Lê Quý Đôn của Nguyễn Hữu Tạo 阮 有 造 (đỗ tiến sĩ 進 士 jinshi năm 1844), ông Lê còn viết ba quyển khảo luận về thiên văn học khác, một quyển trong đó là quyển Thái Ất Quái Vận 太 乙 卦 運 (Sự Tuần Hoàn Của Thái Ất [giữa các hào], giờ đây đã bị mất, rõ ràng có liên quan đến cùng hệ thống bói toán. 49 Về quyển khảo luận Thái Ất Thống Tông Bảo Giám太 乙 統 宗 寳 鑑, có thể quyển sách này là một bản sao chép hay một bản tóm lược khảo luận Trung Hoa (được tái xuất bản trong bộ Tứ Khố Toàn Thư: Si ku quan shu 四 庫 全 書) có cùng nhan đề viết bởi một một tác giả không có tiếng tăm thời nhà Nguyên (1279-1368) được biết dưới bút hiệu “Lão Già Núi Xiao” (Xiao shan lao ren 曉 山 老 人 Hiệu Sơn Lão Nhân). Một vài văn bản tiếng Hán của tập khảo luận Trung Hoa này còn hiện hữu, ấn bản sớm nhất là một bản chép tay (thủ bản) thời nhà Minh và có vài ấn bản có niên đại từ thời nhà Thanh.

Tại Trung Hoa, hệ thống Thái Ất được bảo tồn trong phạm vi của cái gọi là truyền thống “Bói Toán Theo Con Số Của Các Hoa Hồng [sic] Màu Tím và Chùm Sao” (Ziwei doushu 紫 微 (= 薇) 斗 數 Tử Vi Đẩu Số). 50 Tác giả Ho Peng Yoke tuyên bố rằng có hai nhánh của truyền thống kể tên sau: một trong chúng là một sự liên tục trực tiếp của hệ thống Thái Ất, trong khi nhánh kia, được đại diện bởi một phiên bản của tập khảo luận được tìm thấy trong Kinh Sách Đạo Giáo (Daoist Canon) (Daozang 道 藏 Đạo Tang), sinh ra từ một sự tổng hợp một vài hệ thống thiên văn có nguồn gốc Tây Phương. 51 Còn hiện hữu bảy văn bản Việt Nam thuộc vào truyền thống này: An Tử Vi Quốc Ngữ Ca 安 紫 微 國 語 歌 [A1], Tử Vi Đẩu Số 紫 微 (-- 薇) 斗 數 [A47], Tử Vi Đẩu Số Giải Âm 紫 微 (= 薇) 斗 數 解 音 [A48], Tử Vi Giải 紫 微 解 [A49], Tử Vi Hà Lạc Nhâm Thìn Số 紫 微 河 洛 壬 辰 數 [A50], Tử Vi Số 紫 微 數 [A51], và Tử Vi Thập Nhị Cung Đoán Pháp Quốc Âm Ca 紫 微 十 二 宮 斷 法 國 音 歌 [A52]. Bốn trong bảy quyển khảo luận này tức các quyển A1, A47, A48, A52, được viết bằng chữ Nôm hay chứa các lời bình giải bằng chữ Nôm và rõ ràng được nhắm dành cho các độc giả không thoải mái với tiếng Hán cổ điển.

Hình 2: Một lá số tử vi từ quyển Tử Vi Đẩu Số紫 微斗 數

(Viện Hán-Nôm, số thư tịch VHb.163)

Posted Image

Có 10 bản sao chép bằng tay của quyển [A47] (một lá số tử vi từ quyển sách được trình bày nơi Hình 2); số lượng nhiều bản sao chép cho thấy khảo luận này khá phổ thông trong những người hành nghề bói toán. Trong khi đó, hai trong bảy văn bản, [A49] và [A50] là các bản sao chép tay các ấn phẩm Trung Hoa không được xác minh. Không may, không một trong các bản văn chép tay này có ghi niên đại. Các nhan đề của các tập khảo luận xem ra khiến ta nghĩ rằng chúng hoàn toàn được dành cho một hệ thống bói toán duy nhất; tuy nhiên, điều này không nhất thiết xảy ra: thí dụ, văn bản [A1] chứa đựng một khảo luận độc lập Mã Tiền Bốc Pháp 馬 前 卜法 [A24] làm phần cuối cùng của nó.

(2)Hệ Thống Kỳ Môn Độn Giáp

Các sự đề cập ban sơ về các phương pháp Qimen 奇 門 Kỳ Môndunjia 遁 甲Độn Giáp có thể được tìm thấy trong tập khảo luận Baopuzi 抱 撲 子 Bao Phác Tử được trước tác bởi học giả Trung Hoa nổi tiếng Ge Hong 葛洪 Cát Hồng (283-343). Một số sách rõ ràng có liên hệ đến truyền thống Độn Giáp được đề cập trong các chương của các sử ký Trung Hoa tiêu chuẩn như Hou Han shu 後 漢 書 Hậu Hán Thư, Sui shu 隋 書 Tùy thư, Jiu Tang shu 舊 唐 書 Cựu Đường ThưXin Tang shu 新 唐 書 Tân Đường thư, nhưng không một trong các sách này còn tồn tại ngày nay. Một quyển sách nhan đề Huangting Dunjia yuan shen jing 黃 庭 遁 甲 緣 身 經 Hoàng Đình Độn Giáp Duyên Thân Kinh được tìm thấy trong juan (quyển) 14 của tuyển tập của Đạo Giáo nhan đề Yun ji qi qian 雲 笈 七 籤: Vân Cập Thất Thiêm (Bảy Quẻ từ Nơi Tàng Trữ Sách Mây) được biên tập hồi đầu thế kỷ thứ 11 và được bảo tồn trong Daozang: Đạo Tang; tuy nhiên, hệ thống được trình bày trong đó không phải là một trong “ba biểu thức vũ trụ” được dùng để giảng dạy tại “Trường Toán Học” 52 dưới thời nhà Tống. Điều rõ ràng rằng từ nguyên thủy Qimem (Kỳ Môn)Dunjia (Độn Giáp) nói đến hai hệ thống khác biệt được tổng hợp lại, muộn nhất là ở thế kỷ thứ 8.

Truyền thống này rõ ràng không được thật ưa chuộng tại Việt Nam; tôi đã chỉ có thể tìm được hai thủ bản liên quan đến nó, quyển Độn Giáp Kì [Kỷ] Môn 遁 甲 奇 門 [A13] và Tam Kì Bát Môn Độn Pháp 三 奇 八 門 遁 法 [A36]. Cả hai được biên soạn bằng tiếng Hán cổ điển bởi các tác giả vô danh; niên đại biên soạn của chúng không được hay biết. Thủ bản nêu tên trước có gồm một phụ lục nhan đề Chiêm Tinh Bốc Pháp 占 星卜 法 (Các Phương Pháp bói toán trên căn bản các chùm sao (asterisms). Tuy nhiên, điều rõ ràng rằng một số các khảo luận hiện tồn lưu giữ các thành tố của hệ thống Kỳ Môn Độn Giáp được kết hợp với biểu thức thứ ba của các truyền thống “biểu thức vũ trụ”, Liu ren: Lục Nhâm.

(3) Hệ thống Lục Nhâm: Liu ren.

Căn nguyên của hệ thống “biểu thức vũ trụ” Trung Hoa thứ ba cho thuật bói toán, liu ren 六 壬 (Lục Nhâm trong tiếng Việt), trở lùi về đến thời tiền nhà Hán (206 TCN – 220 SCN), mặc dù sự trình bày đầy đủ lần đầu về hệ thống có niên đại thời nhà Đường (618 – 907). 53 Một sự thảo luận chi tiết về phương pháp được cung cấp bởi nhà thông thái Shen Gua 沈 栝 Trầm Quát (hay Shen Kuo, 1031 – 1095) trong sách của ông nhan đề Mengxi bitan 夢 溪 筆 談 Mộng Khê Bút Đàm cho thấy cho thấy hệ thống Lục Nhâm tương liên với niên lịch nhiều đến đâu. 54 Trong tiến trình bói toán một bảng xoay tròn chia làm mươi hai cung (duodenary) được giả định sẽ được dùng đến; nó có thể được thay thế bởi lòng bàn tay của thày bói, điều khiến cho hệ thống trở nên “thuận thủ: portable” hơn, khi so sánh với hai hệ thống kia. 55

Truyền thống này rõ ràng thụ hưởng sự ưa chuộng lớn lao tại Việt Nam; tôi đã có thể tìm được các quyển khảo luận sau đây: Đại Lục Nhâm Đại Toàn 大 六 壬 大 全 [A11], Lục Nhâm 六 壬 [A17], Lục Nhâm Đại Độn 六 壬 大 遁 [A18, A19], Lục Nhâm Đại Độn Pháp 六 壬 大 遁 法 [A20], Lục Nhâm Kinh Vĩ Lược 六 壬 經 緯 略[A21], Lục Nhâm Quốc Ngữ 六 壬 國 語 [A22], Lục Nhâm Tiện Lãm 六 壬 便 藍[A23], và Tân San Lục Nhâm Đại Độn Bí Truyền 新 刊 六 壬大 遁 泌 傳 [A35]. 56 Quyển đầu tiên của các văn bản này [A11] là một sự phỏng tác các quyển (juan 卷) 4 và 5 của tập khảo luận của Trung Hoa nhan đề Liu ren da quan 六 壬 大 全 Lục Nhâm Đại Toàn của tác giả người Trung Hoa thời nhà Minh tên Guo Zailai 郭 載 騋 Quách Tải Lai (niên đại không rõ, hoạt động hồi đầu thế kỷ thứ 17); một trong các ấn bản hiện tồn cũng gồm cả các quyển (juan) 118 và 119 của tập khảo luận của Trung Hoa có tên Wubei zhi 武 備 志 Vũ Bị Chí (Tài Liệu Về Các Sự Dự Phòng Quân Sự, 1621) của Mao Yuanyi 茅 元 儀 Mao Nguyên Nghi (1594 – 1640). Thủ bản [A19] có chứa hai phụ lục nhan đề Lục Nhâm Khởi Lệ 六 壬 起 栵 (các thí dụ cho sự khởi đầu trong phương pháp Lục Nhâm) và Ngọc Trướng Đàm Binh Ca 玉 帳 談 兵歌 (các đoạn thơ ngắn thảo luận các sự áp dụng quân sự từ trướng bằng ngọc) giải thích bằng tiếng Nôm hệ thống bói toán Lục Nhâm (tức Liu ren 六 壬); các phụ lục này được gán cho sự trước tác của nhà trí thức nổi tiếng và viên chức chính quyền cao cấp Phùng Khắc Khoan 馮 克 寬 (1528 – 1613), kẻ đã được phái làm sứ giả sang Trung Hoa trong năm 1597 và trở về nước năm 1599. 57 Theo một số nguồn tài liệu, Phùng Khắc Khoan đã phiên dịch Yijing: Dịch Kinh sang tiếng Việt (tức tiếng Nôm); 58 Sự kiện này có thể được sử dụng để xác nhận sự tinh thông của ông về văn chương bói toán cũng như sự quan tâm của ông đến việc phiên dịch các văn bản tiếng Hán sang tiếng Việt, ngay dù người ta không thể hoàn toàn gạt bỏ khả tính rằng sự trước tác mang tên họ Phùng, vị học giả nổi tiếng và sứ giả sang Trung Hoa, đã chỉ được gán cho các văn bản chiêm tinh vô danh sau này hầu làm tăng tầm quan trọng của chúng. Một văn bản nhan đề Binh gia yếu chỉ 兵 家 要 旨 bing jia yao zhi (các chỉ dẫn thiết yếu cho nhà binh), chuyên khảo về các ứng dụng của thuật bói toán cho các mục đích quân sự và được giả định được trước tác bởi họ Phùng, được phụ đính vào tập khảo luận [A22], trong khi một tập khảo luận ngắn nhan đề Thiên Vận Bí Thư 天 運 铋 書 tian yun bi shu, (văn bản bí mật về các chu kỳ của trời), trình bày các liên hệ giữa các hiện tượng khí hậu và các niên lịch, và cũng được gán cho sự trước tác của họ Phùng, được phụ đính theo tập khảo luận Xin lue tian shu 心 略 天 樞 Tâm Lược Thiên Xu được viết bởi học giả và chiêm tinh gia Trung Hoa nổi tiếng Liu Bowen 劉 伯 溫 Lưu Bá Ôn (Liu Ji 劉 基 Lưu Cơ), 1311 – 1375). 59

Cải Biên Các Văn Bản Trung Hoa:

Thí Dụ Về Quyển Ngọc Hạp Kí 玉 Yu xia ji

Trong phần này, tôi muốn trình bày sự phức tạp của tiến trình biên soạn các văn sách chiêm tinh Việt Nam trên căn bản nguyên bản Trung Hoa của chúng. Chúng ta hay cứu xét trường hợp của một nhóm các khảo luận liên hệ đến truyền thống trích yếu chiêm tinh Trung Hoa Yu xia ji 玉 匣 記 Ngọc Hạp Ký (Các Tài Liệu Từ Rương Bằng Ngọc). Các nhan đề của một số các văn bản Việt Nam có chứa hai từ Ngọc Hạp 玉 匣 (Rương bằng Ngọc), gồm, Ngọc Hạp 玉 匣 [A25], Ngọc Hạp Toản Yếu 玉 匣 攢 要 [A26], Ngọc Hạp Toản Yếu Thông Dụng 玉 匣 攢 要 通 用[A27], Tăng Bổ Tuyển Trạch Thông Thư Quảng Ngọc Hạp Ký 增 補 選 擇 通 書 廣 玉 匣 記 [A37] và Thông Thư Quảng Ngọc Hạp Ký 擇 通 書 廣 玉 匣 記 [A44]. Truyền thống này rõ ràng khá phổ thông: Thư Viện của Viện Hán-Nôm trữ 10 bản in của [A25], một trong chúng có niên đại năm 1876 và một bản năm 1923; các khảo luận [A27], [A37], và [A44] cũng được in. Các tác giả của các thư tịch Trần và Gros 1993 và Liu 2002 đồng ý rằng các văn bản này in lại một nguyên bản Trung Hoa và gán nguồn trước tác cho một Đạo Sĩ bất tử “Perfected Lord Xu” (許 真 君: Hứa Chân Quân, tức Xu Xun 許 遜 Hứa Tốn (239-292/374?). 60 Văn bản của Daozang (Đạo Tang) nhan đề Xu zhen jun yu xia ji 許 真 君 玉 匣 記 Hứa Chân Quân Ngọc Hạp Ký (Các Tài Liệu Từ Rương Bằng Ngọc của Hứa Chân Quân) với một lời đề tựa năm 1433 [YXJ: Ngọc Hạp Ký], trong thực tế, được quy kết công khai do sự trước tác của ông. 61 Có đúng Xu Xun (Hứa Tốn), nổi tiếng chính yếu như một kẻ hạ sát con rồng và một người con hiếu thảo, cũng là một chuyên viên trong khoa chiêm tinh học hay khổng? 62 Câu hỏi này có lẽ không liên hệ đến chủ đề của phần này cho bằng câu hỏi sau đây: Có phải văn bản này từ Daozang (Đạo Tang) trong thực tế đã được in lại trong các khảo luận Việt Nam được nói đến ở trên? Một sự phân tích sơ lược cho thấy rằng câu trả lời ở thể xác định, nhưng tình trạng còn lâu mới đơn giản. Văn bản nguyên thủy được tìm thấy trong Daozang (Đạo Tang) dưới nhan đề 玉 匣 記 Ngọc Hạp Ký (Các Tài Liệu Từ Rương bằng Ngọc) chứa đựng về mặt kỹ thuật, ba phần: (A) văn bản nhan đề Zhu shen sheng dan ling jie ri qi 諸 神 聖 誕 令 節 日 期 Chư Thần Thánh Đản Lệnh Tiết Nhật Kỳ có ghi niên đại giữa thế kỷ thứ 15; (B) văn bản đã nói ở trên Xu zhen jun yu xia ji 許 真 君 玉 匣 記 Hứa Chân Quân Ngọc Hạp Ký [YXJ]; và © Fa shi xuan ze ji 法 師 選 擇 記 Pháp Sư Tuyển Trạch Ký (Các Tài Liệu Về Các Sự Lựa Chọn [Các Ngày Tốt] của Pháp Sư) [XZJ]. Đoạn mở đầu tương đối ngắn của phần ©, từ giờ trở đi gọi tắt là C1 [XZJ: 325-326], có niên đại là 627 SCN và được tiếp nối bởi một đoạn “Tái Bút: Postscript)” (C2) [XZJ: 327-346] rất dài có niên đại là 1488 và gồm một số lượng lớn các văn bản chiêm tinh tương đối ngắn. Nếu bây giờ chúng ta xét đến tập khảo luận Việt Nam Ngọc Hạp Toản Yếu Thông Dụng 玉 匣 攢 要 通 用 [A27], chúng ta có thể nhìn thấy rằng phần (A) hoàn toàn bị bỏ ra, phần lớn phần (B) được sao chép lại nơi đoạn mở đầu của tập khảo luận Việt Nam (các trang 2b – 6b), và phần (C1) được in lại ngay sau đó (các trang 6b – 9b); kế đến, theo sau là một đoạn dài có nhan đề (bằng tiếng Hán) “Zhan san shi er gua ding ji xiong” 占 三 十 二 掛 定 吉 凶, Chiêm Tam Thập Nhị Quái Định Cát Hung (Thuật Bói Toán [sử dụng] 32 quẻ 6 hào (hexagrams) để xác định điều (ngày) tốt và xấu, các trang 9b – 19b) không được tìm thấy trong ấn bản Daozang: Đạo Tang. Chỉ sau đó mới đến đoạn mang nhan đề [bằng tiếng Hán] “Jin fu jing” 金 符 經 “Kim Phù Kinh” (Khảo luận về Kim Phù [Thẻ bài, phù hiệu bằng vàng: Golden Talisman, các trang 19b – 25a) được in lại từ văn bản Daozang (Đạo Tang) [XZJ: 331 – 334], và sự kiện rằng các nhà biên soạn ấn bản Việt Nam đã xác định một cách chính xác vị trí của nhan đề trong ấn bản của văn bản của họ khiến ta suy tưởng một cách vững chắc rằng họ đã có trong tay một phiên bản của tập khảo luận không dựa trên ấn bản Daozang(Đạo Tang) . Bằng cách nào và vào lúc nào phiên bản thay thế này của tập khảo luận đã vươn tới các nhà bói toán Việt Nam có lẽ vẫn chưa được hay biết.

Các Kết Luận

Để nghiên cứu lịch sử truyền thống chiêm tinh Việt Nam, một vài khảo hướng rõ ràng đáng tin cậy ngang nhau. Một cuộc điều tra các nguồn văn bản hiện tồn được cung cấp trong bài viết này chỉ là một trong các khảo hướng; một phương pháp đáng tin cậy khác sẽ là một sự nghiên cứu các bản văn báo cáo của các giáo sĩ truyền đạo Tây Phương hoạt động tại Việt Nam từ hồi đầu thế kỷ thứ 17, cũng như của các khách lữ hành và các thương nhân Tây Phương và Trung Hoa. Muốn có một sự nghiên cứu về tình hình ngày nay, các kết quả của các cuộc nghiên cứu thực địa khảo cổ gần đây có thể được sử dụng. Mỗi khảo hướng đều có các nhược điểm của nó. Vô số tài liệu cổ xưa bị đánh mất, và điều không được hay biết là các khảo luận Hán-Nôm hiện tồn đại diện đến tầm mức nào sự sao chép các tác phẩm chiêm tinh đã được lưu hành trong giới các nhà chiêm tinh Việt Nam từ thế kỷ thứ 10 đến đầu thế kỷ thứ 20; điều cũng không được biết rõ các cách thực hành bói toán thực sự của các nhà chiêm tinh đó nhiều đến đâu tương ứng với các văn bản thành văn. Nếu người ta nghiên cứu các báo cáo của các nhà truyền giáo, các thương nhân và các khách lữ hành, các sự đề cập hiếm hoi đến các sự thực hành thuật bói toán bản địa cho thấy rõ rằng sự nghiên cứu của họ đã không tập trung vào nghị trình học thuật của các nhà truyền giáo và các nhà thám hiểm, và, hơn nữa, sự lý giải của các cách thực hành bói toán cũng như các tài liệu liên hệ không bao giờ được tiết lộ cho họ bởi các nhà bói toán Việt Nam. Đối với các nhà nhân chủng học hiện đại, ngay cả những người trong họ đã cố gắng để có cái nhìn sát cận hơn đến các sự thực hành thực sự của các nhà bói toán ngày nay, trong phần lớn trường hợp, đã không quen thuộc với các tiền lệ lịch sử của các hiện tượng mà họ quan sát, đặc biệt với các văn sách bói toán bằng Hán-Nôm.

Trong bài viết này tôi đã trình bày ngắn gọn khung cảnh định chế của các thế kỷ đầu tiên của truyền thống chiêm tinh Việt Nam được bảo trợ bởi nhà nước độc lập, và cung cấp các kết quả của một sự kiểm tra sơ lược một phần nhỏ của các tài liệu chiêm tinh hiện tồn. Tất cả các tài liệu thảo luận hóa ra hoặc là các bản sao chép các văn bản Trung Hoa (đôi khi được thay đổi hay tóm lược) hay các tác phẩm dựa trên các nguyên tác Trung Hoa. Lịch sử của sự chuyển giao chúng sang Việt Nam thì không rõ ràng; đa số các văn bản Việt Nam hiện tồn không có ghi niên đại, và những văn sách có ghi niên đại được sản xuất (thường được in ấn) tương đối sau này. Rất thường nguồn gốc tác giả của các văn bản không được biết rõ; trong một số trường hợp, các niên đại của đời sống của các tác giả phỏng định khiến ta nghĩ rằng sự chuyển giao có thể đã xảy ra khá sớm, như trong trường hợp các tập khảo luận được gán cho sự trước tác của Phùng Khắc Khoan 馮 克 寬, song luôn luôn có một khả tính rằng tên họ của tác giả giả định, thường là một học giả nổi tiếng hay một viên chức cao cấp, chỉ được liên kết với một văn bản vô danh sau sinh thời của nhà học giả. Tuy nhiên, như lịch sử của các định chế chiêm tinh chứng minh, ngành chiêm tinh học chắc chắn đã khởi sự được thực hành cho các mục đích của nhà nước Việt Nam ngay từ thế kỷ thứ 11; không may, điều vẫn chưa được hay biết về phương cách và thời gian mà các văn bản chiêm tinh Trung Hoa đã tìm đường đến tỉnh hạt ly khai sau thế kỷ thứ 10, và chúng đích xác là những gì. Tại các thư viện hiện đại lưu trữ các sưu tập sách Hán-Nôm, tất cả các văn sách chiêm tinh được gộp chung lại với nhau, điều có vẻ khiến ta suy nghĩ rằng chiêm tinh học đã là một ngành được thực hành bởi chỉ một nhóm duy nhất các chuyên viên; tuy nhiên, người ta có thể lập luận rằng sự chuyển giao các văn bản chiêm tinh và kỹ năng chuyên môn đi từ Trung Hoa sang Việt Nam xuyên qua một số luồng, và ở cả hai phía, các nhóm xã hội liên can đến tiến trình này bao gồm từ các nhà chiêm tinh của hoàng triều đến các thày bói ở thôn quê./-

____

CHÚ THÍCH

1. Cuộc nghiên cứu các khảo luận Việt Nam thảo luận trong bài viết này được yểm trợ bởi các khoản trợ cấp sưu khảo 95-2411-H-007-037 (trong các năm 2006-2007) và 96-2411-H-007-004-MY3 (trong các năm 2007-2012) của Hội Đồng Khoa Học Quốc Gia (National Science Council) (Đài Loan), cũng như bởi một khoản trợ cấp từ Dự Án “Chính Sách Đa Văn Hóa Tại Á Châu Gió Mùa: Multiculturalism in Monsoon Asia” (Đại Học National Tsing-Hua University, Hsinchu, Taiwan) trong các năm 2008-2012. Tác giả cám ơn hai vị ẩn danh đã xét duyệt về các ý kiến hữu ích trên bản thảo đầu tiên của bài viết này.

2. Muốn có một sự mô tả chi tiết về lịch sử và các đặc tính chính yếu về chữ Nôm, xem Lê 1995; trên các trang 93-96 của luận án này, người đọc sẽ tìm thấy nhiều sự tham chiếu liên quan đến các ấn phẩm bằng tiếng Việt và tiếng Pháp. Muốn có các ấn phẩm bằng tiếng Anh, xin xem, thí dụ, Nguyễn 1956; 1990.

3. Ở đây và nơi khác trong bài viết này, tôi cung cấp các cách đọc trong tiếng Việt các chữ Hán-Nôm; cách đọc chúng trong Hoa ngữ theo hệ thống phiên âm pinyin, khi được cung cấp, được ghi dấu với từ ngữ “Hán tự: Chinese”. Các nhan đề của các sách tiếng Hán và tên gọi của các tác giả Trung Hoa đuợc cung cấp theo hệ thống phiên âm pinyin mà không có cách đọc theo Hán Nôm [người dịch đã phiên âm sang tiếng việt trong các trường hợp này, Ngô Bắc].

4. Trong năm 1878, chính quyền thực dân ra nghị định rằng sau năm 1882, Quốc Ngữ sẽ là hình thức chính thức duy nhất của chữ viết, ngoài tiếng Pháp; xem Osborne 1997: 163. Tuy nhiên, như được nêu ý kiến một cách tức thời bởi các người điểm bài ẩn danh của bài viết này, lập trường được lấy bởi các thẩm quyền thực dân Pháp và bởi giới văn nhân Việt Nam về sự giảng dạy, và bằng Quốc Ngữ, đã trải qua các sự sửa đổi đáng kể trong đầu thế kỷ thứ 20. Không may, một sự thảo luận chi tiết về đề tài hấp dẫn này sẽ không liên quan đến nơi đây; độc giả quan tâm được giới thiệu đến Marr 1981, Osborne 1997, Poisson 2004, và Trịnh 1995, trong số nhiều tác giả khác.

5. Như D. Marr đã viết về nó, “Vào khoảng 1930 ý tưởng rằng sự phát triển và phổ biến chữ Quốc Ngữ cấu thành các thành tố thiết yếu của cuộc đấu tranh giành độc lập và tự do đã là một phần của mọi đề cương [chống thực dân] triệt để”. (Marr 1981: 150).

6. Văn 2008: 266-267.

7. Về các kỹ thuật bói toán được dùng bởi một số dân tộc ít người tại Việt Nam xem, thí dụ, Arhem 2009; Vargyas 2004.

8. Dumountier 1899; 1914; 1915; Coulet 1926; 1929.

9. Nguyễn 2002: 245-256.

10. Huard và Durand 1954: 65-71.

11. Huard và Durand 1954: 66. Đã có nhiều ấn bản khác nhau của quyển sách nhan đề Tử Vi Đẩu Số 紫 微 斗 數, được bảo quản tại thư viện Viện Hán Nôm (Hà Nội) cũng như tại thư viện Hội Nghiên Cứu Á Châu (Société Asiatique) (Paris) (xem mục số [A47] trong thư tịch ở cuối bài viết này), nhưng tôi không thể xác định được bất kỳ ấn bản nào của quyển Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư được đề cập tới bởi Huard và Durand. Một cách ngạc nhiên, các tác giả cũng xác nhận rằng các nhà chiêm tinh Việt Nam có sử dụng bộ bách khoa về toán học của Trung Hoa, Số Lý Tinh Uẩn 數 理 精(Shu li jing yun) được soạn thảo năm 1723 dưới sự chỉ đạo của Mei Juecheng 梅瑴 成 Mai Quyết [?] Thành (1681-1763). Xin đối chiếu với một sự đề cập đến sưu tập này trong một quyển lịch chính thức của Trung Hoa, được trích dẫn (nhưng không xác định một cách xác thực) bởi tác giả C. Morgan (1980: 21).

12. Chẳng hạn như sưu tập của Thư Viện Quốc Gia (Hà Nội) cũng như một số sưu tập nhỏ hơn, thí dụ, sưu tập của Viện Sử Học, Hàn Lâm Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam. Sự kiểm tra của tôi tại hai thư viện kể sau tiến hành trong các năm 1998 – 2008 cho thấy chúng có lưu giữ một số các văn bản về bói toán (kể cả chiêm tinh học) không được liệt kê trong thư mục của Trần và Gros (1993) hay của Lii và các tác giả khác (2002).

13. Quyển [Đại] Việt Sử Lược [SL 1936] có gồm một phụ lục nhan đề “Niên Biểu Triều Trần 陳“viết cho thời khoảng từ 1225 đến 1377; L. Cadière và P. Pelliot (1904: 626) đã dùng sự kiện này để kết luận rằng quyển niên biểu đã được soạn tháo trong thời trị vì của Hoàng Đế Trần Phế Đế 陳 廢 帝 (tên riêng là Trần Hiện 陳晛, trị vì từ 1377-1388). Tuy nhiên, A. Polyakov, trên căn bản sự phân tích văn bản của ông về quyển niên biểu, đã lập luận với đầy sức thuyết phục rằng hai chương đầu tiên của nó đã được soạn thảo hồi đầu kỷ thứ 12 (Polyakov 1980: 74).

14. SL 1936: 27; Polyakov 1980: 143.

15. Tài liệu liên hệ trong [Đại] Việt Sử Lược [大] 越 史 略 viết: 前 安 奉 天 殿o 上 建 正 陽 樓o 為 掌 漏 刻 之 處: tiền an Phụng Thiên Điện, thượng kiến Chính Dương Lâu, vi chưởng lậu khắc chi xử [SL 1936: 29], có nghĩa “Trước Thềm Rồng [Dragon Stairs 龍 墀 Long Trì, chỉ Quốc Vương] có dựng Đàn Tế Trời (Pavilion of Paying Tribute to Heaven). Trên nóc [của nó nhà vua] xây Chính Dương Lâu正 陽 樓 là nơi để điều khiển đồng hồ bằng nước (clepsydra); cũng xem một bản dịch trong Polyakov [1980: 147]. Biến cố này có được trình bày trong quyển Đại Việt Sử Ký Toàn Thư 大越 史 記 全 書 bằng các từ ngữ khác biệt đôi chút: “ 前 安 奉 天 殿o 上 建 正 陽 樓o 刻 之 處: tiền an Phụng Thiên Điện, thượng kiến Chính Dương Lâu, vi chủ chưởng trù khắc chi xử [TT 1984: 221] [các chữ màu đậm chỉ sự khác biệt, nhấn mạnh bởi người dịch]. Nếu từ ngữ 籌 trù: thẻ [bằng tre, gỗ, ngà voi ….để đếm hay làm toán, chú của người dịch] không phải là một sự nhầm lẫn của kẻ sao chép, nó có thể chỉ các que đếm (hay thẻ bài) được dùng trong các sự tính toán thiên văn. Các que đếm này cũng được sử dụng bởi các nhà chiêm tinh Việt Nam cho đến thế kỷ thứ 17 hay còn sau hơn thế; xem Volkov 2009.

16. SL 1936: 61; Polyakov 1980: 206.

17. Các niên sử không đề cập đến vụ thiên thực hình vành khuyên ngày 4 Tháng Tám 1217, được trông thấy thấy Bắc Việt Nam, hay vụ thiên thực ngày 23 Tháng Năm 1221, được trông thấy tại Trung Hoa và Bắc Việt Nam. [Đại] Việt Sử Lược không chứa bất kỳ tin tức nào liên hệ có niên kỳ sau năm 1225, và Đại Việt Sử Ký Toàn Thư 大 越 史 記 全 書 không đề cập đến các vụ thiên thực xảy ra vào ngày 3 Tháng Bảy 1228 và ngày 19 Tháng Mười Hai 1237. Vụ thiên thực năm 1229 được đề cập trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (Ho, 1964: 139, số 34) là tưởng tượng; vụ thiên thực thực sự sớm nhất trong số các vụ thiên thực được liệt kê trong bộ niên sử kể tên sau như đã xảy ra trong thế kỷ thứ 13 là vụ thiên thực ngày 26 Tháng Chín 1242 (cùng nơi đã dẫn: ibid., số 35). Tin tức về các vụ thiên thực này và các vụ nhật thực khác được lấy từ trang mạng của Cơ Quan NASA nhan đề “Các sự Tiên Đoán Thiên Thực của Fred Espenak ("Eclipse Predictions by Fred Espenak, NASA's GSFC") tại

http://eclipse.gsfc....as/SEatlas.html.

18. Sự thay thế các từ kỵ húy 邦 [bang] và 新 [tân] (được dùng trong tên cá nhân của các hoàng đế Việt Nam Anh Tông 英 宗, tên cá nhân là Lê Duy Bang 黎 維 邦, trị vì 1557-1572, và Kính Tông 敬 宗, tên cá nhân là Lê Duy Tân 黎 維 新 trị vì 1600-1618, trong tập bản đồ hiện tồn khiến ta nghĩ rằng nó không phải là một bản sao chính xác của nguyên bản mà là của phiên bản đã được sửa đổi sau này, xem Liu và các tác giả khác, 2002: 305. Tác giả John K. Whitmore (1995: 486) đưa ra các chi tiết bổ túc khiến ta nghĩ rằng tập bản đồ hiện tồn là một quyển tái bản trong thế kỷ thứ 17 của nguyên bản thuộc thế kỷ thứ 15; cũng xem Papin 2001: 123-124.

19. Bởi có sự đồng âm tên gọi định chế này trong Hán tự, Si tian jian 司 天 監 Ty Thiên Giám tác giả Hucker (1985: 456) đề nghị thay bằng tên gọi là “Nha Thiên Văn: Directorate of Astronomy”; sự diễn dịch này có thể hàm ý rằng văn phòng này (theo sát nghĩa “Cơ Quan Thẩm Quyền Giám Sát phụ trách các vấn đề liên quan đến Trời (Heaven)”) thực hiện các hoạt động chỉ chuyên về thiên văn, trong khi định chế thực sự phụ trách việc quan sát mọi loại hiện tượng trên trời (kể cả các hiện tượng về khí tượng) và về sự giải thích của chúng, về thiên văn (astronomy) cũng như chiêm tinh học (astrological).

20. Hucker 1985: 456-457, số 5780.

21. Han 1991: 4. Về các sự hạn chế áp đặt trên sự lưu hành tài liệu thiên văn và chiêm tinh dưới các triều đại nhà Đường và nhà Tống, xem Morgan 1987: 57.

22. Fedorin 2009.

23. Lee 1985: 96; Friedsam 2003: 52.

24. Các người điểm duyệt ẩn danh bài viết này đã vạch ra một cách chính xác rằng sự mô tả các cuộc khảo thí về “tính toán” năm 1762 (CM 1996: 3720-3721) nói đến các bài toán đố về sự phân chia theo tỷ lệ cố định và cân nhắc cá biệt (tiếng Việt lần lượt là bình phân 平 分 và sai phân 差 分) như là đề mục của các cuộc khảo thí về ‘toán” (thực ra, niên sử đề cập đề mục này như một trong nhiều môn thi khác nhau, song các “môn kia” đã không được xác định cụ thể); về các vấn đề phân chia trong toán học Việt Nam, see Volkov 2012, và về các hoạt động hành chính liên can đến một số kiến thức toán học nào đó, chẳng hạn như khảo sát địa chính và kế toán, xem Poisson 2004. Chính vì thế, tài liệu này khiến ta nghĩ rằng vào thế kỷ thứ 18, các môn toán học và thiên văn gần như chắc chắn đã được giảng dạy một cách riêng rẽ; sự phỏng đoán này có thể được hậu thuẫn bởi một tài liệu có niên kỳ vào năm thứ 7 niên hiệu (Việt Nam) Cảnh Hưng 景 興 (1740-1786), tức năm 1746 (được tham chiếu trong CM 1969 là tương ứng với năm thứ 11 niên hiệu (Trung Hoa) Càn Long 乾 隆, 1735-1796, tức năm 1745) liên quan đến các cuộc khảo thí được thực hiện chuyên biệt về các chủ đề thiên văn (CM 1969: 3606). Tuy nhiên, sự phân biệt giữa hai ngành học xuất hiện trong các tài liệu này hồi giữa thế kỷ thứ 18 không bảo đảm cho kết luận rằng sự giảng dạy về toán học và thiên văn học luôn luôn được thực hiện một cách riêng biệt; nói cách khác, điều không có thể loại bỏ rằng tại một giai đoạn sớm hơn, sự giảng dạy toán học của Việt Nam bắt chước theo mô hình triều đại nhà Tống trong đó một số các đề mục, có tính chất toán học thuần túy theo một quan điểm hiện đại, đã được dạy cùng với các đề tài thiên văn và chiêm tinh, xem Lee 1985: 96 và Friedsam 2003: 52.

25. CM 1969: 697.

26. CM 1969: 984.

27. CM 1969: 1292.

28. CM 1969: 1458. Trong nguồn tài liệu này, năm trong vấn đề đưọc nói đến là năm thứ nhì của niên hiêu Khai Đại 開 大(1403-1407)của triều đại nhà Hồ 胡 (1400–1407), tức năm 1404, và cùng lúc, năm thứ nhì của niên hiệu Trung Hoa Vĩnh Lạc 永 樂 Yongle (1402-1424), tức năm 1403.

29. CM 1969: 2253, TT 1984: 703; bị in sai là năm "1472" trong sách của Han 1991: 6.

30. CM 1969: 2456. Các cuộc khảo thí đã diễn ra trong Tháng 12 của năm đầu tiên niên hiệu Trung Hoa Chính Đức 正 德 (1506-1522) và của năm thứ nhì niên hiệu Việt Nam Đoan Khánh 端 慶 (1505-1509); cả hai niên kỳ đều tương ứng với khoảng đầu năm 1507.

31. CM 1996: 3720-3721. Tài liệu này chứa đựng sự mô tả đã nêu trước đây về một cuộc khảo thí diễn ra trong Tháng Năm năm thứ 23 niên hiệu (Việt Nam) Cảnh Hưng 景 興 (1740-1786, tức năm 1762, được đề cập trong CM là tương ứng với năm thứ 27 niên hiệu (Trung Hoa) Càn Long 乾 隆 Qianlong, 1735-1796, tức năm 1761。

32. Volkov 2008.

33. Tên của định chế này trùng hợp với tên của đối nhiệm Trung Hoa của nó, Qin tian jian 欽 天監 Khâm Thiên Giám, được dùng vào cuối thời nhà Minh và trong thời nhà Thanh tại Trung Hoa; xem Hucker 1985: 169. Hucker phiên dịch tên của định chế này (theo sát nghĩa “Nha Bày Tỏ Sự Tôn Kính Ông Trời”) là “Nha Thiên Văn: Directorate of Astronomy”, ngay dù sự trình bày của chính ông nói rõ rằng các chức nghiệp của nhân viên của nó gồm cả các việc quan sát khí tượng và bói toán.

34. Xem [KTG].

35. Ho 1964: 138, các [chú thích?] số 22-24, lần lượt.

36. Có thể rằng sự phân bố các vụ thiên thực [nhật hay nguyệt thực] được nói đến trong quyển Đại Việt Sử Ký Toàn Thư đã cố ý được sắp đặt cho tương ứng với lịch sử chính trị của Việt Nam, bởi vì tất cả các vụ thiên thực ghi nhận được, ngoại trừ các vụ thiên thực của năm 479 và 1422, đều nằm trong các thời kỳ độc lập chính thức của Việt Nam ra khỏi Trung Hoa: thời kỳ từ 205 đến 122 TCN tương ứng với triều đại nhà Triệu 趙 Việt Nam (207-111TCN), vụ thiên thực năm 41 SCN xảy ra trong thời khoảng có sự nổi dậy của chị em Bà Trưng 徵 (40-43 SCN), và vụ thiên thực năm 547 nằm trong thời kỳ trị vì của nhà Tiền Lý Việt Nam (544-602). Vụ thiên thực vào ngày 8 Tháng Tư năm 479 là một vụ thiên thực hình vành khuyên, được nhìn thấy tại Ấn Độ và Trung Hoa, có thể khó nhìn thấy tại Việt Nam; ngược lại, vụ toàn thực ngày 20 Tháng Chín năm 461, được nhìn thấy hoàn toàn tại Bắc Việt Nam, lại không được liệt kê. Vụ thiên thực ngày 23 Tháng Một năm 1422 cũng không được nhìn thấy tại Việt Nam.

37. SL 1936: 30; Polyakov 1980: 149.

38. Ho 1964: 139, số 29.

39. SL 1936: 61; Polyakov 1980: 206.

40. Hai vụ thiên thực này là: (1) một vụ vào ngày đầu tiên của Tháng Mười Một năm 1105 (thiên thực một phần), xem SL 1936: 42; và Polyakov 1980: 173, và (2) vụ xảy ra ngày đầu tiên của tháng thứ nhì năm 1188, xem SL 1936: 57, và Polyakov 1980: 198. Sự ghi chép vụ trước có lẽ tương ứng với vụ thiên thực vào ngày 16 Tháng Mười Hai năm 1107, và vụ kể sau tương ứng với vụ thiên thực vào ngày 17 Tháng Hai năm 1189; cả hai vụ thiên thực đều được nhìn thấy tại Việt Nam.

41. Vụ thiên thực vào ngày đầu tiên của tháng thứ mười năm 1093; xem SL 1936: 41; Polyakov 1980: 170. Từ 1081 đến 1100 đã chỉ có hai vụ thiên thực có thể được nhìn thấy tại Hà Nội: một vụ vào ngày 19 Tháng Ba năm 1094, và vụ kia vào ngày 14 Tháng Mười năm 1083. Không có vụ thiên thực nào được nhìn thấy tại Trung Hoa trong thời khoảng này.

42. Xem Nam Ông Mộng Lục (Ghi chép về các giấc mơ của một Ông Già từ Phương Nam) 南 翁 夢 錄 Nan weng meng lu, của Hồ Nguyên Trừng 胡 元 澄 (cũng được biết là Lê Trừng 黎 澄, 1374?-1446?), đoạn trích dẫn liên hệ như sau:

(Người này [=Trần Nguyên Đán] am tường và hiểu biết các phương pháp về niên lịch; [ông ta] đã biên soạn quyển Bách Thế Thông Kỷ Thư 百 世 通 紀 書, khởi đầu với cấu hình của chùm sao nguyên thủy của vua Nghiêu [vị hoàng đế Trung Hoa trong huyền thoại] xuống tới các triều đại nhà Tống và nhà Nguyên. [Ông] đã tính toán (?) các sự giao hội giữa mặt trăng và mặt trời, và các vụ thiên thực, các độ đo [= tọa độ] của các hành tinh và các ngôi sao trên quỹ đạo liên hệ của chúng. [Tất cả các dữ liệu này (?)] rất phù hợp với thời thượng cổ.); cũng xem Knorozova 2009: 156-157.

43. Trần 1938: 43, n. 3; Cadière và Pelliot 1904: 619, n. 3.

44. Ho Peng Yoke (2003) đề nghị sự phiên dịch tên gọi của ba kỹ thuật chiêm tinh này như sau: (1) Phương pháp của vị Thần Taiyi: Thái Ất” (36), (2) “[Sắp xếp] các điểm, sự việc, yếu tố và các Cửa [tốt, cát, lành] [cùng với] việc che dấu can Giáp [Wood [Mộc?]: yia” (trang 84) trong khi chỉ trích sự phiên dịch trực tiếp hơn như “Các Kỹ Thuật Trốn Tránh Các Cửa Kỳ Lạ: Strange Gates Escaping Techniques” (trang 83), và (3) “phương pháp sử dụng sáu năm trong lục tuần hoa giáp của can Nhâm (Dương Thủy)” (trang 5), đã ưa thích nó hơn là cách phiên dịch sát nghĩa hơn “Nghệ thuật Lục Nhâm (Dương Thủy)” (trang 113. Để giản tiện, tôi sẽ dùng tên phiên âm từ Hán tự cho các tên gọi này như dưới đây.

45. Ho 2003: 36.

46. Ho 2003: 36-40:171, [chú thích] số 3-4; tác giả Ho nêu ý kiến rằng một công cụ bói toán mới được khai quật gần đây thuộc thời nhà Hán có thể tượng trưng cho một hình thức thô sơ của kỹ thuật này (trang 41). Cũng xem Kalinowski 1991: 105, 542, [chú thích?] số 79, 568, số 23.

47. Thành phần này của phương thức bói toán rõ ràng đã bị sửa đổi khi được truyền bá tại Việt Nam.

48. Ho 2003: 66-68.

49. Trần 1937: 33. Hai khảo luận khác có liên hệ đến hệ thống bói toán Lục Nhâm: Liu ren; tôi sẽ trở lại chúng bên dưới. Họ Trần cũng đề cập tới công trình văn chương khác của ông Lê dành cho thuật bói toán (Trần 1937: 34); văn bản này, có nhan đề là Hải hội minh châu 海 會 明 珠, được cung ứng vào lúc họ Trần soạn bài viết của ông, giờ đây bị mất đi.

50. Ở đây, hoa hồng (rose) là loại có tên khoa học là Rosa Muliflora: hoa nở thành từng cụm nhiều hoa (Hán tự là wei vi. Zi wei 紫 薇 (Hồng Đỏ Tím): Tử Vi để chỉ một chùm sao gần bắc cực, xem, thí dụ, Ho 2003: 76.

51. Ho 2003: 74-82.

52. Ho 2003: 83-84.

53. Kalinowski 1983.

54. Ho 2003: 113-119.

55. Ho 2003: 137.

56. Trần 1937: 33 có nói đến hai tập khảo luận nữa liên quan đến truyền thống Lục Nhâm (tức liu ren 六 壬) được trước tác bởi Lê Quý Đôn 黎 貴 惇 (xem bên trên): quyển Lục Nhâm Hội Thông 六 壬 會 通 (Họ Trần dịch nhan đề này là Notions generals de la science de la divination appliquée à la guerre (Các Khái Niệm Tổng Quát về khoa học bói toán áp dụng cho chiến tranh), có lẽ dựa trên căn bản nội dung của nó) và Lục Nhâm Tuyển Túy 六 壬 選 粹 (Choix de principes essentiels de la science de la divination appliquée à la guerre), theo họ Trần; cả hai khảo luận này đều không được tìm thấy trong các thư tịch của Trần và Gros 1993, Liu và các tác giả khác 2002, hay tại Thư Viện Quốc Gia Việt Nam.

57. Cuộc du hành của ông sang Trung Hoa được đề cập tới trong quyển CM 1969: 2832; nó được ghi niên kỳ là tháng thứ tư của năm thứ 20 niên hiệu (Việt Nam) Quang Hưng 光 興, 1578-1599, tức năm 1697 [nhiều phần xếp chữ sai, phải là 1597, chú của người dịch] (được cho biết trong CM 1969 là năm thứ 25 niên hiệu (Trung Hoa) Wanli 萬 曆 Vạn Lịch, 1572-1620, tức năm 1596). Họ Phùng đã trở về từ Trung Hoa trong tháng thứ 12 năm thứ 21 niên hiệu Quang Hưng, tức, trong năm 1599 (được nói là năm thứ 26 niên hiệu Vạn Lịch, tức năm 1598), xem CM 1969: 2847. Về Phùng Khắc Khoan, cũng xem Gaspardone 1934: 115-116; Trần 1938: 106-107, 117; Knorozova 2009: 244, chú thích số 38; về cuộc gặp gỡ của ông với sứ giả Triều Tiên, xem Cheng 2009.

58. Trần 1938: 106-107.

59. Cũng xem văn bản viết tay đồ sộ Binh Pháp Tập Lược 兵 法 輯 略 (phiên âm theo hán tự bing fa ji lue) được cho là được biên soạn bởi Liu Bowen (Liu Ji) (Lưu Bá Ôn tức Lưu Cơ) và biên tập bởi Nguyễn Đức Uông 阮 德 汪 (không ghi niên kỳ), TG 246 (một bản chup bằng vi phim của nó được cung ứng tại thư viện của Trường EFEO ở Paris; tập khảo luận này dành cho các sự ứng dụng quân sự của khoa chiêm tinh.

60. Muốn có các dữ liệu tiểu sử của Xu Xun (Hứa Tốn) như được tìm thấy Daozang (Đạo Tang) và sự sùng bái ông ta, xem Boltz 1987: 70-78.

61. Muốn có một sự trình bày ngắn gọn, xem Ren 1991: 1170, số 1467.

62. Một văn bản không sớm hơn năm 1295 đề cập đến Xu Xun (Hứa Tốn) là “Xu Taishi zhenjun” 許 太 史 真 君 Hứa Thái Sư Chân Quân”, tức Hứa Tốn đã được nói đến một cách công nhiên như Nhà Đại Chiêm Tinh taishi 太 史 thái sư: Great Astrologer (Trưởng Phòng Chiêm Tinh, xem Hucker 1985: 481, số. 6212); J. Boltz đề nghị dịch là “Perfected Lord Xu, the Grand Scribe: Ngài họ Hứa hoàn hảo, Nhà Đại Thư Pháp” (1987: 75)

---------

SÁCH THAM KHẢO

1. Các Tài liệu Chính Yếu

A. Các khảo luận chiêm tinh học bằng tiếng Việt còn tồn tại đến nay

[Các văn bản trong phần này được sắp xếp theo thứ tự ABC các nhan đề của chúng theo cách đọc trong Việt ngữ. Đối với mỗi nhan đề, tôi cung cấp nhan đề của nó theo cách đọc Việt Ngữ, nhan đề nguyên thủy của nó bằng Hán Nôm, cách đọc theo phiên âm kiểu pinyin cho chữ Hán, và một tên tạm dịch (trong một số trường hợp có thể không hoàn toàn thỏa đáng). Mỗi văn bản có một ký số tham khảo được dùng trong thân bài của bài viết này, thí dụ, A35 để chỉ văn bản được liệt kê nơi phần này [phần A] với ký số 35. Các niên kỳ biên soạn và xuất bản, tên của (các) tác giả được nói đến trong các trường hợp hay biết được; nếu tên họ của họ không được cung cấp, điều đó có nghĩa họ vẫn chưa được hay biết đối với tôi. Với mỗi văn bản, các sự tham chiếu được cung cấp theo các thư tịch Trần and Gros 1993 (bắt đầu với các mẫu tư TG) và Liu et al. 2002 (bắt đầu với mẫu tự L); trong các trường hợp khi một văn bản được tìm thấy tại Thư Viện Quốc Gia Việt Nam, tôi cung câp số ký gọi từ thư tịch của thư viện này bắt đầu bằng các mẫu tự BNV.]

1. An tử vi quốc ngữ ca 安 紫 微 國 語 歌 (An zi wei guo yu ge). (Các lời giải đoán thuật bói toán số mệnh theo Tử Vi bằng thơ viết bằng chữ quốc gia [= Nôm]. BNV R. 293.

2. Bốc Phệ Chính Tông 卜 筮 正 宗 (Bu shi zheng zong) (Nguồn gốc chính thống của [các phương pháp bói toán] bốcphệ), 1848-1859. Của Tiên Sinh Cổ La 古 羅 先 生 (Âm Hán tự: Gu Luo) (không ghi niên kỳ). TG 227; L 2470.

3. Chiêm Bốc Tạp Nghiệm 占 卜 雜 驗 (Zhan bu za yan) Các cách thức bói toán linh tinh). TG 440; L 2491.

4. Chiêm Luận Sự Niên Nguyệt Nhật Thì Tích 占 論 事 年 月 日 辰 跡 (Zhan lun shi nian yue ri chen ji) ((Bói Toán dựa trên năm, tháng, ngày, và chùm sao [= giờ] sinh). TG 442; L 2492.

5. Chiêm Nhật Nguyệt Cát Hung Đồ 占 日 月 吉 凶 圖 (Zhan ri yue ji xiong tu) (Các biểu đồ bói toán liên quan đến điều tốt và điều xấu theo căn bản ngày tháng). TG 443; L 2493.

6. Chiêm Phu Thê Giá Thú Hợp Hôn Cát Hung Số 占 夫 妻 嫁 娶 合 婚 吉 凶 數 (Zhan fu qi jia qu he hun ji xiong shu) (Bói toán về các điều tốt và xấu của hôn nhân). TG 444; L 2493.

7. Chiêm Thiên Văn Chư Loại Đẳng Tinh Cát Hung Đồ 占 天 文 諸 類 等 星 吉 凶 圖 (Zhan tian wen zhu lei deng xing ji xiong tu) (Các biểu đồ bói toán về các nhân vật trên trời, thiên thể mọi loại và đẳng cấp, liên can đến các điều tốt và xấu). TG 447; L 2485.

8. Chiêm Thiên Văn Loại 占 天 文 類 (Zhan tian wen lei) (Các loại bói toán về các khuôn mẫu trên trời). TG 448; L 2486.

9. Chiêm Thiên Văn Thư 占 天 文 書 (Zhan tian wen shu) (Kinh sách bói toán về các khuôn mẫu trên trời). TG 449; L 2487.

10. Cửu Thiên Huyền Nữ Toán Pháp 九 天 玄女 算 法 (Jiu tian xuan nu suan fa) (Các Phép Tính Của Thiếu Nữ Huyền Bí Của Chín Tầng Trời). TG 640; L 2471.

11. Đại Lục Nhâm Đại Toàn 大 六 壬 大 全 (Da Liuren da quan) (Đại toát yếu về Sáu [các dấu hiệu, các can] Nhâm: ren. Nhan đề thay thế khác: Đại Lục Nhâm Đại Độn [trong nguyên bản đánh máy sai là Toàn] 大 六 壬 大 遁 (Da Liuren da dun) [Các Phương Pháp] của Cuộc Đại Lẩn Tránh và Của Sáu can Nhâm. Của Guo Zailai 郭 載 騋 thời nhà Minh. TG 823; L 2472.

12. Diệu Tiên Kinh 曜 仙 經 (Yao xian jing) (Khảo luận về thuật bói toán của các [Đạo Sĩ] bất tử (?)). TG 736; L 2504.

13. Độn Giáp Kì [Kỳ?] Môn 遁 甲奇 門 (Dun jia qi men) ([Các phương pháp] Độn Giáp và Kỳ Môn). 63 TG 1094; L 2500.

14. Khâm Định Hiệp Kỉ [Kỷ?] Biện Phương 欽 定 協 紀 辨 方 (Qin ding xie ji bian fang) ([Kinh sách] về các thời đại hợp nhất và các phương vị tách biệt, được phê chuẩn bởi Hoàng Đế). Các nhan đề thay thế khác: Hiệp Biện 協 辨 (Xie bian) (Thống Nhất và Tách Biệt); Tạp Chiêm 雜 占 (Za zhan) ([Các phương pháp] linh tinh của sự bói toán). TG 1652; L2498.

15. Linh Văn Thắng Lãm Kinh Tổng Luận 靈 文 勝 覽 經 總 論 (Ling wen sheng lan jing zong lun) (Tổng luận dựa theo sự kiểm tra các khảo luận về “kinh sách của các thần linh”). TG 2010; L 2506.

16. Lục Giáp Toàn Thư 六 甲 全 書 (Liu jia quan shu) (Toàn bộ kinh sách liên can đến phương pháp Lục Giáp). TG 2075; L 2507.

17. Lục Nhâm 六 壬 (Liu ren). TG 2077; L 2476.

18. Lục Nhâm Đại Độn 六 壬 大 遁 (Liu ren da dun) {[Các phương pháp của] Lục Nhâm và của Cuộc Đại Lẩn Tránh}. TG 2078; L 2508.

19. Lục Nhâm Đại Độn 六 壬 大 遁 (Liu ren da dun) {[Các phương pháp của] Lục Nhâm và của Cuộc Đại Lẩn Tránh}. TG 2079; L 2477.

20. Lục Nhâm Đại Độn Pháp 六 壬 大 遁 法 (Liu ren da dun fa) {[Các phương pháp của] Lục Nhâm và của Cuộc Đại Lẩn Tránh}. TG 2080; L 2478.

21. Lục Nhâm Kinh Vĩ Lược 六 壬 經 緯 略 (Liu ren jing wei lue) (Tóm lược Kinh Sách và Kinh Ngụy Tác về Lục Nhâm. TG 2082; L 2479.

22. Lục Nhâm Quốc Ngữ 六 壬 國 語 (Liu ren guo yu) ([Các phương pháp] Lục Nhâm [được giải thích bằng tiếng dân ta [= Nôm]]. TG 2083; L 2480.

23. Lục Nhâm Tiện Lãm 六 壬 便 覽 (Liu ren bian lan) (Tóm lược dành cho độc giả về Lục Nhâm). TG 2084; L 2481.

24. Mã Tiền Bốc Pháp 馬 前 卜 法 (Ma qian bu fa) (Các phương pháp bói toán [liên can đến việc “đổ nước] ở phía trước con ngựa của một người”). 64

25. Ngọc Hạp 玉 匣 (âm Hán tự: Yu xia) ([Tài liệu từ] rương bằng ngọc). Của Hứa Chân Quân 許 真 君 (Xu Xun: 許 遜 Hứa Tốn). TG 4744; L 2511.

26. Ngọc Hạp Toản Yếu 玉 匣 纂 要 (Yu xia zuan yao) (Cốt yếu của sự biên soạn từ Rương Bằng Ngọc). TG 4745; L 2483.

27. Ngọc Hạp Toản Yếu Thông Dụng 玉 匣 纂 要 通 用(Yu xia zuan yao tong yong) (Sự sử dụng thông thường các điều cốt yếu của sưu tập từ Rương Bằng Ngọc). In năm 1926. BNV R.2227.

28. Ngọc Trướng Huyền Cơ 玉 帳 玄 機 (Yu zhang xuan ji) ([Các phương pháp của] Bộ Máy [trong nguyên bản dịch chữ Cơ là Cực 極, được viết khác với chữ Cơ 機 trong nhan đề, vốn có nghĩa là Bộ Máy, chú của người dịch] Huyền Bí và Trướng Treo Ngọc). TG 2354; L 2488.

29. Ngọc Trướng Huyền Cơ Bí Độn Thư Pháp 玉 帳 玄 機 泌 遁 書 法 (Yu zhang xuan ji bi dun shu fa) (Các phương pháp của kinh sách về sự chạy trốn bí mật theo tập khảo luận về của Bộ Máy Huyền Bí và Trướng Treo Ngọc). TG 2355; L 2489.

30. Ngọc Trướng Huyền Cơ Bí Pháp 玉 帳 玄 機 泌 法 (Yu zhang xuan ji bi fa) (Các phương pháp bí mật của Bộ Máy Huyền Bí và Trướng Treo Ngọc). TG 2356; L 2490.

31. Quỷ Cốc Đại Định Hoàng Tuyền Số 鬼 谷 大 定 黃 泉 數 (Gui gu da ding huang quan shu) ([Sự bói toán] số mệnh về sự [quay về] Suối Vàng, được ấn định một cách uy nghiêm bởi [thầy] Quỷ Cốc). TG 2912; L 2496.

32. Quỳnh Lâm Huyết Hải Thư 瓊 林 血 海 書 (Qiong lin xue hai shu) (Kinh sách về Rừng Quỳnh và Biển Máu). TG 2914; L 2505.

33. Sách Coi Số 冊 […] 65 數 (Ce […] shu) (Coi số theo các [ ….] sách). TG 2921; L 2494.

34. Số Pháp Thư 數 法 書 (Shu fa shu) (Kinh sách về các phương pháp coi số). TG 2966; L 2502。

35. Tân San Lục Nhâm Đại Độn Bí Truyền 新 刊 六 壬 大 遁 泌 傳 (Xin kan Liu ren da dun bi chuan) (Truyền thống bí mật mới được ấn hành về [các phương pháp của] Lục Nhâm và của Sự Lẩn Tránh Lớn Lao). Một thủ bản đề niên kỳ 1883. TG 3192; L. 2501.

36. Tam Kì Bát Môn Độn Pháp 三 奇 八 門 遁 法 (San qi ba men dun fa) (Các phương pháp của Sự Lẩn Tránh [sử dụng] Ba [Tác Nhân] Kỳ Lạ và Tám Cửa). TG 3078; L 2473.

37. Tăng Bổ Tuyển Trạch Thông Thư Quảng Ngọc Hạp Ký 增 補 選 擇 通 書 廣 玉 匣 記 (Zeng bu xuanze tong shu guang Yu xia ji) (Niên giám về sự lựa chọn [các ngày tốt] cùng với quyển Ngọc Hạp Ký triển khai có các sự tăng bổ). Một nhan đề thay thế khác: Tuyển Trạch Thông Thư Quảng Ngọc Hạp Ký 選 擇 通 書 廣 玉 匣 記 (Xuanze tong shu guang Yu xia ji) (Niên giám về sự lựa chọn [các ngày tốt] cùng với quyển Ngọc Hạp Ký triển khai). Các ấn bản các năm 1876, 1920, và 1923. Của Hứa Chân Quân 許 真 君 (tức Xu Xun: 許 遜 Hứa Tốn). TG 4855; L 2518; BNV R.60.

38. Thái Ất Dị Giản Lục 太 乙 易 簡 錄 (Tai Yi yi jian lu) (Tài liệu giản lược [về bói toán theo phương pháp của] Thái Ất và theo Kinh Dịch. Được biên soạn bởi Lê Quý Đôn 黎 貴 惇 (1726-1784). TG 3290; L 2475.

39. Thái Ất Thống Tông Bảo Giám 太 乙 統 宗 寳監 鑑 (Tai yi tong zong bao jian) (Gương soi quý giá của Các Căn Nguyên Thống Nhất của [các phương pháp] Thái Ất). TG 3291; L 2482.

40. Tham Bình Bí Quyết Kim Tỏa Ngân Chủy Ca 參 評 泌 訣 金 鎖 銀 匙 歌 (Can ping bi jue jin suo yin shi ge) (Các bài thơ ngắn về các bí quyết được so sánh và bình luận về Kim Tỏa (Khóa Vàng) và Ngân Chủy (Chìa Khóa bằng bạc). TG 4889; L 2514.

41. Thần Lịch Tạp Kị [Kỵ?] Pháp 神 歷 雜 忌 法 (Shen li za ji fa) (Các phương pháp khác nhau về [các ngày] xấu [theo] lịch trình của các thần linh). TG 3388; L 2521.

42. Thiên Văn Thể 天 文 體 (Tian wen ti) (Cấu trúc (?) của các thiên thể). TG 3543; L 2474.

43. Thông Thư Chính Quyển 通 書 正 巻 (Tong shu zheng quan) Niên Giám: quyển chính thống). TG 3601; L 2497.

44. Thông Thư Quảng Ngọc Hạp Ký 通 書廣 玉 匣 記 (Tong shu guang Yu Xia ji) (Niên Giám cùng với Ngọc Hạp Ký triển khai). In năm 1876. TG 4926; L 2513.

45. Tiền Định Lâp Thành 前 定 立 成 (Qian ding li cheng) ({Cẩm Nang} lập sẵn để xác định số phận đã định). TG 3724; L 2495.

46. Toát Kim Bốc Pháp 撮 金 卜 法 (Cuo jin bu fa) (Các phương pháp bói toán [trị giá một toát vàng: cuo [đơn vị đo trọng lượng của Trung Hoa, 1/1000 đấu (thặng), chú của người dịch]]. TG 3797; L 2524,

47. Tử Vi Đẩu Số 紫 微 斗 數 (Zi wei dou shu) (Đoán số mệnh theo phương pháp của Tử Vi). TG 4992; L 2515.

48. Tử Vi Đẩu Số Giải Âm 紫 微 斗 數 解 音 (Zi wei dou shu jie yin) (Các sự giải thích và xem [chính xác] số mệnh theo phương pháp của Tử Vi). TG 4102; L 2509.

49. Tử Vi Giải 紫 微 解 (Zi wei jie) (Các sự giải thích về phương pháp của Tử Vi). TG 4993; L 2516.

50. Tử Vi Hà Lạc Nhâm Thìn Số 紫 微 河 洛 壬 辰 數 (Zi wei He Luo ren chen shu) (Đoán số mệnh theo các phương pháp của Tử Vi và Hà [tu] và Lạc [shu, Lục Nhâm và các chùm sao]. TG 4995; L 2517.

51. Tử Vi Số 紫 微 (Zi wei shu) (Đoán số mệnh theo Tử Vi). TG 4103; L 2499.

52. Tử Vi Thập Nhị Cung Đoán Pháp Quốc Âm Ca 紫 微 十 二 宮 斷 法 國 音 歌 (Zi wei shi er gong duan fa guo yin ge) (Các phương pháp có vần điệu để giải đoán trên căn bản các phương pháp của Tử Vi và Mười Hai Cung được diễn đạt bằng tiêng dân ta [tức chữ Nôm]). TG 4104; L 2510.

53. Tuyển Trạch Thông Thư Đại Toàn 選 擇 通 書 大 全 (Xuan ze tong shu da quan) (Các đề tài tuyển trạch từ bản tóm lược tổng quát các niên giám). Một bản sao của MS ghi niên kỳ năm 1880. TG 4044; L 2503.

B. Các Niên Sử Việt Nam

CM 1969 – Trần Văn Vi 陳 文 為 và các tác giả khác, đồng biên tập, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục 欽 定 越 史 通 鑑 綱. Taipei: Guoli zhongyang tushuguan.

SL 1936 – [Khuyết danh], [Đại] Việt Sử Lược [大] 越史略.Shanghai: Shangwu yinshuguan.

TT 1984 – Chen Jinghe 陳 荊 和 Trần Kính Hòa (biên tập), 校 合 本 大 越 史 記 全 書 Khảo (hay Hiệu) Hợp Bản Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Tokyo: Viện Nghiên Cứu Cao Cấp Về Á Châu, Đại Học Tokyo, 3 quyển, 1984-1986.

C. Các Tài Liệu Chính Yếu Khác

KTG – Khâm Thiên Giám 欽 天 監. Một thủ bản có niên kỳ 1930 được bảo tồn tại Viện Hán Nôm, Hà Nội; ký số VHv. 1261.

LHT – Lê Công Hành Trạng 黎 公 行 狀 (Một tiểu sử của Lê Quý Đôn). Thủ bản được bảo tồn tại Viện Hán Nôm, Hà Nội; ký số A. 43.

XZJ – Fa shi xuan ze ji 法 師 選 擇 記 Pháp Sư Tuyển Trạch Ký (Tài liệu về các sự lựa chọn ngày tốt của Pháp Sư). Trong Zhengtong Daozang 正 統 道 藏 Chính Thống Đạo Tang, Taibei: Hsin Wen Feng Publishing Company, 1977, quyển 60: 325-346.

YXJ – Xu zhenjun Yuxia ji 許 真 君 玉 匣 記 Hứa Chân Quân Ngọc Hạp Ký (Tài Liệu Từ Rương Bằng Ngọc của Hứa Chân Quân (tức Xu Xun 許 遜 Hứa Tốn), Trong Zhengtong Daozang 正 統 道 藏 Chính Thống Đạo Tang Taibei: Hsin Wen Feng Publishing Company, 1977, quyển 60: 321-324.

II. Các Nguồn Tài Liệu Thứ Yếu và Các Bản Dịch

ARHEM, Nikolas (2009). In the Sacred Forest: Landscape, Livelihood and Spirit Beliefs among the Katu of Vietnam. SANS Papers in Social Anthropology 10, Gothenburg, University of Gothenburg.

BOLTZ, Judith M. (1987). A survey of Taoist literature: Tenth to Seventeenth Centuries. Berkeley, University of California, Institute of East Asian studies.

CADIÈRE, Leopold và PELLIOT, Paul (1904). "Première étude sur les sources annamites de l'histoire d'Annam." Bulletin de l'École française d'Extrême-Orient, t. 4: 617-671.

CHAPUIS, Oscar (1995). A History of Vietnam: from Hong Bang to Tu Duc. Westport, Greenwood Press.

CHENG Wing-sheung 鄭 永 常 Trịnh Vĩnh Thường (Tháng Sáu 2009). "Yi ci qiyi de shi zhi waijiao: Feng Kekuan yu Li Suiguang zai Beijing de jiaohui 一 次 奇 異 的 時 之 外 交: 馮 克 寬 與 李 脺 光 在 北 京 的 交 會 [Nhất thứ kỳ dị đích thời chi ngoại giao: Phùng Khắc Khoan dữ Lý Tụy Quang tại Bắc Kinh đích giao hội] (Một Trường Hợp Ngoại Giao Kỳ Lạ qua Thi Ca: Cuộc Gặp Gỡ của Phùng Khắc Khoan và Lý Tụy Quang [phiên âm theo tiếng Hàn Quốc là Yi Su-Gwang, sứ giả của Triều Tiên, chú của người dịch] tại Bắc Kinh). Taiwan gudian wenxue yanji[u] jikan 臺 灣 古 典 文 學 研 究 集 刊 [Đài Loan Cổ Điển Văn Học Nghiên Cứu Tập San], quyển 1: 345-347, 349-372.

COULET, Georges (1926). Les Sociétés secrètes en terre d'Annam. Saigon, Ardin.

COULET, Georges (1929). Cultes et religions de l'Indochine annamite. Saigon, Ardin.

DUMOUTIER, Gustave (1899). "Études d'ethnographie religieuse annamite: Sorcellerie et Divination." Actes du XI' Congrès international des Orientalistes (1897), Paris, tome II: 275-409.

DUMOUTIER, Gustave (nov.-déc. 1914). "L'astrologie considérée plus spécialement dans ses applications à l'art militaire." Revue Indochinoise: 456-475.

DUMOUTIER, Gustave (July-Aug. 1915). "L'astrologie chez les Annamites: ses applications a l'art militaire." Revue Indochinoise: 101-126.

FEDORIN, Andrei [Фeдopин, Aндрй ЛЬВОВИЧ] (2009). "Лунно-солнечнЫй каленларЬ на ЛалЬнем Востоке: вЬетнамский вариант" (Âm-Dương (Luni-Solar) lịch tại vùng Viễn Đông: một phiên bản của Việt Nam). ПроблемЫ ДалЬнеƨо Восмока, no. 4: 158-162.

FRIEDSAM, Manfred (2003). "L'enseignement des mathématiques sous les Song et Yuan." In C. Despeux and C. Nguyen Tri {eds.). Éducation et instruction en Chine, vol. 2 {Les formations spécialisées), Paris/Louvain. Éditions Peeters: 49-68.

GASPARDONE, Emile (1934). "Bibliographie Annamite." BEFEO, fasc. 1: 1-173.

HAN Qi 韓 琦 Hàn Kỳ (1991). "Zhong Yue lishi shang tian wen xue yu shuxue de jiaoliu 中 越 歷 史 上 天 學 與 數 學 的 交 流 Trung Việt lịch sử thượng văn học dữ số học đích giao lưu (Sự tương tác giữa thiên văn học và số học của Trung Hoa và Việt Nam trong lịch sử)." Zhongguo keji shiliao 中 國 科 技 史 料 Trung quốc khoa kỹ sử liệu, quyển 12.2: 3-8.

Ho Peng Yoke (1964). "Natural phenomena recorded in the Đại Việt sử ký toàn thư, an early Annamese historical source." Journal of the American Oriental Society, vol. 84.2: 127-149.

Ho Peng Yoke (2003). Chinese Mathematical Astrology: Reaching out to the Stars. London and New York, RoutledgeCurzon.

HUARD, Pierre, và DURAND, Maurice (1954). Connaissance du Viet-Nam. Paris/Hanoi, Imprémerie Nationale/École Française d'Extrême-Orient.

HUCKER, Charles O. (1985, bản in lại năm 1988). A Dictionary of Official titles in Imperial China. Taibei, Southern Materials Center (bản in lại năm 1988; nguyên thủy được ấn hành bởi Stanford University Press năm 1985).

KALINOWSKI, Marc (1983). "Les instruments astro-calendriques des Han et la méthode Liu Ren." Bulletin de l'École française d'Extrême-Orient, tập 72: 309-419.

KALINOWSKI, Marc (1989). "La littérature divinatoire dans le Daozang." Cahiers d'Extrême-Asie, vol. 5: 85-114.

KALINOWSKI, Marc (tr.) (1991). Cosmologie et divination dans la Chine ancienne. Le Compendium de Cinq Agents (Wuxing dayi, VIè siècle). Paris, EFEO.

KALINOWSKI, Marc (éd.) (2003). Divination et société dans la Chine médiévale. Paris, Bibliothèque Nationale de France.

KNOROZOVA, Ekaterina [Kнорозова, Eкатерина Юрьевна] (2009). Cmpaнсmeuя е бесконечном (Wandering in the infinite). Sankt-Peterburg, BRAN & Alfaret Publishers.

LÊ, Alexandre (1995). Etude du Nom, écriture idéographique de la langue Vietnamienne: son histoire, sa structure et sa valeur littéraire. Mémoire de D.R.E.A. de Vietnamien. Paris, INALCO (luận án chưa được xuất bản).

LEE, Thomas H.C. (1985). Government Education and Examinations in Sung China. Hong Kong, The Chinese University Press, and New York, St. Martin's Press.

Liu Chun-Yin 劉 春 銀, Wang Xiaodun 王 小 盾, Trần Nghîa 陳 義 (2002). Yuenan Han-Nan wenxian mulu tiyao 越 南 漢 文 獻 目 錄 提 要 Việt Nam Hán-Nôm Văn Hiến Mục Lục đề yếu (Mục Lục chú giải các tài liệu văn chương Hán Nôm). Taibei, Academia Sinica.

MARR, David G. (1981). Vietnamese Tradition on Trial, 1920-1945. Berkely etc. [?], University of California Press.

MORGAN, Carole (1980). Le Tableau du boeuf du printemps. Étude d'une page de l'almanach chinois. Paris, Collège de France, Institut des Hautes Études Chinoises.

MORGAN, Carole (1987). "La divination d'après les croassements des corbeaux dans les manuscrits de Dunhuang." Cahiers d'Extrême-Asie, vol. 3: 55-76.

NGUYỄN Đình Hòa (1959). "Chữ Nôm, the Demotic System of Writing in Vietnam."Journal of the American Oriental Society, vol. 79, no. 4: 270-274.

NGUYỄN Đình Hòa (1990). "Graphemic borrowing from Chinese: the case of chữ nôm, Vietnam's demotic script." Bulletin of the Institute of History and Philology, Academia Sinica [Taiwan], 61: 383-432.

NGUYỄN Văn Huyên (2002). The Ancient Civilization of Vietnam. Hanoi, The Gioi.

OSBORNE, Milton E. (1997, bản in lại ấn bản năm 1969). The French Presence in Cochinchina and Cambodia: Rule and Response (1859-1905). Bangkok, White Lotus Press [được ấn hành lần đầu tiên bởi Cornell University trong năm 1969].

PAPIN, Philippe (2001). Histoire de Hanoi. Paris, Fayard.

POISSON, Emmanuel (2004). Mandarins et subalternes au nord du Viêt Nam (1820-1918) - une bureaucratie à l'épreuve. Paris, Maisonneuve et Larose.

POLYAKOV, Aleksei [UOUHKOB, AjieKceÄ BOPHCOBHH] (tr.) (1980). KpamKan ucmopun Bbema. Bbem uiu AUOK (Tóm lược lịch sử Việt Nam. The Việt Sử Lược). Moscow, Nauka.

REN Jiyu 任 繼 愈 Nhậm Kế Dụ và các tác giả khác (đồng biên tập) (ấn bản lần thứ nhì năm 1995). Daozang tiyao 道 藏 提 要 Đạo Tang đề yếu (Chú Giải Đạo Tang). Beijing, Zhongguo shehui kexue chubanshe.

SMITH, Richard J. (1991, bản in lại năm 1993). Fortune-tellers and Philosophers. Divination in Traditional Chinese Society. Boulder, Westview Press; in lại tại Taipei, SMC Publishing Inc.

TRẦN Văn Giáp (1983). "Les chapitres bibliographiques de Le-qui-Don et de Phan-huy-Chu." Bulletin de la Société des Études Indochinoises, Saigon, Testelin, Nouvelle série, t. 13, no. 1: 13-217.

TRẦN Nghîa et Gros, François (eds.) (1993). Catalogue des livres en Han-Nôm. Hà Nội, Nhà xuất bản khoa học xã hội/Edition [des] sciences sociales.

TRỊNH Văn Thao (1995). L'École française en Indochine. Paris, Karthala.

VĂN An Vi (2008). "A Thai Divination Kit in the Vietnam Museum of Ethnology." Asian Ethnology, vol. 67, no. 2: 257-269.

VARGYAS, Gabor (2004). "Thuật Tiên Tri trong Lễ Lên Đồng của Người Bru” [Divination in Bru Shamanism]. Trong sách biên tập bởi Ngô Đức Thịnh, Đạo Mẫu và các Hình Thức Shaman Trong Các Tộc Người ở Việt Nam và Châu Á. Hà Nội, Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội [Social Sciences Publishers]: 537-548.

VOLKOV, Alexei (2008). "Traditional Vietnamese Astronomy in Accounts of Jesuit Missionaries." Trong sách đồng biên tập bởi L. Saraiva và C. Jami. History of Mathematical Sciences, Portugal and East Asia III: The Jesuits, the Padroado and East Asian Science (1552-1773), Singapore etc. [?]. World Scientific: 161-185.

VOLKOV, Alexei (2009). "Mathematics and Mathematics Education in Traditional Vietnam." Trong sách đồng biên tập bởi E. Robson và J. Stedall, Oxford Handbook of the History of Mathematics, Oxford, Oxford University Press: 153-176.

VOLKOV, Alexei (2012). "Argumentation for State Examinations: Demonstration in Traditional Chinese and Vietnamese mathematics." Trong sách biên tập bởi K. Chemla, The History of Mathematical Proof in Ancient Traditions, Cambridge, Cambridge University Press: 509-551.

WHITMORE, John. K. (1995). "Cartography in Vietnam," trong sách đồng biên tập bởi J. B. Harley và David Woodward, The History of Cartography, vol. 2, book 2: 478-508.

_____

Nguồn: Alexei Volkov, Astrology and Hemerology in Tradional Vietnam, Extrême-Orient, Extrême-Occident, 35 – 2013, các trang 113 – 140.

Alexei Volkow

Ngô Bắc dịch


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chiêm tinh học và thuật bói toán tại việt nam cổ truyền

Top 5 con giáp ưa mạo hiểm và chủ nghĩa xê dịch

Đối mặt với hiểm nguy, người tuổi Khỉ không hề nao núng,ra tay hiệp nghĩa, ai nấy đều ngưỡng mộ. Đây đích thị là một trong những con giáp ưa mạo hiểm rồi.
Top 5 con giáp ưa mạo hiểm và chủ nghĩa xê dịch

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

– Đối mặt với hiểm nguy, người tuổi Khỉ không hề nao núng, trái lại, sẵn sàng đương đầu mạo hiểm, cứu mình cứu người, ra tay hiệp nghĩa, ai nấy đều ngưỡng mộ. Đây đích thị là một trong những con giáp ưa mạo hiểm trong 12 con giáp rồi.

 

No5. Người tuổi Khỉ
 
Tinh nghịch, thích tự do bay nhảy, khám phá và chinh phục điều mới lạ. Người cầm tinh con Khỉ lúc nào cũng hiếu động, tràn đầy sức sống.   Đối mặt với hiểm nguy không hề nao núng, trái lại, sẵn sàng đương đầu mạo hiểm, cứu mình cứu người, ra tay hiệp nghĩa, ai nấy đều ngưỡng mộ. Đây đích thị là một trong những con giáp ưa mạo hiểm rồi.  
Top 5 con giap ua mao hiem va chu nghia xe dich hinh anh
 
No4. Người tuổi Rắn   Trong thuyết Địa chi học, Rắn được đại diện cho Dịch Mã tinh. Đây là cát tinh chủ về di chuyển, chủ động, nhưng động cũng đồng nghĩa với việc phải đương đầu với những sự thay đổi bất ngờ của hoàn cảnh, môi trường xung quanh.    Chính vì thế, người tuổi Tỵ luôn mong muốn tìm kiếm cảm giác mạo hiểm trong mỗi chuyến hành trình đi xa, dù là đi công tác, du lịch, học hành hay đơn giản là đi để thỏa mãn sự hiếu kỳ.
Top 3 chàng giáp “thầu trọn gói” ngôi vị nam thần
– Nam thần không chỉ xuất hiện ở trong các bộ phim, cuốn truyện, nơi nào đó xa xôi, bởi họ ở ngay bên cạnh bạn đó thôi. Nếu tinh ý, bạn sẽ

No3. Người tuổi Chó
  Người tuổi Tuất luôn mang lại cảm giác lạc quan, yên bình cho mọi người xung quanh. Sở dĩ như vậy là do họ đã tích lũy vốn kinh nghiệm sống dày dặn, đi nhiều để trải nghiệm nhiều và ngộ ra chân lý cuộc đời.   Họ ưa mạo hiểm không bởi sự hiếu thắng hay “diễu võ dương oai”, mà cốt là để chiêm nghiệm về cuộc sống, để mở rộng thế giới tâm hồn, đón nhận mọi cung bậc của cảm xúc.  
Top 5 con giap ua mao hiem va chu nghia xe dich hinh anh 2
 
No2. Người tuổi Hổ   Không ngại khó, chẳng ngại khổ, người tuổi Hổ lúc nào cũng sống theo cách tràn đầy nhiệt huyết, dám làm dám chịu, đương đầu mọi thử thách, hiểm nguy để khám phá ra chính mình.   Tinh thần ưa mạo hiểm của con giáp này còn được thể hiện ở những chuyến lên rừng, xuống biển, cách họ đi phượt, chinh phục những ngọn núi cao hay đại dương sâu thẳm…   No1. Người tuổi Rồng   Sinh ra mang trong mình thân phận cao quý, con cháu đế vương, người tuổi Thìn có cốt cách thanh cao, tinh thần hiệp nghĩa, gặp chuyện bất bình ra tay giúp đỡ mà không mong báo đáp.    Tâm trí sục sôi làm việc trượng nghĩa giúp đời nên người tuổi Rồng lại càng muốn xông pha nơi hiểm nguy, khó khăn. Cảm giác khi giúp đỡ được ai đó điều gì thật tuyệt, nó giúp con giáp này cảm thấy mình đã làm tròn bổn phận của người đứng đầu.  
=> Bói tử vi khoa học để biết tình yêu, hôn nhân, vận mệnh, sự nghiệp của mình

Ngọc Diệp   Những con giáp luôn dẫn đầu về lòng hiếu thảo với cha mẹ
– Bản thân người tuổi Mùi rất coi trọng tình cảm, hết lòng yêu thương, chăm sóc và quan tâm tới người thân trong gia đình, đặc biệt là cha

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Top 5 con giáp ưa mạo hiểm và chủ nghĩa xê dịch
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd